TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

Nam moi 2022

VĂN PHÒNG TƯ VẤN NHÂN MỆNH THÔNG BÁO
TƯ VẤN DỰ ĐOÁN THIÊN CƠ TRONG ĐẦU TƯ KINH DOANH VÀ SỨC KHỎE - TUỔI THỌ

"Mưu sự tại nhân - Thành sự tại Thiên", câu này nói nên rằng mỗi chúng ta đều bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật Nhân quả - Nghiệp báo - Luân hồi - Tái sanh. Dường như có Số phận an bài vậy. Số phận là có "Gieo nhân gì - Phải gặt quả đó" mà không thể trốn tránh. Thế nhưng SỐ PHẬN KHÔNG PHẢI LÀ ĐỊNH MỆNH => HOÀN TOÀN CÓ THỂ THAY ĐỔI qua tu hành Cải mệnh. Thông qua quy luật thời gian ta có thể dự đoán khi nào Quả báo Cát - Hung đến để tìm ra cách Hóa giải - Tiêu trừ tương ứng, cũng tức là Pháp Y MỆNHBIẾT BỆNH - CHO THUỐC. Chúng tôi nhận Tư vấn Tu Cải mệnh miễn phí với các đối tượng là người tin sâu Nhân Quả nguyên nhân chính gây ra tâm trạng lo âu, sợ hãi, thất nghiệp, nợ lần, phá sản, chia ly, bệnh đau hành hạ ... dẫn đến cuộc sống thường buồn nản, khổ đau và bế tắc, rễ bị trầm cảm. Khi quý vị nhận thức ra "Thân người rất khó có được", thường phải qua cả ngàn năm với bao kiếp sống bị đọa lạc lưu đầy trong 3 cõi thấp tối tăm mịt mờ mới có lại được Thân người của kiếp này, cũng là kiếp sống bắt buộc phải tái sinh để trả nghiệp - Nhận lại quả báo do chính mình đã tạo tác ra từ kiếp này và các kiếp trước, cho lên chết không phải là hết, nhân duyên nợ lần chắc chắn phải trả là vậy. Thường thì tháng sinh kiếp này là tháng tử vong của tiền kiếp, là để tiếp nối Nghiệp quả an bài. Từ ngày giờ sinh ra đời cho chúng ta biết sơ bộ về "Kịch bản" mỗi người "phải Diễn" trên sân khấu cuộc đời ngay từ khi sinh ra - Nếu họ không tu. Tu hành tinh tấn là con đường duy nhất để Cải mệnh mạnh mẽ, nhiệm mầu nữa! Với hơn 25 năm nghiên cứu và thực nghiệm về Dịch học như xem Tứ trụ - Quẻ dịch - Chiêm tinh/ Tử vi - Phong Thủy ..., về Cấu tạo con người và Tâm thức, tu hành theo Phật Pháp nhiệm mầu. Chúng tôi hy vọng sẽ đồng hành giúp quí vị nắm bắt Thiên Cơ để GIẦU CÓ - SỐNG THỌ - TRÁNH CHẾT UỔNG (Sống chưa hết số trời định).

+ Thời gian Tư vấn: Vào sáng thứ bảy hàng tuần, xin liên hệ trước để tiện tiếp đón chu đáo. Mời đọcVPTV Số mệnh
+ Các quy định và tiện ích của chúng tôi giúp phục vụ quí khách tốt nhất, mời đọc: Các quy định và hướng dẫn

    Nhân Trắc Học kính chúc quí vị vạn sự như ý!

Tóm Lược Kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo Ứng

BẢN TÓM LƯỢC
KINH NHÂN QUẢ THIỆN ÁC BÁO ỨNG
(Xin quí bạn đọc xem bản Kinh đầy đủ nội dung)

 

Bấy giờ đức Phật bảo con của trưởng giả rằng:

- Có mười thiện nghiệp cần phải tu tập, còn mười ác nghiệp ngươi hãy nên đoạn trừ.

Bấy giờ trưởng giả bạch đức Phật:

– Thưa Thế tôn, hữu tình bị chết yểu là do nghiệp gì mà bị như vậy?

Đức Phật bảo con của trưởng giả rằng:

– Do sát sanh nên bị như vậy.

Lại nữa, nghiệp sát có mười loại:

1. Tự tay giết.

2. Khuyên người khác giết.

3. Thấy giết thì hoan hỷ.

4. Tùy hỷ việc giết.

5. Giết bào thai.

6. Khuyên trục thai cho chết.

7. Oán thù mà giết.

8. Giết bằng cách đoạn nam căn.

9. Bằng phương tiện giết.

10. Sai người giết.

Mười thứ như vậy đưa đến quả báo chết yểu.

Lại nghiệp như thế nào mà được quả báo trường thọ? Có mười loại nghiệp:

1. Xa lìa việc tự tay giết.

2. Xa lìa việc khuyên bảo người giết.

3. Xa lìa sự hoan hỷ khi (thấy) giết.

4. Xa lìa việc tùy hỷ giết.

5. Cứu người hình ngục bị giết.

6. Phóng sanh mạng.

7. Bố thí sự không sợ cho kẻ khác.

8. Thương xót vỗ về người bệnh.

9. Bố thí đồ ăn uống.

10. Cúng dường tràng phan, đèn đuốc.

Mười nghiệp như vậy đưa đến quả báo trường thọ.

Lại nghiệp như thế nào mà bị đến quả báo nhiều bệnh? Có mười loại nghiệp.

1. Tự hủy hoại loài hữu tình.

2. Khuyên người khác hủy hoại.

3. Tùy hỷ sự hủy hoại.

4. Tán thán sự hủy hoại.

5. Bất hiếu với cha mẹ.

6. Kết nhiều oán xưa.

7. Làm thuốc do tâm độc hại.

8. Keo kiết sự ăn uống.

9. Khinh chê ngạo mạn đối với thánh hiền.

10. Hủy báng pháp sư.

Mười loại như vậy bị quả báo có nhiều bệnh.

Lại nữa, nghiệp như thế nào mà được quả báo ít bệnh? Có mười loại nghiệp:

1. Không gây tổn hại hữu tình.

2. Khuyên người đừng làm tổn hại.

3. Không tùy hỷ sự làm tổn hại.

4. Không tán thán sự tổn hại.

5. Xa lìa việc vui sướng làm tổn hại.

6. Hiếu dưỡng cha mẹ.

7. Tôn trọng sư trưởng.

8. Không kết oán xưa.

9. Bố thí chúng Tăng được an lạc.

10. Bố thí thuốc men, ẩm thực.

Mười loại như vậy được quả báo ít bệnh.

Lại nữa, nghiệp như thế nào mà bị quả báo xấu xí? Có mười loại nghiệp:

1. Luôn khởi tâm phẫn nộ.

2. Buông lung tâm ngạo mạn.

3. Không hiếu thuận cha mẹ.

4. Luôn luôn buông lung tâm tham si.

5. Hủy báng hiền thánh.

6. Xâm đoạt, cưỡng bức.

7. Ăn trộm ánh sáng (dầu đèn) của Phật.

8. Cười giỡn trên sự xấu xí của người khác.

9. Hủy hoại ánh sáng của đức Phật.

10. Làm việc phi phạm hạnh.

Do mười thứ như vậy nên bị quả báo xấu xí.

Lại nữa, do nghiệp gì mà được quả báo trang nghiêm? Có mười loại nghiệp:

1. Tu từ bi, nhẫn nhục.

2. Bố thí pháp của Phật.

3. Quét dọn chùa tháp.

4. Trang nghiêm tu sửa tinh xá.

5. Trang nghiêm tượng Phật.

6. Hiếu dưỡng cha mẹ.

7. Tin kính, tôn trọng Thánh hiền.

8. Khiêm cung, xa lìa sự ngạo mạn.

9. Phạm hạnh không sứt mẻ.

10. Xa lìa tâm tổn hại.

Như vậy, do mười thứ này được quả báo trang nghiêm.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị sanh vào dòng họ ti tiện? Có mười loại nghiệp:

1. Tham ái sanh lợi, không tu bố thí.

2. Ganh ghét vì sự vinh hoa của người khác.

3. Khinh chê hủy báng cha mẹ.

4. Không tuân lời pháp sư.

5. Hủy báng bậc hiền thiện.

6. Thân cận bạn ác.

7. Khuyên người khác làm ác.

8. Phá hoại điều thiện của kẻ khác.

9. Mua bán kinh tượng.

10. Không tin tam bảo.

Do mười nghiệp như vậy bị quả báo ti tiện.

Lại nữa, do nghiệp gì mà được quả báo sanh vào nhà hào quý giàu có? Có mười loại nghiệp:

1. Xa lìa tâm ganh ghét, vui mừng thấy danh lợi của người khác.

2. Tôn trọng cha mẹ.

3. Tin kính, tôn sùng Pháp sư.

4. Phát tâm bồ đề.

5. Bố thí dù lọng cho đức Phật.

6. Tu sửa trang nghiêm chùa tháp.

7. Sám hối nghiệp ác.

8. Rộng tu hạnh bố thí.

9. Khuyên người khác tu tập thiện.

10. Tin kính, tôn sùng tam bảo.

Do mười thứ như vậy nên được quả báo hào quý.

Lại nữa, do nghiệp gì bị quả báo gian ác ở nhân gian? Có mười loại nghiệp:

1. Buông lung tâm ngã mạn.

2. Khinh mạn cha mẹ.

3. Khinh mạn sa-môn.

4. Khinh mạn bà la môn.

5. Khinh chê hủy báng bậc hiền thiện.

6. Khinh mạn người trong thân tộc.

7. Không tin nhân quả.

8. Ghét bỏ tự thân.

9. Hiềm ghét kẻ khác.

10. Không tin Tam bảo.

Do mười thứ như vậy bị quả báo ác ở nhân gian.

Lại nữa, do nghiệp gì mà được quả báo thù thắng ở nhân gian? Có mười loại nghiệp:

1. Khiêm cung, xa lìa ngạo mạn.

2. Tôn trọng cha mẹ.

3. Tôn trọng sa-môn.

4. Tin kính, tôn sùng bà la môn.

5. Yêu thương, giúp đỡ người thân tộc.

6. Tôn trọng bậc hiền thánh.

7. Tu hành 10 điều thiện.

8. Không khinh mạn bổ đặc già la.

9. Tôn trọng vị Pháp sư.

10. Tin một cách vững chắc ngôi tam bảo.

Do mười thứ như vậy nên được quả báo thù thắng ở nhân gian.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị quả báo cô đơn nghèo khổ? Có mười loại nghiệp:

1. Luôn luôn trộm cướp.

2. Khuyên người khác trộm cướp.

3. Khen ngợi sự trộm cướp.

4. Tùy hỷ sự trộm cướp.

5. Hủy báng cha mẹ.

6. Hủy báng thánh hiền.

7. Làm chướng ngại người khác bố thí.

8. Ganh ghét khi thấy danh lợi của kẻ khác.

9. Keo kiết tiền của.

10. Khinh khi, hủy báng tam bảo, muốn tam bảo thường đói khát.

Do mười loại như vậy nên bị quả báo cô đơn nghèo khổ.

Lại nữa, do nghiệp gì mà được quả báo có phước đức lớn? Có mười loại nghiệp:

1. Xa lìa trộm cướp.

2. Xa lìa việc khuyên người trộm cướp.

3. Xa lìa việc tùy hỷ trộm cắp.

4. Hiếu dưỡng cha mẹ.

5. Tin kính, tôn sùng thánh hiền.

6. Vui mừng thấy danh lợi của người khác.

7. Rộng làm việc bố thí.

8. Không ganh ghét danh lợi của kẻ khác.

9. Không tiếc tài bảo, thương xót kẻ cô đơn bần cùng.

10. Cúng dường tam bảo.

Do mười thứ như vậy nên được quả báo có phước đức lớn.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị quả báo ngu độn? Có mười loại nghiệp:

1. Bổ đặc già la này không tin sa-môn, cũng không thân cận sa-môn.

2. Không tin bà la môn.

3. Không tin pháp sư, cũng chẳng thân cận.

4. Cất giấu giáo pháp, không truyền dạy.

5. Xoi bói những điều xấu của pháp sư.

6. Xa lìa chánh pháp.

7. Đoạn diệt thiện pháp.

8. Hủy báng bậc hiền trí.

9. Học tập điều phi pháp.

10. Hủy báng chánh kiến, xưng dương tà kiến.

Do mười pháp như vậy cho nên bị quả báo ngu độn.

Lại nữa, do nghiệp gì mà được quả báo có trí huệ lớn? Có mười loại pháp:

1. Bổ đặc già la này thân cận sa-môn, thâm tín cầu pháp.

2. Tin bà la môn.

3. Thân cận pháp sư, cầu hiểu được nghĩa sâu kín.

4. Tôn trọng tam bảo.

5. Xa lìa kẻ ngu si.

6. Không hủy báng pháp sư.

7. Cầu được trí huệ sâu rộng.

8. Truyền pháp lợi sanh khiến cho chánh pháp không bị đoạn diệt.

9. Xa lìa điều phi pháp.

10. Xưng dương chánh kiến, xa lìa các tà kiến.

Do mười pháp như vậy cho nên được quả báo có trí huệ lớn.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị quả báo địa ngục? Có mười loại pháp:

1. Thân nghiệp bất thiện.

2. Khẩu nghiệp bất thiện.

3. Ý nghiệp bất thiện.

4. Hằng khởi lên thân kiến.

5. Hằng khởi lên biên kiến.

6. Tà kiến không dứt.

7. Làm ác không ngừng.

8. Dâm dục, tà hạnh.

9. Hủy báng Thánh hiền.

10. Hoại diệt chánh pháp.

Do mười nghiệp như vậy nên bị quả báo địa ngục.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị quả báo súc sanh? Có mười loại nghiệp:

1. Thân nghiệp làm ác bậc trung.

2. Ngữ nghiệp làm ác bậc trung.

3. Ý nghiệp làm ác bậc trung.

4. Khởi sanh nhiều lòng tham.

5. Khởi sanh nhiều lòng sân.

6. Khởi sanh nhiều lòng si.

7. Bố thí phi pháp.

8. Cấm chú yểm thuật.

9. Hủy hoại phạm hạnh của Bồ tát.

10. Khởi ra thường kiến, biên kiến, cho rằng “người chết trở lại thành người”.

Do mười nghiệp như vậy nên bị quả báo súc sanh.

Lại nữa, do nghiệp gì mà bị quả báo ngạ quỷ? Có mười loại nghiệp:

1. Thân ác nghiệp nhẹ.

2. Khẩu ác nghiệp nhẹ.

3. Ý ác nghiệp nhẹ.

4. Tham tiếc tài vật không chịu bố thí.

5. Khởi ra đại tà kiến hủy báng nhân quả của Phật.

6. Ngạo mạn, tự thị, khinh khi, hủy báng kẻ hiền lương.

7. Làm chướng ngại người khác bố thí.

8. Không thương xót kẻ đói khát.

9. Tham tiếc đồ ẩm thực, không bố thí cho Phật, Tăng.

10. Người khác được danh lợi thì phương tiện làm cho ly cách.

Do mười nghiệp như vậy nên bị quả báo ngạ quỉ.

Lại nữa, do nghiệp gì được quả báo làm người? Có mười loại nghiệp:

1. Xa lìa sát sanh.

2. Xa lìa sự không cho mà lấy.

3. Xa lìa việc phi phạm hạnh.

4. Xa lìa lời nói hư dối.

5. Xa lìa lời nói tạp uế.

6. Không nói lời ly gián.

7. Xa lìa lời nói thô ác.

8. Xa lìa việc uống rượu, ăn thịt.

9. Xa lìa sự si ám.

10. Xa lìa tà kiến, vững tin tam bảo.

Do tu mười nghiệp nhẹ như vậy nên được quả báo làm người.

...... Đức Phật giảng về các nghiệp với quả báo sinh thiên/ Các cõi trời (Mời xem trong Kinh)

Lại nữa, do nghiệp gì mà không có quả báo? Do đã tạo ác nghiệp rồi hồi tâm phát lồ, tỉnh ngộ, trách mình trước chẳng suy nghĩ, tâm nghĩ miệng nói, tác ý chuyên chú mãi mãi sám hối. Nghiệp ấy tuy đã tạo rồi nhưng không thọ quả báo. Đối với thiện nghiệp cũng lại như vậy.

....... Lại do nghiệp gì mà sau khi tu tập không bị tán thất? Nếu có thiện nghiệp đã làm không hối hận, không phiền trách, không nhiễu não, cũng không cho là không, không nói điều đúng điều sai, mà không xa lìa, cũng không náo động, tạo hạnh như vậy, tu tập nghiệp này trọn chẳng hao mất, chắc chắn phải thọ quả báo.

Các loại quả báo địa ngục lâu hay mau (Mời xem trong Kinh)

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la trước được vui sướng, sau khi bị khổ não? Đó là có một bổ đặc già la ban đầu thực hành bố thí, yêu thích, hoan hỷ, nhưng bố thí rồi tâm lại hối tiếc, cho nên bổ đặc già la ấy sanh ở nhân gian vào nhà thượng chủng tộc, vàng bạc châu báu, voi, ngựa, xe cộ, tất cả đều đầy đủ. Cha mẹ, vợ con, quan dân, tri thức đầy đủ không thiếu, cho đến kho tàng cũng lại như vậy. Cho nên khi được quả báo, trước được vui sướng, sau bị khổ não.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la trước bị nghèo khổ, sau được vui sướng? Đó là có một bổ đặc già la do nhân đời trước dùng tâm hạ phẩm bố thí chút ít. Bố thí rồi tâm không hối tiếc, sau lại hoan hỷ, cho nên bổ đặc già la này sanh làm người trong chủng tộc thấp hèn, ăn uống, châu báu, tất cả đều thiếu thốn, cũng không được tự tại. Về sau dần dần tài vật được Tăng trưởng rộng lớn, cho đến có vô số của cải không thiếu vật gì. Cho nên bổ đặc già la này sau khi được quả thì trước bị nghèo khổ, sau được vui sướng.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la trước được vui sướng, sau cũng vui sướng? Đó là có một bổ đặc già la khi chưa bố thí hoan hỷ muốn bố thí. Bố thí rồi hoan hỷ, trước sau không hối tiếc. bổ đặc già la này sanh làm người trong nhà giàu có, chủng tộc cao sang, cha mẹ vợ con, quan dân thân hữu viên mãn cụ túc, kho tàng châu báu voi, ngựa, trâu, dê, chó... đến vườn rừng, ruộng nhà chẳng thiếu thứ gì, tự do thọ dụng. Cho nên bổ đặc già la này trước được vui sướng, sau cũng vui sướng.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la trước không vui sướng, sau cũng không vui sướng, mà thường bị khổ não? Đó là có một bổ đặc già la trước không có tâm bố thí, cũng không có bạn hữu tốt khuyên làm bố thí. Đã không có tín tâm, tham tiếc châu báu, từ đầu đến cuối chẳng bố thí một tơ hào nào. Cho nên bổ đặc già la đó nếu sanh làm người, ở trong chủng tộc thấp hèn, bần cùng, khốn khổ, tài bảo, ẩm thực, ruộng nhà, của cải cho đến quyến thuộc tất cả đều thiếu, trước đã không được vui sướng, sau cũng không được vui sướng. Cho nên bổ đặc già la này trước bị khổ não, sau cũng bị khổ não.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la được đại phú quý mà lại tham tiếc tiền của, không có bố thí cho ai, dù rất ít? Đó là có một bổ đặc già la trong đời quá khứ có hướng về ngôi Tam bảo, đã từng bố thí nhưng không từng phát nguyện ở đời vị lai lại tu hạnh bố thí, cho nên bổ đặc già la này sau khi mạng chung, hoặc sanh ở nhơn gian được đại phú quý, được sanh vào đại chủng tộc có nhiều châu báu, voi ngựa, nô tỳ, trâu dê, ruộng nhà cũng rất nhiều, tự do thọ dụng. Nhưng lại đối với tài vật của mình thì tham tiếc, yêu mến bảo hộ, không làm bố thí, cho nên bổ đặc già la này giàu có, nhiều tiền của, tham lam tiếc của, cũng không có tín tâm.

Lại do nghiệp gì mà bổ đặc già la một đời nghèo khổ mà lại ưa thích bố thí? Đó là có một bổ đặc già la trong đời quá khứ đối với thắng xứ của Tam bảo đã từng tu hạnh bố thí, lại còn phát nguyện: cho đến đời vị lai tâm bố thí vẫn không dứt, sau khi mạng chung sanh ở nhân thiên, qua lại thọ phước. Người ấy về sau phước hết, lại sanh ở nhân gian, dù bần cùng nhưng thích bố thí. Cho nên bổ đặc già la này dù bần cùng nhưng ưa thích bố thí, tín tâm không đoạn.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la một đời nghèo khổ mà lại tham lam keo kiết, không có bố thí, dù cho rất ít? Đó là có một bổ đặc già la trong đời quá khứ không gặp thiện hữu, lại còn ngu si không tin nhân quả, đối với bố thí ba la mật dù cho chút ít cũng không làm, cho nên bổ đặc già la ấy sau khi mạng chung sanh ở nhân gian, vào chủng tộc bần cùng, tiền của đồ ăn uống, ruộng vườn, của cải, tất cả đều bị thiếu thốn. Vì vậy bổ đặc già la này bần cùng, khốn khổ, không thích bố thí.

Lại do nghiệp gì mà cả thân lẫn tâm đều được vui sướng, giống như Luân vương, lại ưa làm phước? Đó là có một bổ đặc già la trong đời quá khứ tu giới không sát sanh, bố thí sự vô uý cho kẻ khác, lại còn phát nguyện: tâm bố thí không mê muội, cho nên hữu tình này sau khi mạng chung sanh ở nhân gian được cả thân lẫn tâm đều được khoái lạc, thường thích bố thí.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la cả thân lẫn tâm đều vui sướng như một cụ già việc nhà đã giải quyết xong hết, không còn bận tâm việc gì? Đó là một bổ đặc già la trong đời quá khứ bố thí sự vô úy cho kẻ khác, không làm tổn hại hữu tình mà không phát nguyện thù thắng, cho nên bổ đặc già la ấy sau khi mạng chung sanh ở nhân gian được cả thân lẫn tâm đều được khoái lạc, không chịu tu phước.

Hết Quyển Thượng

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la, hoặc thân và tâm đều không khoái lạc, lại không tu phước? Đó là có một hữu tình trong đời quá khứ làm nhiễu loạn chúng sanh, làm cho sợ sệt, lại không có tín tâm, không phát nguyện lành. Cho nên bổ đặc già la này sau khi mạng chung sanh trong loài người, cả thân lẫn tâm đều bị bất an, lại có nhiều ngu ám nên không tu hạnh bố thí.

Tại sau có bổ đặc già la ở nhân gian thì bị chết yểu, nhưng sống lâu dài trong tam đồ? Đó là một bổ đặc già là quá khứ tu nhân, đời này thọ quả lành ít, đời sau thọ quả dữ nhiều, cho nên bổ đặc già la này sanh ở nhân gian bị chết yểu, đời sau sanh vào địa ngục, ngạ quỷ và A-tố-ra thì thọ mạng lại lâu dài.

Tại sao có bổ đặc già la ở tam đồ thọ mạng ngắn nhưng ở cõi người thì thọ mạng lâu dài? Đó là có một bổ đặc già la tu nhân ở quá khứ, đời này thọ nghiệp ác ít, đời sau thọ nghiệp thiện nhiều, cho nên bổ đặc già la này ở tam đồ thì thọ mạng ngắn ngủi, đời sau sanh ở nhân gian thì thọ mạng lại lâu dài.

Tại sao có bổ đặc già la sanh ở nhân gian và ở tam đồ thọ mạng đều ngắn ngủi? Đó là có một bổ đặc già la tu nhân ở quá khứ, ở đời này và đời sau thọ nghiệp thiện, ác đều ít, cho nên bổ đặc già la này ở trong loài người và ở tam đồ thọ mạng đều ngắn ngủi.

Tại sao có bổ đặc già la khi mạng đã tận thì phiền não cũng tận? Tại sao có bổ đặc già la phiền não đã tận mà thọ mạng không tận? Đó là người được Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, quyết định tánh và bất quyết định A la hán.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la tuy sanh ở ác thú mà hình sắc thân thể đoan nghiêm thù diệu, ai thấy cũng hoan hỷ? ai cũng yêu thích? Đó là có một bổ đặc già la trong đời quá khứ tu tập hạnh nhẫn nhục, nhưng vì phá tịnh giới của Phật nên đọa vào ác thú thọ thân hình khác, được hình sắc đoan nghiêm, mềm mại, cụ túc, ai thấy cũng hoan hỷ.

Lại do nghiệp gì mà có bổ đặc già la sanh ở trong ác thú mà thân hình thô rít, hình sắc xấu xí, ai thấy cũng không ưa? Đó là do bổ đặc già la này ở đời quá khứ tâm nhiều sân hận, không tu nhẫn nhục, đã phá tịnh giới của Phật lại không phát lồ. Cho nên sau khi mạng chung sanh trong loài khác, hình sắc xấu xí, thân thể thô lậu, các căn bị sứt mẻ, hôi thối dẫy đầy, si mê ám muội, ai thấy cũng không hoan hỷ.

Lại nữa, ác nghiệp bị quả báo như thế nào?

Do nhân sát sanh nên bị thọ mạng, sắc lực đều không đầy đủ.
Do nhân trộm cắp nên bị sương, mưa đá, sâu trùng, đói khát, hạn hán.
Do nhân tà dục nên bị quả báo bên ngoài nhiều trần cấu, vợ không trinh thuận.
Do nhân hư vọng nên bị quả báo hôi thối ô danh, người đều hiềm ghét.
Do nhân ly gián nên bị quả báo quyến thuộc bất hòa, tật bệnh triền miên.
Do nhân nói thô ác nên bị quả báo xúc chạm vật cứng nhám, kết quả không đẹp.
Do nhân tạp uế nên bị quả báo rừng cây gai góc, vườn tược tiêu điều.
Do nhân tham ái nên bị quả báo kho tàng ít ỏi.
Do nhân sân hận nên bị quả báo mùi vị cay đắng, dung mạo xấu ác.
Do nhân ngu si nên bị quả báo sắc bên ngoài không sạch, bị hư hao.
Do tạo mười nghiệp bất thiện nên bị như vậy.

Tu mười thiện nghiệp được quả báo gì?
Xa lìa việc giết hại, thọ mạng và y báo đều được đầy đủ.
Xa lìa trộm cắp thì đói khát, gió, mưa đá, sâu trùng, các tai hoạn đều được xa lìa.
Nhân không có tà dâm thì tiếng tốt đồn khắp, xa lìa trấn cấu.
Nhân không vọng ngữ, miệng thường thơm sạch.
Nhân không ly gián nên quyến thuộc được hòa thuận, xa lìa cao thấp, sấm sét, sương, mưa đá.
Nhân không có thô ác nên quả ngọt, tốt đẹp, xa lìa cứng nhám.
Nhân không có tạp uế nên rừng cây, vườn tược xa lìa gai góc, tất cả đều tươi nhuận.
Nhân không có tham ái nên kho lẫm được sung mãn, đầy đủ.
Nhân không có sân hận nên thân tướng được tròn đầy, các căn không có khuyết tật.
Nhân không có tà kiến nên tín tâm không đoạn, được tối thượng, thơm, đẹp đầy đủ.
Do tu mười thiện nghiệp nên được quả báo như vậy.

Lại nữa, làm mười điều ác có mười quả báo:
Sát sanh có mười quả báo:

1. Oan gia ngày càng nhiều

2. Ai thấy kẻ ấy cũng không hoan hỷ.

3. Hữu tình sợ sệt.

4. Hằng chịu sự khổ não.

5. Thường nghĩ đến việc giết.

6. Nằm mộng thấy sầu khổ.

7. Lúc lâm chung bị hối hận.

8. Thọ mạng ngắn ngủi.

9. Tâm thức bị ngu muội.

10. Khi chết đọa vào địa ngục.

Lại nữa, trộm cắp quả báo có mười thứ:

1. Kết thêm oan gia đời trước.

2. Luôn luôn nghi ngờ nghĩ ngợi.

3. Bị bạn ác theo đuổi.

4. Bạn lành lánh xa.

5. Phá tịnh giới của Phật.

6. Bị phép vua trích phạt.

7. Buông lung phóng dật.

8. Mãi mãi sầu lo.

9. Không được tự do.

10. Chết đọa địa ngục.

Lại nữa, tà dục quả báo có mười thứ:

1. Dục tâm bừng cháy.

2. Thê thiếp không trinh lương.

3. Tăng trưởng sự bất thiện.

4. Thiện pháp bị tiêu diệt.

5. Nam nữ phóng túng.

6. Tài sản âm thần tiêu tán.

7. Tâm nhiều nghi ngờ nghĩ ngợi.

8. Xa lìa bạn lành.

9. Bị thân tộc không tin tưởng.

10. Mạng chung bị đọa vào tam đồ.

Lại nữa, vọng ngữ quả báo có mười thứ:

1. Hơi trong miệng thường hôi thối.

2. Kẻ ngay thẳng xa lánh.

3. Người nịnh nọt quanh co ngày càng nhiều.

4. Gần gũi kẻ phi nhân.

5. Dù có nói thật cũng không ai tin.

6. Trí huệ ít dần.

7. Tiếng tăm không thật.

8. Không nói lời thành thật.

9. Ưa nói chuyện thị phi.

10. Thân chết sanh vào ác đạo.

Lại nữa, uống rượu có ba mươi sáu lỗi:

1. Tài sản bị tản thất.

2. Hiện tại có nhiều bệnh tật.

3. Nhân ưa thích đấu tranh.

4. Tăng trưởng sự giết hại.

5. Tăng trưởng sự sân hận.

6. Phần nhiều không toại ý.

7. Trí huệ kém dần.

8. Phước đức không Tăng.

9. Phước đức hao giảm.

10. Phơi bày sự bí mật.

11. Sự nghiệp không thành.

12. Tăng nhiều sự ưu khổ.

13. Các căn bị ám muội.

14. Làm hủy nhục cha mẹ.

15. Không kính bậc sa-môn.

16. Không tin bà la môn.

17. Không tôn kính Phật.

18. Không kính Tăng, pháp.

19. Thân cận bạn ác.

20. Xa lánh bạn lành.

21. Bỏ bê việc ăn uống.

22. Thân hình (lõa lồ) không kín đáo.

23. Dâm dục hẫy hừng.

24. Mọi người không thích.

25. Tăng thêm sự cười chê.

26. Cha mẹ không vui.

27. Quyến thuộc chê bỏ.

28. Chấp nhận điều phi pháp.

29. Xa lìa chánh pháp.

30. Không kính bậc hiền thiện.

31. Vi phạm điều tội ác.

32. Xa lìa sự viên tịch.

33. Điên cuồng ngày càng nặng.

34. Thân tâm tán loạn.

35. Làm ác, phóng dật.

36. Thân hoại mạng chung đọa vào đại địa ngục, thọ khổ vô cùng tận.

Bấy giờ đức Phật bảo trưởng giả Du ca rằng:

– Nếu lại có người đối với tháp của Như Lai mà chấp tay cung kính, có mười công đức. Những gì là mười?:

1. Sanh vào nhà đại quý tộc.

2. Có nhiều sắc đẹp.

3. Hình tướng khoẻ mạnh khả ái.

4. Tứ sự được dồi dào.

5. Trân bảo thật nhiều.

6. Tiếng tốt đồn khắp.

7. Tín căn thâm sâu.

8. Sự nhớ nghĩ rộng lớn.

9. Trí huệ nhạy bén cùng khắp.

10. Nghề nghiệp rộng lớn.

Như vậy, này trưởng giả! Nếu lại có người chắp tay cung kính tháp của Như Lai, được những công đức như vậy.

Nếu lại có người đối với tháp của Như Lai mà chấp tay lễ bái, được mười công đức. Những gì là mười?

1. Ngôn từ nhu nhuyến.

2. Trí huệ siêu quần.

3. Người trời đều hoan hỷ.

4. Phước đức rộng lớn.

5. Cùng ở với người hiền thiện.

6. Được tôn quý tự tại.

7. Hằng được gặp Phật.

8. Được thân cận với Bồ tát.

9. Mạng chung được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch. Công đức như vậy do lễ bái tháp của Phật mà có được.

Nếu lại có người lau bụi bặm tháp của Phật được mười công đức. Những gì là mười?:

1. Sắc tướng tròn đầy.

2. Thân thể ngay thẳng.

3. Âm thanh vi diệu.

4. Xa lìa ba độc.

5. Đi đường không bị chông gai.

6. Được chủng tộc tối thượng.

7. Được tôn sùng, quý trọng, tự tại

8. Mạng chung được sanh lên trời.

9. Thân thể không có cấu nhiễm.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy do lau chùi bụi tháp của Phật mà được.

Nếu có người bố thí dù lọng cho tháp của Như lai được mười thứ công đức. Những gì là mười?:

1. Xa lìa sự nhiệt não.

2. Tâm không tán loạn.

3. Làm chủ thế gian.

4. Nghề nghiệp rộng lớn.

5. Phước đức vô lượng.

6. Được làm vua Chuyển luân.

7. Thân tướng tròn đầy

8. Xa lìa tam đồ.

9. Mạng chung sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy do cúng thí dù lọng cho tháp của Phật mà được.

Nếu hoặc có người bố thí chuông, linh cho tháp của Phật, được mười thứ công đức? Những gì là mười?

1. Đoan nghiêm không thể so sánh được.

2. Diệu âm thật đáng ưa thích.

3. Tiếng như chim Ca-lăng

4. Ngôn từ nhu nhuyến.

5. Ai thấy cũng hoan hỷ.

6. Được sự đa văn như ngài A-Nan.

7. Tôn quý tự tại.

8. Tiếng tốt đồn xa.

9. Qua lại thiên cung.

10. Cứu cánh được viên tịch.

Công đức như vậy do bố thí chuông, linh cho tháp của Phật mà được quả báo thù thắng.

Nếu lại có người bố thí tràng phan cho tháp của Như Lai có mười công đức. Những gì là mười?

1. Hình dung ngay thẳng, được trường thọ, tròn đầy.

2. Thế gian ân trọng.

3. Tín căn kiên cố.

4. Hiếu dưỡng cha mẹ.

5. Thân hữu quyến thuộc thật nhiều.

6. Được khen ngợi có tiếng tốt.

7. Sắc tướng đoan nghiêm.

8. Ai thấy cũng hoan hỷ.

9. Sanh nhà thượng tộc, phú quý, tự tại, được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy do bố thí tràng phan cho tháp của Phật mà được.

Nếu có người dâng cúng y phục cho tháp của Như lai được mười hai thứ công đức thù diệu. Những gì là mười hai?

1. Thân thể ngay thẳng.

2. Ai thấy cũng hoan hỷ.

3. Phước tướng sáng láng.

4. Sắc tướng vi diệu.

5. Sắc hình đẹp không thể so sánh.

6. Thân không có trần cấu.

7. Y phục sạch đẹp.

8. Ngọa cụ mềm mại.

9. Được đại tự tại.

10. Mạng chung được sanh lên trời.

11. Ai thấy cũng đều kính yêu.

12. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy do dâng cúng y phục cho tháp của Phật mà được.

Nếu lại co người cúng dường hoa cho tháp của Như Lai có mười công đức. Những gì là mười?

1. Sắc tướng đẹp như hoa

2. Thế gian không thể so sánh.

3. Tỷ căn không hư hoại.

4. Thân không xú uế.

5. Diệu hương thanh tịnh.

6. Vãng sanh 10 phương tịnh độ, được thấy Phật.

7. Hương giữ giới thơm phức.

8. Thế gian ân trọng, được đại pháp lạc.

9. Được sanh lên trời tự tại.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy do dùng hoa cúng dường tháp xá lợi của Phật mà được.

Lại nếu có người dùng tóc trải ra để dâng cúng tháp Như Lai, được mười thứ công đức. Những gì là mười?

1. Nhân sắc mềm mại thù diệu.

2. Thân không hôi thối.

3. Hình thể thanh tịnh.

4. Sanh về mười phương cõi Phật.

5. Hương giới thơm phức.

6. Hằng nghe diệu hương.

7. Quyến thuộc được viên mãn.

8. Các căn vui thích.

9. Sanh lên trời tự tại.

10. Mau chứng Niết-bàn.

Công đức như vậy là do dâng cúng tóc nơi tháp Như Lai mà được.

Nếu lại có người bố thí đèn cúng dường tháp xá lợi của Phật, được mười công đức. Những gì là mười?

1. Được nhục nhãn thanh tịnh.

2. Được thiên nhãn thanh tịnh.

3. Xa lìa tam độc.

4. Được các thiện pháp.

5. Thông minh trí tuệ.

6. Xa lìa ngu si.

7. Không đọa vào tam đồ tối tăm.

8. Được tôn quý tự tại.

9. Qua lại các cõi trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do cúng dường đèn cho tháp xá lợi của Phật.

Nếu lại có người bố thí hương hoa cúng dường tháp của Như Lai được mười công đức. Những gì là mười?

1. Tỷ căn được thanh tịnh.

2. Thân không có hôi thối.

3. Thân sạch, có mùi thơm vi diệu.

4. Hình tướng đoan nghiêm.

5. Được thế gian cung kính.

6. Ưa pháp và nghe nhiều.

7. Được tôn quý tự tại.

8. Tiếng tốt đồn khắp.

9. Mạng chung được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Mười thứ công đức như vậy là do bố thí hương hoa cúng dường tháp xá lợi của đức Như Lai.

Nếu lại có người dùng âm nhạc vi diệu cúng đường tháp của Phật được mười thứ công đức thù thắng vi diệu. Những gì là mười?

1. Thân tướng đoan nghiêm.

2. Ai thấy cũng hoan hỷ.

3. Được âm thanh vi diệu.

4. Ngôn từ hòa thuận.

5. Thân thể thích nghi.

6. Xa lìa sự sân hận

7. Được sự đa văn của ngài Khánh Hỷ.

8. Được tôn sùng, tôn quý, tự tại.

9. Mạng chung được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do dùng âm nhạc vi diệu cúng dường tháp của Phật.

Nếu lại có người hoan hỷ tán thán tháp của Như lai được mười tám thứ công đức thắng diệu. Những gì là mười tám?

1. Chủng tộc tôn quý, cao thượng.

2. Hình tướng đoan nghiêm.

3. Thân thể ngay thẳng đầy đặn.

4. Ai thấy, nghe thấy cũng đều hoan hỷ.

5. Tiền của vô lượng.

6. Quyến thuộc rộng lớn.

7. Không bị mất mát, hư hoại.

8. Được tôn quý tự tại.

9. Thường sanh về cõi Phật.

10. Tiếng tăm đồn xa.

11. Đức tốt được tán tụng.

12. Tứ sự được dồi dào.

13. Người trời đều cúng dường.

14. Được làm Chuyển luân vương.

15. Thọ mạng được lâu dài.

16. Thân thể cứng chắc như kim cang.

17. Mạng chung được sanh lên trời.

18. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do hoan hỷ tán thán tháp xá lợi của Phật.

Nếu lại có người bố thí giường tòa cho Phật được mười thứ công đức. Những gì là mười?

1. Đức nghiệp được tôn trọng.

2. Được thế gian khen ngợi.

3. Tay chân có nhiều sức mạnh.

4. Danh xưng dù xa cũng nghe.

5. Đức tốt được ca tụng.

6. An hòa vui thích.

7. Được ngồi tòa của Chuyển luân vương, kẻ hầu hạ thật nhiều.

8. Ai thấy cũng hoan hỷ

9. Được sanh lên trời Tự tại, đầy đủ phước tướng.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do cúng thí giường tòa cho Phật mà được quả báo thù thắng ấy.

Nếu lại có người bố thí giày dép cúng dường Tăng chúng của Phật, được mười công đức. Những gì là mười?

1. Oai nghi mô phạm.

2. Voi ngựa không thiếu.

3. Hành đạo dõng kiện.

4. Thân không mệt mỏi.

5. Chân đi không tổn hại.

6. Xa lìa gai góc, cát sỏi.

7. Được thần túc thông.

8. Tôi tớ đông đảo.

9. Sanh lên trời Tự tại.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do bố thí giày dép cho tỳ kheo chúng của Phật.

Nếu lại có người bỏ 10 vật vào bình bát cúng thí cho Phật và Tăng, được mười thứ công đức. Những gì là mười?

1. Hình sắc sáng rạng.

2. Đồ đựng đầy đủ, tùy ý thọ dụng.

3. Không bị các sự đói khát.

4. Ngọc báu thật nhiều.

5. Xa lìa đường ác.

6. Nhân thiên đều hoan hỷ.

7. Phước tướng tròn đầy.

8. Được tôn quý tự tại.

9. Hằng được sanh lên các cõi trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do cúng đồ đựng nên được quả báo ấy.

Nếu lại có người lấy cơm chay cúng dường Phật và chúng Tăng có mười công đức; những gì là mười?

1. Thọ mạng lâu dài.

2. Hình sắc đầy đặn tròn trịa.

3. Tay chân có sức lực.

4. Ký ức không quên (trí nhớ tốt)

5. Trí huệ biện tài.

6. Ai thấy cũng hoan hỷ.

7. Có nhiều châu báu.

8. Dù ở cõi người hay ở cõi trời vẫn được tự tại.

9. Sau khi chết được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Mười món công đức thù thắng như vậy là do cúng cơm chay cho Phật và chúng Tăng.

Nếu lại có người dùng voi, ngựa, xe cộ cúng thí cho Phật và chúng Tăng có mười công đức. Những gì là mười?

1. Tướng của bàn chân mềm mại.

2. Có oai nghi không sứt mẻ.

3. Thân thể không mệt mỏi.

4. An lạc không bệnh.

5. Oan gia xa lìa.

6. Thần túc tự tại.

7. Có nhiều tôi tớ.

8. Có phước tướng của nhân thiên, ai thấy cũng hoan hỷ.

9. Sau khi chết được sanh lên trời.

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do dùng xe cộ, voi ngựa cúng thí cho Phật và chúng Tăng.

Nếu lại có người tu sửa phòng thất, nhà cửa, cung điện cúng thí cho Phật và chúng Tăng có nhiều công đức. Hành tướng của công đức ấy như thế nào?

¯ Hằng xa lìa sợ sệt.

¯ Thân tâm an lạc.

¯ Được ngọa cụ mềm mại tối diệu.

¯ Y phục trang nghiêm, thân thể hương thơm thanh tịnh.

¯ Ở nhân gian hay thiên thượng được ngũ dục tự tại.

¯ Làm sát đế lợi, bà la môn đại tánh chủng tộc.

¯ Và trưởng giả, cư sĩ, tể quan, thương chủ, làng xóm, thành ấp, quốc vương, đại thần, tùy nguyện được đầy đủ, tất cả đều thành tựu.

¯ Nếu làm Chuyển luân thánh vương, tùy theo sức lực (thống nhiếp) một châu, hai châu, cho đến bốn châu nhà vua giáo hóa tự tại.

¯ Nếu ở Lục dục chư thiên, Tứ vương Đao lợi, cho đến Tha hóa Tự tại, mọi ý nguyện đều thành tựu, tùy ý sanh ra.

Nếu lại có người do phước lực đời trước đối với các cõi trời Sắc giới, Phạm chúng, Phạm phụ, cho đến cõi trời Sắc cứu cánh, đều được thành tựu ý nguyện sanh ở các cõi ấy.

Nếu lại có người đối với cõi Vô sắc giới, Không vô biên xứ, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ đều được thành tựu, hoặc đối với quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và A la hán, Duyên giác, cho đến Vô thượng Bồ đề, tùy ý đều cũng được thành tựu. Công đức như vậy sai biệt vô lượng. Nhân sửa phòng nhà, cung điện, lầu gác, cúng thí cho Phật và Tăng mà được quả báo như vậy.

Nếu lại có người dùng thuốc thang, đồ uống mỹ diệu Cúng Phật và Tăng được mười thứ công đức. Những gì là mười thú?

1. Các căn được viên mãn.

2. Thanh tịnh tươi sạch.

3. Trán rộng ngay thẳng.

4. Dung mạo vui vẻ.

5. Hình sắc sáng rạng.

6. Phước đức tròn đầy.

7. Không bị đói khát.

8. Xa lìa ba ác đạo.

9. Được sanh lên trời Tự tại

10. Mau chứng viên tịch.

Công đức như vậy là do bố thí thuốc thang, đồ uống mỹ diệu cho Phật và chúng Tăng mà được.

Nếu lại có người theo Phật xuất gia - Tu ở ở rừng - Ôm bát khất thực ......

(Mời xem chi tiết đoạn này trong Kinh)

Khi đức Phật nói pháp này, lúc ấy trưởng giả Du ca bạch Phật

–Thưa Thế tôn, trong dòng họ Ô bá tắc ca và trong tất cả các dòng họ Sát-đế-lợi, Bà la môn ở nước Xá vệ này, nghe pháp này hoan hỷ, nhớ nghĩ và thọ trì. Quyến thuộc của chúng con đều rất yêu thích, mãi mãi được an lạc, lợi ích cho mình và cho người không cùng tận.

Đức Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Này trưởng giả Du ca, đúng như lời ngươi nói.

Đức Thế tôn nói lời ấy xong, trưởng giả Du ca, con của Đâu nễ dã và các Bí sô, vô lượng trăm ngàn người và không phải người v. v... hoan hỷ, phấn khởi, lạy Phật rồi lui ra.

Hết Quyển Hạ