Tổng hợp về Huyền Giai

TỔNG HỢP VỀ HUYỀN GIAI

 

I- Huyền Giai

+ HUYỀN GIAI (Huyền giai sáng tạo): trật tự đẳng cấp có trong nhiều đoàn nhóm khác nhau. Chúng ta thấy rõ các đẳng cấp này trong những giới tiến hóa của thiên nhiên, như các cấp nguyên tố chất khoáng, và những phân loại phức tạp trong sinh học và động vật học. Chúng ta cũng thấy có khái niệm về đẳng cấp trong xã hội của mình, với những đoàn nhóm được cơ cấu và tổ chức tùy theo cấp, bậc, hoặc phạm vi trách nhiệm của các thành viên trong nhóm. Chúng ta cũng thấy những đoàn nhóm có tổ chức như thế trong các đẳng cấp của chính phủ, của giáo hội, hoặc những hệ thống đẳng cấp để phân biệt các giai tầng xã hội. Chúng ta cũng biết về Giới Thiên thần, gồm các cấp Thiên thần tùy theo trình độ tiến hóa – từ các Thiên thần ở những cấp thấp nhất đến các Thiên thần cấp thứ năm, Đại Thiên thần, Thiên thần bảo vệ, Thiên thần trông nom thiên thể, Thiên thần tổng lãnh, Thiên thần hầu việc Chúa, Thiên thần có cánhThiên thần ba đôi cánh với đẳng cấp cao tột.

+ Cũng có sắp xếp đẳng cấp tự nhiên giữa các giới tiến hóa của thiên nhiên. Chúng ta thường phân cấp các giới này bằng cách xếp giới khoáng vật ở cấp thấp nhất, rồi thực vậtđộng vật, và giới nhân loại ở cấp cao nhất.

+ Theo huyền bí học, không chỉ 4, mà có 7 giới tiến hóa của các sinh linh. Các giới này hình thành một trật tự đẳng cấp có cấu trúc tùy theo mức phát triển tâm thức của mỗi giới. Ba giới được kể thêm trong huyền bí học thì cao siêu hơn giới nhân loại. Ba giới siêu nhân vừa kể là Trường tiến hóa của Linh hồn, còn gọi là giới thứ năm, cùng với hai giới cao siêu hơn nữa, là giới thứ sáu và giới thứ bảy.

- Huyền Giai Tinh Thần - Thánh Đoàn: Những người thuộc về giới thứ năm và giới thứ sáu là thành viên

- Huyền giai Sáng tạo Thứ tư (Thực gia là thứ 9): Huyền Giai con người (Nhân loại) chỉ là Huyền Giai thứ 4 trong số 7 Huyền Giai đang hoạt động hay biểu lộ (CTHNM, 46 và 298); 

Huyền giai của Chân Thần con người. (LVLCK, 1099);

II- Mười hai huyền giai sáng tạo (CTHNM, 42 - 68)

BẢNG I VÀ II – MƯỜI HAI HUYỀN GIAI SÁNG TẠO (Sơ đồ này được vẽ ra chỉ liên quan tới Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai nhân loại. Nó không được vẽ liên quan tới các biểu lộ hành tinh khác_CTHNM, 48)

Số Xuống Tên Cung NL Cung Hoàng Đạo Năng Lượng   Số Lên Ghi Chú
1 Không rõ III Song Ngư Chất sáng xuốt Không 12 12CHD.001
2 Không rõ IV Dương Cưu Hợp nhất qua lỗ lực Không 11  
3 Không rõ V Kim Ngưu Ánh sáng qua tri thức Không 10  
4 Không rõ VI Song Nam Ước muốn nhị nguyên Không 09  
    Các Huyền giai 1 đến 4 tính gộp(12 đến 9 gộp chung) đã đạt giải thoát.  Được xem các trừu xuất (LVLCK, Tr 361)      
5 Không rõ VII Bắc Giải Sự sống tổng quát Che dấu Christ 08  
    Huyền giai thứ 5 sắp giải thoát. Nó linh hoạt trên cõi trí Huyền giai thứ 5 tồn tại trên phân cảnh dĩ thái cao nhất và sẽ nhập với 4 Huyền giai kia khi Huyền giai sáng tạo thứ 6 đạt đến cơ hội vũ trụ, và chính nó tiến gần đến giải thoát (CTHNM, 42)      
           
……….. …………….. ………………… ……………………….. …………………………………… ……………………. ……………… …………….

Huyền giai 5 (Linh hồn/ Thiên thần): Huyền Giai này, vốn dĩ sắp giải thoát, được tìm thấy ở trên mức độ trí tuệ của tâm thức, và do đó có thể được dùng như một điểm tập trung và một tác nhân truyền các năng lượng cao cho thái dương hệ chúng ta và cho hành tinh. Nghiên cứu biểu đồ của 12 Huyền Giai Sáng Tạo dưới đây, bạn sẽ ghi nhận rằng Huyền Giai này đang ảnh hưởng, và bị ảnh hưởng bởi Cung 7, Cung Đẳng Cấp Huyền Thuật và Cơ Cấu Nghi Lễ. Chức năng cơ bản của cung này là liên kết tinh thần với vật chất và tạo ra sắc tướng biểu lộCung hoàng đạo mà nó có liên kết chặt chẽ là Cung Bắc Giải (Cancer, Con Cua), vốn là Cung đại chúng (mass sign, cung tổng quát, toàn bộ) và là cung có các “cổng” (“gates”) đi vào sự sống biểu lộ. Ở đây có thể nhắc bạn rằng 7 cõi của thái dương hệ chúng ta đều là 7 cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Bốn Huyền Giai Sáng Tạo đã đạt được giải thoát hiện giờ được tìm thấy tập trung trên cõi cảm dục vũ trụtừ nơi này sức mạnh của chúng vẫn không đổi khi hết biểu lộ. Huyền Giai Sáng Tạo thứ 5 tồn tại trên phân cảnh dĩ thái cao nhất và sẽ nhập với 4 Huyền Giai kia khi Huyền Giai Sáng Tạo thứ 6 đạt đến cơ hội vũ trụ, và chính nó tiến gần đến giải thoát.

BẢNG II – Bảy TRẠNG THÁI HIỆN TỒN THEO LUẬT NGHIỆP QUẢ

Số xuống Cung N.Lượng Tên Gọi Cung Hoàng Đạo Năng Lượng Chú Giải Số lên Ghi chú
6 I Lửa thiêng. Sự sống thiêng 1. Hải Sư. H.tinh-Thái dương. Màu Cam ParashaktiNăng lượng tối cao. Lửa – Khí. Cõi Thượng Đế 7  
7 II Đấng Kiến Tạo thiêng liêng. Liên quan linh hồn. Con của dục vọng. 2. Xử Nữ. H.tinh-Jupiter. Màu lam KriyashaktiLý tưởng cụ thể Ether.
Cõi Monad
6  
8 III Đấng Kiến Tạo thứ yếu. Liên quan sắc tướng. Hoa tam phân. 3. Thiên Xứng. H.tinh-Saturn. Màu lục. nanashakti. Lực trí tuệ Nước.
Cõi Atma
5  
9 IV Huyền giai Nhân Loại.
Các Điểm Đạo Đồ
4. Hổ Cáp. H.tinh-Mercury. Sắc vàng. Mantrikashakti. Ngôi Lời lâm phàm. Ngôn từ Solar Angels. Agnishvattas. Buddhic 4 12.HGST.05
10 V Phàm Ngã con người.
Cá sấu. Makara, bí ẩn
5. Ma Kết. H.tinh-Venus. Sắc chàm Ichchhashakti. Ý muốn biểu lộ Lửa
Cõi trí
3  
11 VII Lunar Lords. Lửa hy sinh 6. NhânHành tinh-Mars. Sắc đỏ. KundalinishaktiNăng lượng của vật chất. Hình hài Nước.
Cõi cảm dục
2  
12 VII Các sự sống elemental. Giả sinh dưỡng. Các sự sống mù mờ 7. Bảo Bình. H.tinh-Mặt Trăng. Màu tím Không Đất. 1  
…………. …………… …………………………………………… ………………………………… ………………………...………. ………………………… ……….

   

+ Xem: Phần 2 bảng biểu trang 44 và 45 rất quan trọng

Chú thích: Nhiều điều trong biểu đồ này tỏ ra mù mờ và thậm chí sai lầm. Thí dụ:
a/ Sagittarius (Nhân Mã) xuất hiện giữa Capricorn (Nam Dương, Ma Kết) với Aquarius (Bảo Bình). Đây là một nhấn mạnh tạm thời và sẽ thay đổi trong một chu kỳ thế giới khác. Đây là một trong các bí mật được tiết lộ vào lúc điểm đạo.
b/ Sự bất động của năm Huyền Giai đang hết lâm phàm, đã đạt được giải thoát, chỉ ở trên các cõi thấp

1. Về mặt huyền bí, Huyền Giai của các Năng Lực Sáng Tạo được chia thành bảy (4 và 3) bên trong mười hai Đẳng Cấp Lớn.

2. Trong chu kỳ lớn này, ba Huyền Giai có ý nghĩa sâu xa, Huyền Giai thứ tư hay Huyền Giai Sáng Tạo nhân loạihai Huyền Giai thiên thần, tức Huyền Giai thứ 5 và thứ 6.

3. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư thực ra là Huyền Giai thứ 9 và đó là lý do tại sao nó được gọi là Huyền Giai của các điểm đạo đồ. Điều này có thể được nhìn thấy bằng cách xem biểu đồ.

4. Trong Luận Về Lửa Càn Khôn, chúng ta được dạy rằng các Huyền Giai 9, 10 và 11 (đếm từ dưới lên) có chứa manh mối đối với bản chất của Agni, tức Hỏa Thần Quân (Lord of Fire), toàn thể sức sống của thái dương hệ.

5. Nhiều ánh sáng có thể đến với nhà nghiên cứu thành tâm qua việc nghiên cứu các con số liên quan với các Huyền Giai này.

a/ Năm Huyền Giai đầu được xem như các trừu xuất thuần túy. Các huyền giai:

Huyền Giai Mộtcác số :   6 . 1 . 7.    (Kim thạch)
Huyền Giai Haicác số :    7 . 2 . 6.    (Thảo mộc)
Huyền Giai Bacác số :     8 . 3 . 5.    (Loài Thú)
Huyền Giai Bốncác số :   9 . 4 . 4.   (Nhân loại/ H.Giai Chân thần)
Huyền Giai Nămcác số: 10 . 5 . 3.   (Linh hồn/ Thiên thần)
Huyền Giai Sáucác số :  11 . 6 . 2.   (Thiên thần)
Huyền Giai Bảycác số :  12 . 7 . 1.   (Cao tột nhất)

(* Huyền Giai Tinh Thần - Thánh Đoàn: Những người thuộc về giới thứ năm và giới thứ sáu là thành viên. (CTHNM, 46 và 298))

Cần ghi chú điều này, như trong tham khảo GLBN sẽ được thấy đối với các Huyền Giai dưới các số khác. Điều này để che đậy, nhưng nó cũng làm rối trí nhà nghiên cứu.

6. Bốn Huyền Giai đầu đạt được giải thoát trong thái dương hệ thứ nhất. Ảnh hưởng của chúng đến Địa Cầu chúng ta qua trung gian của Huyền Giai Sáng Tạo thứ 5.

7. Do đó các Huyền Giai này được liên kết với bốn cung năng lượng vốn hoạt động như các cung Thuộc tính thứ yếu dưới Cung lớn thứ ba, Cung Thông Tuệ Linh Hoạt.

8. Cung Song Ngư được thấy ở đầu của danh sách các cung hoàng đạonó chi phối chu kỳ chiêm tinh lớn hiện nay của thế giới gồm 25 000 năm. Đó cũng là một trong các cung có ưu thế (dominant), có ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta vào lúc biệt ngã hóa (individualisation) khi giới nhân loại xuất hiện. Về căn bản, cung đó có liên quan với Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất hay cao nhất, mà đến phiên nó có liên quan với Cung 3, Cung Thông Tuệ Linh Hoạt. Đó là sản phẩm của thái dương hệ thứ nhất. Sự phát triển của sự giác ngộ (illumination) nhờ một trí tuệ được khơi hoạtmục tiêu đầu tiên của nhân loại.

9. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (cũng được đánh số 8) sắp được giải thoát. Nó đặc biệt có liên quan với Huyền Giai Sáng Tạo thứ 10, với tinh tòa Capricorn (Ma Kết/Nam Dương) và với phàm ngã nhân loại, phàm ngã này đang che khuất (veils) và tạm thời đang giấu (hides) nguyên khí Christ đàng sau cả hình tướng lẫn trí tuệ. Theo một vài hệ thống đánh số, số 8 được xem như con số của nguyên khí Christ.

10. Các Thần Kiến Tạo Cấp Cao và Cấp Thấp, hoạt động trên các cõi thứ hai và thứ ba của thái dương hệ chúng ta, đều có các hoạt động của các Thần này được phản ánh trong công việc của các Lunar Lord (Nguyệt Thần Quân) và các sự sống của elemental (tinh linh; tinh hoa chất).

11. Bạn nên để ý rằng Huyền Giai nhân loại (trên biểu đồ 9- IV- 4) được qui định (assigned, bố trí) không có một element (yếu tố; hành, hành tố) đặc biệt nào vì Huyền Giai này phải dung hợp (fuse) và tổng hợp tất cả nhân loại. Đây là một phần của các trắc nghiệm lớn của điểm đạo dưới cung Scorpio (Bọ Cạp, Thiên Hiết, Hổ Cáp).

12. Sơ đồ này được vẽ ra chỉ liên quan tới Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai nhân loại. Nó không được vẽ liên quan tới các biểu lộ hành tinh khác. (Sơ đồ này đã được biên soạn từ nguồn cung cấp kiến thức rất hạn chế vấn đề đã được phát hiện từ xa xưa như thế, và càng chính xác càng tốt theo các trường hợp). Mỗi một trong bảy Huyền Giai các Thực Thể được tìm thấy trong vòng 12 Huyền Giai, các Đấng này là các Thần Kiến Tạo (Builders) hay là các Attractive Agents chính là (ở trình độ các Ngài) các tác nhân trung gian (intermediaries); tất cả đều là hiện thân của một trong các loại lực phát ra từ 7 chòm sao. Do đó, công việc trung gian của các Ngài gồm hai mặt:

1. Các Ngài là các tay trung gian (mediators) giữa Tinh Thần với Vật Chất.

2. Các Ngài là các tác nhân truyền lực từ các nguồn bên ngoài đến thái dương hệ để sắp xếp/ đúc kết lại (form) bên trong thái dương hệ. Mỗi một trong các nhóm của các thực thể (beings) này cũng có bản chất thất phân (septenary), và 49 lửa của Brahmabiểu lộ thấp nhất của bản chất lửa của các Ngài. Mỗi nhóm cũng có thể được xem như “sa đọa” (“fallen”) theo ý nghĩa vũ trụ, bởi vì có liên quan với tiến trình kiến tạo hay là các chủ thể chiếm hữu hình hài (occupiers of forms) ở mức độ dày đặc hoặc nhiều hoặc ít.

1- Huyền Giai I. Huyền Giai lớn thứ nhất được phát ra từ Tâm của Mặt Trời Tinh Thần trung ương. Đó là Con của Chính Thượng Đế tức Đấng Bản Lai (the First Born) theo ý nghĩa vũ trụ, ngay như Đức Christ là “Đấng Cao Nhất (the Eldest) trong một gia đình rộng lớn của các huynh đệ”, và là “đóa hoa thứ nhất trên cây nhân sinh”. Biểu tượng của Huyền Giai này là Kim Liên (Golden Lotus, Sen Vàng) với 12 cánh xếp lại. GLBN I, 233 – 250, III, 565.
Cần nên nhớ rằng Huyền Giai này theo nghĩa đenHuyền Giai thứ 6, vì năm Huyền Giai đã qua vốn là sản phẩm của thái dương hệ trước, trong đó Trí Tuệ (Intelligen) hay Manas là mục tiêu. Năm Huyền Giai đã giải thoát toàn bộ đều là trí tuệ. Chính Huyền Giai này vốn là Huyền Giai thứ năm theo thứ tự, và chúng ta được dạy rằng Huyền Giai này đang trong tiến trình giải thoát cuối cùng, hay là được điểm đạo thứ tư (4 e) của nó, vốn là nguyên nhân của một số hiện tượng trên hành tinh chúng ta, làm cho hành tinh chúng ta đáng được gọi là “Ngôi Sao của Đau Khổ” (“Star of Suffering”). Có một mắt xích nghiệp quả giữa giới động vật với Huyền Giai Sáng Tạo thứ 5 của thái dương hệ trước, làm cho chính nó được cảm nhận trong con người trong thập giá hình cần thiết của bản chất vật chất của động vật, đặc biệt theo các đường lối tính dục. Chúng ta phải nhớ rằng các Huyền Giai này hoạt động theo Định Luật Hút; đó là định luật của các Builders. Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) này đang có đối với kiểu mẫu năng lượng của nó, trạng thái thứ nhất trong số kiểu mẫu thứ sáu của điện vũ trụ, và do đó sử dụng năng lực đặc biệt, kết hợp với lửa thấp nhất, tức “lửa do ma sát”, như nó tự cảm nhận trên cõi thứ sáu. Các sự sống này được gọi là “Các Con nóng bỏng của Dục Vọng” (“the burning Sons of Desire”) và là Các Con Tất Yếu. Trong Cổ Luận, có nói đến chúng: “Chúng đốt cháy để hiểu biết. Chúng lao vào các khối cầu. Chúng là nỗi khát khao của Cha đối với Mẹ. Do đó nhất định chúng đau khổ, đốt cháy, và mong ước vượt qua lĩnh vực thứ sáu của giác quan”.

2- Huyền Giai II. Huyền Giai thứ hai được liên kết chặt chẽ với Đại Hùng Tinh. Chúng ta được dạy rằng Các Ngài (They) nhập vào qua tâm thất (ventricle) thứ hai bên trong Tâm Thiêng Liêng (Sacred Heart), và là (như chúng ta được dạy trong GLBN) các nguyên mẫu của Monads. Các Ngài là cội nguồn của sự sống Chân Thần, nhưng Các Ngài không phải là Monads; Các Ngài còn cao xa hơn nữa. Theo nghĩa đen, Huyền Giai này chính là Huyền Giai thứ bảy, là dòng chảy vào (influx) trong thái dương hệ chúng ta của các Sự Sống (Lives), mà trong thái dương hệ thứ nhất, các Sự Sống này vẫn còn ở trên cõi riêng của chúng, vốn dĩ quá vô tội (too sinless) và thánh thiện không thể tìm được cơ hội trong cơ tiến hóa vô cùng vật chất và thuộc trí tuệ. Thậm chí trong cơ tiến hóa này, họ sẽ thấy không thể làm gì nhiều hơn là tác động đến các Jivas lâm phàm (tức các điểm Chân Thần ND), truyền đạt cho chúng năng lực để hiểu được bản chất của tập thể thức, tính chất của bảy Thiên Đế (Heavenly Men), nhưng không thể có khả năng diễn đạt cảm nghĩ của chính mình một cách đầy đủ. Một vài manh mối cho cái bí ẩn này sẽ đến nếu đạo sinh thận trọng ghi nhớ rằng trong thái dương hệ chúng ta và bảy cõi của chúng ta, chúng ta chỉ có thể xác của Thượng Đế và chính xác thân đó là một giới hạn của biểu lộ của bản chất tam phân của Ngài. Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) có thể được xem như cố gắng thể hiện rung động trí tuệ của Thái Dương Thượng Đế, còn Huyền Giai thứ hai được xem như thể hiện bản chất tình cảm, hay là bản chất cảm dục vũ trụ của Ngài. Huyền Giai thứ 2 (thứ bảy) dùng trạng thái thứ hai làm kiểu mẫu thần lực của nó, trong đó kiểu thần lực thứ 7 tách ra từ nhiều loại. Có thể có ý tưởng nào đó về trình độ tiến hóa tương đối của Thái Dương Thượng Đế bằng cách nghiên cứu các trạng thái khác nhau của lực mà Ngài đang biểu lộ trong cuộc lâm phàm đặc biệt này. Chính năng lượng này mới thôi thúc các Chân Thần đi vào lâm phàm ở cõi trần, vì nó làm cho chính nó được cảm nhận trên cõi thứ 7. Các năng lượng đang hoạt động là các năng lượngThượng Đế đã khai mở và là thành quả (the gain) của các cuộc lâm phàm trước. Tất nhiên các thiếu sót (gaps) xảy ra và một số loại thần lực đang khiếm khuyết vì cho đến nay Ngài có nhiều điều cần đạt được về mặt vũ trụ. Chính năng lượng của Huyền Giai này mới tạo kết quả trong sự biểu lộ của Lưỡng Tính Thiêng Liêng và trong bảy trung tâm lực vốn là bảy Năng Lượng Tâm Linh.

Huyền Giai III. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba (hay thứ 8) là một Huyền Giai đặc biệt lý thú. Các Ngài được gọi là “Triads” (“Tam Bộ”) vì đang nắm giữ trong chính Các Ngài các sức mạnh của cuộc tiến hóa tam phân: trí tuệ, tâm linhtinh thần. Các Triads của Sự Sống này có sẵn trong Ba Ngôi của Trinity (Tam Vị Nhất Thể) và tinh hoa của thái dương hệ trước theo một quan điểm nào đó. Theo quan điểm khác, khi được khảo cứu như “tinh hoa của Huyền Giai thứ Tám trước kia”, Các Ngài là các điểm tám mặt đang chờ cơ hội để bùng lên (flame forth). Các Ngài là các devas sẵn sàng phụng sự, mang lại cho Huyền Giai khác một vài tính chất còn thiếu. Huyền Giai này được xem như những kẻ hiến tặng vĩ đại về tính bất tử, trong khi Chính Các Ngài “không tham gia lâm phàm”. Các Đấng Hy Sinh và Bác Ái là Các Ngài, nhưng Các Ngài không thể vượt ra ngoài thể dĩ thái của Thượng Đế đi vào thể vật chất trọng trược. Huyền Giai thứ 3 này sử dụng trạng thái thứ ba của điện lực thuộc loại thứ nhất của vũ trụ năng. Các Ngài thay thế cho một chu kỳ lặp đi lặp lại của loại vũ trụ năng thứ nhất đó được tượng trưng bằng con số 8. Công Thức cho các điện năng này thì quá phức tạp, không thể được đưa ra ở đây, nhưng nhà nghiên cứu nên nhớ rằng các Huyền Giai này biểu lộ:

1. Vũ trụ năng thất phân.

2. Prana vũ trụ.

3. Năng lượng thái dương hay lửa điện, lửa thái dươnglửa do ma sát. Mỗi Huyền Giai biểu lộ một năng lượng tam phân hay một trạng thái của mỗi năng lượng nói trên, và việc đó cần một biến phân cửu phân, vì trước tiên cả hai đều tam phân như là cái thứ ba. Chính việc loại bỏ các sự sống của Triad bởi các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức Huyền Giai của các Chân Thần nhân loại, mà sau rốt mới đẩy nhanh con người đi vào lĩnh vực thứ 8 (eighth sphere, cõi thứ 8). Y từ chối trở thành một Đức Christ, một Đấng Cứu Thế (a Saviour) và vẫn duy-ngã (self-centred). Chúng ta đã bàn đến ba Huyền Giai đầu vốn được xem như bao giờ cũng “nhìn thấy Thánh Dung của Đấng Cai Quản Thái Uyên” (“seeing the Face of the Ruler of Deep”) hoặc là trở nên tinh khiết và thánh thiện đến nỗi các thần lực của các Ngài đều ở trong sự tiếp xúc được nhận biết với cội nguồn phát ra của các Ngài. Bây giờ chúng ta xem xét vắn tắt hai Huyền Giai có liên quan trực tiếp đến chúng ta, các thực thể hữu ngã thức của nhân loại. Theo nghĩa đen, hai nhóm này là ba, vì Huyền Giai thứ năm là một Huyền Giai kép, và chính điều này đã đưa đến lầm lẫn nào đó và là ý nghĩa huyền bí đàng sau con số mười ba báo điềm gở (ill-omened). Các Ngài là “Những Kẻ Tìm Kiếm sự hài mãn” và là nguyên nhân của sự sa ngã thứ hai thành thời kỳ phát triển, sự thật đàng sau việc khoác lấy một bản chất thấp của Ego. Các Huyền Giai thứ tư và thứ năm chính là thứ chín và thứ mười hay là các “Điểm Đạo Đồ” và “Các Đấng Hoàn Thiện”. Tất cả các con người hay là “Các Jivas Bất Diệt” là những người đang tiến hóa qua một loạt các cuộc điểm đạo các cấp, hoặc là tự tạo (self-induced) hoặc là được mang lại trên hành tinh chúng ta với sự trợ giúp bên ngoài. Họ thành đạt qua một “kết hợp” với đẳng cấp kế tiếp với họ, đẳng cấp thứ năm. Lúc bấy giờ họ đã hoàn tất hoặc trở thành hoàn thiện, và chính là nhờ sự kiện huyền linh này mà Huyền Giai thứ tư được xem như dương, còn Huyền Giai thứ năm được xem như âm.

Huyền Giai IV. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nhóm mà trong đó trạng thái cao nhất của con người, “Từ Phụ trên Trời” (“Father in Heaven”) được tìm thấy. Các sự sống này là các điểm lửa phải trở thành ngọn lửa (flame); họ làm điều này qua trung gian của Huyền Giai thứ nămbốn tim bấc (wicks), hay là hai Huyền Giai thấp lưỡng phân. Như thế, người ta có thể thấy rằng nơi mà con người có liên hệ, thì các Huyền Giai thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, trong chu kỳ lâm phàm, chính bản ngã của con người. Các Ngài là “Các Đấng Hy Sinh” và “Các Đấng Bác Ái”, tinh hoa của AtmaBuddhi. Khi nghiên cứu các Huyền Giai này, một trong các bài học giá trị nhất cần phải học là vị trí và tầm quan trọng của con người trong hành tinh hệ. Thí dụ Hierarchy chính là tinh hoa (essence) của Sự Sống trừu tượng (intagible Life) của Tinh Thần, nguyên khí Bồ Đề, là nguyên nhân huyền bí của cuộc phối ngẫu vũ trụ của tinh thầnvật chất, dựa trên lòng bác áiước muốn của Thượng Đế, nhưng mỗi Hierarchy cũng tự biểu lộ qua một cuộc biểu lộ đặc biệt cần được thể trí hữu hạn của con người xem như chính Huyền Giai. Không phải như thế và phải cẩn thận phân biệt giữa các Huyền Giai này. Chúng là mầm mống tiềm tàng của các trung tâm lựcbiểu lộ ra bên ngoài; chúng hâm nóng (warm) và truyền sinh lực (vitalise) cho các nhóm hình hài; chúng làm nẩy nở và tự biểu lộ qua trung gian của một hình hài hoặc một Huyền Giai khác. Tất cả các Huyền Giai này đều có liên hệ chặt chẽ và là âm hoặc dương so với nhau tùy trường hợp. Như có nói trong GLBN I, trang 238, Huyền Giai này là nhà trẻ cho các Jivas lâm phàm; và nó mang trong nó các mầm mống của các Sự Sống (Lives) nào đã đạt được giai đoạn nhân loại trong một thái dương hệ khác, nhưng không thể tiếp tục vượt quá giai đoạn đó do việc tiến vào của pralaya (qui nguyên), thời kỳ tan rã này ném chúng vào một trạng thái tiềm ẩn (latency). Chỉ ở mức độ vũ trụ, tình trạng của Huyền Giai này mới tương tự với tình trạng của các mầm mống của sự sống con người được giữ ở trạng thái che khuất (obscuration) trong giai đoạn giữa các dãy hành tinh (interchain). Ba Huyền Giai kia được bàn đến (Huyền Giai thứ nhất, thứ nhì và thứ ba) là các Huyền Giai (trong các thiên kiếp trước của sự biểu lộ của Thượng Đế) đã hoàn toàn vượt quá giai đoạn nhân loại. Do đó, các Huyền Giai đó là các nhóm và sắc tướng, trong khi các Huyền Giai còn lại đều là các nhóm hữu sắc tướng. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay Huyền Giai thứ chín, trong thái dương hệ này, bao giờ cũng phải được xem như đang chiếm những gì có thể được xét như là vị trí thứ ba. Thứ nhất, các Sự Sống hay là Ba ngôi của Tam Vị Nhất Thể. Thứ hai, các nguyên mẫu của con người, bảy Spirits. Thứ ba, con người hay là biểu lộ thấp nhất của trạng thái Tinh Thần hữu ngã thức (self-conscious Spirit aspect). Điều này cần được xem xét cẩn thậnkhông liên quan đến khía cạnh hình hàichỉ liên quan đến bản thể của các Sự Sống đang tự biểu lộ qua các sự sống khác vốn cũng hữu ngã thức, hay là hoàn toàn sáng suốt. Một vài trong các Huyền Giai không có được điều này. Bốn Huyền Giai thấp tất cả đều có liên quan đến sự biểu lộ trong ba cõi thấp hay là trong thể hồng trần trọng trược của Thái Dương Thượng Đế. Các Huyền Giai này là Các Đấng có thể tách ra (discard) hay là vượt qua (pass through) thể dĩ thái của Thái Dương Thượng Đế và khoác lấy các hình tướng được tạo bằng hoặc là chất hơi, chất lỏng, hoặc là chất đặc. Các Huyền Giai khác không thể làm thế. Họ không thể rơi vào vòng hóa sinh hồng trần (physical generation). Các đạo sinh phải nhớ rằng theo quan điểm của Thượng Đế, các Solar Angels trên cõi trí (cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ) đang lâm phàm hồng trần, và cái được gọi là “sự sa ngã thứ hai” (“second fall”) áp dụng cho việc này. Việc sa ngã thứ nhất có liên quan đến việc khoác lấy hình hài bằng chất dĩ thái vũ trụ, như là trường hợp đối với các Heavenly Men, các nguyên mẫu (prototypes) của các Jivas nhân loại. Trong trường hợp sau này các thể được dùng được gọi là “sắc tướng” (“formless”) theo quan điểm của chúng ta, và là “các thể trọng yếu” (“vital bodies”), được làm sinh động bằng prana vũ trụ. Trong trường hợp của chính chúng ta và các nhóm còn lại, các hình hài được tạo ra bằng chất liệu của ba cõi thấp (những gì mà Thượng Đế không xem như là nguyên khí) và do đó vật chất vẫn đáp ứng đối với rung động của thái dương hệ trước. Điều này hàm ý rằng bốn Huyền Giai thấp là các khoen nối giữa sự sống của quá khứ và của tương lai. Chúng hiện tại. Chúng không kết thúc các tiếp xúc của chúng với nguyên khí sáng suốt linh hoạt của thiên kiếp trước, và vì thế phải tiếp tục các tiếp xúc như thế trong thiên kiếp này. Chúng sẽ thể hiện điều đó trong thái dương hệ này, cái số bốn sẽ trở thành cái số ba và lúc đó, chúng sẽ trở thành ba Huyền Giai sắc tướng cao siêu của thái dương hệ sắp tới. Trước khi tiếp tục việc xem xét của chúng ta về các Huyền Giai đặc biệt, cần nêu ra rằng trong các Huyền Giai này, một vài cái trong số đó được gọi là “các Huyền Giai có ưu thế” (“dominant Hierarchies”), còn các Huyền Giai khác là các “Huyền Giai phụ thuộc”. Điều đó hàm ý rằng một vài trong số các Huyền Giai đó đang tự biểu lộ trong thái dương hệ này một cách đầy đủ hơn là những Huyền Giai khác và điều này tất nhiên đưa đến hiệu quả là rung động của chúng được cảm nhận nhiều hơn là rung động của các nhóm phụ. Các nhóm chiếm ưu thế là nhóm thứ hai, thứ tư và thứ năm, và điều này xảy ra bởi vì:
a/ Nhóm thứ haibiểu hiện lớn của nhị nguyên, của Đấng Con khi Ngài làm linh hoạt Mặt Trời.
b/ Nhóm thứ tưHuyền Giai của các Chân Thần nhân loại chính là kẻ môi giới hay là những kẻ tổng hợp; họ biểu lộ sự thành tựu của Thái Dương Hệ một và mục tiêu của Thái Dương Hệ hai.
c/ Nhóm thứ năm hay thứ mười được liên kết chặt chẽ với năm Huyền Giai giải thoát, và là một biểu hiện của sự sống tổng hợp của họ. Do đó, có thể nói rằng Huyền Giai thứ năm được dùng như kẻ đại diện của năm nhóm giải thoát, còn Huyền Giai thứ tưnhóm đại diện trong thái dương hệ này, trong khi nhóm thứ hai tái hiện lại (cho con người, hoặc là hai nhóm hợp nhất này) những gì là trạng thái Tinh Thần, Từ Phụ, Đấng Bất Tri (the Unknown).

Huyền Giai V. Như chúng ta biết do nghiên cứu GLBN, Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm là một Huyền Giai huyền bí nhất. Các huyền bí này gắn liền với sự liên quan của Huyền Giai thứ 5 với 5 nhóm đã giải thoát. Mối liên quan này có quan hệ với hành tinh đặc biệt của chúng ta, vốn không phải hành tinh thánh thiện, có thể hiểu được phần nào nếu lịch sử của Đức Phật (Buddha) và công việc của Ngài được dự liệu (contemplated). Điều này được ám chỉ (hinted) trong quyển thứ ba của GLBN. Mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với một chòm sao nào đó cũng có một liên quan với cái huyền bí này. Điều này được ẩn giấu trong karma của Thái Dương Thượng Đếdính líu mối liên hệ của Ngài với một Thái Dương Thượng Đế khác, và sự tương tác của thiên lực giữa Các Ngài trong một đại thiên kiếp (great mahakalpa). Đây là “bí ẩn thực sự của Rồng” và đó là ảnh hưởng của rồng (dragon-influence) hay là “năng lượng rắn” (“serpent energy”), nó tạo nên dòng lưu nhập của trí tuệ hay là năng lượng trí tuệ (mind energy) vào trong thái dương hệ. Bị dính mắc chặt chẽ với karma của hai Thực Thể vũ trụ này nghiệp quả của Thực Thể vũ trụ thấp hơn, Đấng vốn là Sự Sống của hành tinh chúng ta, Đức Hành Tinh Thượng Đế. Chính karma mặt này mới mang lại “tôn giáo về rắn” (“serpent religion”) và “Rắn hoặc Rồng Minh Triết” trong thời Lemuria. Nó có liên quan với Kundalini thái dương và hành tinh, tức Hỏa Xà (Serpent fire). Một ẩn ngôn nằm trong sự kiện rằng chòm sao Thiên Long (Dragon) có cùng mối liên quan với Đấng (ONE) còn vĩ đại hơn Thượng Đế chúng ta như là bí huyệt ở đáy xương sống có liên quan đến con người. Nó liên quan đến sự kích thíchđem lại sinh khí với một phối kết theo sau của các lửa biểu lộ. Một manh mối cho cái bí ẩn cùng nằm trong sự liên hệ của nhóm thứ năm này đối với hai cực thu nhỏ. Chúng là các Khoen Nối ngũ phân, “Các Chủ Thể Kết Hợp Nhân Từ” và các “Tác Nhân Tạo Nhất Quán”. Về mặt huyền bí, các vị này là “Các Đấng Cứu Độ Nhân Loại” và từ nơi các Ngài phát ra nguyên khí – liên kết với trạng thái cao nhất – nguyên khí này nâng trạng thái thấp lên Cõi Trời. Khi các bí ẩn này được nghiên cứu thận trọng, và việc áp dụng đúng được tạo ra với các sự sống của các nhà thực hành vĩ đại nhất về nguyên tắc nhất quán, vị trí của họ trong cơ tiến hóa sẽ trở nên to tát và cực kỳ quan trọng biết bao. Chính vì lý do này mà các đơn vị của Huyền Giai thứ năm được gọi là “Các Quả Tim Bác Ái Nồng Nhiệt”; Các Ngài cứu độ qua lòng bác ái, và đến lượt các Ngài, các sự sống này đặc biệt gần gũi với Tâm Bác Ái vĩ đại của Thái Dương Thượng Đế. Các Thiên Thần cứu chuộc vĩ đại này, Các Ngài là các Con của Nhân Loại trên cõi riêng đích thực của các Ngài, tức cõi trí, do đó bao giờ cũng được miêu tả như là có hình các hoa sen có 12 cánhbiểu tượng này liên kết các Ngài với “Con của Bác Ái Thiêng Liêng”, tức thái dương hệ biểu lộ, vốn được nói đến là một hoa sen vũ trụ có 12 cánh, và với hoa sen Chân Ngã của Thượng Đế cũng có bản chất 12 cánh. Do đó, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp chảy qua:

a/ Hoa sen Chân Ngã của Thượng Đế 12 cánh, cõi trí vũ trụ.

b/ Hoa sen thái dương 12 cánh.

c/ Tâm của Hành Tinh Thượng Đế, cũng là hoa sen 12 cánh.

d/ Hoa sen Chân Ngã của con người 12 cánh trên cõi trí.

e/ Tâm điểm 12 cánh trong con người.

Hay là nói cách khác, năng lượng tuôn đổ trực tiếp từ:

a/ Thái Dương Thượng Đế, xuyên qua ba trung tâm vũ trụ lớn:

   1. Mặt Trời tinh thần trung ương.

    2. Tâm của Mặt Trời.

    3. Mặt Trời vật chất.

b/ Trung tâm lực tim của Hành Tinh Thượng Đế, nằm trên cõi dĩ thái thứ tư của vũ trụ (tức cõi bồ đề của chúng ta).

c/ Hoa sen Chân Ngã của con người trên cõi trí, mà theo sát nghĩa, là một tương ứng với “tâm của Mặt Trời”. Điểm Chân Thần là một phản ảnh trong hệ thống con người của “Mặt Trời Tinh Thần trung ương”.

d/ Bí huyệt tim của con người trên cõi dĩ thái của cõi trần, mà đến phiên nó chính là một tương ứng với Mặt Trời vật chất. Như thế nguyên tử nhỏ bé được liên kết với Sự Sống vĩ đại ở giữa của thái dương hệ. Theo thiên luật, Huyền Giai thứ năm này cũng là một chủ thể phân phối năng lượng cho cõi phụ thứ năm của mỗi cõi chính trong thái dương hệ, chỉ có điều cần ghi nhớ rằng, trong ba cõi thấp, chính cõi phụ thứ năm tính từ trên xuống, trong khi trong các cõi tiến hóa siêu nhân loại, chính cõi phụ thứ năm đếm từ dưới lên. Như chúng ta biết, Huyền Giai này sử dụng trạng thái kép của manas, một ở trong ba cõi thấp và một vốn làm cho chính nó được cảm nhận trong các lĩnh vực cao. Cần nhớ rằng tất cả các nhóm này (cho dù khi được đặt tên là “sắc tướng” đi nữa) lại là hình hài thực sự của mọi vật đang hiện hữu, vì vạn vật đều ở trong thể dĩ thái của Thái Dương Thượng Đế hoặc Hành Tinh Thượng Đế. Đây là một điểm cần thận trọng chú ý; từ lâu rồi các đạo sinh đã xem hình hài như là thể xác trọng trược, trong khi đối với nhà huyền linh học, thể xác (physical body) không phảihình hài (form), mà là một ảo tưởng toàn bộ (gross maya) tức là illusion, còn hình hài thực sựthể sinh lực (body of vitality). Do đó, các Huyền Giai này là toàn bộ của các sự sống linh hoạt (vital lives) và là cơ sở (substratum) hay chất liệu của tất cả những gì hiện hữu. Chúng ta có thể xem vấn đề như sau:

a/ Bốn nhóm trên là các Huyền Giai tự biểu hiện qua ba chất dĩ thái vũ trụ, chất thứ hai, thứ ba và thứ tư.

b/ Hai nhóm thấp nhất là các sự sống vốn được thấy hoạt động dưới hình thức vật chất giáng hạ tiến hóa (có tổ chức và không được tổ chức) của thể hồng trần trọng trược của Thượng Đế, chất lỏng và chất khí, với vật chất sinh động của bốn cõi phụ cao của thể hồng trần trọng trược của thái dương hệ.

c/ Huyền Giai thứ 5 có một vị thế lý thú như là thể “trung gian” (“mediating” body) giữa bốn thể cao với các thể vốn được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp. Có một tương ứng sinh động và có ý nghĩa được tìm thấy giữa bảy bí huyệt đầu với bảy nhóm egos trên cõi trí, và có một tương đồng huyền bí giữa ba bí huyệt đầu (tuyến tùng quả, tuyến yên và bí huyệt ấn đường) với biểu hiện của bảy nhóm chân ngã này trong ba cõi thấp. Đây là một sự kiện huyền bí nhất, và tất cả các đạo sinh đang trầm tư về các định luật nhất quán phải để ý đến sự tương đồng này. Thật là hữu ích khi nhớ vị trí của các Huyền Giai này trong hệ thống và khi nhận thức rằng toàn bộ các thể sinh lực này từ từ được gom vào thể biểu lộ trọng trược mà chúng ta xem như vật chất tiến hóa. Các hình hài được kiến tạo (từ hình hài của tất cả các nguyên tử đến thể của Chân Ngã, từ hình hài của một đóa hoa đến hoa sen hành tinh hoặc thái dương rộng lớn) bởi vì các Huyền Giai này hiện hữu như toàn bộ các sự sống mầm mống, mang lại động cơ, cung cấp mô hình, và qua chính sự sống của chúng, đem đến toàn bộ lẽ sống (raison d’être) của tất cả những gì được nhìn thấy trên mọi cõi giới.

Huyền Giai VI và VII. Các Huyền Giai thứ sáu và thứ bảy cung ứng các hình hài vật chất của ba cõi thấp, các Huyền Giai này có một công dụng tối quan trọng và một vị trí lý thú nhất. Theo quan điểm của Thượng Đế, chúng không được xem như là các nguyên khí cung ứng (providing principles), nhưng theo quan điểm của con người, chúng rõ ràngcấp cho con người các nguyên khí thấp nhất của Thượng Đế. Chúng nắm giữ cùng mối liên hệ với Thượng Đế như nhục thân đối với con người, và tất cả những gì liên hệ đến sự tiến hóa của con người đều phải (ở vị trí đặc biệt này) được nghiên cứu như đang diễn ra trong thể xác Thượng Đế. Chúng liên quan với sự hiển lộ của năng lượng vật chất; với sự thể hiện ra trong hiện thể hồng trần tất cả các mục đích thiêng liêng, và với cơ cấu hồng trần của một Sự Sống vũ trụ vĩ đại nào đó. Đặc biệt là như thế, khi chúng ta xem xét kỹ hai Huyền Giai. Chúng là phần còn lại thấp nhất của thái dương hệ trước, và năng lượng của vật chất đó (chất lỏng, hơi và đặc) mà rung động của vi tử thường tồn của Thượng Đế (trên cõi Tối Đại Niết Bàn) thu hút vào chính nó trong việc kiến tạo hình hài thiêng liêng. Với mục đích minh giải và khái quát hóa, có thể ghi nhận rằng Huyền Giai thứ 7sự sống hoặc năng lượng được tìm thấy ở tâm của mọi nguyên tử, trạng thái tích cực của nó, và Huyền Giai thứ sáusự sống của các hình hài của tất cả các thể dĩ thái của mọi đối tượng hữu hình. Chức năng của Huyền Giai này được tả rõ bằng các lời sau trong Cổ Luận: “Các devas nghe được lời phát ra. Các Ngài hy sinh chính mình và nhờ chất liệu riêng, các Ngài tạo được hình hài mong muốn. Các Ngài rút sự sốngchất liệu từ chính các Ngài và vận dụng chính các Ngài cho động lực thiêng liêng”. Luận Về Lửa Càn Khôn, 1196 – 1207. Biểu Đồ

III I. Năng Lượng Năng Động ................................. Lửa Điện Cancer

1- Sirius .............. Saturn....................................... H.Giai sáng tạo Capricorn thứ năm (thứ 8) Không biết Thập Giá Chính Yếu Aries

2- Đại ................. Mặt Trời, che lấp Vulcan ....... H.Giai sáng tạo Hùng Tinh Libra thứ hai (thứ 11) Không biết Thập Giá Chính Yếu (Cardinal Cross) Germini

3- Pleiades ......... Mercury ................................... H.Giai sáng tạo Sagittarius thứ tư (thứ 9) Không biết Thập Giá Khả Biến (Mutable Cross)

Tất cả các năng lượng trên đều được huy động chừng nào con người ở trong các cuộc điểm đạo chính yếu và ở trên Con Đường Điểm Đạo.

II. Năng Lượng Từ Tính (Magnetic Energy) ..... Lửa Thái Dương Taurus 4- Bảy T.D hệ ......... Mars .................................... H.Giai sáng tạo Scorpio thứ ba (thứ 10) Không biết Thập Giá Cố Định (Fixed Cross) Mọi năng lượng ở trên đều được huy động trong khi con người đang được huấn luyện với tư cách đệ tử và ở trên Con Đường Đệ Tử.

Ghi chú: Không được tiết lộ qua các cung nào của hoàng đạo Huyền Giai Sáng Tạo thứ nhất hoặc thứ 12 tuôn đổ năng lượng của nó. Trước khi tiếp tục với việc phân tích các bảng biểu và nêu ra các liên hệ hỗ tương hiện có trong chu kỳ hoàng đạo đặc biệt này giữa 12 cung của hoàng đạo với 12 hành tinh, có một vài điều mà tôi muốn nêu ra ở đây liên quan tới các chòm sao hoàng đạo này. Chúng có bản chất là các điều khái quát, nhưng cái đặc thù và riêng biệt có thể được suy ra từ chúng. Trước tiên, tôi muốn nêu ra rằng 12 hành tinh đang chi phối 12 cung, có liên quan trước tiên đến biểu lộ ở cõi trần của con người; chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ lên khía cạnh phàm ngã; ảnh hưởng của chúng, cộng với các tình trạng nghiệp quả do kế thừa, tạo ra các trạng thái chung quanh và các hoàn cảnh vốn đem lại cơ hội cho sự phát triển và sau rốt việc kiểm soát khía cạnh hình tướng của sự sống. Thứ nữa, 12 chòm sao có liên quan trước tiên với việc kích thích của linh hồn bên trong hình hài, tạo ra hoạt động bên trong mà, đến lượt nó, tạo nên các thay đổi trong biểu hiện bên ngoài, qua sự dung hợp của năng lượng của chòm sao với năng lượng của các hành tinh. Ảnh hưởng được tạo ra rơi vào hai giai đoạn:

1. Giai đoạn thứ nhất trong đó Cung thái dương chi phối con ngườicon người dần dần thích hợp để đáp ứng với linh hồn. Các khả năng tiềm tàng của con người trong kiếp sống này được khai mở. Hiệu quả/ ảnh hưởng của cung thái dương đôi khi được gọi là “thế mạnh của Mặt Trời Khả Hữu” (“the potency of the Sun of Probability”).

2. Giai đoạn thứ hai trong đó có sự đáp ứng ngày càng tăng với các năng lượng, bị che giấu bởi cung mệnh. Các năng lượng đó tạo ra điều bất ngờ và gây ra việc thúc đẩy diễn trình tiến hóa và việc khai mở sự sống nội tâm. Cung mệnh được đặt tên theo ngôn ngữ của huyền bí học là “Mặt Trời của Triển Vọng” (“the Sun of Possibility”). Qua hiệu ứng của năng lượng tuôn đổ từ các cung hoàng đạo, con người được chuẩn bị cho “bước ngoặt về định hướng” (“crisis of orientation”) trong đó con người từ từ và dần dần đảo ngược cách thức tiến bộ của mình dựa trên vòng sinh hóa và bắt đầu quyết tâm đi tìm lại cội nguồn của mình. Lúc bấy giờ, y đi từ Aries (Dương Cưu) đến Pisces (Song Ngư) xuyên qua Taurus (Kim Ngưu), Scorpio (Hổ Cáp) và Capricorn (Nam Dương/ Ma Kết), thay vì chuyển từ Aries đến Taurus xuyên qua Sagittarius (Nhân). Leo (Hải Sư) và Cancer (Bắc Giải). Bộ ba của các chòm sao nói trên trong hai lộ trình lớn này chung quanh hoàng đạo có một hiệu quả rõ rệt và quan trọng, được gọi là “cung có ảnh hưởng tối thượng”. Trong tiến trình này, nguyên khí trí tuệ, tức thể trí biết phân biện (discriminating mind), được phát triển và trong mối liên quan đặc biệt này (không phải trong một liên quan tổng quát) tầm quan trọng được đặt vào ảnh hưởng của Aries (Dương cưu), Gemini (Song Nam) và Libra (Thiên Xứng). Dưới ảnh hưởng đó, con người học cách khắc phục dục vọng nhờ thực nghiệm với và kinh nghiệm của mọi loại dục vọng và thôi thúc ích kỷ. Như vậy từ từ và với đau khổ nhất định, linh hồn con người học cách hoạt động trước tiên như một thành viên của gia đình nhân loại, và kế đó như một thực thể tâm linh, tức hồn thiêng (divine soul). Do đoạn trên, bạn sẽ thấy rằng một số lập trường mà nhà chiêm tinh học nội môn chọn lựa, đi ngược với lập trường của chiêm tinh học chính thống của ngày nay. Lý do của việc này nằm ở chỗ trong việc đi xuống của các ý tưởng từ cõi của ý tưởng, các ý tưởng đó trở nên “bị đảo ngược” (“reversed”) trên cõi cảm dụclệ thuộc vào đại ảo giác (great illusion); chiêm tinh học cuối cùng phải chính mình thoát khỏi sự đảo lộn này. Việc hiểu biết đúng về hiệu quả của các năng lượng và các lực khác nhau sẽ làm lộ rõ ra rằng, khi các lực hành tinh chi phối, các năng lượng trải rộng ra của cung thái dươngnăng lượng truyền động (driving energy) của cung mệnh tất cả đều được kiểm soát và được điều khiển bởi con người tâm linh đã giác ngộ, lúc bấy giờ bạn sẽ có một linh hồn ở trên chính ranh giới của sự giải thoát. Sau rốt, năng lượng của mười hai chòm sao và ‒ ở giai đoạn cuối của kinh nghiệm và phát triển – của ba tinh tòa lớn đang chi phối Thái Dương Thượng Đế được phối hợp với các năng lượng tự nhiên (innate energies) của bảy cung hoặc của bảy vị Hành Tinh Thượng Đế. Điều này đánh dấu một mức hoàn thiện. Các năng lượng bên ngoài này (ở đây Tôi nói tới năng lượng của các tinh tòa chính) được chuyển cho Địa Cầu xuyên qua bảy hành tinh thánh thiệnnăm hành tinh không thánh thiện, và khi có sự hòa nhập hoàn toàn của các năng lượng có liên quan, và, do đó có sự biểu hiện đầy đủ, thì một giai đoạn lớn của thế giới kết thúc. Cả một thời kỳ dài trong chu kỳ các cuộc lâm phàm này và các giai đoạn biểu lộ, con người hầu hết bị chi phối hoàn toàn bởi hoạt động của các hành tinh không thánh thiện. Như bạn biết, có năm hành tinh loại này: Thái Dương (đang che khuất một hành tinh) Mặt trăng (đang che lấp một hành tinh) Chính Địa Cầu, Mars, Pluto. Nói một cách tượng trưng, con người là “ngôi sao năm cánh và, ở các điểm lửa, các lực của con người tuôn ra và trên mỗi điểm lửa đó xuất hiện một trung tâm tiếp nhận”. Dĩ nhiên điều này được diễn tả một cách tượng trưng, nhưng ý nghĩa lại rõ ràng. Tuy nhiên, khi con người tiến gần đến Con Đường Đệ Tử, thì ảnh hưởng của các hành tinh thánh thiện trở nên ngày càng hiệu quả, cho đến khi sau cuộc điểm đạo cuối cùng và thứ năm, các hành tinh không thánh thiện không còn chút hiệu quả, mặc dù điểm đạo đồ sử dụng các năng lượng của họ một cách mạnh mẽ khi các năng lượng này tuôn đổ vào và qua các vận thể tiếp nhận, các vận thể đáp ứng và biểu lộ của mình, vì tất cả ba hoạt động và mục tiêu đều phải được ghi nhận. Các năng lượng của 12 chòm sao được phối hợp với các năng lượng của 12 hành tinh, nhưng khả năng khơi hoạt đáp ứng của chúng và khả năng để được tiếp nhận sáng suốt, nhận thức và sử dụng chúng tùy thuộc hoàn toàn vào loại cơ cấu đáp ứng của Sự Sống hành tinh và của con người cá biệt. (Sự Sống hành tinh: planetary Life. Trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, quyển I, trang 68, danh xưng này dùng chỉ Thượng Đế – ND). Nói đúng ra, tâm thức tùy thuộc vào các vận thể (vehicles) của tâm thức, vào trình độ phát triển của các hiện thể đó và tùy thuộc vào năng lực của cá nhân để đồng nhất hóa chính mình (identify himself, hòa mình) với các năng lượng và các thôi thúc đang đến với y, và không những chỉ tùy thuộc vào những gì vốn đã là một phần được nhận thức hay là trạng thái của chính y. Có thể nói rằng đáp ứng cao siêu đối với các thực tại và các tính chất được tiết lộ và làm cho có thể xảy ra bằng tác động của năng lượng từ các cung hoàng đạo đều phần nào tùy thuộc vào ảnh hưởng đang giảm dần của các hành tinh để nắm giữ trạng thái tâm thức của con người. Hãy nghiền ngẫm điều này vì nó chứa đựng một chân lý huyền bí sâu xa. Như thế hai dòng năng lượng mạnh mẽ ‒ thuộc vũ trụthái dương hệ ‒ đi đến con người xuyên qua các trung tâm lực hành tinh đang chi phối (bảy hành tinh hệ trong thái dương hệ và bảy trung tâm tương ứng của chúng trong hành tinh mà chúng ta sống trên đó) và tuôn đổ vào “mười hai cung” tượng trưng qua trung gian của chúng. Chính vì lý do này mà thái dương hệ của chúng ta được nói đến như là thái dương hệ có “bản chất lưỡng nguyên” (bác áiminh triết) và chính nhiệm vụ chính của con người là “điều hòa các cặp đối ứng” (“regulation of the pairs of opposites”). Do đó, chủ đề của lưỡng nguyên (duality) tràn ngập / xuyên suốt qua (run through) toàn bộ lịch sử phát triển của con người. Trên tất cả ba cõi phát triển của con người, sự hòa giải đang diễn ra.

1. Trên cõi trần, chúng ta thấy có sự hòa nhập (merging của lực trọng trược và lực tinh anh (the dense and the etheric forces). Việc hoà nhập này được hoàn thành trên Con Đường Thanh Luyện.

2. Trên cõi cảm dục, việc giải quyết các cặp đối ứng phải xảy đến. Việc này được hoàn tất trên Con Đường Đệ Tử.

3. Trên cõi trí, Thiên Thần Bản Lai Diện Mục (Angel of the Presence) và Tổng Quả Báo (Dweller on the Threshold) được mặt đối mặt. Sự tổng hợp của chúng xảy ra trên Con Đường Điểm Đạo. Những gì đúng đối với con người trong mối liên hệ này thì cũng đúng đối với nhân loại nói chung, đối với Hành Tinh Thượng Đế của Địa Cầu, cũng như đối với tất cả các Hành Tinh Thượng Đế và đối với một Thái Dương Thượng Đế. Sự tương đồng giữa sự hợp nhất các cặp đối ứng chẳng hạn trên cõi trần có thể được nhìn thấy trong sự hợp nhất hữu thức và có chỉ đạo của các lực hành tinh với năng lượng của bất cứ hành tinh đặc biệt nào hoặc nhóm hành tinh nào. Liên quan đến sự phân biện để điều chỉnh và hóa giải mãnh lực của các cặp đối ứng trên cõi cảm dục, sự tương đồng có thể được nhìn thấy khi các năng lượng của cung thái dương và của các hành tinh được điều khiển và hiệu chỉnh một cách hoàn hảo. Sự tương đồng cũng có thể được đưa vào trên cõi trí, và khi các năng lượng của cung thái dươngcung mệnh được phối hợp chặt chẽ và được thể hiện ra (trong trường hợp cả sự sống cá biệt hoặc một Sự Sống hành tinh) sẽ đến một điểm quyết định mà trong đó linh hồnphàm ngã được đối mặt. Thiên Thần Bản Lai Diện Mục, tức Lửa thái dương phân tán và lửa điện tập trung cầm giữ, và Tổng Quả Báo, đang biểu lộ và sử dụng lửa do ma sát, đều biết lẫn nhau “bằng kiến thức huyền bí sâu xa”. Lúc đó cánh cửa sẵn sàng mở rộng, qua đó sự sốngánh sáng của ba chòm sao chính – sau lần điểm đạo thứ ba – có thể trở nên hữu dụng về mặt huyền bí đối với điểm đạo đồ, làm cho y trở thành người giải thoát hoặc một Hành Tinh Thượng Đế. Khi các nhà chiêm tinh học hiểu được ý nghĩa thực sự của chòm sao Song Nam, tức Twins (Cặp Đôi), và các mãnh lực kép đang tuôn đổ qua cung này (“các lực xung khắc” như đôi khi chúng được gọi hoặc “các huynh đệ hay gây gổ”) và đâm bổ vào sự sống hành tinh chúng ta, lúc bấy giờ phương pháp đúng đắn để giải tỏa các lưỡng nguyên sẽ được biết rõ. Cũng nên chú ý ghi nhớ rằng bảy trong số các biểu tượng dùng diễn tả mười hai cung hoàng đạo đều có bản chất lưỡng phân, và nhị nguyên tính (duality) có thể được suy đoán từ chúng.

1. Hai sừng con Cừu (Ram) trong Cung Dương Cưu (Aries).

 2. Hai sừng Bò (Bull) trong Cung Kim Ngưu (Taurus).

 3. Hai mặt của Song Tinh (Twins) trong Gemini (hai đường kẻ).

 4. Hai càng con Cua (Crab) trong Cung Bắc Giải (Cancer).

 5. Hai đĩa cân của Cân (Balance) trong cung Thiên Xứng (Libra).

6. Hai Đường Song Song của lực trong Cung Bảo Bình (Aquarius).

7. Hai Con Cá (Fishes) trong Cung Song Ngư (Pisces).  Do đó, bảy tinh tòa này có liên quan chặt chẽ với sáu trong số bảy hành tinh thánh thiện và liên quan với một hành tinh không thánh thiện. Có hai cung mới là các hình đơn giản và không có ý nghĩa của nhị nguyên tính. Hai cung đó là

8. Biểu tượng cho Leo (Nhân Sư/Hải Sư), đó chỉ là đuôi của Sư Tử (Lion’s tail).

 9. Mũi tên trong biểu tượng mô tả Cung Nhân Mã (Sagittarius). Chúng biểu hiện cho ý tưởng về sự cách ly biệt lập (isolated separation) và một ý muốn nhất tâm. Hai cung này đều có cấu trúc tam phân rõ rệt, và điều này có một ý nghĩa rõ ràng đối với nhà huyền bí học.

10. Virgo (Xử Nữ/ Thất Nữ) là một cung tam phân.

11. Scorpio (Hổ Cáp, Bọ Cạp, Thiên Hiết) cũng là một cung tam phân, rất giống với biểu tượng của Virgo. Cả hai cung này đều có tính quyết định trong kinh nghiệm của con người vì chúng báo hiệu cho chức năng của hình hài tam phân và sự giải phóng của con người bị giam nhốt trong hình hài qua các trắc nghiệm trong Scorpio nơi mà y chứng minh cho chính mình và cho thế giới cái thực tế của những gì mà Virgo đã che lấp hoặc ẩn giấu.

12. Biểu tượng cho Cung Capricorn (Nam Dương/Ma Kết) là huyền bí nhất. Nó che giấu cái bí mật của Cá Sấu (Crocodiles hay là Makara). Nó được kiến tạo bằng một lối thiếu chính xác và có tính lừa dối rõ rệt, sẽ được xem như một bí ẩn và do đó không cần giải thích. Các cung này và mối liên hệ của chúng đối với các hành tinh thánh thiện và không thánh thiện sẽ được xem xét sau. Tóm lại: Do đó con người phải được khảo cứu như một thực thể tam phân, một cá nhân kết hợp, biểu lộ (trong ba cõi thấp): a/ Hồn thiêng liêng (spiritual soul), phản chiếu Chân Thần. b/ Nhân hồn (human soul), phản chiếu hồn thiêng liêng (divine soul). c/ Phàm ngã (form nature), nó sẽ là chủ thể biểu lộ của hai bản chất cao. Ba Huyền Giai Sáng Tạo chi phối con người đang lâm phàm, đó là Huyền Giai thứ 4 (hay thứ 9), thứ 5 (hay thứ 10) và thứ 6. Trong lúc hợp tác, các Huyền Giai này tạo ra con người, và đồng thời, tạo thành lĩnh vực biểu lộ của con người. Bởi vậy, con người là một phối hợp của lửa điện, vốn là một Lửa Thiêng, và sau rốt trở nên đáp ứng với ba ảnh hưởng lớn đang chi phối; con người cũng là lửa thái dương, là một Solar Angel (Thái Dương Thiên Thần) đang biểu lộ. Kế đó, con người trở nên ngày càng đáp ứng với các ảnh hưởng của 12 tinh tòa. Con người cũng là lửa do ma sát và đến dưới ảnh hưởng của các hành tinh. Bảng dưới đây có thể minh giải một phần điều này: I. Lửa Điện. Con Đường Điểm ĐạoHuyền Giai thứ 4; biểu lộ đầy đủ của linh hồn; sự sống Chân Thần. Mục tiêu: Huyền đồng với Chân Thần. Tạo ra sự đáp ứng với ba tinh tòa. II. Lửa Thái Dương. Con Đường Đệ TửHuyền Giai thứ 5; kinh nghiệm sự sống đầy đủ; sự sống linh hồn. Mục tiêu: Huyền đồng với linh hồn. Tạo ra sự đáp ứng với 12 chòm sao của hoàng đạo. III. Lửa do ma sát. Con Đường Tiến HóaHuyền Giai thứ 6; kinh nghiệm sự sống; sự sống nhân loại. Mục tiêu: Đồng nhất hóa với Phàm ngã. Tạo ra sự đáp ứng với các ảnh hưởng hành tinh.

III- Huyền gia Tinh thần

Huyền giai trật tự đẳng cấp có trong nhiều đoàn nhóm khác nhau. Chúng ta thấy rõ các đẳng cấp này trong những giới tiến hóa của thiên nhiên, như các cấp nguyên tố chất khoáng, và những phân loại phức tạp trong sinh học và động vật học. Chúng ta cũng thấy có khái niệm về đẳng cấp trong xã hội của mình, với những đoàn nhóm được cơ cấu và tổ chức tùy theo cấp, bậc, hoặc phạm vi trách nhiệm của các thành viên trong nhóm. Chúng ta cũng thấy những đoàn nhóm có tổ chức như thế trong các đẳng cấp của chính phủ, của giáo hội, hoặc những hệ thống đẳng cấp để phân biệt các giai tầng xã hội. Chúng ta cũng biết về Giới Thiên thần, gồm các cấp Thiên thần tùy theo trình độ tiến hóa – từ các Thiên thần ở những cấp thấp nhất đến các Thiên thần cấp thứ năm, Đại Thiên thần, Thiên thần bảo vệ, Thiên thần trông nom thiên thể, Thiên thần tổng lãnh, Thiên thần hầu việc Chúa, Thiên thần có cánhThiên thần ba đôi cánh với đẳng cấp cao tột. Cũng có sắp xếp đẳng cấp tự nhiên giữa các giới tiến hóa của thiên nhiên. Chúng ta thường phân cấp các giới này bằng cách xếp giới khoáng vật ở cấp thấp nhất, rồi đến thực vật và động vật, và giới nhân loại ở cấp cao nhất. Theo huyền bí học, không chỉ bốn, mà có bảy giới tiến hóa của các sinh linh. Các giới này hình thành một trật tự đẳng cấp có cấu trúc tùy theo mức phát triển tâm thức của mỗi giới. Ba giới được kể thêm trong huyền bí học thì cao siêu hơn giới nhân loại. Ba giới siêu nhân vừa kể là Trường tiến hóa của Linh hồn, còn gọi là giới thứ năm, cùng với hai giới cao siêu hơn nữa, là giới thứ sáu và giới thứ bảy. Những người thuộc về giới thứ năm và giới thứ sáu là thành viên của Huyền giai Tinh thần (Thánh đoàn). Sơ đồ dưới đây cho thấy vị trí của Huyền giai Tinh thần trong diễn trình tiến hóa. fig5-2

Thành phần của Huyền giai Tinh thần

Giờ đây chúng ta tập trung vào tập thể các Đấng siêu nhân được gọi là Huyền giai Tinh thần. Trong các thành viên của Huyền giai Tinh thần có một số vĩ nhân đã góp phần đẩy nhanh cuộc tiến hóa của nhân loại mà chúng ta biết đến qua lịch sử: Vyasa, Krishna, Shri Sankaracharya, Jesus ở Nazareth, Paul ở Tarsus, Mahommet, Martin Luther, và những nhân vật lỗi lạc khác (nổi tiếng và vô danh) đã có ảnh hưởng lớn mang lại sự lành thiện cho nhân loại qua các thời đại. Huyền giai Tinh thần của hành tinh chúng ta gồm các vị Đế quân, Chân sư Minh triết và các Điểm đạo đồ đẳng cấp thấp hơn. Các Đế quân được sáu lần điểm đạo trong khi các Chân sưđiểm đạo đồ cấp thứ năm. Đã trở thành chủ nhân của chính mình và các định luật thiêng liêng, các Ngài hướng dẫn cuộc tiến hoa của chúng ta và phục vụ với tư cách Chính phủ Nội tại của hành tinh này. Huyền giai Tinh thần nhận ấn tượng từ Trung tâm Ý chí Thiêng liêng của hành tinh chúng ta, được gọi là trung tâm Shamballa – Trung tâm biết được Thiên ý. Bấy giờ ý chí Thiêng liêng được Huyền giai Tinh thần chuyển thành Thiên cơ, là kế hoạch tiến hóa cho cả chúng sinh trên hành tinh này. fig5-3 Với tư cách những Người trông nom Thiên cơ, các thành viên của Huyền giai Tinh thầntrách nhiệm thực hiện Thiên cơ. Trong công tác vĩ đại này họ được sự trợ giúp của các điểm đạo đồ, đệ tử cấp thấp hơn, và những người nam nữ thiện chí. Điều quan trọng cần lưu ý là các kế hoạch dành cho nhân loại không được đưa ra theo lối tiền định, mà để cho nhân loại tự quyết định vận mệnh của mình. Tuy nhiên, khi tạo mối liên hệ mật thiết hơn với Huyền giai Tinh thần, tức là chúng ta đang tự chỉnh hợp với các mãnh lực tiến hóa trên hành tinh này. Chân sư Djwhal Khul nói rất rõ về vấn đề này: Chính nhân loại đang mau lẹ đạt đến trình độ mà ý chí kết hợp của họ sẽ là yếu tố quyết định thời sự thế giới. Điều này sẽ do sự mở mang trí tuệ qua thành quả của diễn trình tiến hóa. Vì thế, yêu cầu chính yếu hiện nay là nhanh chóng giáo dục mọi người về Thiên cơ và về tính chất của các mãnh lực đang chi phối cuộc tiến hóa và các cơ quan điều hành chúng. Sự kiện thực tế về Thánh đoàn phải được công bố bằng những thuật ngữ không có tính cách mơ hồ, để khơi dậy sự quan tâm của công chúng, được công chúng khảo cứu và thừa nhận.[1] Bên trong Huyền giai Tinh thần, công tác vĩ đại nhằm hình thành và thực hiện Thiên cơ được chia ra cho bảy trung tâm chính yếu gọi là các Ashram. Các Ashram này gồm có các cấp điểm đạo đồ và đệ tử. Đến lượt họ làm việc với những người phụng sự thế gian, và những người nam nữ thiện chí trên khắp thế giới – dù những người đó có ý thức được điều này hay không. Mỗi người, dù địa vị tinh thần cao hay thấp, đều có thể góp phần vào công tác rộng lớn này. Có lời chú nguyện quan trọng khẳng định rằng: "Tôi là một với các huynh đệ trong tập thể, và tất cả những gì tôi có là của họ. Cầu mong tình thương trong linh hồn tôi tuôn rải cho họ. Cầu mong sức mạnh trong tôi nâng đỡ và trợ giúp họ. Cầu mong tư tưởng từ linh hồn tôi đến giúp họ thêm can đảm”. Screen shot 2013-10-22 at 3.03.51 PM.png Các Vai trò và Chức năng bên trong Huyền giai Tinh thần Huyền giai Tinh thầnTam vị Nhất thể. Huyền giai được tạo cơ cấu chung quanh ba vai trò chính và các chức năng kết hợp của ba Đấng cao cả đại diện cho Ý chí, Bác ái và Thông tuệ của Thượng Đế. Các Ngài là Đức Bàn cổ, Đức Bồ-tát, và Đức Văn minh Đại đế. Đức Bàn cổ: Ngài là toàn bộ Phương diện Ý chí của Thiên tính. Công việc của Đức Bàn Cổ phần lớn liên quan đến chính quyền, đến nền chính trị hành tinh, và đến việc thành lập, hướng dẫn, và giải tán các loại và hình thể chủng tộc. Ngài được giao cho Ý chí và Chủ đích của Đức Hành tinh Thượng Đế là Đấng Thiêng liêng Cao cả nhất đang trông nom Địa cầu, và là “Thượng Đế” của chúng ta. Đức Bồ-tát: Nhóm hai có vị Trưởng ngành chủ trì là Đức Chưởng giáo Thế gian. Ngài là Đấng cao cả giữ toàn bộ Phương diện Bác ái của thiên tính. Ngài có danh hiệu là Đức Christ, Đức Bồ-tát, Đức Di Lạc, và là Đấng mà người Hồi giáo đang mong chờ với danh hiệu Imam Mahdi. Ngài sẽ tái lâm giữa nhân loại như đã định. Ngài là vị Chúa cao cả của Bác áiTừ bi, cũng giống như vị tiền nhiệm của Ngài là Đức Phật, vị Chúa của Minh triết. Ngài hiện là Đức Chưởng giáo Thế gian, Vị Thầy của các Chân sư. Đức Văn minh Đại đế: Vị Trưởng của nhóm ba là Đức Văn minh Đại đế. Ngài bao gồm Phương diện Thông tuệ của thiên tính. Ngài còn có danh hiệu là vị Chúa của Văn minh. Ngài vận dụng nguồn bác ái thông tuệ và có trách nhiệm điều hành việc thực hiện Thiên cơ. Tất cả mọi người đều rốt cuộc sẽ đi vào một trong Ba Ngành này của Huyền giai. Vì thế, ba Đấng cao cả này đại diện cho Ý chí, Bác ái, và Thông tuệ. Ba Đấng này hợp tác hết sức chặt chẽ và hợp nhất với nhau, và mọi bước tiến hoặc kế hoạch ảnh hưởng đến nhân loại, các giới khác trong thiên nhiên và cả hành tinh này, đều được các Ngài quản trị. Các Ngài là đại diện thực hiện Chủ đích Hành tinh, để mang lại tình thương và những mối liên giao chính đáng của con người, và để đẩy nhanh cuộc tiến hóa của nhân loại qua việc thực hiện Thiên cơ.

Sự Liên hệ giữa Huyền giai Tinh thầnNhân loại Huyền giai Tinh thần luôn luôn mạnh mẽ và kiên định, bao giờ cũng hướng đến sự cứu rỗi thế gian. Các Ngài hướng dẫn chúng ta tiến đến vận mệnh tinh thần của mình, là nhằm được nhập vào giới thứ năm, Trường Tiến hóa của các Linh hồn. Điều này thực sự có nghĩa là trở nên thành viên của Huyền giai Tinh thần edpharmacie.fr. Vậy, bước tiến kế tiếp của chúng ta trên thang tiến hóa LÀ trở nên thành viên của Huyền gia Tinh thần. Mục tiêu ngay trước mắt của nhiều người tiến hóa cao là hợp nhất phàm ngãLinh hồn của mình. Sự thành đạt cá nhân này mang lại đáp ứng tương ứng giữa Nhân loại và Huyền giai để rốt cuộc cả hai hợp nhất. Vì thế, mọi bước tiến tinh thần mà mỗi cá nhân thực hiện trên thang tiến hóa tinh thần đều có ảnh hưởng đáng kể đối với toàn nhân loại. Sự hợp nhất chung cuộc của Nhân loại và Huyền giai sẽ thiết lập Thiên giới trên Địa cầu. Nguồn bác ái tuôn rải từ Huyền giai vào tâm mọi người, tạo mối liên giao giữa nhân loại và Huyền giai. Những người đang tiến trên Đường Đạo hướng đến tâm thức cao siêu đều có nhiệm vụ làm cho tâm hồn mọi người tiếp nhận nguồn bác ái này. Nói cách khác, vai trò của chúng ta là giúp nhân loại đón nhận tâm thức của Huyền giai Tinh thần. “Huyền giai này gồm những Đấng đã hoàn toàn chiến thắng vật chất, và đã đạt mục tiêu qua cùng những bước tiến mà các cá nhân đang thực hiện ngày nay. Những nhân vật tinh thần này, các vị cao đồ và Chân sư, đã phấn đấu và chiến đấu để chiến thắng và chế ngự cõi trần. Các Ngài phấn đấu trong chướng khí, sương mù, nguy hiểm, khó khăn, đau buồnthống khổ của đời sống hằng ngày. Các Ngài đã tiến lên từng bước trên con đường đau khổ, đã trải qua mọi kinh nghiệm, và khắc phục bao nỗi khó khăn, và đã chiến thắng. . . . Vì đã thấu đáo sự tự do qua việc hy sinh hình thể nhờ lửa tinh luyện, các Ngài có bàn tay mạnh mẽ, khả năng kiên trì cho dù khi hình thể dường như phải chịu quá nhiều đau khổ, và lòng yêu thương chiến thắng mọi trở lực, vì có nền tảng là sự nhẫn nại và kinh nghiệm.” 2 2 Alice Bailey, Điểm đạo, trong Nhân loại và Thái Dương hệ, tr. 24-25 fig5-4

  1. Alice Bailey, Vận mệnh các Quốc gia, tr. 37

+ Rất cần phải Phước Đức Song tu mới mong Hạnh phúc đủ đầy viên mãn:
Khi một người Phật tử đã hiểu được đạo pháp, thì người ấy sẽ rất yêu thích việc làm phước. Tuy nhiên, điều gì xảy ra nếu một người tu phước mà không tu đức?

Cụ thể như:
Họ rất siêng năng trong các việc từ thiện, hay cúng dường, góp tiền làm đường xây cầu, phóng sinh… Đây gọi là siêng năng tu phước.
Nhưng cái đức họ không tu, cụ thể như:
Những tính khí như tham lam, nóng giận, hung dữ, ác khẩu, tà kiến mê tín… Thì họ không có tu sửa, vẫn giữ nguyên, nhiều khi là hơi xấu ác luôn.
Vậy nếu một người sống như kể trên, tức tu phước mà không tu đức thì điều gì sẽ xảy ra với cuộc đời họ ?
Trường hợp này chúng ta có thể gọi là:
“Sơn nhà nhưng không chịu lau chùi vết ố bẩn”
Giống như, các vị chuẩn bị sơn lại căn nhà cho mới, nhưng các bức tường thì hiện tại đang bám nhiều rong rêu, thậm chí dính cả phân bò, bụi bẩn…
Nếu chúng ta không chịu chà những vết ố, dơ ấy đi cho sạch trước khi sơn thì căn nhà quý vị dù có sơn xong, nhìn bên ngoài có vẻ mới, nhưng bên trong toàn là cấu uế, chứa đầy chất dơ bẩn.
Điều này cũng giống như cuộc đời chúng ta, nếu chỉ tu phước mà không tu đức, thì khi quả lành trổ ra sẽ có lẫn quả đắng cay, chứ không có hoàn toàn là quả ngọt, trái thơm.
Trong cuộc sống quý vị cũng thấy, có rất nhiều người họ hưởng quả lành nhưng cũng có quả dữ, quả đắng cay đi kèm.
Ví dụ:
Hai người yêu nhau cưới nhau về, có nhiều tiền bạc, nhưng lại vô sinh không con.
Hay người kia rất có địa vị, giàu có, nhưng khi thịnh vượng nhất, thì lại mắc bệnh hiểm nghèo và chết sớm.
Trường hợp khác, có gia đình kia làm ăn rất giàu có, thành đạt, nhưng khi thịnh vượng cũng là lúc người chồng mê gái bỏ vợ, hay đam mê cờ bạc, rồi vài năm sau gia đình tan vỡ.
Cũng có gia đình kia, nhà rất phú quý giàu có, nhưng sinh ra đứa con bị tàn tật, hoặc sinh con bình thường nhưng lớn lên nó ham chơi bất hiếu, phá tán tài sản…..
Kể ra những trường hợp trên, để quý vị thấy rằng:
Nếu chỉ lo tu phước mà không tu đức, thì quả lành của các vị khi trổ ra sẽ không được trọn vẹn.
Do đó, với người trí, người hiểu đạo thì họ sẽ kết hợp tu cả hai:
Bên trong thì tu đức (tức chuyển hóa tham, sân, si và những tâm xấu), bên ngoài thì tu phước, phước đức hỗ trợ, nếu được áp dụng thêm các pháp môn dụng công tu tập trong đạo Phật, thì người ấy có thể sẽ chứng đạo, dự vào các quả vị Thánh trong đạo Phật chứ không phải không.
Còn nếu trường hợp người ấy không nhắm đến việc tu tập để đạt đạo, chỉ tu phước đức đơn thuần, thì các quả lành của thế gian họ cũng sẽ có hết sức đầy đủ và viên mãn.
(Đó là các quả như: Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng địa vị, hạnh phúc trong gia đình, sức khỏe,… Họ sẽ có đủ. Thậm chí, sau khi mất còn có thể sinh lên cõi Trời, nếu họ đủ phước đức).
Phước và Đức như đôi cánh con chim, thiếu một trong hai thì thì vẫn còn bấp bênh lắm! (Nguồn: Đừng chỉ lo làm phước mà không tu đức)

+ Bệnh Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2. (CTNM, 383)

+ Cách gọi danh xưng: Du sỹ; Chư tôn giả; Chư hiền
Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra khi ở đây những Du sĩ ngoại đạo có thể nói: "Chư Tôn giả có tin tưởng gì, có sức lực gì mà chư Tôn giả tuyên bố: 'Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn'".

Này các Tỷ-kheo, nếu được các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy, cần phải trả lời họ như sau: "Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: 'Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất, ở đây là có Sa-môn thứ hai; Sa-môn thứ ba; Sa-môn thứ tư'. Thế nào là bốn? Chư Hiền, chúng tôi có lòng tin bậc Ðạo Sư, có lòng tin Pháp, có sự thành tựu viên mãn các Giới luật, và những pháp hữu của chúng tôi, những người cư sĩ và những người xuất gia, được chúng tôi thương, chúng tôi mến. Chư Hiền, vì chúng tôi tự chánh kiến bốn pháp, được Thế Tôn tuyên bố cho chúng tôi biết, bậc đã thấy, đã biết, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nên chúng tôi nói: 'Chỉ ở đây là Sa-môn... Sa-môn thứ tư'". (Nguồn: Tiểu Kinh Sư Tử Hống)

+ Mười sanh pháp - Điều Nên Nói:
1. Nếu Tỳ-kheo tự mình đã có được tín tâm rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người có được tín tâm.
2. Tự mình đã trì giới rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người trì giới.
3. Tự mình thiểu dục rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người thiểu dục.
4. Tự mình tri túc rồi lại nói cho người khác và cũng khen ngợi những người tri túc.
5. Tự mình ưa nhàn tĩnh rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người ưa nhàn tĩnh.
6. Tự mình đa văn rồi lại nói cho người khác và cũng khen ngợi những người đa văn.
7. Tự mình tinh tấn rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người tinh tấn.
8. Tự mình chuyên niệm rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người chuyên niệm.
9. Tự mình đắc thiền định rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người đắc thiền định.
10. Tự mình đắc trí tuệ rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người đắc trí tuệ. (Nguồn: mục 109- Xem tại đây)

+ 7.11. Định luật về các Trường phái (Law of the Schools, Định luật Bác ái và Ánh sáng):
Đây là một thuật ngữ huyền bí được dùng để che đậy định luật khi nó tác động vào các mở rộng của tâm thức mà một vị đạo đồ đang trải qua và năng lực của vị này để thu hút về chính mình nhờ sự hiểu biết:

1. Thượng ngã của riêng mình, để tạo ra chỉnh hợp và giác ngộ.
2. Vị Đạo sư Tinh thần của mình (Guru).
3. Cái mà y tìm cách để biết.
4. Cái mà y có thể sử dụng trong công việc phụng sự của mình.
5. Các linh hồn khác mà y có thể hoạt động với họ.  (LVLCK, 1168–1173)
* Định luật này là Định Luật phụ của Định luật Hấp dẫn (Law of Attraction): Định luật hấp dẫn là định luật về lửa, lửa này được tạo ra do sự phối hợp trong lúc tiến hóa của hai cực… (LVLCK, 1168–1173).

+ Các Hành Tinh , Các Cung và Giáo Lý Nội Môn
Uranus (thứ 7) – Trường Phái Pháp Thuật (school of Magic) thuộc đẳng cấp thứ 10. Đôi khi còn được gọi là “hành tinh của lực màu tím”, và những người tốt nghiệp của trường đó sử dụng năng lực của prana dĩ thái vũ trụ.

Địa Cầu (thứ 3) Trường Phái Đáp Ứng Từ Điện (School of Magnetic Response). Một tên gọi khác được dành cho các môn sinh của nó là “Những người tốt nghiệp của nỗ lực đau khổ” hay là “trọng tài giữa các đối cực”. Những người tốt nghiệp (693 766 Chiêm tinh học nội môn) của Trường Phái này được cho là trải qua sự khảo sát trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục.

Vulcan (thứ 1) – Trường Phái Hỏa Thạch (The School of Fiery Stones). Có một tiếp nối kỳ lạ giữa các đơn vị nhân loại, là kẻ đang vượt qua các phòng của Trường Phái đó với giới khoáng chất. Các đơn vị con người trên hành tinh hệ Địa Cầu được gọi là “các sinh thạch” (“the living stones”); trên Vulcan chúng được gọi là “các hỏa thạch”.

Jupiter (thứ 2) – Trường Phái các Huyền Thuật Gia Phúc Lợi (The School of Beneficent Magicians). Hành tinh này đôi khi được gọi theo cách nói thông thường là các Trường Phái, “College of Quadruple Force Units” vì các thành viên của nó sử dụng bốn loại thần lực trong công tác huyền thuật kiến tạo. Một tên gọi khác được dành cho các phòng của nó là “Dinh Thự Sang Trọng” (“The Palace of Opulence”) vì những người tốt nghiệp của nó hoạt động với Luật Cung Cầu (Law of Supply) và thường được gọi là “những kẻ gieo” (“sowers”).

Mercury (thứ 4) – Các đệ tử của trường phái hành tinh này được gọi là “Các Con của Hoài Bão” (“The Son of Aspiration”) hay là “Các điểm Ánh Sáng Vàng”. Họ có một liên hệ chặt chẽ với hành tinh hệ Địa Cầu chúng ta. Tên gọi của trường phái này không được đưa ra.

Venus (thứ 5) – Trường Phái có 5 Cấp chặt chẽ (The School with five strict Grades). Đây là một hành tinh hệ có liên quan chặt chẽ với hành tinh hệ chúng ta. Hành Tinh Thượng Đế của nó thuộc vào một nhóm các môn sinh vũ trụ tiến hóa nhiều hơn là chúng ta. Hầu hết các bậc thầy của Huyền Giai của nó đều phát xuất từ cõi vũ trụ thứ năm.

Mars (thứ 6) – Trường Phái cho các Chiến Sĩ (The School for Warriors), hay là các cấp mở rộng cho các chiến sĩ. Bốn trong số các trường phái hành tinh này chịu trách nhiệm cho năng lượng đang tuôn chảy qua “bốn tập cấp” (“four castes”) trong mọi phần của thế giới. Các huấn sư của nó được nói đến như là “Các Học Viên của Ngọn Lửa Đỏ Hồng” (“Graduates of the Ruddy Flame”) và thường được mô tả như là được khoác trong các áo choàng đỏ…. Chúng hoạt động dưới Ngôi Một của Thượng Đế và huấn luyện cho những người mà công việc của họ đi theo các đường lối của tác nhân hủy diệt.

Neptune (thứ 6) – Trường phái này chính nó có liên quan với sự phát triển của yếu tố dục vọng và các học viên của nó được gọi là “Các Con của Vishnu”, (LVLCK, 1177 – 1179)

Các Trường Phái trên Saturn, Mặt Trời, Mặt Trăng và trên Pluto nữa không được để riêng, mà toàn bộ cả 12 hành tinh nữa. (Nguồn: Chiêm Tinh Học Nội Môn)

+ Các tác phẩm của chân sư tây tạng - Chân sư DK
Trong tháng Mười Một năm 1919, tôi tiếp xúc với A.A.B. (Alice A. Bailey) và yêu cầu bà giúp tôi bằng cách viết ra cũng như lo việc xuất bản một số sách — theo trình tự phổ truyền chân lý — đã đến lúc cần được cho ra......
Các tác phẩm:
Quyển sách đầu tiên được xuất bản là Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thải Dương Hệ. ...Từ đó trở đi, A.A.B. đã viết sách cho tôi trong gần hai mươi lăm năm. Các sách này đã ra đời, phù hợp với một chủ đích sâu xa tiềm ẩn mà có lẽ các bạn quan tâm muốn biết, và chúng đã được khắp thế giới thừa nhận.
Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương Hệ có mục đích khiến cho công chúng chú ý đến sự kiện thật về Đ.Đ.C.G......
Kế đó là quyển Thư về Tham Thiền Huyền Môn. Các bức thư này đã chỉ ra một khảo hướng khá mới về tham thiền, không dựa trên lòng tôn sùng các Chân sư, mà dựa vào việc nhận thức được linh hồn nơi mỗi cá nhân. Rồi tiếp theoLuận về Lửa Vũ Trụ. Quyển sách này triển khai giáo huấn đã đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm về ba loại lửalửa điện, lửa thái dương và lửa ma sát — và nó đã đúng theo lịch trình mà người ta mong đợi. cũng đưa ra chìa khóa tâm lý cho bộ Giảo Lý Bí Nhiệm và nhằm cung ứng tài liệu nghiên cứu cho những người đệ tử và các điểm đạo đồ ở cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ tới, mãi đến năm 2025.
Về sau, A.A.B. cảm thấy rằng sẽ rất hữu ích cho tôi và công việc chung nếu bà tự viết ra một số sách giúp ích cho các sinh viên, ngoài việc ghi bài, viết sách cho tôi, rồi đưa chúng ra dưới hình thức Anh ngữ nhiều gợi ý mà chúng tôi đã phát triển làm phương tiện truyền chuyển các ý tưởng mà tôi có phận sự công bố’. Người có thần thông và người đồng tử trung bình thì thường không có mức thông minh cao, và A.A.B. muốn chứng minh (để giúp ích cho công việc trong tương lai) rằng một người có thể làm một công việc nhất định bằng quan năng thần thông mà vẫn có thể thật sự thông minh. Thế nên, bà đã viết bốn quyển sách hoàn toàn là tác phẩm của chính bà:
Tâm thức của Hạt Nguyên tử.
Linh hồn và các Thể.
Từ Trí tuệ đến Trực giác.
Từ Bethlehem đến Calvary.

Bà cũng đã cộng tác với tôi, viết một quyển sách, nhan đề là Ánh Sáng của Linh Hồn; trong sách này tôi dịch ra tiếng Anh các câu kinh Phạn ngữ của Patanjali, còn bà đóng góp phần luận giải, thỉnh thoảng bà cũng tham khảo ý kiến tôi để nắm chắc ý nghĩa.
Kế đến là Luận về Chánh thuật. Quyển này đã được viết cách đây nhiều năm, và khi viết nó đã được đưa ra từng chương cho các sinh viên cao cấp của Trường Arcane chỉ để dùng làm bài đọc mà thôi. Nó là cuốn sách đầu tiên được đưa ra bàn về việc huấn luyện và kiểm soát thể tinh tú hay là thể cảm dục. Nhiều cuốn sách nội môn đã viết về thể xác, cách thanh luyện nó, và về thể dĩ thái hay là thể sinh lực. Hầu hết chúng là tuyển tập của các sách khác, cả xưa và nay. Tuy nhiên, quyển sách này của tôi thì nhằm huấn luyện người chí nguyện thời nay trong việc kiểm soát thể cảm dục của mình, với sự trợ giúp của thể trí, vì đến lượt thể trí ấy lại được linh hồn soi sáng.
Tác phẩm tiếp theobộ Luận về Bảy Cung. Đó là một bộ sách dài, chưa hoàn tất. Nó bao gồm bốn tập, hai tập đầu đã được xuất bản, một tập đã sẵn sàng để in, và tập chót thì đang được viết. Các tập một và hai bàn về bảy cung và bảy mẫu tâm lý của bảy cung, để đặt nền tảng cho khoa tâm lý mới mà khoa tâm lý hiện nay (dù có tính xu phụng vật chất) đã tạo được một cơ sở rất tốt. Tập ba thì hoàn toàn dành cho chủ đề khoa chiêm tinh nội môn, và tự nó là một quyển sách. Tập này nhằm đưa ra khoa chiêm tinh mới trên căn bản là linh hồn chứ không phải phàm nhân. Khoa chiêm tinh công truyền xác lập một đồ biểu để đưa ra vận mệnh của phàm nhân, và khi phàm nhân này kém tiến hóa hoặc chỉ phát triển mức trung bình thì thường lá số ấy đoán đúng đến mức gây kinh ngạc. Tuy nhiên, nó sẽ không đúng đến mức đó, nếu đương sự là những người tiến hóa cao, những người chí nguyện, các đệ tử và điểm đạo đồ là những người đang bắt đầu chế ngự các ngôi sao chiếu mệnh và do thế mà kiểm soát được các hành động của mình. Bấy giờ các sự kiện và các diễn biến trong đời họ sẽ không thể nào tiên đoán được. Khoa chiêm tinh mới của tương lai sẽ cố gắng đưa ra chìa khóa để lập lá số của linh hồn, vì nó chịu sự chi phối của cung linh hồn chứ không phải cung phàm nhân. Những điều tôi đưa ra đã đủ để giúp cho những nhà chiêm tinh nào quan tâm theo đường hướng mới có thể giải đoán tương lai, dựa vào khảo hướng mới mẻ này. Khoa chiêm tinh là một khoa học nền tảng và hết sức cần thiết. A.A.B. không biết gì về chiêm tinh cả; thậm chí bà không thể lập được một đồ biểu, hay có thể kể tên các hành tinh và những cung nào chúng chi phối. Do đó, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả những gì nói trong sách này và tất cả những quyển sách khác của tôi chỉ trừ một quyểnÁnh Sáng của Linh Hồn như trước tôi đã có giải thích.
Tập bốn bàn về vấn đề trị liệu, cũng như việc lập cầu Antahkarana để nối liền khoảng cách giữa Chân thần và phàm nhân. Nó cũng đưa ra Mười bốn Qui luật mà những người nào đang dự cuộc huấn luyện để được điểm đạo đều phải tận tường.....
Thế là các quyển sách được liên tục ra đời trong nhiều năm, và khi bộ Luận về Bảy Cung hoàn tất, một cuốn sách nhỏ về ảo cảm đã sẵn sàng để in, và một quyển sách nói về đường đạo trong thời đại mới được trao vào tay công chúng, thì công việc A.A.B. làm cho tôi sẽ chấm dứt. Bấy giờ bà có thể trở lại làm công việc của mình — công việc của một người đệ tử — trong Đạo viện của Chân sư bà.
Nhà Trường
Giai đoạn kế tiếp của công việc mà tôi muốn thấy được thành tựu thì nay đang được tiến hành đều đặn. Đó chính là mong muốn của tôi (cũng như là sự mong muốn của nhiều nhân viên trong Đ.Đ.C.G.) muốn thấy một trường huyền môn được mở ra mà để cho các môn sinh được tự do....   A.A.B. đã mở ra một trường như thế nào năm 1923 với sự giúp đỡ của F.B. và một số môn sinh có sự thông hiểu và tầm nhìn tinh thần. Bà đã đặt điều kiện là tôi sẽ không có gì liên quan đến Trường Arcane, và tôi sẽ không chi phối học trình và các phương sách của nhà trường, ở điểm này bà đã khôn ngoan và đúng đắn và tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của bà. Ngay cả những quyển sách của tôi cũng không được dùng làm sách giáo khoa, và chỉ ba năm qua, một quyển sách trong đó, Luận về Chánh thuật, mới được điều chỉnh để dùng trong một khóa học, và đó là do sự yêu cầu tha thiết của nhiều sinh viên. Một vài phần của giáo huấn về Antahkarna (sẽ cho ra trong một quyển sau này của bộ Luận về Bảy Cung) cũng đã được dùng trong hai năm qua cho một phần của cấp thứ tư. Giáo huấn về ảo cảm đã được đưa ra làm bài đọc trong một phần khác.
*Phát hành năm 1932 dưới tựa đề, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
Khi thế chiến nổ ra và toàn thể thế giới lao vào những hậu quả xáo trộn, khủng khiếp, thảm họa, chết chóc, đau thương, thì nhiều người có khuynh hướng tinh thần đã lo đứng ngoài cuộc đấu tranh. ..... Khi tôi viết tập sách Cuộc Khủng hoảng của Thế giới Hiện tại và các bài viết kế tiếp về tình hình thế giới, tôi đã khẳng định rằng Đ.Đ.C.G. ủng hộ thái độ và các mục tiêu của Liên Hiệp Quốc, là chiến đấu cho sự tự do của toàn nhân loại và cho sự giải thoát của những người đau khổ. Sự kiện này đã nhất thiết đặt Đ.Đ.C.G. ở vào vị thế không cách nào ủng hộ lập trường của phe Trục. .... Những người đó đã không suy nghĩ cặn kẽ rõ ràng, họ lẫn lộn thái độ không chịu ủng hộ với tình huynh đệ, mà quên đi những lời Đức Christ đã nói rằngngười nào không cùng với ta tức là chống lại ta.Tôi xin lặp lại những điều tôi đã thường nói. Đ.Đ.C.G. và tất cả các nhân viên, gồm cả tôi, đều yêu thương nhân loại, nhưng các Ngài không hề ủng hộ những gì tà vạy, gây hấn, tàn ác và giam nhốt linh hồn con người. Các Ngài đại diện cho tự do, cho cơ hội dành cho mọi người có thể tiến tới trên con đường ánh sáng, cho phúc lợi của toàn nhân loại, không phân biệt, cho lòng tử tế tốt đẹp, và cho quyền của mỗi người có thể tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do làm việc. Thế nên, tất nhiên là các Ngài không thể ủng hộ các quốc gia nào hoặc những người trong bất cứ quốc gia nào đi ngược lại quyền tự do và hạnh phúc của con người. Trong tình thương và thấu hiểu được trường hợp này, các Ngài biết rằng, trong một kiếp sống hay những kiếp sống về sau, phần đông những người mà hiện đang là kẻ thù của quyền tự do của con người, chính họ cũng sẽ được giải thoát và dấn bước trên con Đường sáng. Đồng thời, toàn lực của Đ.Đ.C.G. được đổ về phía các quốc gia đang đấu tranh giải thoát nhân loại, cũng như đổ về phía những người, ở trong bất cứ quốc gia nào, đang làm công việc đó. Nếu đứng về phía tự do và điều thiện bị xem là phương hại cho các vấn đề tinh thần, thì bấy giờ Đ.Đ.C.G. sẽ làm việc để thay đổi thái độ của mọi người về thế nào là tinh thần.
Vậy là, tôi đã quan tâm đến ba giai đoạn của công việc: những quyển sách, Trường Arcane, và Đ.N.M.P.S.T.G.. Tác động của ba phương diện công việc này vào thế giới đã rõ ràng là hữu hiệu và hữu ích. .....
Huấn Luyện Cá Nhân
Song hành với các hoạt động chính yếu nói trên, từ năm 1931 tôi đã huấn luyện một nhóm người nam, nữ rải rác trên khắp thế giới, về các kỹ thuật của con đường đệ tử nhập môn, hiểu về mặt lý thuyết. .... Những người này đã nhận giáo huấn cá nhân trực tiếp từ tôi cùng một số giáo huấn tổng quát thể hiện cách cận tiến mới mẻ hướng về Đ.Đ.C.G. và cuộc sống tinh thần, dù rằng dĩ nhiên là căn cứ vào các qui luật xưa. Chẳng bao lâu, các giáo huấn đó sẽ được đưa ra cho công chúng, nhưng không kèm theo các chi tiết liên quan đến những người đã thụ huấn; tên tuổi, ngày tháng, nơi chốn đều được thay đổi, chỉ có giáo huấn là được giữ y như đã truyền đạt.*
Tất nhiên, qua giao tiếp với tôi, những người này đã xác định được lai lịch của tôi. Trong nhiều năm rồi họ đã biết tôi là ai..... nói chung người ta đã nhận ra rằng tôi là một Chân sư và đã gán cho tôi một danh hiệu. ...... Sau bao nhiêu năm giữ kín lai lịch của tôi, bà (A.A.B) đã mắc phải điều sơ sót này (Trên báo chí), nên nó đã công nhiên xác định rằng tôi là một Chân sư.
*Các giáo huấn này hiện có trong quyển “Đường Đạo trong Kỷ Nguyên Mới”. Tập II của sách này sắp được xuất bản. – Foster Bailey.
Trong vấn đề này tôi muốn các bạn chú ý đến ba điều:
Nhiều năm trước đây, tôi đã nói trong Luận về Chánh thuật rằng tôi là một điểm đạo đồ ở một cấp bậc nào đó nhưng cần phải giữ kín tính danh..... Đã từ lâu, chủ đích của tôi là làm tất cả những gì cần thiết để giúp cho công chúng hiểu được rõ ràng đích xác sự kiện thật về Đ.Đ.C.G. cùng các nhân viên, bằng một phương cách tạo nhiều quan tâm hơn nữa.
Các Chân sư làm việc thông qua đệ tử của các Ngài trong nhiều tổ chức; ..... Muốn làm đệ tử dự bị, hành giả có thể là một người sùng tín rồi sau đó chú trọng vào việc thanh luyện và có được một sự hiểu biết thông minh về tình huynh đệ và nhu cầu của nhân loại. Muốn làm một người đệ tử chính thức, làm việc trực tiếp dưới các Chân sư và tích cực phụng sự thế giới với một tầm ảnh hưởng ngày càng tăng, hành giả cần trí tuệ phát triển có định hướng, cần tâm hồn tăng trưởng, mở mang, và một ý thức giá trị chân thực.
Vì đã biết rõ toàn bộ vấn đề này, và đã trông thấy các hậu quả tai hại của giáo huấn thường đưa ra về các Chân sư, nên A.A.B. đã bị buộc phải làm ngược lại, để trình bày thực tính của Đ.Đ.C.G., các thành viên và những mục tiêu của các Ngài, và bà đã tìm cách đặt sự chú trọng — như chính Đ.Đ.C.G. đang chú trọng — vào nhân loại, chứ không phải chú trọng vào một nhóm các huấn sư. .... Các danh xưng mà một số đệ tử ở Tây Tạng dùng cho chúng tôi có dính dáng đến trình độ thành đạt. Họ gọi Đ.Đ.C.G. là “hội của các bậc tuệ trí có tổ chức và được khai ngộ” — được khai ngộ bởi tình thương và sự thông hiểu, bởi lòng từ ái sâu xa bao trùm vạn loại, được khai ngộ bởi một sự hiểu biết Thiên cơ và nhằm thấu rõ được Thiên ý, hy sinh sự tiến bộ ngay trước mắt của riêng mình để trợ giúp nhân loại. Đó là một vị Chân sư.
Điểm thứ nhì tôi muốn đưa ra dưới hình thức một câu hỏi. Có điều tai hại gì xảy ra hay chăng, khi người ta cáo buộc một vị Chân sư và gán cho Ngài thế này thế nọ, miễn sao các thành tích của Ngài đủ chứng minh giá trị của lời cáo buộc, và ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp thế giới? .....
Qua 25 năm làm việc cho tôi trong lĩnh vực huyền môn, A.A.B. không hề lợi dụng sự kiện thực rằng tôi là một Chân sư, .... không đến Chân sư xin giúp sức để đứng vững. Y cố gắng tiến bước trong ánh sáng của chính linh hồn mình và dựa vào sức mạnh của Sự Sống tinh thần nơi chính mình; và bằng cách đó y học trở thành Chân sư qua thông hiểu và chế ngự mọi sự.
Điểm thứ ba tôi muốn các bạn quan tâm là trong chu kỳ mới sẽ đến khi thế chiến chấm dứt, phải làm sao cho công chúng ngày càng chú ý nhiều hơn đến sự kiện thật về Đ.Đ.C.G. và công việc của các Chân sư, thông qua đệ tử các Ngài. Những người đệ tử ở khắp nơi sẽ trình bày ngày càng nhiều hơn về kế hoạch của Đ.Đ.C.G. nhằm gây dựng tình huynh đệ, cuộc sống tinh thần và sự thông hiểu bao dung cho thế giới. Công việc này sẽ không được thực hiện theo lối (vẫn thường thấy trong những người khờ dại) họ bảo rằng “Chân sư đã chọn tôi”, hoặc “Chân sư đang ủng hộ nỗ lực của tôi”, hoặc “Tôi là đại diện của Đ.Đ.C.G.”; nhưng công việc này được thực hiện bằng một cuộc đời phụng sự, bằng cách nêu rõ rằng các Chân sư vẫn hằng hiện diện và nhiều người ở khắp nơi đã biết được các Ngài; bằng cách nêu rõ rằng Thiên cơ là một kế hoạch phát triển tiến hóa và giáo dục tiến bộ hướng đến mục tiêu thông tuệ tinh thần; nêu rõ rằng nhân loại không phải cô đơn một mình mà còn có Đ.Đ.C.G. đứng cận kề, Đức Christ vẫn ở với dân Ngài, và thế giới đang có rất nhiều đệ tử huyền môn nhưng họ làm việc trong im lặng nên ít ai nhận biết; nêu rõ rằng Đ.N.M.P.S.T.G. đang hiện diện và những người nam, nữ thiện chí có mặt ở khắp nơi; nêu rõ rằng các Chân sư không hề quan tâm đến các chỉ trích cá nhân mà sử dụng những người nam, nữ với tất cả các lề lối suy tư, tín ngưỡng, quốc tịch, miễn sao động cơ thúc đẩy họ là tình thương, miễn sao họ có trí tuệ điêu luyện, thông minh, cũng như có ảnh hưởng chói ngời từ lực, để hấp dẫn mọi người đến với chân lý và điều thiện chứ không phải với cá nhân — dù đó là một vị Chân sư hay một người đệ tử. Các Ngài không bận tâm gì đến lòng trung thành với cá nhân mà chỉ hiện mình để nâng nhẹ nỗi khổ đau, để nâng cao cuộc tiến hóa của nhân loại và chỉ rõ các mục đích tinh thần. Các Ngài không tìm cách khiến cho công việc của các Ngài được người đương thời ngợi khen, thừa nhận, mà chỉ tìm cách tăng cường ánh sáng trên thế giới và khai mở tâm thức con người.
Tháng Tám, 1943.
1 . Ghi chú: Sau đó, Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã quyết định cho ra các Qui luật này thành một cuốn riêng. Bởi vậy, chẳng bao lâu nữa chúng sẽ xuất hiện dưới hình thức tập V của bộLuận về Bảy Cung” – Foster Bailey (F.B.). (Nguồn: Các Sách của Chân Sư Tây Tạng). Trân Châu dịch. 

+ Quảng bá rộng dãi về Đại Đoàn Trưởng Giáo - Đ.Đ.T.G
... Điểm thứ ba tôi muốn các bạn quan tâm là trong chu kỳ mới sẽ đến khi thế chiến chấm dứt, phải làm sao cho công chúng ngày càng chú ý nhiều hơn đến sự kiện thật về Đ.Đ.C.G. và công việc của các Chân sư, thông qua đệ tử các Ngài. Những người đệ tử ở khắp nơi sẽ trình bày ngày càng nhiều hơn về kế hoạch của Đ.Đ.C.G. nhằm gây dựng tình huynh đệ, cuộc sống tinh thần và sự thông hiểu bao dung cho thế giới. Công việc này sẽ không được thực hiện theo lối (vẫn thường thấy trong những người khờ dại) họ bảo rằng “Chân sư đã chọn tôi”, hoặc “Chân sư đang ủng hộ nỗ lực của tôi”, hoặc “Tôi là đại diện của Đ.Đ.C.G.”; nhưng công việc này được thực hiện bằng một cuộc đời phụng sự, bằng cách nêu rõ rằng các Chân sư vẫn hằng hiện diện và nhiều người ở khắp nơi đã biết được các Ngài; bằng cách nêu rõ rằng Thiên cơ là một kế hoạch phát triển tiến hóa và giáo dục tiến bộ hướng đến mục tiêu thông tuệ tinh thần; nêu rõ rằng nhân loại không phải cô đơn một mình mà còn có Đ.Đ.C.G. đứng cận kề, Đức Christ vẫn ở với dân Ngài, và thế giới đang có rất nhiều đệ tử huyền môn nhưng họ làm việc trong im lặng nên ít ai nhận biết; nêu rõ rằng Đ.N.M.P.S.T.G. đang hiện diện và những người nam, nữ thiện chí có mặt ở khắp nơi; nêu rõ rằng các Chân sư không hề quan tâm đến các chỉ trích cá nhân mà sử dụng những người nam, nữ với tất cả các lề lối suy tư, tín ngưỡng, quốc tịch, miễn sao động cơ thúc đẩy họ là tình thương, miễn sao họ có trí tuệ điêu luyện, thông minh, cũng như có ảnh hưởng chói ngời từ lực, để hấp dẫn mọi người đến với chân lý và điều thiện chứ không phải với cá nhân — dù đó là một vị Chân sư hay một người đệ tử. Các Ngài không bận tâm gì đến lòng trung thành với cá nhân mà chỉ hiện mình để nâng nhẹ nỗi khổ đau, để nâng cao cuộc tiến hóa của nhân loại và chỉ rõ các mục đích tinh thần. Các Ngài không tìm cách khiến cho công việc của các Ngài được người đương thời ngợi khen, thừa nhận, mà chỉ tìm cách tăng cường ánh sáng trên thế giới và khai mở tâm thức con người.
Tháng Tám, 1943. (Nguồn: Các Sách của Chân Sư Tây Tạng). Trân Châu dịch. 

I- Theo Minh triết mới
+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54)
+ Đơn vị Tâm thức:
X. Chân Thần. Cấu tạo và đặc tính (Nguồn)
+ Tinh thần
(Spirit) và tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
+ Tinh thần và tâm thức
là các tên gọi đồng nghĩa. (SD I, 43, 125, 349, 593.)
     * Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức
+ Tâm thức và ngã thức: Chính ở trên cõi trần mà tâm thức, trước tiên phải tiến hóa thành Ngã thức. (KCVTT, 93)
+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)

+ Định đề 2 - Tâm Thức: Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3, đó là TÂM THỨC - Sự hợp nhất của 2 cực Tinh Thần - Vật Chất, là Linh hồn của vạn vật, thấm nhuần mọi chất liệu hay năng lượng khách quan, nó nằm dưới mọi hình hài, dù đó là đơn vị nguyên tử hay 1 con người, 1 hành tinh hoặc 1 Thái dương hệ. Đây là Lý Thuyết Quyền Tự Quyết (LVHLT, 21)

+ TÂM THỨC theo sát nghĩa là phản ứng của trí thông tuệ sinh động đối với mô hình. Ngày nay, cứ như thể chúng ta đang đáp ứng một cách hữu thức, và với một mục đích ngày càng thông minh đối với thiết kế được Đấng Kiến Tạo Bậc Thầy đặt ra trên bản vẽ. Cho đến nay, chúng ta không và không thể nhập vào Thể Trí Vũ trụ đó và rung động trong sự hòa hợp hữu thức với Ý Tưởng thiêng liêng, cũng không hiểu được Thiên Cơ như nó được cảm nhận và được nhìn thấy bởi Đấng Tư Tưởng vũ trụ. Chúng ta phải làm việc với bản thiết kế, với mô hình, và với Thiên Cơ (Tài liệu Trích TLHNM-GQ-MF)

+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)
+ Tâm thức (Ý thức): Tâm thức là Tâm hay là Linh hồn, đang tạo ra sự sống tâm thông, là nhận thức: Dưới nhân loại/ nhân loại và thiêng liêng (TLHNM–II, 232)
+ Tâm Thức: Sát nghĩa là phản ứng của trí thông tuệ sinh động đối với mô hình (Tâm LH, Mô hình-Quy định)
+ Cấp độ Tâm Thức: Phàm ngã, Linh hồn, Chân Thần. Đây là ba cấp độ rộng lớn của tâm thức, vốn phản ánh ba trạng thái thiêng liêng của Thượng Đế.(Trích Topic 1- GQ1- Các trích dẫn TLHNM)
1. Tâm thức phàm ngã: Là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạo.
2. Tâm thức chân ngã là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ hai, tức tâm thức của linh hồn, tự thể hiện chính nó như là phẩm tính và như là “sắc thái” thể hiện bên trong của những vẻ ngoài.
3. Tâm thức chân thần là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ nhất, cái vốn tiêu biểu cho sự sống thiêng liêng – mục đích và ý định, và dùng linh hồn để thể hiện Thiên Ý cố hữu qua linh hồn. Chính điều này mới xác định phẩm tính. (Nguồn: Tổng hợp chi tiết về tâm thức)

+ Hình thành Tâm thức: Sự phối hợp năng lượng sự sống và năng lượng của thể trí trong con người tạo ra tâm thức – trước tiên là ngã thức và sau rốt là tập thể thức (TLHNM–II, 67)

+ Chiêm Tinh Học Bí Truyền: (Trích GQ1.6-Làm quen CTH)
-  Có 3 trình độ nơi con người: Phàm ngã/ Linh Hồn/ Tinh Thần - Ảnh hưởng
của cung hoàng đạo và hành tinh hoạt động ở 3 cấp độ này.
-
Ba Cung tối quan trọng: Mặt Trăng - Mặt Trời - Cung Mọc để ước định công việc sẽ được thực hiện trong tâm thức mỗi kiếp sống.

- Tâm thức qua Chiêm TH: Năng lượng dẫn truyền qua các Cung Hoàng và Hành tinh và chức năng tiến hóa Tâm Thức của các Cung Hoàng Đạo với Người thường/ Chí nguyện (Đệ Tử) / Điểm Đạo Đồ, với sự chỉ dẫn của các Kỳ Công, ta có thể dự đoán....
- Các Cung Hoàng Đạo ở 3 Cấp Độ Tâm Thức (Chiêm THNM, 332)

+ Các trạng thái nối tiếp của Tâm thức:
1. Thực ra, Vũ trụ chỉ là một tập hợp bao la của các trạng thái tâm thức. SD II, 633; I, 70, 626.
2. Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593.
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức. SD I, 105.
* Sáu loại tâm thức được biểu hiện trong Giới Thiên Nhiên trên 5 cõi tiến hóa của nhân loại. SD I, 123; II, 678.
+ Trình độ T.Thức - Bảng kê: Người chưa tiến hóa - Người bình thường, Người Chí nguyện - Đệ tửĐiểm đạo đồChân Sư và cao hơn nữ.

+ Chất liệu và Tâm thức— Substance and Consciousness: Toàn bộ tiến trình này liên quan đến sự thâm nhập của bảy cung kết hợp thông qua tất cả những trạng thái của tâm thức như được chỉ ra bởi bảy cõi vật chất. Khái niệm “cõi giới” liên hệ với ý tưởng về vật chất hay chất liệu gần như là không thể thay đổi được. Điều này về cơ bản là đúng, nhưng sự nhấn mạnh phải dựa trên phương diện tâm thức bởi vì chính tâm thức thông tin cho vật chất.  Hiệu ứng xâm nhập mà chúng ta đang làm việc với nó là dựa trên nhiều dạng tâm thức khác nhau biểu đạt bản thân chúng thông qua bảy dạng vật chất. Những năng lượng kết hợp thông qua trung gian giai đoạn ý thức hữu thức này sang giai đoạn ý thức hữu thức khác; dù vậy, chúng chỉ tác động đến những hình thể của sự sống phản ứng một cách bản năng với tác động của chúng. (NĐTTKNM/ DINA II 427)

+ Sự tuôn trào và những nguyên tử và tâm thức— Outpourings and atoms and consciousness:
- Sự tuôn đổ vĩ đại đầu tiên từ Thượng Đế đã làm sinh động chất liệu vũ trụ và khiến cho mỗi nguyên tử vật chất bên trong “vòng-không-được-vượt-qua” của hệ thống của Ngài rung động theo bảy phương thức rung động khác nhau.

- Sự tuôn đổ thứ hai đã tạo nên những sự kết hợp của các phân tử, vì thế tạo nên sáu cõi phụ bên dưới cõi nguyên tử của mỗi cõi chính, và tạo nên dạng hình tướng. Chính là vào thời điểm tuôn đổ thứ hai mà mỗi trung tâm của những trung tâm tâm thức thiêng liêng đưa ra một sợi bản thể vào trong mọt nguyên tử của các cõi phụ cao nhất của các cõi giới atma, bồ đề, và cõi trí,— những nguyên tử có định mệnh là hạt nhân của những thể tương lai, mỗi cái ở trong từng cõi giới tương ứng của nó, ba cái tạo nên tam nguyên thượng mà ta thường nghe nhắc đến.(TLHNM/ EP II 167-8)

Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
Xem: Các trình độ Tâm Thức)

Xem: Phàm ngã: Hình thành – Tính chất – Trình độ Tâm thức theo các Cung Năng lượng

II- Tâm Thức theo Phật giáo
+ Chữ "TÂM" - Pháp Trần: ... đức Phật bảo, A Nan các pháp trần nầy tức do Tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?
HT Tuyên Hóa giảng:
"Có phải ông cho rằng các pháp do tâm sở duyên là phát sinh ra ngay từ trong tâm (ý căn)? Các pháp trần nầy tức do tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?" "Tâm" ở đây có nghĩa là thức thứ 6.
A-nan, nếu tức nơi tâm, thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa, thế nên nó không phải là sở duyên của tâm, làm sao thành một xứ được?
Giảng:
"A-nan, nếu tức nơi tâm–nếu ông đơn giản cho rằng các pháp phát sinh từ tâm, rằng nó phát sinh từ thức thứ 6 – Thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa. Các pháp trần mà do tâm sở duyên sinh khởi không còn là trần cảnh (đối tượng của ý thức) nữa."
Nếu rời tâm mà riêng có một chỗ riêng biệt, thì tự tính của pháp trần là biết hay không biết?
Nếu có biết thì gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần cảnh thì cũng như tâm của người khác. Còn nếu nó tức là ông và cũng là tâm, thì làm sao cái tâm nơi ông lại thành hai được?
Lại nếu như không có biết, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó sẽ ở chỗ nào?
Nay nơi sắc không, chẳng thể nào chỉ nó ra được. Không lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không? Chẳng có cảnh sở duyên, thì ý căn do đâu mà lập thành một xứ được?
Vì vậy nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở; tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật; vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên.
Giảng:
" Vì vậy A-nan, vì đạo lý nầy – "nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở". Cả hai cái nầy đều không tìm thấy được nơi chốn. "Tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật." Theo đạo lý về các pháp do tâm sở duyên, cả hai đều là hư giả, luống dối. "Vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên." Cả hai đều chỉ là danh tướng hư vọng, như hoa đốm giữa hư không, hoàn toàn không có thực thể, chỉ là sự biểu hiện từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
(Nguồn: Kinh Thủ LN- Q.3)

+ Chữ Thức: ... Vì bạn có phân biệt, chấp trước nên nhất chân mới chuyển biến thành những hoàn cảnh rất phức tạp, biến thành thập pháp giới, biến thành lục đạo, biến thành tam đồ. Biến như thế nào?do thức sở biến. Cái gì gọi là thức? trong Kinh Hoa Nghiêm giảng về thức rất cụ thể: vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chính là thức. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều có đủ 3 thứ này. Hiện nay, chúng ta đều có đủ, có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. vì vậy đã biến nhất chân pháp giới thành lục đạo luân hồi, đã biến thành lục đạo.  (Nguồn: Sám hối nghiệp chướng - PS Tịnh Không)

+ Tâm thức chân thật hay Tâm bản nguyên - Chân Tâm: Phật nói với chúng ta: “Tận hư không khắp pháp giới, tất cả chúng sanh là một pháp thân”. Cho nên, kinh điển thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới”, đạo lý là ở chỗ này. Tâm lượng chúng ta nhất định phải lớn, bao trùm hưu không pháp giới (Nguồn: Tập 17 - Thập Thiện Nghiệp_PS Tịnh Không)

+ Đạo Tâm: Tâm của Phật là tâm bình đẳng. Tâm bình đẳng là Phật, tâm lục độ là Bồ-tát, tâm tứ đế là Thanh Văn, tâm nhân duyên là Duyên Giác. Phật ở trong kinh nói quá nhiều, quá rõ ràng rồi. Hai chữ “bình đẳng” rất quan trọng (PS Tịnh Không giảng - Tập 42 - Kinh TTNĐ)

+ Các trạng thái Tâm thức: 
Phàm ngã: gồm Tâm thức vị ngã cần chuyển hóa thành tâm thức vị tha
Linh Hồn: Tâm thức Vô ngã
Chân Thần: Tâm thức bất nhị (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)

+ Trường nội môn - Trường Arcane:
Giai đoạn kế tiếp của công việc mà tôi muốn thấy được thành tựu thì nay đang được tiến hành đều đặn. Đó chính là mong muốn của tôi (cũng như là sự mong muốn của nhiều nhân viên trong Đ.Đ.C.G.) muốn thấy một trường huyền môn được mở ra mà để cho các môn sinh được tự do. Trường sẽ không bó buộc họ phải thệ nguyện điều gì, và — trong khi đưa ra những phương cách hành thiền, những bài nghiên cứu và giáo huấn nội môn — trường vẫn để cho mọi người tự điều chỉnh, tự diễn giải chân lý theo khả năng cao nhất của mình. Trường trình bày cho họ biết nhiều quan điểm, đồng thời truyền đạt cho họ những chân lý nội môn thâm sâu nhất mà họ có thể nhận thức được nếu trong tâm họ có những gì đã thức tỉnh, đáp ứng được với các bí nhiệm. Còn nếu họ thiếu khả năng nhận thức được chân lý đúng như thực tính, thì cho dù họ có đọc hay nghe nói về các bí nhiệm đó, chúng cũng không gây cho họ điều gì tai hại.  A.A.B. đã mở ra một trường như thế nào năm 1923 với sự giúp đỡ của F.B. và một số môn sinh có sự thông hiểu và tầm nhìn tinh thần. Bà đã đặt điều kiện là tôi sẽ không có gì liên quan đến Trường Arcane, và tôi sẽ không chi phối học trình và các phương sách của nhà trường, ở điểm này bà đã khôn ngoan và đúng đắn và tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của bà. Ngay cả những quyển sách của tôi cũng không được dùng làm sách giáo khoa, và chỉ ba năm qua, một quyển sách trong đó, Luận về Chánh thuật, mới được điều chỉnh để dùng trong một khóa học, và đó là do sự yêu cầu tha thiết của nhiều sinh viên. Một vài phần của giáo huấn về Antahkarna (sẽ cho ra trong một quyển sau này của bộ Luận về Bảy Cung) cũng đã được dùng trong hai năm qua cho một phần của cấp thứ tư. Giáo huấn về ảo cảm đã được đưa ra làm bài đọc trong một phần khác.
Trong Trường Arcane không ai bị đòi hỏi phải vâng lời, không có gì nhấn mạnh rằng “phải tuân theo Chân sư” bởi vì không có vị Chân sư nào đang điều hành nhà trường cả. Trường chỉ chú trọng vào vị Chân sư duy nhất trong tâm hồn, tức là linh hồn, con người tinh thần thật sự trong mỗi cá nhân. Không có khoa thần học nào được đem ra giảng dạy, và người sinh viên không bị buộc phải chấp nhận bất cứ một sự diễn giải hay trình bày nào về chân lý. Một thành viên của Trường có thể chấp nhận hay gạt bỏ sự kiện thực tế về các Chân sư, về Đ.Đ.C.G., về luân hồi, hoặc về linh hồn mà vẫn còn là một thành viên tốt của nhà trường. Không hề có sự mong đợi hay đòi hỏi phải trung thành đối với nhà trường hay với A.A.B.. Các sinh viên có thể làm việc trong bất cứ đoàn thể hay giáo hội nào thuộc chính thống hay siêu hình, nội môn hay huyền bí mà vẫn còn là thành viên của Trường Arcane. Họ được yêu cầu hãy xem các hoạt động đó như là những môi trường phụng sự, trong đó họ có thể đưa ra bất cứ sự trợ giúp tinh thần nào mà có thể họ đã thu được thông qua công việc họ làm trong nhà Trường. Các nhà lãnh đạo và các nhân viên cao cấp trong nhiều đoàn thể huyền bí cũng đang làm việc trong Trường Arcane, nhưng vẫn cảm thấy hoàn toàn tự do dùng thì giờ, lòng trung thành và phụng sự cho đoàn thể của riêng họ.
Trường Arcane đã ra đời trong hai mươi năm qua và nay — cùng với toàn thể nhân loại — Trường đang bước vào một chu kỳ phát triển mới hữu ích hơn, và đang có cuộc chuẩn bị thích hợp cho bước phát triển này. Chủ âm của Trường là phụng sự, do lòng yêu thương nhân loại. Việc tham thiền được làm thăng bằng và song hành với việc học hỏi, nghiên cứu cũng như cố gắng hướng dẫn các sinh viên phụng sự.  (Nguồn: Các Sách của Chân Sư Tây Tạng)

+ Tự xưng Danh - Tự cho mình đã đắc đạo => Điều này hoàn toàn trái với Thiên luật
Khi bàn về các sách của mình - Đức Chân Sư D.K nhấn mạnh, "Một lần nữa, xin các bạn chú ý đến vấn đề cuối cùng này, tôi xin nhắc lại rằng A.A.B. chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ, có lời nào tự xưng mình là một điểm đạo đồ, dù ở trước công chúng hay trong chỗ riêng tư. Bà biết rằng việc làm đó vi phạm định luật huyền môn, và bà đã thấy quá nhiều người không phải là tụ điểm tinh thần gì đặc biệt hoặc có khả năng trí tuệ nào mà lại tự xưng như thế, và hậu quả tai hại đã xảy ra, là hạ thấp cái ý niệm về Đ.Đ.C.G. và tính chất của bậc trọn lành trước tầm mắt quan tâm theo dõi của công chúng. Thế nên, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về Mười bốn Qui Luật này, về các lời giải thích và việc áp dụng chúng. A.A.B. chưa bao giờ tự xưng điều gì khác hơn là một đệ tử đang phục vụ, đang chú tâm vào việc phụng sự thế giới (điều này không ai có thể phủ nhận) và đã lặp đi lặp lại rằng từ “đệ tử” là một từ hợp pháp và không gây tranh cãi (cũng như đúng thật) được dùng cho tất cả các cấp phụng sự viên trong Đ.Đ.C.G., từ người dệ tử dự bị, có liên hệ lỏng lẻo với một sô” vị đệ tử trong Đ.Đ.C.G., lên đến và bao gồm cả chính Đức Christ, là vị Thầy của tất cả các Chân sư, là Huấn sư của thiên thần cũng như loài người. Tôi hoàn toàn đồng ý với bà, khi bà đã liên tục phản đối những sự tò mò không lành mạnh về địa vị và tước hiệu, là một điều hết sức tai hại trong quá nhiều nhóm huyền bí, đưa đến làn sóng cạnh tranh, ganh tị, chỉ trích và tự xưng, tự nhận đang nhan nhản trong đa số các đoàn nhóm này — nó khiến cho biết bao sách vở xuất bản trở thành vô dụng và làm cho công chúng không thể nhận được giáo huấn trong tính thuần khiết và giản dị. Cấp bậc và tước hiệu, địa vị và ngôi thứ, đều không có gì quan trọng cả. Chính giáo huấn mới là quan trọng — tức là chính chân lý và sức khơi dậy trực giác trong giáo huấn. Xin các bạn luôn nhớ cho điều này.
Các đệ tử chính thức của Chân sư nhận ra được Ngài trong nội tâm họ — sự nhận thức này sau đó được các đệ tử đồng môn với họ xác nhận và được Chân sư Ngài dùng như một điều kiện thực tế. Họ biết được Chân sư của mình, nhận giáo huấn từ Ngài, và trong nhóm với nhau họ nói chuyện về Ngài theo mức họ hiểu Ngài, chứ không theo cái hiểu của thế giới bên ngoài.". (Nguồn: Các tác phẩm của Chân Sư Tây Tạng)

+ Tinh thần: Tức Chân Thần (Monad) hay Cha trên Trời.  (ASCLH, 39)
+ Tinh thầnChân Thần, là Linh Ngã. (LVLCK, 48)
+ Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.
+ Tinh thần (Spirit) và Tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
     * Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức

+ Chân Thần (CT): Tự phản chiếu/ Phản ảnh/ Phân Thân). Có 3 nhóm chính (H.Giai S.Tạo 4), tức trạng thái 3 Ngôi của Thượng Đế (LVLCK, 153):
1. Các CT Ý chí / Quyền năng .. Chúa Cha
2. Các CT Bác ái/ Minh Triết..... Chúa Con
3. Các CT Trí tuệ / Hoạt động.....Chúa Thánh Thần.

+ Ý TRÍ VÀ QUYỀN LỰC. Mối nối chúng ta với Đại Hồn, là nguyên khí duy nhất bất tử và vĩnh cửu trong chúng ta, là 1 tia sáng được hấp thụ trở lại cội nguồn vào cuối chu kỳ. Chân Thần tự biểu lộ qua Tam nguyên Tinh Thần (Atma-Ý trí Tinh thần; Buddhi-Hồn thiêng; Thượng trí) > Biểu lộ qua Linh Hồn (GQ1.6, C.Tạo CN)

+ Tôi là CT: CT thức 1 người và mối liên hệ người ấy với các cõi trừu xuất, là nhận thức về vị trí của y trong hệ thống hành tinh.(LVLCK, 420)
+ Nguyên khí CT: Là cơ quan vĩ đại của sự thiên khải vũ trụ, đang hoạt động qua trung gian của ánh sáng ngoại hành tinh (ĐĐTKNM II, 294)
+ Tinh chất CT: Là vật chất nguyên tử được Sự sống của Thượng Đế Ngôi 2 làm linh hoạt. (KCVTT, 54)
- Tinh chất CT, tức vật chất của phân cảnh nguyên tử (cao nhất) của mỗi cảnh (cõi). (LVLCK, 75)
+ Tinh hoa CT: Vật chất của cõi phụ nguyên tử (hay là cõi cao nhất) của mỗi cõi chính. (Tinh hoa Hành Khí, 6 cõi phụ phi nguyên tử/ Phân tử)
+ Cung CT: Chỉ có vị đệ tử được điểm đạo lần 3 mới biết chắc chắn được cung Chân Thần của mình. (LVHLT, 573)

+ Chân Thần con người: Như chúng ta đã thấy, Chân Thần con người (the human Monad) có bản chất tam phân, ba trạng thái của nó (aspects) được đặt tên theo thứ tự là Tinh thần (the Spirit), Hồn Tinh thần (the spiritual Soul) và Nhân Hồn (the human Soul): Atma, Buddhi, Manas. (MTNX, 212)

+ Chân Thần là hợp thể (combination) của hai nguyên khí chót trong con người, tức nguyên khí thứ 6 và thứ 7. Nói cho đúng thì thuật ngữ “Chân Thần con người” chỉ dùng để chỉ Linh Hồn Kép (Dual Soul) (Atma–Buddhi) chứ không dùng để chỉ nguyên khí linh hoạt tâm linh cao nhất, tức Atma, mà thôi. Nhưng vì Hồn Tinh thần (Spiritual Soul) không thể có sự sống, cũng không thể biểu lộ nếu bị tách khỏi Atma, nên Chân Thần được gọi như vậy. (GLBN I, 230)

Xem thêm về Chân Thần

+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16)

+ Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69)

+ Tiểu vũ trụ - Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80)

- Tiểu vũ trụ tức là con người biểu lộ thông qua thể xác.(TVTTHL, 356)

- Tiểu vũ trụ tức là Chân Thần (Monad). (LVLCK, 69)  

Xem: Hình thành Vũ trụ theo Thượng Đế Tam Phân; Bảy Cung/ Rays; Trung Tâm Lực Vũ trụ; Lửa Vũ trụ
Xem: LUẬT VŨ TRỤ VÀ ĐỊNH ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU  

+ Người Thiền Huyền Môn Cần Ghi Nhớ
1. Bạn hãy tự biết mình.
2. Hãy tiến hành một cách chậm rãi và luôn cảnh giác.
3. Hãy nghiên cứu các hiệu quả.
4. Vun bồi sự nhận thức rằng cuộc sống vĩnh cửu thì vô cùng lâu dài và điều gì được xây dựng một cách chậm rãi thì còn mãi.
5. Hãy nhắm tới sự đều đặn.
6. Luôn luôn nhớ rằng những hiệu quả phát triển tinh thần đích thực phải thấy được trong cuộc sống phụng sự ngoài đời.
7. Cũng nên nhớ rằng những hiện tượng thần thông không phải là dấu hiệu cho thấy sự thành công của tham thiền. Thế gian sẽ thấy những hiệu quả của [94] tham thiền và là quan toà sáng suốt hơn chính người môn sinh. Trên hết, Chân sư sẽ biết, vì Ngài thấy rõ những kết quả nơi thể nguyên nhân của môn sinh rất lâu trước khi y ý thức được một sự tiến bộ nào đó.

+ Pháp Tham thiền huyền môn: Giáo lý tham thiền này rất bao hàm rộng lớn và cao thâm, nó đòi hỏi vị Hành giả phải tu thành tưu bước đầu về Đạo làm người Thiện lành hàng ngày một cách Chân thành, tức là ưu tiên số một là lập các đức hạnh, nói như Đông phương là gồm Nhân - Nghĩa - Lễ Trí - Tín. Nói theo Phật giáo là nghiêm trì giữ ngũ giới Không: Sát - Đạo - Dâm - Vọng và uống riệu. Nói theo Minh triết Chân sư là thực hành các hạnh Không gây tổn hại - Sống chân thật - Không tà dâm - Không nói giối - Không nghiện ngập các chất gây hại. Một cách nói theo Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng, rất rễ hiểu là lập sáu hạnh: Không tranh - Không tham - Không cầu - Không ích kỷ - Không tự lợi - Không Vọng ngữ. Tiếp mới đến học các giáo lý và thực hành Tham thiền huyền môn hàng ngày một cách tinh tấn. Mời quý độc giả quan tâm xin đọc Kiến thức phổ biến về Pháp môn tuyệt vời này, bao gồm các giáo lý của đức Chân Sư DK và các vị Chân Sư thuộc Thánh Đoàn của đức Di Lặc Bồ Tát, xin mời quan tâm đọc: Pháp Tham Thiền Huyền Môn

+ Vị đệ tử sẽ học được cách phá ngã chấp:
a/ Y sẽ không còn đòi hỏi gì cho cái ngã riêng tư của mình nữa. Do đó, người ta có thể dễ dàng thấy tại sao những người tìm đạo được dạy là hãy thệ nguyện trung kiên với Thượng Ngã của mình và thề bỏ tất cả các đòi hỏi của bản ngã riêng tư này.
b/ Đôi mắt của y hướng về ánh sáng chứ không hướng về dục vọng nữa để giao tiếp được với Chân Sư. Do đó, việc này loại bỏ được sự ích kỷ tinh thần vốn đã được biểu hiện bằng sự ham muốn cố hữu và ăn sâu, mong được sự thừa nhận của một trong các Đấng Cao Cả. Khi thoát được sự ham muốn cá nhân này thì bấy giờ Chân Sư mới có thể dám tiếp xúc và thiết lập mối liên hệ với đệ tử. Hãy suy gẫm về điều này.(CTHNM, 177–178)
+ Phá ngã chấp để cho Phàm ngã được vận dụng với một ý thức cân đối chính xác nhưng không được xem như là nhân tố chiếm ưu thế trong cuộc sống hằng ngày. Kết quả của việc phá ngã chấp là người có đạo tâm ngày càng tiến về hướng phối hợp đầy đủ hơn với tập thể. Y biết được chính mình là một phần bất khả phân của tập thể và với mọi cái mà mối liên hệ như thế bao hàm.(ĐĐTKNM, 381–382)
+ Diệt ngã chấp bằng cách:
1. Cung ứng các lưu tâm đúng đắn, cách giáo dục đúng đắn và huấn luyện về nghề chuyên môn
2. Bồi đắp năng lực nhận thức và đáp ứng với nhu cầu chung quanh, nhờ thế gợi ra lòng ham muốn phụng sự và đem lại ý thức về sự hài lòng xuất phát từ việc thành tựu và hiểu rõ giá trị.
 Một cách từ từ và thận trọng chuyển hóa dục vọng thành đạo tâm. (TLHNM–II, 423–424)
+ Phá chấp tùy duyên cho tương ưng: Tùy mức tiến hóa của mỗi người mà có Pháp phá chấp tường ứng (Nguồn: Xem tại đây)
1/ Nhân thừa với ngũ giới (Không: gây tổn hại - Trộm cắp - Tà dâm - Chân thật - Tham lam)
2/ Thiên thừa với Thập thiện (10 điều răn với Thân - Khẩu - Ý)
3/ Thanh văn thừa với Tứ đế (Khổ đế - Diệt khổ đế - Thánh đế - Diệt thánh đế)
4/ Duyên giác thừa với Thập nhị duyên sinh (Gồm: Vố minh - hành - Thức - Danh sách - Lục nhập ...)
5/ Bồ-tát thừa với lý Tánh không - duyên khởi (vạn Pháp đều không ...)
+ Phá ngã chấp: Bằng thành tựu Tâm Vô Vi - Tâm Vô Trú. Hãy dùng Bảo kiếm trí tuệ/ Kiếm Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi để cắt sạch các niệm Tham Sân Si Mạn Nghi. Đuổi sạch Ma oán - Chặt đức ma si mê trong Tâm. Như thế quí vị phải hàng phục, chuyển hóa mọi vọng niệm tưởng trong Tâm của mình, thì Thiên Ma ngoài đạo theo đó cũng bị hàng phục luôn, vì chúng chẳng tìm được cách hãm hại quí vị. (HT Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi câu 52)
+ Giải trừ Ngã chấp: Trích Đức Phật bảo ngài A Nan trong Phát tu Đại Thừa - Hàng A La Hán tu Bồ Tát đạo. ... “Việc giải trừ các nút nơi sáu căn cũng như vậy. Đạo lý của việc nầy cũng giống như việc mở ra các nút. Ông phải mở nút từng căn một, ông không thể nào cùng một lúc mở cả sáu căn. Khi các căn bắt đầu được mở–có nghĩa là căn mà ông đã chọn để tu tập viên thông–trước hết sẽ được nhân không.” Khi đạt được nhân không, là không còn chấp ngã nữa. Có hai loại ngã chấp:
1. Câu sanh ngã chấp.
2. Phân biệt ngã chấp.
Đến lúc nầy, cả hai thứ ngã chấp nầy đều không còn.
Đến khi tánh không viên mãn sáng suốt–khi đã thể hội nhân không thật viên mãn–thì giải thoát được pháp chấp. Khi Nhận ra thể tánh các pháp đều là không thì thoát khỏi hai cái chấp về pháp:
1. Câu sanh pháp chấp.
2. Phân biệt pháp chấp.
Pháp chấp được giải thoát rồi, thì cả nhân không lẫn pháp không đều không sanh khởi. Khi đã giải thoát được khỏi pháp chấp, thì không còn hai thứ nhân không và pháp không nữa. Hai thứ không nầy chẳng còn sinh khởi nữa. (Nguồn: HT Tuyên Hóa-Kinh TLN - Q. 5)
+ 23. Trước Phá Ngã Chấp - Sau Phá Pháp Chấp
Sao gọi là ngã chấp? Tức là chấp cái “Tôi” đó. Như nói: đây là thân thể “của tôi,” kia là vật sở hữu “của tôi” đấy. Nói tóm lại, tất cả cũng đều vì cái ngã, mà chúng ta phô bày cái tôi ra phía trước. Bởi vì có tôi, không có người, không hết “ba tâm” quá khứ, hiện tại và vị lai và chưa không “bốn tướng” ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả.
Làm sao để biết chúng ta đã phá được “ngã chấp” hay chưa? Tức là phải xem xét mỗi ngày, từ lúc chúng ta thức dậy, ăn uống, cũng như các sinh hoạt thường ngày, đi đứng nằm ngồi thì sẽ biết. Trong tất cả mọi thứ cử động đó, có phải chúng ta nghĩ đến mình hay là nghĩ đến người khác? Hoặc chúng ta nghĩ đến đạo tràng? Nếu quả là chỉ nghĩ cho chính mình, lo cho mình, thì đó là người có tư tưởng Tiểu thừa - lợi cho mình mà không lợi cho người. Phật đã từng nói rằng, có loại tư tưởng như thế là “mầm khô giống héo.” Tại sao vậy? Bởi người có tư tưởng như thế thì lòng dạ rất nhỏ hẹp, ngã chấp quá nặng nề. Họ chỉ nghĩ, miễn sao cái của mình tốt là được, chứ chẳng màng gì đến cái xấu tốt của kẻ khác.
Cho nên nói: “Ma Ha Tát chẳng màng đến người, Di Đà Phật tự ai nấy lo.” Đó là tông chỉ của kẻ Tiểu thừa. Và họ xem tam giới như nhà lửa, sanh tử như oan gia nên tự lo cho mình thoát sanh tử, chứ không hề quan tâm đến sự sanh tử của chúng sanh.
Nếu chúng ta lo nghĩ đến người khác, vậy là tư tưởng lợi ích cho kẻ khác. Tự mình muốn được giải thoát và cũng muốn làm cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát. Đó là tư tưởng của Bồ Tát. Nói theo cách khác, là quên mình mà làm lợi cho kẻ khác, tức là hành đạo Bồ Tát. Cho nên nói: “Phật quang phổ chiếu, Pháp vũ quân triêm.” Thực hành đạo Bồ Tát là nên dựa theo tinh thần “Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.”
Nếu chúng ta thật lòng nghĩ đến đạo tràng thì nên ủng hộ đạo tràng về mọi phương diện. Chúng ta không nên vì danh, vì lợi hay có bất kỳ một ý đồ nào. Như thế mới đúng thật là ủng hộ đạo tràng. Mỗi ngày chúng ta nên phản tỉnh, tự xem xét lại đi, thời gian mà mình tính toán cho chính mình nhiều hay tính toán cho người khác nhiều, hoặc lo tính cho đạo tràng nhiều. Qua sự hồi quang phản chiếu như thế, chúng ta sẽ biết là mình đã phá được ngã chấp hay chưa. Đây chỉ là một cách nói đơn giản. Nếu nói một cách sâu sắc hơn, tức là hỏi: Có phải ngày nào chúng ta cũng sợ mình bị thiệt thòi? Phải chăng ngày nào cũng lo sợ là mình không được lợi ích gì? Nếu có những ý nghĩ đó thì nên sửa đổi, nếu không thì ráng mà tránh.
Chúng ta cũng nên phản tỉnh và tự xét xem mình có công phu nhẫn nhục hay không. Ví như có người vô duyên, vô cớ mắng mình, hoặc đánh mình, vậy mình có nhẫn nhịn được không? Mình có nổi giận không? Trong lòng mình có ý báo thù không? Nếu có tức là chưa phá được ngã chấp. Nếu không tức là đã phá được ngã chấp rồi. Quý vị hãy nghĩ cho thật kỹ đi: Tất cả các vấn đề và phiền não là từ đâu đến? Thì cũng đều do ngã chấp tác quái đấy thôi. Nếu chúng ta không phá ngã chấp, vậy thì pháp chấp lại sẽ càng không phá nổi. Bậc Tiểu thừa phá được ngã chấp, nhưng chưa phá được pháp chấp. Chỉ có Bồ Tát mới có thể phá trừ cả hai ngã chấp và pháp chấp.
Sau khi phá được ngã chấp rồi, chúng ta phải phá pháp chấp. Sao gọi là pháp chấp? Tức là chúng ta không hiểu rõ pháp ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) do nhân duyên sanh, thành thử chúng ta chấp đó là thật có. Nếu dứt được hết các pháp chấp, tức chúng ta sẽ được viên dung vô ngại và đến cảnh giới nào cũng được tự tại. Khi cả hai ngã chấp và pháp chấp không còn nữa, như thế mới thật là người tu hành chân chánh. Người tu hành chân chánh, bất luận lúc nào, hoàn cảnh nào, tuyệt đối cũng không tính toán cho chính mình. Ngược lại, bao giờ cũng xả mình vì người và hăng hái làm việc nghĩa. Những hành vi của họ đều mang tính chất đại công vô tư, chánh trực và không thiên lệch.
Phật thuyết Tam Tạng và Mười Hai Bộ kinh điển, không đâu là không dạy người phá chấp. Nhưng chúng ta vẫn không nghe theo lời Phật giáo huấn, mà lại muốn làm kẻ phản đồ trong Phật giáo, là vẫn cứ chấp vào cái “Ngã” của mình. Tướng ngã chưa không, tướng nhân chưa không, tướng chúng sanh cũng chưa không, tướng thọ giả lại càng chưa không luôn, mà cứ chấp chặt vào bốn tướng nầy, cho nên chúng ta không thể bỏ được. Đối với đạo lý của ba tâm, chúng ta không thể hiểu, cũng không biết được rõ ràng. Tâm quá khứ vốn không thể có được, tâm hiện tại không thể có được, tâm tương lai cũng không có được luôn. Vì sao? Bởi tâm “quá khứ” đã qua rồi, quý vị đi đâu tìm lại cái tâm ấy đây? Hiện tại vốn không bao giờ dừng, quý vị nói đây là “hiện tại” nhưng “hiện tại” nầy lại đã qua rồi. Hiện tại đã không tồn tại, cho nên nói tâm hiện tại không thể có được. Tâm vị lai cũng không có được, bởi “vị lai” tức là chưa đến, mà chưa đến thì nói đến nó làm gì?
Như Kinh Kim Cang nói:
“Vô ngã tướng, vô nhân tướng,
Vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.”
Lại nói:
“Quá khứ tâm bất khả đắc,
Hiện tại tâm bất khả đắc,
Vị lai tâm bất khả đắc.”
Mấy câu kinh văn nầy, ai ai cũng đều đọc được, nhưng cũng không ai nhớ làm. Tôi hy vọng quý vị sẽ dựa vào mấy câu kinh trên mà dụng công. Một khi “bốn tướng” không còn, “ba tâm” dứt sạch, đó tức là người tu đạo chân chánh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị)
Mời đọc bài Giảng Chú Đại Bi của HT Tuyên Hóa
Xem Tâm Chấp trước
Xem: Tổng hợp những câu truyện về Chấp Trước ;
Xem thêm nguồn tại đây

+ Vô vi nghĩa là "Không chấp vào Danh, buông xả dục vọng", không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô vi là Hữu vi, cũng thường được hiểu là "Không làm". Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các Pháp còn lại đều là hữu vi. Quan niệm này được lưu lại trong Thượng toạ bộ và Ðộc Tử bộ.
Ðại chúng bộ chấp nhận 9 pháp vô vi. Hai cách Diệt độ 1 và 2
1. Được đạt bằng sự phân tích phân biệt, gọi là Trạch diệt, tương ưng với Niết-bàn
2. Được đạt không qua sự phân tích, phân biệt (phi trạch), được gọi là Phi trạch diệt, liên hệ đến những lậu hoặc (ô nhiễm) mà một A-la-hán không còn vướng mắc.
3. Ðược xếp vào vô vi pháp nữa là Hư không
4. Không vô biên xứ
5. Thức vô biên xứ
6. Vô sở hữu xứ, tức là cái »không có gì«
7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ
8. Nội dung của thuyết Mười hai nhân duyên
9. Bát chính đạo
+ Vô Vi: Đạo Lão giáo có nghĩa đen là “không làm,” “không gắng sức,” “không gượng ép,” hay không miễn cưỡng tạo tác. Nó không ám chỉ sự bất động hay lười biếng. Chúng ta chỉ không nên gắng sức vì những việc không chân thật, làm cho chúng ta hóa mù đến nỗi không thấy được tự tánh (Nguồn: Giải thức vô vi theo Phật học và Lão giáo)

+ Sat (Thực hữu, Tối hữu, Bản thể): Chúa Cha, Shiva, Thượng Đế Ngôi Một, Vô Hiện (Unmanifest), Bản thể (Existence). (LVLCK, 94)
– Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), hiện tại vĩnh cửu, cái bất biến (changeless) và là Cội Nguồn vĩnh hằng, từ đó và qua đó, vạn vật diễn tiến. (GLBN IV, 16)
– Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), cái Căn cội hằng hữu, bất biến và vĩnh cửu (the ever–present, changeless and eternal Root), từ đó và xuyên qua đó, vạn vật phát triển (proceeds). Nhưng nó còn vượt xa mãnh lực tiềm tàng trong hột giống đang thúc đẩy tiến trình phát triển, hay là những gì mà ngày nay được gọi là sự tiến hóa. Nó là cái hằng biến dịch (the ever becoming), dù là cái không bao giờ biểu lộ (the never manifesting). Sat được sinh ra từ Asat và Asat được tạo ra bởi Sat – chuyển động miên viễn trong một vòng tròn đích thực (a circle truly); tuy nhiên, đó cũng chính là vòng tròn có thể được làm cho vuông lại chỉ vào cuộc Điểm đạo Tối Cao, ở ngưởng của Đại Niết Bàn. (GLBN IV, 16)
+ Hiện tại vĩnh cửu/ Vĩnh hằng (Eternal Now): Tổng hợp của Quá Khứ, Hiện tại và Tương lai. (ĐĐTKNM–II, 186)
+ Không gian vĩnh hằng: Chân Sư thoát khỏi các giới hạn của thời gian, mặc dù không thoát được các giới hạn của không gian, bởi vì không gian là một Thực Thể vĩnh hằng (eternal Entity) (CVĐĐ, 437)
+ Hư Không bất hoại: Trích đoạn Đức Phật giảng về Hư Không cho Đại chúng và A Nan
Nhưng hoàn toàn không nghe hư không hoại diệt. Sao vậy? Vì hư không chẳng phải là pháp có thể tạo tác. Do đó trước sau trọn không hoại diệt
HT Tuyên Hóa giảng giải: Hư không là cái không thể tạo tác hoặc do người làm ra được. Hư không vốn là trong đó không có một thứ gì cả; nên gọi là hư không. Bất cứ thứ gì nếu được tạo tác thì không phải là hư không. Và, do vì trong đó không có một thứ gì, nên nó không hoại diệt. Hư không luôn luôn là như thế. (Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN- Q4 - Chương IV)
+ Chân không bất biến: Trong không gian vũ trụ này thì chỗ nào cũng có 7 Đạiđịa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại (nhận thức trực giác) và thức đại (nhận thức tư duy, phân biệt). Các Đại ở Thái Cực/ Nhất Nguyên/ Như Lai Tạng thì Tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau, vì thế tuy trong hư không có đầy đủ các đại mà chúng không tương tàn, tương diệt vì các đại cùng chung một thể tánh. Đó là chơn không (bất biến). Khi biến hiện thì thành vạn vật. (Nguồn: Chương thứ bảy - Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác)

+ Từ đồng nghĩa Vô vi: Vĩnh hằng - Vĩnh cửu - Bất biến - Không đổi - Pháp vô vi
+ Là tâm Vô Vi:
“Vô vi” có nghĩa là không làm; thế thì “không làm” điều gì? Đó là không làm những việc tà vạy, không khởi tà niệm, không sanh tà tri tà kiến. Cái tâm luôn nhắc nhở quý vị chớ nên làm điều xấu xa bại hoại, được gọi là tâm vô vi. Quý vị không làm điều xấu điều ác, tức là quý vị đang niệm Chú Đại Bi! Nếu quý vị vừa niệm Chú Đại Bi lại vừa làm điều sai trái, tức là quý vị không có tâm vô vi; và như thế có nghĩa là quý vị không niệm Chú Đại Bi vậy! (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
+ Tâm Vô Vi/ Tâm Vô Trú: Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
* Hành giả hãy thọ trì đọc tụng và sử dụng Ấn Kiếm cho Thần chú Ta Bà Ha này (Trong Thần Chú Đại Bi) để tiêu trì phá chấp trước rất nhiệm mầu:
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
- Thành tựu Tâm Vô Vi - Tâm Vô Trú: Hãy dùng Bảo kiếm trí tuệ/ Kiếm Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi để cắt sạch các niệm Tham Sân Si Mạn Nghi. Đuổi sạch Ma oán - Chặt đức ma si mê trong Tâm. Như thế quí vị phải hàng phục, chuyển hóa mọi vọng niệm tưởng trong Tâm của mình, thì Thiên Ma ngoài đạo theo đó cũng bị hàng phục luôn, vì chúng chẳng tìm được cách hãm hại quí vị. (Câu 52 - Chú Đại Bi, mời đọc bài Giảng Chú Đại Bi - HT Tuyên Hóa)
+ Pháp Vô vi bất biến - Không đổi:
- Pháp hữu vi: ... Nhưng bây giờ Đức Phật bảo họ phải dứt khoát và từ bỏ các tướng hữu vi. Các pháp nhân duyên vốn thuộc Tiểu thừa. ‘Hưũ vi’ là chỉ cho tất cả các pháp được tạo tác. Mọi thứ có hình tướng đều là pháp hữu vi. Các pháp nhân duyên, mọi pháp có sắc tướng, rốt ráo đều phải hoại diệt.
- Pháp vô vi không có sắc tướng thế nên không bao giờ bị hoại diệt. Trong kinh văn phần trước Đức Phật có đưa ra ví dụ về hư không, ngài có hỏi rằng có khi nào hư không bị hoại diệt chăng? Câu trả lời là chẳng bao giờ hư không bị hoại diệt, vì nó không có hình tướng. Đó là cách khác mà Đức Phật dùng hư không để biểu tượng cho tánh Như Lai tạng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương IV)

Xem Tâm Chấp trước
Xem: Tổng hợp những câu truyện về Chấp Trước ;
Xem thêm nguồn tại đây

+ Đức Christ: Còn gọi là Di Lặc Bồ Tát; Đức Chưởng Giáo (World Teacher), Đức Bồ Tát, Đức Iman Madhi (Hồi giáo) ....(ĐĐNLVTD, 43)
+ Đấng Christ: Các tư tưởng của con người từ giữa thời kỳ Atlantis đã luôn bị thu hút về phía con đường hủy diệt hay tả đạo, vì sự ích kỷ đã là động lực và lợi ích cá nhân đã là yếu tố chi phối. Một phần công việc của Đấng Christ khi Ngài đến cách nay 2000 năm là để xóa bỏ xu hướng này bằng việc khắc sâu, thông qua gương mẫu và giáo huấn, về sự hy sinh và lòng vị tha, và tinh thần tử vì đạo (mà nó thường bị nhuốm màu bởi sự cuồng loạn và một lợi ích cá nhân ở cõi trời) đã là một trong những kết quả của nỗ lực này. Nhìn theo quan điểm của Thánh Đoàn thì nỗ lực đã thành công, vì tinh thần Cơ Đốc giáo thay thế cho sự tái định hướng vào những sự việc ở cõi trời. Đó là sự thanh khiết của động lực và bản năng phụng sự, mà nguyên tắc chủ đạo gần đây là mới so với quan điểm về những sự vĩnh hằng trước kia.
- Tuy vậy, bất chấp điều này, xu hướng đưa tới lợi lộc ích kỷ vẫn là yếu tố mạnh nhất trên thế giới vào lúc này, và đó là tình trạng khủng hoảng đang tồn tại giữa Thánh Đoàn Quang Minh và nhóm chức sắc đang điều khiển phe tả đạo, tức là đường lối kiểm soát bằng hình tướng và dục vọng (LVHLT, 259)
+ Đức Chưởng giáo là là Đấng cao cả mà toàn thế giới đang mong đợi. Ngài trở lại để khai sáng thêm con đường Chân lý, giúp chúng ta giải quyết những vấn đề khó khăn, và tiến xa hơn trong cố gắng thể hiện Chân Thiện - Mỹ. Ngài là Đức Christ của Thiên Chúa giáo; là Đức Maitreya (Tiếng Sanskrit), Metteyya (Tiếng Pali), Jampa (Tiếng Tây Tạng) hay Di Lạc Bồ-tát của Phật giáo; là Đấng Hoá thân Kalki của Vishnu trong Ấn giáo; là Đức Imam Madhi của Hồi giáo; là Đức Sosiosh, Đấng Cứu thế của Hoả giáo; và Ngài cũng được tôn xưng trong các tôn giáo khác . . .(Trích Thư vể TTHM)
+ Đức Chưởng Giáo (The World Teacher, The Christ): Đức Chưởng Giáo là vị chủ quản nhóm 2. Ngài là Đấng Cao Cả mà tín đồ Cơ Đốc Giáo gọi là Christ. Ở phương Đông, Ngài cũng được biết dưới danh xưng Đức Bồ Tát (the Bodhisattva), Đức Di Lặc (the Lord Maitreya), và là Đấng mà người sùng tín Hồi giáo mong đợi, dưới danh xưng Iman Madhi. Chính Ngài đã chủ trì các vận mệnh cuộc sống từ khoảng năm 600 trước Thiên Chúa và chính Ngài đã đến với nhân loại trước kia và nay Ngài lại được mong chờ. Ngài là Đấng Bác Ái và Từ Bi, cũng như vị tiền nhiệm của Ngài, Đức Phật, là Đấng Minh triết.  Năng lượng của Ngôi 2 tuôn tràn qua Ngài, trực tiếp đi đến Ngài từ bí huyệt tim của Hành Tinh Thượng Đế qua tim của Đức Sanat Kumara. Ngài hoạt động nhờ việc tham thiền được tập trung trong tim. Ngài là Đức Chưởng Giáo, Sư Phụ của các Chân Sư, Đấng giáo huấn của Thiên Thần và Ngài được giao cho việc dìu dắt vận mệnh tâm linh của con người và việc mở ra sự hiểu biết bên trong mỗi người rằng y là con của Thượng Đế và con của Đấng Tối Cao. Nếu Đức Bàn Cổ bận tâm tới việc tạo ra kiểu mẫu và hình hài nhờ đó tâm thức phát triển và thu nhận kinh nghiệm, thì Đức Chưởng Giáo điều khiển tâm thức nội tại trong cuộc sống hay trạng thái tinh thần của nó, tìm cách làm sinh động nó bên trong hình hài, để cho, vào đúng lúc, hình hài này có thể bị loại bỏ và tinh thần được giải thoát quay về cội nguồn. Từ lúc bỏ cõi trần, như đã được thuật lại gần đúng trong câu chuyện Thánh Kinh (mặc dù có nhiều chi tiết sai lầm), Ngài đã ở lại với các con của nhân loại, không bao giờ thực sự ra đi, mà chỉ có vẻ ra đi, và những ai biết cách đều có thể tìm thấy Ngài ở trong một thể xác, ngự tại Hy Mã Lạp Sơn và hoạt động hợp tác chặt chẽ với hai Huynh Trưởng của Ngài là Đức Bàn Cổ và Đức Văn Minh Bồ Tát. Hằng ngày, Ngài ban ân huệ cho thế gian và hằng ngày, Ngài đứng dưới cội thông lớn trong vườn của Ngài vào lúc hoàng hôn, đưa tay ban phúc cho tất cả những ai chân thành và thiết tha tìm đạo. Ngài biết rõ những kẻ đi tìm chân lý, mặc dù có thể họ vẫn không biết Ngài , nhưng ánh sáng mà Ngài ban rải vẫn kích thích đạo tâm họ, bảo dưỡng điểm linh quang của sự sống đang phấn đấu và cổ vũ người tìm đạo cho đến ngày trọng đại, lúc mà họ đứng đối diện với Đấng mà,  nhờ được “thăng lên” (hiểu theo nghĩa huyền linh), đang kéo mọi người về phía Ngài với tư cách là Đấng Điểm đạo (Initiator) với các bí nhiệm thiêng liêng. (ĐĐNLVTD, 41–47)
+ Đức Di Lặc Bồ Tát: 
A-dật-đa Bồ-tát, chính là Bồ-tát Di Lặc. A-dật-đa là tiếng Phạn, dịch là Vô Năng Thắng, cũng tức là Từ Thị. Vị Bồ-tát này chuyên tu Từ Tâm Tam-muội, đối với bất cứ ai ngài đều dùng tâm Từ bi. Ai mắng ngài, ngài cũng dùng lòng từ bi đáp lại; ai đánh ngài, ngài cũng đáp lại bằng lòng từ bi. Bất luận là người nào đối xử không tốt với ngài, hoặc là ức hiếp ngài, làm nhục ngài, giận dữ la hét ngài, sanh ra vô minh, ngài đều dùng lòng từ bi đối xử với họ. Tất cả mọi việc, ngài đều dùng lòng từ bi đối đãi hết. Chẳng những ngài dùng từ bi đối xử với người, mà ngài còn thương xót cứu giúp tất cả chúng sanh nữa. Ngài xem tất cả chúng sanh giống như là con cái của chính mình, thậm chí còn thân thiết hơn con cái nữa. Ngài thương mến giúp đỡ tất cả chúng sanh đủ cả mọi mặt với tâm từ bi vô lượng vô biên. Tu Từ Tâm Tam-muội cần phải tu cả hạnh Nhẫn nhục, cho nên ngài có một bài kệ như thế này:
Lão hèn mặc áo vá
Cơm hẩm đủ no lòng
áo vá qua cơn lạnh
Vạn sự chỉ tùy duyên
Có người mắng lão hèn
Lão hèn cho là hay
Có người đánh lão hèn
Lão hèn ngủ quên mất
Phun nước miếng lên mặt
Cứ để nó khô thôi
Ta cũng bớt sức lực
Anh cũng khỏi giận hờn
Kiểu Ba-la-mật ấy
Chính là báu thêm mầu
Nếu biết được như thế
Lo gì đạo chẳng thành.
Lão hèn mặc áo vá: Lão hèn chính là một người tuổi già rất ngu si, áo vá chính là áo rách phải dùng kim chỉ để vá lại.
Cơm hẩm đủ no lòng: Cơm hẩm chính là thức ăn không thêm các gia vị dầu, muối, tương, xì dầu, dấm..., rất nhạt nhẽo, không có mùi vị gì, chỉ có thể lót đầy bụng trống thôi.
áo vá qua cơn lạnh: áo rách được vá lành thì có thể dùng để ngăn cái lạnh lẽo từ bên ngoài.
Vạn sự chỉ tùy duyên: Bất cứ sự tình gì cũng tùy tiện mà giải quyết ổn thỏa. Việc đến thời ảnh hiện, việc đi kể như không, cũng chính là "Ðáo xứ tùy duyên qua ngày tháng, Thủ thường an phận mặc thời gian." Bất cứ sự tình gì hễ đến, đi thì kể như không, đó gọi là tùy duyên. Tùy duyên cũng chính là "Tùy duyên mà bất biến, bất biến tùy duyên"; cũng chính là trong động có tĩnh, trong tĩnh có động; vừa tĩnh vừa động, vừa động vừa tĩnh.

Có người mắng lão hèn: Có người mắng ta là lão già ngu si.
Lão hèn cho là hay: Ta tự nói là hay quá, hay quá!
Có người đánh lão hèn: Có người đánh ta, cho ta là kẻ ngu si vô dụng, đoán xem điều gì sẽ xảy ra?
Lão hèn ngủ quên mất: Có người đánh ta một cái, ta nằm xuống ngủ quên ngay. Mình nói ngài là ngu si, tại sao lại làm thế? Thông thường người ta bị đánh thì trừng mắt nhướng mày nói: "Tại sao anh đánh tôi?" Nhưng ngài chẳng những không trợn mắt, mà lại nằm lăn trên đất ngủ khì nữa. Như vậy có quá hay hay không? Nếu ai có thể dùng được phương pháp này thì thật là không đến nỗi tệ, thật là có hạnh tu đấy.
Phun nước miếng lên mặt, có người phun nước miếng lên mặt mình thì lửa vô minh bốc lên hằng ba ngàn trượng: "Tại sao anh làm nhục tôi?!" Nhưng Bồ-tát Di Lặc thì: Cứ để nó khô thôi, để cho nó tự khô đi, tôi cũng không cần lấy tay lau sạch.
Ta cũng bớt sức lực, lau sạch nước miếng dù không hao phí sức lực bao nhiêu, nhưng cũng là phải dùng sức, bây giờ không lau thì sức lực đó cũng bớt phải xử dụng.
Anh cũng khỏi giận hờn, một khi mình thấy một người bị mình phun nước miếng lên mặt mà người ấy hình như coi như không, thì nghĩ rằng: "Cái người này! Mình không quen biết họ", thế thì giận hờn của mình không còn nữa.
Kiểu Ba-la-mật ấy, sao gọi là Ba-la-mật? Ðó là có người đánh, mình có thể ngủ thì được; có người phun nước miếng lên mặt, mình cứ để nó tự khô đi; đó chính là Ba-la-mật, cũng gọi là Nhẫn nhục Ba-la-mật. Giả như ngay đến Nhẫn nhục Ba-la-mật mà cũng không biết, thì mình học Phật pháp để làm chi? Chẳng cần phải suốt ngày từ sáng tới tối học đi học lại mãi mới gọi là học được nhiều Phật pháp, mà có khi cảnh giới đến lại không biết áp dụng một tí nào.
Chính là báu thêm mầu, đó là mầu nhiệm trong mầu nhiệm, quý báu trong quý báu. Nếu biết được như thế, lo gì đạo chẳng thành?
Nếu biết được những điều như trên thì lo gì không thành đạo được? Nếu tu học Nhẫn nhục Ba-la-mật như thế, thì đạo nghiệp của mình nhất định sẽ thành tựu; chư Phật, Bồ-tát không bao giờ dối gạt người đâu. Nếu mình học được như Bồ-tát Di Lặc thì nhứt định sẽ thành tựu đạo quả. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Bồ Tát Di Lặc là đại biểu truyền thừa tương lai. Thích Ca Mâu Ni Phật là một thời đại lớn. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật có Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp. Thời đại lớn này là một vạn hai ngàn năm. ....Bồ Tát Di Lặc chính là kế thừa Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư trong Hiền kiếp, Di Lặc là vị thứ năm, cho nên là tiếp nối tương lai, cũng tiếp nối pháp môn này. Pháp môn này là pháp môn đệ nhất, mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai độ chúng sanh thành Phật đạo. Pháp môn đệ nhất chính là kinh Vô Lượng Thọ. Đối tượng kinh Vô Lượng Thọ, đối tượng có thể tiếp dẫn chính là chúng sanh căn tánh chín muồi ở thế gian - Ngay trong một đời này quyết định làm Phật. Đó chính là đối tượng của kinh Vô Lượng Thọ. Đây là thật, không phải giả ! .....H.T. TINH KHÔNG ! Xem thêm
+ 670. THỌ KÝ ĐỨC PHẬT DI LẶC

Này Di-lặc, vào một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ đến tám vạn tuổi, ngươi sẽ thành Phật hiệu là Di-lặc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. Giống như Ta hiện nay là Như Lai Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu. (Nguồn: mục 670- (Trung A Hàm, Kinh Thiên Sứ, Phẩm 6, số 64)
Di-lặc Bồ-tát, còn gọi là A-dật-đa (Ajita/ Hán dịch: Vô năng thắng). Di-lặc/ Từ thị (Maitreya) là họ của gia đình. Vị tăng to béo mập mạp. Có lẽ là vị Bồ-tát nầy thích ăn ngon. Ngài cũng rất thích cười, Ngài rất thích chơi với trẻ con, và đáp lại, trẻ con cũng rất thích chơi với ngài. Sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập diệt, không còn là bậc đạo sư giáo hoá chúng sinh ở cõi nầy nữa, thì Đức Phật Di-lặc sẽ ra đời để tiếp tục việc giáo hoá chúng sinh. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni được gọi là Hồng Dương Phật. Khi Bồ-tát Di-lặc thành Phật, ngài sẽ được gọi là Bạch Dương Phật. Điều nầy có nghĩa là khi Đức Phật Di-lặc thị hiện ra đời, thì máu của chúng sinh sẽ là màu trắng, không còn màu đỏ như thời trước nữa. Loài người hiện nay có máu màu đỏ vì đang ở trong thời giáo hoá của Hồng Dương Phật.
Khi nào Đức Phật mới Di-lặc thị hiện ra đời? Nghe thật là lâu xa khi quý vị được kể ra ...(Mời xem trong Kinh văn). Thời Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh dậy con tu tập pháp định duy tâm thức (Tam giới duy tâm - Vạn pháp duy thức là nguyên lý của pháp Duy thức quán), con được nhập vào chánh định, tâm cầu danh thế gian đã diệt. Bạch Đức Thế tôn, do con rõ được tánh duy thức như vậy, nên từ thức tánh lưu xuất vô lượng Như Lai. Nay được Phật thụ kí, kế tiếp thành Phật ở cõi nầy. Đức Phật hỏi về viên thông, con dùng pháp quán tường tận mười phương đều do thức biến. Thức tâm được tròn sáng, thể nhập tánh viên thành thật, rời xa các tánh y tha khởi và tánh biến kế sở chấp, được pháp vô sanh nhẫn. Đó là phương pháp tốt nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

Xem: Tóm lược các Kỳ công của Hercules huyền thoại và Đức Phật và Đức Christ

Xem: Hercules và Đức Phật, Đức Christ

+ BÍ QUYẾT NIỆM PHẬT LÀ: Ý NIỆM VỪA MỚI KHỞI LÊN THIỆN NIỆM CŨNG ĐƯỢC, ÁC NIỆM CŨNG ĐƯỢC, NHẤT ĐỊNH CHẲNG ĐOÁI HOÀI, NGAY LẬP TỨC ĐỔI NÓ THÀNH A DI ĐÀ PHẬT. ĐỔI CHO NHANH, CÀNG NHANH CÀNG HAY, CHỚ ĐỂ CHO Ý NIỆM ẤY TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG; (Ps Tịnh Không giảng)

+ PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT CHẤN ĐỘNG HƯ KHÔNG PHÁP GIỚI: Nếu người niệm Phật không có tư tâm, không có vọng tưởng, phân biệt và chấp trước, "Tâm bao thái hư, Lượng chu sa giới", mỗi tiếng Phật hiệu mà niệm, đều có thể chấn động hư không pháp giới. Người niệm Phật này còn thù thắng hơn, so với mười ngàn người ở niệm Phật đường; Hòa Thượng Tịnh Không (Xem bài)

+ Niệm Phật - Bồ tát không được nghi ngờ:
Niệm niệm chớ sanh nghi
Bậc Tịnh thánh Quán Âm
Trong khổ não tử ách
Giúp đỡ, làm chỗ nương.
Niệm niệm chớ sanh nghi: Lúc chúng ta niệm Bồ-tát Quán Thế Âm thì đừng bao giờ sanh lòng nghi ngờ. Chớ nên nghĩ như thế này: "Niệm có ích gì không? Niệm Bồ-tát Quán Thế Âm há chẳng phải là không có ý nghĩa gì?" Mỗi ngày đều niệm Bồ Tát Quán Thế Âm và cần nhất là không nên có tâm hoài nghi. Dù chỉ trong một niệm cũng không nên sanh tâm hoài nghi, mà phải nên sanh lòng tin vững chắc. (Nguồn: Đức Phật giảng về Bồ Tát Quán Âm tuyệt định nhân gian trong Phẩm Phổ Môn - Kinh Pháp Hoa)

+ Niệm Phật đúng như Pháp vài tiếng Niệm - Quỷ liền lui. Mời xem (Xem bài viết)

+ Niệm Phật Với Người Bận Rộn: Nếu như công việc chân thật rất bận rộn cũng có thể rút ra chút thời gian để tu hành, đó chính là khi tôi ở Singapore đề ra phương pháp mười niệm, có hiệu nghiệm, phù hợp với nguyên tắc mà tịnh tông đưa ra. Tôi đưa ra phương pháp tập niệm này là 1 ngày 9 lần, 1 lần đại khái chỉ có 1 đến 2 phút, chính là niệm 10 câu Phật hiệu, niệm 10 câu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…trong 10 câu Phật hiệu này không có hoài nghi, không có xen tạp, đó gọi là tịnh niệm. 10 câu dễ niệm, nếu khi nhiều thì vọng niệm khởi lên, 10 câu vọng niệm không dễ xen tạp vào. Sáng sớm khi thức dậy niệm 10 câu, sau khi rửa mặt xong, có tượng Phật thì đối mặt với tượng Phật, không có tượng Phật thì mặt quay về hướng tây, niệm 10 niệm chỉ 1-2 phút, không có việc gì có thể chướng ngại, trước khi đi ngủ, khi xúc miệng xong cũng niệm 10 câu, sớm tối 2 lần. Trong 3 bữa cơm, trước khi ăn cơm, mọi người niệm chú cúng dường, ta niệm 10 câu A Di Đà Phật, bạn xem như vậy là được 5 lần rồi. Còn lại 4 lần, sáng sớm khi đi làm chưa vào ca, trước tiên niệm mười câu Phật hiệu, rồi xử lí công việc, tan ca cũng là như vậy, sau khi tan ca thâu gọn sạch sẽ, niệm 10 câu Phật hiệu, rồi mới rời khỏi vị trí của mình, buổi sáng 2 lần, buổi chiều 2 lần, 1 ngày 9 lần, bạn chỉ cả đời như vậy, không gián đoạn ngày nào, khẳng định có hiệu quả. Việc này dễ làm, khi làm bất cứ nghề nghiệp gì cũng không bị chướng ngại.(PS Tịnh Không giảng)

+ Pháp môn niệm Phật có bốn cách: 1/ Quán tưởng niệm Phật, 2/ Quán tượng niệm Phật, 3/ Thật tướng niệm Phật, 4/ Trì danh niệm Phật.
1. Quán tưởng niệm Phật: Chính là quán tưởng toàn thân sắc vàng của Phật A Di Ðà tướng hảo quang minh không sánh ví, toàn thân của Phật A Di Ðà phóng ra ánh sáng sắc vàng. Tướng hảo là thành tựu công đức viên mãn, đầy đủ ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, ánh sáng của Ngài không sánh ví. Xem thấy tướng sáng lông trắng giữa chặn mày của Phật A Di Ðà to lớn xoay quanh như năm hòn núi Tu Di. Mắt của Ngài to như bốn biển lớn, cho nên quý vị làm sao thấy được thân to lớn của Phật A Di Ðà?
Ở trong ánh sáng của Phật A Di Ðà hóa hiện ra rất nhiều Phật. Chẳng những hóa ra hình tượng của Phật mà còn hóa hiện ra hình tượng của Bồ-tát nữa. Phật A Di Ðà có bốn mươi tám lời nguyện cứu độ tất cả chúng sanh khiến cho đều lên chín phẩm sen vàng được giải thoát.
Chín phẩm có Thượng phẩm, Thượng trung phẩm, Thượng hạ phẩm, Trung thượng phẩm, Trung trung phẩm, Trung hạ phẩm, Hạ thượng phẩm, Hạ trung phẩm, Hạ hạ phẩm. Hoa sen ở mỗi phẩm lại chia làm chín phẩm, thành ra 9 x 9=81 phẩm. Có được tám mươi mốt phẩm, tất cả chúng sanh sẽ đến bờ bên kia, tức là Niết-bàn.
2. Quán tượng niệm Phật: Ðó là cúng dường một tôn tượng Phật A Di Ðà. Niệm Phật cách này chính là quán nhìn tượng Phật A Di Ðà, càng lâu càng kỹ mới được thành công.
3. Thật tướng niệm Phật: Chính là niệm mà không niệm, không niệm mà niệm. Bạn muốn không niệm cũng không được. Nó giống như giòng nước, tự mình ở trong đó thì niệm ra Phật; niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, miên miên mật mật, đạt đến cảnh giới ấy chính là Niệm Phật Tam-muội, cũng chính là thật tướng niệm Phật.
4. Trì danh niệm Phật: Tức là chuyên niệm Phật A Di Ðà, mở miệng ngậm miệng, đi, đứng đều niệm A Di Ðà. Niệm cần phải niệm cho rõ ràng, lỗ tai phải nghe cho rõ ràng, tâm cũng phải nhớ cho rõ ràng; ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh niệm Phật, tâm không vọng tưởng. Miệng không có bốn nghiệp ác: Mắng chửi, nói thêm, nói láo, nói đâm thọc. Thân không có ba nghiệp ác: Sát sanh, trộm cắp, tà dâm. ý không tham, sân, si. Ðó là dùng ba nghiệp thanh tịnh để niệm Phật. Thân, khẩu, ý thanh tịnh mà niệm Phật thì niệm niệm thanh tịnh, niệm niệm Phật như vậy. (Nguồn: Kinh A Di Đà Phật - HT Tuyên Hóa giảng); 
* Pháp Trì danh niện Phật trong giảng Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 5 cũng có giảng. Mời xem HT Tuyên Hóa giảng.

+ Bí quyết thời khóa Tu đều đặn: Tu Hành, cần định khóa sớm tối, bạn duy trì đều chỉ 5 phút mỗi thời khóa, không có gián đoạn, sẽ thành tựu hơn nhiều là mỗi thời 30 phút nhưng ngày có ngày không, là giải đãi, chẳng thể thành tựu (PS Tịnh Không)

+ Niệm Phật: Trong kinh Đại Tập, đức Phật dạy: “Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu", tức Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ (Nguồn)

+ Pháp Niệm Phật: Ðức Phật dạy, có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ Kinh).

+ Trì danh - Trì niệm Phật - Bồ Tát - Thánh hiền
Nếu có người trì danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy đặng, vì do sức oai thần của Bồ-tát này đặng như vậy. Nếu có người bị nước xiết cuốn trôi, xưng danh hiệu Bồ-tát này liền gặp chỗ cạn.
Ðoạn văn kinh này nói về Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ chúng sanh thoát khỏi nạn lửa và nạn nước, hai nạn đầu trong bảy nạn. Nếu có người trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm này. “Nếu có,” là bây giờ chưa có, tương lai có thể có. Giả sử có một người ở tình huống ấy mà trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. “Trì” là nắm chắc, nghĩa là không quên, cũng tức là tâm tâm niệm niệm đều chấp trì câu: “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.” Thì dầu vào trong đám lửa lớn, lửa chẳng cháy đặng. Song, đây ý là nói người ấy bình thường niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, mà không phải là nói đợi đến khi bị vây hãm trong đám lửa lớn mới niệm danh hiệu Ngài, không phải là bảo bây giờ mới đốt hương, bây giờ mới niệm Phật, cũng không phải là nói hôm nay có tai nạn, hôm nay mới niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Có câu là: “Bình thường chẳng đốt hương, gặp việc ôm chân Phật.” Lúc rảnh, một cây hương cũng không đốt, gặp việc gấp mới chạy ôm chân Phật cầu xin cứu nạn cho. Lúc ấy dù cho quý vị ôm bắp vế của Phật, nhưng Phật cũng không có để mắt tới đâu. Tại sao thế? Vì lúc bình thường quý vị không chịu tu hành, đến chừng gặp nạn mới cầu cứu với Phật, đó gọi là “bây giờ mới đốt hương, bây giờ mới niệm Phật.”
Lại còn có một hạng người, lúc bình thường cũng chưa đốt hương chưa niệm Phật, nhưng lúc có nạn gấp, Bồ Tát Quán Thế Âm cũng cứu giúp họ, khiến họ lìa khổ đượĩc vui. Thế nghĩa là sao? Quý vị biết rằng, mỗi người chúng ta đều có nhân trước quả sau. Ở đời trước, có thể người ấy đã từng dũng mãnh tinh tiến tu hành, gắng sức dụng công niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thậm chí đã từng tạo ra các thứ công đức, đời này dù không có niệm mà nhờ đời trước đã trì niệm, đã từng gieo trồng căn lành, nên ở đời này dù người ấy không niệm mà Quán Thế Âm Bồ Tát vẫn đến cứu giúp cho. Ấy là nhờ có nhân xa mà được. Về nhân, có nhân xa mà cũng có nhân gần. Nhân xa là nhân gieo trồng từ đời trước, nhân gần là nhân gieo trồng ở đời này.
Có người nói: “Ðời trước có thể tôi đã gieo nhân rồi, bây giờ không cần phải niệm nữa. Tương lai tôi có mắc nạn, Bồ Tát Quán Thế Âm cũng sẽ đến cứu tôi.” Ðiều đó không lấy gì chắc lắm. Quý vị yêu cầu tôi bảo đảm, tôi cũng không dám! Nếu như quý vị ngay từ bây giờ bắt đầu thành tâm thành ý niệm đi, thì tôi có thể bảo đảm với quý vị, chắc chắn có thể được cảm ứng, tương lai nếu quý vị có tai nạn chi, Bồ Tát Quán Thế Âm nhất định sẽ đến cứu quý vị. Vì bởi quý vị không phải là “bây giờ đốt hương, bây giờ cảm ứng” thì tuyệt đối sẽ có cảm ứng.
Trước kia có một người nhất tâm mong muốn đi Phổ Ðà Sơn ở Nam Hải để triều bái Bồ Tát Quán Thế Âm. Nhưng mà trong thiên hạ lại có lắm chuyện trớ trêu! Ngày ông ta lên thuyền để đi Phổ Ðà Sơn triều bái Bồ Tát Quán Thế Âm thì nhà kế bên phát hỏa, bốc cháy. Người nhà ông ta chạy đến báo tin: “Không xong rồi! Anh phải về mau! Ðừng đi Phổ Ðà Sơn nữa. Nhà kế bên chúng ta bị cháy rồi, anh phải về lo thu xếp mới được.”
Người ấy nói: “Tôi vì muốn triều bái Bồ Tát Quán Thế Âm nên đã trường chay ba năm rồi, bây giờ đã lên thuyền sắp đi. Nhà nếu phải cháy, thì dầu tôi có rời thuyền thì nhà cũng vẫn cháy. Nếu không đáng cháy, nhờ sức bảo hộ của Bồ-tát, dầu tôi không xuống thuyền nhà cũng không cháy được. Với thành tâm này, tôi đâu có thể vì nhà cháy mà không đi lễ Bồ-tát Quán Thế Âm!”
Ðối với ông ta lúc đó, việc nhà cháy cũng mặc kệ, chỉ quyết định nhất tâm đi lễ Bồ Tát Quán Thế Âm mà thôi. Sau khi ông ta đi triều bái Bồ Tát Quán Thế Âm ở Phổ Ðà Sơn trở về, nhìn thấy làng xóm hai bên đều trống không vì bị lửa ngốn, chỉ còn độc ngôi nhà mình nguyên vẹn. Vì thế có người hỏi: “Tại sao mấy nhà xung quanh bị cháy hết mà nhà anh không bị cháy?” Anh ta đáp: “Nhờ tôi thành tâm đi lễ Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi đi, thứ gì tôi cũng buông xả hết, cái gì cháy cứ cháy, tôi cho cháy tuốt, đều không màng đến. Ðó là nhờ Bồ Tát Quán Thế Âm bảo hộ cho đấy! Nhờ oai lực của Ngài cứu giúp nên nhà của tôi mới được nguyên vẹn như thế!”
Ðó là bằng chứng: “Giả sử vào trong đám lửa lớn, lửa không thể cháy được.”
Do nhờ sức oai thần của Bồ-tát này. Tại sao lửa không thể cháy được? Vì Bồ Tát Quán Thế Âm có oai thần lực lớn nên lửa không thể cháy được.
Nếu bị nước xiết cuốn trôi. Nếu bình thường quý vị niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, hoặc là vô ý – chớ không phải muốn thử nghiệm Bồ Tát Quán Thế Âm mà nhảy xuống biển xem có linh nghiệm chẳng bị chìm hay không? Nếu quý vị có ý muốn thử, không phải thật lòng tin thì tuyệt đối không linh nghiệm đâu. Quý vị nhảy xuống biển chắc chắn sẽ chìm ngay. Tại sao? Tại quý vị có tâm muốn thử Bồ-tát. Bồ Tát Quán Thế Âm đâu phải học trò, quý vị cũng không phải là thầy giáo, tại sao quý vị lại muốn thử nghiệm Bồ Tát Quán Thế Âm? Tại vì quý vị không tin Bồ Tát Quán Thế Âm có những thần thông như thế nên mới thử nghiệm xem. Sự thử nghiệm đó không sao, nhưng lại là đem sinh mạng của mình làm vật hy sinh đấy! Không nên đem sinh mạng làm trò cười, để đánh cuộc như vậy!
Xưng danh hiệu Bồ-tát này liền gặp chỗ cạn. Quý vị xưng niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm thì bất ngờ gặp được chỗ cạn. Ở trong biển lớn thì làm sao đến được bờ kia? Ðó là nhờ oai lực của Bồ Tát Quán Thế Âm mới có sự cảm ứng như thế. Bất cứ là người nào, nếu muốn giải trừ các khổ não của bảy nạn, thì trước phải thường thường cung kính xưng niệm danh hiệu Ngài. (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - Kinh Pháp Hoa)

+ Thấy Nghe hoặc niệm Địa Tạng Bồ Tát đều được lợi ích thù thắng:
Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Ta Bà. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục liền được gặp Phật thọ ký cho.
Thiện nam, tín nữ thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, .. mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”
Hoặc lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.
Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.
Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”
.... Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Bồ Tát Địa Tạng có đại nhân duyên với cõi Diêm Phù Đề. Nếu nói về những việc lợi ích nhờ được thấy, được nghe của chư chúng sanh, thì trong cả trăm ngàn kiếp cũng không thể nói hết được. Mời xem chi tiết HT Tuyên Hóa giảng giải Kinh. (Nguồn: Kinh Địa Tạng Bồ Tát - Phẩm 12)

+ Bồ Tát Quan Âm khuyên người niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ; Trích Đường Về Cực Lạc - Hòa thượng Thích Trí Tịnh (Xem bài viết)

Xem thêm: Tổng hợp các bài hướng dẫn Niệm Phật Ba La Mật
Xem: Phật dậy Pháp Niệm Phật cho Người sơ cơ
Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo
Xem: TH Tương Ứng Của Thuật Ngữ Minh Triết - Tâm Linh Tu Hành

+ Đại Thế Chí Pháp vương tử cùng 52 vị Bồ-tát cùng tu tập, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng:
Giảng giải:
Đại Thế Chí Pháp vương tử và Bồ-tát Quán Thế Âm đều là con trai của Đức Phật A-di-đà khi Đức Phật còn là vị Chuyển luân thánh vương. Khi Đức Phật A-di-đà đã thành tựu quả Phật, hai vị Bồ-tát nầy đến để trợ thủ cho ngài. Hai vị Bồ-tát là hai người bạn đồng hành hằng ngày của Đức Phật A-di-đà, một vị bên trái, một vị bên phải. Khi Đức Phật A-di-đà nhập diệt, không còn là bậc giáo chủ của cõi Cực lạc phương Tây, trong nửa đêm, giáo pháp sẽ suy tàn, và đến cuối nửa đêm đó, Bồ-tát Quán Thế Âm sẽ thành Phật tại cõi Cực lạc phương Tây. Khi Bồ-tát Quán Thế Âm nhập diệt, không làm bậc giáo chủ của cõi Cực lạc phương Tây nữa, thì Bồ-tát Đại Thế Chí sẽ thành Phật cùng một cách như Bồ-tát Quán Thế Âm, ngài làm giáo chủ cõi Tây phương Cực lạc. Bồ-tát Đại Thế Chí còn được gọi là Đắc Đại Thế–得大勢. Ngài rất mạnh, đến mức độ mỗi khi ngài nhấc tay, động chân, hay lắc đầu, thì đất bằng chuyển động. Khi ngài đi, thì đất rung chuyển. “Pháp vương tử” có nghĩa là Bồ-tát.
Cùng 52 vị Bồ-tát cùng tu tập, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng:
Năm mươi hai Bồ-tát ở đây biểu tượng cho thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác, diệu giác Năm mươi hai giai vị tu chứng của hàng Bồ-tát.

Kinh văn:
Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Quang. Lúc ấy có 12 Đức Như Lai kế tục nhau thành Phật trong một kiếp. Đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, ngài daỵ con pháp niệm Phật tam-muội.
Giảng giải:
Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Quang. Lúc ấy có 12 Đức Như Lai kế tục nhau thành Phật trong một kiếp. Đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Vào kiếp đó, có 12 Đức Phật Như Lai thị hiện ra trên đời, Đức Phật thứ 12 hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài daỵ con pháp niệm Phật tam-muội. Đức Phật Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy con niệm danh hiệu ‘Nam-mô A-di-đà Phật.’
A-di-đà (Amitābha) có nghĩa là ‘Vô lượng quang’ và ‘Vô lượng thọ’; có phải ngài là Đức Phật A-di-đà mà chúng ta thường biết đó chăng? Có lẽ không. Vì Đức Phật A-di-đà lúc đó là Đức Phật đã thành tựu Phật quả từ 10 kiếp trước. Nhưng danh hiệu vẫn đồng là một. Có nhiều Đức Phật có danh hiệu giống nhau, cũng như người thường có tên hoặc họ trùng nhau vậy.

Kinh văn:
Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng không là thấy.
Giảng giải:
Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên. Đây là một ví dụ. Có hai người, một người luôn luôn nhớ đến người kia, trong khi người kia không bao giờ nhớ đến người khác. Có lẽ họ là bạn bè hay bà con. Hai người nầy dụ cho Đức Phật và chúng sinh. Đức Phật thường nhớ đến chúng chúng ta, các ngài luôn luôn thường xót chúng sinh, nhưng chúng sinh thì không bao giờ nhớ đến Phật. Chúng ta có thể có ít cơ may để học Phật pháp, nhưng chúng ta hoàn toàn không biết rõ những gì đang được giảng giải. Chúng ta hoàn toàn không biết những điều ấy vi diệu như thế nào. Tại sao chư Phật lại nhớ nghĩ đến chúng sinh. Vì các ngài thấy rằng chúng sinh vốn có cùng bản tánh Phật như các ngài. Chư Phật nhìn chúng sinh như là cha mẹ của các ngài trong quá khứ, và sẽ là chư Phật trong tương lai. Thế nên Đức Phật dạy rằng, “Mọi chúng sinh trên cõi giới nầy đều có Phật tánh. Đều có thể thành Phật.” Không có riêng một chúng sinh nào mà chẳng được thành Phật. Đây chính là điểm then chốt đã khiến cho đạo Phật trở nên cao quý và lan rộng khắp mọi nơi. Đó là lí do tại sao chư Phật không tán thành các việc sát hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối và uống rượu. Giữ và thực hành năm giới là cách thể hiện lòng thương tưởng đến chúng sinh. Vì chư Phật thấy rõ rằng chúng sinh có cùng thể tánh như các ngài, ngài muốn giáo hoá họ, để giúp cho họ tiến lên, thành tựu Phật quả.
Chúng sinh chúng ta đến thế giới nầy và bỏ gốc để theo ngọn. Chúng ta quên đi nguồn gốc, bối giác hiệp trần–turn our backs on enlightenment and unite with the dust – trần lao phiền não nơi thế gian. Đó là lí do khiến cho chúng ta quên đi chư Phật và không nhớ gì đến các ngài.
Có nhiều phương pháp thực hành niệm danh hiệu Phật.
1. Trì danh niệm Phật: Quý vị có thể niệm danh hiệu của Đức Phật nào mà mình thích. Chẳng hạn, nếu quý vị thích Đức Phật A-di-đà, quý vị có thể niệm ‘Nam-mô A-di-đà Phật.’ Hoặc có thể quý vị thích niệm ‘Nam-mô Bổn sư Đức Phật Thích-ca Mâu-ni Phật.’ Hoặc có thể quý vị thích niệm ‘Nam-mô Tiêu tai Diên thọ Dược sư Lưu ly Quang Vương Phật.” Đó chính là đồng như danh hiệu với chư Phật trong khắp mười phương–quý vị có thể chọn danh hiệu nào để niệm tuỳ ý. Mục đích của việc niệm Đức Phật là nhằm gom niệm tưởng lăng xăng thành nhất tâm nhớ nghĩ về Đức Phật–là để trừ đi những vọng tưởng. Nếu quý vị không dính líu với những vọng tưởng, thì quý vị sẽ không sinh khởi vọng tưởng, và khi quý vị không tạo nên các việc ác, có nghĩa là quý vị đang trên đường làm việc thiện.
2. Quán tưởng niệm Phật. Quán tưởng Đức Phật A-di-đà từ tướng lông màu trắng ở giữa trán đang phóng ra hào quang. Có bài kệ tán thán việc này,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-di
Hám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quý vị có hình dung ra được không? Nếu quý vị có tâm lượng nhỏ hẹp, thì ý niệm của quý vị về Đức Phật cũng sẽ rất yếu khi quán tưởng về ngài. Nếu quý vị có tâm thiết tha rộng lớn, thì sự quán tưởng về hình tượng Phật sẽ to lớn vô cùng.
3. Quán tượng niệm Phật: Theo phương pháp nầy, quý vị nhìn vào tượng Phật A-di-đà khi niệm danh hiệu ngài. Và khi niệm Phật quý vị quán tưởng đến những thân trang nghiêm và các tướng tốt của ngài. Nhưng tôi báo quý vị biết rằng, điều nầy có thể xảy ra khi quý vị bị một loài ma gá vào khi quý vị niệm Phật. Nói chung, bất kỳ quý vị tu tập pháp môn nào, cũng cần phải có giới hạnh – đức hạnh trong tu đạo. Khi tôi ở chùa Ze Xing, núi Da Yu tại Hông Kong, có một vị tỷ-khưu muốn tu một khoá Phật lập tam-muội. Khi tu tập pháp nầy, người tu phải ở trong thất và đi kinh hành liên tục, nên gọi đó là pháp Thường hành tam-muội–hoặc Phật lập tam-muội. Trong 90 ngày, hành giả đi liên tục trong phòng, không nằm, không ngủ. Đây là pháp môn đòi hỏi nhiều nghị lực. Vị tỷ-khưu ấy phải niệm Phật suốt trong thời gian tu tập pháp Thường hành tam-muội nầy. Một hôm, tôi để ý thấy rằng càng ngày vị ấy niệm Phật càng lớn tiếng hơn, cho đến một hôm ông ta rống lên, “Nam-mô A-di-đà Phật! Nam-mô A-di-đà Phật! ” Khi tôi nghe như vậy, tôi biết ông ta đã gặp một cảnh giới nào đó, thế nên tôi đến để xem thử sao. Ông ta chạy quanh thất như điên. Điều gì đã xảy ra? Trong kiếp trước, vị tỷ-khưu nầy là một con bò. Vì ông ta đã làm được một số công đức ở một ngôi chùa nhờ cày ruộng cho chùa, nên đời nầy, ông được làm vị tỷ-khưu. Tuy nhiên, mặc dù là một tỷ-khưu, tập khí của loài bò vẫn chưa được thay đổi. Ông ta có một thói quen thật kỳ lạ.
Lí do mà ông ta chạy quanh phòng là vì ông ta thấy Đức Phật A-di-đà hiện ra, và ông ta đuổi theo ngài. Điều gì thực sự đã xảy ra? Vị tỷ-khưu ấy đã gặp phải ma sự. Vốn thực chẳng có Đức Phật A-di-đà nào đến cả, đó chỉ là một con trâu nước hiện lên từ biển. Nó là loài thuỷ quái biến hiện thành Đức Phật A-di-đà để gạt vị tỷ-khưu. Vị nầy tưởng đó là Đức Phật A-di-đà hiện ra, nên chạy theo ngài.
Khi tôi đến đó, tôi dùng một phương pháp để giải trừ ma sự cho vị tỷ-khưu. Thế nên cũng có khi quý vị gặp phải ma sự khi trì niệm danh hiệu Phật.
4. Thực tướng niệm Phật: Đây có nghĩa chính là tham thiền – investigating dhyāna. Chúng ta ngồi thiền và tham công án ‘Ai là người niệm Phật?’
Trong đoạn kinh nầy, một người luôn luôn nhớ đến Phật, một người thường chẳng bao giờ nhớ đến chúng sinh. Thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng không là thấy.
Dù họ có gặp nhau, cũng như thể là họ chưa từng thấy nhau. Có thể họ đã gặp nhau ở một nơi nào đó, nhưng “chẳng hợp nhãn nhau.” Vì năng lượng của họ không giao thoa nhau, vì một người thì nhớ một người quên. Họ không thể gặp được nhau. Dù họ có đối diện nhau, cũng như thể họ không thấy nhau.

Kinh văn:
Nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ nhau thật sâu trong tâm niệm, như thế cho đến đời nầy sang đời khác, như hình với bóng, không bao giờ cách xa nhau.
Giảng giải:
Nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ nhau thật sâu trong tâm niệm–nếu họ nhớ nhau rất sâu đậm– như thế cho đến đời nầy sang đời khác, như hình với bóng, không bao giờ cách xa nhau. Cái bóng của mình dù mình có đi đâu nó cũng đi theo, nó không bao giờ rời bỏ hình ảnh của nó. Hai người nầy cũng sẽ như vậy và không bao giờ tách rời ra. Họ sẽ không bao giờ còn có việc chẳng nhận ra nhau hay quên nhau.

Kinh văn:
Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con. Nếu con trốn tránh, tuy nhớ, nào có ích gì. Nếu con nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không cách xa nhau.
Giảng giải:
Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con – Chư Phật trong mười phương thường thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con. Nếu con trốn tránh, tuy nhớ, nào có ích gì.mẹ thường nhớ con mọi thời, nhưng con quên mẹ, thì thật vô ích. Nếu con nhớ mẹ, như khi mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không cách xa nhau. Nếu mẹ và con cùng nhớ đến nhau trong theo cách ấy, thì mẹ con sẽ nhớ nhau suốt đời, từ đời này sang đời khác. Họ sẽ không bao giờ tách lìa nhau.
Có nghĩa là, nếu chư Phật thương tưởng, hằng nhớ đến chúng sinh, mà nếu chúng sinh cũng nhớ đến chư Phật, thì đời nầy sang đời khác, chúng sinh và Phật chẳng lìa xa nhau. Chúng ta sẽ ở bên Phật mãi mãi.

Kinh văn:
Nếu tâm chúng sinh, nhớ Phật, tưởng đến Phật, thì đời nầy, đời sau, nhất định thấy Phật.
Giảng giải:
Nếu chúng sinh tưởng nhớ đến Phật, niệm danh hiệu Phật, thì chắc chắn họ sẽ được thấy Phật trong đời nầy hoặc đời sau.

Kinh văn:
Họ đã cách Phật không xa, nên không nhờ vào phương tiệnđược tâm khai ngộ.
Giảng giải:
Họ chắc chắn sẽ được giác ngộ.

Kinh văn:
Như người xông hương thì thân thể có mùi thơm. Đó gọi là hương quang trang nghiêm.
Giảng giải:
Như người xông hương thì thân thể có mùi thơm.
Nếu có người xông ướp thân thể mình băng hương thơm, thì mùi hương ấy sẽ thấm đượm quanh thân. Đó gọi là hương quang trang nghiêm.

Kinh văn:
Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật mà thể nhập vô sanh nhẫn. Nay con trong cõi nầy, tiếp dẫn những người niệm Phật trở về cõi Tịnh độ.
Giảng giải:
Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật mà thể nhập vô sanh nhẫn.
Bồ-tát Đại Thế Chí nói rằng từ trong nhân địa tu hành của ngài, có nghĩa là, từ khi mới phát tâm tu đạo làm vị tỷ-khưu, ngài chứng được vô sinh pháp nhẫn nhờ vào pháp niệm Phật. Nay con trong cõi nầy–cõi ta-bà, tiếp dẫn những người niệm Phật. Như thỏi nam châm sẽ thu hút hết thảy các vụn sắt, Bồ-tát Đại Thế Chí tiếp độ và dẫn dắt mọi chúng sinh nào tu tập pháp niệm danh hiệu Phật, đưa họ trở về cõi Tịnh độ. Ngài dẫn dăt họ trở về với cõi Cực lạc.

Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, con do thu nhiếp tất cả sáu căn mà không cần lựa chọn, tịnh niệm liên tục. Đó là phương pháp hay nhất.
Giảng giải:
Đức Phật hỏi về phương pháp để tu tập đạt được viên thông, con do thu nhiếp tất cả sáu căn mà không cần lựa chọn, tịnh niệm liên tục. Con không có sự lựa chọn nào khác. Con chỉ có một pháp phương pháp là niệm danh hiệu Phật. Con dùng pháp môn nầy để thu nhiếp sáu căn và các vọng tưởng khởi dậy từ sáu căn ấy. Con điều phục sáu căn không để cho chúng khởi dậy vọng tưởng nữa. Con niệm Phật với tâm thanh tịnh mãi không gián đoạn, cho đến khi con đạt được chánh định. Đó là phương pháp hay nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Hình thành Thế giới và Thân chúng sinh: Lưu Ly Quang Pháp vương tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Thanh, ngài khai thị cho hàng Bồ-tát tính bản giác diệu minh. Ngài dạy quán sát thế giới nầy và thân chúng sinh đều là do sức lay động/ Phong đại của nhân duyên hư vọng mà ra.
Lúc ấy, con quán sự an lập của thế giới, quán sự thiên lưu (Quá khứ, Hiện tại, vị lai) của thời gian, quán thân khi động khi yên, quán tâm khi khởi khi diệt. Thấy các tính động ấy đều bình đẳng như nhau, vốn không sai biệt.(Giảng: Ngay khi niệm tưởng vừa sinh khởi trong tâm, chúng ta đã tạo nên lực lay động của gió ngay trong tâm. Một khí có sức lay động của gió trong tâm, thì liền có nhiều loại gió bên ngoài sanh khởi)
Bấy giờ con nhận ra các tánh lay động ấy, đến không do đâu, đi chẳng về đâu. Mười phương chúng sinh (Từ loại muỗi ...) điên đảo nhiều như số vi trần đều đồng một tính hư vọng => Được vô sanh nhẫn. Đức Phật hỏi về viên thông, con do quán sát sức lay động của gió vốn không nương vào đâu ... là phương pháp tốt nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI CHÚNG SINH VÀ SÔNG NÚI BIỂN CẢ CÂY CỎ ... TƯƠNG TỤNG

Bạch Thế tôn, nếu hết thảy các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới v.v... trong thế gian đều là tánh Như Lai tạng, thanh tịnh bổn nhiên, thì làm sao lại bỗng dưng nổi lên các tướng hữu vi, núi sông đất liền, liên tục trước sau, theo nhau dời đổi?
Lại nữa, Như Lai thường nói bản tính của đất, nước, lửa, gió vốn là viên dung, bao trùm khắp pháp giới, vắng lặng, thường trú.
Bạch Thế tôn, nếu tánh của đất đầy khắp, thì làm sao còn chứa được nước? Nếu tánh của nước đầy khắp, thì lửa ắt là không sanh ra được. Lại nữa, Như Lai giải thích làm sao tánh của nước và tánh của lửa đều đầy khắp hư không mà không lấn hại lẫn nhau? Bạch Thế tôn, tánh của đất là cứng, tánh của hư không là thông suốt; làm sao cả hai tánh nầy đều cùng lúc trùm khắp pháp giới được? Con không biết nghĩa nầy sẽ dẫn đến đâu?...
Đức Phật bảo, “Phú-lâu-na, như ông vừa hỏi, đã là thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng dưng sanh ra núi sông đất liền?”....
Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mê muội, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Nên có phong luân nắm giữ thế giới.
Giảng giải:
Thế giới có bốn yếu tố: đất, nước, lửa, gió. Trước hết chúng ta đề cập đến phong luân. Khi muốn đem thêm cái sáng vào cho bản giác diệu minh thì vô minh liền sinh khởi cái sáng bị trói buộc trong tính nhị nguyên, tức là cái tối. Hư không thì mê muội, hư không có khi rất tối tăm mờ mịt. Khi cái sáng của giác và cái tối tăm của hư không giao xen nhau, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Hư không và thể của giác minh, có nghĩa là vô minh do kết quả của việc đưa thêm cái sáng vào cho bản giác diệu minh–đối đãi nhau, cuối cùng tạo nên sự lay động. Ngay khi có sự lay động, liền có phong luân. Với sự lay động đó, yếu tố gió sinh khởi. Bên dưới thế giới là phong luân để nâng đỡ, duy trì thế giới. Ngày nay chúng ta nói về không gian nơi không có bầu khí quyển, nhưng vượt ra ngoài không gian lại còn có những nơi khác có gió. Chữ luân 輪 ở đây trong tiếng Hán có nghĩa là bánh xe, nhưng dịch nghĩa như thế không hợp, vì nghĩa rộng của từ nầy là trùm khắp, rộng khắp. Gió có năng lực nâng đỡ, duy trì thế giới. Điều nầy sẽ được giảng giải chi tiết trong đoạn kinh sau.
Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng, thành ra có ngăn ngại. Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng. Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ.
Giảng giải:
"Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng", nhân nơi hư không mê muội, mờ tối, và cái sáng muốn chiếu soi lại tánh giác; cái tối và cái sáng ấy xâm đoạt lẫn nhau, khiến sanh ra sự lay động và tạo thành gió. "Thành ra có ngăn ngại". Do cố giữ lấy cái vọng minh, tức muốn đem cái sáng vào trong tánh giác, muốn soi sáng cái mê muội, mờ tối của thể hư không, liền kết cái tối ấy thành sắc, nên thành ra tướng cứng chắc ngăn ngại của địa đại (yếu tố đất). Đây tức là lấy cái mê muội làm hư không, và trong thể hư không mê muội ấy, kết cái u tối hỗn trược thành sắc.
"Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng". Tất cả các loại vàng bạccác khoáng chất quý giá đều là tinh tuý trong lòng đất (địa đại), mà tánh chất của đất thì cứng chắc và ngăn ngại còn hơn cả kim loại. Nương nơi cái biết hư vọng của vô minh mà có ra tướng cứng chắc và ngăn ngại, như trong thế gian có người si tình mà hoá thành đá vậy.
"Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ." Do tâm vọng chấp kiên cố mà thành tướng cứng chắc và ngăn ngại, lại kiên cố vọng chấp không dừng nghỉ, nên tích chứa thành kim luân để bảo trì quốc độ, nên tất cả các quốc gia trên thế giới, đều nương nơi kim cương luânđược an trụ. [9]
Biết cái cứng thì thành có kim bảo, rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra. Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá.
Giảng giải:
"Biết cái cứng thì thành có kim bảo". Kim loại thì cứng và đất cũng có tính chất như vậy. Cái cứng nầy được tích chứa lâu ngày. Nhân chấp cứng cái biết sai lầm hư vọng mà thành có kim bảo.
"Rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra". Kim bảo tạo nên trạng thái diêu động, và từ đó phong đại sanh khởi. Trong trường hợp nầy, phong luân và kim bảo giao xen nhau. "Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá".
Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt. Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới.
Giảng giải:
"Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt". Khi kim loại bị nung lên, nó sẽ mềm ra và sinh ẩm ướt, nước sẽ tiết ra thành giọt trên bề mặt. Do lửa nên có sự ẩm ướt sinh ra nơi kim loại. Sự ẩm ướt nầy là tính chất của nước. Và do ánh sáng của lửa phát ra, từ sự ẩm ướt nơi kim loại, thành ra những giọt nước. Khi lửa từ phía dưới xông lên, thì kim loại tiết ra hơi nước. "Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới". Do có hiện tượng ngưng tụ và bay hơi khi kim loại gặp lửa, nên thủy luân tràn khắp mặt đất trong mười phương cõi giới.
Lửa thì bốc lên, nước thì sa xuống; giao xen nhau, phát ra thành tánh cứng. Chỗ ướt thành biển lớn, chỗ khô thành gò nổi.
Giảng giải:
Sau khi giải thích về thủy luân, Đức Phật giảng giải vì sao mà biển cả và núi non được hình thành. Lửa thì bốc lên, nước thì sa xuống. "Lửa thì bốc lên cao, nước thì rơi xuống". Trong đoạn kinh trước, Đức Phật đã nói rằng kim loại bốc hơi và lửa phát ra, thế nên sự ẩm ướt đã tạo nên thủy luân. Thế nên lửa thì bốc lên còn nước thì sa xuống, và sự kết hợp hai tính chất nầy làm thành tánh cứng. "Giao xen nhau, phát ra thành tánh cứng". Điều nầy tạo nên đất cứng. Chỗ ướt thành biển lớn, chỗ khô thành gò nổi. Nước rơi xuống và đọng lại trở thành sông biển. Chỗ khô thành đất liền, gò đống, núi non.
Do nghĩa ấy, nên trong biển lớn kia, thường phát ra ánh lửa; trong đất liền kia, sông ngòi thường chảy.
Thế nước kém thế lửa thì kết thành núi cao. Thế nên khi đập đá núi thì nháng tia lửa, khi nấu thì chảy ra nước.
Thế đất kém thế nước, vươn ra thành cỏ cây. Thế nên rừng cây bị đốt thì thành đất, vắt đất ra thì thành nước.
Giảng giải:
Thế đất kém thế nước, vươn ra thành cỏ cây. Khi thế của đất yếu hơn thế của nước, thì thành ra thảo mộc, cây cối. Thế nên rừng cây bị đốt thì thành đất, vắt ra thì thành nước. Tro vốn chỉ là đất. Nếu quý vị vắt cỏ lá hay thân cây thì nước liền rỉ ra.
Vọng tưởng giao xen phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau. Do nhân duyên đó mà thế giới tương tục.
Giảng giải:
"Vọng tưởng giao xen phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau".
Giao tức giao xen với nhau. Vọng tức là tâm hư vọng và cảnh hư vọng. Ban đâu là do sai lầm muốn soi lại tánh giác (vọng minh) mà thành có u tối, hỗn trược của hư không. Cái sáng, cái tối ấy xâm đoạt nhau thành ra diêu động nên sanh ra phong đại. Chấp cứng cái vọng minh mà thành ra có địa đại. Phong đại và kim luân cọ xát nhau mà thành hoả đại. Kim loại và hỏa đại thiêu đốt nhau mà thành thủy đại. Nên tứ đại chính là do vọng tưởng giao xen phát sinh.
Chỉ một niệm vọng tưởng sinh khởi, lửa và nước liền thành chủng tử của núi sông do sự giao xen lẫn nhau. "Do nhân duyên đó mà thế giới tương tục". Từ sự giao xen lẫn nhau nầy mà tạo nên chủng tử, thế giới hoại diệt rồi lại sinh khởi, bắt đầu rối kết thúc. Thành, trụ, hoại, không cùng vô số tướng trạng, sự tương tục của thế giới là vô cùng vô tận, tiếp diễn không bao giờ dừng nghỉ.
Lại nữa Phú-lâu-na, vọng tưởng chẳng phải là cái gì khác, chính do giác minh mà hoá ra lầm lỗi.
Giảng giải:
Lại nữa Phú-lâu-na, Như Lai sẽ giải thích cho ông rõ hơn. "Vọng tưởng chẳng phải là cái gì khác, chính do giác minh mà hoá ra lầm lỗi". Chẳng có cái gì khác lừa bẫy ông đâu; đơn giản chỉ là do ông muốn soi lại tánh giác (vọng minh). Đó là lý do khiến mọi chuyện phát sinh. Muốn soi lại tánh giác (vọng minh) chẳng khác gì trên đầu mọc thêm một cái đầu nữa.[10]
Cái sở minh hư vọng đã lập, thì phạm vi của năng minh cũng không thể vượt qua được. Do nhân duyên ấy, cái nghe không ra ngoài tiếng, cái thấy không vượt khỏi sắc.
Sáu cái vọng sắc hương vị xúc v.v... đã thành lập. Do đó chia ra có thấy nghe hay biết.
Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà tách rời, mà thành, mà chuyển hoá.
Cái thấy phát minh thì sắc phát ra (Làm sao mà con người trở thành con người? Khi con người được hình thành, thức thứ tám có mặt trước tiên; và khi chết, thì thức thứ tám ra đi sau cùng_HT Tuyên Hóa giảng), soi rõ sự thấy thì có cái tưởng. Ý kiến khác nhau thành có cái ghét, cái tưởng đồng nhau thành có luyến ái. Lưu giữ tính ái thành có chủng tử, thu nạp niệm tưởng thành ra bào thai. Phát sanh sự giao cấu làm hấp dẫn đồng nghiệp. Nên có nhân duyên sanh ra yết-la-lam, át-bồ-đàm[11] v.v...
Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hoá sanh, tuỳ theo nghiệp tương ứng. Thai sanh do ái tình mà có. Thấp sanh là do cơ cảm mà hợp lại, hoá sanh do phân ly mà ứng hiện.
Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau. Các loài thọ nghiệp báo cũng theo nhau lên xuống. Do nhân duyên đóchúng sinh tương tục.
Phú-lâu-na, tư tưởng thương yêu ràng buộc lẫn nhau, yêu mãi không rời. Thế nên cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau không dứt. Loại nầy thì lấy tham dục làm gốc.
Lòng tham ái cùng giúp nhau tăng trưởng, tham mãi không dứt. Thế nên các loài noãn sanh, thai sanh thấp sanh, hoá sanh trong thế gian, tuỳ sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau. Loại chúng sinh nầy lấy sát và tham làm gốc.
Do người ăn dê, dê chết hoá làm người, người chết hoá làm dê. Như thế cho đến mười loại chúng sinh, sống chết xoay vần, ăn nuốt lẫn nhau. Ác nghiệp cùng tạo ra cho đến vị lai. Loại chúng sinh nầy lấy trộm đạo và tham lam làm gốc.
Ông nợ mạng tôi, tôi trả nợ thân mạng cho ông. Do nhân duyên ấy, trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sinh tử.
Ông yêu cái tâm tôi, tôi yêu hình sắc của ông. Do nhân duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong vòng ràng buộc.
Phú-lâu-na, ba thứ tương tục điên đảo ấy, đều là do tánh sáng hư vọng muốn soi rõ tánh giác. Nhân cái liễu tri mà phát ra cảnh tướng, theo vọng tưởng mà kiến chấp phát sinh. Các tướng núi sông đất liền thứ lớp dời đổi. Do hư vọng nầy mà xoay vần không cùng tận.
Nếu cái diệu giác dó, vốn bản tính là diệu minh, cùng với tâm Như Lai không tăng không diệt. Không có cớ gì bỗng nhiên phát sanh các tướng hữu vi, núi sông đất liền. Như Lai nay đã chứng được bản giác diệu không, thế thì núi sông đất liền, các tập khí hữu lậu hữu vi, có còn sanh khởi trở lại hay không?
Đức Phật bảo Phú-lâu-na, ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm hướng nam thành hướng bắc, thì cái mê nầy do mê mà có, hay do ngộ mà ra? Phú-lâu-na bạch: “Người mê như vậy, cũng không do nơi mê, cũng chẳng do nơi ngộ. Sao vậy? Mê vốn không có gốc, làm sao do nơi mê được? Ngộ chẳng sinh ra mê, làm sao lại do nơi ngộ?”
Đức Phật dạy, “Nếu người mê kia, chính lúc đang mê, bỗng có người ngộ chỉ bày cho được ngộ. Phú-lâu-na, ý ông nghĩ sao? Người ấy qua được cái mê, đối với xóm làng đó, có còn sanh mê nữa không?” Bạch Thế tôn, không.
Phú-lâu-na, các Đức Như Lai trong cả mười phương cũng đều như vậy. Cái mê ấy không có gốc, tánh nó rốt ráo là không. Xưa vốn chẳng có mê, tựa như có mê có giác. Giác ngộ được cái mê rồi thì cái mê ấy không còn nữa, cái giác ấy không sinh ra cái mê.
Cũng như người bị nhặm mắt thấy hoa đốm giữa hư không. Nếu bệnh nhặm được trừ, hoa đốm giữa hư không biến mất. Bỗng có người ngu, ở chỗ hoa đốm hư không kia đã diệt rồi, mong đợi hoa đốm kia sanh lại. Ông xem người ấy là người ngu hay người có trí huệ?
Phú-lâu-na thưa, “Vốn trong hư không không có hoa đốm, vì hư vọng mà thấy có sanh diệt. Thấy hoa đốm diệt giữa hư không, đã là người điên đảo rồi. Còn muốn nó sanh ra lại. Đó thật là người cuồng si. Sao còn phải hỏi những người cuồng như thế là ngu si hay trí huệ?”
Cũng như khoáng chất kim loại lẫn trong vàng, khi đã luyện thành vàng ròng rồi thì vàng không trở thành tạp chất kim loại nữa. Như cây cháy đã thành tro, tro ấy không trở lại thành cây được nữa.
Bồ-đề niết-bàn của chư Phật và các Đức Như Lai cũng đều như vậy. (Nguồn: Kinh Thủ LN - Q4 - Chương I) và xem tiếp: Kinh Thủ LN - Q4 - Chương II)

+ CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINH
+ Đức Phật dậy: Để chỉ cho công đức của 6 căn con người tương quan trong thế giới. Tuy nhiên xét chỗ hơn kém thì công đức của sáu căn không nhất thiết đồng nhau, như sau:
1- Xét về nhãn căn thì mắt chỉ thấy phía trước và một phần của hai bên. Cho nên luận về mắt chỉ được 800 công đức.
2- Xét về nhĩ căn, lỗ tai có ba đức ưu việt. Viên, Thông và Thường. Luận về nhĩ căn thì có 1200 công đức.
3- Xét về tỷ căn, lỗ mũi tương tục chỉ có thở ra và hít vào. Điểm giao tiếp giữa hít và thở gián đoạn. Luận về tỷ căn có được 800 công đức.
4- Xét về thiệt căn thì lưỡi có thể phô diễn cùng tột trí thế gian và xuất thế gian. Ngữ ngôn tuy hữu hạn mà diệu lý diễn đạt vô cùng. Luận về thiệt căn thì có được 1200 công đức.
5- Xét về thân căn, thân thì biết xúc. Có thể xúc thuận xúc nghịch, nhưng khi hợp thì biết, lúc ly thì không. Luận về thân căn chỉ có 800 công đức.
6- Xét về ý căn, ý căn thầm lặng mà dung nạp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian mười phương ba đời, thành phàm không pháp nào không bao dung cùng tột. Luận về ý căn có đủ 1200 công đức. (Nguồn: Chỉ rõ sự ràng buộc hay siêu thoát của thế giới chúng sinh, ở nửa cuối trang)

+ Đức Phật dậy về Thế giới chúng sinh
... Như hiện nay sáu thứ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà.
Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc, không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian.
Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc, không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian.
Giảng giải:
"Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc". Sáu căn, sáu trấn, sáu thức giao thiệp lui tới với nhau, cái nầy nương vào cái kia. Giống như hai con thú lang và bái.[5] Con lang dùng hai chân trước, con bái dùng hai chân sau. Nên con lang và bái cùng dựa vào nhau để đi. Nếu chúng không hòa hợp nhau, thì con lang không thể đi được và con bái cũng không thể tự mình đi được. Một dạng tương thuộc lẫn nhau tương tựcần phải có giữa sáu căn, sáu trần, sáu thức. Nó giữ cùng một kiểu cách như vậy. Từ vô thủy đã có sự tương tục của thế giới và tương tục của chúng sinh. Cả hai kết hợp chặt chẽ với nhau đến mức chúng sinh không thể không cần thế giới, và thế giới không thể hiện hữu mà không có chúng sinh. Hai thứ kết dính với nhau, thế nên không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian. Hiện tượng thế gian ở đây là chỉ cho toàn thể núi sông đất liền, các công trình tạo tác, và các thứ do con người làm ra. ‘Chúng sinh’ là chỉ cho cõi giới của các loài hữu tình. Rốt ráo các các loài hữu tình không thể tách rời ra khỏi các hiện tượng thế gian, và các hiện tượng thế gian không thể thoát ta ngoài cõi giới của các loài hữu tình. Các hiện tượng thế gian thu hút các loài hữu tình vào, hấp dẫn chúng cho đến khi cả hai cài chặt vào nhaukhông cái nào thoát khỏi ra cái nào được cả. Thế nên có một sự phụ thuộc lẫn nhau trong sự tương tục của thế giới và tương tục của chúng sinh cùng sự tương tục của nghiệp quả. Không có chúng sinh, sẽ không có thế giới, sẽ không có nghiệp quả. Để có thế giới thì ắt phải có nghiệp quả và có chúng sinh. Nếu một thứ không hiện hữu, thì các thứ kia cũng không. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4 - Chương IV)

+ Danh Phật - Danh Bồ tát - Danh A La Hán - Danh Hộ Pháp
- Pháp vương tử là danh hiệu để gọi hàng Bồ-tát (HT Tuyên Hóa giảng Kinh Lăng Nghiêm - Q5)
- Thần Hộ pháp: Lực sĩ - Đại lực sĩ - Kim cang Hộ pháp/ Đại thần hộ pháp/ Thần Kim cang (HT Tuyên Hóa giảng Kinh Lăng Nghiêm - Q5)

+ A lại gia thức (Alaya, tàng thức, toàn linh thức, Alaya Vijnana): - Alaya Vijnna tức là tri thức ẩn tàng (hidden knowledge). (Thư của Ch. S. 361)
+ Thứ Thứ 8 - Phát Quang minh/ Ánh sáng: Trích đoạn Phật bảo A Nan ...
A-nan, sáu căn như vậy do tánh giác minh soi lại tính minh giác. Làm mất tính sáng suốt kia, kết dính với cái vọngphát ra ánh sáng.
Giảng giải:
Vậy nên, do giáo lý đã được giải thích ở đoạn trên, là không cần phải soi lại tánh giác minh; chỉ vì qua sự sinh khởi một niệm vọng tưởng muốn soi lại tánh giác minh mà tánh giác ấy biến thành vọng giác vọng minh– kết quả là, bản thể bị mất đi; và do kết dính vào cái vọng, ánh sáng của tánh thấy trở thành hiện hữu. Điều này tạo ra những tác dụng riêng biệt của tánh thấy, tánh nghe và các tánh khác. Đó thuộc về quang minh của thức thứ tám. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương IV)
* Thức thứ 8: HT Tuyên Hóa giảng: Phật tánh tự tánh mà mỗi chúng sinh đều vốn có đầy đủ. Am-ma-la thức là vô cấu thức. Trước khi giác ngộ, thức nầy gọi là thức thứ tám, tức A-lại-da thức, có nghĩa là tàng thức, tên gọi cho ta biết trong đó chứa đựng mọi thứ. Am-ma-la thức là sự chuyển hoá của thức thứ tám thành thanh tịnh thức. Không Như Lai tạng là một tên gọi khác và Đại viên cảnh trí cũng chỉ là một tên. Bảy danh hiệu ấy tên gọi tuy khác, dù trong quả địa danh xưng có khác, mà thể tánh thanh tịnh. Mà đạo lý của nó, về phương diện bản thể, vẫn là thanh tịnh viên mãn vững chắc như kim cương vương, thường trụ bất hoại. Không bao giờ bị biến hoại. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương V)
+ Các Thức Tâm:
- Thức tạo nghiệp gồm 6 Thức Căn:
(1) Nhãn thức - (2) Nhĩ thức - (3) Tị thức - (4) Thiệt thức - (5) Thân thức - (6) Ý thức;
- Thức Luân hồi:
3 thức gồm Ý thức - Thức 6  và Thức 7 (Nhập - Xuất Nghiệp từ thức 6 vào thức 8) và Thức 8 / A Lại Da Thức/ Tàng thức chứa Nghiệp đi luân hồi sanh tử. 
Để bắt đầu, tánh Như Lai tạng vốn chẳng phải là đối tượng của sinh diệt. Nhưng tối tăm mê muội làm thành hư không (hối muội vi không). Ngay tại đó mà vô minh sinh khởi. Thế nên, mặc dù tánh Như Lai tạng là bất sinh bất diệt, nhưng nương nơi chân mà khởi vọng, theo đó là tâm đối tượng của sinh diệt phát sinh – đó là thức. Thức nầy phân thành thức thứ sáu, thức thứ 7 , và thức thứ 8. Nhưng cội nguồn của thức thứ 8 vốn phát khởi từ vô minh, tạo ra các thứ sinh diệt, lại là tánh của Như Lai tạng, tánh Như Lai tạng nầy lại chẳng phải là đối tượng của sinh diệt. Căn nguyên của nó chính là chân tâm thường trú tánh tịnh minh thể.
Do nương nơi chân mà khởi vọng, nên tánh Như Lai tạng biến thành A-lại-da thức, tức là thức thứ 8, còn gọi là tàng thức.
Thức thứ 8 là cơ sở hiện hữu của ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do thức uẩn sinh khởi đầu tiên mà có hành uẩn. Đây là thức thứ 7, tức Mạt-na thức, còn gọi là truyền tống thức. Thức nầy truyền đạt những thông tin từ thức thứ sáu vào thức thứ 8. Chính nó lập nên hành uẩn.
Uẩn tiếp theo là tưởng uẩn; đây là thức thứ sáu, còn gọi là ý thức. Thọ uẩn là một trong năm thức đầu tiên: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức. Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, mỗi thứ tương ứng với một nút thắt. Sắc uẩn được kể là 2 nút, vì nó thô trọng hơn. Như vậy, sáu nút bắt đầu với thức thứ 8 và hoạt dụng thông qua thức thứ 7 và thức thứ sáu rồi thông qua năm thức giác quan. Với sự hiện hữu của ngũ uẩn mà ngũ trược được hình thành, tạo ra không biết bao nhiêu chướng ngại
... Hư Không Tạng Bồ-tát, từ trong chân tâm thường trú hiện ra đại viên kính trí. Kính nầy biểu tượng cho đại trí huệ. Khi thức thứ 8 được chuyển thành thanh tịnh, thì nó trở thành đại viên kính tríTrong đó phóng ra 10 loại hào quang báu vi diệu, đều soi sắp cùng tận hư không khắp mười phương. Ánh sáng hào quang rất rực rỡ, chiếu khắp cùng tận hư không ở mười phương. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Thức thứ tám - Bổn thức hay Thần thức: "Bổn thức" hay "thần thức," là chỉ cho Thức Thứ Tám (đệ bát thức). Thức Thứ Tám này thì "khứ hậu lai tiên," đến trước nhưng lại đi sau; do đó có bài kệ nói rằng:
Tam Tàng mênh mông không cùng tận,
Vực sâu bảy sóng đùa trước gió,
Giữ gìn chủng tử căn thân khí,
"Ðến trước đi sau," làm "ông chủ"!
“Tam Tàng mênh mông không cùng tận”,(Hạo hạo Tam Tàng bất khả cùng.) "Hạo hạo" có nghĩa là rộng lớn, mênh mông. "Tam Tàng" là chỉ cho Thức Thứ Tám—tức là A-lại-da thức, hay còn gọi là "tàng thức" (thức chứa). Vì sao gọi là "Tam Tàng"? "Tam Tàng" ngụ ý rằng các chủng tử của ba đời —quá khứ, hiện tại và vị lai—đều được tàng trữ, giữ lại trong Thức Thứ Tám này. Các chủng tử ấy—niệm tâm của chúng ta—ví như những đợt sóng trên biển cả vậy, vô cùng vô tận, nên nói là "bất khả cùng."
“Vực sâu bảy sóng đùa trước gió " (Uyên thâm thất lãng cảnh tiền phong) " bảy sóng” (thất lãng) là chỉ cho Thức Thứ Bảy. Thức Thứ Bảy còn được gọi là "truyền tống thức," vì thức này có chức năng chuyển đạt ý tứ của sáu thức trước tới cho Thức Thứ Tám. "cảnh trước gió” (cảnh tiền phong)—tức là giống như ngọn gió từ phía trước thổi tới.
“Giữ gìn chủng tử căn thân khí " (Thọ huân trì chủng căn thân khí") Do vì Thức Thứ Tám nhận sự "truyền tống," chuyển giao ý tứ từ Thức Thứ Bảy, nên gọi là "giữ “ (thọ huân.) "gìn chủng tử” (trì chủng) có nghĩa là gìn giữ các chủng tử ở bên trong. "Căn thân khí" tức là "căn thân khí giới" đều ở trong các chủng tử đó. Thức Thứ Tám có công năng duy trì chủng tử của tất cả các pháp, thân căn, thế giới.
"Ðến trước đi sau," làm "ông chủ"! (Khứ hậu lai tiên tác chủ ông). Con người, khi sanh ra thì Thức Thứ Tám đến trước nhất, và lúc chết thì Thức Thứ Tám là thức đi sau cùng. Quý vị khởi vọng tưởng muốn làm điều gì thì đều do Thức Thứ Tám làm chủ tể ủng hộ, trợ giúp; cho nên nói thức này là "Ðến trước đi sau," làm "ông chủ"!
Trong phần kinh văn này, "bổn thức" là chỉ cho Thức Thứ Tám. Khi vừa mới chết, tuy các thức đã phân tán, đã rời khỏi xác thân rồi—nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức đều không còn—song Thức Thứ Tám thì vẫn còn nán lại, chưa đi hẳn. Ngay lúc này, nếu quý vị vì người chết mà tụng Kinh niệm Phật hoặc làm việc công đức, thì phải lớn tiếng tụng niệm và kể ra để cho Thức Thứ Tám của người ấy nghe biết—đó gọi là "nơi bổn thức nghe biết" (văn tại bổn thức) vậy. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P7 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ A Lại Da Thức: Hãy nghe lời giải thích của Bồ tát Thế Thân (Hiện Ngài là vị Chân Sư thuộc Thánh Đoàn) về A-lại-da thức như sau: “Dòng chảy của các biến cố tâm thần mà bạn trải nghiệm, để lại hạt mầm (chủng tử) của nghiệp trong thức lưu trử nên gọi là Tàng thức (A-lại-da thức). Các hạt mầm được tồn trử trong nhà kho đó cho tới sau cùng, khi hội đủ các điều kiện thích đáng, chúng chín muồi và rồi ảnh hưởng lên các biến cố về sau”.
A-lại-da thức chứa đựng mọi kinh nghiệm trong kiếp sống của mỗi con người và nguồn gốc của tất cả các quan niệm tinh thần. Theo quan niệm của Pháp tướng tông thì A-lại-da thức là nơi tập hợp mọi nghiệp quá khứ rồi tới một thời đểm nhất định, tác động lên kiếp tái sinh. Và cá thể thật ra chỉ là dòng sinh diệt tiếp nối của vô số chủng tử của nghiệp. Do đó, trong ta không có một bản ngã cố định.
Trong Thành Duy Thức Luận quyển ba giải thích thức A lại da thức có ba công năng như sau:
1) Giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp: Các pháp nói ở đây là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi. Đó là “hữu lậu hữu vi” tức là các pháp tạp nhiễm thuộc về chúng sinh và “vô lậu hữu vi” tức là các pháp thanh tịnh thuộc về Thánh hiền. Tuy nhiên “chủng tử” chỉ có công năng tiềm tàng (ẩn núp) mà không khởi hiện. Nếu không có một cái gì để chứa giữ thì chủng tử của các pháp phải bị tản mất. Nếu chủng tử các pháp bị tản mất thì các pháp hiện hành ở thế gian và xuất thế gian cũng chẳng còn. Do đó phải có thức A lại da, tánh vô phú vô ký, nhất loại sinh diệt tương tục mới có thể duy trì chứa giữ chủng tử của các pháp.
2) Giữ chịu(chấp thọ) sắc căn và thế giới: Đây là muốn chỉ cho cái công năng giữ gìn báo thân của chúng sinh hữu tình được tương tục tồn tại trong một thời kỳ không tan hoại.
3) Giữ lấy (chấp thủ) việc kết nối đời sau tức là “kiết sanh tương tục” là do ba pháp: phiền não, nghiệp và sanh. Con người vì sống trong vô minh bất giác nên tạo ra nghiệp mà phải kết nối đời sau để thọ khổ. Chữ “kiết sanh” có nghĩa là thọ sanh tức là bắt đầu từ khi kết thai cho đến lúc sanh ra vậy. Tiến trình kết mối đời sau bắt đầu từ thân đang sống đến thân đang chết. Rồi từ thân đang chết đến thân trung ấm (thân mới chết chưa đầu thai). Và sau cùng từ thân trung ấm đến thân đời sau. Nếu các thân được tương tục không gián đoạn như thế ắt phải có một cái gì thường lưu hành và giữ gìn (chấp thủ). Cái đó chính là thức A lại da. Thật vậy, nếu không có thức thứ tám này để nắm giữ việc “kết nối đời sau” thì khi một người chết rồi phải mất luôn, không còn tái sanh được nữa. Như thế thành ra bị rơi vào thuyết Đoạn diệt của ngoại đạo rồi. Thêm nữa tất cả những chủng tử tốt xấu đều được gieo vào mảnh đất A lại da trong trạng thái tiềm ẩn. Các chủng tử này được huân tập, chuyển biến, tương sanh, tương duyên, tương diệt liên tục. Tất cả những sự chuyển biến này xảy ra liên tục và tức thời, chớp nhoáng và liên tiếp. Cái này diệt thì cái kia sinh, tương tức tương tục liên miên bất tận nên được gọi là Sát Na Sinh Diệt. Sát Na Sinh Diệt có thể được ví như những khối nước liên tục chuyển động chẩy trong dòng thác lũ. Khối nước trước đổ qua thì có khối nước khác đổ tới, tiếp nối liên tục không ngừng nghĩ và dĩ nhiên dòng nước cũ không thể chẩy trở lại nơi mà nó đã chẩy qua. Sự sinh diệt triền miên đó cũng có thể ví như những đợt sóng dạt dào trên biển cả. Đợt sống này đẩy đợt sóng kia, đợt sóng mới đẩy đợt sóng củ. Bởi có gió vọng tưởng thổi sóng dạt dào trên biển cả làm các ngọn sóng liên tiếp nhồi lên lặn xuống không ngừng nghĩ cho nên ngọn sóng này diệt thì ngọn sóng mới khởi sanh. (Nguồn: Linh hồn Tái sinh và Giải thoát - Lê Sỹ Minh Tùng Tổng hợp)
+ Thức thứ 9: Bạch tịnh thức, tinh vi cao tột hơn thức thức thứ 8, đức Phật ít giảng đến (Nguồn: Kinh Thủ LN - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Thủy Thiên Như Lai: Nguyệt Quang đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Con nhớ hằng hà sa kiếp từ trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Thuỷ Thiên, dạy cho các hàng Bồ-tát tu pháp quán về nước để nhập chánh định. ”
Giảng giải:
Nguyệt Quang đồng tử nhập đạo khi còn tuổi thiếu niên. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi. Tuy nhiên, bây giờ, khi ngài trình bày về viên thông, thì ngài không còn là một đồng tử nữa, mà là một vị trưởng lão trong hàng Bồ-tát. Đại chúng gọi người là Đồng tử vì ngài nhập đạo khi còn nhỏ tuổi và hoàn toàn thanh tịnh. Ngài Nguyệt Quang đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Con nhớ hằng hà sa kiếp từ trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Thuỷ Thiên, dạy cho các hàng Bồ-tát tu pháp quán về nước để nhập chánh định.” Ngài tu tập chánh định bằng cách quán tưởng về nước.

Kinh văn:
Quán sát trong thân, tính nước không xâm đoạt lẫn nhau. Ban đầu từ nước mũi, nước dãi, cho đến các thứ tân dịch tinh huyết, đại tiện, nước tiểu, châu lưu trong thân đều cùng một thể tính. Con quán sát thấy nước trong thân cùng nước trong các biển hương thuỷ trong quốc độ của Phù Tràng Vương đều không sai biệt.
Giảng giải;
Quán sát trong thân, tính nước không xâm đoạt lẫn nhau–nó không xung đột lẫn nhau. Ban đầu từ nước mũi, nước dãi, cho đến–quán sát chi tiết các thứ tân dịch tinh huyết, đại tiện, nước tiểu, châu lưu trong thân đều cùng một thể tính. Nó chảy luân lưu khắp cơ thể bắt đầu và kết thúc liên tục như chúng luân lưu. Suốt khắp các bộ phận, bản tính của nước là cùng một thể. Con quán sát thấy nước trong thân cùng nước trong các biển hương thuỷ trong quốc độ của Phù Tràng Vương đều không sai biệt. quốc độ của Phù Tràng Vương là chỉ cho nền tảng của núi Tu-di (s: sumeru). Tất cả các thứ nước đều có thể tính giống nhau. Chẳng có gì khác biệt giữa chúng.

Kinh văn:
Lúc ấy, ban đầu con mới thành tựu được phép quán nầy, chỉ thấy được nước, chưa đạt được chỗ không thấy có thân.
Giảng giải:
Lúc ấy, ban đầu con mới thành tựu được phép quán nầy, chỉ thấy được nước. Tất cả các thứ nước trong thân con đều hợp nhất thành một, và nước trong thần cùng nước ngoài thế giới cũng hoà thành một. Nhưng con chưa đạt được chỗ không thấy có thân. Con vẫn thấy mình còn có thân. Con chưa chứng được cảnh giới thấy mình chẳng có thân.

Kinh văn:
Lúc ấy con là vị tỷ-khưu đang ngồi thiền trong thất. Có vị đệ tử khi nhìn qua cửa sổ, thấy trong phòng chỉ toàn nước trong, chứ không thấy gì khác.
Giảng giải:
Lúc ấy con là vị tỷ-khưu đang ngồi thiền trong thất. Con đang ngồi toạ thiền trong thất, quán tưởng về nước – Có vị đệ tử khi nhìn qua cửa sổ, thấy trong phòng chỉ toàn nước trong, chứ không thấy gì khác. Chú đệ tử chuyên quét sân, lau nhà, nấu ăn, hộ thất cho vị tỷ-khưu. “Ngày nọ chú nhìn vào trong thất nhưng chẳng thấy gì ngoài nước đang tràn ngập cả căn phòng. Ngoài nước ra chẳng thầy gì khác.”

Kinh văn:
Đồng tử không biết, lấy miếng ngói ném vào trong nước, rơi xuống nước phát ra tiếng, chú nhìn quanh rồi bỏ đi. Sau khi con xuất định, mới thấy đau tim, như Xá-lợi-phất bị quỷ Vi hại đánh.
Giảng giải:
Đồng tử không biết, lấy miếng ngói ném vào trong nước. Chú đệ tử còn nhỏ tuổi và chưa hiểu biết gì nhiều. Chú lấy viên gạch ném vào trong phòng đầy nước. Rơi xuống nước phát ra tiếng, chú nhìn quanh rồi bỏ đi. Chú đứng đó nhìn quanh một lát và tự hỏi, “Thầy mình ngồi thành trong phòng, tại sao trong phòng ngập đầy nước?” Rồi chú ném viên gạch vào trong nước, nhìn quanh, rồi bỏ đi. Sau khi con xuất định, mới thấy đau tim, như Xá-lợi-phất bị quỷ Vi hại đánh.
Nguyệt Quang đồng tử nhớ đến lúc Xá-lợi-phất đang nhập định, có hai con quỷ từ trên không đi đến. Một con tên là Vi Hại 違害鬼, một con tên là Phục Hại–復害鬼. Quỷ Vi Hại nói với quỷ Phục Hại, “Nếu ta đánh vào đầu vị sa-môn đó thì sao nhỉ–người đang ngồi thiền đó?”
Quỷ Phục Hại nói, “Đừng! Không nên đánh một vị sa-môn. Tốt nhất là không nên quấy rối người đang tu đạo.” Sau khi Quỷ Phục Hại đi rồi, Quỷ Vi Hại không nghe lời khuyên, nó lấy khúc cây đánh vào đầu Xá-lợi-phất. Khi Xá-lợi-phất xuất định, ngài nghĩ rằng, “mình đã chứng quả A-la-hán, mình chẳng còn bệnh, tại sao đầu đau như thế nầy?” Rồi ngài đến thưa hỏi Đức Phật chuyện ấy.
Đức Phật bảo, “Ông vừa bị quỷ Vi Hại đánh vào đầu, quả báo là nó sẽ bị đoạ vào địa ngục vô gián–tức địa ngục A-tì. Sức lực của nó rất mạnh có thể khiến cho núi Tu-di vỡ đôi. Rất may, nhờ ông có định lực. Nếu không ông đã bị nát thành bụi.” Đó là lí do Xá-lợi-phất bị nhức đầu. Bây giờ chú đệ tử của Nguyệt Quang đồng tử ném viên ngói vào trong nước do ông quán tưởng khi nhập định, và khi ông xuất định, tim ông thấy bị đau.

Kinh văn:
Con tự nghĩ, nay con đã thành bậc A-la-hán, đã lâu không còn bệnh duyên, tại sao hôm nay bỗng dưng đau tim? Phải chăng đã bị thối thất?
Giảng giải:
Bồ-tát Nguyệt Quang tự nghĩ, nay con đã thành bậc A-la-hán, đã lâu không còn bệnh duyên. Con không mắc bệnh, thế tại sao hôm nay bỗng dưng đau tim? Phải chăng đã bị thối thất? Có phải con đã mất quả vị A-la-hán mà con đã chứng được? Có phải con đã lui sụt sự phát tâm từ ban đầu?

Kinh văn:
Lúc bấy giờ, chú đệ tử đi đến, kể lại những việc như trước. Con bảo chú rằng, về sau khi nào lại thấy nước trong phòng thì hãy mở cửa, vào trong nước lấy viên ngói ra. Chú đệ tử theo lời con dặn, khi con nhập định, chú thấy viên ngói trong nước rõ ràng. Chú mở cửa vào lấy viên ngói đi. Sau khi con xuất định, thân thể bình thường như trước.
Giảng giải:
Lúc bấy giờ, chú đệ tử đi đến, kể lại những việc như trước. Con bảo chú rằng, về sau khi nào lại thấy nước trong phòng thì hãy mở cửa, vào trong nước lấy viên ngói ra. Chú đệ tử theo lời con dặn, khi con nhập định, chú thấy viên ngói trong nước rõ ràng.
Khi Bồ-tát Nguyệt Quang nhập định, chú đệ tử lại thấy trong nước có viên ngói rõ ràng. Chú mở cửa vào lấy viên ngói đi. Chú đi vào phòng và nhặt viên ngói ra. Sau khi con xuất định, thân thể bình thường như trước. Tim con không còn thấy đau nữa.

Kinh văn:
Con đã gặp được vô lượng chư Phật, cho đến khi gặp Đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai, con mới chứng được không thân, cùng với thể tánh của nước biển hương thuỷ trong mười phương cùng thể nhập với chân không, chẳng hai chẳng khác. Nay ở trong pháp hội của Như Lai, con được danh hiệu là Đồng chân, được dự vào chúng hội của hàng Bồ-tát.
Giảng giải:
Con đã gặp được vô lượng chư Phật, cho đến khi gặp Đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai. Con tu tập theo pháp quán nước như vậy trải qua vô số vô lượng chư được Như Lai. Cho đến khi Đức Phật Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai thị hiện ra đời, con mới chứng được không thân. Đến mức độ trong định khi quán tưởng về nước, con thấy nước ở bên ngoài và nước trong thân con là đồng một thể, và thân con biến mất. Cùng với thể tánh của nước biển hương thuỷ trong mười phương cùng thể nhập với chân không, chẳng hai chẳng khác.
Khi Bồ-tát Nguyệt Quang thành tựu đại định do thuỷ quán, ngài thấy thể tánh mình đồng nhất với thể tánh của nước.
Nay ở trong pháp hội của Như Lai, con được danh hiệu là Đồng chân, được dự vào chúng hội của hàng Bồ-tát.
Nay đối trước Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, con công nhận là Đồng chân nhập đạo và được dự trong chúng hội của hàng Bồ-tát.

Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, con do quán tánh nước lưu thông thuần một vị, nên chứng được vô sinh nhẫn, viên mãn đạo quả bồ-đề. Đây là phương pháp thứ nhất.
Giảng giải:
Nay Đức Phật hỏi các đệ tử về phương pháp tu tập để đạt viên thông mà họ đã được thành tựu. Con do quán tánh nước lưu thông thuần một vị. Con dùng pháp quán tánh nước–về thể tánh cuả nước–nhận ra tánh nước chỉ thuần một vị châu lưu khắp mọi nơi. Nên chứng được vô sinh nhẫn, viên mãn đạo quả bồ-đề. Đây là phương pháp thứ nhất. Theo ý kiến của con, quán nước là phương pháp thù thắng nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Các Thần Kim Cang:
Ô-sô-sắc-ma đến trước Phật, chắp hai tay đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng, “Con thường nhớ trước đây, trong nhiều kiếp xa xưa, tánh con nhiều dâm dục. Có Đức Phật ra đời, hiệu là Không Vương, nói rằng người đa dâm giống như đống lửa dữ, ngài dạy con quán khắp hơi nóng lạnh trên khắp trăm vóc tứ chi. ”

Giảng giải:
Ô-sô-sắc-ma là một vị thần Kim cang hộ pháp. Ngài là một trong những vị mà trong kinh nầy thường gọi là Kim cang Mật tích (Còn gọi là Hỏa đầu Kim cang) 密迹金, có nghĩa là vị Hộ pháp. Lịch sử của các vị Hộ pháp nầy như sau: Vô lượng kiếp trong quá khứ, có một vị Chuyển luân thánh vương mà người vợ đầu của ông sinh được 1000 người con. Vị Chuyển luân thánh vương nầy là người thấm nhuần Phật pháp. Ông bắt các con của mình rút thăm; và chúng phải tu hành thành Phật theo thứ tự số thăm mà họ đã rút được. Một ngàn vị Phật của kiếp nầy, tức Hiền kiếp, chính là những con trai của Chuyển luân thánh vương ấy.
Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni (Kanakamuni Buddha) thành vị Phật đầu tiên, và Đức Phật Thích-ca Mâu-nivị Phật thứ tư của Tinh tú kiếp. Có tên gọi như vậy là vì đó là lúc mà chư Phật và Hiền thánh xuất hiện ở thế gian.
Người vợ khác của Chuyển luân thánh vương có hai người con trai. Người anh phát nguyện rằng khi 1000 người anh của mình đã thành Phật hết rồi, sẽ đi đến quốc độ của họ để cúng dường. Người em phát nguyện khi 1000 người anh của mình đã thành Phật, sẽ đến để hộ trì cho họ – người nầy chính là Kim cang Lực sĩ.
Tại sao ở đây lại nói đến trước Phật chứ không nói từ chỗ ngồi đứng dậy? Là vì Kim cang Lực sĩ là thần Hộ pháp, và thần Hộ pháp thì không thể ngồi khi có sự hiện hữu của chư Phật. Họ phải đứng. Họ không được phép ngồi trong chúng hội của chư Phật. Như loài ma, không những họ không được phép ngồi mà thậm chí còn không được phép đứng. Họ phải quỳ. Các vị Hộ pháp phải quỳ khi nghe giảng pháp. Trong các pháp hội giảng kinh, có rất nhiều loài ma quỷ đang quỳ quanh đây để nghe giảng kinh. Nếu quý vị không thể thấy được chúng, đó là do quý vị không học được cách nói như tôi dành cho chúng. Quý vị có thể hỏi những vị đệ tử của tôi đã được khai ngũ nhãn. Họ sẽ nói cho quý vị nghe....
Con quán sát tính lửa trong thân con, sau một thời gian, con ghê tởm nó và được báo động về nó. Con không còn thích những niệm tưởng dâm dục nữa, con dần dần xa lìa được chúng. Khi nó đã không còn nữa, thì con Được giác tánh sáng suốt ngưng lặng bên trong.” Ô-sô-sắc-ma phát ra tánh sáng suốt từ bên trong, tâm đa dâm hoá thành lửa trí huệ. Có sự chuyển hoá xảy ra từ tâm niệm ám ảnh bới dâm dục; nó đã chuyển thành lửa trí huệ. Từ đó, mỗi khi chư Phật triệu mời con, thường gọi là Hoả đầu. Chư Phật thường gọi Ô-sô-sắc-ma là Hoả đầu Kim cang.
Con dùng sức hoả quang tam-muội mà thành A-la-hán. Tâm phát nguyện lớn rằng khi chư Phật thành đạo, con sẽ làm vị lực sĩ/ Kim cang Đại lực sĩ/ Đại Hộ pháp thân cận chư Phật, hàng phục ma oán(Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Ái dục
- Ái
là Tham. Dục là danh từ chung để chỉ “tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ”.
=> Ái dục: Tham tài, tham sắc, tham danh, tham lợi, phiền phức bèn xảy đến. Lòng tham khôn cùng, chẳng đáng sợ ư? Chúng ta nhìn thấy trong xã hội hiện thời, dòng sông ái dục sâu rộng, nhiễm bệnh quá sâu, truyền nhiễm quá rộng..(Nguồn: PS Tịnh Không Giảng Ái dục)

I- Ái dục - Đức Phật dậy:
* “Ái” là thích, thương yêu, mến tiếc, luyến ái, tham ái bám víu.

* “Dục” là ham muốn, tham dục, lạc dục.
=> Ái dục là lòng ham muốn, luyến ái, bám víu, tham hưởng mọi sự sung sướng thường tình đối với người và đối với vật. Có 3 loại ái dục:
1. Ái dục theo nhục dục “ngũ trần”: Năm cảnh trần là “sắc, thanh, hương, vị, xúc”. Trần là bụi dơ. Ngũ trần là năm cái có thể thấm bụi dơ vào thân tâm ta, vào chân tính của ta.
2. Ái dục đeo níu theo khoái lạc vật chất, theo quan niệm “đoạn kiến”, nghĩ rằng chết là hết, nên không cần quan tâm đến thiện ác, tội phước, quả báo gì cả, cứ lo hưởng thụ lạc thú vật chất và sự giàu sang hiện tại.
3. Ái dục đeo níu theo khoái lạc vật chất, theo quan niệm “thường kiến”, nghĩ rằng những lạc thú và tài sản sẽ còn với mình mãi mãi, lâu dài vĩnh cửu, trường tồn. (Nguồn: Phật dậy về Ái dục)

5. ÁI DỤC: Trích Phật dậy toàn diện về Ái Dục.... Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
Biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Biết như thật về tập của ái? Do thọ mà có ái.
Biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt.
Biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám.
Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Yêu và không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh, do dục mà có. Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy. Kinh nhiều nội dung giành cho người trí tu. (Nguồn: mục 453- Phật dậy Toàn diện về Ái Dục - Trung A Hàm)
+ Lửa dục: Tại sao con người lại có lòng dâm dục mạnh mẽ? Vì nó đến từ ‘lửa dục–fire of desire’ trong thân thể. Thế nên Đức Phật Không Vương– King of Emptiness, đã dạy Ô-sô-sắc-ma xoay trở lại tánh sáng suốt và nhìn vào tính lửa trong thân thể. Ô-sô-sắc-ma đã thấy được lửa dục trong mình.(Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

Xem thêm: HT Tuyên Hóa khai thị về Ái Dục

Xem tổng hợp về Ái dục_Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay

+ Các loại ái dục và sự khổ đau từ ái dục mà ra - Giải thoát khỏi ái dục
15. ÁI SANH SẦU BI NÃO

Giả sử có một người đàn bà đã chết. Người ấy phát cuồng, loạn trí, cởi áo cởi quần, trần truồng mà chạy rong khắp các ngõ đường, nói như vầy, ‘Này các người, có thấy mẹ tôi chăng? Này các người có thấy mẹ tôi chăng?’ Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu khi ái sanh, thì cũng sanh sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’.
Cũng vậy, nếu cha chết, anh, chị, em chết, con cái chết, vợ chết, người ấy phát sanh cuồng, loạn trí, cởi áo cởi quần, trần truồng chạy rong khắp cả ngõ đường, nói rằng, ‘Này các ngài, có thấy vợ tôi chăng? Này các ngài, có thấy vợ tôi chăng?’ Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’.
Này Na-lị-ương-già, thuở xưa có một người đàn bà về thăm gia đình, các thân tộc của người này muốn cưỡng bức cải giá. Người đàn bà ấy tức tốc trở về nhà chồng, nói với chồng rằng, ‘Này ông, hãy biết cho, thân tộc của tôi muốn cướp vợ của ông để gả cho người khác. Ông có mưu kế gì chăng?’ Người ấy bèn nắm cánh tay của bà vợ dẫn vào trong nhà, nói rằng, ‘Chết chung, sang đời khác với nhau! Chết chung, sang đời khác với nhau!’ Rồi lấy con dao bén chém chết vợ và mình cũng tự sát luôn. Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’. (Trung A Hàm, Kinh Ái Sanh, Phẩm 18, số 216)
16. ÁI TẬN GIẢI THOÁT
Nếu khi Như Lai xuất thế, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu. Mắt vị ấy thấy sắc, nhưng đối với sắc đẹp không hoan lạc chấp trước, đối với sắc xấu không ghét bỏ. Vị ấy lập niệm tại thân với một tâm vô lượng, biết như thật là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, các pháp ác bất thiện đã sanh bị tận diệt vô dư, bị hủy hoại không dư tàn. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như vậy. Ý biết pháp đối với cái đẹp không hoan lạc, chấp trước, đối với cái xấu không ghét bỏ. Lập niệm tại thân với một tâm vô lượng.
Biết như thật là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, các pháp bất thiện đã sanh bị tận diệt vô dư, bị hủy hoại không dư tàn. Vị ấy như vậy, diệt những gì yêu ghét được lãnh nạp bởi thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không lạc không khổ. Vị ấy không hoan lạc theo cảm thọ ấy, không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ cảm thọ ấy. Do không hoan lạc theo cảm thọ ấy, không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ theo cảm thọ ấy, nếu có cảm thọ lạc, nó liền diệt. Lạc diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết diệt, sầu bi, khóc lóc, ưu khổ, ảo não cũng diệt. Như vậy, toàn vẹn khối lớn khổ đau này đều diệt. (Trung A Hàm, Kinh Trà Đế, Phẩm 16, số 201)
17. ÁI TẬP KHỔ TẬP THÁNH ĐẾ
Cái gì là ái tập Khổ tập Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thật có sáu xứ tham ái bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý xứ. Trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có ô nhiễm, có đắm trước thì gọi là tập.
Này chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng: ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.
Biết như vậy là biết như thế nào? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tài vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập. Người kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế này. Cũng vậy, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng, hành, ái, cũng lại như vậy.
Này chư Hiền, chúng sanh quả thực sáu giới tham ái: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức giới, trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập.
Này chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế. (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)

+ Hiểu biết toàn diện về ái dục:
5. ÁI DỤC

Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
Thế nào là biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Thế nào là biết như thật về tập của ái? Do thọ mà có ái.
Thế nào là biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt.
Thế nào là biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám.
Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp. (Trung A Hàm, Kinh Đại Câu-hi-la, Phẩm 3, số 29)
6. ÁI DỤC NHƯ BÓ ĐUỐC
Này Cư sĩ, cũng như một người tay cầm một bó đuốc đang cháy, ngược gió mà đi. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Giả sử người ấy không liệng bỏ tức khắc, nhất định có cháy tay và các chi thể khác chăng?
Cư sĩ đáp: Thật sự như vậy, Cù-đàm.
Ý Cư sĩ nghĩ sao? Giả sử người ấy liệng bỏ tức khắc, sẽ còn bị cháy tay hay các chi thể khác nữa chăng?
Cư sĩ đáp: Không vậy Cù-đàm.
Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Dục vọng như bó đuốc đang cháy; Thế Tôn nói dục vọng như bó đuốc đang cháy, hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm hãy xa lánh đi’. Nếu ai có sự xả ly dục, ly ác bất thiện pháp này, thì ở đây, tất cả mọi dục vọng thế gian, vĩnh viễn đoạn tận không dư tàng. Hãy tu tập điều này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
7. ÁI DỤC NHƯ CON RẮN
Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có một con rắn độc to lớn, rất dữ, rất độc địa, màu đen dễ sợ. Nếu một người đi đến, không ngu, không si, cũng không điên đảo, tự chủ với tâm mình, tự do tự tại, muốn hoan lạc, chớ không muốn đau đớn, rất ghét đau đớn; muốn sống chớ không muốn chết, rất ghét sự chết. Ý Cư sĩ nghĩ sao, người ấy há lại thò tay cho con rắn cắn, hay các chi thể khác và nói rằng, ‘Này, mổ đi! Này mổ đi!’ Như vậy chăng?
Cư sĩ đáp: Không phải vậy, Cù-đàm. Vì sao vậy? Người ấy thấy con rắn bèn nghĩ rằng, ‘Nếu ta thò tay và các chi thể khác cho con rắn nó mổ, nhất định phải chết chớ không nghi ngờ. Dù không chết thì nhất định phải chịu đau đớn vô cùng’. Người ấy thấy con rắn bèn nghĩ đến sự lánh xa, ước mong xả ly.
Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử lại tư duy như vầy, ‘Dục vọng như rắn độc. Thế Tôn nói dục vọng như con rắn độc, hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm, hãy xa lánh đi. Nếu ai có sự xả ly dục, ác bất thiện pháp này, thì ở đây tất cả mọi dục vọng thế gian vĩnh viễn đoạn tận không dư tàng. Hãy tu tập điều này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
8. ÁI DỤC NHƯ GẶM CỤC XƯƠNG
Như một con chó đói, gầy ốm, mệt mỏi, đến bên chỗ mổ bò. Người đồ tể hay đệ tử của người đồ tể quăng cho con chó một khúc xương đã rút tỉa hết thịt. Con chó lượm được khúc xương rồi chạy đến chỗ này chỗ kia mà gặm, rách môi, mẻ răng, hoặc gây thương hại cuống họng, nhưng con chó không vì vậy mà đoạn trừ được đói.
Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Dục vọng như bộ xương khô. Thế Tôn nói dục vọng như bộ xương khô, hoan lạc ít mà khổ não lại nhiều, đầy dẫy nguy hiểm, nên xa lánh đi. Nếu ai có sự xả ly dục, ly ác bất thiện pháp này, thì ở đây tất cả mọi sự vật dục của thế gian đều vĩnh viễn đoạn tận không dư tàn. Hãy tu tập điều đó. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
9. ÁI DỤC NHƯ GIẤC MƠ
Này Cư sĩ, cũng như một người nằm mộng, thấy mình sung túc, năm thứ dục lạc thỏa thích. Nhưng khi tỉnh dậy, một thứ cũng không thấy. Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Dục vọng như giấc mộng. Thế Tôn nói dục vọng như giấc mộng, hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm, hãy xa lánh đi’. Nếu ai có sự xả ly dục, ác bất thiện pháp này, thì ở đây, tất cả mọi vật dục thế gian, vĩnh viễn đoạn tận, không dư tàn. Hãy nên tu tập sự kiện này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
10. ÁI DỤC NHƯ HẦM LỬA
Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa có một hầm lửa lớn, trong đó đầy những lửa nhưng không có khói, không có ngọn. Nếu một người đi đến, không ngu, không si, cũng không điên đảo, tự chủ với tâm mình, tự do tự tại, muốn hoan lạc chớ không muốn đau đớn, rất ghét sự đau đớn; muốn sống chớ không muốn chết, rất ghét sự chết. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Người ấy lại nhảy vào hầm lửa này chăng?
Cư sĩ đáp: Không phải vậy, Cù-đàm. Vì sao vậy? Vì người ấy thấy hầm lửa liền nghĩ rằng, ‘Nếu rơi xuống hầm lửa, nhất định chết chớ không nghi ngờ. Dù không chết, nhất định chịu đựng đau đớn vô cùng’. Người ấy thấy hầm lửa bèn nghĩ đến việc xa lìa, ước mong xa lìa, xả ly.
Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử lại tư duy như vầy, ‘Dục vọng như hầm lửa. Thế Tôn nói dục vọng như hầm lửa, hoan lạc ít mà khổ não nhiều đầy những nguy hiểm, hãy nên xa lánh đi’. Nếu ai có sự xả ly dục, ly ác bất thiện pháp, thì ở đây tất cả mọi vật dục thế gian vĩnh viễn đoạn tận không dư tàng. Hãy tu tập điều này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
11. ÁI DỤC NHƯ MIẾNG THỊT
Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có một miếng thịt rơi trên khoảng đất trống; hoặc quạ hoặc diều mang miếng thịt ấy đi. Rồi những quạ diều khác đuổi theo để tranh giành. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Nếu quạ diều ấy không chịu xả bỏ tức khắc miếng thịt này, các quạ diều khác vẫn đuổi theo để dành giựt chăng?
Cư sĩ đáp: Thật sự như vậy, Cù-đàm.
Ý Cư sĩ nghĩ sao, nếu quạ diều ấy xả bỏ tức khắc miếng thịt này, các quạ diều khác có còn đuổi theo để dành giựt chăng?
Cư sĩ đáp: Không vậy, Cù-đàm.
Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Dục vọng như miếng thịt. Thế Tôn nói dục vọng như miếng thịt; hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm, hãy nên xa lìa đi’. Nếu ai có sự xả ly dục, ly ác bất thiện pháp này, thì ở đây tất cả mọi vật dục thế gian đều vĩnh viễn đoạn tận không dư tàn. Hãy nên tu tập điều này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
12. ÁI DỤC NHƯ TRÁI CÂY
Này Cư sĩ, cũng như cách thôn không xa, có một gốc cây ăn trái to lớn. Cây ấy thường có nhiều trái ngon lành đẹp mắt. Một người đi đến, đói, mệt mỏi, gầy ốm, muốn được ăn trái. Người ấy nghĩ rằng, ‘Cây này thường có nhiều trái ngon lành đẹp mắt. Ta đang đói, gầy ốm, mệt mỏi, muốn được ăn trái. Nhưng dưới gốc không có trái rụng để có thể ăn cho no và mang về. Ta biết leo cây. Bây giờ ta có nên leo lên cây này chăng?’ Nghĩ xong, bèn leo lên. Lại cũng có một người khác, đói, gầy ốm, mệt mỏi, muốn được ăn trái, cầm một cái búa rất lớn, bèn nghĩ rằng: ‘Cây này thường có nhiều trái ngon lành đẹp mắt nhưng dưới gốc cây không có trái rụng để có thể ăn cho no và mang về, ta không biết leo cây. Bây giờ ta có nên đốn ngã cây này chăng?’, bèn đốn ngã cây ấy. Ý Cư sĩ nghĩ sao? Người trên cây nếu không xuống nhanh khi cây ngã xuống đất, có bị gãy tay hoặc các chi thể khác chăng?
Cư sĩ đáp: Thật sự như vậy, Cù-đàm.
Ý Cư sĩ nghĩ sao, nếu người trên cây leo xuống nhanh, khi cây ngã xuống đất, há lại bị gãy tay hay các chi thể khác chăng?
Cư sĩ đáp: Không vậy, Cù-đàm.
Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử lại tư duy như vầy, ‘Dục vọng như trái cây. Thế Tôn nói dục vọng như trái cây, hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm hãy lánh xa đi’. Nếu ai có sự xả ly dục ly ác bất thiện pháp này, thì ở đây tất cả mọi vật dục thế gian, vĩnh viễn đoạn tận không dư tàng. Hãy tu tập sự kiện này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
13. ÁI DỤC NHƯ VAY MƯỢN
Này Cư sĩ, cũng như một người vay mượn vật dụng hưởng lạc, hoặc cung điện, lầu các, hoặc vườn hào, ao tắm, hoặc voi ngựa, xe cộ, hoặc chen gấm mùng mền, hoặc nhẫn, vòng, xuyến, hoặc hương, anh lạc, vòng cổ, hoặc tràng hoa vàng báu, hoặc danh y thượng phục, rồi nhiều người trông thấy bèn ca ngợi rằng, ‘Như vậy, tốt lành thay! Như vậy, sung sướng thay! Nếu có tài vật gì thì nên hưởng thụ thỏa thích cho đến cùng như vậy’. Nhưng chủ nhân có thể tước đoạt hay sai người tước đoạt bất cứ lúc nào muốn, bèn tự mình tước đoạt hay sai người tước đoạt, những người khác trông thấy, bèn nói với nhau rằng, ‘Nó là người vay mượn; thật sự là lừa gạt chớ không phải vay mượn. Vì sao?
Vì chủ nhân của sở hữu có thể tước đoạt hay sai người tước đoạt bất cứ lúc nào muốn. Và rồi đã tự mình tước đoạt hay sai người tước đoạt’. Này Cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Dục vọng như vay mượn. Thế Tôn nói dục vọng như vay mượn hoan lạc ít mà khổ não nhiều, đầy những nguy hiểm, hãy xa lánh đi’. Nếu ai có sự xả ly dục, ác bất thiện pháp này, thì ở đây tất cả mọi vật dục thế gian vĩnh viễn đoạn tận không dư tàng. Hãy tu tập điều này. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
Nguồn: Tổng hợp về Ái dục - Kinh Trung A Hàm

+ Ðức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Ðạo được cả!" (Nguồn: HT Tuyên Hóa Khai thị về Ái dục rất hay)

+ II- Sự tham ái. Đồng nghĩa với ái trước, ái nhiễm, ái chấp - Ái chấp là hưởng thụ tình ái. Tính dục - Bản năng của con người chỉ đứng sau thực dục.
- (I) Nghĩa của Ái Dục: Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình
- (II) Những lời Phật dạy về “Ái Dục” trong Kinh Pháp Cú:
6) Những người có đủ 36 dòng ái dục, họ mạnh mẽ dong ruổi theo dục cảnh chẳng chút ngại ngùng, bởi vậy người đã có tâm tà kiến, hằng bị những tư tưởng ái dục làm trôi dạt hoài
- Khát ái. Thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, và là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. Ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức và do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi.
(Pháp Cú 251)
Lửa nào có thể sánh ngang
Lửa tham dục nọ dữ dằn vô biên,
Không còn cố chấp nào bền
Bằng tâm sân hận nổi lên cấp kỳ,
Lưới nào trói buộc dầm dề
So ra với lưới ngu si buộc ràng,
Sông nào chìm đắm cho bằng
Dòng sông ái dục cuốn phăng bao người. (Nguồn: Phật dậy về Tam độc Tham Sân Si)
+ Tham ái: Tham đắm yếu thích Ngũ dục nên không thể ra khỏi sinh tử luân hồi. Tham và ái (yêu) là cùng thể khác tên. Tham là sự ham muốn, mong cầu những tài vật nhiễm ô mà không biết nhàm chán. Ái là yêu thích đắm đuối, là 1 trong 12 nhân duyên, hoặc là 1 trong 9 kết. Theo kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1 thì sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong 6 đường luân hồi mãi mãi không dứt là đều do Tham ái. Luận Đại tì bà sa quyển 50 cho rằng Ái kết là Tham trong 3 cõi; trong 9 kết, Tham trong 3 cõi được lập chung làm Ái kết, trong 7 Tùy miên lập làm 2 Tùy miên: 1. Tham ở cõi Dục gọi là Dục tham tùy miên. 2. Tham ở cõi sắc, cõi Vô sắc gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh luận khác thì có lập Tam ái: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. (xt. Tham, Ái).
Passion—Desire—Cupidity - Tham ái, tham dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ân ái, vân vân, là những khoái lạc về ngũ quan. Con người còn ham muốn để được thỏa mãn những nhu cầu về tinh thần như ham chiếm đoạt, ham phô trương, ham quyền lực, ham lợi lộc. Lòng ham muốn đắm mê không bao giờ biết ngừng, không bao giờ được thỏa mãn cả, như chiếc thùng không đáy. Để thỏa mãn dục vọng mà con người sanh ra vị kỷ, độc ác, làm hại, làm khổ người khác để mình được vui, được sung sướng. Vì lòng tham mà chúng ta không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để đạt cho được mục đích, bất kể chuyện gì xãy đến cho người khác. Phật tử chúng ta nên thấy rõ vì không tu nên cõi đời trở thành một đấu trường mà nước mắt đổ như mưa rào, bể khổ dâng lên như nước thủy triều biển khơi. (Nguồn: Tham ái - Thuvienhoasen)

+ 5. Loại ái dục: Trích Phật dậy toàn diện về Ái Dục.... Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
Biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Biết như thật về tập của ái? Do thọ mà có ái.
Biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt.
Biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám.
Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Yêu và không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh, do dục mà có. Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy. Kinh nhiều nội dung giành cho người trí tu. (Nguồn: mục 453- Phật dậy Toàn diện về Ái Dục - Trung A Hàm)

Xem thêm: HT Tuyên Hóa khai thị về Ái Dục

Xem tổng hợp về Ái dục_Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay

+ Tám vạn bốn ngàn pháp môn - Tám muôn bốn ngàn ...
Chư Thiện tri thức! Pháp môn của ta đây do một pháp Bát nhã mà sanh ra tám muôn bốn ngàn trí huệ. Bởi cớ sao? Vì người thế gian có tám muôn bốn ngàn trần lao. Nếu không có trần lao, thì trí huệ thường hiện ra, nhưng nó chẳng lìa tự tánh. Hiểu rõ pháp này, thì không có vọng niệm, không hồi ức, không dính cảnh, không sanh điều giả dối. Dùng tánh Chơn như của mình, lấy trí huệ mà chiếu soi, đối với tất cả các pháp không giữ không bỏ, tức là thấy tánh, là thành Phật đạo vậy. 

Sư nói: "Sử quân hãy nghe cho kỷ, Huệ Năng giải cho. Đức Thế Tôn lúc ở thành Xá Vệ, nói kinh về chỗ tiếp dẫn vào cõi Tây phương, rõ ràng cõi ấy cách đây chẳng xa. Nếu luận về hình tướng và số dặm, thì có mười muôn tám ngàn, tức là chỉ mười điều ác và tám điều tà trong thân. Thế mới nói là xa. Nói xa là vì người hạ căn, nói gần là vì người thượng trí. (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Tám vạn bốn ngàn tâm hành: Nầy Hư Không Tạng ! Thế nào là Bồ Tát khéo phân biệt hành tướng ?
Bồ Tát chuyên cần tinh tiến cầu pháp thắng thiện, nơi pháp môn thậm thâm tâm nhập suy lường thanh tịnh thông thạo rộng lớn huệ sáng Được môn Đại trí minh . Dùng sức Đại trí minh môn ấy biết rõ tâm hành cảnh giới của tất cả chúng sanh, tổng nói mỗi chúng sanh có tám vạn bốn ngàn tâm hành, tất cả Đều có thể rõ biết .
Đó là tâm hành tham dục có hai vạn một ngàn,
Tâm hành sân hận có hai vạn một ngàn,
Tâm hành ngu si có hai vạn một ngàn,
Tâm hành Đẳng phần có hai vạn một ngàn,
Cộng là tám vạn bốn ngàn tâm hành, mỗi chúng sanh Đều có những tâm hành ấy, nếu phân biệt nói rộng thì có Đến vô lượng tâm hành . Trong mỗi hành tướng môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn căn môn . Trong mỗi căn môn ấy biết có tám vạn bốn ngàn những tri giải sai biệt . Bồ Tát biết hết các hành tướng các căn môn các tri giải tướng sai biệt, biết các tướng nên Được tu tập.
Thế nào là biết tướng sai biệt ?
Bồ Tát biết các hành các căn các giải ấy hoặc là tướng tham dục, là tướng sân hận, là tướng ngu si, là tướng Đẳng phần, là tướng tăng, là tướng giảm, là tướng trụ, là tướng Đạt . Đây gọi là biết tướng sai biệt. (Nguồn: Hư Không Tạng Bồ Tát vấn Phật)
+ Tám vạn tế hạnh: Tám vạn là con số tròn. Chỉ cho tám vạn bốn ngàn tế hạnh. Số này là do 3000 oai nghi (3000 oai nghi là do từ 250 giới của tỷ-khưu nhân với 4 oai nghi – Đi - Đứng - Nằm - Ngồi, thành 1000; nhân với 3 nghiệp, Thân - Khẩu - Ý, thành 3000) của thân khẩu ý nhân với 7 (thất giác ý; thân 3, khẩu 4) thành 21.000, nhân với 4 (tứ đẳng phần: Tam - Sân - Si - Đẳng phần) tức là 84.000(Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Đại Oai nghi - Tác phong trong giới luật của đức Phật dậy
Giới Luật thì chuyên nói về giới tướng, giới pháp và oai nghi - ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Ba ngàn oai nghi này từ đâu mà có? Từ Tứ Ðại Oai Nghi - đi, đứng, nằm, ngồi - đi cũng phải có oai nghi, ngồi cũng phải có oai nghi, đứng cũng phải có oai nghi, và nằm cũng phải có oai nghi:
Hành như phong,
Lập như tùng,
Tọa như chung,
Ngọa như cung.
(Đi như gió
Đứng như tùng
Ngồi như chuông
Nằm như cung .)
"Hành như phong" - Đi như gió - tức là đi như làn gió. Gió này hoàn toàn không phải là gió lốc, cũng chẳng phải là cuồng phong. Ði mà hấp tấp như chạy, tất không là gió lốc thì cũng thành cuồng phong. Người xuất gia khi cất bước phải khoan thai như làn gió nhẹ, chỉ dịu dàng thổi lướt qua, không làm xao động mặt nước; tuy rằng có gió song không làm dậy sóng.
"Lập như tùng" - Đứng như tùng - tức là đứng thì thân phải thẳng như cây tùng, không nên ngoẹo đầu ngoẹo cổ, dáng vẻ ủ rủ chẳng có chút tinh thần, giống như chưa tỉnh ngủ vậy. Phải đứng cho ngay, thẳng người lên; khi đi thì đừng lúi húi khom lưng còng cổ, cũng đừng gằm đầu cúi mặt! Tuy nhiên, không nên cúi đầu tức là phải ngẩng đầu, nhưng ngẩng lên quá cũng không đúng, mà phải ngẩng một cách tự nhiên. Ðây là nói về cách đứng, một trong bốn đại oai nghi.
Ngoài ra, khi đi thì không nên nhìn đông nhìn tây, cũng đừng dáo dác trông trước trông sau! Quý vị lơ láo nhìn ngó như thế mà cảnh sát trông thấy thì sẽ nghĩ: " A! Tên này khả nghi quá, hắn định dở trò trộm cướp gì đây. Hắn rình xem có ai ở nhà không để đột nhập đấy mà!" và liền chú ý đến quý vị. Cho nên, đừng nhìn ngang liếc dọc, chớ dáo dác dòm ngó!
"Tọa như chung" - Ngồi như chuông - tức là ngồi ngay ngắn, vững chãi như cái chuông úp vậy.
"Ngọa như cung" - Nằm như cung - tức là nằm như cái cung. Ðó là tư thế "thác tai đáp khác," còn gọi là dáng nằm kiết tường. "Thác tai" là nằm nghiêng về bên tay phải, bàn tay lật ngửa ra kê dưới má phải; "đáp khác" là tay trái duỗi ra và bàn tay úp lại để trên bắp đùi trái; hai chân hơi co lên một chút, tư thế tựa như cây cung.
Về bốn đại oai nghi đi đứng nằm ngồi, thì mỗi oai nghi có hai trăm năm mươi điều lệ - hai trăm năm mươi điều về đi, hai trăm năm mươi điều về ngồi, hai trăm năm mươi điều về đứng, hai trăm năm mươi điều về nằm. Ði sâu vào chi tiết thì mỗi một oai nghi đều có tới hai trăm năm mươi điều lệ, chứ chẳng phải là chuyện đơn giản! Như thế, bốn đại oai nghi thì tổng cộng là một ngàn điều lệ. Một ngàn điều lệ cho mỗi thời - quá khứ một ngàn, hiện tại một ngàn và vị lai một ngàn - nên tổng cộng là ba ngàn oai nghi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng Kinh Địa Tạng)
495. OAI NGHI NGHIÊM TÚC
Tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, Thánh thủ hộ các căn, lại biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát phân biệt sự co, duỗi, cúi, ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp Tăng-già-lê và mang các y bát; đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết rõ chân chánh. (Trung A Hàm, Kinh Thuyết Trí, Phẩm 15, số 187)
+ 3000 Oai nghi:  Con số ba ngàn oai nghi là do từ 250 giới của tỷ-khưu nhân với bốn oai nghi – đi đứng nằm ngồi, thành 1000; nhân với 3 nghiệp, thân khẩu ý, thành 3000.
Mỗi oai nghi đi đứng nằm ngồi đều có điểm đặc biệt của nó.
Đi như gió. Gió đây không phải là bão tố cuồng phong, mà như hơi thở nhẹ, như gió thu. Nên đi chậm rãi với phong cách vững chãi, không nên đi vội vã như chạy về phía trước.
Đứng như cây thông: Đứng thẳng mình như cây thông, không nghiêng ngã hoặc dưạ bên nầy bên kia.
Ngồi như chuông: Ngồi như cái chuông lớn, nặng được treo chắc chắn và không lay động.
Nằm như cung: Nên nằm theo thế cát tường, nằm nghiêng phía bên phải, tay phải đặt trên má phải và tay trái để xuôi theo chân trái. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Pháp sư: Có 2 nghĩa
- M
ột là những vị chuyên giảng pháp cho người khác,
- Hai là người nhận giáo pháp làm thầy của mình, họ tham cứu kinh luận để tu tập (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Danh Pháp Sư là gì:
Giải thích danh đề tổng quát.
Giảng về đề kinh, đại khái cũng giống như những lời giảng ở phần trên. Nay giảng trạch về người phiên dịch. Hiện tại, chúng ta hiểu rõ bộ kinh này phải nhớ ơn người phiên dịch. Nếu không có người phiên dịch, sợ rằng ngày nay chúng ta không thể đọc, nghe được tên kinh này. Nếu không được nghe, không được đọc đến tên kinh này thì chúng ta y chiếu theo kinh nào, phương pháp nào để tu hành ? Không có phương pháp thì làm sao chúng ta tìm được con đường tu hành. Thế nên, chúng ta phải tri ân người phiên dịch kinh. Trải qua bao thời đại, người dịch giả, vì lòng từ bi giáo hóa chúng sanh nên phát tâm phiên dịch kinh điển và lưu truyền lại cho đến hôm nay. Thế nên, công đức của người phiên dịch kinh điển không thể nghĩ bàn, thật to lớn. Người phiên dịch kinh này là ai ? Chính là do tam tạng pháp sư Đường Huyền Trang vâng chiếu dịch kinh. Đường tức là Đường triều. Tam tạng là kinh tạng, luật tạng, và luận tạng. Tạng kinh có rất nhiều bộ kinh. Tạng luật giảng về giới luật. Tạng luận giảng về đạo lý kinh điển.
Pháp Sư là lấy pháp làm thầy, đem pháp bố thí cho người. Dùng tam tạng kinh điển của Phật pháp làm thầy mình, và đem pháp giáo hóa chúng sanh, nên gọi là tam tạng Pháp Sư. Mỗi vị pháp sư hiện nay tôn tam tạng kinh điển làm thầy và đem pháp ra giáo hóa chúng sanh. Đầy đủ hai nghĩa này thì chư vị mới có thể gọi họ là vị pháp sư tôn kính pháp làm thầy và dùng pháp để giáo hóa chúng sanh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Hộ Trì Chánh Pháp - Hộ Trì Phật Pháp - Hộ Trì Đạo Phật - Ủng Hộ Đạo Phật - Ủng Hộ Phật Pháp
Hỏi: Làm thế nào để ủng hộ Phật giáo?
Đáp: Để ủng hộ Phật giáo, quý vị nên lặng lẽ quán sát. Nếu là đạo thì nên tiến tới, còn không là đạo thì hãy thoái lui. Quý vị nên suy nghĩ cho chính chắn, vì có khi quý vị xuất tiền của là tạo công đức, có lúc xuất tiền của thì lại tạo tội. Người xuất gia không được có tiền của, một khi có tiền thì họ sẽ không giữ qui luật. Quý vị mà giúp họ, họ sẽ tha hồ ăn uống, điếm đàng, bài bạc. Được nhiều tiền thì họ sẽ hoàn tục. Nếu quý vị không giúp họ, thì họ còn tiếp tục tu hành. Nhất là khi chỉ có một người xuất gia sống đơn độc, thì chỉ cần có đủ ăn là được rồi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu 214)
2. Người Học Đạo phải hộ trì Phật Pháp/ Chánh Pháp
+ Tránh tạo nghiệp cho mình: Trong kinh Đại Thừa, có nhiều chỗ đức Phật bảo đừng nói cho kẻ nhiều kiến chấp, thiếu lòng tin nghe, vì e họ sinh lòng khinh báng mà mang tội.
+ Hủy báng Tam Bảo, bất luận bạn cố ý, vô ý đều là tội nặng, trong các ác nghiệp chẳng có thứ nào nặng hơn chuyện này. Bạn giết hại một người, giết hại sanh mạng, trong Kinh nói 49 ngày thì người đó đi đầu thai trở lại (Nếu họ còn phước báo ở nhân gian), do đó tội sát sanh nhỏ, tội đoạn dứt huệ mạng của chúng sanh mới lớn (Gặp Phật Pháp rất khó).
- Nguyên nhân là như Phật nói trong Kinh, Tam Bảo là nhãn mục của trời, người, Tam Bảo là nhân duyên chúng sanh được độ, bạn đoạn mất cơ hội được độ của hết thảy chúng sanh, tội đó sẽ rất nặng.
- Nhưng cơ hội gặp được Phật Pháp khó lắm, kệ khai Kinh nói: Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp gỡ, lời này là thật, chẳng giả. Khi bạn được thân người, Chưa chắc bạn có cơ hội nghe đến Phật Pháp, huống chi được thân người thì cũng tương đối không dễ.
- Hủy báng Tịnh Tông, Chướng ngại người niệm Phật, Chướng ngại người cầu sanh Tịnh Độ, so với tội này thì chẳng biết phải thêm bao nhiêu ngàn lần, vạn lần?
Nếu muốn không đọa địa ngục cũng được: Hãy mau sám hối, thừa dịp này bạn vẫn còn một hơi thở Chưa dứt thì cũng còn kịp. Sám hối chỉ có cầu A Di Đà Phật, tu Pháp sám hối Vãng Sanh, lập tức sửa sai đổi mới, lúc trước hủy báng, bây giờ dốc hết sức lực tán thán, được vậy mới có thể quay về. Lúc trước Chướng ngại người khác tu học, hiện nay tìm mọi cách khuyên người ta tu học.
Lúc trước Chướng ngại họ, hiện nay tìm họ để cầu sám hối: Lúc trước tôi sai rồi. Hiện nay gấp rút hết lòng nỗ lực tu học, như vậy mới được, bạn mới có thể cứu vãn. Nếu Chướng ngại người ta quá lớn thì chuyện phiền phức sẽ lớn. Do đó đoạn Kinh Văn này chúng ta muôn vàn không thể lơ là, không để ý, phải thường thường ghi nhớ trong tâm, tuyệt đối không thể gây ra nhân duyên Chướng đạo. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)

+ Bảo vệ Chánh pháp - Bảo vệ Kinh Pháp - bảo Vệ Phật Pháp
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Theo con nghĩ, Thế Tôn không nên nói Bồ tát đối với tất cả chúng sinh tâm bình đẳng xem đồng như con. Vì trong Phật pháp có người phá giới, có kẻ phạm tội nghịch, có người hủy báng chánh pháp.....với hạng người như vậy làm sao xem đồng như con ?
Phật dạy: Như Lai đối với chúng sinh ấy xem đồng như con, như La Hầu La. Cho đến người hủy báng chánh pháp, hàng nhứt xiển đề, hoặc những kẻ tà kiến....Như Lai đều thương xót như con. Như Lai không giống các quốc vương, bầy tôi phạm pháp cứ theo tội mà tru lục.
Ca Diếp ! Nên biết, Như Lai là người ban bố vô úy bình đẳng cho chúng sinh. Như Lai phóng ra một, hai, hoặc năm tia sáng, kẻ nào gặp đều xa lìa tất cả điều ác. Sau khi Như Lai nhập Niết bàn, nơi nào có Tỳ kheo trì giới, đầy đủ oai nghi hộ trì chánh pháp, thấy được hoại pháp thì quở trách trừng trị. Vị Tỳ kheo ấy được phước báo vô lượng. Đó chính là đệ tử của Như Lai, đích thực là Thanh Văn. Nếu thấy lỗi mà bỏ qua, vị Tỳ kheo nầy là người góp phần làm bại hoại Phật pháp.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Như lời Phật vừa dạy, e là không bình đẳng, xem tất cả chúng sinh như con. Bạch Thế Tôn ! Giả sử có người cầm dao với ý đồ hảm hại Phật, lại có người đem nước chiên đàn thoa thân Phật. Nếu sử dụng tâm bình đẳng lẽ ra hai người đều phải được xem là người tốt, cớ sao lại bảo rằng phải trừng trị kẻ phạm luật nghi ? Nếu trừng trị kẻ phạm luật nghi thì lời dạy kia có lỗi."
Phật nói: Như Quốc vương có bốn người con trai khôi ngô, thông minh sáng suốt, đem giao cho giáo sư dạy dỗ và dặn rằng: Thầy gắng dạy cho chúng được toàn vẹn tài đức. Nếu chúng ngỗ nghịch, thầy phải nghiêm trị, dầu ba đứa bị đòn chết, còn một đứa được nên, nhà vua cũng vui lòng.
Này Ca Diếp ! Cha và thầy của các trẻ có phải tội ác và sát sanh chăng?
Ca Diếp Bồ tát thưa: "Bạch Thế Tôn ! Không. Vì lòng thương, muốn cho các trẻ được nên, chớ chẳng phải ác tâm. Dạy dỗ như thế được phước vô lượng".
Phật nói: "Cũng vậy, Như Lai đối với kẻ phạm pháp xem đồng như con. Nay Như Lai đem chánh pháp vô thượng phó chúc cho vua, đại thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Các vua quan và bốn bộ chúng phải nên khuyên răn, khích lệ những người phát tâm tu học, khiến được tăng thượng giới, định, tuệ và nên nghiêm khắc dạy bảo những người lười biếng, phá giới, hủy hoại chánh pháp, lơ là đối với pháp tam vô lậu học".
Này Ca Diếp ! Như vậy các vua quan, bốn bộ chúng có mắc tội chăng
Ca Diếp Bồ tát thưa: "Bạch Thế Tôn ! Không".
Phật nói: "Các vua quan và bốn bộ chúng còn không tội, huống là Như Lai.
Này Ca Diếp ! Như Lai khéo tu đức bình đẳng, xem các chúng sinh đồng là con. Tu như vậy gọi là Bồ tát tu tâm bình đẳng, với các chúng sinh xem đồng là con. Bồ tát tu tập hạnh nghiệp bình đẳng nầy được thọ mạng lâu dài, khéo biết những việc đời trước. (Nguồn: Pháp Trường Thọ)
+ Phản ứng với tà đạo - Ngoại đạo: Như có người xưng Tân Phật giáo, khi hỏi họ, lời họ đối đáp sẽ là, “chúng tôi dạy giáo lý Tứ diệu đế của Đức Phật, dạy Lục độ, mười hai nhân duyên, và tụng thần chú của chư Phật. Chúng tôi đọc tụng các kinh điển của Phật.”
Hãy hỏi lại họ, “Nếu quý vị đọc kinh Phật và trì tụng thần chú của Phật, thì có gì mới?” Đó thật là điều nghịch lí.
Tôi mong rằng quý vị Phật tử ở Mĩ hãy nỗ lực phản ứng với những sai lầm nầy. Nếu không, sự suy tàn của đạo pháp chắc chắn sẽ xảy ra. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tiên đoán rằng trong thời mạt pháp, ma con và ma cháu sẽ đến thế giới nầy với lực lượng rất hùng hậu. Khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni hàng phục ma vương và thu nhiếp ngoại đạo, ma Ba-tuần, đã biết việc nầy. Nó nỏi rằng, “Tôi biết là lúc nầy không làm được gì ngài, nhưng trong tương lai tôi sẽ phá hoại giáo pháp của ngài.” Đức Phật hỏi lại, “Làm sao mà ông làm được việc ấy ?” “Tôi sẽ cho con cháu tôi len vào trong Tăng đoàn của ông. Ăn uống như các ông, đắp y như các ông, và đại tiểu tiện phân và nước tiểu vào trong bình bát của các ông. Con cháu tôi sẽ phá hoại Phật pháp từ chính trong Tăng đoàn các ông.” (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5- HT Tuyên Hóa giảng)

+ Trì giới / giữ giới:
– Chìa khóa (bí quyết) giữ Hài Hòa (Harmony) trong lời nói và hành động, bí quyết lập thăng bằng giữa nhân với quả, không để thêm cơ hội cho tác động của nghiệp.(TNVT, 177) 
– Hạnh thứ nhì trong mười (có khi là sáu – ND) Ba–la–mật. Hài hòa hoàn toàn trong lời nói và hành động.  (NGMTTL, 297)

+ Giữ giới - Trì giới với nghiệp chướng: ... Cổ Đại Đức dạy cho chúng ta, sám nghiệp chướng có 3 loại:
1. Loại sám hối thứ một: là phục nghiệp sám.
2. Loại sám hối thứ 2: là chuyển nghiệp sám loại này là cho những người rất thông minh, họ có thể chuyển biến điều này rất hiếm có, hiệu quả vô cùng thù thắng. 
3. Tiêu trừ nghiệp chướng: Thế nhưng cách sám hối cứu cánh nhất là nhất định phải tiêu diệt tội nghiệp, diệt nghiệp mới là cứu cánh nhất. Có thể diệt được hay không? Được. Tại vì sao? vì vô lượng kiếp đã tạo những tội nghiệp. Phật tại trong Kinh có nói một thí dụ giống như một căn nhà bên trong đen tối, bên trong toàn là bóng tối, tuy trong nhà ngàn năm đen tối. Nếu chúng ta đốt lên một ngọn đèn ánh sáng sẽ chói rọi thì bóng tối không còn nữa. Đem bóng tối thí dụ như tội nghiệp, ngọn đèn thì dụ là trí huệ. Do đây mới biết định năng phục nghiệp, tức là định có thể khuất phục được nghiệp. Khai huệ có thể phá trừ tội nghiệp. Do đây mới biết chúng ta tu học y giới sanh định, do định khai huệ, tu như vậy mới có hiệu quả cho nên trì giới quý vị nên biết, nếu trì giới mà không được định thì sự trì giới này chỉ được phước hữu lậu của thế gian, không thể chuyển nghiệp cũng không thể diệt tội. Chẳng những không thể diệt tội mà cũng không thể khuất phục được tội nghiệp, nhất định phải hiểu điều này. Trì giới phải được định thì trì giới mới có công đức. Nếu trì giới không được định thì chỉ có phước đức, không phải công đức. Cho nên trì giới có phước đức, có công đức. Trì giới được định thì có công đức, có công đức thì mới liễu sanh tử ra khỏi tam giới. Còn phước đức thì không thể. Vì sao có loại người trì giới họ không thể thành tựu công đức? Vì họ còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. ... (Nguồn: PS Tịnh Không giảng về Sám Hối)

+ Thọ Giới - Giữ Giới - Nghiêm Trì Giới Luật: Lại nữa, còn có vấn đề thọ giới. Trong Pháp hội giảng giải và tu tập Kinh Thủ Lăng Nghiêm, còn có nhiều người phát nguyện thọ Năm giới, Tám giới của người cư sĩ tại gia, và thọ giới Bồ-tát. Những người thọ Năm giới, Tám giới của người cư sĩ tại gia được gọi là Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di, tức là Nam cư sĩ và Nữ cư sĩ đã thọ giới. Những ai đã thọ giới Bồ-tát rồi được gọi là một vị Bồ-tát. Vốn người xuất gia mới được thọ Bồ-tát giới, nhưng do ý nghĩa của Bồ-tátnhững ai làm lợi cho mình và lợi cho người, nên cư sĩ tại gia cũng được thọ Bồ-tát giới. Thọ giới là điều cực kỳ quan trọng trong đạo Phật. Tất cả quý vị muốn thọ giới đừng nên bỏ lỡ dịp may. Quý vị có thể thọ một giới, hai giới, ba giới, bốn giới, năm giới, tám giới, mười giới trọng và 48 giới khinh. Cư sĩ không được thọ 10 giới vì đó là giới của Sa-di. Thọ nhận và giữ một giới điều được gọi là thọ bán tiểu giới. Nhận hai giới được gọi là thọ bán giới. Nhận ba giới được gọi là thọ quá bán giới. Nhận năm giới được gọi là thọ toàn giới.

Giới thứ nhất là không sát sinh; nhưng, nếu quý vị chưa thể dừng hẳn việc giết hại được, thì quý vị có thể thọ nhận giới thứ hai, là không được trộm cắp. Nếu quý vị vẫn còn thích uống rượu, như tôi có một vị đệ tử uống rượu; và nếu quý vị chưa muốn thọ giới thứ năm, là không được dùng rượu và những chất gây nghiện, thì quý vị có thể thọ nhận giới thứ nhất là không sát hại, giới thứ hai là không trộm cắp và giới thứ ba là không tà dâm. Giới thứ tư là không nói dối. Nếu quý vị thấy rằng, "Tôi còn thích nói đối, tôi chưa thể thọ giới không được nói dối," thì quý vị có thể nhận 4 giới: không sát hại, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu. Có khi quý vị nói rằng mình không thể ngừng sự giết hại được – đôi khi vô ý giết phải kiến, muỗi– nếu đã thọ giới rồi mà phạm phải thì về sau mang tội rất nặng. Thì quý vị có thể quyết định chưa thọ nhận riêng giới sát. Điều ấy tuỳ thuộc vào quý vị, nhưng đừng bỏ lỡ cơ hội thọ giới.
Tôi không ngại khi nói cho quý vị biết rằng ở Trung Hoa, nếu muốn thọ giới, quý vị phải trả 200 đô-la. Sao vậy? Vì ở đó có người xem việc ấy như là một dịch vụ buôn bán. Quý vị phải trả tiền. Tiền mà tôi nói đó không phải là để may giới y mà quý vị thấy các Phật tử đã thọ giới sử dụng. Hai trăm đô-la là chi phí phải trả cho pháp sư và chùa. Tuy vậy, tôi chẳng để ý đến chuyện đó. Quý vị có tiền hay không chẳng thành vấn đề. Thực vậy, với mọi người tham dự Pháp hội giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy, tôi đều tặng mỗi người một đôi giày la-hán. Nhưng đôi giày la-hán nầy không phải là để khuyến khích quý vị tu tập thành A-la-hán–chỉ lợi mình mà không lợi cho người–Nó có ý nghĩa nhắc nhở quý vị nhớ rằng pháp tu thành A-la-hán là con đường của hàng Tiểu thừa, và nhắc quý vị nên đi theo con đường Đại thừa. Quý vị nên mang đôi giày của A-la-hán và tu tập theo Bồ-tát hạnh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)

+ Thọ giới và quyền truyền giới: Người tại gia học Phật sau khi quy y Tam Bảo, nếu muốn tiến thêm một bước, thì cần phải thọ Năm giới (Ngũ giới). Sau khi thọ Ngũ giới rồi, nếu muốn tiến tu thêm một bước, thì người tại gia có thể thọ Tám giới (Bát giới). Xa hơn nữa thì có Mười giới (Thập giới), tức là giới Sa di. Sau khi xuất gia và thọ Sa di giới, lại phải thọ 250 giới nếu là Tỳ kheo, hoặc 348 giới nếu là Tỳ kheo ni. Bồ tát cũng có giới của Bồ tát. Bồ tát giới gồm có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Mười giới trọng nếu phạm thì mang tội rất nặng, một khi đã phạm rồi thì không thể sám hối; phạm các giới khinh thì có thể sám hối, sửa đổi lỗi lầm.
Khi Phật sắp nhập Niết bàn, Tôn giả A Nan thỉnh Phật chỉ dạy bốn việc; một trong bốn việc đó là: “Khi Phật còn tại thế, chúng con lấy Phật làm Thầy, Phật là Sư phụ của chúng con. Thế sau khi Phật nhập Niết bàn, ai sẽ là Sư phụ của chúng con?”
Ðức Phật bèn nói với ngài A Nan rằng: “Sau khi ta nhập Niết bàn, các ông phải lấy Giới làm Thầy.”
Ðó là bảo người xuất gia, tất cả Tỳ kheo, Tỳ kheo ni phải “dĩ Giới vi Sư” (lấy Giới làm Thầy). Vì vậy, người tại gia nếu muốn cầu thọ giới, nhất định phải đến gặp vị xuất gia để cầu giới. Và, vị xuất gia truyền trao giới thể này nhất định phải là Tỳ kheo, bởi vì Tỳ kheo ni không được phép truyền giới. (Trong giới luật của Phật, không cho phép Tỳ kheo ni truyền giới.) Vậy, giới có rất nhiều loại như giới Sa di, giới Tỳ kheo, giới Bồ tát.
Chúng ta muốn tu Ðạo thì nhất định phải thọ giới. Nếu quý vị có thể giữ gìn giới thể thanh tịnh thì sẽ được xinh đẹp, ngời sáng như ngọc lưu ly, vô cùng trân quý. (Nguồn: Giảng Kinh Lăng Nghiêm - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Giới tức là một thế giới riêng biệt cho căn, trần và sắc:
- Thí dụ nói về cái thấy chúng ta có 3 giới là:

1. Căn là Nhãn giới - Căn mắt
2. Trần là Sắc giới - Là các vật, đối tượng như nhà cửa, xe cộ
3. Thức là Nhãn thức giới - Là cái biết của sự thấy.
=> Mà Con người chỉ có 18 giới
- 6 giới của căn: Nhãn giới, Nhĩ giới, Tỷ giới, Thiệt giới, Thân giới, Ý giới.
- 6 giới của trần: Sắc giới, Thanh giới, Hương giới, Vị giới, Xúc giới, Pháp giới.
- 6 giới của thức: Nhãn thức giới, Nhĩ thức giới, Tỷ thức giới, Thiệt thức giới, Thân thức giới và Ý thức giới.
Tổng cộng: 18 giới mà thường được gọi là thập bát giới.
+ Nội Ngoại của 18 Giới:

- 6 Nội giới: 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trong cơ thể, gọi là nội giới;
- 6 Ngoại giới: 6 trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm, các pháp) bên ngoài, gọi là ngoại giới;
- 6 Trung giới - Ở giữa: 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) ở giữa giúp 6 căn nhận biết 6 trần, gọi là trung giới. (Xem nguồn.)

+ Mười Tám Giới - HT Tuyên Hóa giảng về Các Thức Phát Sinh Phân biệt:
" Lại nữa, A-nan, như ông thường biết được rằng, như ông đã rõ, ông đã được nghe giáo lý quyền thừa trước đây. Giáo lý quyền thừa đề cập đến năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Ông đã hiểu được toàn bộ giáo lý nầy. Nhưng, giáo lý về mười tám giới chỉ được diễn bày như là một pháp môn phương tiện cho hàng Nhị thừa và ngoại đạo để dẫn dắt họ. Nay Như Lai sẽ giảng giải giáo lý ấy thật chi tiết. Đừng trở nên chấp trước với những pháp trần nầy. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)

+ Mười Tám Giới: Trích đoạn Đức Phật dậy..... Lại nữa, A-nan, thế nào mà 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?
Giảng:
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo A-nan, "Thế nào mà 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?"
Mười tám giới là những gì? Là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý–cùng với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; cộng thêm sáu thức nữa: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Cả ba nhóm gộp lại thành 18. Sáu căn đi với sáu trần, giữa hai cái nầy phát sinh ra sáu thức. Thức được định nghĩa như là tạo nên sự phân biệt, Căn (các giác quan) được xem là nơi các chức năng tri giác ấy phát xuất, nó có gốc là thân thể của chúng ta. Trần (cảnh, đối tượng) được định nghĩa như vậy là do phẩm tính của nó là nhiễm ô. Nó không thanh tịnh, nên nó làm nhiễm ô bản tính của sáu căn. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì các thức sinh khởi. Mắt thấy sắc liền sinh khởi phân biệt như đẹp hoặc là xấu xí. Khởi tâm thích hoặc không thích hình sắc ấy, nên có sự phân biệt. Ở tai cũng như vậy: nghe tiếng êm dịu hoặc không êm dịu, hoặc thích nghe hoặc không thích nghe âm thanh ấy. Khi sinh khởi tâm phân biệt như vậy được gọi là nhĩ thức. Mũi ngửi được mùi thơm và mùi thối. Hai hương trần thơm và thối cũng được phân biệt như trên vậy. Quý vị có thể thích hương thơm và không thích những mùi hương khác, như vậy là trong quý vị đã sinh khởi tị thức. Lưỡi phân biệt được mùi vị. Khi lưỡi (thiệt căn) đi chung với mùi vị (vị trần[41]) liền có sự phân biệt về mùi vị, hoặc là dễ chịu hoặc là ghê tởm–mình có thể thích hoặc không thích, Thân căn đi chung với xúc trần–trơn láng hoặc xù xì, thô ráp hoặc mịn màng, có nhiều dạng cảm giác khác nhau, hoặc ưa thích hoặc không ưa thích. Thân căn đi chung với xúc trần sẽ làm phát sinh thân thức để phân biệt những cảm giác nầy.
Ý căn đi chung với pháp trần. Năm trần vừa mới đề cập ở trên– sắc, thanh, hương, vị, xúc– tất cả đều có sắc tướng biểu hiện.[43] Chỉ có pháp trần là không được biểu hiện qua sắc tướng.[44] Chúng không có một biểu tượng nào. Tuy nhiên, khi ý căn tiếp xúc với pháp trần, tâm ý liền khởi phân biệt, thế nên trong tâm cũng có ý thức phân biệt. Đó là cách mà sáu căn tiếp xúc với sáu trần khiến sinh khởi sáu thức và cùng lập nên 18 giới.
Tất cả chúng đều chứa trọn trong tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng.  
(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Quyển 3)

+ 768. TỲ KHEO BIẾT GIỚI
Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười tám giới: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.

1) Sáu giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
2) Sáu giới: dục giới, nhuế giới, hại giới, vô dục giới, vô nhuế giới, vô hại giới.
3) Sáu giới: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới.
4) Bốn giới: thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức giới.
5) Ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
6) Ba giới: sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.
7) Ba giới: quá khứ giới, vị lai giới, hiện tại giới.
8) Ba giới: diệu giới, bất diệu giới, trung giới
9) Ba giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.
10) Ba giới: học giới, vô học giới, phi học vô học giới.
11) Hai giới: hữu lậu giới, vô lậu giới.
12) Hai giới: hữu vi giới, vô vi giới.
Này A-nan, thấy và biết như thật về sáu mươi hai giới này. (Nguồn: mục 768- (Trung A Hàm, Kinh Đa Giới, Phẩm 14, số 181)

+ Các giới: Tôi xin nói thêm một câu nữa, như thân làm Phật tử, mức độ thấp nhất là phải nghiêm giữ năm đại giới cơ bản nầy và thực hành theo một cách triệt để, như vậy chúng ta mới được an lạc và tự tại. Giả như năm giới nầy mà không giữ được, thế thời 250 giới của Tỳ Kheo, 348 giới của Tỳ Kheo Ni lại càng khó giữ hơn. Cho nên tại rừng Ta-la song thọ, lúc Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết Bàn, Ngài đã nói với Tôn giả A Nan rằng: “Lấy giới luật làm thầy.” Do đó, chúng ta biết rằng giới luật thật là trọng yếu biết bao! (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng)

+ 69. GIỮ GIỚI CÓ NĂM CÔNG ĐỨC
1. Cầu gì đều được như nguyện.
2. Tài sản đã có thì thêm mãi không hao sút.
3. Ở đâu cũng được mọi người kính mến.
4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ.
5. Thân hoại mệnh chung được sanh lên cõi trời. Nguồn: mục 69- (Trường A Hàm, Kinh Du Bộ, số 2)

+ Các đại đệ tử Phật: Các ngoại đạo khác ghen tức với Đức Phật. Trước khi Đức Phật đạt đến cảnh giới nầy, các giáo sĩ Bà-la-môn được xem là tối thượng. Mọi người đều quy hướng về họ. Nhưng sau khi Đức Phật tu tập khổ hạnh sáu năm và thành chánh giác, thì các đệ tử của ngoại đạo đều quy hướng về Đức Phật. Như Ca-diếp, Mục-kiền-liên, và Xá-lợi-phất đều đã từng là đệ tử của các ngoại đạo. Bởi vậy nên thủ lĩnh của các nhóm ngoại đạo rất ghen tức. Họ cho voi điên uống rượu–năm con voi điên như vậy–thả ra để hại Đức Phật. Ai có ngờ rằng khi 5 con voi dữ đến gần Đức Phật, ngài xoè bàn tay ra và 5 con sư tử hiện ra từ 5 ngón tay của ngài, 5 con voi điên run sợ gần chết. Đức Phật có năng lực hàng phục thiên ma và ngoại đạo thật là to lớn(Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Nhà thứ 9 trong Chiêm tinh học: du lịch, quan điểm rộng lớn về mọi thứ, triết học, chính trị. (Nguồn: Xem tại đây)
+ 9 Huyệt trên thân thể: Chín huyệt trên thân thể các người thường xuyên tiết ra những thứ bất tịnh. Mắt tiết ra ghèn, tai tiết ra chất ráy, mũi tiết ra nước nhầy, mệng tiết ra đờm dãi, toàn là những thứ dơ dáy. Thêm vào đó, thân còn tiết ra phân và nước tiểu, các người lại càng bẩn thỉu hơn. Thêm vào đó, còn có nhiều vi trùng trong mỗi lỗ chân lông trên cơ thể các người. Toàn thân ấy đều là chất hôi thối.” (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

Xem thêm: Các Nhà góc – Các Nhà Kế – Các Nhà Cadent

+ Thấy sự phát nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát:
"Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, con trai vị Trưởng Giả nhân đó liền phát nguyện rằng:Từ nay cho đến tận vị lai kiếp chẳng thể tính đếm về sau, tôi sẽ vì những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo mà quảng thiết nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.’
Bởi đã ở trước Ðức Phật đó mà lập đại nguyện như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vạn ức na-do-tha không thể nói hết số kiếp, mà vẫn còn làm vị Bồ Tát."
Lược giảng:
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi Bồ Tát Văn Thù: "Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, con trai vị Trưởng Giả nhân đó liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay cho đến tận vị lai kiếp chẳng thể tính đếm về sau ...’"
"Tận vị lai kiếp" tức là chỉ cho vô số vô lượng kiếp về sau, tận cùng của số kiếp trong đời vị lai, đến hết kiếp vị lai. Kiếp vị lai vì sao lại có thể hết được? Kiếp vị lai vốn chẳng thể hết hay cùng tận được; song ở đây nói "hết" là ám chỉ quãng thời gian dài bất tận, lâu dài đến nỗi không thể nào tính xuể là bao nhiêu kiếp.
Sau khi được nghe Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai giải thích xong, con trai ông Trưởng Giả bèn phát tâm lập nguyện rằng: "Kể từ bây giờ cho đến tột số kiếp chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi sẽ vì những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo mà quảng thiết nhiều phương tiện..." Bởi chúng sanh ở thế giới Ta Bà cử tâm động niệm không chi là không tội, không chi là không nghiệp, cho nên họ được mệnh danh là "những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo."
"Lục Ðạo" tức là sáu nẻo đường-Trời, Người, A Tu La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh.
"Quảng" là rộng rãi; "thiết" là thiết lập, đặt ra. Vậy, "quảng thiết nhiều phương tiện" tức là tùy nghi mà đặt ra vô số pháp môn phương tiện, chứ chẳng phải chỉ có một mà thôi.
"‘Làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.’" Trưởng Giả tử nguyện rằng đến khi nào mọi chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo đều lìa khổ được vui và đều thành Phật cả rồi, thì bấy giờ anh ta mới thành Phật; nếu còn sót một chúng sanh chưa thành Phật, thì vị Trưởng Giả tử này cũng sẽ chưa thành Phật!
Có câu:
"Như nhất chúng sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn."
(Nếu còn một kẻ chưa thành Phật,
Tôi quyết không về cõi Nê Hoàn.)
(Kinh Lăng Nghiêm, quyển 3)
Nghĩa là giả sử còn một chúng sanh chưa thành Phật, thì tôi dứt khoát chưa vào Niết Bàn. ("Nê Hoàn" tức là Niết Bàn.)
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: "Này Văn Thù Sư Lợi! Ðịa Tạng Vương Bồ Tát bởi đã ở trước Ðức Phật đó mà lập đại nguyện như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vạn ức na-do-tha bất khả thuyết kiếp, mà vẫn còn làm vị Bồ Tát."
"Na-do-tha" là một con số rất lớn của Ấn Ðộ. "Bất khả thuyết" cũng ám chỉ một con số lớn vô kể. Do đó, "na-do-tha bất khả thuyết kiếp" có nghĩa là số kiếp nhiều đến nỗi không thể nói hết.
Trưởng Giả tử-tiền thân của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát-đã đối trước Ðức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai mà phát lời đại nguyện đó, và từ ấy đến nay đã trải qua quãng thời gian lâu dài tới cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp như thế, mà Ngài Ðịa Tạng vẫn còn làm vị Bồ Tát, chứ chưa thành Phật. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)

+ Đức Phật thấy sự - Phát lời nguyện: ... Còn có một ngoại đạo khác tên Thân Mục 申目 ( Shen Jih) trộn chất độc trong thức ăn rồi đem dâng cho Đức Phật. Khi Đức Phật thấy thức ăn, ngài nghĩ, “Nguyện rằng, như trong tâm ta chẳng có gì độc địa, thì khi ăn thực phẩm nầy, nó sẽ chẳng hại gì mình.” Rồi ăn thực phẩm ấy. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Lời Nguyện Xấu - Tốt: Đức Phật dậy, lời nguyện xấu tốt đều được thành tựu. Cho nên không được phát thề/ nguyện với lời nguyện (Nguyền) không trong sáng, không lợi tha. (Xem: TH về Phát Tâm - Nguyện:Bài viết số 4)

+ Phát nguyện là một lời hứa thiêng liêng mà mọi người Phật tử đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan trọng, vì không có nó cũng như không có người hướng dẫn. Giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị phát nguyện, cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến. Mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với những việc hằng ngày quý vị thích làm (HT Tuyên Hóa Giảng Chú Đại Bi - câu thứ 37: Thất na thất na là “đại trí tuệ” và còn có nghĩa là “hoằng thệ nguyện”)

- HT Tuyên Hóa cũng dạy: Trong tu hành, không phát nguyện cũng giống như cây ra Hoa mà không thành quả được. Lời Phát nguyện mà có thể làm lợi ích cho người thì dù là vọng tưởng cũng không đáng ngại; (Nguồn: Vấn đáp Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay)

+ Phát nguyện nên phát triển từ nhỏ đến lớn, đến đại nguyện theo hạnh Bồ Tát đạo: Lời Nguyện vị tha - Làm gì cho người khác được lợi ích - Nên phát nguyện trước bàn thờ, tượng Phật, Bồ tát, đức Thầy hay hội chúng nhiều người. Nên phát nguyện hợp với khả năng, có tính khả thi trong thực hiện trong một thời gian có thể kiểm chứng nhanh, tạo nhiều động lực hơn (Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi - 42 Thủ Nhãn_Clip 06, phút thứ 19)

+ Nguyện vọng rực lửa: Sự bừng cháy với lòng nhiệt thành và nỗ lực “tinh tấn” hướng đến lý tưởng, hoặc tự rèn luyện nhằm đạt mục tiêu phải thật sâu xa trong tâm đến mức không khó khăn, trở ngại nào có thể khiến y lùi bước. Khi hành giả đã tỏ ra rằng không vấn đề khó khăn nào, không sự tối tăm hay thời gian lâu dài nào ngăn trở được y, thì bấy giờ y mới được phép trở thành đệ tử của một vị Chân sư. Sự cố gắng mãnh liệt, lòng thiết tha kiên định và liên tục, và sự trung thành không dời đổi đối với lý tưởng thấy được qua thị kiến tinh thần, là điều kiện thiết yếu của Con đường Đệ tử. (Sách: Ánh Sáng Của Linh Hồn)

+ Nguyện vọng phải phát khởi trước khi có sự lưu nhập của nguồn cảm hứng tinh thần. Phàm ngã phải thở ra trước khi có sự thở vào của Chân ngã cao siêu. Nguyện vọng có ẩn ý là lửa. Nó ngụ ý ước vọng bừng cháy, và quyết tâm nồng nhiệt, rốt cuộc mang lại ba điều cho người chí nguyện. Xem nguyện vọng rực lửa.

+ Lời nguyện giải tỏa lỗi lo sợ: Tôi muốn đề nghị họ nhớ nằm lòng và luôn luôn sử dụng, khi bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi do ảo tưởng và điềm báo vô ích, công thức hoặc lời cầu nguyện sau đây:  “Xin cho thực tại chi phối mọi suy nghĩ của tôi, và chân lý là chủ nhân của cuộc đời tôi”. (LVHLT, 239)

+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết Bàn, lại sẽ giáo hóa tất cả chúng sinh, thảy đều được đầy đủ bát nhã ba la mật”. Như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha. (Xem: TH về Phát Tâm - Phát nguyện: Bài số 1)

+ Phát Nguyện tùy theo nhân duyên và công việc hàng ngày
- Phát nguyện với Phật sự:
HT Tuyên Hóa khi gặp nhân duyên có người bán Nhà đất đắc địa là một bệnh viện cũ bỏ hoang nhiều năm do không có nước dùng, ngài muốn mua để làm chùa, tuy không có tiền tài, nhưng ngài đã phát nguyện mua khu dự án này tại Hoa kỳ để làm chùa Vạn Phật Thánh Thành. Rất tuyệt diệu .
- Phát nguyện trong tu hành:
Mỗi người tu đều nên phát nguyện hàng ngày
- Phát Đại Nguyện của Bậc Thánh. Ví dụ như HT Tuyên Hóa có 18 Đại nguyện trong kiếp tái sanh gần nhất, trong đó nguyện thứ 14. Nguyện rằng tất cả chúng sinh nào, khi thấy mặt tôi, cho đến chỉ nghe tên tôi, đều phát tâm Bồ-đề, mau đắc thành Phật đạo. Mời xem 18 đại nguyện tại: Sơ lược tiểu sử HT Tuyên Hóa

+ Kinh Ước Nguyện: Đức Phật giảng cho các Tỳ kheo/ Người xuất gia cách ước nguyện chân chánh... Mời xem tại Kinh Ước Nguyện

Xem thêm về Phát nguyện quan trọng như thế nào

+ Thiên cơ - Số trời đã định: Trăm Năm Đại Sự Rối Như Mộng ... Cho nên, nước Trung-Hoa sẽ lãnh đạo thế giới ở thế kỷ thứ hai mươi mốt. Thế nhưng, nếu người dân Trung-Hoa đều hướng thiện thì mới mong lãnh đạo được thế giới; còn nếu không hướng thiện thì Trung-Hoa khó có thể tồn tại được bởi các nước ngoài đều lăm le dòm ngó, rình chờ lúc Trung-Hoa suy yếu, hoặc trong nước có sự phân tán, chia rẽ. Có câu:
Cáp bạng tương tranh, ngư ông đắc lợi.
(Nghêu sò đánh nhau, ngư ông được lợi.)
Nếu người Trung-Hoa đàng hoàng, lương thiện, thì trong tương lai họ sẽ lãnh đạo thế giới; bằng không, nếu họ không hướng thiện, không đi theo con đường sáng sủa, quang minh chánh đại, e rằng họ sẽ bị người khác lãnh đạo, điều khiển!
Trên đây là lời thơ của Đại Sư Bộ-Hư. Tiếp đến, Ngài nói thêm bốn câu thơ như sau:
Mang mang thiên số bổn nan tri,
Duy tại thương sanh cảm thái hư,
Lão tăng bất cảm đa nhiễu thiệt,
Tiết lộ thiên cơ khủng bị tru.
Mang mang thiên số bổn nan tri (số trời mù mịt vốn khó biết). Ở đây lại đề cập đến thiên số (số phận do trời định sẵn) – một đạo lý bao la, không giới hạn. Thứ đạo lý vô cùng vô tận này vốn không dễ gì mà biết được.
Duy tại thương sanh cảm thái hư (chỉ có chúng sanh làm thái hư cảm động). Bất luận quý vị có biết hay không và bất kể đạo lý thiên số rộng lớn bao nhiêu, nếu quý vị đều có thể “sửa ác, theo thiện,” thì có thể làm cho trời đất cảm động, khiến cho nơi nơi đều thái bình an lạc, khí lành trùm khắp đất trời.
Lão tăng bất cảm đa nhiễu thiệt (Sư già này không dám lắm lời). Vị Đại Sư Bộ-Hư này nói rằng: “Lão tăng chẳng dám nói quá nhiều!”.
Tiết lộ thiên cơ khủng bị tru (ta sợ bị phạt vì dám tiết lộ thiên cơ). Nếu ta tiết lộ toàn bộ thiên cơ, ta sợ mình sẽ bị trời trừng phạt khiển trách, cho sét đánh chết.
Trên đây là sơ lược về các nhân vật thời sự của Trung-Hoa trong ngót một trăm năm cận đại. Tôi hy vọng chúng ta đều sẽ không lãng quên tổ quốc, không thờ ơ với gia đình, và cũng không lơ là đối với sức khỏe của bản thân. Chúng ta chẳng những chăm sóc sức khỏe bản thân, mà còn phải yêu tổ quốc, yêu gia đình. Đây là hy vọng của tôi đối với tất cả Thiện-tri-thức ở Đài Loan. Vì sao tôi lại nói những điều này với quí vị? Đó là để làm cho mọi người thức tỉnh và ý thức được rằng: tất cả đều là số trời, đều đã được quyết định. Con người chẳng qua chỉ như một cái máy — phải chịu sự chi phối, điều khiển của trời đất. Vì thế mà họ trở nên điên đảo, làm những việc tán tận lương tâm, chỉ biết tranh giành quyền lợi. Thật ra, quý vị tranh giành thì cũng vậy mà không tranh giành thì cũng vậy thôi. Mọi người nên học lấy gương của Đại Sư Bộ-Hư — đừng tranh quyền đoạt lợi nữa, mà hãy gấp rút lo tu hành! (Nguồn: Trung Quốc Bách Niên Dự Ngôn Thi của Đại Sư Bộ Hư - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Thiên cơ - Số trời đã định việc Thái tử xuất gia thành Phật:
Ưu-ba-ly
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Con được theo Phật vượt thành xuất gia, tự mình thấy Như Lai sáu năm tinh cần khổ hạnh, đích thân thấy Như Lai hàng phục các ma, chế ngự các ngoại đạo, và giải thoát hẳn mọi tham dục thế gian.”
Giảng giải:
Ưu-ba-ly là người trì giới đệ nhất, là Thượng thủ.... Lúc đó, Ưu-ba-ly, khi đó chưa xuất gia, còn gọi là Xa-nặc, đầu tiên theo Thái tử ra cổng thành về hướng Đông. Thái tử lúc ấy rất vui thích, vì lâu ngày ở trong cung điện rất buồn chán. Ngài thấy một người phụ nữ đang sinh một đứa bé bên lề đường. Cô ta đang khóc lóc than vãn trong cơn quặn đau. Thái tử hỏi Xa-nặc, “Điều gì vậy? Sao cô ta khóc lóc đau đớn như thế?” Khi Xa-nặc giải thích xong, Thái tử xúc động và nhận ra rằng sự sinh nở có liên quan rất nhiều đến cái khổ. 
Ngày hôm sau họ cùng đi về cổng thành phía nam. Thái tử thấy một lão già. Đầu ông ta lắc lư, mắt mờ, răng đã rụng sạch, và hầu như không còn đi được. Thái tử hỏi Xa-nặc, “Người đó sao vậy?”
Người ấy quá già. Xa-nặc trả lời.... Người già như vậy đó sao! Thật là quá khổ.
Ngày thứ ba họ cùng đi về cổng thành phía tây, họ thấy một người đang mắc phải cơn bệnh rất ngặt nghèo. Thái tử hỏi Xa-nặc, “Tại sao thân thể người đó lại khủng khiếp như vậy ?” Xa-nặc trả lời, “Người ấy đang bị bệnh.” 
Ngày thứ tư họ cùng đi về cổng thành phía bắc họ thấy một người vừa chết. Khi Thái tử hỏi về sự kiện nầy, Xa-nặc trình bày sự chấm dứt cuộc sống của con người–cái chết–là như vậy.
Thái tử choáng váng với các cảnh vừa thấy, SINH - LÃO - BỆNH - TỬ. Vào lúc đó, có một vị tỷ-khưu đắp y ca-sa đi qua, ngài hỏi: Ngài là ai?
Tôi là người xuất gia.
Có nghĩa là sao?
Người đã từ bỏ cuộc sống gia đình, tu đạo, được gọi là tỷ-khưu. Họ xuất gia để mong thoát khỏi những cái khổ của sinh lão bệnh tử. Khi đã thể nhập vào Đạo, sẽ thấy không còn có sinh cũng như chẳng còn có diệt–nên chúng ta không còn bị rơi vào sinh hoặc chết, chúng ta có thể đạt được đạo quả.
Ngài có thể cho tôi biết làm sao để được xuất gia? Ngài có thể nhận tôi làm đệ tử được không?
Vị tỷ-khưu vốn là chư thiên từ cõi trời Tịnh cư –Heaven of Pure Dwelling. Thất nhân duyên đã chín muồi, vị ấy liền hoá thân để gặp Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giữa đường. Khi Thái tử xin vị tỷ-khưu hãy làm thầy của mình thì vị tỷ-khưu liền buông gậy xuống đất và bay về trời. Thái tử không còn cách nào để học đạo và chẳng biết làm sao để xuất gia, nên chỉ còn cách trở về hoàng cung.
Lúc ấy, một vị thầy tướng số xem tướng mạo của Thái tử nói cho Vua rằng, “Trong vòng bảy ngày nữa nếu Thái tử không xuất gia, ngài sẽ làm một vị Chuyển luân thánh vương, ngài sẽ trị vì khắp các cõi nước trên thế gian. Việc bệ hạ cần làm là giữ Thái tử trong hoàng cung suốt bảy ngày sắp tới.”
Từ đó, vua Tịnh Phạn canh chừng và cắt phiên cho ngự lâm quân canh gác quanh hoàng cung, cắt đứt mọi phương tiện ra vào cung điện. Lệnh giới nghiêm được ban ra và không ai được ra vào hoàng cung. Như vậy Thái tử bị giam lỏng và canh chừng suốt mọi lúc. Với cách nầy, vua Tịnh Phạn hi vọng rằng con của ngài, Thái tử Tất-đạt-đa sẽ đạt được ngôi vị của một bậc Chuyển luân thánh vương.
Thái tử có thiện căn rất lớn, nên dù có bị canh chừng rất nghiêm ngặt, ngài vẫn không hề bối rối. Vua Tịnh Phạn cho dẫn đến cung điện của Thái tử rất nhiều phụ nữ đẹp. Nhưng thái tử vẫn xem họ với đôi mắt bàng quan, như là không thấy, như là không nghe....
Thế rồi vị thiên thần ở cõi trời Tịnh cư lại hiện ra bảo với Thái tử rằng, “Thái tử, ngài ham vui ngũ dục thế gian mà quên đi lời phát nguyện trong đời trước hay sao? Ngài có còn nhớ lời nguyện trong kiếp trước không?”
Thái tử Tất-đạt-đa trả lời, “Tôi không quên, nhưng nay tôi không biết phải làm sao để thực hiện lời nguyện ấy.”
Vị thiên thần ở cõi trời Tịnh cư lại nói, “Nếu ngài không quên lời nguyện, và vẫn còn ý định xuất gia thì tôi sẽ giúp ngài.”
Thái tử nói, “Thế thì rất hay!”
Thiên thần bảo Xa-nặc–có nghĩa là Ưu-ba-ly mà bây giờ chúng ta đang được đề cập đến–hãy chuẩn bị ngựa, rồi bảo Thái tử và Xa-nặc ra sau vườn hoàng cung để trốn đi. Lúc ấy, Tứ thiên vương xuất hiện, mỗi vị đỡ lấy một chân ngựa rồi nhấc bổng cả ngựa xe, Thái tử và Ưu-ba-ly lên không trung và bay theo. Họ vượt qua mây trời và cỡi sương mù đi xa hơn 3 do-tuần rồi dừng lại trong Núi Tuyết.
Thái tử tu tập ngay khi đến núi.  (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Sắc không. Các tướng - Trần cảnh - Cảnh trần - Trần lao - Trần tướng
Các tướng  sắc không, tối sáng, động tĩnh, thông bít, đậm nhạt, hợp ly, sinh diệt
Hư không kia làm sao vì ông mà thành đồng hay khác? Huống chi lại gọi là một hay chẳng phải một. Thế ông đã biết, sáu căn thọ dụng cũng giống như vậy.
Do hai thứ tối sáng hiển bày lẫn nhaukết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái thấy. Cái thấy ánh hiện ra thành sắc, kết sắc thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnhNhân đó gọi hình thể của ‘nhãn căn’ như trái bồ đào. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo sắc.
Do hai tướng động tỉnh đối chọi lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái nghe. Cái nghe ánh hiện ra thành tiếng, cuộn cái tiếng lại thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘nhĩ căn’ là lá sen non. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo âm thanh.
Do hai tướng thông và bít phát hiện lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính ngửi. Tính ngửi ánh hiện ra thành hương, thu nạp các hương thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘tỉ căn’ như hai móng tay duỗi xuống. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo hương.
Do vị nhạt và vị khác xen lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính nếm. Tính nếm ánh hiện ra thành vị, thu nạp các vị thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnhNhân đó gọi hình thể của ‘thiệt căn’ như mặt trăng lưỡi liềm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo vị.
Do hai tướng ly và hợp cọ xát lẫn nhaukết dính sự yên lặng trong tánh diệu viên mà phát ra cái biết xúc chạm. Tính biết xúc chạm ánh hiện thành xúc, thu nạp các xúc thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi thể của ‘thân căn’ như cái trống cơm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo xúc.
Do hai thứ sinh diệt tương tục lẫn nhaukết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái biết. Tính biết ánh hiện thành các pháp, thu nạp các pháp thành cănBổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi là ‘ý tư,’ như cái thấy trong nhà tối. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo pháp.(Đoạn kinh nầy nói đến ý căn, tức thức thứ sáu, là đối tượng của sinh diệt. Khi niệm trước vừa đình chỉ, niệm sau liền sinh khởi. Năng lực của tánh biết là thu nạp các pháp, chính là trần cảnhÝ căn bị thu hút bởi pháp trần_HT Tuyên Hóa)
A-nan, sáu căn như vậy do tánh giác minh soi lại tính minh giácLàm mất tính sáng suốt kia, kết dính với cái vọng mà phát ra ánh sáng. (chỉ vì qua sự sinh khởi một niệm vọng tưởng muốn soi lại tánh giác minh mà tánh giác ấy biến thành vọng giác và vọng minh–kết quả là, bản thể bị mất đi; và do kết dính vào cái vọng, ánh sáng của tánh thấy trở thành hiện hữu. Điều này tạo ra những tác dụng riêng biệt của tánh thấy, tánh nghe và các tánh khác. Đó thuộc về quang minh của thức thứ tám_HT Tuyên Hóa)
Vậy nên nay ông rời tối rời sáng, thì không có cái thể của thấyRời động rời tỉnh, thì không có cái ngheKhông có thông không bít, thì tính ngửi không phát sinhKhông có mùi vị, không lạt, thì tính nếm không cóKhông rời xa, không kết hợp thì tánh xúc chẳng cóKhông sanh không diệt, thì cái biết gá chỗ nào?
Ông chỉ cần không theo động tĩnh hợp li, điềm biến thông tắc, sanh diệt ám minh, mười hai tướng như vậy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q4)

+ Thực hành Sắc không - Không sắc và Tánh Không: ... Thái tử (Tiền thân đức Phật) có thiện căn rất lớn, nên dù có bị canh chừng rất nghiêm ngặt, ngài vẫn không hề bối rối. Vua Tịnh Phạn cho dẫn đến cung điện của Thái tử rất nhiều phụ nữ đẹp. Nhưng thái tử vẫn xem họ với đôi mắt bàng quan, như là không thấy, như là không nghe (Vua Cha không cho ngài Xuất gia). Đúng là:
Mắt thấy sắc nhưng trong tâm chẳng có gì.
Tai nghe tiếng nhưng tâm chẳng hề biết.
Hoặc là:
Trong chẳng có thân tâm,
Ngoài chảng có thế giới.
Thế rồi vị thiên thần ở cõi trời Tịnh cư lại hiện ra bảo với Thái tử rằng, “Thái tử, ngài ham vui ngũ dục thế gian mà quên đi lời phát nguyện trong đời trước hay sao? Ngài có còn nhớ lời nguyện trong kiếp trước không?”
Thái tử Tất-đạt-đa trả lời, “Tôi không quên, nhưng nay tôi không biết phải làm sao để thực hiện lời nguyện ấy.”
Vị thiên thần ở cõi trời Tịnh cư lại nói, “Nếu ngài không quên lời nguyện, và vẫn còn ý định xuất gia thì tôi sẽ giúp ngài.”
Thái tử nói, “Thế thì rất hay!”... (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

Xem thêm: xem mục Chỉ rõ chỗ hư vọng của sáu căn

+ Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).(CVĐĐ, 376)

+ Thiên Cơ Biểu Lộ hay Biểu Hiện: Thông qua quá trình sinh hóa của các chu kỳ hoạt động tuần hoàn

+ Thiên cơ: Trăm Năm Đại Sự Rối Như Mộng: ... Trên đây là sơ lược về các nhân vật thời sự của Trung-Hoa trong ngót một trăm năm cận đại. Tôi hy vọng chúng ta đều sẽ không lãng quên tổ quốc, không thờ ơ với gia đình, và cũng không lơ là đối với sức khỏe của bản thân. Chúng ta chẳng những chăm sóc sức khỏe bản thân, mà còn phải yêu tổ quốc, yêu gia đình. Đây là hy vọng của tôi đối với tất cả Thiện-tri-thức ở Đài Loan. Vì sao tôi lại nói những điều này với quí vị? Đó là để làm cho mọi người thức tỉnh và ý thức được rằng: tất cả đều là số trời, đều đã được quyết định. Con người chẳng qua chỉ như một cái máy — phải chịu sự chi phối, điều khiển của trời đất. Vì thế mà họ trở nên điên đảo, làm những việc tán tận lương tâm, chỉ biết tranh giành quyền lợi. Thật ra, quý vị tranh giành thì cũng vậy mà không tranh giành thì cũng vậy thôi. Mọi người nên học lấy gương của Đại Sư Bộ-Hư — đừng tranh quyền đoạt lợi nữa, mà hãy gấp rút lo tu hành! (Nguồn: Trung Quốc Bách Niên Dự Ngôn Thi của Đại Sư Bộ Hư - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Phật dạy: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa”. Tất cả chúng sinh đều mang theo nghiệp của chính. Chính vì nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa các chúng sinh..(Xem nguồn)
+ Nghiệp Làm Chủ Số Mệnh: Theo Nhân Quả, mỗi suy nghĩ, lời nói, hành động của Ta trong suốt cuộc đời đều đã bị nghiệp dẫn dắt, khống chế, sắp đặt sẵn và bị trói buộc trong Nghiệp duyên dẫn dắt. Ta chỉ có thể thay đổi được Nghiệp duyên nhờ Tu hành đúng cách (Nguồn: PS Tịnh Không)
+ Số mạng: Chúng ta phải tin sâu nhân quả "Một miếng ăn miếng uống đều đã được định sẵn". Nói theo luật nhân quả, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, nói thật ra, số mạng quý vị đã được định trước, chẳng có cách nào vượt khỏi vận mạng! Mỗi người vốn đã được định sẵn, nếu không có đại thiện - đại ác thì số mạng đại khái chạy theo số đã định (Nguồn: PS T.Không)

+ Vận mệnh là thân phận, phúc họa, sang hèn, vinh nhục… thuộc về số phận. Có người nói số phận đã định đoạt thì không thay đổi được, tuy nhiên thực tế, số phận hoàn toàn có thể biến chuyển được, nếu bạn biết cách. Đức Phật đã giác ngộ một cách chân xác về sự tồn tại của mọi vật:” Nếu cái này hiện hữu, thì cái kia hiện hữu; nếu cái này không hiện hữu, thì cái kia không hiện hữu. Nếu cái này sinh khởi, thì cái kia sinh khởi”. Vận mệnh con người cũng không tồn tại ngoài quy luật ấy. (Nguồn: Xem tại đây)

+ Ấn định vận mệnh kiếp sống của một người: Thể cảm dục có chứa trong nó các đối phần của các trung tâm lực dĩ thái hay các trung nhiếp điểm; qua các trung tâm lực này, các mãnh lực và các năng lượng có nói đến trước đây, tuôn đổ vào thể dĩ thái. Các trung tâm lực này hứng chịu các năng lượng từ bảy hành tinh và từ mặt trời đến mọi phần của bộ phận cảm dục, như vậy, đặt con người vào mối quan hệ chặt chẽ với mọi phần của Thái Dương Hệ. Việc này đưa đến kết quả là ấn định vận mệnh kiếp sống của một người, mãi cho tới khi con người làm thức động cái di sản bất tử của mình và như thế trở nên nhạy cảm với các mãnh lực mà cho đến nay – đối với nhiều người – chưa được nhận biết. Các mãnh lực này tỏa ra từ hình tướng. Đây là lý do giải thích tại sao một lá số tử vi lại thường rất đúng khi lấy số cho người kém tiến hóa và cho người chưa giác ngộ, nhưng lại hoàn toàn sai lạclỗi lầm đối với trường hợp người tiến hóa (LVHLT, 295)

+ Số phận và Định mệnh: Các ảnh hưởng của Hành tinh cho thấy, với người bình thường và kém tiến hóa, khi lý giải đúng, các ảnh hưởng đó có thể và chắc chắn báo hiệu số phận và định mệnh của phàm ngã (CTHNM, 24)

+ Quả báo - Nghiệp Quả báo ứng: Cổ nhân có nói là trước 40 tuổi, quả báo của chúng ta vẫn chịu sự ảnh hưởng của nghiệp báo quá khứ, quả báo còn sót lại. Sau 40 tuổi, nghiệp mà bản thân mình đời này đã tạo dần dần sẽ hiện ra. Lời nói này rất có đạo lý. Ác nghiệp tạo trong đời quá khứ chúng ta không sợ, chỉ cần chúng ta thật sự giác ngộ, thật sự quay đầu đoạn ác tu thiện. Chúng ta nhìn thấy ở trong Liễu Phàm Tứ Huấn, người giống như Viên Liễu Phàm này ở Trung Quốc trước đây, thậm chí là hiện đại rất nhiều. Họ đều có thể thay đổi vận mệnh của mình, vận mệnh đều nắm chắc ở trong tay của mình. Giáo dục của Phật Đà không có gì khác, chính là dạy chúng ta cải tạo vận mệnh. Đoạn ác tu thiện là cải tạo vận mệnh. Phá mê khai ngộ là chuyển phàm thành thánh. Chúng ta muốn cải tạo vận mệnh của mình, thì phải cố gắng học theo Phật. Phật đối với chúng ta từ bi đến tột đỉnh. Phật là hoàn toàn nghĩa vụ, nói lời chân thật. (Kinh Thập Thiện_PS Tịnh Không)

+ CHẤP NHẬN HOÀN CẢNH - LÀM NHẸ NGHIỆP QUẢ - TU SẼ SỬA NGHIỆP: Đừng trách, đừng buồn, đừng thở than. Đừng hờn, đừng giận, đừng ngỡ ngàng Nhẹ nhàng chấp nhận điều ngang trái. Oán hận làm chi chuyện bẽ bàng. Sự đời sóng gió chuyện thường thôi. Phật pháp ít nhiều đã hiểu rồi. Chấp chứa trong lòng chi để khổ. Xả đi quá khứ việc xa xôi. Kém phước, hết duyên vậy đó mà. Tạo thêm duyên phước đừng lo xa. Đâu ai rảnh rỗi ban và giáng. Nghiệp quả chính mình nên nhận ra. Đủ duyên, đủ phước, đủ tài tình. Đủ đức, đủ từ, đủ trí minh. Tự tại thản nhiên chấp nhận hết. Khổ đau, hạnh phúc tự nơi mình.

+ ... Ông Văn Thù này! Bắc Đẩu Cổ Phật quảng đại từ bi, thị hiện giữa bầu trời, chủ trương niên – mệnh , thống lãnh Càn Khôn. Trên từ vua- chúa, dưới đến nhân dân, trời đất núi sông, chim muông cây cỏ, tất cả đều do Thất Tinh Bắc Đẩu cai quản soi chiếu. (Xem Kinh Phật Thuyết Thiên – Trung Bắc Đẩu Cổ Phật)

+ ... Khi bấy giờ Phật bảo Ngài Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Kinh này đã nói có đại oai thần lực” có công năng cứu độ tất cả trọng tội và hay diệt hết thảy nghiệp chướng của tất cả chúng sanh.... Nếu có Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, tể quan, cư sĩ, kẻ trai lành, người gái tín, hoặc sang, hoặc hèn, trong đời sống không luận lớn nhỏ đều thuộc sự thống lãnh của bảy vị tinh tú này chiếu soi. (Xem nguồn)

+ Không hề có vận mệnh mà chỉ có những gì do chính chúng ta định đoạt. (CKMTTL, 160)

+ Linh hồn không có vận mệnh cá biệt mà chìm ngập vào Đấng Duy Nhất. Vận mệnh của linh hồn là vận mệnh của tập thể và của Tổng thể. (LVHLT, 296)

+ Thật là có số mạng không? Con người có khả năng điều khiển vận mạng số kiếp của họ được không?
Đáp: “Người Quân tử biết cách tạo mạng mình, Mạng do ta lập, phước tự mình cầu. Họa phước vô môn, bởi người tự chiêu Quả báo thiện ác như bóng theo hình.” Người quân tử có thể sáng tạo và thay đổi vận mạng của họ. Đa số người đời vì không hiểu, nên cứ nghĩ rằng, mọi sự đều do trời định. Nhưng nếu quý vị có lòng tin và nghị lực, thì trong một niệm là có thể từ chỗ phàm phu nhảy vọt lên quả vị Phật. Nếu như tất cả đều là định mạng, có số mạng nhất định, vậy khi chưa học Phật chúng ta có thể bói quẻ trước để xem mình có cơ hội thành Phật hay không? Số mạng gặp thiện và ác thì không phải là cố định. Nếu quý vị là người đại thiện hoặc là người đại ác, như quý vị đã làm những chuyện vượt qua khỏi phạm vi của người thường, thì vận mạng của quý vị cũng không giống với người thường. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu hỏi 211)

+ Nghiệp Quả Và các Thức trong Con Người: Con thường nghe nói rằng: tất cả những hành động của chúng ta đều sẽ trở thành chủng tử trong thức thứ tám. Con không biết giữa thức thứ tám này và bảy thức trước có mối quan hệ ra sao?
Đáp: Bảy thức trước là cùng làm việc với nhau trong thân thể chúng ta. Bảy thức đó đều chịu sự chi phối của thức thứ tám. Nếu phân tách ra thì bảy thức đó cũng không có trách nhiệm gì mà lãnh trách nhiệm lại là thức thứ tám. Nhưng đến lúc cuối cùng, khi thức thứ tám không thể điều khiển được bảy thức trước thì con người sẽ chết. Lúc chết, thức thứ tám rời khỏi thân thể sau hết, nhưng lúc nhập thai thì nó lại đến trước tiên. Cho nên nói: “Đi sau tới trước làm chủ ông”. Thức thứ tám là chủ nhân ông, nếu y không tới thì bảy thức kia cũng không có tác dụng gì. Bảy thức đều do thức thứ tám mà có, nếu nó bị hư hoại thì bảy thức kia cũng bị hoại luôn. Giống như bộ phận tống dầu trong đầu máy xe mà bị hư thì các bộ phận còn lại đều không có tác dụng gì cả! (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu hỏi 346)

+ Nhân Quả Nghiệp Báo - Ðức Phật dạy:
Có ba nhân căn để sự phát sanh mọi hành động (nghiệp): Tham, sân và si. Một hành động được làm bằng tâm tham, sân và si sẽ chín muồi bất cứ ở cảnh giới nào người ấy tái sanh vào; và bất cứ ở đâu hành động đó chín muồi, ở đó người ấy gặt quả (vipāka) của hành động đó, ở với nó trong đời nầy, trong đời sau và trong những vị lai.(TĂNG CHI BỘ KINH_đoạn 38)

Xem:Nguồn gốc số mệnh - cải mệnh
Xem:Số mệnh - Định Mệnh - Định Nghiệp
Xem: Tổng hợp về xem Chiêm Tinh
Xem:Nhân Quả tổng hợp

+ Tam thiên đại thiên thế giới
Ðoạn kinh này nói về việc giải trừ nạn quỷ Dạ-xoa, La-sát và nạn gông cùm xiềng xích. Nếu quỷ Dạ-xoa cùng La-sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên. Sao gọi là cõi nước tam thiên đại thiên? Nhân vì ba ngàn (thiên) nên gọi là cõi nước tam thiên đại thiên.
Một Thế giới: Chúng ta ở đây gồm có một mặt trời, một mặt trăng, một núi Tu Di, một tứ thiên hạ. Một tứ thiên hạ gồm bốn châu lớn: Nam Thiệm Bộ châu, Bắc Câu Lô châu, Tây Ngưu Hóa châu và Ðông Thắng Thần châu. Bốn bộ châu lớn này thành một tứ thiên hạ. “Một” đây là chỉ một núi Tu Di, một mặt trời, một mặt trăng và bốn châu.
=> Một ngàn núi Tu Di, một ngàn mặt trời mặt trăng, một ngàn tứ thiên hạ, gọi là một tiểu thiên thế giới;
Một ngàn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới;
Một ngàn trung thiên thế giới mới tính là một đại thiên thế giới.
=> Vì có ba chữ ngàn nên gọi là Tam thiên (ba ngàn) đại thiên thế giới. (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - Quán Thế Âm - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Tam thiên đại thiên thế giới: Chuyển luân thánh vương là người trị vì bốn châu thiên hạ: Đông thắng thân châu, Tây ngưu hoá châu, Nam thiêm bộ châu và Bắc-câu-lư châu. Một thế giới hệ bao gồm bốn đại châu nầy, một mặt trời, một mặt trăng và núi Tu-di. Một ngàn tiểu thiên thế giới hệ là một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới được gọi là một đại thiên thế giới. Đây là ý nghĩa của Tam thiên đại thiên thế giới. Một vị Chuyển luân thánh vương cai trị một tiểu thiên thế giới. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Chọn một Pháp môn trường kỳ huân tu để Giác ngộ và thành tựu giải thoát luân hồi:
Thế tôn biết con có tài giảng thuyết, nên dùng pháp luân âm thanh, dạy con tuyên dương chánh pháp. Con theo giúp Phật chuyển pháp luân, nhờ pháp âm như tiếng sư tử mà con thành A-la-hán. Thế tôn ấn chứng cho con là thuyết pháp bậc nhất.

Giảng giải:
Phú-lâu-na thành tựu đạo quả là nhờ thiệt thức–tongue- consciousness. Ngài được như vậy là nhờ siêng năng giảng pháp. Thế nên quý vị thấy, có thể ngộ đạo và chứng quả nhờ siêng năng giảng pháp. Tất cả việc cần làm là quý vị đi sâu vào pháp môn mình đang hành trì. Hãy quyết định dứt khoát một pháp môn và tu tập thật siêng năng. Đừng tán loạn tâm ý khi tu tập, ngày nay áp dụng phương pháp nầy, ngày mai đổi sang pháp môn kia, rồi ngày sau đổi ý, chọn phương pháp khác nữa. Khi thay đổi như vậy, quý vị chỉ phí thời gian vô ích, và quý vị không bao giờ thâm nhập vào một pháp tu nào cả. Quý vị phải chọn dứt khoát một pháp môn và tinh cần công phu vào pháp môn ấy.
Thế tôn biết con có tài giảng thuyết, nên dùng pháp luân âm thanh, dạy con tuyên dương chánh pháp. Không có người nào có thể tranh luận hơn Phú-lâu-na. Khi ngài giảng pháp, âm thanh tròn đầy, vang vọng rất mạnh. Với số đông chừng một ngàn hay một vạn người, cũng chẳng cần micro hay loa phóng thanh, họ vẫn có thể nghe được rất dễ dàng. “Đức Phật dạy con hãy giảng kinh và thuyết pháp.” Con theo giúp Phật chuyển pháp luân, nhờ pháp âm như tiếng sư tử mà con thành A-la-hán. Con sẽ tuyên dương giáo pháp của Đức Phật, lời giảng của con như tiếng gầm của loài sư tử. Khi sư tử rống lên, các sinh vật khác đều sợ hãi.
Khi thiên ma và ngoại đạo nghe tiếng rống nầy, chúng đều quy phục. Thế tôn ấn chứng cho con là thuyết pháp bậc nhất.
Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, con dùng pháp âm hàng phục ma oán, diệt sạch các lậu hoặc, đó là phương pháp tốt nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Tu Tâm tán loạn - Pháp tu quán tướng chót mũi trắng - Quán hơi thở mầu trắng - Quán thấy hơi thở phát sáng.
Tôn-đà-la Nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Lúc con mới xuất gia, theo Phật nhập đạo, tuy giữ đúng giới luật, nhưng trong pháp tam-ma-đề, tâm thường tán loạn, nên chưa đạt được quả vị vô lậu. Thế tôn dạy con cùng với Câu-si-la quán tướng đầu chót mũi trắng.”
Giảng giải:
Nan-đà, A-nan-đà và Tôn-đà-la Nan-đà là ba anh em họ của Phật. Tôn-đà-la là gọi theo tên người vợ của ông là Sundari, có nghĩa là đẹp. Cô ta rất quyến rũ. Nan-đà, phần sau trong tên gọi ấy có nghĩa là ‘thiện.’ Vì có nhiều đệ tử cùng tên, nên Nan-đà được đặt riêng như vậy, có nghĩa là là Nan-đà của Tôn-đà-la.
Tôn-đà-la Nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Lúc con mới xuất gia, theo Phật nhập đạo, tuy giữ đúng giới luật, nhưng trong pháp tam-ma-đề, tâm thường tán loạn, nên chưa đạt được quả vị vô lậu.
Con theo Phật tu đạo, tuy giữ giới luật nghiêm túc nhưng định lực chưa tròn đầy. Tâm con luôn luôn dao động. Con chưa thành tựu được quả vị vô lậu.
Thế tôn dạy con cùng với Câu-si-la quán tướng đầu chót mũi trắng. Vì tâm con quá tán loạn, Đức Phật dạy con và Ma-ha Câu-hi-la, cậu của Xá-lợi-phất, hãy quán sát tướng chót mũi, và hãy quán tưởng điểm màu trắng trên chóp mũi trong khi cả hai mắt đều chăm nhìn vào đó.”
Kinh văn:
Ban đầu con tu quán, trải qua hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở ra vào qua mũi như làn khói trắng, thân tâm bên trong sáng suốt viên mãn đồng như thế giới. Khắp nơi thanh tịnh như ngọc lưu ly. Tướng khói dần dần tiêu mất. Hơi thở trong mũi trở nên màu trắng.
Giảng giải:
Tôn-đà-la Nan-đà tiếp tục trình bày: Khi con hành trì theo phương pháp nầy, Ban đầu con con tu quán, trải qua hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở ra vào qua mũi như làn khói trắng. Con tập trung sức chú ý vào chóp mũi. Sau hai mươi mốt ngày, hơi thở giống như khói, thân tâm bên trong sáng suốt viên mãn đồng như thế giới. Bên trong như có ánh sáng và con thấy rõ những gì đang diễn ra trong các cõi giới, đến mức thấy khắp nơi thanh tịnh như ngọc lưu ly. Thân tâm của con và thế giới trở thành rỗng không và thuần một thể thanh tịnh. Tất cả đều rõ ràng rỗng suốt như ngọc lưu ly. Hơi thở nơi mũi con biến thành màu trắng, nhưng nó dần dần giảm đi. Tướng khói dần dần tiêu mất. Hơi thở trong mũi trở nên màu trắng. Từ sự quán tưởng hằng ngày như vậy, hơi thở con trở nên trắng như điểm sáng trắng trên chót mũi của con.

Kinh văn:
Tâm được khai ngộ, các lậu hết sạch, hơi thở ra vào hoá thành hào quang chiếu khắp mười phương thế giới. Con chứng quả A-la-hán. Thế tôn thọ ký cho con sẽ thành tựu quả vị bồ-đề.
Giảng giải:
Tâm được khai ngộ, các lậu hết sạch. Khi hơi thở của con trở nên màu trắng, tâm con bỗng nhiên được giác ngộ, sạch hết mọi lậu hoặc. Mỗi hơi thở ra vào hoá thành hào quang chiếu khắp mười phương thế giới. Con chứng quả A-la-hán. Ban đầu hơi thở của con giống như khói, rồi nó trở thành màu trắng như điểm sáng trắng trên chót mũi, và cuối cùng nói biến thành hào quang! Ánh sáng chiếu khắp pháp giới trong mười phương. Thế tôn thọ ký cho con sẽ thành tựu quả vị bồ-đề. Đức Phật bảo rằng trong tương lai, con chắc chắn sẽ thành Phật.

Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, con dùng phép nhiếp niệm vào hơi thở, dừng lặng lâu ngày nên phát ra sáng suốt. Sự sáng suốt viên mãn, trừ sạch các lậu hoặc, đó là phương pháp hay nhất.
Giảng giải:
Tôn-đà-la Nan-đà trình bày rằng pháp tu tị thức là thù thắng hơn cả. Đối với ông ta, đó là phương pháp hay nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Chư Phật - Bồ tát xoa đầu: Trong nhiều Kinh Phật, chúng ta thấy nói đến các đức Phật, Bồ tát ủng hộ người tu Chánh đạo bằng cách thị hiện qua việc xoa đầu hành giả, điều này rất tuyệt vời. Nhưng chúng ta cũng nên lưu ý, không nên tham đắm dính mắc vào cảm giác đó, đừng nên mong ngóng có cảm giác đó thì mới đúng Pháp, vì nếu tham đắm dính mắc vào cảm giác đó, tự mãn cho là mình tu giỏi giang thì sẽ bị ma quỷ giả làm Phật, Bồ Tát xoa đầu quý vị. Vậy nên, hành giả cứ tu Thân Tâm thiện lành, tinh tấn đều đặn hàng ngày và tâm KHÔNG mong cầu được xoa đảnh, thì sớm muộn khi đủ duyên sẽ được các Ngài xoa đảnh ủng hộ.

+ Bồ tát Phổ Hiền xoa đầu hành giả: Bạch Thế tôn, con dùng tâm để nghe và phân biệt mọi tri kiến của chúng sinh. Nếu ở phương khác, cách hằng sa cõi giới bên ngoài, nếu có một chúng sinh, trong tâm họ phát tâm tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền, lúc ấy con sẽ phân thân thành trăm ngàn, cỡi voi sáu ngà liền đến chỗ người ấy. Dù người ấy nghiệp chướng sâu nặng, không thấy được con, con cũng thầm xoa đầu người ấy, ủng hộ an ủi, khiến họ được sự thành tựu.
Giảng giải:
Bạch Thế tôn, con dùng tâm để nghe–Con không dùng nhĩ căn để nghe mà dùng tâm–phân biệt mọi tri kiến của chúng sinh. Khi con phân biệt rõ về mọi tri kiến của chúng sinh, con không dùng tâm phân biệt, mà dùng chân tâm, để xác định rõ căn tánh của từng chúng sinh. Con làm được việc nầy không những chỉ trong thế giới nầy, mà cả trong các cõi giới khác. Nếu ở phương khác, cách hằng sa cõi giới bên ngoài–dù những nơi rất xa, cách xa cõi nước nầy rất nhiều–nếu có một chúng sinh, trong tâm họ phát tâm tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền, lúc ấy con sẽ phân thân thành trăm ngàn, cỡi voi sáu ngà liền đến chỗ người ấy. Con liền phân thành trăm ngàn thân rồi đến chỗ người ấy. Dù người ấy nghiệp chướng sâu nặng, không thấy được con, Con vẫn giúp cho, thầm xoa đầu người ấy, ủng hộ an ủi,
Những người siêng năng tu đạo có khi cảm thấy như có kiến bò, hoặc như có ai đang xoa nhẹ trên đỉnh đầu. Đôi khi có người cảm thấy như có con gì bò trên mặt. Khi có điều nầy xảy ra, quý vị đừng có cố gắng lấy tay mình xua tan cảm giác đó đi. Nguyên nhân đó là chư Phật và Bồ-tát đang xoa đầu quý vị. Nếu quý vị để ý, sẽ thấy được điều nầy. Các ngài đang an ủi, động viên chúng ta, thế nên quý vị đừng tìm cách xua tan cảm giác ấy đi. Nếu quý vị thành tâm, sẽ cảm nhận được điều nầy.
Con khiến cho họ được sự thành tựu. Con giúp cho họ được thành tựu trong việc tu đạo. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Lịch tu hàng ngày: Đức Phật dậy tu tại Tâm, lịch tu trong ngày chỉ là khuyến nghị, tùy theo điều kiện mỗi người áp dụng linh hoạt.

+ Công phu tối:
- Tu Chú Đại Bi: Theo trong Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn, hành giả tu Thần Chú Đại Bi thì thường hành lễ lạy đọc tụng mỗi tối 5 biến như trong Kinh dạy;
- Các Kinh khác: Đọc tụng Kinh Địa Tạng, các Kinh Sám hối như Sám Hối Chiêm Sát - Lương Hoàng Sám - Mục Liên Sám - Dược Sư Sám - Thủy Sám ...

+ Công phu khuya: Bồ-tát Phổ Hiền liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Con đã từng làm Pháp vương tử cho chư Phật nhiều như cát sông Hằng. Mười phương Như Lai dạy các đệ tử có căn cơ Bồ-tát tu hạnh Phổ Hiền, hạnh đó, là theo tên con mà đặt tên. ”
Giảng giải:
Bồ-tát Phổ Hiền là vị Bồ-tát có hạnh nguyện rất rộng lớn. Ngài phát 10 đại nguyện vương mà chúng ta thường tụng vào thời công phu khuya. Mười nguyện đó là:
1. Lễ kính chư Phật.
2. Xưng tán Như Lai.
3. Quảng tu cúng dường
4. Sám hối nghiệp chướng.
5. Tuỳ hỉ công đức.
6. Thỉnh chuyển pháp luân.
7. Thỉnh Phật trụ thế.
8. Thường tuỳ Phật học.
9. Hằng thuận chúng sinh.
10. Phổ giai hồi hướng.
Đây gọi là Mười đại nguyện vương của Bồ-tát Phổ Hiền. Trong kinh Hoa Nghiêm, có nguyên một phẩm, gọi là ‘Phổ Hiền hạnh nguyện.’ Công hạnh và nguyện lực của ngài rất lớn, và vì thế nên ngài có cơ cảm rất lớn với chúng sinh. Ngài cỡi trên voi trắng sáu ngà. Màu trắng tượng trưng cho Nhất Phật thừa, và sáu ngà tượng trưng cho Lục độ ba-la-mật-đa. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Người đần độn - Trí nhớ kém tu Quán hơi thở - Pháp tu viên thông Tị Căn thành A La Hán:
Châu-lợi Bàn-đặc-ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật và bạch Phật rằng:
Giảng giải:
Châu-lợi Bàn-đặc-ca rất là đần độn. Do tu không nhớ gì nên muốn tự vẫn. Đức Phật biết liền khuyên:
Đừng chết! Thần cây bảo,–Đừng phí sinh mạng mình. Đó là lí do tại sao ông quá đần độn. Ông hãy cố gắng sửa đổi lỗi lầm của mình trong quá khứ. Khi đã thay đổi, mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp.
Thế chuyện nhân quả từ quá khứ khiến cho tôi bị u mê đời nầy là sao? Bàn-đặc-ca hỏi. Đức Phật bảo:
– Trong một đời trước, ông là một pháp sư tinh thông tam tạng có 500 đệ tử. Ngày nào họ cũng muốn học với ông nhưng ông không muốn dạy họ. Ông không muốn giảng kinh thuyết pháp, dù họ cầu thỉnh. Họ phải quỳ trước ông 3 ngày ba đêm mà ông vẫn không nói cho họ một lời. Vì ông không chịu giảng pháp, nên ông trở nên đần độn đến mức không nhớ nỗi một dòng kệ.
Khi nghe như vậy, Bàn-đặc-ca rất xấu hổ. “Tại sao mình tệ đến mức như vậy?” Điều ấy được gọi là bỏn xẻn pháp (stingy with the dharma). Quý vị nên nhớ kỹ điều nầy. Sau khi quý vị nghe tôi giảng pháp, đến đâu quý vị cũng phải nên giảng giải lại cho mọi người cùng hiểu. Đừng bao giờ nuôi dưỡng thái độ, “Ta sẽ không giảng giải Phật pháp cho các người, nếu các người hiểu ra, ta sẽ ra sao đây?” Đừng có đố kỵ với sự hiểu biết Phật pháp của người khác. Quý vị càng đố kỵ bao nhiêu, thì mình càng trở nên kém hiểu biết. Bàn-đặc-ca đã bỏn xẻn pháp, nên quả báo là ông bị ngu đần. Nhưng vì ông còn nhiều thiện căn, nên ông được sinh vào thời gặp Đức Phật.
Đức Phật nói cho Bàn-đặc-ca biết rõ nguyên nhân trong quá khứ rồi, ngài liền cầm cái chổi lên và hỏi:
Ông biết cái gì đây không?
Thưa, cái chổi.
Ông có nhớ được chăng?
Thưa, nhớ được.
Rồi Đức Phật dạy ông:
– Hãy lặp lại suốt ngày chữ nầy:Chổi, chổi, chổi.
Bàn-đặc-ca lặp đi lặp lại chữ chổi liền vài tuần lễ. Đức Phật bảo ông dừng lại và hỏi
– Như thế nào, ông có nhớ được chăng?
Bàn-đặc-ca trả lời:
Bạch Thế tôn, con nhớ được.
Được rồi! Như Lai sẽ đổi chữ ấy thành ‘quét sạch.’ Hãy cố gắng học thuộc.
Bàn-đặc-ca liền học, ‘quét sạch, quét sạch, quét sạch.’ Và ông đã dùng cái chổi vô hình đó quét sạch những phiền não nhiễm ô của ông. Điều ông đang làm là quét sạch tính bỏn xẻn pháp của chính mình. Quý vị hãy ghi nhớ điều nầy. Hãy nhớ những đạo lý tôi đã giảng trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm và giảng giải cho nhiều người cùng nghe. Nếu quý vị làm việc đó, trong đời sau quý vị sẽ được trí huệ và thông minh. Nếu quý vị muốn thực hành hạnh pháp thí, quý vị sẽ không bao giờ bị ngu đần.

Kinh văn:
Con không có khả năng trì tụng, không có khiếu đa văn. Khi mới được gặp Phật, nghe pháp xuất gia, con cố nhớ một câu kệ của Như Lai, nhưng trong 100 ngày, nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước.
Giảng giải:
Bàn-đặc-ca trình bày lại những điều mình đã trải qua. Con không có khả năng trì tụng, không có khiếu đa văn. A-nan không bao giờ quên điều gì khi đã đọc qua. Ông có khả năng ghi nhớ rất sâu và rất thông minh. Nhưng con, Bàn-đặc-ca, thì quá chậm lụt. Khi mới được gặp Phật, nghe pháp xuất gia. Dù con đã xuất gia, khi con cố nhớ một câu kệ của Như Lai–dòng kệ đó là “Thân ngữ ý nghiệp bất tác ác,” –nhưng trong 100 ngày, nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước. Con cố gắng nhớ được vài chữ đầu lại quên mấy chứ sau. Khi con nhớ được mấy chữ sau lại quên mấy chữ đầu. Thế nên suốt thời gian dài, con không bao giờ thuộc được dù chỉ một câu kệ. Con thật là đần độn.
Bàn-đặc-ca chậm lụt là vì trong quá khứ ông đã từ chối giảng kinh và thuyết pháp cho mọi người. Nay bất kỳ quý vị ở đâu, cũng nên cố gắng giúp cho mọi người đọc kinh hoặc giảng nói Phật để giáo hoá cho mọi chúng sinh. Quý vị làm việc nầy như là sứ mệnh của chính mình. Đừng có tâm bỏn xẻn pháp.
Tôi đã nói chuyện nầy rồi, nhưng muốn lặp lại, Bàn-đặc-ca phải chịu quả báo đần độn vì ông ta không tu hạnh bố thí pháp– ông ta bỏn xẻn pháp. Việc giảng kinh thuyết pháp của tôi hiện nay chính là đang bố thí pháp. Tại sao tôi giảng pháp cho quý vị? Vì nếu tôi hiểu Phật pháp mà không chịu giải thích cho quý vị thì trong đời sau, thậm chí tôi còn không được như Bàn-đặc-ca; ông ta không nhớ được một dòng kệ trong suốt 100 ngày, còn tôi thì có lẽ không nhớ được một chữ trong suốt cả năm. Đó là lí do tôi không nhận tiền khi giảng pháp. ...Từ rất lâu, tôi được nghe một vị pháp sư dạy rằng nếu người nào không tu tập hành bố thí pháp thì quả báo sẽ chịu ngu si, tôi không bao giờ quên điều ấy.
Việc nầy nhắc tôi nhớ lại một chuyện dân gian (public record). Thời nọ có một vị quan, có lẽ đến chức đầu tỉnh, là người rất sùng kính kinh Pháp Hoa. Nhưng có điều rất lạ, trong bộ kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển, ông ta nhớ rất kỹ 3 quyển rưỡi đầu. Ông ta ghi nhớ ngay khi mình đọc kinh xong. Nhưng 3 quyển rưỡi sau thì ông ta không thể nhớ được điều gì cả, dù ông có đọc nhiều lần đi nữa. Ông không thể nào hiểu nổi sao lại như vậy, thế nên ông đến hỏi một vị cao tăng của thời ấy, vốn là một vị thiện tri thức có đạo nhãn và lục thông.
Khi vị quan đầu tỉnh đến, Lão thiền sư ra tiếp, và vị quan trình bày vấn đề. “Trong các kinh Phật, kinh Pháp Hoa thu hút tôi nhất. Tôi rất quý kinh nầy, nhưng tôi chỉ nhớ được 3 quyển rưỡi đầu. Lý do tại sao như vậy?”
Lão thiền sư đáp, “Ồ! Nay ông muốn biết. Được rồi, nhưng khi tôi nói thì ông đừng sửng sốt hoặc không tin.”
thưa, “Xin vâng. Nguyện sẽ tin những lời Thầy dạy.”
Lão thiền sư giải thích, “Nguyên nhân đời nầy ông làm quan là do trong đời trước ông đã làm nhiều công đức. Trong quá khứ ông từng làm thân bò, và ông giúp cày ruộng cho chùa. Từ đó ông đã cúng dường cho Tam bảo, và ông đã có công đức. Nguyên nhân ông chỉ nhớ được 3 quyển rưỡi đầu của kinh Pháp Hoa là như sau: Theo lệ thường, trong chùa phơi kinh vào mỗi ngày mồng sáu tháng 6 trong năm để phòng mối mọt. Vào lúc ấy, ông tiếp xúc được với kinh Pháp Hoa và ông chỉ ngửi được bộ thứ nhất, chưa tới bộ thứ hai. Đó là lí do tại sao ông chỉ thuộc 3 quyển rưỡi đầu cuốn kinh Pháp Hoa trong đời nầy.”
Vị quan đảnh lễ Lão thiền sư, sau đó ông càng tinh tấn hơn trong việc tham cứu kinh Pháp Hoa.
Một con bò ngửi kinh mà được thông minh đến như vậy, trong khi Bàn-đặc-ca từ chối giảng pháp mà trở nên bị ngu si. Nếu quý vị biết so sánh hai chuyện trên đây và chiêm nghiệm thật sâu, cũng đủ để biết những gì mình sẽ nếm trải. Thực vậy, tôi mong rằng quý vị đừng có thử, vì bị chìm đắm như Bàn-đặc-ca sẽ khổ vô cùng. Mặt khác, chúng ta không nên xem thường Bàn-đặc-ca. Dù ông ta chậm lụt, nhưng đã được giác ngộ sau khi niệm mãi “chổi” và ‘quét sạch’ trong một thời gian ngắn. Chúng ta có thể thông minh hơn Bàn-đặc-ca, nhưng chúng ta không được giác ngộ nhanh như ông ta. Thế nên về mặt nầy, chúng ta không được như Bàn-đặc-ca.

Kinh văn:
Đức Phật thương con ngu muội, dạy con pháp an cư, điều hoà hơi thở ra vào. Con quán sát hơi thở của con đến chỗ rốt ráo, từng chi tiết của các hạnh sinh, trụ, dị, diệt trong từng sát-na.
Giảng giải:
Đức Phật thương con ngu muội. Đức Phật thấy thương xót con vì con chậm lụt, nên ngài dạy cho con đọc chữ “chổi” và ‘quét sạch.’ Dạy con pháp an cư, điều hoà hơi thở ra vào. Pháp tu nầy là duy trì hơi thở vào trong khi đếm từ 1 đến 10, rồi duy trì ý thức khi thở rađếm từ 1 đến 10. Bất luận dù ai có đần độn đến đâu cũng có thể đếm từ 1 đến 10. Một hơi thở vào và một hơi thở ra được đếm là 1. Con quán sát hơi thở của con đến chỗ rốt ráo, từng chi tiết của các hạnh sinh, trụ, dị, diệt trong từng sát-na. Trong một hơi thở, thời điểm mà quý vị bắt đầu thở ra được gọi là sinh, và tiến trình tiếp theo được kể là một hơi thở kế tiếp. Tông Thiên thai chia việc quán sát nầy thành sáu giai đoạn – sáu phương pháp quán sát hơi thở. Chúng ta sẽ không đi sâu vào chi tiết việc nầy ở đây. Chỉ nên biết rõ rằng khi bắt đầu thở ra được gọi là sinh, hơi thở tiếp tục được gọi là trụ, khi hơi thở đến gần dứt gọi là dị, khi hơi thở đến cuối gọi là diệt. Điều nầy diễn biến trong từng sát-na. Trong một niệm tưởng có 90 sát-na. Trong mỗi sát-na có 900 lần sinh diệt. Những chi tiết nầy mắt thường không thể nào thấy được.

Kinh văn:
Tâm con bỗng nhiên đạt được đại vô ngại, cho đến hết sạch các lậu hoặc, thành A-la-hán. Trước pháp toà của Phật, con được ấn chứng là bậc vô học.
Giảng giải:
Lúc ấy, con quán sát hơi thở của mình cho đến khi đạt được cảnh giới vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả tướng. Con thở vào thở ra một cách không cần dụng công và tâm con được hợp thành một. Con không còn niệm tưởng phân biệt và tâm phan duyên. Mọi niệm tưởng đều dừng bặt. Tâm con bỗng nhiên đạt được đại vô ngại. Ồ! Con đã quay trở lại và đến được cội nguồn! “Bỗng nhiên” ở đây là chỉ cho sự giác ngộ. Giông như cánh cửa gian phòng bỗng dưng bị bật tung ra. Không khí trong phòng trở nên tức thời thanh tịnh. Chẳng còn không khí ẩm mốc. Quý vị có để ý rằng dù có nhiều người trong giảng đường này nhưng không vẫn thanh tịnh? Nếu quý vị hỏi tôi tại sao, sẽ rất khó trả lời cho quý vị. Chỉ nói rằng trong một bồ-đề đạo tràng, có sự thanh tịnh bất khả tư nghì cho đến cả bầu không khí.
Khi quý vị đến nghe giảng pháp, điều cần nhất là phải vô cùng cung kính. Đó là vì chư Phật và Bồ-tát sẽ nói rằng, “Ông là đồ trứng thối! Tại sao ông đến đạo tràng mà lại hành xử như vậy?” Mọi người nên kính trọng nhau và khiêm tốn, hoà hợp với nhau, Đừng tự mãn hay tự cao. Đừng nói nghiệp chướng câu như thế nầy, “Hãy xem ông đần độn đến mức nào! Tôi giỏi hơn ông nhiều.” Ngay khi quý vị nghĩ như vậy, là mình đã tự làm ngu muội mình đi. Đừng xem thường người khác. Những người trong pháp hội nầy đều là cha mẹ trong quá khứ của mình và là chư Phật trong tương lai. Nếu quý vị xem thường những người nầy, là chẳng khác gì xem thường Phật. Thế nên khi quý vị tu học Phật pháp, quý vị nên nhìn mọi người không phân biệt.
Trong bồ-đề đạo tràng, quý vị phải giữ quy luật. Khi đang nghe kinh, không được đứng dậy và đi lang thang. Đừng ngồi dựa ngửa ra hoặc dựa vào vật gì khác. Hãy ngồi thật ngay thẳng. Đừng có thái độ lười biếng trễ nãi. Thậm chí dù quý vị là một con trùng lười biếng, cũng không nên làm như vậy. Quý vị nên phát huy chính mình thành một người nghiêm túc. Cũng vậy, đừng ngủ khi nghe giảng kinh, nếu như vậy, trong tương lai , quý vị sẽ giống như A-na-luật-đà.
Đoạn kinh tiếp tục: cho đến hết sạch các lậu hoặc. Sau khi chứng ngộ, A-na-luật-đà dần dần đạt được quả vị vô lậu. Và thành A-la-hán. A-na-luật-đà chứng được qủa vị thứ tư của hàng A-la-hán. Trước pháp toà của Phật, con được ấn chứng là bậc vô học. Con luôn luôn theo Phật và ngồi dưới chân Phật để nghe giảng kinh. Đức Phật đã ấn chứng cho con và nói rằng con cũng đã đạt được quý vị thứ tư của hàng A-la-hán.
Một người đần độn như vậy mà cũng chứng được quả vị thứ tư của hàng A-la-hán. Còn chúng ta thì quá thông minh nhưng chưa chứng được đến sơ quả. Quý vị có thấy hổ thẹn không?

Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, như điều chứng được của con, quay hơi thở trở về với tánh không, đó là phương pháp hay nhất. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Hơi thở vô và hơi thở ra: Nhiều nội dung chi tiết cần đọc tại chuyên mục Hơi thở vô và hơi thở ra trong Kinh. Mời xem (Nguồn: Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm - Tương ưng Giác Chi)

+ Đần độn, khờ khạo và già lẫn (Imbecility, idiocy and senil decay): … Nên nhớ rằng, trong các trường hợp đần độn, khờ khạo và trong giai đoạn luống tuổi mà chúng ta gọi là già lẫn, đường dây (thread) gắn chặt vào não bị triệt thóai (withdrawn) trong khi đường dây chuyển (convey) xung lực sự sống vẫn còn bám trụ vào tim. Có sự sống nhưng không có hiểu biết sáng suốt; sự hoạt động (movement) nhưng không có định hướng khôn ngoan. Trong trường hợp già lẫn, có lúc dường như có một bộ máy thuộc loại cao cấp được vận dụng trong đời sống, dường như có hoạt động sáng suốt, nhưng đó là một ảo tưởng do bởi thói quen cũ và do nhịp điệu đã được thiết lập từ xưa mà không phải do ý định (purpose) có phối kết chặt chẽ tạo ra. (LVHLT, 497)

I- Cặp Nhị nguyên: Theo triết học Đông phương thì trong thiên nhiên, mọi vật đều có tiềm phục hai yếu tố đối hợp như: nóng với lạnh; nước với lửa; không với có; âm với dương; tịnh với động vv… Các yếu tố đối hợp này va chạm nhau, xô đẩy nhau, tìm kiếm nhau để rồi điều hòa với nhau mà hợp lại, sinh ra cái mới. Hợp thể mới này dần dần phân hóa, tạo ra hai thể mới để lại tác động nhau, rồi hợp lại với nhau, cứ diễn biến như thế mãi để đưa tới tiến hóa. Chú ý: Đối hợp không phải đối lập hay mâu thuẩn. Đối lập hay mâu thuẩn thường hàm ý là chống đối nhau, còn đối hợp chẳng những không chống đối, mâu thuẩn nhau mà còn sóng đôi nhau, nương tựa nhau, hòa hợp nhau để tạo ra cái mới. (Chú thích của người dịch)

II- Nguồn gốc Sinh khởi các cặp đối lập: 
- Pháp Thế gian - Dịch học Đông phương: Thái cực sinh Lưỡng nghi => Sinh Tứ tượng => Sinh Bát quái ... Sinh không ngừng, vô cùng tận => Tạo ra sự khác biệt từ MỘT THỂ TÁNH.
- Pháp Xuất Thế gian: Theo Pháp ĐẠI THỪA Phật Giáo, đức Phật giảng về Tánh Giác/ Phật Tánh/ Chân Tâm/ Tâm bản nguyên/ Như Lai Tạng ... vốn Diệu minh bao trùm không cùng tận khắp Pháp giới Chúng sinh, chỉ vì sinh Khởi Vọng tưởng muốn Minh Giác => Soi lại Tánh giác Diệu minh => Tạo thành cặp đối lập gồm Vọng giác - Vọng minh kết dinh => Phát ra ÁNH SÁNG và làm mất Bản THỂ thanh tịnh sáng suốt nhiệm mầu;
(Trích giảng: A-nan, sáu căn như vậy do tánh giác minh soi lại tính minh giácLàm mất tính sáng suốt kia, kết dính với cái vọng mà phát ra ánh sáng. (chỉ vì qua sự sinh khởi một niệm vọng tưởng muốn soi lại tánh giác minh mà tánh giác ấy biến thành vọng giác và vọng minh – kết quả là, bản thể bị mất đi; và do kết dính vào cái vọng, ánh sáng của tánh thấy trở thành hiện hữu. Điều này tạo ra những tác dụng riêng biệt của tánh thấy, tánh nghe và các tánh khác. Đó thuộc về quang minh của thức thứ tám_HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q4)

III- Tóm lược các cặp đối nhị nguyên trong Thế giới Chúng sinh:
1- Thế giới: Âm - Dương; Trời - Đất; Ngày/ Có - Đêm/ Không; Thuận - Nghịch; Trên - Dưới; Lên - Xuống; 12 Tướng Động tĩnh hợp li - Điềm biến Thông tắc - Sanh diệt Ám minh
2- Chúng sinh: Nam - Nữ; Đàn ông - Đàn bà; Già - Trẻ; Trai - Gái; Cha - Mẹ; Ông - Bà; Trưởng nam - Trưởng nữ; Trung nam - Trung nữ; Thiếu nam - Thiếu nữ; Giống đực - Giống cái; Phiền lão/ Băng - Bồ đề/ Nước;
+ Đức tánh: Sang hèn - Thọ yểu ...
3- Bầu Hư không: Bầu Hư không chung hợp cả Thế giới - Chúng sinh gồm mây trời, sông núi, cây cối, các loài ... trong đó. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Cúng dường Phật hay Xá Lợi của Phật công đức tương đương: Con từ kiếp trước, trong cõi nầy, có Đức Phật ra đời hiệu là Nhật Nguyệt Đăng. Con được thân cận, nghe pháp tu học với ngài. Khi Phật diệt độ, chúng con thắp đèn sáng mãi để cúng dường xá-lợi, lại lấy vàng thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời nầy qua đời khác, thân chúng con đều viên mãn sáng ngời như sắc vàng thắm. Tỷ-khưu ni Tử Kim Quang đây là quyến thuộc, cùng phát tâm một lần như chúng con.
Giảng giải:
Chúng ta đều phải nhớ một điểm quan trọng: mối quan hệ vợ chồng của hai người nầy từ đời nầy sang đời khác không phải dựa trên tình cảm luyến ái. Đúng hơn, họ kết hôn trong mỗi đời rồi cùng nhau tu tập. Họ cùng tham thiền tập định. Đời nầy sang đời khác, họ tu học theo Phật pháp.
Ma-ha Ca-diếp giải thích: Con từ kiếp trước, trong cõi nầy, có Đức Phật ra đời hiệu là Nhật Nguyệt Đăng. Con được thân cận, nghe pháp tu học với ngài. Vào thời quá khứ lâu xa, có Đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Đăng thị hiện trên đời. Mặt trời chiếu sáng vạn vật ban ngày. Mặt trăng chiếu sáng vạn vật ban đêm. Đèn có thể chiêú sáng cả ban ngày lẫn ban đêm. Ban ngày biểu tượng cho hiện hữu (cái có), và ban đêm biểu tượng cho cái không. Đó là cả hai mặt hiện tượng và bản thể, bản thể và hiện tượng. Đó cũng chẳng phải là hiện tượng và bản thể, và chẳng phải là hiện tượng, chẳng phải là bản thể. Nghĩa là chẳng vướng mắc vào có hoặc không.
Khi Phật diệt độ, chúng con thắp đèn sáng mãi để cúng dường xá-lợi. Công đức cúng dường xá-lợi Phật tương đương với việc cúng dường chính Đức Phật. Chúng con thắp đèn sáng mãi–để Phật pháp được trường tồn và lan rộng–để cúng dường xá-lợi, lại lấy vàng thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời nầy qua đời khác, thân chúng con đều viên mãn sáng ngời như sắc vàng thắm.
Thân tướng của ngài Ma-ha Ca-diếp rất là hoàn hảo, và tôi chắc rằng người vợ của ông cũng rất đoan nghiêm.
Tỷ-khưu ni Tử Kim Quang đây là quyến thuộc, cùng phát tâm một lần như chúng con. Điều quan trọng là họ cùng tu tập với nhau. Mối quan hệ của họ không dựa trên tình cảm luyến ái. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Tu Viên thông Pháp trần - Pháp Không tịch tu Diệt Tận Định:
Con quán sát trong thế gian, sáu trần đều biến hoại, chỉ dùng pháp không tịch tu diệt tận định, thân tâm mới có thể trải qua trăm ngàn kiếp như khảy móng tay.

Giảng giải:
Ma-ha Ca-diếp trình bày tiếp tục: “Con quán sát trong thế gian, sáu trần đều biến hoại.” Căn bản, vốn ngài muốn nói về đối tượng của tâm ý, nhưng ở đây ngài đề cập đến sáu trần, vì đối tượng của tâm ý vốn không có hình tướng; chúng chỉ là bóng dáng của 5 giác quan. Nếu 5 giác quan trước đó không tồn tại, thì đối tượng của tâm ý cũng không còn, vì chúng không có tự thể riêng của nó. Sắc thanh hương vị xúc pháp, sáu trần–dời đổi, biến hoại. Chỉ dùng pháp không tịch tu diệt tận định. Chúng chỉ là không tịch. Thể tính của chúng là không. Vốn chẳng có gì cả. Căn cứ vào yếu tính nầy, chúng con tu tập diệt tận định. Có nghĩa là diệt hẳn thức thứ sáu và không còn y cứ vào thức phân biệt nầy nữa.” Đây cũng gọi là diệt thọ tưởng định.
Nay thân tâm mới có thể trải qua trăm ngàn kiếp như khảy móng tay. Tâm của Ma-ha Ca-diếp có thể trải qua một thời gian dài hằng trăm ngàn kiếp như trong một khoảnh khắc ngắn–như khảy móng tay. Nay Ma-ha Ca-diếp thực sự đang nhập định–trong Diệt tận định–trong Kê túc sơn ở tỉnh Vân nam Trung Hoa.

Kinh văn:
Con do quán các pháp là không nên thành A-la-hán. Thế tôn nói con tu hạnh đầu-đà bậc nhất. Khai ngộ được diệu tính của các pháp, thì các lậu hoặc tận diệt. Nay Phật hỏi về pháp tu viên thông, theo điều sở chứng của con, thì do pháp trần là hơn cả(Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Nhị nguyên nguyên thủy (Primordial duality): Tinh thần và vật chất (Spirit and matter).(TLHNM II, 381)
+ Nhị nguyên thứ cấp (Secondary duality): Linh hồn và thể xác (Soul and body).  (TLHNM II, 381)
+ Cặp đối hợp - The pairs of opposites: Cõi cảm dục là nơi mà các cặp đối hợp tác động và tương tác, nơi mà sức lôi kéo của các nhị nguyên quan trọng được nhận thấy mạnh mẽ nhất. Trước tiên, là sự tương tác giữa linh hồn với hiện thể của nó, vật chất. Nhưng có nhiều nhị nguyên kém quan trọng cũng có vai trò của chúng và người thường cũng dễ nhận biết. Ánh sáng (light) và bóng tối (darkness) tác động lẫn nhau, khoái lạc (pleasure) và đau khổ (pain) cũng thế. Thiện (good) và ác (evil) gặp nhau và tạo thành trường tác động (play ground) của các Thiên Đế. Nghèo (poverty) và giàu (riches) được đền bù cái này dựa vào cái kia. Toàn bộ tình hình kinh tế hiện đạibản chất cảm dục, đó là hậu quả của dục vọng và là kết quả của việc sử dụng chắc chắn là ích kỷ các sức mạnh của vật chất. Nóng (heat) và lạnh (cold), theo như chúng ta hiểu, theo cách đặc biệt nhất, là kết quả của sự tương tác của các cặp đối hợp, và là một đường lối lý thú của nghiên cứu huyền linh, chính nó liên quan với các hậu quả của các xúc cảm của con người lên các tình trạng của khí hậu… Đối với con người, huyền nhiệm của việc giải thoát nằm trong việc làm quân bình các mãnh lực và làm thăng bằng các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà kẻ tìm đạo tìm ra và bước lên, không rẽ sang phải cũng không sang trái. Phải luôn luôn nhớ rằng khi các cặp đối hợp được phân biệt, khi một người làm thăng bằng được các mãnh lực của bản chất riêng của mình, khi y đã tìm thấy Thánh Đạo và trở nên Thánh Đạo, bấy giờ, y có thể hoạt động với các sức mạnh của thế gian, có thể duy trì được sự thăng bằng và quân bình của các năng lượng thuộc ba cõi thấp và nhờ thế trở thành kẻ cùng hoạt động với các Chân Sư Minh Triết. (LVHLT, 225)

+ Cặp Xung đột Đối hợp: Vào lúc mà việc định hướng bên trong hướng tới cõi giới giá trị cao siêu xảy ra, bấy giờ dĩ thái lực hay sinh lực lại xung đột với trạng thái thấp nhất của con người, tức thể xác trọng trược, trận chiến của cặp đối hợp thấp lại xảy ra. Thật là lý thú mà ghi nhận rằng chính trong giai đoạn này, cần phải chú trọng vào cách giữ giới luật cho xác thân, vào các yếu tố kềm chế như là hoàn toàn có tiết độ, sống độc thân và ăn chay, chú trọng vào vệ sinh cá nhân và tập thể dục. Nhờ các yếu tố này mà việc kềm chế sự sống bởi hình hài (tức biểu hiện thấp nhất của trạng thái thứ ba của thánh linh) có thể bị xóa bỏ, con người thoát khỏi trận chiến thực sự của các cặp đối hợp. (TLHNM II, 309)

+ Cắp đối phát sanh: 12 Tướng các cặp đối lập động tĩnh hợp li, điềm biến thông tắc, sanh diệt ám minh phát sinh Căn tánh:
1. Sáng - Tối hiển bày lẫn nhau => Cái Thấy - Ánh hiện thành SẮC;
2. Động - Tịnh đối chọi => Cái Nghe;
3. Thông - Bít phát hiện lẫn nhau => Tính Ngửi;
4. Không vị - Mặn nhạt xen lẫn nhau => Tính Nếm;
5. Ly - Hợp cọ sát => Biết Xúc chạm;
6. Sinh - Diệt tương tục => Cái Biết - Ánh hiện thành các Pháp(Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

 + Giác Quan hay Các Căn theo Minh Triết mới:
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, nhìn vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)
+ Giác quan
(sense): Các giác quan là những cơ quan giúp cho con người biết được môi trường chung quanh. Trong con vật cũng có 5 giác quan, nhưng không có năng lực suy tư liên kết. Các giác quan này biểu hiện như một năng lực tập thể, tương tự với một bản năng nòi giống ở giới nhân loại. Mỗi một trong 5 giác quan này đều có mối liên hệ nhất định với một trong 7 cõi biểu lộ và cũng có một tương ứng trên tất cả các cõi. (ASCLH, 322–323)

       Cõi          Giác quan/ Căn
1. Hồng trần ... Thính giác/ Nhĩ - Tai

2. Cảm dục..... Xúc giác/ Thân xác
3. Trí tuệ ........ Thị giác/ Nhãn- Mắt
4. Bồ đề ......... Vị giác/ Thiệt- Lưỡi
5. Niết Bàn .... Khứu giác/ Tị - Mũi

 + Giác Quan hay Các Căn - Năng Minh hay Lục nhập theo Phật dậy:
Trích đoạn: Phật bảo A Nan... Lấy đó mà suy nghĩ thì Căn không phải một cũng không phải sáu. Mà cũng một cũng sáu. Tại vì sự chấp mê điên đảo vô thỉ cho nên cái thể viên minh kia lại sanh ra một, sanh ra sáu. Các căn/ Giác quan gồm:
1- Nhãn Căn - Mắt: Do 2 thứ sáng và tối hiển bày lẫn nhau, cái tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên, phát ra cái gọi là thấy. Cái thấy phản ánh ra gọi sắc (Sắc trần). Cơ quan tiếp thu sắc được gọi là nhãn căn. Nhãn căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, hình dáng trông như trái nho.
2- Nhĩ Căn - Tai (Nghe khắp 10 phương - Không khuyết): Do 2 thứ động và tĩnh đối chọi nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là nghe. Cái nghe phản ánh ra gọi là tiếng (thanh trần). Cơ quan tiếp thu tiếng được gọi là nhĩ căn. Nhĩ căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, hình dáng trông như cái lá sen non.
3- Tỷ Căn - Mũi (Thở vào - Dừng - Thở ra; Khuyết 1 nhịp dừng): Do 2 thứ thông và bít phát hiện lẫn nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên, phát ra cái gọi ngửi. Cái ngửi phản ánh ra gọi là hương (Mùi hương trần). Cơ quan thu nạp hương được gọi là tỷ căn. Tỷ căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành hình dáng trông như hai ngón tay duỗi xuống.
4- Thiệt Căn - Lưỡi (Diễn nói - Lý vô cùng; Không khuyết): Do 2 thứ lạt và vị xâm lấn lẫn nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là nếm. Cái nếm phản ánh ra gọi là vị. Cơ quan nhận thức vị được gọi là thiệt căn. Thiệt căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành hình dáng trông như nửa vành trăng.
5- Thân Căn - Xác Thân (Xúc chạm => Cảm xúc Biết và Không. Tách rời là 1, Hợp lại là 2 - Khuyết 1): Do 2 thứ hợp và ly cọ xát nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là biết. Cái biết phản ánh ra gọi là xúc. Cơ quan nhận biết xúc được gọi là thân căn. Thân căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành, hình thể trông như cái trống cơm.
6- Ý Căn - Bộ Óc (Nạp các Pháp Thế gian/ Xuất thế, bao dung vô cùng - Không khuyêt): Do 2 thứ sinh và diệt tiếp nối nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng với bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là biết. Cái biết phản ánh ra gọi là pháp. Cơ quan tiếp thụ pháp được gọi là ý căn. Ý căn vốn là tứ đại thanh tịnh, biểu hiện qua khái niệm và tư duy, tựa hồ như chất đậu hủ non (bộ óc). (Nguồn: xem mục Chỉ rõ chỗ hư vọng của sáu căn)

+ Lục nhập: Như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, từ thập nhị xứ cho đến thập bát giới, khi nhân duyên hòa hợp thì hư vọng sinh ra, khi nhân duyên tách rời, hư vọng gọi là diệt. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Quyển 3)

+ Các trần gồm 5 là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc - Đối tượng/ các Tướng của 5 Căn: Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân
+ Các loại sắc: Âm thanh quy về nơi sắc trần. Nơi năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.
+ Ngũ ấm - Ngũ uẩn hay Năm lớp vỏ/ màn che trong Minh triết Ấn Độ (Phật giáo gọi là ngũ Ấm hay ngũ Uẩn) là những cái tích tụ, chất đầy, bao phủ che lấp lên, như Đức Phật dậy 5 lớp màn che/ Bóng tối che lấp mặt trời Chân Tâm., gồm Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức. (Nguồn: Xem tại đây)
+ Các Pháp: Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất rằng hãy nên chú ý lắng nghe cho kỹ.
"Thị chư pháp không tướng vô tánh, (các pháp vốn không tướng vô tánh)". (Nguồn: Bát Nhã Ba Đa Mật Đa Tâm Kinh_HT Tuyên Hóa giảng)

+ Pháp Trần: ... Nếu nhân pháp trần sinh ra, thì các pháp trong thế gian, không ngoài năm trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc, có tướng trạng rõ ràng đối với năm căn, đều không thuộc về phần thu nhiếp của ý căn.... Các pháp trần đều không thể nhìn thấy được. Thế nên quý vị có thể tìm kiếm tướng trạng của chúng, nhưng không thể nào nhìn ra được. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)

Thọ tưởng hành thức như không sắc
Lại nữa Xá Lợi nên lắng nghe kỹ
Các pháp đều không tướng vô tánh
Không sanh không diệt, thông tịch nhiên
Không nhơ không sạch xa nhiễm ô
Không tăng không giảm ngộ trong huyền
Thâm sâu cực tĩnh vượt tạo hóa
Đốn giác ngã pháp vốn viên dung."
Bên trên giảng sắc không khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc.
Sắc này có nhiều loại sắc pháp, nhưng tổng quát không ngoài ba loại, tức là khả đối khả kiến sắc, khả đối bất khả kiến sắc, bất khả bất đối kiến sắc.

Sao gọi là khả đối khả kiến sắc ? Khả đối tức là có thể đối mặt. Khả kiến tức là có thể thấy. Khả đối bất khả kiến sắc là có thể đối đãi, nhưng không thể nhìn thấy. Lại bất khả đối bất khả kiến sắc là chư vị có đối đãi cũng không có đối đãi, thấy cũng không thể thấy sắc. Loại sắc này xuất phát từ đâu ? Do phân biệt từ cảnh giới sáu trần như hình sắc, âm thanh, hương vị, xúc chạm, pháp.
Sao gọi là khả đối khả kiến sắc ? Thí như nhân, ngã, tha, chúng sanh, núi non, sông hồ, đất đai... vạn tượng bao la, đều có hình sắc, có sắc tướng, có hình chất nên có thể thấy. Do đó đều gọi là khả kiến khả đối sắc (có thể thấy, sắc có thể đối đãi), tức chung quy nơi sắc pháp.
Lại nữa, chung quy nơi sắc pháp mà khả đối bất khả kiến (sắc có thể đối đãi mà không thể thấy). Đối là có thể đối đãi, nhưng chư vị không thể nhìn thấy, chỉ có thể nghe thôi. Tại sao ? Nay nói về âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm. Đối với thanh trần, tức âm thanh mà chư vị có thể nghe. A ! Âm thanh hoặc hay hoặc dở, chư vị có thể đối trước với nó mà sanh tâm thức phân biệt, nhưng không thể thấy được âm thanh. Hãy nói, âm thanh là sắc gì, là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng ? Nó không có hình sắc. Âm thanh này hình dáng ra sao, hình tròn, hình tam giác, hình dài ? Chư vị không thể biết, không thể thấy. Không thể thấy được thể tướng của thanh trần, nên gọi là khả đối bất khả kiến sắc (có thể đối trước, nhưng không thể thấy). Âm thanh này chung quy nơi sắc trần. Nơi năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.....

Bên trên, giảng về ba loại sắc, tức là sắc có thể đối có thể thấy, sắc có thể đối không thể thấy, sắc không thể đối không thể thấy. Đó là mười một loại sắc pháp. Tại sao thế ? năm căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý, lại thêm sáu trần sắc, thanh hương vị xúc pháp. Năm căn đối với sáu trần sanh ra 11 loại sắc pháp. Mười một loại này cũng được phân tách từ ba loại sắc ở bên trên, tức là sắc có thể đối có thể thấy, sắc có thể đối không thể thấy, sắc không thể đối không thể thấy.
Có thể đối có thể thấy, tôi đã giảng ở phần trên rồi, tức là tất cả vật có hình tướng, hiển lộ hình sắc trước mắt chư vị. Có thể đối không thể thấy tức là bốn loại âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm. Âm thanh có thể nghe nhưng không thể thấy. Hương vị xúc cũng như thế, chỉ có cảm giác mà không thể thấy. Không thể đối không thể thấy tức là pháp trần, cũng chung quy nơi sắc pháp. Sắc pháp này không thể thấy được, cũng không thể cảm giác được, nhưng trong ý niệm lại biết đến. Sao gọi là sắc pháp ? Vì nó là ảnh tử của năm trần lưu lại trong tâm thức. Loại ảnh trần này cũng thuộc về sắc pháp. Đó là một loại sắc trong ý thức. Bên trên đã nói sắc tức là không. Thọ tưởng hành thức cũng đều không, cũng lại đồng dạng với sắc trần. Sắc trần từ đâu đến ? Sắc trần đối với sáu căn sanh ra sáu thức, nên biến thành sắc trần....

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất rằng hãy nên chú ý lắng nghe cho kỹ.
"Thị chư pháp không tướng vô tánh, (các pháp vốn không tướng vô tánh)".
Tánh của sáu căn, thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, tri vốn là không.
Sắc do tánh mà hiển. Sắc cũng là không. Chẳng thể bỏ rời sắc mà giữ được không. Bàn về sắc và kiến tánh, chư vị bảo rằng sắc có trước hay kiến tánh có trước ? Nếu nói sắc có trước thì chưa thấy gì mà sao lại hiển xuất ra sắc? Nếu nói đầu tiên có kiến tánh, thì khi không có sắc có thể đối thì kiến tánh (thấy tánh) chỗ nào ? Không có sắc mà chư vị kiến tánh (thấy tánh) thì không ích lợi gì. Thế nên phải thấy tánh vốn là không. Sắc cũng là không. Chư vị chớ khởi ra loại biến kế chấp tánh. Chấp trước có tức là có, không tức là không. Không và có vốn không hai. Chấp thấy có tức nhất định là có, thì không thể liễu giải (hiểu rõ) đạo lý không hai của có và không.

Vì vậy, nếu hướng ngoại truy cầu, thì đem đầu đặt lên đầu, chấp trước khởi vọng. Vì thế, Phật thuyết "Tâm Kinh" tức là thuyết về đạo lý không hai của có và không. Diệu pháp không hai của có và không. Thọ tưởng hành thức cũng đồng với không và sắc. Chư pháp vốn không tướng vô tánh.
Tất cả năm uẩn pháp, sắc, thọ tưởng hành thức đều là tổng hợp các pháp, tức là mười một loại sắc pháp, tám tâm pháp, năm mươi mốt tâm sở pháp, hai mươi bốn bất tương ưng pháp, sáu vô vi pháp, thành một trăm pháp. Mười một sắc pháp tức là mười một loại sắc trần vừa giảng ở trên, cũng là năm căn đối với sáu trần. Năm căn là năm loại sắc pháp. Sáu trần là sáu loại sắc pháp. Cộng thành mười một loại sắc pháp. Tám tâm pháp tức là nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na hức, cùng a lại da thức, cộng thành tám tâm pháp. Năm mươi mốt tâm sở pháp nghĩa là thọ và tưởng phân tích tường tận ra thành năm mươi mốt loại tâm sở pháp. Hành tức là hai mươi bốn bất tương ưng pháp. Thức cũng là tám thức đã nói ở trên. Lại thêm sáu vô vi pháp, tổng cộng thành một trăm pháp.
Một trăm pháp này do hai vị bồ tát Thiên Thân, Vô Trước tóm gọn sáu trăm sáu mươi pháp của bồ tát Di Lặc phân thành một trăm pháp. Bồ tát Di Lặc lấy thời số một đời thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni mà biên thành sáu trăm sáu mươi loại pháp. Vì sáu trăm sáu mươi pháp quá nhiều, nên sau này, bồ tát Thiên Thân và Vô Trước nghiên cứu tóm thâu lại thành một trăm pháp. Do đó nói rằng các pháp vốn không tướng, vô tánh, tức bảo rằng năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức đều là không, chẳng có tự tánh. (Nguồn: Bát Nhã Ba Đa Mật Đa Tâm Kinh_HT Tuyên Hóa giảng)

+ Ánh sáng Nhật Nguyệt - Mặt trăng và Mặt trời - Cái đèn chiếu sáng ngày đêm
Ma-ha Ca-diếp giải thích: Con từ kiếp trước, trong cõi nầy, có Đức Phật ra đời hiệu là Nhật Nguyệt Đăng. Con được thân cận, nghe pháp tu học với ngài. Vào thời quá khứ lâu xa, có Đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt Đăng thị hiện trên đời. Mặt trời chiếu sáng vạn vật ban ngày. Mặt trăng chiếu sáng vạn vật ban đêm. Đèn có thể chiêú sáng cả ban ngày lẫn ban đêm. Ban ngày biểu tượng cho hiện hữu (cái có), và ban đêm biểu tượng cho cái không. Đó là cả hai mặt hiện tượng và bản thể, bản thể và hiện tượng. Đó cũng chẳng phải là hiện tượng và bản thể, và chẳng phải là hiện tượng, chẳng phải là bản thể. Nghĩa là chẳng vướng mắc vào có hoặc không.

Khi Phật diệt độ, chúng con thắp đèn sáng mãi để cúng dường xá-lợi. Công đức cúng dường xá-lợi Phật tương đương với việc cúng dường chính Đức Phật. Chúng con thắp đèn sáng mãi–để Phật pháp được trường tồn và lan rộng–để cúng dường xá-lợi, lại lấy vàng thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời nầy qua đời khác, thân chúng con đều viên mãn sáng ngời như sắc vàng thắm.
Thân tướng của ngài Ma-ha Ca-diếp rất là hoàn hảo. và tôi chắc rằng người vợ của ông cũng rất đoan nghiêm.
Tỷ-khưu ni Tử kim quang đây là quyến thuộc, cùng phát tâm một lần như chúng con. Điều quan trọng là họ cùng tu tập với nhau. Mối quan hệ của họ không dựa trên tình cảm luyến ái. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Quán bất tịnh: Ưu-ba-ni-sa-đà, “Con quán tướng bất tịnh, sanh lòng nhàm chán, ngộ thể tánh của sắc, từ tướng bất tịnh, đến tướng xương trắng, tướng vi trần, đều quy về hư không. Thấy cả cái không và cái sắc đều là không, nên thành bậc vô học. ”
Giảng giải:
Ưu-ba-ni-sa-đà, Ông luôn luôn bị quấy rầy bởi ham muốn tình dục mạnh mẽ. Do đó, Đức Phật dạy ông tu tập pháp quán bất tịnh.... Pháp thực hành chính gọi là cửu tưởng quán.
1. Trướng tưởng: Sau khi chết, tử thi bắt đầu phồng lên.
2. Thanh ứ tưởng: Sau khi phồng lên, thây chết vỡ ra ở những vùng bị thâm tím.
3. Hoại tưởng: Sau khi thây chết ngã màu xanh, nó bắt đầu vỡ ra.
4. Huyết đồ tưởng: Khi thân thể tan hoại, máu và các thứ dịch chảy ra.
5. Nùng lạn tưởng: Mủ bắt đầu rỉ ra ngoài thân và bắt đầu mục nát.
6. Trùng đạm tưởng: Mủ vỡ ra, thân rã mục, côn trùng đục khoét phần còn lại.
7. Phân tán tưởng: Thịt bắt đầu tiêu tan mất.
8. Bạch cốt tưởng: Khi thịt đã tiêu sạch, chỉ còn xương trắng.
9. Thiêu tưởng: Toàn thân bị thiêu và chỉ còn tro. Tro bay vào hư không và trở thành cát bụi, cuối cùng chẳng còn gì.
Ưu-ba-ni-sa-đà rất thăm đắm sắc dục, ông ta để ý mọi người phụ nữ mà ông đã gặp và để ý đến sắc đẹp của họ, Ông ta để hết mọi tâm lực vào việc nầy... Đức Phật dạy ông quán tưởng về chín thứ bất tịnh nầy => sanh lòng nhàm chán.
Từ đó con nhận ra, dù có đẹp đến đâu, khi cô ta chết đi, xác của cô ta sẽ trương phồng lên ghê tởm như bầt kỳ xác chết nào khác. Xác ấy sẽ trở nên thâm tím, thịt da rữa ra... Rồi máu mủ từ trong xác sẽ rỉ ra, xác chết bắt đầu thối rữa... Chỉ nghĩ đến thôi là muốn nôn mửa ra rồi! ... Rồi trùng từ trong xác sinh ra, loài lớn có loài nhỏ có. Ruồi nhặng bay đền từng đàn. Chúng đến bên xác và lúc nầy thì quý vị không còn thấy ghen tương gì nữa. Thịt tan rữa ra và chỉ còn xương... Qua pháp quán nầy, con thấy chán tất cả mọi thứ sắc
Tướng vi trần, đều quy về hư không. Thấy cả cái không và cái sắc đều là không, nên thành bậc vô học - A-la-hán. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q 5)

+ Quán Thân bất tịnh: Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ:
Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
 "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một  vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu".
"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại".
"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
"Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
"Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
(Kết luận)
Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm; hoặc không cần gì đến bảy năm, trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm; hoặc không cần gì đến một năm, trong bảy tháng, không cần gì bảy tháng, sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, hoặc trong nửa tháng, hoặc không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. (Nguồn: Kinh Niệm Xứ)

+ Tứ Nguyên Huyền Bí Trong Con Người:
+ Một nhận xét trong khi nghiên cứu cung Hoàng đạo Leo - Sư Tử, rất thú vị của Chân Sư DK (CTHNM, 338):

+ Với Mercury - Thủy Tinh: Ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến tứ nguyên của con người – tinh thần, linh hồn, trí tuệ và bộ óc. Năng lượng này nó chuẩn bị cho người tìm đạo được điểm đạo. Tứ nguyên cao cấp này, bạn có:
     Sirius          Leo           Mercury       Saturn
Tinh Thần ... Linh hồn .... Trí tuệ ....... Bộ óc
Sự sống ..... Tính chất ... Giác ngộ ... Sắc tướng
Hít vào ........Tạm nghỉ ... Thở ra ...... Tạm nghỉ
- Bảng trên mang lại cho bạn manh mối cho thực tại căn bản, và việc cần thiết thiền định như được thực hành bởi đệ tử và điểm đạo đồ (CTHNM, 338)

+ Ngài Ma Ha - Ca Diếp: Trích giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm
Các vị Thanh văn được tỉch diệt trong diệt tận định như Ma-ha Ca-diếp trong hội nầy. Đây là bậc thứ chín trong cửu thứ đệ định, tức diệt thọ tưởng định. Một số vị trong hội chúng nầy đã đạt được diệt thọ tưởng định và chứng được quả vị A-la-hán. Ai trong hội nầy đã chứng được diệt tận định? Ma-ha có nghĩa là lớn, tức chỉ cho ngài Trưởng lão Ca-diếp, vốn trước kia là ngoại đạo thờ lửa. Trong đạo Phật thường gọi ngài là Kim sắc tiên. Ngài hiện nay vẫn còn đang nhập định trên đỉnh Kê túc sơn,[14] tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Ngài không xả thân và thọ thân sau. Ngài đang ở trong diệt tận định. Trong tương lai, khi Bồ-tát Di-lặc ra đời, ngài Ma-ha Ca-diếp sẽ trao y bát của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lại cho Bồ-tát Di-lặc. Ngài đã nhập định ở đó chừng ba ngàn năm. Một người có thể ngồi như thế một ngàn năm, hoặc thậm chí một vạn năm trong định vẫn không là vấn đề.
* Chúng ta tu đạo là để duy trì sự tự chủ khi đang còn khoẻ mạnh, khi chúng ta đang tỉnh giác và còn minh mẫn, khi bệnh, khi ngủ, khi mơ, ngay cả khi chết. Nếu chúng ta được như muốn chết là chết, và đến mức nếu không muốn chết, thì cứ sống mà không gặp vấn đề gì cả, thoát khỏi mọi ràng buộc, thế thì mới có thể nói là mình tự tại đối với sinh tử. Nếu muốn sống, vẫn được; và nếu muốn chết, vẫn có thể chết liền. Chẳng hạn, nếu muốn sống, quý vị có thể sống đến hàng ngàn năm như Tổ Ma-ha Ca-diếp. Nếu quý vị muốn chết, liền có thể chết trong tư thế đứng, ngồi hoặc nằm. Quý vị muốn làm bất cứ cách nào mình thích.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương IV)

+ Ma Ha - Ca Diếp vẫn đang nhập Con quán sát trong thế gian, sáu trần đều biến hoại, chỉ dùng pháp không tịch tu diệt tận định, thân tâm mới có thể trải qua trăm ngàn kiếp như khảy móng tay (Giảng: Tâm của Ma-ha Ca-diếp có thể trải qua một thời gian dài hằng trăm ngàn kiếp như trong một khoảnh khắc ngắn–như khảy móng tay. Nay Ma-ha Ca-diếp thực sự đang nhập định–trong Diệt tận định–trong Kê túc sơn ở tỉnh Vân nam Trung Hoa). (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Tôn giả Ma-ha Ca Diếp: Là người có địa vị rất quan trọng trong Phật giáo. Chư Phật thuyết pháp, các vị Ðại Phạm thiên cùng tụ hội và dâng hoa sen bằng vàng lên cúng Phật. Có một hôm, Phật cầm hoa sen vàng đưa ra trước đại chúng, bấy giờ, trong pháp hội có hàng trăm vạn trời, người, không ai biểu lộ thái độ gì, chỉ có Tôn giả Ma-ha Ca Diếp mỉm cười. Lúc đó Phật nói: "Ta có Chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, pháp môn tâm ấn, thật tướng vô tướng, đã truyền cho Ca Diếp." Vì thế ngài Ca Diếp là Tổ đời thứ nhất của Phật giáo ở Thiên Trúc. Tôn giả hiện giờ vẫn còn sống ở thế giới này. Sau khi Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả Ma-ha Ca Diếp bèn đến núi Kê Túc ở Vân Nam nhập định, đợi lúc Ðương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật ra đời thành Phật, ngài mới đem cà-sa viền vàng giao cho Ðức Phật Di Lặc, chừng đó ngài mới hoàn tất những việc cần làm.
Khi Tôn giả Ca Diếp quy y Phật xuất gia làm Tỳ-kheo thì đã một trăm sáu mươi tuổi, qua bốn mươi chín năm Phật thuyết pháp, hơn ba trăm hội giảng kinh, Tôn giả đã hơn hai trăm tuổi. Từ khi Phật nhập diệt đến nay đã hơn ba ngàn năm, có rất nhiều người tu hành đến núi Kê Túc để triều bái Tổ sư Ca Diếp. Núi Kê Túc thường có ba thứ ánh sáng: ánh sáng Phật, ánh sáng vàng, ánh sáng bạc. Khi đến núi Kê Túc lễ lạy, nếu người có lòng chí thành thì có thể nghe được tiếng chuông vang ra từ trong núi, chỉ nghe tiếng chuông chứ không thấy chuông, cách núi Kê Túc mấy trăm dặm đều có thể nghe được. Ðó thật là cảnh giới bất khả tư nghì!
Tôn giả Ca Diếp là người được hai cái bậc nhất trong số đệ tử Phật. 1) Ðầu-đà bậc nhất, 2) Tuổi cao bậc nhất. Trong các đệ tử của Phật, luận về tuổi tác thì không có ai hơn ngài. Trong hàng đệ tử của Phật, ngài ăn rất kham khổ, thọ dụng rất kham khổ, tu hành cũng rất kham khổ, cho nên được tôn là hạnh Ðầu-đà bậc nhất.
Ðầu-đà là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ðẩu Tẩu tức là phấn chấn tinh thần, mạnh mẽ tinh tấn. Ðầu-đà tức là thực hành khổ hạnh, có mười hai thứ khổ hạnh, mười hai hạnh Ðầu-đà này là biểu hiện sự trụ trì Phật pháp. Chỉ cần có người tu hạnh Ðầu-đà thì Phật pháp còn trụ lâu ở thế gian; nếu không có người tu hạnh Ðầu-đà thì Phật pháp bị diệt mất. 12 hạnh Ðầu-đà là:

1. Mặc y phấn tảo: Y phấn tảo là gì? Tức là loại y phục hoặc vải mà người ta đã dùng rồi không cần nữa, vứt bỏ đi thì người xuất gia đem những thứ y phục đó về giặt sạch may thành y phục của mình. Mặc những thứ y phục này có những lợi ích gì? Có lợi ích rất lớn là khiến cho mình không còn tâm tham, không thích y phục đẹp, mặc thứ y phục này khiến cho trong lòng rất an tịnh, bớt đi lòng tham, cũng khiến cho người khác không có tâm tham. Nếu mình mặc bộ y phục quá đẹp, người khác có thể sanh ra một thứ lòng hâm mộ, từ hâm mộ sanh ra ganh ghét, từ ganh ghét sanh ra tâm tham, kế đó sanh ra tâm trộm cắp. Nếu mặc y phấn tảo thì không có ai muốn đến lấy trộm, đó là có lợi cho mình mà cũng có lợi cho người khác; cũng là những y phục Phá nạp mà người xuất gia hay mặc. Vì thế người xuất gia cũng gọi là "Nạp tử", có nghĩa là nói người xuất gia mặc y Phá nạp.
2. Chỉ có ba y, bình bát, tọa cụ: Tức là những đồ vật mà người xuất gia được có. Ba y là:
- Ðại y: Có loại hai mươi lăm điều, một trăm lẻ tám miếng. Thứ y này đắp mặc khi giảng kinh thuyết pháp hay khi vào Hoàng cung.
- Thất điều y: Là y bảy điều, đắp mặc khi lễ sám lạy Phật.
- Ngũ y: Là y năm điều, đắp mặc khi chấp lao phục dịch, đi ra vào, đón rước tiếp đãi khách khứa.
Tại sao chỉ có ba y, bình bát và tọa cụ? Ðó cũng là khuyên bảo phải tri túc, chớ tham nhiều vật chất. Dưới đây là nói về vật thực, có năm mục:
3. Thường khất thực: Thường ôm bát đi khất thực, tự mình không nấu nướng.
4. Theo thứ lớp khất thực: Tức là ngừng ở mỗi nhà khất thực, không nói là bỏ nhà người nghèo khổ mà đến nhà người giàu có để khất thực. Nếu ngừng lại ở từng nhà thì một ngày hóa duyên trước cửa bảy nhà. Nếu bảy nhà đều không cúng dường thì ngày hôm đó không ăn. Không thể lựa chọn mà phải bình đẳng khất thực. Không giống như Tôn giả Tu-Bồ-đề và Ðại Ca Diếp có tâm phân biệt. Tôn giả Ðại Ca Diếp chuyên đến nhà người nghèo để khất thực, vì ngài nghĩ rằng người nghèo thật đáng thương, nếu không gieo trồng phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, vì thế ngài cứ đến hóa duyên người nghèo. Trái lại, Tôn giả Tu-Bồ-đề lại chuyên hóa duyên người có tiền mà không hóa duyên người nghèo khổ. Ngài cho rằng: "Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành thì đời sau lại nghèo khổ." Mỗi vị đều trình bày lý do của mình, Ðức Phật mới quở trách các vị ấy là bậc A-la-hán có tâm phân biệt không bình đẳng.
5. Giữa ngày ăn một bữa: Sáng sớm và chiều tối không ăn chi hết, chỉ đúng trưa (từ 11-12 giờ) mới ăn. Có người không hiểu Phật pháp, cho rằng giữa ngày ăn một bữa chính là Trì ngọ. Trì ngọ là buổi sáng ăn, buổi chiều không ăn. Nếu sáng, chiều và trưa đều ăn thì gọi là "Năng cật." Giữa ngày ăn một bữa, là tu hành theo chế độ của Phật dạy, nhơn vì giữa ngọ là thời gian Phật ứng cúng. Sáng sớm là chư Thiên ăn, quá Ngọ là súc sanh ăn, chiều tối là ngạ quỷ ăn. Tại sao người xuất gia không ăn chiều? Vì ăn chiều khua đũa bát, ngạ quỷ có thể đến cướp lấy thức ăn, nhưng mà thức ăn một khi vào miệng liền biến thành lửa đỏ, nhơn đó mà sanh lòng sân hận, rồi làm cho người xuất gia sanh bịnh. Thế nên người xuất gia không ăn chiều.
6. Ăn ít một chút: Tức là không ăn quá nhiều, nếu ăn quá nhiều, bụng không có chỗ chứa thức ăn cho nên phải bận rộn rất nhiều cho việc tiêu hóa.
7. Quá ngọ không uống nước cô đặc: Nước cô đặc là nước ép từ trái cây, sữa bò, sữa đậu nành. Quá giờ Ngọ, người tu hạnh Ðầu-đà chơn chính thì không uống những thứ nước cô đặc ấỵ
Có người chỉ tu một thứ hạnh Ðầu-đà, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn thứ, hoặc tu trọn vẹn các hạnh Ðầu-đà, đều là tuỳ theo sức mình mà thực hành. Năm mục ở trên là về ăn uống, còn năm mục sau đây là về mặc ở. Người tu hành cũng không tránh khỏi các vấn đề ăn mặc, ở, đi; cho nên có mười hai thứ hạnh Ðầu-đà.
8. Ở nơi A-lan-nhã: A-lan-nhã dịch là Tịch tịnh xứ, tức là chỗ rất ít bóng người, không có thứ tiếng tạp loạn, đó là nơi mắt không thấy thì miệng không ham, tai không nghe thì tâm không phiền. Giống như người thấy đồ ăn ngon thì sanh ra lòng muốn ăn. Tai không nghe nhiều tiếng ồn ào thì trong lòng không sanh phiền não, còn ở chỗ vắng lặng thì dễ dụng công tu hành, dễ ngộ đạo.
9. Ở dưới bóng cây: Người tu hành ở dưới bóng cây, nhưng không quá ba đêm. Ở qua hai đêm thì phải dời chỗ. Tại sao thế? Vì nếu ở đó ba đêm thì sẽ có người đến cúng dường. Vì người tu hạnh Ðầu-đà không mong cầu phan duyên, không mong cầu được cúng dường thức ăn ngon.
10. Ở lộ thiên: Tức là ở khoảng đất trống.
11. Ở gò mả: Tức là ở bên gò mả khiến cho tự mình có một thứ cảm giác để đối trị với tánh buông lung: "Này, ở đó có người chết, nếu không tu hành về sau ta cũng giống như thế, ta phải gấp rút tu hành mới được." Ở bên gò mả thì không thể nào lười biếng được.
12. Lưng không dính chiếu: Tức là thường ngồi không nằm, không có nằm khi ngủ nghỉ, như thế mới có thể dụng công mà không lười nhác.
Tôn giả Ca Diếp chẳng phải chỉ tu một thứ hạnh Ðầu-đà, mà cả mười hai hạnh Ðầu-đà đều tu trọn vẹn. Ðến khi ngài hơn hai trăm tuổi, Phật thấy ngài tu hạnh Ðầu-đà, không nhẫn tâm để ngài khổ cực quá, có một hôm Tôn giả Ca Diếp đến ra mắt Phật, Phật chia nửa tòa cho Tôn giả Ca Diếp cùng ngồi rồi nói với ngài rằng: "Ông nay tuổi đã quá già rồi, nên nghỉ bớt đi, chớ nên theo hạnh Ðầu-đà cực khổ như thế nữa." Tôn giả Ca Diếp nghe Phật dạy, chỉ cười mà không đáp. Nhưng khi ngài trở về vẫn tu hạnh Ðầu-đà, không cho rằng mình tuổi tác đã cao mà ngưng tu hạnh Ðầu-đà. Ðức Phật biết việc ấy nên vui vẻ nói: "Trong Phật pháp của ta, hạnh Ðầu-đà của Ca Diếp có thể làm cho Phật pháp trụ thế năm trăm năm nữa." Cho nên ngài Ca Diếp được khen là hạnh Ðầu-đà bậc nhất.
Mười hai hạnh Ðầu-đà là việc tu hành của người xuất gia, có một số người tại gia nói: "Mười hai hạnh Ðầu-đà là để cho người xuất gia tu, chứ nói với người tại gia chúng tôi để làm gì?"
Câu nói này mới nghe dường như rất đúng, nhưng xét kỹ lại một chút thật là quá mê si! Tại sao biết được mình trước kia không phải là người tu hành, chưa từng tu hạnh Ðầu-đà? Có thể là các vị quên mất đấy, nên bây giờ tôi xin nhắc lại.
Làm sao mình biết đời sau mình không xuất gia? Hoặc là đời sau hạt giống Bồ-đề của mình được thành thục, công đức viên mãn, mình sẽ xuất gia? Nếu vào đời sau sẽ tu mười hai hạnh Ðầu-đà, thì sẽ cảm thấy rất quen thuộc, rất tương ưng, đó là do đời nay được nghe đến, cho nên đời sau mới rất thích thú mà tu hành. Ðó cũng là do quá khứ gieo trồng nhơn lành nên đời nay kết được quả lành vậy. Hoặc là đời nay gieo trồng nhơn lành này, đời sau kết được quả lành kia. Ai dám chắc mình mãi mãi là người tại gia? Ai dám chắc mình mãi mãi không là người xuất gia? Ai cũng không thể nói mình mãi mãi là phàm phu. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)

+ Ở đâu có Phát tâm nguyện thiện lành - Ở đó có con đường mở ra
Ma-ha Ca-diếp cùng tỷ-khưu ni Tử Kim Quang cùng những người khác liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật và bạch Phật rằng:

Giảng giải:
Ma-ha Ca-diếp; Ma-ha (s: mahā) là lớn; Ca-diếp (s: Kaśyapa) là tên. Do thời ấy nhiều người có họ Kaśyapa nên chữ mahā–đại được thêm vào để gọi tên ngài. Kaśyapa dịch theo tiếng Hán có nghĩa là Đại quy thị–大龜氏. Tổ tiên của ngài là loài rùa khổng lồ với những đồ hình trên lưng, và có tên gọi ấy do sự kiện trên. Mahā-kaśyapa còn được địch là Đại ẩm quang 大飲光. Ánh sáng trên thân ngài như thể nuốt trọn hết mọi thứ ánh sáng khác, vì các thứ ánh sáng ấy biến mất vào trong ánh sáng của thân ngài.
Tên của ngài là Pippala, là tên của một loại cây. Cha mẹ ngài hiếm muộn con, nên họ đến cầu đảo ở thần cây Pippala; kết quả là họ có được người con, họ lấy tên cây đặt tên cho con mình. Ma-ha Ca-diếp vốn là ngoại đạo thờ lửa. Ông tu tập công phu ngửi mùi khói. Có rất nhiều loại ngoại đạo ở Ấn Độ, ngoại đạo thờ nước, ngoại đạo thờ lửa, ngoại đạo thờ đất. Ngoại đạo thờ đất tu theo lối chuyên vùi mình trong đất, nếu còn sống sót sau một số ngày nhất định nào đó, thì sẽ được thành thần. Những ngoại đạo nầy thật là mê lầm.
Tỷ-khưu ni Tử Kim Quang là vợ của Ma-ha Ca-diếp. Vào thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Ma-ha Ca-diếp 120 tuổi và vợ ông có lẽ phải gần 100 tuổi. Từ kiếp lâu xa, vào thời Đức Phật Ca-diếp, bà thấy một tượng Phật bị mòn vẹt bởi gió mưa, đến mức chẳng còn chút sắc vàng nào trên thân Phật. Bà ta phát tâm sửa lại ngôi chùa, nhưng không có đủ tiền. Nhưng bà ta cũng hy vọng mạ vàng tựơng Phật, nhưng việc ấy đòi hỏi chi phí rất nhiều. Tuy nhiên, ở đâu có tâm nguyện, ở đó liền có con đường mở ra, tâm nguyện của người phụ nữ nầy rất mạnh và chân thực. Cô ta đi khắp nơi để quyên góp tiền bạc, sau một thời gian dài, cô ta quyên được số tiền tương đương 100.000 dollars Mỹ. Cô ta nhờ thợ kim hoàn mạ vàng tượng Phật. Người thợ kim hoàn cảm động bởi quyết định tu sửa tượng Phật dù cô ta rất nghèo, nên anh ta chỉ làm công với một nửa chi phí. Thế nên hai người ấy chia nhau công đức việc nầy. Chẳng bao lâu ngôi chùa được tu sửa xong, không còn bị dột nữa, tượng Phật đã được mạ vàng. Từ đó về sau, thân thể người phụ nữ phát ra ánh sáng màu tím. Còn người thợ kim hoàn, chính là Ma-ha Ca-diếp, sau khi hoàn thành việc mạ vàng tượng Phật, đã có một chuyện rất kỳ lạ diễn ra giữa ông và người phụ nữ. “Tâm của cô rất tốt.” Ông nói với cô ta, “Tôi sẽ cưới cô làm vợ, ta sẽ thành vợ chồng. Không phải chỉ trong đời nầy, mà trong muôn vàn đời sau, chúng ta sẽ là vợ chồng của nhau.” Đó là lý do tôi đoán chừng Ma-ha Ca-diếp 120 tuổi, và vợ ít nhất là 100 tuổi. Dù vậy, họ vẫn rất mạnh khỏe và tinh cần tu tập. Người vợ của Ma-ha Ca-diếp cũng siêng năng tu tập và chứng được đạo quả. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Vua Thần Nông (Trung Hoa) - Thân tái sinh của Bồ Tát Dược Vương - Pháp vương tử Dược Vương
Hai vị Pháp vương tử Dược vương, Dược thượng cùng với năm trăm vị Phạm thiên trong chúng hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Từ vô thuỷ kiếp đến nay, chúng con làm lương y trong thế gian, miệng thường nếm các thứ cỏ cây, đá, kim loại trong cõi giới ta-bà nầy, số mục có đến tám vạn bốn ngàn thứ. Chúng con biết hết các vị đắng, chua, mặn, nhạt, ngọt, cay..., cùng sự hoà hợp và biến đổi từ các vị ấy sinh ra. Thứ nào là lạnh, thứ nào tính nóng, thứ nào độc, thứ nào không độc, chúng con đều biết rõ.”

Giảng giải:
Hương Nghiêm đồng tử ngộ đạo là do quán sát hương trần. Ưu-ba-ni-sa-đà ngộ đạo là nhờ quán sát sắc trần. Kiều-trần-na ngộ đạo là do quán sát thanh trần. Hai vị Bồ-tát Dược vương, Dược thượng ngộ đạo là nhờ quán sát vị trần.
Hai vị Bồ-tát Dược vương, Dược thượng là hai anh em. Trong thời quá khứ, Bồ-tát Dược vương có phát lời nguyện sẽ làm vị lương y cho thế gian, thế nên ai đến gặp ngài đều được chữa lành bệnh, bất luận họ bị bệnh nặng đến mức nào. Ngài phát lời nguyện này vào thời Đức Phật Lưu ly quang Như Lai. Có tỷ-khưu Nhật Tạng giảng nói diệu pháp, trong pháp hội có vị trưởng giả tên là Tinh tú quang, nghe pháp sanh lòng vui mừng, nên đã cùng với người em của mình phát nguyện như vậy trước tỷ-khưu Nhật Tạng.
Ở Trung Hoa, có Vua Thần Nông (Emperor Shen Neng) cũng nếm được 100 loại thảo mộc và phát minh ra cách trị bệnh bằng dược thảo. Dạ dày của ông giống như tấm gương, có thể thấy được thức ăn là độc hay hiền. Nhưng không may, dân Trung Hoa ngày nay hoàn toàn không hiểu được những tinh tuý từ lịch sử như thế nầy, họ cho rằng đó chỉ là những truyền thuyết. Thực ra, đây là những sự kiện rất bình thường, đều có ghi trong các tài liệu y học của Trung Hoa. Nhưng sinh viên Trung Hoa thời hiện đại không đọc những sách cổ, thế nên họ không hiểu được những chuyện nầy. Chính tôi đã đọc được chuyện nầy, tôi tin rằng Vua Thần Nôngthân tái sinh của Bồ-tát Dược vương, ngài thị hiện ở Trung Hoa để giúp cho nền tảng nghiên cứu y học ở đó.
Hai vị Pháp vương tử Dược vương, Dược thượng cùng với năm trăm vị Phạm thiên trong chúng hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy.
Đức Phật là Pháp vương, nên tên gọi dành cho các vị Bồ-tátPháp vương tử.
Hai vị Bồ-tát cùng năm trăm đồ chúng của họ liền từ chỗ ngồi của mình đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Từ vô thuỷ kiếp đến nay, chúng con làm lương y trong thế gian, miệng thường nếm các thứ cỏ cây, đá, kim loại trong cõi giới ta-bà nầy, số mục có đến tám vạn bốn ngàn thứ.”
Vào thời đó, ở Ấn Độ các chất của thuốc được hoà hiệp từ bốn thứ, cỏ, cây, kim loại và đá. Chúng con biết hết các vị đắng, chua, mặn, nhạt, ngọt, cay..., cùng sự hoà hợp và biến đổi từ các vị ấy sinh ra. Chúng con biết rõ vị nào thích hợp vị nào không. Vị nào có thể hoà hiệp để trị một số bệnh, vị nào không thể hoà hiệp, nhưng khác với loại trước, có thể gây chết người nếu khi hoà hiệp chúng lại. Thế nên trong Dược tính bộ có nói, “Căn bản về thảo mộc, có mười tám loại độc và 19 loại hiền. Ô đầu tương kị với các thứ Bán hạ, Bạch liễm, Qua lâu. Cam thảo được trình bày trong Dược tính bộ như là thảo dược có ưu thế hoà hiệp với nhiều thứ thuốc khác, nhưng nếu đem cam thảo dùng chung với Hải tảo (海藻hai zao), Đại kích (大戟da ji), Cam toại (甘遂 gan sui), Nguyên hoa (元花yuan hua) mà cho bệnh nhân dùng thì họ có thể chết. Lê lô (蔾蘆Li lo) và Tế tân (細莘xi xin) dùng chung cũng có thể làm chết người. Nhưng Tế tân dùng riêng thì có thể chữa được bệnh nhức đầu.
Chúng con biết rõ những dược thứ thuốc nầy thích hợp hay nghịch nhau khi chúng hoà hiệp lại, và thứ nào sẽ biến đổi tính chất, hoặc điều gì sẽ xảy ra khi chúng hoà hiệp với những thứ có độc tính, cũng như biết được thứ nào là lạnh, thứ nào tính nóng, thứ nào độc, thứ nào không độc, chúng con đều biết rõ.”
Dược tính của nó có thể là hàn, nhiệt, ôn, bình. Những người tánh hàn thì không thể dùng thuốc có vị hàn, những người có tánh ôn thì không thể nào chịu được thuốc có vị ôn. Hai vị Bồ-tát đều biết rõ tính độc của từng vị thuốc như thế nào trong từng loại dược thảo. (Nguồn: Kinh Hoa Nghiêm - Q 5 - HT Tuyên Hóa giảng)

+ Gậy Kim Cang Hét - Hòa Thượng Tuyên Hóa giải đáp các câu hỏi
Nội dung giảng giải của HT Tuyên Hóa rất phong phú và thâm diệu, rất đáng đọc và suy ngẫm kỹ lời dậy của bậc Bồ Tát tái thế. (Nguồn: Gậy Kim Cang Hét)

+ Thất-tình: Hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục - mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham dục; được giới thiệu một cách giản dị như sau: 
1. Hỷ: Không nên mừng, mừng thì tình sẽ động
2. Nộ: Không nên giận, giận thì tình sẽ động
3. Ai: Không nên bi ai, bi ai cũng động tình
4. Cụ: Không nên sợ hãi, sợ hãi cũng động tình
5. Ái: Không nên sanh tâm tham ái, bởi tham ái làm cho tình động
6. Ố: Không nên có lòng chán ghét, chán ghét làm cho tình động
7. Dục: Không nên có dục niệm, dục niệm sẽ làm cho tình động ;
>>> Hành giả sẽ bị hoàn cảnh chi phối, lay chuyển được mình, thì định lực sẽ bị tiêu ma, ta sẽ bị làn gió của các loại hoàn cảnh làm cho phiêu bạt, tâm bị lay động, không còn làm chủ được nữa và, khi không có chủ tức thành điên đảo. (Nguồn: Xem HT Tuyên Hóa giảng)

+ Ngũ Dục: Chữ “dục” này là ngũ dục:
1- Tài dục: Ham muốn tiền bạc của cải, vàng ngọc, tài sản vật chất.
2- Sắc dục: Đắm say đam mê sắc đẹp mỹ miều, gồm 6 trần:
- Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt.
- Thính dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt….
- Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào….
- Vị dục: Ham muốn đồ ăn thức uống ngon ngọt…
- Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm êm ái, dễ chịu…
- Pháp: Hình ảnh, âm thanh, mầu sắc .... lưu lại ở 5 Trần ở trên
3- Danh dục: Tham muốn địa vị, quyền cao chức trọng, danh thơm tiếng tốt.
4- Thực dục: Tham muốn ăn uống cao lương mỹ vị ngon nhiều.
5- Thùy dục: Tham muốn ngủ nghỉ nhiều (Nguồn)

+ Ngũ dục: Đây là 5 cái gốc của địa ngục - Tâm chúng ta có những thứ này thì tâm này sẽ có bệnh, có độc, nhất định phải hết lòng niệm câu A Di Đà Phật hồi phục lại tâm thanh tịnh của chúng ta (Nguồn).

+ Tại sao con người không nên có Thất tình Lục dục: Vì người sống nặng về tình cảm thường ích kỷ, rế rời xa đường đạo. Mời xem HT Tuyên Hóa khai thị tại: Gậy Kim Cang Hét 1

+ Các Sắc trần gồm: Sắc - Thanh - Hương - Vị - Xúc
+ Các loại sắc:
Âm thanh quy về nơi sắc trần. Nơi năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.
+ Ngũ ấm/ Ngũ uẩn hay Năm lớp vỏ/ màn che trong Minh triết Ấn Độ (Phật giáo gọi là ngũ Ấm hay ngũ Uẩn) là những cái tích tụ, chất đầy, bao phủ che lấp lên, như Đức Phật dậy 5 lớp màn che/ Bóng tối che lấp mặt trời Chân Tâm. Giảng về chữ Tâm Ta - Dụng Tâm trong tu hành.... (Nguồn: Xem Thầy Hằng Trường giảng)

+ Ngũ uẩn: (five skandhas):
1. Sắc uẩn (Rupa) các tính chất hoặc các thuộc tính vật chất.
2. Thọ uẩn (Vedana): các cảm giác (sensations).
3. Tưởng uẩn (sanna): các ý tưởng trừu tượng (abctract ideas).
4. Hành uẩn (samkara): Các khuynh hướng cả về mặt xác thân (physical) lẫn mặt trí tuệ (mental), và
5. Thức uẩn (Vinnana): các quyền năng trí tuệ, khuếch đại của uẩn thứ 4, nghĩa là các thiên hướng về tâm trí, xác thân và đạo đức. (Thư của Ch. S., 199)

+ Ngũ Uẩn của Tâm Nhị Nguyên - Nguồn gốc của Vọng tâm
Đức Phật nói rằng Tâm bao hàm 2 thứ, chính vì cái tình và cái tưởng đó mà chúng ta mới có thế giới nội tâm. Thế giới nội tâm này là chủ thể và lúc nào nó cũng cần một đối tượng. Chủ thể và đối tượng/ Tâm nhị nguyên này làm cho chúng ta khó mà nhận ra được Chân tâm. Tu từ Vọng Tâm nhị nguyên tới chỗ Chân Tâm là con đường tu hành của người phật giáo. 
Trong Minh triết Ấn Độ gọi là 5 lớp vỏ. Phật giáo gọi là 5 Ấm hay 5 Uẩn là những cái tích tụ, chất đầy, bao phủ che lấp lên, chúng gồm như Đức Phật dậy 5 lớp màn che/ Bóng tối che lấp mặt trời Chân Tâm:
1- Sắc: Kinh nghiệm của thân xác. Ví như bị bệnh đau thật khó tu, chứ nói chi đến Chân Tâm
2- Thọ: Kinh nghiệm của cảm tình, cảm xúc. Ví dụ khi giận hợp oán trách ... chẳng thể tu, nói gì quán ánh sáng Tâm.
3- Tưởng: Kinh nghiệm của tư duy, quan niệm. Ví như cứ ngồi nghĩ vẫn vơ sao có thể tham thiền, tu định ... để an định Tâm.
4- Hành: Kinh nghiệm của tập khí, thói quen. Ví như không chịu đúng thời tu hành, chẳng thể tiến tu.
5- Thức: Kinh nghiệm của sự nhận tri, nhận biết. Thể trí thường suy nghĩ lầm lạc, vì chúng luôn ở trong trạng thái nhị nguyên.
Cho nên, sự mầu nhiệm của sự tu hành là mình bắt đầu tìm được thời gian, thay đổi tập quán, thay đổi tư tưởng, thay đổi tình cảm, cảm xúc, thay đổi quan niệm và cuối cùng là mình thay đổi thân xác - Nói là tu tâm nhưng thật sự ra là mình tu tất cả mọi chuyện .. v.v…Đâu có dễ đâu (Nguồn: Xem tại đây)

+ Năm lớp vỏ - Ngũ Ấm - Ngũ uẩn:
Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm đã được trình bày, bây giờ sẽ giải thích về thức ấm. Trước hết tôi sẽ tóm lược lại về 4 ấm đầu tiên.
- Sắc ấm đề cập đến những cái có hình tướng, có vật thể. Khi mắt trừng trừng nhìn vào hư không, thì thấy xuất hiện những hoa đốm. Dù những hoa đốm ấy là hư vọng, không có thực, nhưng nó vẫn có hình sắc.
- Thọ ấm là sự tiếp nhận, lĩnh hội. Khi hai bàn tay xoa vào nhau sẽ làm phát sinh các cảm giác thô ráp, trơn mịn, hoặc lạnh, nóng.
- Tưởng ấm đơn thuần là do niệm tưởng. Chẳng hạn, khi tai quý vị nghe ai nói về me chua, rồi quý vị bắt đầu nghĩ tưởng về me. Ngay khi quý vị nghĩ tưởng, thì trong miệng liền tiết ra nước bọt. Đây là kết quả của tưởng ấm. Nghĩ tưởng ở đây có nghĩa là vọng tưởng.
- Hành ấm có nghĩa là sự biến dịch, vận động. Nó không dừng nghỉ. Đầu tiên con người trẻ trung, rồi trở thành trung niên, rồi già và chết. Niệm nầy sinh khởi tiếp theo sau niệm kia diệt mất, niệm nầy nối tiếp niệm kia không dừng nghỉ. Đó là hành ấm.
- Thức ấm có liên quan đến