Tổng Hợp Tooltip và Thuật Ngữ, Cấu Tạo Và Năng Lượng Ảnh Hưởng Con Người

TỔNG HỢP

Xem thêm: Tổng hợp Minh triết Mới nhiều liên quan đến con người

A- CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN CON NGƯỜI - CON ĐƯỜNG TIẾN HÓA Con đường Dự bị (Path of Probation): Trong thực tế, con đường dự bị là toàn thể kinh nghiệm sống (life experience), trước khi bước lên con đường đệ tử (discipleship). (CTHNM, 279)

Con đường Ly Nguyên (Path of Outgoing): - Con đường ly nguyên đưa vào vật chất. (CTHNM, 569) 

– Huynh đệ hắc đạo dồn hết thì giờ vào các mãnh lực giáng hạ tiến hóa, hay là Con Đường Ly Nguyên.    (LVLCK, 987)

Con đường Qui Nguyên (Path of Return, Phản Bổn Hoàn nguyên):

- Như người ta biết rõ, nhà huyền linh học hoạt động theo khía cạnh tiến hóa thăng thượng hay liên quan đến Con đường Qui Nguyên.(LVLCK, 987)

– Bốn giai đoạn của Con đường Qui Nguyên:

a/ Chính giai đoạn tiến hóa.

b/ Giai đoạn Con đường Dự

c/ Giai đoạn Con đường Đệ tử.

d/ Giai đoạn Con đường Điểm đạo.    (CVĐĐ, 476)

- Nhờ con đường Quy nguyên, nhân loại được rút ra khỏi sự chú trọng vào ngoại cảnh, bắt đầu nhận ra và ghi nhận các tri thức hữu thức nội tâm của những gì không có tính chất hiện tượng, để rồi, nhờ vào diễn trình tiến hóa, đạt được một trình độ phát triển mà trong đó một số người có thể noi theo con đường này từ ý thức hồng trần (physical consciousness) đến ý thức tình cảm và từ ý thức tình cảm (emotional consciousness) đến ý thức trí tuệ (mental consciousness).  (GDTKNM, 27)

Con đường Thanh Luyện (Path of Purification): Con đường Dự bị là Con đường Thanh luyện.(TLHNM, 307)

Con người (man): Con người là một điểm linh quang (point of divine light) bị che giấu trong một số lớp vỏ bao bọc (enveloping sheaths) giống như ánh sáng bị che giấu bên trong ngọn đèn lồng. (TTTĐTG, 76)

- Con người là một thực thể (being, sinh vật) mà trong y, phần tinh thần cao siêu nhất và phần vật chất thấp thỏi nhất được nối kết lại với nhau bằng trí tuệ (intelligence). (TTCNT, 83)

- Theo chúng tôi biết, Con Người hay cái hình bóng thanh nhẹ (filmy image) của con người có thể đã xuất hiện từ 300.000.000 năm nay, mặc dù chúng tôi không được dạy cho biết các con số chính xác, vì chúng được các Chân Sư của Huyền Môn giữ bí mật như đã nói trong Esoteric Buddhism. (GLBN  3,   253)

Con người, các dị biệt tạm thời (Temporary differences): Con người khác nhau ở các điểm:

a/ Cung năng lượng (hầu hết tác động đến từ khí của sự sống).

b/ Tiếp cận với chân lý, hoặc con đường huyền linh, hoặc con đường thần bí có mãnh lực thu hút mạnh hơn.

c/ Sự an trụ, định đoạt chủ đích của tình cảm, trí tuệ hay xác thân của một kiếp sống.

d/ Tình trạng tiến hóa đưa đến sự đa dạng đã thấy trong con người.

e/ Cung hoàng đạo, xác định khuynh hướng của bất cứ kiếp sống đặc biệt nào.

f/ Giống dân, đặt phàm ngã dưới hình tư tưởng riêng biệt của giống dân đó.  (LVHLT, 111)

Con người, cấu tạo (Constitution of man): Về căn bản, cấu tạo của con người gồm ba phần như sau:

  1. Chân Thần (Monad , hay Tinh thần thuần khiết (pure Spirit), Cha Trên Trời (Father in Heaven). Trạng thái này phản chiếu Ba Ngôi của Thượng Đế (Godhead):
    1. Ý chí hay Quyền năng (Will or Power) . Chúa Cha
    2. Bác ái–Minh Triết (Love–Wisdom) ...... Chúa Con
    3. Trí tuệ linh hoạt(ActiveIntelligence).......ChúaThánh Thần.

Chân Thần tự phản chiếu lần nữa trong:

  1. Chân Ngã (Ego), Thượng Ngã (Higher Self) hay Biệt Ngã (Individuality). Tiềm năng của trạng thái này là:
    1. Ý chí Tinh thần ………………………….. Atma (Linh thể).
    2. Trực giác ………………………………………….Buddhi (Tuệ giác thể),
    3. Bác ái– Minh triết, nguyên khí Christ. Thượng trí hay Trí trừu tượng … Manas cao (Thượng trí thể).

Nơi người tiến hóa cao, Chân Ngã bắt đầu hiển thị sức mạnh của mình, và sức mạnh này ngày càng tăng trên đường Dự Bị cho đến lần điểm đạo ba thì Thượng Ngã hoàn toàn kềm chế Phàm Ngã, và trạng thái cao nhất bắt đầu hiển lộ năng lượng.  Chân Ngã tự phản chiếu trong: Phàm Nhân hay Phàm Ngã (Personality hoặc lower self), con người hồng trần (physical plane man): Trạng thái này cũng có ba phần:

  1. Hạ trí (mental body) ...................... Manas thấp(Thể hạ trí)
  1. Thể tình cảm (emotional body) ..... Thể cảm dục
  2. Thể hồng trần (physical body) ……... Xác thịt trọng trược (dense physical body) và thể dĩ thái. (ĐĐNLVTD, XV)

Con người, phân loại (People, categories): Có ba hạng người (three types of people):

a/ Người cảm dục (Kamic people, kamic person): những người này có tính chất và cấu tạo thuần là cảm dục (purely astral).

b/ Người trí cảm (kama–manasic person): đây là những người quân bình (balanced people), họ là các Phàm Ngã hội nhập (integrated personalities). Người trí cảm có được  cái gọi là “sự tự do của cuộc sống nhị phân” (“freedom of the dual life”) và thấy chính mình có được hình thức nhị phân (dual form) khiến cho y tùy ý giao tiếp với các phân cảnh cao của cõi cảm dục và các phân cảnh thấp của cõi trí. Tôi xin nhắc lại rằng không có não bộ hồng trần nào ghi lại được các tiếp xúc này. Biết được sự tiếp xúc là tùy vào hoạt động bên trong của chân nhân (inner man) và tình trạng đặc biệt của cách hiểu biết và đánh giá.

c/ Người thiên về trí (manasic subjects /person /man):  Đây là những người tiến hóa  (advanced people) và các đệ tử đủ mọi cấp. Những người này có cách sống chính yếu là tập trung vào trí. Người thiên về trí, tức Phàm Ngã hội nhập, hoạt động theo hai cách tất nhiên là tùy vào mức độ hội nhập đã đạt được. Có hai loại hội nhập:

1– Loại Phàm Ngã hội nhập tập trung vào trí và có được mối liên giao luôn luôn tăng tiến với linh hồn.

2– Bậc đệ tử, có Phàm Ngã hội nhập đang được hội nhập một cách nhanh chóng vào linh hồn và được hóa nhập (absorbed) bởi linh hồn. (CTNM, 487–488, 498)

Con người, sau khi chết (People, sau khi chết): Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy mình có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy mình ở trên cõi trí. Đa số con người đều thấy mình ở cõi cảm dục, khoác lấy lớp vỏ (shell) bằng chất cảm dục (astral matter) và phải chịu một giai đoạn thải bỏ (olimination) bên trong vùng ảo giác (illusory area) của cõi cảm dục.(CTNM, 486)

Con người sơ khai (Early mankind): Các nhà huyền linh học vốn vững tin vào các giáo lý của Minh triết Nguyên thủy đã bác bỏ các bài bác của các nhà thần học lẫn các nhà khoa học. Các nhà huyền linh học chủ trương rằng ngay vào thời kỳ mà trái đất còn nóng bỏng, thậm chí ở hai cực nữa, với những cơn ngập lụt liên tiếp làm xáo trộn các thung lũng và thường xuyên tạo ra thay đổi của các vùng nước và biển mênh mông, các tình trạng đó cũng không thể gây trở ngại cho sự sống và cơ cấu (organization) đối với con người sơ khai. Tính chất hỗn tạp của môi trường chung quanh, đầy dẫy các chất khí độc hại cũng như các hiểm họa của lớp vỏ địa cầu vừa mới đông đặc, tất cả đều không thể ngăn được Giống Dân Thứ Nhất và Thứ Hai xuất hiện, ngay cả trong Kỷ Thạch Thán (Carboniferous Age – cách nay 360 triệu–295 triệu năm–ND) hay chính Kỷ Silur (Silutian Age – cách nay 435 triệu–410 triệu năm–ND).  (GLBN III, 157–158)

Cô đơn (loneliness, cô độc): Hãy dọn mình hứng chịu cô đơn. Đó là định luật. Khi một người tự tách rời khỏi những gì liên quan đến thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí của mình và an trụ vào Chân Ngã thì việc đó tạo ra một chia cách tạm thời. Phải cố gắng chịu đựng và vượt qua tình trạng này, sau này, nó sẽ đưa đến một mối liên hệ chặt chẽ hơn với tất cả những ai cộng tác với vị đệ tử qua nghiệp quả của các tiền kiếp, qua công tác tập thể và qua hoạt động của vị đệ tử (lúc đầu xảy ra hầu như vô thức) để tập hợp lại những người mà sau này y sẽ làm việc thông qua họ.(ĐĐNLVTD, 76)

Cô tịch (solitude, tịch lặng, ninh tĩnh): Một trong các điều kiện ban đầu mà vị đệ tử phải bồi đắp, ngõ hầu nhận thức được thiên cơ và được Chân Sư sử dụng là trạng thái cô tịch. Trong cô tịch, đóa hoa của linh hồn mới phát triển; trong cô tịch, mới nghe được tiếng nói của Linh Ngã; trong cô tịch, các năng lực và ân huệ của Thượng Ngã mới có thể bắt rễ và trổ hoa trong Phàm Ngã. Cũng trong trạng thái cô tịch, Chân Sư mới có thể tiếp cận và tạo ấn tượng lên linh hồn tĩnh lặng những tri thức mà Ngài tìm cách truyền đạt, những bài học cần phải học, phải lĩnh hội. Trong trạng thái tịch lặng, người ta mới nghe được diệu âm (sound).      (LVHLT, 13)

Cổ Ai Cập (The older Egyptians): Như đã nêu rõ trong Minh triết Nội môn (Esoteric Buddhism), người Ai Cập, cũng như người Hy Lạp và La Mã, cách đây vài ngàn năm, đều là “tàn dư (remnants) của giống dân Atlant–ryans” – người Ai Cập thuộc giống người Atlant xưa hơn, ở đảo Ruta, hậu duệ của giống dân cuối cùng thuộc đảo đó, các đệ tử được điểm đạo của Ai Cập đã thuật lại với Solon (638?–?559 trước TC., một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp–ND) câu chuyện về việc biến mất bất ngờ của đảo Ruta này. Triều đại (Dynasty) nhân loại của người cổ Ai Cập bắt đầu với Menes (có khi viết là Mena, phát triển năm 3400 (3500?) trước TC., vị vua đầu tiên của Triều đại thứ nhất (Thinite) của Ai Cập–ND) có được tất cả kiến thức của người Atlantis mặc dù trong mạch máu của họ không còn dòng máu Atlant nữa. Tuy nhiên, họ đã bảo tồn được mọi kiến thức cổ đó. (GLBN III, 434)

Cơ cấu (mechanism, bộ máy) : Khi dùng từ ngữ “cơ cấu” trong các giáo huấn này là tôi đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vận cụ (instrument), thể (body) hay bản chất hình hài (form nature) mà mọi linh hồn tìm cách biểu hiện qua đó. Do đó, tôi đề cập tới:

  • Thể xác trọng trược.
  • Thể dĩ thái.
  • Thể cảm dục.
  • Thể hạ trí (CTNM, 2–3)

Cơ thể con người (Human body): Chất liệu của hai phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói thêm rằng nơi kẻ thường nhân, chất liệu của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm đa số tùy theo mức tiến hóa của người đó. (LVLCK,942)

Cung (Ray, cung năng lượng): Một trong bảy luồng thần lực của Thượng Đế; 7 nguồn sáng vĩ đại. Mỗi nguồn sáng biểu hiện cho một Thực Thể Thông Linh vũ trụ vĩ đại. Bảy cung được chia thành ba cung trạng thái và bốn cung thuộc tính như sau: Cung trạng thái (Ray of Aspect) :

  1. Cung Ý chí hay Quyền năng.
  2. Cung Bác ái–Minh triết.
  3. Cung Hoạt động hay Thích nghi

Cung thuộc tính (Ray of Attributs) :

  1. Cung hài hòa, Mỹ lệ, Nghệ thuật hay Hợp nhất.
  2. Cung Kiến thức cụ thể hay Khoa học.
  3. Cung Lý Tưởng Trừu tượng hay Sùng tín.
  4. Cung Huyền thuật Nghi lễ hay Định luật.

Các tên nêu trên chỉ là một vài trong số nhiều tên, và tiêu biểu cho các khía cạnh khác nhau của thần lực mà nhờ đó Thượng Đế biểu hiện.  (ĐĐNLVTD, 224)

+ Các Cung của Nhân Loại (Trích Tâm Lý Học Nội Môn GQ1.1)

(EP I, 332) Các ảnh hưởng làm cho một người là chính y, và quyết định tính chất bề ngoài của y … [các ảnh hưởng này] là cung cá nhân và cung linh hồn của riêng y, vốn tác động trên y và ảnh hưởng tâm thức của y, tìm lối vào khí cụ hình tướng của y nhờ các đơn vị năng lượng mà hình tướng đó được tạo nên. Ngoài ra, các ảnh hưởng quyết định khác là những yếu tố thái dươngvũ trụ và môi trường vốn cũng tác động trên y, gồm.

1. Cung của chính thái dương hệ.

2. Cung của Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh chúng ta.

3. Cung của chính giới nhân loại.

4. Cung chủng tộc đặc biệt của chúng ta, cung xác định giống dân Aryan.

5. Các cung chi phối bất kỳ chu kỳ đặc biệt nào.

6. Cung quốc gia, hay ảnh hưởng cung vốn đang ảnh hưởng đặc biệt đến một quốc gia cụ thể.

7. Cung linh hồn, hay chân ngã.

8. Cung phàm ngã.

9. Các cung chi phối:

a. Thể trí.

b. Thể cảm xúc hay cảm dục.

c. Thể xác. Các Cung chi phối các mức độ Linh Hồnphàm ngãthể trí, thể tình cảm và thể xác Linh hồn con người, hay ego được nhận thấy ở một trong bảy cung. Cung phàm ngã có thể ở trên bất kỳ cung nào của 7 cung. Bản chất trí tuệ và thể trí được chi phối bởi Cung 1, 4 và 5. Bản chất và hình thái tình cảm bị chi phối bởi Rays II và VI Sinh khí và thể xác bị chi phối bởi Rays III và VII. 321 Cung 4 và 5, ảnh hưởng của chúng trên nhân loại (EP I, 320)

Hai cung có hiệu lực đặc biệt trong việc đưa giới nhân loại vào sự biểu lộ: Cung bốn hay Cung của sự Hài Hòa, sự mỹ lệ và sự thống nhất, đạt được thông qua xung đột. Cung năm hay Cung Kiến ​​Thức Cụ Thể, hoặc năng lực hiểu biết. Cung thứ tư là là cung đặc biệt chi phối nhân loạiCó một mối quan hệ về số phải được lưu ý ở đây, vì Huyền Giai sáng tạo thứ tư của các chân thần con người, cung thứ tư, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, trên bầu thứ tư, tức Trái Đất, đều cực kỳ năng động. Đó là mối tương quan và tương tác mật thiết chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện nổi trội của nhân loại … Nhân loại hiện nay bước đi trong ánh sáng ban ngày, nói một cách tượng trưng, trên Địa Cầu, và hai cung này chịu trách nhiệm cho quá trình khởi động sự tiến hóa của con người trong chu kỳ trọng đại này. Mục tiêu của chúng ta là làm hài hoà các trạng thái hay các nguyên khí cao và thấp, cả trong cá nhân và trong tổng thể. Điều này bao hàm sự xung đột và tranh đấu, nhưng cuối cùng tạo ra sự mỹ lệ, năng lực sáng tạo trong nghệ thuật, và sự tổng hợp. Kết quả này đã không thể có được, nếu nó không nhờ vào công việc có uy lực mạnh mẽ của Cung năm là Cung Kiến Thức Cụ Thể – kết hợp với cung bốn – đã tạo ra hình ảnh của thiên tính mà chúng ta gọi là một con người. 1. Linh hồn con người, hay ego được nhận thấy trên một trong bảy cung. 2. Bản chất trí tuệ và thể trí được chi phối bởi Cung 1, 4 và 5. 3. Bản chất và hình thái tình cảm bị chi phối bởi Rays II và VI 4. Sinh khí và thể xác bị chi phối bởi Rays III và VII. Cung bốn cuối cùng tạo ra … trực giácCung năm … trí năng … (con người) pha trộn trong y những tính chất của ba giới trong thiên nhiên … 1. Giới linh hồn Trực giác. 2. Giới nhân loại . Trí năng. 3. Giới động vật . Bản năng. Cung 4 của Giới Thứ Tư (EPI-342)              

Cung Chân Ngã của Sự Sống, vốn thấm nhuần gia đình nhân loại là (Cung 4), và cung phàm ngã là (Cung 5). Sự Hài Hòa qua xung đột (4), và năng lực để đạt được kiến thức thông qua sự lựa chọn sáng suốt (5) – đây là hai cung hay hai ảnh hưởng chủ yếu vốn quét qua nhân loại nói chung, và hướng nó về phía trước theo vận mệnh thiêng liêng của nó.

B- CẤU TẠO CON NGƯỜI (Theo Minh Triết Mới)

13 Pic 4 14


Chân Thần – Phương diện thứ nhất, Ý chí và Quyền lực: Đó là mối nối của chúng ta với Đại Hồn. Đó là nguyên khí duy nhất bất tử và vĩnh cửu trong chúng ta, là một tia sáng sẽ được hấp thụ trở lại vào Cội Nguồn của nó vào lúc cuối chu kỳ. Chân Thần tự biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh thần. Tam Nguyên này lại biểu lộ qua Linh Hồn. Tam Nguyên Tinh thần 1. (Atma) ý chí tinh thần. 2. (Buddhi) hồn thiêng. 3. Thượng trí. 2. CHÂN NHÂN (EGO) / LINH HỒN / THÁI DƯƠNG THIÊN THẦN – Phương diện thứ hai, Bác ái và Minh triết Thái Dương Thiên Thần hay Linh Hồn đi vào luân hồi để tiết lộ lòng bác ái của Thượng Đế. Linh hồn lại biểu lộ qua các thể thấp. 3. PHƯƠNG DIỆN “CON NGƯỜI” HAY PHÀM NGÃ – Phương diện thứ ba, Hoạt động. Hạ Trí: mảnh thông tuệ của linh hồn được cấy vào trong thể trí của con người. Nó là công cụ mà qua đó sự Tự Thực Chứng (Self-realisation) được thành tựu. Bản chất Cảm Xúc: đây là thể ham muốn-cảm giác cung cấp sự biểu hiện các tình cảm, từ tình yêu và tình cảm con người đến tâm lý sợ hãi và căm ghét. Thể Xác - Thể Dĩ Thái: cho phép linh hồn tiếp xúc với các hình tướng khác trên Cõi Trần, và thu được những kinh nghiệm cần thiết để mang lại sự Tự Thực Chứng. Nơi Người Trung Bình, Thể Mạnh Mẽ nhất vẫn còn là Thể Tình Cảm.   CHÂN THẦN (Tinh Thần) TAM NGUYÊN TINH THẦN     LINH HỒN PHÀM NGÃ THỂ TRÍ     THỂ TÌNH CẢM (Cảm Dục)     THỂ XÁC - THỂ DĨ THÁI           BIỂU ĐỒjpg_Page2.jpg

Xem thêm nguồn: Cấu Tạo Cong Người Qua bảy Cảnh giới Xem thêm: Cấu Tạo Cong Người 1     Cấu Tạo Cong Người 2     Cấu Tạo Cong Người 3

+ Trích Lời nói đầu: .......... Nhưng tôi rất vui mà nói rằng giáo huấn sau này chỉ cho thấy sự không đầy đủ trong quan niệm nguyên thủy của tôi về giáo lý bí truyền, chứ cho tới nay không có một sự sai lầm quan trọng nào. Thật vậy, tôi đã nhận được từ vị Chơn sư (mà tôi có được giáo huấn của mình lần đầu tiên) lời đoan chắc quyển sách như nó trình bày hiện nay là một phát biểu lành mạnh và đáng tin cậy về hệ thống Thiên nhiên theo như các điểm đạo đồ thuộc khoa huyền bí học hiểu được............

Ngỏ lời với độc giả: ........ Chẳng hạn như tất cả những điều trong quyển sách này liên quan tới cuộc sống trên cõi Trung giới (tức Kama Loka) đã hoàn toàn lạc hậu. Tác phẩm sau này của tôi Sự tăng trưởng của Linh hồn đã minh họa đề tài này đến một mức độ nào đó, một quyển sách còn xuất bản mới gần đây nữa “Bên kia Cửa Tử” đã khoác lên một lớp vỏ mới cho những tình huống rất biến thiên vốn thịnh hành nơi các cảnh giới mà cái lớp vỏ siêu hồng trần của Trái đất được phân chia ra thành .......

Bảy thể của con người được mô tả sớm nhất, sơ đẳng nhất, gồm:

1.   Thể Xác: Rupa   Nhẹ 7 Cảnh thấp
2.   Sinh Lực: Prana hoặc Jiva   Nhẹ 6 Cảnh thấp
3.   Thể Phách: Linga Sharira   Nhẹ 5 Cảnh thấp
4.   Hồn Thú: Kama Rupa Đa số đang hoạt động mạnh mẽ Nhẹ 4 Cảnh thấp
5.   Hồn Người: Manas Con người tiến hoá hiện tại đang hoàn thiện Nhẹ 3 Cảnh cao
6.   Hồn Thiêng: Buddhi Đa số Nhân loại chưa có (Chỉ là mầm mống) Nhẹ 2 Cảnh cao
7.   Tinh Thần: Atma Nhân loại còn xa mới tiến hoá đến Nhẹ 1 Cảnh cao

Theo: Theo Sách: Phật Giao Bí Truyền (Mục: 2- Cấu tạo con người)

+ Có ba hạng người (three types of people):

a/ Người cảm dục (Kamic people, kamic person): Những người này có tính chất và cấu tạo thuần là cảm dục (purely astral).

b/ Người trí cảm (kama–manasic person): Đây là những người quân bình (balanced people), họ là các Phàm Ngã hội nhập (integrated personalities). Người trí cảm có được  cái gọi là “sự tự do của cuộc sống nhị phân” (“freedom of the dual life”) và thấy chính mình có được hình thức nhị phân (dual form) khiến cho y tùy ý giao tiếp với các phân cảnh cao của cõi cảm dục và các phân cảnh thấp của cõi trí. Tôi xin nhắc lại rằng không có não bộ hồng trần nào ghi lại được các tiếp xúc này. Biết được sự tiếp xúc là tùy vào hoạt động bên trong của chân nhân (inner man) và tình trạng đặc biệt của cách hiểu biết và đánh giá.

c/ Người thiên về trí (manasic subjects /person /man):  Đây là những người tiến hóa  (advanced people) và các đệ tử đủ mọi cấp. Những người này có cách sống chính yếu là tập trung vào trí. Người thiên về trí, tức Phàm Ngã hội nhập, hoạt động theo hai cách tất nhiên là tùy vào mức độ hội nhập đã đạt được. Có 2 loại hội nhập:

1– Loại Phàm Ngã hội nhập tập trung vào trí và có được mối liên giao luôn luôn tăng tiến với linh hồn.

2– Bậc đệ tử, có Phàm Ngã hội nhập đang được hội nhập một cách nhanh chóng vào linh hồn và được hóa nhập (absorbed) bởi linh hồn. (CTNM, 487–488, 498)

Xem thêm về Biệt ngã tính/ Ngã hóa;       Xem thêm: Phân nhóm/ Loại về Hạng người .... Xem thêm: Tổng hợp về Con người, các Thể (Xem: Điểm 6 mục Quy Luật 5 - Cấu Tạo Con Người 13- Thể Hồng Trần