Tổng hợp về Năng lượng Trí Tuệ: Thể Trí – Hạ Trí và Thượng Trí – Cõi Hạ Trí

Trích nguồn: MQ1 – Chủ đề 3 – Thể Trí

Và Nhiều Nguồn tổng hợp khác

Gồm các mục:

+ Năng lượng Trí tuệ; Làm an tịnh ChittaHình dung, tưởng tượng; Tóm tắt

+ Sưu tầm ngoài: Thể Hạ trí/ Cõi Hạ trí và các tên gọi khác (Trích từ Tooltip)    

+ Trí tuệ;
+ Hạ Trí; ( Năng lực tĩnh nặng Hạ trí – Trích từ Tooltip); ( Vi tử thường tồn hạ trí – Trích từ Tooltip)
+ Thượng Trí;

+ Các Cung Thể Trí (Từ Cung 1 đến Cung 7), xét các dạng người theo mức tiến hóa

+ Bảng tổng hợp Thể trí các Cung 1 – 4 – 5 (Thường có cho nhân loại hiện nay)

+ Bảy Nhánh Tri Thức – Định nghĩa Minh Triết Tinh Thần/ Thiêng Liêng (Trích từ Tooltip)

+ Thanh luyện thể hạ trí (Trích từ Tooltip)

+ Trí Thiên Thần (Trích từ Tooltip)

+ Các Giấc Mơ có bản chất Thể trí )Trích từ Tooltip)

+ Trí tuệ chân thật (Pháp Sư Tịnh Không)

 

NỘI DUNG CHI TIẾT

+ Năng lượng Trí tuệ

Ý tưởng và tư tưởng khiến cho chất liệu cõi trí kết hợp lại thành một hình thể, một hình thể trên cõi trí mà chúng ta gọi là hình tư tưởng. Hình tư tưởng này đến lượt nó ảnh hưởng đến thể tình cảm của chúng ta, khiến cho vật chất cõi tình cảm bị thu hút vào hình tư tưởng và gắn vào nó. Bấy giờ chúng ta có một tạo vật trí-cảm. Ở cấp độ tiếp theo, vật chất cõi trần bị thu hút vào và điều này dẫn đến những kết quả hữu hình, chẳng hạn như một hành động hoặc một hình thể (ví dụ một cuốn sách, một hành vi, một phát minh). Đáp ứng trên cõi trần này là kết quả của một chuỗi sự kiện đã xảy ra trước trong trường trí tuệ và cảm xúc của chúng ta.

Trong giai đoạn đầu của việc phát triển những khả năng trí tuệ của chúng ta, chúng ta không thể làm cho nhiều tư tưởng của chúng ta biểu hiện ở cõi trần. Chúng không thể hoàn thành mục đích dự tính bởi vì trong giai đoạn đó chúng ta không thể hình thành những tư tưởng có đủ sức mạnh trí tuệ và với sự rõ ràng để thúc đẩy nó với một lực đủ mạnh và gây được hiệu quả đáng chú ý.

Bản chất của tư tưởng chúng ta không chỉ gây ra sự xuất hiện của cảm xúc và hành động, nó còn quyết định xem những điều đó là dễ chịu hay khó chịu, có tính xây dựng hay phá hoại (hoặc hữu ích hay gây tổn thương). Trong huyền bí học, những cái giống nhau thu hút lẫn nhau. Những tư tưởng không ích kỷ, có động cơ đúng đắn sẽ tạo ra những cảm xúc mang tính xây dựng, và kết quả sẽ tạo ra hành động đúng đắn. Điều ngược tất nhiên cũng đúng: suy nghĩ ích kỷ hay phá hoại hoặc gây tổn thương sẽ gây ra những cảm xúc đau đớn và hành động sai lầm.

+ Làm an tịnh Chitta (Chất trí)

Như đã nêu, một tư tưởng tạo ra năng lượng tương xứng với tiềm năng tư duy của chúng ta. Trong quá trình làm cho suy nghĩ của chúng ta sáng suốt, tập trung và mạnh mẽ, chúng ta phải học cách để làm an tịnh trí tuệ và kiểm soát các sự xáo động của nó—hay là các Chitta. Cũng giống như chúng ta phải kiểm soát bất kỳ biểu hiện bất thường của dục vọng thấp kém, chúng ta cũng phải làm như thế đối với các biểu hiện của hạ trí. Chúng ta phải làm an tịnh “chitta” vốn là kết quả của hoạt động hạ trí quá mức và những tư tưởng bất chợt gây nhiễu – một loại “nhiễu trắng” (white noise) của tâm trí. Chúng ta cần phải học cách nhận ra sự không hiệu quả của năng lượng trí tuệ này và cố gắng để khai thác chúng và dẫn dắt chúng nhằm đạt được các kết quả mang tính xây dựng. Điều này chúng ta thực hiện bằng cách tham thiền và nỗ lực tập trung để giữ thể trí ổn định, và ở một giai đoạn nào đó trên con đường tâm linh, giữ thể trí ổn định trong ánh sáng của linh hồn.

Sự biến dạng cũng xảy ra trong trường năng lượng cảm xúc và xác thân của chúng ta khi các nguồn năng lượng trong các thể này ở trong tình trạng bị xáo trộn hoặc không kiểm soát được. Chúng ta hoạch đắc được tri ​​thức về thế giới từ những gì chúng ta nhận thức được thông qua các giác quan của chúng ta, được lọc bởi những cảm xúc, và thể hiện bằng hạ trí của chúng ta. Năng lượng không được kiểm soát trong phàm ngã của chúng ta ngăn cản ánh sáng từ linh hồn và ngăn chặn những tri thức đúng đắn đi vào thể trí của chúng ta. Khi phàm ngã mong muốn đạt được tất cả sự minh triết của linh hồn, chúng ta phải trang bị cho mình cách sử dụng năng lượng của thể trí để xua tan những sai lầm và làm hiển lộ chân lý.

Bằng cách suy nghĩ tập trung từ trái tim (một điểm của tình thươngminh triết), chúng ta thể hiện tâm thức của linh hồn chúng ta. Khi chúng ta phát triển trí tuệ và học cách để tập trung vào cõi trí trong khi tham thiền, chúng ta càng lúc càng nhận thức được nhiều hơn về sự tồn tại của linh hồn chúng ta và mục đích của chúng ta sẽ thay đổi để phù hợp hơn với mục đích của Linh Hồn.

+ Hình dung, tưởng tượng và sự khẳng định là những kỹ thuật mạnh mẽ mà chúng ta sử dụng để thể hiện những gì mà trí chúng ta nhận thức được. Việc hình dung tạo ra năng lượng trí tuệ tụ quanh một tư tưởng và tập trung vào đó; khi chúng ta thêm vào đó sức mạnh của trí tưởng tượng, chúng ta có thể tạo ra một hình ảnh trí tuệ có sức sống và động lực cần thiết để truyền tải đi. Chúng ta tưởng tượnghình dung hướng đi của nó, hiệu quả tiềm tàng và kết quả mà nó có thể tạo ra. Quá trình điều hướng năng lượng trí tuệthể trở thành một thói quen và xảy ra khá dễ dàng khi chúng ta thực hành thường xuyên và kiên trì. Vì vậy, chúng ta cần trang bị cho mình để đưa nguồn năng lượng lớn lao hơn vào tư tưởng của chúng ta và tạo ra những thay đổi đáng kể.

Chúng ta có thể sử dụng những kỹ thuật này để bồi dưỡng một tương đồng chặt chẽ hơn giữa các nguồn năng lượng của phàm ngã và của linh hồn chúng ta, tức là một sự chỉnh hợp chặt chẽ hơn. Ví dụ, chúng ta có thể tạo ra hình ảnh trong trí của những phẩm chất mà chúng ta muốn tạo ra trong phàm ngã của chúng ta. Ví dụ, nếu chúng ta muốn trở thành người cho đi nhiều hơn, chúng ta có thể tạo một kịch bản trong trí của chúng ta để miêu tả một sự thay đổi của hành vi đó, thể hiện rằng chúng ta đã trở người dám cho đi nhiều hơn. Trong trí tưởng tượng của chúng ta, chúng ta áp dụng một trạng thái mong muốn trong tương lai vào tình trạng hiện tại của chúng ta, phóng chiếu vào phàm ngã của chúng ta cách hành xử giống với cách ứng xử của linh hồn nhiều hơn. Bằng cách nhìn thấy, cảm nhận và hành động phẩm chất này trong trí tuệ của chúng ta, chúng ta tạo ra con đường để phẩm chất này thực sự hiển lộ bên trong chúng ta¾để thay đổi từ trạng thái “giả định” sang thực tế. Năng lượng thực sự theo sau tư tưởng và chúng ta có thể áp dụng những kỹ thuật trí tuệ để trau dồi và mở ra những phẩm chất của linh hồn, xây dựng tương lai, và tưởng tượng một thế giới tốt đẹp hơn.

Suy nghĩ đúng đắn tạo ra hành động đúng đắn. Thông qua sức mạnh của trí tuệ được soi sáng, chúng ta có thể thể hiện thông tuệ trí, tình thương, minh triếtý chí của Linh hồn chúng ta. Bằng cách vận dụng năng lượng của một trí tuệ được soi sáng, chúng ta có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta; bằng cách thay đổi cuộc sống của chúng ta, chúng ta có thể thay đổi thế giới.

++ Tóm tắt:

Thể trí của chúng ta, nhà sản xuất tư tưởng, tạo ra thực tại của chúng ta. Chúng ta sử dụng năng lượng trí tuệ để tạo nên hình tư tưởng, hình dung, tưởng tượng, v.v để biến những ý định của chúng ta biểu hiện ra trên thế giới. Vật chất trí tuệ đáp ứng với cả ý chí thấp hoặc ý muốn cao hơn hay ý chí của linh hồn. Phàm ngã có ý định phục vụ cho mục đích riêng của nó, trong khi linh hồn có ý định yêu thương và vị tha. Khi chúng ta đã mở rộng hoặc tăng cường sự kết nối với linh hồn, linh hồn sẽ trở thành Nhà Tư Tưởng sử dụng năng lượng trí tuệ để biểu hiện tư tưởng thiêng liêng của mình.

+++ Sưu tầm ngoài: Thể Hạ trí/ Cõi Hạ trí và các tên gọi khác (Đã có Tooltip)

Thể hạ trí (Mental body, Lower mind, Lower Manas):
(Trích tên khác từ: Facebook TT Học:  Cõi hạ trí, hay cõi Devachan, hay cõi Thiên đường)
+ Thể hạ trí hay hầu như chất trí (chitta or mind stuff) mà một con ngườibiệt có thể sử dụng và tạo ấn tượng, tạo thành thể thứ tư của một loạt các bộ máy dành cho linh hồn. Đồng thời, đừng nên quên rằng 4 thể này tạo ra một bộ máy duy nhất. (CTNM, 3)
+ Trong hai hiện thể thấp nhất, thể xácthể cảm dục, chỉ có vật chất của năm cõi phụ cao (với các cõi theo thứ tự của chúng), vì vật chất của hai cõi phụ thấp nhất thì quá thấp đối với deva hoặc thể con người, chúng đã chi phối trong Thái Dương Hệ thứ nhất.

+ Thể hạ tríthể đầu tiên mà chúng ta thấy có vật chất (matter) của tất cả các cõi phụ.
+ Thể hạ trí được cấu tạo bằng bốn loại tinh chất (four types of essence) mà thôi, còn thể cảm dụcthể xác được tạo thành (formed) bằng bảy loại. (LVLCK, 576, 1098)

Có ba nhóm trí tuệ mãnh liệt kích động bản chất dục vọng:
(Xem: Các rồi loạn Trí tuệ về Chia rẽTích hợpKích thích, Ảo ảnh, Ảo tưởng, Ảo cảm và cách chữa trị)

Xem: Năng lượng Trí tuệ – Các Cung (1-7) Thể Trí – Hạ TríThượng TríCõi Hạ Trí

+ BÀI THAM THIỀN SỐ 3: TÀI LIỆU HỌC SỐ #2

+ TRÍ TUỆ: Nhân loại ngày nay đang chứng kiến ​​một sự tăng tốc đáng kể trong sự phát triển của trí tuệ. Internet thúc đẩy mạnh mẽ việc tích lũy kiến ​​thức của con người ở mọi lứa tuổi. Kiến thức ở trong tầm tay của chúng ta, do đó khả năng trí tuệ của chúng ta có thể được dành cho việc xử lý các kiến ​​thức này để tăng cường khả năng hướng đến tư duy đúng đắn, đưa ra các quyết định có hiểu biết, và dự đoán những gì có thể diễn ra trong tương lai.

Khi nhân loại bước vào di sản của trí tuệ, đã xuất hiện đồng thời một số lượng lớn các sách về trí tuệ sáng tạo, và có rất nhiều nhóm giảng dạy về sức mạnh của trí tuệ trong việc định hình cuộc sống của chúng ta. Ngày nay các nhà tư tưởng lỗi lạc và những người lao động sáng tạo là những người đầu tiên đáp ứng dễ dàng nhất với các xung động về trí tuệ. Hiện nay họ là một nhóm thiểu số, vì hầu hết mọi người vẫn còn đang đáp ứng với các xung lực xuất phát từ những tình cảm và dục vọng của chúng ta. Đây là lý do tại sao việc huấn luyện về tham thiền huyền môn rất quan trọng, để dạy cho nhân loại làm thế nào để phát triển trí tuệ và sử dụng năng lực trí tuệ đến mức tối đa.

“Không có gì có thể truyền đạt được vẻ đẹp và chân lý mà không được thể hiện trên thể trí, nhưng ngoài vẻ tráng lệ này mỗi người chỉ nhìn thấy những điều mà sự phát triển của anh ta cho phép anh ta lĩnh hội được”.[1]

Trí tuệ là gì?

Thể trí là khí cụ tư duy bên trong phàm ngã của chúng ta. Nó nằm trong vật chất trí tuệ và tạo ra các hình thể từ vật chất trí tuệ này, hay là các hình tư tưởng. Một chức năng quan trọng khác của nó là hoạt động như là sứ giả giữa linh hồnphàm ngã.

Trí tuệ được chia thành hạ trí, cái mà chúng ta gọi là trí cụ thể, và thượng trí, cái mà chúng ta gọi là trí trừu tượng. Trí tuệ của chúng ta tiến hóa qua nhiều kiếp sống phát triển trí tuệ và tư duy đúng, cho đến một lúc nào đó chúng ta trải nghiệm đủ cả hai cấp độ cao và thấp của trí tuệ. Sự phát triển của trí tuệ song hành với khả năng của chúng ta đạt đến cảnh giới của các ý tưởng, các ý niệm cao siêu, các tư tưởng gây hứng khởi, v.v. Thượng trí được cấu tạo từ các chất liệu trí tuệ tinh tế nhất và là nguồn gốc của những ý tưởng vĩ đại thể hiện Chân Lý, Mỹ lệ, Công Lý, v.v.

Trong sự phát triển trí tuệ, chúng ta tiến từ nhận thức trong hạ trí cụ thể đến nhận thức trong trí trừu tượng.

Dưới đây là những đặc điểm của hai thành phần trí tuệ:

+ Hạ trí:

  1. Thu đạt kiến thức.
  2. Nhận và xử lý thông tin từ năm giác quan.
  3. Phân biệt, phân chia, phân tích, liên lệ, suy nghĩ, học hỏi và suy diễn sự việc.
  4. Tạo hình tư tưởng, hình ảnh, lời nói.
  5. Nằm trong cảnh giới của ảo tưởng cho đến khi nó không còn bị tác động bởi dục vọng, kiêu căng và định kiến.
  6. Sáng tạo bởi vì năng lượng theo tư tưởng.

Hạ trí hoặc trí cụ thể chịu trách nhiệm của cái gọi là khả năng nhận thức của chúng ta. Chúng bao gồm việc suy nghĩ, suy luận, phân tích, so sánh, học tập, hình dung và phân biện. Chúng ta có thể nói rằng tất cả các hoạt động thông thường được gán cho não bộ thuộc về trí cụ thể. Não bộ là một thành phần của thể xác của chúng ta và nó không suy nghĩ. Nó chỉ đơn giản là một công cụ tinh tế nhất đáp ứng với hoạt động của thể trí và chuyển nó thành hành động trong cõi hồng trần.

– Sưu tầm bổ xung: Năng lực làm tĩnh lặng thể hạ trí sao cho tư tưởng từ các phân cảnh trừu tượng và từ các cảnh giới trực giácthể tìm được một trang giấy tiếp nhận có thể ghi chính các tư tưởng lên đó. Ý tưởng này đã được nhiều sách nói về định trí và tham thiền giải rõ nên tôi không cần nói rõ thêm. Đó là kết quả của việc thực hành vất vả trong nhiều năm.

– Sưu tầm bổ xung: Vi tử thường tồn hạ trí (Mental unit): Vi tử thường tồn hạ trí cũng ở trên cõi trí. (ĐNLVTD, 222) – Vi tử thường tồn hạ trí chỉ có 4 vòng xoắn ốc (spirillae, loa tuyến); (LVLCK, 775)

  • Sưu tầm bổ xung:

+    Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dungtưởng tượng. Thể trí có hai thành phần, hạ trí (trí cụ thể) và thượng trí (trí trừu tượng).(MQ-Hình dung7 cung)

+   Thể Trí: Là hình bầu dục, bao quanh thể xác và phần nhiều ló ra ngài thể xác. Những hình tư tưởng đủ loại vẫn đang liên tục luân chuyển qua đó (GQ1.1-Con người-Tâm thức)

Đức Phật Gautama đã nói rằng Thể Trí có thể làm cho một Người thành một vị Phật hay một con Thú!

Nơi người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục (kama), tạo thành bản chất tâm thông thấp. Người này đang nhìn xuống vào ngoại giới, liên tục tìm kiếm những cách thức để làm thỏa mãn những nhu cầu của y. Thể trí này không được tự do hành động theo ý nó. Nó bị buộc chặt với bản chất cảm dục. Nó là nô lệ của thể cảm dục này!
Xem thêm: Thể trí – Trí tuệThượng tríHạ trí và An định thể trí (MQ)

Xem thêm: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạohành Tinh

Xem thêm: Mục tiêu tinh thần, con ngườitâm thức (Cấu tạo C.Người và các thể; Thái dương thiên thần; các trình độ Tâm thức)

Xem thêm: Nhận dạng và Bảng liệt kê so sánh biểu hiện các Cung

(Xem: Các rối loạn Trí tuệ về Chia rẽ, Kích thích, Tích hợp và cách chữa trị )

+ Thượng trí:

  1. Cảnh giới của các ý tưởng thiêng liêng, các nguyên lý, tư duy trừu tượng, nguyên mẫu, bản thiết kế
  2. Khả năng tạo ra mô hình mà theo đó các hình tướng được tạo dựng ra
  3. Lý trí thuần khiết, không bị cản trở bởi những những giới hạn của các cấp độ hạ trí
  4. Tổng hợp và không chia rẻ như trí cụ thể.

+ Phàm NgãHạ trí và tên khác các Thể thấp (Sưu tầm; đã có Tooltip – Phàm Ngã)
Tôi chợt nhớ ra một điều nên có một số chú thích muốn nhắn gửi đến các bạn xem các sách vở do tôi tải lên.
Có một số thuật ngữ trong các sách này khác với các sách khác, nhưng vẫn cùng một nghĩa như sau:
Thể dĩ thái, hay thể ether, thể phách.
Thể cảm dục, hay thể astral, thể vía.
Thể xác, hay thể vật lý, thể hồng trần.
– Các phân cảnh dĩ thái 1, 2, 3, 4 hay các phân cảnh ether 1, 2, 3, 4.
Cõi cảm dục, hay cõi trung giới, cõi dục giới.
Cõi hạ trí, hay cõi Devachan, hay cõi Thiên đường.
(Nguồn: Facebook Thông Thiên Học)

+ Quá trình từ tư tưởng đến hành động:

Có một quá trình từ suy nghĩ đến hành động, một chuỗi các diễn biến có nguồn gốc từ trong trí chúng ta như sau:

  1. Một ý tưởng tạo ra một phản ứng trong chất liệu trí tuệ của trí cụ thể của chúng ta.
  2. Chất liệu trí tuệ bị thu hút đến ý tưởng và bao quanh nó, tạo ra một hình thể trí tuệ – một hình tư tưởng.
  3. Hình tư tưởng này đi xuống đến thể tình cảm và nhận được năng lượng của chất liệu cõi tình cảm.
  4. Cuối cùng hình tư tưởng đạt tới thể xác, bộ não đáp ứng, và tư tưởng thể hiện ra bên ngoài thành hành động trên cõi trần – một biểu hiện hữu hình của một tư tưởng vô hình.

Mức độ phát triển của trí tuệ mà chúng ta đạt được ấn định phẩm chất và hiệu quả của hình tư tưởng chúng ta. Sự chỉnh hợp giữa phàm ngãlinh hồn trong lúc tham thiền cho phép trí tuệ trở thành sứ giả ngày càng có hiệu quả giữa linh hồn và hai thể khác của phàm ngãthể tình cảmthể xác. Độ tinh khiết và tinh tế của cả hai thể tình cảmthể xác có tầm quan trọng cực kỳ trong việc khiến hình tư tưởng không bị che phủ hoặc lệch lạc.

+ Tại sao phải phát triển trí tuệ?

Việc kiểm soát, rèn luyện và phát triển của trí cụ thể được thực hiện trong giai đoạn đầu trên con đường tâm linh.

Mục đích của việc phát triển trí cụ thể là làm cho nó có thể tiếp nhận những ấn tượng từ linh hồntừ trí trừu tượng. Hơn nữa, thể trí là nguồn gốc của sự kiểm soát đối với cả hai thể tình cảmthể xác, và do đó nó có một vai trò quan trọng trong quá trình gắn kết phàm ngã.

Và như chúng tôi đã trình bày, cái trí là phương tiện liên lạc giữa phàm ngãlinh hồn – vị sứ giả. Một thể trí giữ ổn định trong ánh sáng của linh hồn sẽ tiếp nhận được sự minh triết từ trên cao và có thể chuyển dịch minh triết này thành hành động đúng đắn. Nó vừa là máy thu và máy phát năng lượng từ cả hai phía: từ bên dưới và từ trên cao.

+ Làm thế mà trí tuệ phát triển?

Các thuộc tính của vật chất thể trí giống như các thuộc tính của chất khí: biến động, liên tục di chuyển, có thể chịu tác động tạo ấn tượng, hay thay đổi, “tâm viên” hay hạ trí thiếu tập trung và ổn định. Tuy nhiên, sau khi được huấn luyện trí tuệ trở nên ổn định, có khả năng tư duy logic, nó có thể yên tĩnh dưới áp lực, và có thể suy nghĩ rõ ràng, tạo ra các khái niệm.

Thuộc tính khác của thể trí mà chúng ta cần phát triển là: kiểm soát tư tưởng, giữ trí tuệ yên tĩnh, kiểm soát hành động, tính khoan dung, sự bền chí, tính khiêm nhường, mềm dẻo, và bao gồm. Sau này, một khi trí đã an tịnh và có thể tiếp nhận được những chân lý cao hơn, có thể phát triển thêm tính phân biện giữa thực và ảo thông qua việc phá tan ảo tưởng.

Tham thiền là một công cụ hiệu quả nhất để phát triển trí tuệ. Tham thiền phát triển sức mạnh của thể trí để giữ nó trong ánh sáng, và trong ánh sáng đó, nó nhận thức được các ý tưởng thiêng liêng và mang chúng đến thế giới.

[1] Diễn giải từ Arthur E. Power, Thể trí, tr.156

5 . CÁC TÍNH CHẤT CỦA CUNG THỂ TRÍ

+ Cung Thể Trí thuộc Cung Một

Mãnh liệt, nhanh chóng, mạnh mẽ. Một thể trí tổng hợp, nhìn thấy sự việc rộng rãi, và tập trung vào các nguyên tắc, các quá trình tư duy như laser, trong suốt như kim cương tách ra các điều căn bản từ cái không căn bản. Độc lập và thẳng thắn, không thay đổi trong tư tưởng và ý kiến, dứt khoát, vắn tắt và đi thẳng vào trong tư tưởng và lời nói. Một thể trí “thực tế”, nhất tâm, tập trung, có tổ chức, có ưu tiên.

Thể trí Cung 1 : (DNA I, 219) Cung thể trí của bạn cũng là cung một. Điều này có nghĩa rằng thể trí thông minh của bạn có thể thống trị khi cần và có thể mạnh mẽ hơn nhiều khi biểu lộ so với lúc bình thường.

Thể trí Cung 1: Ở NGƯỜI KÉM TIẾN HÓA

1. Ý chí muốn sống hay muốn biểu lộ trên cõi trần.

2. Do đó, xung lực thể hiện như bản năng tự bảo tồn.

3. Khả năng chịu đựng, bất kể những khó khăn nào.

4. Sự cô lập độc đáo. Người luôn luôn là “Một người đứng một mình.”

Thể trí Cung 1: Ở NGƯỜI TIẾN HÓA

1. Ý chí giải thoát hay muốn biểu lộ hữu thức trên cõi của linh hồn.

2. Khả năng phản ứng với thiên cơ, hoặc đáp ứng với ý chí Thượng Đế được nhận thức.

3. Nguyên lý bất tử.

4. Tính kiên trì hoặc sức chịu đựng trên Đường Đạo.

+ Thể trí Cung 2, 3: cung này không chế ngự thể trí, ngoại trừ các đệ tử.

Thể trí Cung BaMột trí năng mạnh mẽ và nổi bật. Một loại thể trí rộng rãi bao quát. Một người đang len lỏi, hoạt động không ngừng, linh động, linh hoạt, lời lẽ cao, hay giao tiếp, có khả năng hoạch định và lên kế hoạch, có lý luận và tháo vát, khả năng phân tích cao, phát biểu, khả năng suy luận, không dựa vào kinh nghiệm, hay chỉ trích và thích tư duy trừu tượng. Điểm yếu của nó là nó có thể không quan tâm đến tính chính xác, quá tổng quát hoá, và đãng trí.

+ Cung Thể trí thuộc Cung Bốn

Thể trí có tính trực giác này nhiệt tình và rất mãnh liệt. Đó là thể trí nghệ thuật – âm nhạc, văn học, mỹ thuật, tạo hình ảnh, thơ, kịch, tính phóng đại, vẻ đẹp nhạy cảm. Nó nhanh trí và không gò bó, và thích chơi. Nó là một thể trí “bắt cầu” – liên kết, cân nhắc, cân bằng, phân giải, hợp nhất, trung gian, hòa giải, do dự, mâu thuẫn, thiếu quyết đoán. Nó bâng khuâng – tới lui, lên xuống, phấn khởi, rồi thì chán nản. Một đặc điểm tích cực là kỹ năng của nó trong việc làm trung gian hòa giải. Đó là chiến binh có thể trí xông xáo, giằng xé nội tâm, đấu tranh, căng thẳng do khủng hoảng, đối kháng và mâu thuẫn. Khi bạn theo dõi các cá nhân với một thể trí cung bốn đang làm việc, bạn thường có thể nhìn thấy đầu hoặc nét mặt của họ di chuyển từ bên này sang bên kia.

Không dựa trên lý trí, nó thấy một đặc điểm nổi bật trong những hình ảnh. Nắm bắt các khái niệm, và dịch những ý tưởng của nó (các hình ảnh / bản chất / màu sắc) thành các từ ngữ có thể là một nỗ lực lớn, và nó thường giao tiếp tốt hơn thông qua văn bản hoặc một phương pháp nghệ thuật nào đó . Nó thường bị đe dọa bởi cung thể trí 1, 3, 5 – bởi vì nó thường không xử lý các sự kiện nhanh như thể trí các cung này. Thể trí cung 4 đã phát triển sẽ truyền tải các sự kiện với vẻ đẹp tuyệt vời; còn thể trí chưa phát triển thì mơ hồ và không chính xác.

Thể trí của mỗi con người, ở một thời điểm nào đó, được tìm thấy trên cung thứ tư và thường là khi con người đang tiến gần con đường dự bị. Điều này có nghĩa rằng thể trí bị chi phối bởi một nguyên tố có bản chất hoặc tính chất cung 4 và do đó, hoạt động sáng tạo, nghệ thuật là đường lối ít đối kháng nhất. Bấy giờ chúng ta có một người với một khuynh hướng nghệ thuật, hay chúng ta có một thiên tài theo một đường lối hoạt động sáng tạo. (EPII 292)

Thể trí Cung 4 (DNA I, 133) Thể trí của bạn ở trên cung 4, Cung Hài Hòa thông qua Xung Đột, và đó là tính dễ uốn nắn của bạn, ý thức của bạn về mối quan hệ, và sự nắm bắt nhanh chóng của mình về sự thật trí tuệẢo tưởng sẽ luôn luôn là một cái bẫy sẵn sàng hơn cho bạn so với ảo cảm. Cung Hài Hòa thông qua Xung Đột này là cung cầu nối sẽ, trong trường hợp của bạn và thông qua thể trí, mang lại một sự thiết lập tiếp xúc ngày càng nhanh chóng giữa linh hồn và phàm ngã của bạn.

Thể trí Cung 4: (DNA I, 447) Thể trí của bạn ở trên cung 4, Cung Hài Hòa thông qua Xung Đột. Tuy nhiên, với bạn, sự biểu lộ chính của hoạt động này nên liên quan với những người mà bạn phải làm việc với họ trong lĩnh vực phụng sự sự sống mà bạn chọn; sự hài hòa đạt được là việc giải quyết cuộc xung đột trong cuộc sống của những người xung quanh bạn đang trong quá trình điều chỉnh với sự sống. Các mâu thuẫn trong bạn được bạn hiểu và có thể được giải quyết nhanh chóng. Đó là ảnh hưởng của thể trí của bạn lên người khác mà tôi muốn bạn xem xét rõ ràng nhất. Trên con đường dự bị, các mãnh lực của bản chất thấp của con người và tác động bên trong của chúng thì rất quan trọng; y phải học cách tự biết mình. Trên con đường đệ tử, cũng các mãnh lực này phải được nghiên cứu trong mối quan hệ với những người mà số phận, nghiệp quả và sự lựa chọn nghề nghiệp đã đưa người đệ tử đến với họ. Trên con đường điểm đạo, các mãnh lực tương tự được sử dụng trong sự hợp tác hữu thức với Thiên Cơ, và với kỹ năng thích hợp trong hành động, do các bài học kinh nghiệm đã được học trên các giai đoạn đầu của đường đạo.

Thể Trí Cung Bốn – Ở NGƯỜI KÉM TIẾN HÓA

1. Tính hay công kích và sự thúc đẩy cần thiết đó hướng tới mục tiêu được cảm nhận vốn phân biệt với người phát triển. Mục tiêu này, trong các giai đoạn đầu, sẽ có tính vật chất.

2. Tinh thần chiến đấu hay tinh thần đấu tranh tư tưởng vốn cuối cùng [Trang 292] mang lại sức mạnh và sự tự tin, và tạo ra sự hội nhập cuối cùng với trạng thái thiêng liêng thuộc cung thứ nhất.

3. Lực cố kết đó vốn làm cho một người thành một trung tâm thu hút, cho dù là mãnh lực chính trong bất kỳ sự thống nhất nhóm nào, chẳng hạn như cha mẹ hoặc một người cai trị, hoặc một Chân Sư trong mối quan hệ với nhóm của Ngài.

4. Quyền năng sáng tạo. Trong các loại người thấp kém, điều này được liên kết với xung lực, hoặc bản năng, để tái tạo, do đó, dẫn tới quan hệ phái tính; hoặc nó có thể dẫn đến việc xây dựng các hình tư tưởng hoặc các hình thức sáng tạo thuộc loại nào đó, mặc dù đó chỉ là túp lều của một người man rợ.

Thể trí Cung Bốn – Ở NGƯỜI TIẾN HÓA

1. Tinh thần Arjuna. Đây là sự thôi thúc hướng tới chiến thắng, duy trì một vị trí giữa các cặp đối lập, và ý thức cuối cùng về trung đạo.

2. Sự thôi thúc tổng hợp (lại là một xung lực thuộc cung 1) được phối hợp với một xu hướng cung hai để yêu thương và bao gồm.

3. Tính chất thu hút của linh hồn khi nó tự thể hiện bản thân trong mối quan hệ giữa bản ngã thấp và cao. Điều này dẫn đến “cuộc phối ngẫu ở các cõi Trời.”

4. Quyền năng sáng tạo các hình thể, hay sự thúc đẩy nghệ thuật.

+ Cung Thể trí thuộc Cung Năm

Một thể trí có tính phân tích và chính xác – là nhà tư tưởng có tính khoa học. Không thiên vị và không bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc, nó thẳng thắn, dựa trên lý trí, hợp lý và rất chính xác. Nhận thấy toán học là dễ dàng. Nó cũng rất chi tiết, và khi tự diễn đạt bằng văn bản thì nó dài dòng, với nhiều sự kiện. Nó bất kính, hoài nghi đối với nhà thần bí và người tu hành, và xem thường bất cứ điều gì không thể được chứng minh một cách khoa học. Dành thời gian của nó để suy nghĩ trước khi nói và sau đó đưa ra những lời bằng giọng đều đều, chú trọng vào các sự kiện. Tạo ra các nhà khoa học và các nhà kỹ thuật.

Thể trí trong trường hợp của bạn được chi phối bởi năng lượng cung năm. Đây là một tình trạng rõ rệt và tạo ra nhiều khó khăn trong cuộc sống của bạn. Trong trường hợp của tất cả những người tìm đạo, như vậy nó bị qui định về mặt trí tuệ, nguyên nhân tối quan trọng của hành vi thiếu tính thu hút của họ, khi sử dụng từ ngữ đó theo các hàm ý về tâm lý của nó. Tôi muốn nhắc nhở bạn rằng việc thiếu tính thu hút ở giai đoạn phát triển của bạn có nghĩa là (mặc dù bạn có thể có một mức độ nào đó trong việc tiếp xúc với linh hồn), bạn không thể tỏa chiếu sự sống linh hồn đó tới người khác như bạn muốn làm, vì thể trí cung năm thống trị của bạn (Cung Khoa học Cụ Thể, như bạn biết) bị cách ly, bị cô lập và có xu hướng tự nhiên hướng tới sự phân biệt vốn dẫn đến sự chia rẻ. Hiệu ứng ngược lại cũng đúng. Sự tỏa chiếu của những người khác cũng có thể bị tắt đi và do đó bạn không thể ghi nhận các ấn tượng thần giao cách cảm. Tuy nhiên giá trị của một thể trí cung năm rất lớn, vì nó có nghĩa là một thể trí sắc sảo và hữu ích (hãy suy ngẫm về điều này) là một cánh cửa mở ra cho sự linh hứng. (DNA I, 120)

Thể trí của bạn ở trên cung thứ năm …. Thể trí cung năm này mang đến cho bạn bản chất tò mò, hay dò hỏi vốn là một trong những đặc điểm nổi bật của bạn – một tài sản tuyệt vời khi được sử dụng đúng đắn; là một vấn đề khó khăn lớn và vật cản trở thực sự với dòng nhập lưu của ánh sáng linh hồn khi bị quá chú trọng. (DNAI, 351)

Thể trí Cung Năm – Ở NGƯỜI KÉM TIẾN HÓA

1. Năng lực phát triển tư tưởng.

2. Tinh thần táo bạo có tính duy vật, sự thôi thúc thiêng liêng, khi nó tự chứng tỏ bản thân trong những giai đoạn đầu.

3. Các xu hướng nghi vấn, đặt câu hỏi và tìm hiểu. Đây là bản năng để tìm kiếm và để tiến bộ, xét cho cùng, vốn là sự thôi thúc để tiến hóa.

4. Xu hướng kết tinh, chai cứng, hay có một ” định kiến”. Về việc này, người ta thường sẽ phát hiện ra rằng người không chống nỗi một “định kiến” không chỉ có một thể trí cung năm mà còn có hoặc một phàm ngã cung sáu, hoặc một thể cảm dục cung sáu.

Thể trí Cung Năm – Ở NGƯỜI TIẾN HÓA

1. Nhà tư tưởng chân chính, hoặc loại người trí tuệ – tỉnh táo và lanh lợi.

2. Người hiểu biết Thiên Cơ, mục đích và ý chí của Thượng Đế.

3. Người mà trí thông minh đang được chuyển hóa thành minh triết.

4. Nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà văn.

+ Thể trí Cung 6, 7: cung này không chi phối thể trí, ngoại trừ các đệ tử.

Thể trí Cung Một Thể trí Cung Bốn Thể trí Cung Năm
Kiên quyết trong tư tưởng và ý kiến, thể trí quả quyết, nhất tâm, thực tế. Thể trí dao động, nước đôi, do dự, chao đảo từ sự hiếu động thái quá đến trạng thái uể oải. Thể trí nghiêm ngặt, đúng đắn, chính xác, đúng thật, biết chắc thực tế, chân thật.
Thể trí lập bản đồ, vẽ phác thảo, tổng hợp, các tiến trình tư tưởng không bị tô vẽ, có tổ chức – có tính ưu tiên; thể trí huyền bí. Một thể trí “nhạy cảm” (“feeling”), thể trí có tính trực giác, thiếu lý trí, có óc thẩm mỹ, nhạy cảm với vẻ đẹp – thể trí có tính nghệ thuật, âm nhạc, thơ phú và văn chương, bị giằng xé, đầy đấu tranh nội tâm, bị căng thẳng vì khủng hoảng, Thể trí có tính hội tụ, tập trung cao, có tính khoa học, kỹ thuật, toán học, định lượng, liệt kê, đo lường, sắc sảo, nhạy bén, xác định. Thể trí thiếu trí tưởng tượng, thiếu trực giác, theo đúng nghĩa.
Một thể trí nổi trội và gây ấn tượng sâu sắc, thẳng thắn, phê phán, năng nổ. Thể trí thống nhất, tích hợp, tổng hợp, “không chia rẻ”, làm cầu nối, liên kết, làm trung gian, hòa giải, phân giải, làm hòa hợp, có cân nhắc, làm cân bằng, làm hòa thuận. Thể trí phân tích sâu sắc, có tính phân biện, tách biệt.
Không bàn đến chi tiết, tập trung vào sự việc rộng lớn, nhảy đến các kết luận. Thể trí hình dung, hư cấu, diễn cảm, đầy màu sắc, đầy ấn tượng – Thể trí nhìn thấy bằng hình ảnh, kịch tính, cường điệu. Tiến trình tư tưởng tỉ mỉ – tập trung vào chi tiết vụn vặt
Vô tư, suy nghĩ không có tính cá nhân, tính độc lập của thể trí. Thể trí đối kháng, mâu thuẩn: đưa ra quan điểm trái ngược, thích đấu tranh (war-like). Tính khách quan trí tuệthể trí vô tư, không thành kiến, khách quan, lạnh lùng, không hạn chế.
Tư tưởng và lời nói vắn tắt, đanh thép, Sự bền bĩ về trí tuệ. Lanh lợi, không gò bó, có tính ứng khẩu, khôi hài , có tính liên đới tự do (free associative), khó đoán, ‘không thích ẩn dật’. Thể trí có lý trí, ‘kiên nhẫn’, hay dò hỏi, tò mò, hay tìm tòi, điều tra, tìm kiếm.
Đi theo hàng ngang và đánh dấu kiểm vào hộp miêu tả bạn đúng nhất. Rồi cộng điểm của bạn lại. Điều này sẽ giúp bạn xác định cung này.

+ BẢY NHÁNH TRI THỨC

Trong “Giáo Lý Bí Nhiệm”, chúng ta được dạy rằng bảy nhánh tri thức được nói đến trong Kinh Puranas –SD I, 192.
+ Ở đây, các tương ứng có thể nêu ra liên quan với:
a/ Bảy Cung, các Tinh quân Hy sinh, Bác áiTri thức.
b/ Bảy trạng thái ý thức (States of consciousness)
c/ Bảy trạng thái vật chất hay cảnh giới.
d/ Bảy loại thần lực.
e/ Bảy cuộc điểm đạo và nhiều thất bộ (septenates) khác. Tri thức thuần túy (Gnosis), Tri thức ẩn tàng là Nguyên Lý (Principle) thứ bảy, sáu triết phái Ấn Độ (schools of Indian phylosophy) là sáu nguyên lý – SD I, 299.
+ Sáu trường phái này là:
a/ Trường phái Luận lý (school of logic) …Bằng chứng của tri giác đúng đắn (proof of right perception)
b/ Trường phái nguyên tử (Atomic school). Hệ thống các sự kiện (particulars). Các bản tố (elements). Luyện đan và hóa học.
c/ Trường phái số luận (sankhya school). Hệ thống các số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về 7 trạng thái vật chất hay prakriti.
d/ Trường phái Yoga (school of Yoga). Sự hợp nhất (union). Quy tắc của đời sống hằng ngày. Thần bí học (Mysticism).
e/ Trường phái tôn giáo nghi lễ (school of ceremonial religion). Nghi thức (ritual). Thờ phụng thiên thần hay các thần (gods).
f/ Trường phái Vedanta có liên quan đến phi nhị nguyên (non duality) bàn về liên hệ của atma nơi người với Thượng Đế
.
Tri thức thuần túy (gnosis) hay tri thức ẩn tàng (hidden knowledge) thì tương tự như Atma Vidya (Minh triết Tinh thần) hay Minh Triết Thiêng Liêng (Theosophy) và bao gồm 6 trường phái kia. (LVLCK, 285)

+ Thanh luyện thể hạ trí (Đã có Tooltip)

Thanh luyện thể hạ trí:   Đây là kết quả của cách làm việc chuyên cần và sự phân biện. Cần phải có 3 điều trước khi đạt đến cõi của vi tử thường tồn hạ trí (tức cõi phụ thứ tư của cõi trí–ND), và trước khi tâm thức của linh hồn thể (tâm thức đầy đủ của Thượng Ngã)

+ Trí Thiên Thần (Trích từ Tooltip)

1. Manasa-putras: (Trí Thiên Thần)
–  Các Manasa-putras tức là “Các Phân Thân của Toàn Linh Trí” (“Sons of the Universal Mind”), các Ngài tạo ra (created), hay đúng hơn sản sinh ra (produced), con người biết suy tư (thinking man, “manu”), bằng cách lâm phàm (by incarnating) vào trong nhân loại thuộc Giống Dân Thứ ba trong Cuộc Tuần Hoàn của chúng ta. (CKMTTL, 111)
–  Một Thái Dương Thượng Đế chỉ hoạt động xuyên qua các Đấng Kiến Tạo Vĩ Đại (the greater Builders), tức các Manasaputras thuộc các cấp độ (grades) khác nhau trên hai cõi cao của Thái dương hệ (Tối Đại Niết Bàn và Niết Bàn – ND).

Thái Dương Thượng Đế hoạt động xuyên qua các Manasaputras này và gửi các Ngài ra với sứ mệnh kiến tạo và làm linh hoạt hình tư tưởng của Thái Dương hệ với mục tiêu đặc biệt được dự kiến.  (LVLCK,  564)

– Các Manasaputras thiêng liêng là các Phân Thân sinh ra từ Thiên Trí (Mind-born Sons) của Brahma, Thượng Đế Ngôi Ba.       Trong Secret Doctrine, các Ngài có nhiều danh xưng khác nhau: Bảy Hành Tinh Thượng đế, các Huyền Cung Tinh Quân (Lords of the Rays), các Prajapatis, các Kumaras, Primordial Seven, Rudras, Rishis, Spirits before the Throne.   (LVLCK,   270)

+ Các Giấc Mơ có bản chất Thể trí )Trích từ Tooltip)

4. Các giấc mơ có bản chất của thể trí (Dreams which are of a mental nature).

Các giấc mơ này có cội nguồn trên thể trí và giả định trước một ý thức mà ít nhất trở nên nhạy cảm hơn về mặt trí tuệ. Dù thế nào đi nữa, chúng không được ghi nhận trong ý thức não bộ tỉnh thức cho tới khi có được một mức độ kiềm chế thể trí nào đó.

+ Trí tuệ chân thật (Pháp Sư Tịnh Không)

Trí tuệ chân thật từ đâu mà có? trí tuệ Bát Nhã vốn sẵn có trong tự tánh của bạn, không phải từ bên ngoài đến. Phật Thích Ca Mâu Ni Phật trí tuệ vốn sẵn trong tự tánh hiện tiền. Ngài có, ta cũng có; Ngài có thể hiện tiền, vì sao ta không thể hiện tiền? Các Ngài không có phiền não, ta thì có phiền nãoPhiền não đoạn một phẩm, trí tuệ liền tăng thêm một phẩm, trí tuệ chân thật của bạn mới có thể hiện tiền. Trí tuệ chân thật siêu vượt thế trí biện thông rất nhiều, có thể khiến chính mình được chân thật thọ dụng …..Trí tuệ nhãn (Nhìn biết chân thật) khai rồi thì được, bạn liền có thể học rộng nghe nhiều (Thiền tông nói “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh ) > Kiến địa, kiến giải của bạn tràn đầy trí tuệ > Bạn có thể tự học (Tốt nghiệp) mà không cần Huấn sư ….Pháp Sư Tịnh Không