TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

CHÀO MỪNG NGÀY KHAI CHƯƠNG
VĂN PHÒNG TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

9 GIỜ 30 NGÀY 06/06/2002

KHUYẾN MẠI MIỄN PHÍ ĐẾN 200 THÀNH VIÊN ĐẦU TIÊN

CÓ CÂU HỎI THUỘC CHUYÊN MỤC: CHỌN PHÁP CẢI MỆNH CÁT TƯỜNG
ĐỂ PHÁT HUY TỐI ĐA THẾ MẠNH CÁT TƯỜNG - HẠN CHẾ ĐIỂM YẾU HUNG HỌA CỦA MỆNH

“PHẦN MỀM SỐ MỆNH - CẢI MỆNH LƯU DỮ LIỆU HỎI - ĐÁP TRỰC TUYẾN DÀI LÂU
TẤT CẢ CÁC CÂU HỎI VÀ KẾT QUẢ DỰ ĐOÁN HÀNG ĐẦU VIỆT NAM”

+ Mời đặt câu hỏi miễn phí về "Chọn pháp cải mệnh cát tường": Tại đây

+ Mời đọc: Các quy định và hướng dẫn Đăng ký/ Đăng nhập

 Nhân Trắc Học kính chúc quí vị vạn sự như ý!

Tóm Lược Kinh Hoa Nghiêm: Tập 6-23

TRÍCH ĐOẠN TÓM LƯỢC
KINH HOA NGHIÊM ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
(Kính xin quí vị đọc kỹ bản Kinh Hoa Nghiêm đầy đủ,
bản này chỉ nhằm mục đích gợi nhớ)

Giảng giải 25 tập
Hòa Thương Tuyên Hóa

Việt dịch: Thích Minh Định
Đánh máy: Trần Xuân Tiến
Kỹ thuật: Nguyễn Thị Tuyết Trinh

Trang chủ: Tất cả 25 tập Kinh Hoa Nghiêm

Kính xin lưu ý: Bài viết này do đọc giả tôi ghi chép lại, chỉ để giúp chính tôi gợi nhớ phần nào nội dung của từng tập Kinh mà thôi. Mong quí vị đọc trực tiếp Kinh văn gốc (Có Link đính kèm). Xin cảm ơn!

 

QUYỂN THỨ 06

Thiên lý - Phật tánh Tr 9 Q6

Giảng về gió - Phong, Phong luân nhiếp trì, trái đất quay nhưng nước không bắn ra thái không => Do địa tâm hấp dẫn lực - Tức Phong luân hiếp trì. Tác dụng của nhiếp trì tới tất cả hành tinh, mặt trời mặt trang ... để chúng chuyển động đúng quỹ đạo

Gió cũng có lực rất lớn, xem giảng về gió, Quỷ ở trong đất chẳng biết đất, Thần ở trong không chẳng biết không, cá ở trong nước chẳng biết nước => Ra khỏi là chết, Tr 16 Q6

Trái đất cũng phát sinh bệnh nạn Tr 22 Q6

LÝ LÀ ĐỐN NGỘ - SỰ LÀ TIỆM TU, tu thì tuuwngf bước từng bước tiến tới Tr 41, Q6

Sự có hình tướng, lý chẳng có tường - Tức Lý tánh. Như Ngọc tốt là sự tướng, thanh tịnh là lý tánh

TUỔI THỌ THẾ GIỚI CÓ 4 GIAI ĐOẠN KIẾP: THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG, trong mỗi Kiếp cũng lại phân ra 4 giai đoạn như thế. GIỐNG NHƯ CON NGƯỜI, có thể phân chia .... Tuổi thọ con người và thế giới cùng một đạo lý Tr 68 Q6

Nếu tâm thanh tịnh thế giới chẳng còn - Hiểu là thế giới đời ác 5 trược chẳng còn, vỡ nát như vi trần = Chỉ còn lại thế giới thuần nhất thanh tịnh, tr 132, Q6

TÂM BAO THÁI HƯ KHÔNG, LƯỢNG CHU XA THẾ GIỚI - HẾT THÀY ĐỀU Ở TRONG TÂM CHÚNG TA , Tr 205, Q6

TRUYỀN TÂM ẤN PHÁP, KHI NÀO KHAI NGỘ MỚI TRUYỀN ĐƯỢC - KHÔNG SAI, Dùng tâm ấn tâm mới truyền thọ được. Cho lên phải lưu ý, trước khi tiếp thọ, nhất định sẽ có thiên ma đến nhiễu loạn, chúng rất lợi hại, các vị phải cẩn thận, tuyệt đối chẳng phải h6ys luận. Tr 231, Q6

Nhân quả với người không tin sự thật, không tin thì phải thọ quả báo dù sấu dù tốt, Trang 263, Q6

Ví dụ về trì chú đại bi cứu người, người con mỗi ngày niệm 108 biến cứu cha khỏi ung thư, Tr 264, Q6

Thế giới ta bà chúng ta, trong đó phân ra nhiều cõi nước

GIẢNG KỸ VỀ THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG CỦA TUỔI THỌ CỦA THẾ GIỚI LAG MỘT ĐẠI KIẾP, CHIA RA THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG, BỐN TRUNG KIẾP, MỖI TRUNG KIẾP CÓ 20 TIỂU KIẾP => MỘT ĐẠI KIẾP CÓ 80 TIỂU KIẾP

CON NGƯỜI cũng vậy, sinh già bệnh chết; Một năm cũng vậy, bốn mùa cũng là Thành Trụ Hoại Không, Mùa xuân gieo giống là thành, mùa hè lớn lên là trụ, Mùa thu thu hoạch là hoại, Mùa đông cất giữ là không => cùng một đạo lý Tr 314, Q6

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 6

QUYỂN THƯ 07

10 Danh hiệu Phật, tr 9 Q7

Tu từ Pháp thế gian đến Pháp xuất thế, chẳng phải lìa khỏi pháp thế gian tìm cầu Pháp xuất thế, vĩnh viễn chẳng đươc, Pháp xuất thế bao gồm Pháp thế gian; PHIỀN LÃO TỨC BỒ ĐỀ Tr 24, Q7

Giảng về 30 vấn đề, 10 vấn đề đầu là Nhân, 20 vấn đề sau là quả của Hàng Bồ Tát: 10 Thứ trụ gồm PHÁT TÂM TRỤ - TRỊ ĐỊA TRỤ - TU HÀNH TRỤ ...., 10 thứ hạnh HOAN HỶ, NHIÊU ÍCH, VÔ SÂN ..., 10 THỨ HỒI HƯỚNG bất hoại hồi hướng, cứu hộ chúng sinh ....1o thứ Tạng TÍN TẠNG, GIỚI TẠNG ... =>>> Đắc được mười địa là HOAN HỶ ĐỊA, LY CẤU ĐỊA, PHÁT QUANG ĐỊA, ....., Phát 10 nguyện ... và tu 10 thứ định , rồi tu 10 thứ thông ... Tất cae các Bồ tát tu 10 thứ quả vị Vô thượng ;   Tr 33, Q7

Người tu hành nhất định phải ngồi kiết già, công dụng là hàng ma, hộ trì định lực, Tr 37, Q7

PHẨN TƯ ĐẾ, TR 77 q7

TỨ ĐẾ CÓ 3 CHỦ ĐỀ: CHUYỂN PHÁP LUÂN - kHUYẾN CHUYỂN PHÁP LUÂN - CHỨNG CHUYỂN PHÁP LUÂN

Tức là biết về khổ - Cần phải tu - Ta đã chứng

Giảng kỹ về sự khổ

Người có trí tuệ, có căn lành mới có thể xuất gia tu đạo Tr 81, Q7

VÔ VI: Đoạn các điều ác, làm tất cả các việc thiện - Vô vi mà bất vô vi, Tr 99, Q7

Phóng anh tăng trưởng thọ mạng của cả 2; Tr 151, Q7

Giảng về thất tình ; Tr 166, Q7

Pháp thế gian, Pháp có hình tướng, cũng là Pháp hữu vi; tr 167, Q7

Giảng về hồi hướng có 4 thứ; Tr 172, Q7

Giảng về ái dục hay; Tr 177, Q7

Bồ Tát dung 4 pháp nhiếp độ chúng sanh; Tr 185, Q7

Giảng về lục nghề/ Nghề ; Tr223, Q7

Thuần âm bất sinh, thuần dương bất trưởng

Giảng về chữ tham rất hay, tr 246, Q7

Số 0 - Vô thủy, không biến thành 1 thêm số 0 thành Vô chung ... tr 250

Chúng sanh phá đại quang minh, biến 0 thành 1, có có phiền lão

Ngày đêm sáu thời sáng trưa tối, đêm cũng vậy, tr 262

PHÂN BIỆT THỜI GIAN: giảng về Kiếp có Tiểu - Trung - Đại mỗi; 24 tiểu kiếp thành 1 trung kiếp, 4 trung kiếp thành 1 đại kiếp. THẾ GIỚI có Thành trụ hoại không, mỗi loại có 20 tiểu kiếp => 1 thế giới thành hoại phải qua 1 đại kiếp, thế giới này hoại, thế giới kia bắt đầu

Hiện tại là thời kỳ diệt kiếp của tiểu kiếp thứ 9 trong kiếp TRỤ, con ngưởi thọ 70 tuổi; Tr 263

TRÁI ĐẤT THÀNH 20 TIỂU KIẾP RỒI ĐẾN HOẠI 20 TIỂU KIẾP ...

CON NGƯỜI  20 NĂM HỌC - 20 NĂM SỰ NGHIỆP - 20 NĂM BIẾN HÓA - 20 NĂM CUỐI BỆNH GIÀ CHẾT, Tr 265

đây gọi là 4 tướng thành trụ hoại không

trong 1 năm 4 mùa cũng vậy

MỘT KIẾP/ TIỂU KIẾP LÀ 16.798.000 NĂM

NGƯỜI TỰ TỬ làm cô hồn dã quỷ VĨNH VIỄN CHẲNG ĐI ĐẦU THAI; Tr 271

Giảng về ái dung và 5 dục hay, Tr273

ăn nhiều sơn hào hải vị thì sinh mỡ máu tiểu đường, Tr 273

Giảng thêm ngũ nhãn lục thông, Tr 284

BẮT ĐẦU HỎI ĐÁP VẠN SỰ

các Pháp chẳng tác dụng, chẳng có thể tánh => Chẳng biết nhau. Vì chúng sinh tâm loạn, nên có Pháp đối trị => Tâm không thì Pháp chẳng còn; Tr306

Ví như bệnh khỏi thì không cần thuốc - Pháp cũng vậy, cũng phải xả bỏ, vì nó không thật, chẳng có Thể cũng chẳng có Dụng

GIẢNG VỂ TỨ ĐẠI - VỀ ĐẤT NƯỚC GIÓ LỬA; Bắt đầu từ Tr308

Tứ đại khéo dùng thì trợ giúp nhau, không khéo thì khắc chế nhau

TRONG HƯ KHÔNG CŨNG CÓ 4 ĐẠI; Ban ngày Sức nóng mặt trời - Sức lửa; Ban đêm mặt trăng chiếu đại địa phát sinh lạnh đại biểu cho nước, sức nước; khí cao đè nén chảy vào khí thấp => Thành khí, động, là gió; Trong hư không hạt bụi là đất ... cho lên Hư không có đủ 4 đại cho bạn dùng, chết lại trả về hư không

Gió tức lay động

Chúng sinh nghiệp lành thì mưa thuận gió hòa, cần gió thì gió, cần mưa có mưa. Nghiệp ác thì phong ba bão tố, cần mưa chẳng mưa, không cần thì mưa như trút...

Đất nương nước, nước nương gió, gió nương hư không, Hư không chẳng chỗ nương; Tr315

Thuyết duyên sinh - Không có tánh, chẳng có tánh nhất định, khởi tâm thì có, diệt mất thì không

CÁI NGÃ sinh ra 4 thứ phiền lão: Ngã si/ Vô minh - Ngã kiến/ Ngã chấp - ngãn mạn - Ngã ái/ Tâm tham; Đây là các thức căn bản; Thức thứ 8 - A Lại gia thức, gọi là tàng, ẩn tàng tất cả các CHỦNG TỬ THIỆN ÁC (Thần thức). Mọi động tĩnh/ Hành vi, việc làm của Thức thứ 7 đều ẩn CHỨA TRONG KHO thức thứ 8; hạt giống cát - Quả thiện, Ác thì Quả ác khổ; => Khi mê thì là A Lại gia thức' Khi ngộ thì chỉ còn Đại quang minh Tạng; Tr318

6 căn gặp 6 trần SINH ra 6 thức chẳng có thật tánh, chẳng có thật thể - Đây là tâm phân biệt lên có đủ thứ thức

Dùng Pháp nhãn sẽ thấy chân tướng, tất cả các cảnh đều không thể nghĩ bàn, lý sự chẳng điên đảo, vì thấy đúng sự thật; Tr 319

TRUNG ĐẠO CHẲNG GIẢ HỢP, CHẶNG LỆCH VỀ KHÔNG - VỀ CÓ ... Chẳng chấp trước = Trung đạo; Tr320

Pháp thế gian hay Xuất thế chỉ là tên, chẳng thật

GIẢNG THÊM VỀ NƯỚC. Có 10 ví dụ. Tr321

, Nước đóng thành băng, tan ra thành nước. Tám thức chuyển được - Trở về bốn trí - Chân Tâm bản nguyên hiển hiện, khôi phục tánh Như Lai Tạng

Bản tánh nước trong lặng chẳng động, chẳng có sóng, do gió thổi sóng động, bản tánh chẳng động. Tâm động thì thấy gió lay động, Tâm lĩnh lặng/ gió chẳng có; Tr 323

CHÚNG SINH KHỔ LÀ VÌ CÓ THÂN, SINH TÂM ÍCH KỶ ....Từ đây giảng về độ nhân rất hay; Tr 325

Tùy căn cơ chúng sinh: dùng lục độ để tu qua sông phiền lão - Dùng tứ đế - Dùng 12 nhân duyên, đây là tùy hạnh, tùy căn cơ

Tùy tâm ưa thích mà dùng pháp dẫn dắt

Giảng về cái Ta, thân tâm thế giới đều không; Tr334

Giảng thêm về Tâm thức với Tứ đại. Nương theo sự chảy của nước mà có vọng tưởng liên tục, Lửa có khởi diệt, Gió có động tác, Đất có nhậm trì

Phật NÓI CÁC PHÁP ĐỂ TRỊ TÂM PHÂN BIỆT

Tâm trí ví như nước và bùn, có vọng tưởng thì nước đục, có định lực không vọng thì nước trong, trở về nguyên trạng - Có trí huệ. Đục - Vô minh; Tr337

Thuận theo cảnh giới là Năng duyên, Cảnh giới của sự truy cầu là Sở duyên; Tr 340

Bảo các bên chưa thanh toán, nói rõ ra tết không có nước dùng, tự lắp đặt lấy nước dùng

Đời này tu định, đời sau thông minh, sức nhớ tốt; Tr 341

Giảng về 12 nhân duyên; Tr 351

trong 12 nhân duyên - THỨC - LÀ THÂN TRUNG ẤM, là Thần thức. Khi nam Nữ giao hợp có luồng sáng nhỏ, nếu thân trung ấm có duyên liền thấy ánh sáng đó, bèn đến nhập thai

Chưa thành thai là thân trung ấm - Thành thai rồi thì là THỨC; Tr 351

Thai tạng là do 12 nhân duyên mà thành

Giảng về các loại địa ngục; tr 355

Rồng không thể phun mưa - cầu mưa phải có rồng đất; Phàm tăng tuy không thể ban phước - Nhưng gieo phước phải gieo nới phàm tăng; tr 369

HT Tuyên Hóa tổ chức cho đệ tử cầu mưa, nhiệm mầu đến Tr369

Nghiên cứu tập bơi trên giường kỹ càng, cho xuống nước bơi thì chìm; Tr 388

Giảng về pháp bố thí; Tr396

Thường nói về lợi ích của bố thí, cũng cần làm gương

Giảng về nhân quả báo ứng

TÙY TÂM CHÚNG SINH MÀ CÓ PHÁP TƯƠNG ỨNG ; Tr 403

Nhẫn nhục và tinh tấn, chẳng khác thành/ Trong và quách/ ngoài bảo vệ khu phố; tr 407

Tu định huệ là 2 pháp chính, các thứ khác là trợ pháp; Tr 408

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 7

SANG QUYỂN 8

GIẢNG VỀ BỒ TÁT TU CÁC GIỚI LUẬT

Kinh 42 chương, Phật chế ngày ăn 1 bữa, đêm HT Tuyên Hóa không ngủ nằm ; Tr 29

Phương pháp ngồi thiền giảng kỹ; Tr 42, Q8

Các loài Thiên Long Quỷ thần ........; Tr46

các loại bảo hộ cung kính người tu

hướng dẫn người tu tại gia; Tr 54

Bồ Tát tại gia thực hành 21 nguyện; tr58

Ngồi thiền đúng; Tr 67

Các lời nguyện khi ngồi thiền

Khi ngồi kiết già, khi xả thiền ... đều phát nguyện; Tr 70

Tất cả có 7 nguyện khi ngồi thiền

Tay cầm cành Dương Liễu đúng Pháp; Tr74

Nhai cành dương có tác dụng sạch miệng họng; Tr75

Trong Kinh có nói, nếu dùng tay không sạch giở Kinh, quả báo giòi trong cầu tiêu; Tr77

Bảy nguyện trên phát ra khi rửa dáy khi Wc

Cây xum xuê che bóng mát; Cây HOA NỞ nguyện chúng sinh đắc thần thông; Thấy cây HOA nguyện cho chúng sinh đẹp như hoa; Cây kết trí thật - Nguyện chứng đắc đạo quả;

Thấy sông lớn - Nguyện chúng sinh vào được dòng Pháp; Thấy đầm trạch, NƯỚC Ứ ĐỌNG - Nguyện chúng sinh mau giác ngộ; Thấy ao hồ - Thấy giếng nước - Thấy suối vọt; Tr 91 Q8

Thấy cầu đường ví như cầu bát nhà - Sang bên kia giải thoát

Thấy nước chảy - Thấy làm vườn như nhổ có ái dục

Võ Tắc Thiên - Trung Quốc từng được Phật thọ ký, khi làm vua là công thần của Phật giáo; Tr 94

Khi tụng Kinh, trước hết tụng bài Kệ .... Tr 94

Trong Phật pháp có 4 giai đoạn: TÍN - GIẢI - HÀNH - CHỨNG = Sở thành tựu được; Tr99

A Tu La - chẳng có sinh đẹp vì ưa đấu tranh; Tr100

5 thứ tà mạn Tr 106

có 55 nguyện phát ra khi đi khất thực hành đạo: 12 nguyện đi trên đường, 19 nguyện khi thấy sự cảnh,21 nguyện khi gặp nhân vật; Tr 110

Ăn cơm thực hành 3 niệm 5 quán; Tr 118

Tất cả 22 nguyện khi vào thành khất thực

Lúc ra khỏi nhà nguyện chúng sinh vào sâu Đại viên cảnh trí phật Pháp - Vào sâu Tạng kinh, trí uệ như biển; Tr 121

Lúc ăn xong, tắm rửa phát nguyện; Tr 123

Giảng về thấy Tháp Phật, nhất định phải lễ lạy, đi nhiễu quanh Tháp, tư thế đi, đầu nhìn đất ...; Tr125

Đi nhiểu phải bên tháp; Tr 127, Q8

Nhiểu phải là thuận, nhiễu trái là nghịch. Nhiêu Tháp hay Phật đều nhiễu bên phải

Nhiễu tháp 3 vòng biểu thị cung kính Tam Bảo, siền tu ba học, diệt ba độc tham sân si. Cũng đại biểu xa lìa ba cõi, ba đường ác; Tr128

KHÊN NGỢI TÁN THÁN CÔNG ĐỨC ĐỨC PHẬT, nguyện tất cả chúng sinh đều tán thán; Tr128

Kệ tán thán đức Phật A Di Đà

1o đại nguyện khen Phật của Bồ Tát Phổ Hiền; Tr 129

Phẩm Bồ Tát Hiền Thủ rất quan trọng trong Kinh Lăng Nghiêm, Tr136, Q8

bắt đầu tu cần Quy Y Tam bảo và giữ ngũ giới; tr 139, Q8

Mỗi giới có 5 vị thiện thần hộ mệnh, tổng 25 vị, khiến hành giả gặp hung hóa cát, gặp nạn thành cát tường; Tr139

QUY Y PHẢI TRƯỚC MẶT MỘT VỊ TĂNG, NGƯỜI TẠI GIA CHẲNG CÓ TƯ CÁCH ĐỂ QUY Y

BÀI KỆ HỒI HƯỚNG: TRÊN ĐÊN ƠN 4 NẶNG: Trời che đất trở - Cha mẹ dưỡng dục - Sư trưởng dạy giỗ - Vua bảo hộ; Tr 145

Pháp do Tăng truyền, chứ chẳng phải người học vấn truyền; Tr 146; Q8

Tín nguyện hạnh không thể thiếu, thiếu 1 chẳng thành Phật đạo; tr 147

Giảng về tâm tin - nguồn đạo và Mẹ của công đức

Nguyên/ Nguồn ứng chữ CÀN - Tức là Pháp thứ nhất trong pháp lành, cũng tức là bắt đầu tu đạo. Nghĩa chữ càn tương ứng việc tu đạo; tr147; Q8

Giảng về chữ công đức; tr 148

Đức hạnh là gì: Chẳng có tham sân si ...

Tâm tin nuôi dưỡng tất cả các Pháp lành; tr148

Tin đứng đầu 10 Pháp tạng, là 1 trong 7 loại Thánh tài; tr 151

Tu 42 Tat thanh tịnh của Chú Đại Bi thì mới có thể lợi ích , giáo hóa chúng sinh; Tr 151, Q8

Tin là đầu của 6 công đức thành tự; Tr153

Tâm tin gặp dữ hóa lành .... Tr155

Thập tín - Thập trụ - Thập hạnh - Thập hồi hướng - Thập địa là 50 vị Bồ Tát; Tr 156

Lòng tin chân chánh: Không ích kỷ, tư lợi, tham sân si, siền tu giới định tuệ là điều kiện căn bản của đầy đủ đức tin; Tr157

Giảng kỹ về lòng tin, phương pháp tin,, lợi ích tin ........ Tr157

Tin => Giữ giới => ĐỊnh => Có huệ

Chuyển tám thức thành 4 trí thanh tịnh. VẬT ĐẾN THÌ CHIẾU - VẬT ĐI THÌ LẶNG; Tr164

Có tâm là vọng tưởng - Không tâm thì cảm ứng; Tr164

LẠI GIẢNG KỸ VỀ BỐ THÍ; Tr173

4 Ma: Thiên ma - Thần ma - Quỷ ma - Người ma; Tr175

Năm uẩn - Năm thứ ma lực, người tu cần phải vượt qua 5 thữ cảnh giới này, lại phải vượt qua cảnh giới tử ma (Lúc chết, tứ đại phân dã). Gặp cảnh giới chẳng me, xem là bình thường thì  chẳng có phiền lão ma ...Tr176

Giảng về các địa có 4 thứ/ 4 nhóm: Thập địa Phật thừ - Bồ Tát - Duyên giác - Thanh văn ...; Tr190

50 vị Pháp Thân đại sỹ (Thập tín - Thập trụ - Thập hồi hướng - Thập địa - Thập hạnh) thọ nghi thức quán đảnh; Tr 191, Q8

Quán đảnh: Giảng kỹ, Tr 192

Đồng tử - Thân thanh tịnh; nam dưới 16 tuổi, Nữ dưới 14 tuổi gọi là đồng tử, nếu xuất gia dễ đạt thần thông, pháp nhãn thường toàn đủ; Tr195, Q8

Giảng về xá lợi; Có duyên nhận được xá lợi về thờ chân chánh, xá lợi luôn sinh ra thêm; Tr 198

THANH VĂN - TỨC A LA HÁN; Tr 199, Q8

A La Hán tu đạo, tức tu 37 phẩm trợ đạo, dứt được thấy nghĩ; Tr 199

Độc giác tức Bích Chi Phật, còn là Duyên giác

Nhưng có phân biệt cách tu: Độc giác tu lúc không có Phật ra đời: Xuân quán trăm hoa đua nở - Thu quán lá vàng rơi mà ngộ đạo;Duyên giác là sau khi Phật ra đời, quán 12 nhân duyên mà ngộ đạo;

Giảng pháp 12 nhân duyên

Vô minh duyên hành -> Duyên thức (Có Thai nhi) ...

Giảng về 8 bộ trời - rồng - dạ xoa ... Tr202

Bát quan trai là Sát - trộm - Dâm - Nói dối - Riệu - Phấn son, trang sức - Nằm giường cao rộng - Không ăn phi thời; Tr 204

Ma Hầu La Già: Đại mãng xà - Địa long; Tr 204

Rồng có thần thông; Đại mãng xà không có thần thông

Diệu hữu về tự tánh: Sinh trí huệ - Không giao động - Thanh tịnh - Sinh vạn pháp; Tr 207

Muốn đắc ngũ nhãn lục thông cần thành tựu: Bố thí - Trì giới - Nhẫn nhục - Tinh tấn - Thiền định = Sức thần thông; Tr207

Nếu muốn cúng giường tất cả chư Phật, trước hết phải vào Định Tam muội..

Hoặc dùng hương đốt hoặc Hương bột cúng dường

Tham thiền đả tọa chẳng bị bất cứ không gian thời gian nào hạn chế. Ai có thể ngồi mà không ngủ thì sẽ có thành tựu (Đang nói trong Thất Vạn phật Thánh Thành); Tr219

Tâm thanh - Ý định: Như nước hiện trăng - Như Trời không mây, trời xanh cao

Bồ Tát dùng rất nhiều Pháp môn tu hành để làm lợi ích chúng sanh; Từ Tr 219

Phương tiện khéo, tùy thời tùy việc mà dùng. VD: Đức Phật thấy đứa trẻ sắp bò tới giếng, liền gọi này bé, trong tay Ta có kẹo, lại đây ăn kẹo (Tuy tay Phật chẳng có kẹo, nhưng đã cứu mạng bé); Tr 223

37 phẩm trợ đạo - Pháp môn tiểu thừa; Tr 224

Bồ Tát dùng 20 Pháp môn để giáo hóa chúng sinh; Tr226

Nói về bậc Đại trượng phu, giữ danh tiết lời hứa, trọng đạo, xả thân không khuất phục bạo ngược; Tr230

Lại giảng về 8 gió; Tr232

Luận đàm với người thiện tri thức một buổi , hơn 10 năm đọc sách; Tr242

BỒ TÁT HÓA THÂN TRƯỞNG GIẢ GIẦU CÓ, LÃNH TỤ THƯƠNG MẠI, NHÀ BUÔN, MỞ CỬA HÀNG ... LỢI ÍCH CHÚNG SINH; Tr243

Giảng về nhân sâm, khi được 8 lạng, hình dáng như người, có tay chân - Cải tử hoàn sinh; Tr243

Người xuất gia tu đạo học 5 Minh; Tr 245

Bồ Tát thị hiện tu ngoại đạo, để chỉ dẫn ngoài đạo về với chánh đạo; Tr246

Bồ tát thị hiện là Tà đạo, xem phong thủy, đoán cát hung ... tập làm việc bất hợp pháp. Nhưng ở trong các chúng đó làm thượng thủ - Lãnh tụ hướng thiện; Tr246

Giảng về 4 câu thệ nguyện: Chúng sinh vô lượng thệ nguyện độ ....;Tr255

Giảng về biểu tượng của dòng nước, có 4 thứ; Tr256

Không Tử nói, Phú quý mà cầu được,thì dù là việc cầm doi/ đánh xe thấp hiền cũng nguyện làm. Như thế đủ biết chẳng thể cầu mà được; Tr267

Giảng về trị bệnh chúng sinh - Tùy bệnh cho thuốc. Bệnh tham sân si ... cần dùng thuốc tứ đế, 12 nhân duyên, sáu độ để đối trị, tùy bệnh cho thuốc; Tr 278

Bình thường tu lễ lạy niệm phật, người bệnh lúc lâm trung cần Bồ Tát hỗ trợ niệm Phật sanh Tây Phương

Hoặc trong phòng bệnh nhân bày Thánh tượng A Di Đà - Quán Thế Âm - Đại Thế Chí; Tr280

Bồ Tát thường phóng đại quang minh khiến chúng sịnh các căn thanh tịnh, dù điếc vẫn nghe được ... 294

Bồ Tát thường phóng đại quang minh khiến chúng sịnh các sắc thanh hương vị xúc pháp thanh tịnh ... 294

Giảng chữ Mâu Thuẫn: Mâu - Công cụ giáo mác giết người. Thuẫn là công cụ chống lại Mâu, Mâu đâm chẳng thủng. Suy ra quan hệ xức trạm tình ái nam nữ cũng vậy; Tr298

các Duyên hiện nhân và 3 nguyên nhân xa hiện nhận, chẳng thấy Quang minh Phật; Tr303

Bài kệ trước khi lễ Phật; Tr305

Lạy Phật hãy chuyên tâm, sẽ có cảm ứng đạo giao tuyệt diệu... TR306

Công phu tu thiền định, đầu tiên đắc được cảnh giới Kinh an ...Tr312

Cảnh giới Khinh an này chỉ là phương tiện trình độ trước khi nhập định .......Tr312

Nhập định hay xuất định là Diệu không thể tả, 4 phương 8 hướng định đi khắp mọi nơi

Hàng Thanh văn chấp trước 8 giải thoát khỏi sự giàng buộc của 8 thứ thiền định; Tr327

A La Hán nhập định vi diệu

Nói về Ma thuật, Tr333

A Tu La sáu đường đâu cũng có. A Tu La thiện ở trời người A Tu La, ở 4 đường ác cũng có A Tu La, Súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục ... Tr334

A Tu La ... Tr337

Trời đao lợi còn gọi trời 33. mỗi bốn hướng có 8 trời, ở giữa 1 tổng thành 33 trời; Tr340

Giảng về nhiều thuật ngữ: Năm dục - Phóng dật; Tr 342

Mô tả về mây mầu sức các cõi vi diệu; Tr352

Trên thế gian vạn sự vạn vật đều đàg diễn nói Pháp, pháp có đạo lý là đáng tin, chẳng có đạo lý chẳng nên tin; Tr362

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 8

QUYỂN THỨ 09

Giảng về các Đại Bồ Tát 10 phương; Tr24, Q9

Hải hội Phật, Bồ tát cũng nhiễu bên phải 3 vòng. Tr 26

Bồ tát Pháp Huệ bắt đầu nói kệ: Tr 27

Lần lượt các Đại Bồ Tát 10 Phương nói kệ ca ngợi Đức Phật

Phàm phu thấy tất cả Pháp đều có - Nhị thừa thấy các Pháp đều không. Bồ Tát tui trung đạo - Diệu hữu, không thiên lệc có Không; Tr 37

lại giảng về Ngũ uẩn; Tr 40

 

Sóng phía trước chẳng đi về phía sau, chẳng biết sóng phía sau

Sinh sinh liên tục ... 5 uẩn đều không

Giảng về ngu nhãn lục thông; Tr 51

TRỤ TÂM PHÂN BIỆT: PHÂN BIỆT LÀ THỨC, CHẲNG PHÂN BIỆT LÀ TRÍ => CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ THÌ ĐẮC NHÃN PHÁP THANH TỊNH; Tr54

lại giảng về số 0 và 1 khởi thủy ... rất hay; Tr 74

đắc được 1 thì trở về cội nguồn - Là Thánh; Trời được 1 là thanh; Đất được 1 là yên;

Tâm tranh; Tr76

Số 0 diệu không thể tả; Tr77

HT Tuyên Hóa trùy duyên mà có tên, có các danh xưng tương ứng: đầu tiên gọi là họ Bạch, sau là Bạch Hiếu tử. Pháp danh xuất gia là An Từ, về sau gọi là Độ Luân, cuối cùng là HT Tuyên Hóa do HT Hư Vân đặt; Tr78

Tát cả đều là giả, đừng chấp trước

CÓ TÂM LÀ VỌNG - VÔ TÂM CẢM ỨNG; Tr85

ba cõi: Dục giới - Sắc giới - Vô sắc giới; GIẢNG NÓI VỀ NGŨ HÀNH - Tr 90

Giảng tiếp về số 0 hay; Tr91

Giảng về nghiệp trói buộc chẳng tu được; Tr99

Phật chiếu sáng khắp nơi, chúng sinh cần bật công tắc là đền sáng; Tr102

Đức Phật giáo hóa chúng sinh hết thẩy cần trụ vào Chánh pháp, nhưng chánh pháp chẳng có chỗ trụ vào đâu, vậy lên qua sông thì bỏ thuyền, Pháp cũng là không; Tr107

Thế gian: Có 3 thứ là Khí thế gian/ Núi sống đất đai nhà cửa... - Hữu tình thế gian: Chúng sinh ở - Chánh giác thế gian nơi Thánh hiền ở; Tr 110

BẮT ĐẦU GIẢNG ĐỊA VỊ BỒ TÁT CÓ 42 CẤP BẬC; Tr 118

Bồ tát có 42 phần vô minh hoặc

BẮT ĐẦU GIẢNG PHẨM ĐẦU: THẬP TRỤ;

Lưu ý: 42 Phẩm này tương ứng 42 Tay Ấn Pháp????

Dù Phật hay Bồ Tát, trước khi nói giảng Pháp thì phải nhập định; Tr119

Nhập định là vào phòng minh triết - Diễn nói như nước chảy không ngừng, vô tận vô biên; Tr120

10 thứ đại trí huệ của chư Phật gia trì cho vị Bồ Tát; Tr124

Bắt đầu giảng về thập trụ đầu tiên; Tr128

Tam muội là Định, có 9 thứ lớp định; Tr134

Tương ứng 10 địa vị - Cần học 10 thứ Pháp

2. Trị địa trụ có 10 thứ Tâm; Tr139

Phát tâm trụ cũng tương ứng có 10 thứ tâm

Mười pháp môn tu trị địa trụ

3. Tu hành trụ, cũng có 10 thứ tâm và 10 Pháp môn tu

4. Sinh quý trụ cũng tương tự, có 10 thứ Tâm và 10 Pháp tương ứng để tu

5. Bồ Tát cụ túc ..... cho đến tất cả 10 bậc của THẬP TRỤ ĐẦU TIÊN

TÂM SẠCH TẤT CẢ SẠCH - TÂM GIƠ TẤT CẢ GIƠ, CHỈ VÌ CÁI TÂM PHÂN BIỆT MÀ DƠ

HẾT THẬP TRỤ ĐẦU TIÊN - ĐẾN PHẨM PHẠM HẠNH; Tr241

Phép quấn thân bất tịnh cực kỳ tuyệt; Tr242

4 pháp ăn thực tương ứng các nghề nghiệp tạo ra tiền tài, thực phẩm đều bất tịnh; Tr 266

có 8 giải thoát; Tr273

Khi ngộ chẳng phải tự mình thừa nhận - Mà phải có người tu đắc đạo truyền Phật Tâm ấn chứng mới thành; Tr279

PHÁT TÂM TRỤ; Tr 281

Phát Tâm làm công đức như xây chùa, làm đường, đúc tượng ... được nhiều công đức; Tr283

Công đức ban đầu phát tâm đại bồ đề; Người lành nghe pháp thiện - Người ác nghe Pháp bất thiện;     Tr 284

Người trụ ở quả Tu Đà Hoàn - sơ quả A La hán, bắt đầu nghịch dòng phàm phu trần tục. Khi chứng quả thì mắt chẳng tham sắc, ....; Tr289

Sơ quả A La Hán đi chân chẳng chạm đất; Ai chứng so thì biết, chớ vọng ngữ chưa chứng nói chứng

Tại sao Bồ tát Phát Tâm Bồ Đề, có 12 lý do; Tr295

Người Phát tâm bồ đề - Tu Bồ tát đạo chính là chúng sanh thiện tâm

GIẢNG VỀ PHIỀN LÃO; Tr321

Tham danh thì chết vì lửa, Tham lợi thì chết vì nước. Tham gì chết về cái đó; Tr324

Đại - Trung - hạ phiền lão; Tr327

Phiền lão che đậy/ Mây che mặt trời có 5 thứ: Tham dục che đậy - San hận che đậy ...

các phiền lão chướng

Có 8 thứ Giác sinh chấp trước; Tr362

Pháp đại nhân là 8 Pháp giác trong Kinh BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC; Tr 378

Kinh Di Giáo nói 8 Pháp

THIỀN ĐỊNH CÓ 9 THUWS ĐỆ ĐỊNH; Tr383

Muốn biết tất cả Phật Pháp - hãy mau phát Tâm Bồ Đề; Tr402 Q9

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 9

QUYỂN THỨ 10

Thân Tâm Tinh Tấn: Thân: Giới định tuệ và Tâm: Tham Sân Si; Tr 10

Đại Bồ Tát Xả bỏ Pháp hữu vi; Chẳng tham danh; Chẳng chấp trước lợi thế gian. Tức Tài sắc danh thực thùy và vui ngũ dục Sắc thanh hương vị xúc/ 5 trần cảnh đều xa lìa. Lại ĐẮC ĐƯỢC PHÁP XUẤT THẾ, tức pháp môn 37 phẩm trợ đạo, xem chi tiết 37 phẩm; Tr 11

10 vấn đề giúp hành Bồ tát đạo, bước chân vào Bồ tát trụ; Tr13

Thành tựu 3 Minh: Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh; Tr14

18 Pháp bất cộng của chư Phật

MA CÓ NHIỀU THỨC, Lợi hại nhất là Tâm Ma, no thích nhiễu loạn, cản trở, xui bạn thoái thác đừng tu...; Tr18

Bồ tát tu thành tựu 1 Ba la mật cũng tương ứng thành tựu tất cả Ba la mật; Tr22

Dù là người xuất gia hay tại gia đều có trách nhiệm tu gìn giữ lỗi tiếp Tam Bảo

TRÍ HUỆ TỪ TRONG THIỀN ĐỊNH MÀ ĐẮC ĐƯỢC; Tr 23

Phương pháp tu thiền định: Phương pháp ngồi thiền đúng, phải hợp với tiêu chuẩn, bằng không sẽ chẳng có thành tựu ...; Giảng rất ký về thiền; Tr23

Mắt thấy sắc mà Tâm chẳng biết, Tai nghe chuyền đời Tâm chẳng hay..; Hoặc trong chẳng có Tâm, Ngoài chẳng có hình, xa xa chẳng có vật;  Tr25

Phá tan tất cả vô minh phiền lão sẽ sinh ra trí huệ - Trí huệ phóng ra đại quang minh, Quang minh này hàng phục tất cả ma gồm các loại ma ....; Quang minh thanh tịnh cũng hàng phục tất cả ngoại đạo, làm cho ngoại đạo trở về chánh đạo như tôn giá Xá lợi Phất, Mục Kiền Liên từ ngoại đạo mà cải tà quy chánh, thành người có trí hueeh đệ nhất và thần thông đệ nhất của đức Phật. Vậy nên, ngoài đạo chẳng qua là chưa đủ duyên, chưa tìm thấy chánh đạo mà thôi; Tr26

Dùng giới định huệ đối trị 5 độc Tham sân si kiêu mạn nghi => Đắc đại trí huệ, có thần thông quảng đại; Tr27

Làm thế nào để thoát khỏi ngu si đen tối => Phải tu pháp môn thiền định Ba la mật để có trí huệ quang minh - Phá tan vô minh; TR30

ĐẠI BỒ TÁT KHÔNG PHÓNG DẬT thì trụ vào 10 Pháp; Tr 32

Bồ Tát trụ không phóng dật, tiếp tục hành 10 Pháp Thanh tịnh; Tr35

Tâm trong như nước, sáng suốt như Gương; Tr36

là cảnh giới Định sâu

LÝ TRÍ GIỐNG NHƯ GƯƠNG SAO: Vật đến thì Bóng hiện rõ ràng, vật đi thì Bóng lặng; Tr 36

Nhập định thâm sâu, trí huệ quang minh sẽ thông đạt, lúc đó Mạch máu hành giả ngừng lại (Đệ nhất thiền) hoặc Hơi thở ngừng lại (Đệ nhị thiền); Hoặc Niệm lực ngừng lại (Đệ tam thiền); Hoặc Tâm thức ngừng lại (Chứng được cảnh giới đệ tứ thiền). Tóm lại giống như người chết nhưng chẳng phải chết. Nhưng chứng được cảnh giới tứ thiền, vẫn còn là Phàm phu, chưa vào hàng Thánh chứng quả, nên chú ý, chẳng lên hiểu lầm. Ngoại đạo thì nhập vào Trời Vô tưởng - Chứng đạo thì nhập vào Trời Ngũ Bất Hoàn, lúc này mới là SƠ QUẢ A LA HÁN - HOẶC THẬP TRỤ BỒ TÁT. Đến cảnh giới này thì đắc được Thần thông; Tr 37

Bồ tát thấy chúng sinh Phát tâm Bồ đề - thì tôn trọng như Hòa thượng/ Người xuất gia tối cao, tối tôn kính; Tr 37

Vị Đại Bồ tát lại có 10 Pháp, khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ; Tr39

Bồ tát đạt Cảnh giới làm mà như không làm, Tu mà không tu, tất cả xem như tự nhiên, chẳng chấp trước, chẳng phải đang tạo tác điều gì, một chút miễn cưỡng cũng không có; Tu tức chẳng cầu, cũng chẳng cần khai ngộ, chẳng cầu chứng quả, chẳng tác ý tôi tu thế này thế kia ... tức là tu hành; Tr 41

Lại có 10 Pháp khiến chư Phật hoan hỷ; Tr 43

Lại có 10 Pháp khiến cho các Bồ tát sớm nhập vào các Địa Vị; Tr44

Bồ Tát biết được Pháp thật tướng như vậy rồi, thì sẽ đắc được Thập địa, có thể an trụ vào địa vị của Thập địa; Tr47

10 Pháp khiến Bồ tát sơ hành thanh tịnh; Tr 49

lại có 10 Pháp tăng thêm thù thắng; Tr51

Tu hành tinh tấn đến cực đỉnh, sẽ được chư Phật, Bồ Tát gia trì: Giờ tay xoa đầu hay như có gió thổi nhẹ ...; Tr53

Bồ tát có 10 nguyện thanh tịnh; Tr574

Nguyện của Bồ tát, ai ai cũng lên Phát nguyện và ai ai cũng lên hành như nguyện vậy;

Bồ tát trụ 10 Pháp khiến các đại nguyện được viên mãn; Tr58

Người tu Học, nghe giảng Phật Pháp có 5 điều lợi ích: Tr 60

THỌ KHỔ HẾT KHỔ - HƯỚNG PHƯỚC HẾT PHƯỚC

Ứng 10 đại nguyện - Đặng 10 pháp vô tận. Ví như đặng thần thông có thể do kiếp trước đặng thành, kiếp này đủ duyên là phát. hoặc kiếp này tu hành thành tựu đắc thần thông; Tr66

Giảng về các Pháp đối trị của vị Bồ tát tùy thuận căn cơ chúng sinh: Người tham dục - Người sân hận - Người ngu si - Người ưa sinh tử -  Người chấp trước....; Tr68

Bồ Tát tùy thuận sự thời cơ của chúng sinh mà nói ra mười pháp dưới đây:

1). Ðối với chúng sinh nhiều tham dục, thì vì họ nói pháp quán thân bất tịnh:

- Một là nghĩ về sự chết

- Hai là quán sình lên.

- Ba là nghĩ về máu đọng ứ.

- Bốn là nghĩ về mủ hôi hám.

- Năm là nghĩ về hủy hoại.

- Sáu là nghĩ về máu chảy.

- Bảy là nghĩ về dòi, trùng ăn.

- Tám là nghĩ về cốt xương.

- Chín là nghĩ về tan hoại.

Ðây là chín sự quán tưởng bất tịnh.

Hoặc là thườngquán chín lỗ thường chảy ra đồ dơ dáy.

Lại quán thân bất tịnh là:

- Một là chủng tử bất tịnh.

- Hai là trụ xứ bất tịnh.

- Ba là tự tướng bất tịnh.

- Bốn là tự thể bất tịnh.

- Năm là cứu kính bất tịnh.

   (Kinh Hoa Nghiêm giảng giải tập 10. Tr 70)

Hay tu quán như vậy thì chẳng còn tâm tham dục nữa. Ðây là một trong ngũ đình tâm quán. Ngũ đình tâm quán tức là:

- Một là quán bất tịnh.

- Hai là quán từ bi.

- Ba là quán nhân duyên.

- Bốn là quán giới phân biệt.

- Năm là quán sổ tức.       (Tr 69 Q 10 Kinh Hoa Nghiêm)

Hay tu quán như vậy thì chẳng còn tâm tham dục

Giảng về  cảnh giới 5 dục: Tài sắc danh thực thùy hay Sắc thanh hương vị xác; Tr 77

Ngổi thiền chẳng thể nhập định vì có vô minh phiền lão; Tr77

Kheo nghe và quan sát các Pháp, đắc được ấn thật tướng. Tất cả các Pháp dùng Thật tướng làm Ấn; Tr 79 Q10

Môn lưu chuyển sinh tử và môn hoàn diệt Niết bàn - 12 Nhân duyên; Tr81

Bồ Tát biết Tâm chúng sinh Tham sân si ... dùng pháp môn phương tiện tương ứng để giáo hóa. Xêm đầy đủ Tr84

Bồ Tát thành tựu viên mãn 10 Ba La Mật thì chứng nhập địa vị Thập địa Bồ tát, thành tựu Bố thí thì chứng nhập Hoan hỷ địa ... rất chi tiết; Tr84

Bắt đầu Bồ tát hàng Thập địa giáo hóa chúng sinh, tùy theo căn cơ mà giáo hóa ...; Tr86

BỒ TÁT THẬP ĐỊA TU 10 THỨ TRANG NGHIÊM: Thân trang nghiêm - Lời trang nghiêm ...Tr91

Dù nghe danh, nghe giảng, cúng dường, ở chung, nghĩ nhớ, theo xuất gia hay ở xa sinh tâm cung kính hay tán thánh khen ngợi vị Bồ tát nào đó => Đều sẽ đắc A lậu đa la tam miệu tam bồ đề/ Vô thượng chánh đẳng chánh giác; Tr 94, T10

Chúng sinh thấy được vị Bồ tát thành tựu 10 thứ trang nghiêm, thì 5 độc tham sân si .. đều được tiêu trừ; Tr 94

10 đại ma quân; Tr 95

11 ngoại đạo trong kinh Hoa nghiêm sớ sao có giải thích rõ; Tr 96

Nói về 3 Minh: Thiên nhãn minh - Túc mạng minh - Lậu tận minh; Tr96

Tâm vô úy/ Không sợ hãi có 4 loại: Tr101

Đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề, thăng lên vô số cõi trời giảng pháp - Một là nhiều , nhiều là một vô ngại; Tr111 - T10

Cõi trời Dạ ma/ Thời phân. Cõi này chẳng có mặt trời mặt trăng. Hoa sen nở là ngày, Hóa sen khép là đêm... Tr 111

Từ trang 111 giảng về Phẩm Thăng lên trời Dạ Ma thứ 19 của ĐỨC PHẬT THÍCH CA

đức Phật Thiện Giác Như Lai chẳng có thầy mà tự ngộ và thành tựu; Tr 120-T10

PHẨM KỆ KHEN NGỢI CUNG TRỜI DẠ MA thứ 20; Tr124

5 dục có 2 lối nói: Tài sắc danh thực thùy hay Sắc thanh hương vị xúc. Đây là 5 trần ; Tr133

KHÔNG ĐẾN KHÔNG ĐI GỌI NHƯ LAI. Pháp thân của Phật khắp Pháp giới; Tr135

Thế gian phân làm 3 thứ: hữu tình thế gian - Khí thế gain - Tric chánh giác thế gian; Tr137

Cấu = Vô minh, ngu si - Cấu nhiễm =  Tham danh lợi; tr 137

Các Pháp chẳng chỗ đến - Chẳng có tác giả - Chẳng có chỗ sinh => Không thể phân biệt được. Gốc rễ Pháp chẳng có bản thể; Tr 144

các pháp cũng chẳng sinh chẳng diệt = Người đó thấy Như Lai

Biết mà không biết, hiểu mà chẳng có chỗ hiểu ...

Phật pháp nếu kiếp trước chẳng có phát đại nguyện lành thì chẳng thể được nghe. Nên phải biết, nghe được Kinh Hoa Nghiệm là do nhờ đại nguyện từ tiền kiếp; Tr150

Phát nguyện này là Nguyện lực Bồ đề Tâm

Tâm Tàm quý - Biết hổ thẹn. Nếu chẳng sinh tâm sám hối thì nghiệp tội vĩnh viễn tồn tại. Nên đến trước Phật sám hối - Tội trướng nhiều như núi - Sám hối tiêu tan; Tr152

Đức Phật chẳng gì mà không biết - Chẳng gì mà không thấy. Tức không thể nghĩ bàn, bậc phàm phu chẳng hiểu nổi.; Tr154

Niết bàn: Hữu dư niết bàn Hàng nhị thừa - Vô dư Niết bàn của hàng Bồ tát. hai mà chẳng phải 2; Tr160

9 Pháp giới chúng sinh đều ở trong 3 đời Quá hiện vị lai, hoàn toàn đều ở TRONG 5 UẨN dàng buộc, chẳng được giải thoát; Tr162

CÁC UẨN NGHIỆP LÀ GỐC - CÁC NGHIỆP TÂM LÀ GỐC. tâm pháp giống như huyễn, thế gian cũng như vậy; Tr163

=> Tất cả do tâm tạo

=> Pháp 3 đời 5 Uẩn - Nói tên là thế gian, cũng chỉ là cái tên; Tr164

5 Uẩn Tánh vốn không tịch, vì là KHÔNG cho lên không thể diệt, sao lại có sinh. Đây là đạo lý KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT; Tr165

Nếu minh bạch Chúng sinh - Thế gian - năm uẩn, các Pháp đều Hư vọng không thật, thì không còn chấp trước; Tr166

CHÂN KHÔNG CHẲNG KHÔNG NÊN MỚI CÓ DIỆU HỮU - DIỆU HỮU CHẲNG HỮU MỚI LÀ CHÂN KHÔNG

Chỉ niệm 1 bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm, người chết 3 ngày sống lại; Tr179

Bắt đầu PHẨM THẬP HẠNH TỨC THẬP ĐỘ - 19 Pháp Ba la mật. Khi công đức viên mãn mới chứng được Thập trụ - Thập hạnh - Thập hồi hướng. Rồi sau đó mới chứng nhập thập địa/ Bậc Thánh; Tr186 T10

Mười phẩm này dạy người tu đạo tu như nào, dụng công như thế nào. Phẩm này là phẩm thứ 21 trong 80 phẩm Kinh Hoa nghiêm

Công đức: Công là lập công tu hành làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Đức là âm đức, làm lành giúp người nhưng không cho người biết. Tr187

Niết bàn có ba thứ: Hữu dư niết bàn - Cảnh giới hàng nhị thừa; Vô dư niết bàn của hàng Bồ tát; Cứu kính niết bàn của chư Phật; Tr 201

Không ta/ Không nghĩ về công giáo hóa; Không chúng sinh/ Chỉ Xem là trách nhiệm và sự nghiệp của mình phải làm

MƯỢN GIẢ TU CHÂN: Chuyển 8 thức thành 4 trí. chuyển 5 thức thành Sở tác trí. Chuyển ý thức thành diệu quán sát trí. Chuyển thức mạt na thành bình đẳng tánh trí. Chuyển thức A lại da thành Đại viên cảnh tríp; Tr205. T10

Đại viên cảnh trí tức tánh Như lai tạng, tức đại quang minh tạng = Ai ai cũng có, nhưng chẳng hiện ra do vô minh vonhj tưởng chấp trước, Chân tâm bị che lấp thì Vọng tưởng hiện ra. Vọng tâm khởi nghiệp rồi thọ báo. Vọng tâm giống như bát nước đục chẳng thể hiện gì ra, dùng phèn trắng/ Giới định tuệ làm nước trong suốt như gương, lặng đọng bụi bẩn = Chân tâm; tr2205

Hết hạnh hoan hỉ thức nhất:P Bố thí ba la mật

Hạnh thứ 2: Nhiêu ích của đại Bồ tát

Đại Bồ tát đối trước các dục dù là thiên nữ xinh đẹp giầu có cũng giữ tâm thanh tịnh như như bất động, chẳng tham, chỉ trừ dung pháp môn phương tiện giáo hóa nhưng không nhiễm ô; Tr211

Dùng pháp môn giáo hóa, vì đây là sự nghiệp của đại Bồ tát phải làm; Tr213

cần nhớ các pháp đều không

Sang hạnh thứ 3: Vô vi nghịch của đại Bồ tát

Tu Pháp nhẫn nhục, khiêm nhường cung kính; Tr 218. T10

Tu nhẫn nhục thì trước phải loại bỏ Tâm kiệu ngạo. Trong Đao đức kinh nói: Người thiện trên hết giống như nước, lợi ích vạn vật nhưng chẳng tranh công, chỉ ở chỗ thấp trũng, chỗ cao thì nhường = Hạ thập mình, hợp với Đạo; Tr219

9 loại lời nói kho nghe - Bồ tát chẳng động tâm; Tr222

10 nguyên nhân khiến vị Bồ tát phải tu nhẫn thọ; Tr229

Sang Hạnh thứ 4: Vô khuất nhiếu - các hạnh Tinh tấn; Tr 230

gồm 10 thứ pháp môn tinh tấn

Bồ tát vì 10 nguyên nhân này mà phải tu tinh tấn; Tr 232

Cũng vì 10 nguyên nhân này nữa mà tu Pháp Tinh tấn

Sang hạnh thứ 5: Lìa si loạn - Bồ tát phải tu Lìa khỏi ngu si tán loạn, tức tu Thiền định. Thành tựu chánh niệm, kiên cố thanh tịnh... Tr 237

NHẬP THAI CÓ 4 DẠNG căn cứ nhập thai - Trong thai - Xuất thai của các hàng: Chuyển luân - Duyên giác - Bồ Tát biết cả 3 - Phàm phu thì u mê cả 3 giai đoạn; TR239

Bồ Tát lắng nghe 15 thứ Chánh Pháp; Tr 242

7 thứ âm thanh dù rễ nghe hay rất khó nghe, đau tai cũng không thể làm cho Bồ tát tán loạn mê hoặc; tr 244

Sang hạnh thứ 6 - Thiện hiện: Pháp môn Bát nhã Ba la mật trong Lục độ. Có 3 thứ trí Huệ; Tr 251

Vị Bồ tát vô vi mà Vô bất vi, hành sở vô sự, chẳng chấp nới tất cả tướng, quét sạch tất cả Pháp. Chỉ nên quán sát tất cả pháp giới như huyễn, như hóa, chẳng chân thật - là Hư vọng; Tr273

Pháp Phật xem như âm thanh, nghe thấy thấu hiểu coi như không

Tư tưởng và tông chỉ của Bồ Ta: Vô duyên đại từ - Đồng thể đại bi; Tr 276

hạnh thứ 7 - Vô trước/ Không chấp trước. từ trang 261 - 276

hạnh thứ 8: Nan đắc tức là Nguyện/ Bồ đề nguyện. Trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. Tr276. T10

Bồ Tát thành tựu nhiều 10 căn lành tối thắng

Bồ Tát tu các hạnh không ngừng nghỉ ... vì chúng sinh

Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng => Tức thấy Như Lai; Tr279

Chúng sinh có tướng, là tướng hư vọng, Bồ tát vẫn phải nhờ vào hư vọng/ Chẳng có này để lập công/ Độ chúng sinh - Hành Bồ Tát đạo; Tr279

Bồ tát chẳng trụ ở bờ này, bờ kia hay giữa dòng, mà độ chính sinh từ bờ này sang bờ kia không ngừng nghỉ

Ở giữa dòng phiền lão càng sâu dày, vi tế

Lìa dục tức chẳng còn cái Ta - Còn Ta tức còn dục; Tr287

Bồ tát nghĩ về chúng sinh chẳng biết báo ân, ngu si, thù oán, tà kiến chấp trước, mê mờ điên đảo ... Đó là nới tôi Tu hạnh Bồ tát. Nếu chúng sinh chẳng còn như vậy, tôi chẳng ở đó tu; Tr291

Bệnh về nghiệp: Tham sân si kiêu mạn nghi ...

Sang hạnh thứ 9: Thiện pháp của đại Bồ Tát; Tr295

Pháp tu có 4 loại: Thiện trong thiện - Ác trong thiện - Thiện trong ác - Ác trong ác. Người tu cần phân biện, hiểu rõ Pháp thiện; Tr295

Thành tưu các Pháp Đà la ni, biện tài bô ngại; Tr296

Gồm 10 thứ pháp môn Đà la ni

Nói về một cái Ao trên đỉnh núi Tuyết Sơn có 4 cái miệng, phun ra 4 thứ cát tưởng trưng nghĩa lý nói giảng Pháp rất hay: Miệng Voi - Miệng Sư tử - Miệng Trâu - Miệng Ngựa... Tr297

Bồ Tát năng lực vô biên vô tận, cùng lúc lắng nghe và quán sát, trả lời vô lượng vô biên chúng sinh. ..Tr300

Đại Bồ Tát thành tựu 10 thứ Thân; Tr304

Hạnh thứ 10: Hạnh chân thật - Thành tựu lời chân thật như nói ra là làm được, làm được mới nói ra

Đại Bồ Tát đắc được 1o thứ trí huệ; Tr310

Bồ tát hành Bồ tát đạo như Nguyện xưa đã phát; Tr311

Vị Bồ tát đắc được Hạnh này rồi, tùy thuận chúng sinh các cõi, ai gần gũi thì độ họ giải thoát; Tr317

Hết hạnh chân thật thứ 10

Bồ tát nói xong, các cõi thế giới chấn động 6 cách, trời mưa hoa báu ... 320

Hết Thập hạnh của Đại Bồ tát

Nói về 10 Pháp giới: 1 Pháp giới đầy đủ tất cả pháp giới - Tất cả pháp giới chẳng lìa một pháp giới; Tr326

Bố thí có 3 loại: Bố thí tài - Cứu thân mạng; Bố thí Pháp - Cứu Huệ mạng; Bố thí vô úy - Cứu không sợ hãi, dùng lời lẽ an ủi khiến không còn sợ hãi; Tr332

Có 6 bài kệ khen ngợi Hạnh thứ nhất - HẠNH HOAN HỶ của Bồ Tát tu

có 5 bài kệ khen ngợi hạnh thứ 2: HẠNH NHIÊU ÍCH

4 BÀI KỆ KHEN NGỢI HẠNH THỨ 3: vô vi nghịch; Tr 336

5 bài kệ khen ngợi hạnh thứ 4: VÔ KHUẤT NHIỄU; Tr338

Một cách thống kê có 12 loài: Thai sanh, Loãn sanh .... Tr341

Người tu phải : Lập công - Lập ngôn - Lập đức tương ứng Làm công quả ở chùa - Giảng kinh thuyết pháp - Hộ trì Tam bảo; tr344

Đức Phật vào năm 30 tuổi, sau khi tu khổ hạnh 6 năm, vào ngày 8/12, mắt thấy sao Mai mọc mà ngộ đạo; Tr 366. T10

Phật ra đời hóa độ chúng sinh; Chúng sinh hóa sinh ra vô cùng tận, độ chẳng thể hết: HÓA HÓA KHÔNG NGỪNG - ĐỘ ĐỘ VÔ CÙNG. Vĩnh viễn đều có chúng sinh. Tr367

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 10

TẬP THỨ 11

Đại Bồ Tát có 10 thứ Tạng

Mỗi pháp môn Kinh Hoa Nghiêm đều nói 10. 10 đại biểu cho vô tận. Tr 10

10 phương ba đời tất cả chư Phật đều từ trong 10 pháp môn vô tận sinh ra. Phẩm này rất quan trọng. Xem giải thích về 1o Tạng. Tr11

1. Tín tạng: Tin tất cả các pháp đều không ... Tr13

Cảnh giới NIẾT BÀN là Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Bốn đức. Tóm lại: Phiền lão diệt rồi tức là Niết bàn. Cho lên "Phiền lão vô lượng thệ nguyện đoạn". Đoạn là biến phiền lão thành Bồ đề. Vì ở trong Kinh Phật nói: Phiền lão tức Bồ đề. Phiền lão tức nóng giận sân hận - Lửa vô minh; Tr17 . Q11

Tín - Tin là nguồn Đạo mẹ công đức - Dướng lớn tất cả các pháp lành. Tr20

2. Giới tạng: Bồ tát tu 10 giới

2.1- Giới lợi ích gồm Oai nghi - Các Pháp lành - Lợi ích chúng sinh; Tr21

Tịnh giới - Giới thanh tịnh: tức ngũ giới

3.2- Giới Chẳng thọ: Chẳng thọ các giới ngoại đạo tu

2.3, Giới chẳng trụ: Chẳng trụ ở cõi dục giới - Sắc giới - Vô sắc giới. Vì chẳng cầu sinh về đó mà trì giới.

Chúng sinh cõi dục: Có tình dục/ Tư tưởng dâm dục - Thân hình - Tâm thức. Cõi sắc giới tuy chẳng có tình dục/ Có ý niệm sắc đẹp, có Thân hình - Tâm thức. Cõi vô sắc giới chỉ có Tâm thức mà thôi/ Có phân biệt chấp trước => Vẫn trong tam giới/ Luân hồi; Tr23

2.4- Giới không hối hận vì chẳng làm việc sai ác

2.5- Giới không trái cãi với Giới chư Phật chế ra. Tra 24

2.6- Giới không lão hại. Không làm hại chúng sinh

2.7- Giới chẳng tạp: chẳng giữ tà giới của bàng moion tà đạo

2.8- Giới không tham cầu: Không dùng các pháp tham cầu bất chánh. tr 26

2.9- Giới không lỗi lầm: Chẳng cống cao ngã mạn, chẳng khinh thị phỉ báng người phá giới. Chỉ giữ mình

2.10- Giới không hủy phạm: Tu thập thiện nghiệp. Tr27

Thọ trì giới Không hủy phạm, Bồ tát thường quán tưởng ....

3. TÀM TẠNG: Hồi tưởng nghĩ nhớ đủ thứ các điều ác đã làm quá khứ, cùng chúng sinh đắp đổi làm cha mẹ anh em, tổn hại lẫn nhau, chẳng có việc nào không làm ... sinh tâm hổ thẹn => Sửa lỗi làm mới. Tr29

Bồ tát nghĩ: Tất cả chúng sinh cũng đều như vậy

Bồ tát tự nghĩ mình không thể thế được, phải tu pháp hổ thẹn

4. QUÝ TẠNG: Bồ tát tự thẹn, bao kiếp ở trong 5 dục, có đủ thứ tham cầu mà không biết đủ => Tăng trưởng phiền lão => Nay tôi không làm nữa. Tr 32

Trong tâm sinh sấu hổ là Tàm - Ngoài tâm sinh sấu hổ là Quý. CHÁNH NHÂN QUÂN TỬ, một đời ngửa mặt không thẹn với trời, cúi xuống không tủi với đất. Tr32

Quán chúng sinh ngu si phiền lão nhiều ...

Nhập thai thọ sinh ở trong nhơ bẩn ... đến già tóc bạc , tất cả từ tham dục mà ra

5. VĂN TẠNG đại Bồ tát tu hành: Ngài biết 10 thứ pháp này - Bác học đa văn. Xem chi tiết. Tr 36

5.1- Việc này có, nên việc này có .... => Đoạn này nói về Pháp 12 nhân duyên

Có thức thì có Danh Sắc: Danh là hệ thống thần kinh của thai nhi - Sắc là nhục thể

Ái là nguồn gốc khổ đau

12 nhân duyên gồm 2 cửa: Thuận là luân hồi và nghịch là hoàn diệt

Pháp thế gian là gì: Sức thọ tưởng hành thức - là Pháp hữu lậu. Cũng có lôi nói 5 uẩn là Sắc tâm pháp ... Tóm lại, sắc uẩn do nhân duyên mà có Pháp hữu vi. Thọ tưởng hành thức 4 uẩn do vọng niệm sinh ra, là Tâm pháp => là Pháp thế gian. tr 38

Pháp xuất thế gian là gì: Giới định huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Tr 39

Pháp hữu vi là gì: Là dục giới, sắc giới, vô sắc giới, chúng sinh giới. Tức là Pháp có chỗ làm, pháp lương nhân duyên mà làm

Pháp vô vi là gì: Là Hư không, Niết bàn, Số duyên diệt, Phi số duyên diệt, Duyên khởi, Pháp tánh trụ ... Tr39

Pháp vô vi là pháp không chỗ làm, pháp liwaf nhân duyên làm nên, là lý tánh bình đẳng .. Tr 39. Q11

Duyên khởi - 12 nhân duyên là Phật tánh, cho lên có vô số pháp tánh - Tánh của chân như, còn là tánh Như Lai tạng, Phật tánh, Pháp giới .... đây đều là Pháp vô vi. Tr40

Pháp hữu ký là gì: ... bốn niệm xứ, bốn chánh cần, năm căn, năm lực, bảy giác phần, bát chánh đạo ... Tức 17 phẩm trợ đạo. tr41

Pháp vô ký là gì: Vô ký - Chẳng thiện chẳng ác - Chẳng ghi nhớ. Giảng về thế gian ... thường vô thường ..., chúng sinh ...

Những gì vô biên vô số, như lai ra đời trước sau, pháp nào ra đời trước sau ... chẳng thể ghi nhớ

6. THÍ TẠNG: gồm 10 thứ bố thí. tr45. Q11

Bồ tát khi ăn thì nghĩ: Trong thân tôi toàn là vi trùng đầy khắp, tôi chẳng tham ăn, nhưng tôi đói thì chúng đói ...

Giảng sơ lược về 6 cõi trời. tr61. Q11

1 ngày 1 đêm ở nhân gian = 50 năm ở địa ngục. tr65

7. HUỆ TẠNG: Về sắc thọ tưởng hành thức ... diệt tập đều biết như thật. Tr 70. Q11

Tu hệ tạng tức tu 2 Pháp 5 uẩn và 4 đế thông suốt chân thật. Xem giảng chi tiết

Pháp 5 uẩn và 4 đế phải thấu triệt lẫn nhau thì sẽ viên dung vô ngại. nếu không sẽ sinh ra đủ thứ chấp trước. tr 71

Bồ tát với pháp 12 nhân duyên cũng biết như thật

Bồ tát biết vô minh khổ đế - Tập đế - Diệt đế - Diệt đạo đế phải biết chân thật. Tr72

=> Sẽ đoạn trừ vô minh, chẳng còn phiền lão

Nơi ái cũng như vậy, biết như thật khổ tập diệt đạo của ái => Tu đoạn dục khử ái đến viên mãn chẳng còn sanh tử. tr 73.Q11

Pháp thanh văn - Pháp độc giác cũng biết như thật

Biết minh bạch pháp Bồ tát tu: Bồ tát tu lục độ. Tr75

Tự tánh/ Thứ thư 8 là chủ. Thân thể là nhà, nhà hỏng tự tánh đi chỗ khác. Lúc mê hoặc thì gọi là A lại gia thức - lúc tỉnh ngộ thì là Đại quang minh/ Tánh như lai tạng/ Phật tánh. Đo là chuyển Thức thành Trí. tr77. Q11

Bồ tát giảng nói các Pháp không thể hoại ... vì các Pháp đều không

8. Huệ vô tận tạng gồm 10 thứ: Đa văn - Gần gũi thiện tri thức - Phân biệt câu nghĩa - Vào sâu pháp giới ....vào tất cả môn Đà la ni - Phân biệt lời lẽ âm thanh của  tất cả chúng sinh - Dứt nghi hoặc .. Xem giảng chi tiết. Tr81

Trên vẫn đang là Huệ tạng

8. NIỆM TẠNG. Tu niệm tạng nhớ được 1,2...10, 100., 1000, vô lượng đời. Tr84. Q11

TRong niệm tạng có 10 thứ vô tận: Đời - kiếp - Phật danh ....

Xem giảng chi tiết, vi như Thành trụ hoại không

Nhan duyên thọ thân bổn xưa của đức Phật được ghi trong Kinh Bổn Sinh. tr90. Q11

Niệm tạng này có 10 thứ niệm: Xem chi tiết. Tr 93

9. TRÌ TẠNG> Thọ trì vô lượng vô biên tất cả Pháp ...

Pháp môn trì tạng chỉ có Phật mới thấu rõ được. Tr99

10. BIỆN TẠNG - Bồ tát biện tài vô ngại vô lượng vô biên pháp. tr101

Bồ tát thành tựu vô biên thân, tận hư không khắp pháp giới. tr104. Q11

10 thứ Tạng vô tận này có 10 thứ Pháp vô tận. Xem chi tiết. tr105

Người hành Bồ Tát đạo phải phát đại nguyện - 4 Nguyện lực căn bản. Rồi phát 10 đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Rồi hồi hướng cho pháp giới tất cả chúng sinh. Đây là hồi tự hướng Tha. Tr106. Q11

Hữu vi: Phàm có hình tướng là hữu vi. tr108

Đức Phật nói xong phẩm thập tạng tại cung trời Dạ ma, lại thăng lên cung trời Đâu xuất, vì thiên chúng nói pháp môn Thập hồi hướng. Pháp này là pháp Bô tát tu tam hiền (Thập trụ - Thập hạnh - Thập hồi hướng). Tr111

Cõi Trời Đâu xuất là cõi thứ tu cõi Dục giới, ở trên cõi trời Dạ ma - Ở dưới cõi trời Hóa Lạc. Cõi trời này có Nội viện và Ngoại viện. Nội viện là chỗ ở của các Bồ tát bổn xứ Phật vị, hiện tại Bồ tát Di Lặc (Phật vị lai) đang ở Nội viện. Ngoai viện là nơi Thiên chúng ở, hiện tại Bồ tát Di Lặc đang diễn nói diệu pháp. Tr112. Q11

Bài kệ giảng về Bồ Tát Di Lặc tu nhẫn nhục. tr116. Q11

CẢNH GIỚI TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI. Tụng đến nhất tâm bấn loạn sẽ có cảm ứng như phát hào quang, có người thấy hoa, thấy hương thơm, Bồ tát xoa đầu, . Tr148. Q11

Tại cung trời Đâu xuất, nhiều Thanh văn, Duyên giác, Thánh chúng đang tụng Chú Đại Bi hoặc Chú Lăng Nghiêm. Chú Đại Bi thì tụng mọi lúc mọi nơi mọi thời đều có thể trì tụng.

Với Chú Lăng Nghiêm tốt nhất tụng vào 4 giờ sáng, tốt nhất là ở trong Chánh điện. Nơi thờ Phật hay nơi yên tĩnh cũng được. Nhưng phải trang nghiêm thanh tịnh. Tr 151. Q11

Hàng A La Hán phải tác ý (Nghĩ tưởng) và Quán sát (Nhập định), sau đó mới biết nhân duyên của tất cả các cảnh giới. Hàng Bồ Tát đắc Thần thông quảng đại, không cần tác ý và Quán sát, lập tức biết được nhân duyên của tất cả các cảnh giới. tr154. Q11

Dạ xoa dịch là Quỷ tốc dật có 3 thứ: Quỷ đi trên không - Quỷ đi trên trời - Quỷ đi dưới đất, đi như bay, rất nhanh lên gọi là Tốc tật quỷ. Dạ xoa là một trong Thiên long bát bộ, là Thần hộ Pháp. tr 165. Q11

Giảng về các loại chúng sinh trên trời, quỷ thần ... Tr169

Tâm tịnh nước hiện Trăng - Ý lặng trời không mây. Tr213. Q11

Một niệm không sinh toàn thể hiện - Sáu căn giao động bị mây che lấp

Cổ đức nói: Xuất gia chẳng phải là việc rễ dàng - Đều do nhiều đời gieo giống Bồ đề. Tr228

Lợi ích người Xuất gia: Thanh tịnh => Phước điền tăng. Xuất gia rồi, tu hạnh lành rất nhỏ, đắc được phước điền lớn, vô lượng phước báu, vô lượng trí. Tr231

Tại chùa Kim Sơn - HT Tuyên Hóa cũng lựa chọn ngày cho một vị Xuất gia. Tr231

Ruộng phước Tam bảo là ruộng phước tốt nhất, siêu vượt thế gian, tu ít mà quả được nhiều vô lượng; Tr231.Q11

Hạnh thanh tịnh: 6 tông chỉ của Vạn Phật Thánh Thành hay cũng có thể nói không Tham Sân Si. Tr240. Q11

Pháp môn thập độ - 10 Ba la mật, đạt được thanh tịnh. Tu hạnh Bồ tát đến bờ bên kia/ Niết bàn không sinh không diệt (Đáo bỉ ngạn). Thế giới Ta bà là bờ bên này - Phải qua Sông phiền lão - Sang bờ kia. Tr245

Kinh Hoa Nghiệm Đại Phương Quảng Phật - Là vua trong các Kinh. Nghĩa lý nói về Kinh này là vì Bồ Tát mà diễn nói tu hành Bồ Tát đạo như thế nào ... hoàn toàn vì người, chẳng vì mình. Tr245

Thập độ Ba la mật - Giảng giải chi tiết. Tr246

Chỉ khi hội đủ căn lành thành thục, mới có thể gia nhập Tam bảo. Khi chưa thành thục, dù có ước muốn cũng không thể thành. Tr258. Q11

Nhẫn chịu: Nhẫn nóng lạnh gió mưa đói khát ... Nhẫn những gì người khác không thể nhẫn. Tr258

Lễ khai quang tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thời tiết chẳng tốt, ngày nào trời cũng mưa. Nhưng khi ngày lễ đến, trời hết mưa. Tr261

Giảng về ngũ nhãn. Tr267

Dũng mãnh: Dũng là dũng về sửa đổi lỗi lầm, mãnh là mãnh liệt tiến về phía trước. Dũng mãnh sửa lỗi, tiếc thời gian.. Tr273

Giảng về Bồ Tát 10 phương và danh hiệu các ngài. Tr273

Giảng về nhận biết Phật không mê tín, đúng chánh Pháp. Tr288

Giảng về 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật. Tr291

Phật có 40 cái răng

Lông, tóc quắn về phía phải

Tu Bồ tát đạo, muốn gần gũi chư Phật, tu theo Kinh Hoa Nghiệm, đọc tụng Kinh này là Thấy Kinh Hoa Nghiêm - Tức thấy chư Phật. Tr299

Tâm Bồ đề bền vững: Không gì làm lay chuyển việc tu hành Bồ Tát đạo, Chánh tin là có Phật, có Kinh, Có A La Hán, Có Bồ tát. Phá nghi mới khai ngộ được. Tr301

Dùng Cam Thảo rất tuyệt vời trong chữa bệnh, hợp các thứ thuốc, giải được trăm bệnh. Cam thảo trị bách bệnh, tính bình hòa, chẳng khởi xung đột. Tr307. Q11

Bố thí đúng pháp: Dùng tâm không, Không Ta, Không vật, Không tướng người nhận. Vì nếu như có tướng người nhận/ Tướng Phật, ví như ngửa mặt bắn mũi tên lên trời, đến hạn thì phải rơi xuống, lên chỉ là Phước báu hưởng ở cõi trời, không thể nhiều vô lượng vô biên được => Lìa tướng bố thí mới thật là bố thí. Tr308

Phương pháp học: ví như có 3 phương pháp hay. Tr322

Tám tướng thành đạo - Thành Phật: Tr328

Số không: Chân không mà cũng diệu hữu. Vô thủy vô chung, chẳng có bắt đầu, chẳng có kết thúc. Là nguồn khởi nguyên thành số mục. Tr364. Q11

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 11

TẬP THỨ 12

VỀ HỒI HƯỚNG BA LA MẬT

Sơ lược về hồi hướng. Có 3 nhóm và 10 loại hồi hướng. 2 loại đầu là hồi hướng chúng sinh. 3 loại sau là hồi hướng bồ đề. 2 loại tiếp là hồi hướng Thật tế/ Thật tướng/ Vô tướng. Loại 9 và 10 là hồi hướng thông nơi quả và Thật tế. Tr12. Q12

Đại Bồ Tát tu 10 loại hồi hướng. Tr25. Q12

1. Cứu hộ tất cả chúng sinh - Lìa tướng chúng sinh: Gồm thực hành 10 Hạnh

1.1- Đàn Ba la mật - Tức là Bố thí Ba la mật gồm 3 loại là Tài thí (Nội tài và ngoại tài) - Pháp thí - Vô úy thí. Tr29

1.2- Thanh tịnh thi la Ba la mật- Tức là Nghiêm trì giới luật cho Thanh tịnh/ Không nhiễm ô. Tr30

1.3- Tu Sàn đề Ba la mật - Tức là Nhẫn nhục: Tu nhẫn lại, nhẫn thọ, chịu đựng để có tâm bình hòa đối người tiếp vật khoan dung độ lượng. Bị chửi mắng đánh đạp nhục mạ ... vẫn thản nhiên, cho là bình thường. Tr30

1.4- Khởi tinh tấn Ba la mật - Tức tu Lục độ vạn hạnh. Tr30

1.5- Vào Thiền định Ba la mật: Bồ tát vào sâu thiền định, tu pháp môn tư duy tu, tăng trưởng trí huệ, thành tựu thần thông, độ thoát chúng sinh. Tr31

1.6- Tru Bát nhã Ba La mật: Trụ tức chẳng lìa khỏi Ba La mật. Bồ Tát tu lục độ Ba la mật gắn liền trí huệ. Người không có Bát nhã giống như người chẳng có mắt.

Sau đó vị Đại bồ tát tu thành tựu Tứ vô lượng Tâm: Từ Bi Hỷ Xả để đạt vô lượng vô biên căn lành. Tr31

Bồ tá nghĩ: Tu căn lành là để làm lợi ích tất cả chúng sinh

Vị Đại Bồ tát đem tất cả căn lành của mình hồi hướng như vầy: Có 10 nội dung hồi hướng. Tr 32

Đại Bồ Tát hồi hướng các thành tựu hạnh lành thanh tịnh, chẳng hồi hướng hạnh cấu nhiễm. Tr79. Q12

HẾT HỒI HƯỚNG THỨC NHẤT CỨU HỘ CHÚNG SINH. Tr85

28 BÀI KỆ TÁN THÁN HẠNH HỒI HƯỚNG thù thắng. Tr 86

Chính đức Phật cũng làm công quả như may vá y, đưa thuốc cho tỳ kheo, quyets dọn phòng xá.... để tăng công đức hồi hướng cho khắp chúng sinh. Tr104

Học Phật pháp cần học suy ngẫm chỗ vi tế nhất, giảng rất sâu ... Tr114

Vị Bồ tát không học mà thông hiểu mọi ngôn ngữ của mọi loại chúng sinh, mỗi chủng tộc, mỗi quốc gia ... Không thầy mà tự thông. Tr118

SANG PHẦN HỒI HƯỚNG THỨ HAI: Bất hoại hồi hướng cảu Bồ tát. Tr120

Bồ tát cũng cần phân biệt căn lành nặng nhẹ hoãn cấp để hành Bồ Tát đạo, việc cần gấp phải làm trước, việc ít quan trọng thì từ từ làm mà không bỏ sót bất cứ căn lành nào. Tr129

Dù người đã Quy y Tam bảo - Xuất gia tu hành, nhưng nếu vẫn lưu chuyển trong 6 đường thì vẫn là chưa chánh khỏi làm quyến thuộc của Ma, tới lui với nhau, dứt chẳng được nghiệm ma. Tr152. Q12

Giảng về Lý dục trong Tâm tranh chấp - Tâm ma tâm phật tranh chấp luôn luôn, rất hay. Tr155

Vị Bồ Tát tự tu, không thầy mà khai ngộ thì là người giảng kinh thuyết pháp thông thạo, không học mà hiểu ngôn ngữ Kinh văn ... Tr160

Đến đoạn Bồ tát nói kệ ca ngợi khiến chúng sinh rễ dang minh bạch phật pháp

Giảng về nghĩa chữ Kỷ - Dĩ - Tị: Nói đến 10 Thiên can là trời, xưa người trung quốc dùng để tính thời, phối hợp 12 địa chi dùng để tính Niên hiệu. Kỷ đứng thứ 6 của Thiên Can, Tị đứng thứ 6 của Địa chi. Tr 161. Q12

vì chữ "Đã được" trong câu kệ mà giảng nghĩa 3 từ đồng nghĩa Kỷ - Dĩ - Tị ở trên

Bồ tát phát tâm kiến tạo chùa tháp. Tr166

Chuyên tâm nhất trí: Trong tâm Bồ tát chỉ có 2 thứ niệm: Trên cầu phật đạo - Dưới độ chúng sinh. Tr175

Giảng về sự khác nhau giữa Tu Bồ tát Đạo/ Dùng Tâm đại bi làm thể, vì tất cả chúng sinh mà tu và Pháp Tu giải thoát của hàng nhị thừa/ Sợ lưu chuyển trong sinh tử nên chỉ lo tu cho mình giải thoát luân hồi sinh tử. Tr177

SANG HỒI HƯỚNG THỨ 3: Hồi hướng đẳng tất cả chư Phật. Tr180

Nghĩa chữ Tự tại. Tr 181

Câu Kinh nói về vị Đại Bồ tát tại gia cùng gia đình vợ con ... Xem chi tiết trang 192. Q12

Bồ tát thí cho chúng sinh đều hồi hướng và nguyện cho súc sinh xả bỏ đường súc sinh ... giải thoát. Tr198

Bồ tát trụ ở hồi hướng thứ 3 này. Tr210

SANG PHẦN HỒI HƯỚNG THỨ 4: Hồi hướng đến tất cả mọi nơi. Tr 229

Vì thân Phật tức là pháp giới, ví như chúng ta thường tụng niệm: "Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật", đây là pháp thân của Phật, cho nên đầy khắp tất cả mọi nơi. Tr238. Q12

Vì tôi quán sát đến sáu chúng đệ tử nầy tu học Phật pháp, có không ít người hy vọng khai ngộ, muốn được pháp ích thù thắng vi diệu, khai mở đại trí  huệ. Ðây vốn chẳng phải vọng tưởng tham cầu, đây là hy vọng và mục đích của mỗi đệ tử Phật phải có. Bất quá chúng ta không thể dùng tâm tưởng, ôm ấp hy vọng không nỗ lực, không hạ thủ công phu, không tận bổn phận. Tr239

Chẳng tin các pháp: Ở đây chẳng phải nói, Bồ Tát đã biết pháp tánh là không, thì không tin tất cả các pháp, mà là nói Bồ Tát biết các pháp không, chẳng chấp trước nơi pháp không, vẫn vào sâu được các pháp thật tướng, đó là cảnh giới của Bồ Tát.

Chúng sinh thì trước hết phải tin, do đó Phật pháp như biển, phải tin mới độ được. Chúng sinh thì phải tin, mới có thể vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển. Bồ Tát thì đã nhập vào dòng Thánh, nên chẳng còn sự tin câu thúc, cũng chẳng còn luận đàm không tin bậy bạ. Cho nên nói tuy Bồ Tát chẳng tin các pháp, mà vẫn vào sâu tất cả các pháp,

trong tâm của Ngài cũng chẳng còn tâm chấp pháp tướng, nhưng Ngài quyết định biết thật tướng lý thể của tất cả các pháp, cũng thấy tướng vắng lặng của tất cả các pháp. Chẳng có nơi pháp, mà đều thấy biết. Tr 256

Chẳng tin các pháp: Ở đây chẳng phải nói, Bồ Tát đã biết pháp tánh là không, thì không tin tất cả các pháp, mà là nói Bồ Tát biết các pháp không, chẳng chấp trước nơi pháp không, vẫn vào sâu được các pháp thật tướng, đó là cảnh giới của Bồ Tát.

Chúng sinh thì trước hết phải tin, do đó Phật pháp như biển, phải tin mới độ được. Chúng sinh thì phải tin, mới có thể vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển. Bồ Tát thì đã nhập vào dòng Thánh, nên chẳng còn sự tin câu thúc, cũng chẳng còn luận đàm không tin bậy bạ. Cho nên nói tuy Bồ Tát chẳng tin các pháp, mà vẫn vào sâu tất cả các pháp, trong tâm của Ngài cũng chẳng còn tâm chấp pháp tướng, nhưng Ngài quyết định biết thật tướng lý thể của tất cả các pháp, cũng thấy tướng vắng lặng của tất cả các pháp. Chẳng có nơi pháp, mà đều thấy biết. Tr 256

Lợi ích của Hồi hướng thứ 4. tr262

Chẳng lìa 5 dục thì vĩnh viễn chẳng minh bạch được thật tế của Pháp. Lìa 5 dục mới tu hồi hướng và đắc được minh bạch này. Tr265

Giảng về xa lìa đoạn dục đúng cách. Tr264

Vị Bồ tát thành tựu công đức hồi hướng này thì đắc được các căn đầy đủ và lanh lợi/ các căn hoạt động minh bạch rõ dàng đây đủ nhạy bán nhất. Tr266

Hết giảng về trình độ và cảnh giới của hạnh hồi hướng thứ 4: Đến tất cả các nơi ...,. Tr266. Q12

Thuật ngứ Bồ tát. Đại Bồ Tát để phân biệt vị Bồ tát mới sơ phát tâm với vị Bồ tát đã thành tựu nhiều hạnh lành, tu nhiều kiếp sống, có trí huệ tối thượng .... Còn Phàm phu phát tâm lớn tu Bồ tát đạo, thường giữ giới luật và thực hành các hạnh lành của đạo Bồ tát thì bất luận tại gia hay xuất gia cũng đều được gọi là Bồ Tát, đây gọi là Bồ tát phàm phu. tr268. Q12

Đại Bồ Tát thành tựu hồi hướng này đắc được nhiều thần thông vi diệu ... Tr270

Phước đức đầy đủ thì vẫn cho là thiện đạo, ví như A Tu La phước nhiều nhưng không có đức trời, vẫn nóng giận, kiêu mạn, đa nghi .Tr273

Hết hạnh hồi hướng 4. Sang phần Kệ tán thán. Tr275

5 pháp tà mạng người xuất gia không làm. Tr276

Vị Bồ tát thì trước thành nhân đạo/ Pháp hữu vi thế gian rồi mới tiến đến thành Phật đạo. Tr 278

Sang hồi hướng công đức thứ 5. Tr 286

ĐẠI BỒ TÁT NÀY DÙNG SÁM HỐI ĐỂ TIÊU TRỪ TẤT CẢ NGHIỆP CHƯỚNG NẶNG, MÀ SINH RA CĂN LÀNH...... tr 286

Sám hối: Đến trước chư Phật/ Chúng sinh phát lồ sám hối lỗi đã phạm, nhận ra sai lầm, Hối là đã giác ngộ lỗi lầm, từ đó không phạm lại nữa. Trong Phật giáo đường mọi người thường tụng Kinh sám hối và lễ Phật mong tiêu trừ nghiệp chướng. Bất kể xuất gia hay tại gia, mỗi ngày đều phải ở trước Phật tự sám hối . Tr288

Một người tu đạo, tuy nói phải tự mình tinh tấn dũng mãnh tiến tu, nhưng cũng phải nương vào sự gia bị của chư Phật, mới có thể thành tựu đạo quả Bồ đề giác đạo. Tr 298. Q12

Giảng về nhiều cõi Phật. Tr302

Hết hồi hướng công đức tạng thứ 5. Tr340

Bồ Tát trụ ở nơi hồi hướng này, đắc 10 Vô tận Tạng. Tr 341. Q12

Đến kệ ca ngợi về thành tựu hồi hướng 5. Tr348

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 12

TẬP THỨ 13 – TIẾP THEO HỒI HƯỚNG

Sang phẩm hồi hướng thứ sáu: Vào tất cả căn lành hồi hướng. Tr09. Q13

6.01- Đại Bồ tát thị hiện làm vị Hoàng đế, Lãnh tụ làm gương ... có quyến thuộc lớn ... Tr10

Đại Bồ tát bố thí 4 thức ăn thế gian và 5 thức ăn Xuất thế gian. Tr29 - Tr31

Bồ tát bố thí dù là thức ăn như trên (Tr10) hay Nước uống (Tr32) ; Bố thí các thượng vị (Tr33); Bố thí xe cộ (Tr37); Bố thí Y phục (tr, 39); Bố thí đủ thứ hoa quý (Tr 40); Bố thí tràng hoa (Tr44); Bố thí hương (Tr45); Bố thí giường tòa (Tr 51); Bố thí phòng xá, chỗ ở; (Tr53); Bố thí đèn đuốc cúng giường Phật - TRỊ BỆNH MÀNG MẮT, AI MUỐN MẮT SÁNG TRONG TINH TƯỜNG  thì cần nên bố thí đèn thắp sáng Phật (Tr57);  Bố thí thuốc thang trị bệnh - Con người đều có 10 TRIỀN 5 CÁI trở ngại che mờ ánh sáng Chân Tâm bản tánh (Tr62) => Khám và bốc thuốc chữa bệnh là ruộng phước bậc nhất. Công năng của thuốc thảo dược có 4 cấp Quân/ Vua - Thần/ Tể tướng (Như Cam thảo) - Tá/ phụ tá trợ giúp - Sử/ Ra lệnh đi làm mọi việc/ Thuốc dẫn (Tr66); Bố thí đồ vật vàng bạc châu báu (Tr67);   THÌ ĐỀU CÓ PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC LÀNH CỦA TỪNG LĨNH VỰC ... cho khắp cả chúng sinh và cõi Phật

Đại Bồ tát tiếp tục đem đủ thứ xe, nghiêm sức châu báo cúng dường chư Phật, các Bồ Tát, thanh văn ... (Tr76); Khi hành Bố thí thì trong Tâm Ngài sinh khởi 10 thứ Tâm (Tr93); Bố thì tràng phan tốt đẹp, Lưới báu, Vàng diêm phù đàn ...(Tr144); Bố thí đồ trang sức trên thân (Tr154) - Âm thanh với con người rất quan trọng, chẳng phải tu luyện mà được, đều là âm đức nghiệp báo mới có được âm thanh thanh tịnh (Tr157) ......... THÌ ĐỀU CÓ PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC LÀNH CỦA TỪNG LĨNH VỰC ... cho khắp cả chúng sinh và cõi Phật

Đại Bồ tát bố thí cả búi tóc da đầu cho chúng sinh (Tr177)

Đây là đến phần bố thí Nội tài (Phần trên là Bố thí ngoại tài)

Người có Tỳ khí cang cường, tóc không mềm mại, là người cố chấp, rất khó hợp tác. Bộ tóc đẹp là tóc mềm mại, soắn hình ốc về phía phải. Tr182. Q13

Đại Bồ tát bố thí tóc và da đầu; Bố thí con mắt. Tr 187

Giảng về ngũ nhãn. Bậc tứ quả A La Hán sẽ thành tựu Tam minh và ngũ thông, sẽ chẳng thối thất. Tam minh bao quát thiên nhãn minh. Tr 188

Đại Bồ tát đem tai mũi bố thí cho người xin. Tr195Bồ tát bố thí tai mũi và nguyện chúng sinh được các tai thính mũi đẹp ... Tr202

Bồ tát bố thí răng và nguyện tất cả chúng sinh có được đầy đủ 40 cái răng - Bậc đế vương đại phú quí mới sinh ra đã có đủ 40 cái răng. Đức Phật có 40 cái răng. Tr212

Lưỡi to và dài biểu thị người chân thật, lưỡi nhỏ lại ngắn chủ về nói giối, tâm không thanh tịnh. Tr218

Giảng về đại trượng phu. Tr305. Q13

Đức Phật ra đời đều có Đại sự và nhân duyên của ngài. Tr309

Siêng tu 10 lực của Phật. Tr316

Đại Bồ tát hồi hướng cho chúng sinh với 10 mục tiêu. Tr364

Giảng về người tu tại gia. Tr385

Định nghĩa Hồi hướng. tr430

Đến kệ ca ngợi. Tr435

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 13

TẬP THỨ 14

Đại bồ tát bố thí đủ thứ nội ngoại tài, sinh ra 19 thứ Tâm sau. Tr25. Q14

Bồ tát phát nguyện. Tr29

Truyện tự chữa khỏi bệnh trong thiền đường. Tr49. Q14

Bồ Tát phát 10 Nguyện lực. Tr64

Giảng về ngồi thiền. Tr86. Q14

Hết hồi hướng thứ 7 - Tùy thuận chúng sinh. SANG HỒI HƯỚNG THỨ 8 - Hồi hướng chân như. Tr100

Bồ tát phát 20 nguyện lớn. Tr107

Chúng sinh đắc được 8 sự lợi ích từ hồi hướng. Tr113

10 thứ tâm bình đằng. Tr169

Hết hồi hướng thứ 8 - Sang Hồi hướng thứ 9: Giải thoát, không chấp trước, không dàng buộc. Tr196. Q14

9 thứ Tâm tôn trọng. Tr 198

Bồ Tát có 10 thứ phương tiện. Tr213

Đắc được 10 thứ thần thông lực. Tr218

Đắc được 10 trí huệ rất vi tế. Tr233

Biết được 10 thứ rất vi tế của chúng sinh. Tr235

Giảng về pháp giới - Chúng sinh. Tr247. Q14

Tại sao khi tụng Kinh phải gõ Mõ. Tr254. Q14

Đại Bồ tát tu hồi hướng, mong chúng sinh giải thoát thanh tịnh. Tr268

Đến nói kệ tán thán Phật. Tr272

Hết hồi hướng 9 - Sang Hồi hướng 10: Đẳng pháp giới vô lượng. Tr294. Q14

Pháp giới là gì. Tùy cách chia. Tr295

Hồi hướng là gì. Tr295

Người làm bậc Pháp sư phải có đủ 5 điều. Tr295. Q14

Bồ tát tu 20 thứ phạm hạnh. Tr302

10 điều không thể được. Tr307. Q14

Bồ tát bố thí Pháp có công đức thì phát đại nguyện. Tr310

Các nội dung hồi hướng tùy theo từng căn lành tích tâp. Từ tr 320 - 356

Giảng nói về Chùa Kim Sơn là phật giáo thế giới. Tr356

Bồ tát phát nguyện - Đắc được 4 điều không sợ hãi và 4 biện tài. Tr390

Bồ tát tu hành lục độ đối trị nóng giận, ngu si ... Tr426

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 14

TẬP THỨ 15

SANG GIẢNG VỀ THẬP ĐỊA: Thập địa là gì. Tr09. Q15

Tại sao gọi là Phẩm Thập Địa ? Vì địa (đất) hay sinh trưởng vạn vật, tất cả vạn vật cũng nương theo đất mà sinh, nương theo đất mà lớn, nương theo đất mà thành, nương theo đất mà trụ, nương theo đất mà được giải thoát.

 Trong đất lại có đủ thứ bảo tàng, đủ thứ vật chất quý trọng, cho nên con người mới phát quật mỏ vàng, mỏ đá quý, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ thiết .v.v... các thứ khoáng sản từ dưới đất.......

Pháp môn Thập địa bao quát tất cả pháp môn, đều có

quan hệ mật thiết với tất cả pháp môn. Nếu như chúng ta

muốn tu hành Bồ Tát đạo, thì phải do đất (địa) mà sinh

khởi Bồ Tát đạo. Nếu như chúng ta muốn tăng trưởng Bồ

Tát đạo, thì phải nhờ pháp môn Thập địa để tăng trưởng.

Nếu như chúng ta muốn thành thục Bồ Tát đạo, cũng phải

nhờ pháp môn Thập địa để thành thục. Nếu như chúng ta

muốn đắc được giải thoát Bồ Tát đạo, thì càng phải nương

vào pháp môn Thập địa để tu hành, mới đắc được giải thoát

của Bồ Tát đạo.

CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC: Hàng nhị thừa tu đều đạt chánh giác, nhưng chưa đắc được Chánh đẳng, cho lên không thể GIÁC THA. Bồ tát tu đắc được Chánh giác rồi, lại tu pháp môn Chánh đẳng của Phật, song vẫn còn là Thượng sỹ (Hữu thượng sỹ) - Chưa được Vô thượng ... Tr12

Bồ tát giáo hóa chúng sinh hợp thời, hợp lúc. Ví như lúc nào cần gieo hạt, cần tưới nước ... giúp chúng sinh gieo hạt Bồ đề, tăng trưởng từng chút từng chút => Muốn giáo hóa người thì quan trọng nhất là nên biết đúng thời. không nên để tuột mất thời cơ. Tr13

Không nên dùng mắt phàm đánh giá, nhận xét hàng đại Bồ Tát> Ví như nhìn thấy ngài đang ăn, ngủ, đi đứng ... nhưng thật ra hóa thân của Ngài đến khắp mọi cõi giới ... Tr16

Thập địa gồm 10 địa: Tr 32. Q15

Bồ tát mới phát tâm thường theo Thức mà hành - Không theo trí (Chưa biến 8 thức thành 4 trí huệ bát nhã), không hiểu được nghĩa thâm sâu của pháp Thập địa này. Tr43

Thức chỉ có thể phân biệt - Trí mới nhận thức hiểu thấu được

Nếu minh bạch pháp môn thập địa, cũng minh bạch pháp môn sinh tử. Tr56

Pháp môn này tướng tịnh diệt: Nhìn mà chẳng nhìn, nghe mà chẳng nge, ngửu mà chẳng vị... Vi diệu khó nói, dùng ngôn ngữ thật không thể diễn nói minh bạch được => Không rễ gì tiếp thọ. Tr57

Pháp môn thập địa này chẳng phải từ tu 5 uẩn, 18 giới, 6 trần, 6 thức, 12 xứ mà có thể đắc được. Chỉ có dùng trí huệ mới hiểu rõ được (Tức dùng ý niệm và tư tưởng không cách chi minh bạch được). Tr57

Khó như dấu Chim bay trên không trung, khó nói khó chỉ bày...

Các hạnh và thành tựu của một người muốn phát tâm tu Bồ tát đạo với pháp môn Thập địa cần phải có được (rất cao thâm) ... Tr61. Q15

Nếu có chúng sinh trồng căn lành sâu dày, khéo tu hạnh lành, kheo tu trợ đạo, khéo cúng dường, có hiểu biết rộng lớn...... Bồ tát thiện lành ban đầu phát tâm như vậy (Như trên), liền vượt qua địa vị phàm phu thì nên nghe thọ pháp môn thập địa này. Tr61

Bồ Tát tu đến pháp môn nầy, tức là sơ địa trong Thập địa, gọi là Hoan Hỉ địa, vì Ngài đã chứng được sơ địa, sinh ra tâm đại hoan hỉ.

Sự hoan hỉ đó, do định lực mà sinh ra, cho nên nói dùng tướng bất động và định tương ưng. Tr63

Bồ tát trụ ở Hoan hỷ địa - Tu chứng được Hoan Hỉ địa rồi, thành tựu rất nhiều thứ lợi sinh hoan hỉ. Tr64

Bồ Tát được Hoan hỷ địa không còn sự sợ hãi nào. Tr67

Bồ Tát chứng đắc quả vị sơ địa, thì thường thấy được Phật, do gần gũi Phật cho nên sinh Hoan hỉ. Chẳng còn suy nghĩ, mong cầu của hàng Phàm phu... Chứng nhập Bồ tát sơ địa/ Hoan hỉ địa thì đã vĩnh viễn dứt trừ tất cả đường ác, chẳng còn đọa lạc vào 4 đường ác (Trừ theo nguyện lực)... Tr68

Bồ tát sơ địa/ Hoan hỉ địa đã xa lìa bỏ cái Ta, chẳng còn cái của Ta, hoan hỉ bố thí hết thảy gia đình vợ con nhà cửa tài sản... => Chẳng lo sợ sống chết - Tự mình biết chết rồi được nương theo Phật, Bồ tát ... Tr69

Bồ tát trụ ở Hoan hỉ địa, dũng mãnh tinh tấn tu trì phạm hạnh rộng mở, cầu các pháp Ba la mật, Pháp trợ đạo, xa lìa dối trá ... Tr73

Bồ tát thành tựu pháp An trụ Bồ tát Hoan Hỉ địa. Lại phái những đại nguyện lớn ... Nguyện khi đức Phật từ Trời đâu Suất giáng trần ... thảy đều đi đến gần gữi cúng dường. Tr76

Bồ tát Hoan hỉ địa dùng 10 đại nguyện làm đầu, mà được 10 thành tựu tận hết: Cõi chúng sinh tận - Thế giới tận - Cõi hư không tận .... cho nên đại nguyện căn lành của Bồ tát không cùng tận. Tr83

Bồ tát từ phát nguyện lớn đó thì được nhiều lợi ích và nhiều niềm tin kiên cố. GIÁ TRỊ VỀ PHÁT NGUYỆN DẪN ĐẾN CÓ ĐƯỢC CÁC LOẠI TÂM LỢI ÍCH. DO TIN TƯỞNG MÀ ĐƯỢC CÁC THÀNH TỰU rất hay. Tr85

Bồ tát suy nghĩ về Tâm chúng sinh, MÔ TẢ VỀ HÀNH VI VÔ MINH CỦA CHÚNG SINH, nguyên nhân luân hồi ... mà tự thấy phải có trách nhiệm cứu giúp. Tr89

Đại Bồ tát trụ ở Sơ địa/ Hoan hỉ địa, hành Bố thí tất cả không xẻn tiếc - Tu hạnh đại thí xả và thành tựu hạnh đại thí xả cả nội và ngoại tài của Bồ Tát Sơ địa. Tr92

Bồ Tát tu chứng được sơ địa, có thể thường nhìn thấy vô số vô lượng vị Phật. Bồ Tát sơ địa đã có tùy tâm tự tại như vậy. Tr97

Mô tả mức thành tựu của Bồ tát chứng sơ địa/ Hoan Hỉ địa. Tr98

Bồ tát chứng SƠ ĐỊA/ HOAN HỈ ĐỊA mới chỉ tu Ba la mật thứ nhất : Bố thí Ba la mật là thành tựu dốt giáo, còn các Ba la mật kia cũng tu, nhưng chỉ tùy sức mà hành. Đây là căn bản phân biệt các bậc Bồ Tát trong Thập địa. Tr100

Bồ Tát sơ địa, giống như thợ vàng khéo tinh luyện: Thực hành cúng dường Phật, giáo hóa ... hồi hướng. Lại tham học hỏi thiện tri thức, không nhàm mỏi để tiến lên quả địa thứ 2,3,4,5

Vì muốn thành tựu pháp địa này, bồ tát khéo biết địa chướng, thành hoại ..... để đến được chuyển nhập vào Như Lai Tạng

KHÉO BIẾT TƯỚNG ĐỊA: Vị Bồ tát không ngừng thưa hỏi tìm cầu cách vượt các chướng ngại gì - Dùng pháp môn đối trị như nào, sự tu hành phải đi qua, quả vị đắc được là như thế nào, nguyên nhân thành công hay thất bại trong tu hành ... Phải minh bạch mọi thứ trước khi từng bước thành tựu các địa tương ứng. Tr 103

KHÉO BIẾT PHƯƠNG TIỆN: Bồ tát ví như người đi buôn, tìm hiểu thị trường, con đường lưu thông đi lại, những nguy hiểm cần chánh, ... chuẩn bị chu đáo để mọi người theo mình không sầu lo, bị nguy hiểm. Vị Bồ tát cũng vậy, trụ nơi SƠ ĐỊA, khéo biết chướng ngại để đối trị ... tích đủ Phước trí tư lương mới có thể đem chúng sinh đi qua nơi cửa tử hoang dã nguy hiểm ... Tr104

Bồ tát chứng nhập HOAN HỈ ĐỊA thì xa lìa 5 điều sợ hãi: Sợ sống/ Sợ chết/ Sợ phỉ báng? Sợ đọa 3 đường ác/ Sợ oai đức của đại chúng. Tr115. Q15

HẾT SƠ ĐỊA - BỐ THÍ BA LA MẬT. SANG ĐỊA THỨ 2: LY CẤU ĐỊA. Tr 129. Q15

Bồ tát muốn vào địa thứ 2 phải khởi 10 thứ thâm tâm: Tâm ngay thẳng - Mềm mại - Kham năng - Điều phục - Tịch tĩnh - Thuần thiện - Không tạp - Không cố luyến - Tâm rộng - Tâm lớn. Nhờ 10 thứ tâm này để vào LY CẤU ĐỊA. Tr131

Ba tâm đầu: Ngay thẳng là Bố thí - Tâm mềm mại là trì giới - Tâm kham năng là Tâm Nhẫn nhục

Bồ Tát trụ ở địa thứ 2 luôn dụng Tâm TÂM TỪ BI/ NHÂN TỪ THA THỨ với chúng sinh. Tr136

LY CẤU ĐỊA CŨNG LÀ TỰ TÁNH THANH TỊNH ĐỊA/; Không nhiễm ô. Bồ tát trụ ở địa thứ 2 này cũng thực hành hạnh KHÔNG TRỘM CẮP - KHÔNG GÂY TỔN HẠI. Tr140

Trên là nói đến Hạnh Không giết hại và trộm cắp. Đây vị Bồ tát cũng KHÔNG TÀ DÂM - Biết đủ với người Vợ chủa mình. Dâm dục xuất phát từ LÒNG THAM mà ra, cũng là từ gốc rễ Vô minh mà ra. VÔ MINH DUYÊN HÀNH là vậy. Bồ tát tại gia tuy sống giữa thê thiếp mà chẳng nhiễm ô dâm dục, nói chi truyện tà dâm. Tr 142

Bồ tát không tà dâm vì ngài có ĐỊNH LỰC chân chánh. Ngài KHÔNG SÁT SINH - TRỘM CẮP - TÀ DÂM. Nên Bồ Tát thường nói lời Chân thật - KHÔNG NÓI DỐI, nói đúng thời (Việc đến thời thì nói, chưa đến thời không nói) . Ngài chẳng ích kỷ nên chẳng có nhu cầu nói dối. Tr144

Bồ tát KHÔNG NÓI HAI LƯỠI: Không nói ly gián - Làm mất hòa khí, lão hại, bảo vệ sự đoàn kết, không vui với sự ly gián. Tr 145

Bồ tát KHÔNG CHỬI MẮNG: Nói lời thô ác, quát nạt, độc hại khiến người khác nổi sân hận, không nói xấu ác, dung tục, đê tiện, lời oán kết, nhiệt lão, lời chẳng ưa, không vui mà thường nói lời tốt đẹp cát tường với người nghe. Giảng kỹ về từng loại lời nói rất hay ... Tr146

Tánh KHÔNG NÓI LỜI THÊU DỆT: Lời chánh pháp, phải thời, có ý nghĩa, thuận đạo lý. Tr148

Tánh KHÔNG THAM DỤC: Không mong cầu gì hết

tánh XA LÌA SÂN HẬN: Vì Bồ tát luôn khởi tâm từ bi hỷ xả thương sót chúng sinh nên chẳng nổi sân hận, thường nghĩ làm nhân từ lợi ích. Tr149

Bồ tát XA LÌA TÀ KIẾN: Trụ nơi chánh đạo/ Bát chánh đạo, không xem chiêm bói, không thủ ác giới, tâm không siển nịnh. Người học Phật có thể nghiên cứu đọc Kinh Dịch để tăng hiểu biết, nhưng không nên mọi việc đều dùng chiêm bói để quyết định. Cố nhân nói "Quân tử vấn họa không vấn phước", tức chỉ quan tâm đến tai họa của đại chúng, không VÌ CÁ NHÂN MÀ CẦU MAY MẮN, PHÁT TÀI. Bồ tát cũng không màng đến mình có tai nạn hay không ..., việc đến thì nhẫn chịu. Cho nên ngài không chiêm tinh bói quẻ cho mình. Tr150

Tóm lại, Bồ tát trụ ở Địa thứ 2 - LY CẤU ĐỊA. Là người chuyên tu Thập thiện nghiệp đạo, để có thành tựu 3 đường lành. Cũng tùy mức thành tựu tu hành mà tương ứng với Tam thừa/ Bậc Thượng phẩm: Thanh văn thừa - chứng quả A La hán hoặc Độc giác thừa hoặc Bồ tát thừa. Tr154

Giảng về nghiệp xấu ác bị đọa 3 đường ác, khi sinh trong nhân loại thì còn bị nghiệp chướng nạn tùy theo từng loại tội: Sát sanh thì nhiều bệnh - Thọ ngắn; Trộm cắp: Bần cùng - Tài sản chung không tự tại; Tôi tà dâm: Vợ không trinh - Quyến thuộc không được tùy ý ......... Xem tr 155. Q15

Bồ tát thấy con người ngu mê, xa vào đường ma ác đạo mà không biết, cho là đường lành ... Cũng chỉ vì con người để cho tướng TA tác quái, nhận nhà làm mình, Bồ tát kiên trì độ chúng sinh. Tr170

Vị Bồ Tát trụ ở LY CẤU ĐỊA - Địa thứ 2 thường nghĩ Chúng sinh Vô minh lên thọ khổ đủ đường mà không biết khổ ... Hoặc có khi muốn tu giải thoát, nhưng lại thíc trụ ở hàng thanh văn, duyên giác ... Bồ Tát nguyện độ khiến cho họ tu học và trụ nơi Phật pháp rộng lớn Tr.175

Chúng sinh không muốn ra khỏi nhà tối tăm 5 uẩn: Sắc thọ tưởng hành thức. Lại thường khởi 4 hành vi điên đảo do nhầm lẫn: Thường Vui Ngã Tịnh, làm mê mất Chân tâm bảnh tánh, bị 4 con rắn độc Tứ đại: Đất Nước Gió Lửa xâm hại nhiệt lão

Bồ tát nguyện độ chúng sinh Hồi Tiểu hướng Đại thừa mà Tu

Bồ tát trụ Ly Cấu địa thành tựu về Ái ngữ (trong 4 Pháp nhiếp),  Trong 10 Ba la Mật thì thành tựu thiên về Trì giới Ba la Mật, Còn những pháp kia chỉ là tùy phần sức tu. Bồ Tát Hoan hỷ địa thì thành tựu về Bố thí Ba La mật thứ nhất trong 10 Ba La Mật. Tr178

Bồ Tát trụ ở địa thứ 2 này phần nhiều làm CHuyển luân Thánh vương, làm đại Pháp chủ. Ngài ra đời thì và thành tựu NHỊ ĐỊA - LY CẤU ĐỊA khiến cho đại địa chấn động, đắc thần thông quảng đại ... Vị Bồ tát phải thành tựu 10 thứ Tâm tương ứng để có thể đắc Nhị địa - Ly Cấu Địa này. Tr182

10 Thứ tâm trên có nhiều phần tương đồng với tu Thập thiện nghiệp đạo

Hàng Thanh văn, Duyên giác đều do thành tựu Thập thiện nghiệp đạo mà đắc quả vị. Tr 183

Bồ tát nhị địa luôn giáo hóa chúng sinh vô minh ngu tối cang cường nhận thức và hàng phục được các ma tặc 6 CĂN 6 TRẦN. Tr186

Phàm phu, ngoại đạo, nhận giặc làm con, nhận giả làm thật, lấy khổ làm vui. Nên trôi nổi tứ xứ; giống như ở trong biển cả, trôi dạt không có mục tiêu, trôi đi theo sóng...

Đang ở các bài kệ giảng về Ly Cấu địa/ Địa thứ 2

Hết địa thứ 2

SANG ĐỊA THỨ 3 - PHÁT QUANG ĐỊA. Tr191. Q15

Bồ tát địa thứ 2 muốn tu thành tựu địa thứ 3 phải khởi tu 10 thứ tâm thâm sâu: Tâm thanh tịnh - Tâm an trụ ... Tr194

Giảng về cách tu 10 thứ tâm

Bồ tát trụ ở địa thứ 3 - Phát Quang địa đề đã lìa khỏi tất cả Phiền lão, họa 5 dục, dứt 10 điều ác, trừ sạch 5 cái và tất cả các tà tri tà kiến... Được mô tả như sau:

"...đắc được vui khinh an mát mẻ của sự giải thoát, an nhiên tự tại trụ nơi "Trời sơ thiền ly sinh hỉ lạc địa". Ý nghĩa chữ "sơ" là bước thứ nhất từ dục giới hướng thượng tiến nhập vào, nơi lìa dục giới gần nhất. "Sơ thiền" là giai đoạn thứ nhất của công phu tu thiền ...

Giảng về các đắc vị tầng thứ nhị thiền - Tam thiền - tứ thiền ... Tr210

Bồ tát tam địa có thần thông quảng đại: một thần làm nhiều thân, hoặc ẩn hoặc hiện, đi xuyên tường, ngồi kiết già đi trong hư không như chim bay, vào đất hay đi trên nước không ngăn ngại ... Tr 213. Q15

6 thứ thần thông ngài đã đầy đủ

Giảng nói về CÁC TÂM: Tâm tham: Tham gì thì chết hay bị nguy hại, phiền lụy về cái đó. Tâm sân - Si ... cũng vậy. Tr 216

Bồ tát nhớ biết vô lượng trăm đời, ngàn đời ... Cũng biết vô lượng các Kiếp thành trụ hoại không của của mình sống chết đều thấu rõ. Tr 219

Bồ tát này cũng thấy vô lượng vị Phật ở vô lượng cõi giới

Bồ tát địa thứ 3 này cũng có 10 thứ tâm đều càng thanh tịnh. Tr225

Bồ tát này trong 4 Pháp nhiếp - Thiên về lợi hành. Trong 10 Ba la mật thiên về Nhẫn nhục. Ngoài ra các môn khác tùy sức tùy phần mà tu. Tr 227

Bồ tát PHÁT QUANG ĐỊA phần nhiều làm Thiên chủ cõi trời Tam Thập Tam

Đến các bài Kệ tán thán công đức tu trì trụ tại Địa thứ 3 - Phát Quang Địa. Tr 230

Hết địa thứ 3

SANG ĐỊA THỨ 4 - DIỆM HUỆ ĐỊA. Tr238. Q15

Bồ tát địa thứ 3 muốn tu Địa thứ tư phải tu 10 Pháp minh môn. xem giảng kỹ và cách tu 10 Pháp minh môn từ Tr 241 trở đi

Bồ tát dùng 10 thứ trí thành thục Pháp, lên đắc được Nội pháp Địa thứ 4, sinh vào nhà Như Lai. Xem giảng chi tiết. Tr 243

Bồ Tát quán 36 thứ bất tịnh của Thân thể ... Tr 246

Bồ tát tu hành Định dục giới, dứt trừ các ác hạnh, sinh ra các hạnh lành = Thành tựu Thần túc thông. Tức thành tự 8 gió thồi không bay ..., cũng tứ thành tựu "Mắt thấy sắc Tâm chẳng biết - Tai nghe tiếng Tâm chẳng hay. Tr252

Giảng nói xong pháp môn 5 căn - 5 lực

Tiếp tục nói Bồ tát Địa thứ 4- Diệm Huệ địa phải tu hành pháp môn 7 Giác chi/ Bảy Bồ đề phần - Tức Giác/ Quán sát, là pháp môn Định Huệ đồng đều ...Tr254

Bồ tát phải tiếp tục tu hành BÁT CHÁNH ĐẠO/ Tám Thánh Đạo - Bồ Tát đạo nữa. Con đường khai thông Niết bàn nên gọi là Thánh Đạo. Tr255

Trên đây là tu tập các công đức Vô lậu học

Bài kệ về nhân duyên tu hành Thánh đạo rất hay, từ các nhân duyên ví như đất + Hạt + Trồng trọt ... Thành tựu quả (Bát chánh đạo):

"Pháp tánh như đại địa

Nơi niệm như hạt giống

Chánh cần là trồng trọt

Thần túc như mầm non

Năm căn như sanh căn

Năm lực như cành lá lớn lên

Nở hoa Thất giác chi

Kết quả Bát chánh đạo".  (Tr257. Q15)

Bồ tát trụ ở Địa thứ 4 - Diệm Huệ Địa, các Bồ tát ở các Địa thấp hơn, các căn lành sự kiên cố không thể hoại chẳng thể sánh kịp. Tr264

Bồ Tát địa nầy, trong 4 Pháp nhiếp thì thành tựu thiên nhiều về Đồng sự. Trong 10 Ba La Mật thì thành tựu thiên về Tinh Tấn Ba la Mật. Các hạnh khác thì tùy sức tu

Hết giảng nói về Bồ Tát địa thứ 4. Tr 265

Bồ Tát Kim Cang Tạng tóm lược tuyên thuyết Vị Địa thứ 4 này qua các bài Kệ tán thán. Tr268. Q15

Bồ Tát trụ địa thứ 4 thường Làm chủ / Thiên Vương trời Dạ Ma. Tr277. Q15

sang ĐỊA THỨ 5 - NAN THẮNG ĐỊA. Tr 279. Q15

Bồ tát trụ ở địa thứ 4 muốn tu lên địa thứ 5 cần thành tựu 10 Thứ Tâm BÌNH ĐẲNG THANH TỊNH, giảng giải chi tiết 10 thứ tâm. Tr284. Q15

Bồ tát địa thứ tư dụng công 10 thứ Tâm Bình đẳng này để vào Địa thứ 5. Khi vào địa thứ 5 này thì khéo tu các pháp để trụ vững trong địa thứ 5. Tr287

Bồ tát minh bạch chân thật lý 4 Thánh Đế/ Tứ diệu đế. Tr 288

Bồ tát biết vận dụng Pháp thế gian để hướng đạo. Tr 292

Bồ tát nhận biết về nhân loại ngu si mà thương sót. Lại không biết sợ 4 rắn độc (Đất nước gió lửa), Không nhổ được mũi tên kiêu mạn, không lìa được Tham Sân Si, không phá nổi Vô minh, biển ái dục chẳng cạn, lại không cầu đại Thánh sư ... thành ra bị sóng cuốn trôi, nhận chìm . Tr296

Bồ tát nguyện làm 10 việc lợi ích chúng sinh, hướng đến nhập Niết bàn. Tr299

Đại Bồ tát trụ ở Địa 5 này có nhiều Danh hiệu . Tr301

Đại Bồ tát dùng Bố thí Ba la mật để giáo hóa chúng sinh. Dùng Ái ngữ - Lợi hành - Đồng sự nữa . Tr304

Đại Bồ tát cũng học tập các kỹ nghệ thế gian như VĂN HỌC, TOÁN SỐ, ĐỒ THƯ, ẤN TỶ, ĐỊA THỦY HỎA PHONG, đủ các thứ luận, thảy đều thông đạt. Các ngài rất giỏi chữa các bệnh như điên cuồng, càn tiêu, quỷ mị, cổ độc, kỹ nhạc, diễu cười, đàm luận ... vật phẩm phong thủy, nhà cửa ... Tr 307. Q15

TOÁN SỐ: Là môn tinh mật nhất trong học thuật, ví như trong Kinh, là chỉ "Số" tướng thanh khác biệt. Số dùng KÝ SỐ - Toán dùng KÝ VỊ. ĐỒ THƯ tức tạng thư cổ kim trong ngoài ... có thể trợ giúp Kiến quốc lợi dân. ÂN LOÁT/ Ấn tỷ: Là dùng đá Ngọc điêu khắc thành (Vua chúa thời xưa dùng). TỨ ĐẠI cũng vậy, Bồ tát thấu suốt để vận dụng làm lợi ích cho chúng sinh

Ngài giỏi trị bệnh: Biết nguồn cơ gây bệnh và cho thuốc. Ví như các bệnh đau bênh ngoài thân thể, như do THAM LAM quá độ mà sanh ra Phong cuồng điên đảo ... Còn thứ bệnh do quỷ quái yêu ma trong thân người tác quái ... . Tr 309

Bồ tát với công trình kiến trúc cũng đặc biệt chuyên môn, như thiết kế đô thị, kiến lập ấp khu phường xã, hoàng cung, nhà cửa. Suối chảy, ao hồ, do nghề lợi đạo, cũng như vườn thuốc tri thức... Ngài cũng biết các mỏ vàng bạc châu báu, nói ra cho họ đi khai thác . Tr310

Bồ tát trên biết thiên văn - Dưới tường địa lý - Giữa biết số mệnh, xem tướng, đoán mạng cát hung chính xác chẳng sai lầm

Bồ tát địa thứ 5 - NAN THẮNG ĐỊA: Dùng phương tiện Trí thành tựu, các địa dưới không thể sánh bằng được. Tr314

Bồ tát trụ ở địa thứ 5 - NAN THẮNG ĐỊA: trong thời gian tu học Phần nhiều làm Thiên vương cõi trời Đâu Suất. Tr 316. Q15

Đến đoạn Bồ tát Kim Cang Tạng tổng hợp, tán thánh vị Bồ tát nhân địa thứ 5 qua các bài kệ, từ Tr318

Ví dụ tu các Pháp với Cổ mắt răng ... Tr320

Hết địa thứ 5 - Nan Thắng Địa

Sang Địa thứ 6 - HIỆN TIỀN ĐỊA: Vị Bồ tát địa thức 5 muốn vào địa thứ 6 thì phải quán sát 10 Pháp bình đẳng. Tr334. Q15

Pháp như âm thanh nghe biết mà chẳng cầm nắm, như Trăng dưới nước, như Hoa trong gương ... nhìn tự như có nhưng cũng chẳng cầm nắm được ... cho lên Bình đẳng. tr336

Bồ tát quán tất cả pháp Bình đẳng như vậy, tự tánh thanh tịnh, tùy thuận không trái mà được nhập vào Địa thứ 6 - HIỆN TIỀN ĐỊA. Đắc được Tùy thuận Nhẫn Minh Lợi - Chưa đắc được Vô Sinh Pháp Nhẫn. Tr336

Bồ tát dùng ĐẠI BI LÀM ĐẦU để tu, lại quán sát thế gian sanh diệt, cũng lại nghĩ phàm phu vô minh chẳng có trí huệ .... Tr 337

Giảng về Sinh tử luân hồi, từ nguyên nhân tạo hạt giống. Tạo nghiệp như thửa ruộng, nhân thiện ác (Hạt giống) thu nạp trong ruộng Bát Thức, Vô minh che lấp hạt giống nghiệp ruộng. Ái giống như nước phân, thấm nhuần hạt giống luân hồi, Dùng Ngã mạn để tưới bón nghiệp ruộng, Thức, Giống. Tà kiến như tấm lưới che đậy hạt giống nghiệp .. sanh ra mầm Danh sắc/ Bào Thai ... BỒ TÁT QUÁN SÁT NHÂN DUYÊN SINH KHỞI. Tr 339.  Tập 15

Mô tả trạng thái tâm buồn khổ khi chết ...

Giảng giải chi tiết về 12 nhân duyên - Quá trình sanh già bệnh chết. Tr342

Đại Bồ tát trụ Địa thứ 6 thường nhĩ về  "Hết thảy 3 cõi, chỉ là một TÂM, Như Lai diễn nói 12 Chi cũng từ một Tâm. Chỉ tùy theo sự THAM DỤC cùng sinh với Tâm. Tâm là Thức, là sự Hành, hành với Vô Minh thành Danh sắc ...Tr 343

Giảng về VÔ MINH có 2 thứ Nghiệp (i) và (ii), trong (ii) lại có 2 thứ nghiệp (1 và 2) ... rất chi tiết về 12 nhân duyên, mỗi thứ đều có 2 thứ nghiệp. Tr346

Giảng về nhân duyên của Phiền lão, Nghiệp đạo, Khổ đạo ... Sinh diệt giống như bó lau. Tr350

Pháp quán QÚA KHỨ - HIỆN TẠI - VỊ LAI với 12 Nhân duyên. Tr351

Giảng về Diệt Vô minh - Giải thoát luân hồi. Tr352

Đại Bồ tát quán Thuận - Nghịch 12 nhân duyên như vậy và Đắc được 10 câu trả lời rất tuyệt. Tr353

Bồ tát quán sát PHÁP HỮU VI nhiều lỗi xấu ác như vậy, NHƯNG CHẲNG CÓ TỰ TÁNH, luôn khởi Đại Bi không bỏ chúng sinh. Tr357

Vị Bồ tát trụ địa thứ 6 này đạt được KHÔNG TAM MUỘI: Gồm 10 thứ Không. Tr360

Bồ tát trụ HIỆN TIỀN ĐỊA thứ 6 này đắc được Bát Nhã B La mật, Tam minh. Tr362

Bồ tát này trong 10 Ba La Mật thì thành tựu thiên về Bát nhã ba la mật, còn các Ba la mật kia thì chỉ tùy sức tu

Hết Địa thứ 6 - Hiện tiền địa.

Bồ Tát trụ ở địa thứ 6 này phần nhiều làm Thiện Hóa Thiên Vương - Thiên Vương cõi Trời Thiện Hóa

Sang phần tán thán Bồ tát địa thứ 6 qua các bài Kệ tóm lược. từ Tr369

Sang Địa thứ 7 - VIỄN HÀNH ĐỊA. Tr381. Q15

Tại Địa thứ bảy phải tu hành như thế nào?

Tu những pháp môn gì?

Những cảnh giới đó ra sao?

Có những tướng trạng gì? (Tr 387. Q15)

Từ Địa thứ 6 lên Địa thứ 7 phải Tu 10 thứ Phương tiện Huệ, phát khởi đạo thù thắng

Đại Bồ tát khi trụ ở Địa thứ 7 (Trụ là Bất thối chuyển) này rồi, nhập vô lượng ... thứ phát huy trí huệ độ chúng sinh, nhập vào pháp hàng Thanh văn, vào pháp môn 12 Nhân duyên của Bích Chi Phật tu, thành tựu quả vị A La Hán. Tr394

Bồ Tát này trong niệm niệm đầy đủ 10 Ba La Mật. Vì sao? Vì luôn dùng Đại Bi làm đầu, chuyên tu hành Phật pháp hướng về Trí huệ của Phật. Tr395

Bồ Tát Địa thứ 7 này thành tựu 10 Ba La mật, thực hành 4 Pháp nhiếp - 4 Pháp trì - 37 phẩm trợ đạo - 3 môn giải thoát ... đều viên mãn. Tr398

Bồ Tát ở trong Thập địa đều đầy đủ pháp bồ đề phần. Riêng Địa thứ bảy thì thù thắng nhất. Tại sao? Vì Địa thứ bảy nầy công dụng hạnh đã viên mãn, vào được hạnh trí huệ tự tại.

Phật tử! Bồ Tát ở tại Sơ địa, vì duyên tất cả Phật pháp nguyện cầu, đầy đủ pháp bồ đề phần. Vì Địa thứ hai lìa tâm cấu. Vì Địa thứ ba nguyện lại tăng trưởng được pháp quang minh. Vì Địa thứ tư nhập đạo.

Vì Địa thứ năm thuận việc làm thế gian. Vì Địa thứ sáu vào pháp môn thâm sâu. Vì Địa thứ bảy khởi tất cả Phật pháp, cũng đều đầy đủ pháp phần bồ đề. Tại sao? Vì Bồ Tát từ Sơ địa cho đến Địa thứ bảy thành tựu phần trí công dụng. Do nhờ sức lực nầy, từ Địa thứ tám cho đến Địa thứ mười, vô công dụng hạnh, thảy đều thành tựu.  Tr401

Vì Bồ Tát tu học pháp môn Thập địa, từ Sơ địa đến Địa thứ bảy, sáu địa trước đều thiên năng tu tập một thứ pháp môn, đến Địa thứ bảy mới đầy đủ tất cả.

Từ Sơ địa đến Thất địa thực hành các hạnh, đều xả lìa nghiệp phiền não, vì đem hồi hướng vô thượng bồ đề. Vì được phần

đạo bình đẳng, nhưng chưa được gọi là hạnh siêu phiền não.

Từ Địa thứ 8 đến Địa thứ 10 mới được gọi là Bồ Tát Siêu hạnh phiền lão. Tuy Bồ tát Địa thứ 7 này không còn phiền lão, chỉ là Tâm cầu Trí Như Lai chưa viên mãn lên chẳng gọi là Không phiền lão. Tr407

Bồ tát Địa thứ 7 với hết thày Kinh thư kỹ thuật (Chiêm số, Dịch học ... ) của thế gian, như nói trong Địa thứ 5 đều tự nhiên mà thực hành, không cần dụng công. Tr408

Nói về các Thiền tam muội. 4 mức thiền và 5 mắc định gọi là Cửu thứ Địa Định

Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt nói: Phật

tử! Bồ Tát từ Sơ địa đến bậc nầy, hết thảy vô lượng thân lời ý nghiệp, đã vượt qua

hàng nhị thừa chưa?

Từ Sơ địa đến địa thứ 6 tuy đã vượt qua hàng Nhị thừa Thanh văn, nhưng là do Nguyện lực mà vào được nhà Như Lai mà có, chứ chẳng phải tự mình tu tập trí huệ thành tựu. Chỉ trừ Địa thứ 7 là khi trụ trong Địa này, tự mình tu thành tựu trí huệ chân thật. Cho lên hết thảy trí huệ và định lực của hàng Nhị thừa đều không bằng Bồ tát Địa thứ 7. (Ví như Thái tử với các Đại thần trong cung vua, người do Hoàng hậu sanh ra mà được vị thế dẫn đầu kế vị làm vua, chứ không phải do chính Thái tử tu hành thành tựu. Nhưng khi lớn lên thành người hoàn chỉnh Văn võ song toàn thì đó mới đáng là Bậc quân vương kế vị)- Ví dụ rất tuyệt. Tr415. Q15

Tức từ bé nương tựa vào vua cha, lớn lên tự mình có thể đảm đương mà không cần dựa vào thế của Cha nữa

Bồ tát địa thứ 7 đứng giữa, chẳng nhận "chưa đoạn phiền lão hay đã đoạn phiền lão". Tr415

Bồ tát này trong 10 Ba La Mật thì thiên về thành tựu viên mãn PHƯƠNG TIỆN BA LA MẬT, còn các Ba la mật khác thì tùy sức tùy phần mà tu. Tr424

Bồ tát trụ ở Địa thứ 7, phần nhiều làm Tự Tại Thiên Vương. Tiếp theo là phần nói Kệ tóm lược Bồ tát địa thứ 7. Tr425

Phát tâm hồi hướng là bố thí

Diệt hoặc là giới, không hại: nhẫn

Cầu thiện không nhàm là sách tấn

Nơi đạo không động tức tu thiền.

Nhẫn thọ vô sinh gọi Bát nhã

Hồi hướng: phương tiện, mong cầu: nguyện

Không thể phá: lực, khéo rõ: trí

Như vậy tất cả đều thành mãn.

Sơ địa phan duyên công đức đầy

Nhị địa lìa cấu Tam dứt tranh

Tứ địa nhập đạo Ngũ thuận hành

Đệ lục vô sinh trí quang chiếu.

Phan duyên là chỉ khi Bồ Tát tại Sơ địa, chuyên tu công đức, càng nhiều càng tốt, gần như tham cầu. Cho nên nói Sơ địa Bồ Tát tu tập căn lành công đức, viên mãn đầy đủ .....Tr431

Đến Địa thứ hai thì, Bồ Tát biết không nên tham cầu công đức quá

Đây là Bồ Tát Viễn Hành địa

 Phương tiện trí huệ thanh tịnh đạo

 Tất cả thế gian trời và người

 Thanh Văn Độc Giác không biết được. (Tr 437)

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 15

TẬP THỨ 16

Phẩm Thập địa thứ hai mươi sáu

Thứ tám Bất Động Địa.........................................117

Phẩm Thập địa thứ hai mươi sáu

Thứ chín Thiện Huệ Địa.......................................186

Phẩm Thập địa thứ hai mươi sáu

Thứ mười Pháp Vân Địa......................................270

Bồ tát lìa Địa thứ 7 - Nhập vào Địa thứ 8: Lìa tất cả tâm ý thức tưởng phân biệt, không chấp lấy. Giống như hư không, vào tất cả pháp như tánh hư không. Đó gọi là được vô sinh pháp nhẫn => Tức chứng được quả vị ĐỊA THỨ 7. Tr17

Bồ tát Địa thứ 7 khi tu chứng thành tựu Vô Sanh Pháp Nhẫn, lập tức chứng nhập cảnh giới Địa thứ 8 - BẤT ĐỘNG ĐỊA. Tr18

Bồ Tát Địa thứ 7 nhờ PHÁT TÂM ĐẠI DŨNG MÃNH VÀ KHỞI ĐẠI TINH TẤN vì chúng sinh lên đến được Địa thứ 8 này

Bồ Tát trụ tại Địa thứ tám - Bất Động địa cũng như vậy, tất cả vọng tưởng do tâm ý thức sinh khởi, cuồng tâm vọng niệm đều đã tiêu diệt hết. Trong dục niệm, trong tám thức đều đã khử vọng tồn thành, chẳng có hiện tiền. Tr21

Đó là quán thế gian thành, quán thế gian hoại. Do nghiệp nầy tập nên thành, do nghiệp nầy hết nên hoại. Bao nhiêu thời thành, bao nhiêu thời hoại, bao nhiêu thời thành trụ, bao nhiêu thời hoại trụ, đều biết như thật .... Tr31

Tuỳ theo trong thế giới nào, hết thảy địa thuỷ hoả phong giới, mỗi thứ có bao nhiêu hạt bụi. Hết thảy báu vật có bao nhiêu hạt bụi. Thân chúng sinh có bao nhiêu hạt bụi. Thân cõi nước có bao nhiêu hạt bụi, đều biết như thật. Biết chúng sinh thân lớn, thân nhỏ, có bao nhiêu hạt bụi mà thành. Biết thân địa ngục, thân súc sinh, thân ngạ quỷ, thân A tu la, thân trời, thân người, có bao nhiêu hạt bụi mà thành. Bồ Tát đắc được trí biết hạt bụi khác biệt như vậy. Tr33

Bồ tát biết Phật có 10 Thân. Tr45

Bát địa Bồ Tát thành tựu các thứ thân trí huệ như đã nói ở trên rồi, Ngài liền chứng được mạng tự tại: Bồ Tát có thể thao túng sinh mạng của mình, muốn sống thời gian bao lâu thì sống bấy lâu, không muốn sống cũng tuỳ thời có thể chết, không bị vua Diêm Vương quản thúc, rất tự do tự tại. Tr49. Q16

Vị Bồ tát Địa thứ 8 có rất nhiều tên khác. Tr54

Trong 10 Ba La Mật, Bồ Tát địa thứ 8 này thiên về NGUYỆN BA LA MẬT, các Ba La Mật kia thì tùy sức tùy phần tu hành. Tr 62

Phật tử! Đại Bồ Tát trụ địa nầy, phần nhiều làm Đại Phạm Thiên Vương, chủ ngàn thế giới, tối thắng tự tại, khéo nói các nghĩa, hay ban cho Thanh Văn, Bích Chi Phật, các Bồ Tát đạo Ba la mật. Tr62

Đến kệ tổng hợp giảng nói về Bồ tát Địa thứ 8. Tr64

Bốn câu kệ nầy nói rõ về dục niệm của Lục dục thiên:

"Tứ Vương Đao Lợi dục ôm nhau

Dạ Ma cầm tay Đâu Suất cười

Hoá Lạc nhìn kỹ Tha tạm nhìn

Đó là dục lạc của chư Thiên". Tr 68. Q16

Sang Địa Thứ 9 : THIỆN HUỆ ĐỊA. Tr79. Q16

Bồ Tát địa thứ 8 khi đủ nhân duyên thì nhập vào Địa thứ 9 - Thiện Huệ Địa. Tr86

Ngài còn biết pháp hành Thanh Văn và pháp hành Độc Giác. Pháp hành Thanh Văn là bậc Thánh tiểu thừa – pháp tứ đế “khổ tập diệt đạo” mà tu chứng quả vị, đó là quả vị A la hán. Quả vị A la hán chia ra làm bốn giai đoạn: Xem giảng chi tiết . Tr88. Q16

Quả vị A La Hán là quả vị cao nhất của bậc Thánh hàng Tiểu thừa tu đạt được, chiếu cứ vào thành tựu tứ Thánh đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo mà tu. Phát 4 Hoằng thệ nguyện mà tu: Chúng sinh vô lượng .... Phật đạo vố thượng thệ nguyện thành.

Độc Giác thừa còn gọi là Bích Chi Phật thừa, còn gọi là trung thừa. Độc Giác thì y cứ vào pháp mười hai nhân duyên mà tu. Họ sống trong thâm sơn cùng cốc, biệt lập với thế gian.

“Xuân quán trăm hoa nở, thu ngắm lá vàng rơi”, nhờ đó mà giác ngộ đạo lý đời người tất cả đều vô thường, khổ, không, vô ngã ... Tr90. Q16

Khi có Phật ra đời thì thấy Phật nghe pháp, chứng ngộ rồi gọi là Duyên Giác. Không có Phật ra đời là tự ngộ, gọi là Độc Giác, hoặc Bích Chi Phật. Vị Bồ Tát cửu địa nầy, cũng biết tu pháp hành Bồ Tát hạnh, Bồ Tát thì tu lục độ hoặc thập độ vạn hạnh, rộng lớn vô biên,..... Tr90

Giảng nói về Bồ Tát Địa thứ 9 quán sát các Tướng Phiền lão và các Tướng trạng Nghiệp thiện/ Bất thiện, Vô ký ... Rồi quả báo thọ/ Không thọ ví như làm việc thiện nhiều thì quả báo ác không phải thọ vì Nghiệp thiện có thể tiêu trừ nghiệp ác ... Bồ tát Địa thứ 9 Ngài đều biết tường tận. Tr98. Q16

"Thượng" là thượng đẳng. "Trung" là trung đẳng, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Thứ tướng nầy chiếm hết 75% trong chúng sinh, là tướng nhiều nhất bình thường phổ thông. "Hạ" là hạ liệt, thường thường có nhiều người năm căn không đủ, những chúng sinh nầy trí năng cũng rất thấp. Tr99. Q16

Tướng phiền não câu sanh chẳng lìa nhau : Vô minh phiền não từ trước mang đến, động một cái liền nóng giận, loại chúng sinh nầy nhất định sinh tánh hung bạo tàn nhẫn, khiến cho mọi người không dám gần gũi.

Tướng năm căn chánh định : Năm căn là : Tin, tấn, niệm, định, huệ. Có năm căn nầy mới đắc được tướng chánh định. Tướng nhị câu bất định : Cả hai tướng chánh tà

không thể phân biệt rõ ràng. Tướng bát định tà định : Bát tà tức là ngược lại với bát chánh . Tr107

Bồ Tát Địa thứ chín, Ngài đều đầy đủ mười đức tánh nầy, nên Ngài làm đại pháp sư. Ngài lại khéo giữ gìn pháp tạng của Như Lai nói. Nghĩa là nói Ngài khéo hay bố thí,

khéo giữ giới, khéo nhẫn nhục, khéo tinh tấn, khéo thiền định, khéo tu tập Bát Nhã, rộng tu lục độ, mà còn thiết thực hành trì.  Tr111

Cho nên người mà có thần thông, thì tay của họ có con mắt, có thể chữa bệnh. Nếu như chẳng có tâm từ bi hỷ xả, tâm địa bất thiện, đối với người không tốt, thì dù có thần thông, tay cũng không thể linh nghiệm, sẽ chẳng có cảm ứng gì hết. Tr113

Như vậy cho đến hết thảy chúng sinh trong bất khả thuyết thế giới, trong khoảng sát na, mỗi người đều dùng vô lượng tiếng nói mà vấn nạn, mỗi mỗi vấn nạn thảy đều khác nhau, Bồ Tát ở trong khoảng một niệm, đều lãnh thọ được hết, cũng dùng một tiếng giải thích khắp hết, đều tuỳ theo  tâm ưa thích của mỗi người, thảy đều hoan hỉ. Tr134

Căn lành của Bồ Tát Cửu địa nầy, cũng lại như vậy. Hết thảy căn lành của tất cả Thanh văn, Bích chi Phật, và Bồ Tát bậc dưới, không thể bằng được.  Tr139

Các vị thiện sĩ học tu đạo ! Nên nhớ phải dứt phiền não, bất cứ cảnh giới gì hiện tiền, đừng có nóng giận khởi phiền não. Một khi có phiền não tức là phá giới; một khi có phiền não thì hiện ra bộ mặt xấu xí; một khi có phiền não thì sự đen tối sẽ trùm đậy lại, sẽ biểu hiện hành vi khó coi, rất là không được quang vinh. Tr140. Q16

Bồ tát Địa cửu địa này trong 10 Ba La Mật thì LỰC BA LA MẬT là tối thắng nhất, còn các Ba La mật khác thì tùy sức tùy phần tu. Tr141

Đại Bồ Tát trụ địa nầy, phần nhiều làm Đại Phạm Thiên Vương chủ hai ngàn thế giới. Khéo hay thống lý, tự tại làm lợi ích. Hay vì tất cả Thanh Văn Duyên Giác và các Bồ Tát, phân biệt diễn nói hạnh Ba la mật . Tr142

Đến đoạn các bài Kệ tổng hợp lại vị Bồ Tát tu hành trụ Cửu địa. Tr145

Giảng về hữu lậu và vô lậu. Tr148. Q16

Thế : là thế gian, tất cả sự vật trên thế gian, tức là pháp thế gian. Chúng ta ở trong nhân loại thế gian, thì phải giữ chánh pháp tam cang ngũ thường của nhân loại thế gian. Tam cang : Quân thần, cha con, vợ chồng. Ngũ thường còn gọi là ngũ luân :

Quân thần, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Xuất thế :  ........ Tr148

Giảng về các Quả vị A La Hán, giảng lý do các A La Hán tứ quả sợ ngại hành Bồ tát đạo độ chúng sinh, cũng vì hành Bồ tát đạo quá khổ, muốn ung dung tự tại giải thoát luân hồi ...Tr149

Hết cửu địa. Sang địa thứ 10

ĐỊA THỨ 10 - PHÁP VÂN ĐỊA. Tr163. Q16

Đại Bồ Tát (Địa thứ 9) trong các Bồ Tát, Ngài đắc được đại trí đại huệ như đã nói ở trên, vào Địa thứ mười – Pháp vân địa, thọ chức vị Bồ Tát rồi, liền đắc được tam muội lìa tất cả cấu nhiễm của Bồ Tát, gồm rất nhiều loại tam muội ... Tr 177

Theo trình độ tu chứng mà nói, thì Thập địa chỉ là bậc cao nhất trong Thập địa, chưa đạt đến quả Phật viên mãn. Thần thông trí huệ của Ngài còn thua Phật xa lắm, cho nên Bồ Tát ở đâu cũng biểu hiện cung kính Phật, không quên mình vẫn là đệ tử của Phật. Chẳng những không thể biểu thị có tâm cống cao ngã mãn đối với Phật, mà đối với bất cứ ai cũng vậy . Tr187. Q16

Vì Bồ Tát đã tu chứng đến Thập địa, đã đầy đủ mười lực giống như Phật, cho nên được liệt vào trong danh vị của Phật. Tr193.Q16

Vị Thập địa Bồ Tát nầy ở trong một thế giới - một thế giới bao quát một mặt trời, một mặt trăng, một bốn đại bộ châu, một núi Tu Di. Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất

hạ sinh xuống nhân gian (Vì thành Phật nhất định phải đến nhân gian mới có thể thành Phật) ... Hoặc hai thế giới, hoặc ba thế giới, cho đến cõi nước chúng sinh nhiều như hạt bụi như đã nói ở trên, còn nhiều hơn số trên, cho đến vô lượng trăm ngàn ức Na do

tha thế giới nhiều như số hạt bụi cõi nước, và chúng sinh nhiều như số hạt bụi, Bồ Tát cũng đều ở tại đó giáo hoá tế độ chúng sinh, thị hiện quá trình thành Phật. Do vậy, cho nên Thập địa gọi là Pháp vân địa. Thập địa Bồ Tát gọi là Bồ Tát Pháp vân địa.  Tr215. Q16

Giảng về chứ Biển - Biển có 8 đức lớn. Tr224

Gần đây nhất, có một nhà dự đoán nói: Vào ngày 10 tháng sau tại San Francisco sẽ phát sinh động đất nghiêm trọng, đây nói không chừng một vị đại Bồ Tát nào đó ở tại đó hà hơi chăng ! Tôi có thể nói một câu chịu trách nhiệm rằng: Chỉ cần ngày nào tôi còn ở San Francisco, thị tuyệt đối không để cho động đất, làm cho mọi người lo sợ. Tại sao tôi dám nói như thế ?  Tr 227. Q16

Thập địa Bồ Tát có lúc, hoặc ở tại mười phương thế giới hiển hiện phong tai, hoả tai và thuỷ tai. Đại Bồ Tát hiển hiện tai nạn, khiến cho chúng sinh thọ tai nạn thống khổ, đây chẳng phải là Bồ Tát không từ bi, cố ý chơi cười với chúng sinh, cho chúng sinh chịu khổ. Đây là đối với những chúng sinh tạo nghiệp, cố ý cho chúng sinh một chút tai nạn, để cho họ chịu khổ mà sinh tâm giác ngộ.

Có lúc cũng do tai nạn  tổn thất rất lớn, tử vong rất nhiều. Hiện tượng đó là một thứ công nghiệp, là do chúng sinh tự tạo nghiệp ác, cho nên không thể tránh khỏi tai nạn. Tôi nói như vầy: Đây chẳng phải là biện hộ cho Bồ Tát. Do đó, có câu “Phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi”, tin hay không các vị tự suy gẫm . Tr 227

Bồ Tát này ở trong mười Ba la mật, thì Trí Ba la mật tăng thượng nhất. Còn các Ba la mật khác tuỳ sức mà tu.  Tr 245.Q16

Phật tử ! Bồ Tát trụ địa này, phần nhiều làm Ma Hê Thủ La Thiên Vương, tự tại nơi pháp, hay truyền thọ hạnh Ba la mật của tất cả Bồ Tát cho chúng sinh Thanh Văn Độc Giác.

Ma Hê Thủ La Thiên Vương tức là Trời Đại Tự Tại, trên đỉnh của sắc giới, khi Thập địa Bồ Tát sắp thành Phật hiện thắng báo Đại Tự Tại Thiên Vương. Tr246. Q16

Như do đại địa, mà có mười núi chúa.

Những gì là mười ? Đó là : Núi chúa Tuyết, núi chúa Hương, núi chúa Tỳ Đà Lê, núi chúa Thần Tiên, núi chúa Do Càn Đà, núi chúa Mã Nhĩ Sơn, núi chúa Ni Dân Đà La, núi chúa Chướt Yết La, núi chúa Kế Đô Mạt Để, núi chúa Tu Di Lư.

10 Bồ Tát địa này cũng có sự tương ứng với 10 núi trên: Giống như toà núi chúa Tuyết lớn, tất cả cỏ thuốc danh quý trên thế gian, đều ở trong đó, lấy không hết được. Bồ Tát tu chứng được Sơ địa – Hoan hỉ địa, cũng giống như núi chúa Tuyết, vì tất cả kinh thư, kỹ thuật, văn tụng, chú thuật .v.v... trên thế gian, đều bao quát ở trong một địa này, .. Tr251

2. Núi chúa Hương - Bồ tát nhị địa/ Ly Cấu địa cũng như thế

3. Núi chúa Tỳ Đà Lê - Bồ tát tam địa/ Phát Quang địa cũng như thế

Cho đến núi thưa 10 tương ứng Bồ tát thập địa như thế

Tren đây lấy các Núi tương trưng cho các Hạnh thành tựu của Thập địa Bồ tát

Dùng mười núi ví dụ Thập địa : Hai núi trước thể là núi đất, biểu thị thế gian. Tám núi sau thể đều thuần bằng châu báu, biểu thị thanh tịnh, hàm nghĩa tại nơi pháp.

Trong mỗi đoạn đều có "Nói không hết được, không cùng tận", ý nghĩa là : Tuỳ thuận tu hành, vĩnh viễn không gián đoạn, vĩnh viễn không tạm ngừng. Tr256. Q16

Phật tử ! Mười núi chúa báu này, đồng ở trong biển, do khác biệt mà được tên. Bồ Tát Thập địa, cũng lại như thế.

Đồng ở trong Nhất thiết trí, do khác biệt mà được tên.

Giảng về 10 Tướng biển cả. tr257

Bồ Tát hạnh cũng lại như thế, vì dùng mười tướng, nên gọi là Bồ Tát hạnh, không bị đổi tên. Những gì là mười ?  (Gồm thập địa Bồ tát cùng tên Bồ Tát hạnh). Tr258

Tóm lược về Bồ tát thập địa . Tr260

Chấu đại Ma ni - Châu báu này có 10 thứ tánh. Tr 261

THẬP ĐỊA BỒ TÁT cũng như Châu Ma ni, có 10 việc khác với chúng sinh. Tr263

Đến các bài kệ tổng hợp Bồ tát Thập địa. Tr271. Q16

Tóm lược 10 địa qua bài kệ. Tr290

Pháp môn Thập địa là học tu Bồ Tát hạnh, học hành Bồ Tát đạo, muốn chứng quả Phật, thì phải tu học pháp môn vô thượng. Nó hơn hẳn tất cả các pháp thế gian, là diệu pháp duy nhất muốn ra khỏi thế gian, được mười phương ba đời chư Phật nói, mười phương Bồ Tát phải tu. Tr292. Q16

HẾT PHẦN THẬP ĐỊA

PHẦN THẬP THỨ NĂM
SANG PHẦN THẬP ĐỊNH. Tr294. Q16

Định là gì: Tâm bất động/ Tâm cảnh hợp nhất. Phẩm này giảng về 10 thứ Định. Tr 296

Đức Phật khi xuất gia tu đạo, mất 5 năm tìm vị Thầy chánh đạo mà cũng chưa gặp, vì đương thời toàn thầy ngoại đạo, không có thầy Chánh đạo, hiểu giảng về Pháp 12 nhân duyên. Thái tử phát nguyện tu đạo giải thoát ... Khi đến ngồi dưới gốc cây Bồ đề , phát Đại thệ nguyện "KHông thành Phật - Không rời chô này", do đó không ăn không uống, ngồi 49 ngày, vào ngày 08/12, lúc đó là 30 tuổi rồi, thấy Sao mai mọc mà ngộ đạo, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tr300. Q16

Hàng nhị thừa là tự giác, giác ngộ đời người là khổ.

Tuy tự mình giác ngộ rồi, nhưng không giác ngộ kẻ khác. Hàng nhị thừa tức là Thanh Văn và Duyên Giác. .........Tr301

Khi Bồ Tát đến được bậc Bát địa, thì mới dứt trừ được biến dịch sinh tử. Thập địa Bồ Tát vẫn còn chút phần vô minh hoặc chưa phá. Khi đến được bậc Đẳng giác, vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa phá. Nếu phá được thì sẽ chứng được bậc Diệu giác, tức là thành Phật. Tr301

Phật thì tự giác cũng tròn, giác tha cũng tròn, giác hạnh tròn đầy. Do đó: “Ba giác tròn, vạn đức đầy, nên gọi là Phật”. Ý nghĩa ban đầu thành Chánh Giác, chỉ lược nói để tham khảo

Tam muội dịch là "Chánh định", chánh định khác với tà định. xem giảng chi tiết ...Tr303

Giảng về Thiền chỉ/ Xa Ma Tha ...Tr305

Các vị ! Ai muốn thấy Phật khai ngộ, thì điều kiện đầu tiên phải quét sạch rác rến trong tâm, chẳng còn chút bụi bặm nào. Khi đến được cảnh giới này, thì ......

Trong quán tâm, tâm chẳng có tâm

Ngoài quán hình, hình chẳng có hình

Xa quán vật, vật chẳng có vật.

Mới có hy vọng thấy Phật khai ngộ, bằng không thì miễn bàn, không có hy vọng. Tồn tại hy vọng, đó là si tâm vọng tưởng, vĩnh viễn không thể thành sự thật. Tr 305

Cho nên, pháp trong Kinh Hoa Nghiêm nói, đều dùng "Mười" để làm đại biểu, như : Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Thập định, Thập thông, Thập nhẫn .v.v… Tr 306. Q16

Tâm của Bồ Tát thì từ bi, chỉ biết có chúng sinh, chẳng biết có chính mình. Ngài hay nhẫn nhục, hay chịu thiệt thòi, hay bố thí, hay cứu khổ, tu hành pháp môn lục độ vạn hạnh.

Lục độ tức là : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Vạn hạnh tức là hạnh môn vô lượng vô biên. Dùng từ bi hỉ xả bốn tâm vô lượng và bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, bốn pháp nhiếp để làm đại biểu. Tr307

Giảng choi tiết về Bố thí, trì giới ...

Giảng chi tiết về Lục độ: Bố thí, trì giới ...Tinh tấn... HT Tuyên Hóa giảng chúng ta phải tu, mỗi người nhất định phải tụng niệm 42 Thủ nhãn ấn pháp ... Tr310. Q16

Đại Bồ Tát đông nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, các Ngài đều chứng được bậc quán đảnh. Thế nào là bậc quán đảnh ? Khi Bồ Tát làm Pháp Vương tử, thì được mười phương chư Phật, dũi cánh tay phải rờ đầu, dùng nước cam lồ trí huệ quán đảnh cho Ngài. Thọ nghi thức quán đảnh rồi, thì tương lai sẽ làm Phật, tức cũng là hậu bổ Phật vị. Hiện tại Bồ Tát Di Lặc đang ở nội viện cung trời Đâu Suất, chờ đợi thời gian đến, sẽ từ cung trời Đâu Suất hàng sinh xuống thế giới Ta Bà thành Phật, giáo hoá chúng sinh, lìa khổ được vui.  Tr 311

Hiện tại ngoại đạo nói lời bịa đặt mê hoặc mọi người, họ nói "Phật Di Lặc sắp hàng sinh, đến khai đại hội long hoa, độ các bạn thăng thiên, hưởng thọ khoái lạc vĩnh viễn", rất nhiều người hồ đồ, mê tín cho là thật, bị họ lừa gạt. Tr311 - Tập 16 - Kinh Hoa Nghiêm

Danh sách 100 vị Đại Bồ tát làm đại diện cho vô lượng vô số Đại Bồ tát ...Tr314

Chúng ta tu pháp môn 42 Thủ nhãn ấn pháp ... Giảng thêm. Tr329

Đức Phật giảng nói về Bồ Tát Phổ Hiền có đại oai đức, đại hạnh nguyện ... tất cả đều cao tột không thể tả, các hàng Bồ tát trong hội chúng đa số chẳng thể nhìn thấy ngài, dì Ngài đang ngồi tòa gần đức Phật ... 341. Q16

Giảng nói rất sâu rộng các thành tựu vô lượng Hạnh nguyện về Đại Bồ Tát Phổ Hiền . Tr352

Đến đoạn đức Phật bảo Bồ Tát Phồ Hiền giảng về 10 Tam Muội. Tr 359. Q16

10 ĐẠI TAM MUỘI CỦA ĐẠI BỒ TÁT

1. Tam muội Phổ Quang Minh:

1.1- Đại Bồ Tát này có 10 Pháp Vôn tận. Tr359

1.2- Đại Bồ Tát này có 10 thứ Tâm Vô biên

1.3- Đại Bồ Tát này có 10 thứ Trí vào Tam muội khác biệt

1.4- Đại Bồ Tát này có 10 thứ Trí thiện sảo

2. Tam muội Diệu Quang Minh:

2.1- Đại Bồ Tát này có thể vào vô lượng thế giới.... Tr370

3. Thần Thông Tam muội:

3.1- Đại Bồ Tát này có thể đi đến các cõi nước của vô lượng chư Phật.... Tr387

4. Tam muội Thanh Tịnh Thâm Tâm Hạnh:

4.1- Đại Bồ Tát này biết rõ số thân chư Phật đồng chúng sinh... Tr390

5. Tam muội Biết Quá khứ Trang Nghiêm Tạng

5.1- Đại Bồ Tát này có thể các kiếp, các cõi thứ tự.... Tr397

5.2 + Đại Bồ tát thọ 10 Pháp Quán Đảnh không thể nghĩ bàn. Tr400

6. Tam muội Trí Quang Minh Tạng

6.1- Đại Bồ Tát này biết được .. Tr403

Đại Bồ tát vào 10 thứ Môn trì. Tr407

7. Tam muội biết rõ Tất cả Thế giới Phật Trang Nghiêm

7.1- Đại Bồ Tát này thứ tự vào các thế giới, khởi từ phương đông, đến phương Nam, đến phương tây và đến phương bắc (Thuận chiều kim đồng hồ).... Bốn hướng TRÊN DƯỚI hết thảy đều như thế. Tr417

Tại sao phải nói số lượng nhiều như vậy ? Vì tư tưởng của chúng ta nhỏ hẹp, có giới hạn, không thể to lớn “tận hư không, khắp pháp giới”, cho nên mục đích Phật Thích Ca diễn nói Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật là phá chấp trước của chúng sinh, dạy chúng ta nhìn thấy lớn, đừng chấp trước lớn. Thấy nhỏ đừng chấp trước nhỏ. Nếu chấp trước lớn thì bị lớn lay chuyển, nếu chấp trước nhỏ thì bị nhỏ lay chuyển. Như vậy thì chẳng có định lực. Người đó định lực, thấy giống như không thấy, nghe giống như không nghe, do đó : Tr428. Q16

TÁI SANH CỦA CON NGƯỜI: Ví như tất cả chúng sinh, khi mạng chung rồi, lúc sắp thọ sinh, trong giai đoạn này là thân trung ấm, tức cũng là « quỷ ». Khi năm ấm trước của con quỷ này (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đã đoạn, năm ấm sau chưa sinh. Linh hồn cũng có thể nói là thức thứ tám (chủng tử) ở trong đen tối, đi khắp nơi tìm kiếm cha mẹ có duyên để thọ sinh. Dù có xa ngàn dặm, nếu phát hiện một chút ánh sáng (không có duyên thì nhìn chẳng thấy ánh sáng này), liền lập tức đến chỗ ánh sáng đó, trong khoảnh khắc bèn đi thọ sinh. ... Tùy thân Nam hay Nữ mà yêu cha ghét mẹ hay yêu mẹ ghét cha khi đầu thai ....Tr 433. Q16. Kinh Hoa Nghiêm

Chúng sinh dùng gì để thọ sinh ? Là dùng tâm. Do đó : « Không lìa khỏi tâm ». Tâm có phân ra âm dương, dương là thần, có thể hoá sinh về trời; âm là quỷ, đầu thai vào nhân gian, hoặc làm người, hoặc làm súc sinh.

Đại Bồ Tát trụ ở TAM MUỘI này thành tựu 10 Pháp mau chóng ...... Tr434

Đả Phật thất lần này (ngày 20/8/1977) tại Vạn Phật Thành là lần thứ nhất. Tục ngữ có nói : « Bắt đầu tốt đẹp, tức là thành công một nửa ». Do đó : « Một thuận thì trăm

thuận ». Hy vọng mọi người dũng mãnh để niệm Phật, chuyên tâm để niệm Phật, trói tâm khỉ lại, đừng để nó chạy bên ngoài. Tự mình quản thúc mình, niệm đến lúc nhất tâm bất loạn, thì sẽ được Phật Di Đà gia bị, khiến cho bạn khai mở đại trí huệ . Tr436. Q16

Vì Phật A Di Đà có nguyện lực như thế, cho nên chúng ta phải niệm sáu chữ hồng danh « Nam Mô A Di Đà Phật », có thể đới nghiệp vãng sinh, hoa nở thấy Phật. Muốn vãng sinh về thế giới Cực Lạc, nhất định phải nhờ sức niệm Phật, mới được vãng sinh về cõi đó; ...... Giảng kỹ về Pháp Niệm Phật . Tr437. Q16

Trong tịnh độ tông có ba bộ kinh :

1. Kinh A Di Đà

2. Kinh Vô Lượng Thọ.

3. Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật

Niệm NamMô A Di Đà Phật, có bốn phương pháp niệm :

1. Quán tưởng niệm Phật.

2. Quán tượng niệm Phật.

3. Trì danh niệm Phật.

4. Thật tướng niệm Phật.

Giảng khá kỹ về 4 Pháp niệm Phật Tam Muội thành tựu. Tr440

Đại Bồ tát lại được 10 thứ Pháp Ấn. Tr 440

Giảng giải về Ngũ nhãn hay. Tr442

HT Tuyên Hóa nói về Ngũ Nhãn của ngài: Có người hỏi : « Hoà thượng ! Ngài có căn cứ gì mà phát biểu lời không thể nghĩ bàn như thế » ? Đương nhiên là tôi có căn cứ, bằng không, sẽ phạm giới vọng ngữ, tương lai sẽ đoạ vào địa ngục cắt lưỡi. Căn cứ của tôi là dùng ngũ nhãn để chứng minh. Ai khổ cực tu đạo, tham thiền đả toạ, thì tự nhiên sẽ khai mở ngũ nhãn ... Tr443. Q16. Kinh Hoa Nghiêm

Khi trời Đế Thích mới được bảo châu này, liền đắc được mười pháp, vượt hơn tất cả trời Ba Mươi Ba.  Những gì là 10...... Tr450

Phật tử ! Đó là đại tam muội Trí thiện xảo biết rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm thứ bảy của đại Bồ Tát.

Hết quyển 16

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 16

SANG TẬP 17:
Tiếp theo 3 Đại tam muội là 8 -9-10

THỨ TÁM, TAM MUỘI TẤT CẢ THÂN CHÚNG SINH KHÁC BIỆT . Tr09

Đại Bồ Tát trụ tam muội này, đắc được mười thứ không chấp trước. Những gì là 10: ...

KHÔNG CHẤP TRƯỚC: Tóm lại, vạn sự đều « OK », thì chẳng có sự chấp trước. Nói cách khác, tốt cũng chẳng chấp trước, xấu cũng chẳng chấp trước, tất cả đều buông bỏ hết. Trong Tâm Kinh có nói : « Vì không quái ngại, nên không có sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, rốt ráo Niết Bàn ». Nếu như buông bỏ được tất cả, thì không có quái ngại, đó là chỗ tinh hoa của Phật pháp. Tr11. Q17. Kinh Hoa Nghiêm

Cảnh giới Kinh Hoa Nghiêm là khai mở tâm chúng sinh rộng lớn từng chút từng chút. Từ một đến mười, từ mười đến trăm, từ trăm đến ngàn, từ ngàn đến vạn, từ vạn đến ức, cho đến vô số vô số, vô lượng vô lượng. Chủ yếu làm cho tư tưởng rộng lớn, phải có cảnh giới «dọc bao thái hư, ngang khắp pháp giới ». Tr 18

Phật tử ! Ví như có người, bị quỷ nhập, làm cho thân họ rung động, không thể được an. Quỷ không hiện thân, khiến thân họ như vậy. Đại Bồ Tát trụ tam muội này, cũng lại như thế. Thân mình nhập định thân họ khởi. Thân họ nhập định thân mình khởi. Tr 21. Q17

Phật tử ! Ví như tử thi, vì nhờ lực của Chú mà có thể dậy đi, tuỳ theo các việc đều làm được. Tử thi và Chú tuy đều khác biệt, mà có thể hoà hợp, thành tựu việc đó. Tr21. Q17

3. Phá ác : Tức là phá phiền não ác. Vì Tỳ Kheo có ba ý nghĩa này, nên không dịch. Khi Trung Quốc phiên dịch kinh điển tiếng Phạn, có 5 loại không dịch :

1. Bí mật không dịch : Như Chú ngữ. 2. Tôn trọng không dịch : Như « Bát Nhã », « Bồ

đề » .....Tr24. Q17

Phật tử ! Ví như đại địa, chỉ có một vị, mà sinh ra cây cỏ đủ thứ vị khác nhau. Tuy đất không khác nhau, mà vị có sự khác nhau đặc thù.  Tr24

Đại Bồ Tát trụ tam muội nầy, lại được mười thứ quang minh chiếu sáng. Những gì là mười ?  Tr27

Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ tam muội này, lại được mười thứ vô sở tác .Tr29

Ví như nhà huyễn thuật, trì chú được thành tựu, có thể hiện ra đủ thứ hình tướng khác nhau. Chú với huyễn khác nhau, mà làm huyễn được. ... Giảng nói như nhà ảo thuật thành thục , biến không thành có ... Tr31

Đại Bồ Tát cũng lại như thế, đã khéo thành tựu các huyễn trí địa. Huyễn trí tức là Bồ Tát, Bồ Tát tức là huyễn trí ....Tr32

NHẬP THAI TÁI SINH: Ví như khi tinh cha huyết mẹ của nam nữ hoà hợp, hoặc có một thân trung ấm thọ sinh. Lúc đó, thức thọ sinh gọi là Ca la lã vị. Từ đó bắt đầu lần lược sống, đầy đủ mười tháng, sinh ra thế gian này, tiếp thọ các sự khổ, nhưng chúng sinh vẫn cứ lấy khổ làm vui. Tr 35

Bây giờ đưa ra một vấn đề, để mọi người cùng nhau nghiên cứu : Tại sao người nam thương người nữ ? Người nữ thương người nam ? Có người nói : « Đây là thiên tính !

Khổng Tử đã từng nói : ‘’Tánh tham sắc vậy’’, đây là tham dục của con người ». Bởi nhân duyên này, cho nên chúng sinh do sắc dục mà sinh, do sắc dục mà chết. Ai phá được ải sắc dục, đoạn dục khử ái, thì không bị mười hai nhân duyên ràng buộc, sẽ được giải thoát.

Phật tử ! Đại Bồ Tát này đến được 10 thứ thần thông bờ kia. Những gì là mười ? Đó là :  Tr42

Hết Tam muội thứ 8

THỨ CHÍN, TAM MUỘI TỰ TẠI PHÁP GIỚI . Tr45. Q17. Kinh Hoa Nghiêm

Đại Bồ Tát trong Tam muội này có 10 thứ lực, mỗi thứ lực lại có đủ 38 thứ lực... Tr60

Ví như cung của Vô Nhiệt Não Đại Long Vương, nơi ao A Nậu Đạt chảy ra 4 con sông lớn. Bốn mặt ao đó, đều có một cửa sông, chảy ra một con sông. ....Mô tả rất hay (Về Phong thủy) Tr 65. Q17

Bốn con sông lớn đó, đều vòng về bên phải, ở giữa mỗi con sông đó, đều có báu trời làm thành hoa Ưu bát la (hoa sen xanh), hoa Ba đầu ma (hoa sen đỏ), hoa Câu vật đầu (hoa sen vàng), hoa Phân đà lợi (hoa sen trắng) . Tr 68

Giảng về tương ứng 4 phương, Đại Bồ tát giảng các Pháp tương ứng rất tuyệt.. Tr68

Các vị Phật tử ! Thế nào gọi là bốn phương của Bồ Tát ? Các vị Phật tử ! Hãy chú ý lắng nghe, đó là :

1. Bồ Tát thấy được tất cả chư Phật, mà được khai ngộ, minh bạch bản lai diện mục (bộ mặt thật xưa nay).

2. Bồ Tát nghe được tất cả pháp, vì văn, tư, tu, ba huệ viên mãn, cho nên thọ trì không quên.

3. Bồ Tát viên mãn được tất cả hạnh Ba la mật.

4. Bồ Tát dùng đại bi tâm để thuyết pháp, đầy đủ dục vọng của tất cả chúng sinh. Tr 72

Như 4 con sông lớn, thấm nhuần tất cả đất đai cõi Diêm Phù Đề. Thấm nhuần rồi, chảy vào trong biển cả. Đại Bồ Tát cũng lại như thế, dùng sông 4 trí, thấm nhuần trời, người, Sa môn, Bà la môn, khiến cho họ khắp vào biển trí huệ A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dùng mười thứ lực để trang nghiêm. Những gì là bốn ? Tr76. Q17

Hết Tam muội thứ 9 của Đại Bồ Tát

THỨ MƯỜI, TAM MUỘI VÔ NGẠI LUÂN. Tr 87. Q17

Người có duyên, mới nghe được Phật pháp, mà sinh tín tâm. Người không có duyên, nghe pháp cũng không sinh tâm tin, chẳng gần gũi thiện tri thức. Do đó :

« Nước mưa tuy nhiều,

Nhưng không thấm nhuần cây không rễ

Cửa Phật tuy rộng,

Nhưng khó độ người vô duyên ».

Người có căn lành, mới có cơ hội nghe được Phật pháp; người chẳng có căn lành, không thể nghe được Phật pháp. Chúng ta đều là người có căn lành, vì kiếp trước đã ... Tr97. Q17

Giảng nói về tư thế ngồi Kiết già . Tr98

Tuy biết pháp không khác biệt, mà nói các môn khác nhau. Tuy biết các pháp không có sinh diệt, mà nói tất cả tướng sinh diệt. ... chia thành 100 Pháp giảng nói. Tr116

NÊN ĐỌC CÁC PHÁP: Tổng cộng lại có 100 pháp. Đây là 100 pháp của đại thừa, tiểu thừa chỉ có 75 pháp. Nếu muốn thấu hiểu tường tận, thì hãy tham khảo quyển Bách Pháp Minh Môn Luận . Tr117. Q17

Bồ Tát tuy biết Pháp - Sắc - Thọ - Tưởng .... là Không mà vẫn phải diễn nói là để độ chúng sinh/ Trong không nói có, trong có nói không => Gọi là dùng Pháp phương tiện khéo giáo hóa - Khiến họ phát Bồ đề tâm, cầu Vô thượng đạo. Tr117. Q17

Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp, là rốt ráo vô tận, mà vẫn phải diễn nói hết tất cả pháp hữu lậu. Lại minh bạch pháp vô lậu. Pháp hữu lậu tức là pháp có tướng, tức là pháp hữu vi. Pháp vô lậu tức là pháp vô tướng, tức là pháp vô vi. Tr119

Mục đích học Phật là thay đổi tâm ích kỷ, thành tâm đại công vô tư. Việc việc đều vì người, mà chẳng vì mình. Hy sinh sự khoái lạc của chính mình, đi trợ giúp người khác khốn khổ, do đó : « Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa », đây là tông chỉ của Phật giáo.  Tr123

Giảng kỹ về phát đại nguyện hành Bồ Tát đạo. Tr 171

Bồ Tát phát bốn hoằng thệ nguyện:

"Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành"

Tại sao hay có phiền não? Vì có nghiệp chướng, có oan nghiệt. Trong vô lượng kiếp đến nay, giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hoà hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu – phạm tội ngũ nghịch. ...... nghĩ muốn tu hành, thì những tội nghiệt này tìm đến nhiễu loạn, khiến cho bạn không thể tĩnh tâm tu hành, vọng tưởng lung tung, phiền não trùng trùng.  Tr 173

Đời này muốn phát bồ đề tâm, nhưng ma lại đến nhiễu loạn. Vậy, phải làm bằng cách nào? Hãy mau sám hối sửa lỗi làm con người mới, tâm bình khí hoà, sửa lỗi triệt để, làm mới triệt để. Tr174. Q17

Trên đây là đoạn giảng về Thệ nguyện Tu Bồ Tát đạo

Phật tử ! Đó là sở trụ mười đại tam muội luân, hạnh Phổ Hiền của đại Bồ Tát.

Hết 10 Tam muội Hạnh Phổ Hiền Bồ tát

Sang Phẩm THẬP THÔNG - 10 THỨ THẦN THÔNG. Tr 198.Q17

Thần thông từ đâu mà có ? Nói đơn giản là, người tiểu thừa tu pháp tứ đế và pháp quán mười hai nhân duyên, tu quán đến cảnh giới viên mãn, thì chứng được thần thông. Người đại thừa tu lục độ vạn hạnh, tham thiền đả toạ, tu tập chỉ quán, hành Bồ Tát đạo, tu đến cảnh giới viên mãn thì chứng được thần thông.

Các vị thiện tri thức, bất cứ vị nào có thần thông, tôi đều hoan nghênh các vị hiển thần thông. Nếu lời nói có tội, tôi sẽ một mình chịu trách nhiệm, dù đoạ địa ngục, tôi cũng cam lòng đi thọ tội, chẳng có quan hệ gì đến các vị, đừng có sợ. Chỉ e rằng các vị không có thần thông, hiển không được thần thông. Nếu có thần thông, tận lượng hiển hiện thần thông. Tôi tuyệt đối giữ gìn các vị, hỗ trợ các vị.  Tr 202. Q17

10 thứ thần thông và giảng giải chi tiết. Tr203

1. TRÍ THẦN THÔNG KHÉO BIẾT THA TÂM: Các loại tâm như Tâm thiện, tâm bất thiện, tâm rộng, tâm hẹp, tâm lớn, tâm nhỏ, tâm thuận sinh tử, tâm trái sinh tử, tâm Thanh

Văn, tâm Độc Giác, tâm Bồ Tát ......... Tr204

2. THỨ HAI, TRÍ THẦN THÔNG THIÊN NHÃN VÔ NGẠI: Biết rất nhiều loại chúng sinh.. Tr210

3. THỨ BA, TRÍ THẦN THÔNG BIẾT KIẾP THUỞ QUÁ KHỨ TÚC TRỤ: Đó là sinh xứ nào? Tên như vậy, họ như vậy, chủng tộc như vậy, ăn uống như vậy, khổ vui như vậy. Từ vô thuỷ đến nay, ở trong các cõi, nhờ nhân, nhờ duyên, dần dần lớn lên, thứ tự liên tục, luân hồi không dứt, đủ thứ phẩm loại, đủ thứ cõi nước ..........Tr213

Bồ tát nhớ danh hiêu Chư Phật vô lượng vô số

4. THỨ TƯ, TRÍ THẦN THÔNG BIẾT HẾT KIẾP THUỞ VỊ LAI. Tr217

5. THỨ NĂM, TRÍ THẦN THÔNG THIÊN NHĨ THANH TỊNH VÔ NGẠI . Tr 220

7. THỨ BẢY, TRÍ THẦN THÔNG KHÉO PHÂN BIỆT TẤT CẢ LỜI NÓI . Tr228

8. THỨ TÁM, TRÍ THẦN THÔNG VÔ SỐ SẮC THÂN: Bồ Tát vào pháp giới như vậy, hay

hiện thân mình đủ thứ sắc tướng.  Tr232

9. THỨ CHÍN, TRÍ THẦN THÔNG TẤT CẢ PHÁP. Tr240

Người học Phật pháp, phải hiểu rõ thâm sâu đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm, cho nên phải đi khắp nơi đề xướng Kinh Lăng Nghiêm, phải đi khắp nơi tuyên dương Kinh Lăng Nghiêm, phải đi khắp nơi giải nói Kinh Lăng Nghiêm, phải đi khắp nơi hộ trì Kinh Lăng Nghiêm, vì khiến cho chánh pháp trụ lâu dài ở thế gian, vì khiến cho tà pháp vĩnh viễn tiêu diệt ở thế gian, đây ... Tr242. Q17

sang PHẨM THẬP NHẪN: Tr254

Ở trước đã giảng về thập định và thập thông, bây giờ giảng về thập nhẫn. Có định lực rồi mới có thần thông. Muốn có thần thông thì phải nhẫn, nhẫn được thì mới có

định lực, đây là sự tác dụng với nhau, như kiền ba chân, thiếu một không đứng vững được.

Chữ nhẫn được cấu tạo bởi chữ tâm và chữ đao, trên chữ tâm có chữ đao. Giống như tâm bị đao cắt rất đau đớn, nhưng phải nhẫn chịu, không thể nổi nóng. Tâm đau đớn không dễ gì nhẫn chịu được, nhưng không thể nhẫn cũng phải nhẫn, do đó :

Bồ Tát đắc 10 thứ nhẫn. Đó là : Âm thanh nhẫn, thuận nhẫn, vô sanh pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm nhẫn, như mộng nhẫn, như vang nhẫn, như ảnh nhẫn, như hoá nhẫn, như không nhẫn.

Xem giảng chi tiết 10 nhẫn. tr256

5 thứ mộng tùy theo Tâm thân. Tr273

10. THỨ MƯỜI, NHƯ KHÔNG NHẪN. Tr296

Người đắc được mắt pháp thanh tịnh, quán sát trong tâm người khác đang nghĩ gì, đều biết được rõ ràng, nhưng không cần nói với họ: “Ê! Hiện tại tôi biết bạn đang nghĩ gì”, như vậy thì mọi người chẳng dám gần gũi bạn. Tại sao? ...Giống như có bảo châu, phải cất ở trong túi áo, không thể cầm ra cho người xem. Nếu khoe rằng: “Bảo châu của tôi, giá trị vô cùng”, khi bị kẻ trộm biết được, nhất định sẽ bị trộm mất. Do đó, phải cẩn thận, giữ bí mật, thì mới bình an vô sự, hoà bình với nhau. Tr309. Q17

Đến Địa Bồ Tát Phổ Hiền nói kệ tổng hợp lại. Tr317

Chúng sinh các cõi trời sống và hưởng phước báo như ăn uống quần áo.... đều là nghiệp phước thiện do mình tu có, chứ chẳng phải tự nhiên mà có. Tr325

Trong Kinh Lăng Nghiêm có ghi như vầy: “Thai do tình mà có, noãn do tưởng mà sinh, thấp do hợp mà cảm, hoá do ly mà ứng”. Làm sao thành thai sanh? Vì do tình cảm mà sinh ra. Nam nữ có ái tình, mà sinh ra con cái. Sinh sinh không ngừng, cho nên con cái tiếp nối vĩnh viễn không dứt được.  Tr 335. Q17

Nếu biết được tất cả thế gian do tưởng mà thành, thì liền xa lìa được ba thứ điên đảo. Những gì là ba:

1. Tưởng điên đảo: Ở trong cảnh giới sáu trần, tưởng việc không hợp lý.

2. Thấy điên đảo: Về pháp sự lý, tà tri tà kiến, tức là chẳng phải chánh tri chánh kiến.

3. Tâm điên đảo: Đây là gốc rễ của sự điên đảo. Vì dùng vọng tâm tà thức để hiểu biết sự vật, điểm xuất phát chẳng chánh quyết, đó chẳng phải là điên đảo chăng?  Tr337

Lão Tử nói: “Thiên hạ đều biết, điều tốt là tốt, mà vẫn làm ác”. Tr 341. Q17

Đối với pháp nhẫn này phải khéo tu học, sẽ thành tựu sức lực rộng lớn, sức lực của pháp, sức lực của trí (Pháp lực và trí lực - Là phương tiện Bồ Đề). Tóm lại, sẽ thành tựu được tất cả sức lực, là sức phương tiện của bồ đề giác đạo.  Tr365

Hết 10 Pháp nhẫn

PHẨM A TĂNG KỲ THỨ BA MƯƠI. Tr366

Hôm nay tôi nói với mọi người! Bớt khởi vọng tưởng, thì rất có lợi ích hơn với bất cứ thuốc bổ nào. Nếu không tin đạo lý này, thì đó là ngu si đến cực điểm. Đạo lý chân chánh này, không thể không tin, không tin tức là chẳng có trí huệ. Người chẳng có trí huệ, thì không tin chân lý.  Tr388

Do đó có câu: "Đông thiền hạ học", vào mùa đông, vì thời tiết lạnh, cho nên phải tham thiền đả toạ. Vào mùa hè, vì thời tiết nóng nực, cho nên phải giảng kinh thuyết pháp. Tại sao? Vì mùa hè nóng nực, nếu tham thiền đả toạ, ngồi thiền mồ hôi chảy ra, trong tâm bực bội, ngồi không yên. Mùa đông trời lạnh, mặc áo lạnh vào ngồi thiền tĩnh toạ, tâm an dễ nhập định. Tr389

Lòng tin: Chúng ta học Phật pháp, phải y chiếu “Tin, hiểu, hành, chứng” bốn giai đoạn này tu hành, mới có thể được giải thoát. .......

“Tu thập thiện sinh về trời,

Giữ năm giới sinh làm người” . Xem giảng chi tiết lòng tin. Tr 403

Hết A Tăng Kỳ

PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG THỨ BA MƯƠI MỐT . Tr434

Phật tử! Thế giới Ta Bà này, cõi của đức Phật Thích Ca một kiếp, thì ở thế giới Cực Lạc, cõi của đức Phật A Di Đà, là một ngày một đêm.

Thế giới Cực Lạc một kiếp, thì ở thế giới Ca Sa Tràng, cõi của đức Phật Kim Cang Kiên, là một ngày một đêm.

Phật tử! Lần lược như vậy, cho đến trải qua trăm vạn ức A tăng kỳ thế giới.

PHẨM TRỤ XỨ CỦA CÁC BỒ TÁT THỨ BA MƯƠI HAI . Tr 439

Theo ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) mà nói, thì phương đông là Giáp Ất Mộc, Giáp Mộc là dương, Ất Mộc là âm. Do đó:

“Một âm một dương gọi là đạo”,

“Lệch dương lệch âm gọi là bệnh”.

Giảng về ngũ hành rất hay. Tr440. Q17

Nói về 10 phương Cõi Ta bà này có các núi mà hàng Bồ tát đang trụ ở đó

Phương đông bắc có một nơi, tên gọi là núi Thanh Lương, tức nay là Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc. Từ trước đến nay, mười phương ba đời các chúng

Bồ Tát, thường ở trong núi đó. Hiện tại có vị Bồ Tát, hiệu là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, và quyến thuộc của Ngài với các chúng Bồ Tát, khoảng một vạn người người cùng ở với nhau. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi thường ở trong núi Thanh Lương, vì họ diễn nói diệu pháp.  Tr 444. Q17

HẾT QUYỂN 17

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 17

SANG TẬP 18

QUYỂN BỐN MƯƠI SÁU

Phẩm pháp không nghĩ bàn của Phật thứ ba mươi ba phần

một......................................................................................9

QUYỂN BỐN MƯƠI BẢY

Phẩm pháp không nghĩ bàn của Phật thứ ba mươi ba phần

hai.....................................................................................98

QUYỂN BỐN MƯƠI TÁM

Phẩm mười thân biển tướng của Như Lai

thứ ba mươi bốn..............................................................187

Phẩm vẻ đẹp quang minh công đức của Như Lai

thứ ba mươi lăm..............................................................256

 

QUYỂN BỐN MƯƠI CHÍN

Phẩm hạnh Phổ Hiền thứ ba mươi sáu...........................292

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười điều không thất thời. Những gì là mười?

Tất cả chư Phật thành Đẳng Chánh Giác không thất thời.

 Tất cả chư Phật thành thục chúng sinh có duyên không thất thời.

 Tất cả chư Phật thọ ký cho Bồ Tát không thất thời.

 Tất cả chư Phật tuỳ tâm chúng sinh, thị hiện sức thần thông không thất thời.

 Tất cả chư Phật tuỳ sự hiểu biết của chúng sinh, mà thị hiện thân Phật không thất thời.

 Tất cả chư Phật trụ nơi đại xả không thất thời.

 Tất cả chư Phật vào các tụ lạc không thất thời.

 Tất cả chư Phật nhiếp các chúng sinh niềm tin thanh tịnh không thất thời.

Tất cả chư Phật điều phục chúng sinh ác không thất thời.

Tất cả chư Phật hiện thần thông không nghĩ bàn của chư Phật không thất thời.

Đó là mười.

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ cảnh giới không nghĩ bàn, không gì so sánh được. Những gì là mười? Đó là:

Tất cả chư Phật khi ngồi kiết già, đầy khắp mười phương vô lượng thế giới. Tr 21. Q 18

Một mặt bạn niệm Phật, một mặt khởi vọng tưởng. Sức lực vọng tưởng đó lớn hơn nhiều so với niệm Phật. Phật muốn hiện ra ở trước mặt bạn, nhưng vọng tưởng của bạn chướng ngại, Phật hiện ra ở trước mặt bạn, bạn cũng nhìn không thấy. Tâm của bạn phải thanh tịnh, thì mặt trăng mới hiện ra, ý của bạn định thì bầu trời xanh không có mây, chuyên tâm nghĩ nhớ, thì chư Phật mới hiện tiền. Nhưng có chúng sinh nhìn thấy được, có chúng sinh nhìn chẳng thấy. Nhìn thấy được, thì Phật cũng hiện tiền, không nhìn thấy được, thì Phật cũng vẫn hiện tiền ... Tr41

.... Cho nên, ở đây có người nào đó chân có bệnh, hoặc người nào đó bị đinh làm bị thương, thì đó là việc rất tốt. Bị đinh làm bị thương chút chút, miễn khỏi đoạ vào địa ngục núi đao, miễn khỏi tai nạn lớn, đây gọi là tiểu nghiệt khỏi đại kiếp. ... Tr58. Q18

Nếu tâm của bạn tịnh, thì nước sẽ hiện trăng. Ý định thì bầu trời chẳng có mây. Nếu chưa làm được, thì ngày mai sẽ khảo nghiệm, chẳng phải nói suông cho các vị nghe đâu. Tr59

PHẨM PHÁP KHÔNG NGHĨ BÀN CỦA PHẬT THỨ BA MƯƠI BA. Tr 98. Q 18

1. Tất cả chư Phật tận hư không khắp pháp giới, ở trong tất cả thế giới, khi bổ Phật vị tại cung trời Đâu Suất, tận hư không khắp pháp giới, cũng chẳng biết được có bao nhiêu cung trời Đâu Suất. Mỗi cung trời Đâu Suất, Phật đều thị hiện thọ sinh ở đó, tu sáu độ vạn hạnh của Bồ Tát, làm đại Phật sự. Hiện tại chúng ta ở Vạn Phật Thánh Thành cũng làm đại Phật sự! Bồ Tát tại cung trời Đâu Suất, thị hiện vô lượng sắc thân. Tr 101. Q18. Kinh Hoa Nghiêm

Giảng về âm dương Nam Nữ. Tr117. Q18

Ở trong núi Diệu Giác (ở Vạn Phật Thành) này, cũng có thần cây, thần cỏ, thần hoa, thần sông, đều đến đạo tràng nghe pháp, bất quá có vị hiện hình, có vị chẳng hiện hình, cho nên các vị hằng ngày nghe kinh, đừng có khởi vọng tưởng lăn xăn, bằng không thì những vị thần này sẽ nổi giận. Bồ Tát thì không nổi giận, nhưng thần hộ pháp đều biết bạn khởi vọng tưởng gì ... Tr124. Q18

Thiền sư Vân Cốc nói : - « Trong Kinh Dịch có nói :

Người nào làm phước thì có phước, làm ác thì thiếu phước, lại có thể xu cát tị hung. Nếu không thể tránh được, thì điều cát tường sao có thể đến, điều hung dữ sao có thể tránh được ? »  Tr 162. Q18. Kinh Hoa Nghiêm

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp quyết định. Những gì là mười ? Đó là :

Tất cả chư Phật quyết định từ cung trời Đâu Suất hết thọ mạng hạ sinh.

Tất cả chư Phật quyết định thọ sinh nơi thai mẹ mười tháng.

Tất cả chư Phật quyết định nhàm chán vui thế tục cầu xuất gia.  Tr 171. Q18

Tất cả chư Phật quyết định, một niệm trả lời khắp hết những câu hỏi của tất cả chúng sinh. Đó là mười.

PHẨM MƯỜI THÂN BIỂN TƯỚNG CỦA NHƯ LAI THỨ BA MƯƠI BỐN . Tr 187. Q18

Từ trên đảnh của Như Lai đến dưới chân của Như Lai, nói sơ lược có 97 tướng, đây là thuận quán biển tướng (tướng hải). Là những tướng tốt nào? Đó là:

Hiện tại đang lúc đả thiền thất (ngày 15/12/1977), các vị lúc nào cũng phải đề lên câu “thoại đầu” để tham thiền, để dụng công. Người tu đạo, phải tự mình tu hành, đừng ỷ vào người khác, càng không nên ỷ vào sư phụ. Chúng ta đang đả thiền thất, chẳng phải là đả sư phụ thất,  ......... (Tr 219. Q18)

Thiền thất năm nay sắp viên mãn, chỉ còn một tuần lễ cuối (mỗi năm có khoá thiền thất 3 tuần lễ). Tôi hy vọng tuần lễ thiền thất cuối cùng có người khai ngộ, bất luận đại ngộ hoặc tiểu ngộ, miễn ngộ là được. (Tr 240. Q18)

PHẨM VẺ ĐẸP QUANG MINH CÔNG ĐỨC CỦA NHƯ LAI THỨ BA MƯƠI LĂM. Tr 256

Phật tử ! Khi ta (Phật Thích Ca Mâu Ni) làm Bồ Tát ở tại cung trời Đâu Suất, phóng đại quang minh, tên là Quang tràng vương, chiếu đến các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật.  Tr257

Trong các thế giới đó, chúng sinh trong địa ngục gặp được quang minh đó, thì các khổ được tiêu trừ ......... Từ địa ngục chết đi, họ được sinh về cõi trời Đâu Suất. Tr 258

Tức là tiến lùi có oai đức và nghi tắc, đi đứng nằm ngồi bốn đại oai nghi, đều hợp với pháp, do đó có câu :

« Đi như gió

Đứng như tùng

Ngồi như chuông

Nằm như cung ».

Đó là tiêu chuẩn oai nghi, còn có ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Tr 271

Các vị Thiên tử ! Các ông nên phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tịnh trị ý mình, khéo trụ oai nghi. Tr 271

Sám hối tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, phiền não chướng, báo chướng, thấy chướng.

Giảng về Sám hối: Các vị Thiên tử ! Các ông nên sám hối, cần phải tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, tức là nghiệp ác do thân miệng ý ba nghiệp đã tạo ra. Phải tiêu trừ tất cả phiền não chướng, tức là tư hoặc của tham sân si ba ác dẫn đến phiền thân não tâm. Phải tiêu trừ tất cả báo chướng, tức là khổ báo của súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, ba đường ác. Phải tiêu trừ tất cả thấy chướng, tức là thấy hoặc tà tri tà kiến, chướng ngại chánh đạo. Tức cũng là thấy thì mê hoặc, thấy thì chướng ngại.  Tr 272. Q18. Kinh Hoa Nghiêm

Bấy giờ, các Thiên tử nghe lời đó rồi, được chưa từng có, sinh tâm đại hoan hỉ, mà hỏi rằng : Đại Bồ Tát sám hối tiêu trừ tất cả lỗi ác như thế nào ? Tr 273

Các Thiên tử ! Ý của các ông như thế nào ? Các hình bóng đó, có thể nói là đi vào trong gương, lại từ trong gương đi ra chăng ? Đáp rằng : Không vậy. Tr 278

Các Thiên tử ! Tất cả các nghiệp cũng lại như thế, tuy hay sinh ra các nghiệp quả báo, mà không có chỗ đến đi. Tr 278

Các Thiên tử ! Ví như nhà huyễn thuật, huyễn hoặc mắt người. Nên biết các nghiệp cũng lại như thế. Nếu biết như vậy, là chân thật sám hối, tất cả tội ác đều được thanh tịnh. Tr 178

Trời lục dục, tức là :

1. Trời Tứ Thiên Vương.

2. Trời Đao Lợi.

3. Trời Dạ Ma.

4. Trời Đâu Suất.

5. Trời Hoá Lạc.

6. Trời Tha Hoá Tự Tại.  Tr279

Đức Phật lại gọi một tiếng các vị Phật tử ! Như người chứng được Sơ thiền, tuy chưa mạng chung, mà thấy hết thảy cung điện của cõi trời Phạm Thiên. Lại hưởng thọ được sự an lạc nơi cõi trời Phạm Thiên. Bậc đắc được Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, cũng đều như vậy.  Tr 288

PHẨM HẠNH PHỔ HIỀN THỨ BA MƯƠI SÁU . Tr 292

Ngài là một trong Hoa Nghiêm tam Thánh, ở giữa là Phật Thích Ca Mâu Ni, bên trái là Bồ Tát Văn Thù, bên phải là Bồ Tát Phổ Hiền. Hai vị Bồ Tát này, trợ giúp Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hoá chúng sinh. Bồ Tát Văn Thù ngự trên con sư tử, Bồ Tát Phổ Hiền ngự trên con voi trắng. Bồ Tát Văn Thù chú trọng về trí huệ, Bồ Tát Phổ Hiền chú trọng về định hạnh. Đại biểu cho đại thừa, Phật giáo là giáo tri hành hợp nhất, do đó có câu :  Tr 292. Q18

Tại sao ? Phật tử ! Vì nếu các Bồ Tát khởi tâm sân hận với Bồ Tát khác, tức thành tựu trăm vạn cửa chướng ngại. Liệt kê rất nhiều loại chướng ngại ... Xem tại Tr295 trở đi

Giống như hiện tại đả thiền thất, có người cho rằng đêm ngủ không đủ, sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ, cảm thấy tinh tấn chịu không nổi, nên giải đãi lười biếng, đó là chướng giải đãi cấu bẩn. Chướng không thể đắc được chánh định chánh thọ của Bồ Tát, nên sinh khởi phiền não, vọng tưởng, chấp trước ...... Tr303

Phật tử! Nếu Bồ Tát đối với các Bồ Tát khởi một tâm sân, thì sẽ thành tựu trăm vạn cửa chướng như vậy. Tại sao? Phật tử! Vì ta không thấy có một pháp nào, lỗi ác lớn bằng các Bồ Tát đối với Bồ Tát khác khởi tâm sân. Tr 306. Q18. Kinh Hoa Nghiêm

Cho nên các đại Bồ Tát muốn mau viên mãn các hạnh Bồ Tát, thì phải siêng tu 10 pháp. Những gì là mười? Đó là: Tr 307

Phật tử! Đại Bồ Tát an trụ mười pháp này rồi, liền được đầy đủ mười thứ thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là:

Chúng ta đang đả thiền thất, chẳng có thời gian dài, cũng chẳng có thời gian ngắn ... giảng thêm về khóa thiền thất . Tr310

Phật tử! Đại Bồ Tát trụ mười pháp này rồi, liền được đầy đủ mười thứ trí rộng lớn. Những gì là mười? Đó là:  Tr 311

Phật tử ! Đại Bồ Tát nghe pháp này rồi, đều nên phát tâm cung kính thọ trì. Tại sao ? Vì đại Bồ Tát trì pháp này, ít làm công lực, mau đắc được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đều được đầy đủ tất cả Phật pháp, đều đồng với pháp của chư Phật ba đời. Tr 319

Đến đoạn Bồ Tát Phổ Hiền nói kệ tổng hợp lại. Tr323

Suy gẫm phát nguyện nầy:

Tôi sẽ làm đèn sáng

Đầy đủ Phật công đức

Mười lực nhất thiết trí.

Tất cả các chúng sinh

Tham sân si thiêu đốt

Tôi sẽ cứu thoát họ

Khiến diệt khổ đường ác. Tr 327

Hôm nay (ngày 20 tháng 1 năm 1978), thiền thất (ba tuần lễ) sắp kết thúc, chỉ còn ba tiếng đồng hồ nữa. Hy vọng các vị đắc được thắng lợi cuối cùng, thời gian cuối cùng có thể khai ngộ. Trong khoá thiền thất này, mỗi người đắc được lợi ích, như người uống nước, nóng lạnh tự biết.

Hôm nay kết thúc thiền thất, tôi nói ra một bài kệ, các vị dùng bài kệ này để tham khảo, hoặc là cuối cùng phút chốc có thể khai ngộ một chút :   Tr 330

Trải qua bất khả thuyết tất cả kiếp, tức là thời gian rất ngắn. Do đó, chứng minh người tu thiền định, ở trong định chẳng cảm thấy thời gian mau chậm. Do đó:

Tĩnh toạ (nhập định) ở trong hang động nơi thâm sơn, cảm thấy chỉ có bảy ngày công phu, mà ở ngoài thế gian đã trải qua mấy ngàn năm. Đây là đạo lý gì? Nói đơn giản đó là hiện tượng nhập định. Tuy ở trong định giây lát, mà tại thế gian thời gian rất dài.  Tr 350

......... Giống như người trời sung sướng thì cảm thấy thời gian ngắn. Còn địa ngục rất khổ thì cảm thấy thời gian dài. Cho nên tại nhân gian của chúng ta, năm mươi năm, thì chỉ bằng một ngày một đêm trên cõi trời Tứ Thiên Vương. Tại nhân gian chúng ta một ngày một đêm, thì ở dưới địa ngục là năm mươi năm. Khi con người an vui, thì cảm thấy thời gian rất ngắn, khi khổ não thì cảm thấy thời gian rất dài. Tr 351

Hết tập 18

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 18

TẬP THỨ 19 GỒM

Nội dung

QUYỂN NĂM MƯƠI

Phẩm Như Lai xuất hiện thứ ba mươi bảy.........................9

QUYỂN NĂM MƯƠI MỐT

Phẩm Như Lai xuất hiện thứ ba mươi bảy  Tướng âm thanh của Như Lai xuất hiện………...118

QUYỂN NĂM MƯƠI HAI

Phẩm Như Lai xuất hiện thứ ba mươi bảy

Cảnh giới của Như Lai………………………….206

QUYỂN NĂM MƯƠI BA

Phẩm lìa thế gian thứ ba mươi tám phần một.................295

QUYỂN NĂM MƯƠI BỐN

Phẩm lìa thế gian thứ ba mươi tám phần hai..................390

Khi tôi còn ở tại quê hương đông bắc Trung Quốc, thường có một nhóm người đệ tử quy y theo tôi đi khắp nơi hoằng dương Phật pháp, giáo hoá người có duyên. Trong những đệ tử đó, có người lúc nào cũng xuất thần nhập hoá, không bị giới hạn. Chẳng giống như người tu hành Đạo Giáo, trước hết phải ngồi ở đó, mới có thể xuất thần nhập hoá...........  Tr 12

Tại sao thiên ma nhốt cậu ta ở lại trong cung điện ma ? Vì cậu đệ tử này có thần thông, thiên ma muốn cậu ta biến thành quyến thuộc của ma vương, có thể tăng thêm thế lực của chúng. Ma vương quỷ kế đa đoan, dùng trăm phương ngàn kế, muốn bắt người tu đạo, để làm quyến thuộc của chúng. Cho nên người tu hành phải cẩn thận, tu hành chân chánh thì mới phá được pháp thuật của ma.

Kiến tư - Kiến hoặc là gì. Tr 41. Q19

Các vị Phật tử ! Như Lai xuất hiện ra đời, lại có đại trí quang minh vô thượng, tên là Thanh Tịnh Ly Cấu, hay thành tựu trí huệ vô tận vô lậu của Như Lai. Con người hữu lậu là vì còn « vô minh », vô lậu vì không còn « vô minh ». Vô minh tức là chẳng hiểu biết, tức cũng là hồ đồ, chẳng rõ thị phi, chẳng rõ trắng đen. Lậu lớn nhất tức là dục lậu. Nếu còn dục niệm, thì giống như bọn cướp đi trộm cướp, tài sản châu báu vị cướp đi mất. Tr 50

Các vị ! Phải đặc biệt chú ý, trong sáu thần thông, tại sao có lậu tận thông ? Vì chẳng còn hữu lậu, tức cũng là hoàn toàn chẳng còn dục niệm, do đó có câu : « Đoạn dục khử ái ». Người tu hành đến « lư hoả thuần thanh »,

Đấng Pháp Vương (Phật) xuất hiện ra đời, cũng như vậy. Tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích của Phật, hoặc có người thấy được thân Phật, hoặc nghe được tiếng của Phật, hoặc gần gũi Phật . Tr 76

Phật tử ! Ví như mặt trời, mặt trăng, tuỳ thời xuất hiện. Núi lớn hang cốc chiếu khắp không riêng tư. Tr 86

Lại nữa Phật tử ! Ví như mặt trời mọc lên, chúng sinh sinh ra mù loà không có căn mắt, nên chừa từng thấy được. Tuy chưa từng thấy, nhưng vẫn được lợi ích của ánh sáng mặt trời. Tr 87

Lại nữa Phật tử ! Ví như mặt trăng có bốn pháp kỳ đặc chưa từng có. Những gì là bốn ? Một là ánh sáng che khuất tất cả ánh sáng của tinh tú. Hai là tuỳ theo thời thị hiện tròn khuyết. Ba là bóng đều hiện vào trong nước ở cõi Diêm Phù Đề. Bốn là tất cả mọi người thấy mặt trăng, đều ở trước mặt mình, mà mặt trăng không có sự phân biệt, không có sự hí luận. Tr 94

PHẨM NHƯ LAI XUẤT HIỆN THỨ BA MƯƠI BẢY

TƯỚNG ÂM THANH CỦA NHƯ LAI XUẤT HIỆN. Tr 118. Q19

Vạn sự vạn vật đều đang nói pháp. Bọn trộm cắp đi ăn cướp đồ đạc của người khác, đó là do kiếp trước, bị người khác trộm cướp, cho nên bây giờ đi đòi nợ cũ. Nếu kiếp trước chẳng có ai trộm cướp của họ, đời nầy họ đi trộm cướp, thì tương lai họ sẽ bị người khác trộm cướp, đó là trả nợ, do đó, triết lý nhân quả tuần hoàn báo ứng rất thiết thực. Tr143

Trong phẩm nầy, nói về nước gió lửa ba nạn. Khi bắt đầu có nạn nước, thì sẽ ngập chìm ba ngàn đại thiên thế giới, do đó có câu: Nước ngập Sơ Thiền, lửa thiêu Nhị Thiền, gió thổi Tam Thiền”. Oai lực của nước không thể nghĩ bàn, oai lực của lửa cũng không thể nghĩ bàn, oai lực của gió càng không thể nghĩ bàn. Ba nạn lớn nầy có thể huỷ diệt tất cả thế giới. Tr 198. Q19

Phật tử! Cõi Diêm Phù Đề có hai ngàn năm trăm con sông chảy vào biển. Tây Câu Gia Ni có năm ngàn con sông chảy vào biển. Đông Phất Bà Đề có bảy ngàn năm trăm con sông chảy vào biển. Bắc Uất Đơn Việt có một vạn con sông chảy vào biển. Tr 211

Hữu học là gì? Tức là Thánh nhân Sơ quả, Nhị quả, Tam quả A la hán, còn phải học tập Phật pháp, đoạn tư hoặc, nên gọi là bậc hữu học. Tr 217

PHẨM LÌA THẾ GIAN THỨ BA MƯƠI TÁM - PHẦN MỘT . Tr295. Q19

Phẩm kinh văn nầy, vẫn nói ở tại Điện Phổ Quang Minh. Bồ Tát Phổ Hiền vẫn là chủ thuyết pháp. Trong pháp hội Hoa Nghiêm, có vị đại Bồ Tát Phổ Huệ, Ngài đại biểu đại chúng trong pháp hội hướng về đại Bồ Tát Phổ Hiền, đưa ra hai trăm câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Tín có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Trụ có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Hạnh có hai mươi câu hỏi, liên quan đến hạnh thập Hồi Hướng có 29 câu hỏi, liên quan đến hạnh Thập Địa có 50 câu hỏi, liên quan đến nhân tròn quả đầy có 51 câu hỏi (Ba mươi hai câu hỏi trước là nhân tròn rốt ráo - bậc Đẳng Giác Bồ Tát, 19 câu hỏi sau là quả dụng viên mãn - bậc Diệu Giác Bồ Tát). Lúc đó, đại Bồ Tát Phổ Hiền, từ bi tha thiết, hỏi một đáp mười, trả lời thẳng 2.000 câu trả lời, khiến cho người nghe cảm giác mát mẻ. Tr 296

Trong Kinh Hoa Nghiêm nói, Bồ Tát có 52 bậc, thứ tự đi lên (Sơ phát tâm bèn thành Chánh Giác, đó là riêng ngoài), cuối cùng tu đến bậc Diệu giác Bồ Tát, tức cũng là thành Phật vị....

52 bậc gồm: Thập tín - Thập trụ - Thập hạnh - Thập Hồi hướng - Thập Địa thêm 2 là Bậc Đẳng Giác; Bậc Diệu Giác (Quả vị Phật Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác),. Tr297. Q19

1. HỎI VỀ PHÁP THẬP TÍN . Tr308. Q19

2. HỎI VỀ PHÁP THẬP TRỤ. Tr 309

3. HỎI VỀ PHÁP THẬP HẠNH . Tr311

4. HỎI VỀ PHÁP THẬP HỒI HƯỚNG . Tr 313

5. HỎI VỀ PHÁP THẬP ĐỊA. Tr 315

6. HỎI VỀ PHÁP ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ (BẬC ĐẲNG GIÁC) . Tr 318

7. HỎI VỀ PHÁP QUẢ DỤNG VIÊN MÃN (BẬC DIỆU GIÁC) . Tr320

PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI - RẤT DÀI. Tr322. Q19

1. TRẢ LỜI PHÁP THẬP TÍN

a. Bồ Tát còn phải nương tựa thiện tri thức, hà huống là phàm phu chúng ta, càng cần thiện tri thức khai thị và chỉ điểm, thì mới có thể tiến tới đại đạo quang minh, bằng không, tu mù luyện đui không thể nào đến cửa được, đi qua con đường nhỏ hẹp quanh quo, lãng phí thời gian một kiếp người, thật là đáng tiếc ! Tr324

2. TRẢ LỜI PHÁP THẬP TRỤ. Tr 352

Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm Phổ Hiền. Những gì là mười ? Đó là :

 1. Phát tâm đại từ, vì cứu hộ tất cả chúng sinh, lìa khổ được vui. Tâm đại từ tức là vô duyên đại từ, ban cho chúng sinh tất cả sự an vui.

 2. Phát tâm đại bi, vì tha .....

2. Quán sát chúng sinh tánh không điều thuận. Tại sao tánh không điều thuận ? Nói một cách đơn giản là không nghe lời. Dạy họ đi về hướng nam, họ lại đi về hướng bắc; kêu họ đi về hướng đông, họ lại đi về hướng tây. Lại có thể nói là tánh tình khó dạy, cứng đầu, chuyên môn làm phiền đến người khác, khiến cho họ không vui. Tr357

10 điều Bồ tát quán sát chúng sinh rất hay - Cũng là phát khởi Tâm đại bi của Bồ tát. Dùng Tâm này để quán sát .Tr360

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp Ba la mật.

Những gì là mười ? Đó là : Tr369

5. Thiền định Ba la mật : Phải tu tứ thiền bát định.

Tứ thiền tại sắc giới, Tứ không xứ tại vô sắc giới.

Thiền là chuyên nhất một cảnh, tâm chẳng duyên ngoài. Tr370

7. Biết tất cả tâm chúng sinh có 10 triền và 10 sử hành.

- Mười triền đó là : Vô tàm, vô quý, đố kị, xan tham, hối, thuỳ miên, trạo cử, hôn trầm, sân khuể, phú.

- Mười sử đó là : Thân kiến, biên kiến, giới thủ, kiến thủ, tà kiến (đây là năm lợi sử), tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm mạn, tâm nghi (đây là năm độn sử). Tr 374

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp bình đẳng.

Những gì là mười ? Đó là :   Tr 377

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp tự tại.

Những gì là mười ? Đó là : Tr 383

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp không chấp. Những gì là mười ? Đó là : Tr384

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười tâm bình đẳng.

Những gì là mười ? Đó là : Tr386

Ở trên là hai trăm câu trả lời của Bồ Tát Phổ Hiền trả lời hai mươi câu hỏi của Bồ Tát Phổ Huệ đã hỏi về Thập hạnh. Vì hỏi một đáp mười vậy. Tr 389. Q19

3. TRẢ LỜI PHÁP THẬP HẠNH. Tr 390

5. Bồ Tát lại nghĩ như vầy : Khi tôi ở trong quá khứ, chưa phát tâm đại bồ đề vô thượng, có năm điều sợ hãi như là :  Tr393

Phật tử ! Đó là mười pháp đại yên vui của đại Bồ Tát.  Tr 398

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp phát tâm không sợ hãi. Những gì là mười ? Tr402

Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không nghi hoặc. Đối với tất cả Phật pháp, tâm không nghi hoặc. Những gì là mười ?  Tr 404

Nếu các Bồ Tát an trụ trong pháp nầy, thì sẽ đắc được trí khéo phân biệt các pháp vô thượng của tất cả chư Phật.   Tr 417

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ thần thông.

Những gì là mười ? Đó là : Tr425. Q19

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ minh.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr 428

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp giải

thoát. Những gì là mười ?  Tr432

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ cung điện.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr439

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm bất động.

Những gì là mười ? Đó là : Tr446

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười pháp thanh tịnh.

Những gì là mười ? Tr453

Các vị Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ ấn. Ấn là dùng trí huệ thanh tịnh, quyết định ấn khả tất cả pháp. Những gì là mười ? Đó là :  Giảng về hiểu thấu sự Khổ đau ... Tr455

HẾT QUYỂN 19

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 19

SANG TẬP THỨ 20

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không hạ liệt. Những gì là mười ?

1. Đại Bồ Tát phải nghĩ như vầy : Tôi sẽ hàng phục tất cả thiên ma và quyến thuộc của chúng, khiến cho ma nam ma nữ cải ác hướng thiện, đừng có não hại người tu

hành. Đó là tâm không hạ liệt thứ nhất.

2. Bồ Tát lại nghĩ như vầy : Tôi sẽ phá tan tất cả ngoại đạo và tà thuyết của họ, tiêu diệt tà tri tà kiến dị luận của ngoại đạo. Đó là tâm không hạ liệt thứ hai.  Tr10

Phật tử ! Đó là đại Bồ Tát phát mười thứ tâm không hạ liệt. Nếu các Bồ Tát an trụ tâm nầy, thì sẽ đắc được tất cả Phật pháp tối thượng không hạ liệt. Tr15

4. TRẢ LỜI PHÁP THẬP HỒI HƯỚNG. Tr35

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ tin bất hoại. Những gì là mười ? Đó là : Tr63

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 thứ hồi hướng căn lành. Bồ Tát nhờ đó mà có thể đem tất cả căn lành, đều hồi hướng đến tất cả chúng sinh, tất cả bồ đề, tất cả thật tế. Những gì là mười ? Đó là : Tr 67

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ tự tại. Những gì là mười ? Đó là : Tr 76

Quyển 56 - Tiếp theo PHẨM LÌA THẾ GIAN THỨ BA MƯƠI TÁM - PHẦN BỐN . Tr 77

Hôm nay có bà cư sĩ đến Vạn Phật Thành, bà ta dùng tay chữa bệnh, phàm là nghi nan tạp chứng, bà đều chữa khỏi, thật là không thể nghĩ bàn. Kỳ thật, tâm thành thì linh, bất cứ người chữa bệnh và bệnh nhân, hai bên đều kiền thành, thì tâm điện sẽ cảm ứng, sẽ có hiệu quả. Bằng không, phí sức tốn công. Tr 95. Q20

Bằng kinh nghiệm của tôi, Chú Đại Bi có thể trị tám vạn bốn ngàn chứng bệnh, chỉ cần thành tâm, thì sẽ có cảm ứng của chư Phật Bồ Tát đến gia bị, mới có sự hiệu quả không thể tả được.

Đó là chính thân tôi (HT Tuyên Hóa) biết sức lực của Chú Đại Bi, thật là không thể nghĩ bàn. Nếu ai kiền thành trì Chú, thì chắc chắn gặp hung hoá cát, gặp nạn biến thành cát tường. Tr 98

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ thần thông vô ngại dụng. Những gì là mười ? Đó là :  Tr 99

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ không sợ hãi. Những gì là mười ?  Tr 114

Kinh Hoa Nghiêm nói : « Chẳng do người khác dạy », bèn cho rằng không cần bậc thiện tri thức chỉ dạy, đây là tư tưởng cống cao ngã mạn, tự cho mình khác người, là quan niệm sai lầm. Điểm nầy các vị phải rõ ràng, không thể tự nói bậy bạ. Bồ Tát Bát địa trở lên, mới có tư cách nói : « Chẳng do người khác dạy ». Tr 125

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ thân.

Những gì là mười ? Đó là  ... Tr139

Ở trên là Bồ Tát Phổ Hiền trả lời 29 câu hỏi của Bồ Tát Phổ Huệ hỏi về hạnh Thập Hồi Hướng. Vì một đáp mười, nên có tới 290 câu trả lời.  Tr 140

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 thứ lời.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr145

1. Lời mềm mại

2. Lời Cam lồ

3. Lời không giối

4. Lời Chân thật ...

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 thứ tâm.

Những gì là mười ? Đó là

1. Tâm như Đại địa

2. Tâm như Biển cả

3. Tâm như Núi chúa . Tr 153

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 sự phát tâm.

Những gì là mười ? Đó là : Tr 154

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 thứ tâm cùng khắp.

Những gì là mười ? Đó là : Tr156

5. Tâm cùng khắp tất cả chúng sinh, vì đều biết căn tánh và dục lạc, cùng với tập khí. Chúng sinh ích kỷ lợi mình, cho nên có vô lượng phiền não, Bồ Tát đều biết được. Tại sao vậy ? Vì tâm tâm thông đạt với nhau. Căn tánh của chúng sinh, hoặc lợi căn, hoặc độn căn. Dục lạc của chúng sinh, hoan hỉ hút thuốc, uống rượu, ăn thịt, bài bạc, hút thuốc phiện, nhảy đầm v.v… Bồ Tát nhìn là biết hết. Tr 156

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ siêng tu.

Những gì là mười ? Đó là :

1. Siên tu Bố thí

2. Siêng tu Trì giới/ Khổ hạnh 12 thứ

3. Siêng tu Nhẫn nhục

4. Siêng tu Tinh tấn.

...... Tr164.

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có 10 thứ tập khí. Tập khí là gì ? Tập tức là tập nhiễm, học được từng chút từng chút. Khí là tư tưởng và hành vi. Tóm lại, tức là những gì mình muốn, những gì mình nói thành thói quen, trở thành tập quán, tập dần thành bình thường ... Tr171

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ thành tựu Phật pháp.

Những gì là mười ? Đó là :

1. Chẳng lìa Thiện tri thức

2. Phải tin sâu Phật Pháp

....... Tr178

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ thối thất Phật pháp, nên phải xa lìa. Những gì là mười ? Đó là : Tr 179

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười danh hiệu Đại trượng phu.

Những gì là mười ? Đó là : Tr 187

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ đạo.

Những gì là mười ? Đó là :

1. Bồ tát đạo

2. Phước huệ song tu

... Tr189

6. Sáu thông là Bồ Tát đạo. Sáu thông là gì ? Tức là :

Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông, lậu tận thông. Tr 190

7. Bảy niệm là Bồ Tát đạo. Bảy niệm là gì ? Tức là :

Niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm xả, niệm giới, niệm Thiên, niệm chúng sinh. Tr 192

8. Tuỳ thuận bồ đề tám thánh đạo là Bồ Tát đạo.

Tám thánh đạo là gì ? Tức là : Tr 193

Các vị thiện tri thức ! Hôm nay (05/05/1978) là ngày Phật Đản. Đức Phật đã thị hiện ra đời cách đây ba ngàn năm tại Ấn Độ. Vì lịch của các nước khác nhau, cho nên ngày tháng cũng có sự khác nhau, không cách gì khảo chứng. ... Không cần truy cầu tìm kiếm đúng ngày, chỉ nên tương đối. Tr198

Tận cùng cõi hư không và khắp cả pháp giới đều là nơi cư ngụ của chúng sinh. Trong mười Pháp Giới, chỉ có Phật Pháp giới là vượt ra ngoài vòng chúng sinh; còn chín pháp giới còn lại (Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Người, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Ðịa Ngục) đều thuộc trong vòng chúng sinh, nên đều được gọi là "chúng sinh." Tr 200

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ tay.

Những gì là mười ? Đó là :

1. Tay tin sâu

2. tay Bố thí

3. tay hỏi thăm trước

...... Tr218

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ bụng :

Những gì là mười ? Đó là :

1o thứ lòng không tốt, giối lừa ... Tr219

Các vị đệ tử của Phật! Đại Bồ Tát có mười thứ tâm.

Những gì là mười? Đó là :

1. tâm tinh cần

2. Chẳng giải đãi

....... Tr 224

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được mắt đại trí huệ vô thượng của Như Lai.

1. Nhục nhãn

2. Thiên nhãn

3. Huệ nhãn

...... Tr233

Bồ tát có 10 thứ Tai - Mũi - lưỡi ... Tr236

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ nằm.

Những gì là mười ? Đó là : Tr249

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ bố thí thanh tịnh.

Những gì là mười ? Đó là : Tr267

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ nhẫn thanh tịnh.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr271

Mười triền là gì ? Rất thực tiễn trong đời sống tu .. Tr276

GIẢNG VỀ TRIỀN CÁI

10 triền là gì ?

5 Cái.     Rất thực tiễn trong đời sống tu .. Tr276

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ thiền thanh tịnh.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr 280

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ Từ - Bi - Hỷ - Xả thanh tịnh.  Tr 286

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ nghĩa. (các thuật ngữ)

Những gì là mười ? Đó là : Tr300

4. Xa lìa tám tà, tám tà tức là :

1. Tà kiến. Tr329

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ đắc được pháp tu hành vô thượng của Như Lai. Tr335

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ ma. Ma hay chướng ngại người làm việc lành, hay đoạn trừ phá hoại huệ mạng của người tu đạo. Những gì là mười thứ ma ? Đó là: ....... Tr 337

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ ma nghiệp.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr339

1. Quên mất bồ đề tâm, tu tất cả căn lành, đó là ma nghiệp. Tại sao ? Vì có bồ đề tâm, thì mới có thể hồi hướng căn lành của mình tu tập được, đến pháp giới chúng sinh. Nếu quên mất bồ đề tâm, thì căn lành tu được, lưu lại cho chính mình, chẳng chịu hồi hướng, chỉ lợi mình mà chẳng lợi người.

Nếu các Bồ Tát an trụ pháp nầy, thì sẽ lìa khỏi tất cả ma đạo. Tr 343

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát có mười thứ mạn nghiệp.

Những gì là mười? Đó là:  Tr 356

Khi người tại gia cúng dường người xuất gia, cũng đừng có tâm phân biệt, đừng có tâm lựa chọn, rằng vị pháp sư nầy có tu hành, tôi phải cúng dường họ, vị pháp sư kia không tu hành, tôi chẳng cúng dường họ, đừng có tâm không chánh đáng như thế. Bất cứ ở tại đâu, đều nên cúng dường Tam Bảo, đừng có tìm lỗi lầm của Tam Bảo, bới lông tìm vết. Nếu cứ chuyên tìm mao bệnh của Tam Bảo, thì đó là cống cao ngã mạn ..... Tr358

Đó là mười thứ mạn nghiệp. Tr361

Nếu các Bồ Tát lìa khỏi nghiệp ngã mạn nầy, thì sẽ đắc được mười thứ trí nghiệp.

Những gì là mười? Đó là:  Tr363

Các vị đệ tử của Phật! Đại Bồ Tát có mười thứ ma nhiếp trì.  Tr367

5. Người tu hành mà chẳng phát thệ nguyện lớn, thì cũng giống như hoa nở mà chẳng kết trái, chẳng ích lợi gì, đó là bị ma nhiếp trì.

Nếu các Bồ Tát xả bỏ pháp bị ma nhiếp trì nầy, thì sẽ đắc được mười thứ được Phật nhiếp trì. Những gì là mười ? Đó là : Tr369

7. TRẢ LỜI PHÁP QUẢ DỤNG VIÊN MÃN (BẬC DIỆU GIÁC)  Tr 373

Phật tử ! Đại Bồ Tát trụ ở cõi trời Đâu Suất, có mười thứ việc làm.

Những gì là mười ?

Phật tử! Khi đại Bồ Tát từ cõi trời Đâu Suất sắp hạ sinh, thì có mười việc.

Những gì là mười?  Tr 382

Phật tử! Đại Bồ Tát thị hiện nơi thai mẹ có mười việc.

Những gì là mười?  Tr 392

PHẨM LÌA THẾ GIAN THỨ BA MƯƠI TÁM PHẦN BẢY . Tr 392

Phật tử! Đại Bồ Tát thị hiện nơi thai mẹ có mười việc.

Những gì là mười?

Phật tử ! Đại Bồ Tát có mười thứ sinh (Lúc sinh ra đời).

Những gì là mười ?  399

Phật tử ! Đại Bồ Tát do mười việc, mà thị hiện đi bảy bước.

Những gì là mười ? Tr 405

2. Vì hiện bố thí bảy Thánh tài, mà thị hiện đi bảy bước:

Bảy Thánh tài là : a. Tín tài. b. Tấn tài. c. Giới tài. d.

Tàm tài. e. Văn tài. f. Xả tài. g. Định tài.  Tr406

Trên là ý nghĩa của số 7 - 7 bước chân Bồ tát khi sanh ra đời

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát do mười việc, mà thị hiện xuất gia.

Những gì là mười ? Đó là :  Tr 413

Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát do mười việc, mà thị hiện tu khổ hạnh.

Những gì là mười ? Đó là : Tr 414

Tôi một đời dùng hai chữ « Nhẫn nại » làm kim châm tu hành, bất cứ gặp hoàn cảnh nào, cũng tuyệt đối không đầu hàng, tất cả đều nhẫn thọ nơi thân tâm. Tr416

« Nhẫn một chút sóng yên gió lặng

Lùi một bước biển rộng trời xanh ».  Tr 417

Đến đoạn Bồ Tát Phổ Hiền nói kệ ca ngợi Đại Bồ tát từ lúc giáng sinh đến nhập diệt ... Tr 441

Thế nào là mười hai hạnh đầu đà? Đó là: Tr 457

Để giáo hoá tất cả chúng sinh. Mưa xuống nước tám công đức :  Tr 459

Quy cụ trong đạo tràng, khi có việc thì mọi người cùng làm. Khi ăn cơm thì cùng nhau ăn, làm việc thì cùng nhau làm. Nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ, ví như người nào chân chánh dụng công ngồi thiền, ngồi thiền mỗi ngày thì những việc khác có thể làm ít một chút. Tại sao? Vì họ đã đang tu hành!  Tr 484

Thức uẩn cũng là hư huyễn không thật, giống như huyễn hoá mà thị hiện đủ thứ việc. Biết được năm uẩn như vậy, người có trí huệ sẽ không chấp trước vào túi da hôi thối. (Thức uẩn đại diện cho CÁI TA). Tr494

Phương tiện thiện xảo làm chủ binh báu, Bồ Tát ví như Chuyển Luân Thánh Vương. Tam muội làm thành quách. Nội thành là thành, ngoại thành là quách. Không tịch làm cung điện. Cung là chỗ ở của hoàng đế, điện là chỗ làm việc xử lý quốc gia của hoàng đế.  Tr 524

Từ bi làm áo giáp, trí huệ làm bảo kiếm, chánh niệm làm cung báu, minh lợi làm mũi tên. Giăng cao lọng báu thần lực, lại dựng tràng báu trí huệ.  Tr524

Sức nhẫn nhục chẳng lay động, hay đánh thẳng vào quân ma vương.

Pháp môn tổng trì làm đất bằng, tất cả hạnh môn làm sông nước, hai thứ nhân duyên nầy hay sinh ra diệu pháp . Tr524

Thần thông lực tự trang nghiêm. Tam muội làm vui đùa. Tư duy làm thể nữ, cam lồ làm thức ăn ngon, vị giải thoát làm nước uống, du hí nơi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, ba thừa. Tr 525

HẾT QUYỂN 20

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 20

SANG TẬP THỨ 21 GỒM

Lời tựa.....................................................................10

QUYỂN SÁU MƯƠI Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần 1...............13

QUYỂN SÁU MƯƠI MỐT Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần 2........141

QUYỂN SÁU MƯƠI HAI Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần 3.........222

1. Tỳ Kheo Đức Vân - Phó thác thứ nhất – Phát tâm rụ.....................................................................................260

2. Tỳ Kheo Hải Vân - Phó thác thứ hai – Trị địa trụ trụ...................275

3. Tỳ Kheo Thiện Trụ - Phó thác thứ ba – Tu hành trụ.................298

QUYỂN SÁU MƯƠI BA Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần 4

4. Di Già Đại Sĩ - Phó thác thứ tư – Sinh quý trụ......................317

5. Trưởng giả Giải Thoát - Phó thác thứ năm –  Phương tiện cụ túc trụ........332

6. Tỳ Kheo Hải Tràng - Phó thác thứ sáu – Chánh tâm trụ.........367

7. Hưu Xả Ưu bà di - Phó thác thứ bảy – Bất thối trụ...................................417

8. Tỳ Mục Cù Sa Tiên Nhân - Phó thác thứ tám – Đồng chân trụ..................451

9. Bà La Môn Thắng Nhiệt - Phó thác thứ chín – Vương tử trụ................469

Bộ Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh dài nhất trong Phật giáo, cũng là bộ Kinh cao thâm nhất trong Đại Tạng Kinh. Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh đức Phật nói đầu tiên, sau khi Ngài vừa thành đạo. Ngài nói trong vòng hai mươi mốt ngày thì xong bộ Kinh Hoa Nghiêm. Tr 10

Xem giảng nói về cả Bộ Kinh Hoa Nghiêm. Bộ Kinh HT Tuyên Hóa đang giảng là thuộc quyển Hạ (Hán văn mới có phân nửa bộ Kinh). CÒn Quyển Thượng và Quyển trung thì không thể hiểu, cũng chưa có dịch sang Hán văn . Tr10

Bộ Kinh Hoa Nghiêm thâm sâu áo diệu không thể nghĩ bàn, nói rõ cảnh giới tu hành Bồ Tát hạnh, từ phàm phu trải qua các bậc Bồ Tát, phước huệ đầy đủ rồi mới đạt đến cảnh của bậc Diệu Giác tức là thành Phật. Tr 11

Mười phương ba đời chư Phật từ quá khứ, hiện tại và vị lai đều trải qua con đường nầy. Nhờ chúng sinh, mà các Bồ Tát mới thành Phật.

PHẨM VÀO PHÁP GIỚI THỨ 39 - PHẦN MỘT . Tr13

Với các đại Bồ Tát 500 người tụ hội.

Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, làm thượng thủ.

Danh hiệu của các Ngài là : Bồ Tát Quang Diệm Tràng, Bồ Tát Tu Di Tràng, Bồ Tát Bảo Tràng, Bồ Tát Vô Ngại Tràng, Bồ Tát Hoa Tràng, Bồ Tát Ly Cấu Tràng, ........... Tr 18. Q21

Mười vị Bồ Tát « tạng » nầy, biểu địa, vì hay tấn tu.

Mười vị Bồ Tát « nhãn » nầy, biểu giải (hiểu), vì hay chiếu pháp.

Mười vị Bồ Tát « quan » nầy, thuộc về Bồ Tát địa thứ nhất. Vì Sơ địa là quan đầu tiên của các địa, quang của đàn quan các hạnh.

Mười vị Bồ Tát « kế » nầy, là thuộc về địa thứ hai, biểu thị trì giới vô cấu, vì kiểm thúc tôn cao.

Mười vị Bồ Tát « quang » nầy, thuộc về địa thứ ba, vì biểu thị phát văn trì quang, chiếu pháp nhẫn.

Rất nhiều hàng bồ tát tương ứng 52 Cấp Bồ tát

Giảng kỹ về

« Thấy như chẳng thấy

Nghe như chẳng nghe

Nhìn mà chẳng thấy

Thính mà chẳng nghe  .. Tr 27

Ví như : Khi Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, là hiện thân pháp giới, nói Kinh Pháp Giới ............. Kinh Hoa Nghiêm nói tại bảy nơi, gồm có chín hội. Các vị từ từ nghiên cứu thì sẽ minh bạch.

Pháp thân là vô tại vô bất tại, cũng là thể của dụng, nên có phương. Lược nói bảy nơi, chín hội như sau: .... Tr30

Hội thứ nhất tại Bồ đề đạo tràng, nói nhân quả y báo Như Lai.

Hội thứ hai tại Điện Phổ Quang Minh Phổ Quang Pháp Đường, nói pháp môn Thập tín.

Hội thứ ba tại Cung trời Đao Lợi, nói pháp Thập trụ.

Hội thứ tư tại Cung trời Dạ Ma, nói pháp Thập hạnh.

Hội thứ năm tại Cung trời Đâu Suất Đà, nói pháp Thập hồi hướng.

Hội thứ sáu tại cõi trời Tha Hoá Tự Tại, nói pháp Thập địa.

Hội thứ bảy tại Điện Phổ Quang Minh Phổ Quang Pháp Đường, nói pháp nhân viên quả mãn.

Hội thứ tám cũng tại Điện Phổ Quang Minh Phổ Quang Pháp Đường, nói pháp đại hạnh Phổ Hiền.

Hội thứ chín tại vườn rừng Thệ Đa, thành Thất La Phiệt, nói phẩm Vào Pháp Giới. Hội thứ chín chưa trở về Bồ đề đạo tràng.

Vì hội thứ hai, hội thứ bảy, hội thứ tám, đều nói ở tại Điện Phổ Quang Minh Phổ Quang Pháp Đường, cho nên có bảy nơi chín hội.

Giảng về Bồ Tát minh bạch Chấp trước . Tr35

Cho nên, chúng ta nghe Kinh đứng có chấp trước vào chữ nghĩa, hoặc chấp trước vào văn pháp. Phải biết cảnh giới nầy, là người đắc được ngũ nhãn lục thông mới minh bạch được. Tr 41

Giảng về thế giới Phật của 10 Phương. Tr49

Bấy giờ, thượng thủ các vị đại Thanh Văn, gồm có : Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ly Bà Đa, Tu Bồ Đề, A Nậu Lâu Đà, Nan Đà, Kiếp Tân Na, Ca Chiên Diên, Phú Tân Na. ...... Tr78

Đến đoạn Bồ tát nói Kệ tổng hợp chủ đề trên. Tr100

Trong các pháp môn mà bạn biết, bạn cảm thấy pháp môn nào thích hợp với bạn, thì bạn y chiếu pháp môn đó mà tu hành. Còn pháp môn nào không tương ưng với bạn, thì bạn không cần tu hành. Tr 132

Ví như bạn có tâm tham, thì nên tu pháp môn bố thí; bạn có tâm dâm dục, thì nên tu pháp môn trì giới; bạn thích nóng giận, thì tu pháp môn nhẫn nhục; bạn thích lười biếng, thì tu pháp môn tinh tấn; bạn thích tán loạn, thì tu pháp môn thiền định; bạn thích ngu si, thì tu pháp môn trí huệ.

PHẨM VÀO PHÁP GIỚI THỨ BA MƯƠI CHÍN - PHẦN HAI . Tr 141. Q21

Mười lực tức là: Tr157. Q21

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bảo các Tỳ Kheo rằng: Tỳ Kheo! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, thành tựu mười pháp hướng về đại thừa, thì sớm sẽ vào Như Lai địa, hà huống là Bồ Tát địa. Tr 214. Q21

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi khuyên các Tỳ Kheo trụ hạnh Phổ Hiền. Trụ hạnh Phổ Hiền rồi, nhập vào biển đại nguyện. Nhập vào biển đại nguyện rồi, thành tựu biển đại nguyện. Nhờ thành tựu biển đại nguyện, nên tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, nên thân thanh tịnh. Thân thanh tịnh, nên thân nhẹ nhàng an lạc. Thân nhẹ nhàng an lạc, nên đắc được đại thần thông, không còn thối chuyển. Tr 221

Sau khi giáo hoá họ xong rồi, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi liền từ chỗ ở của Ngài lần lượt đi về hướng nam. Tại sao đi về hướng nam? Vì hướng nam là chủ dương, thuộc lửa, hay phát sinh vạn vật, cũng là biểu thị hạnh thiện tài  tăng trưởng. Cho nên, người rõ lý phải minh bạch tất cả đạo lý, liền đi về hướng nam học tập Phật pháp. Tr 224

Trải qua

nhân gian, đến phía đông Phước Thành. Phước là người có phước đức, có đạo đức, có tu hành, có trí huệ. Người ở thành nầy đa số có phước đức, nên gọi là Phước Thành. Thành biểu thị phòng phi, đông là đứng đầu trong các phương. Tr 224

Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, ba cõi nầy giống như cái thành quách, nhốt con người ở trong đó. Kiêu mạn giống như tường vách, sáu loài giống như cửa nẻo. Nước tình ái giống như ao hồ, khi bị rớt vào, rất dễ bị chết chìm. Tr236

Tâm tham và nước ái của chúng ta giống như sợi dây trói buộc. Xiểm nịnh và dối trá giống như dây cương của ngựa, khiến cho con người chẳng có chút tự do nào. Tâm nghi và mê hoặc che lấp cặp mắt, chẳng thấy vật gì. Người biết rõ mà cố phạm thì sẽ đi vào các tà ma ngoại đạo.  Tr237

Cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới, ba cõi nầy là nhà của phàm ngu. Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, là nguyên nhân đoạ lạc vào trong ba đường ác ... Tr240

Lời nguyện phát ra giống như bánh xe, tâm đại bi giống như gọng xe. Tâm tin như trục xe, tâm kiên nhẫn giống như vành bánh xe, dùng công đức báu để trang nghiêm xe, xin Phật khiến cho con ngồi xe nầy để giáo hoá chúng sinh.  Tr 242

Lại ví như đất luôn luôn rất bình an chẳng lay động, rất ít khi bị động đất. Lại ví như nước lợi ích khắp tất cả chúng sinh. Nước lợi ích tất cả chúng sinh, mà chẳng bao giờ kể công. Cho nên Lão Tử nói: "Nước hay làm việc thiện, nước lợi ích vạn vật mà không tranh, nên tức là đạo". Vì nước ở chỗ trũng. Con người thì đều muốn đi lên cao, chỉ có nước muốn chảy xuống những nơi thấp, nó lợi ích chúng sinh, mà chẳng kể công .... Tr247

Thiện nam tử! Gần gũi cúng dường tất cả các vị thiện tri thức, là nhân duyên đầu tiên đầy đủ nhất thiết trí, cho nên về điều nầy đừng có sinh tâm nhàm mỏi" . Cho nên đức Phật nói: "Nhân duyên mà tất cả chúng sinh được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, trước hết là gần gũi bạn lành".  Tr251

Thiện Tài đồng tử nói: "Xin nguyện đại Thánh, hãy vì con mà rộng nói: Bồ Tát nên học hạnh Bồ Tát như thế nào? Nên tu hành Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên hướng về Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên hành Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên tịnh Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên vào Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên thành tựu Bồ Tát hạnh như thế nào? Nên tuỳ thuận Bồ Tát hạnh như thế nào? ................ Tr252

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh phát được tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đó là việc khó. Đã phát tâm rồi, mà còn cầu Bồ Tát hạnh, thì càng khó hơn gấp bội. Tr 256

Thiện nam tử! Cầu thiện tri thức, chớ sanh lòng lười biếng giải đãi. Thấy thiện tri thức, chớ sanh lòng nhàm đủ. Đối với những lời dạy dỗ của thiện tri thức, đều nên tuỳ thuận. Đối với phương tiện thiện xảo của thiện tri thức, chớ thấy lỗi lầm. Tr 257

Đoạn trên giảng nói về THIỀN TÀI ĐỒNG TỬ trên đường cầu Thiện Tri thức tu đạo hạnh

1. TỲ KHEO ĐỨC VÂN - PHÓ THÁC THỨ NHẤT PHÁT TÂM TRỤ. TR260

Đây là Thiện Tài đồng tử bắt đầu tham vấn 53 vị thiện tri thức, vị thứ nhất là Tỳ Kheo Đức Vân. Đây là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi giới thiệu Ngài đi đến tham vấn Tỳ Kheo Đức Vân, chứ chẳng phải Ngài tự đi, ... Tr261

Giảng sâu về pháp môn niệm Phật ... Tr270

Thiện nam tử! Ở phương nam có nước tên là Hải Môn. Ở đó có vị Tỳ Kheo hiệu là Hải Vân, ngươi hãy đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Tr273

2. TỲ KHEO HẢI VÂN - PHÓ THÁC THỨ HAI TRỊ ĐỊA TRỤ . Tr275. Q21

Tỳ Kheo Hải Vân nói: Thiện nam tử!

Nếu các chúng sinh không trồng căn lành, thì không thể phát tâm A nậu đa la tam

miệu tam bồ đề. .......Nơi các cõi, chuyên niệm không bỏ, luôn thích quán sát cảnh giới Như Lai. Như vậy mới có thể phát tâm bồ đề . Tr279

Người phát tâm bồ đề. Đó là: Phát tâm đại bi, vì cứu khắp tất cả chúng sinh. Phát tâm đại từ, vì bình đẳng giúp đỡ tất cả thế gian. Phát tâm an lạc,......Tr280

Mô tả sự vi riệu của Biển cả. Tr282

Thiện nam tử! Đi về hướng nam nầy, khoảng sáu mươi do tuần, bên đường Lăng Già, có một tụ lạc tên là Hải Ngạn. Ở đó có vị Tỳ Kheo, tên là Thiện Trụ. Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào tịnh Bồ Tát hạnh?  Tr 296

3. TỲ KHEO THIỆN TRỤ - PHÓ THÁC THỨ BA TU HÀNH TRỤ. Tr298

Tại sao? Vì đắc được sức thần thông không trụ, không tạo tác. Thiện nam tử! Do ta đắc được sức thần thông nầy, nên ở trong hư không, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc ẩn, hoặc hiển. Hoặc hiện một thân, hoặc hiện nhiều thân. Xuyên qua tường vách, giống như hư không. Ngồi kiết già ở trong hư không, đến đi tự tại, giống như chim bay. Vào đất giống như vào nước, đi trên nước như đi trên đất. Khắp thân trên dưới, ........ Tr311

Bồ tát thứ 3 giới thiệu Thiện Tài Đồng Tử đến học Bồ tát thứ 4

4. DI GIÀ ĐẠI SĨ PHÓ THÁC THỨ TƯ SINH QUÝ TRỤ . Tr317

Thiện nam tử! Nếu có ai có thể phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thì sẽ không dứt tất cả giống tánh Phật. Tr321

Sẽ được tất cả Như Lai nhiếp trì. Sẽ được tất cả chư Phật nghĩ nhớ. Sẽ bình đẳng với tất cả Bồ Tát. Sẽ được tất cả hiền Thánh khen ngợi hoan hỉ. Tr 322

Thiện nam tử! Ngươi nên biết việc Bồ Tát làm rất khó, gặp được Bồ Tát xuất hiện ra đời cũng rất khó. Người thấy được Bồ Tát lại càng khó hơn.  Tr 324

Di Già bèn thăng lên toà ngồi, bảo Thiện Tài rằng: Thiện nam tử! Ta đã đắc được Diệu âm đà la ni, phân biệt biết được lời nói của chư Thiên trong ba ngàn đại thiên thế giới. Các rồng, Dạ Xoa, Càn Thát .......TR 328

Thiện nam tử! Từ đây đi về hướng nam, có một thôn xóm, tên là Trụ Lâm. Ở thôn xóm đó, có vị trưởng giả tên là Giải Thoát, ngươi đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế ......Tr330

5. TRƯỞNG GIẢ GIẢI THOÁT - PHÓ THÁC THỨ NĂM PHƯƠNG TIỆN CỤ TÚC TRỤ. Tr 332

..... Phật thị hiện trụ thai, từ cung trời Đâu Suất hạ sinh xuống. Bất cứ một vị Phật nào, trước khi thành Phật, đều trụ ở nội viện Đâu Suất, hậu bổ Phật vị. Tr 347

Sự trụ thai của con người, trong mười hai nhân duyên có nói rất rõ ràng. Trong mười hai nhân duyên, thứ nhất là vô minh. Vô minh thì che lấp đi trí huệ vốn có của chúng ta, không còn biết gì nữa.  Tr 347

Đoạn này mô tả giai đoạn Đại Bồ Tát từ trời Đâu Xuất giáng sanh trong nhân loại thành Phật, giảng kỹ từ khi nhập thai, trong thai và sinh ra đều giảng kinh thuyết pháp . Tr350

Vậy, cứu kính thần thông có thể hiển hiện chăng? Có thể! Nếu bạn có thần thông, đừng ngại hiển thần thông. Nếu bạn chẳng có thần thông, thì đừng giả trang có thần thông. Nếu không thể hiển thần thông, thì tại sao Phật phải hiển thần thông? Tại sao Bồ Tát hiển thần thông? Tại sao A la hán hiển thần thông? Tức nhiên Phật, Bồ Tát, A la hán đều hiển thần thông, bạn là người có thần thông tại sao không thể hiển? Không có lý nào, đây là không đúng. Chỉ sợ bạn không có thần thông, nếu bạn có thần thông, thì có thể hiển cho đại chúng nhìn xem. Đây là chủ trương của tôi. Tr 350

Phật là cảnh giới không thể nghĩ bàn, Phật bảo hộ người thiện, mà chẳng bảo hộ người ác. Do đó có câu: "Đừng làm các điều ác, hãy làm các việc lành". Nếu bạn cứ làm các điều ác, thì Phật cũng không thể bảo hộ bạn. Song, nói đi rồi nói lại, kỳ thật chẳng phải Phật bảo hộ bạn, mà là chính bạn tự bảo vệ mình. ... Tr352

Có người nói : "Hoà thượng! Tôi muốn nhẫn, nhưng khi cảnh giới đến thì tôi không chịu được". Đó là vì bạn chẳng có công phu, nếu có công phu thì sao lại chẳng chịu được? Tu hành chẳng phải là nói ngoài miệng, phải cung hành thực tiễn. ... Phải thực hành . Tr363

Thiện nam tử! Từ đây đi về hướng nam, đến bờ Diêm Phù Đề, có một cõi nước tên là Ma Lợi Già La. Ở đó có vị Tỳ Kheo tên là Hải Tràng, ngươi đi đến đó hỏi:  Tr365

6. TỲ KHEO HẢI TRÀNG - PHÓ THÁC THỨ SÁU CHÁNH TÂM TRỤ . Tr 367

Từ hai bên hông hiện ra các rồng, là vì loài rồng thuộc về bàng sanh. Tr375

Đức tướng trước ngực của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra A Tu La, vì ngực là nơi huyễn thuận, hay sinh, hay diệt kiêu mạn, còn là tướng minh đức, hay hàng phục chúng ma.  Tr 377

Từ trên lưng của Tỳ Kheo Hải Tràng, vì người đáng dùng pháp nhị thừa mà được độ, thị hiện ra vô số trăm ngàn ức Thanh Văn và Duyên Giác. Vì người chấp trước ngã kiến, thì nói pháp vốn không có ngã. Vì người chấp trước thường kiến, thì nói tất cả hạnh đều vô thường. ... Đoạn này tùy duyên giáo hóa chúng sinh rất hay. Tr378

Vì người sân hận, thích sinh vô minh, nói quán từ tâm. Quán từ tâm, tức là phải có tâm tha thứ đối với tất cả chúng sinh. Bất cứ họ làm việc gì sai, chỉ cần họ sửa đổi, thì nên tha thứ cho họ. Cho nên chúng sinh nhiều sân, phải tu quán từ bi nầy. "Từ hay ban vui, bi hay cứu khổ". Muốn giáo hoá chúng sinh ngu si, thậm chí ngu si đến độ cho rằng tất cả sự việc không làm mà có được - không chịu đi làm mà muốn có tiền lương .........

Từ trên lưng hiện ra Thanh Văn Duyên Giác, biểu thị hàng nhị thừa, quay lưng lại đại thừa giáo nghĩa.  Tr381

 

La Sát có đủ thứ hình dáng khác nhau, có La Sát sinh ra ba đầu, có La Sát trên đầu có mọc ra hai cái sừng, có La Sát trên đầu có ba con mắt. Có  La Sát hình thù nhìn rất đáng sợ! Lại có đủ thứ sắc tướng khác nhau, hình thù rất ghê sợ, bạn mà nhìn thấy chúng, thì sợ toát mồ hôi, thậm chí là run lập cập. Có quỷ La Sát cao như cây tre, hoặc cao như khúc gỗ. Tóm lại, tướng mạo của chúng đều khiến cho người sợ hãi. ....... Tr383

Từ bụng của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức Khẩn Na La Vương. Đều có vô số Khẩn Na La nữ, vây quanh trước sau. Lại hiện ra vô số trăm ngàn ức Càn Thát Bà Vương. Tr 383

Từ trên mặt của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức Chuyển Luân Thánh Vương, đầy đủ bảy báu, bốn binh vây quanh. Phóng quang minh đại xả, mưa ... Tr 386

Chuyển Luân Thánh Vương là người có phước bậc nhất thế gian, lúc con người thọ tám vạn bốn ngàn tuổi thì xuất hiện, thống trị bốn thiên hạ, có bốn thứ phước báu:

Từ hai mắt của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức vầng mặt trời, chiếu khắp tất cả các đại địa ngục và các cõi ác, đều khiến cho lìa khổ. Tr 388

Từ trong tướng bạch hào giữa lông mày của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức Đế Thích, đều tự tại nơi cảnh . Tr 391

Từ trên trán của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức Phạm Thiên. Sắc tướng đoan chánh, .Tr 393

Từ trên đầu của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra các chúng Bồ Tát, nhiều như số hạt bụi vô lượng cõi Phật, Tr 393

Đầu hiện ra Bồ Tát, là vì Bồ Tát là tối thượng thủ. Sau đây diễn nói về hạnh mười độ của Bồ Tát. Đó là:

1. Khen ngợi hạnh bố thí, khiến cho tất cả chúng sinh lìa bỏ xan tham, đắc được các diệu báu, để trang nghiêm thế giới.

Xem tr 395

Từ trên đỉnh của Tỳ Kheo Hải Tràng, hiện ra vô số trăm ngàn ức thân Như Lai, thân đó không gì sánh bằng.  Tr 396

Giảng về Bồ tát trụ ở 10 bậc. Tr 398

1. Tỳ Kheo Hải Tràng lại vì các chúng sinh cõi sắc,

mưa pháp vũ phổ môn, khiến cho họ xả bỏ ngoại duyên, mà hồi quang phản chiếu, đắc được tâm cảnh vô ngại.

2. Lại vì các Phạm Thiên (tức trời sơ thiền), mưa pháp vũ phổ tạng, vì họ vốn tích tập nhiều từ bi, nhưng ..... Bồ tát tùy cảnh giới chúng sinh giảng Pháp tương ứng. Tr401

Lại nữa, tất cả lỗ chân lông trên thân của Tỳ Kheo Hải Tràng, đều hiện ra lưới quang minh, nhiều như số hạt bụi A tăng kỳ cõi Phật. Tr403

Thiện Tài đồng tử đứng suy gẫm quán sát Tỳ Kheo Hải Tràng như vậy, trải qua ... Sáu tháng sáu ngày, là viên mãn lục độ, trong trụ thứ sáu. Thiện Tài đồng tử nhờ dùng pháp vị tư thần, cho nên đều quên mất thân tâm, chẳng cảm thấy thời gian lâu . Tr 405

Thiện Tài Đồng Tử hỏi: Đức Thánh! Tam muội nầy tên gọi là gì"?

Thiện nam tử! Ta nhờ tu tập Bát NhãBa La Mật, mà đắc được tam muội Phổ trang nghiêm thanh tịnh nầy, có trăm vạn A tăng kỳ tam muội.  Tr 408

Ở trên đây là biểu thị trong khí thế gian, không có chướng ngại.  Tr 410

Thiện nam tử! Từ đây đi về hướng nam, có một trụ xứ, tên là Hải Triều. Ở đó có một vườn rừng, tên là Phổ trang nghiêm. Trong vườn rừng đó, có Ưu bà di, tên là Hưu Xả. Ngươi nên đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?  Tr413

7. HƯU XẢ ƯU BÀ DI - PHÓ THÁC THỨ BẢY BẤT THỐI TRỤ . Tr416

Đối với thiện tri thức thâm tâm mến thích, bèn nghĩ như vầy: Nhờ thiện tri thức, khiến cho tôi được thấy Phật. Nhờ thiện tri thức, khiến cho tôi được nghe pháp. Bậc thiện tri thức là thầy dạy tôi, vì chỉ dẫn cho tôi các Phật pháp. Bậc thiện tri thức là con mắt của tôi, vì khiến ...

Nước tám công đức có đủ tám lợi ích:

1. Trong mát.

2. Mát mẻ.

3. Ngon ngọt.

4. Nhẹ nhàng.

5. Thấm nhuần.

6. An hoà.

7. Uống vào trừ khát và tất cả các bệnh hoạn.

8. Tăng ích nuôi lớn căn lành.  Tr 420

Có ai thấy được Hưu Xả ưu bà di nầy, thì tất cả bệnh tật thống khổ của họ, đều được trừ diệt, xa lìa tất cả phiền não cấu bẩn, nhổ trừ gai tất cả tà kiến, phá tan núi hướng ngại cống cao ngã mạn, nhập vào cảnh giới thanh tịnh vô ngại. Tăng trưởng sáng lạng tất cả hết thảy các căn, dưỡng lớn tất cả các căn.  Tr 429

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh chẳng trồng căn lành, không được bạn bè nhiếp thọ, không được chư Phật hộ niệm, thì người đó trọn chẳng thấy được ta.  Tr 431

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh nào được thấy ta, thì đều đắc được bất thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), vĩnh viễn không thối thất tâm bồ đề.  Tr 432

Thiện Tài bạch rằng: Đức Thánh!

Ngài đã phát tâm bồ đề được bao lâu?

Thiện nam tử! Ta nhớ quá khứ vô lượng kiếp, ở trong vô lượng đời, ở chỗ các đức Phật, nhiều như số cát ba mươi sáu sông Hằng như vậy, đều thờ phụng cung kính cúng dường, nghe pháp thọ trì, tịnh tu phạm hạnh. Quá đây về trước, chỗ biết trí huệ của Phật, chẳng phải ta có thể dò được. Tr 434

Ở trên đây là biểu thị chẳng phải chỉ vì hoá độ chúng sinh số mục nhất định, mới phát tâm bồ đề.  Tr 440

Thiện nam tử! Ở hướng nam xứ Hải Triều nầy, có một cõi nước, tên là Na La Tố. Trong đó có vị Tiên nhân, tên là Tỳ Mục Cù Sa. Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

8. TỲ MỤC CÙ SA TIÊN NHÂN - PHÓ THÁC THỨ TÁM ĐỒNG CHÂN TRỤ . Tr 451

Trong Phẩm Hạnh Phổ Hiền thứ ba mươi sáu có nói : "Thấu đạt các thế gian, giả danh không có thật, chúng sinh và thế giới, như mộng như hình bóng. ...". Đoạn kinh văn nầy miêu tả cảnh giới trải qua của Thiện Tài đồng tử.  Tr 464

Thiện nam tử! Ở hướng nam nầy, có một thôn xóm, tên là Y Sa Na. Có vị Bà La Môn tên là Thắng Nhiệt. Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

9. BÀ LA MÔN THẮNG NHIỆT - PHÓ THÁC THỨ CHÍN VƯƠNG TỬ TRỤ . Tr 469

Thắng Nhiệt Bà La Môn nói: Thiện nam tử! Nay nếu ngươi có thể từ trên núi đao nầy, nhảy vào trong đống lửa, thì các hạnh Bồ Tát, đều được thanh tịnh.

Thiện Tài chợt nghĩ: .... Phải chăng đây là ma? Bị ma sai xử chăng? Phải chăng là đồ đảng hiểm ác của ma, trá hiện tướng Bồ Tát thiện tri thức, muốn làm khó căn lành của tôi? Làm khó thọ mạng, chướng ngại sự tu hành đạo nhất thiết trí của tôi? Muốn kéo tôi vào trong các đường ác, muốn chướng ngại pháp môn của tôi, chướng ngại Phật pháp của tôi? Tr 475

Khi Thiện Tài đồng tử nghĩ như thế, thì có mười ngàn vị Phạm Thiên, ở trong hư không, đến để làm chứng họ nói như vầy: "Thiện nam tử! Ngươi đừng có nghĩ tưởng như thế! Đừng có nghĩ tưởng như thế! Hiện tại vị Thắng Nhiệt Bà La Môn đức Thánh nầy, Ngài đã đắc được quang minh tam muội kim cang diệm.

Có rất nhiều cảnh giới cát tường hiện ra để xóa nghi ngờ của Thiện Tài Đồng Tử

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nghe pháp như vậy, sinh tâm đại hoan hỉ. Ở chỗ vị Bà La Môn phát khởi tâm chân thật thiện tri thức, cúi đầu kính lễ, nói như vầy: Con ở chỗ đại Thánh thiện tri thức, sinh tâm bất thiện, xin đức Thánh cho con sám hối lỗi lầm. Tr 497

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử liền lên núi đao, nhảy vào trong đống lửa, khi rơi xuống giữa chừng, liền đắc được tam muội Bồ Tát thiện trụ, khi chạm ngọn lửa, lại đắc được tam muội Bồ Tát tịch tĩnh lạc thần thông. Thiện Tài bạch rằng: Kỳ lạ đức Thánh! Núi đao và đống lửa lớn như vậy, con vẫn an ổn khoái lạc. Tr 498

Thiện nam tử! Ở phương nam nầy, có thành tên là Sư Tử Phấn Tấn. Trong thành đó có một đồng nữ, tên là Từ Hạnh. Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo?

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 21

HẾT QUYỂN 21

TẬP THỨ 22

QUYỂN SÁU MƯƠI LĂM

Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần sáu.

10. Từ Hạnh đồng nữ - Phó thác thứ mười Quán đảnh trụ........14

11. Thiện Kiến Tỳ Kheo – Phó thác thứ nhất Hoan hỉ hạnh...............37

12. Tự Tại Chủ đồng tử - Phó thác thứ hai Nhiêu ích hạnh........54

13. Cụ Túc ưu bà di – Phó thác thứ ba Vô vi nghịch hạnh..........67

14. Cư sĩ Minh Trí – Phó thách thứ tư Vô khuất nhiêu hạnh............85

QUYỂN SÁU MƯƠI SÁU

Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần bảy

15. Trưởng giả Pháp Bảo Kế - Phó thác thứ năm Vô si loạn hạnh........102

16. Trưởng giả Phổ Nhãn – Phó thác thứ sáu Thiện hiện hạnh........117

17. Vua Vô Yểm Túc – Phó thác thứ bảy Vô kí hạnh.......132

18. Vua Đại Quang – Phó thác thứ tám Nan đắc hạnh................148

19. Ưu bà di Bất Động – Phó thác thứ chín Thiện pháp hạnh................178

QUYỂN SÁU MƯƠI BẢY

Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần tám. 20. Ngoại đạo biến hành – Phó thác thứ mười Chân thật hạnh...............208

21. Trưởng giả Ưu Bát La Hoa – Phó thác thứ nhất Cứu hộ tất cả chúng sinh tướng hồi hướng.....................220

22. Thuyền sư Bà Thi La – Phó thác thứ hai Bất hoại hồi hướng.................233

23. Trưởng giả Vô Thượng Thắng – Phó thác thứ ba Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.........250

24. Tỳ Kheo Ni Sư Tử Tần Thân – Phó thác thứ tư Hồi hướng đến tất cả mọi nơi......264

QUYỂN SÁU MƯƠI TÁM

Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần chín

25. Người nữ Bà Tu Mật Đa – Phó thác thứ năm Hồi hướng vô tận công đức tạng.............303

26. Cư sĩ Tỳ Sắc Chi La – Phó thác thứ sáu Hồi hướng vào tất cả căn lành bình đẳng.........320

27. Bồ Tát Quán Tự Tại – Phó thác thứ bảy Hồi hướng tuỳ thuận tất cả chúng sinh............330

28. Bồ Tát Chánh Thú – Phó thác thứ tám Hồi hướng tướng chân như..................347

29. Thần Đại Thiên – Phó thác thứ chín Hồi hướng không buộc không chấp giải thoát...........355

30. Địa Thần An Trụ – Phó thác thứ mười Hồi hướng vào pháp giới vô lượng............365

31. Dạ Thần Bà San Bà Diễn Để – Phó thác thứ nhất Hoan hỉ địa.......375

QUYỂN SÁU MƯƠI CHÍN

Phẩm Vào Pháp Giới thứ ba mươi chín phần mười.

32. Dạ Thần Phổ Đức Tịnh Quang – Phó thác thứ hai Ly cấu địa........420

33. Dạ Thần Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh – Phó thác thứ ba Phát quang địa........442

Tóm lược về nội dung Kinh Hoa Nghiêm rất hay. Tr11. Q22

Bộ Kinh Hoa Nghiêm mà chúng ta có ngày hôm nay là quyển hạ, nhưng chỉ mới dịch ra được gần phân nửa mà thôi.

Bộ Kinh Hoa Nghiêm thâm sâu áo diệu không thể nghĩ bàn, nói rõ cảnh giới tu hành Bồ Tát hạnh, từ phàm phu trải qua các bậc Bồ Tát, phước huệ đầy đủ rồi mới đạt đến cảnh của bậc Diệu Giác tức là thành Phật.

Mười phương ba đời chư Phật từ quá khứ, hiện tại và vị lai đều trải qua con đường nầy.

.......... Kinh Hoa Nghiêm nầy đức Phật nói cho tất cả chúng sinh, nhưng tuỳ theo căn cơ, nhân duyên của mỗi người, chứ không hẳn chỉ dành cho hàng Bồ Tát. Pháp của Phật nói ra giống như nước mưa xuống, cây lớn rễ lớn thì hấp thụ nhiều, cây nhỏ rễ nhỏ thì hấp thụ ít. Pháp của Phật cũng thế, ............. Tr12. Q22

10. TỪ HẠNH ĐỒNG NỮ - PHÓ THÁC THỨ MƯỜI QUÁN ĐẢNH TRỤ. Tr14

Lại có môn Đà la ni trụ ở cung trời Đâu Suất, cho đến hiện vào Niết Bàn, ở giữa trải qua: 1. Đâu Suất hàng sinh. 2. Nhập thai. 3. Xuất thai. 4. Xuất gia. 5. Thành đạo. 6. Hàng ma. 7. Chuyển pháp luân. 8. Vào Niết Bàn. Tr32

Thiện nam tử! Ở hướng nam nầy, có một cõi nước, tên là Tam Nhãn. Ở đó có vị Tỳ Kheo, tên là Thiện Kiến. Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo.

11. THIỆN KIẾN TỲ KHEO - PHÓ THÁC THỨ NHẤT HOAN HỈ HẠNH. Tr 36

Đoạn nầy là Hoan hỉ hạnh, Thiện Kiến Tỳ Kheo sơ nhập hạnh vị, nên khiêm nhường nói là "tuổi trẻ". Lại mới lìa nhà Thập trụ, nên gọi là "xuất gia chưa được bao lâu". Tr 43

12. TỰ TẠI CHỦ ĐỒNG TỬ  - PHÓ THÁC THỨ HAI NHIÊU ÍCH HẠNH . Tr 55

Tự Tại Chủ đồng tử nói rằng: "Thiện nam tử! Xưa kia ta đã từng ở chỗ đạo tràng của Văn Thù Sư Lợi đồng tử, tu học văn học, toán học, toán thuật, và ấn loát các

Ta cũng có thể chữa lành những bệnh phong, điên, ốm gầy, quỷ mị dựa nhập, hết thảy tất cả các bệnh như vậy.

Cũng khéo kinh doanh ruộng nương thương mại. Tất cả các nghề, để, bỏ, tiến, lùi, đều được sở nghi.

Tự Tại Chủ đồng tử nói: "Ta còn có thể chữa lành những bệnh trúng gió, bệnh điên, hoặc bệnh bị quỷ mị dựa nhập, do đó thân thể bị ốm gầy, sắc mặt trắng nhợt, thần kinh thất thường, thậm chí nghiêm trọng khiến bị chết, hết thảy tất cả những chứng bệnh như vậy, ta đều chữa khỏi. Đó là y phương minh trong năm minh.  Tr 59

Năm minh tức là:

1. Thanh minh ngữ văn học.

2. Công xảo minh công nghệ học.

3. Y phương minh y dược học.

4. Nhân minh luận lý học.

5. Nội minh tông giáo học.

Những đại số mục nầy gồm có một trăm hai bốn thứ đại số mục trong Kinh Hoa Nghiêm. .......

13. CỤ TÚC ƯU BÀ DI - PHÓ THÁC THỨ BA VÔ VI NGHỊCH HẠNH . Tr 68

Môn giải thoát - Tu Nhẫn nhục ba La Mật. Thành tựu chỉ một cái bát nhỏ mà vô lượng chúng sanh ăn no đủ mà không giảm lượng trong bát, vi diệu vậy

14. CƯ SĨ MINH TRÍ - PHÓ THÁC THỨ TƯ VÔ KHUẤT NHIÊU HẠNH . Tr 86

Phàm là chúng sinh cần gì, thì ta đều khiến cho họ được mãn nguyện. Như là: Y phục, anh lạc, voi ngựa, xe cộ, hoa hương, tràng lọng, thức ăn uống, thuốc thang, nhà cửa phòng ốc, toà ngồi, đèn đuốc, nô tỳ, bò dê và các người hầu hạ. Tr 96

Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Tuỳ ý sinh ra phước đức tạng nầy. Tr 100

15. TRƯỞNG GIẢ PHÁP BẢO KẾ - PHÓ THÁC THỨ NĂM HẠNH VÔ SI LOẠN. Tr 103

Hạnh thứ năm nầy là hạnh Vô si loạn, đây là dùng huệ tư chất định, tĩnh vô di chiếu, động chẳng lìa tịch, gọi là vô si loạn.

Nhà TRƯỞNG GIẢ PHÁP BẢO KẾ: Nhà đó rất là rộng lớn, cao mười tầng, mở tám cửa.  Mười tầng: Biểu thị thập địa, hoặc thập độ. Tám cửa:

1. Biểu thị tám chánh đạo. 2. Sở y đạo, tức dùng tám thức làm cửa, trong nhãn căn nhập chánh định. Nếu căn nhập được, thì cảnh liền biết. 3. Giáo lý đều bốn, tìm giáo được hiểu, tức giáo bốn môn, nơi lý được hiểu, tức lý bốn môn. Tr 106

Thiện Tài đồng tử vào nhà của trưởng giả Bảo Kế rồi, bèn quán sát thứ tự từng lầu một. Ngài thấy lầu dưới cùng, bố thí thức ăn uống. Lầu thứ nhất, biểu thị bố thí thức ăn, hiển bày Sơ địa hành bố thí Ba La Mật. Lại thấy lầu thứ hai, bố thí tất cả các y báu, đây là biểu thị Địa thứ hai trì giới, dùng sự hổ thẹn làm y phục. ...... Các lầu đều bố trí tương ưng. Tr 107

Nhờ công đức cúng dường đó, ta hồi hướng đến ba nơi rằng:

1. Ta nguyện vĩnh viễn lìa khỏi tất cả bần cùng khốn khổ.

2. Ta nguyện thường gặp được chư Phật và thiện tri thức.

3. Ta nguyện luôn luôn được nghe chánh pháp.

Nhờ nhân duyên đó, nên ta đắc được quả báo hiện tại nầy"

16. TRƯỞNG GIẢ PHỔ NHÃN - PHÓ THÁC THỨ SÁU THIỆN HIỆN HẠNH . Tr 117

Thiện nam tử! Ta biết các bệnh tật của tất cả chúng sinh, ví như bệnh phong thấp, bệnh hoàng đản, bệnh đàm, bệnh phát nhiệt, bệnh quỷ mị dựa nhập, hoặc bệnh cổ độc chú thuật, cho đến các chứng bệnh bị nước lửa làm thương hại, sinh ra tất cả các bệnh như vậy, ta đều có thể dùng phương tiện cứu chữa khỏi. Tr 121

Sau đó, ta đều vì căn cơ của họ mà thuyết pháp cho họ nghe. Đây là trước trừ thân bệnh, sau trừ tâm bệnh. Chúng sinh nào tham dục nhiều, thì ta dạy họ quán chín lỗ chảy ra thứ bất tịnh. Do đó: "Quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã" - Đây là bốn niệm xứ . Tr 122

Chúng ta ở trên thế gian nầy, nhân duyên người với người, đều do nghiệp xưa kia giao kết mà thành. Lưới kết thành kiên cố giống như đất, bạn muốn thoát khỏi nó, cũng thoát khỏi không được, nó dính lại với nhau.  Tr 124

Nhân của mười độ, cảm thành quả của mười thân, tức là:

1. Thí độ, tướng tốt trang nghiêm thân.

2. Trì giới, đắc được ý sinh thân.

3. Nhẫn nhục, đắc được oai thế thân.

4. Tinh tấn, thành tựu bồ đề thân.

5. Thiền định, đắc được phước đức vô đẳng thân.

6. Bát Nhã, đắc được hiển pháp thân.

7. Phương tiện, thành tựu hoá thân.

8. Nguyện, thành tựu nguyện thân.

9. Lực, thành tựu lực trì thân.

10. Trí, thành tựu trí thân.  Tr 127

17. VUA VÔ YỂM TÚC - PHÓ THÁC THỨ BẢY HẠNH VÔ KÍ . Tr 133

Khi Thiện Tài gặp VUA VÔ YỂM TÚC, thấy hành vi trị vì sử phạt muôn dân không có tình thương. Thiện Tài sinh tâm ghi ngờ không muốn học

Trong quá trình tu đạo, thường gặp cảnh giới khác nhau, có khi nhận thức chẳng rõ ràng mà mất đi ý chí trước kia, nên tôi thường nói:

"Tất cả là khảo nghiệm

Xem bạn làm thế nào?

Nếu trước mắt chẳng biết

Phải luyện lại từ đầu".  Tr 140

Đây là nói chúng ta người tu đạo phải trải qua rất nhiều sự khảo nghiệm, mới có thể có sự thành tựu, mà chứng được trí huệ chân chánh. Như Thiện Tài đồng tử là người có trí huệ như vậy, mà còn khởi tâm hoài nghi đối với thiện tri thức, huống gì là phàm phu chúng ta? Chân chánh nhận thức được sự giáo hoá của thiện tri thức, thật không dễ dàng.  Tr141

Trên thật tế, công năng phân biệt đó là thức thứ sáu đang tác quái, mà chẳng phải là trí huệ chân chánh.

Nếu bạn dùng trí huệ chân chánh để phán đoán phân biệt sự tướng, thì có thể thấu hiểu tiền nhân hậu quả. Nếu dùng thần thức để phân biệt, thì có khi sẽ phát sinh sai lầm. Bồ Tát có khi vận dụng nghịch hạnh giết hại chúng sinh, ngược lại sinh ra vô lượng phước, đắc được bồ đề vô thượng. Nhưng đó chỉ có đại Bồ Tát mới làm được việc đó. Việc đó có hai loại:  1- Thật hạnh; 2- Biến hóa ...Tr141

Thiện nam tử! Ta vì điều phục những chúng sinh cang cường đó, mà dùng thần thông biến hoá làm người ác, tạo các tội nghiệp, thọ đủ thứ khổ. Ngươi biết không, những người làm ác mà ngươi thấy lúc trước, đều là do ta hoá ra, hổ tương tạo nghiệp ác, chứ chẳng phải thật.  Tr 145

18. VUA ĐẠI QUANG - PHÓ THÁC THỨ TÁM HẠNH NAN ĐẮC. Tr149

- Có người lại hỏi: " Thiện Tài đồng tử tức nhiên đã khai ngộ, tại sao còn phải đi tìm thiện tri thức"?

- Vì Ngài giới thiệu cách thức cho chúng ta, kêu chúng ta đừng có được ít cho là đủ, và không được có tâm cống cao ngã mạn, lúc nào cũng đều phải gần gũi thiện tri thức. Không thể tự mãn, không thể coi mình cao hơn bất cứ ai, là số một của thế giới. Đó đều là thị hiện dạy chúng ta làm thế nào đi tìm cầu Phật pháp .Tr 154

Lần nầy đả Phật thất là siêu độ những người chết bởi phi tai hoành hoạ mười phương ba đời tận hư không khắp pháp giới. Ví như bị xe tông chết, là một cách chết không bình thường. Bị nước ngập chết, như những người Việt Nam đi vượt biên bị chết trên biển, bị chìm thuyền chết mấy ngàn người, đây đều gọi là tai nạn. Hoặc uống thuốc độc tự sát mà chết, cũng gọi là tai nạn. Đả Phật thất kỳ này, là vì siêu độ họ, trợ giúp cho họ được vãng sinh về thế giới Cực Lạc. ........Tr 168

Bấy giờ, vua Đại Quang từ tam muội dậy, bảo Thiện Tài rằng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết Bồ Tát đại từ làm đầu nầy, môn tam muội tuỳ thuận thế gian. Tr 175

19. ƯU BÀ DI BẤT ĐỘNG - PHÓ THÁC THỨ CHÍN HẠNH THIỆN PHÁP. Tr 179

Thiện nam tử! Bấy giờ, đức Như Lai biết tâm niệm của ta, liền bảo ta rằng: Ngươi nên phát tâm không thể hoại, diệt các phiền não. Nên phát tâm vô năng thắng, phá các chấp trước. Nên phát tâm không lui sợ, vào pháp môn thâm sâu. ....... Tr194

Thiện nam tử! Từ khi ta phát tâm đó đến nay, trải qua số kiếp nhiều như hạt bụi cõi Diêm Phù Đề, vẫn chưa sinh tâm dục niệm, hà huống làm việc ấy. Tr 196

Ưu bà di Bất Động nói: Thiện nam tử!

Ta chỉ đắc được môn tam muội Quang minh cầu tất cả pháp không nhàm đủ nầy,

vì tất cả chúng sinh nói vi diệu pháp, đều khiến cho họ hoan hỉ.

20. NGOẠI ĐẠO BIẾN HÀNH - PHÓ THÁC THỨ MƯỜI HẠNH CHÂN THẬT . Tr 209

21. TRƯỞNG GIẢ ƯU BÁT LA HOA - PHÓ THÁC THỨ NHẤT CỨU HỘ TẤT CẢ CHÚNG SINH TƯỚNG HỒI HƯỚNG . Tr 221

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nhờ lời dạy của thiện tri thức, mà chẳng để ý đến thân mạng, chẳng chấp tiền tài châu báu, chẳng thích mọi người, chẳng đam mê năm dục, chẳng luyến ái quyến thuộc, chẳng coi trọng ngôi vua. Chỉ nguyện hoá độ tất cả chúng sinh.

Đây là đại nguyện hồi hướng thứ nhất, trưởng giả Ưu Bát La Hoa (hoa sen xanh) vì cứu hộ chúng sinh, mà lìa tướng chúng sinh hồi hướng tất cả công đức. Nước Quảng Đại, biểu thị chìa khoá đầu tiên đi vào thập hồi hướng rộng lớn. Tr223

Thiện nam tử! Ta khéo phân biệt biết tất cả các hương, cũng biết điều hợp tất cả hương pháp. Đó là: Tất cả hương, tất cả hương đốt, tất cả hương thoa, tất cả hương bột. Ta cũng biết nơi sinh ra tất cả hương vương như vậy. Tr 225

Còn nhiều loại hương khác như hương trời, rồng, dạ xoa .....hay hương các bệnh, hương dứt các ác hạnh, hương tăng phiền lão ........

Thiện nam tử! Bên hồ A Na Bà Đạt Đa (phía bắc núi Hy Mã Lạp Sơn), sinh ra một thứ hương trầm thuỷ, tên là Liên hoa tạng. Hương đó nếu đốt lên một viên lớn chừng bằng hạt mè, đừng khinh thường tác dụng của hương nầy, ... Tr230

Đây là biểu thị hương giới.

Đây là biểu thị hương định, sớm khiến cho chúng sinh lìa khỏi dục nhiễm ô uế. Tr 231

Đây là biểu thị hương huệ, dùng trí huệ chứng được lý không.  Tr 232

Thiện nam tử! Trên cõi trời Đâu Suất có một thứ hương, tên là Tiên đà bà. Ở trước toà Bồ Tát còn một đời nữa sẽ thành Phật, đốt lên một viên thứ hương đó, thì sẽ nổi mây hương lớn, phủ khắp pháp giới, khắp mưa xuống tất cả các đồ cúng dường, để cúng dường tất cả chư Phật Bồ Tát. Đây là biểu thị hương pháp giới.  Tr233

22. THUYỀN SƯ BÀ THI LA - PHÓ THÁC THỨ HAI: BẤT HOẠI HỒI HƯỚNG . Tr236

Thế nào là ác trí huệ? Ví như thế trí biện thông, trí huệ thế gian đều là ác trí huệ, bạn không cần dạy họ đánh bạc, họ nhìn là biết ngay, đó tức là ác huệ; bạn không cần dạy họ chửi người, mà họ tự nhiên biết; bạn không cần dạy họ đi lừa người khác, mà họ tự nhiên không thầy mà tự thông; .... Tr238

Đây là Hồi Hướng Bất Hoại thứ hai. Vì đắc được tâm tin bất hoại, đem căn lành hồi hướng, nên gọi là bất hoại. Bà Thi La, dịch là "Tự tại", biểu thị Ngài ở trong biển cả Phật pháp đã khéo thông đạt. Tr 240

Nhân thành tựu đại thừa bất hoại. Nhân xa lìa Thanh Văn Duyên Giác nhị thừa sợ hãi sinh tử. Nhãn quan và tâm lượng của các Ngài rất nhỏ hẹp, chỉ có mình thoát ly thôi, chẳng nguyện cứu độ chúng sinh, nên Phật quở các Ngài: "Thiêu nha bại chủng tự liễu hán". Các Ngài trụ ở trong các vòng tam muội tịch tĩnh, mà chẳng muốn xuất định, chấp vào cảnh giới vắng lặng, mà ngươi Thiện Tài đồng tử hiện tại muốn xa lìa hạt giống hàng nhị thừa. Tr241

Ta cũng khéo phân biệt biết mặt trời, mặt trăng, tinh tú, vận hành độ số, ngày đêm sớm chiều, thời tiết dài ngắn. Ta cũng biết thuyền bằng sắt gỗ cứng yếu, máy móc rít trơn, nước lớn nhỏ, gió thuận nghịch. Tất cả tướng an nguy như vậy, ta đều thấu rõ, nên đi thì đi, nên ngừng thì ngừng. ..... Tr245

Tâm thức con người cũng giống như dòng nước chảy mãi không ngừng, niệm niệm thay đổi, đầy đủ sinh trụ dị diệt bốn giai đoạn. Thức thứ bảy vọng tưởng như sóng trong biển không bao giờ ngừng. Trong thức thứ tám, hàm chứa tất cả hạt giống tập khí mao bệnh từ vô lượng kiếp đến nay. Cho nên sóng biển ba đào là chỉ tâm thức chúng sinh. ... Tr245. Q 22 Kinh Hoa Nghiêm

Ta còn biết nước lớn, nước nhỏ, gió thuận, gió nghịch (Sinh tử hữu biên và vô biên, gió thuận nghịch (tám gió bốn thuận bốn nghịch). Tất cả những tướng an nguy như vậy, ta đều thấu rõ, nên đi thì đi, nên ngừng thì ngừng". Tr246

23. TRƯỞNG GIẢ VÔ THƯỢNG THẮNG - PHÓ THÁC THỨ BA: ĐẲNG NHẤT THIẾT PHẬT HỒI HƯỚNG . Tr251

24. TỲ KHEO NI SƯ TỬ TẦN THÂN - PHÓ THÁC THỨ TƯ: HỒI HƯỚNG ĐẾN TẤT CẢ MỌI NƠI . Tr265

Trong Vạn Phật Thành cũng có rất nhiều cây lớn, cũng phóng ra vô lượng quang minh. Cư sĩ họ Lưu có chụp rất nhiều tấm hình, lá đỏ, lá vàng và lá xanh. Bạn có thể nói những cây đó phóng ra quang minh, chẳng những chỉ chiếu một do tuần, thậm chí chiếu sáng mấy ngàn mấy trăm do tuần!  Tr267

Đoạn nầy nói về tám thứ cây rừng vô lậu, biểu thị do pháp hạnh vô lậu mà kiến lập. Trong phẩm Tịnh Danh Kinh Phật Đạo, có nói rằng:  Tr 268

Tám công đức là: Nhẹ mát mềm ngọt, sạch mà chẳng hôi, điều thông không bệnh, tức cũng là:

1. Trong suốt.

2. Thanh mát.

3. Ngon ngọt.

4. Nhẹ nhàng.

5. Thấm nhuần.

6. An hoà.

7. Trừ bệnh.

8. Tăng ích. (Tr269)

Hiện tại chúng ta đang đả thiền thất tại Vạn Phật Thành (1979), mỗi người phải đem tinh thần chân chánh ra để ngồi thiền, đừng làm việc phô trương. ....

25. NGƯỜI NỮ BÀ TU MẬT ĐA - PHÓ THÁC THỨ NĂM: HỒI HƯỚNG VÔ TẬN CÔNG ĐỨC TẠNG . Tr304

Người nữ Bà Tu Mật Đa bảo rằng:

Thiện nam tử! Ta đắc được giải thoát Bồ Tát, tên là Lìa bờ mé tham dục. Tuỳ sự ưa

muốn của họ, mà ta vì họ hiện thân. Tr313

Lìa bờ mé tham dục, phàm phu nhiễm dục. Nhị thừa thấy dục có thể lìa. Bồ Tát chẳng đoạn tham dục, mà được giải thoát. Trí rõ tánh không, giác ngộ rõ dục tức là đạo. Giống như nhiễm mà chẳng nhiễm, mới là rốt ráo lìa bờ mé tham dục.

Nếu có chúng sinh, ý dục ràng buộc, đi đến chỗ ta, thì ta vì họ nói pháp. Họ nghe pháp rồi, liền lìa tham dục, đắc được tam muội cảnh giới Bồ Tát không chấp trước. Nếu có chúng sinh, tạm thấy được ta, thì liền lìa tham dục, đắc được tam muội Bồ Tát hoan hỉ. Nếu có chúng sinh, tạm nói chuyện với ta, thì liền lìa tham dục, đắc được tam muội âm thanh Bồ Tát vô ngại. Nếu có chúng sinh, tạm cầm tay ta, thì liền lìa tham dục,.....

Nhân duyên đức Thánh phát tâm: .... Khiến cho ta phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.  Tr317

Trong Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phật Đạo thứ tám có nói rằng: "Bồ Tát thị hiện hành tham dục, lìa các nhiễm trước .v.v... Thị hiện có thê thiếp thể nữ, mà thường xa lìa năm dục bùn lầy".  Tr318

26. CƯ SĨ TỲ SẮC CHI LA -  PHÓ THÁC THỨ SÁU: HỒI HƯỚNG VÀO TẤT CẢ CĂN LÀNH BÌNH ĐẲNG . Tr321

Cư sĩ Tỳ Sắc Chi La lại nói tiếp: "Thiện nam tử! Ta chẳng sinh tâm niệm nói: Như Lai đã vào Niết Bàn như vậy. Như Lai hiện tại vào Niết Bàn như vậy. Như Lai  tương lai sẽ vào Niết Bàn như vậy. Vì ta biết chư Phật Như Lai mười phương tất cả thế giới, rốt ráo không có vào Niết Bàn, Phật luôn luôn tại thế gian, chỉ trừ vì muốn điều phục chúng sinh mà thị hiện vào Niết Bàn".  Tr323

Trong Kinh Lăng Già có nói rằng: "Tất cả không Niết Bàn, không có Niết Bàn Phật, không có Phật Niết Bàn, xa lìa giác sở giác. Hoặc có, hoặc không có, cả hai thảy đều lìa. Mâu ni tịch tĩnh quán, đó là xa lìa sinh, đó gọi là chẳng chấp lấy, đời nầy đời sau tịnh". Trong Kinh Hoa Nghiêm phẩm Kệ Tán trên cung trời Đâu Suất có nói rằng:

"Như Lai chẳng ra đời

Cũng chẳng vào Niết Bàn

Dùng đại nguyện lực xưa

Thị hiện pháp tự tại".

Giảng nói về bản chất đức Phật sau khi nhập diệt. Tr 323

Trong Kinh Pháp Hoa Phẩm Như Lai Thọ Lượng có nói rằng: "Vì chúng sinh nên phương tiện hiện Niết Bàn, mà thật chẳng diệt độ, thường ở đây nói pháp. Ta thường ở nơi đây, dùng các sức thần thông, khiến cho chúng sinh điên đảo, tuy gần mà chẳng thấy .v.v.... Ta thấy các chúng sinh, chìm nơi khổ não, nên chẳng vì hiện thân, khiến cho họ sinh khát ngưỡng, nhờ sự khát ngưỡng, mới xuất hiện thuyết pháp".  Tr324

27. BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI - PHÓ THÁC THỨ BẢY: HỒI HƯỚNG TUỲ THUẬN TẤT CẢ CHÚNG SINH. Tr 331

Thiện tri thức tên là Quán Tự Tại, đây là ba nghiệp quy hướng, tất sáu thông phó duyên, nhiếp lợi khó nghĩ bàn, tên Quán Tự Tại, nhờ đó có thể khắp tuỳ thuận chúng sinh. Quán Tự Tại, hoặc là Quán Âm, tiếng phạm là Bà Lô Chỉ Đế. Vị đại Bồ Tát nầy quán cái gì mà được tự tại? Tức trong Tâm Kinh có nói rằng:

Đoạn này cũng giảng nói thêm về Bồ tát Quán Thế Âm ... Tr332

Bình đẳng giáo hoá, tức là đại bi. Dùng đồng thể đại bi, cho nên nói là bình đẳng. Liên tục không ngừng, tức là hạnh môn. Môn tức là phổ môn, biểu thị phổ môn thị hiện. Thiên Thai Trí Giả Đại Sư nói có 10 phổ (khắp):  Tr337

Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói về sự diệu dụng nhĩ căn viên thông của Bồ Tát Quán Tự Tại rằng:  ........... Làm thế nào để vận dụng? Bồ Tát Quán Âm lại nói tiếp: "Hoặc ta bố thí vàng bạc châu báu để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc ta dùng lời ái ngữ để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc ta dùng lợi hành để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc ta dùng đồng sự để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc ta thị hiện sắc thân viên mãn để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc ta thị hiện đủ thứ lưới quang minh sắc tịnh không thể nghĩ bàn, để nhiếp lấy chúng sinh. Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng oai nghi để nhiếp lấy chúng sinh. Tr339

Bồ Tát Quán Thế Âm lại nói: "Hoặc ta vì chúng sinh thuyết pháp. Hoặc ta thị hiện thần thông biến hoá, khiến cho tâm họ khai ngộ mà được thành thục, ....

Trong Kinh Pháp Hoa có tường thuật rõ ràng Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện đủ thứ hình tướng để giáo hoá chúng sinh rằng: "Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý !

Nếu có chúng sinh đáng dùng thân Phật độ được, thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Phật để vì họ nói pháp, cho đến thị hiện thân Bích Chi Phật, thân Thanh Văn, thân Phạm Vương, Tự Tại Thiên Vương, Đại Tự Tại Thiên Vương, đồng nam, đồng nữ, Thiên Long bát bộ, cư sĩ phụ nữ .v.v..." Tổng cộng có 32 thứ tướng ứng thân, nhưng đại Bồ Tát Quán Âm, đều có thể thị hiện hoá thân vạn loại, nhiều vô cùng vô tận.  Tr340

Thiện nam tử! Ta tu hành môn hạnh đại bi nầy, nguyện thường cứu hộ tất cả chúng sinh. Nguyện tất cả chúng sinh xa lìa sợ đường hiểm, xa lìa sợ nhiệt não, lìa sợ mê hoặc cuồng loạn, xa lìa sợ bị trói buộc, do đó : "Nếu lại có người, hoặc có tội, hoặc không có tội, bị gông cùm xiềng xích trói buộc thân họ, xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì đều đứt gãy, liền được giải thoát". Tôi lại nguyện tất cả chúng sinh xa lìa sự sợ giết hại, xa lìa sợ bần cùng.

Do đó: "Cứu bảy nạn, quy ba độc, ứng hai cầu. Mười bốn không sợ hãi, mười chín thuyết pháp, ba mươi hai ứng thân". Nếu chúng sinh hay dùng lời xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì liền được trừ diệt bảy nạn :

1. Lửa không cháy.

2. Nước không ngập chết.

3. Gió ác không thổi được.

4. Đao chặt không đứt.

5. Ác quỷ không nhìn.

6. Gông cùm lìa thân.

7. Oán tặc giải thoát.

Trong Kinh Pháp Hoa có nói rằng: "Nếu có người trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, nhảy vào trong lửa lớn, lửa không thể thiêu đặng, vì do sức oai thần của Bồ Tát.

Nếu có nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì liền được vào chỗ cạn. Nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh, vì tìm cầu vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, chân châu .v.v... vào trong biển lớn. Giả xử gió đen thổi thuyền của họ trôi vào nước quỷ La Sát. Trong đó, nếu có một người, xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì các người đó, đều được giải thoát khỏi nạn quỷ La Sát, do nhân duyên đó, mà được tên là Quán Thế Âm".

ĐOẠN KINH VĂN NÀY GIẢNG NÓI VỀ BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI, CŨNG TƯƠNG ƯNG VỚI BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM. Rất truyệt vời ... Tr342

Ta lại nguyện như vầy: Nguyện tất cả chúng sinh, nếu nhớ tới ta, nếu gọi tên ta, nếu thấy được thân ta, thì đều được lìa khỏi tất cả sự sợ hãi.

Bấy giờ, ở phương đông có một vị Bồ Tát, hiệu là Chánh Thú, từ không trung đi đến, đến đỉnh núi Luân Vi thế giới Ta Bà. Dùng chân ấn xuống đất, thì thế giới Ta Bà sáu thứ chấn động.  Tr344

Bấy giờ, ở phương đông có một vị Bồ Tát, hiệu là Chánh Thú, từ không trung đi đến, đến đỉnh núi Luân Vi thế giới Ta Bà. Dùng chân ấn xuống đất, thì thế giới Ta Bà sáu thứ chấn động.

Bấy giờ, Bồ Tát Quán Tự Tại bảo Thiện Tài rằng: Thiện nam tử! Ngươi có thấy Bồ Tát Chánh Thú đến hội nầy chăng?  Thiện Tài bạch rằng: Dạ con đã thấy!

Bồ Tát Quán Tự Tại nói rằng: Thiện nam tử! Ngươi hãy đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo?  Tr345

28. BỒ TÁT CHÁNH THÚ - PHÓ THÁC THỨ TÁM: HỒI HƯỚNG TƯỚNG CHÂN NHƯ. Tr348

Đây là hồi hướng tướng chân như thứ tám. Thiện tri thức là Bồ Tát Chánh Thú, chánh thú là biểu thị chánh pháp biến thú, giáo hoá chúng sinh, dùng trí huệ chánh thú tướng chân như. Ở trước miêu tả Ngài từ hư không đến, biểu thị thể trí huệ của Ngài không chỗ nương tựa, nên khế hợp với chân như. .... Chỗ nầy Bồ Tát Chánh Thú và Bồ Tát Quán Tự Tại ở trước, thị hiện đồng một đạo tràng, cho nên Thiện Tài đồng tử không cần giống như ở trước, hướng về một vị thiện tri thức cúi đầu đảnh lễ, ...Hơn nữa, trí huệ của Bồ Tát Chánh Thú sẽ hợp với đại bi của Bồ Tát Quán Tự Tại, mà thành tựu cảnh giới vô trụ thù thắng. Tr349

Chỗ nầy Bồ Tát Chánh Thú tuy là trả lời Thiện Tài đồng tử, nói Ngài từ chỗ đức Phật Phổ Thắng Sanh đắc được môn giải thoát Hạnh phổ môn mau chóng nầy. Kỳ thật, Ngài là từ trí huệ vốn có của mình, cõi Như Lai tạng, phổ sinh vạn thiện, bổn giác mà đắc được. Cho nên đi được mau chóng khắp, biết tất cả pháp, chẳng lìa tâm tánh, vạn hạnh mau thành. Tr353

TIẾP TỤC TẠI HƯỚNG NAM

Thiện nam tử! Ở hướng nam nầy, có thành tên là Đoạ La Bát Để. Trong đó có vị thần tên là Đại Thiên, ngươi hãy đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo?

29. THẦN ĐẠI THIÊN - PHÓ THÁC THỨ CHÍN: HỒI HƯỚNG KHÔNG BUỘC KHÔNG CHẤP GIẢI THOÁT. Tr 356

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh, tham chấp năm dục, tự phóng dật, thì vì họ thị hiện cảnh giới bất tịnh. Nếu có chúng sinh, sân hận kiêu mạn, nhiều cạnh tranh, thì vì họ thị hiện thân hình rất đáng sợ, như La Sát .v.v... uống máu ăn thịt, khiến

cho họ thấy rồi, sợ hãi kinh hoàng, tâm ý điều nhu, xả lìa oán kết. Nếu có chúng sinh, hôn trầm lười biếng, thì vì họ thị hiện vua cướp nước lửa, và các bệnh nặng, khiến cho họ thấy rồi, tâm sinh kinh hãi, biết có sầu khổ, mà tự cố gắng. Dùng đủ thứ phương tiện như vậy, khiến cho họ xả bỏ tất cả các hạnh bất thiện, tu hành pháp lành. Khiến cho họ trừ tất cả chướng Ba La Mật, đầy đủ Ba La Mật. Khiến cho họ vượt qua tất cả đường hiểm chướng ngại, đến nơi không chướng ngại. Tr363

Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát Lưới mây nầy.

30. ĐỊA THẦN AN TRỤ - PHÓ THÁC THỨ MƯỜI: HỒI HƯỚNG VÀO PHÁP GIỚI VÔ LƯỢNG. Tr366

Cảnh giới của Kinh Hoa Nghiêm, đa số là hiện ra ở trong định, cho nên thời thời vô cùng vô tận, đều là nhân duyên thị hiện. Chúng ta nghe kinh đều nên biết tất cả cảnh giới nầy, đều ở trong định thuyết pháp, trong định hiện ra, đây đều là không thể nghĩ bàn. Tr 369

31. DẠ THẦN BÀ SAN BÀ DIỄN ĐỂ - PHÓ THÁC THỨ NHẤT: HOAN HỈ ĐỊA. Tr376

Lại nữa, Thiện Tài đồng tử đi vào cửa hướng đông, vì phương đông là sáng trước nhất, hiển nhập chứng ban đầu. Thấy mặt trời lặn, là biểu thị Dạ Thần sắp chấp hành nhiệm vụ. Tại Sơ địa, Bồ Tát ban đầu đắc được Thánh vị, chứng đủ hai không, hay lợi ích ta, người, sinh đại hoan hỉ. Sơ địa đoạn kiến hoặc, tức phân biệt phiền não. Tr378

Hết thảy thiện tri thức của Thập địa, đều thị hiện thân nữ thần, biểu thị chứng nơi đồng thể từ bi.  Tr 378

Lúc trước ở Hương Cảng, có người rớt xuống biển, được con rùa lớn cõng đưa vào bờ, cứu sống một sinh mạng. Đó là Bồ Tát thị hiện đủ thứ hình dáng để cứu độ chúng sinh, nhưng người vẫn không biết đó thôi!  Tr 386

Đoạn này Bồ tát dụng mọi Tâm và hình tướng cứu độ chúng sanh: Từ lạc đường, mê lầm sợ hãi, mong tìm phương hướng ...Tr390

Tất cả chúng sinh đó, không có con mắt trí huệ, bị màng vọng tưởng tà tri tà kiến điên đảo che phủ. Họ tưởng vô thường cho là thường, không vui cho là vui, vô ngã cho là ngã, bất tịnh cho là tịnh. Bốn đức Niết Bàn là thường lạc ngã tịnh, nhưng chúng sinh điên đảo thị phi, chẳng rõ sự lý. Họ kiên cố chấp trước vào bốn tướng: ĐOẠN NÀY MÔ TẢ RẤT CHI TIẾT CÁC ÁC HẠNH CỦA CON NGƯỜI Vô Minh. Tr393

"Môn giải thoát của ta đây, hay sinh ra pháp quang minh thanh tịnh, hay phá trừ ngu si đen tối, tất phải đợi đúng thời mới diễn nói".

Con người phải có chánh tri chánh kiến, nhưng không thể bới lông tìm vết. Trong Tâm Kinh có nói: "Vô trí diệc vô đắc". Tức là không trí cũng không đắc, lại làm thế nào mà đắc được môn giải thoát nầy? Nếu bạn nói như vậy, thì tức là không tin hết thảy Phật pháp. Trong Tâm Kinh nói như thế, đó là giảng về Bát Nhã, ở đây là giảng về cảnh giới tu Bồ Tát đạo chứng đắc được. Trong Tâm Kinh là không trí cũng không đắc, ở đây không thể giải thích như thế. Bạn không thể đem hai bộ Kinh nầy ra luận bàn, sẽ sinh ra sự hoài nghi, không tin. Tr 398

32. DẠ THẦN PHỔ ĐỨC TỊNH QUANG - PHÓ THÁC THỨ HAI LY CẤU ĐỊA. Tr421

Tu tập sơ thiền, ngừng tất cả ý nghiệp, nhiếp tất cả chúng sinh, trí lực dũng mãnh, tâm hỉ vui vẻ.

Tu đệ nhị thiền, suy gẫm tự tánh của tất cả chúng sinh, nhàm lìa sinh tử.

Tu đệ tam thiền, đều ngừng diệt các khổ nhiệt não của tất cả chúng sinh.

Tu đệ tứ thiền, tăng trưởng viên mãn nhất thiết trí nguyện, sinh ra tất cả các biển tam muội, nhập vào biển môn giải thoát của các Bồ Tát, ...Tr428

(Sơ thiền là ly sinh hỉ lạc địa. Nhị thiền là định sinh hỉ lạc địa. Tam thiền là ly hỉ diệu lạc địa. Tứ thiền là xả niệm thanh tịnh địa.)

Sư phụ nầy chỉ bày con đường đi cho các vị, các vị phải đi thì sẽ thành Phật, nếu không đi thì cũng tuỳ các vị thôi. Cho nên tu hành là: "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên". Đạo là rất tự nhiên để tu hành. Tôi từ nhỏ tu hành, thì rất hoan hỉ đạo lý tự nhiên, sự việc gì cũng chẳng miễn cưỡng. Tr432

Thiện nam tử! Khi ta tu giải thoát nầy, thì dùng đủ thứ phương tiện thành tựu tất cả chúng sinh. Đó là: Dùng các loại Pháp giáo hóa chúng sinh, dùng rất nhiều phép Quán tưởng như Thân bất tịnh; Tưởng bức bách; Tưởng La sát; tưởng Vô thường; Tưởng khổ; Tưởng Vô ngã; Tưởng Không; Tưởng già bệnh chết;  .... Tự nhiên 5 dục xa lìa, chẳng ưa mến chấp trước. Tr433

Nếu có chúng sinh ở chỗ không nhàn để tu hành, thì ta vì họ ngăn dứt các âm thanh ác chung quanh bốn phía. Lúc ban đêm yên tĩnh, thì ta vì họ nói pháp thâm sâu vi diệu, ban cho họ đủ thứ thuận duyên tu hành, ta vì họ mở cửa xuất gia, khiến cho họ xuất gia tu đạo, chỉ bày cho họ con đường chân chánh. Ta vì họ làm đuốc lớn ánh sáng, trừ diệt đen tối chướng ngại cho họ. Diệt trừ tư tưởng sợ hãi của họ, mà khen ngợi nghiệp xuất gia, khen ngợi Phật Pháp Tăng Tam Bảo và hết thảy các bậc thiện tri thức, đầy đủ tất cả công đức, ta cũng khen ngợi hạnh gần gũi thiện tri thức.  Tr434

Nếu ai chưa sinh pháp lành, chưa trồng căn lành, chưa tu hạnh Ba La Mật, chưa cầu nhất thiết trí huệ, chưa sinh khởi pháp đại từ bi, chưa tạo phước nghiệp trời người, thì ta đều khiến cho họ sinh trưởng căn lành. Do đó: "Người chưa trồng căn lành, thì khiến cho trồng căn lành. Đã trồng căn lành, thì khiến cho tăng trưởng. Đã tăng trưởng thì khiến cho thành thục. Đã thành thục thì khiến cho giải thoát". Tr435

Thiện nam tử! Cách đây không xa, bên phải Bồ Đề Tràng, có một vị Dạ Thần, tên là Hỉ Mục Quán Sát Chúng Sinh.

Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Tu Bồ Tát đạo?  Tr 437

33. DẠ THẦN HỈ MỤC QUÁN SÁT CHÚNG SINH PHÓ THÁC THỨ BA: PHÁT QUANG ĐỊA . Tr443

Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử bèn nghĩ như vầy: Do nhờ gần gũi thiện tri thức, mà dũng mãnh siêng tu đạo nhất thiết trí. Do nhờ gần gũi thiện tri thức, ... CÁC LỢI ÍCH CỦA GẦN GŨI THIỆN TRI THỨC. Tr 446

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 22

SANG TẬP 23

34. DẠ THẦN PHỔ CỨU CHÚNG SINH DIỆU ĐỨC - PHÓ THÁC THỨ TƯ: DIỆM HUỆ ĐỊA . Tr13 - T23

Cảnh giới trong Phẩm Pháp Giới, đều không ra ngoài tự tánh của chúng ta. Pháp giới tức là tánh diệu giác của chúng ta. Cho nên nói:

"Nếu ai muốn biết rõ

Tất cả Phật ba đời

Hãy quán tánh pháp giới

Tất cả do tâm tạo".  Tr47

Đây là vừa bắt đầu đả thiền thất thứ hai, lần đả thiền thất nầy, rất nhiều người muốn dụng công phu, không muốn giải đãi, thậm chí có người không nói chuyện. Nhất

là có một người mới đến, đến đây tham gia thiền thất chẳng nói chuyện, hôm nay người đó đã quy y. Lại có người ngồi thiền có thể nhập định, vị cư sĩ đó trong đời quá khứ, đã từng tu qua, cho nên lần nầy đến đây tham gia thiền thất, công phu của anh ta cũng rất có tiến bộ, rất tương ưng. Khi anh ta ngồi, liền có thể nhập định. Do đó, lúc chúng ta khai tĩnh, anh ta đứng dậy, hoặc không đứng dậy, đều tuỳ ý anh ta. Người ngồi thiền, khi nhập định rồi, có lúc cũng không biết đã khai tĩnh. Ở trong định không muốn đứng dậy, cũng không thể đứng lên. Cho nên các vị đừng kêu anh ta đứng dậy chạy hương. Bất cứ vị nào ngồi yên, không đứng lên đều được hết. Chỉ cần bạn không cảm thấy đau chân, đau lưng, thì có thể nhập định, đây đều là hiện tượng tốt. Về sau các vị thấy vị nào đã khai tĩnh rồi, mà chẳng đứng lên chạy hương, thì các vị đừng kêu họ.  Tr69

Đả xong ba tuần thiền thất rồi, chúng ta sẽ tiếp tục đả Quan Âm thất, vì cầu nguyện cho người dân Đài Loan, khiến cho họ tiêu tai khỏi nạn, tất cả được thuận lợi, vạn sự cát tường. Chúng ta phải đem chân tâm ra, để dụng công tu đạo, đừng có bỏ ngang giữa chừng, để thời gian trôi qua một cách lãng phí.  Tr 70

Phải dụng công mới có cảnh giới. Trong sự tu đạo, gặp cảnh giới gì, chẳng màng tốt, hoặc không tốt, vẫn tiếp tục dụng công, đừng chạy theo cảnh giới, cũng đừng đi tìm cảnh giới. Tức không chạy theo, cũng không hoan nghênh nó đến, coi như bình thường chẳng có việc gì. Nếu chấp trước vào cảnh giới, thì công phu sẽ mất đi. Giống như trồng trọt, bạn không biết hạt giống lúc nào sẽ mọc lên, nhưng có một ngày nó sẽ nảy mầm. Nhưng bạn không đợi được, muốn giúp mầm cao lớn hơn một chút, cho nên bạn nhổ nó lên một chút, chẳng những nó không lớn, mà còn khô héo rồi chết. Đây gọi là "Nhổ mầm giúp lớn".

Chúng ta dụng công phải sống động, đừng có cứng ngắt, phải mở mắt cho thật lớn, đừng có suốt ngày đến tối mặt mày ủ rũ, chẳng có sự linh động. Như vậy gọi là "nước chết", do đó có câu: "Nước chết không thành rồng", bạn phải linh hoạt sống động. Tr101

35. DẠ THẦN TỊCH TĨNH ÂM HẢI - PHÓ THÁC THỨ NĂM NAN THẮNG ĐỊA. Tr103. Q23

Vị Bồ Tát này dụng rất nhiều Pháp để giáo hóa tùy căn cơ chúng sinh.

Tại sao con người ngu si? Vì chẳng minh bạch nhân quả. Tr118. Q23

Hỏi: Trung đạo có phải là chẳng có cảnh giới vô không chăng?

Đáp: Trung đạo chẳng phải chẳng có vô không, nó cũng có có, cũng có không, nhưng bạn đừng rơi vào có, cũng đừng rơi vào không. Tức là bạn đừng chấp vào

không, cũng đừng chấp vào có, đó tức là trung đạo. Đừng chấp trước, chứ chẳng phải nói nó chẳng có. Rơi vào không, là bạn thiên về không. Rơi vào có, là bạn thiên về có. Chẳng không, chẳng có, tức là trung đạo, đây là chẳng chấp trước. Nếu tìm trung đạo, mà bạn chấp vào trung vào, thì cũng chẳng phải là trung đạo.  Tr119

Vị Dạ Thần nói: "Thiện nam tử! Bồ Tát tu hành 10 đại pháp tạng nầy, thì sẽ đắc được môn giải thoát nầy. Những gì là mười pháp tạng?  Tr134. Q23

XEM 10 PHÁP TU

36. DẠ THẦN THỦ HỘ NHẤT THIẾT THÀNH  - PHÓ THÁC THỨ SÁU: HIỆN TIỀN ĐỊA. Tr174. Q23

Đây là Hiện Tiền Địa thứ sáu. Trụ duyên khởi trí, dẫn đến Bát Nhã tối thù thắng không phân biệt, tức cũng là chẳng có sự phân biệt nhiễm tịnh, vì khiến cho hiện tiền, cho nên gọi là Hiện Tiền Địa. Khi Bồ Tát tu bậc Thập Địa, thì tu pháp môn mười Ba La Mật. Mỗi thứ pháp môn tu hành viên mãn, thì sẽ thành tựu cảnh giới địa đó. Đây là Địa Thứ Sáu, thành tựu pháp môn Bát Nhã Ba La Mật, đã đoạn trừ kiến tư hai hoặc của ba cõi. Tr 175. Q23

Ba huệ tức là văn tư tu -

Văn là thấy nghe Kinh giáo mà sinh trí huệ; tư là suy gẫm lý Kinh mà sinh trí huệ; tu là tu thiền định mà sinh trí huệ. Tr186

Lìa khỏi bờ sinh tử bên nầy, qua dòng phiền não, đạt đến bờ rốt ráo bên kia. Làm thế nào mới thành công? Phải thiền tịnh song tu. Thiền là tự lực, tịnh là tha lực. Chúng ta phải ngồi thuyền pháp (tu tịnh - tha lực), nhưng mình phải lái thuyền (tu

thiền - tự lực), mới có thể bình an bờ Niết Bàn bên kia. Do đó phải thiền tịnh song tu, thì mới có công hiệu. Không thể tu thiền chẳng tu tịnh, tu tịnh chẳng tu thiền, mà nên tu cả hai, thiếu một thì khó tiến về trước, không thể đến được bảo sở.  Tr 187. Q23

Thiện nam tử! Trong hội Phật nầy, có vị Chủ Dạ Thần, tên là Khai Phu Nhất Thiết Thụ Hoa. Ngươi hãy đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học nhất thiết trí?

Bấy giờ, Chủ Dạ Thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành, muốn thuật lại nghĩa giải thoát nầy, vì Thiện Tài đồng tử mà nói kệ rằng:

37. DẠ THẦN KHAI PHU NHẤT THIẾT THỤ HOA PHÓ THÁC THỨ BẢY: VIỄN HÀNH ĐỊA . Tr 218. Q23

Đây là Viễn Hành Địa thứ bảy, là đến phía sau công dụng trụ vô tướng, vì vượt qua thế gian đạo hai thừa (Thanh Văn, Duyên Giác), tức cũng là viễn ly hai thừa tự độ, cho nên gọi là Viễn Hành Địa. Bồ Tát địa nầy, đã đoạn trần sa hoặc, nhưng chưa đoạn vô minh hoặc. Tr219

Quả vị A La Hán, chỉ có xuất gia mới có thể chứng được. Các Ngài tự độ chẳng độ tha, chỉ tu huệ chẳng tu phước, cho nên có lúc ôm bát không, đi khất thực chẳng được thức ăn. Vì các Ngài phần nhiều chẳng có phước báo, nên tướng mạo của các Ngài, đa số là quái lạ.

Quả vị của Bồ Tát, người tại gia cũng có thể chứng đắc. Chỉ cần phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo, tức là Bồ Tát. Tiến thêm bước nữa, có thể vô trụ làm nhà, dùng từ bi làm cha, tuỳ thuận làm mẹ, nhẫn nhục làm vợ, trí huệ làm con, phương tiện làm tôi tớ, như có cảnh giới nầy, thì là Bồ Tát.  Tr220. Q23

Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh lúc tuổi còn trẻ háo sắc, rất kiêu mạn, lại rất phóng dật. Vui say tài, sắc, danh, ăn, ngủ, năm dục. Hoặc tham chấp vào cảnh giới sắc thanh hương vị xúc, chẳng giữ quy cụ, thì ta vì họ thị hiện tướng khổ sinh già bệnh chết bốn tướng, khiến cho họ sinh tâm sợ hãi, xả lìa các niệm ác. Lại vì họ khen ngợi đủ thứ căn lành, khiến cho họ tu tập những pháp lành..

Từ trang 221 có nhiều Pháp độ chúng sinh xa lìa lẻo ác, quay về đường chánh

Đây là dùng phương pháp mười độ, để điều trị mười thứ che chướng.  Tr 223

Chẳng có chánh tư duy, nghĩ tưởng lung tung, bèn nhập vào các tà tri tà kiến. Chẳng rõ nhân quả, thậm chí bát vô nhân quả. Chẳng minh bạch đạo lý:

"Muốn biết nhân đời trước

Hãy xem mình đang có gì

Muốn biết quả đời sau

Hãy xem mình đang làm gì".  Tr 233

Trang này giảng về Nhân Quả báo ứng

VỊ DẠ THẦN ĐÁP: Cảnh giới nầy, là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, cho nên khó nói. Tất cả người thế gian, và hàng nhị thừa, đều không thể biết được cảnh giới nầy". Tr 237. Q23

Vị Dj Thần tóm lược qua các bài Kệ.

Chẳng phải chúng sinh có tham sân si ba độc, họ có thể minh bạch đạo lý nầy. Tại sao? Vì bị kiêu ngạo, ngã mạn, nghi hoặc, che đậy, những chúng sinh như vậy, làm sao biết được diệu pháp của Phật? Tr241. Q23

Chẳng phải chúng sinh trụ tham sẻn và đố kị minh bạch được cảnh giới nầy. Càng không phải chúng sinh có xiểm nịnh và dối trá thấu hiểu được cảnh giới nầy. Hoặc chúng sinh có tư tưởng ô trược. Hoặc chúng sinh bị phiền não nghiệp che đậy, biết được cảnh giới nầy. Cảnh giới của Phật, tận hư không khắp pháp giới, chẳng có bờ mé.

Nói về các chúng sinh chẳng tu hành thành tự không thể biết hiết cảnh giới này

Giảng nói Tâm như thế nào thì tương ưng cảnh giới này

Lại giảng về các Kiến: Kiến trược - Thân kiến - Biên kiến - Giới thủ - Kiến thủ - Tà kiến. Tr254. Q23

Phiền não trược là gì? Tức là năm độn sử.

Năm độn sử tức là tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm mạn, tâm nghi. Tâm tham: Tr254

10 điều đáng thương cho chúng sinh là Phàm nhân. Rất hay. Tr261

Vì tâm con người ác đến cực điểm, chẳng có khí cát tường, chỉ có khí u ám hiện ra. Khí u ám là gì? Tôi nói lại cho rõ ràng một chút, đó là khí xấu, làm cho trời không mưa xuống, đất cũng không thể sinh cây cỏ được. Do đó: "Trời đất không mưa xuống, vạn vật cũng không sinh". Vì chẳng có mưa xuống, nên ngũ cốc gieo trồng cũng không sinh trưởng, tất cả cây cỏ đều khô héo, biến thành củi khô. Các dòng nước cũng đều khô cạn. Tr282. Q23

Một đời người tốt nhất về chữ cần, một năm tốt nhất là mùa xuân, một ngày tốt nhất vào lúc sáng sớm. Hôm nay bắt đầu năm mới, tất cả bắt đầu làm mới. Phải phản tỉnh những việc làm xưa kia của mình, có đúng với giới luật chăng? Nếu đúng thì tiếp tục làm; nếu không đúng thì lập tức sửa đổi, do đó có câu: "Trừ cựu hoán tân". Nghĩa là: "Sửa cũ làm mới"

Trong Phật giáo có câu:

"Di thiên đại tội,

Nhất sám liền tiêu".  Tr 295

Giảng nói chút về đức Di Lặc Bồ tát. Tr296

38. DẠ THẦN ĐẠI NGUYỆN TINH TẤN LỰC CỨU HỘ NHẤT THIẾT CHÚNG SINH - PHÓ THÁC THỨ TÁM: BẤT ĐỘNG ĐỊA . Tr 312. Q23

Giảng nói về 85 điều Đồng như .... hàng Bồ tát. Tr330

Mà luôn luôn thị hiện vô lượng đủ thứ sắc thân.

Lược nói ra có chín mươi tám thứ sắc thân, đó là: Tr 336. Q23

Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, đức Phật nói đạo lý Bồ Tát đạo của bậc pháp thân Đại Sĩ tu hành. Hành Bồ Tát đạo, thì phải quên mình, tất cả vì lợi ích chúng sinh mà nghĩ đến, chẳng có tư tưởng ích kỷ lợi mình. Tất cả đều buông bỏ được, chẳng có chấp trước, mới đắc được sự giải thoát. Tr 362

39. LÂM THẦN LAM TỲ NI PHÓ THÁC THỨ CHÍN: THIỆN HUỆ ĐỊA . Tr 399. Q23

Thiện Tài bạch rằng: Đức Thánh!

Cảnh giới môn giải thoát nầy như thế nào?

Vị Lâm Thần đáp rằng: Thiện nam tử!

Trước kia ta phát nguyện: Nguyện khi tất cả Bồ Tát thị hiện thọ sanh, đều được gần gũi. Nguyện vào biển vô lượng thọ sanh của Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Nhờ nguyện lực xưa, nên sinh vào thế giới Diêm Phù Đề trong vườn Lâm Tỳ Ni, chuyên nhớ lúc nào Bồ Tát thọ sanh.

Trải qua một trăm năm sau, quả nhiên đức Thế Tôn từ cõi trời Đâu Suất hạ sinh xuống đây. Bấy giờ, trong vườn nầy, hiện ra mười thứ tướng: Những gì là mười thứ tướng?  Tr 423. Q23

Có người hỏi: Thế nào là ngũ nhãn?

Hoà thượng đáp: Ngũ nhãn tức là: Phật nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, nhục nhãn, thiên nhãn. Có bài kệ rằng:  Tr 428

Ngũ nhãn phân làm ngũ nhãn của Phật, ngũ nhãn của Bồ Tát, ngũ nhãn của A La Hán, ngũ nhãn của phàm phu, ngũ nhãn của đồng chân.

Ngũ nhãn của phàm phu là ngũ nhãn báo đắc thông. Người nầy kiếp trước tu pháp môn đại bi 42 thủ nhãn, do gieo trồng nhân nầy, nên đời nầy tuy chưa chứng quả, nhưng ở địa vị phàm phu, được báo đắc thông.

Ngũ nhãn của đồng chân, tức là từ lúc còn đồng nam, đồng nữ, bắt đầu tu đạo, một lòng một dạ tu hành, chẳng có dục niệm, chẳng có vọng tưởng. Do sự tu đạo, đến lúc chín mùi, thì sẽ đắc được ngũ nhãn thanh tịnh. Đồng chân tu đạo, dễ khai mở ngũ nhãn nhất.

Người khai mở ngũ nhãn, thấy cảnh giới hoàn toàn khác nhau. Có người nhìn thấy cảnh giới rất thanh tịnh, có đại trí huệ, mà minh bạch tất cả cảnh giới.

Có người thấy cảnh giới không minh bạch lắm, còn phải nghiên cứu suy gẫm rồi, mới minh bạch được. Cho nên nói ngũ nhãn cũng không giống nhau. Tr 430.Q23

Các vị chú ý! Khi nghe đến cảnh giới khi khai mở ngũ nhãn, thật là diệu không thể tả, bèn sinh khởi tâm tham, tôi muốn khai mở ngũ nhãn! Tôi muốn khai mở ngũ nhãn! Thì khai mở ngũ nhãn, vậy bạn có ăn cơm không? Có mặc y phục không? Vẫn phải ăn cơm, vẫn phải mặc y phục, cả hai đâu khác gì. Do bạn tham mà khai mở ngũ nhãn, thì chẳng lợi ích bao nhiêu. Người tu hành không còn tâm tham, tu hành thì tu hành, không có xí đồ gì khác. Đến thời, thì tự nhiên sẽ thành tựu.

40. THÍCH NỮ CÙ BA PHÓ THÁC THỨ MƯỜI: PHÁP VÂN ĐỊA . Tr 459. Q23

Bấy giờ, cô gái Cù Ba bảo Thiện Tài rằng: Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Nay ngươi có thể hỏi đại Bồ Tát tu hành pháp như vậy. Ai tu tập các hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, mới có thể hỏi như vậy. Hãy chú ý lắng nghe, khéo nghĩ nhớ, ta sẽ nương thần lực của Phật, vì ngươi mà diễn nói. Tr 477

Thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát thành tựu mười pháp, thì sẽ viên mãn hạnh Bồ Tát Nhơn Đà La võng phổ trí quang minh. Những gì là mười pháp? Đó là:

Phật tử! Bồ Tát nên dùng mười pháp nầy, để hầu hạ thiện tri thức. Những gì là mười pháp? Đó là:  Tr 480

..... Đủ bốn mươi cái răng, tất cả đều ngay kín (đức Phật có 40 cái răng, Ngài Thanh Lương quốc sư cũng có 40 cái răng, người bình thường chỉ có 32 cái răng), bốn răng nanh trắng bóng. Lưỡi rộng dài (lưỡi vừa dài, vừa mềm, thè ra có thể liếm tới mũi và trán), .......Tr499

Nếu ai ở trước cô gái xinh đẹp mà tâm không động, thì người đó có định lực, không bị cảnh giới lay chuyển, họ sẽ khai ngộ trong tương lai gần. Làm thế nào khiến cho tâm không khởi vọng tưởng, chẳng có phi phi tưởng? Phương pháp rất đơn giản, có thể quán tưởng thân thể chỉ là túi da hôi thối, bên trong toàn là những thứ máu mủ bất tịnh. Quán như vậy, nghĩ như vậy, thì tự nhiên sẽ tiêu diệt vọng tưởng khởi tâm động niệm. Nói thì ai cũng nói được, nhưng làm thì không ai làm được, cho nên ông Vương  Minh Dương đề xướng học thuyết tri hành hợp nhất. Biết được làm được là người giỏi. Tr 354

Giảng đến đây, nhất định sẽ có người hoài nghi: "Đâu có lý nào, hoa sen lại sinh ra em bé? Đây là nói việc tầm bậy, là chuyện thần thoại. Tôi không tin có sự việc như vậy". Bạn phải biết, sự việc kỳ diệu trong thế gian biến hoá khó dò, phàm phu không cách chi có thể biết rõ được. Tr 526

Các vị chú ý! Phàm là người không giữ giới luật, thì thân thể của họ, thường toả ra một thứ mùi hôi, thậm chí hôi hơn là mùi nhà vệ sinh. Nếu người giữ giới luật, thì tuy không tắm rửa, nhưng thân thể vẫn sạch sẽ, không có mùi hôi, có lúc sẽ toả ra mùi hương lạ ngát mũi, khiến cho ai ngửi được, có cảm giác thư thới, thường có hộ pháp thiện thần đến thủ hộ, thường có Thiên nữ đến rải hoa, có đủ thứ cảnh giới đặc biệt thù thắng, không thể nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn!  Tr526. Q23

Do đây có thể biết, chìa khoá thân hôi, hay thân thơm, là do giữ giới hay không giữ giới. Các vị! Tuỳ ý lựa chọn. Nếu muốn thân có mùi thơm, thì phải giữ giới. Nếu muốn thân có mùi hôi, thì không cần giữ giới.

Vị Vua xin xuất gia ... Đức Phật Thắng Nhựt Thân nói: Tuỳ ý nhà ngươi, ngươi hãy tự biết thời, cơ duyên xuất gia đã thành thục chăng. Nếu đã thành thục, thì có thể xuất gia? Nếu thời cơ chưa đến, thì có thể chờ đợi thêm một thời gian.  Tr 560Q23

Lúc đó, ông vua Tài Chủ cùng với mười ngàn người, đều ở chỗ đức Phật, đồng thời xuất gia.

Phật tử! Ý ngươi như thế nào? Thái tử thuở đó, được ngôi Chuyển Luân Thánh Vương, cúng dường đức Phật, đâu phải là người nào khác, chính là đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngày nay vậy. Vua Tài Chủ (Cha Thái Tử) chính là đức Phật Bảo Hoa. Tr563

Cảnh giới mà trong Kinh Hoa Nghiêm nói, đa số là cảnh giới thấy ở trong định. Những cảnh giới nầy, với chỗ thấy của hàng phàm phu hoàn toàn khác nhau, vì trí huệ của phàm phu tưởng không đến được. Hiện tại chúng ta đang nghe Kinh Hoa Nghiêm, phải biết rằng đây là chư Phật Bồ Tát ở trong định diễn nói diệu pháp, hết thảy cảnh giới, sâu rộng khó biết được, chẳng phải là hí luận, mà là trí huệ của chúng ta quá nông cạn, chưa đạt đến được trình độ thấu hiểu.  TR 580

 + Mời đọc bản kinh văn gốc: Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật - Tập 23

HẾT TẬP 23