Tổng hợp về Huyền Linh - Huyền Linh Học - Huyền học - Huyền Bí Học - Huyền Thuật học

1- Huyền Linh (Occult): Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự sống (being) và các động lực hướng dẫn này (springs of conduct) tạo ra biểu lộ ở ngoại cảnh. (LVHLT, 10) + Định luật Huyền linh (Occult law): Con người suy tưởng thế nào thì y trở thành thế ấy (As a man thinketh, so is he). Con người nghĩ đến nơi đâu thì y hiện hữu ở nơi đó (Where a man thinketh, there is he). (ASCLH, 281) 2- Huyền Linh Học (Occultism): -   Nghiên cứu huyền linh học một cách chân chính là nghiên cứu về nguyên nhân và cách diễn biến của hiện tượng. (TVTTHL, 204) -   Nghiên cứu huyền linh học là về các lực, về cội nguồn cùng hiệu quả của các lực đó. (ĐĐTKNM–I, 700) -   Huyền linh học là cách nghiên cứu sáng suốt những gì còn ẩn tàng. (SHLCTĐ, 337) -   Huyền linh học là môn học về cách vận dụng năng lượng, về khía cạnh hút và đẩy của lực. (TLHNM, 317) 3- Nhà Huyền linh Học (Huyền Linh Thuật) và Thần Bí Học: (Chân Sư DK_Xem nguồn) Lưu ý:Cái Trí là kẻ Giết Sự Thật, vậy Đệ tử hãy tiêu diệt kẻ giết  sự thật đó” là câu nói thường được trích dẫn nhiều trong quyển Tiếng Nói Vô Thanh của bà Blavatsky. Tuy nhiên, ta không nên hiểu câu nói trên theo nghĩa đen và bài bác việc phát triển trí tuệ. Phát triển trí tuệ là một tiến trình tự nhiên trong công cuộc tiến hóa của nhân loại, và con người phải đi từ đức tin tới sự hiểu biết, từ phân cực cảm xúc đến phân cực trí tuệ, từ con đường của nhà thần bí (mystic) đến con đường của nhà huyền bí học (occultist). Tuy nhiên trên con đường phát triển trí tuệ đó, có những giai đoạn hạ trí phát triển quá mạnh sẽ dẫn đến tác hại không lường nếu người học đạo không nhận diện ra và điều chỉnh nó, mà một trong những tác hại của nó lạc bước vào con đường tả đạo, như Chân sư DK cảnh báo chúng ta như sau: + Nhà Huyền Linh học thật sự là một nhà khoa học và một người sùng tín, và khi mà hai điều này không hòa hợp vào nhau, chúng ta có nhà thần bí học (the mystic) và con người có nguy cơ thiên về hắc đạo, bị chi phối bởi trí năng (intellect) chứ không phải bởi lòng vị tha. 4- So Sánh Nhà huyền linh học (Occultist) nhà huyền học (mystic): + Nhà huyền học không nhất thiết là nhà huyền linh học, nhưng nhà huyền linh học bao gồm nhà huyền học. + Huyền học chỉ là một giai đoạn trên con đường huyền linh học. Trong Thái Dương Hệ này – Thái Dương Hệ của bác ái đang linh hoạt – con đường ít bị đối kháng nhất đối với đa số là con đường của nhà huyền học, hay là con đường bác ái và sùng tín. Trong Thái Dương Hệ tới, con đường ít bị đối kháng nhất sẽ là con đường mà ngày nay chúng ta hiểu là con đường huyền linh. + Nhà huyền học đề cập tới sự sống tiến hóa, nhà huyền linh học bàn tới hình hài. + Nhà huyền học bàn tới Thượng Đế nội tâm; nhà huyền linh học bàn đến Thượng Đế biểu hiện ở ngoại cảnh. + Nhà huyền học hoạt động từ trung tâm đến ngoại vi, nhà huyền linh học theo tiến trình ngược lại. + Nhà huyền học tiến lên bằng đạo tâm và lòng sùng tín mãnh liệt nhất đối với Thượng Đế nội tâm hay đối với Chân Sư mà y nhận biết được; Nhà huyền linh học đạt đến bằng sự nhận thức về định luật đang ràng buộc vật chất và làm cho định luật đó thích hợp với các nhu cầu của cuộc sống nội tại. Bằng cách này, nhà huyền linh học đạt đến các Đấng Thông Tuệ đang hoạt động theo định luật cho đến khi y đạt đến chính Đấng Thông Tuệ. + Nhà huyền học hoạt động qua cung Bác ái, Hài hòa và Sùng tín hay bằng con đường của cung 2, cung 4 và cung 6. Nhà huyền linh học hoạt động qua cung Quyền lực, Hoạt động và Định luật Nghi thức hay cung 1, 3, và 7. * Cả hai đáp ứng và phối hợp qua sự phát triển của trí hay qua cung 5, cung Kiến thức cụ thể (một phần của thông tuệ vũ trụ), và trên cung 5 này, nhà huyền học chuyển thành nhà huyền linh học và lúc đó làm việc với tất cả các cung. 5- So Sánh Nhà huyền linh thuật và Huyền Linh Học +  Nhà huyền linh thuật tức là nhà huyền linh học (occultist). (ASCLH, 222) + Nhà huyền linh thuật (White magician): -   Nhà huyền linh thuật là kẻ vận dụng mọi năng lực và kiến thức trong việc phụng sự nhân loại. (TVTTHL, 331) -   Nhà huyền linh thuật là kẻ đang tiếp xúc được với linh hồn của mình. Y bén nhạy với và nhận biết được mục tiêu và kế hoạch của linh hồn mình. Y có khả năng thu nhận các ấn tượng từ lĩnh vực tinh thần và ghi nhận các ấn tượng đó vào bộ óc xác thịt của mình. (LVHLT, 57) -   Nhờ có sự chỉnh hợp hữu thức với Chân Ngã và với “Thiên thần” (“angel”) của mình, nhà huyền linh thuật bao giờ cũng là kẻ bén nhạy với các kế hoạch và mục tiêu của mình, do đó, có khả năng nhận được ấn tượng cao siêu. (LVHLT, 60) 6- Định luật căn bản trong Huyền linh học  (Fundamental law in Occultism): Một định luật căn bản trong huyền linh học là không có sự ngưng nghỉ hay chấm dứt chuyển động (motion) trong Thiên Nhiên. Cái có vẻ như ngưng nghỉ chỉ là sự thay đổi từ dạng thức này thành một dạng thức khác, sự thay đổi chất liệu đi đôi với sự thay đổi dạng thức – theo như sự giảng dạy của Vật Lý huyền linh, như vậy, điều này dường như có trước việc khám phá ra luật “bảo tồn vật chất” (“conservation of matter”) rất lâu. Chính nhờ biết được định luật này mà vị được điểm đạo lần thứ tư (La Hán, Arhat) có thể thi thố (perform) được thần thông như là làm tan rã (phân tán, disintegration) vật chất, chuyển di các đồ vật từ nơi này đến nơi khác vv… (GLBN I, 160)

Trích dẫn thêm

+ Ấn Độ với Huyền linh học Một trong những trở ngại chính đối với việc hiểu một cách chính xác các định luật của huyền linh học và áp dụng vào thực tế là sự tương đối non trẻ (newness) của Tây Phương và các thay đổi nhanh chóng vốn là đặc điểm nổi bật của văn minh Âu Châu và Mỹ Châu. Lịch sử Châu Âu chỉ mới có từ ba ngàn năm, còn lịch sử của Châu Mỹ, như chúng ta đã biết, chỉ mới có vài thế kỷ. Huyền linh học phát triển mạnh (florish) trong một bầu không khí được chuẩn bị trong một môi trường thấm nhuần từ điển cao siêu (highly magnetised environment) và trong một tình trạng được sắp đặt vốn dĩ là kết quả của công việc lâu đời trên cõi trí. Đây là một lý do giải thích tại sao Ấn Độ lại là nơi trường sở thích hợp cho nỗ lực tu tập (endeavour). Kiến thức huyền linh học ở nơi đây có từ mười ngàn năm qua và thậm chí thời gian cũng đã ghi dấu lên cơ thể con người, đem lại cho con người các thể vốn không hứng chịu sự đối kháng nào mà các thể của người Tây Phương rất thường vướng phải. Đã từ lâu, môi trường được thấm nhuần bằng các rung động mạnh mẽ của các Đấng Cao Cả đang ngự bên trong xứ ấy, và, trong khi qua lại và do sự thân cận của các Ngài, các Ngài không ngừng từ hóa chất dĩ thái của môi trường. Chính điều này tạo ra một đường lối dễ dàng khác nữa, vì việc từ hóa chất dĩ thái (etheric magnetisation) có ảnh hưởng đến thể dĩ thái của số người được tiếp xúc. Cả hai sự kiện này, thời gian và độ rung động cao, có kết quả là tạo sự ổn định cho tiết tấu vốn làm dễ dàng cho việc rèn luyện huyền linh và tạo được môi trường yên tĩnh cho việc thanh tu. Các tình trạng này không có được ở phương Tây, nơi mà sự sống luôn luôn thay đổi, nơi mà cảnh hoạt động thường chuyển đổi nhanh chóng, tạo ra những vùng xáo trộn rộng lớn, làm cản trở bất cứ công tác nào có bản chất huyền thuật. (LVHLT, 78–79)