tự xem bệnh của mình, xem dùng thuốc đang dùng có trị được bệnh không (TSBD-465)
Gồm các thành viên là các chính khách đang làm việc hay đã nghỉ hưu, có khả năng chỉ dẫn chính sách vĩ mô và vận động hành lang giúp Tập đoàn hoàn thành các kế hoạch mục tiêu kinh doanh
Đại hội đồng cổ đông CDC - Thành phần: Các cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông của Thiên Khôi Group
+ Chủ tịch hội đồng quản trị CDC:
Đại diện là ông: Nguyễn Thành Dũng
1- Nhân sự: 07 người; Nguyên tắc biểu quyết: Hơn nửa số người tham dự họp; Nhiệm kỳ 05 năm
+ Chủ tịch HĐQT và các Phó chủ tịch: Theo điều lệ
2- Chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn:
+ Vi tử thường tồn thượng trí - Mental / manasic permanent atom: Trạng thái thấp nhất của Tam Thượng Thể Tinh thần hay của linh hồn. (ASCLH, 14)
+ Bậc Thượng trí: Họ không như phàm nhân che kín điều lành dữ, họ là người sống thản nhiên trước thiện ác khổ đau sảy đến ở đời với tâm chính trực chờ đời thì cùng với Trời mức lượng nhu nhau ... [Nguồn: Pháp uyển Châu Lâm - Quyển 1 - Thiên 23]
+ Xuất gia:
Kinh nói xuất gia, là chỉ “tâm xuất gia”. Thân không xuất gia không cần thiết, không cần hình thức, tâm phải xuất gia.
“Xuất gia”: Đối với thế gian danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần không tiêm nhiễm, đây là xuất rồi.
+ Duyên xuất gia: Bây giờ tôi kể cho quý vị nghe một công án. Vào thời Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn trụ thế, có một cụ già nọ muốn xuất gia tu hành. Hôm ấy, cụ đến Kỳ Hoàn Tinh Xá để xin gặp Phật thì lại nhằm lúc Phật đi vắng. Bấy giờ, các đệ tử của Phật thấy ông cụ già nua tuổi tác thì có vẻ không thích lắm—tuổi đã cao, vừa già lại vừa nghèo, đã vậy còn lôi thôi lếch thếch nữa, như thế mà còn muốn xuất gia để làm gì chứ? Khi ấy, các vị đệ tử đã chứng quả A La Hán nhập Ðịnh quán sát thì thấy cụ già này chẳng có một chút căn lành nào cả, trong suốt tám vạn đại kiếp cụ chưa hề trồng được một mảy may thiện căn; mà như thế thì cụ không thể nào xuất gia, vì muốn xuất gia thì nhất định phải có thiện căn mới được! Có câu:
Chớ bảo xuất gia là chuyện dễ,
Ấy do nhiều kiếp trồng Bồ Ðề!
(Mạc đạo xuất gia dung dị đắc,
Giai nhân lũy thế chủng Bồ Ðề.)
Quývị thấy đó, xuất gia không phải là chuyện đơn giản! Phải là người mà đời đời kiếp kiếp đều gieo trồng rất nhiều thiện căn, thì mới có thể được xuất gia. Những người không có thiện căn mà muốn xuất gia tu hành, thì cũng khó thành công. Có người, niệm trước mới hăng hái muốn xuất gia tu tập, thì niệm sau lại do dự phân vân: "Ði tu sao thấy khó khăn, vất vả quá! Thôi, thôi, tôi không muốn xuất gia tu hành nữa!" Rồi chính mình lại thuyết phục mình bỏ cuộc: "Thôi, đừng! Ðừng đi tu nữa!"
Lại nói về cụ già nọ, bởi các đệ tử A La Hán của Phật đều thấy cụ không có thiện căn, cho nên không nhận cho cụ xuất gia. Cụ già này vốn nghèo đến nỗi không đủ cơm ăn áo mặc và đã ngoài chín mươi hoặc xấp xỉ một trăm tuổi rồi, đi đứng cũng rất khó khăn, chậm chạp. Bấy giờ, cụ bị khước từ, không được xuất gia, nên buồn rầu than thở: "Tôi già nua tuổi tác như vầy rồi, chỉ muốn xuất gia để được an lạc thanh thản đôi chút lúc tuổi già sức yếu, nào ngờ đệ tử của Phật lại khăng khăng chẳng chịu thâu nhận!" Rồi cụ bật khóc, vừa đi vừa khóc lóc sụt sùi rất thảm thiết. Bất chợt, trong lòng cụ nảy ra một ý định; ý định gì? Cụ thở dài tự nhủ: "Thôi thì mình đi tự vẫn cho rồi! Chỉ việc nhảy xuống sông Hằng là xong chuyện!" Và thế là cụ thất thểu lê gót về phía sông Hằng.
Khi cụ còn cách sông Hằng không bao xa, sắp sửa lao mình xuống dòng nước xiết, thì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến và hỏi rằng: "Ôi! Này ông lão, ông đang làm gì thế ? Ông định nhảy xuống sông ư? Tuổi cao như thế mà vẫn còn muốn bơi lội sao? Ôi! Tuổi tác của ông đã quá cao rồi, tay chân đều vụng về chậm chạp, đâu còn nhanh nhẹn để có thể bơi lội được nữa!"
Cụ già đau khổ đáp: "Không phải như thế! Tôi chỉ muốn chết, tôi muốn kết liễu đời mình cho rồi. Tôi không còn muốn sống nữa. Sự sống bây giờ đối với tôi không có ý nghĩa gì cả!"
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ôn tồn gặng hỏi: "Tại sao ông lại bảo rằng cuộc sống của ông không có ý nghĩa? Ông có thể nói cho Ta rõ nguyên nhân được chăng?"
Cụ già bèn kể lể: "Tôi vì cảm thấy cuộc đời này không có ý nghĩa, cho nên muốn xuất gia, theo Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành. Hôm nay tôi đến Tinh Xá để xin được xuất gia đi tu, nhưng các đệ tử của Phật nói rằng tôi không có thiện căn, cho nên họ không thể thâu nhận tôi được. Tâm trí tôi tha thiết muốn xuất gia, song lại xuất gia không được, thế thì tôi còn sống làm gì nữa? Tôi thà chết đi còn hơn! Do đó, tôi muốn nhảy xuống sông Hằng, uống no một bụng nước mà chết, rồi kiếp sau đầu thai làm người trai trẻ để xuất gia tu hành. Chứ bây giờ các đệ tử của Phật đều không thích người già nua, lại thấy mặt mày tôi có lẽ cũng xấu xí cằn cỗi, nên không ai thích tôi cả!"
Nghe qua tự sự, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dịu dàng bảo: "Ồ! Ông lão muốn xuất gia ư? Thế thì ông khỏi cần nhảy xuống sông nữa! Ta sẽ thâu nhận ông làm đệ tử, vậy ông hãy theo Ta trở về Tinh Xá!"
Cụ già lấy làm ngạc nhiên vội hỏi: "Thật ư? Thế ... chẳng hay Ngài là ai vậy?"
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Ta là Phật Thích Ca Mâu Ni đây!"
Cụ già mừng rỡ hỏi lại: "Ôi! Ngài là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ư? Ngài bằng lòng thâu nhận con làm đệ tử sao?"
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni gật đầu: "Phải, Ta thấy ông than khóc rất đáng thương, thôi thì Ta nhận ông làm ‘lão đệ tử’ vậy!"
Sau đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn cụ già về Kỳ Hoàn Tinh Xá và thuyết pháp cho nghe; vừa nghe Phật thuyết pháp cụ lập tức chứng được quả vị A La Hán. (Lúc Phật còn trụ thế, có rất nhiều người chứng được A La Hán quả. Bởi Ðức Phật xem xét nhân duyên của họ mà thuyết pháp, cho nên Phật vừa giảng là họ liền tỉnh ngộ và chứng đắc quả vị.)
Bấy giờ, có một số đệ tử của Phật thầm nghĩ rằng: "Thật là kỳ lạ! Ông cụ này đã già như vậy, lại không có thiện căn gì cả, thì làm thế nào lại chứng quả vị được?" Do đó, họ sanh lòng hoài nghi đối với Phật Pháp, và tức tốc đến thỉnh vấn Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn! Ông lão này lẽ ra không thể xuất gia được; nay ông ta được Ðức Thế Tôn cho phép xuất gia, rồi lại chứng được quả vị nữa. Thật là vô cùng kỳ lạ! Việc này khiến chúng con sanh lòng hoài nghi đối với Phật Pháp."
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải: "Hàng A La Hán các ông chỉ biết được những việc nhân quả, thiện ác, nội trong tám vạn đại kiếp trở lại mà thôi; còn nếu lâu xa hơn nữa, tức là ở ngoài tám vạn đại kiếp, thì các ông không thể thấy được. Cũng như các ông ở trong căn phòng này, thì những việc xảy ra trong phòng các ông đều rõ biết, còn việc ở ngoài phòng thì các ông không thể nào biết được. Các ông phải biết, hơn tám vạn đại kiếp về trước, ông lão này vốn là một tiều phu thường lên núi đốn củi. Một hôm, ông tiều phu gặp phải một con cọp chực vồ lấy ông để ăn thịt. Ngay chính lúc tánh mạng đang bị đe dọa đó, ông tiều phu buột miệng niệm lên một tiếng ‘Nam mô Phật.’ Một tiếng niệm ‘Nam mô Phật’ trong khoảnh khắc đó cho đến hôm nay thì vừa chín muồi, do đó ông ấy được xuất gia và có thể chứng được quả vị."
Vì thế, những người hiện tại được xuất gia thì không phải là việc ngẫu nhiên hay tình cờ, mà là nhờ trong quá khứ họ đã từng niệm rất nhiều tiếng "Nam mô Phật"; bằng không, tôi cũng chẳng thể thâu nhận họ làm đệ tử! (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P9 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Đức Phật tìm vị Thầy dẫn tu trước khi thành đạo - Thánh cầu Giải thoát:
Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này". Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: "Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú". Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú". Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: "Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?"
Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin.
Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú".
Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: "Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". -- "Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy này các Tỷ-kheo, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta nói với Ta: "Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú". Này các Tỷ-kheo, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng.
Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.
Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú". Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú". Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?" Này các Tỷ-kheo được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: "Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú".
Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?" --"Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy". --"Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy."
Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn". Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: "Thật là vừa đủ để tinh tấn".
(Giác Ngộ)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!" Này các Tỷ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.
Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.
Rồi này các Tỷ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-lahán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. .........
Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu (Phật hãy Thuyết pháp), vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước.
Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên) . Mời đọc nguồn: 26.Kinh Thánh cầu
+ Truyện Đức Phật Đi Tu - "571. SÁU NĂM HỌC ĐẠO VỚI CÁC THIÊN SƯ" : Ta vào thời thiếu niên trong trắng, mái tóc xanh mướt, cho đến thời tráng niên năm hai mươi chín tuổi, bấy giờ sống cực kỳ hoan lạc, vui đùa, trang sức, du hành. Ta vào lúc ấy mặc dù cha mẹ khóc lóc, thân thuộc không ai vui, nhưng Ta cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để học đạo; thủ hộ thân mạng thanh tịnh, thủ hộ khẩu và ý mạng thanh tịnh.
- Ta đã thành tựu giới thân ấy rồi, lại muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn), cho nên lại ... Ta muốn chứng pháp này nên sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh. Sau khi tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, không bao lâu Ta chứng pháp ấy.
- Sau khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......). Ta bèn bỏ pháp này đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn.. không bao lâu Ta chứng pháp ấy.
- Sau khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......). Sau khi Ta sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh, không bao lâu chứng được pháp ấy.
- Khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......)......, không bao lâu chứng được pháp ấy.
- Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Pháp này không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết - Bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ pháp này để đi tìm cầu thêm nữa, sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn’. Ta liền xả bỏ pháp ấy để đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn. (Trung A Hàm, Kinh La-Ma, Phẩm 17, số 204)
+ Đức Phật tu vô lượng vô biên vô số pháp, hạnh nguyện và phương tiện trong Ba A Tăng Kỳ kiếp
Như Lai thường dùng môn tổng trì
Ví như hạt bụi các cõi nước
Giáo hóa chúng sinh khắp hết thảy
Phổ Chiếu Thiên Vương vào môn này.
‘’ Như Lai thường dùng môn tổng trì.’’ Bài kệ này vị Khả Ái Lạc Tối Thắng Quang Chiếu Thiên Vương minh bạch được, cho nên mới nói Phật thường dùng pháp môn tổng trì, để giáo hóa chúng sinh. Pháp môn tổng trì này, lại phân ra vô lượng vô biên pháp môn tổng trì, rồi lại phân ra vô lượng vô biên pháp môn tổng trì nữa. Do đó, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng.
‘’ Ví như cõi nước số hạt bụi.’’ Môn đại tổng trì này, giống như cõi nước chư Phật, nhiều như số hạt bụi, tóm lại có bất khả thuyết, bất khả thuyết biển cõi nhiều như số hạt bụi.
‘’ Giáo hóa chúng sinh khắp hết thảy.’’ Đức Phật khai thị giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được môn tổng trì, khắp cùng tất cả cõi nước chư Phật.
‘’ Phổ Chiếu Thiên Vương vào môn này.’’ Cảnh giới này, vị Khả Ái Lạc Tối Thắng Quang Phổ Chiếu Thiên Vương, đắc được pháp môn giải thoát này.
* Trong Kinh có vô cùng nhiều bài Kệ ca ngợi, tán thán sự tu hành của đức Phật. Mời xem tất cả các Tập: Giảng Kinh Hoa Nghiêm - Tập 1
+ Làm Thân Phật chảy máu. Tội ngũ nghịch
"Nếu có chúng sanh nào làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, chẳng kính tôn kinh, kẻ đó cũng phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Lược giảng:
"Nếu có chúng sanh nào làm thân Phật chảy máu..." Ðây chỉ là giả thiết, ví dụ là có hạng chúng sanh phạm một tội ác như thế mà thôi. Thế nào gọi là "làm thân Phật chảy máu" (xuất Phật thân huyết)? Hiện nay Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nhập Niết Bàn rồi, thì làm sao có thể bị chúng sanh "làm thân Phật chảy máu" được? Vả lại, chúng ta không sanh vào thời Ðức Phật còn tại thế, cũng không gặp được Phật, thì làm sao có thể "làm thân Phật chảy máu" được?
Vào thời Ðức Phật còn tại thế, thì "làm thân Phật chảy máu" có nghĩa là làm cho thân thể của Phật bị tổn thương, gây thương tích cho Phật. Còn sau khi Phật nhập Niết Bàn, thì "làm thân Phật chảy máu" tức là phá hủy tượng Phật, như cố tình làm sứt mất một lỗ tai hoặc làm gãy một ngón tay... của tôn tượng. Ngay cả thiêu đốt các tranh vẽ hình Phật bằng giấy cũng thế, đó cũng chẳng khác nào "làm thân Phật chảy máu" vậy! Tội này vốn không thể sám hối mà tiêu tan được, song có thể tùy theo tình huống mà có sự "khai duyên." Chẳng hạn nếu do say rượu, mắc bệnh điên cuồng hoặc tâm trí rối loạn bất thường, mà phạm phải, thì được xem là ngoại lệ, không bị khép vào thứ tội này. Tuy nhiên, nếu viện cớ mình tinh thần bất ổn hoặc là say rượu, rồi cố ý làm càn, thì nhất định là có tội. Nếu quý vị do vô tình mà trót phạm, thì nghiệp tội có nhẹ bớt phần nào.....
..... Lại có một lần Ðề Bà Ðạt Ða dùng thần thông để ám hại Phật. Bởi Ðề Bà Ðạt Ða cũng có thần thông, cho nên một hôm nọ, nhân lúc Phật đang trên đường tới núi Linh Thứu, ông xô núi cho lở ra để đá lăn đổ xuống, chủ ý là đè Ðức Phật đến tan xương nát thịt. May thay, ngay khi ông ra tay đẩy núi, thì vị Kim Cang Lực Sĩ (cũng chính là vị sơn thần giữ núi Linh Thứu, tên là Bối Lạp) trông thấy; và thế là từ đàng xa, Thần Bối Lạp giơ chùy Kim Cang ra đỡ lấy núi, khiến bao nhiêu đá núi đều văng ngược trở lại. Ðá bị vỡ vụn văng tung tóe, và có một hòn đá nhỏ văng trúng đầu ngón chân út của Phật, làm cho rách da chảy máu—đây chính là "làm thân Phật chảy máu." Lần này thân Phật có bị chảy máu song cũng không hề gì; tuy nhiên, liền ngay lúc đó, có một chiếc xe hừng hực lửa của địa ngục chạy đến, Ðề Bà Ðạt Ða bị bắt sống và áp giải về địa ngục.
Ðề Bà Ðạt Ða vừa "làm thân Phật chảy máu" thì liền bị đọa địa ngục ngay lúc còn sống, phải mang nhục thân vào địa ngục. Người đời nay, nếu thiêu đốt hình Phật, phá hủy tượng Phật, hoặc đập phá chùa chiền, tháp miếu thờ Phật, thì đều bị xem là phạm cùng một tội với Ðề Bà Ðạt Ða—tức là "làm thân Phật chảy máu" vậy.
"Hủy báng Tam Bảo." Thế nào gọi là "hủy báng Tam Bảo"? Chúng ta, những người tin Phật, phải nhớ kỹ là chớ phạm tội này—tuyệt đối đừng bao giờ khinh chê Tam Bảo, nói xấu Phật Pháp Tăng.
Trong Giới hạnh Bồ Tát có giới điều "không rao nói lỗi của Tứ Chúng." Tứ Chúng là gồm có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Người đã thọ Bồ Tát Giới thì không được rêu rao, bàn tán về những lỗi lầm, sai sót của Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Chính bản thân mình không nói đã đành, nếu bắt gặp người khác nói lỗi của Tứ Chúng thì quý vị cũng đừng góp chuyện hoặc nói hùa theo, mà phải như là mình không nghe thấy gì cả vậy. Vì sao? Vì nếu quý vị hùa theo họ mà bàn ra tán vào thì quý vị cũng sẽ mắc tội "hủy báng Tam Bảo," và đồng thời phạm luôn cả tội "rao nói lỗi của Tứ Chúng." Do đó, tốt nhất là cứ ngậm miệng làm thinh!
Ngoài ra, kiến giải của phàm phu chúng ta thường hay có chỗ sai lầm, bên cạnh đó, cảnh giới của hàng thánh nhân lại không phải là những gì mà phàm phu chúng ta có thể biết rõ được—chẳng hạn như bậc Sơ Ðịa Bồ Tát thì không thể biết được cảnh giới của hàng Nhị Ðịa Bồ Tát, Thập Ðịa Bồ Tát thì không thể biết được cảnh giới của Ðẳng Giác Bồ Tát, Sơ Quả A La Hán thì không thể biết được cảnh giới của Nhị Quả A La Hán... Cho nên, khi chưa có được trí huệ chân chánh thì chúng ta không nên sanh tâm hủy báng Tam Bảo, và cũng đừng rao nói lỗi của Tứ Chúng. Cho dù họ rõ ràng là có lỗi, quý vị cũng chớ vội phê phán; vì sao? Quý vị biết được cái sai của người ta, thì hãy lấy đó mà răn mình để tránh và làm cho đúng là được rồi; chứ đừng như cái máy chụp hình, toàn lo chụp hình cho người khác, còn chính mình hình thù như thế nào thì lại không hay không biết!
Giảng đến đây, tôi nhớ đến một công án về Chí Công Thiền Sư, đời vua Lương Võ Ðế ở Trung Hoa. Ðương thời, mỗi ngày Chí Công Thiền Sư đều ăn hai con chim bồ câu. Thấy thế, người đầu bếp nghĩ rằng thịt bồ câu hẳn là ngon lắm, và một hôm anh ta lén ăn bớt một cái cánh của chim bồ câu. Chí Công sau khi ăn hết hai con bồ câu thì hỏi anh ta: "Tại sao ngươi ăn vụng thịt bồ câu của ta?"
Người đầu bếp liền chối: "Bạch Thầy, con đâu dám làm thế!"
Chí Công gặn hỏi: "Không phải sao? Ông xem này!" Nói xong, Ngài há miệng và khạc ra hai con chim bồ câu—một con vỗ cánh bay đi liền, còn con kia thì không bay đi được vì bị thiếu mất một cái cánh! Và Ngài hỏi tiếp trước sự sửng sốt của người đầu bếp: "Nếu ông không ăn thì cánh của con chim này mất đi đâu?"
Quý vị xem, cùng là ăn thịt chim bồ câu đã được nấu chín và chặt nhỏ, mà Chí Công Thiền Sư thì có thể khạc ra lại nguyên vẹn con bồ câu còn sống; còn người đầu bếp thì không có được khả năng ấy—ăn vào bụng rồi là thôi, chẳng thể làm cho nó sống lại được. Cho nên, cảnh giới của Chí Công Thiền Sư là "ăn mà như không ăn" vậy.
... Một lần nọ, trong chùa tạc một pho tượng Phật và muốn thếp vàng. Tế Công Thiền Sư hay tin liền bạch với Hòa Thượng phương trượng: "Xin Hòa Thượng cho phép tôi thếp vàng pho tượng Phật này, khỏi phải kêu mướn ai cả!"
Hòa Thượng phương trượng bằng lòng. Thế nhưng đợi mãi vẫn không thấy Tế Công thếp vàng cho pho tượng, vị Sư quản lý bèn nhắc: "Ông muốn thếp vàng tượng Phật này, nhưng sao chờ mãi mà không thấy ông làm gì cả?"
Tế Công nói: "Vâng, tôi sẽ làm ngay."
Ðến tối hôm ấy, Tế Công lại cũng uống rượu say mèm như mọi khi, rồi đợi cho mọi người đều đi ngủ cả, Ngài đến trước pho tượng Phật mới tạc và há miệng khạc vàng ra rồi phun lên pho tượng. Bấy giờ, khi toàn thể bức tượng đã được bao phủ bởi một lớp vàng sáng lóng lánh, chỉ còn sót một chỗ trên đỉnh đầu mà thôi, thì vị Sư quản lý nghe thấy tiếng khạc nhổ om sòm của Tế Công, bèn tức tốc chạy đến xem và trách móc: "Sao ông lại cả gan đến thế? Ông dám nhổ đờm lên tượng Phật à?"
Tế Công chỉ nói: "Thế à? Thôi, tôi không nhổ nữa"; và bỏ đi.
Hôm sau, mọi người ra xem thì thấy tượng Phật đã được thếp vàng xong xuôi, chỉ còn sót một chỗ nhỏ trên đỉnh đầu mà thôi. Vì thế, trong chùa phải gọi người thợ chuyên môn thếp vàng đến làm nốt cho xong; nhưng lớp vàng đắp thêm đó lại không đẹp bằng vàng mà Tế Công khạc nhổ ra!
Quý vị xem, cảnh giới của hàng A La Hán thật là không thể nghĩ bàn! Do đó, chúng ta là những người tin Phật thì không nên ngồi lê đôi mách, rao nói lỗi của Tứ Chúng. Bởi nếu đối tượng mà quý vị xúc phạm là người bình thường thì có thể không hề gì, nhưng nếu nhằm bậc thánh nhân đã chứng quả thì quý vị sẽ mang tội. Mang tội thì sẽ ra sao? Thì quý vị sẽ bị đọa địa ngục!......
Những nghiệp tội "làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, chẳng kính tôn kinh" là như nhau, cho nên kẻ nào có những hành vi này, thì "kẻ đó phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được." Do đó, mọi người phải nhớ kỹ đoạn kinh văn vô cùng quan trọng này. Người học Phật nhất định phải luôn luôn tôn kính Tam Bảo, quý trọng kinh điển, và không làm thân Phật chảy máu! (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng P3 - Kinh Địa Tạng)
20. ẨN CƯ SAU KHI NGHE PHÁP THOẠI
Được nghe pháp Đức Thế Tôn dạy, con sẽ sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Nhân sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần để đạt đến cứu cánh mà một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo là để đạt được vô thượng phạm hạnh, ngay trong đời này tự tri tự giác, tự thân tác chứng, thành tựu an trú, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa. (Trung A Hàm, Kinh Úc-già-chi-la, Phẩm 7, số 76)
824. XUẤT GIA CẠO BỎ RÂU TÓC
Tôn giả Lại-tra-hòa-la nói: Đại vương, thế cho nên Đức Thế Tôn dạy rằng: ‘Thế gian này, tất cả đều đi đến chỗ già nua’. Tôi muốn tiếp nhận điều đó, tôi thấy, nghe, hiểu biết điều đó nên cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín từ bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo. (Trung A Hàm, Kinh Lại-Tra-Hòa-La, Phẩm 11, số 132)
825. XUẤT GIA HỌC ĐẠO
Các ngươi lúc còn nhỏ, là những đồng tử ấu thơ, trong trắng, tóc đen, thân thể thạnh trắng, vui thích trong du hý, vui thích trong tắm gội, săn sóc nâng niu thân thể. Về sau, bà con thân thích và cha mẹ đều cùng lưu luyến, thương yêu, khóc lóc thảm thiết, không muốn cho các ngươi xuất gia học đạo.
Các ngươi đã quyết chí cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, không phải vì sợ giặc cướp, không phải vì sợ nợ nần, không phải vì sợ khủng bố, không phải vì sợ bần cùng, cũng không phải vì sợ không sống được mà phải xuất gia học đạo, mà chỉ vì nhờm tởm sự sanh, sự già, bệnh tật, sự chết, khóc lóc, sầu khổ, hoặc vì muốn đạt đến tận cùng của khối khổ đau vĩ đại này nên xuất gia học đạo. (Trung A Hàm, Kinh Sa-kê-đế Tam Tộc Tánh Tử, Phẩm 7, số 77)
702. TỊNH TU PHẠM HẠNH
Thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia học đạo đã nhàm tởm sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, khốn khổ, sầu muộn, bi ai; tôi muốn đoạn trừ khối khổ đau to lớn này.
Sau khi đã nhàm tởm ghê sợ, tôi quán sát, tại gia là đời sống hẹp hòi, là chốn trần lao bụi bặm. Xuất gia học đạo là đời sống rộng rãi bao la. Nay ta sống đời tại gia bị xiềng xích quấn chặt, không thể trọn đời tịnh tu phạm hạnh.
Vậy ta hãy vứt bỏ các tài sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo. Sau đó, tôi vứt bỏ tài sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo. (Trung A Hàm, Kinh Thuyết Trí, Phẩm 15, số 187)
ưeyr
+ Nỗi khổ của con người: ... Đức Phật nói: Tất cả chúng sinh trong thế gian đều bị 10 nỗi khổ bức bách. 1. Do sinh ra bức bách - Do già đi - Do bệnh tật - Do chết chóc - Do buồn rầu - Do oán hận - Do thọ lãnh bức bách - Do lo âu - Do đau đớn bức bách - Nỗi khổ lớn do sinh tử luân hồi bức bách => Tu để giải thoát 10 lỗi khổ bức bách này. ....
Ta thấy tất cả chúng sinh trong thế gian, từ vô số kiếp, đã tạo trăm ngàn ức cai tội lỗi, thường bị 10 loại tên độc lớn bắn trúng. Một là loại tên độc ái - Hai là loại tên độc vô minh - Ba là loại tên độc dâm dục - Bốn là loại tên độc tham lam - Năm là loại tên độc sai lầm - Sáu là loại tên độc ngu si - Bảy là loại tên độc kiêu mạn - Tám là loại tên độc tà kiến - Chín là loại tên độc chấp có - Mười là loại tên độc chấp không => Tu đạo vô thượng để bẻ gãy 10 loại tên độc ấy ... [Nguồn: Pháp Uyển Châu Lâm_Q.01 - Trích đoan Kinh Địa Tạng]
+ Đau khổ (pain) hay Đau buồn:
- Đau khổ là hậu quả tạo ra khi thể cảm dục bị an trụ một cách sai lầm. Đau khổ là hậu quả của việc không thể làm cân bằng các cặp đối hợp một cách chính xác. Nó cho thấy sự thiếu quân bình. (ASCLH, 71)
- Đau khổ chỉ bị tạo ra do sự đối kháng và là một giai đoạn cần thiết trong diễn trình tiến hóa. (LVLCK, 215)
- Đối với Chân Sư, sự đau khổ không còn nữa. Ở cõi trần, phần lớn là đau khổ trong vật chất. Còn sự đau khổ ẩn trong sự hiểu biết, không phải là sự cản trở, thì các giới cao nhất mới cảm nhận được. (TVTTHL, 37)
+ Cội nguồn hay Nguyên nhân của Khổ đau: Đức Phật dậy gồm 10 nghiệp ác là sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói hai chiều, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt, tham lam, sân hận và ngu si.” (Nguồn: Kinh thập thiện)
+ Cầu sống - Cầu chết chẳng xong: Thế gian rất nhiều người như thế
Bệnh giống như vậy cầu Phật, Bồ Tát được không?
Được, có lợi ích, nhưng phải hỏi bạn chịu tin hay không?
Ngạn ngữ thường nói: Lộc hết người mất, người ấy là người mất nhưng lộc Chưa hết. Nói cách khác, phước báo của kẻ ấy Chưa hưởng hết, hoặc là thọ mạng đã đến nhưng phước báo Chưa hưởng hết. Chỉ còn cách nằm trên giường hưởng.
Cần làm: Mang tài sản của người đó đi bố thí đúng pháp - Người đó được lợi ích lớn. Nếu còn phước được sống thì khỏi bệnh, nếu hết phước phải chết thì chết đỡ khổ đau cho mình và người, ngoài ra người đó còn được lợi ích cho kiếp sau. (Xem: PS Tịnh Không giảng)
+ Sống khổ - Cách ứng sử: Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đau.
- Tôi tin rằng mọi người nên chú ý hơn đến những giá trị nhân bản và sự tỉnh thức. Nó giúp năng lực của chúng ta để đối diện những thử thách. Cho nên đề nghị tốt nhất mà tôi có thể nói, và tôi trích ra từ một vị Thầy Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ tám là "Nếu có một giải pháp, thì đừng nãn lòng và hãy tìm ra giải pháp. Nếu không có giải pháp, thế thì không cần phải chán nãn". Tôi đồng ý với lời dạy đặc biệt ấy vì lo lắng chỉ làm người ấy gia tăng căng thẳng.(Nguồn: Đại Lai Lạt Ma giải đáp thắc mắc)
479. NỔI KHỔ CỦA TẠI GIA & XUẤT GIA
Nếu người tại gia mà tiền tài không tăng trưởng, kim ngân, chơn châu, lưu ly, thủy tinh thảy đều không tăng trưởng; súc mục, lúa, gạo cùng nô tỳ, sai dịch cũng không tăng trưởng; lúc bấy giờ người tại gia ưu sầu, khổ não. Do sự kiện này mà người tại gia có nhiều ưu tư khổ nhọc, trong lòng mang nhiều sầu bi.
Nếu người xuất gia học đạo mà sống theo dục vọng, theo sân nhuế, ngu si, lúc bấy giờ xuất gia học đạo có nhiều ưu sầu khổ não. Do sự kiện này mà có người xuất gia có nhiều ưu tư khổ nhọc, trong lòng chất nhiều sầu bi.
Như vậy người tại gia vì không được tự do mà khổ, và người xuất gia học đạo vì tự do mà khổ. (Trung A Hàm, Kinh Văn Đức, Phẩm 12, số 147)
486. NỔI THỐNG KHỔ TRONG ĐỜI NÀY
Vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn vào xóm, vào ấp, vào quốc gia, vào thành thị, đục vách phá kho, cướp đoạt tài vật, chận đường giao thông, hoặc đến ngõ khác phá xóm phá làng, phá thành diệt nước. Trong đó, hoặc người của vua bắt được, đem khảo đủ cách; chặt tay, chặt chân, hoặc chặt hết cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, hoặc cắt cả tai mũi; hoặc lóc từng miếng thịt; bứt râu bứt tóc, hoặc bứt cả râu tóc; hoặc nhốt vào trong cũi, quấn vải hỏa thiêu, hoặc lấp trong cát, lấy cỏ quấn lại rồi đốt; hoặc bỏ vô bụng lừa sắt, hoặc bỏ vô miệng heo sắt, hoặc đặt vào miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vô vạc đồng, hoặc bỏ vô vạc sắt rồi nấu; hoặc chặt ra từng khúc, hoặc dùng xoa bén đâm, hoặc lấy móc sắt móc, hoặc bắt nằm trên giường sắt rồi lấy dầu sôi rót, hoặc bắt ngồi trong cối sắt rồi lấy chày sắt giã, hoặc cho rắn rít mổ cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọt, hoặc dùng dùi đánh, hoặc buộc sống treo trên nêu cao, hoặc chém đầu rồi bêu. Trong các trường hợp đó, kẻ ấy hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Ma-ha-nam, đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc. (Trung A Hàm, Kinh Khổ Ấm, Phẩm 9, số 100)
+ Xem thêm Tooltip về khổ đau luân hồi sinh tử: Nỗi khổ và Trúng tên độc
+ Các loại ái dục và sự khổ đau từ ái dục mà ra - Giải thoát khỏi ái dục
15. ÁI SANH SẦU BI NÃO
Giả sử có một người đàn bà đã chết. Người ấy phát cuồng, loạn trí, cởi áo cởi quần, trần truồng mà chạy rong khắp các ngõ đường, nói như vầy, ‘Này các người, có thấy mẹ tôi chăng? Này các người có thấy mẹ tôi chăng?’ Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu khi ái sanh, thì cũng sanh sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’.
Cũng vậy, nếu cha chết, anh, chị, em chết, con cái chết, vợ chết, người ấy phát sanh cuồng, loạn trí, cởi áo cởi quần, trần truồng chạy rong khắp cả ngõ đường, nói rằng, ‘Này các ngài, có thấy vợ tôi chăng? Này các ngài, có thấy vợ tôi chăng?’ Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’.
Này Na-lị-ương-già, thuở xưa có một người đàn bà về thăm gia đình, các thân tộc của người này muốn cưỡng bức cải giá. Người đàn bà ấy tức tốc trở về nhà chồng, nói với chồng rằng, ‘Này ông, hãy biết cho, thân tộc của tôi muốn cướp vợ của ông để gả cho người khác. Ông có mưu kế gì chăng?’ Người ấy bèn nắm cánh tay của bà vợ dẫn vào trong nhà, nói rằng, ‘Chết chung, sang đời khác với nhau! Chết chung, sang đời khác với nhau!’ Rồi lấy con dao bén chém chết vợ và mình cũng tự sát luôn. Này Na-lị-ương-già, do sự kiện này mà biết rằng, ‘Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não’. (Trung A Hàm, Kinh Ái Sanh, Phẩm 18, số 216)
16. ÁI TẬN GIẢI THOÁT
Nếu khi Như Lai xuất thế, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Chúng Hựu. Mắt vị ấy thấy sắc, nhưng đối với sắc đẹp không hoan lạc chấp trước, đối với sắc xấu không ghét bỏ. Vị ấy lập niệm tại thân với một tâm vô lượng, biết như thật là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, các pháp ác bất thiện đã sanh bị tận diệt vô dư, bị hủy hoại không dư tàn. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như vậy. Ý biết pháp đối với cái đẹp không hoan lạc, chấp trước, đối với cái xấu không ghét bỏ. Lập niệm tại thân với một tâm vô lượng.
Biết như thật là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, các pháp bất thiện đã sanh bị tận diệt vô dư, bị hủy hoại không dư tàn. Vị ấy như vậy, diệt những gì yêu ghét được lãnh nạp bởi thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không lạc không khổ. Vị ấy không hoan lạc theo cảm thọ ấy, không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ cảm thọ ấy. Do không hoan lạc theo cảm thọ ấy, không tìm cầu, không chấp trước, không chấp thủ theo cảm thọ ấy, nếu có cảm thọ lạc, nó liền diệt. Lạc diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết diệt, sầu bi, khóc lóc, ưu khổ, ảo não cũng diệt. Như vậy, toàn vẹn khối lớn khổ đau này đều diệt. (Trung A Hàm, Kinh Trà Đế, Phẩm 16, số 201)
17. ÁI TẬP KHỔ TẬP THÁNH ĐẾ
Cái gì là ái tập Khổ tập Thánh đế? Nghĩa là chúng sanh thật có sáu xứ tham ái bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý xứ. Trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có ô nhiễm, có đắm trước thì gọi là tập.
Này chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng: ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế.
Biết như vậy là biết như thế nào? Nếu có người tham ái vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng đất, nhà cửa, quán xá, tài vật xuất vốn và lời lãi, tạo tác những nghiệp có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập. Người kia biết ái tập Khổ tập Thánh đế này. Cũng vậy, ngoại xứ xúc, thọ, tưởng, hành, ái, cũng lại như vậy.
Này chư Hiền, chúng sanh quả thực có sáu giới tham ái: đất, nước, lửa, gió, hư không, thức giới, trong đó nếu có ái, có cấu bẩn, có nhiễm, có trước, đó gọi là tập.
Này chư Hiền, Đa văn Thánh đệ tử biết rằng ‘Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái tập Khổ tập Thánh đế. (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ Xúc cảm đau đớn:
Mũi tên đâm vào da thịt khiến người bị trúng tên đau đớn, thế nhưng cũng có thể khiến cho người này hoảng sợ, la hét, kinh hoàng, tức giận, oán trách, hoặc cũng có thể ngất xỉu. Trong bài kinh dưới đây Đức Phật gọi các xúc cảm đớn đau ấy là do một mũi tên thứ hai bắn trúng vào tâm thức mình, tức là xuyên vào cơ quan giác cảm thứ sáu của mình. Một người tu tập không để cho mũi tên thứ hai ấy bắn trúng mình và chỉ nhận biết sự đau đớn trên thân xác gây ra bởi một mũi tên duy nhất mà thôi. Hơn nữa người tu tập cũng xem sự đau đớn ấy không phải là thuộc của mình, không phải là mình, và đấy cũng là một phương cách khác giúp mình tự tách rời ra khỏi những khổ đau trong cuộc sống.
Đấng Thế Tôn giảng rằng: "Một người bình dị không được học hỏi mỗi khi phải gánh chịu một giác cảm đau đớn, thì sẽ ta thán, oán trách, đau buồn, đấm ngực (hối tiếc vì mình đã lỡ lầm) và hoảng sợ. Đấy là cách mà người ấy cảm nhận hai sự đau đớn: trên thân xác và trong tâm thần. Chẳng khác gì như người ta bắn một mũi tên vào một người nào đó, sau đấy lại bắn thêm một mũi thứ hai: người này tất phải chịu sự đau đớn của hai mũi tên. Cũng thế, một người bình dị không được học hỏi mỗi khi phải gánh chịu một cảm nhận đớn đau thì sẽ ta thán, oán trách, đau buồn, đấm ngực và hoảng sợ. Đấy là cách mà người ấy cảm nhận cả hai thứ khổ đau: trên thân xác và cả trong tâm thần.
"Khi phải gánh chịu một giác cảm đau đớn thì một người không được học hỏi sẽ tìm cách kháng cự lại (cưỡng lại, không chấp nhận) sự đau đớn ấy. Người này sẽ không sao tránh khỏi bị ám ảnh bởi thái độ kháng-cự-bướng-bỉnh ấy của mình. Vì phải gánh chịu giác cảm đau đớn ấy [nên] người này tìm sự vui thích trong các lạc thú dục tính (với mục đích "che lấp" hay "bù đắp" các giác cảm đau đớn của mình). Tại sao lại như thế? Bởi vì một người bình dị không được học hỏi sẽ không thể tìm được một lối thoát nào khác hơn trước các giác cảm đau đớn của mình, ngoài các lạc thú dục tính. Khi đã tìm kiếm sự vui thích trong các lạc thú dục tính, thì người ấy tất sẽ bị ám ảnh bởi bất cứ một sự đam-mê-bướng-bỉnh nào đối với các lạc thú ấy. [Vì] không nhận biết được thật sự giác cảm [lạc thú] ấy bắt nguồn từ đâu, sự chấm dứt của nó là gì, sức quyến rũ của nó như thế nào, các tác hại của nó ra sao và đâu sẽ là lối thoát, [nên] người ấy luôn bị ám ảnh bởi sự vô-minh-bướng-bỉnh của mình đối với các giác cảm không-thích-thú-cũng-không-đớn-đau.
"Cảm nhận được sự thích thú, người ấy có cảm giác như mình gắn liền với nó (sự thích thú và mình là một). Cảm nhận được sự đau đớn, người ấy có cảm giác như mình gắn liền với nó. Cảm nhận được sự không-thích-thú-cũng-không đớn-đau, người ấy có cảm giác như mình gắn liền với nó. [Vì thế] có thể xem người ấy là một người bình dị không được học hỏi, một người gắn liền với sự sinh, già nua và cái chết, với đau buồn, ta thán, khốn cùng và tuyệt vọng. Này các tỳ kheo, Ta bảo rằng người ấy tự trói mình với khổ đau.
"Đối với một môn đệ cao quý được hưởng sự giáo huấn thì dù phải gánh chịu một giác cảm đau đớn thì cũng không ta thán, oán trách, đau buồn, không đấm ngực cũng không hoảng sợ. Vì thế người ấy cũng chỉ cảm nhận một sự đau đớn duy nhất trên thân xác, không có một sự đau đớn nào xảy ra trong tâm thần. Đấy cũng chẳng khác gì như người ta chỉ bắn một mũi tên vào một người nào đó, và sau đấy thì không bắn thêm một mũi tên nào khác nữa. Vì thế người ấy cũng chỉ cảm nhận sự đau đớn gây ra bởi một mũi tên duy nhất mà thôi. Cũng thế, một môn đệ cao quý được hưởng sự giáo huấn thì dù phải gánh chịu một giác cảm đau đớn thì cũng không ta thán, oán trách, đau buồn, không đấm ngực cũng không hoảng sợ. Người ấy chỉ cảm thấy đau đớn duy nhất trên thân xác, nhưng tâm thần thì không hề xao xuyến.
"Người này dù phải gánh chịu giác cảm đau đớn nhưng không tìm cách kháng cự lại. Người này sẽ không hề bị ám ảnh bởi sự kháng-cự-bướng-bỉnh của mình đối với sự cảm nhận đớn đau. Dù phải gánh chịu sự cảm nhận đớn đau thế nhưng người này không tìm kiếm sự vui thích trong các lạc thú dục tính. Tại sao lại như thế? Bởi vì một môn đệ cao quý được hưởng sự giáo huấn, sẽ quán thấy thật rõ ràng phương pháp giúp mình thoát ra khỏi các giác cảm đớn đau, khác hơn là bằng cách tìm kiếm các lạc thú dục tính. Vì không hề tìm kiếm sự vui thích trong các lạc thú dục tính, nên người ấy sẽ không bị ám ảnh bởi sự đam-mê-bướng-bỉnh của mình đối với các giác cảm thích thú. Nhờ quán thấy thật minh bạch nguồn gốc, sự chấm dứt, sự quyến rũ, các tác hại của các giác cảm ấy và cả phương cách thoát ra khỏi chúng, nên người ấy không còn bị chi phối bởi sự vô-minh-bướng-bỉnh của mình đối với các giác cảm ấy cũng như đối với thể dạng không-thích-thú-cũng-không-đớn-đau.
"Cảm nhận sự thích thú, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. Cảm nhận sự đau đớn, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. Cảm nhận được giác cảm không thích-thú-cũng-không-đau-đớn, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. [Vì thế] có thể xem người ấy như là một môn đệ cao quý được hưởng sự giáo huấn, đã tách ra khỏi sự sinh, sự già nua và cái chết, đã tách ra khỏi mọi thứ lo buồn, ta thán, đau buồn, khốn cùng và tuyệt vọng. Ta bảo cho các tỳ kheo biết rằng người ấy đã thoát ra khỏi khổ đau". (Nguồn: Giảng về sự đau đớn - Kinh Mũi tên)
+ Bản chất đau khổ: “ Nên nhớ rằng, bất cứ nỗ lực nào cũng tạo ra kháng lực, và kháng lực trong thể xác của con người biểu lộ dưới hình thức đau đớn. Một phần lớn các đau khổ và phiền não xảy ra do bởi con người phản kháng lại Định Luật Nghiệp Quả và phẫn uất với các hoàn cảnh bắt buộc mà luật đó áp đặt lên họ, Vun trồng một tâm trí thăng bằng và một nhân sinh quan hợp lý sẽ làm giảm bớt tình trạng này đi nhiều. (VLH, 265)
Xem: TH Các chướng ngại và Chứng đạo - Điểm đạo
Xem thêm: Phiền lão và khổ đau_PS Tịnh Không
+ Đau khổ (Suffering): Sau khi xem xét mọi khía cạnh, sự đau khổ chỉ có thể xảy ra khi trạng thái tinh thần mà linh hồn (trong thể xác) bị đồng nhất hóa với sinh hồn, đang làm sinh động và đưa sinh lực đến hình hài và tạo ra sự sống nhất thời của hình hài. Trong trạng thái vô thức, sinh hồn cũng biết được sự đau đớn và thống khổ, những người chăm sóc và canh giữ bệnh nhân đều biết rõ điều này, nhưng không có đau đớn đích thực (real pain) hay khổ đích thực (true distress) bởi vì chân nhân, hồn tinh thần, đã xuất ra hoặc là do sự đau đớn cực độ (như trong trạng thái vô thức thực sự) hoặc là do thuốc mê. Nỗi đau của linh hồn, khi phàm ngã lầm lạc, chỉ là một hình thức diễn tả tượng trưng. Không hề có nỗi đau thực sự (pain or true suffering) và thường thường là không có vấn đề hay biết sự việc xảy ra vì rung động không đủ cao để thấu nhập vào cảnh giới cao, nơi mà linh hồn ngự trị. Tuy nhiên, khi nào có sự hiểu biết như thế thì linh hồn cảm thấy – tôi tạm diễn tả như thế – một cảm tưởng đánh mất cơ hội và theo sau đó là cảm giác chán nãn, không hơn không kém, vì sự kiên nhẫn của linh hồn thì vô giới hạn, giống như sự kiên nhẫn của Thánh Đoàn. Chỉ vì chúng ta nói một cách tượng trưng và nói linh hồn đau khổ, bạn đừng nên diễn dịch điều đó bằng thuật ngữ thông thường. Nỗi đau (suffering) của Đức Christ hay của Hành Tinh Thượng Đế, hay của chính Thượng Đế, thì không thể hiểu bằng các thuật ngữ chỉ phản ứng của phàm ngã. Chúng ta sử dụng ngôn từ, nhưng thực ra ngôn từ lại hàm ý “sự đồng nhất hóa tách rời và cô lập”. Hỡi huynh đệ, việc đó có gợi được bất cứ điều gì cho bạn không? Việc đồng nhất hóa sai là nguyên nhân của đau khổ (pain) và đưa đến nỗi đau, nỗi khổ và các hậu quả khác. Việc đồng nhất hóa đúng đưa đến sự cảm thông, hiểu biết về các thái độ tâm lý của kẻ đau khổ nhưng không đưa đến thống khổ thực sự như chúng ta thường hiểu.(CTNM, 346–347)
+ Công dụng của đau khổ (uses of pain):
+ Đau khổ là kẻ bảo vệ của hình hài và tác nhân che chở của vật chất; nó cảnh giác sự nguy hiểm, nó cho thấy một vài giai đoạn nhất định trong diễn trình tiến hóa; nó được liên kết với nguyên khí mà nhờ đó linh hồn tự đồng nhất hóa với vật chất. (CTNM, 502)
+ Các công dụng của đau khổ thì nhiều, và chúng dắt linh hồn con người ra khỏi bóng tối, đi vào ánh sáng, ra khỏi cảnh nô lệ, đi vào giải thoát, ra khỏi khổ tâm đi vào an bình. Sự an bình đó, ánh sáng đó và giải thoát đó, với sự hài hòa được an bài của vũ trụ được dành cho tất cả các con của nhân loại. (LVHLT, 533)
+ Ứng dụng Pháp Uyển Châu Lâm: HT Tuyên Hóa giảng kinh thuyết pháp có nhắc trong sách Pháp Uyển Châu Lâm này nói rõ tại sao người xuất gia và tại gia tu tụng trì kinh chú không công hiệu: Vì Tâm không chí thành, khẩn thiết, cũng do phạm 8 thứ giới thanh tịnh hoặc không tin tưởng giáo pháp .... => Không linh nghiệm./.
+ Pháp Uyển Châu Lâm: ... Sách Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) cũng gọi Pháp uyển châu lâm truyện, Pháp uyển châu lâm tập. Tác phẩm, 100 quyển (tạng Gia hưng ghi 120 quyển), do ngài Đạo thế soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 53. Sách này đem nội dung các kinh điển Phật giáo biên thành mục cho dễ tra cứu. ..... Đây là bộ sách rất quí giá trong nền văn hiến Phật giáo Trung quốc. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Duyệt tạng tri tân Q.43].
Nội dung 100 quyển của Pháp uyển châu lâm đã bao quát tất cả giáo nghĩa cơ bản Phật giáo. Về hình thức, sách cũng đã phân chia, sắp xếp theo thứ tự từng bộ loại riêng biệt để giới thiệu đến người đọc về giáo lí và tri thức Phật giáo như: quan niệm về không gian và thời gian, quan niệm về vũ trụ và hữu tình, phương thức truyền giáo, nhân quả nghiệp lực, thiện ác báo ứng, việc tu tập và đức hạnh phải có của hai chúng tăng tục, phân loại Thánh phàm, giới luật và thiền quán, thần thông và chú ngữ, danh tướng pháp số, chùa tháp và pháp khí, âm nhạc và hình tượng, nghi lễ và phép tắc oai nghi, vệ sinh giữ gìn sức khóe… Nhưng quan trọng hơn, sách này đã luận bàn rộng đến những hiện tưọng xã hội và quan niệm đúng sai về luân lí thế gian. Vì thế có thể nói đây là một bộ sách lớn gom tập tất cả tư tưởng xuất thế và nhập thế.
Sách đã được Hội đồng dịch thuật do Hoà Thượng Thích Tịnh Hạnh chủ trì dịch và nhà xuất bản: Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản lần đầu tiên trong dự án Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh bắt đầu từ năm 1997.
Vào năm 2011 sách được ban Dịch thuật Pháp Âm chuyển sang tiếng Việt, gồm bảy tập với tên mới là Hương Hoa Vườn Giáo Pháp và hiện tại đã cho tái bản có sửa chữa và gom lại thành 5 tập với khổ lớn hơn.
Quý độc giả và các nhà nghiên cứu Phật học có thể đọc nguyên bản dịch Việt của cố Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh dưới đây (Nguồn: Pháp Uyển Châu Lâm)
+ Tóm lược các Chương - Các nội dung liên qua Dịch học:
+ 12 Kinh Tam Tụ: Pháp ba tụ là Ác thú - Thiện thú - Niết bàn
- Ác thú - Nghiệp ác: (1 pháp) Không nhân từ - Lòng độc hại; (2 pháp) hủy giới và phá kiến; (3 pháp) có: Tham - Sân - Si; (4 pháp) Khẩu nghiệp: thiên vị - Thù hận - Sợ hãi - Ngu si; (5 pháp) Không giữ ngũ giới; (6 pháp) bất kính - Không: Kính Phật - Pháp - Tăng - Giới - Định - Cha mẹ; (7 pháp) dẫn đến ác thú - HÀNH: Sát - Trộm - Dâm - Nói giối - Hai lưỡi - Ác khẩu - Đôi chiều/ Lưỡng thiệt; (8 pháp) dẫn đến ác thú - 8 Tà hạnh/ Ngược Bát chánh đạo: (9 pháp) dẫn đến ác thú: Có người xâm láo ta (Đã - Đang - Sẽ) - Xâm lão cái ta yêu (Đã - Đang - Sẽ) - Xâm lão cái ta ghét (Đã - Đang - Sẽ); (10 pháp) ác thú: Hành Thấp ác;
- Thiện thú - Nghiệp thiện: (1 pháp) Không ác tâm - Không gây tổn hại; (2 pháp) Có đủ giới và đủ kiến; (3 pháp) Không: Tham - Sân - Si; (4 pháp) Nói Không: thiên vị - Thù hận - Sợ hãi - Ngu si; (5 pháp) Giữ ngũ giới; (6 pháp) thường kính - Kính: Phật - Pháp - Tăng - Giới - Định - Cha mẹ; (7 pháp) dẫn đến Thiện thú - KHÔNG: Sát - Trộm - Dâm - Nói giối - Hai lưỡi - Ác khẩu - Đôi chiều/ Lưỡng thiệt; (8 pháp) dẫn đến Thiện thú - Thành tựu Bát chánh đạo: (9 pháp) dẫn đến Thiện thú: Ngược với trên, bị xâm lão như KHÔNg sanh phiền lão; (10 pháp) là Thập thiện;
- Niết bàn - Giải thoát: (1 pháp) Thương tinh cần tu niệm xứ về Thân; (2 pháp) Chỉ và Quán; (3 pháp) ba tam muội: Không - Vô tướng - Vô tác ; (4 pháp) Niệm xứ: Thân, Thọ, Tâm, Pháp niệm xứ; (5 pháp) Năm căn Tín - Tấn - Niệm - Định - Tuệ thành tựu; (6 pháp) niệm - Niệm: Phật - Pháp - Tăng - Thí - Giới - Thiên; (7 pháp) dẫn đến Niết bàn: Bảy giác ý/Chi là Niệm giác ý - Trạch - Tinh tấn - Khinh an - Định - Hỷ - Xả ; (8 pháp) dẫn đến Niết Bàn - 8 Hiền Thánh đạo: Cũng là Bát chánh đạo; (9 pháp) đến Niết Bàn: Hỷ - Ái - Duyệt - Lạc - Định - Thật tri - Trừ xả - Vô dục - Giải thoát; (10 pháp)- 10 trực đạo gồm Bát chánh đạo và chánh giải thoát, chánh trí (Nguồn: Kinh Trung A Hàm - Phẩm 12)
41. BA TỤ: Có ba tụ là giới tụ, định tụ và tuệ tụ.
Không phải Thánh đạo tám chi thâu nhiếp ba tụ, nhưng ba tụ thâu nhiếp Thánh đạo tám chi. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, ba chi Thánh đạo này được nhiếp về Thánh giới tụ. Chánh niệm, chánh định, hai chi này được thâu nhiếp vào Thánh định tụ. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, ba chi này thân nhiếp vào Thánh tuệ tụ.
Đó là nói rằng không phải Thánh đạo tám chi ba tụ, nhưng ba tụ nhiếp Thánh đạo tám chi. (Nguồn: Trung A Hàm, Kinh Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc, Phẩm 17, số 210)
124. CHÁNH NGHIỆP
Thế nào là chánh nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài ba diệu hành thuộc thân, còn các ác hành khác nơi thân đều viễn ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. nguồn mục 124 - (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ 4. Chánh nghiệp, là thân nghiệp thanh tịnh. Dùng trí vô lậu để trừ bỏ tà nghiệp của bản thân. Tà nghiệp là gì? Cũng tức là niệm dâm dục. Một số người mượn câu "Không tức là sắc, sắc tức là không" mà hành động sai quấy, đây tức là tà nghiệp. Trí vô lậu tức là trí huệ không có những thứ không chánh đáng. Có người chỉ có tà huệ, bảo họ làm việc đứng đắn thì họ không biết làm, nhưng nếu bảo họ làm việc bậy bạ (như hành dâm...) thì họ thông minh hơn những người khác, đó là tà nghiệp. Chánh nghiệp thuộc về thân nghiệp. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ 4. Chánh nghiệp: Hành động có tác ý. Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sáng suốt chân chánh. (Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
123. CHÁNH MẠNG: Thế nào là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó phải là mong cầu vô lý, không do nhiều tham dục mà không biết vừa đủ, không làm các thứ xảo quyệt bùa chú, để sinh sống bằng tà mạng. Chỉ theo chánh pháp mà mong cầu y phục, chớ không phải với phi pháp, cũng theo chánh pháp để mong cầu thực phẩm, giường chõng, chớ không phải với phi pháp. Nguồn mục 123 - (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ 5. Chánh mạng. Chánh mạng đối lại với tà mạng. Sao gọi là tà mạng?
i) Hiện tướng khác người để hiện bày việc kỳ lạ. Những người này biểu hiện ta đây không giống với người khác: "Các vị xem tôi đây khác với mọi người!" Như ở Hương Cảng có một vị Pháp sư người Trung Hoa cố ý đắp y Tiểu thừa. Ở Ðài Loan cũng có những người như vậy, mục đích của họ chỉ là lôi kéo sự chú ý của người khác để được cúng dường. Một số người có mắt như mù, liền cho họ là bảo bối rồi đến cúng dường.
ii) Tự nói mình có công đức. Những người này tự khoe khoang công đức của chính mình, nói Viện Dưỡng Lão kia là của tôi lập nên, hoặc nói tôi xuất ra bao nhiêu tiền để làm trường học, độ được một số đệ tử, lập nên một số cảnh chùa, cúng dường mấy trăm vị Hòa thượng. Tóm lại, đó là sự khoe khoang công đức của mình. Kỳ thực, chỉ có những người ngu si mới tin được lời họ; còn người có trí huệ, giả sử nhắm mắt lại, chỉ nghe họ nói cũng có thể biết được đó là lời nói khoác.
iii) Bói toán. Gieo quẻ, tính toán số mạng tốt xấu cho người khác. Những hạnh nghiệp này chẳng phải chỉ người tại gia, mà người xuất gia cũng có làm. Họ có thể nói với kẻ dễ tin: "Anh nên đưa tôi một triệu bạc để làm việc thiện, nếu không thì ngày mai có thể phải chết đấy!" Kẻ ấy nghe nói một triệu có thể mua được tánh mạng thì đâu phải là nhiều, liền đồng ý đưa ngay. Nhưng đâu có biết rằng giả sử không đưa tiền cũng không nhất định ngày mai phải chết. Hoặc họ nói: "Ngày mai anh có thể gặp được một việc tốt đẹp. Chỉ cần hôm nay anh đưa trước năm mươi lượng vàng làm việc công đức, thế nào ngày mai anh cũng được năm trăm lượng vàng." Kẻ ấy nghĩ thầm: "Một lượng lãi tới mười lượng, có gì mà tiếc!" Thế rồi bị lường gạt. Kết quả ngày thứ hai chẳng những không có vàng, cả đến thầy bói cũng không thấy đâu nữa, bèn cho là đã gặp bậc thần tiên.
iv) Lớn tiếng ra oai. Có những vị Thầy thích lớn tiếng hò hét vô duyên cớ, khiến cho người nể sợ. Những người ấy còn cho rằng vị Thầy này tiếng nói rổn rảng mà cung kính vị ấy. Ðây tức là tà mạng. Nếu khi giảng pháp, phòng rộng lớn mà người đông, thì có thể giảng kinh lớn tiếng. Nhưng nếu có micro thì không cần phải to tiếng quá. Cứ nói chuyện bình thường, chẳng cần phải hò hét lớn tiếng. Người lớn tiếng ra oai lại chẳng biết đó là một trong năm thứ tà mạng.
v) Nói lên sự cúng dường để khích động người khác. Ví dụ nói: "Anh biết không! Tôi đến nhà cư sĩ ăn một bữa trai thật ngon, họ còn dùng nấm mèo trắng, nấm đông-cô... để đãi tôi, thật là một bữa ngon quá sức!" Hoặc đến nhà một cư sĩ niệm câu thần chú để khiến người khác cho họ ăn ngon. Một khi niệm chú như thế, vị cư sĩ ấy cảm thấy chính mình phải nên cúng dường một ít thức ăn, thậm chí không có tiền, phải đi vay mượn để mua đồ chay cúng dường vị Thầy. Ðâu biết rằng vị Thầy ấy đã phạm vào năm thứ tà mạng rồi. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ 5. Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Đời sống chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác. (Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
+ 120. CHÁNH ĐỊNH
Thế nào là chánh định? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó, nếu tâm trụ, thiền trụ, thuận trụ, không loạn, không tán, chuyên nhất. Nguồn: (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ Chánh định: Chánh định là Tam-muội, còn gọi là Chánh thọ. Chánh định là dùng trí huệ vô lậu để tu định, thứ định này tất cả cảnh giới tà không thể lay động được. Tôi giảng kinh cho quý vị nghe, quý vị nhớ được một câu thì đi đến bất cứ đâu cũng dùng không hết. Nhưng nếu quý vị không nhớ được câu nào, quên sạch hết thì đi đến đâu sẽ bị cảnh giới ấy lay chuyển, chạy theo cảnh giới ấy, đó là không có chánh định. Có người nói: "Tôi biết tôi không có chánh định." Ðã biết là không có, sao không dùng chánh định? Cũng như có mấy người nọ, khi nghe tôi giảng điều gì đó đều nói: "I know, I know." Ðã biết sao còn phạm phải sai lầm? (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Chánh định: Là tập trung tư tưởng tu tập thiền định, vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người. (Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
+ Khổng Phu Tử ở trong “Chu Dịch Hệ Từ Truyện” đã từng nói: Chánh kiến ưa thích chánh kiến, tà kiến ưa thích tà kiến;
+ KINH CHÁNH KIẾN: Tôi đã được nghe, có tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên đến thăm, sau khi đảnh lễ dưới chân Đức Phật, tôn giả ngồi xuống một bên và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn. Cúi xin Người giảng giải ý nghĩa của từ Chánh kiến, Phật bảo:
- Người đời thường nghiêng về 2 khuynh hướng nhận thức, một là có, hai là không. Đây là 2 quan niệm vướng mắc vào cái tri giác sai lầm. Vì vướng vào tri giác sai lầm đó cho nên mới kẹt vào hoặc “ý niệm có”, hoặc “ý niệm không.” Này Tán-đà Ca-chiên-diên! Phần lớn người đời đều bị kẹt vào chấp mắc và bảo thủ. Người không bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ và vọng tưởng về cái ngã nữa. Người ấy biết cái khổ, chẳng hạn, khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó tiêu diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do ảnh hưởng của kẻ khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Đó là cách trình bày chánh kiến của Như Lai. Người có tri kiến chân chính khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian không thấy thế gian là không. Người có tri kiến chân chính khi quan sát về sự hoại diệt của thế gian không thấy thế gian là có. Này Tán-đà Ca-chiên-diên! Chấp có là một biên kiến, chấp không là một biên kiến khác. Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp một cách trung đạo. Nghĩa là: “Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì có cái kia sinh.” Từ vô minh mà có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có sinh, từ sinh mà có lão tử, và khổ đau chồng chất thành khối. Nếu vô minh không còn thì hành không còn, hành không còn thì thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ, không còn thì ái không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu không còn thì sinh không còn, sinh không còn thì lão tử không còn và nguyên khối khổ đau chồng chất kia bị tiêu diệt. Phật nói kinh này xong, tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các hệ lụy và chứng quả A-la-hán. (Xem: Kinh Chánh Kiến)
+ 122. CHÁNH KIẾN_Đức Phật dậy:
Thế nào là chánh kiến? Đó là khi vị Thánh đệ tử khi suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh. Hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sáttâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự giản trạch, giản trạch toàn diện, giản trạch quyết định, giản trạch pháp, nhận định, toàn diện nhận định, quán sát minh đạt. Nguồn: Mục 122 (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ “Chánh kiến” chính là trực tâm khởi dụng, Tâm chân thành tột đỉnh, “chánh kiến” là thâm tâm, đại bi tâm; Trong “Quán kinh” nói tâm hồi hướng phát nguyện, đây là chánh tri chánh kiến; Người chân thật tu hành có thêm Xem Quẻ theo Kinh Chiêm Sát Nghiệp Báo Thiện Ác để biết sấu tốt của nghiệp quả, từ đó biết sửa mệnh tu hành. (Nguồn: Kinh Thập thiện - Tập 37 - PS Tịnh Không giảng)
+ Chánh kiến: Ðây không phải là cái thấy của mắt thấy, mà là cái thấy của kiến giải trong tâm. Thế nào là kiến giải chính xác? Tức là dùng hành vi vô lậu để quan sát kiến giải của chính mình có chính xác hay không, tức là vật phi lễ chớ nhìn, cái gì không chánh đáng thì không nên xem, vì bất chánh là tà kiến. Ví dụ thầy Tỳ-kheo thấy người không chánh đáng thì không nên nhìn. Cho nên các Tỳ-kheo đều không đi xem phim, không ca múa hát xướng, cũng không cố đi xem nghe. Nếu thích đi xem thì không phải là có chánh kiến, thậm chí trong lòng có nghĩ tưởng đến cũng là không chánh kiến. Nhưng nếu có việc không chánh đáng ở trước mắt, cũng không nghĩ đó là bất chánh mà cho là chánh đáng, đó cũng là chánh kiến. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Chánh tín (Chánh kiến/ Phân Biện): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp. (Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
+ Đạo Giáo - Tu Luyện Hợp Nhất Thân Tâm: Là trường phái tu học chánh đạo khó nhất, thuật ngữ là “Luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, và luyện Thần nhập hư”. Do đó họ thiết lập ra được cái quan hệ giữa thân và luyện thân này như thế nào để mà khắc phục cái Vọng Tâm và đạt tới cái Chân Tâm/ Giải thoát. Đó là một sự phát minh độc đáo nhất ở trong văn học của Đạo giáo; Nhưng đến nay không còn người có khả năng tu đạo giải thoát này. Với sự kết hợp của Thân và Tâm không phải Phật giáo mới có mà thôi, mà chính trong Đạo giáo đã nói rồi.(Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
+ Đạo giáo - Mạnh Tử: HỎI: Bùa, Bát Quái có hiệu quả gì không? ĐÁP: Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo ở Trung Quốc vốn là một thể, nhưng tại sao chúng ta lại phải tin Phật? Bởi vì Đạo giáo, Nho giáo, cho đến các tông giáo khác đều không phải là cứu cánh; pháp của họ không cứu cánh, còn Phật giáo thì cứu cánh. Tôi vừa nói với quý vị về cái đại dụng toàn thể (cứu cánh tức là triệt để, mà Nho giáo thì rất gần gũi với Phật giáo). Lão Tử trong Đạo giáo là Ngài Tôn giả Ca Diếp hóa thân trong Phật giáo, còn Khổng Tử là hóa thân của đồng tử Thủy Nguyệt. (Gậy Kim Cang Hét 2 - Hoà Thượng Tuyên Hóa)
+ Tinh Khí Thần: Nếu tinh đầy đủ, bạn chẳng cảm thấy lạnh; nếu khí đầy đủ, bạn chẳng thấy đói; nếu thần đầy đủ, bạn chẳng buồn ngủ. Tinh, khí, thần (theo Ðạo giáo) gọi là Tam Bảo. Lý này cũng tương tợ như Phật Pháp Tăng của nhà Phật.
Nếu mình không hao tán tinh khí thần thì có hay không có ăn uống không thành vấn đề nữa. Chính bởi vì mình ngày ngày cứ xoay chuyển trong cảnh giới hữu lậu nên mới cần phải ăn uống.
Năm mới tới, mình hãy tiếp đón thần tài, thần hỉ, thần quý. Sao gọi là thần tài? Nếu bạn đừng đem tinh khí vất đi thì đó là thần tài. Sao gọi là thần quý? Nếu một năm bạn không nổi nóng, đó là thần quý. Nếu bạn phát tâm, rằng: Sang năm mới tôi không nổi giận nữa, tôi phải sửa đổi tính tình của tôi, thì đó là thần quý. Nếu bạn lúc nào cũng vui vẻ, thì đó là bạn tiếp đón thần hỉ rồi. Ba vị thần này đều tại nơi ta. Bất quá bạn không biết nó, nên phải chạy đi cầu thần ở bên ngoài.
Nếu suốt ngày bạn không phí phạm lời nói, không nghĩ chuyện vô vị; bạn điều hòa tâm tình khiến cho yên ổn thái nhiên, không buộc trói, không quái ngại, không nhân ngã, không thị phi thì đó không phải là âm nhạc rồi sao? (Pháp ngữ HT Tuyên Hóa)
+ Đạo Thanh tịnh: Dòng Bà La Môn (Ở Ấn Độ) này tuy cũng tu pháp môn "viễn ly," song tu tới tu lui vẫn không đến được chỗ cốt tủy, không đạt được đạo lý rốt ráo. Ðây là một giáo phái có tự ngàn xưa của nước Ấn Ðộ; và cho đến hiện nay, tại Ấn Ðộ vẫn còn rất nhiều loại giáo phái như thế. Ðiển hình là phái Du Già, một giáo phái thoát thai từ đạo Bà La Môn. Ðối với người Trung Hoa thì đạo Bà La Môn chính là Ðạo Giáo (đạo Lão), một giáo phái cũng chủ trương tu hạnh thanh tịnh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Tinh - Khí - Thần:
Theo Hải Thượng Lãn Ông thì trong cơ thể người có hai nguồn Hỏa, thứ hoả ở trên là quân hoả, thứ hoả ở dưới, là tướng hoả; Trong thiên nhiên hoả ở mặt trời là hoả phần trên, hoả ở trong lòng đất là hoả ở phần dưới. Có hoả thì mới có quang, có nhiệt, có động, có chưng bốc, có cũng như không có nước thì không có hoá sinh, không có sự sống. Người ta là một vũ trụ nhỏ nằm trong vũ trụ lớn, cho nên mỗi sự hoá sinh trong cơ thể cũng cần có hoả. Trong cơ thể người tâm hoả ở phần trên là Quân hoả, chủ về thần minh; mệnh môn hoá là hoả của thận ở phần dưới, là tướng hoả và chủ về sinh thành.
Sách nội kinh viết: "Tâm là quân chủ chi quan, thần minh xuất yên". Tâm là quân hoả, có tâm hoả tác động vào thận thuỷ thì mới có sáng suốt, minh mẫn được. Thần sinh ra ở tịnh khí của thận lên quy vào tâm hợp thành quẻ ly, là khi âm tinh tàng ở trong, dương tinh bọc ra ngoài thì hoả của tâm mới quang minh, sáng rực và soi được muôn vật (Như mặt trời có dương hỏa bên ngoài chiếu rạng khắp hư không, trong lõi mặt trời là âm Hỏa - Linh tánh sự sống). "Như vậy thần là tâm hoả được thận âm giúp đỡ vào, đó cũng là con đường "thuỷ tế hoả".
.... Đường Dung Xuyên lại nói: "Con người sở dĩ có tri giác là do thần làm chủ, mà tâm là nơi tàng thần" (Điều này phù hợp với Minh triết giảng rằng, trong Tâm mỗi người đều có Linh tánh - Tâm hồn, do chưa tiến hóa nên chỉ ví như "điểm phát sáng" nhỏ như đầu mũi kim).
Nội kinh viết: "Tâm là một cơ quan quân chủ, nếu chủ minh thời dưới yên. Chủ không minh thời 12 cơ quan sẽ nguy". (Nguồn: Học thuyết Thủy - Hỏa)
+ Phật giáo - Đạo giáo: ...Phật pháp được truyền bá đến nước Trung Hoa vào đời nhà Hán. Tuy nhiên, vì Đạo giáo tại Trung Hoa thời ấy đang rất thịnh hành, nên khi Phật giáo lan truyền đến quốc gia này thì có nhiều đạo sĩ sanh lòng ganh ghét và tâu với vua rằng: "Phật giáo chỉ là thứ giả. Đó là tôn giáo của ngoại bang chứ không phải của Trung Hoa. Vậy, xin Bệ hạ hãy ngăn cấm việc truyền bá đạo Phật và trục xuất Phật giáo ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa! Nếu Bệ hạ không muốn xóa bỏ Phật giáo, thì xin hãy tổ chức một cuộc so tài!"
Các đạo sĩ yêu cầu nhà vua cho mang tất cả kinh điển do Đức Phật thuyết giảng và kinh điển do Đạo giáo đến xếp chung vào một chỗ rồi châm lửa đốt. Hễ kinh điển của bên nào bị cháy thì bên ấy thứ giả; và kinh điển của bên nào không bị cháy thì bên đó là thứ thiệt! .... Kết quả - Kinh điển của Phật giáo chẳng những đã không bốc cháy mà lại còn phát hào quang! ...
Còn kinh điển của Đạo giáo vừa đốt, thì đều bén lửa cháy rụi ngay, không còn sót lại gì cả! .... Đây là cuộc "đấu phép" xa xưa nhất giữa Phật giáo và Đạo giáo; và Đạo giáo đã chuốc lấy phần thảm bại! .... Cho nên, những người đương thời và luôn cả Hoàng Đế thảy đều dốc lòng tin theo đạo Phật.....(Nguồn: Kinh 42 chương - HT Tuyên Hóa)
+ Kinh 42 chương: Đề tựa - Kinh tựa
Chương 1: Xuất Gia Chứng Quả
Chương 2: Trừ Dục Vọng, Dứt Mong Cầu
Chương 3: Cắt Ðứt Ái Dục, Xả Bỏ Lòng Tham
Chương 4: Thiện, Ác Phân Minh
Chương 5: Chuyển Nặng Thành Nhẹ
Chương 6: Nhịn Kẻ Ác Và Không Oán Hận
Chương 7: Ở Ác Gặp Ác
Chương 8: Gieo Gió Gặp Bão
Chương 9: Về Nguồn Gặp Ðạo
Chương 10: Hoan Hỷ Bố Thí Tất Ðược Phước
Chương 11: Sự Gia Tăng Của Công Ðức Trong Việc Bố Thí Thức Ăn
Chương 12: Nêu Ra Sự Khó Ðể Khuyên Tu
Chương 13: Hỏi Về Ðạo và Túc Mạng
Chương 14: Hỏi Về Tánh Thiện Và Ðại
Chương 15: Hỏi Về Sức Mạnh và Sáng
Chương 16: Bỏ Ái Dục Tất Ðắc Ðạo
Chương 17: Ánh Sáng Ðến, Bóng Tối Tan
Chương 18: Ý Niệm Và Mọi Thứ Vốn Là Không
Chương 19: Quán Xét Cả Thật Lẫn Giả
Chương 20: Suy Ra Cái "Ta" Vốn Là Không
Chương 21: Danh Vọng Hại Người
Chương 22: Tiền Của Và Sắc Dục Mang Lại Ðau Khổ
Chương 23: Gia Ðình Còn Tệ Hơn Lao Ngục
Chương 24: Sắc Dục Chướng Ngại Ðường Ðạo
Chương 25: Lửa Dục Ðốt Người
Chương 26: Thiên Ma Quấy Nhiễu Phật
Chương 27: Không Chấp Trước Tất Ðắc Ðạo
Chương 28: Ðừng Theo "Con Ngựa" Ý Niệm
Chương 29: Quán Tưởng Chân Chánh Thắng Ðược Sắc Dục
Chương 30: Lánh Xa Lửa Dục
Chương 31: Tâm Vắng Lặng, Dục Vọng Dứt
Chương 32: Không Còn Cái "Ngã" Thì Hết Sợ Hãi
Chương 33: Trí Huệ Và Sự Sáng Suốt Phá Tan Chúng Ma
Chương 34: Giữ Trung Dung Tất Ðắc Ðạo
Chương 35: Tẩy Sạch Cấu Bẩn, Chỉ Còn Vẻ Sáng
Chương 36: Sự Chuyển Ðổi Thù Thắng
Chương 37: Nhớ Nghĩ Ðến Giới Là Gần Với Ðạo
Chương 38: Có Sanh Tất Có Diệt
Chương 39: Sự Dạy Bảo Vốn Không Phân Biệt
Chương 40: Tâm Phải Thực Hành Theo Ðạo
Chương 41: Ngay Thẳng Dứt Trừ Dục Vọng
Chương 42: Hiểu Ðược Cõi Ðời Là Hư Huyễn
Lời tưa: ...Phật pháp được truyền bá đến nước Trung Hoa vào đời nhà Hán. Tuy nhiên, vì Đạo giáo tại Trung Hoa thời ấy đang rất thịnh hành, nên khi Phật giáo lan truyền đến quốc gia này thì có nhiều đạo sĩ sanh lòng ganh ghét và tâu với vua rằng: "Phật giáo chỉ là thứ giả. Đó là tôn giáo của ngoại bang chứ không phải của Trung Hoa. Vậy, xin Bệ hạ hãy ngăn cấm việc truyền bá đạo Phật và trục xuất Phật giáo ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa! Nếu Bệ hạ không muốn xóa bỏ Phật giáo, thì xin hãy tổ chức một cuộc so tài!"
So tài như thế nào ư? Các đạo sĩ yêu cầu nhà vua cho mang tất cả kinh điển do Đức Phật thuyết giảng và kinh điển do Đạo giáo đến xếp chung vào một chỗ rồi châm lửa đốt. Hễ kinh điển của bên nào bị cháy thì bên ấy thứ giả; và kinh điển của bên nào không bị cháy thì bên đó là thứ thiệt! .... đến lần dùng lửa đốt kinh sách này thì thế nào?
Kinh điển của Phật giáo chẳng những đã không bốc cháy mà lại còn phát hào quang! ...
Còn kinh điển của Đạo giáo vừa đốt, thì đều bén lửa cháy rụi ngay, không còn sót lại gì cả! .... Đây là cuộc "đấu phép" xa xưa nhất giữa Phật giáo và Đạo giáo; và Đạo giáo đã chuốc lấy phần thảm bại!
.... Cho nên, những người đương thời và luôn cả Hoàng Đế thảy đều dốc lòng tin theo đạo Phật.
Vì vậy bộ kinh này rất quan trọng và đây cũng là bộ kinh đầu tiên được truyền đến nước Trung Hoa, cho nên hôm nay tôi muốn cùng quý vị nghiên cứu bộ kinh này....(Nguồn: Kinh 42 chương - HT Tuyên Hóa)
+ Tương ứng các phương: Con người và 4 phương có sự tương ứng là Đông = Sinh - Nam = Lão - Tây = Bệnh - Bắc = Tử vong [Nguồn: Đức Phật đi về 4 phương của cửa thành và ứng gặp 4 cảnh Sinh đẻ nơi cửa Đông - Người già - Người bệnh - Người chết nơi phương Bắc => Nhân duyên giúp Ngài hiểu Sinh Tử luân hồi khổ đau ... Ngài được Tứ Thiên Vương khiêng cả Người và Ngựa vượt Thành cung cấm xuất gia tu đạo ... thành Phật theo lời nguyện kiếp trước].
LƯU Ý PHÂN BIỆT TƯƠNG ỨNG Ở TRỜI/ TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN = NGŨ HÀNH KHÁC NHAU
[Thổ thịnh vượng 4 mùa, mùa xuân ba tháng - 90 ngày, có thổ thì có thể sanh sôi nảy nở ...........]
| Phương | Trung ương |
Tây | Đông | Nam | Bắc |
| Ngũ Phật | Đại Nhật NL [Tỳ Lô Giá Na] "Pháp vô ngã" |
A Di Đà Phật | Bất Động P A Xúc Bệ [ Dược sư ] |
Bảo Sinh Phật |
Bất Không Thành Tựu Phật |
| Ngũ hành vượng 4 mùa | Thổ vượng 4 mùa [Mậu, Kỷ] |
Thu - Kim vượng [Canh, Tân] |
Xuân - Mộc vượng [Giáp, Ất] |
Hạ - Hỏa vượng [Bính, Đinh] |
Đông - Thủy vượng [Nhâm, Quý] |
| Các Bộ | Phật bộ | Liên hoa | Kim cương | Bảo sinh bộ | Nghiệp bộ |
| Biểu tượng | Pháp luân | Hoa sen | Chày kim cương đơn | Bảo châu | Chày kim cương kép |
| Màu sắc | Sắc trắng | Sắc đỏ | Xanh dương | Sắc vàng | Sắc xanh lục |
| 5 Phương | Trung tâm | Tây | Đông | Nam | Bắc |
| Chủng tử | OM | AH | HUNG | SVA | HA |
| Thủ Ấn | Pháp luân | Thiền định | Ấn xúc địa | Ấn thí nguyện | Ấn Vô úy |
| Ngũ trí | Pháp giới thể tính trí | Diệu quan sát trí | Đại viên cảnh trí | Bình đẳng tính trí |
Thành sở tác trí |
| Độc tố phiền não | Vô minh | Tham muốn | Sân giận | Kiêu mạn | Ghen tỵ |
| ngũ Đại | Không đại | Hoả đại | Thủy đại | Địa đại | Phong đạị |
| ngũ Uẩn | Thức | Tưởng | Thọ | Sắc | Hành |
| G. Quan | Nếm | Thấy | Nghe | Ngửi | Xúc chạm |
| Phật Mẫu đã Thanh tịnh Đại | Thanh tịnh Hỏa đại hoàn hảo | Thanh tịnh Thủy đại hoàn hảo | Thanh tịnh Địa đại hoàn hảo |
Thanh tịnh Phong đại hoàn hảo |
a/ Xem các trang:
+ Xem thêm: Ngũ phương Phật_HT Tuyên Hóa giảng Tâm Chú Lăng Nghiêm
+ Xem thêm: Luận về Ngũ phương Phật_Đại Bảo Tháp Tây Thiên
+ Xem thêm: Ngũ phương Phật_Vạn Phật Thánh Thành):
+ Xem thêm: Tổng hợp ngũ phương Phật _Bảo Tháp MĐL Tây Thiên
b/ Xem Tooltip:
1.Xem Tooltip: Phật ngũ phương - Ngũ Trí Phật [Chuyển Thức thành Trí];
1.Xem Tooltip: Bồ Tát các phương [Mười phương]
1.Xem Tooltip: Tam Thánh các phương [Bồ Tát tương ứng các đức Phật]
1.Xem Tooltip: Thần quản lý các phương hướng [Ngũ hành thịnh vượng-Tứ thông bát đạt]
1.Xem Tooltip: Thần các Đại - Các Hành quản các phương hướng do Phật biểu lộ
1.Xem Tooltip: Pháp lễ Lễ bái Phật khi Xuất hành đi về các phương [Diệt trừ tối tăm trong mười phương]
1.Xem Tooltip: Lễ lạy bốn phương tám hướng [8 phương chủ về, các sống Cải mệnh như ý]
1.Xem Tooltip: Thi ân các phương [6 phương]
1.Xem Tooltip: Nhà và Cung điện các phương [Trên cõi trời]
1.Xem Tooltip: Biến xứ các Đại và Thức tâm - Kinh Nhất thiết xứ - Biến xứ ....
+ Tu khó nhất - Khó tu nhất: Ps Tịnh Không giảng, trong tu đạo cái khó nhất là Không chấp trước - Buông bỏ chấp chước có cái Ta, xả bỏ cái Ta thì làm gì có cái của Ta nữa.... [Nguồn: Tu khó nhất là buông bỏ chấp trước]
+ Tu sai pháp - Không như pháp thọ trì: Những người tu thiền định thường có ba trạng thái trong lúc dụng công, đó là Hôn trầm, Tán loạn, Vô ký. Hôn trầm nghĩa là bị buồn ngủ, ngủ gục, tâm trí không kiểm soát tư tưởng. Tán loạn: Trong lúc chuyên chú theo dõi nội tâm nhưng nhiều loại vọng tưởng khởi lên liên tục, làm cho tâm không định tỉnh được. Vô ký: Nghĩa là không bị hôn trầm, tán loạn, nhưng vọng niệm sinh khởi hành giả không phân biệt là đúng với Pháp tu hay chẳng đúng với Pháp tu, như thế gọi là vô ký. (Nguồn: Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo)
+ Văn Thù Sư Lợi "Vấn Tạp Pháp": Phật dậy đại khái, như người thắp đèn để sáng phòng, con thiêu thân chết chẳng do lỗi nơi người thắp đèn. Như vậy, đức Phật giảng pháp cũng thế, người nặng nghiệp nghe pháp chẳng hiểu, do ác nghiệp ngu si dụng pháp sai có thể bỏ tu, hoàn tục, bị họa, hoạn nạn hay chết ...... nhưng về lâu dài muôn kiếp luân hồi thì vẫn là được Phật độ.... (Nguồn: Văn Thù Tạp Vấn Phật)
+ Tu hành sai Pháp - Tu sai pháp rất nguy hiểm (Ví dụ con rắn)
Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp... Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước.
Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.
Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp... chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.
+ Chiếc bè qua sông: Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp. (Nguồn: 22. Kinh ví dụ con rắn)
52. BẢY BẬC THIỆN NHÂN ĐẾN VÔ DƯ NIẾT BÀN
1) Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đốt trấu, vừa nhen đã tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng thế, chút ít mạn chưa trừ hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn => Đó là nơi đi đến của bậc thiện nhân thứ nhất, thế gian quả thực có người như vậy.
2) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ......... sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không; vừa lên liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy; còn chút mạn chưa trừ hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ hai, thế gian quả thực có người như vậy.
3) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ....... sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi từ không rơi trở lại; rơi chưa đến đất liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ ba, thế gian quả thực có người như vậy.
4) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ........ búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống, tới đất thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Sanh Bát-niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ tư, thế gian quả thực có người như vậy.
5) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ...... lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhúm cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy; cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Hành Bát-niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ năm, thế gian quả thực có người như vậy.
6) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ..... lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy, cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kiết đã đoạn hết, chứng Vô hành Bát-niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ sáu, thế gian quả thực có người như vậy.
7) ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai ..... lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy, cháy luôn cả thôn ấp, thành quách, rừng núi, đồng nội, hoặc đến đường đi, hoặc mé nước, cho đến đất bằng thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn => Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ bảy, thế gian quả thực có người như vậy. (Nguồn: Trung A Hàm, Kinh Thiện Nhân Vãng, Phẩm 1, số 6)
+ Đoạn chấp ngã - Đoạn ngã chấp: ... Phật bảo với chúng ta rằng: “Tất cả chúng sanh có chân ngã”, cái thân này là giả ngã, không phải chân ngã, giả ngã mới tạo lục đạo luân hồi, chân ngã tuyệt đối không có luân hồi. Chẳng những không có lục đạo luân hồi ngay cả thập Pháp giới cũng không có. Chân ngã trụ ở đâu, chân ngã trụ trong nhất chân pháp giới. Ai có chân ngã, Phật có chân ngã. Trong đại Kinh nói Phật có 3 thân, mỗi người chúng ta cũng có 3 thân, bản thể của thân chúng ta. Thật sự chân ngã là gì? Là pháp thân. Cho nên Phật tại trong Kinh nói mọi người tu hành, tu đến trình độ tương đương thì bạn chứng được thanh tịnh pháp thân, thanh tịnh pháp thân mới là chân ngã , trong thiền tông gọi là :
Trước khi cha mẹ chưa sanh bản lai diện mục, cái bản lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sanh tức là thanh tịnh pháp thân, trong Kinh Hoa Nghiêm gọi là Tỳ Lô Giá Na Phật, Tỳ Lô Giá Na Phật không phải là một người. Tỳ Lô Giá Na Phật là chân ngã của chính chúng ta, là chân thân của chúng ta gọi là Ty Lô Giá Na, Tỳ Lô Giá Na là tiếng Phạn. Ý nghĩa của nó là biến nhất thiết sứ tức là bất cứ lúc nào, chổ nào cũng có khắp cả chổ. Nếu ở chổ này không có chân ngã thì cái thân giả này không thể hiện tiền, là thật có, nên cái giả tướng này là do chân ngã mà có. Cái ngã là thể, là tánh, do thể tánh chân thật mà hiện tướng. cho nên nhất định là có cái chân ngã này. Tất cả chúng sanh đã mê mất chân ngã mới trở thành phàm phu. Vì đã mê mất chân ngã, đã mê mất chứ không phải thực mất, đã mê mất mà thôi. Không phải thực sự mất đi chỉ là mê. Đã mê cái gì? Đã mê những giả tướng do thể tánh chân thật hiện ra những giả tướng. Trong Kinh Hoa Nghiêm gọi là “duy tâm sở hiện” cái tâm đó gọi là chân, chân tâm, là chân ngã, cũng là Pháp thân. Hiện ra giả tướng, bạn đã chấp tướng, hư là hư ở chổ này, hiện ra cái giả tướng. Vì bạn không biết nó là giả tướng, nên bạn chấp trước cái giả tướng cho nó là chân, vì vậy đã quên mất cái chân tánh. Xem giả tướng cho là chân , hư là hư ở chổ này. Vì bạn có phân biệt, chấp trước nên nhất chân mới chuyển biến thành những hoàn cảnh rất phức tạp, biến thành thập pháp giới, biến thành lục đạo, biến thành tam đồ. Biến như thế nào? là do thức sở biến. Cái gì gọi là thức? trong Kinh Hoa Nghiêm giảng về thức rất cụ thể: vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chính là thức. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều có đủ 3 thứ này. Hiện nay, chúng ta đều có đủ, có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. vì vậy đã biến nhất chân pháp giới thành lục đạo luân hồi, đã biến thành lục đạo.
Nếu trong 3 thứ này chúng ta đoạn được một thứ, đã đoạn được chấp trước, trong tất cả Pháp, Pháp thế gian và Pháp xuất thế gian mà thật sự không còn chấp trước nữa, xin thưa với quý vị lục đạo không còn nữa. Lục đạo là do chấp trước biến hiện ra. Không còn chấp trước thì bạn ra khỏi lục đạo.
Ra khỏi lục đạo rồi đi đâu? bởi vì bạn còn có phân biệt nên còn có tứ thánh pháp giới tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Còn có tứ thánh pháp giới này là do tâm phân biệt của bạn quan hệ nặng, nhẹ biến hiện ra. Tâm phân biệt của bạn rất nặng thì bạn là thanh văn , duyên giác. Tâm phân biệt của bạn rất nhẹ thì bạn là Bồ Tát pháp giới, Phật pháp giới. Thập pháp giới do đây mà có, nếu không còn phân biệt thì siêu việt thập pháp giới bạn mới có thể phản bổn hoàn nguyên, trở về chân thật, tức nhập nhất chân pháp giới. Trong nhất chân pháp giới những địa vị của Bồ Tát cũng không đều. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói 41 vị Pháp thân đại sĩ trình độ cao thấp của những bậc Bồ Tát chia thành 41 đẳng cấp .
41 đẳng cấp này do đâu mà có ? là do vọng tưởng mà có. Những Bồ Tát trong nhất chân Pháp Giới vẫn còn có vọng tưởng. Nhưng quý vị nên biết họ không có phân biệt, họ không có chấp trước. Họ có vọng tưởng nhưng rất nhẹ. Vọng tưởng cũng gọi là vô minh. Vô minh tức là vọng tưởng. Nếu đoạn hết vô minh thì đã đoạn hết 41 phẩm vô minh thì bạn chứng được quả vị cứu cánh viên mãn. Chứng được quả vị cứu cánh viên mãn là như thế nào? Tức là chân ngã của chính mình, đã hoàn toàn khôi phục lại, thì bản lai diện mục hoàn toàn hiện ra. Đó tức là viên giáo Phật quả. Viên giáo Phật quả tức là đã hoàn toàn khôi phục lại bản lai diên mục của chính chúng ta. Đến chổ này thì chúng tôi mới nghĩ đến trong Kinh Lăng Nghiêm có nói 2 câu : ”viên mãn bồ đề quy vô sở đắc”. Viên mãn bồ đề là khôi phục lại bản lai diện mục của mình mà thôi. Cũng không có được cái gì từ bên ngoài đến. LÝ và SỰ đều là như vậy.
Vì vậy Phật bảo với chúng ta khởi tâm động niệm có cái ngã. Ngã tức là chấp trước kiên cố. Chỉ cần có cái chấp trước này thì bạn không thể ra tam giới, tức không ra khỏi luân hồi cho nên đây là tội, đây là ác. Cái ngã, có ngã thì là tội, thì là ác. Huống chi là tất cả chúng sanh còn có nghiêm trọng chấp trước, ngã sở. Đây là đã mê rất nặng, bạn chấp trước cái thân này là ta, đã rất phiền phức rồi lại còn chấp trước ngã sở, đây là nhà của ta, sở hữu của ta, đó là gia tài của ta, kia là quyến thuộc của ta. Còn người xuất gia thì đây là đạo tràng của ta. Bạn nói có tệ hại hay không? Đều này là phiền phức vì một cái thân này đã mang rất nhiều đồ, nặng đến nỗi không nhúc nhích được thì bạn làm sao ra khỏi tam giới được. Dù A Di Đà rất từ bi muốn kéo bạn đến Cưc Lạc Thế Giới nhưng cái thân của bạn mang quá nhiều đồ đạc Phật cũng kéo không nổi.
Cho nên Phật dạy cho chúng ta phải xả, phải buông bỏ, phải bố thí. Phải xã, trước tiên xã cái sở hữu của ta, sở hữu của ta là những vật ngoài thân. Trước tiên phải xã bỏ những thứ này, sau đó lại xã bỏ chấp trước cái ta thì bạn trên đường bồ đề sẽ gặp ít chướng ngại cho nên khởi tâm động niệm đều là tội nghiệp. Đạo lý thì ở chổ này. Cho nên muôn ngàn chớ nên bị những huyễn tướng, giả tướng đó lừa gạt. Bạn có thể thấy rõ ràng minh bạch chân tướng sự thật này thì gọi là nhìn thấu. Nhưng sự thật phàm phu chúng ta từ vô thỉ kiếp tới nay, đời đời, kiếp kiếp bị mê trong cái giả tướng đó nên chúng ta tạo nghiệp lục đạo luân hồi, đếm cũng không hết, thật là vô lượng vô biên lần. Cho nên tập khí rất là sâu. Còn phiền não không phải trong đời này mới có, là do trong nhiều đời nhiều kiếp mang đến. Tập khí cũng vậy thì mới hiểu được nghiệp chướng của chúng ta rất nặng cho nên Phật dạy cho chúng ta phải tu sám hối, phải tiêu trừ nghiệp chướng.
Bản thân của phiền não là chướng ngại, làm chướng ngại Niết Bàn gọi là phiền não chướng. Sở tri cũng là chướng ngại, làm chướng ngại Bồ đề. Đây là danh từ thuật ngữ trong Phật học vẫn phải giải thích thì bạn mới rõ ràng, mới có thể minh bạch. Cái gì gọi là Niết Bàn? Niết Bàn là tiếng Phạn tức nghĩa là không sanh, không diệt. Quý vị nên biết tự chúng ta không sanh, không diệt nhưng bây giờ lại có sanh diệt. Vì sao lại có sanh có diệt? là bởi vì bạn có nghiệp chướng nên đã làm chướng ngại Niết Bàn, không sanh không diệt, không sanh không diệt biến thành sanh diệt. Đây là điều bất hạnh. Tất cả phàm phu có sanh diệt, có sanh tử là vì họ có phiền não. Nếu đoạn hết phiền não thì không còn sanh diệt nữa hay nói cách khác tức không còn sanh tử nữa. Vốn là không sanh, không chết, vốn là không có sanh tử, cái đạo lý này rất sâu, rất sâu. Cái hiện tượng này cũng rất là vi tế.
Sở di chướng là gì? Chúng ta dùng lời hiện nay mà nói là kiến giải, tức là bạn có tri, có kiến. Nói rõ thêm một chút tức là bạn có tư tưởng, bạn có kiến giải. Có những thứ này rất phiền phức. Đã có những thứ này khiến cho trí huệ, bát nhã vốn có trong tự tánh của bạn bị chướng ngại. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói tất cả chúng sanh đều có Như Lai Trí Huệ đức tướng, đức tướng tức là đại Niết Bàn. Không sanh, không diệt là đức tướng. Nếu chúng ta có tư tưởng, có kiến giải thì hư rồi. Trí huệ bát nhã của chúng ta không còn nữa, đã bị nó làm chướng ngại khiến cho trí huệ bát nhã của chúng ta sai lệch, đã biến chất. Biến thành cái gì? Biến thành tà tri, tà kiến. Tư tưởng và kiến giải hoàn toàn không tương ứng với chân tướng sự thật, đã biến thành sai lệch như vậy. Là bởi vì có thị phi nhân ngã, có tham, sân, si, mạng khiến cho đức tướng biến thành sanh tử luân hồi, biến thành chúng sanh tướng của thập pháp giới. Nếu Đức Thế Tôn không ra đời thì ai biết được chân tướng sự thật này. Ai có thể đem chân tướng sự thật này nói rõ ràng, nói minh bạch. Tất cả các tôn giáo gia, triết học gia, khoa học gia trong thế gian đều không có biện pháp nói rõ chân tướng sự thật này cho chúng ta biết may nhờ có đức Thế Tốn xuất hiện trên thế gian này. Ngài vì chúng ta nói rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Sau khi chúng ta nghe rồi thì quả nhiên đại ngộ. Cái quan trọng nhất là làm sao khôi phục lại bản lai diện mục của chúng ta. Làm thế nào để khôi phục trí huệ đức tướng viên mãn của chúng ta? Điều này rất quan trọng. Học Phật là phải đạt đến mục tiêu này, không vì chuyện khác. Hạnh Phổ Hiền là hành Pháp cứu cánh viên mãn. Hành Pháp là phương pháp tu hành nếu dùng lời hiện nay mà nói hành pháp tức là phương pháp sinh hoạt. Ngài nêu ra một điều cương lĩnh. Đó là tu Lễ kính - Tán thán - Cúng dường... (Nguồn: Sám hối nghiệp chướng - PS Tịnh Không)
+ Tương ứng các phương: Tổng hợp các tương ứng và quá trình Thanh tịnh hóa Ngũ Đại - Ngũ phương và ngũ Trí Phật - Bồ tát các phương .... Theo Phật giáo, những si mê, phiền não thông thường chia thành 5 loại / Ngũ độc, gồm vô minh, sân giận, kiêu ngạo, tham ái và đố kỵ. Đạo Phật cho rằng chúng là toàn bộ những yếu tố khiến chúng ta mê đắm trong khổ đau luân hồi và chưa thể đạt được giác ngộ. Song ngược lại, giáo pháp Đức Phật cũng khẳng định với niềm tin xác đáng rằng tâm con người có khả năng chuyển biến những xúc tình và biểu hiện tiêu cực thành những đức tính và phẩm hạnh tích cực.
Năm bộ Phật hay 5 bộ giác ngộ chỉ cho 5 khía cạnh của thực tại khi đã tịnh hóa các xúc tình tiêu cực kể trên. Trong mối tương quan chuyển hóa từ thân tâm của chúng sinh thành thân tâm Phật, Năm bộ Phật hay Năm bộ giác ngộ là những thực tại hoàn thiện đã tịnh hóa hoàn toàn của năm uẩn, năm đại, sáu căn, sáu thức và sáu trần.
Mỗi bộ trong số Năm bộ Phật bao gồm một Đức Phật trung tâm, đại diện cho 1 trong 5 uẩn đã tịnh hóa và một Phật Mẫu tượng trưng cho 1 trong những Đại đã được tịnh hóa. Bên cạnh đó, 4 trong số 5 bộ Phật đều có các vị Bồ tát đứng ở xung quanh, tượng trưng cho 6 căn 6 thức đã được tịnh hóa. Năm vị Phật lần lượt tương ứng với 5 loại trí tuệ... Xem trích Bảng 1: Tổng hợp Ngũ trí Phật và tương ứng
LƯU Ý PHÂN BIỆT TƯƠNG ỨNG Ở TRỜI/ TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN = NGŨ HÀNH KHÁC NHAU
[Thổ thịnh vượng 4 mùa, mùa xuân ba tháng - 90 ngày, có thổ thì có thể sanh sôi nảy nở ...........]
| Phương | Trung ương |
Tây | Đông | Nam | Bắc |
| Biểu tượng | Pháp luân | Hoa sen | Chày KC đơn | Bảo châu | Chày KC kép |
| Chủng tử | OM | AH | HUNG | SVA | HA |
| Các Bộ | Phật bộ | Liên hoa bộ | Kim cương |
Bảo sinh bộ | Nghiệp bộ |
| Ngũ Phật | Đại Nhật NL [Tỳ Lô Giá Na] |
A Di Đà Phật | Bất ĐP - A Xúc Bệ [ Dược sư ] | Bảo Sinh Phật [Ma ni = Bảo = Quý giá] |
Bất Không Thành Tựu Phật |
| Màu sắc Phật [Kết thủ ấn] |
Thân sắc trắng [Ấn Pháp luân] |
Thân sắc đỏ [Ấn thiền định] |
T. Xanh dương [Ấn xúc địa] |
Thân sắc vàng [Ấn thí nguyện] |
Sắc xanh lục [Ấn Vô úy] |
| 5 trí - Chuyển hóa phiền lão, ngũ độc tố | Thức Duy trì = P. Giới thể TT "Pháp vô ngã" |
Thức 6 = Diệu quan sát trí "Phục nghi ngờ" |
Thức 8 = Đại viên cảnh trí "Phục sân hận" |
Thức 7= Bình đẳng tính trí "Phục kiêu mạn" |
5 Thức đầu = Thành sở tác trí "Phục đố kị" |
| Dụng pháp | Tu vạn hạnh Bala mật = Phật giáo hóa: Trừ Si độc. Xem Ma giúp người tu | Nhiếp thọ pháp: Loại bỏ độc tố hoài nghi. Niệm Phật/ B.Tát Quán TÂ vãng sanh | Chiết phục pháp: Kiềm chế phiền lão. Trừ độc tố Sân giận & thù ghét [Tiêu tai ...] | Pháp tăng ích Giới Định Tuệ. Tăng vô lượng phúc đức, trân bảo, trừ Tham ... | Pháp tức tai: Phục rồng, rắn độc - Trừ nạn tai [5 giới T.Tịnh & Sám hối nghiệp] |
| P. Mẫu T.Tịnh | Thanh T Hỏa đại | TT Thủy đại | Thanh T Địa đại |
TT Phong đại |
|
| Bồ tát | Hư Không TBT | ||||
| Độc tố P. Não | Vô minh | Ái/ Tham muốn | Sân H, Thù ghét | Kiêu mạn | Ghen tỵ |
| ngũ Uẩn | Thức | Tưởng | Thọ | Sắc | Hành |
| Giác quan | Nếm | Thấy | Nghe | Ngửi | Xúc chạm |
| Mầu sắc Đại | |||||
| Ngũ Đại - "Đại biểu lộ" |
KHÔNG đại "TL Không khí" |
HỎA đại "Tinh linh Lửa" |
THỦY đại "Tinh linh Nước" |
ĐỊA đại "TL Đất/ Kim" |
PHONG đạị "Tinh linh Gió" |
| 5 Phương | Trung ương | TÂY | ĐÔNG | NAM | BẮC |
| Ngũ hành ứng Khí ngũ | THỔ - TW [Mậu, Kỷ] |
KIM - M. Thu [Canh, Tân] |
MỘC - M. Xuân [Giáp, Ất] |
HỎA - M. Hạ [Bính, Đinh] |
THỦY - M. Đông [Nhâm, Quý] |
| Mầu sắc ngũ H | Vàng | Trắng | Xanh | Đỏ | Đen |
| Giác quan | |||||
| ......................... | ............................ | ............................ | ............................ | ............................. | ............................. |
Sự chuyển hóa năm đại thành năm Phật Mẫu: Thực hành chân ngôn bí mật chú trọng đến sự hợp nhất trí tuệ và phương tiện thiện xảo, biểu trưng bằng 5 Đức Phật Phụ tính và trí tuệ được biểu trưng là 5 Đức Phật Mẫu tính. Tại mức độ thanh tịnh hoàn toàn => 5 chủ của 5 bộ Phật là thể hiện bản chất thanh tịnh của xúc tình phiền não. Tương tự như vậy, 5 trí tuệ được thể hiện là 5 đại thanh tịnh.
Nói chung, nền tảng cho sự xuất hiện thế gian hiển diện đối với chúng sinh là 5 đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không đại => Biểu lộ cho:
Đức Bất Động Phật, sự hiện thân của tâm sân giận đã hoàn toàn được tịnh hóa. Minh phi Trí tuệ của Ngài là Phật Mẫu Mamaki, thể hiện sự thanh tịnh của yếu tố Thủy đại....
Đức Phật Bảo Sinh là sự thể hiện khía cạnh tịnh hóa của niềm kiêu hãnh. Minh phi Trí tuệ của Ngài là Phật Mẫu Buddha Locana - Phật Nhãn Phật mẫu, là sự thanh tịnh hoàn hảo của Địa đại. Nói chung, Địa đại có tính chất rắn, chắc và bất động. Địa đại là mảnh đất lành tạo tiềm năng phát triển và nơi an trú cho vạn vật. Ở mặt trái, Địa đại có khả năng tàn phá mạnh mẽ. Khía cạnh tiêu cực của kiêu mạn là khi phiền não hoành hành, nó sẽ nhậm vận tự nhiên tạo nên nguyên nhân căn bản dẫn đến hành động tổn hại. Khía cạnh tích cực của kiêu mạn là phẩm chất can đảm và quyết tâm, trở thành cội nguồn của tính ổn định giống như phẩm chất của đất. Vì bản chất của đất là ổn định cho nên yếu tố thanh tịnh của Địa đại được thể hiện dưới sắc thân Phật Nhãn Phật mẫu.
Mọi Ái kết tham muốn được tịnh hóa thanh tịnh hiển lộ là sắc thân Đức Phật A Di Đà. Minh phi Trí tuệ của Ngài, Đức Phật Mẫu Pandaravasini, là sự thanh tịnh của yếu tố Hỏa đại. Lửa có tính chất nóng, đốt cháy và có thể gây ra nhiều hậu quả tổn hại to lớn. Sự bám chấp tạo ra nhiều lớp đau khổ luân hồi. Tuy nhiên, khía cạnh tích cực của Hỏa đại chính là hơi nóng có sức mạnh làm cho chín muồi, sự bám chấp tạo ra năng lực kiểm soát. Vì vậy, Phật mẫu Varavasini là sự hiện thân thanh tịnh của yếu tố Hỏa đại.
Trí tuệ thứ tư là Samaya Tara Trinh Tín Độ Phật mẫu, yếu tố thanh tịnh của Phong đại. Ngài là Minh phi Trí tuệ của Đức Phật Bất Không Thành Tựu, hiện thân của sự ghen tỵ được tịnh hóa hoàn toàn. Ghen tỵ là xúc tình tiêu cực cần phải loại bỏ nhưng cũng là khía cạnh tích cực đem lại sự can đảm và quyết tâm thành tựu tất cả các công hạnh. Làm thế nào để Phong đại thực sự có hiệu quả? Những trận cuồng phong có thể phá hủy và phá tan mọi thứ. Tuy nhiên, trong sự hiện thân tích cực, gió tạo ra sự phát triển và bao trùm tất cả các hoạt động/ Vận động. ... Vì vậy, KHÍ là tinh túy của công hạnh giác ngộ để viên mãn mọi công hạnh, sự hiện thân trí tuệ mẫu tính của Đức Phật Bất Không Thành Tựu đã viên mãn mọi công hạnh là Phật Mẫu Samaya Tara, sự thanh tịnh của yếu tố Phong đại.
Bậc chủ của bộ Phật thứ năm là Đức Phật Đại Nhật Như lai, hiện thân của Pháp giới thể tính trí, tịnh hóa hoàn toàn được Vô minh ảo tưởng. Bậc Minh phi Trí tuệ của Ngài, Phật Mẫu Dhatvishvari, nêu biểu yếu tố Không đại được thanh tịnh hoàn toàn. Toàn bộ các cõi được thiết lập trong không gian vì không gian có bản chất tính không. Tuy nhiên dựa trên nền tảng tính không, vạn pháp hiển lộ, tăng trưởng, phát triển và trải rộng. Bạn có thể di chuyển tới bất cứ đâu bạn muốn bởi vẫn có không gian để di chuyển. .... Một khi tịnh hóa tất cả phiền não, vô minh hay những tinh thần ám độn thì chúng ta chứng ngộ ý nghĩa của tính không. Từ quan điểm tuyệt đối này, có thể nói không có tính không thì không thể làm được điều gì. Tính không cho phép mọi thứ diễn ra. Đó là khía cạnh thanh tịnh trong sắc tướng Phật Mẫu Dhatvishvari.
Năm đại này cấu thành thế giới bên ngoài và thế giới bên trong. Khi các đại cân bằng, mọi thứ diễn ra một cách trôi chảy và không phiền nhiễu. Ngược lại, nó sẽ là nguyên nhân sản sinh ra những vấn đề tiêu cực. Khi những năng lượng các đại cấu thành thân vật chất chảy một cách đều đặn và cân bằng, thân sẽ ổn định và khỏe mạnh không có ốm đau. Tuy nhiên khi mất cân bằng, chúng sẽ gây phiền nhiễu và năng lực suy giảm, thân trở nên bệnh tật. [Nguồn: Ngũ trí Phật và tương ứng]
a/ Xem các trang:
+ Xem thêm: Ngũ phương Phật_HT Tuyên Hóa giảng Tâm Chú Lăng Nghiêm
+ Xem thêm: Luận về Ngũ phương Phật_Đại Bảo Tháp Tây Thiên
+ Xem thêm: Ngũ phương Phật_Vạn Phật Thánh Thành)
+ Xem thêm: Tổng hợp ngũ phương Phật _ Nhân Trắc Học
b/ Xem Tooltip:
1.Xem Tooltip: Phật ngũ phương - Ngũ Trí Phật [Chuyển Thức thành Trí];
1.Xem Tooltip: Bồ Tát các phương [Mười phương]
1.Xem Tooltip: Tam Thánh các phương [Bồ Tát tương ứng các đức Phật]
1.Xem Tooltip: Thần quản lý các phương hướng [Ngũ hành thịnh vượng-Tứ thông bát đạt]
1.Xem Tooltip: Thần các Đại - Các Hành quản các phương hướng do Phật biểu lộ
+ Quả báo bần cùng hạ tiện: 5) Mắc nợ (Phụ trái). Còn nhân tố thứ năm dẫn tới quả báo hạ tiện là gì? Là mắc nợ—mượn tiền của người ta rồi trốn tránh, không chịu trả. Không cần nhiều, cho dù chỉ nợ nần một đồng bạc, chúng ta cũng không được thiếu. Tiền bạc là giả tạm, song có thể được dùng để làm những việc chân thật, thiết thực và hữu ích; do đó chúng ta không nên hoang phí hoặc chi tiêu bừa bãi. Ví dụ, quý vị mượn tiền của người khác rồi không muốn trả, bèn lánh sang nơi khác để trốn nợ, và cho rằng hành động như thế là khôn ngoan, có lợi cho mình. Thật ra, không có lợi chút nào cả, bởi quý vị quỵt tiền của thiên hạ thì sau này, chính mình phải chịu quả báo bần cùng hạ tiện. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Quả báo nhiều tài sản: Lại nữa, có mười nghiệp hay khiến chúng sinh được quả báo tài sản nhiều. Những gì là mười?
Một là xa lìa việc trộm cướp, hai là khuyên người khác không trộm cướp, ba là khen ngợi việc chẳng trộm cướp, bốn là thấy người khác chẳng trộm cướp tâm sinh vui mừng, năm là thường cúng dường những tài vật cần nuôi sống cha mẹ, sáu là đối với những bậc Hiền Thánh tôn trưởng thường cung cấp cho những vật cần thiết, bảy là thấy người được lợi tâm sinh vui mừng, tám là thấy người cầu lợi thì tạo phương tiện giúp đỡ, chín là thấy người bố thí tâm sinh vui mừng, mười là thấy đời đói rét khởi tâm thương xót. Do mười nghiệp trên nên khiến chúng sinh được quả báo tài sản nhiều. (Nguồn: Phật nói Kinh Nghiệp Báo Sai Biệt)
+ Số nghèo: Do tiền kiếp không tu phước => Không có phước - Nghèo hèn, đi xin không ai cho - La hán cầm bình bát không:
Công đức và phước đức nhất định phải phân biệt rõ ràng, phải hiểu rõ ràng. Chúng ta thường thấy trong chùa miếu ghi cái rương đựng tiền để người ta bỏ tiền vào là Công Đức Sương (rương công đức), lầm rồi, há phải là công đức? Người hiểu biết sẽ ghi là Phước Điền Sương (rương ruộng phước). Đó là đúng, quý vị đến gieo phước, [đó là] phước điền, chẳng có công đức.
Dẫu quý vị bố thí chùa miếu nhiều đến mấy vẫn chẳng có công đức, mà là phước đức. Nhất định phải hiểu rõ điều này, đừng nên lầm lẫn. Chúng ta học Phật, phải phước huệ song tu, công đức và phước đức đều phải nên tu; quý vị chỉ tu công đức, không tu phước đức, sẽ thiếu phước!
Trong kinh Phật có câu chuyện: “Tu huệ, bất tu phước, La Hán thác không bát” (Tu huệ, chẳng tu phước, La Hán đi khất thực, bát rỗng tuếch), A La Hán chứng đắc A La Hán quả, đó là công đức, nhưng thiếu phước báo, đi ra ngoài khất thực, chẳng được ai cúng dường, thiếu phước mà!
Ngược lại, “tu phước, bất tu huệ, đại tượng quải anh lạc” (tu phước, chẳng tu huệ, voi to đeo chuỗi báu). Thời cổ, công cụ giao thông chưa có xe cộ. Tại Ấn Độ và Nam Dương đều dùng voi để thay thế, quốc vương ra ngoài ngồi trên lưng voi. Voi ấy là người tu hành trong quá khứ, tu phước, chẳng tu huệ, đời này đầu thai đọa trong súc sanh đạo, là vật cưỡi của quốc vương, khắp mình đeo các chuỗi báu, đó gọi là “đại tượng quải anh lạc”. Trong kinh, đức Phật thường nêu lên tỷ dụ này, dụng ý rất sâu. Nếu chúng ta thấu hiểu, hãy phước huệ song tu.
Đức Phật trọn chẳng cấm chúng ta tu phước, nhưng tu Huệ trọng yếu hơn tu phước, phải lấy tu Huệ làm chánh yếu, phải tu công đức. Trợ tu là phụ trợ thì tu phước kèm theo, phước huệ song tu. Bất luận tại gia hay xuất gia đều phải hiểu đạo lý này, vì sao? Đã gặp gỡ Phật pháp, Phật pháp thù thắng ở chỗ nó tạo cơ hội cho quý vị, ngay trong một đời này có thể viên thành Phật đạo, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, chuyện này rất hiếm có. Chẳng dễ thoát khỏi luân hồi! Đã sa vào hầm sâu này, chỉ có gặp gỡ Phật pháp thì quý vị mới có cơ hội vượt thoát luân hồi. Nhất là gặp gỡ Tịnh Độ, gặp gỡ Tịnh Độ mà nếu thật sự chịu tu tập, không ai chẳng thành công, thật sự giải thoát!
Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì có thể nói thân thể này của chúng ta là thân cuối cùng trong lục đạo luân hồi, đời sau chẳng còn luân hồi nữa, điều này trọng yếu lắm!
Tụng kinh, niệm Phật là công đức chân thật, tu thiện tích đức là chuyện tốt đẹp, phước huệ song tu, như vậy là đúng. (Nguồn: PS Tịnh Không khai thị - Công đức và phước đức)
- Nghèo hèn: Có năm con đường dẫn con người đến quả báo nghèo hèn:
+ Các loại Nghiệp báo kiếp này - Quả báo kiếp này: Tập hợp các Tooltip về nhân quả báo ứng hiện đời
+ Cầu nguyện đúng để có linh ứng nhiệm mầu: Đức Đại Lai Lạt Ma giảng có 4 điều kiện cần phải có đủ để lời cầu nguyện chắc chắn có linh ứng:
1. Lực tịnh nghiệp: Điều này giúp Tâm thanh tịnh = Nguyện thanh tịnh. Người giác ngộ, hàng ngày tu đạo giữ ngũ giới, không Tham - Sân - Si - Mạn - Nghi, thường hành thiện tích phúc, thanh luyện Thân tâm giúp THANH TẨY CÁC TRỞ NGẠI cho lời nguyện cầu phát ra KHÔNG bị nhiễm ô/ Nhiễu sóng [Ví như sóng đài mà bị nhiễu loạn nghe không rõ], nên lời cầu cần nhất thiết, rõ một ý, nguyện sâu thiết tha => Lực nguyện mạnh hòa đồng với Pháp giới chư Phật, Bồ tát. Trái ngược lại là phát nguyện khi mà tâm đầy cấu uế do tham sân si mạn nghi, tà kiến .... chưa tu sửa thanh luyện Thân Tâm để THANH TẨY CÁC TRỞ NGẠI thì lời cầu nguyện không đi đến đâu cả, vì không khác gì sóng Radio phát hỗn tạp loạn động, đài chỉ nghe thấy tiến dè dè, soạt soạt một mớ âm thanh nhiều loạn vậy.
2. Phải có đủ lực công đức và phước đức: Muốn cầu nguyện điều gì thành tựu, người cầu cần có đủ lực công đức, phước báu trong KHO PHÚC BÁU của mình, năng lượng này để chư Phật, Bồ tát dùng để hoán đổi, chuyển hóa giúp cho lời cầu nguyện thành kết quả như ý muốn [Hiểu là hiện tại đang thời nghiệp xấu ác trổ, nghiệp thiện còn tàng ẩn chưa đến thời kỳ trổ quả => Chư Phật, Bồ tát chuyển mang cái Phước thiện đó giúp mình thành tựu ước nguyện]. Vậy nên, hàng ngày cần tu Thí cúng để tích lũy phúc báu khi cần dùng là có, khi đã nghèo khó lại còn bệnh nạn liên miên thì Cầu nguyện sẽ được đáp ứng linh nghiệm chắc chắn. KHÔNG có truyện người không hành thiện tích phúc, lại thường tham lam, tranh giành, trộm cắp, tà dâm ... mà cứ muốn cầu nguyện là có => Không có lý này, cầu như thế chỉ rát cổ bỏng họng, uổng công mà thôi.
3. Lực nhất niệm thanh tịnh: Trong kinh đức Phật nói, Tâm thành tất linh - Cầu nguyện với tâm thành kính thì có cảm ứng, tâm không thành thì pháp không ứng [Thành tâm không phải là khóc lóc van xin ..]. Một niệm rõ dàng, ý niệm như thép, không chút do dự, không lẫn tạp, khởi phát mạnh mẽ dứt khoát từ sâu thẳm trong thâm tâm phát ra => Niệm ấy rất mạnh, hơn cả trăm lời cầu nguyện ý dời dạc ...
4. Lực phát nguyện vị tha: Nếu cầu nguyện chỉ vì mình - Tâm lượng nhỏ, rễ bị cái Ngã/ Cái Tôi [Nghiệp chướng chướng ngại]. Nếu cầu cho mình nhưng mục đích là để vì người khác tất có linh ứng [Ví dụ: Cầu khỏe mạnh, cầu khỏi bệnh, cầu giầu có ... để dùng nó giúp được nhiều người hơn. Cuối cùng, tất nhiên, lời cầu nguyện tột đỉnh nhất là cầu nguyện vì muôn chúng sinh khắp pháp giới mà không chút vì mình thì thuộc Pháp giới đáp ứng mọi lời cầu nguyện => Thành tựu mạnh mẽ, linh ứng nhanh nhậy nếu cầu đúng Như lý, như pháp. .... Bìa giảng còn dài, mời xem: Pháp Cầu nguyện linh ứng [Xem thêm: Công đức và Phước đức giúp cầu nguyện linh ứng]
+ Cầu nguyện: Thân này là giả. Người tu hành không cầu không bịnh, vì nếu không bịnh thì sẽ sanh lòng tham dục. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu hỏi 385)
+ Pháp Cầu Nguyện: Hướng tâm mình đến một đối tượng Phật, Bồ Tát Linh Thiêng để cầu nguyện một điều gì đó được thành tựu. Trong trường hợp nào thì cũng cần có LÒNG THÀNH KÍNH với Tín Tâm/ Lòng sùng tín không chút nghi ngờ, lòng vị tha, bác ái và KHÔNG CẦU VIỆC XẤU ÁC thì sẽ có sự nhiệm mầu. Có 2 loại:
- Cầu cho mình: Người người thường thì không mấy linh nghiệm, vì năng lượng cầu nguyện hướng vào mình này thường đi với Tâm lượng nhỏ, do đó năng lượng cầu từ Tâm phát ra để đến được Phật, Bồ Tát là rất khó để có được sự cảm ứng. Cho nên, cần phải có tín tâm tin tưởng tuyệt đối không nghi ngờ, và không cầu việc xấu ác thì mới mong có sự ứng nghiệm.
- Cầu cho người khác, cho chúng sinh: Năng lượng này bản thân nó gắn với Tâm rộng mở, nó có sự tương đồng với Tâm Đại Từ Đại Bi của Phật, Bồ Tát, do đó rễ có cảm ứng hơn nhiều, theo đó điều mong cầu cũng rễ thành tựu viên mãn. Nó cũng biểu thị cho sự lưu thông của năng lượng sanh hóa vạn vật.
* Cầu nguyện tập thể: Tất cả cầu nguyện vì một người, vì chúng sinh, sự nhiệm mầu tăng lên gấp bội phần, cầu gì được ấy. (Nguồn: Clip 06, phút 61_Thầy Hăng Trường dạy)
+ Cung Mặt Trời - Cung Thái dương: Là Cung Hoàng Đạo mà Mặt trời ở trong đó vào thời điểm một người sinh ra đời. - Tượng trưng cho mức độ có ý thức, tự nhận thức. Trong lá số, Mặt Trời tượng trưng cho “phàm ngã” và những nỗ lực của chúng ta để phát triển một cái bản ngã (ego) sinh động và mạnh mẽ. Hầu hết mọi người chưa phải là phàm ngã. Một định nghĩa bí truyền của phàm ngã là: Một phàm ngã là một người hoạt động với sự phối hợp, nhờ vào khả năng của y và sự ổn định tương đối của bản chất tình cảm của y, và hệ thống tuyến (glandular equipment) hoàn chỉnh và phát triển đầy đủ của y. Điều này được hỗ trợ bởi sự ham muốn mạnh mẽ của y đối với năng lực và các điều kiện môi trường thích hợp. (EP II, 264). Hầu hết mọi người đã chưa trở nên ổn định hoặc chưa phối kết các khía cạnh khác nhau trong bản chất của họ và do đó là “đang phát triển phàm ngã”. Sự phát triển này phải diễn ra trước khi bất kỳ hoạt động tâm linh cao cả nào có thể xảy ra. (Học MFVN)
+ Cung Mặt Trời: Mặt trời xuất hiện trong Cung Hoàng đạo nào, xác định theo tiết khí.
Các chiêm tinh gia quan tâm chủ yếu đến ba loại năng lượng:
a/ Năng lượng của chòm sao mà Mặt Trời nằm ở đó vào lúc sinh ra.
b/ Cung Mọc mà con người nên đáp ứng.
c/ Mặt trăng cai quản khía cạnh sắc tướng của con người, và nhất là hình thể vật chất.
Năng lượng của chòm sao hay dấu hiệu hoàng đạo đặc biệt mà một người được sinh ra có ý nghĩa sâu xa hơn là ý nghĩa đã được đề xuất từ trước đến giờ. Nó thể hiện hoặc chỉ ra vấn đề hiện tại của y, ấn định tốc độ phát triển hoặc nhịp độ (or tempo) của đời sống của y, và có liên quan đến tính chất của phàm ngã của y. Nó chi phối, nếu Tôi có thể diễn tả như sau, trạng thái động (raja) hay trạng thái hoạt động của sự sống con người trong khi lâm phàm.
Tháng sinh cho biết ngày cơ hội. Cánh cửa rộng mở. Tháng đặc biệt mà một linh hồn đi vào luân hồi được biểu thị cho linh hồn đó tháng mà mà linh hồn đã thoát ra vòng luân hồi trong một chu kỳ sống trước đây. Thí dụ, nếu linh hồn đã qua đời trong tháng được chi phối bởi cung Leo, nó sẽ tái sinh trong cùng cung đó, tiếp tục lại sợi dây kinh nghiệm mà nó để lại, và bắt đầu với cùng một loại năng lượng và với sự trang bị đặc biệt, mà cùng với những thứ đó linh hồn đã ra khỏi kiếp sống trần gian, cộng với sự thành tựu về tư tưởng và thái độ bàng quan hữu thức. Tính chất của năng lượng và bản chất của các mãnh lực cần được vận dụng trong kiếp sống được chỉ ra cho linh hồn theo cách này. (Nguồn: Chiêm tinh học NM - MTM)
+ Xét theo ngoại môn thì Mercury và Mặt Trời có thể dùng hoán đổi cho nhau như Chân sư DK nói => Có thể suy ra xem như Thủy tinh và Mặt Trời là một.. [CTHNM-Tr 195]:
+ Thuật ngữ Trí huệ: Theo Phật giáo, Trí tuệ xem như Mặt Trời, Trí huệ xem như Mặt trăng chiếu sáng Tâm tối tăm (Tooltip Trí Huệ)
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ tinh Cai quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu chỉ ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113)
+ Xét theo ngoại môn thì Mercury và Mặt Trời có thể dùng hoán đổi cho nhau như Chân sư DK nói => Có thể suy ra xem như Thủy tinh và Mặt Trời là một.. [CTHNM-Tr 195]:
+ Mặt Trời đang cai quản về cả 3 mặt ngoại môn, nội môn và huyền giai (Chân Sư DK_CTHNM, 350)
+ Mặt Trời: Là Trung tâm Thái dương hệ (Như Trái Tim trung tâm con người) (TTHM184).
+ Chu kỳ: Theo quan điểm nhân loại, mặt trời di chuyển chung quanh Hoàng Đạo mất chừng 25.000 năm (CTHNM, 93)
+ Mặt trời: Bản ngã, cái tôi, ngoại hình, lập trường trong cuộc sống hoặc bạn là ai. (Nguồn: Xem nguồn)
+ Mặt trời (The sun, Thái dương): Mặt trời là cái kho vĩ đại chứa sinh lực, từ lực và điện lực cho Thái Dương Hệ của chúng ta và tuôn ra (pour out) rất nhiều các dòng năng lượng ban phát sự sống. Các luồng năng lượng này được các thể dĩ thái của các loại khoáng chất, thực vật, động vật và con người đón nhận và được biến đổi thành các năng lượng sự sống khác nhau cần thiết cho mỗi loại. (MTNX, 55)
+ Mặt trời là thể hồng trần của Thượng Đế.(KCVTT, 121)
+ Mặt trời và Mộc tinh truyền dẫn Cung 2 (Nguồn: GQ1- Cấu tạo con người)
+ Mặt Trời chi phối cả 3 tình trạng của Leo - Sư Tử (Ngoại, Nội môn và Huyền Giai): Vì mục tiêu của Thái dương hệ là Khai mở Tâm thức, thi Mặt Trời hiển nhiên chi phối Tâm thức Hồng trần - Linh hồn - Sự sống tâm linh thuộc Thánh đoàn_Chân Sư DK (CTHNM, 332).
+ Mối quan hệ tay 3 của Mặt Trời với Sư tử/ Leo là độc nhất trong Thái dương hệ chúng ta (CTHNM,235)
+ Các NĂNG LƯỢNG phát ra từ mặt trời cũng có một tác dụng kép.
- Thứ nhất, có những năng lượng mà chúng ta có thể gọi là hiệu ứng prana, vốn là kết quả của ảnh hưởng của lực thái dương (solar force), đang phát ra từ mặt trời vật chất. Hiệu ứng này tạo ra các kết quả rõ ràng trên các hình tướng khách quan, và các năng lượng này được gọi là các năng lượng thuộc vật chất hay cần cho sự sống (physical or vital). Các năng lượng này đi vào trong cơ thể con người xuyên qua lá lách và cũng xuyên qua một bí huyệt nằm giữa hai xương vai; bí huyệt này nằm giữa bí huyệt cổ họng và bí huyệt tim trong cột sống, nhưng gần bí huyệt tim hơn bí huyệt cổ họng.
- Thứ hai, có các năng lượng phát ra từ cái mà về mặt nội môn được gọi là “tâm của mặt trời” (“heart of the sun”); các năng lượng này quét qua hết hành tinh này đến hành tinh khác theo bảy luồng lớn và cung cấp lực (power) vào linh hồn của con người, tạo ra loại nhạy cảm mà chúng ta gọi là ý thức (awareness). Bảy loại năng lượng này tạo ra bảy loại linh hồn hoặc bảy cung (rays), và theo ý tưởng này, bạn tìm thấy cái bí mật của sự hiệp nhất linh hồn. Trong khi biểu lộ, do các ảnh hưởng của 7 loại năng lượng tác động trên vật chất của không gian, người ta nhận thấy 7 loại linh hồn, 7 lĩnh vực biểu lộ, và 7 mức độ tâm thức cùng các đặc trưng của cung. Như bạn biết rõ, các biến phân này giống như màu sắc mà lăng kính thu được khi được đưa ra trước các tia của mặt trời, hoặc được đưa ra trước mảng họa tiết của kiểu mẫu được tìm thấy trong ánh phản chiếu trên một hồ bơi trong trẻo. (LVHLT, 433)
+ Mặt Trời lên - Ánh Sáng Chiếu soi: Trích Đức Phật dậy.... HT Tuyên Hóa giảng:
Từ sữa làm thành sữa đông (lạc), từ sữa đông làm thành bơ (sinh tô), từ bơ (sinh tô) làm thành phó-mát (thục tô), từ thục tô làm thành đề-hồ[17], là chất tinh túy nhất được tinh chế từ sữa.
Thời kỳ thuyết giáo đầu tiên của Đức Phật được gọi là Thời Hoa Nghiêm- ví như lúc mặt trời mới mọc, ví khi mặt trời mới mọc thì chiếu ánh sáng đầu tiên cho các đỉnh núi cao. Đỉnh núi cao biểu tượng cho các vị Đại Bồ-tát. Kinh Hoa Nghiêm là để giáo hóa hàng Bồ-tát, những vị thuộc hàng Nhị thừa, Thanh văn, Duyên giác, đều "có mắt mà như mù.", họ không nghe được giáo lý viên đốn vi diệu trong Kinh Hoa Nghiêm.
Năm thời kỳ thuyết giáo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được ví như sự tinh chế sữa. Giáo pháp trong Kinh Hoa Nghiêm cũng giống như sữa nguyên chất.
Thời kỳ thuyết giáo thứ hai của Đức Phật là Thời A-hàm - có nghĩa là không một pháp ngoại đạo nào có thể sánh được - Pháp Tiểu thừa. ..Thời A-hàm được ví như sữa đông (lạc). Ví như mặt trời mới mọc, thời kỳ thuyết giáo thứ hai được biểu tượng cho ánh sáng mặt trời chiếu đến vùng thung lũng, có nghĩa là vùng đất thấp hơn, ánh sáng mặt trời cũng chiếu đến được.
Thời kỳ thuyết giáo thứ ba của Đức Phật là Thời Phương đẳng- ví như bơ (sinh tô). Ví như ánh sáng mặt trời chiếu rộng khắp mọi nơi trên mặt đất.
Thời kỳ thuyết giáo thứ tư của Đức Phật là Thời Bát-nhã.- ví như phó-mát (thục tô). Ví như ánh sáng mặt trời vào lúc gần trưa.
Thời kỳ thuyết giáo thứ năm của Đức Phật là Thời Pháp Hoa –Niết-bàn. - ví như đề-hồ. Kinh Pháp Hoa được ví như mặt trời chiếu ngay trên đỉnh đầu. Lúc chính ngọ, mặt trời chiếu khắp mọi vật, cả đỉnh núi cao, cả thung lũng, và khắp cả mặt đất nơi đồng bằng.(Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Mặt trời chiếu sáng mười phương: Đức Phật bảo Phú Lâu Na. Nên biết cái sáng đó, chẳng phải là mặt trời, chẳng phải là hư không, cũng chẳng khác hư không và mặt trời. (HT Tuyên Hóa: Nó chẳng ngoài hai thứ đó. Rốt ráo, nó đến từ đâu? Nó lưu xuất từ tánh Như Lai tạng. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương II)
+ Ý nghĩa nội môn của Mặt Trời - Xem:
1. “Mặt Trời là một ngôi sao trung ương chứ không phải là một hành tinh.” (GLBN I, 126) (Do đó khi Mặt Trời được bao gồm trong số các hành tinh như hiện nay, nó chỉ thay cho hoặc che khuất một hành tinh ẩn giấu - Ngoại môn là Vulcan).
2. Mặt Trời chỉ là một trong các Mặt Trời vốn… “là các hoa hướng dương có ánh sáng cao siêu.” Nó đang “trú trong hiện thể của một Thần hoặc của một nhóm các Thần, giống như hàng tỉ các mặt trời khác.” (GLBN I, 319
3. “Mặt Trời là kho chứa sinh lực vốn là thực tượng (noumenon, bản thể) của điện.” (GLBN I, 579)
4. “Mặt Trời không phải là một hành tinh thánh thiện.” (GLBN II, 26)
5. “Mặt Trời… có sự tăng trưởng, các thay đổi, sự phát triển, và tiến hoá từ từ của nó.” (GLBN I, 667)
6. “Mặt Trời là vật chất và Mặt Trời là tinh thần.” (GLBN I, 820)
Còn nhiều mô tả minh triết về mặt trời, xem tại: Tổng hợp Đặc Tính các Chòm Sao và Cung Hoàng Đạo - Hành tinh - Chủ Tinh
+ Thủy chủ về trí: Theo Dịch học và thuyết âm dương ngũ hành đông phương ứng dụng trong pháp dự đoán số mệnh theo Tứ trụ thì Thủy chủ về Trí tuệ, điều này hiểu thế nào cho đúng: Hành Thủy chủ về hàn lạnh, hướng xuống. Với Tâm con người thì xem như chủ về Trí cảm xúc/ Trí dục vọng, là Hạ trí phân biệt lạnh lùng, ích kỷ hẹp hòi, tham lam, tranh giành lợi mình hại người ... Đây là bản chất Trí cảm xúc thuần túy mà KHÔNG đi đôi với lòng nhân từ/ Vô tổn hại/ Bác ái/ Bồ đề tâm. Cũng tức là không có Lửa - Hơi ấm Bồ đề tâm đi cùng nơi "Nước trí tuệ". Vậy nên, Đạo người quân tử cần thành tựu đầy đủ các đức tánh là Nhân Nghĩa Lễ sau đó mới đến Trí => Xứng danh người Thiện trí chính nhân quân tử [Lời NTH tổng hợp]
+ Thuỷ tinh - Sao Thủy: Thủy tinh và Mặt trăng (ẩn Vulcan) truyền dẫn Cung 4 (GQ1- CT con người) - Sao Thủy điều khiển thể trí, là lực chiếm ưu thế ở cấp độ phàm ngã. Đáp ứng với câu châm ngôn "Hãy để vật chất thống trị", tâm trí tràn ngập những tư tưởng về tiền bạc và tài sản......
Jupiter và các ảnh hưởng của nó cho thấy rằng con đường lâm phàm là phương pháp khai mở tiến hóa “có lợi” và rằng con đường bác ái ‒ minh triết (cung 2) là con đường cho nhân loại bước đi. Mercury chỉ rằng con đường ít đối kháng nhất cho nhân loại là hài hòa qua xung khắc, vì Mercury biểu hiện cho năng lượng cung bốn vốn thuộc bồ đề, trực giác và biểu hiện của Christ,.. (CTHNM, 80);
(Vài Cung tự biểu hiện qua 2 hành tinh. Thí dụ Cung 4, qua Mặt Trăng và cả qua Mercury, trong khi Cung 1, đến với chúng ta qua Vulcan và qua Pluto. Lý do thực sự là một trong các bí mật của điểm đạo và được ẩn giấu trong vận mệnh của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư - Nhân loại).
* Theo ngoại môn thì Mercury và Mặt Trời có thể dùng hoán đổi cho nhau => Xem như Thủy tinh và Mặt Trời là một..
=> Phân tích tại sao Thủy tinh và Mặt trời là một như Chân sư DK nói [CTHNM-Tr 195]:
1- Mercury = The Solar Light in Mind
Trong huyền môn, Mặt Trời không chỉ là thiên thể vật lý, mà là Linh Hồn Trung tâm – Ý chí – Chân Ngã.
Còn Thủy tinh (Mercury) là trí tuệ – Manas – Kênh truyền dẫn ánh sáng của Linh hồn vào tâm thức con người.
➡️ Khi nói “Thủy tinh và Mặt Trời là một”, nghĩa là:
Trí tuệ chân chính (Mercury) thực ra chính là ánh sáng của Linh hồn (Solar Light).
Mercury không có ánh sáng riêng; nó phản chiếu ánh sáng của Mặt trời, giống như trí tuệ con người phản chiếu Ánh sáng của Linh hồn.
2. Trong Mật ngữ huyền môn: Mercury = “Solar Angel in the Mind”
Mercury là biểu tượng cho Thiên Thần Mặt Trời (Solar Angel) trong vai trò tạo ra trí tuệ.
Nó “nối” Phàm ngã ↔ Linh hồn thông qua “ánh sáng trí tuệ”.
Nói cách khác: Mercury là Mặt Trời khi Mặt Trời tự biểu hiện qua trí tuệ con người.
3. Về mặt chức năng huyền môn
| Mặt Trời | Thủy tinh |
|---|---|
| Linh hồn – ý nghĩa sống | Trí tuệ – phương tiện biểu đạt |
| Nguồn ánh sáng | Kẻ mang ánh sáng (Psychopomp) |
| Đại ngã | Trung gian giữa Đại Ngã và tiểu ngã |
| Ý chí và mục đích | Hiểu biết, phân biệt, thông suốt |
- Thủy tinh là “người đưa tin” của Mặt trời, nghĩa là trí tuệ đưa thông tin từ Linh hồn vào tâm thức.
- Khi trí tuệ trở nên trong suốt và thuần khiết, nó không còn khác biệt bản chất với Linh hồn.
4. Trong chiêm tinh nội môn: Mercury = “Ánh sáng của Linh hồn trong tâm”. Bailey nói rằng có ba mặt trời trong huyền môn:
1. Mặt trời vật lý
2. Mặt trời tâm linh
3. Mặt trời huyền bí (esoteric sun)
=> Mercury được xem là hiện thân của Mặt trời huyền bí trong con người.
=> Vì thế mà “Mercury và the Sun là một”.
5. Từ góc nhìn tiến hóa tâm linh
5.1. Ở mức tiến hóa thấp → Mercury chỉ là trí thông minh, logic.
5.2. Ở mức tiến hóa trung bình → Mercury là trí sáng suốt, phân biện.
5.3. Ở mức đệ tử → Mercury bắt đầu “phản chiếu” ánh sáng linh hồn.
5.4. Ở mức điểm đạo → Mercury trở thành Mặt trời trong tâm thức.
=> Trí tuệ hợp nhất với Linh hồn.
+ Tóm tắt dễ hiểu:
Mặt Trời = Linh hồn
Mercury = Trí tuệ
Khi trí tuệ trong sạch → Phản chiếu toàn bộ ánh sáng của Linh hồn
Khi đó Mercury không còn là một nguyên lý riêng biệt, mà trở thành ánh sáng của Linh hồn trong tâm
👉 Do đó D.K nói: “Thủy tinh và Mặt trời là một.” [Trích ChatGPT tổng hợp - Giảng giải theo sách D.K - Xin chỉ tham khảo]:
+ Phàm ngã hội nhập: Tạo ra một nhịp cầu giữa não bộ – thể trí – linh hồn, như thế là tạo ra một phàm ngã hội nhập, đó là một biểu lộ đang phát triển một cách vững chắc của linh hồn bên trong. (GDTKNM, 6)
- Nối liền lổ hổng giữa các trạng thái khác nhau của phàm ngã để cho một phàm ngã hội nhập xuất hiện. (GDTKNM, 26)
+ Phàm nhân tiến hóa: Chính trong cung kép này mà linh hồn bị giam nhốt và phàm ngã nhập vào tiến trình đó để sẽ chuyển hóa
1. Phàm ngã (bản chất thấp) thành biểu lộ cao.
2. Các khả năng tâm thông thấp, thành các năng lực tinh thần cao siêu, nghĩa là
a/ Tính thụ động thành sự kiềm chế tích cực của linh hồn.
b/ Tình trạng trung gian thành tình trạng môi giới (mediatorship).
c/ Nhãn thông thành linh giác (spiritual perception).
d/ Nhĩ thông thành viễn cảm trí tuệ (mental telepathy) và sau rốt thành linh hứng (inspiration).
e/ Bản năng (instinct) thành trí tuệ (intellect).
f/ Ích kỷ thành vô kỷ thiêng liêng (divine selflessness).
g/ Tính ham lợi (acquisitiveness) thành từ bỏ ham muốn.
h/ Bản năng tự bảo toàn thành phụng sự thế gian không ích kỷ.
i/ Tự than thân trách phận thành trắc ẩn (compassion), cảm tình và cảm thông thiêng liêng (divine understanding).
3. Ức chế tinh thần và trí tuệ thành biểu lộ linh hồn (soul expression) và nhạy bén trí tuệ.
4. Tôn sùng (devotion) đối với nhu cầu của bản ngã thành tôn sùng được phát triển và đáp ứng với các nhu cầu của nhân loại.
5. Gắn bó với môi trường chung quanh và với các tình trạng của phàm ngã (đồng nhất hóa với hình hài) thành sự tách rời khỏi hình tướng và năng lực đồng nhất hóa với linh hồn.
Đồng tử cấp thấp thông thường là thí dụ nổi bật của các khía cạnh tồi tệ nhất của Pisces – tính chất tiêu cực, tính dễ xúc cảm (impressionability), tính nhạy cảm về xúc cảm với sự kém phát triển hoàn toàn của nguyên khí trí tuệ. Thật là lý
thú khi tìm thấy hai sự kiện khoa học:
1. Bất luận thế nào đi nữa đa số loại đồng tử thấp nhất (đặc biệt là các đồng tử xuất thần) đều có cung Pisces vượt trội theo một cách thức mạnh mẽ nào đó trong các biểu đồ của các đồng tử này.
2. Bất luận các đồng tử này, dù họ đang trở nên tích cực hơn và có tự chủ hơn (self-controlled), họ đang bắt đầu có được một sự thoáng nhìn về các tương ứng cao hơn trong công việc của họ ‒ trạng thái đồng tử và hoạt động diễn dịch
– không có Virgo xuất hiện một nơi nào đó với sức mạnh thực sự và hoạt động thực sự. Điều này có thể là dấu hiện của việc khơi hoạt thể trí, trong trường hợp thứ nhất, và sau rốt có một thay đổi trong ảnh hưởng đang kiềm chế chúng từ
tình trạng chế ngự chính thống thuộc hành tinh, đến tình trạng chế ngự của các hành tinh huyền bí hơn. Có thể thêm rằng thuyết duy linh và công việc của phong trào duy linh đều ở dưới ảnh hưởng của Song Ngư với Bắc Giải đang lên,
hoặc là trong một số giai đoạn với sự đảo ngược – Bắc Giải với Song Ngư đang lên. [CTHNM-Tr 141]
- Xem Tooltip: Các giai đoạn tiến hóa của phàm ngã
- Xem: Hình thành - Tính chất - Tâm thức Phàm ngã
+ ♍ Ký Hiệu Xử Nữ
+ Xử Nữ/ Virgo (Thất Nữ/ Trinh Nữ): Hành Thổ (Xem); Dẫn truyền (Cung 2 - Cung 6) (Xem)
- Có phương pháp, tổ chức, cầu kỳ, chính xác, lạnh lùng, khắc nghiệt, đòi hỏi; Xem nguồn
- Chủ quản Nhà thứ 6, có đặc tính tương ứng: Công việc, nỗ lực thực tế. Cung của Xử Nữ: 2,6 "Tôi Phân Biện"
- Ngoại Môn/ Phàm ngã: Chủ tinh: Thủy Tinh; dẫn truyền Cung 4. Sao Thủy điều khiển thể trí, là lực chiếm ưu thế ở cấp độ phàm ngã. Đáp ứng với câu châm ngôn/ Khẩu hiệu ngoại môn "Hãy để vật chất thống trị "; Tâm trí tràn ngập những tư tưởng về tiền bạc và tài sản. Cung 4 Điều Hòa trong Xung Đột thêm màu sắc chiến tranh và đối nghịch vào tâm trí của Xử Nữ. Bề ngoài của phàm ngã có vẻ cư xử tốt, nhưng tâm trí lại có một quan điểm hạn hẹp, khó khăn, xét nét, chỉ trích. Mặt tích cực: Thúc đẩy tính phân tích cẩn trọng và chú ý đến từng chi tiết, khuyến khích phàm ngã phấn đấu để hoàn thiện trong hình thể và đời sống của phàm ngã.
- Nội Môn Xử nữ: Chủ tinh: Mặt Trăng; Cung 4; Khẩu hiệu/ Mantram: “Tôi là Mẹ và Con; Tôi là Thượng đế, Tôi là Vật chất.”; (CTHNM, 80 & 81)
+ Những linh hồn tiến hoá làm việc qua cung Xử Nữ là những người phụng sự thực sự, thầm lặng cống hiến cho những lý tưởng cao cả nhất, cho sự nâng cao nhân loại. Là hạt giống của Thời Đại Mới, gieo vào những người khác ánh sáng sẽ chiếu rọi khắp thế gian trong thời đại Bảo Bình. Có nhiều ở lãnh vực chữa bệnh và giáo dục, nghề nghiệp mà các Ashram Cung 2 chịu trách nhiệm. Năng lượng của Vulcan là Cung 1 rực lửa, ban tặng sức mạnh và khả năng lãnh đạo. <theo tài liệu Trường MF>
+ Xử nữ đồng hóa Ngôi III: Như Tôi có nói với bạn, các huấn sư nội môn của Thánh Đoàn xem Virgo như được đồng hóa với Ngôi Ba của Thượng Đế, với nguyên khí mẹ (mother principle) và được tin tưởng là chủ thể điều phối (director) các năng lượng, đã phát triển và được nhận biết trong thái dương hệ thứ nhất. Chính vì lý do này trong thái dương hệ này, mà Virgo được phụ thuộc chủ yếu vào các năng lượng của cung 2, cung 4 và cung 6 qua Jupiter (cung 2), Nguyệt Cầu và Mercury (cung 4) và Neptune (cung 6). Nguyệt Tinh (Moon) và Mercury cùng là dấu hiệu của hoạt động của thượng trí và hạ trí, do đó, có liên quan với cung 3, Cung Trí Tuệ Linh Hoạt, vốn kiểm soát thái dương hệ thứ nhất. Tất nhiên chỉ có một hành tinh duy nhất, tức Vulcan, vốn là năng lượng thuần túy thuộc cung 1 và một cách rõ ràng. Đây là các điểm mà các chiêm tinh gia tiến hóa sẽ thảo luận chi tiết sau này nhưng hiện tại ít có ý nghĩa.
Có một điểm khác liên quan với các ảnh hưởng hành tinh mà Tôi muốn nhắc đến ở đây, vì nó nhấn mạnh lần nữa vị thế tổng hợp của Virgo và vai trò đóng góp của cung này, như là một điểm tập trung chính yếu cho việc phân phối năng lượng cho Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Jupiter cai quản bốn cung và mỗi một trong các cung đó tiêu biểu cho một yếu tố (element, hành tố) khác nhau, trong số bốn yếu tố (đại) vốn đang tự biểu hiện trong ba cõi tiến hóa của nhân loại. Bảng liệt kê sau đây sẽ làm cho vấn đề rõ ràng hơn:
Virgo Pisces Sagittarius Aquarius
Đất (earth) .... Nước (water) ... Lửa (fire) ...... Gió (Air)
Christ ẩn tàng .. Vị Cứu Độ ....... Đức Thầy .... Kẻ Phụng Sự ẩn tàng Jupiter ‒ chủ thể cai quản và kẻ vận chuyển của Mở Rộng.
Trong cung Virgo này, vị trí và cách biểu hiện của các hành tinh có sự lôi cuốn rất lớn, mặc dù có hàm ý huyền bí nhất và khó hiểu nhất.
Mercury được đề cao trong cung này, vì mẹ nhất thiết được cai quản bởi con của bà, Con của Trí Tuệ mà cũng là Con của Thượng Đế. Đối với con này, bà là người che chở và chịu trách nhiệm cho sự phát triển và kinh nghiệm nhận được một cách chậm chạp của con. Mercury, nguyên là Sứ Giả của các Thượng Đế và là Tác Nhân (Agent) của sự kiềm chế được áp dụng của Các Ngài, do đó là vị thừa hành của Ngôi Ba (thông tuệ linh hoạt) theo một quan điểm, và của Ngôi Hai (bác ái-minh triết) theo quan điểm khác. Y được xem như là đang biểu hiện trong chính y – cả hai trạng thái này của nguyên khí trí tuệ, biểu hiện của trí cụ thể và trí trừu tượng của Thượng Đế. Hạ trí cụ thể được khai mở trong thái dương hệ thứ nhất, còn thượng trí trừu tượng thiên về trực giác, tức lý trí thuần túy, được khai mở trong thái dương hệ này. Mercury là tổng hợp của Manas - Buddhi, tức trí tuệ ‒ minh triết vốn tự biểu hiện qua nhân hồn (human soul); Mercury cai quản nhịp cầu hay antahkarana (giác tuyến).
Trong Virgo, Mercury đạt đến quyền năng đầy đủ, vì Virgo là sự thông tuệ, còn Christ ẩn tàng là minh triết hay lý trí thuần túy.
Venus, tức Bác ái ‒ Minh triết thuần túy, nảy sinh trong cung này và về mặt huyền linh “giáng xuống địa cầu” và trụ (như GLBN đã thận trọng nêu ra) vì món quà của trí tuệ và của thánh linh, được biểu hiện trong Con của Trí Tuệ và thế là cho sự giáng xuống của nguyên khí Christ vào sự sinh sản (generation) hay là vào trong vật chất. Virgo và Venus đều cùng là hai trạng thái của Trí tuệ. Biểu tượng học của việc giáng xuống của Tinh Thần vào trong cái khuôn (womb) của Mẹ đồng trinh được bảo tồn cho chúng ta trong sự kiện chiêm tinh học rằng Venus liên quan với cung này; về mặt nội môn, bà biến mất khỏi tầm nhìn và mất tăm trong bóng tối.....
Jupiter và các ảnh hưởng của nó cho thấy rằng con đường lâm phàm là phương pháp khai mở tiến hóa “có lợi” và rằng con đường Bác ái ‒ Minh triết (cung 2) là con đường cho nhân loại bước đi. Mercury chỉ rằng con đường ít đối kháng nhất cho nhân loại là hài hòa qua xung khắc, vì Mercury biểu hiện cho năng lượng cung 4 vốn thuộc bồ đề, trực giác và biểu hiện của Christ, vì Mercury và Mặt Trời là một.... (Nguồn: Chiêm THNM)
1. Các Tâm: ... Thế Tôn nói ... Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục..... (Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
2. Thuật ngữ Tinh Thần:
+ Từ ngữ “tinh thần” không ám chỉ các vấn đề tôn giáo như thường gọi. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới hình thức phát triển nào đó – về thể chất, tình cảm, trí tuệ, trực giác, xã hội – nếu có đều có bản chất tinh thần và cho thấy sức sống của thực thể thiêng liêng bên trong. (GDTKNM, 1)
+ a. Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm thức và mọi hình hài, là tập hợp của sự sống và những gì được biểu lộ tích cực của sự sống đó, là ngã và phi ngã, là lực và tất cả những gì mà lực đó là động cơ thúc đẩy (motivates), thực ra, người ta đang lảng tránh vấn đề, cố làm những điều không thể làm được, và che giấu sự thật đằng sau một hình thức các ngôn từ. (LVHLT, 32)
+ b. Sử dụng thuật ngữ Tinh Thần đúng: Bảy Cõi Giới Hệ Thống và việc sử dụng thuật ngữ “Tinh Thần”— The Seven Systemic Planes and use of term “Spiritual” (DINA II 420-1)
Đừng quên rằng trong thái dương hệ này, tất cả những gì chúng ta biết - thậm chí cả những phương diện rất cao nhất - Là vẫn còn mang tính vật chất, bởi vì bảy cõi giới của chúng ta (nếu tôi có thể nhắc lại điều cơ bản này) là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ - Một sự thật thường hay bị quên lãng khi sử dụng không chặt chẽ từ “tinh thần.”
+ Hiện tượng Tinh thần: ... lời Bồ Tát Di Lặc nói: Một niệm bất giác [Tánh giác sinh vô minh] thì sanh ra hiện tượng Tinh thần, chúng ta nói là chánh báo, có chánh báo thì y báo lập tức hiện tiền. Y báo là hiện tượng vật chất, chánh báo là hiện tượng tinh thần. Các nhà khoa học bây giờ đã biết, vật chất là do hiện tượng Tinh thần biến hiện ra. Cho nên họ nói vật chất là giả, Phật pháp nói hiện tượng Tinh thần cũng giả, cũng không phải thật. Hiện tượng tinh thần là nghiệp tướng của a lại da biến hiện ra, nghiệp tướng của a lại da là hiện tượng tự nhiên. Chuyển tướng là hiện tượng Tinh thần. Vật chất là cảnh giới tướng, đều không có thật [Đây là Vô minh sinh Tam tế: Nghiệp tướng - Chuyển tướng - Hiện tướng]. Cho nên nói vạn pháp đều không, không có một thứ nào thật cả. .... [Clip Youtubi_PS Tịnh Không: Phàm phu trong lục đạo dùng “tâm luân hồi” để lý giải Phật pháp đại thừa]
+ Tinh thần là vật chất ở mức biểu hiện cao nhất. (CTNM, 589)
+ Tinh thần: Tức Chân Thần (Monad) hay Cha trên Trời. (ASCLH, 39)
+ Tinh thần là Chân Thần, là Linh Ngã. (LVLCK, 48)
+ Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.
+ Tinh thần (Spirit) và tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
* Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức
+ Siêu thức (super–consciousness), trạng thái Atma (atmic aspect) tức là Tinh thần. (LVLCK, 644)
+ Tinh thần ở trong vật chất chính là Sự Sống. (Thư của Ch. S. 315)
+ “Sự sống” (“life” tức là Tinh thần. (LVLCK, 876)
+ Tinh thần tức là điểm Linh Quang (Divine spark). (ASCLH, 10)
+ Tinh thần được bọc trong linh hồn thể (causal body) là linh hồn.(MTNX, 213)
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
+ Trạng thái bác ái (Love aspect): Linh hồn tức là trạng thái bác ái. (LVHLT, 382)
+ Linh hồn: ...Chỉ có một nguyên khí bác ái vĩ đại làm sinh động toàn thể vũ trụ; có Bản Lai Diện Mục của Đức Chirst hướng dẫn cho nhân loại biết sự thật của linh hồn và chúng ta được cứu bằng nguồn sống (livingness) của linh hồn đó, và địa ngục duy nhất là chính cõi trần, nơi mà chúng ta học hỏi để tiến hành sự cứu rổi (salvation) riêng của chúng ta, được thúc đẩy bằng nguyên khí bác ái và ánh sáng, và thêm vào đó, được kích động bằng tấm gương của Đức Chirst và sự thôi thúc bên trong của linh hồn riêng của chúng ta. (CTNM, 393)
LINH HỒN: Có các định nghĩa dưới đây (Với Quan điểm của Phật Giáo gọi là Thức A Lại da/ Linh hồn/ Tinh thần - Mời xem Tooltip THỨC ĐẦU THAI để biết.
+ Linh hồn (Soul) : Bản chất chủ yếu của nó là ánh sáng. Ánh sáng linh hồn này tác động vào hình hài khi sự tiến hóa tiếp diễn và tạo ra theo trình tự sự khai mở của hình hài đó, và của bản chất về không gian - thời gian cũng như về mục tiêu. Mỗi cung Hoàng đạo tương ứng với kiểu ánh sáng riêng (CTHNM, 372)
+ Vật chất nguyên sơ (Primeval Matter, vật chất bản sơ. Vật chất xuất hiện ngay lần biến phân đầu tiên của nó từ trạng thái trung hòa (laya condition, vượt quá các đường tác dụng zero).(GLBN 2, 313)
+ 10 loại Linh hồn tiến hóa: Người Thú giật lùi; 2- Người Thú; 3- Người Lemuria; 4- Người Atnantis (Người trung bình); 5- Nhóm Người Aryan ( Chuyển tiếp - Tích hợp - Thức tỉnh); 6- Người tìm đạo; 7- Người Dự bị; 8- Đệ tử; 9- Điểm đạo đồ; 10 - Chân Sư (Xem thêm GQ1.1)
+ Linh hồn: Vốn không chia rẻ, có ý thức tập thể và có tính bao quát, sẽ ngày càng trở nên nổi bật (trong Lá số, CTHNM, 12)
+ Linh hồn: ( GQ1.6, Tr 2)
1. Linh hồn là Con của Cha và của Mẹ (Tinh thần-Vật chất). Sự sống của Thượng Đế được hiện thân, đi vào luân hồi....
2. Linh hồn: Nguyên khí thông tuệ (Nhận thức về tâm trí và trí tuệ-Năng lực phân tích, phân biện, tách biệt và phân biệt, chọn lấy hoặc loại ra).
3. Linh hồn là một đơn vị ánh sáng, được nhuộm mầu bởi rung động của một Cung đặc biệt nào đó.
4. Linh hồn là nguyên khí hữu cảm thức, Khi Linh Hồn bị đắm chìm trong vật chất, thì nó đơn giản chỉ là khả năng chi giác....Đây là Linh hồn tự biểu lộ trong các Giới dưới nhân loại trong thiên nhiên...
5. Linh hồn, trong mối liên quan với con người, là nguyên khí trí tuệ.
+ Trong mọi hình hài con người đều có một Linh hồn. Linh hồn dùng phương diện thấp của con người chỉ như các phương tiện để biểu lộ. Mục tiêu của diễn trình tiến hóa là nhằm tăng cường và củng cố sự chế ngự của Linh hồn đối với khí cụ này (Tâm thức-Các Cõi)
+ Linh hồn có ba chân lý trường tồn (Nguồn: Xem tại đây)
+ Công nhận - Nhận Thức Về Linh Hồn: Có 2 nhóm người công nhận Linh hồn là sự thật
- Một là những người cả tin, kém phát triển, thật thà như trẻ con, họ viện dẫn dựa vào một thánh kinh trên thế giới, và có khuynh hướng về tôn giáo, chấp nhận các nguyên lý cơ bản (postulates) của tôn giáo – như là linh hồn, Thượng Đế và sự bất tử − mà không thắc mắc.
- Hai là: Họ là nhóm nhỏ nhưng đang tăng lên đều đặn, nhóm của Những Người Hiểu Biết về Thượng Đế, và về thực tại, họ biết linh hồn là một sự thực theo kinh nghiệm riêng của họ, nhưng không thể chứng minh sự tồn tại của nó một cách thỏa đáng cho người nào chỉ thừa nhận những gì mà trí cụ thể có thể hiểu, phân tích, phê phán và thử nghiệm (LVHLT, 17)
+ Ngọc sáng trong hoa sen, Hồn linh bảo (Jewel in the lotus): Chính là sinh điểm nhờ đó Chân Thần giáng xuống cõi trần và do đó, là nguyên khí sự sống của tất cả các hiện thể vô thường – đã phát triển, chưa phát triển hoặc đang phát triển. Sinh điểm này chứa trong chính nó mọi khả năng, tiềm năng, kinh nghiệm và mọi hoạt động rung động. Nó là hiện thân của ý chí hiện tồn, của tính chất hấp dẫn từ điện (thường được gọi là bác ái) và trí tuệ linh hoạt sẽ giúp cho sự sinh động và bác ái được biểu lộ trọn vẹn. Phát biểu và định nghĩa nêu trên có tìm mức rất quan trọng. Do đó, điểm ở trung tâm này thực sự là vạn hữu và ba trạng thái khác của sự sống – như được liệt kê – chỉ là các dấu hiệu về sự tồn tại của nó. Nó là cái có khả năng rút về Cội Nguồn của nó, hoặc là tự chồng chất lên chính mình hết lớp vật liệu này đến lớp khác; nó là nguyên nhân của cái gọi là Kẻ Hành Hương vĩnh cửu trở về nhà Đấng Từ Phụ sau bao thiên kỷ kinh nghiệm, cũng như những gì tạo ra thực nghiệm sau rốt đưa tới kinh nghiệm và biểu hiện tối hậu. (VCVTDT, 169–170)
+ ĐỊNH NGHĨA LINH HỒN
1. Linh hồn, của đại thiên địa và tiểu thiên địa, của vũ trụ và con người, là thực thể được tạo ra khi trạng thái tinh thần và trạng thái vật chất được liên kết với nhau.
a/ Do đó linh hồn không phải là tinh thần, cũng không phải là vật chất mà là mối quan hệ (relation) giữa cả hai.
b/ Linh hồn là chủ thể trung gian (mediator) giữa nhị nguyên tính này; nó là nguyên khí giữa, khoen nối giữa Thượng Đế với sắc tướng của Ngài.
c/ Do đó, linh hồn là một tên gọi khác để chỉ nguyên khí Christ, dù là trong thiên nhiên hoặc trong con người.
2. Linh hồn là lực hút của vũ trụ được sáng tạo và (khi hoạt động) giữ cho mọi hình thể (forms) kết lại nhau để cho sự sống của Thượng Đế có thể biểu lộ hay tự biểu hiện qua các hình thể đó.
a/ Do đó, linh hồn là trạng thái kiến tạo hình hài, và là yếu tố thu hút trong mọi hình hài trong vũ trụ, trong hành tinh, trong các giới của thiên nhiên và trong con người (con người tổng kết trong chính mình mọi trạng thái) linh hồn tạo ra hình hài, nó giúp cho hình hài phát triển và tăng trưởng để cung cấp nơi trú ngụ thích hợp hơn cho sự sống nội tại, và thúc đẩy mọi tạo vật của Thượng Đế tiến tới theo con đường tiến hóa, qua hết giới này đến giới khác, hướng đến mục tiêu cuối cùng và một thành tựu huy hoàng.
b/ Linh hồn là chính mãnh lực tiến hóa và điều này đã ở trong trí Thánh Paul khi ngài nói đến “Đấng Christ trong bạn, niềm hy vọng vinh quang” (“Christ in you, the hope of glory”).
3. Linh hồn này biểu lộ khác nhau trong các giới khác nhau của thiên nhiên, nhưng chức năng của nó bao giờ cũng như nhau, cho dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử của vật chất và sức mạnh của nó để gìn giữ sự đồng nhất của nó với hình tướng và xúc tiến hoạt động của nó theo đường lối riêng của nó, hoặc là chúng ta bàn đến một hình hài ở một trong ba giới của thiên nhiên, được giữ cố kết với nhau, thể hiện các đặc trưng, theo đuổi đời sống theo bản năng riêng của nó, và hoạt động thành một khối hướng đến một điều gì đó cao cả hơn và tốt đẹp hơn.
a/ Do đó, linh hồn là nhân tố mang lại các đặc điểm riêng biệt và các biểu lộ sắc tướng khác nhau.
b/ Linh hồn tác động lên vật chất, thúc đẩy vật chất đảm nhận một số hình thức (shapes), để đáp ứng với một số rung động, và để tạo ra các hình tướng đặc biệt thuộc cõi hiện tượng mà chúng ta nhận biết trong thế giới của cõi hồng trần dưới hình thức khoáng chất, thực vật, động vật và con người, − và đối với điểm đạo đồ thì còn có một số hình thức khác nữa.
4. Các tính chất, các rung động, các màu sắc và các đặc điểm của tất cả các giới trong thiên nhiên là các tính chất của linh hồn, như là các năng lực tiềm tàng trong bất cứ hình hài nào đang tìm cách biểu lộ và chứng tỏ tiềm năng. Trong tổng thể của chúng vào cuối giai đoạn tiến hóa, chúng sẽ tiết lộ những gì là bản chất của sự sống thiêng liêng và của linh hồn thế giới, − linh hồn tối cao đó sẽ tiết lộ đặc tính (character) của Thượng Đế.
a/ Do đó, qua các tính chất và các đặc điểm này, linh hồn biểu lộ như là sự đáp ứng hữu thức đối với vật chất, vì các tính chất được xuất hiện thông qua sự tương tác của các cặp đối ứng, tinh thần và vật chất, và ảnh hưởng của chúng lên nhau. Đây là nền tảng của tâm thức.
b/ Linh hồn là yếu tố hữu thức trong mọi hình hài, cội nguồn của tâm thức mà mọi hình hài biểu lộ và của sự đáp ứng với các điều kiện tập thể chung quanh mà các hình hài trong mọi giới của thiên nhiên thể hiện.
c/ Do đó linh hồn có thể được định nghĩa như là khía cạnh đầy ý nghĩa trong mọi hình hài (được tạo ra qua sự hợp nhất của tinh thần và vật chất), nó cảm nhận, biểu lộ sự hiểu biết, thu hút và xua đuổi, đáp ứng hoặc từ chối đáp ứng, và giữ mọi hình hài trong một tình trạng thường xuyên hoạt động rung động.
d/ Linh hồn là thực thể có tri giác được tạo ra qua sự hợp nhất của Cha−Tinh Thần và Mẹ−Vật Chất. Đó là cái mà trong giới thực vật chẳng hạn, tạo ra sự đáp ứng với tia nắng mặt trời và việc nở ra của chồi búp; đó là cái mà trong giới động vật khiến cho nó thương yêu chủ của nó, đi săn mồi, và tuân theo cuộc sống bản năng của nó; đó là cái mà trong con người, nó làm cho y ý thức về môi trường chung quanh y và nhóm của y, nó khiến cho y sống cuộc đời của y trong ba cõi của sự tiến hóa bình thường của y như kẻ bàng quan, chủ thể nhận thức, diễn viên (actor). Sau rốt chính điều đó khiến cho y phát hiện rằng linh hồn này nơi y vốn có hai phần (dual), phần kia của y đáp ứng với sinh hồn (animal soul), còn phần của y thì nhận ra hồn thiêng (divine soul) của mình. Tuy nhiên, vào lúc này, đa số con người sẽ được nhận thấy là đang hoạt động một cách đầy đủ, không hoàn toàn là sinh hồn, cũng không hoàn toàn là hồn thiêng, mà có thể được xem như nhân hồn (human souls). (LVHLT, 35-37)
* Không nên gọi là Linh Hồn - Nên gọi là Linh Tánh_PS Tịnh Không: Học Phật, tôi thường hay nói, học Phật việc tốt nhất trước tiên chính là gì: Biết được sinh mạng là vĩnh hằng, ta không hề chết, “chết” - thân thể này thì có sanh diệt, ta thì không có sanh diệt. Thông thường chúng ta nói ta là cái gì? Linh hồn là ta, người nước ngoài cũng thừa nhận, trong Phật pháp gọi là thần thức, đây là cái ta chân thật. Nếu như nói cái ta này có sanh tử, còn đi đầu thai, còn có cái gì là kiếp trước đời sau… Không hề có. Cho nên vấn đề chính ngay chỗ này. Chân thật từ nơi Phật pháp nói, Phật pháp vẫn không gọi là linh hồn, gọi là Linh Tánh. Kỳ thật nếu gọi là linh hồn thì cái hồn đó tuyệt nhiên không linh, nếu như là linh thì nó sẽ chọn thế giới Cực Lạc để đi, hà tất phải đi vào sáu cõi luân hồi chứ? Nó không linh! Không nên gọi là linh hồn mà gọi là mê hồn, quyết định không phải là linh hồn. .... (Linh Hồn) Mê mất đi tự tánh thì trí tuệ đức tướng của chúng ta liền bị bóp méo đi, bị biến chất. Có khởi được tác dụng hay không? Có. Tác dụng gì vậy? Hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta chính là tác dụng, thế nhưng tác dụng này đã bị biến chất rồi. (PS Tịnh Không giảng)
+ Linh hồn - Phật giáo gọi là Mê hồn luân hồi/ Thức/ Nghiệp Thức/ A Lại Da Thức/ Tàng thức: Thức - Đi đầu thai; gồm có 8 thức, trong đó 6 Thức tạo nghiệp là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức; 7 là: Mạt na Thức/ Thức Xuất nhập Nghiệp duyên từ 6 Thức tạo Nghiệp qua thức 7 vào thức 8 là: A Lại Gia Thức/ Tàng thức là năng lượng tàng chưa Nghiệp, là sức mạnh gọi là nghiệp lực/ Tàng thức đi đầu thai luân hồi sáu cõi; Thức 9 là Thanh Tịnh Thức/ A Đà Na Thức rất vi tế; (Nguồn: Sự tái sinh của Linh hồn - Lê Sỹ Minh Tùng); * [HT Tuyên Hóa cũng giảng Thức thứ 9 này trong Kinh Thủ LN - Q5]
+ Linh hồn: Trung Quốc, Khổng Tử gọi là Du hồn. Du hồn di chuyển rất nhanh. Nên Phật giáo gọi là Mê hồn, vì Mê lên Hồn luân hồi sáu cõi nên nếu gọi là Linh không tương ứng, vì Linh là Tánh của Linh hồn. Do Mê đắm sức dục lên chẳng Linh nữa. Trong Mê hồn có Tánh linh/ Tánh Giác/ Linh hồn không sanh không diệt/ Sanh diệt đồng thời, tương ứng tên gọi Linh hồn. (Ps Tịnh Không giảng)
+ Linh hồn - Linh Tánh: Đại khái chúng ta hiểu Linh Tánh bao gồm Linh Hồn. ... Cái chết này, mệnh chung là thân mệnh chung, điều này phải ghi nhớ, linh tánh không có mệnh chung, linh tánh bất sanh bất diệt. Chẳng những linh tánh không có sanh diệt, linh hồn cũng là bất sanh diệt, linh hồn có chuyển biến, cho nên gọi là biến dị sanh tử. Thân thể gọi phần đoạn sanh tử. Chúng ta đến với thế gian này, sống mấy chục năm, khoảng thời gian này, từng đoạn từng đoạn, vì vậy nói có thân thể này phần đoạn sanh tử. Không có thân thể này, linh tánh gọi là biến dị sanh tử. Biến dị là cái gì? Nó không ngừng đi lên, hoặc là đoạn lạc đi xuống, đều đang biến dị. Đến lúc đó quý vị thật sự minh bạch rồi, mọi thứ quý vị yêu thích, họ hàng tài bảo mà quý vị lưu luyến, quý vị đều không mang theo được, đều phải xa lìa. Phật giáo gọi là “mọi thứ mang không được, chỉ có nghiệp theo mình”..... PS Tịnh Không giảng: Đời sống vô thường - Chết đi về đâu
+ Linh hồn: Chân Ðế Của Sanh Mạng. Sanh mạng không phải là tiền mà là báu vật vô giá. Chúng ta cũng không thể dùng tiền để mua bán sanh mạng. Thế nhưng đã có nhiều người bán rẻ sanh mạng đời mình. ....
Ðức Khổng Tử nói: “Thiên mạng gọi là Tánh, tuân theo Tánh gọi là Ðạo, tu Ðạo là vì Giáo và không thể xa rời, dù trong tích tắc.” Nếu đạo có thể xa rời thì không phải là Ðạo. Thời nay, có thể sửa lại như thế nầy: “Thiên mạng gọi là Tiền, tuân theo Tiền gọi là Ðạo, tu Ðạo là vì Tiền. Tiền thì không thể xa rời, dù trong tích tắc.” Cho nên “mở rộng cửa sau, nhưng đóng kín cửa trước” là thế đấy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng 4 / 7 / 1986)
Xem thêm: A Lại Da Thức - Thứ 8 luân hồi
+ Niệm bất giác sinh Tinh thần [Cũng gọi là Nguyên tử]: ... lời Bồ Tát Di Lặc nói: Một niệm bất giác thì sanh ra hiện tượng tinh thần, chúng ta nói là chánh báo, có chánh báo thì y báo lập tức hiện tiền. Y báo là hiện tượng vật chất, chánh báo là hiện tượng tinh thần. Các nhà khoa học bây giờ đã biết, vật chất là do hiện tượng tinh thần biến hiện ra. Cho nên họ nói vật chất là giả, Phật pháp nói hiện tượng tinh thần cũng giả, cũng không phải thật. Hiện tượng tinh thần là nghiệp tướng của a lại da biến hiện ra, nghiệp tướng của a lại da là hiện tượng tư nhiên. Chuyển tướng là hiện tượng tinh thần. Vật chất là cảnh giới tướng, đều không có thật. Cho nên nói vạn pháp đều không, không có một thứ nào thật cả... [Clip Youtubi_PS Tịnh Không: Phàm phu trong lục đạo dùng “tâm luân hồi” để lý giải Phật pháp đại thừa]
+ Câu Sinh - Câu sanh: Thuật ngữ trong Phật giáo trong việc phát sinh Tướng các Trần cảnh
Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn. Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, làm cho tri kiến sinh mệt nhọc. Giảng giải:
"Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn". Từ vô thuỷ kiếp đến nay, chân tâm thường trú tánh tịnh minh thể–chân tánh–của ông đã bị điên đảo. ‘Điên đảo’ ở đây là chỉ cho ‘sinh tướng vô minh, đó là từ câu sinh. Từ sinh tướng vô minh phát khởi lên tri thức phân biệt các hiện tượng, vốn cũng là tự câu sinh. ‘Điên đảo’ chỉ cho vô minh. Còn ‘loạn’ chỉ cho Tam tế đã đề cập ở trước. Đó là: 1. Nghiệp tướng - 2. Năng kiến tướng - 3. Cảnh giới tướng [HT Tuyên Hóa cũng giảng về thuật ngữ tương ứng gọi là Nghiệp tướng - Chuyển tướng - Hiện tướng]
1. Nghiệp tướng khiến cho phát sinh Năng kiến tướng, Năng kiến tướng lại làm sinh khởi Cảnh giới tướng . Điều nầy rất vi tế, tuy vậy, đó không phải là điều mà hàng phàm phu biện biệt được.
Một niệm bất giác sinh ra tam tế. Khi tam tế này đã phát khởi, thì liền có nút thứ nhất. Thời điểm mà Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, là khi cảnh giới tướng làm duyên để tăng trưởng thành lục thô. Điều nầy cũng đã được giảng giải ở đoạn trước. Lục thô là:
Trí tướng: Trí nầy chỉ cho trí thế gian, tức thế trí biện thông. Nó bao gồm cả hiếu biết về lính vực khoa học, kỹ thuật, các loại nghề nghiệp. Vì quý vị ‘phát khởi vọng kiến,’ nên sinh khởi nên Trí tướng, và phát sinh ra cái thứ hai trong Lục thô.
Tương tục tướng: Nó không bao giờ dừng. Trí tướng chính là nút thứ hai, và Tương tục tướng chính là nút thứ ba.
Chấp thủ tướng: Sinh khởi tính chấp trước.
Kế danh tự tướng .
Khởi nghiệp tướng (production of karma).
Nghiệp hệ khổ tướng ( karmic-bound suffering). (Nguồn: HT Tuyên Hóa-Kinh TLN - Q. 5)
+ Niệm bất giác sinh Tinh thần [Cũng gọi là Nguyên tử]: ... lời Bồ Tát Di Lặc nói: Một niệm bất giác thì sanh ra hiện tượng tinh thần, chúng ta nói là chánh báo, có chánh báo thì y báo lập tức hiện tiền. Y báo là hiện tượng vật chất, chánh báo là hiện tượng tinh thần. Các nhà khoa học bây giờ đã biết, vật chất là do hiện tượng tinh thần biến hiện ra. Cho nên họ nói vật chất là giả, Phật pháp nói hiện tượng tinh thần cũng giả, cũng không phải thật. Hiện tượng tinh thần là nghiệp tướng của a lại da biến hiện ra, nghiệp tướng của a lại da là hiện tượng tư nhiên. Chuyển tướng là hiện tượng tinh thần. Vật chất là cảnh giới tướng, đều không có thật. Cho nên nói vạn pháp đều không, không có một thứ nào thật cả. “Không” ở đây không phải là không có, nó có thể hiện ra vạn pháp, giống như màn hình ti vi của chúng ta là không, không có gì cả, nhưng nó có thể hiện ra, có thể hiện ra hiện tượng, có thể hiện ra vạn pháp. Khi không có duyên thì không thấy, khi có duyên thì nó hiện ra. Duyên do đâu mà có? Duyên cũng không có thật. Cho nên nó không thể nghĩ bàn! Bốn chữ không thể nghĩ bàn quá tuyệt vời. Quý vị không thể nghĩ, không thể bàn. Vì sao vậy? Bởi vì quý vị nghĩ và bàn đều động tâm, đều khởi tâm động niệm, không khởi tâm không động niệm, hoàn toàn hiểu rõ, thì quý vị có thể thấy được chân tướng sự thật. khởi tâm động niệm, quý vị thấy huyễn tướng sự thật, không thấy được chân tướng. [Clip Youtubi_PS Tịnh Không: Phàm phu trong lục đạo dùng “tâm luân hồi” để lý giải Phật pháp đại thừa]
+ Bảy nguyên khí (LVLCK, 264): Cũng chú ý chức năng của các Thượng Đế trong việc ban cấp cho con người các nguyên khí của y, biểu lộ (objectivity) vốn cần đến sự hiện hữu của cả ba. Trong lúc biểu lộ, chúng ta có thể xem các nguyên khí như sau (GLBN I, 308):
Nguyên khí 1 …. Phạm vi biểu lộ, Chân thần noãn (monadic egg).
Nguyên khí 2 ….. Atma …… Ý chí
Nguyên khí 3 ….. Buddhi ….. Lý trí thuần tuý, minh triết
Nguyên khí 4 …. Manas ….. Trí thuần tuý, thượng trí
Nguyên khí 5 ….. Manas ….. Hạ trí (lower mind)
Nguyên khí 6 …. Trí cảm (Kama-manas)
Nguyên khí 7 ….. Cảm giác thuần tuý hay xúc cảm
Đây là các nguyên khí đối với tiểu thiên địa coi như đã vượt trên tất cả các thể hồng trần và như thế bảng biểu này hoàn toàn có liên hệ với sự sống bên trong hay là sự phát triển của tâm hay linh hồn .
Điều này phải được ghi nhớ kỹ, nếu không sẽ có sự lầm lẫn. Trong bảng liệt kê trên, chúng ta đã bàn đến nơi đây về khía cạnh chưa biểu lộ chớ không phải đến sắc tướng. Do đó, chúng ta đã xem xét :
a. Tính chất biểu lộ thất phân …… hình hài vật chất.
b. Tính chất chưa biểu lộ thất phân …… tiến hoá tâm linh.
c. Tính chất tâm linh thất phân …… sự sống của Thực Thể .
Chúng ta cũng sẽ ghi nhận rằng trong bảng biểu trên về sự sống tâm linh của Chân Thần, chúng ta xem nó là năm phần. Điều này rất cần trong cuộc tiến hoá có 5 phần này, nhưng 2 nguyên khí còn lại có thể được xem như :
7. Thể dĩ thái ………….....….. 1. Thể sinh lực (vital body).
6. Sinh khí thể (Prana) …......... 2. Sinh lực (vital force).
5. Cảm dục thể (kama manas).. 3. Trí dục vọng (desire mind).
1 Liệt kê các nguyên khí. GLBN II, 627, 631.
Nguyên khí 1…….. Nhục thân. Sthula sharira.
Nguyên khí 2 ….… Thể dĩ thái. Linga sharira.
Nguyên khí 3 …….. Prana. Năng lượng sinh động
Nguyên khí 4 …… Kama rupa. Năng lượng của dục vọng.
GLBN I, 136. (Đây là 4 nguyên khí thấp).
Nguyên khí 5 … Manas Năng lượng của tư tưởng Nguyên Khí giữa GLBN II, 83, 84, 332, 669.
Nguyên khí 6…. Buddhi. Năng lượng bác ái. GLBN II, 649, 676
Nguyên khí 7…. Atma. Nguyên khí tổng hợp GLBN I, 357, 201
Xem GLBN III, 201, chú thích
a. Buddhi là hiện thể đối với Atma
b. Manas là hiện thể đối với buddhi.
c. Kamarupa là hiện thể đối với manas. GLBN II, 131
d. Thể dĩ thái là hiện thể đối với prana.
Cũng nên nhớ :
Rằng thể xác (physical body) không phải là một nguyên khí GLBN II, 652, III, 652.
Rằng Linh thể (Atma) không phải là một nguyên khí. GLBN III, 62, 63, 293.
(Các liệt kê khác, dị biệt ở một số đặc điểm sẽ thấy trong : GLBN I, 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cái sau vẫn còn nội môn).
4. Hạ trí (lower mind)……... 4. Trí cụ thể (concret mind).
3. Thượng trí (Manas)………5. Thượng trí hay trí trừu tượng
2. Tuệ giác thể (Buddhi) ….. 6. Minh triết, mãnh lực Christ, trực giác.
1. Linh thể (Atma) ................ 7. Ý chí tinh thần
Đây là bảng liệt kê thấp nhất cho kẻ ít tiến hoá hiện giờ.
+ Nguyên khí - Principle: Có một số dịch giả dịch sách Chân Sư là Nguyên Lý, điều này không hợp lý.
– Các lớp vỏ (sheaths) và các hiện thể (vehicles) chỉ là các thể biểu lộ (bodies of manifestation) của vị đệ tử trên các cõi (planes) khác nhau của Thái Dương Hệ, và các lớp vỏ này phải thể hiện (express) cho cái nguyên khí vốn là đặc điểm hay tính chất nằm dưới mỗi cõi. Thí dụ 7 nguyên khí có liên quan tới con người là:
1. Prana .... Năng lượng... Thể .... Cõi (sinh khí)... sinh động ... dĩ thái hồng trần
2. Kama .... Dục vọng, ..... Thể ... Cõi cảm giác ...cảm dục ... cảm dục
3. Manas ........ Trí ............ Thể ... Cõi trí thấp ... cụ thể ......... hạ trí
4. Manas ........ Trí ............. Thể... Cõi trí cao ... trừu tượng ... Chân Ngã
5. Buddhi ....... Trực .......... Thể.... Cõi giác ..... trực giác ..... Bồ Đề
6. Atma ....... Ý chí .... .... Linh thể ... Cõi tinh thần
Niết bàn và cái tương ứng với “nguyên khí bất biến vô giới hạn” (boundless immutable principle” trong đại vũ trụ (macrocosm) tức là Chân Thần (trên cõi riêng của Chân Thần) tạo thành nguyên khí thứ 7 (seventh principle). Có những cách khác để liệt kê các nguyên khí vì Subba Rao đúng ở một phương diện khi ông ấy cho rằng chỉ có 5 nguyên khí. Hai cái cao nhất, tức Atma và sự sống Chân Thần (life monadic) không phải là nguyên khí chút nào. (ASCLH, 74)
+ Nguyên khí:... Chỉ có một nguyên khí bác ái vĩ đại làm sinh động toàn thể vũ trụ; có Bản Lai Diện Mục của Đức Chirst hướng dẫn cho nhân loại biết sự thật của linh hồn và chúng ta được cứu bằng nguồn sống (livingness) của linh hồn đó, và địa ngục duy nhất là chính cõi trần, nơi mà chúng ta học hỏi để tiến hành sự cứu rổi (salvation) riêng của chúng ta, được thúc đẩy bằng nguyên khí bác ái và ánh sáng, và thêm vào đó, được kích động bằng tấm gương của Đức Chirst và sự thôi thúc bên trong của Linh hồn riêng của chúng ta. (CTNM, 393)
+ Sân khấu cuộc đời - Nhân quả chi phối đời người: Cuộc đời chỉ như sân khấu của nghiệp báo, không có gì là ngẫu nhiên sảy đến với mỗi người, mà là vạn sự nó phải sảy đến với ta, nhưng kết quả của hoàn cảnh sảy đến lại phụ thuộc chính TÂM TA TIẾP NHẬN VÀ ỨNG SỬ ra sao. Nếu cứ dùng thói quen bản năng ứng sử thì đã rõ - Xem như chấp nhận số phận an bài dù tin hay không tin nhân quả báo ứng. Mời xem lời giảng và Clip của đức Đại Lai Lạt Ma giảng về: Cuộc Đời Bạn Không Hề Ngẫu Nhiên - Tất Cả Đều Do Nhân Quả;
+ Khai mở huệ nhãn - Có huệ nhãn - Con mắt Pháp:
“Trí Độ Luận viết: vi thật tướng cố, cầu huệ nhãn. Đắc huệ nhãn, bất kiến chúng sanh, tận diệt nhất dị tướng, xả ly chư trước, bất thọ nhất thiết pháp, trí huệ tự nội diệt, thị danh huệ nhãn”. Trong Trí Độ Luận nói, nói rất hay. Vì sao cầu huệ nhãn? Là vì thật tướng. Thật tướng là gì? Là chân tướng của các pháp, thật là chân thật. Huệ nhãn có thể thấy chân thật, không có huệ nhãn thì không thấy được thật tướng. Cho nên Bồ Tát muốn minh tâm kiến tánh, không có huệ nhãn thì làm sao được? Huệ nhãn là trí huệ chân thật, quý vị mới thấy được thật tướng của các pháp.
Được huệ nhãn, thì quý vị không thấy chúng sanh. Điều này có thể cho chúng ta một chứng nghiệm, thật sự tu học cầu huệ nhãn, quý vị còn thấy có chúng sanh, điều đó nói lên rằng quý vị không có huệ nhãn. Huệ nhãn hiện tiền như thế nào? Tất cả chúng sanh đều là Bồ Tát. Quý vị còn thấy có chúng sanh, chứ không thấy có Bồ Tát, quý vị không thấy được. Nếu quý vị được Phật nhãn, thì quý vị thấy tất cả chúng sanh đều là Phật. Cho nên quý vị địa vị nào thì quý vị tự biết. Khi nào giống Phật Thích Ca Mâu Ni: “tất cả chúng sanh vốn là Phật”, chúc mừng quý vị, quý vị đã thành Phật. Lúc nào thấy được tất cả chúng sanh là Bồ Tát, thì đã nói lên rằng quý vị đã khai mở huệ nhãn, quý vị thấy được chân tướng. Tất cả chúng sanh là Bồ Tát, tất cả chúng sanh đều đang hành Bồ Tát đạo, hành Bồ Tát đạo làm thiện, làm ác cũng là hành đạo Bồ Tát, quý vị không thấy được điều này.
Người khai mở huệ nhãn là người như thế nào? Như một người vừa ra khỏi lục đạo, ra khỏi rồi quay đầu nhìn lại lục đạo, thấy lục đạo như thế nào? Như một sân khấu lớn, có rất nhiều Bồ Tát đang biểu diễn. Biểu diễn cho ai xem? Biểu diễn cho ta xem, các Ngài đều là diễn viên, ta bây giờ trở thành người xem rồi. Quý vị thấy làm thiện thì được quả báo thiện, tạo ác thì thọ quả báo ác, diễn giống như thật! Thật có việc này không? Không có, “tất cả pháp vô sở hữu, tất cánh không, bất khả đắc”. Khi có được huệ nhãn thì quý vị biết được, trên sân khấu này là biểu diễn, không có một thứ gì là thật, tạo thiên nhân không có thật, được thiện quả không có thật, tạo ác không có thật, quả báo địa ngục cũng không thật. Thật là gì? Thật là một tướng, tất cả pháp đều như vậy. Mới biết rằng có rất nhiều Bồ Tát đang diễn một vở kịch, giúp chúng ta khai ngộ, giúp chúng ta thành Phật, tất cả chúng sanh này là ân nhân của ta. Vở kịch này ai nhìn thấy được? ... (Nguồn: Thành Kính Khiêm Hòa - PS Tịnh Không)
+ CẦU HUỆ NHÃN: Do vậy trong đạo Phật, được thân cận một vị minh sư là điều rất quan trọng. Trong số các vị Thiền sư trưởng lão, có rất ít vị chân thực là minh sư. Có thể họ là người thông thái, nhưng chưa hẳn là bậc ‘sáng mắt’ có nghĩa là, chưa hẳn họ đã được ‘khai ngũ nhãn.’ Quý vị đừng cho rằng đây là việc dễ làm. Thực vậy. Khai được Phật nhãn chắc chắn không phải như chứng được quả vị A-la-hán, mà đòi hỏi quý vị phải trồng nhiều căn lành trong quá khứ.
Để có được Phật nhãn, quý vị phải nhất tâm tu tập pháp đại bi, đặc biệt là 42 Đại bi thủ nhãn ấn pháp (Forty-two Greatly Compassionate Hands and Eyes). Nếu quý vị nhiệt tâm tu tập pháp nầy thì có thể đạt được Phật nhãn. Đó là pháp ‘vượt cầu môn.’ Nếu một người đã đạt được Phật nhãn mà xuất gia, thì vị ấy sẽ cứu giúp cho rất nhiều chúng sinh, nhưng tất cả đều tuỳ thuộc vào nhân duyên. Những ai muốn có được Phật nhãn phải cực kỳ tinh tấn tu tập 42 Đại bi thủ nhãn ấn pháp. Đừng bỏ công phu dù chỉ một ngày. Và điều quan trọng nhất là quý vị không được hút thuốc khi tu tập pháp nầy. Nếu quý vị vẫn hút thuốc trong khi tu, thì các vị hộ pháp thiện thần (dharma-protecting good spirits) sẽ qủa trách quý vị. Thế nên đừng tuỳ tiện việc ấy.
Tôi hy vọng rằng mọi người trong chúng đây sẽ rất tinh chuyên tu tập 42 Đại bi thủ nhãn ấn pháp. Đừng bao giờ lơ là dù chỉ một ngày. Tuy vậy, cũng phải cần đến vài ba năm công phu mới mong đạt được kết quả. Nếu quý vị đã từng tu tập trong đời trước rồi, thì tiến bộ sẽ rất nhanh. Quý vị sẽ rất sớm có được huệ nhãn. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Ðời Người Như Giấc Mộng, Hãy Thức Tỉnh: Tại thế giới này con người lại buông cái chân thật để nắm giữ cái giả dối, do đó đời đời kiếp kiếp quay lưng với sự giác ngộ để hoà hợp với bụi trần, túy sanh mộng tử. Túy sanh có nghĩa rằng trong lúc sống thì như kẻ uống rượu say, không biết mình từ đâu sanh về đây. Mộng tử có nghĩa rằng đến lúc chết thì như kẻ đang nằm mộng, không biết chết sẽ về đâu. Ai ai cũng sống trong mộng. Lấy cái giả mà cho là thật, ham danh ham lợi, lòng tham không bao giờ ngừng dứt.
Ở trong mộng thì bạn thấy mình làm quan, hoặc phát tài, hoặc có địa vị, quyền lợi, danh dự, hoặc có vợ đẹp thiếp xinh, con cái đầy nhà, vinh hoa phú quý, hưởng thọ không hết. Giả như trong lúc mộng ấy mà có người nói với bạn rằng: "Ông ơi! đây chỉ là hư vọng thôi, không phải thật đâu," thì bạn sẽ chẳng bao giờ tin. Chờ đến khi bạn tỉnh dậy rồi thì chẳng ai nói với bạn là bạn đã nằm mộng, bạn cũng biết rõ là mình vừa trải qua một giấc chiêm bao.
Ðêm qua nằm mộng thấy đậu trạng nguyên, làm tể tướng, làm hoàng đế, thành thần tiên, hạnh phúc vô cùng. Ngày hôm nay tỉnh lại: "Ôi! Tất cả chỉ là một trường xuân mộng!" (xuân mộng tức là giấc mộng rất ngắn ngủi). Ðó là sự tỉnh thức. Nếu không tỉnh mà chọn mộng là thật, thì sẽ tham luyến, không buông bỏ, chấp trước sự mê mờ, và chẳng bao giờ được giác ngộ. Bây giờ mình chính là đang chiêm bao giữa ban ngày mà chưa thức tỉnh, do đó sống một cách hồ đồ, rồi cũng hồ đồ mà chết đi. Sanh ra đây là từ đâu tới? Chết rồi mình sẽ đi đâu? Không biết! Cả một đời chẳng bao giờ tỉnh. Các vị hãy nghĩ xem, như vậy thì có ý nghĩa gì? Có gì mình phải lưu luyến? Có gì đáng để mình không buông bỏ tất cả ?
Cả đời mình đều bị sợi dây tam độc và ngũ dục trói buộc vô cùng chặt chẽ đến nổi không có tự do để chuyển hóa bản thân, thì đừng nói chi đến chuyện giải thoát. Do đó bạn phải phát tâm xuất gia tu đạo, dụng công ngồi thiền, nên lễ lạy Phật, tức là mình tự cởi mở sợi dây tam độc và ngũ dục, cuối cùng sẽ có một ngày sẽ được hoàn toàn giải thoát. Lúc ấy mình sẽ thức tỉnh, quay đầu nhìn lại những điều mình đã làm trong quá khứ đều hoàn toàn như ảo mộng, tất cả đều chẳng phải là chân lý. Nay thức tỉnh rồi mình mới thoát ra khỏi vòng tam giới, không còn bị hạn chế trong sanh tử, tự do muốn sanh thì sanh, muốn chết thì chết, tự do tới và đi theo ý mình. Ðó mới là chơn chính giải thoát, đó là: "Ðại mộng sơ tỉnh" vậy.
Thói thường chúng ta cứ giữ chặt cái hư giả dối trá mà quên mất cái chân thật. Thế nào là cái hư giả dối trá? Chính là sự khoái lạc sung sướng của ngũ dục: tài sắc danh thực thùy. Thế nào là cái chân thật? Tức là sự sung sướng của Niết-bàn ở trong bốn đức: thường, lạc, ngã, tịnh. Song lẽ con người rất quái lạ, điều chân thật mất đi thì không sợ, nhưng khi điều giả dối mất đi thì lại sợ hãi vô cùng. Vì sao vậy? Bởi vì người đời ai cũng nhận giặc làm con, bỏ gốc chạy theo ngọn, lấy cái giả cho là thật, không thức tỉnh, do đó vẫn còn trong mộng, tham luyến cảnh giới của giấc chiêm bao.
Bởi do nhân duyên mình dấy khởi sự mê mờ, tạo ra ác nghiệp rồi thọ sự báo ứng, giống như một hạt bụi bay lượn trên không trung, không tự làm chủ mình được. Hạt bụi ấy cứ tùy theo nghiệp lực rồi luân chuyển trong lục đạo luân hồi không lúc nào ngừng nghỉ. Cho nên nói rằng: "Ðả bất phá danh lợi quan, khiêu bất xuất luân hồi khuyên," nghĩa rằng đánh không sập cửa danh lợi thì nhảy không thoát vòng luân hồi. Ðến lúc nào bạn không bị cảnh giới làm động tâm, lúc ấy bạn mới thoát ly khỏi cái vòng lục đạo luân hồi. (Nguồn: Đời người như mộng)
+ Kiếp con người: Đối với chánh báo/ Thân người thì trải qua các tiến trình sinh, lão, bệnh, tử. Con người cần 20 năm để sinh ra lớn lên, 20 năm để học tập trưởng thành, 20 năm bệnh và già yếu, 20 sau cùng họ tiến dần đến cái chết. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q2 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Nhân quả chi phối đời người: Cuộc đời chỉ như sân khấu của nghiệp báo, không có gì là ngẫu nhiên sảy đến với mỗi người, mà là vạn sự nó phải sảy đến với ta, nhưng kết quả của hoàn cảnh sảy đến lại phụ thuộc chính TÂM TA TIẾP NHẬN VÀ ỨNG SỬ ra sao. Nếu cứ dùng thói quen bản năng ứng sử thì đã rõ - Xem như chấp nhận số phận an bài dù tin hay không tin nhân quả báo ứng. Mời xem lời giảng và Clip của đức Đại Lai Lạt Ma giảng về: Cuộc Đời Bạn Không Hề Ngẫu Nhiên - Tất Cả Đều Do Nhân Quả;
+ Ta là ai: Xem Clip giác ngộ kiếp người qua lời giảng cửa đức Đại lai Lạt Ma: Ta là ai - Từ đâu đến - Cuộc đời của ta là gì?
+ Tiến trình phát triển đời người: Con người tài sanh trải qua các giai đoạn phát triển và chịu sự chi phối của Nghiệp báo và tuân theo Luật vũ trụ ..... Chi tiết mời xem: Tương ứng số từ khi đầu thai tái sanh
+ Xem thêm: Ta là ai - Từ đâu đến - Chết đi về đâu
+ Các biểu tượng cần suy ngẫm kỹ: Giờ đây mới rõ ràng là tại sao có nhiều chú trọng đến việc nghiên cứu các biểu tượng, và tại sao người ta khuyến khích các môn sinh hãy suy gẫm và tham thiền về các thiên tượng thái dương hệ và vũ trụ. Điều đó chuẩn bị cho họ thấu hiểu và ghi nhớ trong tâm các biểu tượng và công thức thể hiện kiến thức mà rốt cuộc nhờ đó họ có thể làm việc. Các công thức này dựa trên chín biểu tượng/ Vai trò được biết hiện nay:
Điểm / Hình cầu .......... Nguồn ý thức
Tam giác .......... Dòng năng lượng
Khối vuông .......... Hình thể
Hoa sen .......... Cấu trúc linh hồn
Đường thẳng .......... Ý chí giải thoát
Thập giá/ Tự .......... Trạng thái tiến hóa
8 Động vật .......... Bản năng nguyên mẫu
[dê, bò mộng, voi, người, rồng, gấu, sư tử, và chó].
Thiên tượng Hoàng đạo ... Chu kỳ vũ trụ [Khoa Chiêm tinh]
9.Chén Thánh/ Ly có chân .... Người phụng sự
Tất cả các biểu tượng này liên kết, xen lẫn nhau, hoặc dùng một phần, được phối hợp, để phát biểu một trong bảy Bí nhiệm. Điểm đạo đồ phải nhận ra chúng bằng thị giác cũng như thính giác, và dùng nỗ lực của ý chí để gắn ghi chúng trong trí nhớ không thể xoá nhoà. Có ba cách giúp y thực hiện điều này: Thứ nhất, bằng việc rèn luyện trước đó trong một thời gian dài; tất cả những người chí nguyện đều có thể bắt đầu làm việc ngay từ bước hiện tại, và khi học cách ghi khắc chính xác các chi tiết vào trí nhớ, họ đặt nền tảng cho sự lãnh hội chính xác được ngay những điều Đấng Điểm Đạo bày tỏ cho họ; Thứ hai, nhờ đã tự phát triển năng lực hình dung lại những điều đã có lần họ thấy. Ở đây, chúng ta thấy rõ tại sao các vị Thiền sư minh triết đã chú trọng vào khả năng kiến tạo thận trọng các hình tư tưởng .... (Nguồn: Điểm đạo trong nhân loại ...)
+ Biểu tượng: Là dấu hiệu (sign) thấy được và lộ ra bên ngoài của một thực tại tâm linh bên trong, được thể hiện trên cõi trần bằng mãnh lực của sự sống chứa đựng bên trong. (VMCQG, 119)
+ Biểu tượng: “Trong một biểu tượng có ẩn tàng sự che giấu hoặc sự mặc khải” – Carlyle.
1./ Các biểu tượng đều nhắm vào:
a) Người ít tiến hóa. Chúng dạy ra các đại chân lý dưới hình thức đơn giản.
b) Đa số nhân loại. Chúng giữ cho chân lý được nguyên vẹn và biểu hiện các sự kiện trong vũ trụ.
c) Các môn đồ của các Chân Sư. Chúng giúp mở mang trực giác.
2./ Các sách nói về biểu tượng trong các văn khố của Chân Sư được dùng cho việc giáo huấn. Các sách này được giải thích:
a) Bằng màu sắc của chúng.
b) Bằng vị trí của chúng, nghĩa là phía bên trên, nằm trên và bên dưới một đường thẳng.
c) Bằng sự tiếp cận của chúng với nhau.
d) Bằng chìa khóa của chúng
Một trang giấy có thể đọc được theo 4 cách:
1. Từ trên xuống dưới ... tiến hóa giáng hạ (involution)
2. Từ dưới lên trên ... tiến hóa thăng thượng (evolution)
3. Từ phải sang trái ... các chu kỳ lớn vv...
4. Từ trái sang phải ... các chu kỳ nhỏ.
+ Biểu tượng huyền bí các đại ứng Luân xa:
- Nơi mà nước và đất gặp nhau là bí huyệt đan điền (solar plexus centre).
- Nơi mà nước, đất và không khí gặp nhau là ở trong đầu.
- Đất là biểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài.
- Nước là biểu tượng của bản chất tình cảm.
- Không khí là biểu tượng của sự sống cao siêu, nơi đó nguyên khí Christ thống trị, nơi đó sự tự do được trải nghiệm và linh hồn đạt đến sự biểu lộ đầy đủ. Nó là biểu tượng của cõi bồ-đề, trong khi nước là biểu tượng của cõi tình cảm. (LVHLT, 250)
Xem thêm: Tổng hợp 9 biểu tượng và tương ứng
+ Ba Thập Giá ( 3 Thể Thức; 3 Phẩm tính; 3 Tam nguyên; 3 Phương Thức): Dựa trên bộ ba ý chí, ham muốn và hoạt động (ý chí hoặc động lực, mong muốn hoặc ham muốn, hoạt động hoặc khả năng thích ứng); (Xem: Chiêm THNM - Thể Thức, Phẩm tính)
+ Ba Phương Thức: Mô tả cách thức chúng ta hoạt động, phẩm chất vật lý của các Cung. – Chúng thiết lập các trục và thập giá (chữ thập) trong lá số – – Các vấn đề được thực thi qua góc hợp đối nghịch và vuông góc (góc hợp cứng) – – Tất cả chúng ta đều có 12 cung, một số cung được nhấn mạnh hơn các cung khác. (Con Thượng đế "Christ" đang lâm phàm trong bốn Thập giá Khả biến là Christ Hành tinh, ở đây là đang xét với các Thập giá của quần chúng (Trong Thập giá cố định là Christ cá nhân; Thập giá Cơ bản là Christ Vũ trụ)_NTH-Giảng về Song Ngư CTHNM)
+ Ba Thập Giá: Khả Biến (Chung/ Khả chuyển) - Cố Định - Cơ Bản (Chủ yếu/ Chính yếu/ Cốt lõi) (Xem: GQ2.1 - Giới thiệu chiêm tinh)
+ Ba Thập Giá: Theo Tâm thức phát triển từ thấp đến cao của 12 Cung Hoàng Đạo qua các Kỳ công theo thứ tự là: (Khả Biến - Cố Định - Cơ Bản); Xem: GQ2.1-Giới thiệu Chiêm TH);
- Ba Thập giá đều là các dòng năng lượng bắt chéo nhau (CTHNM, 290)
- Mỗi Thập giá đều có ý nghĩa ngoại môn của nó (CTHNM, 380)
- Hành tinh quan trọng ứng thập giá: Thập giá Cố định - Saturn/ Thổ tinh; Thập giá Biến đổi - Mercury/ Thủy tinh; Thập giá Cơ bản - Jupiter/ Mộc tinh. (CTHNM, 396)
1. Các Cung Khả biến: Có tính thích nghi, linh hoạt, và phục vụ (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã và Song Ngư) – Nhưng cũng có thể quá bất nhất – Về mặt nội môn chúng giúp phát triển sự sống sắc tướng thông qua kinh nghiệm. (TG Khả biến này, Písces là một nhánh của nó, chủ yếu là Thập giá của (Các cuộc lâm phàm được lặp lại), của các thử nghiệm khác nhau dưới Cung Hoàng đạo khác nhau và các Chủ thể điều khiển chính thống và của những ai mà nhiều kinh nghiệm đang dẫn đến mở rộng Tâm thức liên tục và kế tiếp_NTH-Giảng về Song Ngư CTHNM)
2. Các Cung Cố định: Có tính vững vàng, bướng bỉnh, và quyết đoán (Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình) – Nhưng cũng có thể quá cứng nhắc – Về mặt bí truyền chúng phát triển linh hồn thông qua khủng hoảng và thử thách
3. Các Cung Cơ bản: Có tính mạnh mẽ, khởi xướng, và quan trọng (Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình và Ma Kết) – Nhưng có thể thiếu sự kiên trì – Về mặt bí truyền chúng thể hiện hoạt động có định hướng, được kiểm soát bởi linh hồn
+ Ba Thập Giá của vòng Hoàng đạo phản ánh Tam Nguyên được các tôn giáo công nhận ( Shiva, Vishnu, Brahma), được xem qua các khía cạnh của cuộc sống, diễn dịch thành sinh (Ý chí), có, cho, giữ, phát triển (Mong muốn), và làm (Hoạt động) (Nguồn: Chiêm THNM 17);
+ Thập giá chi phối và Thành tựu: Ở đây, có thể vạch rõ ràng:
a/ Kinh nghiệm trên Thập Giá Khả Biến đưa một con người đi vào trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại.
b/ Kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định làm cho vị đệ tử hội nhập vào Trung Tâm Hành Tinh thứ hai mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn (Hierarchy).
c/ Kinh nghiệm trên Thập Giá Cơ Bản làm cho điểm đạo đồ hội nhập vào Trung Tâm Hành Tinh thứ nhất mà chúng ta gọi là Shamballa.......
Điểm căn bản nhất mà các chiêm tinh gia ngày nay cần hiểu rõ là họ cần biết ‒ trước khi lý giải ‒ trên con đường tiến hóa, đối tượng xem xét đang đứng nơi đâu. Tôi sẽ đưa ra một gợi ý khác. Chính do nghiên cúu về những người được sinh ra trong các Cung Cơ Bản mà thông tin rõ ràng nhất sẽ xuất hiện trong mối liên hệ này. Ở đây, có thể hữu ích mà nêu ra rằng:
1- Nhờ việc nghiên cúu về Thập Giá Cơ Bản ‒ Aries, Cancer, Libra, Capricorn ‒ Chiêm tinh gia có thể đi đến một hiểu biết rõ ràng hơn:
a. Về con người thông thường, cá biệt.
b. Về các cội nguồn tập thể.
c. Về ý nghĩa của cuộc điểm đạo đầu tiên.
2- Nhờ nghiên cúu về Thập Giá Cố Định ‒ Taurus, Leo, Scorpio và Aquarius ‒ y sẽ đi đến lý giải chính xác về các sự sống:
a/ Của các điểm đạo đồ.
b/ Của sự thu hút tập thể thành tổng hợp.
c/ Của ý nghĩa về cuộc điểm đạo thứ ba.
3- Nhờ nghiên cúu về Thập Giá Khả Biến ‒ Gemini, Virgo, Sagittarius và Pisces ‒ y có thể đi đến ý nghĩa:
a/ Của các đệ tử.
b/ Của hoạt động tập thể.
c/ Của cuộc điểm đạo thứ hai.
Các chỉ dẫn trên không thể phù hợp với các ý tưởng thường được tin tưởng, và dường như cũng đi ngược với các điểm mà Tôi đã đưa ra trước đây, nhưng nghiên cúu kỹ càng về các hàm ý được đưa ra có thể làm cho quan điểm đó rõ ràng hơn. Mỗi Thập Giá đều có ý nghĩa ngoại môn của nó, và tất cả các Chiêm tinh gia đều phần nào quen thuộc với ý nghĩa bên ngoài đó; nó cũng có ý nghĩa nội môn và tầm quan trọng của nó, và cho đến nay, đây là một lĩnh vực tìm kiếm chưa được thử nghiệm (untried); đồng thời nó cũng có tầm quan trọng về tinh thần của nó, và dĩ nhiên điều này chỉ được tiết lộ ở các cuộc điểm đạo chính yếu. Cần nên nhớ rằng đây là các biến phân ba mặt của Sự Sống Duy Nhất, và rằng Capricorn chẳng hạn, không những chỉ ghi dấu mức độ cố kết sâu xa nhất và do đó của sự chết, mà còn mức độ điểm đạo cao nhất và của tiến nhập vào trạng thái Sự Sống của Thượng Đế.....
Có thể là đáng chú ý nếu Tôi nêu ra:
1- Thập Giá Khả Biến ‒ đưa đến các tình huống vốn dĩ sẽ tạo ra các chu kỳ thay đổi lớn trong sự sống của hành tinh, của một giới trong thiên nhiên hoặc của một con người. Mercury đóng một vai trò trong việc này.
2- Thập Giá Cố Định ‒ theo trình tự, mang lại cho các thay đổi bên trong này một vài điểm chuyển biến lớn không thể tránh khỏi và cơ hội rõ rệt hiện tại. Saturn có tác dụng vượt trội trong việc tạo ra sự kiện này.
3- Thập Giá Cơ Bản ‒ có trách nhiệm trong việc mang lại một vài điểm tổng hợp lớn, theo trình tự của cả sự thay đổi lẫn sự tổng hợp. Jupiter có trách nhiệm cho việc tập trung các năng lượng ở điểm này.
Tôi sẽ quảng diễn về điểm này sau, ..... Trong biểu hiện của hoạt động của cung lưỡng nguyên [Biểu lộ ngoại và nội môn] này, chính năng lượng chủ thể (subjective energy) mà chúng ta phải xem xét vì nó tạo ra các hiệu ứng khách thể. Về mặt huyền bí, cung này kiểm soát tâm của thái dương hệ chúng ta và như thế kiểm soát nhịp đập của sự sống vốn duy trì/ chống đỡ (substains) tất cả những gì hiện hữu. Do đó, Gemini có liên hệ với tâm của Mặt Trời (Ngôi II), cũng như Cancer có liên hệ với Mặt Trời vật chất (Ngôi III) và Aquarius có liên hệ với Mặt Trời tinh thần (Ngôi I) trung ương.
Qua các cung này, ba ngôi chính của thánh linh (divinity) được tập trung vào lúc này.... trong Aquarius, bạn có các kết quả của hoạt động của Cancer và Gemini, tạo ra một tổng hợp cao siêu và một hiểu biết tập thể phổ thông.....Do đó, lực hút và lực đẩy là các yếu tố chi phối trong sự sống thái dương chúng ta, và sự điều tiết này đến với chúng ta qua Gemini. (Nguồn: Chiêm tinh học NM)
Xem thêm: Tổng hợp về Ba Thập Giá; (Xem nguồn) và CTHNM 4;
Xem thêm: Chiêm THNM 17)
+ Khoa Học về các Tam Giác được liên kết với tinh thần và sự tổng hợp. Khoa học này phải luôn luôn được tiếp cận theo quan điểm của 3 năng lượng căn bản: Đó là các năng lượng xuất phát từ Đại Hùng Tinh, từ Pleiades và từ Sirius; vì (bị chi phối bởi thời gian và không gian) ba loại năng lượng này tuôn đổ qua ba trung tâm chính, đó là Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại.
+ Các Tam giác quan trong trong sách Điểm đạo trong nhân loại: Xem tại đây
-Kế đến là sự nối kết ba trung tâm năng lượng chính yếu của hành tinh với năm cung hiện đang hoạt động để hoàn thành Thiên cơ cho nhân loại. Ba trong số các dòng năng lượng này đang hoạt động mạnh mẽ trên thế giới, và hai dòng năng lượng kia đang cố gắng biểu lộ. Trong đó, một dòng năng lượng đang cố gắng dần dần chế ngự, và dòng năng lượng kia cố gắng giữ lại những gì mà từ lâu nó đã chi phối. Đây là nói về cung bảy đang đến, và cung sáu đang ra đi. (Tr 11)
+ Hợp nhất (unity): Hợp nhất có thể được xem như là sự thích nghi hữu thức của vị đệ tử được điểm đạo vào tổng thể lớn hơn, vì sự thu hút của vị đệ tử vào nhóm nhờ việc tuân thủ vào các định luật của linh hồn và với tư cách chi phối thái độ của y đối với những gì mà vị này đang sống, hoạt động và hiện tồn. (LV7C, 265)
+ Xem thêm: Tổng hợp về các tam giác năng lượng
* Xin lưu ý: Việc Việt dịch sách Minh triết Chân sư khó chính xác - Xin xem sách gốc bản tiếng Anh.
+ Hoa sen Chân Ngã (Egoic lotus): X. Chân Ngã liên hoa
+ Chân Ngã liên hoa: Tức là linh hồn thể (soul body). (ĐĐTKNM, 763)
+ Thể hạ trí: Cõi hạ trí, hay cõi Devachan, hay cõi Thiên đường (Facebook TT Học:)
+ Devachan: Devachan là một trạng thái ý thức, phản ánh... trạng thái cao hơn mà chúng ta gọi là ý thức niết bàn, và điều đó được hình thành bởi hành động của Chân ngã... Không có devachan cho người man rợ hay kém tiến hóa... do đó sự luân hồi của họ diễn ra nhanh chóng... Khi đời sống phàm ngã phong phú và sâu sắc... sẽ có các giai đoạn ‘niết bàn phàm ngã’... Sau đó... niết bàn của linh hồn trở thành mục tiêu của y. Y không còn quan tâm đến devachan.”
[* Diễn giải thêm:
- Devachan là một trạng thái ý thức tinh thần sau khi chết, diễn ra khi linh hồn đã hoàn toàn thoát khỏi thể xác, thể dĩ thái và thể cảm dục. Đây là giai đoạn tiêu hóa kinh nghiệm, hợp nhất tinh hoa tư tưởng, và chuẩn bị cho tái sinh. Đây là đối với người tiến hóa trung bình. [Đa số nhân loại hiện nay]
- Với người tiến hóa thấp, họ không trải qua devachan, vì thiếu khả năng nội tâm hóa kinh nghiệm, nên họ đầu thai rất nhanh.
- Với người tiến hóa cao, devachan bị vượt qua, vì họ đã phối hợp được với Chân ngã và có thể chủ động hóa nhập vào kiếp sống tiếp theo, hoặc chọn không đầu thai vì mục đích phụng sự lớn hơn] [Luận Về Lửa Vũ Trụ, tr. 737–738]
+ Thời gian giữa 2 kiếp luân hồi: Đối với những người kém tiến hóa, hầu như không tồn tại; họ luân hồi ra vào kiếp sống với tốc độ kinh ngạc... Khi tiến hóa tăng lên, các khoảng thời gian không có thân người dần dần kéo dài, cho đến khi vượt xa thời gian sống ở cõi trần. Khi đó, giai đoạn gián cách chiếm ưu thế.” [Luận về Chánh Thuật, tr. 514]
“Từ khoảnh khắc tách rời hoàn toàn khỏi thể xác và thể dĩ thái... con người ý thức được quá khứ và hiện tại... y lập tức ý thức được tương lai... Do đó, quá khứ, hiện tại và tương lai được thấy như một; sự nhận thức về ‘Hiện Tại Vĩnh Cửu’ dần được phát triển qua từng kiếp luân hồi và trong suốt tiến trình tái sinh liên tục.” [Chữa Lành Huyền Linh, tr. 497]
* Giải thích 2 đoạn trên về Cõi của linh hồn: Tinh thần của devachan như là một trạng thái trung gian sau khi chết và trước khi tái sinh. Giai đoạn linh hồn thoát ly khỏi ba cõi (hồng trần, cảm dục, trí cụ thể), trú ngụ hoàn toàn trên cõi thượng trí (cõi linh hồn).
Đây không phải là một "cõi trời" để hưởng thụ như theo nghĩa thông thường, mà là một giai đoạn đồng hóa kinh nghiệm đã thu thập trong kiếp sống vừa qua.
Trong giai đoạn này, linh hồn:
Rút tỉa những tinh túy cao quý nhất từ mọi cảm xúc, tư tưởng, hành động đã trải nghiệm.
Tái tạo lại hình ảnh sâu sắc về những giá trị thiêng liêng, và khơi gợi những khuynh hướng tiến hóa cho kiếp tương lai.
Làm việc theo luật nhân quả (karma) và luật tái sinh (rebirth) để chuẩn bị cho điều chỉnh nghiệp quả, chọn môi trường phù hợp.
Một điểm quan trọng mà Chân sư DK nhấn mạnh là: khi linh hồn đạt đến trình độ cao, nó sẽ ý thức được toàn bộ chu kỳ luân hồi, không chỉ đơn thuần bị “đẩy” đi tái sinh theo quán tính nghiệp lực. Khi đó, giai đoạn giữa hai kiếp sống không còn là một "giấc ngủ dài trong cõi trời", mà là một thời kỳ tỉnh thức, chủ động, phối hợp với Chân ngã (Egoic Lotus) để chọn lựa đúng thời điểm, gia đình, chủng tộc, hoàn cảnh phục vụ cho mục đích linh hồn. [Tổng hợp dựa trên kiến thức của Chân sư D.K]
+ Các Thập Tự Giá (The Crosses): Trong giáo lý D.K, thập tự giá không phải biểu tượng tôn giáo, mà là mô thức năng lượng và trạng thái ý thức/ Trạng thái tiến hóa. Ba thập tự chính gồm:
1. Thập tự Thống lĩnh (Cardinal Cross):
Gắn với: Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình, Ma Kết.
Biểu trưng: Điểm đạo cao, sáng tạo thiêng liêng, phụng sự hành tinh.
Trạng thái: Ý thức hợp nhất với Ý chí Thiêng.
2. Thập tự Cố định (Fixed Cross)
Gắn với: Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp, Bảo Bình.
Biểu trưng: Đệ tử, thử thách, chuyển hóa, hy sinh.
Trạng thái: Linh hồn bắt đầu kiểm soát phàm ngã.
3. Thập tự Biến dịch (Mutable Cross)
Gắn với: Hoàng đạo thường (Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã, Song Ngư).
Biểu trưng: Con người phàm ngã, luân hồi, học qua kinh nghiệm.
Trạng thái: Ý thức bị chi phối bởi dục vọng và môi trường.
→ Thập tự giá = giao điểm của Linh và Vật, Thời gian và Vĩnh cửu
+ Thập giá cơ bản/ Chính yếu/ Chủ yếu/ Cốt lõi: Chi phối Chân Sư khi Ngài vượt qua 5 cuộc điểm đạo còn lại. Điều khá lạ lùng là cuộc điểm đạo thứ 4 không bị thập giá cố định lẫn thập giá chính yếu chi phối. Các từ khoá cho là ý chí, động lực, và hành động (Sẵn sàng để thay đổi. Nhấn mạnh vào hành động. Cố gắng thay đổi môi trường. Phóng chiếu bản thân vào môi trường xung quanh). Gồm: Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình và Ma Kết. (Xem Chiêm THNM 17)
+ Nhờ việc nghiên cúu Thập Giá Cơ Bản ‒ Aries, Cancer, Libra, Capricorn ‒ Chiêm tinh gia có hiểu biết rõ ràng hơn (CTHNM, 379):
a. Về con người thông thường, cá biệt.
b. Về các cội nguồn tập thể.
c. Về ý nghĩa của cuộc điểm đạo đầu tiên
+ Trên Thập Giá Cơ Bản, đó là Mặt Trời tinh thần trung ương, nó tác động tới, và lúc bấy giờ Uranus là nơi phân phối, còn bí huyệt đầu trở thành bí huyệt trong cơ thể của điểm đạo đồ qua đó phương hướng và sự kiểm soát đi đến (CTHNM, 335)
+ Thập Giá Cơ Bản ‒ có trách nhiệm trong việc mang lại một vài điểm tổng hợp lớn, theo trình tự của cả sự thay đổi lẫn sự tổng hợp. Jupiter có trách nhiệm cho việc tập trung các năng lượng ở điểm này (CTHNM, 397)
Xem thêm: Tổng hợp về Ba Thập Giá
+ Thang tiến hóa (The scale of evolution): Đạo sinh nên tập cho quen với sự thật rằng tiến lên (rising in) trên thang tiến hóa không phải là chính mình di chuyển (move) từ chỗ này đến chỗ khác mà chỉ là làm cho chính mình ngày càng có thể nhận được nhiều ấn tượng (impressions) hơn. (MTNX, 129–130)
+ Các mức độ Giác ngộ: Đức Phật nói "Như thế cho đến...". HT Tuyên Hóa giảng: Có nghĩa là các mức độ của giác ngộ, từ lục độ cho đến thập trụ, thập tín, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa; cho đến cả quả vị Phật, đều được bao gồm trong không Như Lai tạng. Từ các giai vị của hàng Bồ-tát đến quả vị Phật phải cần rất nhiều thời gian, và cần rất nhiều công hạnh tu tập, nhưng tất cả đều là không, quả vị Phật cũng là không.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Các giai đoạn tiến hóa:
4- Năm giai đoạn tiến hóa: Cuộc sống của phàm ngã đang tiến hóa có thể được chia làm 5 phần. Mỗi bậc được đo lường bằng tình trạng của Ngọn lửa Tinh thần ẩn bên trong. Như tôi đã nói cùng các bạn, theo quan điểm của Thánh đoàn thì chúng ta được đo lường bằng ánh sáng của chính mình.
- Giai đoạn đầu: Người thoát kiếp thú trở thành sinh linh biết suy nghĩ, thời lemuria và đầu Alantis, từ bé - 7 tuổi. Thể dục vọng đồng hóa thể xác. Ngọn lửa trong Tâm như đầu Kim, chỉ L.Xa đáy cột sống hoạt động (3 Chiều).
- Giai đoạn 2: Người thời Alantis phát triển, từ 7 - 14 tuổi. Thể dục vọng và thể xác chỉnh hợp. Ngọn lửa trong Tâm nở lớn hơn, nhưng vẫn nhỏ. Luồng Hòa xà Kundalini kích thích Luân xa Tùng Thái dương và L.xa tương ứng trong thể tình cảm hoạt động chậm.
- Giai đoạn 3: Người có thể Trí bắt đầu phát triển, từ 14 - 28 tuổi. Thể nguyên nhân ngày càng tròn đầy, cân đối. Ánh sáng Chân Ngã nội tâm chiếu từ trung tâm đến ngoại vi, thắp sáng thể Nguyên nhân, dấu hiệu bùng cháy. Sự ham muốn hướng lên cao => Chí nguyện. Chân ngã ngày càng tỉnh thức trên cảnh giới của mình và ngày càng quan tâm đến cuộc sống của Phàm ngã. Bây giờ ngọn lửa thiêng Kundalini lên đến luân xa tim, và cả ba luân xa đều xoay trong sự hòa hợp, nhịp nhàng và trật tự.
- Giai đoạn 4: Từ 28 - 35 tuổi. Phàm Ngã hoàn toàn điều hợp. Tham thiền thần bí đã bắt đầu. “Tôi sẽ vươn lên và về với Cha tôi.” Đây là kết quả của lần tham thiền thứ nhất. Con người giờ đây là một sinh linh có tình cảm, biết suy nghĩ và chủ động, và đang hữu thức chuyển sự phân cực từ cuộc sống Phàm ngã sang Chân ngã => Dự bị, Đệ tử. L.Xa cổ họng được kích thích. Ánh sáng rễ bừng lên thành ngọn lửa, ở trong tầm nhìn của Chân sư đang thiết tha tìm kiếm.
- Giai đoạn 5: Bắt đầu Tham thiền huyền môn, Phàm ngã đã cảm được sự rung động của Chân ngã, đến giai đoạn cuối này trở thành Chân ngã chứ không còn là Phàm ngã nữa. Nguyên tử trường tồn hồng trần bị bỏ đi, và sự phân cực trở thành của thượng trí. Nguyên tử trường tồn thể tình cảm bị bỏ đi và sự phân cực lên đến thể bồ-đề (trực giác). Nguyên tử trường tồn hạ trí bị bỏ đi và sự phân cực lên đến atma (thể tinh thần). Bấy giờ, con người trở thành một Chân sư Minh triết, được tượng trưng ở tuổi 42, mức trưởng thành hoàn hảo trong Thái dương hệ.
- Giai đoạn 6: Tương ứng 42 - 49 tuổi, giai đoạn hành giả có thể được điểm đạo lần 6 và lần 7, cao cùng tột. (Nguồn: Cấu tạo con người 7 - Các Giai đoạn tiến hóa của Phàm Ngã)
+ 5- Diễn trình tiến hóa: Giống như trong mọi biểu lộ (manifestation), diễn trình tiến hóa là kết quả của ý muốn (desire), tác động lên các khả năng sáng tạo (creative faculities) và tạo ra những gì biểu lộ ra ngoại cảnh (objective). (LVLCK, 924)
+ 8- Mức Tiến Hóa: Nhờ Nghiên Cứu các Thập Giá, Chiêm Tinh Gia biết ai đó đang ở đâu trên đường tiến hóa. Mỗi Thập giá đều có ý nghĩa ngoại môn của nó (Là các biến phân ba mặt của sự sống duy nhất):
1- Thập Giá Cơ Bản ‒ Aries, Cancer, Libra, Capricorn:
a. Về con người thông thường, cá biệt.
b. Về các cội nguồn tập thể.
c. Về ý nghĩa của cuộc điểm đạo thứ 1.
2- Thập Giá Cố Định ‒ Taurus, Leo, Scorpio và Aquarius ‒ y sẽ đi đến lý giải chính xác về các sự sống:
a/ Của các điểm đạo đồ.
b/ Của sự thu hút tập thể thành tổng hợp.
c/ Của ý nghĩa về cuộc điểm đạo thứ 3.
3- Thập Giá Khả Biến ‒ Gemini, Virgo, Sagittarius và Pisces ‒ y có thể đi đến ý nghĩa:
a/ Của các đệ tử.
b/ Của hoạt động tập thể.
c/ Ý nghĩa của cuộc điểm đạo thứ 2.
Các nội dung tiến hóa khác, rất nhiều (Nguồn: Chân Sư DK - CTHNM, 379, 380)
Xem thêm: Tổng hợp về Tiến hóa
Xem thêm: Tổng hợp về Tâm thức
+ Tu đạo cần giác ngộ tâm trước: So sánh sự khác nhau giữa “Hiểu” và “Ngộ”.
So sánh sự khác nhau giữa “Hiểu” và “Ngộ”. “Hiểu-tri” và “Ngộ-buông”, vậy hiểu chưa hẳn là ngộ, nhưng ngộ thì bao gồm hiểu, có đúng không? Có bao loại “hiểu” và bao loại “ngộ”?
Đáp:
Câu hỏi của bạn rất chuẩn căn cơ tu học, và cách bạn đặt cặp từ “Hiểu–tri” và “Ngộ–buông” đã chạm đúng xương sống của Phật pháp. Dưới đây là phần trả lời có hệ thống, phân tầng rõ ràng, đúng theo lời giảng của Hòa Thượng Tuyên Hóa, không rơi vào khẩu hiệu.
I. “Hiểu–tri” và “Ngộ–buông”: có đúng không?
✅ Kết luận ngắn gọn:
Hiểu chưa hẳn là Ngộ.
Nhưng Ngộ thì nhất định bao gồm Hiểu — và vượt khỏi Hiểu.
Vì sao?
• Hiểu (解 / tri)
→ Là biết, nắm nghĩa, phân tích, lý giải
→ Thuộc về ý thức – thức thứ sáu
• Ngộ (悟 / buông)
→ Là thấy thẳng, rơi rụng, không còn nắm giữ
→ Thuộc về trí tuệ Bát Nhã
📌 Khi Ngộ, cái Hiểu không mất, nhưng:
• Không còn bám vào hiểu
• Không còn lấy hiểu làm ta
➡️ Ngộ = Hiểu + Buông
II. Có bao nhiêu loại “Hiểu”?
Theo hệ Phật học và lời giảng Hòa Thượng Tuyên Hóa, có thể chia 4 tầng Hiểu:
1. Hiểu bằng văn tự (Văn tự giải)
• Đọc kinh, nghe giảng
• Biết chữ, biết nghĩa
• Có thể giảng lại cho người khác
Hòa Thượng Tuyên Hóa:
“Thuộc kinh mà không hành, chỉ là đếm của báu cho người.”
⚠️ Nguy cơ:
• Sở tri chướng
• Tăng ngã mạn
2. Hiểu bằng suy tư (Tư duy giải)
• Suy nghiệm
• So sánh
• Thấy có lý
Cao hơn văn tự, nhưng:
• Vẫn còn ta đang hiểu
• Vẫn còn pháp để hiểu
3. Hiểu bằng kinh nghiệm tu (Tu hành giải)
• Có thực hành
• Có chuyển hóa một phần phiền não
• Biết “điều này đúng vì mình đã làm”
Hòa Thượng Tuyên Hóa:
“Chân lý không phải nghe mà được, phải hành mới biết.”
⚠️ Nhưng vẫn chưa phải Ngộ nếu:
• Còn giữ cái “ta tu được”
• Còn sợ mất cảnh giới
4. Hiểu gần Ngộ (Giải ngộ – chưa viên)
• Có lúc tâm rỗng rang
• Phiền não tạm rơi
• Nhưng chưa ổn định
➡️ Đây là Hiểu cực sâu, nhưng vẫn là giải, chưa phải ngộ viên mãn.
III. Có bao nhiêu loại “Ngộ”?
Theo Thiền tông và Hòa Thượng Tuyên Hóa, Ngộ không chỉ có một cấp.
⚠️ Nhưng vẫn chưa phải Ngộ nếu:
• Còn giữ cái “ta tu được”
• Còn sợ mất cảnh giới
4. Hiểu gần Ngộ (Giải ngộ – chưa viên)
• Có lúc tâm rỗng rang
• Phiền não tạm rơi
• Nhưng chưa ổn định
➡️ Đây là Hiểu cực sâu, nhưng vẫn là giải, chưa phải ngộ viên mãn.
III. Có bao nhiêu loại “Ngộ”?
Theo Thiền tông và Hòa Thượng Tuyên Hóa, Ngộ không chỉ có một cấp.
1. Tiểu ngộ
• Thấy ra một phần vọng chấp
• Biết rõ một thói quen vô minh
• Phiền não nhẹ đi
“Tiểu ngộ như mở cửa sổ, có ánh sáng vào.”
2. Đại ngộ
• Minh tâm kiến tánh (một phần hoặc sâu)
• Thấy rõ vô ngã
• Không còn bị cảnh lôi kéo như trước
Hòa Thượng Tuyên Hóa:
“Đại ngộ không phải không có vọng tưởng,
mà là vọng tưởng không sai sử được mình.”
3. Ngộ mà chưa chứng
• Đã thấy đường
• Nhưng tập khí chưa sạch
• Cần tiếp tục tu – hành – giữ giới
Đây là chỗ rất dễ chấp ngộ.
4. Ngộ viên mãn (Chứng)
• Ngộ đi đôi với Giới – Định – Tuệ viên dung
• Phiền não tận gốc
• Không còn thoái chuyển
➡️ Đây mới là Giác ngộ đúng nghĩa
IV. Bảng so sánh tổng hợp
V. Lời cảnh tỉnh của Hòa Thượng Tuyên Hóa (rất quan trọng)
“Người học Phật sợ nhất là:
hiểu chút ít rồi cho mình đã ngộ.”
“Ngộ mà không giữ giới,
thì ngộ đó là ma sự.”
📌 Dấu hiệu ngộ giả:
• Hay phán người khác
• Xem thường kinh điển
• Không chịu nghe ai
• Buông lung giới hạnh
VI. Kết luận tinh yếu
Hiểu là cửa vào.
Ngộ là buông tay.
Không hiểu thì không biết đường tu.
Nhưng dừng ở hiểu thì vĩnh viễn không giải thoát.
Ngộ bao gồm hiểu, nhưng không kẹt nơi hiểu.
Tài liệu tham khảo: Hòa Thượng Tuyên Hóa (1998) - (2003) - (2006) - (2009) _Theo Zalo Nhóm đự tử HT Tuyên Hóa]
* Xem thêm Tooultip: Giác ngộ
+ Câu 46 Chú Đại Bi: Bồ đề dạ - Bồ đề dạ = Tâm Bồ đề kiên cố không bao giờ thoái chuyển.
Bồ đề dạ. Hán dịch là “Giác đạo”. Muốn thành tựu giác đạo thì trước hết, quý vị phải có được giác tâm. Nếu không có giác tâm, thì không thể nào tu tập để thành tựu đạo giác ngộ. Hành giả trước hết phải có tâm liễu ngộ chân thực rồi mới có thể tu tập đến chỗ thành tựu đạo nghiệp được. Hai câu chú này gọi là Bất thối kim luân thủ nhãn ấn pháp. Đó chính là tâm bồ đề kiên cố không bao giờ thoái chuyển.
Từ nay cho đến khi thành tựu quả vị Phật, quý vị phải phát tâm dõng mãnh ngày càng tinh tất hơn. Đừng nên dừng lại hoặc lui sụt. Chẳng hạn như khi quý vị nghe giảng kinh, hãy khởi tâm niệm rất khó có dịp được nghe giảng kinh Phật. Rất hiếm khi được gặp pháp hội. Mặc dù chuyện này xem có vẻ bình thường, nhưng nếu quý vị lắng lòng suy gẫm kỹ sẽ thấy giá trị vô cùng. Thử xem có nơi đâu trên thế giới này có được một pháp hội tinh tấn như thế này, ngày nào cũng đến đây để nghe giảng kinh? Còn có nơi đâu khác trên thế giới mà pháp âm tuôn trào như thác, như sông mãi không ngừng như ở đây?
Nên khi đã có duyên ngặp gỡ được pháp hội, quý vị phải thu xếp công việc, dù có bận rộn bao nhiêu, bất luận pháp sư giảng đề tài gì, người nào giảng cũng phải đến nghe. Đừng có phân biệt giữa pháp sư giảng hay và người giảng kém, rồi chỉ đến nghe người giảng hay. Nếu quý vị vẫn kiên trì đến nghe bất luận pháp sư nào giảng, lâu ngày chày tháng, chắc chắn quý vị sẽ thâm nhập được vào dòng đạo lý chân thật. Dù ai giảng đi nữa, quý vị cũng nên đến nghe để hộ trì cho pháp hội. Nếu một tuần có giảng pháp bảy đêm thì quý vị cũng nên tham dự cả bảy đêm. Đừng nên lười biếng!
Pháp môn này khó gặp được đã từng hằng triệu kiếp nay rồi. Một khi đã có duyên được gặp thì phải nên tinh tấn tu học. Sự tinh tấn chính là “tâm Bồ đề” kiên cố dõng mãnh vậy.
Nếu bỏ mất tâm Bồ đề mà mong ngày thành đạo thì không khác gì nấu cát mà mong thành cơm. Nên trong Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy:
“Vong thấ Bồ đề tâm, tu chư thiện pháp, thị chư ma nghiệp”.
Nghĩa là: “Bỏ quên tâm Bồ đề dù tu ngàn thiện pháp như làm việc ma vậy”.
Về bất thối, có ba dạng:
- Thứ nhất là vị bất thối: Nếu hành giả đã chứng quả A la hán tồi, thì không còn trở lại hàng phàm phu nữa, Nếu hành giả đã chứng quả Bồ tát rồi thì không còn rơi lại hàng A la hán nữa. Nếu hành giả đã chứng đắc quả vị Phật rồi thì không còn trở lại hàng Bồ tát nữa. Trừ những vị muốn thị hiện hóa thân để giáo hóa chúng sanh. Ví dụ như hành giả có thể phát nguyện: “Nay tôi đã thành tựu quả vị Phật rồi, tôi muốn hiện thân Tỳ kheo để giáo hóa chúng sanh”. Điều ấy hoàn toàn đúng.
- Thứ hai là niệm bất thối: Đôi khi hành giả phát khởi tâm niệm: “Tu học Phật pháp thật chán, tôi không còn muốn tu hành hoặc đi giảng pháp gì nữa cả!”. Đây là niệm thoái thất. Khi hành giả khởi niệm thoái thất, thì ma chướng liền theo ngay, vì ma vương rất vui khi người tu hành khởi niệm lui sụt.
Một khi quý vị đã đạt được “niệm bất thối”, thì càng nghe pháp, càng muốn được nghe nhiều hơn.
Niệm bất thối là tâm lượng của hành giả không còn bị trôi lăn trong dòng thức biến “bất giác vọng động nữa”, không còn trải qua bốn tướng sinh trụ dị diệt của niệm khởi nữa. Niệm bất thối luôn được lưu xuất từ Bồ đề tâm, là bạn đồng hành của tâm kiên cố. Kiên cố là nét đặc trưng của tâm Bồ đề. Niệm bất thối và tâm kiên cố là nền tảng của đại nguyện Bồ tát. Niệm bất thối là niệm mà vô niệm. Vô niệm mà tự niệm “niệm vô niệm, vô niệm nhi tự niệm”. Niệm này là niệm vi mật hiện tiền, không thể suy lường. Niệm bất thối luôn luôn đi với hạnh bất thối.
- Thứ ba là hạnh bất thối: Nghĩa là thực hành đạo Bồ tát. Tuy làm mọi việc trong vô số cảnh giới mà không hề rời bản tâm, rời đại nguyện, rời niệm bất thối. Niệm Kim cang nguyện, thực hành Kim cang hạnh không thể nghĩ bàn.
Đứng trên nhân thừa mà luận, thì hạnh bất thối là sự hành trì tinh tấn, miên mật với tâm tinh tấn dõng mãnh hướng tới Phật thừa.
Khi quý vị hành trì Bất thối Kim Luân thủ nhãn ấn pháp, thì từ nay cho đến khi thành tựu quả vị Phật, quý vị sẽ không còn thối chuyển. Nhưng quý vị phải tinh tấn hành trì! (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi)
+ Kim luân thủ: 42 Thủ nhãn Ấn pháp Chú đại Bi - Việt dịch:
Bỏ tà theo chánh chuyển pháp luân
Quỉ mị yêu tinh sợ ẩn mình
Bồ đề tâm đạo không thoái chuyển
Thân này thân Phật được viên thành. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Xem thêm Tooltip (Muốn Giác đạo cần Giác tâm trước): Tu Tâm Kim cang kiên cố
+ Giác Tâm - Giác ngộ (Illumination): Thánh hiền thường dạy, Tu đạo với bất cứ pháp môn nào, quí vị cần Giác Tâm trước mới không xem là tu mù, luyện tối rất rễ gặp họa tai, đọa lạc tam đồ ác đạo. Đây là do khi chưa học Minh triết - Phật pháp để Giác tâm trước giúp hiểu biết những nguy hiểm, chướng nạn trong tu hành, thì rất thường đường quang không đi, đi quàng vào bụi dậm lầy lội, hầm hố nhiều nguy hiểm hoạn nạn. Như thế tu không tiến lên được, rễ phát sinh bệnh nạn do tu sai thứ tự KHÔNG NHƯ PHÁP TU HÀNH, rất rễ lầm lạc xa lầy vào đường tà đạo dước họa vào thân, sai một ly đi một dặm vì tạo duyên nghiệp với tà đạo, ngoại đạo, xa dời chánh đạo biết bao giờ mới thoát ra được (Như Thánh hiền thường cảnh báo Thày trò cùng nhau đọa lạc tam đồ ác đạo). Vậy nên, chỉ khi Tâm đã giác ngộ mới có thể tu Đạo an toàn, sớm có thành tựu, đặc biệt với các pháp tu đại thừa như tu Thiền định, đọc tụng kinh và trì các Thần chú như Chú Đại Bi, Chú Lăng Nghiêm mới dần thành tựu viên mãn, có Tâm Bất thối chuyển như câu "Bồ đề dạ" trong Chú Đại Bi, tương ứng Tay Ấn pháp Bất Thối Kim Luân Thủ Nhãn. (Nguồn: Bất Thối Kim Luân Thủ Nhãn - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Sự giác ngộ và ánh sáng của tri thức có thể được xem như là các thuật ngữ đồng nghĩa.(ACMVDCTG, 144)
+ Sự giác ngộ và nhận thức chân lý cũng là các thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng trong trường hợp này, chân lý không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng mà là chân lý cụ thể và khả tri – tức là chân lý có thể được trình bày và diễn tả bằng các hình thức và thuật ngữ cụ thể. (ACMVDCTG, 145)
+ Sự giác ngộ: Đây là một từ ngữ nên được dùng một cách dứt khoát để chỉ tâm thức siêu nhân loại. Bản năng thiêng liêng này khiến cho một người nhận biết được cái tổng thể mà y là một phần trong đó. Sự giác ngộ tác động xuyên qua linh hồn của con người bằng cách dùng bí huyệt đầu, và sau rốt làm tràn ngập mọi bí huyệt bằng ánh sáng hay năng lượng, như vậy, liên kết một người bằng tâm thức với tất cả các phần tương ứng của Tổng thể thiêng liêng. (TLHNM–II, 233)
+ Giác ngộ tám điều: Là đệ tử Phật thì phải thường cả ngày lẫn đêm hết lòng thành kính đọc và nghĩ nhớ tám điều giác ngộ này:
1- Giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường;
2- Giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau
3- Giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán,
4- Giác ngộ rằng tính lười biếng đưa đến chỗ đọa lạc;
5- Giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam hãm trong cõi sinh tử.
6- Giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinh ra nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm những nhân xấu.
7- Giác ngộ rằng năm thứ dục vọng [5] đã gây nên tội lỗi và hoạn nạn
8- Giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ
Tám điều như vậy đều là chỗ giác ngộ của chư Phật, Bồ Tát, bậc Đại Nhân.... (Nguồn HT Thích Nhất Hạnh giảng: Kinh Bát Nhã Đại Nhân Giác)
+ Kinh Bát Đại Nhân Giác: ... Kinh này dung hợp cả đạo Bụt Nguyên Thủy và đạo Bụt Đại Thừa. Tám điều mà kinh văn nói đến có thể coi như tám đề tài thiền quán.. .. Nhà khoa học nếu chịu quán niệm thường trực về vô ngã nơi tự thân và nơi sự vật như thế thì cũng có ngày đạt ngộ dễ dàng vậy. (Nguôn: Kinh Bát Đại Nhân Giác_TS Thích Nhất Hạnh)
+ Xóa vô minh - Thêm Giác ngộ: Nếu chúng ta biết nhận thức mỗi loại pháp rõ ràng và ra công thêm thì mới có thể trị liệu được. Nghĩa là dứt được một phần vô minh tức là chứng được một phần pháp tánh. Từ những giác ngộ nhỏ mà dần dần đi lần đến chỗ giác ngộ lớn và tiến thẳng đến đạo quả vô thượng Bồ-đề... (HT Tuyên Hóa giảng Luận Đại Thừa Trăm Pháp Minh Môn))
+ Các mức độ Giác ngộ: Đức Phật nói "Như thế cho đến...". HT Tuyên Hóa giảng: Có nghĩa là các mức độ của giác ngộ, từ lục độ cho đến thập trụ, thập tín, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa; cho đến cả quả vị Phật, đều được bao gồm trong không Như Lai tạng. Từ các giai vị của hàng Bồ-tát đến quả vị Phật phải cần rất nhiều thời gian, và cần rất nhiều công hạnh tu tập, nhưng tất cả đều là không, quả vị Phật cũng là không.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Hình thức Giác ngộ: Trong ba hình thức giác ngộ. Sự giác ngộ của hàng A-la-hán và Bích-chi Phật[1] là để phân biệt họ với hàng phàm phu chưa giác ngộ.
Bích-chi Phật ngộ đạo thông qua tu tập mười hai nhân duyên.
Hàng A-la-hán ngộ đạo nhờ tu tập Tứ diệu đế.
Chư vị Bồ-tát khác hẳn hàng Bích-chi Phật và A-la-hán. Họ kiên quyết giúp cho mọi chúng sinh được giác ngộ, và cũng được gọi là làm lợi lạc quần sinh.
Nói tóm lại, A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát là người đã tu tập giác ngộ. Ở đây, chúng ta có thể nói một người tu tập lần lượt đạt được các quả vị A-la-hán, rồi Bích-chi Phật, rồi đến quả vị bồ-tát thông qua phương tiện Lục độ ba-la-mật và vô số công hạnh. Như một người hiện thân ở cả ba trình độ tu tập khác nhau.
Ba hình thức giác ngộ có thể thảo luận rất dài. Còn nếu muốn thực hành thì có rất nhiều sự sai biệt. Trong mỗi trình độ lại có nhiều cấp độ khác nhau. Trong sự phân biệt lại có thêm nhiều phân biệt. Tiến trình của hình thức giác ngộ này rất nhiều giai đoạn. Cho đến khi ba hình thức giác ngộ này được viên mãn mới gọi là hoàn thành. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh - Quyển 1)
[Đại Nhân: Theo đạo Phật, người chưa biết tu gọi là phàm phu. Người nghe lời Phật dạy, phát tâm tu chứng từ Sơ quả Tu-đà-hoàn, đến Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, thì gọi là Thanh văn. Còn người phát tâm tu Lục độ vạn hạnh chứng từ Thập tín… lên Sơ địa tiến dần đến Thập địa, gọi là Bồ-tát. Và khi công hạnh tự giác giác tha của Bồ-tát đã viên mãn thì thành Phật. Như vậy, hàng Bồ-tát, Phật gọi là đại nhân. (HT Thích Thanh Từ giảng Kinh Bát Nhã Đại Nhân Giác)]
+ I- Nghe đọc - Giảng Kinh Chú
[* HT Tuyên Hóa giảng: “Pháp giới không có chỗ nào không nghe pháp. Nếu tâm bạn chân thành, cỏ cây, nước lửa đều thọ pháp.” Ví dụ: Người thanh tịnh tụng Kinh Hoa Nghiêm xong rửa tay thì lấy nước ấy dải ra đất => Kiến hay Rắn bỏ đi ......;_Trích nhóm Zalo Đệ tử HT Tuyên hóa]
- Đoan nghiêm (端嚴 decorous): Đức Phật lúc nào cũng đoan chính và trang nghiêm. Chúng ta phải học theo hạnh nầy. Khi nghe giảng kinh, chúng ta phải ngồi trong tư thế ngay thẳng và cung kính. Đừng ngồi với tư thế uể oải, xiêu vẹo, hoặc duỗi người ra. Vì chính trước mặt quý vị là Đức Phật đang giảng pháp. Vì chúng ta tin vào Đức Phật, nên chúng ta phải kính trọng ngài. Chúng ta không nên giải đãi ngay trước mặt ngài. Khi nghe kinh, quý vị không được nằm hoặc ngủ. Không được nằm mà đọc kinh. Tôi đã giảng cho quý vị nghe rằng, nếu làm như vậy thì đời sau sẽ bị đoạ làm thân rắn. Rắn thì luôn luôn nằm dù khi di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác. Nó không đứng dậy được. Khi đọc kinh, quý vị nên ngồi thẳng người và đặt kinh trên mặt bàn phía trước mặt mình. Nếu quý vị có một phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ một phần; Nếu quý vị có mười phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ mười phần. Nếu quý vị có một trăm, ngàn, vạn phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ trăm, ngàn, vạn phần, trí huệ tăng trưởng dần theo mức độ tôn kính. Quý vị cũng được tăng trưởng thiện căn. Kinh Kim Cang có nói rất rõ: “Ở nơi nào có kinh nầy, tức nơi đó có Đức Phật hoặc như các vị đệ tử được tôn trọng của Đức Phật.” Nếu quý vị có tâm tôn kính, thì quý vị sẽ có được quả báo tốt lành, nếu không kính trọng thì không có được quả báo ấy. Quý vị hãy xem như chính Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang giảng pháp và ngài A-nan đang ngồi bên cạnh. Chung quanh quý vị trong hội chúng là các vị Đại Bồ-tát. Hãy tưởng tượng pháp hội đang diễn ra trên núi Diệu cao. Nếu quý vị đã có tâm kính trọng như thế nầy, chắc chắn sẽ đến lúc quý vị được giác ngộ. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5)
+ Nên dùng Chân Tâm nghe Pháp mới đúng NHƯ PHẤP TU HÀNH:
Trích ngài A Nan thưa Đức Phật: ... “Cúi mong Đức Phật thương xót, tuyên dạy viên âm, nhổ sạch gốc nghi ngờ trong con, để quay về đạo vô thượng.” HT Tuyên Hóa giảng:
A-nan nói rằng khi nghe Đức Phật giảng pháp, A-nan đã dùng tâm phan duyên để nghe pháp. A-nan lầm tưởng rằng chẳng có tâm phan duyên, chẳng có pháp để được nghe. Đây là một sai lầm lớn. Sai lầm nầy A-nan đã mắc phải cũng như nhiều cư sĩ khác.
A-nan nói: “Thật đúng là con phải loại bỏ tâm phan duyên đi, nhưng khi con đã không còn tâm phan duyên nữa, thì lấy gì để nghe pháp? Con sẽ không còn tâm nữa hay sao?” A-nan vẫn tin rằng tâm phan duyên chính là chân tâm mình. A-nan không biết rằng tâm phan duyên của mình, là tâm đã tạo nên mọi phân biệt, kế chấp, là thức tâm, là đối tượng của sinh diệt. Nếu quý vị loại bỏ tâm phan duyên mà nghe pháp, thì mới gọi là chân chính nghe pháp. Nếu quý vị nghe pháp bằng chân tâm, thì tất cả các pháp đều là chính pháp. Nếu quý vị nghe pháp bằng tâm phan duyên, bất luận quý vị có nghe nhiều bao nhiêu, thì dường như luôn luôn có cái đúng và có cái chưa đúng. Đó là tâm nghi ngờ tương tục. Quý vị nên nghe pháp bằng chân tâm.
Nhưng A-nan đã biết vậy, nên A-nan không dám nhận những gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói về chân tâm. A-nan sợ rằng nếu mình nhận ra chân tâm, thì mình không còn nghe pháp được nữa, vì nghe pháp là điều quan trọng nhất đối với ông. A-nan nghĩ: “Đối với tôi, tâm sinh diệt hay tâm gì đó chẳng thành vấn đề, điều quan trọng là tôi được nghe pháp.” Đó chính là điểm mà A-nan không hiểu được và khiến cho A-nan nghi ngờ.
Do vì A-nan không nhận ra đạo lý nầy, nên bạch Phật: “”
“Cúi mong Đức Phật thương xót, tuyên dạy lời viên âm.” Viên âm là âm thanh viên dung không ngăn ngại. Viên âm tức là nhất âm. Nên nói rằng: “Đức Phật chỉ dùng một âm thanh mà thuyết pháp, chúng sinh tuỳ theo căn cơ nghiệp lực mình đều được hiểu.” Khi loài người nghe nhất âm, họ cũng hiểu được; khi chư thiên nghe nhất âm, chư thiên cũng hiểu được; khi loài ngạ quỷ nghe nhất âm, ngạ quỷ cũng hiểu được; ngay cả khi loài súc sinh nghe nhất âm, loài súc sinh cũng hiểu được. Mọi loài chúng sinh– người, trời, Bồ-tát, A-la-hán, đại tỷ-khưu, loài vật, loài ở địa ngục, quỷ đói–mỗi loài đều hiểu được giáo lý Đức Phật giảng giải bằng nhất âm. Khi Đức Phật giảng pháp, chúng sinh chỉ cần có duyên với Đức Phật, bất luận họ ở xa Đức Phật bao nhiêu, họ đều có thể nghe lời nói của Đức Phật như thể họ đang ở ngay bên cạnh Ngài vậy. Không cần bận tâm đến khoảng cách. Quý vị xem đó có vi diệu không?
Thế nên A-nan cầu thỉnh Đức Phật dùng viên âm chỉ dạy, để “nhổ sạch gốc nghi ngờ trong con, để quay về đạo vô thượng. Con chưa giải trừ được mối nghi trong lòng. Cội gốc nghi ngờ vẫn còn trong tâm con. Nếu Đức Phật giúp cho con nhổ sạch gốc rễ ấy, thì con mới có thể nhận ra đạo vô thượng.”
Đức Phật bảo A-nan: “Các ông vẫn còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp ấy chỉ là sở duyên (hư vọng), chẳng phải là pháp tánh.” Giảng:
Đáp lời cầu thỉnh của A-nan để giải trừ mối nghi của ông, Đức Phật bảo: “Các ông vẫn còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp ấy chỉ là sở duyên (hư vọng), chẳng phải là pháp tánh.”
Các ông vẫn còn tâm phan duyên, thế nên khi các ông nghe pháp thì pháp ấy cũng sẽ thành pháp sở duyên. Nó trở thành pháp sinh diệt, chẳng phải là pháp tánh. Các ông chưa nhận ra được bản thể chân tánh của các pháp.”
Như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác xem, người kia phải nhờ ngón tay mới thấy được mặt trăng. Giảng:
“Như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác xem, người kia phải nhờ ngón tay mới thấy được mặt trăng. Như Lai sẽ cho ông một ví dụ. Tôi chỉ mặt trăng rồi hỏi ông: ‘ Đó là mặt trăng. Ông có thấy không?’ Việc ấy cốt là để cho ông nhìn thấy mặt trăng.”
Nếu lại nhìn ngón tay nhận là mặt trăng, thì người ấy không những quên mất mặt trăng mà còn mất luôn cả ngón tay. Vì sao? Vì cho ngón tay là mặt trăng sáng. Giảng:
“Nếu lại nhìn ngón tay nhận là mặt trăng, thì người ấy không những quên mất mặt trăng mà còn mất luôn cả ngón tay.
Nhưng ông không chịu nhìn mặt trăng mà Như Lai đã chỉ; ông lại nhìn vào ngón tay rồi nói: ‘A! Đó là mặt trăng. Mặt trăng là giống như vậy.’ Ông đã nhận ngón tay làm mặt trăng, thế nên ông bỏ quên mất mặt trăng. Ông đã bỏ quên mất rồi!”
Trong đoạn kinh văn trước đã có nói: “bỏ quên mất bản tâm”, ở đây có người nhìn ngón tay và nhận nó làm mặt trăng, thế nên không những họ không nhìn thấy mặt trăng, mà còn không nhận ra ngón tay của người kia.
Vì sao? Vì lầm cho ngón tay là mặt trăng sáng. Họ không nhận ra được cả mặt trăng lẫn ngón tay. Họ là ai? A-nan cũng như vậy. Mặt trăng là chân tâm. Ngón tay được ví như pháp được giảng nói, vì Đức Phật giảng pháp là để chỉ bày chân tâm. Thế nên khi ánh sáng chân tâm bị bỏ quên mất, thì ngay cả pháp cũng không lĩnh hội được. Thế nên Đức Phật bảo: “Các ông vẫn còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp ấy cũng là sở duyên” Quý vị xem một người như thế thì thật có đáng thương xót không? Tôi cho rằng những người như vậy rất đáng thương.
Không những quên mất ngón tay, mà còn không biết đến tối và sáng. Sao vậy? Vì cho ngón tay là tánh sáng của mặt trăng. Thế là không rõ được tánh sáng và tối. Các ông cũng như vậy. Giảng:
“Không những quên mất ngón tay, mà còn không biết đến tối và sáng.”
Họ không nhận ra được mặt trăng và ngón tay là gì, thế nên cả ngón tay và mặt trăng đều bị bỏ quên mất. Nhưng tuy vậy, không có gì bị mất cả. Nó vẫn còn đó. Chỉ vì họ không hiểu. Anh ta không hiểu hoặc nhận ra được cái sáng và cái tối. Nói cách khác, người nầy cơ bản là không hiểu được gì là giác ngộ và đâu là mê lầm; cái gì là vô minh và cái gì là chánh kiến.
“Sao vậy? Vì cho ngón tay là tánh sáng của mặt trăng.”
Anh ta nhận lầm cho thể dạng của ngón tay là tánh sáng tối của mặt trăng. Vậy có điên đảo không? Mọi người đều biết như vậy. Nhưng dù sao anh ta cũng muốn như thế.
“Thế là không rõ được tánh sáng và tối.” Ngay cả anh ta chưa hiểu được ý niệm sáng và tối. Thật là u mê, có phải vậy không? “Các ông cũng như vậy. A-nan, ông cũng giống như người nhận lầm ngón tay cho là mặt trăng và hòan toàn không hiểu được cái gì là sáng và tối. Ông nghe pháp với tâm phan duyên, và ông sợ rằng nếu ông nhận ra giáo lý về chân tâm thì ông sẽ không còn nghe pháp được nữa. Ông cho rằng chân tâm chỉ là ở trong giáo pháp, thế nên ông lầm cho ngón tay là mặt trăng. Ông không thể nào chỉ ra ánh sáng từ trong bóng tối, có nghĩa là ông chưa có được trí huệ chân chính. Hãy đi mà nghe pháp với tâm phan duyên cho nhiều nếu ông cần, nhưng càng nghe ông càng trở nên ngu muội hơn. Ông càng rong ruổi tìm cầu, càng xa chân tâm.”
Không ai biết được khi ấy A-nan cảm nhận như thế nào. Trước đó, khi A-nan lạc mất dấu tích tâm mình, ông ta bối rối không biết phải làm gì. A-nan nhấp nhổm trên chỗ ngồi. Nay Đức Phật bảo ông bỏ quên mất cả ngón tay lẫn mặt trăng, không biết A-nan suy nghĩ thế nào.
Đức Phật nói pháp là để chỉ bày chân tâm. Nhưng A-nan hiểu lầm rằng chân tâm chỉ là giáo pháp. Thế nên Đức Phật đã dùng thí dụ ngón tay và mặt trăng để chỉ bày điều nầy cho A-nan.
(Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q2)
+ Thấy nghe đều được lợi ích: Trích Phẩm thứ 12, “Thấy, Nghe Đều Được Lợi Ích.”
- Nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa. Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phụcv. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài. Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”
- Trẻ 10 tuổi trở xuống có Cha mẹ anh em chết sớm: Khi trưởng thành nghe, chiêm ngưỡng, đắp vẽ ... tượng Địa Tạng Bồ tát ... quyến thuộc được giải cứu các đường ác ....; Đọc vạn biến Danh hiệu Ngài => Bồ tát hiện thân/ Trong mơ chỉ dẫn ... Còn nhiều lợi ích nữa, (Nguồn: Lợi ích của Học - Nhìn - Nghe Kinh và Tượng Phật và Bồ Tát)
+ Nghe Kinh - Nghe Thuyết Pháp: .... Khi giảng Mười hai hạnh Ðầu-đà là việc tu hành của người xuất gia, có một số người tại gia nói: "Mười hai hạnh Ðầu-đà là để cho người xuất gia tu, chứ nói với người tại gia chúng tôi để làm gì?"
Câu nói này mới nghe dường như rất đúng, nhưng xét kỹ lại một chút thật là quá mê si! Tại sao biết được mình trước kia không phải là người tu hành, chưa từng tu hạnh Ðầu-đà? Có thể là các vị quên mất đấy, nên bây giờ tôi xin nhắc lại.
Làm sao mình biết đời sau mình không xuất gia? Hoặc là đời sau hạt giống Bồ-đề của mình được thành thục, công đức viên mãn, mình sẽ xuất gia? Nếu vào đời sau sẽ tu mười hai hạnh Ðầu-đà, thì sẽ cảm thấy rất quen thuộc, rất tương ưng, đó là do đời nay được nghe đến, cho nên đời sau mới rất thích thú mà tu hành. Ðó cũng là do quá khứ gieo trồng nhơn lành nên đời nay kết được quả lành vậy. Hoặc là đời nay gieo trồng nhơn lành này, đời sau kết được quả lành kia. Ai dám chắc mình mãi mãi là người tại gia? Ai dám chắc mình mãi mãi không là người xuất gia? Ai cũng không thể nói mình mãi mãi là phàm phu. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Hành Thổ:
Dương .... Âm
Hỏa và Khí
Nước và Đất
Các dấu hiệu số lẻ - Năng lượng dương: Tích cực, tự thể hiện
Các dấu hiệu số chẵn - Năng lượng âm: Thụ động, tiếp nhận
+ Hành Thổ: Dựa vào các giác quan và lí luận thực tiễn; Hiểu biết bẩm sinh về cách thức thế giới vật chất hoạt động; Kiên nhẫn, tự kỷ luật, tháo vát; Kiên trì, bền bỉ - Thực tế, truyền thống, thận trọng, đáng tin cậy; Có thể cứng nhắc, tuân thủ thói quen và cách tiếp cận tuyến tính với thế giới
+ Dấu hiệu hành thổ với Cung Hoàng Đạo: Kim Ngưu, Xử Nữ, và Ma Kết (Xem Dấu hiệu Hoàng Đạo (Hành - Tứ Đại)
+ Hành Thổ: Thực tế. Ổn định. Kiên nhẫn. Siêng năng. Ý chí mạnh mẽ. Đặt tầm quan trọng vào sự an ninh. Có thể ép bản thân để đạt được mục tiêu dài hạn. (Nguồn: Chiêm THNM 4)
+ Địa đại/ Đất: Hòa Thượng Tuyên Hóa dạy: “Giới như đất, đất nứt thì cây không sống.” Phá pháp duyên không thấy liền, nhưng quả trổ rất sâu; Tà kiến [Như Đất nứt] không dữ lúc đầu, nhưng khi nhận ra thì đã xa; Người tu chân thật chỉ sợ tâm mình không ngay, không sợ đường mình chậm;
👉 Ngài dạy: “Đạo không sợ chậm, chỉ sợ cong.” [Copi từ Zalo nhóm HT Tuyên Hóa]
+ Bình hòa - Hòa bình: Hòa Thượng Tuyên Hóa nói: Vì sao cần phân biệt “Hòa” và “Bình”? Phân tích dưới ánh sáng Trung đạo – Bát Nhã.
Đáp: (Hòa): Đối cảnh – Đối người, tức là thiên về quan hệ, đối đãi, giao tiếp tương tác với chúng sinh; (Bình): Đối tâm – Đối nội, tức thiên về nội tâm, định tĩnh, sự lặng yên, không dao động => “Không thể dùng hình thức bên ngoài để thay thế cho công phu nội tâm, cũng không thể dùng sự yên ổn cho riêng mình để trốn tránh chúng sinh.” => Phát sinh hai lệch lạc: “Bên ngoài hòa mà trong tâm không bình, đó không phải hòa bình. Trong tâm bình mà không hòa với người, đó cũng không phải Phật pháp.”
Hai lệch lạc phát sinh khi thiếu Trung đạo và Bát Nhã:
III. Hòa mà không bình - Biểu hiện và Bản chất là trạng thái:
• Bề ngoài giữ hòa khí
• Tránh xung đột
• Nhưng tâm còn ngã chấp, bất mãn, oán ẩn vi tế
Đây là hòa ở tướng, không phải hòa ở tâm.
• Bề ngoài hòa nhã, nói năng mềm mỏng
• Tránh xung đột trực tiếp
• Nhưng trong tâm còn đầy bất mãn, so đo, oán trách
Đây là hòa giả tạo, không xuất phát từ tâm thanh tịnh.
+ Trung đạo là:
• Không rơi vào hữu (chấp tướng hòa, Công phu tu hành trở thành tu nhẫn mà không có trí)
• Không rơi vào vô (Phiền não bị nén sâu → bộc phát khi gặp duyên)
3. Theo Bát Nhã, phiền não không phải để che giấu mà để quán chiếu. “Phiền não tức Bồ-đề, sinh tử tức Niết-bàn.”
• Không quán chiếu ngã chấp
• Chỉ đổi hình thức, không đổi gốc
Ngài dạy: “Nhẫn nhục mà trong tâm còn tức giận, đó là nhẫn của phàm phu, không phải nhẫn của Bát Nhã.”
IV. Bình mà không hòa - Biểu hiện:
• Tự giữ tâm không dao động
• Không tranh cãi, không nổi nóng
• Nhưng xa lánh con người, cắt đứt quan hệ
👉 Đây là bình an tự ngã, không có đại bi => Đây là người tu rơi vào không (vô) - Trốn duyên, tránh cảnh - Đây là lệch về tiểu thừa tự độ, thiếu tinh thần Bồ Tát đạo. Ngài dạy: “Tu mà chỉ lo cho mình, không lo cho người, đó là tu thiên lệch, không phải Phật đạo.” Theo bát nhã là "Không tách rời thế gian, không cô lập bản thân. Mà là: Ở trong duyên mà không bị duyên chuyển - Ở trong chúng sinh mà không mất tự tánh.
Đây là người "Có định nhưng thiếu tuệ bi => Rơi vào “tịch mà không chiếu”
V. Trung đạo – Bát Nhã: “Hòa mà Bình – Bình mà Hòa”? Ngài giảng: Trung đạo trong hành xử - Bát Nhã trong nội tâm, đặc điểm: Hòa với người mà không đánh mất định - Bình trong tâm mà không rời đại bi. Đây chính là: Trung đạo trong đối nhân xử thế và Bát Nhã trong quán chiếu nội tâm
VI. Kết luận về lệch: Hòa không Bình = Có hòa nhưng thiếu trí - Bình không Hòa = Có định nhưng thiếu bi => Trung đạo – Bát Nhã → Hòa mà không chấp hòa, bình mà không chấp bình. Tức là “Trong tâm không động, ngoài cảnh không nghịch - Đó mới là con đường Phật đi.”
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏~ Quả Vân [Copi lại từ Zalo]
+ Hòa bình - Bình hòa: Dưới đây là bản dịch và lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa:
Hòa bình là điều thế giới hôm nay đang vô cùng cần thiết.
Khi chư Tăng trong một cuộc Peace Walk (Hành Trình Vì Hòa Bình) gần đây đã đặt chân đến Columbia, những bước chân lặng lẽ của các Ngài đã nhẹ nhàng nhắc nhở chúng ta rằng thế giới này đang khao khát hòa bình biết bao. Tuy nhiên, vượt lên trên các sự kiện hay hình thức biểu hiện bên ngoài, hòa bình chân thật phải bắt đầu từ tâm.
Hòa Thượng Tuyên Hóa dạy rằng nền tảng chân thật của hòa bình không nằm ở bên ngoài, mà ở bên trong chính chúng ta.
Những lời dạy dưới đây của Ngài đưa chúng ta trở về với nguồn gốc đích thực của hòa bình — chính là tâm của mỗi người.
Muốn có hòa bình, trước hết phải bắt đầu từ nội tâm của chính mình.
Nếu trong lòng chúng ta đầy dẫy phiền não, tranh chấp, cãi vã — dù ít hay nhiều — thì nơi đó vốn không có hòa bình. Trong trường hợp ấy, mong cầu hòa bình cho thế giới chỉ là điều không có chỗ đứng, vì đã bỏ quên gốc rễ.
Ai ai cũng muốn hòa bình, nhưng nếu trong tâm mỗi người không có hòa bình, thì làm sao thế giới có thể hòa bình được?
Đó chẳng khác nào bỏ gốc mà chạy theo ngọn.
Có người trong lòng là “hòa mà không bình”.
Bề ngoài thì tỏ ra hòa thuận với người khác, nhưng bên trong lúc nào cũng cảm thấy bất mãn. Đó gọi là hòa mà không có bình an.
Lại có người là “bình mà không hòa”.
Họ nói: “Tôi chỉ lo cho bản thân tôi. Tôi không tranh đấu với ai, không nổi nóng, tự mình quản thúc mình là đủ.”
Nhưng rồi họ tự cô lập, cắt đứt quan hệ với người khác, không muốn giao tiếp, không thể hòa hợp với bất kỳ ai. Đó chính là bình an cho riêng mình nhưng không có hòa hợp với người.
Vì vậy, chúng ta phải vừa hòa vừa bình — đã hòa thì phải bình, đã bình thì phải hòa.
Nói tóm lại, bên ngoài phải có hòa bình, mà bên trong cũng phải có hòa bình; bên trong có hòa bình thì bên ngoài cũng sẽ có hòa bình. Trong ngoài phải là một, không hai.
HÒA BÌNH BẮT ĐẦU TỪ TÂM
Hòa bình là điều mà thế giới ngày nay đang vô cùng khát khao. Khi những bước chân lặng lẽ của chư Tăng trong các cuộc Hành Trình Vì Hòa Bình đi qua các thành phố, đó không chỉ là một sự kiện mang tính biểu tượng, mà là một lời nhắc nhở sâu xa: hòa bình chân thật không đến từ bên ngoài, mà phải khởi từ nội tâm.
Hòa Thượng Tuyên Hóa đã chỉ rõ cội nguồn của hòa bình bằng những lời dạy thẳng thắn và minh triết:
Ai cũng muốn hòa bình, nhưng nếu tâm không hòa bình, thì làm sao thế giới có thể hòa bình?
Hòa Thượng cũng chỉ ra hai trạng thái lệch lạc mà người tu rất dễ rơi vào:
• “和而不平” – Hòa mà không bình:
Bề ngoài hòa nhã với người, nhưng trong lòng luôn bất mãn, ẩn chứa xung đột.
• “平而不和” – Bình mà không hòa:
Tự giữ cho mình yên ổn, không tranh chấp, nhưng lại xa lánh con người, cắt đứt sự cảm thông và hòa hợp.
Cả hai đều chưa phải là con đường Trung đạo.
Vì vậy, Hòa Thượng dạy:
既要和又要平,既和且平,既平且和。
Phải vừa hòa vừa bình — trong ngoài như một.
Bên trong có hòa bình thì bên ngoài mới có hòa bình.
Bên ngoài có hòa bình phải dựa trên nội tâm hòa bình.
Trong và ngoài không hai, đó mới là hòa bình chân thật.
Nam Mô A Di Đà Phật 🙏~ Quả Vân [Copi lại từ Zalo]
+ Pháp ác phát sinh: Đấu tranh - Tranh giành - Tranh đoạt - Tánh bảo thủ. Pháp duyên sinh: Cái này có, cái kia có. Các dục chi phối
121. CHÁNH HẠNH
Người sống tại gia có tai hoạn lớn, có đấu tranh lớn, có oán ghét lớn, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì sẽ được quả báo lớn, được công đức lớn. Ví như người làm ruộng có tai hoạn lớn, có đấu tranh lớn, có oán ghét lớn, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì sẽ được quả báo lớn, được công đức lớn. Như vậy, này Ma-nạp, người sống tại gia cũng lại như thế.
Này Ma-nạp, người xuất gia học đạo ít có tai hoạn, ít có đấu tranh, ít có oán ghét, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì được quả báo lớn, được công đức lớn. Ví như người buôn bán, ít có tai hoạn, ít có đấu tranh, ít có oán ghét, nhưng lại thực hành chánh hạnh, thì sẽ được quả báo lớn, được công đức lớn. Như vậy, này Ma-nạp, người xuất gia học đạo lại cũng như thế. (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 12, số 152)
229. DỤC LÀM CHƯỚNG NGẠI SỰ TU HỌC
Đa văn Thánh đệ tử nên quán như vầy, ‘Thế Tôn nói rằng dục là vô thường, hư ngụy, giả dối, huyễn hóa, khi cuống, ngu si. Dù là dục của đời này hay dục của đời sau, dù là sắc của đời này hay sắc của đời sau, tất cả đều là cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Nhân những thứ ấy, tâm mới sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân nhuế và đấu tranh, làm chướng ngại sự tu học của Thánh đệ tử’. (Trung A Hàm, Kinh Tịnh Bất Động Đạo, Phẩm 7, số 75)
316. KHÔNG CHẤP THỦ
A-nan, nếu không có bảo thủ, tất cả đều không có bảo thủ, thì giả sử tách rời bảo thủ sẽ có dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện chăng?
A-Nan đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Thế Tôn nói: A-nan, cho nên biết rằng dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện thì nhân của chúng, tập khởi của chúng, bản của chúng và duyên của chúng chính là bảo thủ vậy. Vì sao? Vì duyên bảo thủ nên có dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy là trọn đủ toàn khối khổ đau to lớn. (Trung A Hàm, Kinh Đại Nhân, Phẩm 9, số 97)
320. KHÔNG CÓ NIỆM
Nếu không có tư thì không có niệm. Nếu không có niệm thì không có dục. Nếu không có dục thì không có yêu và không yêu. Nếu không có yêu và không yêu thì không có bỏn sẻn và ganh tị. Nếu không có bỏn sẻn và ganh tị thì không có dao gậy, đấu tranh, thì nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói hai lưỡi, trong tâm không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy, toàn khối lớn đau khổ này tiêu diệt. (Trung A Hàm, Kinh Thích Vấn, Phẩm 11, số 134)
778. VÌ ÁI NÊN MUỐN SỞ HỮU
Thế Tôn nói: Duyên ái có thủ. Đây nói là duyên ái có thủ; nên biết, điều được nói là duyên ái có thủ. A-nan, nếu không có ái, mỗi loài và mỗi loài đều không có ái, thì giả sử tách rời ái, sẽ có thủ chăng? Thiết lập có thủ chăng?
A-nan đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Thế tôn nói: Cho nên biết rằng nhân của thủ, tập khởi của thủ, bản của thủ, duyên của thủ, gọi đó là ái. Vì sao? Vì duyên ái nên có thủ.
A-nan, đó là duyên ái có cầu, duyên cầu có lợi, duyên lợi có phân, duyên phân có nhiễm dục, duyên nhiễm dục có trước, duyên trước có keo kiệt, duyên keo kiệt có bủn xỉn, duyên bủn xỉn có bảo thủ.
A-nan, vì duyên bảo thủ nên có dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy là trọn đủ toàn khối khổ đau to lớn. (Trung A Hàm, Kinh Đại Nhân, Phẩm 9, số 97)
790. VÔ LƯỢNG PHÁP ÁC PHÁT SANH
Do niệm có dục, do dục có yêu và không yêu. Do yêu và không yêu có bỏn sẻn và ganh tị. Do bỏn sẻn và ganh tị mà sanh ra dao, gậy, đấu tranh, thù nghịch, dua nịnh, dối trá, nói láo, nói hai lưỡi, trong tâm sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy, toàn khối lớn khổ đau này phát sanh. (Trung A Hàm, Kinh Thích Vấn, Phẩm 11, số 134)
+ 202. DO BỦN XỈN MÀ CÓ CHẤP THỦ
- Bảo Thủ - Keo kiệt: Nhân của bảo thủ, tập khởi của bảo thủ, bản của bảo thủ, duyên của bảo thủ, gọi đó là keo kiệt vậy. Vì sao? Vì duyên keo kiệt nên có bảo thủ.
204. DO ĐẮM TRƯỚC MÀ CÓ BỎN XẺN
Nhân của bỏn sẻn, tập khởi của bỏn sẻn, bản nguyên của bỏn sẻn, duyên của bỏn sẻn, gọi đó là đắm trước. Vì sao? Vì duyên đắm trước nên có bỏn sẻn.
205. DO DỤC MÀ BỊ THOÁI CHUYỂN
Dục tuyệt đối không có lạc, chỉ có vô lượng khổ hoạn. Đa văn Thánh đệ tử nếu không biết đúng như thật, vị ấy bị dục phủ kín, không đạt được an lạc do xả và vô thượng tịch tĩnh. Ma-ha-nam, Đa văn Thánh đệ tử như vậy sẽ nhân nơi dục mà bị thoái chuyển. (Trung A Hàm, Kinh Khổ Ấm, Phẩm 9, số 100)
206. DO DỤC MÀ CÓ ĐẮM TRƯỚC
Nhân của đắm trước, tập khởi của đắm trước, bản của đắm trước, duyên của đắm trước, gọi đó là dục. Vì sao? Vì duyên dục nên có đắm trước. (Trung A Hàm, Kinh Đại Nhân, Phẩm 9, số 97)
207. DO KHÔNG CHẤP THỦ NÊN KHÔNG SỢ HÃI
Những gì thuộc về sáu kiến xứ ấy mà thấy không phải là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của chúng, cũng không phải là thần ngã, và do không kiến chấp như vậy, nên không chấp thủ thế gian này.
Do không chấp thủ thế gian này nên không có sợ hãi. Do không sợ hãi mà chứng đắc Niết-bàn, biết như thật rằng, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa. (Trung A Hàm, Kinh A-lê-tra, Phẩm 16, số 200)
354. KHÔNG THỦ, KHÔNG SỢ HÃI
Nếu Tỳ-kheo nào ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc khát, thì vị ấy không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú vào sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là sở hữu của ta’. Vị ấy đã không muốn được sắc, không truy cầu sắc, không đắm trước sắc, không trú vào sắc nghĩ rằng ‘Sắc không phải là ta. Sắc không phải là sở hữu của ta’ thì thức không nắm bắt sắc. Khi thức đã không nắm bắt sắc, lúc ấy sắc biến dịch, thức không bị chuyển theo sắc. Thức đã không bị chuyển theo sắc thì vị ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú vào trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ hãi.
Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức; Tỳ-kheo ly thức nhiễm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức khát. Nếu Tỳ-kheo nào ly thức nhiễm, ly thức dục, ly thức ái, ly thức khát thì vị ấy không muốn đắc thức, không truy cầu thức, không đắm trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức không phải là ta. Thức không phải là sở hữu của ta’. Tỳ-kheo ấy khi đã không muốn được thức, không truy cầu thức, không đám trước thức, không trú vào thức, nghĩ rằng ‘Thức không phải là ta. Thức không phải là của ta’, thì thức không nắm bắt thức. Khi thức đã không nắm bắt thức, lúc thức kia biến dịch, thức không bị chuyển theo thức. Khi thức không bị chuyển theo thức, Tỳ-kheo ấy không sanh sợ hãi, tâm không trú vào trong đó. Nhơn vì tâm biết nên không khiếp sợ, không lao nhọc, không chấp thọ, không sợ hãi.
Như vậy gọi là Tỳ-kheo không chấp thủ, không sợ hãi. (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Quán Pháp, Phẩm 13, số 164)
208. ĐỐ KỴ
Thế nào là Đa văn Thánh đệ tử y trên không đố kỵ thù nghịch mà đoạn trừ đố kỵ thù nghịch? Đa văn Thánh đệ tử tư duy như vầy, ‘Ai đố kỵ thù nghịch tất phải thọ ác báo đời này và đời sau. Nếu ta đố kỵ thù nghịch ấy là tự hại và cũng xuyên tạc hủy báng người khác. Chư Thiên và các vị phạm hạnh có trí sẽ chê bai học giới của ta, các phương đều nghe đồn tiếng xấu của ta. Khi thân hoại mạng chung tất phải đi đến ác xứ, sanh trong địa ngục. Ai đố kỵ thù nghịch tất phải thọ ác báo này đời này và đời sau như vậy, nay ta có nên y cứ trên không đố kỵ thù nghịch mà đoạn trừ đố kỵ thù nghịch chăng?’ Rồi vị ấy y cứ trên không đố kỵ thù nghịch mà đoạn trừ đố kỵ thù nghịch. Như vậy, Đa văn Thánh đệ tử y cứ trên không đố kỵ thù nghịch mà đoạn trừ đố kỵ thù nghịch. (Trung A Hàm, Kinh Bô-lị-đa, Phẩm 17, số 203)
+ Quả báo Tâm đố kị nặng lề phải đọa đọa địa ngục, sau sanh làm Ngạ Quỷ thối hôi hám, dơ bẩn, sống nơi hầm phân nước tiểu, chịu đói khát quá thì ăn phân, nước tiểu nên càng hôi thối nhưng không thấy mình hôi thối, ví như hàng cá tanh hôi ám mùi nhưng do quen lên không thấy. Khi tái sanh còn dư nghiệp nên vẫn có mùi hôi (HT Tuyên Hóa giảng Chú Lăng Nghiêm)
213. ĐOAN CHÁNH
Do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có thân hình đoan chánh? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào tánh không nóng nảy, không hay bực dọc, người ấy nghe lời nói êm ái hay thô bỉ cục cằn không nổi cơn giận dữ, không ganh ghét sanh ra buồn rầu, không nổi thịnh nộ tranh chấp.
Người ấy thọ nghiệp, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi trời. Mãn kiếp ở cõi trời lại sanh vào nhân gian, hình thể đoan chánh. (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 13, số 170)
324. KHÔNG ĐOAN CHÁNH
Do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có thân hình không đoan chánh? Nếu có kẻ nam hay người nữ mà tánh nóng nảy, hay bực dọc, vừa nghe chút ít đã nổi cơn giận dữ, nổi ganh ghét mà sanh lo buồn, nổi thịnh nộ tranh chấp. Người ấy thọ lấy nghiệp này, tạo tác đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp địa ngục, lại sanh vào nhân gian, hình thể không đoan chánh. (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 13, số 170)
+ Ðức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Ðạo được cả!". Người đời Tham ái/ Tham yêu Thất tình, ngũ dục (Mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham dục và Tài, sắc, danh, thực, thùy) nên phải trôi năn ba cõi sáu đường... (Nguồn: HT Tuyên Hóa Khai thị về Ái dục rất hay)
+ II- Sự tham ái. Đồng nghĩa với ái trước, ái nhiễm, ái chấp - Ái chấp là hưởng thụ tình ái. Tính dục - Bản năng của con người chỉ đứng sau thực dục.
- (I) Nghĩa của Ái Dục: Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình
- (II) Những lời Phật dạy về “Ái Dục” trong Kinh Pháp Cú:
6) Những người có đủ 36 dòng ái dục, họ mạnh mẽ dong ruổi theo dục cảnh chẳng chút ngại ngùng, bởi vậy người đã có tâm tà kiến, hằng bị những tư tưởng ái dục làm trôi dạt hoài
- Khát ái. Thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, và là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. Ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức và do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi.
(Pháp Cú 251)
Lửa nào có thể sánh ngang
Lửa tham dục nọ dữ dằn vô biên,
Không còn cố chấp nào bền
Bằng tâm sân hận nổi lên cấp kỳ,
Lưới nào trói buộc dầm dề
So ra với lưới ngu si buộc ràng,
Sông nào chìm đắm cho bằng
Dòng sông ái dục cuốn phăng bao người. (Nguồn: Phật dậy về Tam độc Tham Sân Si)
+ Tham ái: Tham đắm yêu thích Ngũ dục nên không thể ra khỏi sinh tử luân hồi. Tham và ái (yêu) là cùng thể khác tên. Tham là sự ham muốn, mong cầu những tài vật nhiễm ô mà không biết nhàm chán. Ái là yêu thích đắm đuối, là 1 trong 12 nhân duyên, hoặc là 1 trong 9 kết. Theo kinh Thắng Thiên Vương bát nhã quyển 1 thì sở dĩ chúng sinh bị trôi lăn trong 6 đường luân hồi mãi mãi không dứt là đều do Tham ái. Luận Đại tì bà sa quyển 50 cho rằng Ái kết là Tham trong 3 cõi; trong 9 kết, Tham trong 3 cõi được lập chung làm Ái kết, trong 7 Tùy miên lập làm 2 Tùy miên: 1. Tham ở cõi Dục gọi là Dục tham tùy miên. 2. Tham ở cõi sắc, cõi Vô sắc gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh luận khác thì có lập Tam ái: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. (xt. Tham, Ái).
Passion—Desire—Cupidity - Tham ái, tham dục đòi hỏi những sự ham muốn về vật chất như thèm ăn, thèm ngủ, thèm ân ái,......., là những khoái lạc về ngũ quan. Con người còn ham muốn để được thỏa mãn những nhu cầu về tinh thần như ham chiếm đoạt, ham phô trương, ham quyền lực, ham lợi lộc. Lòng ham muốn đắm mê không bao giờ biết ngừng, không bao giờ được thỏa mãn cả, như chiếc thùng không đáy. Để thỏa mãn dục vọng mà con người sanh ra vị kỷ, độc ác, làm hại, làm khổ người khác để mình được vui, được sung sướng. Vì lòng tham mà chúng ta không ngại xử dụng mọi thủ đoạn để đạt cho được mục đích, bất kể chuyện gì xãy đến cho người khác. Phật tử chúng ta nên thấy rõ vì không tu nên cõi đời trở thành một đấu trường mà nước mắt đổ như mưa rào, bể khổ dâng lên như nước thủy triều biển khơi. (Nguồn: Tham ái - Thuvienhoasen)
+ 5. Loại ái dục: Trích Phật dậy toàn diện về Ái Dục.... Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về tập của ái, diệt của ái và diệt đạo của ái.
Biết như thật về ái? Có ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
Biết như thật về tập của ái? Do thọ mà có ái.
Biết như thật về diệt của ái? Thọ diệt tức ái diệt.
Biết như thật về diệt đạo của ái? Tám chi Thánh đạo từ chánh kiến cho đến chánh định là tám.
Đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh và thể nhập chánh pháp.
Yêu và không yêu là nhân nơi dục và duyên nơi dục mà phát sanh, do dục mà có. Nếu vô dục thì không có yêu và không yêu vậy. Kinh nhiều nội dung giành cho người trí tu. (Nguồn: mục 453- Phật dậy Toàn diện về Ái Dục - Trung A Hàm)
Xem thêm: HT Tuyên Hóa khai thị về Ái Dục
Xem tổng hợp về Ái dục_Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay
+ Phong thủy tại Tâm - Do Tâm tạo:
... Văn-thù Sư-lợi Pháp vương tử...Văn-thù-sư-lợi còn gọi là Mạn-thù-sư-lợi.... Vị Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi này khi sanh ra có mười việc cát tường, chứng tỏ rằng công đức của vị Bồ-tát này đầy đủ bậc nhất trên thế giới. Mười thứ cát tường ấy là:
1. Ánh sáng đầy nhà: Khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi được sanh ra thì ở trong nhà có một thứ ánh sáng,... biểu thị ánh sáng trí huệ Bát-nhã của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi,...
2. Cam lộ đầy sân: Cam lộ là loại nước thuốc bất tử, chỉ trên trời mới có. ....
3. Ðất trồi lên bảy báu: Từ đất sanh ra bảy thứ châu báu: Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.... Tại sao gọi là thất bảo? Tại vì hiếm có, không phải ai ai cũng có được, cho nên gọi là bảy báu vật....
4. Thần mở kho tàng ẩn giấu: Chuyển Luân Thánh vương có bảy báu, trong đó có một thứ là Tạng thần bảo, chính là vị thần cai quản kho báu. Bảy báu từ dưới đất lộ ra là bảy báu từ dưới đất trồi lên, kho báu này là của người trước chôn giấu, bây giờ vị thần giữ cửa kho khui mở ra, nên từ dưới đất lộ ra. Báu vật này cũng đều có thể dùng được.
5. Gà sanh trứng phụng: Gà vốn sanh ra gà, nhưng hiện tại, gà lại sanh ra phụng hoàng. Phụng hoàng là một thứ chim cát tường, người thấy được phụng hoàng nhất định sẽ gặp chuyện tốt lành. Ðức Khổng Tử từng nói: "Chim Phụng không đến, hà đồ không hiện ra, ta không còn muốn truyền đạo nữa." Ý ngài nói: "Chim Phụng hoàng cũng không đến, cũng không có Hà đồ lạc thư xuất hiện, ta muốn dừng lại không còn tuyên dương đạo đức nữa.
6. Heo sanh con vảy rồng: Gà sanh ra phụng còn chưa lạ lùng bằng heo sanh ra con có vảy rồng. Xưa nay, rồng sanh ra rồng, nhưng bây giờ heo sanh ra rồng, vì heo con trên mình có vảy, cho nên gọi là rồng.
7. Ngựa sanh kỳ lân: Xưa nay ngựa sanh ra ngựa, bây giờ ngựa lại sanh ra kỳ lân. Kỳ lân là một loại thú báo hiệu điềm tốt, ở Trung Hoa vào thời Ðường Nghiêu, kỳ lân, phụng hoàng rất nhiều, ai cũng có thể thấy được....
8. Trâu sanh bạch trạch: Trâu sanh ra một loại thú màu trắng. Bạch trạch là một loại thú ít có, đã không giống trâu, ngựa, lại không giống lừa, ấy gọi là Tứ bất tượng, là con thú hình dáng ngựa mà lại có móng trâu, sừng trâu, đó cũng là một loại thú hiện điềm lành.
9. Lúa biến thành vàng: Lúa, xưa nay có thể làm gạo, bây giờ biến thành vàng thì làm sao ăn được? Có người nói: "Có thể đem nó bán đi rồi mua rất nhiều gạo về." Ðó thật là một người thông minh. Người ấy lại hỏi: "Ai có tâm tham?". Tôi nói: "Tôi cũng có tâm tham, tham muốn mọi người mau thành Phật."
10. Voi đủ sáu ngà: Xưa nay voi chỉ có hai ngà, nhưng khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi sanh ra thì voi của nhà ngài mọc đủ sáu ngà.
Trên đây là mười việc cát tường như ý xuất hiện khi Bồ-tát Văn-thù sanh ra, đại biểu cho mười độ Ba-la-mật của hàng Thập địa Bồ-tát Ðại trí Văn-thù-sư-lợi, không giống với các vị Bô-tát khác. Nếu mình muốn quen biết với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, muốn thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, thì trước tiên phải nhớ mười việc cát tường này. Tuy Bồ-tát không có tâm phân biệt, nhưng nếu mình biết được nhiều điểm của ngài thì mới gần được ngài thêm. Tại sao chúng ta phải biết càng nhiều càng tốt về cảnh giới của mỗi vị Bồ-tát? Vì có như thế mỗi vị Bồ-tát đều có thể làm thiện tri thức hoặc anh em bè bạn của chúng ta được. Trong tương lai, mỗi người chúng ta đều có thể là thiện tri thức của Bồ-tát, cho nên không nên tự mình coi thường mình.(Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Phong thủy tốt: Thế gian có một số người nói: “Phong thuỷ trong thiên hạ đều bị nhà Phật chiếm hết rồi”. ... Cái vấn đề này đưa ra rất hay, cần nên nêu ra.
Tôi nói với họ: Đức Phật dạy chúng tôi không được phép xem phong thủy. Ở trong Kinh A Nan hỏi Phật việc tốt xấu, Phật đã nói ra rồi xem tướng, chấm tử vi, đoán quẻ, xem phong thủy đều là điều mà Phật cấm kị. Người xuất gia tuyệt đối không xem phong thủy. Tại sao người xuất gia chọn cái địa điểm này lại tốt như vậy? Vừa mới nói rồi! Tu hành, tu Giới - Định - Tuệ tam học, thì Chánh báo chuyển Y báo, Y báo tăng thêm Chánh báo, thúc đẩy lẫn nhau. Cho nên địa điểm này sẽ càng ngày càng đẹp, là cái đạo lý như vậy. .... (Nguồn: Phong thủy tốt nhất đời người là Tâm thiện lương_PS Tịnh Không)
+ Chư Hiền, thế nào là những đức tánh khiến người ấy trở thành dễ nói?
(1) Chư Hiền, Tỷ-kheo không có ác dục, không bị ác dục chi phối, như vậy là một đức tánh khiến trở thành dễ nói.
(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khen mình chê người;
(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối;
(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ làm nhân trở thành người hiềm hận;
(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp;
(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không phẫn nộ, không vì phẫn nộ thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ;
(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không trở lại chống đối vị đã buộc tội mình;
(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chỉ trích vị đã khiển trách mình;
(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình;
(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, không tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình.
(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội, giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội.
(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không hư ngụy và não hại.
(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không tật đố và xan tham.
(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không khi cuống và lường gạt.
(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo không ngoan mê và quá mạn
(16) Lại nữa, hư Hiền, Tỷ-kheo không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả, như vậy là một đức tánh trở thành dễ nói.
Chư Hiền, như vậy được gọi là những đức tánh khiến trở thành dễ nói. (Nguồn: 15. Kinh Tư Lượng)
+ Không lên chỉ rõ ai cần làm gì với việc cụ thể: Ví dụ tuyệt vời về Cách trả lời khi tư vấn những vẫn đề cụ thể của mỗi người của Đức Đại lai Lạt Ma
HỎI: Tôi sắp xong đại học cộng đồng (college) và tôi mong đời sống của tôi là một sự phục vụ và đáng giá. Cùng lúc, nhiều cơ hội ở những sự nhũng lạm không cùng chia sẻ đạo đức và giá trị của tôi. Trong khi tôi nghĩ sẽ là tuyệt vời để làm việc cho một tổ chức bất vụ lợi hay phục vụ người khác, cần thiết trong việc này là tôi phải làm ra tiền để trả tiền nhà và tiền nợ sinh viên của tôi. Ngài có chỉ bảo gì?
ĐÁP: Tôi phải trì tụng lời Phật dạy như câu trả lời – bạn là người chủ của cuộc đời bạn. Tôi nghĩ bạn nên phán xét với một nhận thức rộng rãi hơn, dự tính lâu dài, và trung thực. Nếu tôi cố vấn cho bạn điều gì đó và bạn gặp phải rắc rối sau đó, rồi thì bạn sẽ đổ thừa cho tôi. (Nguồn: Đại Lai Lạt Ma Giải Đáp về việc đề Đấu tranh với cái xấu)
+ Loại người không Thể Khuyên can.
Kinh chép: "Nói Pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ thì không thể khuyên can. Ðức Phật dạy - Có 10 trường hợp:
1. Một là tham lam che mất lương tri;
2. Hai là tham đắm sắc đẹp;
3. Ba là [Kinh in thiếu đoạn nầy] ;
4. Bốn là kẻ ngang tàn bạo ngược;
5. Năm là kẻ nhút nhát;
6. Sáu là kẻ khờ khạo lừ đừ;
7. Bảy là kẻ kiêu ngạo buông lung;
8. Tám là người ưa đấu tranh;
9. Chín là người chấp tập tục si mê;
10. Mười là kẻ tiểu nhân.
Ấy là mười trường hợp ta không thể khuyên can. Kinh chép: "Nói Pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ thì không thể khuyên can." (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Những tánh khiến người ấy trở thành khó nói/ Khó góp ý/ Khó tư vấn, chỉ bảo?
(1) Chư Hiền, ở đây, vị Tỷ-kheo có ác dục bị ác dục chi phối;
(2) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo khen mình chê người, như vậy là một tánh khiến trở thành khó nói.
(3) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, bị phẫn nộ chi phối;
(4) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận;
(5) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, vì phẫn nộ làm nhân trở thành cố chấp;
(6) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phẫn nộ, thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ;
(7) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chống đối vị đã buộc tội mình;
(8) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chỉ trích vị đã buộc tội mình;
(9) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình;
(10) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn của mình;
(11) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo bị buộc tội không giải thích thỏa mãn hành động của mình cho vị buộc tội;
(12) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo hư ngụy và não hại;
(13) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo tật đố và xan tham;
(14) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo lừa đảo và lường gạt;
(15) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo ngoan mê và quá mạn;
(16) Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả;
Chư Hiền, như vậy được gọi là những tánh khiến trở thành khó nói. (Nguồn: 15. Kinh Tư Lượng)
Khuyên bảo lẫn nhau để dứt trừ lỗi, đó là nói có sự giúp đỡ qua lại với nhau. Trong Phật pháp, thực sự rõ biết rằng nhân quả [báo ứng] tương quan trong cả ba đời: [quá khứ, hiện tại và tương lai], cho nên việc khuyên bảo sửa lỗi là quan trọng thiết yếu hơn hết.
Chỉ khuyên can không quá 3 lần: Tập khí xấu ác rất nặng nề, trong sách Luận ngữ có nói đến. Sách Luận ngữ là do Khổng tử nói ra. “Bạn bè [khuyên can] quá nhiều lần thì thành ra xa cách.” Cho nên, hiện nay so [với thời trước] khó khăn hơn rất nhiều. Khuyên bảo sửa lỗi không được quá ba lần. [Khuyên can] ba lần trở lên thì đã thành kẻ ác rồi, tình bạn bè thành ra xa cách. Không chỉ là xa cách, mà còn kết thành oán thù. Do đó có thể biết rằng, việc khó nhất trong đời này là [hiểu được] lòng người. Đó gọi là: “Thành tựu công việc đã khó, làm người còn khó hơn.”
=> Người thực sự thấu tình đạt lý, Nho gia gọi là người quân tử, là người thực sự thông hiểu ý nghĩa [thích hợp] lòng người. Thấu tình đạt lý đến mức rốt ráo thì đó là bậc thánh nhân, trong Phật pháp chúng ta tôn xưng là Phật, Bồ Tát. Chúng ta ngày nay tội lỗi đầy mình, khởi tâm động niệm, nói năng hành động đều là bất thiện, chư Phật, Bồ Tát vì sao không đến khuyên bảo sửa lỗi cho ta? Vì sao không thể đến dạy dỗ chúng ta?
Chúng ta tự mình suy ngẫm xem, chư Phật, Bồ Tát đến dạy dỗ, liệu chúng ta có tiếp nhận hay không? Không thể tiếp nhận. [Khuyên bảo] quá ba lần liền thấy phiền toái, ghét giận, rồi cũng sẽ xem chư Phật, Bồ Tát là kẻ oan gia thù nghịch. Cho nên chư Phật, Bồ Tát vì lòng từ bi mà không đến với chúng ta. Các ngài không đến là từ bi, là bảo vệ mối quan hệ tốt, không để quan hệ tốt hiện nay với quý vị phải hóa thành xa cách. Đợi khi nào quý vị thực sự giác ngộ, thực sự muốn quay đầu, ở trong sáu đường đã chịu đựng đủ mọi khổ não, bừng lên được một ý niệm giác ngộ, một niệm quay đầu hướng thượng, khi ấy [chư Phật, Bồ Tát] sẽ đến [giúp quý vị] như những người bạn tốt. Phương thức của chư Phật, Bồ Tát là như vậy, rất đáng cho chúng ta tham khảo.
[Nếu người ta] không chịu nghe lời khuyên thẳng thắn, không chịu nghe lời hiền thiện, thì hãy tạm thời rời xa. Nhất định phải đợi khi họ muốn quay đầu hướng thiện mới quay lại tiếp cận. Như thế là ý nghĩa cảm ứng giao hòa trong đạo hết sức lớn lao. (Trích lục từ: Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Giảng Giải, Việt dịch: Nguyễn Minh Tiến. Giảng ngày 20 tháng 9 năm 1999 tại Tịnh Tông Học Hội Singapore, file thứ 101, số hồ sơ: 19-012-0101)
+ Sự khó tu: Dịch Nghĩa: Đức Phật dạy: "Người ta có 20 sự khó: 1) Bần cùng mà bố thí là khó; 2) Hào quý mà học Đạo là khó; 3) Bỏ thân mạng ắt chết là khó; 4) Được thấy kinh Phật là khó; 5) Sanh gặp đời có Phật là khó; 6) Nhịn sắc, nhịn dục là khó (Tình nam nữ); 7) Thấy tốt mà chẳng mong cầu là khó; 8) Bị sỉ nhục mà chẳng tức giận là khó; 9) Có thế lực mà không lạm dụng là khó; 10) Gặp việc mà vô tâm là khó; 11) Học rộng, nghiên cứu nhiều là khó; 12) Dẹp trừ tánh ngã mạn là khó; 13) Chẳng khinh người chưa học là khó; 14) Thực hành tâm bình đẳng là khó; 15) Chẳng nói thị phi là khó; 16) Gặp được Thiện-tri-thức là khó; 17) Học Đạo, thấy được tánh là khó; 18) Tùy duyên hóa độ người là khó; 19) Thấy cảnh mà không động là khó; 20) Khéo biết phương tiện là khó."
Giảng giải:
Điều 6 - Nhịn sắc dục: Ở đây, sắc dục tức là thứ tình cảm và dục vọng giữa nam nữ. Không dễ gì mà kiềm chế được lòng sắc dục, bởi vì thông thường, người đời đều cho rằng nam nữ kết hôn là lẽ tự nhiên. Nhịn được sắc, nhịn được dục, gặp cảnh giới mà không bị động tâm, có được sức nhẫn nhịn - đó là những việc rất khó khăn. Quý vị có thể kiềm chế một vài lần, nhưng rồi quý vị không thể kiềm chế nổi nữa và trở nên điên đảo. Vì thế, nhịn được sắc dục, bỏ được lòng ham muốn, không phải là dễ.
Điều 13 - Chẳng khinh: Trong giáo pháp của Phật có nêu ra bốn điều không được khinh xuất, coi thường. Đức Phật vẫn thường nhắc đến những điều này; vậy đó là những điều gì? Đó là:
a) Lửa dù nhỏ, chớ coi thường. Đối với đốm lửa nhỏ, quý vị không được coi thường, không được lơ đễnh. Tuy rằng chỉ là một đốm lửa nhỏ, quý vị cũng phải hết sức cẩn thận; bởi vì hễ quý vị sơ ý, tất cả mọi thứ đều có thể bị thiêu hủy bất cứ lúc nào!
b) Rồng dù nhỏ, chớ coi thường. Cho dù rồng rất nhỏ, quý vị cũng không được coi thường, bởi rồng có phép thần thông biến hóa, có khả năng biến nhỏ biến lớn.
c) Con vua dù nhỏ, chớ coi thường. Vương tử là con vua, là Thái-tử của Quốc-vương. Mặc dù vị vương-tử còn nhỏ tuổi, quý vị cũng không được coi thường, bởi trong tương lai, vương-tử sẽ được kế vị làm Hoàng-đế.
d) Sa-môn dù nhỏ, chớ coi thường. Mặc dù vị Sa-môn còn nhỏ tuổi, quý vị cũng không được coi thường, bởi vì tương lai vị Sa-môn ấy sẽ thành Phật. (Nguồn: Kinh 42 chương-HT T.Hóa)
+ Khí chất cường vượng - Sao Kình dương: Trong pháp môn dự đoán mệnh theo Tứ trụ, người nào có địa chi ở Tứ chính hoặc tam hợp, tam hội là có khí chất cường vượng hội tụ => Đây là Tập khí nghiệp tiền kiếp, nghiệp quả này biểu lộ ở lĩnh vực nào đó - Căn cứ vào khí ngũ hành và mười thần đại diện trong lá số để biết. Được hiểu là tập khí này Tiền kiếp đã kết tập thành thói quen rất lớn, ứng câu Thánh hiền nói "Thói quen lập đi lập lại tạo thành Số phận". Theo đó, họ xem như chỉ họ mới đúng, do đó mà trong mọi việc họ thường rất cứng nhắc, rất cố chấp, rất khó tiếp thu lời khuyên giải ... chỉ trừ khi chính họ trải qua đau khổ, họ nhận ra sự sai lầm và tự tu sửa mình [Mr Hương - Nhà nghiên cứu Chiêm mệnh gia]
+ Thần Cây: Là Quỷ Thần sống ẩn trong thân cây và trên cây, khi cần chặt Cây cần cúng thí thông báo trước 3 ngày để họ dọn nhà đi chỗ khác rồi chặt. (Nguồn: Thần Cây - Quỷ Thần Gá Sống Ở Cây)
+ Cần chặt cây - Thần cây tu vãng sanh: ... Tháng 3 năm nay tôi ở úc Châu Âu, trong bãi đậu xe của đạo tràng có một cây to, có lẽ cũng đã trồng mấy chục năm rồi, Cây Tỳ Bà. Thần của cây thác mộng cho học trò của chúng tôi, báo họ vãng sanh rồi, đến cảm ơn tôi. Đạo tràng của chúng tôi xây dựng ở đó đã mười năm, thần cây đã nghe kinh mười năm, niệm Phật mười năm, thần vãng sanh rồi. Đây không phải là giả, vì thần cây thác mộng cho chúng tôi tất cả ba lần, đây là lần thứ ba, thần cây Tỳ Bà vãng sanh. Lần thứ nhất là mấy năm trước, chúng tôi mua nhà số 61 làm chỗ ở, do Hồ cư sĩ mua, nhà quá rách nát, chúng tôi muốn phá đi xây lại. Nhà ở Châu Âu đều xây kiểu nhà sàn, phía dưới là mấy cây cột, vì thế cột phía dưới cưa rồi, thì có thể đem cả toà nhà di dời đi nơi khác. Chúng tôi liền tặng cho thổ dân, đem nhà đó tặng cho họ, họ dùng một chiếc xe to kéo đi, chúng tôi xây dựng lại trên nền móng này. Vì xây lại nên cây trước cổng phải chặt đi, nếu không xe không thể vào được, trước cổng phải chặt 4 cây. Chúng tôi theo thông lệ, trước đó ba ngày đọc kinh, đọc chú, cúng dường, mời cây dời nhà. Kết quả là thần cây thác mộng cho các pháp sư hàng chữ Ngộ, báo cho chúng tôi, là thông báo quá muộn, họ dọn nhà rất vất vả, vội vội vàng vàng, hy vọng về sau nếu có việc này, thì thông báo cho trước 7 ngày. Trong kinh Phật nói cho chúng ta biết là ba ngày, chúng tôi theo ba ngày, họ yêu cầu 7 ngày. Nghĩ cũng đúng thôi, người Châu Âu làm việc gì cũng từ từ, vì vậy những quỷ thần của Châu Âu họ cũng rất chậm. Chúng tôi sau này nếu mua những nhà kiểu này, nếu phải phải chặt cây đều phải có thông báo trước 7 ngày. Đây là chuyện có thật, không phải là giả, đúng là ngạn ngữ thường nói trong gầm trời này, không chuyện gì không có. Giới quỷ thần, giới u minh, tương thông với cõi người, chúng ta làm việc bất thiện, đi đến đó, họ hành thiện sẽ trở lại, rồi lại đến trần gian, hoặc là lên trời, cũng có số ít vãng sanh tịnh độ, thần cây Tỳ Bà của chúng tôi vãng sanh tịnh độ, chính là một ví dụ tốt nhất.(Nguồn: Thiện ác biến hóa - HT Tịnh Không giảng)
+ Quỷ Thần sợ cây nào: Trong kinh Diệm khẩu ghi rằng "Chẳng được viết vào gốc cây của những cây như lựu, đào, liễu, vì quỷ thần hoảng sợ, chẳng ăn được vậy" (Nguồn: Kinh Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên ngạ quỷ Đà La Ni). Như vậy trong phong thủy trồng những cây này có giá trị ngăn ngừa quỷ thần_Ý này Nhân trắc học ghi.
+ Trong Giới kinh, Phật dạy người xuất gia: Vị tỳ-kheo thanh tịnh không giẫm đạp cây cỏ còn sống - Trừ khi bất đắc dĩ không có lối đi.
Trong Giới kinh kể cho ta biết, người xuất gia trước đây ở trên núi, phải dựng nhà tranh. Tiến hành việc xây dựng thì nhất định phải chặt một số cây cối. Ba ngày trước khi chặt cây, phải vì chúng tụng kinh, niệm chú, cầu phúc cho chúng, rồi thỉnh các thần cây dời nhà, những điều này người bình thường không lý giải được. Trong kinh điển Phật dạy chúng ta, cây cối cao quá thân người thì có thần cây. Hiện tại chúng ta nói với những người trẻ tuổi, họ không tin được. Thế nào là thần cây? Trong thực tế đó là những quỷ thần nương dựa trong cây ấy. Cây ấy là nhà của họ. Họ ở tại đó. Họ nương dựa vào cây cối, hoa cỏ, rồi biến thành thần hoa, thần cây. Đó là những loại chúng sinh nào? Đặc biệt là những người ưa thích cây cối, hoa cỏ. Ưa thích cây cối hoa cỏ, sau khi chết rồi vẫn còn ưa thích, không lìa bỏ được, liền hóa thành thần hoa, thần cây, là tinh linh nương dựa vào những vật thể ấy. Nếu chúng ta hủy hoại nơi cư ngụ của họ, họ sinh phiền não. Tuy rằng họ cũng phải lìa đi, thế nhưng họ phải sinh phiền não. Cho nên trước đó cần phải báo cho họ biết, trước đó phải cúng tế, tụng kinh, siêu độ, kết duyên, để họ dời nhà ra đi, họ tìm chọn một thân cây khác. Việc này tuyệt đối không phải là mê tín. Chư Phật, Bồ Tát tâm địa thanh tịnh, mắt nhìn sáng suốt. Chúng ta phàm phu nhìn không thấy được, các ngài có thể thấy được. Chúng ta không nghe được, các ngài có thể nghe được. Các ngài dạy chúng ta làm như thế, quyết định là có ý nghĩa, quyết định là có lợi ích đối với chúng ta. Đối với cây cối, hoa cỏ đều thương yêu bảo vệ thì có lý nào lại không thương yêu bảo vệ động vật! (Trích lục từ: Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Giảng Giải, Việt dịch: Nguyễn Minh Tiến. Giảng ngày 6 tháng 4 năm 2000 tại Tịnh Tông Học Hội Singapore, file thứ 187, số hồ sơ: 19-012-0187)
+ Bí quyết có sức khỏe hoàn hảo qua điều khí (Pranayama, chuyển khí) :
1. Nhờ việc điều khí, công việc được thực hiện có thể nói vắn tắt như sau:
Đem lại dưỡng khí cho máu, nhờ đó thanh lọc dòng máu và sau đó làm cho thể xác khỏe mạnh.
Đưa thể xác vào rung động đồng bộ với rung động của thể dĩ thái. Điều này đem lại kết quả là hoàn toàn khuất phục được thể xác trọng trược và làm cho nó hòa hợp được với thể dĩ thái. Hai phần của thể xác hợp lại thành một.
2. Truyền chuyển năng lượng xuyên qua thể dĩ thái đến mọi phần của thể xác trọng trược. (ASCLH, 219–220)
+ Prana - Sinh khí biểu lộ: Các nhà Huyền bí học biết rằng ít nhất có ba lực riêng rẽ và phân biệt do mặt trời xạ ra để đến với hành tinh của chúng ta. Có thể có vô số lực khác vì mọi thứ chúng tôi biết đều ngược lại; nhưng dù sao đi nữa chúng tôi cũng biết có ba loại này. Đó là:
1.- Fohat tức Điện
2.- Prana tức Sinh Khí
3.- Kundalini tức Hỏa Xà.
Fohat tức Điện, bao gồm hầu hết các lực vật lý mà chúng ta đã biết, tất cả đều chuyển đổi được ra lẫn nhau; chẳng hạn như điện, từ, ánh sáng, nhiệt, âm thanh, ái lực hóa học, sự vận động v.v. . .
Prana tức Sinh Khí, là một lực sinh động mà sự tồn tại của nó chưa được các nhà khoa học Tây phương chính thống chính thức công nhận, mặc dù có lẽ một số ít người cũng phỏng đoán về nó.
Kundalini tức Hỏa Xà là một lực mà cho đến nay chỉ rất ít người biết được. Khoa học Tây phương chính thống hoàn toàn không biết tới và không phỏng đoán gì về nó.
Ba lực này vẫn còn riêng rẽ và ở mức này thì không một lực nào có thể chuyển đổi ra thành một trong các lực kia. Đây là một điều rất quan trọng mà học viên nên hiểu cho rõ.
Hơn nữa ba lực này không có liên quan gì tới ba Luồng Lưu Xuất Lớn; các Luồng Lưu Xuất là những nỗ lực nhất định do Thái Dương Thượng Đế thực hiện. Mặt khác, Fohat, Prana và Kundalini dường như đúng hơn là kết quả sự sống của Ngài. Các phẩm tính của Ngài đang biểu lộ mà không có bất kỳ cố gắng hữu hình nào.
[Từ khi tài liệu này được biên soạn thì tác phẩm Các Luân Xa của C.W. Leadbeater đã xuất hiện. Trong quyển Các Luân Xa, nó nêu rõ rằng ba lực kể trên có liên quan tới các Luồng Lưu Xuất như sau:
Luồng Lưu Xuất thứ Nhất xuất phát từ Thượng Đế Ngôi Ba, là lực Nguyên sơ chế biến các nguyên tố hóa học. Điều này dường như là Fohat. Luồng Lưu Xuất thứ Nhì xuất phát từ Thượng Đế Ngôi Hai, có Prana là một trong những khía cạnh. Kundalini là sự phát triển thêm nữa trên vòng cung đi lên của Luồng Lưu Xuất thứ Nhất.].
Mỗi một trong những thứ này đều biểu lộ trên mọi cõi của Thái Dương Hệ
Prāna là một từ Bắc phạn có ngữ căn là Pra tức là ra, và an tức là thở, vận động, sinh hoạt. Như vậy, Pra-an tức Prana có nghĩa là thở ra (breathe forth), sinh khí (life-breath) hoặc năng lượng sự sống (life-energy) là từ tương đương gần nhất trong tiếng Anh so với thuật ngữ tiếng Bắc phạn. Bởi vì theo tư tưởng Ấn Độ, chỉ có một Sự Sống duy nhất, một Tâm Thức duy nhất, cho nên Prana đã được dùng để chỉ Tự ngã Tối Cao, năng lượng của Đấng Nhất Như, Sự Sống của Thượng Đế. Vì thế cho nên Sự Sống trên mỗi cõi có thể được gọi là Prana của cõi ấy, Prana trở thành sinh khí trong mọi tạo vật.
Đấng Indra, vị đại Thiên Thần đứng đầu huyền giai sự sống trong hạ giới dạy rằng: “Ta là Prana . . . Prana là sự sống”. Ở đây Prana rõ ràng có nghĩa là toàn thể sinh lực. Trong tác phẩm Mundakopanishad, người ta nêu rõ rằng Prana tức Sự Sống xuất phát từ Brahman tức Đấng Nhất Như. Prana cũng được miêu tả là Atma trong hoạt động hướng ngoại: “Prana này sinh ra từ Atma” (Prashnopanishad). Shankara nói rằng Prana là Kriyashakti – Quyền năng để làm chứ không phải để biết. Nó được xếp loại là một trong bảy Nguyên tố tương ứng với bảy cõi của vũ trụ, bảy lớp vỏ của Brahman v.v. . . Đó là Prana, Manas, Dĩ thái, Hỏa, Phong, Thủy, Địa. ..... (Xem nguồn: Năng lượng vũ trụ biểu lộ)
+ "Thể dĩ thái" rất phức tạp - Cần suy ngẫm: .... Tôi tự hỏi không biết bạn có thể nắm bắt được ít nhất một phần và một cách tượng trưng sự thật rằng các tam giác (Đại và tiểu Thiên địa/ Con người) này ... Chúng phải được xem như đang chuyển động nhanh chóng, luôn luôn xoay tròn trong không gian và không ngừng di chuyển về phía trước, và như là có sự kéo dài bề đo thứ tư và thứ năm. Không có cách nào để mô tả chúng ... vì chỉ có con mắt bên trong của linh thị mới có thể tưởng tượng ra sự tiến triển, vị trí hay dáng vẻ của các tam giác đó. .... Do đó, toàn bộ mạng lưới vũ trụ và thái dương hệ là một loạt các tam giác phức tạp, luôn luôn chuyển động, đan vào nhau, trong đó mỗi điểm của một tam giác phóng xuất ra ba tuyến (lines) hay luồng năng lượng (tất cả là chín), nó cũng đáp ứng với và tiếp nhận các năng lượng – cũng tam phân trong thiên nhiên – vốn ở trong chu vi hoặc là lĩnh vực ảnh hưởng và hoạt động rung động của nó.
Thật là vô ích cho các nhà nghiên cứu khi cố gắng tháo/lần ra manh mối (unravel) tập hợp các dòng năng lượng đang trộn vào nhau này. Tất cả những gì hiện nay có thể xảy ra đối với con người với thiết bị hiện có của y là chấp nhận dựa trên giả thuyết các diễn đạt về một vài tam giác chính yếu đang ảnh hưởng đến nhân loại, và tìm cách chứng minh ảnh hưởng của chúng, và cố gắng đi đến một số hiểu biết về mạng lưới phức tạp, đan dệt vào nhau mà chính y sở hữu và y gán danh xưng là “thể dĩ thái” (“etheric body”) cho mạng lưới này. (Nguồn: Chiêm tinh học NM)
+ Tuân thủ những định luật để phòng, trị bệnh = Sức khỏe hoàn hảo: Một khái niệm về xung đột lâu đời, về bảy nguồn năng lượng lớn biểu hiện dưới dạng nhị nguyên và tạo ra khi neo giữ trong một cơ thể (cho dù đó là một hành tinh, một con người hay một nguyên tử) một khu vực hoặc chu kỳ đau khổ, như người ta gọi; [295] sự đau khổ này tạo ra động lực tiến hóa và chính nó là nguyên nhân của sự biểu lộ, trong khi tác động của nó (là nghiệp quả) là sự giải thoát cuối cùng của sự hoàn hảo và tốt đẹp. Những điều này không dễ hiểu. ...
Những năng lượng này chảy qua bảy trung tâm của cơ thể hành tinh và - theo như chúng ta biết - là bảy năng lượng tia. Liên quan đến ý chí gây hại có thể và thực sự biểu hiện như bệnh tật trong cả bốn vương quốc trong tự nhiên, bạn có lý do tại sao tôi thiết lập, trong số các sinh viên bí truyền mà tôi đã tự mình chịu trách nhiệm, sự phát triển của sự vô hại. Đó là tác nhân chính để bù trừ nghiệp quả. Ở đây tôi sẽ cung cấp cho bạn Định Luật IX, và do đó hoàn thành một nhóm định luật mà khi tuân theo, sẽ thấy là thiết yếu để chữa khỏi bệnh tật và duy trì sức khỏe. ... (Nguồn: Chữa bệnh nội môn, tr 295)
+ Thứ tự các Hành tinh: Theo thứ tự khoảng cách, các hành tinh là Vulcan *, Thủy Tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh. [Vulcan được Mặt trăng che dấu. Trong Lá số Chiêm tinh nó che dấu Vulcan và chi phối những Phàm nhân chưa tiến hóa, cho đến khi họ bước vào con đường người chí nguyện. Người điểm đạo bậc 3 vẫn đang dọn dẹp Nghiệp quả/ Ảnh hưởng của Mặt trăng của họ. Mặt trăng là Hành tinh chết, nó không có phóng phát năng lượng nào. Nó được nhận diện như là Hình tư tưởng cổ xưa, dẫn truyền Nghiệp quả, cung cấp chất liệu để các Sự Sống thu nạp tạo thành Thể xác của muôn loài theo đúng Xác thể - Theo Khuôn Dĩ thái có sẵn tương ứng Y nguyên Thân xác của họ ở thời điểm họ Chết ở tiền kiếp họ đã Tạo dựng và thanh luyện. Nên nói Tháng sinh là Tháng tử vong của tiền kiếp để tiếp nối nghiệp quả và vạn sự_NTH tóm lược theo Minh triết Chân sư]
+ Chìa khóa Chiêm tinh học (Chân Sư DK)
... Minh Triết Nghìn Xưa dạy rằng “không gian là một thực thể” (“space is an entity”). Chính là với sự sống của thực thể này và với các thần lực và năng lượng, các xung lực và các nhịp điệu, các chu kỳ và mùa tiết mà chiêm tinh học huyền bí bàn đến. H.P.B. có nói đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
Tôi xin nhắc các bạn rằng có một chìa khóa chiêm tinh học cho Giáo Lý Bí Nhiệm mà chưa thể được đưa ra đầy đủ. Tuy nhiên, Tôi có thể trao cho các bạn một số ẩn ngôn và gợi ra một số đường lối tiếp cận, và các đường lối này, nếu được tiến hành trong tâm thức của các nhà chiêm tinh học giác ngộ, có thể giúp một trong số họ vào một thời đại sau này khám phá ra chìa khóa đó và lúc bấy giờ ‒ giải thích nó cho nhân loại – tiết lộ nguyên lý cơ bản vĩ đại thứ tư của Minh Triết Muôn Thuở mà 3 nguyên lý căn bản đã được đưa ra trong lời nói đầu của GLBN ..... [Tooltip: Thìa khóa Chiêm tinh học]
+ Mặt trời và Mộc tinh truyền dẫn Cung 2
+ Sao Mộc (♃): Mộc tinh có liên quan đến nhiều hiện tượng khác nhau: giáo dục, du lịch, luật, minh triết, đạo đức, hạnh phúc.... tôi thích xem sao Mộc như mở rộng và phát triển bất cứ cái gì nó tiếp xúc, làm cho chúng lớn hơn, mở rộng biên giới của chúng. Sao Mộc mở rộng quan điểm của chúng ta và nhìn thấy bức tranh lớn hơn. Nếu Thủy tinh có một góc hợp cứng với sao Mộc, người đó quan tâm đến những vấn đề lớn như triết học, tôn giáo, chính trị, kinh tế, hoặc du lịch. Nếu sao Hỏa có góc hợp cứng với Mộc tinh, người đó muốn đạt được những điều to lớn và làm việc chăm chỉ để đạt được tầm nhìn rộng lớn, có lẽ vĩ đại. (Nguồn: Các hành tinh - Minhtrietmoi)
+ Mộc tinh phát triển nhị bộ: Liên quan với một nhị bộ (duality) nhỏ hơn được tìm thấy trong mọi con người, nhị bộ về đầu và tim, về trí và tình thương, và về ý chí và minh triết, công việc của Jupiter là phát triển hai tính chất này và đưa chúng vào sự tương tác tổng hợp. Sau rốt, cần phải có sự pha trộn hoàn hảo của bác ái và trí tuệ trước khi một vị cứu thế có thể xuất hiện và hoạt động một cách hiệu quả, và đặc biệt đây là kết quả sau rốt của các lực của Thập Giá Khả Biến,... (CHTNM)
+ Hành Tinh – Jupiter (Tham khảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm)
1. “Jupiter…là một Thiên Đế (deity), Ngài là biểu tượng và nguyên hình kiểu của … tôn thờ nghi thức. Ngài là tu sĩ, vị tế lễ, người khấn nguyện và đồng tử mà nhờ đó, các khấn nguyện của thế nhân đến được với các Thánh Thần”. (II, 49. Ghi chú)
2. Jupiter được xem như “thánh toà của Brahma”. (II, 829)
3. “Jupiter là hiện thân của luật chu kỳ”. (II, 830)
4. “Mặt Trời thường được gọi là “mắt của Jupiter”. (III, 278)
5. “Pluto làm cho Jupiter thành Logos, Linh Ngữ (Word) của Mặt Trời”. (III, 279)
6. “Các Bí Pháp (Mysteries)… được lãnh đạo bởi Jupiter và Saturn”.
7. “Huyền linh học làm cho Jupiter thành màu lam (blue) vì Ngài là con của Saturn”.
8. “Dấu hiệu của việc tái lâm của Đấng Cứu Thế (Messiah) là sự liên kết của Saturn và Jupiter trong Cung Song Ngư”. (III, 152) Các trích dẫn trong Luận về Lửa Càn Khôn
9. “ Venus, Jupiter và Saturn có thể được xét theo quan điểm của hiện tại, như là các hiện thể của ba siêu nguyên khí (super principles) hay là nguyên khí chính. Mercury, Địa Cầu và Mars được kết hợp chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng ở đây còn ẩn giấu một bí ẩn”. (299)
10. “Venus và Jupiter được liên kết chặt chẽ với Địa Cầu và sau rốt hợp thành một tam giác nội môn” (370)
11. “Trong hành tinh hệ Jupiter, các Con của Trí Tuệ chỉ mới bắt đầu công việc của các Ngài”. (742)
Xem thêm Tổng hợp về Mộc tinh
+ Tinh linh cảm dục/ Dục vọng (Astral elemental, Desire–elementals):
- Sự sống giáng hạ tiến hóa bé nhỏ tạo thành Tinh linh cảm dục của chúng ta. (LVHLT, 311)
- Các tinh linh thiên nhiên có liên quan đến việc tạo ra thể cảm dục của loài vật và loài người được dành cho tên gọi đặc biệt là tinh linh cảm dục (còn gọi là “thần cảm dục“ – desire–gods) vì chúng được làm cho sinh động một cách mạnh mẽ bằng đủ loại dục vọng và luôn luôn dự vào việc kiến tạo thể cảm dục của con vật lẫn con người. (MTNX, 76)
+ Tinh linh dục vọng [Giáo lý Chân sư D.K và giảng của C.W. Leadbeater và bà Annie Besant]:
- Ông C.W.L - Tinh linh hồng trần: ... Thể Xác phàm có những sự ham muốn không phải là của Con Người, đối với Thể cảm xúc và Thể Trí cũng đúng như thế. Khi hiểu rõ sự cấu tạo của ba Thể này, người ta thấy rằng những sự ham muốn tự nhiên của chúng không hạp với Con Người.... Sự Sống của chúng tập trung lại và có một Ý Thức Tập Thể.
Trong Thể cảm xúc nó tạo ra một Sinh Vật mà đôi khi chúng ta gọi là Tinh Linh Dục vọng (desire Elemental), vốn dĩ là một thực thể do sự sống tập thể của các tế bào của Thể cảm xúc tạo ra. Đứng riêng một mình, mỗi tế bào là một sự sống nhỏ bé, có một bán ý thức, đang tranh đấu để đi xuống hơn là đi lên, bởi vì đối với nó, sự tiến hóa là đi xuống vô trong Loài Kim Thạch. Khi tất cả những sự sống này nhập chung lại với nhau trong Thể cảm xúc, chúng liên kết chung tới một mức độ nào đó và hành động như một đơn vị, chúng cho ta cái cảm giác rằng Thể cảm xúc có những bản năng mạnh mẽ và riêng tư, mạnh mẽ cho đến đỗi người ta có thể cho rằng nó có một ý chí riêng của nó. Muốn tiến hóa nó cần những sự rung động mạnh mẽ và thô kịch và bất hảo, quỉ quyệt nữa. Nó luôn muốn Chất trí tuệ rung động cùng nó, do đó nó khích hoạt rung động thô kệch mạnh mẽ hơn, nó tìm cách thuyết phục cái Trí sinh ra các tư tưởng "Tà vạy, bẩn thỉu" thi nó có được cảm xúc bẩn thỉu nó muốn ... [Đây là bản năng - Xem như không thể thay đổi => Không thể thuận theo - Không nên ảo tưởng] thuộc về những Tình cảm và những Xúc động mà chúng ta không muốn mở mang, như: tính ganh tị, ghen ghét và ích kỷ. Đó là tại sao những quyền lợi của nó trái ngược với những quyền lợi của chúng ta. Những sự rung động của Tình thương, tính thiện cảm và sự sùng tín vốn vô cùng tế nhị, mau lẹ và mạnh mẽ hơn nhiều. Chúng thuộc về phần cao siêu của Thể cảm xúc. Do vậy các rung động ấy vốn là một loại mà Thể cảm xúc không muốn nhưng chúng ta lại cần ... Chúng là Tập khí Nghiệp tiền kiếp mà do vô minh tham đắm những cảm xúc thấp hèn nổi nên trong lòng - Chúng ta đã tạo ra chúng [Tinh linh nhân tạo] => Cần nên dứt khoát loại bỏ chúng khỏi Thể cảm dục ... Chúng nó - Tinh linh dục vọng - được tự do áp chế một số đông người; họ chẳng những không cố gắng một chút nào để thoát ra thế lực của chúng nó, mà cũng không biết mình mang một cái ách cần phải cởi bỏ, và tự họ cũng không tách ra khỏi các thể của họ nữa ...
Đối với trẻ con, điều này thật rõ rệt. Nếu một đứa trẻ muốn làm một việc gì, đối với nó việc đó là Trời là Đất vậy; công việc phải thực hành xong tức khắc, và nếu nó thất vọng, nó tưởng như Vũ Trụ sụp đổ chung quanh nó [Trẻ mau quên]. Những người dã man cũng giống như thế, họ dễ bị kích động cho đến đỗi vì một chuyện nhỏ mọn không ra gì, họ có thể giết người [Lớn thù giai].....
- Bà A.B - Tinh linh dục vọng: Thể Cảm xúc có sự ham muốn riêng của nó, cả hàng chục thứ, nó muốn con giận hờn, muốn con nói những tiếng nặng nề, muốn con ganh tị, tham lam tiền bạc, mong đạt của thiên hạ, làm con thối chí ngã lòng. Nó muốn tất cả những điều đó, và còn nhiều điều khác nữa, không phải vì nó muốn hại con, mà vì nó thích những sự rung động mạnh bạo và thay đổi chúng luôn luôn. Nhưng trong những điều trên con không thích điều nào cả, và vì vậy con phải phân biệt giữa ý muốn của con với ý muốn của Thể Cảm xúc con ...
- Ông C.W.L: Sở dĩ Tinh Linh Cảm xúc đạt được ít nhiều sự liên tục vì những Hạt Nguyên Tử Trường Tồn thu hút những vật chất cùng một loại với vật chất mà chúng ta đã có ở kiếp trước để bao bọc chúng nó; bởi thế thật khó mà thình lình đương đầu với nó và quật ngã nó được ...
Nếu muốn giúp ai đó, hãy phát khởi tư tưởng đối nghịch với tật xấu của họ là pháp giúp đúng [Ví dụ: Thấy người có các tính xấu thì khởi nghĩ tôi muốn thấy "họ" không nóng tính/ Không tham ái/ Không trộm cắp ...) ... bài còn dài (Nguồn: Ba Tinh linh ... Xác Phàm)
+ Những thiên thần của cõi trí, chính yếu là các hỏa thần. Không có gì để nói hay chỉ dạy về các câu chú ảnh hưởng đến các hỏa tinh linh. Trong nhiều phương diện, chúng là loại Tinh linh nguy hiểm nhất và mạnh mẽ nhất tham dự vào guồng máy của địa cầu. Một mặt là so với các loại Tinh linh khác thì chúng đông hơn nhiều và có ở mọi nơi, từ cõi cao nhất đến cõi thấp nhất. Những Thủy tinh linh hay Thổ tinh linh thì chỉ có ở một số nơi hoặc trên một số hành tinh của Thái dương hệ, trong khi loại Tinh linh nhiều thứ nhì là Tinh linh của Không khí. (CTHNM, 188)
Xem: Tổng Hợp Hỏa Tinh Quân gồm Hỏa Tinh Linh Và Hỏa Thiên Thân
+ Quán Sát tâm - Dùng Tư Tưởng đối nghịch trong tham thiền để Tu tâm thiện lành. Giáo lý dạy chúng ta rất nhiều câu mẫu thiện lành làm đối nghịch với các ác tâm, ác pháp cần xa lìa, trừ diệt trong tu. Vài ví dụ đã có trong Tooltip)
+ Thể dục vọng tham đắm si mê: ... Với Thể cảm dục. Sở dĩ Tinh Linh Cảm xúc đạt được ít nhiều sự liên tục vì những Hạt Nguyên Tử Trường Tồn thu hút những vật chất cùng một loại với vật chất mà chúng ta đã có ở kiếp trước để bao bọc chúng nó; bởi thế thật khó mà thình lình đương đầu với nó và quật ngã nó được ...
Nếu muốn giúp ai đó, hãy phát khởi tư tưởng đối nghịch với tật xấu của họ là pháp trợ giúp đúng [Ví dụ: Thấy người có các tính xấu thì khởi nghĩ tôi muốn thấy "họ" không nóng tính/ Không tham ái/ Không trộm cắp ...) ... bài còn dài (Nguồn: Ba Tinh linh ... Xác Phàm)
+ Quán bản ngã - Quán tự ngã - Tư lượng tự ngã - Tư lượng bản ngã. (Xem Tooltip)
+ Hai loại hình hài, có vị trí khác nhau trong thiên cơ
- Hình hài trong giới thực vật, động vật và khoáng vật: Các hình hài chính là kết quả của công trình 2 ngôi của Thượng Đế (Ngôi 3 và Ngôi 2) và sự sống hợp nhất của các Ngài.
- Hình hài của thiên thần và con người: Hình hài là kết quả của tác động hợp nhất của 3 ngôi Thượng Đế.
- Hình hài đơn giản hơn được tiêu biểu trong chất liệu nguyên thuỷ mà từ đó mọi hình hài khác được tạo thành. Vật chất này nói đúng ra là vật chất nguyên tử và phân tử và được làm cho linh hoạt bằng sự sống hoặc năng lượng của Thượng Đế Ngôi Ba (LVLCK, 120)
+ Hình tướng (Sắc tướng, forms): Hình tướng hay lớp vỏ (sheath) hay các thể (bodies) đều có mục đích biểu hiện. (ASCLH, 74)
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chính là bộ máy đáp ứng. (CTNM, 36).
+ Thể Xác - Thể Sinh lực: Thường xem 2 là 1 và 1 cũng là 2 tùy theo Sự lý đang xét. .... Về vấn đề này, xét trên vài phương diện thì thể cảm dục lại là thể thứ ba của tâm thức nếu tính xác thân và thể sinh lực điện (thể của prana hay thể dĩ thái) là hai đơn vị [Khi nói về cấu tạo con người, thường xem 2 Thể này là một - Không tính thể xác như là một thể độc lập]. Tôi không thể nói thêm, vì tất cả đều hoán chuyển và xuyên thấu lẫn nhau, tôi chỉ đưa ra tài liệu để các bạn suy ngẫm. (Tham thiền huyền môn)
+ Thể Xác: Dùng để chỉ một hình thể có khả năng hoạt động độc lập trong cõi hữu hình và vô hình. (KCVTT, 128)
+ Sthula sharira: Thể xác trọng trược = Dense physical body = Nhục thể, nhục thân (LVLCK, 264)
+ Thể Xác: Là toàn thể các cơ cấu (organism) tạo thành thể xác; các cơ cấu (bộ máy) này có các chức năng khác nhau để cho phép linh hồn tự biểu lộ trên cõi trần hay cõi bên ngoài (objective plane) như là thành phần của một bộ máy vĩ đại hơn và bao quát hơn. Thể xác là bộ máy đáp ứng của con người tâm linh bên trong và cung cấp phương tiện để đưa thực thể tâm linh đó tiếp xúc được với bộ máy đáp ứng (response apparatus) của Hành Tinh Thượng Đế, tức Đấng mà trong đó chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn.(CTNM, 2)
+ Thể hồng trần để ta sử dụng, không để nó sử dụng ta; ta không làm tôi tớ nó. Nếu để nó làm chủ, trọn mục đích của cuộc đời bị hủy diệt, và con người không thể tiến bộ được.
- Huấn luyện: Khi nó đã quen làm việc theo một đường lối đặc biệt nào, nó sẽ sẵn sàng tiếp tục tự động và hoàn toàn vui thích làm việc theo đường lối đó, như trước kia nó đã thích làm theo những đường lối khác. (......đưa thể hồng trần vào trạng thái xuất thần, để cho thể cảm xúc tự do thoát ra khỏi thể hồng trần - Không khuyến khích. Chân sư DK: đó là con đường đi ngược lại sự tiến hóa)
- Nên nhớ: Cứ mỗi lần đầu thai lại thì mỗi thể vẫn giữ đúng y phẩm chất (Tạm gọi như thế) của cơ thể trước kia đã bị thải bỏ khi chết. Việc kiến tạo cơ thể không hề bị mất.
- Thể xác làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận khi có một bộ phận nào đó bị trục trặc, hoặc qua sự hài lòng của một thèm muốn này hay thèm muốn khác (LVHLT, 293)
* Con người và Xác Phàm: Nhưng con người và xác phàm là hai thứ khác nhau, và ý chí của con người không phải lúc nào cũng là ý muốn của xác thân. Khi xác thân của con muốn điều chi, con hãy ngừng lại và suy nghĩ xem có phải thật là con muốn điều đó chăng?_Chân sư KH (Nguồn: Ba Tinh Linh Xác Phàm)
+ Hình Hài Chánh/ Tà Đạo: Tất cả các hình hài được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc bị giới hạn vào tả-đạo, hoặc bao gồm lấy nó, và tuy thế lại vượt qua nó, và đi theo chính-đạo (right hand way). Câu này cung cấp chất liệu cho tư tưởng và ý nghĩa của nó thật khó mà hiểu được. Cần ghi nhớ rằng mọi hình hài, cho dù chúng theo chính-đạo hoặc tả-đạo, đều giống nhau cho đến một mức độ nào đó; chúng đi qua các giai đoạn phát triển như nhau và ở vào một lúc trong quá trình phát triển của chúng, chúng xuất hiện đồng dạng và giống nhau. Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự phân biệt mới trở nên rõ ràng, và do đó việc huấn luyện cho người tìm đạo theo động cơ đúng đắn như là một bước chuẩn bị cho công việc huyền linh đích thực.(LVHLT, 267)
+ Trạng thái sắc tướng (Form aspect): Phàm ngã tức là trạng thái sắc tướng. (ASCLH, 397)
+ Sắc tướng (Appearance): Tôi sẽ dùng từ ngữ sắc tướng để diễn tả cái mà ta gọi là vật chất (matter) hay hình hài (form) hay biểu lộ ngoại cảnh (objective expression); chính cái sắc tướng hữu hình giả tạm chỉ có bề ngoài đó được sức sống làm cho linh hoạt. Đây là trạng thái thứ ba, Mẹ, được ứng linh và làm cho tụ sinh (fertilised) bởi Chúa Thánh Thần, tức Sự Sống, kết hợp với chất liệu thông tuệ. (TLHNM–I, 18)
+ Chữ sắc trong Sắc tướng theo Phật giáo: ...Chư Hiền, ngũ uẩn/ 5 Thủ uẩn là khổ gồm SẮC THỦ UẨN và THỌ - TƯỞNG - HÀNH - THỨC. Chữ SẮC - Những gì có sắc gồm Tứ đại và do Tứ đại tạo. (Kinh Tượng Tích Dụ - Kinh A Hàm)
+ Sắc thân - Thân xác ta là do Tứ đại giả hợp - Thân xác giả tạm - Xác thân hữu hình hữu hoại
Thân này là tổng tướng của sắc. Đất nước gió lửa là biệt tướng (tướng riêng) của sắc. Thân thể của chúng ta do đất nước gió lửa hợp thành. Xương cốt thịt thà chính là đất. Nước mắt, nước mũi, máu, tiểu tiện, mồ hôi, là nước. Thân thể được ấm áp là nhờ có lửa. Vận động hô hấp nhờ thân thể có gió. Bốn đại hòa hợp thì thân thể còn. Chúng phân tán thì thân thể mất. Đất trở về đất đá. Nước trở về nước. Gió trở về gió. Lửa trở về lửa. Mỗi đại đều trở về cội gốc, nên không thật có. Vì thế, mọi người chấp trước vào thân thể, tự cho là có, thật là sai lầm.
Không thể cho rằng thân thể chính là mình được, vì thân thể chỉ giống như nhà ở. Chư vị không thể cho rằng nhà mình ở chính là mình. Thế nên đừng chấp trước nhà ở chính là mình. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
Xem Tooltip: Mang Thân Người/ Túi da hề
Xem: Thể Hồng trần và cách nuôi dưỡng nó thanh sạch theo Chân Sư DK
+ Tinh linh: .... khái niệm như “Elementals” (Tinh linh), hay các Nguyệt tinh quân (Lunar lords) … cần sự giải thích cặn kẽ để các bạn mới đọc sách có thể hiểu được. Ngay cả trong văn chương Thông Thiên Học và trong sách của đức DK, những thuật ngữ này cũng gây bối giối rất nhiều người vì chúng được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau.
Từ Elementals thường được dịch là Tinh linh thường được dùng để chỉ những thực thể (entities) thuộc dòng tiến hóa Thiên thần (Deva evolution), nhưng trên cung giáng hạ tiến hóa. Đôi khi nó lại được dùng để chỉ các “Nature Spirits” như gnomes (Thần lùn), sylphs (Thủy tinh), fairies (Tiên nữ) … là các Deva trên cung thăng thượng tiến hóa. Ở đây, Elementals mà đức DK nhắc đến dùng để chỉ ba hạ thể của chúng ta:
Trong văn chương Thông Thiên Học, người ta nói nhiều về các tinh linh (Elementals) hay các nguyệt tinh quân (lunar lords) khác nhau vốn hợp thành, cấu thành, và kiểm soát bản chất thấp của con người.
Lưu ý: Đức DK nói rằng ba tinh linh này [TL Trí tuệ - TL dục vọng - TL Hồng trần/ Thể vật lý] có đời sống riêng nhất định của chúng - Chúng tách khỏi Phàm ngã con người.
(Chúng được nhuốm mầu các Cung mà các Thể hoặc Tinh linh này hiện hữu trên đó mà con người trên con đường tiến hóa phải đương đầu để hàng phục/ Kiểm soát chúng, để chúng thực hiện ý muốn của Linh hồn. Quyết KHÔNG để chúng kiểm soát, quyết định mọi suy nghĩ, lời nói, hành vi của mình ..._TLHBT).
(Ba Tinh linh - Ba Thể thấp này, đặc biệt là Thể dục vọng hợp với các rung động thấp, quỷ quyệt, nó thôi thúc, xúi dục cái Trí tham muốn vô độ, bẩn thỉu, thấp hèn. Hoặc sinh ra tư tưởng ghen ghét, đố kị ... Chúng đang biểu lộ và tiến hóa theo con đường riêng của nó (Cho đến khi tiến hóa cao nhất định), chứ nó không hề CÁM GIỖ hay muốn HẠI TA)...
Minh sư giảng: Đừng lầm lộn các Thể của con là chính con, Thể Xác cũng như Thể Cảm xúc và Thể Trí của con không phải là chính con. Trong ba Thể này, cái nào cũng tự xưng là con để mong đạt được điều nó muốn. Nhưng con phải biết rõ chúng nó và biết rằng con là chủ của chúng. ... [Nguồn: Xem tại đây]
+ Tinh linh của các bản tố; các tạo vật có liên quan đến 4 lãnh vực, hay các bản tố: Địa (Earth), Phong (Air), Hỏa (Fire), và Thủy (Water). Ngoại trừ một số ít ở đẳng cấp cao và các vị cai quản, chúng là các mãnh lực của thiên nhiên hơn là những người nam và nữ tinh anh. (ĐĐTNLVTD, 217)
– Tinh linh là các thực thể còn phải tiến hóa thành người vào một thời gian trong tương lai. (GLBN III, 235)
– Tinh linh là các mãnh lực bán-thông-tuệ của các giới. (GLTNVT, 311)
+ Các tinh linh có bản chất dưới nhân loại. Sự kiện con người có thể tiếp xúc được chúng trên cõi cảm dục không có gì đảm bảo rằng chúng ở trên con đường tiến hóa thăng thượng. Trái lại, chúng ở trên con đường tiến hóa giáng hạ, trên vòng cung đi xuống. Chúng có mặt trên mọi cõi giới, riêng các loại Tinh linh Dĩ thái – như là thần lùn, thổ tinh linh, thổ tiểu tiên ... thì được biết rõ hơn. Chia thành 4 nhóm:
1. Tinh linh của đất (Thổ tinh linh).
2. Tinh linh của nước (Thủy tinh linh).
3. Tinh linh của Không khí (Phong tinh linh).
4. Tinh linh của lửa (Hỏa tinh linh).
* Nếu các bạn có thể biết được, thì chúng là Tinh hoa của mọi vật. Chúng là những loài Tinh hoa của thái dương hệ, có 4 cấp bậc, như chúng ta biết trong chu kỳ thứ tư này, trên hành tinh thứ tư hay là địa cầu.( TVTTHL, 174)
- Các nhà kiến tạo dĩ thái, tức là tinh linh phụ trách việc kiến tạo thể xác con người. (KCVTT, 77)
+ Vì các câu thần chú và các hình thức thiền để tiếp xúc với các thần, các thiên thần hay các vị thần kiến tạo, và để kêu gọi các Tinh linh hay là các hình thức sinh tồn hạ đẳng, trên thực tế đều như nhau và trong những bức thư này nên xem như vậy (TVTTHM, 174)
+ Ở Thái dương hệ này, Hỏa Tinh linh đông nhất, nhì đến Tinh Linh Không khí [Phong tinh linh] hiện diện khắp các cõi. Thủy hay Thổ tinh linh ít hơn nhiều, chỉ có ở một số nơi hoặc trên một số Hành tinh của Thái dương hệ (CTHNM, 188)
Xem: Tổng Hợp Hỏa Tinh Quân gồm Hỏa Tinh Linh Và Hỏa Thiên Thân
+ Các Luân xa mà qua đó sự sống Tinh Linh (SSTL) và Linh hồn hoạt động (EP II 290. 304)
1. Đời sống 3 Tinh linh này được tạo thành chủ yếu ở 3 luân xa thấp nhất:
1. LX xương cùng, - SSTL trí tuệ => LX cổ họng.
2. LX tùng T.Dương- SSTL cảm dục => Luân xa tim.
3. LX đáy cột sống, - SSTL hồng trần => Luân xa đầu.
- Sự sống của linh hồn nội tại qua 3 luân xa cao.
1. Luân xa đầu - Tâm thức trí tuệ.
2. Luân xa cổ họng - Tâm thức sáng tạo.
3. Luân xa tim - Tâm thức cảm giác [304]
+ Tinh linh ngũ hành: ... Sự liên hệ chặt chẽ giữa những Mãnh Lực thiên nhiên đó với các loại ngũ hành của Vật chất thuần tuý tạo nên những hiện tượng vật chất như ánh sáng, nhiệt lực, từ điện .. v.v... đã được gọi một cách chính xác là “Cái Bóng của Vật Chất Vận Chuyển” .... Đằng sau mãnh lực này, có tiềm ẩn những nguyên nhân thâm diệu cao xa hơn, cũng như người chủ xe điều khiển người đánh xe từ bên trong. Đó là những Đấng Thông Tuệ, sáng suốt, từ tinh hoa của các Ngài phát xuất những trạng thái “Mẹ”, tạo nên vô số Tinh Linh thuộc về ngũ hành trong thiên nhiên, cũng như mỗi giọt nước chứa đựng vô số Sinh vật vô cùng nhỏ bé (Infusoria) (1).....
g) NHÓM THỨ SÁU và THỨ BẢY có đặc tính thấp hơn của Tứ thể hạ. Đó là những Thực Thể hữu thức, thể chất mong manh như sương và vô hình như chất Dĩ Thái, xuất phát từ nhóm trung ương đầu tiên gồm có Bốn vị Thiên Vương. Đến lượt các Nhóm ấy lại phóng phát ra vô số các nhóm nhỏ, nhóm thấp nhất là những Tinh linh ngũ hành, gồm vô số loại, từ những loại vô sắc và không có thể chất - những TƯ TƯỞNG tuyệt đích của các Đấng sáng tạo ra chúng - dẫn xuống đến vi trần mà mắt người không nhìn thấy ..... (Nguồn: Giáo lý bí nhiệm)
+ Xem thêm: Sách Tổng hợp Các Đại - Các Hành tố - Ngũ hành
+ Chi tiết Chương: Tổng hợp Ngũ Hành_TMTH
+ Xem thêm: Tổng Hợp Các Tinh Linh
+ Đồng nghĩa: Mãnh lực Thiên nhiên tức là Tinh linh thiên nhiên, cũng tức là các Tinh linh Ngũ hành có khả năng thông linh. (GLBN I, 202)
+ Hiện diện 4 hành: Ở Thái dương hệ này, Hỏa Tinh linh đông nhất, nhì đến Tinh Linh Không khí hiện diện khắp các cõi. Thủy hay Thổ tinh linh ít hơn nhiều, chỉ có ở một số nơi hoặc trên một số Hành tinh của Thái dương hệ (CTHNM, 188)
+ Tinh linh các bản tố / Tạo vật: Địa (Earth), Phong (Air), Hỏa (Fire), và Thủy (Water). Phần lớn (Trừ cấp Quản lý), chúng là các mãnh lực của thiên nhiên hơn là những người nam và nữ tinh anh. (ĐĐTNLVTD, 217)
+ Tinh Linh Thiên Nhiên/ Các Hành: Gồm các Tiên nữ, thổ thần, thần. Hiện diện trong chất dĩ thái, trong các thể bằng chất hơi, chất lỏng. Các sinh linh bé nhỏ bận rộn này thường che các hoạt động ở cõi trần trọng trược của chúng nhờ ảo cảm và phủ lớp màn che giấu biểu lộ bên ngoài của chúng. (LVLCK, 892)
+ Tinh linh là các thực thể còn phải tiến hóa thành người vào một thời gian trong tương lai. (GLBN III, 235)
+ Tinh linh là các mãnh lực bán-thông-tuệ của các giới. (GLTNVT, 311)
+ Các tinh linh thường có bản chất dưới nhân loại. Đang tiến hóa giáng hạ, trên vòng cung đi xuống. Chúng có mặt trên mọi cõi giới, riêng các loại tinh linh dĩ thái – như là Thần lùn, Thổ tinh linh, Thổ tiểu tiên thì được biết rõ hơn. Chia thành 4 nhóm Tinh linh: Đất / Thổ - Nước / Thủy - Không khí ≅ Phong - Lửa / Hỏa; Chúng là tinh hoa của mọi vật/ loài tinh hoa của thái dương hệ, có 4 cấp bậc, như chúng ta biết trong chu kỳ thứ tư này, trên hành tinh thứ tư hay là địa cầu.( TVTTHL, 174)
+ Các nhà kiến tạo Dĩ thái, tức là Tinh linh phụ trách việc kiến tạo thể xác con người. (KCVTT, 77)
* Vì các câu thần chú và các hình thức thiền để tiếp xúc với các thần, các thiên thần hay các vị thần kiến tạo, và để kêu gọi các tinh linh hay là các hình thức sinh tồn hạ đẳng, trên thực tế đều như nhau và trong những bức thư này nên xem như vậy(TVTTHM, 174)
+ Sự sống Tinh Linh: Được tạo thành chủ yếu ở 3 Luân xa thấp (SSTL; EP II 290. 304):
1. LX xương cùng, - SSTL trí tuệ => LX cổ họng.
2. LX tùng T.Dương- SSTL cảm dục => Luân xa tim.
3. LX đáy cột sống, - SSTL hồng trần => Luân xa đầu. [304]
+ Các sinh vật tiến hóa trong 4 giới / 4 Hành – địa, phong, hỏa và thủy. Tín đồ Do Thái Bí giáo gọi là Thổ tinh linh / Đất), Phong tinh linh / Không khí), Hỏa tinh linh / Lửa) và Thủy tinh linh / Nước). Ngoại trừ một vài loại cao cấp và các vị điều khiển của chúng, các tạo vật này là các mãnh lực của thiên nhiên hơn là những người nam và nữ tinh anh. .... Tất cả các sinh linh vô hình thấp kém được tạo ra trên cõi thứ 5, 6 và 7 của bầu khí quyển trái đất chúng ta được gọi là các Elementals (Tinh linh): Peris, Devas, Djins, .. v..v.... rất nhiều (NGMTTL, 111–112)
+ Các Tinh linh thiên nhiên thuộc các phân cảnh Dĩ thái (DT), xét 4 phân cảnh cao nhất của cảnh giới hồng trần - Là các mức độ vật chất của cõi trần thuộc loại hiếm hơn và được tinh luyện hơn tuy thuộc về cõi trần - Thường có tên: DT 1 / Chất liệu (CL) Vi tử - DT 2 / CL Á vi tử - DT 3 / CL Siêu dĩ thái - DT 4 / Dĩ thái đơn thuần. Hiện dĩ thái 4 là chất duy nhất được các nhà khoa học nhận biết và là đề mục trong các tìm tòi - Đã hiểu chút ít.
+ Tinh linh sinh lực (Pranic elementals): Các tinh chất nhỏ bé của Lửa này (minute fiery essences) có khả năng thẩm thấu (permeate) qua cấu trúc (texture) của cơ thể con người, của một thân cây hay của tất cả những gì có thể có trong giới nhân loại, giới thực vật và động vật, và hòa hợp với lửa của hệ thống tiểu thiên địa.(LVLCK, 67)
+ TL hồng trần: là tên gọi dành cho sự sống đã hội nhập của thể xác.(CTNM, 462)
+ TL hồng trần là toàn thể các nguyên tử sinh động của phàm ngã (body nature) (LVLCK, 118)
+ Tinh linh của lửa: Các hình hài trọng trược hơn của cuộc sống thể hơi, thường được gọi là Hỏa tinh linh / Tinh linh của lửa. Chúng trực tiếp ở dưới sự kiềm chế của Hỏa tinh quân, Tinh quân của cõi trí.(LVHLT, 389)
+ Tinh linh nhân tạo - Hình tư tưởng: Những tư tưởng mơ hồ, lỏng lẻo tạo ra do các thể trí chưa phát triển => Thành đám mây tinh chất Hành khí rời rạc khi đến cõi cảm dục, ... rồi bám quanh các thể cảm dục của những ai có từ điển tốt hoặc xấu - thu hút lấy chúng, và sau một thời gian sẽ tan rã, để lại tạo nên thành phần của bầu khí chung của loài tinh chất Hành khí. Khi nào chúng còn duy trì sự sống riêng biệt, có cơ thể bằng tinh chất Hành khí, các tư tưởng như là các sinh vật tạo linh hồn => Gọi là các tinh linh nhân tạo / là hình tư tưởng (MTNX, 66–67). Xem chi tiết hơn: Tại đây
+ Những thiên thần của cõi trí, chính yếu là các hỏa thần. Không có gì để nói hay chỉ dạy về các câu chú ảnh hưởng đến các hỏa tinh linh. Trong nhiều phương diện, chúng là loại tinh linh nguy hiểm nhất và mạnh mẽ nhất tham dự vào guồng máy của địa cầu. Một mặt là so với các loại tinh linh khác thì chúng đông hơn nhiều và có ở mọi nơi, từ cõi cao nhất đến cõi thấp nhất. Những thủy tinh linh hay thổ tinh linh thì chỉ có ở một số nơi hoặc trên một số hành tinh của thái dương hệ, trong khi loại tinh linh nhiều thứ nhì là tinh linh của không khí.(CTHNM, 188)
+ Hoả tinh linh (Cõi Trần), các Hoả tinh linh nhỏ bé mà người ta có thể thấy đang nhảy múa trong mọi ngọn lửa, chăm sóc lửa của lò sưởi, của nhà ở và lửa của xưởng máy (LVLCK, 87)
Xem: Tổng hợp về lửa càn khôn ; Xem: Tóm Lược sách Luận Về Lửa Càn Khôn
+ Tinh linh của không khí (Elemental of the air): Tinh linh của không khí được hiểu một cách tượng trưng là lớp nền (substratum) của năng lượng đang tác động qua các hình hài của thể dĩ thái. (LVHLT, 216)
+ Tinh linh của đất (Elemental of earth): Là toàn thể nhiều Sinh linh tạo thành Thể xác. (LVHLT, 215)
+ Tinh linh cảm dục (Astral elemental, Desire–elementals): Sự sống giáng hạ tiến hóa bé nhỏ tạo thành Tinh linh cảm dục của chúng ta. (LVHLT, 311)
- Các Tinh linh thiên nhiên có liên quan đến việc tạo ra Thể cảm dục của loài vật và loài người được dành cho tên gọi đặc biệt là Tinh linh cảm dục (còn gọi là “Thần cảm dục“ – desire–gods) vì chúng được làm cho sinh động một cách mạnh mẽ bằng đủ loại dục vọng và luôn luôn dự vào việc kiến tạo thể cảm dục của con vật lẫn con người. (MTNX, 76)
+ Các Tinh linh thiên nhiên của vật chất trọng trược nhất - là các tác nhân hoạt động và tác nhân kiến tạo có liên hệ đến phần hữu hình - Theo nghĩa đen, toàn bộ những gì mà con người có thể đụng tới, nhìn thấy và tiếp xúc được trên cõi trần. … Trong số các Thần, có sự sống ngầm dưới đất / tận trong lòng đất có sự tiến hóa của loại Tinh linh đặc biệt rất giống với con người......
Các Tinh linh thiên nhiên và các Thiên thần thứ yếu của chất lỏng. Nhiều nhóm Thủy thần như nữ thủy tiên, nữ nhân ngư ... mọi giọt nước trong chính nó là một sự sống bé nhỏ, ... Xem thêm: Tinh linh thiên nhiên
+ Các Tinh linh cõi trần - Các thiên thần chia 3 nhóm: (1). Truyền đạt ý chí Thượng đế; (2). Các tác nhân vận dụng năng lượng được triển khai; (3). Các tác nhân tích chứa thần lực.
+ Sinh linh và Tinh linh - Biểu lộ vật chất thấp nhất: Gồm 2 loại chi phối sự sống bên ngoài/ Sắc tướng ở cõi Trần: (i) - Các Sinh linh / Thiên thần/ Devas; (ii) - Các Tinh linh Ngũ hành .... Trong mọi tư tưởng liên quan đến các năng lượng này, cần nhớ rằng chúng được chuyển đến chúng ta thông qua, hay đúng hơn là chúng tạo thành các thể của một số Sinh linh mà chúng ta gọi là các Devas, trong các nhóm lớn và nhỏ hơn của họ, và do đó chúng ta vào mọi lúc đều đang hoạt động trong các thể (bodies) của các Sinh linh này và do đó ảnh hưởng đến họ. (LVHLT, 389)
+ Xem thêm: Tổng Hợp Các Tinh Linh
+ Thiên thần Devas: Trong trường hợp của các Devas, tình thương là làm tròn thiên luật mà không đau khổ hoặc phiền não. Đó là con đường dễ nhất đối với họ, vì họ là trạng thái mẹ, phương diện âm của biểu lộ, và con đường dễ dàng cho họ là cống hiến, bảo dưỡng và chăm sóc. (LVLCK, Tr 903)
+ Thần, Thiên thần (Devas): Devas là các thực thể tiến hóa (progressing entities) của một chu kỳ hành tinh trước. (GLBN III, 235)
+ Thần chất (Deva substance, chất liệu của Thiên thần):
- Tinh chất kiến tạo (building essence) tức là Thần chất.
- Vật chất được các Agnishvatta làm linh hoạt (vitalised). (LVLCK, 936, 774)
+ Thiên Thần ban Từ lực: Ban giải cho con người Từ lực (Prana) để chữa trị. Thiên thần gìn giữ Prana, Từ lực và Sinh lực (Như con người là kẻ gìn giữ Nguyên khí thứ 5 = Trí tuệ)- TTHM,183
+ Prana [Từ lực] tương ứng với Fohat [Sinh lực] trong tiểu vũ trụ là các dòng sinh lực qua thể dĩ thái để giữ cho xác thân được sống động và có từ lực. Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít ai biết, và khi hiểu đúng người ta sẽ biết bí quyết của sức khỏe hoàn hảo (TVTTHM, 185)
* Vì các câu thần chú và các hình thức thiền để tiếp xúc với các thần, các thiên thần hay các vị thần kiến tạo, và để kêu gọi các tinh linh hay là các hình thức sinh tồn hạ đẳng, trên thực tế đều như nhau và trong những bức thư này nên xem như vậy (TVTTHM, 174)
+ Các Sinh linh - Biểu lộ vật chất thấp nhất: Gồm 2 loại chi phối sự sống bên ngoài/ Sắc tướng ở cõi Trần: (i) - Các Sinh linh / Thiên thần/ Devas; (ii) - Các Tinh linh Ngũ hành.
.... Trong mọi tư tưởng liên quan đến các năng lượng này, cần nhớ rằng chúng được chuyển đến chúng ta thông qua, hay đúng hơn là chúng tạo thành các thể của một số sinh linh mà chúng ta gọi là các devas, trong các nhóm lớn và nhỏ hơn của họ, và do đó chúng ta vào mọi lúc đều đang hoạt động trong các thể (bodies) của các sinh linh này và do đó ảnh hưởng đến họ. Vì vậy, một số bạn vốn đã nghiên cứu bộ Luận Về Lửa Càn Khôn có thể nhận thấy các chi tiết sau là đáng chú ý:
1. Các loại devas thấp nhất hay các nhà kiến tạo trên Con Đường Tiến Hóa thăng thượng là các Thiên thần màu tím; kế tiếp là các Thiên thần màu xanh lá cây, và cuối cùng là các Thiên thần trắng (white devas). Tất cả các thiên thần này đều bị chi phối bởi một nhóm đặc biệt thứ tư. Các Thiên thần này kiểm soát các tiến trình bên ngoài của sự sống ở cõi trần.
2. Tuy nhiên, không được quên rằng ở một giai tầng thấp hơn của thang tiến hóa, là những nhóm Sinh linh khác, được gọi sai là Devas, họ làm việc tuân theo thiên luật, và được kiểm soát bởi các thực thể cao hơn. Chẳng hạn như, có các hình thể dày đặc hơn của sự sống Khí hơi, thường được gọi salamanders, tức là Hỏa-tinh-linh (elemental of the fire). Các tinh linh này ở dưới sự kiểm soát trực tiếp của Hỏa Tinh Quân (Lord Agni), là vị Chúa Tể của cõi trí (Lord of the mental plane), và trong kỷ nguyên Trí tuệ này, chúng ta có yếu tố lửa (Hành hỏa) nhập vào quy trình sống mà trước đây không bao giờ có. Loại bỏ những sản phẩm được kiểm soát bởi nhiệt (heat) và bạn sẽ đưa nền văn minh của chúng ta đến một trạng thái dừng lại, bạn sẽ đưa mọi phương tiện vận chuyển đến một kết thúc cùng với mọi phương cách chiếu sáng; bạn sẽ vứt bỏ tất cả các nhà máy chế tạo. Ngoài ra, về cơ bản, những Sinh linh lửa (fiery lives) này, được tìm thấy trong tất cả những gì bốc cháy, và trong sự ấm áp vốn nắm giữ việc hình thành mọi sự sống trên trái đất, và đem lại sự phát triển tốt đẹp cho tất cả các vật sống. (LVHLT, 389)
+ Sinh Linh kiến tạo Hình tướng: Bộ Giáo Lý Bí Truyền bảo rằng Prana là những Sinh linh “vô hình”, “bốc lửa”, cung cấp “năng lượng kiến tạo sự sống” cho các con vi trùng, như vậy khiến cho chúng xây dựng được các tế bào của thể xác, kích thước của con vi khuẩn nhỏ nhất so với kích thước của “Sinh linh bốc lửa” cũng giống như con voi so với loài trích trùng nhỏ nhất. “Mọi vật hữu hình trong vũ trụ đều được những Sinh linh ấy kiến tạo, từ con người nguyên thủy thiêng liêng và hữu thức xuống mãi tới những tác nhân vô thức kiến tạo vật chất”. Do sự biểu lộ của Prana, tinh thần vốn không biết nói xuất hiện thành ra người biết nói.
Như vậy, trọn cả Sinh Khí kiến tạo trong vũ trụ và nơi con người được tổng kết thành Prana.
Nguyên tử là một “Sinh linh” nhưng tâm thức của nó là thuộc về Thượng Đế Ngôi Ba.
Vi trùng là một “Sinh linh” có tâm thức thuộc Thượng Đế Ngôi Hai, đã được Hành Tinh Thượng Đế và “Tinh Linh Trái Đất” chiếm hữu rồi biến đổi đi.
Giáo Lý Bí Truyền cũng nói tới một “giáo điều căn bản” của khoa học huyền bí, theo đó Mặt Trời là kho chứa Sinh Lực và từ Mặt Trời xạ ra những dòng Sinh khí phập phồng chạy qua không gian, cũng như cơ thể của mọi sinh vật trên trần thế.
Paracelsus đề cập tới Prana như sau: “Toàn thể Tiểu vũ trụ được chứa đựng tiềm tàng trong Nước Hằng Sống, một lưu chất thần kinh . . . trong đó bao hàm bản chất, phẩm tính, tính tình và bản chất của vạn vật”. Paracelsus cũng gọi nó là Archaeus. Bác sĩ B. Richardson, Hội viên Hội Hoàng Gia gọi nó là “Ether thần kinh”. Những lá liễu Nasmyth là kho chứa sinh năng của Mặt Trời; Mặt Trời thực ẩn đằng sau Mặt Trời hữu hình và sản sinh ra lưu chất sinh khí vốn chu lưu trong Thái Dương Hệ với chu kỳ 10 năm. (Con người hoạt động trên 5 Cõi giới_NTH) (Nguồn: Prana - Sinh khí Thái dương hệ)
+ Biểu Lộ Theo Chu Kỳ
1/ Một chu kỳ thái dương (solar cycle) như chu kỳ hiện nay, trong đó Cung 2, Cung Bác ái - Minh Triết là cung chính, còn tất cả các cung khác chỉ phụ thuộc cung này.
2/ Chu kỳ hành tinh, như là các chu kỳ mà chúng ta vừa xem xét liên quan đến các giống dân, năm giống dân được liệt kê ở trên và năm cung đang chi phối của các giống dân này.
3/ Các chu kỳ liên quan đến 12 cung Hoàng đạo cơ bản, các chu kỳ này có hai:
a– Các chu kỳ có liên quan với một vòng Hoàng đạo đầy đủ, vào khoảng 25.000 năm.
b– Các chu kỳ có liên quan với mỗi một trong 12 cung đi vào và chấm dứt biểu lộ vào khoảng mỗi 2.100 năm.
4/ Các chu kỳ mà một số cung chiếm ưu thế trong một giai đoạn tiến hóa của nhân loại, đó là năm giai đoạn thuộc giống dân chính mà chúng ta đã thấy ở trên.
5/ Chu kỳ nhỏ diễn ra trong và ngoài lúc biểu lộ như có đề cập đến trước đây trong quyển này.
6/ Các chu kỳ hoạt động của cung được xác định bằng các con số của chúng. (TLHNM I, 265 / 332)
+ Chuyển tiếp Cung theo chu kỳ: Chu kỳ vừa kể là sự nhập cuộc hay ra đi của một cung (biểu lộ thành màu sắc khi chúng tiếp xúc với vật chất). Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này thường có 4 cung thay đổi nhau tác động trong bất cứ thời gian nào. Như vậy, ít nhiều gì cũng có những cung đồng thời nổi bật vào những giai đoạn biểu hiện nhất định.
Trong thời gian chuyển tiếp, sự pha trộn màu sắc hết sức phức tạp, nhưng cũng có tính tương trợ và giúp ích lẫn nhau. Theo hiện tại và của thời gian trong tam giới thì ảnh hưởng này hầu như rất ít ỏi, không thể đánh giá được. (TTHM, 234)
+ Chu kỳ biểu hiện: Đúng là các Chu kỳ ngoại môn của mọi quốc gia đều được chính xác dẫn xuất từ và tỏ ra tùy thuộc vào các chuyển động tinh đẩu. Các chuyển động tinh đẩu có liên hệ bất khả phân ly với số phận của các quốc gia và nhân loại.
Nhưng theo ý nghĩa thuần túy vật chất, ...* Các tinh cầu chính tâm và tâm sai, nguệch ngoạc qua các chu kỳ và ngoại luân. (GLBN, Tr 685)
+ Chu kỳ 10 năm Sinh khí Prana: Ngài Paracelsus đề cập tới Prana như sau: “Toàn thể Tiểu vũ trụ được chứa đựng tiềm tàng trong Nước Hằng Sống, một lưu chất thần kinh . . . trong đó bao hàm bản chất, phẩm tính, tính tình và bản chất của vạn vật”. Paracelsus cũng gọi nó là Archaeus. Bác sĩ B. Richardson, Hội viên Hội Hoàng Gia gọi nó là “Ether thần kinh”. Những lá liễu Nasmyth là kho chứa sinh năng của Mặt Trời; Mặt Trời thực/ MT Tinh thần ẩn đằng sau Mặt Trời hữu hình và sản sinh ra lưu chất Sinh khí = Prana vốn chu lưu trong Thái Dương Hệ với chu kỳ 10 năm. (Con người hoạt động trên 5 Cõi giới_NTH) (Nguồn: Prana - Sinh khí Thái dương hệ)
Xem: Tổng hợp về Chu kỳ
+ Ví dụ về Năng lượng các cung biểu lộ cao thấp [Biến phân thành Âm dươn Ngũ đại - Ngũ hành Can Chi ... và các phẩm tính]:.... Tôi xin minh họa cho các bạn thấy những sự thực kể trên về hai cung mà chúng ta đang xem xét. Theo định luật thì bao giờ cũng vậy, cả hai cung này đều tự biểu lộ qua một hay nhiều hình thức ở cấp cao và cấp thấp. Một trong những biểu lộ cấp cao của cung sáu đang ra đi có trong Thiên Chúa giáo. Tinh thần và các nguyên lý của tôn giáo này được thể hiện trong cuộc đời của Chân sư Jesus. Đến lượt Ngài được truyền cảm hứng, ứng linh và sử dụng bởi Đức Christ, là Đấng Lý tưởng vĩ đại của Ngài. Từ “chủ nghĩa lý tưởng” là chủ âm của cung này – chủ nghĩa lý tưởng thành hình, nêu gương sống động và cho nhân loại thấy những tiềm năng thiêng liêng của mình. Khi Đức Christ giáng lâm, lý tưởng thiêng liêng đã được trình bày lần đầu tiên cho toàn nhân loại. Những Người con khác của Thượng Đế trong thời gian đầu đã trình bày các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng khác nhau. Thế nhưng, ba vị trong họ đã đạt được mức hoàn thiện (trong thời kỳ của thế giới hiện nay) mà chưa có ai vượt qua được.
Ba vị này là: Hercules, người đệ tử hoàn thiện nhưng chưa phải là Người con hoàn thiện của Thượng Đế; Đức Phật, người điểm đạo đồ hoàn thiện, đã đạt sự giác ngộ, nhưng chưa phát triển tất cả các thuộc tính của thiên tính đến mức hoàn thiện; Đức Christ, sự biểu lộ hoàn hảo tuyệt đối của thiên tính trong chu kỳ này, do đó, Ngài là Huấn sư của cả thiên thần và loài người........ Tất cả các Ngài đều thuộc về tập thể các Đấng điều hành đang thực hiện Thiên cơ, được thành lập dựa vào nguồn bác ái của Thượng Đế. Đức Phật và Đức Christ vẫn còn kết hợp chặt chẽ, và làm việc hợp tác với Thánh Đoàn. Hercules đã đi vào trung tâm Shamballa, nhưng vẫn còn làm việc, hợp tác trong cơ bản với Đức Phật; Ngài là một trong các Lực liên kết Shamballa và Thánh Đoàn. (Tr 38)
Tôn giáo thuần túy, không nhơ bợn và tập trung vào tinh thần, là biểu lộ cấp cao của cung sáu (bao giờ cũng hoạt động dưới ảnh hưởng và mãnh lực của cung hai). Thiên Chúa giáo trong thời gian đầu là biểu tượng vĩ đại mang lại nguồn hứng khởi của cung này.
Đồng thời, trong những khía cạnh thấp kém của cung sáu có mọi hình thức tôn giáo theo giáo điều, và dựa vào thẩm quyền, như biểu lộ bởi các giáo hội chính thống, có tổ chức. Mọi lối trình bày thần học đều là biểu lộ cấp thấp của các chân lý tinh thần cao siêu. Chúng tiêu biểu cho các phản ứng trong trí của người sùng đạo, khi y tin vào những diễn dịch trong trí của cá nhân mình, và chắc rằng mình hoàn toàn đúng. Chúng không thể hiện các giá trị tinh thần đích thực. Do đó, có thể thấy tính chất khủng khiếp trong các biểu lộ cấp thấp của cung sáu, và sự chế ngự của các mãnh lực gây chia rẽ (bao giờ cũng là đặc trưng rõ rệt trong hoạt động cấp thấp của cung sáu).......(Tr 40)
Bạn cũng sẽ thấy rõ những biểu lộ cấp thấp và cấp cao của một cung liên quan mật thiết với nhau như thế nào. Đồng thời, rất dễ xảy ra tình trạng các biểu lộ cấp cao bị mất kiểm soát, trong khi biểu lộ cấp thấp đi vào biểu hiện – một điều mà rốt cuộc chính cuộc tiến hóa sẽ điều chỉnh.
Thật khó phân biệt các biểu lộ cấp cao và cấp thấp của Cung bảy Trật tự Nghi lễ. Lý do là vì cung này chỉ đang trong tiến trình biểu hiện, và chúng ta chưa biết biểu lộ chủ yếu của nó sẽ như thế nào, dù ở cấp cao hay cấp thấp. Những phản ứng của con người cũng có tầm quan trọng. Vì thế, như tôi đã nêu trên, ngay cả các Chân sư cũng không và không thể đoán trước được các tác động của mãnh lực khả dĩ sẽ có kết quả như thế nào, hoặc kết cục của chúng sẽ ra sao, dù các Ngài thường có thể xác định được những sự việc có khả năng xảy ra. Nếu tôi nói rằng biểu lộ cấp cao của cung bảy là chánh thuật, thì bạn có thực sự hiểu ý tôi muốn nói gì không? Có lẽ là không. Bạn có ý niệm thực sự nào về thâm nghĩa của hai từ này chăng? Tôi cho là không. Chánh thuật thực tế là năng lực của người phụng sự viên và quản trị viên thành thạo có thể kết hợp “cái bên trong và cái bên ngoài” thành một tổng hợp xây dựng. Nhờ đó mà cái bên dưới có thể theo khuôn mẫu của cái bên trên một cách rõ rệt. Đó là nhiệm vụ cao cả nhằm kết hợp lại, đúng theo chủ đích và kế hoạch ngay trước mắt vì lợi ích của sự sống đang tiến hóa trong một chu kỳ nào đó của thế giới:
1. Tinh thần và vật chất.
2. Sự sống và hình thể.
3. Chân nhân và phàm nhân.
4. Linh hồn và biểu lộ bên ngoài của nó.
5. Các thế giới cao siêu của atma – buddhi – manas và phản ánh ở cấp thấp gồm trí tuệ – tình cảm và tính chất hồng trần.
6. Luân xa đầu và luân xa tim, qua sự thăng hoa năng lượng của các luân xa sinh dục và nhật tùng.
7. Các cảnh giới dĩ thái-cảm dục và cảnh giới hồng trần thô trược.
8. Các cấp của đời sống vô hình nội tại, và các thế giới hữu hình bên ngoài.
Đó là nhiệm vụ của nhà chánh thuật. .... Vì thế, tất cả những gì giúp con người thêm nhạy cảm và nâng cao ý thức - Tất cả những gì có khuynh hướng tạo ra những hình thể tốt đẹp hơn để qua đó nguyên khí sống động của thiên tính có thể tự biểu lộ - Tất cả những gì làm thưa mỏng hay loại bỏ bức màn che giữa các thế giới mà những người không dùng thể xác đang sống, hoạt động và làm việc, và các ngoại giới của hình thể, cũng đều là công việc của nhà chánh thuật. Luôn luôn có nhiều loại công việc này, nhưng chưa bao giờ nhiều như hiện nay, vì cung bảy, cung của nhà thuật sĩ (hắc thuật và chánh thuật), đang vào cuộc biểu hiện. ..... Vì thế, cũng có sự quan tâm sâu sắc đến đời sống bên kia cửa tử, và ngày nay có nhiều nhóm đang khảo cứu xem mỗi người vẫn tồn tại sau khi từ trần, và khả dĩ là bất tử hay không. Do đó, hiện nay phong trào thông thần đang tái xuất hiện. ... Khoa thông thần vốn là tôn giáo của Atlantis cổ xưa, và cung bảy đã chế ngự nền văn minh cổ đại ấy trong khoảng thời gian rất lâu, đặc biệt là trong nửa đầu thời gian tồn tại của nó, giống như cung năm cũng có mãnh lực chế ngự như thế trong thời đại và chủng tộc Aryan hiện nay. (Tr 43)
Nếu khoa thông thần được phát triển đúng đắn theo những đường hướng tâm lý, và không còn nhấn mạnh vào các hiện tượng (vốn là đặc trưng nổi bật và sự chú trọng của nó ngày nay) thì thực chất của sự chết và đời sống sau khi từ trần sẽ được tiết lộ. Thế nhưng, dựa vào khoa thông thần tôi có thể minh họa rõ nhất sự biểu lộ cấp thấp của những ảnh hưởng sắp đến của cung bảy. Như bạn biết, công tác của cung bảy là liên kết sự sống và hình thể. Tuy nhiên, khi phương diện hình thể được chú trọng, thì rốt cuộc mang lại qui trình sai, và nhà hắc thuật có thể bắt đầu làm việc, và nhằm đạt các mục tiêu không thích đáng. Đây là những gì đã xảy ra trong phong trào thông thần. Những nhà nghiên cứu trong phong trào này chỉ chú ý đến phương diện hình thể của đời sống. Còn những người ủng hộ nó thì chỉ muốn thỏa mãn những ước muốn tình cảm của mình (cũng liên quan đến phương diện hình thể). Vì thế, phong trào này có nguy cơ mất đi tầm quan trọng thực sự của nó.
Khoa thông thần, trong phương diện vật chất và thấp nhất của nó, là biểu lộ cấp thấp của cung bảy. Đối với đại chúng, nó là đường lối ít trở ngại nhất, và vì thế mà không mấy quan trọng về mặt tinh thần cho sự phát triển tiến hóa của họ. Ngày nay, đại chúng vẫn còn tâm thức của dân Atlantis, và chỉ đang từ từ hòa nhập vào quan điểm của người Aryan. Phải thay đổi điều này, và phải nhanh chóng nâng cao hoạt động trí tuệ của họ, nếu không thì khoa thông thần đích thực không thể biểu lộ được. Bấy giờ, qua phong trào thông thần hiện nay, những mãnh lực và thực thể bất hảo nhất có thể được phóng rải trên thế giới. Tính tiêu cực của đa số những người quan tâm đến khoa thông thần, và tình trạng hoàn toàn tiêu cực của phần lớn những người đồng tử đã mở rộng cửa cho những mối nguy rất rõ rệt. Cũng may, trong giới thông thần có phong trào nhằm khắc phục nguy cơ này, và chuyển sự quan tâm hiện nay về hiện tượng vào thế giới của các giá trị chân thực và hiểu biết đúng đắn. Vấn đề này quá rộng lớn, nên tôi không thể bàn đầy đủ ở đây, trừ việc minh họa một số điểm, và chỉ đưa ra một điều gợi ý. Nếu các hội đoàn và tổ chức có liên quan đến phong trào thông thần và các nhóm nghiên cứu tâm linh, cố gắng tìm thấy các nhà tâm thông tự nhiên (chứ không phải là các đồng tử xuất thần) cũng như những người có nhãn thông và nhĩ thông tự nhiên, đồng thời nghiên cứu các tiết lộ, lời nói, phản ứng, và phương thức làm việc của những người này, thì họ sẽ khám phá ra nhiều điều về một số quyền năng tự nhiên và bình thường của con người. Những quyền năng này đã tạm thời tiềm ẩn trong thời kỳ dành cho mục tiêu phát triển thể trí, là những quyền năng mà nhân loại có chung với hai nhóm lớn – tức là các Thành viên của Thánh Đoàn, và giới động vật. Hãy suy ngẫm kỹ điều này. Vì thế, nếu các hội đoàn nói trên tập trung vào các đồng tử thông minh và có trí tuệ và loại bỏ những điều kiện xuất thần, thì không bao lâu sự thiên khải sẽ đến. Không nên có điều kiện xuất thần, vì nó tách rời người đồng tử khỏi linh hồn của y, khiến y hoàn toàn rơi vào lĩnh vực của các mãnh lực vật chất tiêu cực mà y không thể kiểm soát. Tuy nhiên, các lực lượng vật chất sẽ ngăn cản sự phát triển này nếu có thể, vì khi thế giới có sự hiểu biết thông minh tích cực về bên kia bức màn sinh tử, thì mọi người sẽ không còn sợ chết, bấy giờ các lực lượng ấy sẽ không còn quyền lực gì, và không thể cầm giữ nhân loại được nữa.
Nếu các bạn sáng suốt hiểu được những điều tôi đã nói, thì sẽ thấy rõ hai điều liên quan đến các hoạt động ban đầu và trực tiếp của hai cung này – tức là cung sáu và cung bảy.
Thứ nhất, nhiều nhóm người ngày càng chịu ảnh hưởng của chúng, và khi các nhóm này (đáp ứng với mãnh lực của cung sáu hoặc cung bảy) thì tất họ sẽ chống đối và xung khắc với nhau. Vấn đề là do nhân loại đã phát triển tính nhạy cảm, nên nay sự chống đối này đang có trên qui mô toàn thế giới. Vì thế, hiện có nhiều xung đột giữa các ý tưởng, và các ý thức hệ đối kháng nhau. Đồng thời cũng có sự đối nghịch giữa một mặt là các truyền thống đã có từ lâu đời và những hình thức cũ kỹ của văn minh, chính quyền, tôn giáo, và mặt khác là những ý tưởng mới hơn đang xuất lộ. Các quan niệm mới này sẽ mở ra Thời đại Mới, và rốt cuộc sẽ cách mạng hóa đời sống và các tiêu chuẩn hiện nay của chúng ta. Chúng sẽ cho thấy những ý tưởng cũ kỹ này giống như các ý tưởng đã chi phối nhân loại cách đây một triệu năm, nay được đánh giá trong tâm thức chúng ta. (Tr 45)
Thứ hai: Tình trạng còn rắc rối hơn khi thực tế là cả hai cung này có ảnh hưởng và (bao giờ cũng) tự biểu lộ theo hai cách. Bao giờ chúng cũng biểu hiện dưới dạng thấp và dạng cao, về mặt này tương ứng với biểu lộ ở cấp phàm nhân và chân nhân của mỗi người. Trong trường hợp của cung ra đi, thì dạng cấp cao (bao giờ cũng biểu hiện trước ở mức phôi thai) tan biến nhanh chóng, hoặc được hấp thu vào lý tưởng mới. Bằng cách đó, nó góp thêm tất cả những gì tốt đẹp nhất vào việc trình bày chân lý theo lối mới, nhờ đó mà nền văn hóa đang xuất lộ sẽ đặt căn bản thích hợp trên nền tảng cũ. Tuy nhiên, các dạng cấp thấp lại bám chặt và chế ngự. Vì thế, ngày nay chúng thực sự trở thành vấn đề khó khăn nghiêm trọng của Thánh Đoàn, đến đỗi cần phải kêu gọi cung một (hay thần lực của Shamballa) để hủy diệt chúng. Cần lưu ý điều này khi bạn khảo sát tình hình thế giới. Các dạng biểu lộ cấp thấp của cung bảy vẫn còn trong giai đoạn phôi thai. Bạn có thể thấy rõ điều này khi xem xét phong trào thông thần mà tôi đã chọn đề cập đến. Nó chỉ mới bắt đầu hình thành trong thế kỷ trước, nhưng đã đạt mức tăng trưởng nhanh chóng lạ thường chỉ vì nó khởi đầu trên châu Mỹ. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là trung tâm của Atlantis thời xưa và, do đó, thừa hưởng một dạng tôn giáo cổ liên quan đến thần thông, vốn đã tồn tại và hoạt động mạnh mẽ trong phần đất này của thế giới qua nhiều thế kỷ.... (Nguồn: Sách Vận mệnh các quốc gia - Tr 46)
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi Sutratma, Life thread hay Silver cord (Ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này. (GDTKNM, 143)
- Chúng ta dùng để chỉ hơi thở thiêng liêng hay sự sống. (LVHLT, 152)
- Là lưu chất của sự sống chu lưu khắp cơ thể của Thượng Đế, và làm linh hoạt ngay cả vi tử nhỏ nhất trong tổng thể này. (LVHLT, 364)
+ 10 nguồn tương tác đến nhân loại: Các Cội Nguồn xa xăm, đi vào sự sống Hành tinh chúng ta và tạo ra các hiệu quả nhất định lên trên con người cá biệt và nhân loại nói chung, tổng là 10 nguồn: 1. Tinh tòa Đại Hùng (Great Bear, Gấu Lớn). 2. Thất Tỉ Muội (Seven Sisters) của tinh tòa Pleiades. 3. Sirus, the Dog Star (Sao Thiên Cẩu). 4. Bảy thái dương hệ mà thái dương hệ chúng ta là một 5. Bảy hành tinh thánh thiện (Không có địa cầu). 6. Năm hành tinh không thánh thiện hay các hành tinh “ẩn tàng”. 7. Bảy trung tâm hành tinh. 8. Bảy trung tâm lực trong thể dĩ thái con người. 9. Mười hai chòm sao của hoàng đạo, cộng với phát xạ từ chính địa cầu (CTHNM, 22)
+ N.Lượng vòng hoàng đạo, của thái dương hệ và của Hành tinh, tác động dưới hình thức lực kích thích hay cản trở tùy theo loại dẫn thể hay khí thể mà chúng tác động vào; bản chất của các dẫn thể này và năng lực của chúng để thu hút, đáp ứng, loại bỏ, tiếp nhận và chuyển hóa đều hoàn toàn tùy thuộc vào mức tiến hóa đã đạt được và cũng tùy thuộc vào tình hình chung của Hành tinh và tâm lý đang có trong gia đình nhân loại ở bất cứ thời kỳ đã chọn nào. (Nguồn: Chiêm TH nội môn 8)
+ Bảy cung NL, mỗi cung có đặc tính chuyển động: Cung 1; 7 - Thẳng; Cung 2; 4; 6 - Xoay vòng; Cung 3; 5 - Zíc zắc, ngừng nghỉ ( Nguồn )
+ Fohat: Vật chất và dĩ thái và những từ đồng nghĩa— Matter and ether are synonymous terms (TCF- Luận về lửa vũ trụ, Tr 118)
Bảy cõi giới chính thuộc thái dương hệ của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta có thể từ đó thấy được lý do được Bà H. P. B. nhấn mạnh về sự kiện rằng vật chất và dĩ thái là những từ đồng nghĩa và rằng chất Dĩ thái này được thấy ở dạng này hay dạng khác trên tất cả các cõi giới, và chỉ là một phân cấp của vật chất nguyên tử vũ trụ, được gọi một cách không phân biệt là Mulaprakriti hay vật chất tiền di truyền nguyên thủy, và khi được phân hoá bởi Fohat (hay Lực năng lượng sống, Thượng Đế thứ ba hay Brahma), nó được gọi là prakriti, hay vật chất.
+ Fohat: Là Vũ trụ năng - Năng lượng thiêng liêng - Tư tưởng thiêng liêng hay Năng lượng khi đã biểu lộ trên bất cứ cõi vũ trụ nào. Đó là tác dụng hỗ tương giữa tinh thần và vật chất. 7 biến phân của Fohat là (LVLCK, 59) :
1. Cõi Sự.S thiêng….. Adi……...... Bể lửa
2. Cõi Chân Thần.…Anupadaka.…. Akasha
3. Cõi Tinh thần ..…..Atma…….... Aether
4. Cõi trực giác ...…Bồ đề…… Phong/ Không khí (Air)
5. Cõi Trí tuệ …… ..Trí tuệ…….. Hoả
6. Cõi dục vọng ….Cảm dục…Tinh tú quang
7. Cõi trọng trược.... Hồng trần… Dĩ thái
+ Mô tả khác của 7 biến phân (LVLCK, 43)
1. Cõi Thiêng liêng...Tối Đại Niết Bàn... Bể lửa
2. Cõi Chân Thần- Đại Niết Bàn- Tiên Thiên khí
3. Cõi Tinh Thần ......Niết Bàn ....Hậu thiên khí
4. Cõi Trực Giác … Bồ Đề ........Phong/ Không khí
5. Cõi trí …….. Trí tuệ ... ...........Hỏa/ Lửa
6. Cõi dục vọng ...Cảm dục... Cảm dục quang
7. Cõi trọng trược...Hồng trần... Dĩ thái (Ether)
Xem: TH Hỏa Tinh Quân - Fohat - Năng Lượng
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các Nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chính là bộ máy đáp ứng. (CTNM, 36).
+ Thể năng lượng: Dùng để chỉ một hình thể có khả năng hoạt động độc lập trong cõi hữu hình và vô hình. (KCVTT, 128)
+ Thể năng lượng (Energy body): Thể năng lượng tức Thể dĩ thái. (GDTKNM, 36)
+ Ma và Phật song hành: Thưa chư vị, trong vô lượng thế giới, hễ nơi nào có ánh sáng của Phật hiện tiền, nơi ấy bóng của ma cũng tự khởi. Không phải vì ma đối nghịch Phật mà vì Phật hiển thì ma phải phản chiếu. Đó là quy luật cân bằng của pháp giới. Thiện ác, sáng tối, âm dương nương nhau mà tồn tại. Cõi Ta Bà này từ trước khi Phật giáng sinh, thiên ma đã có mặt như một dòng lực cổ xưa giữ gìn sự vận hành của dục giới. Thiên ma ma vương không phải hắc quỷ mà là những thực thể cao minh mang phước lực lớn, cư tại tầng trời tha hóa tự tại, vận hành mặt nghiệp lực âm của thế gian. Trong ngôn ngữ tu hành mà có hai phương diện:
Ngoại ma, thiên ma, ma vương chỉ gợi lên những làn sóng dao động của nghiệp ác đã sẵn trong ta.
Nội ma chính là bóng tối từ những chủng tử bất thiện ngũ sâu trong a lại gia thức, gặp duyên liền hiện khởi.
Trong đời điều đáng sợ không phải ngoại ma, ngoại ma chỉ làm gợn mặt nước. Điều thật sự đáng sợ là ma trong tâm, vì chỉ một niệm bất thiện bùng lên cũng đủ khuấy động tận đáy biển nghiệp lực kéo hành giả rơi trở lại vô minh. Cho nên kẻ chiến thắng ngoại ma là người kiên định. Kẻ chiến thắng nội ma mới là người giải thoát. Bởi vì ngoại ma chỉ có thể chạm đến bề mặt tâm. Còn nội ma chính là bề mặt ấy lật út cả đại vương. Trong kinh Phật dạy tâm nhiễm ô thì ma liền vào, tâm thanh tịnh thì ma không thể thấy. Nội ma không có hình, không có tiếng, nhưng lại có thể biến thành sân hận, tham ái, nghi hoặc, tự cao, sợ hãi, ngã mạn. Nó mượn giọng nói của chính ta, giả làm ý nghĩ của chính ta, khiến ta không biết mình đang bị dẫn dắt. Ngoại ma chỉ đến thử thách, nhưng nội ma mới là kẻ mở cửa....... [Xem chi tiết_Đại Lai Lạt Ma giảng: Vũ Trụ Biểu Lộ Qua Đạo Âm Dương: Cặp Đối Ma Phật ...]
+ Câu Hỏi 1: Ma ở trong tâm, làm thế nào để tâm Phật thắng được tâm ma? Phật thường ở trong tâm thiện. Nếu có người làm ác, phải làm gì để họ theo thiện bỏ ác?
Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo đã giải thích cho chúng ta vấn đề này. Phật cùng ma là một, không phải hai. Giác ngộ rồi ma liền thành Phật; mê hoặc rồi, Phật biến thành ma. Cho nên, một niệm giác ngộ thì Phật ở tại tâm, một niệm vừa mê, thì ma ở tại tâm. Phật dạy bảo chúng ta phải thường giác ngộ. Một niệm vì chính mình, tự tư tự lợi, chính là ma, tâm này chính là tâm ma. Thay đổi lại ý niệm, vì xã hội, vì chúng sinh, tâm này chính là tâm Phật. Do đó làm thế nào đem cái ý niệm tự tư tự lợi chuyển đổi thành lợi ích xã hội, lợi ích chúng sinh. Đây là mấu chốt vô cùng quan trọng. Người có thể thay đổi được ý niệm, đương nhiên họ có thể đoạn ác hướng thiện.
Câu Hỏi 6: Lưu thông buôn bán tượng Phật có bị coi là làm thân Phật ra máu không?
Mua bán tượng Phật hoàn toàn không có lỗi lầm. Làm thân Phật ra máu là phá hoại tượng Phật một cách cố ý. Hành động phá hoại tượng Phật một cách vô ý là lỗi, lỗi không cẩn thận, không phải tội .(Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Cảnh giới Phật và ma - Không hai: Chính giữa Phật bộ đấng Tỳ Lô - Chủng tộc Như Lai hóa quần sinh - Khắp tu vạn hạnh Ba La Mật - Các pháp vô ngã chứng viên thông.
Giảng giải : Ða Tha Già Ða dịch là "Như Lai", tức cũng là Phật Bộ, Chú Lăng Nghiêm có năm bộ, phân làm năm hướng.
Chính giữa là Phât Bộ, Phật Tỳ Lô Giá Na là giáo chủ.
Phương tây là Liên Hoa Bộ, Phật A Di Ðà là giáo chủ.
Phương đông Kim Cang Bộ, Phật A Súc là giáo chủ, tức cũng là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.
Phương nam là Bảo Sinh Bộ, Phật Bảo Sinh là giáo chủ.
Phương bắc Yết Ma Bộ, Phật Thành Tựu là giáo chủ. Cộng thành năm bộ.
Thế gian này có năm bộ giáo chủ đến quản lý và trấn áp năm đại ma quân. Năm đại ma quân mới tuân theo quy cụ không dám quấy phá, tuy nhiên tuân theo quy cụ nhưng chúng cứ muốn làm cho thế giới này tệ hại từng chút từng chút.
Thế giới này có đủ thứ tai nạn phát sinh, là do thiên ma ngoại đạo làm ra, chúng tuy nhiên sợ thiên hạ không loạn, tuy sợ thế gian này không sớm tệ hại, nhưng năm phương Phật trấn áp tại đó, chúng rình rình phá hoại, không dám xuất đầu lộ diện. Trên thế gian thì Phật và ma đối lập với nhau. Phật thì giáo hóa chúng sinh sớm thành Phật đạo, ma thì giáo hóa chúng sinh sớm thành ma đạo. Nhưng Phật là nhờ ma giúp Ngài tu thành. Do đó, ma chính là thiện trí thức của Phật giáo đồ. Người tu đạo cảnh nghịch đến, thì phải thuận mà thọ, nên phản diện nhận thức chỗ tốt.
Chúng ta phải cung kính Phật, cũng không phản đối ma vương. Kẻ oán người thân đều bình đẳng. Phật ma như một, phải không có sự thương ghét, không thiện cũng không ác. Cảnh giới này gần như nhau. Năm Bộ chú Lăng Nghiêm này về sau mới giảng đến rõ ràng.
Câu Ra Gia dịch là "Chủng tộc của Phật", "Chủng tộc của Như Lai", tức là Phật giáo đồ tin Phật. (Nguồn: Phật Ngũ Phương - HT Tuyên Hóa)
+ Thân Người Khó Được là một trong sáu nạn của con người. Phật Pháp khó nghe
.... A Nan lại hỏi: “Những thứ thuốc đó, tìm được ở đâu?” Đức Phật trả lời: “Ở núi Tu Di”. A Nan Lại hỏi: “Tu Di là gì?” Đức Phật trả lời: “Là thân người vậy. Hết thảy chúng sinh, đều có sáu nạn: Một là thân người khó được; hai là thân người khó đủ; ba là thiện tâm khó phát; bốn là Chính Pháp khó nghe; năm là trung quốc khó sinh; sáu là Đạo tràng khó gặp.”
Phật nói kệ rằng, giả sử tạo nghiệp, trong trăm nghìn kiếp, nghiệp cũng không mất, đến khi nhân duyên, hòa hợp đầy đủ, thì người gây nghiệp, phải chịu quả báo. Nét mặt tươi vui, đó là cúng dàng, miệng không nói dối, đó là diệu hương, lòng không sân hận, đó là Tịnh Độ, ý không nóng nảy, đó là đạo tràng. Làm người học đạo, mà không biết nhân, suốt ngày bận bịu, ham đắm sắc trần, chỉ biết lấy nước, lau rửa mặt mình, mà không lấy thiện, gột rửa lòng mình, thôi làm mọi điều ác, đó là nhân Tịnh Độ. Dù trí hay ngu, điều cần trước nhất, là bỏ tham sân. (Nguồn: Kinh Mục Liên Sám Pháp)
+ Người tu rất khó có được: Đức Phật dạy:
1) "Người ra khỏi ác đạo, được làm người là khó;
2) Đã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam là khó;
3) Đã được thân nam, sáu căn đầy đủ là khó;
4) Sáu căn đã đủ, được sanh ra ở vùng trung tâm đất nước là khó;
5) Đã sanh ra ở vùng trung tâm đất nước, gặp Phật ra đời là khó;
6) Đã gặp Phật ra đời, lại được gặp bậc tu Đạo là khó;
7) Đã được gặp Đạo, lại sanh lòng tin là khó;
8) Đã sanh lòng tin, lại phát tâm Bồ-đề là khó;
9) Đã phát tâm Bồ-đề, mà đạt đến chỗ vô tu, vô chứng là khó."
Lược giảng:
1. "Người ra khỏi ác đạo, được làm người là khó." Tam ác đạo (ba đường ác) tức là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Thoát khỏi ba đường ác và được sanh làm người là điều không phải dễ!
Khi Đức Phật còn trụ thế, Ngài đã có lần nêu ra một câu hỏi để các đệ tử cùng nhau suy gẫm. Câu hỏi gì? Một hôm nọ, Đức Phật bốc một nắm đất lên rồi hỏi chư đệ tử: "Các ông hãy cho Ta biết: Là đất trong lòng bàn tay Ta nhiều hay đất trên đại địa nhiều? Các ông mỗi người đều phải trả lời câu hỏi của Ta."
Tất cả đệ tử của Phật đều đáp: "Bạch Đức Thế Tôn! Đương nhiên là đất trong lòng bàn tay của Phật thì ít hơn đất trên đại địa!" Đó là một sự kiện hiển nhiên, đâu có gì đáng phải thắc mắc?
Bấy giờ, Đức Phật mới bảo chúng đệ tử rằng: "Số chúng sanh có thể thoát khỏi ba ác đạo - địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh - và được làm người trở lại cũng ít ỏi như nắm đất trong tay Ta; còn số chúng sanh vẫn còn luẩn quẩn trong trong ba đường ác và không được mang thân người, thì nhiều như đất cát trong đại địa vậy!"
Điều này chứng tỏ rằng thoát khỏi ba đường ác để làm người không phải là chuyện dễ.
2. "Đã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam là khó." Được làm người là khó, tuy nhiên, được làm người nam (thay vì người nữ) thì lại càng khó hơn nữa! .....
Làm người nam hay người nữ là việc mà bản thân quý vị không có quyền quyết định hay lựa chọn. Đó không phải là chuyện mà mình muốn là được. Cho nên, điều này cũng chẳng dễ dàng chút nào!
3. "Đã được thân nam, giả thử quý vị đã được làm người nam hoặc người nữ rồi; sáu căn đầy đủ là khó. .... Sáu căn không toàn vẹn là chuyện thông thường, rất dễ xảy ra. Có được sáu căn đầy đủ, hoàn chỉnh mới là khó, rất khó.
4. "Sáu căn đã trọn đủ, hoàn chỉnh, không khuyết điểm - mắt ra mắt, tai ra tai - mà còn được sanh ra ở trung tâm quốc gia là khó."...... Đã có sáu căn hoàn bị rồi mà còn được sanh ra ở vùng trung tâm đất nước nữa là điều khó.
.... Muốn được sanh ở miền biên giới là chuyện rất dễ dàng; nhưng muốn được sanh ra ngay giữa vùng trung tâm của quốc gia thì không phải dễ! ... (Nguồn: Kinh 42 chương - HT Tuyên Hóa)
+ Thân người là quý: Sự hiếm hoi có được thân người trong vô số luân hồi là điều vô cùng khó khăn ("Vô số kiếp luân hồi"), đó là:
+ Cơ hội tu tập: Thân người cho phép chúng ta thực hành Phật Pháp, tu dưỡng tâm từ, bi, hỷ, xả và giác ngộ.
+ Các yếu tố hỗ trợ: Bao gồm trí tuệ, sức khỏe, một môi trường ổn định, và không gặp quá nhiều nghịch cảnh.
+ Các phẩm chất thường được đề cập (Không phải 18 cố định):
+ Thay vì 18 phẩm chất cụ thể, Ngài thường đề cập đến các yếu tố tạo nên một cuộc đời có giá trị:
- Sự sinh ra ở cõi người: Cung cấp khả năng hiểu và thực hành giáo pháp.
- Sức khỏe tốt: Cho phép ta có năng lượng để tu tập.
- Được sinh ra trong thời kỳ có Phật Pháp: Có cơ hội tiếp cận lời dạy của Đức Phật.
- Tự do khỏi các cực đoan: Không bị ràng buộc bởi khổ đau hoặc xa hoa quá mức.
- Có khả năng sử dụng trí tuệ: Phân biệt đúng sai, thiện ác.
- Lòng từ bi và trí tuệ Bồ đề: Động lực chính để tu tập vì lợi ích chúng sinh.
- Không bị chướng ngại lớn: Như chiến tranh, bệnh dịch.
Tóm lại: Điều quan trọng là việc nhận ra thân người là vô cùng quý báu để không lãng phí nó, mà dùng nó để thực hành lòng từ bi và trí tuệ trên con đường giác ngộ. (AI tổng hợp theo lời dạy của Đại Lai Lạt Ma)
+ Mang Thân người - Thân tứ đại giả tạm: Thân thể của ta đây chỉ là sự tổ hợp của bốn đại chủng: những gì cố thể thì thuộc về đất, những gì dịch thể thì thuộc về nước, những gì nhiệt lực thì thuộc về lửa, những gì động lực thì thuộc về gió. Nhưng bốn đại chủng ấy tách rời với nhau, thì gọi là cái thân là cái gì? ... chỉ là một hình thái tổ hợp, thực chất huyễn ảo.
Do bốn đại chủng làm những yếu tố tương quan mà tổ hợp lại một cách không thật nên có ra sáu giác quan, có cũng một cách không thật. Rồi sáu giác quan ở trong và bốn đại chủng ở ngoài tổ hợp với nhau mà có một cách không thật những sự vin theo đối cảnh, và tụ lại tựa như có ấn tượng: như thế giả gọi là tâm thức. Tâm thức không thật như vậy nếu không có sáu đối cảnh thì không thể có được. Nhưng bốn đại chủng phân tán thì sáu đối cảnh cũng không thể có. Đại chủng và đối cảnh phân tán thì rốt cuộc cũng không có tâm thức có thể tìm thấy.
Thiện nam tử, người ấy thấy thân thể như huyễn ảo hủy diệt thì tâm thức như huyễn ảo hủy diệt, tâm thức như huyễn ảo hủy diệt thì đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt, đối cảnh như huyễn ảo hủy diệt thì sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt, sự hủy diệt như huyễn ảo cũng hủy diệt thì cái không phải huyễn ảo sẽ không hủy diệt, giống như lau gương, dơ bẩn lau hết thì trong sáng hiện ra: Phải biết thân tâm toàn là hình thái dơ bẩn, hình thái dơ bẩn diệt hẳn thì vũ trụ trong sáng.
Thiện nam tử, như khối ngọc trong suốt phản ảnh đủ cả năm màu, mỗi màu hiện một phía, vậy mà kẻ ngu dốt thì nói khối ngọc thật có năm màu. Tương tự như vậy, viên giác trong sáng ảnh hiện thân tâm thích ứng từng loại, vậy mà người ngu dốt nói viên giác thật có các hình thái thân tâm. Do đó mà họ không thể thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn, và, với họ, Như lai nói thân tâm đều là huyễn ảo dơ bẩn; đối lại, ai thoát bỏ huyễn ảo dơ bẩn thì Như lai gọi là bồ tát; và huyễn ảo dơ bẩn hết rồi thì sự đối lại cũng không còn: không còn dơ bẩn, không còn người thoát bỏ dơ bẩn, không còn người giả thiết tên gọi. (Nguồn: Kinh Viên Giác - Phổ Hiền hỏi)
+ Bài ca túi da, túi da hề - HT Hư Vân
..... Ba trăm sáu chục dây gân kết,
Tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông.
Phân tam tài, hợp tứ đại,
Đội trời đạp đất bao khí thế!
Biết nhân quả, biện thời thế,
Quán sát cổ kim chỗ tối tăm.
Bởi gốc mê lầm chấp hư huyễn,
Lụy cha mẹ, luyến vợ con,
Theo vô minh kết thành oan nghiệt...........
Nghĩ suy thường nhật tham, sân, si
Đường tà chìm nổi thành tự hoại
Giết hại, trộm cắp, tà dâm, dối
Nghiệp ác mặc tình, tùy sở thích
Ngạo mạn thân hữu phân yêu ghét.
Rủa trời đất, khinh miệt quỷ thần
Chuyện sanh tử mê mờ tai hại
Ra khỏi thân trâu, vào thai ngựa ..........
Sống cuồng, chết uổng, mãi trôi lăn
Ba nẻo ác, này địa ngục,
Này quỷ, này thú, khổ tột cùng.............
Coi đời huyễn, giả danh, đối đãi
Sớm hồi tâm an nhiên tự tại
Chẳng ham danh, chẳng ham lợi
Lìa gia đình, bỏ đời dục lạc
Dứt mọi tình luyến ái vợ con
Vào cửa không, theo Phật giới,
Tìm minh sư, cầu khẩu quyết,.....
Hàng phục sáu căn bặt nghĩ suy.
Chẳng ta, chẳng người, chẳng phiền não.
Khác người trần than đời chóng vánh.
Áo cốt che thân, ăn khi đói.
Tạm nương nhờ, gìn giữ sắc thân.
Bỏ tài sản, khinh thân mạng
Như đàm, dãi, nhổ không do dự.
Giữ tịnh giới không sơ sót,
Ngọc trắng băng trong, bốn oai nghi.
Mắng không giận, đánh không hận.
Nhẫn điều khó nhẫn chẳng bận lòng
Mặc nắng mưa, không gián đoạn
Thủy chung một niệm A-Di-Đà.
Không hôn trầm, không tán loạn
Xanh như tùng bá giữa trời đông.
Chẳng nghi Phật, không nghi pháp
Thấy, nghe, biết tận điều chân thực...........
Từ thái cực, phân lưỡng nghi
Tâm linh hoạt bát, chuyển càn khôn..........
Niệm Di-Đà, dứt sanh tử.
Khinh khoái trong lòng chẳng giống ai.
Học tham thiền, vững tông chỉ
Tinh thần vô hạn chỉ bấy nhiêu..........
Khởi tâm lành,
Bước vào cửa không, lễ Pháp Vương
Sám hối nghiệp tội tăng thêm phước.
Bái minh sư, cầu ấn chứng
Thoát vòng sanh tử minh tâm tánh,........ (Nguồn: Bài ca túi da hề)
+ Xem thêm: Pháp ngữ Thiền sư Hư Vân
+ Cơ thể con người: Chất liệu của 2 phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói thêm rằng nơi kẻ thường nhân, chất liệu của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm đa số tùy theo mức tiến hóa của người đó. (LVLCK,942)
* Cơ thể con người: Cơ thể cấu tạo con người căn bản gồm Thân và Tâm. Theo Phật giáo, thân tâm được hình thành do con người nhận lầm Thức tâm phân biệt luôn thay đổi sinh diệt thay cho Diệu minh Chân tâm thường trụ không sinh không diệt. Do nhận thức sai lầm này mà nhận giặc/ Thuận theo các thức căn sinh diệt làm mình, cho lên phải luân hồi. (Nhân Trắc Học)
+ Cơ Thể Hỏa Tinh Quân - Agni: Mỗi một trong 7 Hỏa Tinh Quân được phân hoá ra thành nhiều nhóm hoả thực thể, từ các Thiên Thần Tinh Quân của một cõi giới xuống đến các Hoả tinh linh nhỏ bé của các lò lửa trong nhà (LVLCK, 87)
+ Cơ Thể Tinh Quân (Hỏa Tinh Quân Vũ Trụ - Fohat): Bảy Hỏa Tinh Quân/ Chơn Linh (Agni) hợp thành cơ thể Ngài. Ngài là Đấng Thông Tuệ Linh Hoạt của lửa, là cơ bản của Lửa bên trong của Thái Dương Hệ. Ba vị Huynh Trưởng ngự trị trên cõi 1, 3, và 5 hay là trên cõi Tối Đại Niết Bàn (adi), cõi Niết Bàn (atma) (1) và cõi trí (manas). Bảy Đấng này hợp thành tinh hoa của Tinh Quân vũ trụ - Là Fohat;
Cơ Thể Hành Tinh Thượng Đế và Thái Dương Thượng Đế: Tương tự (Như Hỏa Tinh Quân), Bảy vị Chohans (Một Tinh Quân/ Chân Sư/ Master) với các nhóm môn đồ gắn bó của các Ngài, hợp thành bản thể hay các trung tâm lực trong cơ thể của một Hành Tinh Thượng Đế. Đến phiên các Đấng này lại hợp thành bản thể của Thái Dương Thượng Đế.
+ Cơ Thể Thượng Đế Vũ Trụ: Là Thượng Đế ba Ngôi chưa biểu lộ Thất phân (Biểu lộ Thất phân hợp lại thành Ba ngôi), gồm:
a. Tinh Quân Ý Chí Quyền Năng vũ trụ: Nắm giữ tương lai trong thiên cơ và tâm thức của Ngài.
b. Tinh Quân Bác Ái và Minh Triết vũ trụ: Ngài tiêu biểu cho mọi Hiện tại. Ngài là Sự Sống hữu thức. Ngài là Đấng Con Thiêng và sự sống cùng bản chất Ngài tiến hoá xuyên qua mọi hình thức hiện hữu;
c. Tinh Quân Trí Tuệ Hoạt Động vũ trụ: Ngài là sự sống của vật chất, Lửa bên trong tiềm tàng của vật chất. Bản chất của Ngài là bản chất của lửa đang nằm ở tâm của mặt trời, của hành tinh và của các hình hài vật chất của con người. Ngài là toàn bộ của quá khứ;
* Đây là biểu lộ của 3 Lửa của Thượng Đế Ngôi 3.
+ Thượng Đế Duy Nhất: Tất cả 3 Đấng là Các Con của một Từ Phụ, cả 3 là các trạng thái của Thượng Đế Duy Nhất (LVLCK, 83)
+ Chánh Đạo: Là Phật Pháp do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết.
+ Ngoại đạo là gì? Đáp: Là tâm cầu pháp ở bên ngoài. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp câu hỏi 367)
+ Ngoại Đạo: Đức Phật giảng về sự khác biệt của Phật nói và Ngoại Đạo về ý nghĩa của Thường. Khi ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Thế Tôn sở thuyết cảnh giới thường bất tư nghì của Đệ Nhất Thánh Trí và cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa, chẳng phải những Ngoại Đạo sở thuyết nhân duyên thường bất tư nghì ư? Phật bảo Đại Huệ:
Chẳng phải nhân duyên đắc thường bất tư nghì của ngoại đạo. Tại sao? Thường bất tư nghì của những ngoại đạo, chẳng do tự tướng thành. Nếu thường bất tư nghì chẳng do tự tướng thành thì cớ sao được hiển hiện thường bất tư nghì? Lại nữa, Đại Huệ! Bất tư nghì nếu do tự tướng thành thì ắt phải là pháp thường, nếu do người làm ra thì chẳng thể thành thường bất tư nghì, vì do làm mới có, chẳng phải thường có vậy.
- Đại Huệ! Ta nói Đệ Nhất Nghĩa thường bất tư nghì, tướng nhân thành Đệ Nhất Nghĩa là lìa tánh phi tánh, nên đắc tướng tự giác mà vô tướng. Cái nhân của Đệ Nhất Nghĩa Trí, vì có cái nhân lìa tánh phi tánh, ví như hư không vô tác, Niết Bàn tận diệt, nên chính pháp ấy tự thường, chẳng do tạo tác thành thường. Như thế, chẳng đồng với định luận thường bất tư nghì của ngoại đạo.
- Đại Huệ! Thường bất tư nghì này do chư Như Lai Tự Giác Thánh Trí chứng đắc, nên thường bất tư nghì của Tự Giác Thánh Trí, cần phải tu học.
- Lại nữa, Đại Huệ! Pháp thường bất tư nghì của ngoại đạo chẳng có tánh thường, vì có cái nhân của tướng khác, chẳng phải cái nhân của sức tướng tự thành.
- Lại nữa, Đại Huệ! Pháp thường bất tư nghì của ngoại đạo có sở tác, tánh phi tánh vô thường, theo kiến chấp suy tư tự cho là thường.
- Đại Huệ! Pháp ta cũng dùng nhân duyên như thế, vì tánh phi tánh, chẳng lập sở tác, chẳng có thường kiến, nơi cảnh giới Tự Giác Thánh Trí, nói cái thường ấy tự vô nhân. Đại Huệ! Nếu các ngoại đạo lập cái nhân tướng thành thường bất tư nghì, lập cái nhân của tự tướng, nói tánh phi tánh, thì đồng như sừng thỏ, vì pháp thường bất tư nghì của họ chỉ có ngôn thuyết vọng tưởng. Các ngoại đạo có cái lỗi như thế. Tại sao? Vì chỉ có ngôn thuyết vọng tưởng, đồng như sừng thỏ, chẳng phải do tự tướng vốn sẵn đầy đủ.
- Đại Huệ! Pháp thường bất tư nghì của Ta do tướng tự giác chứng đắc, lìa sở tác, tánh phi tánh, nên tự vốn là thường, chẳng phải ngoài tánh phi tánh, suy nghĩ pháp vô thường cho là thường. Đại Huệ! Nếu ngoài tánh phi tánh, pháp vô thường suy nghĩ cho là thường, là cái thuyết thường bất tư nghì của ngoại đạo. Vì họ chẳng biết cái tướng của tự nhân thường bất tư nghì vốn saün đầy đủ, nên xa cách với tướng cảnh giới đắc Tự Giác Thánh Trí, họ chẳng nên thuyết.
- Lại nữa, Đại Huệ! Các Thanh Văn sợ cái khổ của vọng tưởng sanh tử mà cầu Niết Bàn, chẳng biết tất cả tánh sai biệt của sanh tử Niết Bàn là vọng tưởng phi tánh, do cảnh giới các căn thôi nghĩ, cho là Niết Bàn, chẳng phải chuyển Tạng Thức thành Tự Giác Thánh Trí vậy.
- Thế nên, Phật đối với phàm phu nói có Tam Thừa, nói những tâm lượng vốn chẳng thật có, họ chẳng biết cảnh giới tự tâm hiện của chư Như Lai nơi quá khứ, hiện tại, vị lai, mà so sánh chấp trước cảnh giới ngoài tâm hiện, nên thường lưu chuyển trong vòng sanh tử.
- Lại nữa, Đại Huệ! Tất cả pháp vốn vô sanh, ấy là quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật sở thuyết. Tại sao? Nói Tự Tâm Hiện, là tánh phi tánh, lìa hữu phi hữu mà sanh. Đại Huệ! Tất cả tánh vô sanh thì tất cả pháp như sừng thỏ, mà phàm phu ngu si, vì tự tánh vọng tưởng chấp cho là thật.
- Đại Huệ! Tất cả pháp Vô Sanh, là cảnh giới của Tự Giác Thánh Trí, tất cả tướng tự tánh của tất cả tánh vốn vô sanh, chẳng phải hai thứ cảnh giới vọng tưởng nhị kiến của phàm phu, kiến lập tướng tự tánh của sắc thân sở hữu của thân. Đại Huệ! Chuyển cái tướng năng nhiếp, sở nhiếp của Tạng Thức mà phàm phu đọa vào nhị kiến của sanh, trụ, diệt, hy vọng tất cả tánh có sanh, sanh những vọng tưởng hữu và phi hữu, chẳng phải Thánh Hiền vậy.
2. Lục sư ngoại đạo: Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là lục sư ngoại đạo?
Thế Tôn nói: Khi ta nhập diệt rồi, có nhiều thứ ma Ba tuần xen vào trong pháp ta. Ở chùa cạo đầu mặc áo Phật xưng là đệ tử của Phật, chung lộn với người đời ăn thịt uống rượu làm nhơ bẩn đức Phật....(Nguồn: Xem tại đây)
+ Ác tri thức: Nghe Clip đức Đại Lai Lạt Ma giảng về nhận biết ác tri thức để biết chọn vị thầy Thiện tri thức dẫn đạo cho mình, mới mong có thành tựu và không bị lạc vào đường tà ... [Xem Clip: Xa lìa ác tri thức]
+ Tâm tán loạn: Đối với người tu Tịnh độ, hóa giải xung đột vô cùng quan trọng. Trong các kinh điển, Thế Tôn đã giới thiệu thế giới Cực lạc là thế giới hòa bình, bình đẳng, nơi các bậc thượng thiện tụ hội. Nếu tâm không bình đẳng, giờ phút nào cũng mang nỗi oán hận, nhất định sẽ chướng ngại việc vãng sinh. Người vãng sinh tâm phải thanh tịnh, các tổ sư vẫn thường nói “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”, hay nói cách khác, tâm không thanh tịnh, thì bất luận người đó dụng công thế nào, có niệm hàng vạn danh hiệu đức Phật cũng không thể vãng sinh: “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn - Đau mồm rát họng chỉ uổng công”. Do đây biết tu hành muốn đắc thành tựu là ai ai cũng phải tu Tâm thanh tịnh bình đẳng ...
Theo Phật pháp, mỗi người đời đời kiếp kiếp đều có chủng tử oán hận trong A lại da thức. Người người cùng ở với nhau, luôn cảm thấy không vừa mắt, điều này ai cũng có thể kiểm nghiệm, bất luận thấy người nào, việc gì cũng đều không vừa lòng, đều thấy không vui. Đó là oán hận tích lũy từ vô lượng kiếp, nếu đồng thời bộc phát ra, thế giới này sẽ bị hủy diệt như các tôn giáo phương Tây từng dự đoán. Ngày tàn chính là toàn thế giới bị hủy diệt, trở lại từ đầu....
* Hóa giải xung đột gia đình: Hiện tượng không hòa thuận trong gia đình rất phổ biến, vợ chồng bất hòa, xung đột thường xảy ra. Nguyên nhân do đâu? Do quan niệm mình đúng, người khác không đúng; cả hai đều nhìn thấy không đúng của đối phương thì làm sao có thể hòa thuận. Trước khi kết hôn, chúng ta thường nhìn người yêu với con mắt lý tưởng hóa, mọi thứ thuộc về người đó đều đẹp, đều vừa mắt, nhờ vậy mới có thể đi đến kết hôn. Đó là trạng thái tâm lý trước hôn nhân. Tuy nhiên, nếu vĩnh viễn nghĩ đối phương là đúng, là tốt, khi có mâu thuẫn, chúng ta giành phần sai về mình, cam kết sửa đổi thì gia hòa vạn sự hưng. Ghi nhớ cái tốt của người mới có thể hòa thuận, có thể hóa giải xung đột, và thực sự xúc tiến an định hòa bình. Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ chức cơ bản nhất. Nhà nhà hòa thuận thì xã hội hòa thuận, đất nước giàu mạnh. Mọi người đều phản tỉnh, đều biết khuyết điểm ở chính mình. Nói người khác sai chính là sai lầm to lớn. Ngày nay, đa số chúng ta phạm phải sai lầm này. Người khác làm gì có sai lầm, đạo lý này hiếm người hiểu được, chỉ có Phật Bồ tát hiểu. Vì sao nói người khác đều không có lỗi? Vì sai ở ngay chính chúng ta.....(Nguồn: Hóa giải lòng oán hận - PS Tịnh Không)
+ 608. TÂM BỊ PHÂN RẢI: Thế nào là tâm Tỳ-kheo hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn?
Với con mắt, Tỳ-kheo con mắt thấy sắc, thức ăn tướng của sắc, thức đắm trước vị lạc của tướng của sắc, thức bị trói buộc bởi vị lạc của tướng của sắc; vị ấy bị vị ngọt của sắc tướng cột chặt tâm nên hướng ra ngoài, bị phân rải, tán loạn. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; với ý vị ấy nhận thức pháp, thức chạy theo pháp tướng, thức đắm trước vị lạc của pháp tướng, thức bị trói buộc bởi vị lạc của pháp tướng, vị ấy bị vị của vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm nên hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn. (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Quán Pháp, Phẩm 13, số 164)
+ Tâm hướng ngoại đúng giúp ngủ ngon: Sự cầu nguyện với ý nguyện thiện lành chân thành thì chính nó là Kim chỉ nam dẫn lỗi ta suốt cả ngày - Khởi tâm nguiyện mỗi buổi sáng thức dậy lập tức khởi ngiuyện Không vì mình mà vì sự an vui hạnh phúc của tất cả chúng sanh = Bồ Đề Tâm sống động phát khởi, tâm quên mình vì người, tưởng như nghịch lý nhưng là phương pháp chăm sóc mình tột đỉnh nhất vì ta loại bỏ được Tâm ích kỷ hẹp hòi => Tâm rộng mở bao trùm hơn => Trước khi ngủ cần lặp lại lời nguyện và buông xả vạn sự nơi tâm .... [Clip Đức Đại Lai Lạt ma giảng: Ai Hay Bị Mất Ngủ Hãy Làm Theo Cách Này Ngủ Cực Ngon]
+ Tu sửa tâm: Gồm tu sửa thành tựu không nóng giận và sự hãi và giảm chấp NGÃ = Chấp trước chặt vào cái Tôi [Nguồn Clip đức Đại Lai Lạt Ma giảng: PHẬT KHÔNG HỨA GIÀU NHANH – PHẬT DẠY CÁCH SỐNG KHÔNG BỊ TIỀN LÀM KHỔ]
+ Thù ghét - Chán Ghét - Thù Oán - Oán Thù - Thù hận - Hận Thù: Là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan, Người nóng giận sinh ra độc tố có hại cho cơ thể rất mạnh.
+ Nóng giận - Tạo ra độc tố: Giáo sư Elma giảng dạy tại đại học Stanford, Mỹ từng làm một thí nghiệm nổi tiếng. Ông thu thập hơi thở của người tức giận, bi thương, phiền não thở ra rồi dẫn vào một cái chai có đựng nước thuốc. Ông phát hiện màu sắc của nước ở trong chai này có sự thay đổi. Hơi thở của người tức giận làm cho nước chuyển thành màu tím, của người bi thương khiến nước chuyển thành màu xám. Sau đó ông đổ nước này lên những con chuột, một khoảng thời gian thì chúng run rẩy và chết. Thực nghiệm này chứng minh rằng, khi tức giận cơ thể sẽ sản sinh ra độc tố.(Nguồn: Tại đây)
+ Nóng giận - Hận Thù: Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đau
HỎI: Ngài có thể nói với chúng tôi vấn đề ngài vượt thắng thù oán và sợ hãi như thế nào? Và ngài có thể đưa ra một ánh sáng của thiền nào đó không?
ĐÁP: Có nhiều mức độ của thù oán và nó có thể được diễn tả như một cảm nhận xấu đối với người tạo ra rắc rối, kẻ thù, hay bạn bè. Nhưng sân hận là một bộ phận cảm xúc của chúng ta, vốn mọc lên như một cơ cấu phòng vệ trong một con người khi người ấy chạm trán với những hoàn cảnh tiêu cực hay nguy hiểm. Nói một cách sinh học, các cảm xúc như sân hận, khát vọng, và dính mắc là cần thiết cho sự tồn tại.
=> Thù oán có thể được diễn tả như dư âm của sân hận vốn duy trì và day dứt trong một thời gian dài.
Tôi không có thù oán, nhưng nếu tôi thấy điều gì đó sai trái, tôi trở nên sân hận giận hờn. Sau khủng hoảng ở Tây Tạng vào ngày 10 tháng Ba năm 2008, tôi cảm thấy những cảm xúc giống như mà tôi đã cảm nhận vào ngày 10 tháng Ba năm 1959, khi tôi mất tự do – bất lực, bất lực, và băn khoăn. Tuy thế, những cảm xúc hiện hữu khác, khi sau khủng hoảng 2008, tôi đã quán tưởng những cán bộ Trung Cộng và tôi đã hoán đổi sự sợ hãi và sân hận của họ cho sự nhẫn nhục và từ bi của tôi. Rõ ràng, nó không giải quyết bất cứ vấn nạn nào, nhưng nó giúp tôi trong việc duy trì sự an bình tinh thần của tôi.... Một thân thể yếu đuối có thể làm nghiêm trọng sự tiêu cực, nhưng một thân thể khỏe mạnh sẽ đưa đến kết quả trong một tâm tư mạnh mẽ vốn sẽ không bị quấy rầy một cách dễ dàng. Qua sự thực hành, chúng ta cần nghiên cứu để tách rời chính ta khỏi sân hận, vốn sẽ làm cho ta nhìn vào sân hận một cách hợp lý và cuối cùng đánh bại nó một cách hoàn toàn. Nếu sân hận lan tỏa khắp tâm tư, thì nó trở thành khó khăn để loại trừ. (Nguồn: Đại Lai Lạt Ma giải đáp thắc mắc)
+ Nóng giận - Giận dữ: Suy tư về nóng giận, giận dữ ... (Nguồn: Giận dữ_Đại Lai Lạt Ma)
+ Giận hờn - Hờn giận và Pháp tu để xa lìa giận hờn
... Hoặc người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, liền đặng lìa lòng giận.
Giận hờn là gì? Chính là nổi nóng, chính là phiền não, cũng là vô minh. Giận hờn lợi hại giống như lửa vậy.
Ấy là: "Một đốm lửa giận, có thể đốt tiêu cả rừng công đức."
Người xưa cũng nói: "Ngàn ngày gánh củi một mồi lửa."
Ý nói quý vị đốn củi một ngàn ngày chỉ cần một đốm lửa châm vào có thể đốt cháy sạch. Ðó là hình dung bình thường chúng ta tích tạo bao công đức thiện nghiệp, dù tu hành bao lâu mà một khi quý vị nổi cáu lên, phừng lửa vô minh, thì bao nhiêu công đức tích tụ được đều đốt sạch cả. Hạng người nào thích nổi lửa vô minh thế? Chính là A-tu-la đấy. Mỗi cá nhân đều có một xu hướng riêng.
Người thuộc Phật đạo, tính cách đa số là từ bi;
Người thuộc Tiên đạo thì ưa thích thanh nhàn,
Người thuộc Nhân đạo thì đều có nhân duyên với mọi người;
Còn thuộc Quỷ đạo thì tánh hay giảo hoạt, không muốn thua thiệt, là người không thành thật, lén lén lút lút, và cũng giống như quỷ La-sát đã nói ở trước, đều có ý "muốn đến hại người."
Người thuộc Súc sanh đạo thì nặng về tham dục, bất luận thứ gì họ đều không sợ nhiều, càng nhiều càng tốt, tham mãi không chán.
Người thuộc Tu-la đạo thì hay phát cáu, những người này hễ động đến thì nổi giận ngay, cáu gắt om sòm.
Những người như thế thì phải làm sao? Có cách gì có thể sửa đổi được? Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã đem pháp môn này dạy bảo cho quý vị kỹ càng, đó là phải thường niệm: "Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát." Hơn nữa, phải tiếp tục luôn luôn không gián đoạn.
"Thường" nghĩa là không dứt. Mỗi khi lên chùa, gặp chỗ nào có thờ Phật, hoặc thờ Bồ Tát Quán Thế Âm thì phải cung kính cúi đầu đảnh lễ. Cũng không nên hôm nay lạy, rồi ngày mai không lạy; sáng nay đảnh lễ, chiều tối lại không đảnh lễ. Nếu chịu kiền thành hằng thường kính lễ chư Phật Bồ-tát, lâu dần rồi bịnh nổi cáu ấy sẽ không còn nữa, mà chính mình cũng không biết vì sao? Nếu quý vị không tin, tôi sẽ đem kinh nghiệm của chính mình nói cho quý vị nghe. Tôi trước kia là người rất dễ nổi giận, hễ nói đánh là đánh, nói mắng là mắng ngay. Năm tôi 12, 13 tuổi rất thích đánh nhau. Bất luận là người lớn bao nhiêu, đến với tôi thì phải nghe tôi chỉ huy, nếu không nghe tôi chỉ huy thì tôi đánh! Dù chết cũng phải đánh, đánh đến chừng nào chịu hàng phục mới thôi. Thế gọi là gì? Ðó chính là một thứ hành động của A-tu-la. Về sau tôi học Phật, mới biết thói giận bướng như thế là không tốt, phải cải hóa tự tân mới được, nên thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Cho nên bây giờ làm sư phụ, tôi phải tu hạnh nhẫn nhục. Có lúc đồ đệ đến hiếp đáp, trước hết tôi nổi cáu, nhưng rồi nhỏ nhẹ ôn hòa, nhẫn nhục cho đến khi người ấy từ từ hiểu ra, tự nhận biết lỗi mình. Vì trước đây tôi chọc người khác giận nên bây giờ tôi bị đệ tử đến hiếp đáp. Có thể nói đây là một thứ quả báo! Có người hỏi: "Ðồ đệ nào dám hiếp đáp thầy vậy?" Người nào hiếp đáp tôi thì người đó tự biết. (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Bình an: Chân sư K.H, trong kiếp sống là Thánh St.Francis of Assisi, ghi lại những lời hướng dẫn chúng ta trong việc thực hành hạnh vô hại với mọi vật như sau: Hỡi Thượng đế, hãy để con là một công cụ thể hiện sự bình an của người. Nơi nào có sự ghét bỏ, hãy để con mang tình yêu đến, nơi nào có sự tổn thương, hãy để con mang đến sự tha thứ, nơi nào có sự nghi ngờ, hãy để con mang đến niềm tin, nơi nào có sự tuyệt vọng, hãy để con mang tới niềm hi vọng, nơi nào có bóng tối, hãy để con mang ánh sáng đến, và nơi nào có nỗi buồn hãy để con mang niềm vui tới.
HỠI SƯ PHỤ THIÊNG LIÊNG, đã cho con biết rằng con sẽ không tìm kiếm việc được an ủi nhiều như việc an ủi người khác, tìm kiếm việc được thấu hiểu nhiều như việc thấu hiểu người khác, tìm kiếm việc được yêu thương nhiều như việc yêu thương, vì khi cho đi là ta nhận lại; khi tha thứ ta được tha thứ; và khi chết là ta được sinh vào sự sống vĩnh hằng (Nguồn: Trích dẫn lời Thánh Francis of Assisi)
+ Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đau
HỎI: Ngài nói rằng tiền bạc không ban cho hạnh phúc – Tôi đồng ý. Nhưng tôi tin rằng tiền bạc có thể mua những thứ để làm cho đời sống của ta thoải mái. Cho nên, theo tâm lý học Phật giáo, ngài có thể đề nghị một phương cách đưa đến sự cân bằng giữa việc có được sự giàu có và làm cho ta hạnh phúc không?
ĐÁP: Chúng ta có thân thể này và để làm cho nó thoải mái, chúng ta cần thực phẩm và nơi cư trú. Tôi đi ngang qua những xóm làng với những con người rất nghèo khổ, những người chưa bao giờ trải nghiệm sự thoải mái này. Trong toàn thế giới, khoảng cách giữa người giàu và nghèo là khổng lồ. Sự chú ý nên được hướng đến việc khắc phục khoảng cách trên cấp độ toàn cầu và quốc gia. Nền kinh tế Ấn Độ tăng trường khá tốt, và nó là một xã hội tự do khai phóng, không giống như Trung Hoa. Vì vậy, nó là một xã hội lành mạnh. Một sự chuyển hóa thật sự nên xảy ra trong những xa xôi hẻo lánh với nhiều sự chú ý hơn cho sự phát triển vùng sâu vùng xa.
Tôi thật sự đồng ý rằng tiền bạc là quan trọng. Những sự gia hộ thôi thì không đủ. Làm việc cần mẫn cũng quan trọng. Sự chuyển hóa thật sự đến từ việc lao động chăm chỉ chứ không đến chỉ từ việc cầu nguyện. Người giàu nên ban cho người nghèo sự học vấn và những kỷ năng công nghệ. Một vài ngày trước tôi đã ở một thị trấn mà tôi đã từng được mời đến hai thập niên trước, khi những người địa phương trình bày quyết định phát triển của họ. Tôi đã hứa hẹn hiến tặng mười triệu rupee và tiểu bang cũng hứa đóng góp. Khi tôi đến đó mới đây, người dân ở đó đã phát triển một số kỷ năng và đang sống rất yên bình.
+ Tiền Bạc Với Hạnh Phúc- Bình An Của Tâm Hồn: Có người nào có kinh nghiệm đưa qua đưa lại tâm trạng hạnh phúc và tâm trạng đau buồn?
- Khi ta đau buồn và có tiền trong túi, thì ta có thể đi tới một cửa hàng lớn và đòi hỏi một tâm thức yên bình được không?
- Hay ta có thể đi tới một nhà thương lớn chích một mũi thuốc bình an tâm hồn không,
- Hay yêu cầu một kỷ thuật cho sự bình an nội tại từ một nhà máy không?
Chỉ nếu người ta giữ não bộ một bên và thay thế nó với cơ cấu máy móc nào đó thì chúng ta sẽ dững dưng và không trải nghiệm bất cứ cảm giác gì. Chúng ta có thật sự muốn như vậy không?
=> Do vậy, rõ ràng rằng tiền bạc là cần thiết chỉ cho nhu cầu thân thể, chứ không cho sự bình an của tinh thần. Vì vậy, hãy mua những tiện nghi vật chất nhưng không tôn sùng tiền bạc. Hãy nhận ra rằng có một sự giới hạn về giá trị kinh tế và tập trung năng lượng của ta để đạt được sự hòa bình nội tại. (Nguồn: Đại Lai Lạt Ma giải đáp thắc mắc)
+ Xem thêm Clip đức Đại Lai lạt Ma giảng về cần song song học kiến thức và học cách tu sửa nội Tâm : PHẬT KHÔNG HỨA GIÀU NHANH – PHẬT DẠY CÁCH SỐNG KHÔNG BỊ TIỀN LÀM KHỔ
+ Các trạng thái nối tiếp của Tâm thức:
1. Thực ra, Vũ trụ chỉ là một tập hợp bao la của các trạng thái tâm thức. SD II, 633; I, 70, 626.
2. Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593.
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức. SD I, 105.
* Sáu loại tâm thức được biểu hiện trong Giới Thiên Nhiên trên 5 cõi tiến hóa của nhân loại. SD I, 123; II, 678.
+ Trình độ T.Thức - Bảng kê: Người chưa tiến hóa - Người bình thường, Người Chí nguyện - Đệ tử, Điểm đạo đồ, Chân Sư và cao hơn nữ.
+ Khởi vô minh: Sự tuôn trào và những nguyên tử và tâm thức— Outpourings and atoms and consciousness:
- Sự tuôn đổ vĩ đại đầu tiên từ Thượng Đế đã làm sinh động chất liệu vũ trụ và khiến cho mỗi nguyên tử vật chất bên trong “vòng-không-được-vượt-qua” của hệ thống của Ngài rung động theo bảy phương thức rung động khác nhau.
- Sự tuôn đổ thứ hai đã tạo nên những sự kết hợp của các phân tử, vì thế tạo nên sáu cõi phụ bên dưới cõi nguyên tử của mỗi cõi chính, và tạo nên dạng hình tướng. Chính là vào thời điểm tuôn đổ thứ hai mà mỗi trung tâm của những trung tâm tâm thức thiêng liêng đưa ra một sợi bản thể vào trong một nguyên tử của các cõi phụ cao nhất của các cõi giới atma, bồ đề, và cõi trí,— những nguyên tử có định mệnh là hạt nhân của những thể tương lai, mỗi cái ở trong từng cõi giới tương ứng của nó, ba cái tạo nên tam nguyên thượng mà ta thường nghe nhắc đến.(TLHNM/ EP II 167-8)
II- Tâm Thức theo Phật giáo
+ Chữ "TÂM" - Pháp Trần: ... đức Phật bảo, A Nan các pháp trần nầy tức do Tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?
HT Tuyên Hóa giảng:
"Có phải ông cho rằng các pháp do tâm sở duyên là phát sinh ra ngay từ trong tâm (ý căn)? Các pháp trần nầy tức do tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?" "Tâm" ở đây có nghĩa là thức thứ 6.
A-nan, nếu tức nơi tâm, thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa, thế nên nó không phải là sở duyên của tâm, làm sao thành một xứ được?
Giảng:
"A-nan, nếu tức nơi tâm–nếu ông đơn giản cho rằng các pháp phát sinh từ tâm, rằng nó phát sinh từ thức thứ 6 – Thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa. Các pháp trần mà do tâm sở duyên sinh khởi không còn là trần cảnh (đối tượng của ý thức) nữa."
Nếu rời tâm mà riêng có một chỗ riêng biệt, thì tự tính của pháp trần là biết hay không biết?
Nếu có biết thì gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần cảnh thì cũng như tâm của người khác. Còn nếu nó tức là ông và cũng là tâm, thì làm sao cái tâm nơi ông lại thành hai được?
Lại nếu như không có biết, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó sẽ ở chỗ nào?
Nay nơi sắc không, chẳng thể nào chỉ nó ra được. Không lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không? Chẳng có cảnh sở duyên, thì ý căn do đâu mà lập thành một xứ được?
Vì vậy nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở; tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật; vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên.
Giảng:
" Vì vậy A-nan, vì đạo lý nầy – "nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở". Cả hai cái nầy đều không tìm thấy được nơi chốn. "Tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật." Theo đạo lý về các pháp do tâm sở duyên, cả hai đều là hư giả, luống dối. "Vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên." Cả hai đều chỉ là danh tướng hư vọng, như hoa đốm giữa hư không, hoàn toàn không có thực thể, chỉ là sự biểu hiện từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng. (Nguồn: Kinh Thủ LN- Q.3)
+ Thức Tính toán - Phân biệt: Tu hành pháp đại thừa không nên tính toán phân biệt, càng phân biệt thì bạn càng khó học, càng tính toán thì càng không hiểu.... Đừng học với sự vọng tưởng phân biệt so lường. Phân biệt là thức thứ sáu, tính toán là riêng về thức thứ bảy. ... Nếu bạn muốn thâm nhập Chú Lăng Nghiêm, thì bạn phải trừ khử sạch sự tính toán và phân biệt. Đừng dùng thức để học Phật Pháp, mà dùng chân tâm, đó mới chính là diệu pháp. (Nguồn: Chú Lăng Nghiêm - HT Tuyên Hóa)
I- Theo Minh triết mới
+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54)
+ Đơn vị Tâm thức: X. Chân Thần. Cấu tạo và đặc tính (Nguồn)
+ Tinh thần (Spirit) và tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
+ Tâm thức tương ứng biểu lộ 3 ngôi
Ý chí….. Minh triết –Bác ái .…Trí tuệ linh hoạt.
Tinh thần ..... Tâm thức ……….……Vật chất.
Cha ……….... Con ………….……… Mẹ.
Chân Thần …. Chân Ngã ………...... Phàm Ngã.
Và còn nhiều thuật ngữ tương ứng, định nghĩa khác (LVLCK, 244)
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. (SD I, 43, 125, 349, 593.)
* Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức
+ Tâm thức và ngã thức: Chính ở trên cõi trần mà tâm thức, trước tiên phải tiến hóa thành Ngã thức. (KCVTT, 93)
+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)
+ Định đề 2 - Tâm Thức: Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3, đó là TÂM THỨC - Sự hợp nhất của 2 cực Tinh Thần - Vật Chất, là Linh hồn của vạn vật, thấm nhuần mọi chất liệu hay năng lượng khách quan, nó nằm dưới mọi hình hài, dù đó là đơn vị nguyên tử hay 1 con người, 1 hành tinh hoặc 1 Thái dương hệ. Đây là Lý Thuyết Quyền Tự Quyết (LVHLT, 21)
+ TÂM THỨC theo sát nghĩa là phản ứng của trí thông tuệ sinh động đối với mô hình. Ngày nay, cứ như thể chúng ta đang đáp ứng một cách hữu thức, và với một mục đích ngày càng thông minh đối với thiết kế được Đấng Kiến Tạo Bậc Thầy đặt ra trên bản vẽ. Cho đến nay, chúng ta không và không thể nhập vào Thể Trí Vũ trụ đó và rung động trong sự hòa hợp hữu thức với Ý Tưởng thiêng liêng, cũng không hiểu được Thiên Cơ như nó được cảm nhận và được nhìn thấy bởi Đấng Tư Tưởng vũ trụ. Chúng ta phải làm việc với bản thiết kế, với mô hình, và với Thiên Cơ (Tâm LH, Mô hình-Quy định)
+ Tâm thức (Ý thức): Tâm thức là Tâm hay là Linh hồn, đang tạo ra sự sống tâm thông, là nhận thức: Dưới nhân loại/ nhân loại và thiêng liêng (TLHNM–II, 232)
+ Cấp độ Tâm Thức: Phàm ngã, Linh hồn, Chân Thần. Đây là ba cấp độ rộng lớn của tâm thức, vốn phản ánh ba trạng thái thiêng liêng của Thượng Đế.(Trích Topic 1- GQ1- Các trích dẫn TLHNM)
1. Tâm thức phàm ngã: Là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạo.
2. Tâm thức chân ngã là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ hai, tức tâm thức của linh hồn, tự thể hiện chính nó như là phẩm tính và như là “sắc thái” thể hiện bên trong của những vẻ ngoài.
3. Tâm thức chân thần là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ nhất, cái vốn tiêu biểu cho sự sống thiêng liêng – mục đích và ý định, và dùng linh hồn để thể hiện Thiên Ý cố hữu qua linh hồn. Chính điều này mới xác định phẩm tính. (Nguồn: Tổng hợp chi tiết về tâm thức)
+ Hình thành Tâm thức: Sự phối hợp năng lượng sự sống và năng lượng của thể trí trong con người tạo ra tâm thức – trước tiên là ngã thức và sau rốt là tập thể thức (TLHNM–II, 67)
+ Chiêm Tinh Học Bí Truyền: (Trích GQ1.6-Làm quen CTH)
- Có 3 trình độ nơi con người: Phàm ngã/ Linh Hồn/ Tinh Thần - Ảnh hưởng của cung hoàng đạo và hành tinh hoạt động ở 3 cấp độ này.
- Ba Cung tối quan trọng: Mặt Trăng - Mặt Trời - Cung Mọc để ước định công việc sẽ được thực hiện trong tâm thức mỗi kiếp sống.
- Tâm thức qua Chiêm TH: Năng lượng dẫn truyền qua các Cung Hoàng và Hành tinh và chức năng tiến hóa Tâm Thức của các Cung Hoàng Đạo với Người thường/ Chí nguyện (Đệ Tử) / Điểm Đạo Đồ, với sự chỉ dẫn của các Kỳ Công, ta có thể dự đoán....
- Các Cung Hoàng Đạo ở 3 Cấp Độ Tâm Thức (Chiêm THNM, 332)
+ Chữ Thức: ... Vì bạn có phân biệt, chấp trước nên nhất chân mới chuyển biến thành những hoàn cảnh rất phức tạp, biến thành thập pháp giới, biến thành lục đạo, biến thành tam đồ. Biến như thế nào? là do thức sở biến. Cái gì gọi là thức? trong Kinh Hoa Nghiêm giảng về thức rất cụ thể: vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chính là thức. Hiện nay, chúng ta đều có đủ, có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. vì vậy đã biến nhất chân pháp giới thành lục đạo luân hồi, đã biến thành lục đạo.
Nếu trong 3 thứ này chúng ta đoạn được một thứ, đã đoạn được chấp trước, trong tất cả Pháp, Pháp thế gian và Pháp xuất thế gian mà thật sự không còn chấp trước nữa, xin thưa với quý vị lục đạo không còn nữa. Lục đạo là do chấp trước biến hiện ra. Không còn chấp trước thì bạn ra khỏi lục đạo.
Ra khỏi lục đạo rồi đi đâu? bởi vì bạn còn có phân biệt nên còn có tứ thánh pháp giới tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. ..... Thập pháp giới do đây mà có, nếu không còn phân biệt thì siêu việt thập pháp giới bạn mới có thể phản bổn hoàn nguyên, trở về chân thật, tức nhập nhất chân pháp giới. Trong nhất chân pháp giới những địa vị của Bồ Tát cũng không đều. Trong Kinh Hoa Nghiêm nói 41 vị Pháp thân đại sĩ trình độ cao thấp của những bậc Bồ Tát chia thành 41 đẳng cấp .
41 đẳng cấp này là do vọng tưởng mà có, vọng tưởng nhưng rất nhẹ, cũng gọi là vô minh. Nếu đoạn hết vô minh thì đã đoạn hết 41 phẩm vô minh thì bạn chứng được quả vị cứu cánh viên mãn. Tức là chân ngã của chính mình, đã hoàn toàn khôi phục lại, thì bản lai diện mục hoàn toàn hiện ra. Đó tức là viên giáo Phật quả. (Nguồn: Sám hối nghiệp chướng - PS Tịnh Không)
+ Tâm lượng - Chân tâm: Tâm thức chân thật hay Tâm bản nguyên. Phật nói với chúng ta: “Tận hư không khắp pháp giới, tất cả chúng sanh là một pháp thân”. Cho nên, kinh điển thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới”, đạo lý là ở chỗ này. Tâm lượng chúng ta nhất định phải lớn, bao trùm hưu không pháp giới (Nguồn: Tập 17 - Thập Thiện Nghiệp_PS Tịnh Không)
+ Đạo Tâm: Tâm của Phật là tâm bình đẳng. Tâm bình đẳng là Phật, tâm lục độ là Bồ-tát, tâm tứ đế là Thanh Văn, tâm nhân duyên là Duyên Giác. Phật ở trong kinh nói quá nhiều, quá rõ ràng rồi. Hai chữ “bình đẳng” rất quan trọng (PS Tịnh Không giảng - Tập 42 - Kinh TTNĐ)
+ Các trạng thái Tâm thức:
Phàm ngã: gồm Tâm thức vị ngã cần chuyển hóa thành tâm thức vị tha
Linh Hồn: Tâm thức Vô ngã
Chân Thần: Tâm thức bất nhị (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
+ Tâm thức theo Duy thức học - Xem: Tâm và Các Thức-TT Thích Viên Thông)
+ Bí mật Tâm thức con người: Đức Dalai Lama giảng pháp tu tập thâm sâu giúp hành giả vượt qua các cảnh giới tâm giả tạm.... Xem Clip: Bí mật thâm sâu nhất của Tâm thức con người
+ Pháp đọc đúng: Đọc thần Chú không nghĩ tới Thần thông - Thần quyền - Phép phù biến hóa ... Không tham gì. Buông xả vạn sự tham = Hóa thân làm bậc Thánh/ Bồ tát với Tâm Bồ đề => CHỈ DUY NHẤT TÌNH THƯƠNG RỘNG MỞ = Thành tựu siêu vượt (Nguồn: Xem tại đây)
+ TRÌ NIỆM CHÚ ĐẠI BI ĐÚNG PHÁP _ HT Tuyên Hóa Giảng
XEM KINH VỚI LÒNG THÀNH: Kẻ hậu học khi xem kinh, nên có tâm thái như sau: ba nghiệp tâm, khẩu, ý phải được thanh tịnh. Ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy.
1. Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật. Đó là thân nghiệp được thanh tịnh.
2. Miệng không nói lời sai trái, không cười đùa. Đó là khẩu nghiệp được thanh tịnh.
3. ý không tán loạn, dứt sạch tâm phan duyên. Đó là thanh tịnh ý nghiệp.
Khi tâm an tịnh thì ngoại cảnh lắng trong, đó là khế ngộ nguồn tâm, diệu nhập pháp lý. Khi nước lắng trong thì vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi, mây tan trăng tự hiển bày, đại nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa. Thấu đạt ý kinh cũng chính là đến được đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn dễ thành tựu, phải gieo trồng Đại nguyện. Khi tâm, pháp đều quên, thì mình cùng pháp giới chúng sinh đều chung lợi lạc. Có được như thế mới mong báo đáp ân sâu của Chư Phật.
+ Mỗi Tối đọc 5 biến Thần Chúa Đại Bi
... Lúc bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ Tát bảo Phạm Thiên [Vương] rằng: “Nếu chúng sanh nào muốn tiêu trừ tai chướng ma nghiệp, thì nên lấy chỉ ngũ sắc xe làm sợi niệt. Trước tiên tụng năm biến, kế đến tụng hai mươi mốt biến, cứ tụng mỗi biến lại thắt một gút, cho đến hai mươi mốt gút như vậy, rồi đeo nơi cổ. Tâm Chú Đại Bi này là do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật quá khứ đã từng tuyên thuyết.”
LƯỢC GIẢNG:
Lúc bấy giờ, sau khi thuyết xong bài kệ, Quán Thế Âm Bồ Tát bảo Phạm Thiên rằng: “... tụng Chú này năm biến ...” Vì sao lại tụng năm biến? Bởi vì trên thế giới này có năm bộ lớn (Ngũ Đại Bộ):
- Phương Đông là A Súc Bộ, còn gọi là Kim Cang Bộ;
- Phương Nam là Bảo Sanh Bộ;
- Phương Tây là Liên Hoa Bộ;
- Phương Bắc là Yết Ma Bộ;
- Trung ương là Phật Bộ.
Năm biến Chú là tiêu biểu cho năm bộ nói trên. Năm bộ này cai quản cả năm đại ma quân—Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung—của thế gian. Ma cũng có Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung; Ngũ Bộ thống nhiếp Ngũ Đại Ma.
Như vậy, quý vị niệm Chú Đại Bi năm biến, rồi “lấy chỉ ngũ sắc xe làm sợi niệt.” “Ngũ sắc” tức là năm màu: xanh (dương), vàng, đỏ, trắng, đen. Màu xanh là tiêu biểu cho phương Đông, màu đỏ là phương Nam, màu trắng là phương Tây, màu đen là phương Bắc, và màu vàng là trung ương. Đó là tượng trưng cho Ngũ Phương, Ngũ Bộ.
“Tác sách” tức là bện thành sợi dây.
“Tụng Chú hai mươi mốt biến, thắt làm hai mươi mốt gút, rồi đeo vào cổ.” Bây giờ quý vị tụng Chú Đại Bi hai mươi mốt biến, và thắt hai mươi mốt gút thắt trên sợi dây ngũ sắc, xong lấy đeo nơi cổ.
“Đà La Ni này là do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật đời quá khứ tuyên thuyết.” Đại Bi Đà La Ni này là pháp mà hằng hà sa số chư Phật đã nói ra.(Nguồn: Giảng Chú Đại Bi_HT Tuyên Hóa)
+ Những bước chuẩn bị trước khi trì niệm chú đại bi.
Bồ Tát Quán Thế Âm đã hứa với chúng ta: “Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp, khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang, Mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hay thân mạng của chính họ“.
Như vậy, thế nào là tụng trì chú đại bi đúng pháp?
Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.
Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng. Tóm lại, “Giữ gìn trai giới, ở nơi tịnh thất, tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà… Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.
+ Tu Chú Đại Bi đạt diệu dụng: ..... "Nếu quí vị chỉ biết trì niệm chú Đại Bi mà không hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì như người có tay mà không có chân, nên không thể đi được. Mặt khác, nếu quí vị chỉ biết hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp mà không trì niệm chú Đại Bi thì cũng như người có chân mà không có tay, không làm gì được cả. Cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên để liễu triệt chú Đại Bi, trước hết quí vị phải thông đạt 42 thủ nhãn ấn pháp rồi phải trì tụng chú Đại Bi nữa, mới được gọi là người thành tựu rốt ráo diệu pháp này của chư Phật". Chúng ta cùng tu thành tựu Danh hiệu "Thiện nam tử - Thiện nữ nhân", là tiền đề tu Chú Đại Bi có thành tựu viên mãn. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ lời HT Tuyên Hóa dạy “Bất cứ ai truyền pháp này mà không có sự chấp thuận của tôi sẽ gặp ma chướng.” Chúng ta cùng tu hành tinh tấn và phát nguyện sớm đủ duyên lành đến được chùa Vạn Phật Thánh Thành để tu trì, mong được ngài trao truyền hành trì 42 Thủ Nhãn này.... (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi)
+ Chữa Bệnh cho người: Câu Hỏi 15: Ông nội con bị bệnh nặng, thỉnh Hòa Thượng…
Đáp: Chỉ có Bồ Tát Quán Thế Âm mới có thể sửa đổi được bộ sổ sanh tử mà thôi.
+ Đọc Tụng Kinh Chú: Câu Hỏi 27: Trong kinh Phật có rất nhiều chữ là tiếng Phạn, vậy nên phát âm theo giọng Đài Loan hay theo giọng Quan Thoại mới là chính xác? Đáp: “Nếu lấy sắc để thấy Ta, dùng âm thanh mà cầu Ta, thì là người hành tà đạo, cho nên không thấy được Như Lai.” [Ghi chú Ban Phiên Dịch Việt Ngữ: Câu kệ trong Kinh Kim Cang.] (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
+ Trì tụng Chú Đại Bi: Trì là không dùng miệng lưỡi đọc, nhẩm - Lưỡi không động gọi là Trì. Thực hành Trì Chú hiệu nghiệm hơn nhiều là đọc tụng bằng miệng lưỡi. Xem (Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi - Phút 30 Clip)
+ Thọ trì Chú Đại Bi: Có câu bể khổ không bờ, quay đầu là bến.
Chỉ cần chúng ta kiền thành trì tụng Đại Bi chú, ắt sẽ thấy ứng nghiệm, không thể nghĩ bàn.
Ý nghĩa của Đại Bi căn cứ câu” BI NĂNG BẠT KHỔ”, bất cứ ai gặp mọi cảnh khổ nạn, Nếu thành tâm tụng Chú Đại Bi đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát.... (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng)
+ Hướng dẫn tu Chú Đại Bi: Việc tu hành sửa đổi Tâm thành tựu đức hạnh và không con Tham - Sân - Si, buông xả vạn duyên nơi Tâm trí => Đã thành tựu Xả bỏ cái TÔI => Sự tu trì đọc tụng Kinh chú, đặc biệt là Chú Đại Bi, Chú Dược Sư, Chú Lăng Nghiêm dần sẽ có sự Linh nghiệm nhiệm mầu. Tất nhiên, nếu chưa ăn chay, giữ ngũ giới .... chưa Giác ngộ Bát chánh đạo thì tu đọc chẳng mấy ý nghĩa, dù tu đọc bao nhiêu biến mỗi ngày cũng chẳng mấy lợi ích thiết thực => DỤNG TÂM THANH TỊNH, BÌNH ĐẲNG - GIÁC là cực kỳ quan trọng. [Xem Clip: Chú Đại Bi Có Một Sức Mạnh Ít Ai Dám Nói, Nhưng Không Như Bạn Nghĩ và bản lời văn Clip: Xem tại đây]
Mời xem chi tiết: Hướng Dẫn Đọc Tụng Thần Chú Đại Bi
+ Luân xa 3 tương ứng Tâm Khiêm tốn-Khiêm nhường-Tỳ Hạ: Khi và chỉ khi chú tâm tu hành Tâm khiêm tốn này có thành tựu thì cũng tương ứng là Tâm thức của hành giả luôn luôn được mở rộng ra mãi mãi không ngừng nghỉ, là tiền đề để có thành tựu viên mãm trong tu hành/ Thọ trì đọc tụng Kinh Chú. Khi đạt đến mức Tâm nhất định hành giả thường có cảm ứng tương giao với Chư Phật, Bồ Tát, thường được thấy Phật, Bồ Tát không giối (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi)
+ Khiêm tốn (Humility): Hãy vun quén một tinh thần thực khiêm tốn. Hiện nay, rất thường thấy một sự kiêu căng về tâm linh tự che giấu sau cái áo khoác của sự khiêm tốn. Nó đưa con người đến chỗ tự xem mình như là kẻ được tuyển chọn của Thánh Đoàn để cứu độ thế gian; nó đưa con người đến chỗ tự xem mình như là kẻ phát ngôn của các Chân Sư hay của Đức Christ; nó có khuynh hướng làm cho họ có thái độ chia rẽ với các nhà lãnh đạo và các huấn sư khác, không chịu nhận biết nhiều khía cạnh của công việc duy nhất và nhiều phương pháp mà Thiên trí đã đề ra cho nhiều người đạt đến. (TLHNM II, 572)
+ Hãy khiêm tốn (Be humble) nếu con muốn đạt được Minh triết. Càng khiêm tốn hơn nữa khi con đã có được Minh triết rồi. (TNVT, 165)
+ Tâm Khiêm Tốn hay Tâm Tỳ Hạ: Tâm tỳ hạ tức là lòng khiêm cung, nhún nhường mà kính cẩn. Chúng ta nên luôn luôn giữ lòng khiêm cung đối với mọi người, chứ đừng sanh tâm cống cao ngã mạn.(Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
+ Lưu ý nhiều bản dịch thiếu về Thần Chú Đại Bi
16. Tát bà tát đá, na ma bà tát đa (*) na ma bà già
(*) Các bản hiện đang lưu hành, được trì tụng rộng rãi ở Việt Nam thiếu năm chữ này. (Nguồn: Chú Đại Bi - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Giảng chi tiết Kinh Thần Chú Đại Bi_HT Tuyên Hóa giảng - RẤT HAY
PHẦN ĐẦU - PHẦN GIẢNG (CÚ GIẢI)
Từ trước đến nay, nhiều người đã giảng rộng về Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú Đại Bi. Thực vậy, rất khó giảng giải về chú Đại Bi. Vì kinh văn thần chú này thuộc vào hệ mật ngôn chân ngữ. Nay để giảng giải về thần chú này, trước tiên tôi xin đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ý nghĩa của thần chú:
Thần chú Đại bi có công năng thông cả thiên đường, thấu cả địa phủ. Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến Thập điện Minh vương hoan hỷ.
Năng lực Từ và Bi của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.
* Đại bi đại chú thông thiên địa
Khi quí vị niệm thần chú này thì trời đất đều chấn động, cả pháp giới chuyển rung. Trên thông cả cõi trời, dưới thấu khắp cả các cõi giới địa ngục. Khắp cả mọi pháp giới trời người đều cảm thông và tán dương công đức.
*Nhất bách nhất thiên thập vương hoan
Nếu quí vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như vậy, tức là vào khoảng 3 năm. Niệm thần chú này liên tục trong 3 năm không gián đoạn, không bỏ sót một ngày, bất luận quí vị có bận rộn như thế nào cũng không quên niệm, thì có thể khiến cho mười vị vua điều hành công việc ở chốn địa phủ cũng phải hoan hỷ. Có nghĩa là từ vua Diêm La cai quản điện thứ 10, cùng tất cả các chung sinh đang bị tội báo ở trong 10 địa ngục ấy đều được vui mừng.
*Đại từ đại bi năng khử bệnh
Năng lực Từ và Bi của thần chú này có thể chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Vì sao gọi là chú Đại Bi? Là vì: “Bi năng bạt khổ”. Nghĩa là Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ. Còn “Từ năng dữ lạc”. Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Vì thần chú này khả năng bớt khổ ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi là Chú Đại Bi. Chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi bệnh tật. Bất luận quí vị bị bệnh gì, nếu quí vị trì niệm Chú Đại Bi, thì mọi bệnh khổ đều được tiêu trừ.
Có người sẽ thắc mắc: “Tôi đã niệm Chú Đại Bi rồi, tại sao không lành bệnh?”
Quí vị chưa lành bệnh là vì quí vị chưa vận hết lòng thành trong lúc trì niệm. Với lòng chí thành, chắc chắn quí vị sẽ có được sự cảm ứng khi niệm chú.
*Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền
Khi quí vị trì niệm mỗi ngày 108 biến chú Đại Bi, niệm trong 1000 ngày như thế thì Thập điện Minh Vương vui mừng và tất cả mọi bệnh tật đều được tiêu trừ. Trong suốt 1000 ngày, tức 3 năm này, quí vị đã thành tựu được khá nhiều công đức rồi. Bởi vì trong 3 năm này, mỗi ngày quí vị đều gia tâm trì tụng thần chú nên không có điều kiện để tạo tác nghiệp nhân. Quí vị không uống rượu, không ăn thịt, không ăn ngũ vị tân.
Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là “nghiệt kính đài”, nếu quí vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một người, đời này gây tội sát nhân, thì trong gương báo tội sẽ hiện ra cảnh người ấy đang giết người. Nếu người ấy gây nghiệp trộm cắp thì trong gương sẽ hiện hình người ấy đang đi ăn trộm. Nếu người ấy gây nghiệp đốt phá nhà cửa người khác thì trong gương sẽ hiện ra rõ ràng hành động đốt nhà ấy.
Còn nếu quí vị không gây tạo ác nghiệp gì cả thì sao? Thì chẳng có gì hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên, nếu quí vị trì tụng thần Chú Đại Bi trong 3 năm thì khi gương nghiệp soi chiếu đến, tội báo của quí vị sẽ được tẩy sạch. Nơi địa ngục ấy sẽ treo lên một tấm bảng ghi rằng: “Người này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người này đều đã được hóa giải toàn bộ.”
Tất cả các vị quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái cung kính chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai vậy. Đồng thời các vị quỷ thần ấy sẽ hộ trì người trì chú cũng như họ thường hầu cận chư Phật vậy, và các vị quỷ thần đều thông báo cho nhau biết là không nên quấy nhiễu người trì chú này. Thần lực của chú Đại Bi thật là không thể nghĩ bàn.
+ PHẦN GIỮA - CÚ GIẢI (Giảng giải từng câu RẤT HAY VÀ SÂU SẮC NHIỆM MẦU KHÔNG THỂ DIỄN TẢ)
+ PHẦN CUỐI - Chân Ngôn => Kết quả thành tựu viên mãn mọi điều đã cầu nguyện như Pháp
81. Án tất điện đô
Nay phần kinh văn của thần chú đã được tụng rồi. Tiếp theo là phần chân ngôn. Thông thường có chữ Án luôn luôn dẫn đầu cho phần chân ngôn này. Nên chữ Án mang ý nghĩa “dẫn sinh nghĩa”.
Tất nghĩa là “thành tựu”.
Điện đô. Hán dịch là “ngã giới” là đạo tràng, lãnh thổ, cương vực của mình đã được kiết giới thành tựu. Phạm vi kiết đại giới là 800 do tuần (yojanas) và trung giới là 600 do tuần. Trong phạm vi đã được kiết giới này, hành giả thường được an lạc và yên tịnh, tất cả mọi công đức đều được thành tựu và bản nguyện đều được như ý.
Chẳng hạn như khi tôi đã kiết giới đạo tràng trong phạm vi địa hạt San Francisco (Cựu Kim Sơn) thì trong toàn bộ vùng này sẽ không xảy ra động đất hoặc những thiên tai khác. Vì các vị hộ pháp, thiện thần đều phải hộ trì cho nguyện lực của đạo tràng được thành tựu.
Phạm vi và ý nghĩa kiết giới lớn làm sao! Một hạt vi trần cũng rộng lớn bao la rồi. Vì một hạt vi trần của hành giả là bao hàm vô lượng vi trần vô lượng thế giới, và vô lượng vi trần trong thế giới cũng chỉ hàm ẩn trong một vi trần. Vì vậy, nếu một vi trần hoại diệt thì vô lượng vi trần đều hoại diệt. Một hạt vi trần tồn tại thì vô lượng vi trần cũng tồn tại. Đó là sự vi diệu của sự kiết giới.
82. Mạn đà ra
Mạn đà ra. Hán dịch là “đạo tràng”, cũng dịch là “Pháp hội”. Nghĩa là đạo tràng của hành giả nhất định phải thành tựu. Pháp hội của hành giả nhất định phải thành tựu.
83. Bạt đà da
Bạt đà da dịch là “Toại tâm viên mãn”. Chẳng hạn như khi tôi muốn một vi trần không hoại thì nó sẽ không hoại. Nếu tôi muốn tất cả các vi trần không bị tan hoại thì các vi trần ấy sẽ kết hợp lại với nhau. Khi tôi niệm Án, tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha với tâm nguyện sẽ không có nạn động đất xảy ra ở San Francisco (Cựu Kim Sơn), hoặc nếu có nạn động đất lớn thì nạn ấy biến thành nhỏ, nạn nhỏ thì biến thành không có. Nhờ vậy nên không có nạn động đất, không có ai sợ hãi. Thế nên gọi là sự thành tựu. Tùy theo tâm nguyện mà đều được như ý (toại tâm viên mãn). Nếu quý vị có niềm tin chí thành, thì thấy rất là màu nhiệm. Còn nếu quý vị không tin, là vì quý vị chẳng thích thú gì với những điều mầu nhiệm như trên.
84. Ta bà ha
Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi./.
- Xin mời xem giảng chi tiết Chú Đại Bi: Phần chú giải Thần Chú Đại Bi _ HT Tuyên Hóa rất hay
+ Giảng Kinh ý nghĩa Thần Chú Đại Bi của HT Thích Trí Thủ: Thời Phật còn tại thế, ở núi Bồ đà lặc ca, tại đạo tràng Bảo trang ghiêm cùng hàng tam thừa bát bộ và chư thần vân tập đông đủ, ngài Quán thế âm bí mật phóng hào quang soi khắp mười phương quốc độ, Ngài chấp tay bạch rằng: " Bạch Đức Thế Tôn, con có thần chú bí mật muốn nói cho mọi người biết để trì tụng cho thân tâm được an lạc, không tật bệnh, sống lâu nhiều phước lộc. Thần chú này có công năng dứt trừ các tội ác và cầu mong gì thì như ý muốn." (Nguồn: Ý Nghía Thần Chú Đại Bi _ HT Thích Trí Thủ giảng)
+ Nhật Quang Bồ Tát cùng với Đại Bi Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát có quan hệ mật thiết. Người trì tụng Đại Bi Chú được Nhật Quang Bồ Tát hợp với vô lượng Thần Nhân đi đến chứng minh kèm tăng thêm hiệu nghiệm. Phàm người trì tụng Chú Đại Bi nếu hay trì tiếp Nhật Quang Bồ Tát Đà La Ni ắt hay tịch trừ Ma Chướng, được quả báo tốt lành chẳng thể nghĩ bàn _Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn ... ghi rằng: Nhật Quang Bồ Tát (Sūrya-prabha) vì người thọ trì Đại Bi Tâm Đà La Ni, nói Đại Thần Chú để ủng hộ là:
“Nam mô bột đà cù na mê (1) Nam mô đạt ma mạc ha đê (2) Nam mô tăng già đa dạ nê (3) Để lý bộ tất tát đốt diêm nạp ma”.
Tụng Chú này diệt được tất cả tội, cũng hay đuổi được Ma và trừ thiên tai. Nếu kẻ nào tụng một biến, lễ Phật bái, Như vậy mỗi ngày, riêng ba Thời tụng Chú lễ Phật thì trong đời vị lai tùy theo chỗ thọ thân sẽ được mỗi một tướng mạo đoan chính, được quả báo đáng vui mừng” (Nguồn: Kinh Dược Sư)
+ Xem Thần Chú Đại Bi - Đức Phật dạy (Clip Chú Đại Bi - Phần tự)
+ Xem Giảng phần giới thiệu Chú Đại Bi cực hay của HT Tuyên Hóa - Phần đầu
+ Xem: Linh ứng Chú Đại Bi - HT Tuyên Hóa
+ CÁC TAY THỦ NHÃN ẤN PHÁP
+ 42 Thủ Nhã Phải Được Chân Truyền: Thông báo được công bố ngày 16 tháng 8 năm 2006 của Văn Phòng Quản Trị Vạn Phật Thánh Thành: Bất cứ khi nào Hòa thượng Tuyên Hóa truyền pháp 42 Thủ Nhãn, Ngài luôn nhấn mạnh “Bất cứ ai truyền pháp này mà không có sự chấp thuận của tôi sẽ gặp ma chướng.” (1). Trước khi nhập Niết bàn, Ngài đã đặc biệt huấn thị vị trụ trì của Vạn Phật Thánh Thành (Pháp sư Hằng Luật) như sau: “Đừng để pháp môn Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn này diệt tận. Hãy tiếp tục truyền lại cho các thế hệ sau. Việc truyền pháp này phải được tiến hành trước tượng Bồ Tát Quan Thế Âm ngàn tay ngàn mắt (ở Phật Điện chính của Vạn Phật Thánh Thành).” (2) (Nguồn: Hòa Thượng khai thị rằng )
+ Trang 72 của quyển sách nầy cũng cho biết là 42 Thủ Nhãn nầy đều là sở tu của Bồ Tát, chứ chẳng phải là tên của 42 vị Bồ Tát. Ngài cũng cho biết là tại Đài Loan có một vị Pháp Sư giảng Chú Đại Bi, mỗi một Thủ Nhãn vị nầy đều giảng thành một vị Bồ Tát. Ví dụ như “Chưởng Thượng Hóa Phật Thủ Nhãn” thì vị nầy giảng là: “Chưởng Thượng Hóa Phật Bồ Tát Thủ Nhãn”. Giảng như vậy là sai, sai một ly đi một dặm là vậy. Hình Thủ Nhãn tức là hình bàn tay có cầm những pháp bảo, mà cũng kỳ lạ là từ câu thứ 24.“Tát Bà Tát Bà” mới bắt đầu có Thủ Nhãn nầy và chấm dứt ở câu 75. “Ta Bà Ha” gồm có 42 hình ảnh của bàn tay với nhiều ấn quyết, mà không chấm dứt ở câu 84. “Ta Bà Ha” là câu cuối cùng, nhưng dẫu sao đi nữa thì đây cũng là những lời giải thích của vị có tu, có hành trì Thần Chú Linh Cảm nầy của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát vì lòng Đại Bi mà đã thể hiện ra như thế để hóa độ chúng sanh, còn tin hay không thì xin tùy theo từng người đã cảm ứng với Thần Chú nầy như thế nào, chứ bảo rằng đúng hay sai thì lại là vấn đề khác nữa. (Sách Chú Đại Bi giảng giải của HT Tuyên Hóa - Thượng Tọa Thích Minh Định dịch sang tiếng Việt)
+ Ý nghĩa Tượng Quán Âm Bồ Tát: 42 tay ở giữa nêu biểu báo thân Phật, nêu biểu 42 thánh vị tu chứng (thập trụ, thập hạnh, thập địa, thập hồi hướng, đẳng giác và diệu giác) để cứu độ 25 cõi chúng sinh trải qua 42 thánh vị để thành tựu giác ngộ.(Nguồn: Giảng về Tượng Quán Âm Bồ Tát ngàn Tay và 42 Tay Ấn Pháp)
+ Câu Chú 24. Tát bà tát bà: Câu này là Bảo Ấn/ Bảo thủ nhãn ấn pháp. Ý nghĩa tương ứng cả bài Chú Đại Bi và Tay Ấn này bao hàm cả 42 tay thủ nhãn (Nhưng quí vị phải thành tựu cả 42 Thủ nhãn thì khi đó mới sử dụng được Ấn này). Bằng cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương, Quỷ vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả tội nhân này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì sao vậy? Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.
Bảo ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành trì. Và sẽ đạt được sự an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”. (Ngài HT Tuyên Hóa đã dùng 2 lần để cứu người sắp chết sống lại nhiều năm).
Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán Thế Âm gọi là “Bảo ấn”. (Nguồn: Giảng Chú Đại Bi)./.
+ Tùy theo mỗi Ấn Pháp mà có thể là dùng cả hai Tay hoặc một Tay để biểu diễn - Ngàn cánh Tay của Bồ Tát tương ứng với Ngàn Ấn Pháp.
+ Ứng dụng Sáu Tay Ấn <=> Sáu hạnh và Sáu mắt: (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi)
Có 6 hạnh rất quan trọng:
1- Cho ra
2- Buông đi (tay buông đi có 2 vị thế: Thí Vô Úy và Thí Tiếp Dẫn, 2 tay nhỏ- - Xem nguồn
3- Xoa dịu (Tay xoa dịu cũng có 2 tay là Đại Bi Cam Lồ và Đại Từ Giáng Vũ
4- Gỡ rối
5- Nhấc bổng
6- Mãn nguyện
Đây là 6 tay mà cũng là 6 hạnh. Sáu hạnh đi với 6 mắt là:
1- Cho ra đi với mắt Tri Ân
2- Buông đi đi với mắt Thấy bản tánh
3- Xoa dịu đi với mắt Hiền lành
4- Gỡ rối đi với mắt Thấy suốt
5- Nhấc bổng đi với mắt Tha thứ
6- Mãn nguyện đi với mắt Tin sâu
Như thế là mình có mắt, có tay và có tâm. Có đủ bộ như vậy thì mình mới thấy được con đường tu dễ dàng. Nếu các bác đem bạn tới Mạn Đà La kỳ này (Thay Tượng A Di Đà thành Tượng 6 Tay Quan Âm đặt ở giữa mạn Đà La), các bác nên giới thiệu đây là con đường nhập thế, của đạo bồ tát là đạo của tình thương và của lòng từ bi mở rộng. Đây là thực hành phụng sự.
+ 42 Chủng Tử Tự trong Kinh Hoa Nghiêm: Kinh giảng về thứ tự tu hành từ thấp đến cao, một bản đồ tu hành, chỉ dẫn con đường tu đạo đến quả vị Bồ Tát, Phật quả.
Đức Phật gói nghém cảnh giới bất nhị/ Vô sắc vô hiện của Ngài vào 42 chủng tử Tự, qua Mạn đà la ... biểu hiện bản tánh của Ngài. 42 chủng tử tự (Đỉnh cao của trí tuệ) ứng vô số cửa giải thoát. Sử dụng để giúp chúng sinh, ví dụ một người đang buồn, nếu dụng chủng tử tự và câu Chú tương ứng nhập vào Tâm anh ta, mang năng lượng tình thương vào hóa giải (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
+ PHẦN 42 TAY ẤN PHÁP: Mời xem chi tiết Tóm lược 42 Thủ Nhãn Ấn Pháp
Xem ảnh vẽ của HT Tuyên Hóa về 42 Thủ nhãn Ấn Pháp: Xem tại đây
Xem thêm Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi Tại đây
Xem thêm: (Xem Giới Thiệu 42 Thủ Nhãn và Clip về Chủng tử tự)
+ Kiến Thủ: Thủ là sự giữ chặt, không buông bỏ, như người đã nghiền rượu hay ma túy, khó mà xa lìa những thói quen ấy. Có 4 loại Thủ:
a- Dục thủ: Bám víu vào những thú vui dục lạc
b- Kiến thủ: Bám víu vào những quan điểm cá nhân hay sai lầm (những tà kiến)
c- Giới cấm thủ: Bám víu vào những tập tục nghi lễ dị đoan, mê tín, không đưa đến giải thoát hay lợi ích tinh thần.
d- Ngã chấp thủ: Bám víu vào ảo tưởng về một cái ta.
Nguồn: Kinh Vô Minh (9. => Duyên Thủ) (Nguồn)
+ Mười Tâm “Là tâm Vô Kiến Thủ.”
- Khi quý vị trông thấy sự vật thì trong lòng liền mê chấp/ Chấp lấy - Kiến thủ, sanh khởi kiến hoặc; hễ có kiến hoặc tất có sự chấp giữ (sở thủ). (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
- 9- Tâm vô kiến thủ là tâm không nhìn. Nhìn là chỉ muốn nắm bắt. Đang đi xe, thấy cái nhà đẹp là mình nghĩ mình muốn mua, muốn làm chủ. Thấy món ăn ngon, là mình phải ăn mới được. Kiến thủ là thấy và nắm bắt.(Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng về 10 Tâm Đại Bi)
+ 14. Tát bà a tha đậu du bằng (HT Tuyên Hóa giảng về Thần Chú Đại Bi)
Câu chú này chia làm ba phần. Khi trì tụng lên, câu chú có ba nghĩa khác nhau:
Tát bà có nghĩa là “tất cả”. Còn có nghĩa là “bình đẳng”. Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”.
A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp.
Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.
“Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu.
“Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất.
Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.
Du bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy. Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.
Câu 02 Chú Đai Bi: Nam Mô A Rị Da
Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”.
A rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ Câu 03 Chú Đai Bi: Bà lô yết đế thước bát ra da (Thầy Hằng Trường giảng là “Bà lô kiết đế thước bát ra da”)
Bà lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô - giá - na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến.
Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”.
Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ “Bà lô kiết đế thước bát ra da”: Mình nói tới ý nghĩa của chữ “Quán”. Quán là lắng nghe, và chứng nghiệm, cảm nghiệm lại mà không bị kẹt ở đâu cả. Nhìn vào trong, nhìn ra ngoài, nhìn vào chính mình mà không bị kẹt. Và mình nói tới cách quan trọng nhất trong câu: “Quán tự tại”. chữ “Quán” này cũng có nghĩa là
bày tỏ một sự quan hoài, bài tỏ tấm lòng của mình đối với người khác. Tại vì nếu Quán, nếu nhìn, mà mình không đem một hành động nào của tình thương, thì cái Quán đó chỉ là cái Quán của phương pháp xuất tục, là phương pháp cho mình tự tu thôi. Nếu mình thấy được nỗi đau khổ của chúng sinh thì mình làm gì để vơi bớt sự đau khổ đó? Đó là cái tâm thái của Bồ tát. Mình thấy người ta khổ thì mình làm gì?... Cho nên khi mình đọc câu chú: “Bà lô kiết đế thước bát ra da”, mình đừng quên rằng mình đọc không chưa đúng, mình phải hiện thực tình thương đó bằng sự quan hoài, mình hãy tìm cách làm những chuyện nhỏ nhỏ cho những người trẻ hơn, cho người thiếu tuổi tác hơn mình, cho người thiếu kinh nghiệm hơn mình.
Tự Tại là khi mà mình ra khỏi những bóng tối trong tâm thức thì mình sẽ thấy mình tự tại vô cùng. Quán Tự Tại không phải là quán sự tự tại của người khác. Nhờ cách quán này mà mình được sự tự tại. Sự tự tại đó do đâu mà ra? – Do mình lắng nghe tiếng lòng của mình và lắng nghe tiếng lòng của kẻ khác. (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi)
Câu 06 Chú Đai Bi: Ma ha ca lô ni ca da
Ma – ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng.
Ca – lô Hán dịch là “Bi”.
Ni – ca nghĩa là “Tâm”.
Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.
Da có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà - la – ni.”
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 07 Chú Đại Bi: Án
Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.
Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.
Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.
1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.
2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.
3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.
4. Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật.
5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.
6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
7. Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.
Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.
8. Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.
9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh.
10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.
Như vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 11 Chú Đai Bi: Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà
Bà lô kiết đế dịch là “Quán”.
Thất Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm.
Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự tại rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy, một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hóa thân của Bồ – Tát Quán Thế Âm.
Lăng đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa trắng nhỏ” vì nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu: vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích, mã não. Nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện này.
Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm nguyện đại từ bi.
Lăng đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường thị hiện. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi)
Câu 17 Chú Đai Bi: Ma phạt đạt đậu
Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân, thế hữu”.
Câu chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hãy duỗi lòng từ cứu giúp con. Xin các Ngài hãy là thân quyến ở cõi trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này của chúng con, để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành tựu”.
Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ – tát.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 19 Chú Đai Bi: A bà lô hê
A bà lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán sát”. Dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh ở thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh. Bồ – tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nổi những khổ nạn.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 18 Chú Đai Bi: Đát điệt tha - án
Trong Bát nhã tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết...”
Đát điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”. Còn dịch là “Sở vị”. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các chủng tự của Phạm Thiên.
Đát điệt tha còn có nghĩa là “thủ ấn” nghĩa là kết ấn bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh.
Đát điệt tha lại còn có nghĩa là vô lượng pháp môn tu học và trí huệ nhãn vô lượng. Đó là ý nghĩa của “Sở vị”.
Chữ án như đã nói ở trước, khi quí vị trì niệm trì niệm đến chữ án thì quỷ thần đều phải chắp tay cung kính, lắng nghe người niệm chỉ giáo. Chữ án còn có công năng lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 20 Chú Đai Bi: Lô ca đế
Lô ca đế nghĩa là “Tự tại” hoặc là “Thế Tôn”. Hợp lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ – tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian. Chính là danh hiệu của Bồ – tát Quán Thế Âm.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 21 Chú Đai Bi: Ca ra đế
Ca ra đế dịch là “Bi giả” là người có lòng từ bi rộng lớn, thường cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất vọng. Người mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ đau là một người “đại bi”.
Ca ra đế còn có nghĩa là “tác giả”. Người có thể làm cho đạo nghiệp sinh khởi, giúp cho mọi chúng sinh đều phát tâm bồ - đề, phát nguyện làm những việc khó làm như hành Bồ – tát đạo để tiến tới tựu thành Phật quả.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 22 Chú Đai Bi: Di hê rị
Di hê rị dịch nghĩa là “Thuận giáo”. Khi quí vị trì tụng đến câu chú này, nghĩa là quí vị tự phát nguyện: “Con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ – tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con nguyện nương theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành”.
Di hê rị còn có nghĩa là “Y giáo phụng hành”. Nương theo lời dạy của Bồ – tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 24 Chú Đại Bi: Tát bà tát bà
Tát bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người.
Bằng cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương, Quỷ vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả tội nhân này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì sao vậy? Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.
Bảo ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành trì. Và sẽ đạt được sự an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”.
Người Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết sử dụng một ấn chú gọi là “Phiên thiên ấn”. Người con của Quảng Thành vương cũng có một phiên thiên ấn. Chính là ấn này vậy. Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán Thế Âm gọi là “Bảo ấn”.
Nếu quí vị dụng công hành trì thì nhất định sẽ thành tựu Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi, nếu có người vừa mới chết hoặc sắp chết, quí vị chỉ cần trì ấn này vào một tờ giấy, và viết vài dòng cho Diêm vương: “Hãy tha cho người này sống lại ngay. Hãy tha cho anh ta trở về dương gian”. Diêm vương không dám từ chối. Diệu dụng của Bảo ấn có thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng để sử dụng được Bảo ấn này, trước hết quí vị phải thành tựu công phu tu tập đã. Nếu công phu chưa thành tựu thì chẳng có kết quả gì.
Thế nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi học. Trước hết, quí vị phải vào tiểu học, rồi lên trung học, rồi thi vào đại học. Rồi cuối cùng có thể được học vị Tiến sĩ.
Tu tập để thành tựu Bảo ấn này cũng như đạt được học vị Tiến sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ Bảo ấn này không có gì so sánh được.
Tát bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho tất cả mọi loài chúng sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô biên đến như thế. Nên gọi ấn này là Bảo ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng được Bảo ấn này thì phải công phu tu trì qua cả bốn mươi hai thủ nhãn. Tát bà tát bà chỉ là một trong bốn mươi hai ấn pháp ấy mà thôi.
Có người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng: “Ta sẽ tu tập Bảo ấn này ngay để bất kỳ lúc nào có người sắp chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho Diêm vương không được bắt người ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí vị có thể giúp người kia khỏi chết, như ng đến khi quí vị phải chết, thì chẳng có người nào giúp quí vị thoát khỏi chết bằng Bảo ấn này cả.
Tôi đã có dịp sử dụng ấn này hai lần. Một lần ở Mãn Châu và một lần ở Hương Cảng. Lần ở Mãn Châu là trường hợp cứu một người sắp chết. Người này chắc chắn sẽ chết nếu tôi không sử dụng Bảo ấn này. Vào một chiều trời mưa ngày 18 tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao Đức Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi tôi đang ngụ. Anh ta quỳ trước tượng Phật, cầm một cây dao bọc trong giấy báo, chuẩn bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quí vị nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại. Tuy nhiên sự ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu đạo. Quí vị biết không. Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng gần chết. Do vì thường ngày mẹ anh ta nghiện thuốc phiện nặng. Nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện cũng không được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng ăn uống gì. Đầu lưỡi đã trở sang màu đen, môi miệng nứt nẻ. Bác sĩ Đông, Tây y đều bó tay, không hy vọng gì còn chữa trị được. Nhưng người con trai của bà nguyện: “Lạy Bồ – tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường chư Phật. Với lòng chí thành, con nguyện cho mẹ con được lành bệnh”.
Ngay khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh ta lôi lại đằng sau rồi nói: “Anh làm gì thế, anh không được vào đây mà tự sát”.
Anh ta trả lời:
- “Tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho mẹ tôi được lành bệnh. Ông đừng cản tôi”.
Chàng trai chống lại, nhưng người kia không để cho anh ta chặt tay nên liền cho người báo cho Hoà thượng trụ trì biết. Hoà thượng cũng không biết phải làm sao, Ngài liền phái cư sĩ Lý Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực của chùa đi tìm tôi.
Dù lúc ấy, tôi vẫn còn là chú Sa – di. Tôi được giao nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ dưới Hoà thượng trụ trì. Tôi chỉ là một chú tiểu, nhưng không giống như những chú tiểu cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi thức dậy trước mọi người và ngủ sau tất cả mọi người. Tôi làm những việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một ngày một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính là sửa đổi những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hoá được những lỗi lầm nhỏ nhặt ấy, có nghĩa là mình còn thiếu năng lực trong công phu.
Hoà thượng trụ trì giao việc đó cho tôi. Tôi liền đến bạch Hoà thượng:
- “Phật tử đến cầu Hoà thượng cứu giúp. Nay Hoà thượng lại giao cho con. Hoà thượng làm cho con thật khó xử”.
Hoà thượng trụ trì bảo:
- “Con hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ”.
Hoà thượng dạy những lời rất chí lý. Tôi vốn chẳng ngại khó nhọc, nên khi nghe những lời đó, tôi rất phấn khích, tôi thưa:
- Bạch Hoà thượng, con sẽ đi.
Tôi bảo chàng trai:
- Anh hãy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.
Anh ta nói:
- Nhưng thầy chưa biết nhà con?
Tôi đáp:
- Đừng bận tâm về tôi. Hãy cứ về nhà trước.
Lúc ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng. Anh ta đi theo đường lộ chính, còn tôi đi theo đường mòn. Nhà anh ta cách chùa chừng sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt khi về đến nơi, anh ta đã thấy tôi ngồi đợi anh trong nhà.
- Bạch thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến sớm thế?
Tôi nói:
- Có lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền hình gì đó.
Cậu ta đáp:
- Thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà.
Tôi nói:
- Có lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi, nên tôi đến trước.
Ngay khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu sống bà ta được. Nhưng tôi vẫn quyết định cố gắng hết sức để cứu bà. Tôi dùng Bảo ấn viết mấy dòng:
“Chàng trai này có tâm nguyện rất trí thành, nguyện chặt tay cúng dường chư Phật để cứu mẹ sống. Tôi đã ngăn cản anh ta chặt tay. Bằng mọi cách, xin cho mẹ anh ta được sống”.
Tôi gửi Bảo ấn đi, sáng hôm sau bà ta vốn đã nằm bất động suốt bảy, tám ngày nay, chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục.
- Phúc ơi... Phúc ờ... mẹ đói quá, cho mẹ tí cháo...
Chàng trai suốt bảy, tám ngày nay không nghe mẹ gọi. Nay cực kỳ vui sướng. Anh ta chạy đến bên giường nói với mẹ:
- Mẹ ơi, mẹ đã nằm liệt giường suốt tám ngày nay. Nay mẹ khoẻ rồi chứ?
Bà ta trả lời:
- Chẳng biết bao lâu nữa. Mẹ bị rượt chạy trong một cái hang tối đen thăm thẳm không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng ánh sao hay đèn đuốc gì cả. Mẹ chạy và cứ chạy hết ngày này qua ngày khác để tìm đường về nhà mình. Mẹ có kêu, nhưng chẳng ai nghe. Cho đến đêm hôm qua, mẹ mới gặp một vị sư khổ hạnh mang y cà sa đã mòn cũ, vị này đã dẫn mẹ về nhà... Con cho mẹ ăn tí cháo loãng để cho đỡ đói.
Người con nghe mẹ nói đến vị sư, liền hỏi:
- Nhà sư mẹ gặp dung mạo như thế nào?
Bà đáp:
- Ngài rất cao. Nếu mẹ được gặp lại, mẹ sẽ nhận ra ngay.
Lúc đó tôi đang nghỉ trên giường. Anh ta liền đến bên tôi, chỉ cho mẹ và hỏi:
- Có phải vị sư này không?
Bà nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên:
- Đúng rồi, chính thầy là người đã đưa mẹ về nhà.
Lúc đó, toàn gia quyến chừng mười người, gồm cả già trẻ, đều quỳ xuống trước mặt tôi thưa:
- Bạch Thầy, Thầy đã cứu mẹ con sống lại. Nay toàn gia đình chúng con cầu xin được quy y thọ giới với Thầy. Bất luận nhà chùa có việc gì, con nguyện đem hết sức mình xin làm công quả, và tuân theo lời chỉ dạy của Thầy để tu hành.
Về sau, dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và cầu xin tôi chữa bệnh cho họ. Tôi bảo:
- Tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đòn. Quí vị có chịu thì tôi chữa.
Họ đồng ý và tôi phải chữa. Có nghĩa là bắt người bệnh nằm xuống, đánh một người ba hèo bằng cái chổi tre. Đánh xong, tôi hỏi:
- Đã hết bệnh chưa?
Thật là ngạc nhiên. Họ lành bệnh thật!
Đó là một chuyện phiền phức xảy ra ở Mãn Châu. Lần thứ 2 tôi dùng Bảo ấn này là ở Hương Cảng. Khi bố của cô Madalena Lew 79 tuổi bị bệnh. Các vị bói toán đều bảo rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong năm nay. Ông ta đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo để cầu nguyện gia hộ cho ông được sống thêm ít năm nữa.
Ông thưa:
- Bạch Thầy. Xin Thầy giúp cho con được sống thêm một thời gian nữa.
Tôi bảo:
- Thế là ông chưa muốn chết. Tôi sẽ giúp cho ông sống thêm 12 năm nữa? Được chưa?
Ông rất mừng vội đáp:
- Thưa vâng, được như thế thật là đại phúc.
Rồi tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm 12 năm nữa.
Tuy nhiên, quí vị không nên dùng ấn pháp này để giúp cho người ta khỏi chết hoặc là cứu họ sống lại khi họ đã chết rồi. Nếu quí vị làm như vậy, quí vị trở nên đối đầu với Diêm vương. Lúc ấy Diêm vương sẽ nói:
- Được rồi. Thầy đã giúp cho người ta khỏi chết, nay Thầy phải thế mạng.
Đến khi quí vị gặp cơn vô thường; chẳng có ai dùng Bảo ấn này để giúp được cả. Nếu quí vị nghĩ rằng mình có thể sử dụng Bảo ấn để cứu mình khỏi chết là quí vị lầm. Diệu dụng của ấn pháp cũng giống như lưỡi dao, tự nó không thể cắt đứt được chuôi dao của chính nó. Nên khi quí vị gặp bước đường cùng, thì cũng giống như chuyện vị Bồ – tát bằng đất nung:
Bồ Tát bằng đất nung đi qua biển.
Khó lòng giữ thân được vẹn toàn.
Vậy nên nếu quí vị dù đã thông thạo trong khi sử dụng ấn pháp này, cũng phải công phu hành trì thêm. Vì lý do này mà tôi ít để ý đến việc riêng của người khác nữa. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 25 Chú Đại Bi: Ma ra ma ra
Hai câu chú này, Hán dịch là “tăng trưởng”. Cũng có nghĩa là “như ý” hoặc “tuỳ ý”. Đó là công năng của Như ý Châu thủ nhãn, làm tăng trưởng phước huệ, làm cho mọi việc đều được tốt lành như ý.
“Như ý” nghĩa là tuỳ thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng.
Quí vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Diệu dụng của Như ý Châu thủ nhãn vượt ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ.
Nếu quí vị muốn giàu có, hãy hành trì theo thủ nhãn ấn pháp này. Một khi đã thành tựu rồi, thì quí vị sẽ có được mọi thứ và không còn bận tâm vì nghèo khổ nữa. Quí vị luôn luôn giàu có và được vô lượng phước lạc.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 26 Chú Đại Bi: Ma hê ma hê rị đà dựng
Ma hê ma hê. Hán dịch là “Vô ngôn cực ý”
“Vô ngôn” nghĩa là không cần phải nói nữa.
“Cực ý” có nghĩa là ý niệm kia đã đạt đến chỗ tối thượng, đã đạt chỗ vi diệu rồi.
Ma hê ma hê cũng còn có thể dịch là “tự tại”. Tự tại như Đại Phạm Thiên Vương: không buồn, không phiền, không lo, không giận. Suốt ngày đều được tự chủ và an vui.
Đây là “ngũ sắc vân thủ nhãn”. Khi biết ấn này, sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc, và hành giả sẽ đạt được năng lực tự tại phi thường. Diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thực là vô lượng vô biên.
Rị đà dựng là “Thanh Liên Hoa thủ nhãn”. Có nghĩa là “Liên hoa tâm”. Khi quí vị hành trì ấn pháp này thành tựu, sẽ được mùi hương hoa sen xanh toả ra, và được mười phương chư Phật tán thán. Sự vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn. Đúng là:
Pháp Phật cao siêu thật nhiệm mầu
Trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu! Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 27 Chú Đại Bi: Cu lô cu lô yết mông
Cu lô cu lô. Hán dịch là “tác pháp”, hoặc dịch là “tác dụng trang nghiêm”, lại còn có nghĩa là “xuy loa giải giới”. Đây ta chính là Bảo loa thủ nhãn ấn pháp.
Nay chúng ta đang sống trong thời mạt pháp. Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần trì tụng chú Đại Bi là khế hợp với chân tinh thần Phật pháp rồi, nhưng thực ra không phải thế. Chú Đại Bi là gọi thay cho bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và diệu dụng của chú Đại Bi là diệu dụng của bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó chính là toàn thể của chú Đại Bi. Nếu quí vị chỉ biết trì niệm chú Đại Bi mà không hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì như người có tay mà không có chân, nên không thể đi được. Mặt khác, nếu quí vị chỉ biết hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp mà không trì niệm chú Đại Bi thì cũng như người có chân mà không có tay, không làm gì được cả. Cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên để liễu triệt chú Đại Bi, trước hết quí vị phải thông đạt bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp rồi phải trì tụng chú Đại Bi nữa, mới được gọi là người thành tựu rốt ráo diệu pháp này của chư Phật.
Không phải chỉ vừa mới nghe pháp sư giảng về chú Đại Bi xong rồi liền nói:
- “à! Tôi đã hiểu được câu chú đó nghĩa là gì rồi”.
Hiểu như thế cũng chẳng ích lợi gì cả. Cũng giống như người có thân thể nhưng chẳng có tay chân gì cả. Quí vị đã có đủ cả thân thể, tay chân, phải giúp cho chúng hoạt động phối hợp với nhau mới làm nên phước đức được.
Bảo loa thủ nhãn ấn pháp là dùng để tác pháp khi quý vị kiến lập đạo tràng, quý vị nên dùng Bảo loa ấn pháp này. Khi quý vị tác pháp này thì những âm thanh vang lên tận cõi trời, thấu tận địa ngục. Khắp cõi nhân gian, và khắp mọi nơi đều có ảnh hưởng. Bất kỳ mọi nơi nào nghe đến âm thanh này đều ở trong sự điều khiển của người trì ấn pháp. Các loài yêu ma quỷ quái đều phải tuân phục, không thể xâm hại. Đây còn gọi là sự kiết giới. ấn pháp này còn gọi là “tác dụng trang nghiêm”. Có nghĩa là dùng cơn lốc quang minh tâm lực của Bảo loa ấn pháp sẽ tạo nên một pháp âm vi diệu, khiến cho đất bằng hoá thành vàng ròng, đều được trang nghiêm bằng bẩy thứ châu báu. Thật là vi diệu khó thể nghĩ bàn. Quý vị Phật tử đang tu học Phật Pháp nên biết rằng trong 300 năm trở lại đây, không có ai hành trì được bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và cũng chẳng có ai thông hiểu được các ấn pháp này.
Nay chúng ta đã hiểu được chú Đại Bi, chúng ta nên chí thành và phát tâm kiên cố hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp này. Rồi sẽ có được diệu dụng.
Yết mông là tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ của Đại phạm thiên, chứ không phải là ngôn ngữ của ấn Độ, nhưng văn pháp ngôn ngữ ấn Độ cũng căn cứ trên ngôn ngữ của Đại phạm thiên.
Yết mông là tiếng Phạn. Hán dịch là “biện sự”, cũng dịch là “công đức”. Có nghĩa là làm tất cả mọi việc có công đức lợi lạc cho mọi người. Làm việc lợi lạc công đức cho mọi người cũng chính là tạo công đức cho chính mình. Bồ – tát thực hành hạnh tư lợi và lợi tha, tự giác ngộ giải thoát cho mình và giác ngộ giải thoát cho người khác.
Câu chú này nói đến sự thực hành lục độ và vạn hạnh. Đó chính là Bạch Liên Hoa thủ nhãn ấn pháp. Hãy tưởng tượng quí vị đang cầm trong tay đoá hoa sen trắng. Tay quí vị cầm cành hoa sen và miệng trì niệm chú Yết mông yết mông...
Không những quí vị trì tụng chú mà còn hành trì mật ấn. Khi trì tụng cả hai pháp này, quí vị mới có thể tạo nên mọi công đức. Khi quí vị trì tụng chú Đại Bi, đồng thời cũng thông hiểu được cách hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì quí vị mới có thể thành tựu lục độ vạn hạnh. Diệu dụng bất khả tư nghì, không bao giờ nói hết được. Nếu có thể nói được chỗ nhiệm mầu ấy thì nó phải có ngần mé. Mà những điều mầu nhiệm thì không có hạn lượng, không có chỗ khởi đầu và kết thúc. Với sự trì niệm Yết mông, quí vị có thể thành tựu được vô lượng công đức. Trong nhiều đời sau, quí vị mãi mãi được trang nghiêm bởi hương thơm của hoa sen trắng và luôn luôn được hộ trì.
Sự vi diệu, mầu nhiệm của chú Đại Bi dù có tán thán cũng không bao giờ hết, không bao giờ cùng tận.
Câu 28 Chú Đại Bi: Độ lô độ lô, phạt già ra đế
Độ lô độ lô. Hán dịch là “độ hải” nghĩa là vượt qua biển khổ sinh tử. Còn dịch nghĩa “minh tịnh”.
Khi đã vượt qua biển khổ sinh tử rồi, quí vị sẽ đạt được trí tuệ sáng suốt, chứng nhập bản thể thanh tịnh, đến được bờ bên kia, tức thể nhập Niết Bàn. Từ trong bản thể sáng suốt thanh tịnh ấy, trí tuệ sẽ được lưu xuất, quí vị sẽ hiểu rõ được tất cả mọi pháp môn, chắc chắn quí vị sẽ chấm dứt được vòng sinh tử. Với đại định, tâm quí vị hoàn toàn thanh tịnh. Đó là định lực, khi quí vị có được định lực chân chánh thì có thể vãng sanh ở cõi tịnh độ tươi sáng, đó là thế giới Cực Lạc.
Đây là Nguyệt Tịnh Ma Ni thủ nhãn ấn pháp, là diệu pháp Đà - la – ni do Bồ – tát Nguyệt Quang tuyên thuyết. ấn pháp Nguyệt Tịnh thủ nhãn này có công năng đưa mọi người đến chỗ sáng suốt và an lạc.
Phạt già ra đế là Bàng Bi thủ nhãn ấn pháp.(Chưa rõ thuộc Tay ấn pháp nào)
Phạt Già Ra đế. Hán dịch là “Quảng bác trang nghiêm”, còn có nghĩa là “Quảng đại”. Cũng dịch là “độ sinh tử”. Nếu quí vị tu tập hành trì Bàng Bi thủ nhãn ấn pháp này thì quí vị có thể vượt qua biển khổ sinh tử, có nghĩa là giải thoát. Nếu quí vị không công phu hành trì ấn pháp bàng bi thủ nhãn này, thì không thể nào vượt thoát bể khổ sinh tử, đến bờ giải thoát, niết bàn được. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 29 Chú Đại Bi: Ma ha phạt già da đế
Câu chú này có nghĩa là “Tối thắng, đại pháp đạo”.
Pháp là quảng đại, tối thắng và đạo cũng quảng đại, tối thắng. Pháp đạo là chân lý vượt lên trên tất cả mọi sự thù thắng nhất trên đời.
Đây là Bảo Kích thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng hàng phục các loại thiên ma và ngoại đạo. Công năng của ấn pháp này rất lớn. Chẳng hạn ấn pháp này có thể bảo vệ quốc gia chống nạn ngoại xâm. Nếu quốc gia của quí vị sắp bị xâm lăng, và nếu quí vị hành trì ấn pháp này thì vô hình trung, quân giặc bắt buộc phải rút lui.
Nguồn: Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 30 Chú Đại Bi: Đà la đà la
Tiếng Phạn rất khó hiểu. Ngay cả những ai đã học tiếng Phạn thông thạo rồi cũng khó có thể hiểu được mật chú và giảng giải rõ ràng được. Tôi chỉ nhờ hiểu một chút ít thần chú Đại Bi mà thôi.
Đà là đà la là Tịnh bình thủ nhãn ấn pháp. Trong tịnh bình này chứa nước cam lồ. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng cành dương liễu rưới nước cam lồ lên khắp chúng sanh trong sáu đường. Bất luận ai gặp nạn khổ hay bệnh tật gì, nếu được Bồ – tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ thì đều giải thoát khỏi tai nạn ấy.
Đà la đà la. Hán dịch là “Năng tổng trì ấn”, là tâm lượng của toàn chúng sinh. Chính là Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Cam lồ thủ nhãn ấn pháp, Tịnh bình thủ nhãn ấn pháp và Dương chi thủ nhãn ấn pháp – tất cả ba ấn pháp ấy để rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh, cứu độ chúng sinh ra khỏi tam đồ lục đạo. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 31 Chú Đại Bi: Địa lỵ ni
Địa lỵ ni. Hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ nhất là “thậm dõng” nghĩa là dũng khí mãnh liệt. Cũng có nghĩa là “tịnh diệt hoặc khiết tịnh”.
“Thậm dũng” là dạng tướng động.
“Tịnh diệt” là dạng tĩnh.
Còn dịch là “Gia trì và thôi khai”.
- “Gia trì” có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hoá, hướng về phụng hành theo thiện pháp.
- “Thôi khai” là làm cho các nghiệp chướng, tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.
Đây là Cu thi thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Gọi tắt là thiết câu ấn pháp, có công năng làm cho tất cả quỷ thần, thiên long bát bộ đến hộ trì cho hành giả. Nếu quí vị công phu hành trì thành tựu thủ nhãn này, thì có thể bảo thiên long làm mưa và sẽ có mưa ngay, nếu hành giả cần có gió, họ sẽ làm ra gió ngay, khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành hành thế gian nữa, mưa gió sẽ hết ngay.
Quí vị sẽ nói: “Tôi không tin như vậy”. Đúng vật! Đó chính là lý do mà tôi muốn nói cho quí vị nghe, tất cả chỉ là vì quí vị không tin. Không có niềm tin và không ở trong cảnh giới này thì khó lòng hiểu nổi.
Nếu muốn, quí vị có thể hỏi những người vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi nói chuyện với Phật tử ở Đài Loan qua điện thoại, họ cho biết trời đang mưa và rất lạnh. Họ mong muốn thời tiết được ấm áp và bớt mưa. Tôi bảo họ hãy yên tâm, chuyện đó sẽ xảy ra. Họ lại thắc mắc:
- Sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay sao?
Tôi chỉ nói vắn tắt:
- Quí Phật tử hãy đợi xem trời có tạnh mưa hay không?
Ngay khi tôi vừa cúp điện thoại, thì trời bắt đầu tạnh ráo. Họ đều cho đó là chuyện lạ kỳ. (Những ai đã đến Đài Loan năm 1969 để dự giới đàn, đều có thể chứng kiến chuyện này. Trời mưa dầm ở Keelong Đài Loan ít nhất cũng là 48 ngày, nhiều nhất là 53 ngày. Chúng tôi đang ở Đài Loan để thọ giới. Cả tự viện không còn chất đốt, một khi củi đã bị ướt rồi, thì không còn cách nào để sưởi cho khô lại được. Tuy nhiên, vào sáng ngày 18/4 như đã nói ở trên, đúng ngay lúc chúng tôi vừa chấm dứt cuộc điện đàm thì mặt trời vừa hiện ra, bầu trời trở nên sáng trong và khí trời trở nên ấm áp liền. Chú thích của người dịch từ Hoa văn sang Anh Ngữ).
Thực ra, đó chẳng phải là gì khác, chính là năng lực của thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Quí vị chỉ cần kiết ấn và gọi: “Thiên long, đừng làm mưa nữa!” thì trời sẽ dứt mưa ngay. Loài rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quí vị và chỉ khi quí vị đã thành tựu ấn pháp này và đã thông thạo thiết câu thủ nhãn. Rồng phun mưa sẽ tuân theo ấn pháp này và đình chỉ việc làm mưa liền.
Quí vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là như vậy. Bây giờ, tôi đang giảng kinh cho quí vị nghe và tôi đang nói với quí vị bằng chân ngữ. Đây không phải là chuyện nói đùa. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 33 Chú Đại Bi: Giá ra giá ra
Giá ra giá ra dịch nghĩa là “hành động”. Đó là hành động như quân đội thi hành một mệnh lệnh hành quân. Hành quân là một mệnh lệnh nếu quí vị không tuân hành, có nghĩa là chống lệnh.
Đây là Bảo đạc thủ nhãn ấn pháp. Khi quí vị rung chuông, âm thanh vang lên khắp không gian, thông cả thiên đàng, chấn động cả địa giới. Nếu quí vị cần thực hiện việc gì, chỉ cần rung chuông lớn, các loài chư thiên, thiện thần, yêu ma quỷ quái đều tuân theo mệnh lệnh của quí vị. Chẳng hạn như khi có động đất, quí vị chỉ cần rung chuông lên rồi ra mệnh lệnh: “Quả đất không được rung lên như vậy”, trái đất trở về trạng thái yên bình ngay.
Bảo đạc thủ nhãn ấn pháp cực kỳ diệu dụng. Nếu quí vị muốn hát với một âm điệu tuyệt vời, thì hãy công phu hành trì ấn pháp này. Khi công phu thành tưu rồi, tiếng hát của quí vị trong suốt như tiếng đại hồng chung vang lên trong không gian.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 34 Chú Đại Bi: Ma ma phạt ma la
Ma ma. Hán dịch là “ngã sở thọ trì”. Đó chính là một loại mệnh lệnh hành động. Có nghĩa là “mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn phải được thành tựu”.
Ma ma là Bạch phất thủ nhãn ấn pháp. ở Trung Hoa, các đạo sĩ và Tăng sĩ Phật giáo thường sử dụng phất trần, các vị cao tăng thường cầm phất trần khi đăng bảo toạ để thuyết pháp.
Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có công năng trừ sạch mọi nghiệp chướng của thân, trừ được mọi chướng nạn và bệnh tật. Chỉ cần phất lên thân vài lần là có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng và chữa lành mọi ma chướng sinh ra bệnh tật.
Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều công dụng, nhưng người biết cách dùng ấn pháp này lại rất ít. Tôi biết hiện nay có rất ít người sử dụng được ấn pháp này.
Năm người Tây phương đầu tiên vừa đi thọ giới Cụ túc ở Đài Loan đã trở về. Họ đã trở thành những vị Tỷ Khưu, Tỷ Khưu Ni chân chính. Họ vừa về đến phi trường vào lúc 4 giờ 30 chiều nay, chuyến bay 910 của hãng hàng không Trung Hoa. Ngày nay Phật giáo Giảng Đường đã có được nhiều xe hơi nên toàn thể Phật tử hộ pháp trong đạo tràng cũng như toàn thể Phật tử ở San Francisco – Cựu Kim Sơn – Hoa Kỳ - đều có thể ra phi trường để đón mừng các vị tân Tỷ Khưu.
Bình thường, tôi chẳng muốn đến phi trường nhưng trong chuyến bay ấy có chở về vài tượng Phật, nên tôi ra phi trường để nghênh đón tượng Phật chứ không phải để đón các đệ tử của tôi. Các đệ tử của tôi cũng không cần tôi đón, cũng chẳng cần đưa. Khi họ đi Đài Loan thọ giới, tôi đã nói với họ rằng:
“Khi mê thì thầy độ
Khi ngộ rồi tự độ”.
Nay họ phải tự độ chính họ, họ đã ra đi, nay lại trở về. Chắc chắn họ phải tự tìm ra con đường từ phi trường về chùa. Họ chẳng cần tôi phải chỉ dẫn: “Quẹo ở đó, đi theo đường này, đó là đường về chùa”.
Điều buồn cười nhất là khi họ viết thư báo cho tôi biết họ đã bỏ quên một thùng Kinh. Tôi bảo:
“Bỏ quên kinh chẳng có gì quan trọng. Điều quan trọng chính là không có ai trong các con bị bỏ quên”. Năm người đi thọ giới và nay năm người đều đã trở về. Sao vậy? Vì tôi đã mua bảo hiểm ở chư vị Bồ – tát, nên để cho bất kỳ ai bị bỏ sót lại là điều không thể chấp nhận được. Nếu một người không về, tức là chư vị Bồ – tát không thực hiện đúng hợp đồng. Thế nên tôi rất tin tưởng rằng tất cả các giới tử sẽ trở về và dịch vụ bảo hiểm của chư vị Bồ – tát không cần phải thanh toán hợp đồng.
Quí vị nên nhớ một điều. Những người thọ giới Cụ túc trở về hôm nay là những vị Tổ khai sơn của Phật giáo Mỹ quốc. Đừng xem việc này đơn giản. Điều này rất chân thực. Đừng như những kẻ tự cho mình là Phật tử, chỉ nằm ở nhà mà thích gọi mình là “Tổ tại gia”. Thực vậy, cách đây vài hôm, có một vị Tổ sư tự phong đến đây và muốn hát tặng cho tôi nghe. Tôi giễu cợt ông ta: “Thật chán khi nghe ông hát”. Ông ta chỉ bật lên: “ồ!”, một tiếng rồi bỏ đi.
Phạt ma ra là “Hàng ma kim cang hộ pháp”, tay cầm bánh xe bằng vàng. Vị hộ pháp này có thể hoá thân lớn như núi Tu Di.
Phạt ma ra. Hán dịch là “Tối Thắng Ly Cấu”, có nghĩa đó là pháp thù thắng nhất, xa lìa tất cả mọi cấu nhiễm ở thế gian. Còn có nghĩa là “vô tỷ như ý”. Vì không có gì có thể sánh với pháp này và tuỳ tâm nguyện của mình mà mọi điều xảy ra như ý muốn.
Đây là Hoá cung Điện thủ nhãn ấn pháp. Nếu quí vị hành trì được ấn pháp này thành tựu, thì đời đời quí vị sẽ được sống cùng một trụ xứ với đức Phật (như trong một cung điện), không còn phải thọ sinh vào các loài thai sinh, noãn sinh và thấp sinh nữa. Công dụng của sự thành tựu ấn pháp này là đời đời được sống cùng chư Phật. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 35 Chú Đại Bi: Mục đế lệ
Mục đế lệ là Dương chi thủ nhãn ấn pháp của đức Phật. Đó là nhánh cây mà quí vị thường thấy Bồ – tát Quán Thế Âm cầm ở một tay, còn tay kia Bồ – tát cầm một tịnh bình. Nhành dương này được Bồ – tát nhúng vào tịnh bình rồi rưới lên cho tất cả mọi chúng sinh bị đau khổ. Nước này không như nước thường. Đó là nước cam lồ. Chúng sinh nào được nước này tưới nhuận sẽ có nhiều lợi lạc. Nước cam lồ có thể giúp cho mọi chúng sinh thoát khỏi khổ luỵ đói khát và bản tâm đạt được thanh lương.
Mục đế lệ còn dịch nghĩa là “giải thoát”. Đó là giải thoát khỏi mọi khổ nạn, bệnh tật và chướng ngại. Nên Bồ – tát Quán Thế Âm thường dùng Dương chi thủ nhãn ấn pháp này để giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn và những điều bất như ý. Bề ngoài, chú này dường như không có gì quan trọng lắm, nhưng một khi quí vị công phu hành trì ấn pháp này thành tựu rồi, thì không những quí vị có thể giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi bệnh tật và khổ nạn mà còn có thể hàng phục cả thiên ma ngoại đạo. Khi những thiên ma ngoại đạo được thấm nhuận nước cành dương này, họ tự nhiên hồi tâm hướng thiện, thực hành theo chánh pháp. Do vậy, Dương chi thủ nhãn có diệu dụng vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn.
Giọt nước cam lồ từ bàn tay Bồ – tát Quán Thế Âm không những chỉ giúp cho quí vị thoát khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn mà còn có một diệu dụng khác, khi một người sắp chết, nếu có phước duyên, được Bồ – tát Quán Thế Âm rảy nước lồ thì có thể sống lại. Tất cả các loài cây cỏ thảo mộc đã khô héo nếu được nước cam lồ tưới xuống cũng được hồi sinh. Cây cỏ là loài vô tình, mà khi được nước cam lồ tưới tẩm còn được nảy mầm, đơm hoa, kết trái như vậy nên chúng sinh là loài hữu tình sẽ được lợi lạc biết bao. Đó là diệu dụng của Dương chi thủ nhãn ấn pháp. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 36 Chú Đại Bi: Y hê y hê
+ Y hê y hê là Độc lâu trượng ấn thủ nhãn ấn pháp. Hán dịch là “thuận giáo”.
Nghĩa là một khi quí vị nhờ ai làm việc gì đó, họ đều ưng thuận. Khi quí vị dùng chánh pháp để giáo hoá, họ đều vâng lời. Câu chú này còn dịch là “tâm đáo”. Nghĩa là trong tâm hành giả ước nguyện điều gì, nhờ năng lực của chú này đều được thành tựu. Câu chú này khiến cho Ma – hê – thủ – la vương, là một Thiên ma ngoại đạo thường cho rằng mình là vĩ đại nhất, cũng phải cung kính chắp tay đến nghe lời chỉ giáo khi nghe có người trị tụng thần chú này, không dám trái nghịch. Thế nên khi quí vị trì niệm câu Y hê Y hê, thì Ma – hê – thủ – la vương liền đến, bất kỳ tâm nguyện của hành giả như thế nào, vị này liền thi hành ngay, đáp ứng đúng như sở nguyện của người trì chú. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 37 Chú Đại Bi: Thất na thất na
+ Câu Thần Chú Đại Bi số 37. Thất na thất na:
Câu chú này được dịch là “Đại trí tuệ”, cũng dịch là “Hoằng thệ nguyện”. Đây là Bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Bảo cảnh được ví như Đại viên cảnh trí của chư Phật.
Đại trí huệ là gì? Đó là khi chúng sanh không còn dính mắc vào vọng tưởng nữa. Có đại trí huệ, thì mỗi niệm đều là biểu hiện của trí bát nhã, mỗi tâm niệm đều lưu xuất từ Đại Quang Minh. Nếu quý vị có trí huệ chân chính thì sẽ có được Quang Minh. Còn nếu chưa thể nhập trí tuệ tự tánh, thì vẫn còn trong màn tối tăm của vô minh.
Quang minh là ánh sáng dương, còn bóng tối vô minh là âm. Tại sao người ta ngủ tối? Bởi vì lực âm trồi lên quá mạnh. Do đâu người ta có trí tuệ sáng suốt? Bởi vì ánh sáng dương lớn mạnh hơn.
Những người có trí tuệ không có lối suy nghĩ như những kẻ phàm phu. Họ có khả năng phân biệt rõ ràng chính tà. Họ không cần phải hỏi người khác, họ biết mọi điều ngay nơi tự thân của mình. Họ không đi vào con đường tẻ, họ bước đi vào ngay chính lộ và hạ thủ công phu. Trong khi hành trì, trước tiên quý vị phải đạt được trí tuệ. Rồi quý vị phải biết rõ ràng chính tà để rồi mới tiến vào con đường chánh lộ và tránh con đường tà vạy.
Nhưng quý vị không thể nào biết rõ việc làm nào hư ngụy nên cứ mãi khăng khăng tạo nghiệp ác. Quý vị không thể nào biết được rõ ràng thế nào là phạm giới, nên cứ thế mà làm, ráng hết sức để làm cho được, cứ muốn nhìn cho được dù thực sự đó là những thứ chướng ngại. Những hành vi như thế là sự ngu muội tột cùng, biểu lộ hoàn toàn sự non yếu trí tuệ.
Ồ! Không – Quý vị có thể phản đối – Tôi là người có trí tuệ, tôi chỉ sai lầm trong nhất thời thôi!
Chỉ sai lầm một lần thôi cũng có nghĩa là vô minh, không có trí tuệ rồi. Người có đại trí tuệ không hề có tư tưởng sai lầm. Thế nên Tôn giả A Nan đã phát nguyện:
Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng
Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân.
Nghĩa là:
“Giúp cho con tiêu trừ vọng tưởng sai lầm trong muôn ức kiếp”.
Khiến con chẳng cần trải qua a tăng kỳ kiếp mà chứng ngộ được pháp thân”.
Tôn giả đã phát nguyện tiêu trừ vọng tưởng không những chỉ một, hai, ba, bốn, năm hay một trăm kiếp nhưng trong vô số kiếp.
Nhưng tại sao trong tâm ta lại có quá nhiều vọng tưởng như thế? Khi một vọng tưởng đi qua, vọng tưởng khác kế tiếp theo, và khi vọng tưởng ấy tiêu mất, vọng tưởng sau lại sinh khởi tiếp nối. Giống như sóng trên mặt biển. Quý vị cứ nghĩ rằng đại dương là vật vô tình, nhưng thực sự nó chẳng phải là thứ ở ngoài tâm quý vị mà có. Biển cả cũng được lưu xuất từ trong tâm niệm của chúng sanh. Sóng biển không ngừng nổi lên rồi chìm xuống, cũng hoàn toàn giống như vọng tưởng của chúng sanh chẳng bao giờ ngừng. Nó liên tục mãi. Vọng tưởng trước vừa biến mất, vọng tưởng sau liền tiếp nối, vọng tưởng này tiếp nối vọng tưởng kia, xoay vần tương tục, nối theo nhau không dứt, như dòng thác không bao giờ ngừng. Không có vọng tưởng nào muốn rơi lại đằng sau cả, chúng đều hoàn toàn muốn phóng vọt lên phía trước. Vì sao mà quý vị lại mắc phải quá nhiều vọng tưởng như vậy? Chỉ vì không có trí tuệ. Nếu quý vị có trí tuệ, thì chẳng còn mảy may vọng tưởng và sóng cũng không còn xao động nữa. Như trong câu thơ:
Thanh phong đồ lai
Thủy ba bất hưng
Nghĩa là:
“Gió trong lành thổi đến,
Biển không còn sóng xao”.
Khi trong công phu mà quý vị đạt được định lực, cũng như sóng biển đã lặng yên. Khi có được định lực thì nước trí tuệ hiển hiện, không còn một gợn sóng, chẳng còn một niệm vọng tưởng nào nữa. Lúc đó là thanh tịnh chân thực. Đó là lúc:
“Nhất trần bất nhiễm
Vạn lự giai không”
Thực vậy, khi một người không còn bị vướng dù chỉ một hạt bụi vô minh thì chẳng còn phải lo nghĩ một điều gì nữa cả, mọi thứ trên đời này đều là không. Đó chính là biểu hiện của đại trí tuệ.
Người có trí tuệ thường thành công trong bất kỳ mọi việc, còn người thiếu trí tuệ thường bị thất bại trong bất kỳ việc gì mà họ nhúng tay vào. Do vậy nên trí tuệ là vô cùng quan trọng.
Ngu muội là gì? Vô minh chính là ngu muội. Ngu muội cũng chỉ là từ vô minh mà ra. Khi vô minh sinh khởi, con người hoàn toàn bị mất sáng suốt. Quý vị hãy hỏi một người vừa mới làm một việc sai lầm xong thì rõ:
- Tại sao anh lại làm việc đó?
Họ sẽ trả lời:
- Tôi không rõ nữa …
Đó chính là do ngu muội, do sự thiếu sáng suốt, thiếu trí tuệ. Nhưng dù họ hành động mê lầm do vô minh, nhưng họ lại không chịu từ bỏ vô minh. Họ lại khăng khăng:
- Tôi biết chứ. Tôi biết nó sai mà! Thật là quái lạ. Con người mê muội chỉ do vì không có trí tuệ, không đạt được Đại viên cảnh trí, vì họ không chịu công phu hành trì Bảo cảnh thủ nhãn ấn pháp. Nếu họ tu tập ấn pháp này, thì sẽ không còn ngu muội nữa; bất luận chuyện gì xảy ra. Đó là khi:
Phùng quỷ sát quỷ
Phùng Phật sát Phật
Đây cũng như việc cầm một cây dao thật bén, chặt ngay mọi vọng tưởng vừa lóe lên. Đại trí tuệ cũng như một con dao bén hay còn được ví như thanh gươm.
Quý vị có thể nói: “Gươm trí tuệ rất nặng, không, không dễ gì cầm kiếm ấy được”! Đó là vì quý vị chưa từng cầm nó. Thực ra, sử dụng kiếm này chẳng cần sử dụng chút sức lực nào cả. Nếu quý vị chưa từng cầm nó lên thì thấy nó quá nặng. Nếu quý vị đã cầm lên rồi, thì thấy nó nhẹ. Nếu quý vị không chịu cầm lên, thì nhẹ biến thành nặng. Nếu quý vị chịu cầm lên, thì nặng biến thành nhẹ. Sao vậy? Vì quý vị đã cầm lên rồi!
Nếu quý vị nói: “Tôi biết rằng gươm trí tuệ rất quan trọng, nhưng quá nặng. Tôi không thể nhấc lên nổi”. Và quý vị không sờ tới gươm. Thế nên gươm trí tuệ càng nặng thật. Nhưng một khi quý vị đã sờ vào kiếm, đã vung gươm lên rồi thì mọi sự hiểu biết đều bén nhọn như lưỡi gươm, chẳng còn một chút rắc rối nào nữa cả. Thế nên tôi thường nói với quý vị rằng:
“Mọi việc đều tốt đẹp cả”. Chính là phát xuất từ đạo lý này. Nếu quý vị gặp nhiều việc rắc rối, là vì quý vị không có thanh gươm trí tuệ. Nếu quý vị có được thanh kiếm trí tuệ ấy, thì sẽ chẳng còn chuyện gì rắc rối nữa cả. Màu nhiệm là ở điểm này.
Núi sông đất liền, lâu đài nhà cửa, thế giới y báo cũng như chánh báo đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện tiền của chúng ta.
Cái gì là thế giới y báo? Núi sông, đất liền, lâu đài nhà cửa gọi là thế giới y báo. Thế giới chánh báo là thân tâm của chúng ta, chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận sự báo ứng. Nếu quý vị đã hiểu được sự báo ứng khi chính mình thọ nhận, nghĩa là quý vị không còn vô minh nữa. Không còn vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này được ví như tấm gương:
Vật lai tắc ánh
Vật khứ tắc không.
Nghĩa là: “Vật đến liền chiếu. Vật biến hoàn không”. Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả. Kẻ trí thường thản nhiên với mọi chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì.
Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng, nhưng mọi sự vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó thường tự hiển bày nhưng chẳng hề bị vướng mắc.
Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có được đại trí tuệ, phải nỗ lực vượt bậc để thường nhớ trì tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”.
Khi đã tụng một lần rồi là không còn quên nữa, đã tụng được hai, ba lần, vài trăm lần rồi thì chẳng thể nào quên được nữa. Đó là phải cố gắng để ghi nhớ. Còn khi quý vị chỉ cần nhìn hoặc nghe lướt qua một lần rồi nhớ mãi không quên, chẳng cần phải dụng công ghi nhớ nữa, đó là khi trí tuệ của quý vị chiếu sáng như một đài gương trong.
Người có trí tuệ đều biết rằng mọi hiện tượng đều lưu xuất từ tự tâm của mình. Nếu quý vị hiểu được điều này thì mình sẽ không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Sao vậy? Vì mọi sự việc đều lưu xuất từ tâm mình, nên những thứ vui buồn giận ghét đều là sở hữu của chính mình. Dù nó tốt hay xấu, cũng chẳng có vấn đề gì cả.
Mặc dù nói về cảnh giới ấy thì rất dễ, nhưng tiếp xúc với cảnh giới ấy không phải dễ dàng gì, cần phải có công phu mới tiếp xúc được với cảnh giới ấy. Những người không có công phu sẽ nói:
“Đối với tôi, chẳng có vấn đề gì rắc rối cả”.
Bên ngoài thì như thế, nhưng vấn đề rắc rối đang phát sinh và chống đối với nhau ở bên trong. Những người có trí tuệ chân chính thì rất hiếm.
Quý vị cũng nên phân biệt rõ trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất thế gian. Trí tuệ thế gian còn gọi là Thế trí biện thông, là có thể nhào nặn ngay ra một đạo lý khi nào cần đến. Nơi nào không có đạo lý, họ có thể tạo dựng ra, khiến mọi người nghe rất hợp lý. Những kẻ mê muội nghe họ nói liền nghĩ rằng:
“Ồ! Họ đề cập đến những đạo lý rất đúng”. Thực ra, nếu quý vị có được trí tuệ chân chính, quý vị sẽ không bị đắm chìm trong mớ lý luận ngu muội của họ. Người ta thường nói: “Trong dương có âm”.
Cũng vậy, trong trí tuệ cũng có sự ngu muội – sự ngu muội một cách trí tuệ. Mặt khác, trong âm có dương. Bên trong sự ngu muội ẩn chứa một trí tuệ. Chẳng hạn như quý vị có thể thấy một người chẳng nói năng gì cả, dường như là kẻ quê mùa dốt nát, nhưng anh ta làm những việc chân chính. Anh ta có thể hiện thân một kẻ hồ đồ mê muội, nhưng luôn luôn ứng xử khế hợp với đạo lý. Có rất nhiều người như vậy.
Khi quan sát người khác, quý vị sẽ tự chiêm nghiệm ra chính tự thân mình có được trí tuệ sáng suốt hay không. Nếu quý vị có trí tuệ chân chính, thì quý vị không bị người klhác sai sử, dẫn dắt đến chỗ sai lầm. Còn nếu quý vị không có trí tuệ, quý vị sẽ bị người khác xui khiến làm điều xằng bậy.
Trí tuệ và ngu muội có một mối quan hệ trực tiếp. Đó là hai mặt của một chỉnh thể. Vắng bóng vô minh thì trí tuệ hiển bày. Và vô minh sinh khởi khi thiếu vắng trí tuệ. Trong vô minh có trí tuệ và chính trong trí tuệ có bóng dáng của vô minh. Sao lại như thế? Vì trí tuệ và vô minh là một. Nếu quý vị biết vận dụng, thì đó là trí tuệ. Còn nếu không biết vận dụng thì đó là vô minh. Chẳng hạn như khi quý vị nâng thanh gươm trí tuệ lên thì đó chính là trí tuệ; còn khi quý vị buông thanh gươm ấy xuống thì đó là vô minh. Đó không phải là hai mà chỉ là một. Thế nên quý vị đừng bao giờ nói rằng mình đang đi tìm kiếm trí tuệ và đang xua đuổi vô minh. Không ai làm được việc ấy bao giờ. Chủ yếu chỉ là sự “hồi đầu”.
Có thể lấy ví dụ của bàn tay để biểu tượng cho trí tuệ và mặt kia là biểu hiện cho vô minh. Nếu quý vị muốn cầm nắm một đồ vật bằng mặt kia của bàn tay thì không thể nào làm được cả, nhưng nếu quý vị dùng chính bàn tay của mình thì mới lấy được đồ vật. Việc không lấy được đồ vật là biểu tượng cho vô minh và việc sử dụng bàn tay để lấy được vật là biểu tượng cho trí tuệ. Đó là hai khía cạnh của chỉ một ý nghĩa chung nhất, tùy thuộc vào sự vận hành của quý vị.
Có người lại nói: “Nay tôi đã hiểu rồi. Vô minh và trí tuệ chính là bàn tay của tôi”. Lại sai lầm nữa! Bàn tay chỉ là ví dụ. Đừng nên cho rằng trí tuệ và vô minh chính là bàn tay. Cũng giống như ví dụ ngón tay và mặt trăng (trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Đức Phật lấy ví dụ dùng ngón tay để chỉ cho người thấy mặt trăng. Đừng nhầm lẫn ngón tay chính là mặt trăng.
Thất na thất na là “đại trí tuệ” và còn có nghĩa là “hoằng thệ nguyện” – là phát nguyện rộng lớn. Khi muốn hoàn thành một việc gì, phải phát thệ nguyện làm cho đến cùng. Như đức Phật A Di Đà trước khi thành chánh giác, khi đang tu tập nhân địa với hình tướng của một Tỳ kheo, Ngài đã phát 48 lời nguyện rộng lớn. Bồ tát Phổ Hiền cũng đã phát 10 Đại nguyện Vương. Bồ tát Quán Thế Âm cũng phát vô số lời nguyện cũng như các vị Tổ sư đã từng phát nguyện. Tôi đang giảng cho quý vị nghe về việc phát đại nguyện. Còn có lập nguyện được hay không là do ở quý vị. Tôi đưa đề tài này ra giảng vì tôi đoán chắc là quý vị chưa được thông hiểu. Nhưng không phải là tôi bắt buộc quý vị phải phát nguyện. Nay quý vị đang tu học Phật pháp, mỗi người nên tự mình lập hạnh nguyện, càng lớn càng tốt. Lập nguyện càng lớn thì sự thành tựu càng cao. Hiện nay chúng ta đều đang tu nhân và chưa ai thành Phật cả, chúng ta nên phát lời nguyện ở nơi nhân địa mà tu hành. Mỗi người nên viết rà lời nguyện của mình thật chi tiết. Đừng phát nguyện một cách hời hợt, qua loa, cho có nguyện mà phải thiết thực như: “Con nguyện cứu độ tất cả mọi loài chúng sanh”.
Thật chứ? Làm sao quý vị có thể độ chúng sanh được. Khi suốt ngày quý vị cứ tìm mọi cách để được ăn ngon, mặc đẹp, ở nơi xa hoa tráng lệ. Việc cứu độ chúng sanh trước hết là độ chúng sanh nơi cái miệng chuyên nói lời vọng ngôn của quý vị, độ cái bụng ham ăn, độ cái thân ham thích sung sướng của chính mình trước đã. Cho nên quý vị phải thẳng thắn và minh bạch trong khi phát nguyện. Hiện tại mình phát nguyện gì? Tương lai sẽ ra sao? Như ở trong quá khứ, chúng ta có thể quên lãng những gì đã từng ứng dụng tu hành. Nhưng trong tương lai chúng ta sẽ thực hành điều gì? Mỗi người Phật tử đều phải nên có lời phát nguyện. Nay ở trong nhân địa, lời phát nguyện càng lớn thì trong tương lai, kết quả sẽ càng cao. Nếu quý vị đặt tất cả nguyện lực của mình vào một lỗ chân lông, thì quý vị có thể phát một thệ nguyện lớn ngay từ trong lỗ chân lông.
Phát nguyện là một lời hứa thiêng liêng mà mọi người Phật tử đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan trọng, vì không có nó cũng như không có người hướng dẫn. Giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị phát nguyện, cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến.
Tại sao chư Phật và chư Bồ tát đều phát nguyện khi tu đạo? Vì khi đã phát nguyện rồi, mình mới tự mình hành động tương ứng với nguyện đã lập. Ví dụ như Bồ tát Địa Tạng khi tu hành ở nhân địa, Ngài đã phát lời nguyện vĩ đại:
…“Địa ngục vị không
Thệ bất thành Phật
Chúng sanh độ tận
Phương chứng Bồ đề”.
Nghĩa là:
“Chúng sanh độ hết
Mới chứng Bồ đề
Địa ngục nếu còn
Con chưa thành Phật”.
Nguyện lực này cực kỳ vĩ đại. Chúng ta cũng nên phát nguyện. Mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với những việc hằng ngày quý vị thích làm. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi)
Câu 38 Chú Đại Bi: A ra sam Phật ra xá lợi
+ Giảng nghĩa câu 38. A ra sam Phật ra xá lợi:
- A ra sam dịch là “Chuyển luân pháp vương”, tức là vị Đại Pháp Vương thường chuyển cỗ xe đại pháp, thường tuyên thuyết diệu nghĩa Đại thừa. Giáo nghĩa này thậm thâm vi diệu, không ai có thể diễn nói tường tận được, nhưng hiện nay quý vị đang được nghe giảng từng chi tiết rõ ràng.
Đó là ý nghĩa của câu chú này. Đây là “Chưởng thượng hóa Phật ấn thủ nhãn ấn pháp”. Quý vị nên hành trì ấn pháp này. Khi thành tựu rồi, đời đời khi được sinh ra liền thân cận bên Phật để học hỏi giáo pháp.
Có rất nhiều cách để giảng giải chú Đại Bi. Chẳng hạn có một vị pháp sư khác giảng mỗi thủ nhãn này là danh hiệu của một vị Bồ tát. Chẳng hạn vị ấy cho rằng: Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn này là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát. Đây chính là trường hợp sai một ly đi một dặm. Sao vậy? ở đây hoàn toàn chẳng có một vị Bồ tát nào cả. Quý vị có thể đọc hết cả Tam tạng kinh điển nếu quý vị muốn nhưng sẽ chẳng thấy vị Bồ tát nào có danh hiệu là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát cả.
Có thể nói như thế này: Chưởng thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp là pháp tu của chư vị Bồ tát, chứ không thể gọi đó là Chưởng thượng hóa Phật Bồ tát. Nếu gọi như thế là một sai lầm.
Nên khi nói Bảo bát thủ nhãn ấn pháp quý vị có thể hiểu rằng: Bảo Bát ấn pháp là pháp tu của chư vị Bồ tát. Còn Bảo Bát không phải là danh hiệu của một vị Bồ tát. Mới đây tôi được xem qua bộ “Đại Bi Kinh giảng nghĩa” ở Hồng Kông gửi sang, trong kinh này họ đã giảng bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp là danh hiệu của bốn mươi hai vị Bồ tát. Đó hoàn toàn sai lầm. Bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp trong kinh là các pháp tu của hàng Bồ tát. Người học Phật pháp nên ghi nhớ kỹ điểm này, không nên xác tín mà không căn cứ trên sự thực hiển nhiên. Trong khi giải thích Phật pháp cho người nghe, quý vị phải có một lập trường vững chãi, chính xác về những gì mình đưa ra, còn không quý vị sẽ phạm sai lầm.
A ra sam là Chưởng thượng Hóa Phật thủ nhãn ấn pháp mà các vị Bồ tát đều phải tu hành.
Quý vị lại hỏi: “Bồ tát nào?”
Đây chẳng phải là một vị Bồ tát nào riêng biệt cả. Bất kỳ người nào hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì người ấy chính là Bồ tát. Bất luận người nào không tu tập bốn mươi hai ấn pháp thì người ấy không phải là Bồ tát. Nếu quý vị tu tập bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp được thành tựu thì có thể minh chứng rõ ràng quý vị đã dự vào hàng Bồ tát rồi.
Phật ra xá lợi dịch là “giác thân tử”. Đây là Sở châu thủ nhãn ấn pháp hoặc là Niệm châu ấn pháp, là pháp môn của chư vị Bồ tát tu tập. Khi Bồ tát tu tập thủ nhãn này thành tựu, thì chư Phật trong mười phương nhiếp thọ và tiếp dẫn hành giả đến các thế giới Phật khắp trong mười phương.
Câu 39 Chú Đại Bi: Phạt sa phạt sâm
Phạt sa, phạt sâm dịch là “Hoan ngữ hoan tiếu”. Có nghĩa là rất hoan hỷ khi giảng nói. Còn dịch nghĩa là “Đại trượng phu” và “Vô thượng sĩ”.
Đây là Bảo cung thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì thành tựu ấn pháp này, nếu là người tại gia thì có thể được làm quan cận thần, người xuất gia có thể chứng được quả vị A la hán.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 40 Chú Đại Bi: Phật ra xá da
Ở câu trên, Phật ra xá lợi. “Xá lợi”dịch nghĩa là “Giác thân tử”. Còn trong câu Phật ra xá da, “xá da” dịch là “Tượng”: con voi. Nghĩa là khi quý vị đã giác ngộ rồi, thì tâm thể quý vị được ví như một con voi chúa, còn được gọi là Pháp vương tử. Quý vị có thể là Pháp vương tối cao trong tất cả các pháp môn. Nói chung, ý nghĩa của câu chú này là: Tâm giác ngộ như một tượng vương cao quý.
Phật ra xá da là nói về bổn thể của đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà là bổn sư của Bồ tát Quán Thế Âm. Vì Bồ tát Quán Thế Âm tỏ lòng tôn kính đức bổn sư của mình nên Bồ tát đã đảnh lễ đức Phật A Di Đà trong khi tuyên thuyết chú Đại Bi. Nên đức Phật A Di Đà phóng hào quang để tiếp độ cho người trì chú này.
Phật ra xá da là Tử liên hoa thủ nhãn ấn pháp. Trong bốn mươi hai thủ nhãn, có Bạch liên hoa thủ nhãn, Thanh liên hoa thủ nhãn, Hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì thành tựu các ấn pháp này, hành giả sẽ được diện kiến mười phương chư Phật. Vì vậy Tử liên hoa thủ nhãn ấn pháp rất trọng yếu. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 41 Chú Đại Bi: Hô lô hô lô ma ra
Hô lô hô lô ma ra. Hán dịch là “Tác pháp như ý”. Cũng dịch là “Tác pháp mạc ly ngã”.
Đây là Kim trọc ngọc hoàn thủ nhãn ấn pháp. Trong bốn mươi hai ấn pháp, khi hành giả hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp này được gọi là “tác pháp”. “Như ý” nghĩa là tùy theo tâm nguyện đều được như ý. Khi hành giả tu tập thành tựu ấn pháp này rồi, thì mọi việc đều được như tâm nguyện nên gọi là “Như ý”.
Còn “Tác pháp mạc ly ngã” có nghĩa chính hành giả là người tu tập, không phải người nào khác. Nên khi hành giả tác pháp này, thì ấn pháp không rời khỏi hành giả và hành giả không rời khỏi ấn pháp. Pháp và ngã là một. Thế nên chẳng có pháp và cũng chẳng có ngã, pháp chấp và ngã chấp đều không. Đó là ý nghĩa của “Tác pháp mạc ly ngã”.
Hành trì “Kim trọc ngọc hoàn ấn pháp”. Có thể khiến tất cả chúng sanh đều vâng theo sự giáo hóa của hành giả. Dạy họ tu pháp gì, họ đều tu theo pháp môn ấy không sai lệch.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 42 Chú Đại Bi: Hô lô hô lô hê rị (Tay Ấn Pháp số 3 - Dùng Nước Đại Bi chữa bệnh)
Hô lô hô lô. Hán dịch là “tác pháp vô niệm” cũng dịch là “tác pháp tự tại”. Trong câu chú Hô lô hô lô ma ra đã giảng ở trước có nghĩa là “tác pháp như ý”, khi tác pháp vẫn còn khởi lên ý niệm. Còn trong câu chú Hô lô hô lô hê rị thì vắng bặt sự khởi niệm khi tác pháp. Nếu khi hành trì ấn pháp này, mà còn khởi niệm tức là còn vọng tưởng. Nếu hành giả không khởi niệm, tức là không còn vọng tưởng nên đạt được khả năng “tác pháp tự tại” và trở thành người có năng lực Quán Tự Tại. Đó chính là vị Bồ tát thường quán sát âm thanh ở thế gian để cứu độ một cách tự tại, Bồ tát Quán Thế Âm.
Câu chú này là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, là ấn pháp thứ ba trong số bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng giải thoát cho chúng sanh khỏi những tai ương bệnh hoạn.
Các vị xuất gia khi gặp người bệnh, trì chú này vào trong ly nước, cho người bệnh uống thì có thể được khỏi bệnh. Nếu bệnh không lành, thì phải quán sát lại toàn bộ nhân duyên. Nếu gặp duyên lành, khi quý vị uống nước có trì chú Đại Bi thì liền được lành bệnh, là do đã đặt hết niềm tin vào Bồ tát Quá Thế Âm. Nếu không được lành bệnh, có thể là do quý vị thiếu lòng tin nơi Bồ tát.
Sự thực là như vậy, nay tôi sẽ truyền pháp này cho quý vị luôn. Để cho ly nước có trì chú Đại Bi, có được năng lực như vậy, quý vị không cần phải trì tụng toàn văn bài chú này, mà chỉ cần trì tụng câu Hô lô hô lô hê rị năm lần rồi dùng tay kiết ấn ba lần búng vào phía trên ly nước. Rồi trao cho người bệnh uống sẽ được khỏi hẳn. Có khi bệnh không lành, có khi bệnh lành hẳn. Tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên giữa hành giả và người bệnh. Nếu quý vị có nhân duyên sâu dày với người bệnh, thì khi họ uống xong nước có trì chú Đại Bi liền được khỏi bệnh. Còn nếu người bệnh không có duyên với hành giả, thì dù họ có uống nước đã trì chú, nhưng vì họ không có niềm tin ở Bồ tát Quán Thế Âm, thì bệnh họ không được lành hẳn.
Nói chung có vô lượng nhân duyên để tạo thành pháp duyên cơ bản này. Nếu người bệnh đã có công phu hành trì và phát tâm chí thành, khi uống nước có trì chú vào là liền khỏi bệnh. Còn nếu quý vị có tu tập nhưng thiếu lòng chí thành, thiếu sự tin tưởng vào chú Đại Bi thì dù uống nước đã trì chú cũng chẳng ích lợi gì. Còn nếu quý vị có tâm chí thành và dù không tu tập đi nữa, thì khi uống nước đã trì chú cũng có được sự lợi ích. Những người vốn đã tạo nghiệp chướng sâu dày, nếu được uống nước đã trì chú vào thì không đủ tạo nên nặng lực để chuyển hóa bệnh của họ. Còn nếu người có nghiệp nhẹ khi uống nước đã trì chú vào thì có thể phát sinh năng lực to lớn. Đó là năng lực do thường xuyên trì niệm chú Đại Bi, đã tạo ra một năng lực cảm ứng đạo giao. Chính năng lực này đã chữa lành bệnh.
Thế nên bất luận trường hợp nào, có trùng trùng duyên khởi quyết định sự thành công. Đừng nghĩ rằng: “Tôi đã hành trì Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, tôi đã trì chú Đại Bi vào trong nước, tại sao chẳng có chút nào hiệu nghiệm?”
Đó chẳng phải là nước trì chú Đại Bi không có hiệu nghiệm. Chỉ vì công phu của quý vị chưa được đắc lực, nên hiệu quả không được bao nhiêu.
Có một số phái ngoại đạo cũng dùng pháp trì chú Đại Bi vào nước để chữa bệnh và đạt được công hiệu linh ứng. Đó là vì họ có sự trợ giúp của loài thiên ma khiến cho người được lành bệnh tin vào họ, rồi dẫn dắt vào hàng quyến thuộc của thiên ma ngoại đạo. Vì thế, tuy cũng hành trì một pháp môn mà có thiên sai vạn biệt kết quả.
Dùng nước Đại Bi để chữa bệnh cho người là một pháp môn thực hành Bồ tát đạo. Nhưng quý vị muốn tu pháp này trước hết phải thực hành mọi hạnh nguyện của hàng Bồ tát. Phải luôn luôn giữ tâm niệm “vô ngã”, “vô nhân”. Nghĩa là trong tâm không còn bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả nữa. Quý vị đừng nghĩ rằng: “Tôi chữa lành bệnh của chúng sanh được, khi tôi trì chú Đại Bi, tôi tạo ra được sự cảm ứng vô cùng lớn lao”.
Nếu quý vị khởi niệm như thế, nghĩa là quý vị đã khởi dậy ngã chấp. Với ngã chấp ấy, liền bị rơi vào ma chướng, dù quý vị không có tâm niệm ngã chấp nhưng rất dễ bị gặp ma chướng khi tu tập pháp môn này. Bệnh nào cũng do nghiệp chướng hoặc ma chướng.
- Nếu bệnh vì nghiệp, thì chẳng có vấn đề gì khi quý vị chữa trị cho họ.
- Còn nếu bệnh do ma chướng, khi quý vị chữa trị cho họ có nghĩa là quý vị tuyên chiến với ma vương, nó có thể hãm hại quý vị. Nếu đạo lực của quý vị chưa đầy đủ, quý vị có thể bị thu phục vào cảnh giới của ma. Còn nếu quý vị có được đạo lực và tạo được đôi chút ảnh hưởng với chúng, thì chúng sẽ liên tục tìm mọi cách để đánh bại quý vị.
Tôi (Hòa Thượng Tuyên Hóa) vốn thích chữa bệnh cho mọi người nên khi có ai bị bệnh, tôi tìm mọi cách để chữa cho họ. Nhưng sau đó, tôi phải đối đầu với ma chướng rất trầm trọng. Ở Mãn Châu, có một loài thủy quái muốn dìm chết tôi, nhưng nó thất bại. Tuy vậy, có 50 – 60 người bị chết và hơn 800 căn nhà bị thủy quái này phá hủy. Sau đó, trên đường đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, loài thủy quái đó lại tìm cách lật thuyền của tôi, chỉ chút xíu nữa là tôi biến thành thức ăn của cá. Từ đó mỗi khi đi hoằng hóa đây đó, tôi thường ít khi chữa bệnh.
Thế nên chữa bệnh là cách tốt nhất để kết duyên, nhưng đó cũng rất dễ kết oán với quyến thuộc nhà ma. Nó có điểm tốt và cũng có điểm không hay. Nếu quý vị làm việc đó mà tâm niệm không vướng mắc vào bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì quý vị có thể xoay chuyển mọi tình huống. Còn nếu quý vị không tự chuyển hóa mọi tâm niệm của chính mình khỏi bốn tướng trên thì rất dễ rơi vào ma chướng. Cho nên, kết duyên với chúng sanh qua việc chữa bệnh cho họ là một vấn đề đòi hỏi năng lực tu tập rất cao.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 43 Chú Đại Bi: Ta ra ta ra
Quý vị nghe âm vang của câu chú này rất hùng, phải không? Ta ra Ta ra dịch là “Kiên cố lực”, là thần lực rất mạnh mẽ, không một thứ gì có thể lay chuyển được.
Kiên cố lực này có thể phá hủy và hàng phục tất cả các loài thiên ma ngoại đạo.
Đây là Kim cang xử thủ nhãn ấn pháp. Công năng của ấn pháp này là hàng phục tất cả các loại ma oán.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 44 Chú Đại Bi: Tất lỵ tất lỵ
Tất lỵ Tất lỵ có ba nghĩa: Thứ nhất là “dõng mãnh” như trong chiến trận, người dõng mãnh là luôn luôn chiến thắng, không hề bị đánh bại. Nghĩa thứ hai là “thù thắng” nghĩa là vượt lên trên tất cả sự hoàn hảo, không bao giờ bị thất bại. Thứ ba nghĩa là “cát tường”. Vì khi hành giả có được sự dõng mãnh mới có được sự thắng vượt mọi chướng ngại, mới có được sự cát tường.
Tôi thường nói với các đệ tử của tôi rằng khi làm bất kỳ việc gì, dù ở cương vị nào cũng phải phát tâm dõng mãnh, thắng vượt chứ không bao giờ được thoái thất. Nếu ai lui sụt, đừng trở về gặp mặt tôi nữa. Những người yếu đuối, bại hoại thì có ích gì? Họ chẳng khác gì một thứ mà người Quảng Đông thường gọi là “thủy bì” là túi da đựng nước mềm nhũn. Còn ở Đông Bắc thì gọi là “thảo bao”, là cái túi rơm để đựng hạt giống mềm yếu và vô dụng. Nên hãy nhớ điều này: bất kỳ ai muốn phát nguyện trở thành đệ tử của tôi là phải luôn luôn vượt thắng mọi điều, phải có tâm kiên cố như chùy Kim Cang vậy. Còn như “thủy bì” và “thảo bao” thì không thể nào theo nổi.
Tất lỵ tất lỵ là Hợp chưởng thủ nhãn ấn pháp. Có thể khiến cho tất cả long xà, hổ lang, sư tử, nhân cùng phi nhân phát tâm kính ngưỡng. Tuy nhiên, hành giả phải thực sự có tâm dõng mãnh, vượt thắng và tâm bất thối chuyển. Công năng của ấn pháp này không phải là ở chỗ ngôn thuyết mà phải bằng nỗ lực hành trì. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 45 Chú Đại Bi: Tô rô tô rô
Tô rô tô rô. Hán dịch là “cam lồ thủy”. Đây cũng chính là Cam lồ thủ nhãn ấn pháp. Trước đây tôi đã giảng về diệu dụng của nước cam lồ rồi. Có thể giúp cho các loài quỷ đói được no đủ và mọi tâm nguyện đều được như ý, làm tiêu tan mọi sự đói khát, thọ nhận được nhiều điều tốt lành khác nữa.
Nước cam lồ này còn gọi là “Bất tử dược”. Nếu có người sắp chết uống nước cam lồ này thì sẽ được sống lại. Nhưng không dễ gì gặp được nước cam lồ này nếu không có duyên lành.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 52 Chú Đại Bi: TA BÀ HA
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến 14 lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 66 Chú Đại Bi: Ta bà ma ha a tất đà dạ
Như quý vị đã biết, thế giới chúng ta đang sống là thế giới Ta bà. Ta bà có nghĩa là “kham nhẫn”. Còn được dịch là “nhẫn ái”. Còn dịch là “Thiện thuyết, thiện đáo”.
Kham nhẫn có nghĩa là chúng sanh như chúng ta khó có thể chịu đựng nổi những sự thống khổ ở cõi giới Ta bà này.
Nhẫn ái có nghĩa là chúng sanh thế giới Ta bà này không những có thể chịu đựng mọi khổ đau mà còn sanh khởi lòng thương yêu mọi loài nữa.
Thiện thuyết, thiện đáo nghĩa là, luôn luôn nói lời tốt đẹp, lợi ích khi ở trong thế giới Ta bà. Cùng khuyến khích mọi người hiện thân đến ở cõi giới Ta bà này.
Ma ha là lớn. Đây có nghĩa là pháp Đại thừa, tức là Bồ tát đạo.
A tất đà dạ. Hán dịch là “vô lượng thành tựu”. Nghĩa là tu tập pháp Đại thừa của hàng Bồ tát có công năng đưa hành giả đến bờ bên kia một cách rốt ráo và thành tựu vô lượng công đức.
Đây là Bồ đào thủ nhãn ấn pháp. Khi quý vị tu tập thành tựu ấn pháp này thì trong miệng hành giả thường có vị ngọt của nho, còn hơn vị ngọt của đường. Quý vị hãy chú ý điểm này, trong khi hành trì ấn pháp này mà thấy trong miệng có vị ngọt nghĩa là bắt đầu có sự cảm ứng. Khi thành tựu ấn pháp này rồi, khi quý vị có trồng trọt các loại nông sản, ngũ cốc, thì sâu bọ côn trùng không thể phá hoại mùa màng của quý vị. Còn các loại cây ăn quả như cam, đào, hạnh, lê, … sẽ sinh trưởng rất nhanh và có vị ngọt khác thường. Công năng của Bồ đào ấn pháp này rất lớn và sự thành tựu của pháp Đại thừa là vô lượng vô biên.
Tất la tăng a mục khư da. Ở trong đồ hình mạn đà la là hình ảnh biểu tượng cho bổn thể của Dược Vương Bồ tát, người đã dùng vô số phương tiện, dược liệu để chữa bệnh cho chúng sanh.
Ta bà ma ha a tất đã dạ ta bà ha là bổn thể của Bồ tát Dược Thượng, người cũng thường dùng vô số phương thuốc để chữa lành bệnh cho chúng sanh.
Câu 67 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 70 Chú Đại Bi: Ba đà ma yết tất đà dạ
Ba đà ma. Hán dịch là “Hồng liên hoa”.
Yết tất đà dạ. Hán dịch là “Thiện trắng”.
Hồng liên hoa này là siêu việt tất cả mọi loài và thành tựu vô lượng công đức. Khi quý vị tu tập Hồng liên hoa thủ nhãn ấn pháp này thành tựu rồi, nếu quý vị muốn sanh ở cõi Trời thì ước nguyện ấy rất dễ thành tựu như ý.
Câu 71 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 72 Chú Đại Bi: Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ
Na ra cẩn trì. Hán dịch là “Hiền thủ”. Hiền là thánh hiền. Thủ là giữ gìn, canh giữ hộ trì.
Bàn đà ra dạ dịch nghĩa là Quán Thế Âm, Quán Tự Tại.
Đây là Thí vô úy thủ nhãn ấn pháp mà Bồ tát Quán Thế Âm thường dùng để cứu độ chúng sanh, giúp cho mọi loài không còn sợ hãi trong mọi lúc, mọi nơi.
Câu 73 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 74 Chú Đại Bi: Ma bà lợi thắng yết ra da
Ma bà lợi thắng. Hán dịch là “Đại dõng”, cũng dịch là “anh hùng đức”, nghĩa là đức hạnh của bậc đại anh hùng. Bồ tát Quán Thế Âm cũng được gọi như thế.
Yết ra da. Hán dịch là “sinh tánh” hoặc là “bổn tánh”. Nghĩa là tự tánh bản hữu của chúng sanh vốn sẵn có đức hạnh của bậc đại anh hùng. Đức hạnh của đại anh hùng chính là do hành trì Tổng nhiếp thiên tý thủ nhã ấn pháp, ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài ma oán không chỉ ở thế giới này mà khắp cả đại thiên thế giới.
Hành giả tu tập ấn pháp này nên biết đây là ấn pháp quan trọng nhất trong tất cả bốn mươi hai ấn pháp. Vì khi hành trì ấn pháp này, thì tất cả bốn mươi hai ấn pháp kia đều có đủ trong ấn pháp này.
Quý vị có thể thắc mắc: “Thế thì tôi chỉ cần hành trì một ấn pháp này thôi cũng đủ, chẳng cần hành trì bốn mươi mốt ấn pháp kia nữa”.
Nếu quý vị lười biếng thì cứ làm. Nếu không phải là kẻ lười biếng, thì nên hành trì tất cả bốn mươi hai ấn pháp. Mặt khác, quý vị muốn làm kẻ lười biếng và thích tu tập để trở thành một vị Bồ tát lười thì cứ tu tập ấn pháp cuối cùng này trong bốn mươi hai ấn pháp kia. Sẽ phải mất khá nhiều thời gian mới thành tựu được. Tuy nhiên, vì quý vị là người lười biếng nên sẽ không được thành tựu sớm là điều hiển nhiên. Thế nên các pháp đều là bất định. Nếu quý vị không muốn trở thành một vị Bồ tát lười, quý vị sẽ chẳng bận tâm thời gian lâu hay mau để tu tập các ấn pháp này.
Câu 75 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 47 Chú Đại Bi: Bồ đà dạ - Bồ đà dạ
Câu chú này với câu trước giống nhau, chỉ khác âm giữa Bồ đà dạ. Hán dịch là “trí giả” và “tác giả”.
- Trí là hiểu biết chân chính, là trí tuệ.
- Giác là sự tỉnh thức.
Người có được sự hiểu biết chân chính là người đã giác ngộ đích thực và có được trí tuệ.
Đây là Đảnh thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp. Chữ hóa Phật trong Đảnh thượng hóa Phật thủ nhãn ấn pháp chính là “giác giả”. Vị Bồ tát hành trì thành tựu Đảnh thượng hóa Phật ấn pháp cũng chính là “trí giả”. Cơ bản, “trí” và “giác” vốn chẳng khác nhau.
Giác là sự giác ngộ, là giai đoạn sau của cái biết tròn đầy chân thực (trí).
Tri là cái biết toàn triệt, là giai đoạn trước của giác ngộ. Nếu quý vị tu tập Đảnh thượng hóa Phật ấn pháp thành tựu rồi thì quý vị sẽ là người có trí tuệ chân chính, là người đã tự mình giác ngộ rồi. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì mười phương chư Phật sẽ liền đến xoa đầu thọ ký cho quý vị trong tương lai sẽ chứng được quả vị Phật.
Trong khi đang niệm Phật hoặc trì chú, hoặc tọa thiền, hành giả đôi khi có cảm giác là lạ trên đỉnh đầu, như thể có một loài côn trùng bò quanh đầu vậy, nhưng khi quý vị lấy tay sờ đầu thì thấy không có gì lạ. Tôi sẽ nói cho quý vị biết đó là gì. Lúc ấy, chính chư Phật trong mười phương đến xoa đầu thọ ký cho quý vị sẽ thành tựu Phật quả trong tương lai. Nhưng vì quý vị chưa có được thiên nhĩ thông nên không nghe được; vì chưa có được thiên nhãn thông nên quý vị không thấy được. Tuy vậy, chư Phật trong mười phương thực sự đã rời bổn độ du hành đến đạo tràng xoa đầu thọ ký cho quý vị. Thế nên nếu quý vị có phước duyên gặp được, thì đây là một cảm ứng xuất phát từ công phu hành trì của quý vị. Nhưng quí vị không được khởi tâm mê đắm, hay ngã mạn mà nghĩ rằng: “À! Chư Phật vừa đến xoa đầu thọ ký hộ trì cho tôi”. Nếu quý vị khởi niệm vui mừng hay hãnh diện vì điều này cũng đều là chấp trước. Dù đây là triệu chứng tốt lành, mà khi quý vị đã khởi tâm đắm chấp rồi, thì cũng trở nên xấu.
Trong chương cuối của Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đức Phật trình bày rất nhiều cảnh giới, tất cả đều là cảm ứng xuất phát từ nỗ lực dụng công tu hành. Nhưng nếu hành giả nghĩ rằng mình đã chứng được cảnh giới vi diệu, thì hành giả trở nên bị chấp trước và liền lạc vào tà ma ngoại đạo, liền bị ma chướng. Do vậy, khi tu tập pháp này, quý vị phải tự an trú trong trạng thái “như như bất động”. Cho dù có gặp cảnh giới tốt hoặc xấu, cũng giữ tâm không dao động. Khi tâm không dao động, là quý vị có được định lực, trí tuệ sẽ phát sinh. Có trí tuệ chân chính, quý vị sẽ trở thành “trí giả” và “tác giả”.
Câu 48 Chú Đại Bi: Di đế rị dạ
Di đế rị dạ. Hán dịch là “chánh lượng”. Cũng dịch là “đại lượng”; nghĩa là số lượng rất nhiều, không đếm được. Còn dịch là “đại từ bi tâm” nghĩa là tâm từ bi quá rộng lớn, không có ngằn mé. Tâm từ bi này bảo hộ che chở cho tất cả mọi loaì chúng sanh và giúp cho họ được an vui, khiến cho chúng sanh thể nhập với bản tâm của mình, thoát khỏi sợ hãi và tránh xa mọi tai ương.
Đây là Tích thượng thủ nhãn ấn pháp. Trên đầu tích trượng có chín vòng tròn bằnh đồng. Lúc xưa, người xuất gia đi đâu cũng mang theo tích trượng. Mỗi khi đi đường, chín vòng kim loại này sẽ tạo nên âm thanh, báo động cho các loài côn trùng tránh xa để khỏi bị dẫm đạp lên mình. Tích trượng là một loại pháp khí trong Phật giáo. Bồ tát Địa Tạng thường dùng tích trượng như là chìa khóa để mở cửa các địa ngục. Vì vậy nên hành giả tu tập ấn pháp này phải nuôi dưỡng lòng từ bi rộng lớn, phát nguyện cứu giúp cho toàn thể mọi loài chúng sanh.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 49 Chú Đại Bi: Na ra cẩn trì
Na ra cẩn trì. Hán dịch là “Hiền ái” hoặc là “Hiền thủ” cũng dịch là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”. Nghĩa là người đứng đầu trong các bậc Thánh hiền, họ là thượng thủ, là bậc khó tìm cách bảo bọc, che chở cho chúng sanh, khéo độ thoát cho chúng sanh đến quả vị tối cao.
Đây là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp. Cũng gọi là Hồ Bình ấn pháp. Bình nước này có thể tẩy trừ mọi uế trược ở thế gian, cứu giúp chúng sanh thoát khỏi bệnh khổ. Bồ tát tu tập thành tựu ấn pháp này sẽ có năng lực hộ niệm cho toàn thể chúng sanh. Khi quý vị tu tập pháp ấn này thành tựu rồi, quý vị sẽ có khả năng cứu giúp mọi loài chúng sanh, giúp họ ngăn ngừa được mọi tai ương, chướng nạn. Nên còn được gọi là “Thiện hộ”, “Thiện đảnh”. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 50 Chú Đại Bi: Địa lỵ sắt ni na
Địa lỵ sắt ni na. Hán dịch là “Kiên lợi”. Còn có nghĩa là “Kiếm”. Đây là Bảo kiếm thủ nhãn ấn pháp. Trước đây khi giảng về bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, tôi có nói rằng ấn pháp này có công năng hàng phục mọi loài ly, mỵ, võng lượng. Khi quý vị tu tập thành tựu ấn pháp này rồi, tất cả các loài thiên ma ngoại đạo, ly mỵ vọng lượng đều ngoan ngoãn quy phục bởi vì họ sợ ấn pháp Bảo kiếm này của hành giả. Ấn pháp này rất oai hùng. Nếu có loài thiên ma ngoại đạo nào không tuân phục ấn pháp, hành giả có thể trừng phạt ngay bằng Bảo kiếm này.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 51 Chú Đại Bi: Ba da ma na
Ba da ma na có ba ý: Thứ nhất là “danh văn” nghĩa là tên của hành giả được lưu truyền khắp mười phương thế giới. Nghĩa thứ hai là “Hỷ xưng” là mười phương thế giới đều vui mừng khen ngợi công đức của hành giả. Thứ ba là “thành danh”, “nhất thiết nghĩa thành tựu”. Có nghĩa là mọi danh tiếng, mọi công hạnh đều được thành tựu thật nghĩa và rốt ráo.
Đây là Bảo tiễn ấn pháp. Nếu quý vị hành trì ấn pháp này thành tựu sẽ liền gặp được thiện hữu tri thức.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ Câu 53 Chú Đại Bi: Ma ha Tất đà da
Chữ Tất đà da có năm nghĩa: Thứ nhất là “Thành tựu đốn kiết”. Thứ hai là “thành biện”. Thứ ba là “thành lợi”. Thứ tư là “nhất thiết nghĩa thành tựu” và thứ năm là “sở cung xưng tán”.
Thành tựu đốn kiết nghĩa là khi sử dụng thần chú này, thì mọi sở cầu, sở nguyện của hành giả liền tức khắc (đốn) được an lành (kiết), toại nguyện.
Có người hỏi: “Tại sao tôi cũng trì chú Đại Bi, mà không được toại nguyện tức thì”? Vì sự trì niệm chú Đại Bi đòi hỏi phải có sự tương ứng từ nỗ lực dụng công. Nếu không có sự nỗ lực hành trì tương ứng, thì sẽ không có sự thành tựu. Nếu có sự cảm ứng, dung thông thì mọi sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu.
Tất đà dạ còn có nghĩa là “thành biện”. Nghĩa là hành giả làm bất cứ việc gì thì kết quả đều đạt được viên mãn.
Cũng gọi là “thành lợi” là vì mọi việc làm đều được thành tựu lợi ích.
Nhất thiết nghĩa thành tựu có nghĩa là làm bất kỳ việc gì cũng đều được thành tựu.
Sở cung xưng tán có nghĩa là mọi người đều đến khen ngợi, cung kính tán dương công đức của hành giả.
+ Câu 55 Chú Đại Bi: Ma ha tất đà da
Ma ha tất đà dạ. Ai cũng đều biết Ma ha có nghĩa là lớn. Câu chú này có nghĩa là hành giả đạt được mọi sự nghiệp to lớn, thành tựu được công đức thù thắng và đạo nghiệp viên mãn. Trong mọi việc, hành giả đều đạt được sự thành tựu viên mãn cao tột.
Cả hai câu chú hợp lại Tất đà dạ ta bà ha Ma ha tất đà dạ ta bà ha là Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp. Bảo Kinh là sự quý giá vô ngàn của Kinh điển, chính là Pháp bảo. Nếu quý vị tu tập ấn pháp này thì sẽ đạt được lợi lạc vô cùng vô tận. Trong tương lai, trí tuệ và sức ghi nhớ của quý vị sẽ rất tinh anh. Nghĩa là có được khả năng “bác văn cường ký” – nghe nhiều, nhớ kỹ.
Ký ức của chúng ta thường hoạt động theo một lối riêng. Cũng như không thể nào đi nếu không có cây gậy. Sau khi đọc được điều gì, chúng ta không thể nhớ rõ ràng hết được. Chỉ khi nào cần cho sự học tập của mình, chúng ta mới lục lại tìm kiếm hay tra cứu lại những ghi chép. Tại sao trí nhớ của mình lại quá kém. Vì quý vị chưa từng hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp này. Nếu quý vị hành trì ấn pháp này, quý vị sẽ đạt được sự hiểu biết thông tuệ và kiến thức rất đa dạng. Giống như Tôn giả A Nan, là đệ tử đa văn đệ nhất của đức Phật. Có thể nói Ngài A Nan đã hành trì Bảo kinh ấn pháp mà chẳng nghi ngờ gì. Ngài đã thành tựu ấn pháp này từ vô lượng kiếp rồi, nên khi nghe được điều gì, thì không còn quên nữa. Ngay cả Ngài có thể nhớ được những điều Ngài chưa từng nghe. Tại sao tôi nói như vậy? Vì Tôn giả A Nan ra đời cùng ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Như thế nên hai mươi năm trước, khi A Nan chưa xuất gia, thì những bài thuyết pháp của đức Phật Ngài A Nan chưa được nghe. Thế thì làm sao A Nan có thể kết tập toàn bộ Kinh điển sau khi đức Phật nhập Niết bàn? Vì A Nan được nghe các vị trưởng lão giảng lại những bài Kinh mà đức Phật đã thuyết từ trước, hoặc chính do đức Phật giảng lại cho A Nan nghe khi A Nan nhập định nên A Nan thừa biết rõ nguyên nhân của sự nhớ giỏi này là nhờ đã hành trì Bảo kinh thủ nhãn ấn pháp thành tựu.
Có người hỏi tôi: “Làm thế nào để có được trí nhớ tốt?” Câu trả lời đơn giản là hãy hành trì Bảo kinh ấn pháp. Những người nhớ được Kinh rõ ràng là có duyên với ấn pháp này.
Ở trong đồ hình mạn đà la, đây là ấn pháp Bồ tát phóng quang. Ngài phóng ra hào quang và tay cầm một tràng phan màu đỏ. Toàn thân Bồ tát phóng ra những luồng hào quang sáng chói biểu tượng cho sự khai mở trí tuệ, sự cường ký, trí lực đa văn quảng kiến và công đức thành tựu viên mãn.
+ Câu 54, câu 56 Chú Đại Bi: Ta Bà Ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 60 Chú Đại Bi: Na ra cẩn trì
Na ra cẩn trì. Hán dịch là “ái hộ” nghĩa là thường nỗ lực bảo bọc che chở tất cả chúng sanh. Câu chú này cũng mang ý nghĩa đại Từ Bi. Đây là Bảo bình thủ nhãn ấn pháp.
Câu 61 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 62 Chú Đại Bi: Ma ra na ra
Ma ra. Hán dịch là “Như ý”
Na ra. Hán dịch là “Tôn thượng”.
Đây là Quyến sách thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng mang lại sự an vui như ý đến cho hành giả, khiến cho các thứ bệnh tật, chướng nạn đều được tiêu trừ.
Quyến sách thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều diệu dụng. Hành giả có thể kết một sợi dây ngũ sắc rồi hành trì quyến sách ấn pháp vào sợi dây ấy. Thành tựu rồi thì khi phóng sợi dây này ra, các loài yêu ma quỷ quái, ly mỵ vọng lượng đều bị trói chặt. Không thể nào chạy thoát được. Từ đó sẽ tìm cách giáo hóa cho các loài ấy hồi tâm hướng thiện. Đây là diệu dụng của ấn pháp này. Mới xem qua thì có vẻ bình thường nhưng công năng thật khó lường.
Trong đạo giáo gọi ấn pháp này là “Khổn tiên thằng”.
Câu 63 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 64 Chú Đại Bi: Tất ra tăng a mục khư da
Tất ra tăng. Hán dịch là “thành tựu – ái hộ”. Nghĩa là thường đem hết sức mình để bảo hộ che chở cho tất cả chúng sanh.
A mục khư da. Hán dịch là “bất không, bất xả”.
Bất không có nghĩa là hữu. Nhưng đây có nghĩa là diệu hữu.
Bất xả có nghĩa là “Bất xả nhất pháp”. Không từ bỏ một việc gì, phải thông thạo tất cả các pháp. Nên có câu kệ:
“Chân như lý thượng bất lập nhất trần.
Phật sự môn trung bất xả nhất pháp”.
Nghĩa là:
“Trên phương diện bản thể, lý tánh tức chân như, thì không cần lập một thứ gì nữa cả, dù chỉ là hạt bụi.
Nhưng về mặt sự tướng, có nghĩa là việc hành trì, tu đạo thì không được bỏ qua một pháp nào cả”.
A mục khư da còn có nghĩa nữa là “ái chúng, hòa hợp”. Nghĩa là thương yêu, hòa hợp, thường cứu giúp tất cả chúng sanh.
Câu chú này còn có nghĩa khác là trong tự tánh của mỗi chúng sanh đều có đủ tánh tự tại và tánh công đức thường vẫn tròn đầy.
Đây là Bảo phủ thủ nhãn ấn pháp. Khi hành trì ấn pháp này thành tựu, hành giả có thể tránh được nạn tù tội, bất kỳ nơi đâu, bất kỳ mọi lúc, hành giả đều không bị vướng phải các chướng nạn về quan quyền nữa.
Quý vị sẽ hỏi: “Nếu tôi tu tập ấn pháp này, liệu tôi có thể phạm pháp mà vẫn không bị bỏ tù hay sao?”
Không! Là Phật tử, quý vị không được phạm pháp. Nếu quý vị đã thông hiểu Phật pháp và phát tâm tu học Phật pháp rồi, thì làm gì có chuyện phạm pháp nữa? Còn nếu quý vị làm chuyện phạm pháp, tất nhiên phải bị bắt và ở tù.
Tuy nhiên, đôi khi có những người vô tội bị bắt ở tù. Đây là vì họ chưa bao giờ tu tập Bảo phủ thủ nhãn ấn pháp này.
Câu 65 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 68 Chú Đại Bi: Giả kiết ra a tất đà dạ
Giả kiết ra a tất đà dạ. Hán dịch là “Kim cang luân”. Còn gọi là Kim cang Bạt chiết la. Kim cang luân này có hình tròn nhưng có khác so với Kim cang luân khác. Câu chú này còn có nghĩa là “Hàng phục oán ma”. Khi trong tâm luôn luôn sinh khởi xung khí và bất bình thì gọi là ma. Khi ấy họ thường phê phán mọi điều. Họ nói “Chư Phật thường làm những việc sai trái, cho đến hành Bồ tát, A la hán, chư Thiên, Diêm Vương cũng đều như thế”. Họ phản đối kịch liệt và hằn học đối với tất cả mọi điều. “Tất cả đều là tà vạy”. Họ giống như kẻ cuồng si, chẳng để ý gì đến pháp luật nữa. Họ luôn xung khắc với toàn cả thế gian. Trong nhân gian gọi loại người này là điên cuồng. Trong hàng quỷ thần thì hạng người này được gọi là Ma. Nộ khí của loài ma oán này thường xôn g khắp cõi Trời. Nó thường giận dữ: Ai cũng đều quá vô lễ với ta!”. Hoặc nó nói: “Phật hả? Ta sẽ đánh bại ngay. Bồ tát hay A la hán ta cũng hạ gục luôn. Còn loài người, ta sẽ ăn thịt hết. Ma quỷ thì ta sẽ chà nát dưới gót chân. Ta sẽ xé nát thân chúng ra cho đến chết!” Oán khí loại ma này thật ghê rợn.
Đây là Bạt chiết la thủ nhã ấn pháp. Với Kim cang luân, hành giả có thể đập tan các loài thiên ma ngoại đạo, quỷ thần thành từng mảnh vụn. Bất luận đó là loại ma nào, nó đều bị thu phục và vâng lời khi hành giả dùng Kim cang luân để thi hành ấn pháp này. Ma oán sẽ cung kính đảnh lễ hành giả và thưa: “Con nguyện quy phục ấn pháp. Nguyện theo mọi quy luật, không dám xâm hủy”.
Kim cang luân ấn pháp không những chỉ có công năng hàng phục thiên ma ngoại đạo, mà còn có công năng phát ra âm thanh chấn động. Đạo giáo gọi âm thanh này là “Ngũ Lôi Oanh Đảnh”.
Sấm sét vốn thường phát sinh từ trên Trời, nhưng các Đạo sĩ Lão giáo có thể phóng ra tiếng sấm từ lòng bàn tay khi họ kết một loại ấn gọi là Chưởng tâm lôi. Tiếng sấm sét vang ra khiến cho thiên ma bị chấn động, thậm chí còn có thể khiến thịt da nó bị tan tành từng mảnh.
Khi giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôi có nói về một người bạn thân, có khả năng sử dụng được ấn pháp này. Khi quý vị hành trì thành tựu ấn pháp này rồi, thì sấm sét sẽ vang rền khi quý vị sử dụng ấn pháp và tiếng vang của nó sẽ hàng phục được tất cả các loài ma oán.
A tất đà dạ. Hán dịch là “Vô tỷ thành tựu”. Hành giả trì chú này sẽ được thành tựu công đức rất lớn; không có gì so sánh được, cho nên mới khiến cho các loài ma oán đều quy đầu phục thiện.
Câu 69 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Hán dịch có sáu nghĩa. Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này.
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da
Nam – mô là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa là: “Con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật”. Cái bản ngã của chính mình không còn nữa. Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật. Nếu chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết thì con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”.
Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”.
Đó chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường trụ Tam Bảo (Đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo - Cao thượng và quý báu nhất thế gian và xuất thế gian)
Chân chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”.
Khi quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma.
Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần, lợi lạc không kể xiết.
Quí vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu pháp”, bất luận quí vị muốn điều gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành tựu như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai. Nhưng quí vị phải trì niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôI, mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được toàn thể bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn.
Câu chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục pháp”. Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này.
Tuy vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu pháp” thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng.
Vậy nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công năng rất mạnh, không thể suy lường được. Nếu nói chi tiết, thì không thể nào cùng tận được.
Tóm lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”.
Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ thường trụ Tam bảo.
Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 77 Chú Đại Bi: Nam mô a lị da
Nam mô. Hán dịch là “quy y”.
A lị da. Hán dịch là “Thánh giả”, cũng có nghĩa là “Thánh Hiền”. Câu chú này thể hiện sự quy y với tất cả các Hiền Thánh Tăng.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ Câu 78 Chú Đại Bi: Bà lô kiết đế. Hán dịch là “quán”. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 79 Chú Đại Bi: Thước bàn ra da
Thước bàn ra da. Hán dịch là “tự tại”. Toàn câu Bà lô kiết đế thước bàn ra da có nghĩa là Quán Tự Tại tức là Bồ Tát Quán Thế Âm.
Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 81 Chú Đại Bi: Án tất điện đô
Nay phần kinh văn của thần chú đã được tụng rồi. Tiếp theo là phần chân ngôn. Thông thường có chữ Án luôn luôn dẫn đầu cho phần chân ngôn này. Nên chữ Án mang ý nghĩa “dẫn sinh nghĩa”.
Tất nghĩa là “thành tựu”.
Điện đô. Hán dịch là “ngã giới” là đạo tràng, lãnh thổ, cương vực của mình đã được kiết giới thành tựu. Phạm vi kiết đại giới là 800 do tuần (yojanas) và trung giới là 600 do tuần. Trong phạm vi đã được kiết giới này, hành giả thường được an lạc và yên tịnh, tất cả mọi công đức đều được thành tựu và bản nguyện đều được như ý.
Chẳng hạn như khi tôi đã kiết giới đạo tràng trong phạm vi địa hạt San Francisco (Cựu Kim Sơn) thì trong toàn bộ vùng này sẽ không xảy ra động đất hoặc những thiên tai khác. Vì các vị hộ pháp, thiện thần đều phải hộ trì cho nguyện lực của đạo tràng được thành tựu.
Phạm vi và ý nghĩa kiết giới lớn làm sao! Một hạt vi trần cũng rộng lớn bao la rồi. Vì một hạt vi trần của hành giả là bao hàm vô lượng vi trần vô lượng thế giới, và vô lượng vi trần trong thế giới cũng chỉ hàm ẩn trong một vi trần. Vì vậy, nếu một vi trần hoại diệt thì vô lượng vi trần đều hoại diệt. Một hạt vi trần tồn tại thì vô lượng vi trần cũng tồn tại. Đó là sự vi diệu của sự kiết giới. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 82 Chú Đại Bi: Mạn đà ra
Mạn đà ra. Hán dịch là “đạo tràng”, cũng dịch là “Pháp hội”. Nghĩa là đạo tràng của hành giả nhất định phải thành tựu. Pháp hội của hành giả nhất định phải thành tựu. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
Câu 83 Chú Đại Bi: Bạt đà da
Bạt đà da dịch là “Toại tâm viên mãn”. Chẳng hạn như khi tôi muốn một vi trần không hoại thì nó sẽ không hoại. Nếu tôi muốn tất cả các vi trần không bị tan hoại thì các vi trần ấy sẽ kết hợp lại với nhau. Khi tôi niệm Án, tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha với tâm nguyện sẽ không có nạn động đất xảy ra ở San Francisco (Cựu Kim Sơn), hoặc nếu có nạn động đất lớn thì nạn ấy biến thành nhỏ, nạn nhỏ thì biến thành không có. Nhờ vậy nên không có nạn động đất, không có ai sợ hãi. Thế nên gọi là sự thành tựu. Tùy theo tâm nguyện mà đều được như ý (toại tâm viên mãn). Nếu quý vị có niềm tin chí thành, thì thấy rất là màu nhiệm. Còn nếu quý vị không tin, là vì quý vị chẳng thích thú gì với những điều mầu nhiệm như trên. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ Câu 57 Chú Đại Bi: Tất đà du nghệ
Tất đà. Hán dịch là “thành tựu lợi ích”.
Du nghệ. Hán dịch là “Vô vi” hay còn gọi là “hư không”.
+ Câu 58 Chú Đại Bi: Thất bà ra dạ
Thất bàn ra dạ. Hán dịch là “Tự tại”. Đây là Bảo khiếp thủ nhãn ấn pháp. Hành giả thành tựu ấn pháp này có thể sử dụng lấy tất cả các thứ châu báo ẩn giấu trong lòng đất để làm lợi ích cho chúng sanh. Ý của câu chú này nói rằng ở nơi thể tánh mà thường được tự tại và thành tựu vô lượng công đức.
+ Câu 59 Chú Đại Bi: Ta bà ha
+ Ta Bà Ha: Trong chú Đại bi, câu Ta bà ha rất là quan trọng. Câu này được lặp lại đến mười bốn lần.
(Ta bà ha của câu Thần Chú số 52: Bất kỳ chữ này xuất hiện ở bài chú nào cũng có đủ sáu nghĩa này)
Nghĩa thứ nhất là “thành tựu”. Khi trì niệm câu chú này, tất cả sở cầu, sở nguyện của hành giả đều được thành tựu. Nếu quý vị chưa có được sự cảm ứng khi hành trì, là do vì tâm chưa đạt đến sự chí thành. Nếu quý vị có tâm chí thành và có niềm tin kiên cố, thì chắc chắn sẽ được thành tựu. Nhưng chỉ cần móng khởi một chút tâm niệm không tin vào chú này, thì không bao giờ được thành tựu.
Nghĩa thứ hai là “Cát tường”. Khi hành giả niệm câu chú này thì mọi sự không tốt lành, đều trở thành tốt lành như ý. Nhưng quý vị phải có lòng thành tín. Nếu quý vị có lòng thành tín hoặc nửa tin nửa ngờ khi trì chú này thì chư Bồ tát đều biết rõ. Vì thế nếu quý vị muốn mọi việc đều được đến chỗ thành tựu thì trước hết phải có niềm tin chắc thật. Ví như khi cha của quý vị có bệnh, muốn cha mình được khỏi bệnh thì quý vị phải hết sức thành tâm và chánh tin. Trì tụng chú này mới có cảm ứng.
Hoặc khi quý vị nghĩ rằng: “Từ lâu mình chưa được gặp người bạn thân. Nay rất muốn gặp anh ta”. Quý vị niệm chú này một cách chí thành, liền gặp bạn ngay. Hoặc quý vị nghĩ: “Ta chẳng có người bạn nào cả, muốn có người bạn tốt”. Quý vị trì chú này một cách thành tâm và liên tục, liền có được bạn lành, ngay cả gặp được thiện tri thức.
Nghĩa thứ ba của Ta bà ha là “viên tịch”.
Khi các vị Tỳ kheo xả bỏ báo thân hoặc nhập Niết bàn thì được gọi là “viên tịch”. Nhưng ở đây, chữ “viên tịch” không có nghĩa là chết. Chẳng phải niệm câu chú Ta bà ha là để cầu sự viên tịch. Thế thì công dụng của câu chú này là gì?
“Viên tịch” có nghĩa là “công vô bất viên”. Là công đức của hành giả hoàn toàn viên mãn; “đức vô bất tịch” là đức hạnh của hành giả đạt đến mức cao tột cực điểm. Chỉ có chư Phật và Bồ tát mới biết được công hạnh rốt ráo tròn đầy ấy chứ hàng phàm phu không suy lường được.
Nghĩa thứ tư là “tức tai”, nghĩa là mọi tai nạn đều được tiêu trừ.
Nghĩa thứ năm là “tăng ích”, là sự tăng trưởng lợi lạc của hành giả. Khi niệm câu Ta bà ha thì công hạnh đều được tăng trưởng, hành giả sẽ đạt được chỗ lợi lạc an vui.
Nghĩa thứ sáu của câu này, tôi thiết nghĩ trong quý vị ít có ai biết được. Vì trước đây tôi chưa từng nói bao giờ.
Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
Trên đây là sáu nghĩa của Ta bà ha. Bất luận câu chú nào dưới đây có chữ Ta bà ha đều mang đầy đủ sáu nghĩa trên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 80: Bồ tát Quán Tự Tại đã thành tựu tất cả mọi công đức. Ta bà ha có nghĩa là thành tựu công đức vô lượng vô biên.
- Ta bà ha của câu Thần Chú số 84: Ta bà ha dịch là “thành tựu”. Thành tựu điều gì? Thành tựu mọi thệ nguyện của hành giả. Bất luận quý vị phát tâm nguyện gì, quý vị sẽ đạt được như ý khi niệm Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà da ta bà ha.
Những vị khi làm lễ thế phát xuất gia cũng trì niệm câu chú này. Có nghĩa là ước nguyện việc xuất gia tu học Phật pháp sẽ được như ý thành tựu viên mãn.
Đến đây thì Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni và chú Đại Bi đã được giảng giải xong. Nay tôi cũng đã giảng hết bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó là phần sau của Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni. Còn phần sau nữa là khoa nghi hành trì, là phương pháp tu hành, nay tôi không nhắc lại nữa.
Năm trước, một số đệ tử có tâm nguyện được nghe giảng chú Đại Bi. Đến nay quý vị nghe giảng gần một năm. Pháp hội này được xem như thành tựu viên mãn.
Tôi nguyện rằng quý vị có phát tâm hành trì điều gì cũng được như ý, tất cả đều được Bạt đà da ta bà ha, tức là thành tựu viên mãn tâm nguyện của mình. Mỗi người có sự phát nguyện khác nhau, nên sự thành tựu cũng không đồng, nhưng đều viên mãn cả.
Nguyện cho tất cả Phật tử có duyên được nghe Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni này đều sớm thành tựu quả vị Phật, vì đây là ước nguyện của những người thâm tín chư Phật.
Một khi quý vị đã chứng được quả vị Phật tức là mọi việc đều “toại tâm mãn nguyện” rồi. Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi
+ Tâm Bình Đẳng: Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ Năm “Dược Thảo” có ghi: “Này Ca Diếp! Cũng như vầng mây lớn bao phủ tam Thiên Đại Thiên Thế Giới rồi tuôn mưa xuống tưới mát cho tất cả cây cối và cỏ thuốc từ nhỏ đến lớn làm cho mỗi một loại tùy theo sức, tùy theo phần, tùy theo mục đích và cảnh thế mà hút lấy nước mưa để nảy nở đúng theo giống của mình. Giáo Pháp mà Phật nói ra cũng như thế đó. Pháp Phật là Pháp chung cùng của chúng sinh. Nó chỉ có một hình tướng, một ý vị mà thôi. Tánh Tướng của nó là sự giải thoát, xả ly, tịch diệt. Tức là nơi cuối cùng mà chúng sinh đạt tới sau khi đi trọn nẻo Trí của Phật, khi ấy họ mới hiểu tất cả”.
+ Tâm bình đẳng = Kim Cang Tâm: Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Có một pháp Đà la ni tên là Kim Cang tâm hay khiến chúng sanh một phen thấy, một phen nghe liền đặng đạo quả. Này gã trai lành! Thế nào gọi là Kim Cang tâm? Tâm này người người vẫn có không kẻ nào không, nên cái tâm bình đẳng của chúng sanh này tự biết lấy, tự hiểu lấy. Vì sao? Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân; thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.(Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ “Là tâm Bình Đẳng.” Chú Đại Bi là gì? Đó là cái tâm bình đẳng, cái tâm không phân biệt. Tâm bình đẳng là một cái tâm “vô đảng vô thiên” (không phe nhóm, chẳng thiên vị); và cái tâm ấy chính là Chú Đại Bi.
Chúng ta không nên niệm Chú Đại Bi với lòng ích kỷ, phân biệt: “Người này là anh em của tôi thì tôi phải gần gũi anh ta hơn. Cô kia là bạn của tôi, thì tôi phải thân thiết với cô ta hơn. Người ấy không có quen biết gì với tôi cả, vậy tôi nên tránh xa hắn…”; bởi như thế tức là không có tâm bình đẳng.
“Bình đẳng” tức là đối với anh em ruột thịt cũng vậy mà không phải là anh em ruột thịt thì cũng vậy—chúng ta xem tất cả đều như nhau, chẳng hề phân biệt thân sơ. Đối với bạn bè, anh em, và ngay cả người dưng kẻ lạ, chúng ta đều nên đãi ngộ ngang nhau, giống nhau. Nếu quý vị cư xử tử tế với anh em của mình, thì đối với mọi người khác, quý vị cũng nên tử tế giống như với anh em của quý vị vậy; như thế mới gọi là có tâm bình đẳng. Và nếu quý vị hiếu thảo với cha mẹ, thì quý vị cũng nên xem những người tuổi tác đều như cha mẹ mình, và cũng quan tâm, hiếu thuận với họ giống như với cha mẹ mình; đó là có tâm bình đẳng vậy.
Nói tóm lại, tâm bình đẳng là cái tâm “vô đảng, vô thiên.” Quý vị có tâm bình đẳng, tức là có niệm Chú Đại Bi; không có tâm bình đẳng tức là không niệm Chú Đại Bi vậy.(Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
+ Tâm bình đẳng - Tâm Bồ tát rất cần vun bồi: Đức Phật biết hai vị đệ tử này không thực hành tâm từ bình đẳng trong khi khất thực. Đức Phật biết được tâm niệm phân biệt của họ. Thế nên Như Lai đã quở trách Tu-bồ-đề và Đại Ca-diếp đã là bậc a-la-hán mà tâm không bình đẳng. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Khai quang tượng Bồ Tát Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn: Bây giờ, chúng ta đang khai quang bức tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt này. Tôi muốn nhân dịp này để giảng pháp và truyền cho quý vị tất cả sự hiểu biết của tôi về giáo pháp 42 Thủ Nhãn của Quan Thế Âm Bồ Tát – từng mỗi Thủ Nhãn đều truyền thọ cho quý vị. Nếu quý vị tin, thì tin; nếu không tin thì tôi cũng không thể ép buộc quý vị tin. Bất cứ ai chú tâm thực hành theo pháp này thì trong tương lai sẽ được thành tựu ngàn tay ngàn mắt.
Tại sao Quan Thế Âm Bồ Tát có ngàn tay ngàn mắt? Thực tế, ‘ngàn tay’ và ‘ngàn mắt’ là danh xưng tổng quát. Nếu phân tích chi tiết, tay và mắt của Quan Thế Âm Bồ Tát thì vô hạn. Mỗi đầu sợi lông đều có tay và mắt. Làm thế nào mà Ngài chứng được pháp thân này? Đó là vì Ngài đã tu pháp 42 Thủ Nhãn nên thành tựu được diệu tướng trang nghiêm này. Có thể dùng 42 Thủ Nhãn để hàng phục thiên ma ngoại đạo. Trong mỗi bàn tay có một con mắt và mỗi mắt đều có thể quan sát tâm niệm của tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới.
Tại Mã Lai (Malaysia), tôi đã từng nói “Trong tất cả các pháp, pháp 42 thủ nhãn là pháp bí mật nhất trong các pháp bí mật, thâm sâu nhất trong các pháp thâm sâu, vi diệu nhất trong các pháp vi diệu (1). Pháp này là bất khả tư nghì và không suy lường được.” Ai có thể ngờ rằng trong Phật pháp, việc truyền pháp này đã bị gián đoạn và thất truyền. Vì vậy, bây giờ tôi muốn kế tục pháp này, truyền thọ cho quý vị. Nhưng giảng về pháp này không dễ dàng. Tại sao? Để học và thực hành pháp này, thứ nhất quý vị cần có lòng tin vào pháp này, thứ nhì cần có lòng nhẫn nại, và thứ ba lại cần có tâm bền bỉ lâu dài không nhàm mỏi.(2) (Nguồn: Vạn chúng nhất tâm Vạn Phật Thành - HT Tuyên Hóa)
+ Khai Quang Tượng Phật - Bồ tát
Hỏi: Tượng Phật ở nhà chúng con chưa làm lễ khai quang, vậy chúng con có thể lễ bái được không?
Đáp: Tượng Phật có khai quang, hay không khai quang, đó không phải là vấn đề ở đây. Chỉ là xem quý vị có tâm chấp trước hay không thôi. Nếu trong tâm không chấp trước thì tượng Phật lúc nào cũng đều là khai quang. Nếu trong tâm còn chấp trước thì dù tượng Phật đã được khai quang rồi, cũng coi như là không có khai quang vậy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu hỏi 316)
+ Đó là tâm Đại Từ Bi.
Đại Từ Bi Tâm chính là Đại Bi Tâm Đà-La-Ni. Lòng “từ” có thể ban vui, tâm “bi” có thể cứu khổ; do đó nếu quý vị có được lòng từ bi bao la, rộng lớn thì đó chính là Chú Đại Bi vậy. Quý vị đã nghe rõ cả chưa? Đại Bi Tâm chính là Đại Bi Chú, Đại Bi Chú chính là Đại Bi Tâm. Quý vị có tâm Đại Bi tức là quý vị đang niệm Chú Đại Bi; nếu quý vị không có tâm Đại Bi tức là quý vị chưa niệm Chú Đại Bi vậy!
Hằng ngày, cho dù từ sáng đến tối quý vị luôn lầm rầm tụng niệm: “Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da…,” nhưng nếu quý vị không có lòng đại từ đại bi thì đó không phải là niệm Chú Đại Bi. Trái lại, nếu quý vị chẳng hề niệm Chú Đại Bi, song thâm tâm lúc nào cũng tồn giữ tấm lòng đại từ đại bi, thì đó chính là quý vị đang trì niệm Chú Đại Bi vậy! Quý vị hiểu rõ cả rồi chứ? Cho nên, song song với việc niệm Chú, quý vị cần phải nuôi dưỡng cái tâm Đại Từ Bi nữa, như thế mới là chân chánh niệm Chú! (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
* Phát tâm đại bi: Thương xót hết thảy chúng sinh, chịu vô lượng khổ não trong vòng luân hồi sinh tử, thệ nguyện cứu vớt họ.
+ Tâm Đại Từ Bi: Tương ứng luân xa số 4. Thọ trì Chú Đại Bi thì luân xa số 4 phát triển mạnh mẽ, tỏa ra Hào quang từ đây.(Nguồn: Giảng Chú Đại Bi: Xem Thầy Hằng Trường giảng)
III- Đại Từ Đại Bi: Tâm từ bi rộng lớn của chư Phật, Bồ tát cứu độ tất cả chúng sinh.
- Luận Đại trí độ quyển 27 nói: Đại từ là ban vui cho tất cả chúng sinh, Đại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sinh.
- Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ), nói: Tâm Phật là đại từ bi. Phật đem tâm đại từ bi vô duyên nhiếp thụ tất cả chúng sinh.
- Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 256 trung), nói: Đại từ của Bồ tát đối với Phật là nhỏ, đối với Nhị thừa là lớn, nên tạm gọi là đại. Đại từ đại bi của Phật mới thực là đại. [X. luận Phật địa Q.5]. (xt. Từ Bi).
* Đức từ bi rộng lớn, những đặc tính của chư Phật và chư Bồ Tát; ban vui cứu khổ. Đặc biệt ám chỉ Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát.( Xem nguồn)
+ 'Đại từ bi!' Đây là tâm từ bi không phân biệt, dành cho ngay cả những ai không có duyên với mình. Đó là lòng từ rộng khắp, lòng từ bi đối với mọi chúng sinh. Với tâm đồng thể đại bi, các ngài sẽ giúp chúng sinh nhổ sạch mọi loại khổ đau và ban cho họ nhiều niềm vui cao tột. Các ngài giúp cho chúng sinh nhận ra mặt mũi của mình khi cha mẹ chưa sinh ra.[136] Đó được gọi là:
Đại bi dành cho những chúng sinh không có duyên.
Đại từ dành cho những chúng sinh có cùng thể tánh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ “Là tâm Vô Tạp Loạn.” Quý vị không nên có cuồng tâm dã tánh, không nên có cái tâm tạp loạn.(Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
+ “Là tâm Vô Thượng Bồ Đề”: Quý vị phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, thì đó chính là Chú Đại Bi; nếu quý vị không có Đạo tâm Vô Thượng Bồ Đề, thì không phải là niệm Chú Đại Bi vậy.
+ 10- Tâm vô thượng bồ đề: tâm lúc nào cũng hướng thượng, hướng tới sự giác ngộ cao nhất. Đó là tâm lúc nào mình cũng muốn ngồi thiền tỉnh lặng, lúc nào cũng muốn khai mở. Mười tâm đó quyện lại với nhau thành định nghĩa của chữ Ma ha ca lô ni ca da.(Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng 10 Đại Bi Tâm)
+ Sai Khiến Tất Cả Quỷ Thần - Hàng Phục Thiên Ma - Chế Phục Ngoại Đạo
- Kinh Văn Nghĩa: “Bấy giờ, Ta dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay hộ trì, làm cho người ấy từ đó về sau có thể thọ trì tất cả sách vở thế gian, thông đạt tất cả điển tịch Phệ-đà cùng pháp thuật của ngoại đạo. Người nào tụng trì Thần Chú này thì có thể trị được tám vạn bốn ngàn thứ bệnh ở thế gian, chẳng bệnh nào không khỏi; lại cũng có thể sai khiến được tất cả quỷ thần, hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo.”
Lược giảng:
“Bấy giờ, Ta dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay hộ trì.” Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp: “Lúc ấy, Ta sẽ dùng một ngàn con mắt để dõi theo và duỗi một ngàn cánh tay ra để che chở, hộ trì người tụng Chú Đại Bi đó. Chẳng những thế, Ta còn làm cho người ấy từ đó về sau có thể thọ trì tất cả sách vở thế gian, thông đạt tất cả điển tịch Phệ-đà —kinh điển của ngoại đạo—cùng pháp thuật của ngoại đạo. Người nào tụng trì Thần Chú này thì có thể trị được tám vạn bốn ngàn thứ bệnh ở thế gian, chẳng bệnh nào không khỏi.”
Thế gian này có tới tám vạn bốn ngàn thứ bệnh mà Chú Đại Bi đều có thể trị lành được tất cả. Bất luận là bị cancer hoặc mắc phải bệnh gì đi nữa, nếu quý vị thành tâm thiết tha tụng niệm Chú Đại Bi thì đều được khỏi bệnh. Những bệnh nan y, bất cứ thuốc men gì cũng không chữa trị được, thì Chú Đại Bi đều có thể trị lành được; vì thế mà nói là “vô bất si giả” (chẳng bệnh nào không khỏi.)
Trong câu “vô bất si giả,” chữ “si” hàm ý lành bệnh, khỏi bệnh. Theo Hán tự, chữ “si” này nếu có thêm chữ “bệnh” đứng bên cạnh thì thành ra chữ “sái,” có nghĩa là lành bệnh, hết bệnh. Như vậy, câu trên sẽ là “vô bất sái giả,” và ngụ ý là chẳng có bệnh nào mà không thuyên giảm, chẳng có bệnh nào mà không trị lành cả!
Ngoài ra, người trì tụng Chú Đại Bi “lại cũng có thể sai khiến được tất cả quỷ thần.” “Sai khiến được tất cả quỷ thần” là thế nào? Tức là người ấy bảo làm việc gì thì các quỷ thần liền răm rắp làm việc đó, bảo đi đâu thì lập tức đi đấy. Chẳng những thế, người ấy còn có thể “hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo” nữa.
- Kinh Văn Nghĩa: “Nếu ở chốn sơn dã tụng Kinh tọa Thiền mà có các sơn tinh, tạp mị, vọng lượng, quỷ thần, hoành hành não loạn làm cho tâm không được an định, tụng Chú này một biến thì các quỷ thần đó đều bị trói lại hết.”
Lược giảng:
“Nếu ở chốn sơn dã tụng Kinh tọa Thiền mà có các sơn tinh, tạp mị, vọng lượng, quỷ thần, hoành hành não loạn làm cho tâm không được an định...”. Giả sử quý vị sống ở chốn núi non vắng vẻ, không người lai vãng, mà tụng Kinh hay ngồi Thiền, thì thường có các quỷ thần như sơn yêu thủy quái, ly mị vọng lượng đến quấy nhiễu, tác oai tác quái, khiến cho quý vị bị loạn tâm. Bấy giờ, nghĩ đến việc tụng Kinh thì quý vị cảm thấy rất phiền muộn, chán chường: “Tụng Kinh để làm gì kia chứ?”; hoặc muốn ngồi Thiền nhưng vừa ngồi xuống thì vọng tưởng lại mon men dấy lên: “Ngồi thế này thật không thoải mái chút nào. Hết đau chân thì lại mỏi lưng mỏi cổ, ê ẩm cả người. Ui chao, thôi đứng dậy quách cho rồi!”
Vì sao lại như thế? Đó là vì quý vị bị chúng ma tới quấy nhiễu, chọc phá, làm cho quý vị thấy trong lòng bứt rứt xốn xang, không thể nào ngồi yên được. Chúng lại tỉ tê dụ dỗ: “Ngồi Thiền để làm gì? Thôi, đừng tu hành nữa, theo bọn tôi đi chơi đi, ngoài kia có nhiều trò vui chơi náo nhiệt lắm! Bạn ở đây thì phải nào là tụng Kinh, nào là ngồi Thiền, lại còn phải tuân theo đủ các thứ quy củ luật lệ rắc rối nữa, chẳng thú vị gì cả! Hãy mau mau nhập bọn làm quyến thuộc với chúng tôi đi! Xem kìa, thế giới của chúng ta thật là nhộn nhịp v.v...”
Ma Vương còn có thể xui khiến quý vị sanh khởi những vọng tưởng như: “Nam nữ hành dâm là không thành vấn đề.” Chúng ma là những kẻ phá hoại, chúng đến cốt để phá hoại Định tâm, phá hoại Giới tâm và phá hoại Huệ tâm của quý vị, làm cho Giới Định Huệ của quý vị đều tiêu tan.
Muốn tu hành theo Bồ-tát Đạo thì quý vị cần phải có mười thứ tâm; thế nhưng hễ bị Ma Vương quấy phá thì mười thứ tâm ấy liền bị lung lay, không thể an trụ vững vàng được nữa! Bấy giờ, tâm quý vị vốn “trụ” ở đức Tín song nay thì tín tâm không còn nữa; mà không có tín tâm thì sẽ sanh lòng “bất tín.”
Quý vị muốn giữ tâm trì niệm, nhớ nghĩ—muốn chuyên chú tụng Kinh, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng—thì Ma Vương lại xui khiến quý vị trở nên ngần ngừ do dự: “Thôi, đi ngủ một giấc cho khỏe!” Và như thế là cái lòng niệm tưởng của quý vị cũng tiêu tan.
“Niệm tâm” không có thì lòng tinh tấn cũng chẳng còn, quý vị không còn hăng hái tu học nữa: “Có chắc là tu hành thì sẽ thành Phật được hay không? Biết đâu đó chỉ là chuyện hoang đường, không đáng tin?” Và thế là cái tâm tinh tấn này cũng chẳng “trụ” được nữa.
Tâm Tinh Tấn không “trụ” thì không có tâm trí huệ—Huệ Tâm cũng chẳng “trụ” được.
Huệ Tâm không “trụ” thì không có Định Tâm—Định Tâm cũng chẳng “trụ” được.
Định không “trụ” thì không có Tâm Bất Thối—“bất thối tâm” liền biến thành “thối tâm.” Hễ sanh tâm thối chuyển thì sẽ không còn lòng hộ trì Phật Pháp; bấy giờ quý vị sẽ khởi những vọng tưởng như: “Mình cần gì phải cúng dường Tam Bảo? Để Tam Bảo cúng dường cho mình chẳng tốt hơn ư?” Như có những cư sĩ đòi hỏi Tam Bảo phải hộ pháp cho họ, đó cũng là điển hình của trường hợp tâm Hộ Pháp không “trụ” vậy.
Tâm Hộ Pháp không “trụ” thì tâm hồi hướng cũng không “trụ”—không có tâm hồi hướng.
Tâm Hồi Hướng không có thì Giới Tâm cũng chẳng “trụ,” quý vị cũng chẳng còn chú ý thọ trì Giới Luật nữa.
Và cuối cùng là Nguyện Tâm cũng chẳng “trụ” nữa; thế thì còn phát nguyện gì nữa? Bấy giờ quý vị sẽ nghĩ ngợi lẩn thẩn: “Tôi không phát nguyện, không hứa hẹn điều gì cả. Tôi muốn thế nào thì cứ thế ấy, tự do biết bao! Tội gì lập nguyện rồi chính mình lại bị ràng buộc bởi lời nguyện đó? Như thế thì gò bó quá, mất tự do nhiều quá!” Thế là Nguyện Tâm cũng chẳng “trụ” nữa.
Như vậy, mười “trụ tâm” biến thành mười “bất trụ tâm.” Vì sao quý vị lại có mười “bất trụ tâm” ư? Đó là do sự phá hoại của Ma Vương! Ma Vương chui luồn len lỏi vào mọi ngỏ ngách trong tâm quý vị, khiến tư tưởng của quý vị có sự biến chuyển.
“Tụng Chú này một biến thì các quỷ thần đó đều bị trói lại hết.” Nếu quý vị gặp phải tình trạng như trên, trong lòng cảm thấy phiền não, bứt rứt rối loạn, đó là bởi Ma Vương muốn phá hoại quý vị; bấy giờ, quý vị hãy tụng Chú Đại Bi một biến, tức thì các quỷ thần và Ma Vương sẽ bị tóm bắt và trói gô lại.(Nguồn: Giảng Chú Đại Bi_HT Tuyên Hóa)
Sài lang hổ báo mạnh hựu hung
Sư tử hùng bi cánh tranh nanh
Bàng bài cao cử giai hồi tỵ
Tuy phùng hiểm lộ dịch khang bình.
Phiên dịch:
Sài lang hổ báo đã ác hung
Uy phong sư tử lại bạo tàn
Đưa cao bàng bài đều lẩn tránh
Gặp đường nguy hiểm cũng bình an. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Thần Chú Đại Bi
Thần Chú Đại Bi có 84 câu vô cùng nhiệm mầu, người thọ trì được vô lượng công đức không thể tính đếm. Cũng hóa giửi và tiêu trừ nghiệp chướng mạnh mẽ nhiệm mầu không thể giảng nói hết.
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần).
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.
1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
2. Nam mô a rị da
3. Bà lô yết đế thước bát ra da
4. Bồ Đề tát đỏa bà da
5. Ma ha tát đỏa bà da
6. Ma ha ca lô ni ca da
7. Án
8. Tát bàn ra phạt duệ
9. Số đát na đát tỏa
10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da
11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà
12.Nam mô na ra cẩn trì
13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế
14.Tát bà a tha đậu du bằng
15.A thệ dựng
16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)
17.Na ma bà dà
18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha
19.Án. A bà lô hê
20.Lô ca đế
21.Ca ra đế
22.Di hê rị
23.Ma ha bồ đề tát đỏa
24.Tát bà tát bà
25.Ma ra ma ra
26.Ma hê ma hê rị đà dựng
27.Cu lô cu lô yết mông
28.Độ lô độ lô phạt xà da đế
29.Ma ha phạt xà da đế
30.Đà ra đà ra
31.Địa rị ni
32.Thất Phật ra da
33.Giá ra giá ra
34.Mạ mạ phạt ma ra
35.Mục đế lệ
36.Y hê di hê
37.Thất na thất na
38 A Ra sâm Phật ra xá lợi
39.Phạt sa phạt sâm
40.Phật ra xá da
41.Hô lô hô lô ma ra
42.Hô lô hô lô hê rị
43.Ta ra ta ra
44.Tất rị tất rị
45.Tô rô tô rô
46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ
47.Bồ đà dạ bồ đà dạ
48.Di đế rị dạ
49.Na ra cẩn trì
50.Địa rị sắc ni na
51.Ba dạ ma na
52.Ta bà ha
53.Tất đà dạ
54.Ta bà ha
55.Ma ha tất đà dạ
56.Ta bà ha
57.Tất đà du nghệ
58.Thất bàn ra dạ
59.Ta bà ha
60.Na ra cẩn trì
61.Ta bà ha
62.Ma ra na ra
63.Ta bà ha
64.Tất ra tăng a mục khê da
65.Ta bà ha
66.Ta bà ma ha a tất đà dạ
67.Ta bà ha
68.Giả kiết ra a tất đà dạ
69.Ta bà ha
70.Ba đà ma kiết tất đà dạ
71.Ta bà ha
72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ
73.Ta bà ha
74.Ma bà rị thắng yết ra dạ
75.Ta bà ha
76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
77.Nam mô a rị da
78.Bà lô kiết đế
79.Thước bàn ra dạ
80.Ta bà ha
81.Án. Tất điện đô
82.Mạn đà ra
83.Bạt đà gia
84.Ta bà ha.
+ Quí vị có điều kiện, nên hành trì đọc tụng mỗi tối 5 biến như trong Kinh Chú Đại Bi nói, được vô lượng phúc báo, chữa bách bệnh nhiệm mầu, không bệnh gì là không khỏi. mời đọc tham khảo bài: Hướng dẫn đọc tụng Chú Đại Bi
+ Lưu ý - Bản Chú Đại Bi thiếu 5 âm: Hiện có các bài Chú Đại Bi thiếu 5 âm "Na ma bà tát đa" trong câu 16. Quí vị nên tra soát, dùng bản đầy đủ để có thành tựu viên mãn, cảm ứng nhiệm mầu. (Nguồn: Nguyên nhân có bản Chú Đại Bi in thiếu)
Nguồn: Phần chú giải Thần Chú Đại Bi _ HT Tuyên Hóa rất hay
Thanh hương bảo đỉnh hóa tam thiên
Như ý kim ngao du cửu uyên
Thiện Tài Long Nữ tiếu huyên huyên
Phật giáo diệu pháp nhữ yếu tham.
Phiên dịch:
Đỉnh hương nhập diệu khắp ba ngàn
Rùa ngọc chín tầng như ý chơi.
Cầu học Phật môn vô thượng pháp
Huyên thuyên Long Nữ Thiện Tài cười. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Quyến sách thủ thị khổn ma thằng
Bàng môn quỉ quái nan độn hình
Câu lưu pháp bảo đa biến hóa
Trừ tà phù chánh bí văn linh.
Phiên dịch
Tay làm mạng lưới trói quân ma
Lối quỉ đường yêu khó chạy xa.
Pháp thần biến hóa muôn hình trạng
Phép luật uy linh rõ chánh tà. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Bát vạn tứ thiên bệnh ma triền
Bảo bát cam lộ khả ly thuyên
Bồ đề tát đỏa tự tại quán
Từ bi phổ độ hóa hữu duyên.
Phiên dịch:
Ma bệnh buộc ràng tám vạn tư
Bát vàng sương ngọc tịnh tâm hư
Tự tại Quán Âm Bồ Tát hạnh
Duyên lành nhiếp thụ đại tâm từ. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Bảo kiếm phi quang thấu tam tam
Si mị võng lượng các tuân tuyên
Pháp giới yêu khí tòng tư tức
Hoằng dương chánh giáo độ khôn kiền.
Phiên dịch:
Gươm lồng bóng thép ba ngàn cõi
Si mị võng lượng phục thần oai
Yêu khí tiêu trừ trong pháp giới
Hoằng dương chánh giáo độ muôn loài. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Pháp lôi cao kình cảnh ngoan minh
Pháp cổ phủ xao chấn quý lung
Pháp vân phổ âm lợi vạn vật
Pháp vũ biến sái nhuận quần sinh.
Phiên dịch:
Pháp như sấm dậy tỉnh người ngu
Trống pháp êm tai kẻ điếc, mù
Mây pháp ngang trời che vạn vật
Như mưa rưới đất nhuận quần sinh. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Hàng phục oán ma kinh quỉ thần
Vũ trụ cát tường chánh khí tồn
Hộ pháp vệ giáo công huân phổ
Tăng già hợp hòa đạo dịch hưng.
Phiên dịch:
Hàng phục oán ma khiếp quỉ thần
Đất trời tươi nhuận khí thanh trần
Giữ gìn giáo pháp nơi nơi tỏ
Tăng già hòa hợp đạo thịnh hưng. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Thu tận thiên ma pháp bảo kỳ
Nghiệp chướng tiêu trừ thú Bồ đề
Vạn bệnh hồi xuân tăng phúc thọ
Thí vô úy thủ độ quần mê.
Phiên dịch:
Phi thường pháp bảo trói thiên ma
Nghiệp chướng tiêu trừ thú Bồ đề
Dứt bệnh ngày xuân tăng phúc thọ
Đưa tay vô úy độ quần mê. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Tâm địa quang minh chiếu thế gian
Lục căn thanh tịnh hỗ dụng huyền
Ngu si chuyển thành chân trí tuệ
Hắc ám biến tác cự hỏa diệm.
Phiên dịch:
Đất tâm trong sáng chiếu thế gian
Dùng thế cho nhau cả sáu căn
Ngu muội chuyển thành chân trí tuệ
Tối tăm đổi lấy lửa rực hồng. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Tướng quân anh dũng mạnh vô địch
Bảo cung tại thủ xạ gian di
Khải toàn cao xướng vinh quan bổng
Ích chức gia thăng lạc hữu dư.
Phiên dịch:
Vô địch tướng quân khí hùng anh
Cung báu trong tay diệt ngụy tà
Quan tước điểm tô câu tán tụng
Chức vị càng thêm lợi nước nhà. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Tiển xạ cường địch đảm lạc hàn
Khắc thù chí thắng thao tả khoán
Nhân Quý tướng quân bình liễu loạn
Khải ca cao xướng lạc quần thiên.
Phiên dịch:
Mật lạnh theo tên vào kẻ dữ
Khắc phục lòng thù đoạt chiến công
Nhân Quý tướng quân an giặc loạn
Khúc hát ngày về ấm trời hồng. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Dương chi thủ nhãn độ quần manh
Phiền nhiệt bệnh khổ đắc thanh lương
Khô mộc phùng xuân trọng mậu thịnh
Tử nhi bất vong thọ vĩnh xương.
Phiên dịch:
Phổ độ chúng sinh một cành dương
Não phiền nóng bõng hóa thanh lương.
Xuân đến cây khô đơm lộc biếc
Chết mà không mất lại miên trường. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Túc thế sát nghiệp trọng như sơn
Dục tu thánh đạo chướng vô biên
Hạnh hữu đại bi bạch phất thủ
Khinh tảo số số chúng nan quyên
Phiên dịch:
Kiếp xưa nghiệp sát nặng bằng non
Chắn bước đường tu đạo thánh nhân
Chổi trắng ai ngờ tâm lượng lớn
Quét đi vô số nghiệp khó trừ. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Bảo bình cam lộ nhuận quần manh
Cô mộc phùng xuân mậu hựu xương
Vạn bệnh kham trừ hiển đại dụng
Sinh sinh hóa hóa diệu vô phương.
Phiên dịch:
Bình vàng sương ngọc nhuận quần sinh
Cây khô đơm nhánh giữa trời xuân
Hiển hiện kỳ công trừ bệnh tật
Sinh sinh hóa hóa diệu vô phương*. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Nghiêm hình bức cung khấp quỉ thần
Hàm oan linh ngữ lý nan thân
Nhược dục thoát ly luy tiết khổ
Thả tu phủ việt thủ an thân
Phiên dịch:
Quỷ khóc thần than bức bách thân
Ngục tù ngậm miệng khó minh oan
Nếu muốn thoát vòng dây trói buộc
Pháp tu phủ việt thủ bình an. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Định luật Chuyển hóa Nghiệp quả (Law of Karmic Transformation). Một nhóm từ huyền bí chi phối các tiến trình được trải qua trên Con đường Cao siêu. Các tiến trình này làm cho vị đạo đồ thích hợp để vượt khỏi cõi hồng trần vũ trụ và hoạt động trên cõi trí vũ trụ. Nó có liên quan với việc giải thoát của các Đấng như Sanat Kumara và các Vị Cộng sự của Ngài trong Hội đồng Huyền linh ở Shamballa, thoát khỏi sự áp đặt của dục vọng vũ trụ (cosmic desire) vốn biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta như là ý chí tinh thần. Đối với bạn, đây sẽ là một ý tưởng lôi cuốn sự chú ý. Tuy thế, hiển nhiên là tôi chỉ nói ít về đề tài này. (CTNM, 405
+
+ Chuyển hóa nghiệp: Bài viết tổng hợp kiến thức chuyển hóa nghiệp quả
+ 42 Thủ Nhã Phải Được Chân Truyền:
Vào ngày 24 tháng 5, Hòa Thượng khai thị rằng: Bất luận tu pháp môn nào quý vị cũng không được khinh cử vọng động, không được khinh suất hay tu nửa vời, nhất là đối với người hành trì 42 Thủ Nhãn thì càng phải kính trọng Pháp-bảo của mình. Vì bởi 42 Thủ Nhãn là pháp môn đưa quý vị đến minh tâm kiến tánh, liễu thoát sanh tử. Đừng niệm chú để đuổi một con muỗi đang đốt, đừng có dùng thủ ấn để đối phó với một người la rầy mình. Làm như vậy thì giống như ném Pháp-bảo của mình vào sọt rác, thật là uống phí! Nếu quý vị không kính trọng Pháp tức là quý vị không kính trọng Phật, và cũng chính là không kính trọng Tăng. Kẻ không kính trọng Tam Bảo, bất luận tu pháp môn nào cũng đều không thành tựu đặng. Thật ra, nếu quý vị thường phô trương cho người hoặc hay thí nghiệm thử xem pháp có linh không thì rất chóng pháp sẽ không còn linh ứng nữa. Sao vậy? Bởi vì các vị Thiện Thần Hộ Pháp không còn theo chúng ta nữa. Cho nên người học 42 Thủ Nhãn không được tùy tiện phô trương. Nếu không phải là những trường hợp sanh tử thì tuyệt đối không bao giờ được khinh xuất vọng động, nhất là khi quý vị chưa học thành thạo pháp môn này.
Thông báo được công bố ngày 16 tháng 8 năm 2006 của Văn Phòng Quản Trị Vạn Phật Thánh Thành: Bất cứ khi nào Hòa thượng Tuyên Hóa truyền pháp 42 Thủ Nhãn, Ngài luôn nhấn mạnh “Bất cứ ai truyền pháp này mà không có sự chấp thuận của tôi sẽ gặp ma chướng.” (1). Trước khi nhập Niết bàn, Ngài đã đặc biệt huấn thị vị trụ trì của Vạn Phật Thánh Thành (Pháp sư Hằng Luật) như sau: “Đừng để pháp môn Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn này diệt tận. Hãy tiếp tục truyền lại cho các thế hệ sau. Việc truyền pháp này phải được tiến hành trước tượng Bồ Tát Quan Thế Âm ngàn tay ngàn mắt (ở Phật Điện chính của Vạn Phật Thánh Thành).” (2) (Nguồn: Tức sự minh lý)
+ Hòa Thượng cũng khai thị phải Tu Tập Đúng: Bất luận tu pháp môn nào quý vị cũng không được khinh cử vọng động, không được khinh suất hay tu nửa vời, nhất là đối với người hành trì 42 Thủ Nhãn thì càng phải kính trọng Pháp-bảo của mình. Vì bởi 42 Thủ Nhãn là pháp môn đưa quý vị đến minh tâm kiến tánh, liễu thoát sanh tử. Đừng niệm chú để đuổi một con muỗi đang đốt, đừng có dùng thủ ấn để đối phó với một người la rầy mình. Làm như vậy thì giống như ném Pháp-bảo của mình vào sọt rác, thật là uống phí! Nếu quý vị không kính trọng Pháp tức là quý vị không kính trọng Phật, và cũng chính là không kính trọng Tăng. Kẻ không kính trọng Tam Bảo, bất luận tu pháp môn nào cũng đều không thành tựu đặng. Thật ra, nếu quý vị thường phô trương cho người hoặc hay thí nghiệm thử xem pháp có linh không thì rất chóng pháp sẽ không còn linh ứng nữa. Sao vậy? Bởi vì các vị Thiện Thần Hộ Pháp không còn theo chúng ta nữa. Cho nên người học 42 Thủ Nhãn không được tùy tiện phô trương. Nếu không phải là những trường hợp sanh tử thì tuyệt đối không bao giờ được khinh xuất vọng động, nhất là khi quý vị chưa học thành thạo pháp môn này (Nguồn: Hòa Thượng khai thị rằng )
+ Cảnh báo đáng sợ về PHÀM PHU tự ý tu 42 Thủ nhãn: 42 Thủ nhãn ấn pháp còn gọi là Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn trong kinh Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. Hòa thượng Tuyên Hóa, là hóa thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, dạy: “Trong tất cả các pháp, pháp 42 thủ nhãn là pháp bí mật nhất trong các pháp bí mật; Thâm sâu nhất trong các pháp thâm sâu, vi diệu nhất trong các pháp vi diệu. Pháp này là bất khả tư nghì và không suy lường được”. Nếu bạn đang có ý định tu tập thì bài viết này là đành cho bạn đấy!
Chính bởi sự vô cùng trọng yếu của pháp môn này, nên Hòa Thượng đặc biệt nhấn mạnh về thọ pháp và cách tu tập. Bởi nếu không phải hàng Thượng căn, giới hạnh cực tinh nghiêm, mà ngã mạn tu pháp này, tất sẽ bị nhập ma. Bất cứ khi nào Hòa thượng Tuyên Hóa truyền pháp 42 Thủ Nhãn Ấn Pháp, Ngài luôn nhấn mạnh: “Bất cứ ai truyền pháp này mà không có sự chấp thuận của tôi sẽ gặp ma chướng.” (Nguồn: Cảnh báo đáng sợ tu ứng dụng 42 Thủ Nhãn)
Niệm Phật niệm pháp niệm thánh tăng
Thập phương tịnh độ bảo liên đăng
Hoa khai Phật hiện viên giác quả
Nhậm vận lai vãng sát na trung.
Phiên dịch:
Niệm Phật niệm pháp niệm thánh tăng
Sen như đèn báu tịnh mười phương
Trên hoa Phật hiện viên thành đạo
Đến đi niệm niệm ứng thời cơ. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Bảo kính thủ. 42 Thủ nhãn Ấn pháp Chú đại Bi
Đại viên kính trí cùng pháp nguyên
Chiếu yêu kính lý tróc quái tiên
Diêm vương kính trung ác nghiệp hiện
Pháp bảo kính thủ chủng trí viên
Phiên dịch
Đại trí viên dung tận cội nguồn
Tróc nã yêu tinh phản chiếu hình
Giữa kính Diêm Vương ác nghiệp hiện
Pháp bảo kính thủ chủng trí viên. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Vi diệu nan tư tử liên hoa
Bồ đề tốc chứng giải thoát pháp
Diện kiến thập phương Phật đà gia
Tòng kim bất lạc lục đạo gia.
Phiên dịch
Vi diệu đóa sen tím khó lường
Mau chóng chứng giải thoát Bồ đề
Thấy được đất Phật khắp mười phương
Sáu cõi thời thời chẳng lạc về (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Thiên thượng chúng bảo diệu nghiêm trang
Điạ trung phục tạng hóa ngu manh
Hải lý long cung kỳ trân hiện
Bảo khiếp thủ nhãn phóng hào quang.
Phiên dịch
Thiên giới trang nghiêm lắm ngọc ngà
Dấu trong lòng đất hóa thô sơ
Cung điện vua rồng trân bảo hiện
Hộp ngọc hào quang tỏa sáng lòa. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Vị đạo cầu tiên nguyện trường sinh
Thọ dữ thiên tề bất giảm tăng
Toại tâm như ý thông biến hóa
Ngũ sắc tường vân túc hạ đăng.
Phiên dịch
Vì đạo cầu tiên nguyện trường sinh
Chẳng hề tăng giảm sánh trời xanh
Biến hóa rộng sâu như ý nguyện
Năm sắc mây lành quyện dưới chân. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Thanh tịnh vô nhiễm Đại Phạm Thiên
Thọ thắng diệu lạc phúc báo toàn
Đản năng trì thử quân trì thủ
Thân thân sinh bỉ thọ như sơn.
Phiên dịch
Thanh tịnh vô nhiễm Đại Phạm Thiên
Thọ phúc báo thù thắng vẹn toàn
Chuyên cần trì pháp quân trì thủ
Thọ kiếp lâu dài như núi non. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Chư thiên khoái lạc thắng nhân gian
Phát nguyện vãng sinh đa trở nan
Đản tự thủ trì hồng liên hoa
Đàn chỉ vãng sinh phi đẳng gián.
Phiên dịch
Vui thú cõi trời hơn thế gian
Phát nguyện vãng sinh bao khó khăn
Hồng liên hoa thủ siêng tu tập
Búng tay tức khắc đã về nhà. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Nhân Quý chinh liêu dũng vô địch
Nê hà cứu giá lập công kỳ
Cao ly đầu hàng triều thánh đế
Tha phương nghịch tặc tuyệt tông tích.
Phiên dịch
Viễn chinh Nhân Quý bậc anh hùng
Giúp nước cứu vua lập đại công
Cao ly đầu hàng triều thánh đế
Nghịch tặc phương nào lưu dấu chân. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Pháp âm hưởng triệt chấn chư thiên
Nhất thiết thiện thần y triệu lệnh
Tứ phương kết giới thiên biến hóa
Long vương hộ vệ tại hậu tiền.
Phiên dịch
Pháp âm chấn động khắp chư thiên
Tất cả thần nhân y lệnh chầu
Phân định bốn phương ngàn biến hóa
Vua rồng bảo vệ trước và sau. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Niệm tư tại tư vọng quy chân
Thập phương chư Phật thụ thủ thân
Tốc chứng tam bối cửu phẩm địa
Ma ha diệu pháp thắng linh văn.
Phiên dịch
Tâm thường niệm Phật vọng hóa chân
Tay Phật mười phương tự trao truyền
Chín phẩm ba tầng mau chứng được
Ma ha diệu pháp bản kinh huyền. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Phạm âm liệu lượng biến thái không
Khải lung chấn quý cảnh ngu mông
Huyền diệu biến hóa bảo đạc thủ
Văn thanh ly khổ giác hoa tông.
Phiên dịch
Phạm âm réo rắt một trời không
Đui, điếc, ngu si được tỏ thông
Chuông báu diệu huyền muôn biến hóa
Nghe chuông thoát khổ ngộ hoa tông. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Khẩu nhã huyền hà biện tài hùng
Ngôn từ khảo diệu âm lượng hồng
Lý sự viên dung pháp tánh áo
Truyền Phật tâm ấn vạn thiện đồng.
Phiên dịch
Mở miệng thao thao sức biện tài
Tiếng lời vang vọng diệu thanh âm
Lý sự gồm thu trong pháp tánh
Muôn một chung đồng ấn Phật tâm. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Cấp Tu, Khoái Độ chư long vương
Quả Vãng, Pháp Đại các thiện tường
Quy y tam bảo hộ đạo trường
Hành trụ tọa ngọa vĩnh an khang.
Chú: cấp tu, pháp độ, quả vãng, pháp đại, giai thượng.
Phiên dịch
Cấp Tu, Khoái Độ, các vua rồng
Quả Vãng, Pháp Đại bậc hiền thần
Quy y tam bảo làm hộ pháp
Đi, đứng, ngồi, nằm thường an nhiên. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Đại từ đại bi cứu quần sinh
Đại hỷ đại xả ích hàm manh
Đại nguyện đại nhân bồ tát đạo
Đại hùng đại lực Phật quả thành.
Phiên dịch
Đại từ đại bi cứu người người
Đại hỷ đại xả ích chúng sinh
Đại nguyện đại nhân bồ tát đạo
Đại hùng đại lực Phật quả thành. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Nhất tâm cung kính thiên trung thiên
Chúng sinh ái niệm các chân hư
Chủng nhân kết quả cầu chư kỷ
Lễ thượng vãng lai đạo bất thiên.
Phiên dịch
Một lòng cung kính Đức Như Lai*
Ái dục chúng sinh chuỗi vọng hư
Ta chính là nhân sinh kết quả
Đến đi cung thỉnh đạo như như. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Túc thực đức bản chủng thắng nhân
Chư Phật Bồ tát quyến thuộc thân
Giác hải trừng thanh tâm nguyệt hiện
Đại viên kính trí cổ kim minh.
Phiên dịch
Xưa trồng cội đức hạt thiện lành
Vào nhà Bồ tát, Phật thọ sinh
Giác như trăng hiện trên dòng biếc
Trí lớn gương tròn soi cổ kim. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Thế thế sinh sinh pháp vương gia
Cung điện lâu các diệu liên hoa
Bất thọ thai tạng thân thanh tịnh
Tín giải hành chứng ma ha tát.
Phiên dịch
Kiếp kiếp thọ sinh nhà pháp vương
Cung điện hoa sen thơm ngát hương
Không thọ thai sinh, thân thanh thoát
Tin hiểu tu chứng đạo Bồ tát. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Bảo kinh thủ. 42 Thủ nhãn Ấn pháp Chú đại Bi
Đa văn đệ nhất thuộc A Nan
Quảng học thiện ký Khổng Nhan Uyên
Độc tụng đại thừa thâm bát nhã
Trí tuệ thao thao như dũng tuyền.
Phiên dịch
Nghe nhiều bậc nhất chính A Nan
Học rộng nhớ hay Khổng Nhan Uyên
Đọc tụng đại thừa sâu bát nhã
Như dòng suối cuộn trí mông mênh. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Hóa Phật đảnh thượng pháp tối kỳ
Phổ cứu quần sinh xuất hãm ni
Công viên quả mãn siêu tam giới
Tức hoạch giác giả thọ thánh ký.
Phiên dịch
Hóa Phật đảnh thượng pháp diệu kỳ
Cứu độ quần sinh thoát bủa vây
Công quả viên thành qua ba cõi
Bồ đề thọ ký đắc thánh vị. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Viên phố quả qua đào lý tân
Hướng vinh chi diệp thậm tiển minh
Ngũ cốc phong thu thương doanh túc
Bách bàn như ý khánh thăng bình.
Phiên dịch
Đào lý mướp dưa trổ vườn rau
Cành tươi đơm nhánh lá non xanh
Bao thóc chứa đầy năm giống lúa
Trăm điều như ý cảnh thanh bình. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Cơ khát hữu tình vọng thanh lương
Cô mộc trọng sinh phóng dị quang
Phổ khánh từ bi tham tạo hóa
Cam lộ thiên lệ tế thập phương.
Phiên dịch
Chúng sinh đói khát vọng cầu an
Cây khô xanh lá tỏa hào quang
Đức hạnh đại bi muôn biến hóa
Cam lồ không dứt trải mười phương. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
Thủ nhãn biến thân diệu vô biên
Hàng phục chúng ma trấn tam thiên
Khảo tà quy chánh tu thiện pháp
Ma ha bát nhã nan ngôn tuyên.
Phiên dịch
Biến hình tay mắt chẳng tận cùng
Cõi nước ba ngàn an chúng ma
Khảo nghiệm chánh tà tu thiện pháp
Dùng lời há nói được ma ha. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Mười Pháp môn vi diệu của Chú Đại Bi
Câu 7. Án
Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.
Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.
Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.
1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.
2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.
3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.
4. Thứ tư là “Trí”: Là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não.
- Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất.
- Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật.
5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.
6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.
7. Thứ bảy là “Giáo”: Nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.
Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.
8. Thứ tám là “Lý”: Nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.
9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì vị lai quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh.
10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.
Như vậy từ chữ Án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn. (Nguồn: Hòa Thượng Tuyên Hóa Giảng Chú Đại Bi)
+ Pháp thắng nghĩa:
Đức Phật muốn xiễn dương một chân lý mới mà các vị A la hán chưa thấu suốt. Thắng nghĩa còn được hiễu là liễu nghĩa. Dựa theo Thành Duy Thức luận, tất cả lời Phật dạy đều là thắng nghĩa, tuy nhiên trong các thắng nghĩa cũng có cao có thấp và được chia ra làm 4 loại :
1) Thế gian thắng nghĩa là phân tích ra 5 uẩn, 6 nhập, 12 xứ, 18 giới, 7 đại…
2) Đạo lý thắng nghĩa dạy về Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo).
3) Chứng đắc thắng nghĩa dạy về Nhị Không Chân Như nghĩa là phá trừ chấp ngã chấp pháp mà chứng được chân như.
4) Thắng nghĩa thắng nghĩa dạy về Nhất chân pháp giới tức là Đệ nhất nghĩa đế mà Đức Phật đang chỉ dạy trong đoạn kinh này. (Nguồn: Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác)
+ Hàng phục ma oán:
Khi trong tâm luôn luôn sinh khởi xung khí và bất bình thì gọi là ma. Khi ấy họ thường phê phán mọi điều. Họ nói “Chư Phật thường làm những việc sai trái, cho đến hành Bồ tát, A la hán, chư Thiên, Diêm Vương cũng đều như thế”. Họ phản đối kịch liệt và hằn học đối với tất cả mọi điều. “Tất cả đều là tà vạy”. Họ giống như kẻ cuồng si, chẳng để ý gì đến pháp luật nữa. Họ luôn xung khắc với toàn cả thế gian. Trong nhân gian gọi loại người này là điên cuồng. Trong hàng quỷ thần thì hạng người này được gọi là Ma. Nộ khí của loài ma oán này thường xôn g khắp cõi Trời. Nó thường giận dữ: Ai cũng đều quá vô lễ với ta!”. Hoặc nó nói: “Phật hả? Ta sẽ đánh bại ngay. Bồ tát hay A la hán ta cũng hạ gục luôn. Còn loài người, ta sẽ ăn thịt hết. Ma quỷ thì ta sẽ chà nát dưới gót chân. Ta sẽ xé nát thân chúng ra cho đến chết!” Oán khí loại ma này thật ghê rợn. (Xem: HT Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi câu 68 - Hành giả trì tụng Giả kiết ra a tất đà dạ và dùng Ấn Pháp Kim cang Bạt chiết la. Kim cang luân này có hình tròn nhưng có khác so với Kim cang luân khác. Câu chú này còn có nghĩa là “Hàng phục oán ma”, bất luận loại Ma nào)
+ "Hàng phục ma oán" là tướng thứ năm. CON ĐƯỜNG THÀNH PHẬT THÌ CŨNG CHẲNG DỄ DÀNG NHƯ THẾ, QUÝ VỊ PHẢI CHỊU ĐƯỢC KHẢO NGHIỆM, MA OÁN LÀ KHẢO NGHIỆM, PHẢI CHỊU ĐỰNG ĐƯỢC, NHIỀU NỖI VÙI DẬP ĐỂ DIỆT HẾT CÁC TẬP KHÍ PHIỀN NÃO TRONG TÂM QUÝ VỊ THÌ QUÝ VỊ MỚI CÓ THỂ THÀNH TỰU. Ma oán cũng là thị hiện, đã thành Phật rồi, lấy đâu ra ma, lấy đâu ra oán? Oán là oán thân trái chủ, Ma là các thứ thử thách, đều chẳng còn nữa; nhưng phải thị hiện như vậy, nhằm giáo hóa những bậc đại đức tu học: Nếu đi theo con đường thành Phật thì cũng chẳng dễ dàng như thế, quý vị phải chịu được khảo nghiệm. Ma oán là khảo nghiệm, phải chịu đựng được. Nhiều nỗi vùi dập để diệt hết các tập khí phiền não trong tâm quý vị thì quý vị mới có thể thành tựu, thuần tịnh, thuần thiện, lúc ấy mới có thể thành tựu. Do vậy, Bồ Tát phải tu sáu Ba La Mật, thứ nhất là buông xuống tâm tham, keo kiệt, tham lam, dùng gì? Dùng bố thí để buông bỏ keo kiệt, tham lam. Dùng trì giới để buông ác nghiệp xuống, chẳng còn làm ác nữa. Dùng nhẫn nhục và tinh tấn để buông giải đãi xuống. Dùng Thiền Định để buông xuống tán loạn. Dùng trí huệ để buông xuống ngu si. Những thứ ấy đều là ma oán, thật sự có thể buông xuống. Quý vị thấy tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, trong kinh Kim Cang chỉ nhắc tới bằng một câu, nhưng câu chuyện ấy được kể chi tiết trong kinh Đại Niết Bàn, tức câu chuyện vua Ca Lợi cắt chặt thân thể [Nhẫn Nhục tiên nhân]. Khi Bồ Tát đang tu Nhẫn Nhục Ba La Mật, vua Ca Lợi thí nghiệm, khảo đảo xem Bồ Tát có thể nhẫn hay không? Được rồi! Lăng trì xử tử, chẳng cho ông ta chết tử tế, mà xẻo từng mảnh thịt, xẻo đến chết mới thôi. Hỏi ông ta có thể nhẫn hay không? Có oán hận hay chăng? Không oán hận, đến chết vẫn không oán hận, bảo vua Ca Lợi: "Trong tương lai ta thành Phật, người thứ nhất ta độ là nhà vua". Không oán hận, chỉ có cảm ân, cảm ân gì? Vượt qua lần khảo nghiệm ấy, đã tốt nghiệp, Nhẫn Nhục Ba La Mật đã thành công; vì thế, sớm thành Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật vốn là vị sẽ thành Phật sau Di Lặc Bồ Tát, nhưng do công đức ngần ấy, công đức thù thắng khôn sánh, vua Ca Lợi đã ban cho tiên nhân cơ hội này, Ngài có thể nhẫn chịu, tâm chẳng có mảy may oán hận, nên thành Phật trước. Ở đây, Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện, thị hiện thành Phật, chuyển pháp luân. Người đầu tiên chứng quả A La Hán là tôn giả Kiều Trần Như, vị này đời trước là vua Ca Lợi, Thích Ca Mâu Ni Phật là Nhẫn Nhục tiên nhân. Nói sao làm vậy, khi thành Phật đích xác độ ông ta đầu tiên. Chúng ta phải học tập điều này! Nếu đôi chút khó khăn, vất vả, thử thách mà chẳng chịu được, làm sao quý vị có thể thành Phật? Thứ gì quý vị cũng đều phải nhẫn nại chịu đựng thì mới có thể thành tựu..........
Ở đây chúng tôi (PS Tịnh Không) có cúng bài vị của ma vương, bài vị ma vương Ba Tuần, ông ta đã từng đến tìm tôi, chất vấn tôi không thông báo ông ta, vì sao tùy ý xâm phạm đạo tràng của ông ta. Tôi nói, tôi không xâm phạm. Sau này đột nhiên tôi nghĩ đến, ngày nay internet, ti vi là đạo tràng của ông ta, chúng ta cũng có 1 cái ti vi, cũng có internet, đây là xâm phạm đạo tràng của ông ta. Thực là ma dùng phương pháp này, dạy hư lòng người trên toàn thế giới rồi, đây là ma vương lộng quyền.
Ở trong Phật pháp, tiểu thừa có hàng phục ma, 8 tướng thành đạo có hàng phục ma. Đại thừa không có, đại thừa mới là thật sự hiểu thấu triệt, chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Phật với ma là bình đẳng, chúng ta dùng một niệm tâm thanh tịnh, thì ma là Phật, ma đến hộ trì. Nếu tâm ta không thanh tịnh, thì Phật biến thành ma, nó sẽ đến quấy nhiểu quí vị, đây là sự thật chân tướng. Cho nên là Phật, hay ma, không phải ở bên ngoài, bên ngoài không Phật không ma, vấn đề là ở trong tâm. Nếu quí vị dùng thanh tịnh bình đẳng giác để xem, ma cũng là Phật. Nếu như dùng ô nhiễm, dùng phân biệt, dùng chấp trước, thì Phật là ma, đây là điểm bất đồng giữa đại thừa và tiểu thừa.
Đại thừa thực sự cảnh tùy tâm chuyển, tiểu thừa không phải, hàng tiểu thừa còn bị cảnh giới chuyển....(Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không - TĐĐK - tập, 103)
+ Cúng Ma Ba Tuần: Ngày nay ma vương ba tuần nắm giữ quyền giáo hóa toàn cầu, tất cả nằm trong tay nó. Nó từng đến tìm tôi, nó nói với tôi, không được sự đồng ý của nó, xâm phạm đạo tràng của nó. Khi đó tôi không hiểu. Tôi nói tôi không hề xâm phạm đạo tràng của ông, nó cũng không biện giải gì. Sau này tôi mới hiểu ra, đạo tràng của nó là gì? ti vi, Internet, vệ tinh là đạo tràng của nó đấy. Đã lâu rồi chúng tôi dùng giảng kinh, chúng tôi cũng có một đài vệ tinh, cũng dùng mạng Internet, là xâm phạm đạo tràng của nó. Thì ra vệ tinh, ti vi, Internet đều nằm trong tay nó. Nó dạy điều gì? Nó dạy bạo lực, dạy sắc tình, dạy sát đạo dâm vọng. tôi mới hiểu ra. Trong tiểu thừa có hàng ma, trong đại thừa thì không có, Vì sao vậy? bởi ma cũng là Phật, nó cũng có Phật tánh, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ là nó cống cao ngạo mạn, tâm háo thắng rất mạnh. Tôi cũng lập một bài vị cho nó, xem nó như Bồ Tát vậy. Thật sự khi đó tôi không thương lượng với nó mà đã làm kênh ti vi, mạng Internet. Ngày nay ai dạy quí vị? ti vi dạy, Internet dạy, dạy con người hư hết. Nhân tố trong đây vô cùng phức tạp, không thể trách bất cứ ai, chúng ta cũng không thể trách ma ba tuần. (Nguồn: PS Tịnh Không)
+ Hát Chú Đại Bi hay:
Thiếu Nhi hát: Ca sỹ nhí bé Tú Anh
Ca sỹ hát hay: Ca sỹ Kim Linh hát
+ Chuyển Hóa: Là phương pháp mà nhờ đó cái thấp được thu hút bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hóa thành năng lượng, nhờ đó, năng lượng của 3 trung tâm thấp được chuyển lên 3 trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng), sau đó cho phép vị đệ tử điểm đạo tập trung tất cả năng lượng vào trong 3 trung tâm điều khiển ở trong đầu. Tiến trình chuyển hóa này diễn tiến dưới sự thôi thúc của kinh nghiệm sống hằng ngày, dưới hiệu quả thu hút của sự giao tiếp với linh hồn và như là kết quả tất yếu của chính sự tiến hóa. (CVĐĐ, 278–279)
+ Sự chuyển hóa có liên hệ đến biểu hiện của sức sống trên 3 cõi thấp của sự sinh hoạt và tiến hóa của nhân loại. (CVĐĐ, 280)
+ Chuyển hóa: Là thay đổi và tái định hướng năng lượng của thể trí, của các tình cảm và của bản chất xác thân sao cho chúng dùng để khai mở Chân Ngã chứ không chỉ khai mở các bản chất tâm thông và xác thể. (TTTĐTG, 79)
+ Phật giáo có đoạn trừ hoặc chuyển hóa:
- Tiểu thừa, thì nhờ đoạn trừ phiền nào. VD: Đoạn trừ tình dục mà được giải thoát.
- Đại thừa không đoạn trừ phiền não. VD: Không đoạn trừ tình dục, mà là chuyển hóa tình dục, cũng tức là lấy trí tuệ Bát Nhã để chuyển hóa tham, sân, si. tức là triển khai tâm địa rộng lớn để chuyển hóa sự chấp trước của tình dục. Bồ Tát thường giảng 8 chữ: “Đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”. Đó chính là nói về chuyển hóa tình dục, khuyên chúng ta không phải đoạn trừ cha mẹ mình, như vậy là khác với việc đoạn trừ tình cảm đối với cha mẹ (Nguồn)
+ Tooltip các mức chuyển hóa: Trong Tooltip có các loại chuyển hóa, cấp hay mức độ chuyển hóa vừa hay Trung chuyển hóa - Chuyển hóa cao hay Siêu chuyển hóa - Chuyển hóa dục vọng. Xem Tooltip: Siêu chuyển hóa và Trung chuyển hóa
+ Chuyển hóa cao (Siêu chuyển hóa, transfiguration): Là giai đoạn trên con đường Điểm đạo, khi trải qua cuộc điểm đạo 3, lúc đó, Phàm ngã được rọi chiếu (irradiated) bằng ánh sáng đầy đủ của linh hồn và ba hiện thể của Phàm ngã được hoàn toàn siêu việt; chúng trở thành chỉ là các hình hài mà qua đó, tình thương tinh thần có thể tuôn đổ vào cõi giới con người với nhiệm vụ sáng tạo cứu độ. (CVĐĐ, 278)
- Siêu chuyển hóa liên quan đến sự sống của Tam Thượng Thể Tinh thần (Spiritual Triad) trên ba mức độ đồng nhất hóa riêng của nó. (CVĐĐ, 280)
Xem nguồn: Chế ngự năng lượng tình dục - Đoạn trừ hay Chuyển hóa
+ Chuyển hóa vừa (trung chuyển hóa):
- Diễn trình tiến hóa xảy ra trên Con đường Đệ tử, trong đó, vị đệ tử biến đổi cái “sắc tướng” tam phân hạ đẳng của mình hay Phàm ngã và bắt đầu biểu lộ “tính chất” thiêng liêng. Thể xác của vị đệ tử trở nên tuân phục các mệnh lệnh của thể trí, thể này đang trở nên đáp ứng với thượng trí qua trung gian của linh hồn; bản chất tình cảm của vị đệ tử trở thành chỗ tiếp nhận thể bồ đề hay trực giác, để rồi, sau cuộc điểm đạo thứ ba, nó hoàn toàn biến mất, và hiện thể bồ đề trở thành vận cụ chính của cảm tính. Cuối cùng, thể trí cũng hoàn toàn được biến đổi bằng ấn tượng từ thượng trí khi thể này nỗ lực để thể hiện bản chất ý chí của Chân Thần. (CVĐĐ, 278)
- Việc trung chuyển hóa có liên quan bằng phương cách đặc biệt nhất với ba trạng thái của thể trí trên cõi trí: a) Hạ trí (lower mind) b) Con của trí tức linh hồn. c) Thượng trí. (CVĐĐ, 280)
+ Trừ dâm = Hàng phục - Đoạn trừ - Chuyển hóa Tâm dâm - Quán tưởng diệt trừ tâm dục - Tình dục - 7 quán Bất tịnh quán (Không trong sạch) khi: Cấu hợp - Sinh - Vị trí Bào Thai - Lớn bằng Máu mẹ - Sinh bẩn - Da bọc dơ bẩn, 9 lỗ tiết bẩn - Chết thân giữa nát; Hoặc Quán 9 quán: Thân lúc chết - Thâm bầm lạnh lẽo - Thân thối giữa - Thối tha máu mủ - Giòi bọ - Gân và Xương - Trơ Xương trắng - Tản mạn - Đốt thành tro (nguồn); Xem thêm: Quán Trừ Dâm dục
- Tịnh Độ: Cầu sanh Tịnh Độ không yêu cầu bạn đoạn căn - Phải phục đoạn, là hàng phục tâm dâm dục lại. Lấy đá đè cỏ, đè nó xuống không cho khởi dậy, không hiện hành, không khởi tác dụng, các vị niệm “A Di Đà Phật” thì nhất định vãng sanh. (Nguồn: Hàng phục dâm dục)
- Theo Tiểu thừa, thì nhờ đoạn trừ tình dục mà được giải thoát.
- Phật giáo Đại thừa không đoạn trừ phiền não, không đoạn trừ tình dục, mà là chuyển hóa tình dục, cũng tức là lấy trí tuệ Bát Nhã để chuyển hóa tham, sân, si. Bồ Tát thường giảng 8 chữ: “Đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”. Đó chính là nói về chuyển hóa tình dục, khuyên chúng ta không phải đoạn trừ cha mẹ mình, như vậy là khác với việc đoạn trừ tình cảm đối với cha mẹ. (Xem: Nguồn)
+ Đoạn trừ phiền não: Dùng hiểu biết và lý trí của mình, quyết loại bỏ các phiền não mang lại sự khổ đau cho mình và người. - Ví dụ: Đoạn trừ dâm dục - Tức quyết loại bỏ hành vi hay tư tưởng dâm dục ra khỏi đầu(Nguồn: Chế ngự năng lượng tình dục Đoạn trừ hay Chuyển hóa)
+ Đoạn trừ dâm dục: Muốn trở về nguồn cội, thì trước hết phải dứt sinh tử, sinh tử không dứt, thì không thể trở về nguồn cội. Muốn dứt sinh tử, trước hết phải dứt hẳn tâm dâm dục. Nếu không dứt hẳn tâm dâm dục thì, không những không cách chi dứt sinh tử, càng không cách chi ra khỏi tam giới. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói :
"Tâm dâm dục không trừ,
Không thể ra khỏi trần lao".
Không trừ tâm dâm, mà muốn thành tựu đạo nghiệp, thì giống như nấu cát làm cơm, người ngu nói mộng, đó là việc tuyệt đối không thể được! (Nguồn: Giảng Kinh Hoa Nghiêm - Tập 1 - HT Tuyên Hóa)
+ Khắc phục Tâm Dâm Dục: Câu Hỏi 26: Xin hỏi Hòa Thượng là chúng con nên dùng pháp phương tiện khống chế như thế nào để khắc phục tâm dâm dục, tâm sợ hãi, và tâm hoài nghi?
Đáp: Không ăn thịt, không ăn hành, không ăn tỏi và không ăn các thứ có chất cay nồng kích thích. Nên quán tưởng “người nam là cha ta, người nữ là mẹ ta.” Và một khi nghĩ như vậy thì tâm dâm dục sẽ không sanh khởi được đâu.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
Xem thêm: Phiền lão và khổ đau_PS Tịnh Không
Xem thêm: Giữ ngũ giới
+ Luật Nhân quả chính xác tuyệt đối: Thưa chư vị, chúng ta đang sống trong một vũ trụ không hề hỗn loạn, từ sự vận hành của các vì sao? Chuyển động của hành tinh cho đến từng nhịp tim, từng hơi thở, tất cả đều tuân theo quy luật nhân quả. Khoa học ngày nay gọi đó là các lực tự nhiên, lực hấp dẫn, lực điện từ, lực mạnh, lực yếu. Nhưng điều rất quan trọng là không có lực nào tự sinh ra và không có tác động nào xảy ra mà không có nguyên nhân. Nếu trong vũ trụ này nhân quả chỉ cần sai một chút thôi thì không có mặt trời, không có trái đất, không có sự sống và chắc chắn cũng không có con người ngồi đây để nghe pháp. Khoa học cũng chưa biết vì sao các định luật tự nhiên tồn tại, chưa trả lời được câu hỏi. Điều gì khiến vũ trụ phải tuân theo luật? Vì sao các hằng số lại tinh chỉnh chính xác đến mức chỉ cần lệch rất nhỏ? Vũ trụ đã không thể hình thành..... Mỗi khổ đau đều có nhân và đã có nhân thì có thể thay đổi bằng cách thay nhân. Đây chính là chỗ Phật giáo cực kỳ khoa học.
Đức Phật không dạy chúng ta cầu xin để thoát khổ. ... Người không hiểu nhân quả thì bị cuộc đời kéo đi. ... Khi ta hiểu rằng nhân quả là cấu trúc của vũ trụ, ta sẽ không oán trách cuộc đời, không đổ lỗi cho số phận và cũng không cầu xin một quyền lực bên ngoài. Ta chỉ lặng lẽ chuyển hóa chính mình, nghĩ lành hơn, nói lành hơn, sống có trách nhiệm hơn, tu hành tinh tấn hơn......
Ta có thể không tin lửa nóng, nhưng đưa tay vào lửa thì vẫn bị bỏng. Ta có thể không tin trọng lực, nhưng bước hục thì vẫn phải rơi và ta có thể không tin nhân quả, nhưng đã sống thì nhất định đang gieo nhân và đã gieo nhân thì nhất định sẽ gặt quả. ....
Nhân quả chính là sự vướng víu duyên thời không vượt ngoài sự tưởng tượng của khoa học. Nhân quả không phải là tuyến tính. .... Công đức và phước đức nó không phải xóa nghiệp mà là chuyển hóa tần số. Đây là điểm then chốt mà đa số hành giả hiểu sai. Các chủng tử nghiệp ác không bị xóa bằng ý niệm, thiền định hay lời cầu nguyện. Chúng chỉ có thể chuyển hóa khi gặp năng lượng thiện lành đủ mạnh. Phước đức và công đức chính là một trường năng lượng mới có tần số cao hơn, ổn định hơn để các chủng tử bất thiện hấp thụ hồi hướng qua đầu nhân bên kia và biến đổi tan rã, giống như băng không biến mất mà tan chảy khi gặp nhiệt. Thế nên hồi hướng là cơ chế hoàn tất nhân quả ở tầng sâu nhất. ....
Muốn hiểu sâu hơn, để hiểu ta phải biết rằng công đức không phải phước đức. Công đức là một dạng năng lượng thông minh của pháp giới. Phước đức nuôi thân, công đức nâng tâm.Phước đức chỉ nuôi thân, tạo điều kiện đời sống. Công đức có khả năng tác động thẳng vào nghiệp, thức duyên và kết quả. Công đức là năng lượng tế nhất mà một chúng sinh có thể tạo ra. Và công đức có ba tính chất kỳ diệu.
Tính chất thứ nhất, công đức là tần số năng lượng tế. Mỗi hành động thiện không gì cái tôi không mong trả ơn, tạo ra một sóng năng lượng thuần tịnh. Tần số này đi thẳng vào a lại gia thức, tức tàn thức. ở đó nó không bị tiêu hao, không biến mất, không bị nghiệp xấu nuốt mất. Công đức của một niệm vô ngã có thể mạnh hơn. Một năm bố thí vì danh, một đời tu tập mà còn ngã chấp, công đức vi tế giống như ánh sáng không bao giờ tắc.
Tính chất thứ hai, công đức nó mang thông tin về ý hướng của chủ thể. Đây là điều cực kỳ sâu. Công đức không mù. Công đức biết nó được tạo ra để làm gì. Công đức của lòng bi tự hướng tới chữa lành, bảo hộ phước báo. Công đức của trí tuệ tự hướng tới mở duyên khai thông nghiệp. Công đức của thiền định tự hướng tới chuyển hóa tâm và thức. Công đức của độ tha hướng tới hóa giải nghiệp cứng. Vì sao? Vì lúc tạo công đức, tâm ta đang ở trạng thái nào, thông tin đó khắc vào dòng năng lượng ấy. Đó gọi là nghiệp tịnh, nghiệp thiện có định hướng.
Tính chất thứ ba, công đức có khả năng tự động tìm duyên để thành quả. Đây là tinh túy tối hậu.
Pháp giới vận hành theo ba nguyên tắc. Tương ưng tần số cái gì giống nhau, hút nhau, hấp dẫn lẫn nhau. .... Sự gia trì từ chư Phật, chư Bồ Tát là gì? Đôi khi chư vị nên cầu nguyện nương nhờ chư Phật, chư Bồ Tát chuyển hóa công đức cứu giúp. Vì công đức của ta có khi quá phân tán, có khi không đủ tập trung để ứng vào điều mình cần. Có khi bị nghiệp xấu chặn, có khi cần hướng đúng mục đích. Chư Phật Bồ Tát không thêm năng lượng, không giảm năng lượng, chỉ tập trung hội tụ dẫn dòng công đức của ta. Giống như gom ánh sáng thành tia la sơ hoặc như chuyển hướng vòng suối về đúng ruộng cần tưới. Đó gọi là gia trì. Gia trì chính là sắp xếp lại năng lượng công đức của ta theo đúng nhân duyên quả. Thế nên khi công đức đủ pháp giới vận hành cho thành quả, không phải Phật muốn, không phải Bồ Tát thương, không phải may mắn mà vì đủ nhân, đủ duyên và vô ngã thì quả tự sinh. Giống như hạt giống gặp nước và ánh sáng sẽ tự nảy mầm, trứng gặp nhiệt thì sẽ tự nở. Gỗ gặp ma sát thì tự bốc lửa, không ai ra lệnh, không cần ý chí của thần linh, chỉ đơn giản là pháp giới phi vận hành đúng quy luật của nó. Do đó không có công đức, pháp giới không có nhiên liệu để vận hành sự chuyển hóa, không có hồi hướng, nhân quả không thể hoàn tất trọn vẹn.
Đây là lý do vì sao Phật không xóa nghiệp cho ai. Vì nếu xóa nghiệp, Phật sẽ phá định luật nền của vũ trụ. Ngài chỉ dạy cách tạo năng lượng đúng, cách hồi hướng đúng, cách hoàn tất nhân quả trong tỉnh thức. Giải thoát không phải là trốn luật. Giải thoát là hiểu luật đến tận cùng và vận hành nó bằng trí tuệ và từ bi. .... Ba pháp này không chỉ là một chuỗi sự kiện mà là cơ chế tự vận hành của vũ trụ là cách mà tánh không biểu lộ thành thế giới hình tướng bằng duyên khởi. Nghiệp chính là chuyển động của chu trình ấy. Không phải một bản án treo lơ lửng trên đầu chúng sinh mà là dòng dữ liệu sống do tâm tạo rồi được pháp giới phản hồi chính xác đến từng sát na. Đây là điều vi diệu. Nghiệp là duyên sinh nên nó không cố định, nhưng là nhân quả nên nó không thể trốn thoát. Nếu nghiệp là định mệnh bất động thì không bao giờ có Phật, không có thánh quả, không có giải thoát.
Phật pháp khẳng định không có nghiệp nào trổ quả ngoài nhân duyên. Phá dở nhân duyên là phá dở luân hồi. Hai con đường gặp nhau ở một điểm. ... Giải thoát không phải là trốn chạy nghiệp mà là hiểu rõ cơ chế của nó và chuyển hóa từ gốc.
Giống như thả một hòn đá xuống sông, nó có xu hướng chìm, nhưng dòng nước, gió hay vật cản có thể tạo ra biến số. Vì vậy, nghiệp là động lực, không phải bản án. Duyên chính là trường lực của vũ trụ phản hồi tâm thức. Một nhân dù mạnh thế nào cũng không thể trổ quả nếu duyên không cho phép. .... Công đức là năng lượng duy nhất có khả năng bẻ cong nghiệp. Ở tầng sâu nhất của vận hành nhân duyên quả. công đức không phải là phần thưởng mà là năng lượng kỳ diệu giúp giảm sát xuất nghiệp xấu trổ quả, tăng khả năng nghiệp lành xuất hiện và đặc biệt quan trọng chuyển hóa hoàn cảnh tương lai mà không làm mất luật nhân quả. Nhưng không có công đức, pháp giới không có nguyên liệu để điều chỉnh. Đây là điều người đời hay hiểu sai.
Nghiệp có thể can thiệp nhưng không thể mua chuộc. Hành giả thay đổi nghiệp theo ba cách.
Đổi nhân mới ngay trong hiện tại. Điều này là quan trọng nhất.
Tạo công đức để pháp giới có năng lượng điều chỉnh. Giống như thêm lực để đổi quỷ đạo.
Tu trí tuệ để giảm lực tác động của quả.
Người trí trải quả nhân không sục rổ, nhưng không ai - kể cả Phật có thể xóa nghiệp như xóa dữ liệu. ... Nghiệp là chương trình đào tạo của vũ trụ dành cho chúng sinh. Chừng nào bài học chưa xong, ta còn quay lại. Khi học xong, nghiệp tự kết thúc như một khóa học hoàn tất, ta đạt giải thoát.
[Nguồn Clip Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối - Xem: Bí mật sự vận hành công bằng chính xác của Nhân Quả_Đại Lai Lạt Ma]
* Xem bản lời giảng viết lời: Bí mật sự vận hành công bằng chính xác của Nhân Quả
Tổng hợp Quy luật nhân quả vận hành: [Tooltip: Nhân quả]
+ Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối: Xem Clip 49.02 phút: Bí mật sự vận hành công bằng chính xác của Nhân Quả_Đại Lai Lạt Ma] và Bản viết lại lời giảng: Bí mật sự vận hành công bằng chính xác của Nhân Quả;
+ Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối:
+ Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối:
+ Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối:
+ Nhân quả vận hành chính xác tuyệt đối:
+ Phật pháp cao sâu rất nhiệm mầu - Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu:
- Chúng ta có đại nhân duyên lành mới được sanh vào thời được tu học theo Phật pháp vi riệu nhiệm mầu ....
- Thế giới chúng sinh tương tục vô thường: Theo Phật pháp, Vũ trụ vận hành bằng luật duyên khởi, không có đấng sáng tạo, không có đấng toàn năng, không có đấng tạo hóa tuyệt đối. Khoa học nói về Tánh không lượng tử rất gần với Tánh không của nhà Phật .....
* Nguồn Clip: Chư vị đừng bỏ lỡ Đại Phước Duyên mà mình đang có.
* Bản chép lời: Xem tại đây
+ Nhân quả: Phật nói với Ðịa Tạng Bồ Tát, ‘Hết thảy chúng sanh chưa được giải thoát thì tánh thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả; làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh, luân chuyển trong Năm Ðường, chưa từng ngưng nghỉ, trải qua trần kiếp, mê hoặc chướng nạn. (Trích: Kinh Địa Tạng tập 10- Pháp Sư Tịnh Không giảng).
+ Kamas - Nghiệp lực: Tức là "các lực cung cấp năng lượng/ energizing Forces" của mọi hình tướng (forms) mà con người đã trải qua trong ba cuộc tuần hoàn trước đây.(Thư của Chân Sư, 123)
+ Nghiệp lực chi phối số phận: Theo định luật hấp dẫn, "Ta không thể kiểm soát những gì sảy ra với mình, nhưng có thể kiểm soát cách ta phản ứng với nó và chọn học hỏi từ nó". Đức Phật dậy Nhân nào quả đấy. Trồng dưa được dưa - Trồng đậu được đậu. Ta gieo duyên nghiệp với ai, ta nhận lại quả từ đối tượng đó, cho lên trong kinh đức Phật dạy, không có duyên thì không thể gặp, ví như tiền kiếp đối mặt nhau một ngàn lần mới có được duyên một lần gặp mặt nhau trong kiếp này.
+ Tạo nghiệp luôn phải nhận quả báo: ... Phật nói kệ rằng, giả sử tạo nghiệp, trong trăm nghìn kiếp, nghiệp cũng không mất, đến khi nhân duyên, hòa hợp đầy đủ, thì người gây nghiệp, phải chịu quả báo. Nét mặt tươi vui, đó là cúng dàng, miệng không nói dối, đó là diệu hương, lòng không sân hận, đó là Tịnh Độ, ý không nóng nảy, đó là đạo tràng. Làm người học đạo, mà không biết nhân, suốt ngày bận bịu, ham đắm sắc trần, chỉ biết lấy nước, lau rửa mặt mình, mà không lấy thiện, gột rửa lòng mình, thôi làm mọi điều ác, đó là nhân Tịnh Độ. Dù trí hay ngu, điều cần trước nhất, là bỏ tham sân. (Nguồn: Kinh Mục Liên Sám Pháp)
+ Nhân Quả Nghiệp Báo - Ðức Phật dạy:
Có ba nhân căn để sự phát sanh mọi hành động (nghiệp): Tham, sân và si. Một hành động được làm bằng tâm tham, sân và si sẽ chín muồi bất cứ ở cảnh giới nào người ấy tái sanh vào; và bất cứ ở đâu hành động đó chín muồi, ở đó người ấy gặt quả (vipāka) của hành động đó, ở với nó trong đời nầy, trong đời sau và trong những vị lai.(Tăng Chi Bộ Kinh_đoạn 38)
+ Tin sâu Nhân Quả Nghiệp báo: Chịu thiệt là phước, Phật pháp dạy chúng ta làm như vậy (Tin sâu Nhân Quả), trong đó có đạo lý lớn. Nếu thấu triệt được đạo lý này, ít nhất phải mất hai ba mươi năm, đây là đại học vấn!. Nếu thật sự rõ ràng minh bạch, tự nhiên ta sẽ thực hành và làm được điều đó, như vậy đời sống của ta sẽ vô cùng an vui. Phải làm được mới có thể giúp người khác, mới có thể dạy bảo người khác, người ta mới tin tưởng. Thân thể mạnh khỏe, ta không bị sanh bệnh.... ( Trích- HT. Tịnh Không, Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa (VLT 11), tập 145.)
+ Nhân Quả với Tứ Đại: Tam tai là quả, tam độc là nhân. Thủy tai là quả, tham dục là nhân. Hỏa tai là quả, sân hận là nhân. Phong tai là quả, ngu si là nhân. Địa chấn là quả, ngạo mạn là nhân. Cần tu giới định huệ, tức diệt tham sân si. Tâm bình khí hóa, tai nạn tự tức. Tâm thương yêu chân thành, không tạp xen điều bất thiện, người người hành thiện, nhà nhà an vui, tự nhiên sẽ không khởi tam tai chư nạn. (Nguồn: PS Tịnh Không)
+ Gieo nhân phải nhận quả: Đức Phật dạy: Có người nghe tiếng Phật giữ Đạo và thực hành hạnh đại nhân từ, bèn cố ý đến mắng Phật. Phật làm thinh, chẳng đáp. Khi người kia mắng xong, Phật hỏi: "Ông lấy lễ đãi người, người kia không nhận; lễ ấy có về lại ông chăng?"; Đáp rằng: "Về lại!"
Phật bảo: "Nay ông mắng Ta nhưng Ta không nhận, ông tự đem họa về thân ông vậy - như vang ứng theo tiếng, như bóng hiện theo hình, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ làm điều ác!" (Nguồn: Kinh 42 Chương - HT T.Hóa)
Xem Clip: Nhân quả Bất không- Nghiệp quả bất hoại_HT Tịnh Không
Xem thêm: Nhân nào Quả đấy
Xem thêm: Kinh Nhân Quả ba Đời
Xem thêm: Nghiệp cất chứa ở Thức thứ tám
Xem thêm: Người tin sâu nhân quả biểu hiện
+ Thỉnh nguyện và đáp ứng (Invocation and evocation): Toàn bộ tiến trình thỉnh nguyện và đáp ứng được nối kết chặt chẽ với ý tưởng. Trạng thái thấp bao giờ cũng là yếu tố thỉnh nguyện, và điều này cấu thành một định luật không thể thay đổi nằm sau toàn bộ diễn trình tiến hóa. Tất nhiên đó là một tiến trình hỗ tương, nhưng theo thời gian và không gian, có thể nói một cách tổng quát rằng cái thấp kém bao giờ cũng thỉnh nguyện cái cao siêu và các yếu tố cao được gợi lên (evoked) lúc bấy giờ sẽ đáp ứng lại (respond) tùy theo mức độ cảm nhận và sức ép mãnh liệt mà yếu tố thỉnh nguyện đưa ra. Nhiều người không hiểu được điều này. Bạn không tác động tới tiến trình đáp ứng chút nào cả. Từ ngữ đó chỉ hàm ý việc đáp ứng với những gì đã cố gắng vươn lên mà thôi. Phần việc của trạng thái thấp hay nhóm thứ yếu là thỉnh nguyện (invocative), còn sự thành công của việc thực hành thỉnh nguyện (invocative rite) được gọi là đáp nguyện (evocation). Do đó, khi nào đời sống của bạn đặt căn bản vào sự thỉnh nguyện thì bấy giờ, sự đáp ứng của ý chí sẽ đến. Chỉ có sự thỉnh nguyện đích thực khi nào phàm ngã và linh hồn được dung hợp và tác động như là một đơn vị tập trung và phối hợp một cách có ý thức. (CVĐĐ, 35)
+ Ba Chu kỳ Biểu lộ Vượng suy trong Vũ trụ: Theo Định Luật Chu Kỳ và Tuần Hoàn: Tất cả vạn sự, vật đều có 3 chu kỳ Sinh - Sống - Chết.
+ Năng lượng biểu lộ - Ẩn tàng: ..... Tiếp theo đây, chúng ta học hỏi một điều là mọi hình thể đặc thù – mà ta gọi là cây cối, muông thú hay con người – đều đang được tái diễn đến vô tận, cứ hết nhô lên rồi lại chìm xuống [Xuất lộ Hiện Hình Khí rồi lại ẩn tàng]. Hạt giống tạo ra cây. Cây lại tạo ra hạt giống [Ở Người như Chứng trong người mẹ] để nảy sinh thành một cây khác, rồi cứ tiếp tục như thế, không bao giờ ngừng. Hạt nước rơi dọc theo triền núi để ra đại dương, bốc lên thành hơi nước, quay về lại với núi, rồi lại rơi dọc theo triền núi để ra đại dương. Bay lên rồi rơi xuống, chu trình này cứ tiếp diễn mãi như thế.....
Mọi sự sống, mọi sự tồn tại mà chúng ta có thể nhìn thấy, cảm nhận, nghe ra hay tưởng tượng ra cũng đều thế cả. Tất cả mọi điều nằm trong phạm vi kiến thức của chúng ta cũng đang diễn ra theo phương thức tương tự, giống như hơi thở vào ra trên cơ thể con người. Tất cả tạo vật đều tiến hành theo hình thức này, con sóng cứ nhô lên rồi lại rơi xuống, nhô lên rồi lại rơi xuống hoài hoài. Mỗi con sóng đều có một chỗ lõm, mỗi chỗ lõm đều có một con sóng.........
Còn có một sự kiện cần phải học hỏi nhiều hơn nữa về chu trình sinh diệt này: chu trình nhô lên rồi rơi xuống. Hạt giống phát sinh từ cây; nó không trở thành cái cây ngay, mà có một giai đoạn thụ động, hay đúng hơn là một giai đoạn hoạt động tế vi rất khó nhận ra. Hạt giống phải hoạt động một thời gian dưới lòng đất. Nó vỡ ra thành các mẫu nhỏ, thoái hóa đi, rồi từ trạng thái thoái hóa đó, sự sống hồi sinh. Thoạt kỳ thủy, vũ trụ phải hoạt động trong một thời gian trong hình thức nhỏ bé đó, hình thức tế vi vô hình mà chúng ta gọi là sự hỗn mang; rồi từ đó xuất sinh một hiện tượng mới. Toàn bộ giai đoạn hiện hình của vũ trụ – đi xuống hình thức tế vi hơn, duy trì trong hình thức đó một thời gian rồi xuất sinh trở lại – được gọi là kalpa, tức là kiếp hay chu kỳ, trong tiếng Phạn........
Trong tất cả TRÍ THÔNG MINH là Nhân của mọi Nhân, trong Phật pháp gọi là TRÍ HUỆ/ Tánh Phật/ Tánh Giác Thường hằng bất sanh diệt từ KHỞI THỦY. Đó là lý do vì sao kinh điển nói: “Chúng ta sống, di chuyển và tồn tại trong Ngài”. Trí thông minh bao trùm vũ trụ đó được các nhà thần học gọi là Thượng Đế ..... Chúng ta sinh ra từ Ngài, sống trong Ngài và quay về lại với Ngài ....... (Nguồn: Triết học Kinh Vệ Đà_Tr 192)
+ Biểu lộ Vượng suy Trong mỗi Chu kỳ Ở Thái dương hệ:
1- Theo 4 giai đoạn phát triển Chính: Thành Trụ Hoại Không - Sinh Lão Bệnh Tử - Xuân Hạ Thu Đông
2- Theo 12 giai đoạn - Ý nghĩa mở rộng theo Vòng trường sinh của Ngũ Hành gồm: Trường sinh - Mộc dục - Quan đới - Lâm quan - Đế vượng - Suy - bệnh - Tử - Mộ - Tuyệt - Thai - Dưỡng rời quay lại Trường sinh ...
+ Tuân Theo Định Luật: Từ nguyên tử, hạt bụi cho đến con người, hành tinh hay giải ngân hà đều tuận theo quy luật Sinh Vượng Mộ - Thành trụ Hoại Không của vũ trụ.
+ Tiến trình Sinh - Trụ - Dị - Diệt: Hãy lấy việc gọi điện thoại làm thí dụ: Sinh là khi chuông điện thoại reo, trụ là khi quý vị đang nói chuyện qua diện thoại, dị là khi sắp sửa chấm dứt cuộc điện đàm, diệt là khi cuộc nói chuyện đã xong. Đối với mọi thứ, bất luận là gì, đều có đủ bốn tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q. 3)
[Sanh/ Thành - Trụ - Hoại/ Dị - Diệt/ Không/ Vô thường:
11. Sanh = Thành: Vạn vật thì đều có sanh - có lão. “Sanh” chính là trước không có bây giờ lại có - là sanh.
12. Trụ. Là đình trụ một chỗ bất động nơi bổn vị của nó. Sau khi trụ qua rồi sẽ thành lão.
13. Lão. Phàm vật trải qua một thời gian sanh, trụ thì liền dần dần suy lão. Lão là biến hoại, biến dị, đó là theo định luật tuần hoàn: sanh trụ dị diệt.
14. Vô thường. Là hoại diệt, sanh trụ dị diệt cũng chính là thành trụ hoại không. Khi sanh tức là thành, khi trụ tức là đình lưu, khi lão là biến hoại/ Dị, vô thường là không/ Diệt. (Nguồn: Trăm Pháp minh môn luận_HT Tuyên Hóa)
+ Thế nào là quy luật chu kỳ thành, trụ, họai, không?
Trong thế giới nầy, một lần tăng một lần giảm được gọi là một kiếp.[72] Khi mạng sống của con người đạt đến đỉnh cao nhất là 84.000 năm, cứ 100 năm, chiều cao của con người sẽ giảm trung bình mỗi năm 1 inch, và mạng sống của con người giảm trung bình 1 tuổi, tiếp tục giảm như thế cho đến khi mạng sống con người chỉ còn 10 tuổi; rồi tiếp tục tăng lại cho đến khi 84.000 tuổi, đó được gọi là một kiếp. Một ngàn kiếp là một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp là một đại kiếp. Giai đoạn hình thành thế giới mất 20 tiểu kiếp. Giai đoạn trụ kéo dài 20 tiểu kiếp. Giai đoạn hoại 20 tiểu kiếp. Giai đoạn không 20 tiểu kiếp. Đó có nghĩa là tiến trình thành, trụ, họai, không. Hai mươi tiểu kiếp thành là 1 trung kiếp.
Hai mươi tiểu kiếp trụ là 1 trung kiếp. Hai mươi tiểu kiếp hoại là 1 trung kiếp. Hai mươi tiểu kiếp không là 1 trung kiếp. Thế là tất cả hai mươi tiểu kiếp của các tiến trình thành, trụ, họai, không tạo thành 4 trung kiếp. Gom lại 4 trung kiếp là 1 đại kiếp.
Đối với chánh báo thì trải qua các tiến trình sinh, lão, bệnh, tử. Con người cần 20 năm để sinh ra lớn lên, 20 năm để học tập trưởng thành, 20 năm bệnh và già yếu, 20 sau cùng họ tiến dần đến cái chết.
Có hai loại sinh tử: phần đoạn sinh tử– sự sống chết, sinh diệt của xác thân– và biến dịch sinh tử. Thuật ngữ phần đoạn sinh tử xuất phát từ thực tế là mỗi người đều có một thọ mạng riêng và mỗi người có một thân tướng khác nhau. Chẳng hạn, chiều cao của quý vị có thể là 5 feet[73] 6 inches, và chiều cao của tôi là 5 feet 9 inches, trong khi người khác thì cao 3 feet. Mọi người đều có một thân tướng khác nhau. Hàng phàm phu là đối tượng của phần đoạn sinh tử.
Các vị thuộc hàng Nhị thừa, Thanh văn, Duyên giác, đã chấm dứt được phần đoạn sinh tử, nhưng họ vẫn còn trong vòng biến dịch sinh sinh tử.
Thế nào là “biến dịch sinh sinh tử?” Có nghĩa là niệm này kế tiếp niệm khác sinh khởi mãi không dừng. Niệm niệm kế tiếp sinh khởi, niệm niệm kế tiếp hoại diệt.
Nhân của sinh tử chính là vô minh, duyên của sinh tử chính là nghiệp thức. Khi nhân – vô minh, và duyên –nghiệp thức nầy hòa hợp với nhau thì có sinh tử. Như Đức Phật dạy trong kinh nầy:
Nếu có thể xa lìa các duyên hòa hợp–sự hòa hợp của nhân vô minh và duyên nghiệp thức–và không hòa hợp– và sự kết hợp của bất kỳ các nhân duyên không hòa hợp – thì diệt trừ được các nhân sinh tử. Khi ấy quý vị thóat khỏi phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử.
Đó chính là tánh giác ngộ tròn đầy không sinh không diệt. Khi xa lìa sạch mọi nguyên nhân sinh tử thì quý vị đạt được quả niết-bàn vi diệu, tánh giác ngộ tròn đầy không sinh không diệt.
Chính là chân tâm bản giác thanh tịnh thường trú.
Đó chính là chân tâm, là bản tánh giác ngộ thường trú không sinh không diệt: nghĩa là Tự tánh (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q2)
- Trong mạng sống của con người, cũng có đủ bốn tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. Sự ra đời là sinh, giai đoạn sống nơi trần gian là trụ, bệnh tật là dị, và chết là diệt. Thế con người có trở thành hư vô sau một tiến trình sinh, trụ, dị, diệt không? Không. Sinh mạng trong đời sống tương lai cũng vẫn chi phối theo tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. Trong đời sống tương lai, môi trường thay đổi, nhưng vẫn có tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. Thế nên sinh, trụ, dị, diệt là một ý niệm rất quan trọng trong Phật pháp. Hầu như mọi vật đều có thể được dùng để minh hoạ cho nguyên lý nầy. Cái bàn nầy là một ví dụ khác. Khi những miếng gỗ nầy được xẻ ra, nó đã được dự tính dùng để làm nên cái bàn, đó gọi là sinh, khi đã làm thành cái bàn rồi gọi là trụ, nó sẽ chẳng luôn luôn tồn tại mãi như hiện giờ. Sau một thời gian dài sử dụng nó sẽ hư hoại từng phần, đó gọi là dị, một khi đã bị rời ra từng phần thì không thể dùng được nữa, nó sẽ bị đem đốt, đó là diệt.
- Thế giới cũng trải qua bốn tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. Thế giới trải qua một thời gian rất dài trong quá trình sinh. Phải qua một thời gian 20 tiểu kiếp cho tiến trình sinh thành thế giới. Giai đoạn trụ gồm 20 tiểu kiếp. Nó trải qua giai đoạn biến dịch trong 20 tiểu kiếp, và quá trình hoại diệt thành không trong 20 tiểu kiếp. Đó là tiến trình thành, trụ, hoại, không của thế giới, cũng tương tự như tiến trình sinh, trụ, dị, diệt. Một kiếp gồm bao nhiêu năm?
Một kiếp gồm 139.600 năm.[7] Một ngàn kiếp bằng một tiểu kiếp, Hai mươi tiểu kiếp bằng một trung kiếp. Bốn trung kiếp bằng một đại kiếp. Một tiến trình thành, trụ, hoại, không kéo dài trong một đại kiếp. Kiến thức, sự hiểu biết về lịch sử của mình chỉ dò lui được đến chừng vài ngàn năm– ngay cả không được một kiếp. Tầm hiểu biết của chúng ta rất nhỏ nhoi. Kiếp, cũng vậy, có đủ các tiến trình thành, trụ, hoại, không – sinh, trụ, dị, diệt.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
Xem: Tổng hợp về Chu kỳ
+ Sơ đồ tổng quát Sinh tử đời người:
+ Pháp 12 nhân duyên: Nguyên nhân có Thế giới chúng sinh tương tục và con người luân hồi theo chu kỳ Sinh - Tử mãi không dừng dứt....[Xem Tooltip: Vô minh duyên Hành ... nhập thai và Tooltip: Thập Nhị Nhân Duyên]
+ Các quy luật vũ trụ:
- Đạo Thuận theo: Người thuận theo Đất - Đất theo Trời - Trời theo Đạo - Đạo theo Tự nhiên.
- Đạo Thuận nghịch: Xét trong một Sự sống hay một Vật đốc lập thì khi phân Âm - Dương tuên theo quy luật Trời thuận - Đất nghịch với Trời.
Ví dụ: Người mẹ mang thai, phân thai nhi là nam hay Nữ mà sự phát triển trong Bào thai khác nhau. Khi hình thành Thân thể thì với Nam khởi phát tứ tri từ 2 Vai Tay trở xuống, con Nữ thì khởi phát từ 2 Chân trở nên. Hoặc Thai nhi là nam thì "Ngồi bên phải nhìn hướng Sống lưng người mẹ", nếu là Nữ thì "Ngồi bên trái nhìn hướng Bụng người mẹ". .....
I- Các giai đoạn từ Nhập thai đến Sanh rồi Tử vong - Theo Nghiệp báo với chu kỳ 10 năm một giái đoạn [Tổng thọ 100 tuổi]
+ Đầu thai tái sanh - Nghiệp là Thai tạng: Vô minh duyên Hành - Duyên Thức - Duyên Danh Sắc - Duyên Lục nhập - Duyên xúc .... => Linh hồn đầu thai tái sanh theo Nghiệp báo khi hội đủ nhân duyên chín muồi, trải qua 38 tuần phát triển lần lần mỗi tuần theo "Gió nghiệp chi phối" cho đến hoàn chỉnh Thân xác và Nội tạng trong Thai [Sự đầy đủ hay thiếu khuyết đều do Nghiệp chi phối], trải qua bao nóng lạnh khổ lão, đến ngày thoát thai - Sanh đẻ là một cửa ải đầy khó khăn đau đớn tột cùng của người mẹ và cả Thai nhi, nên nhân gian có câu "Chửa cửa mả", điều này cũng có lý lẽ rõ dàng và tất cả do cộng nghiệp mà ra. Trong Kinh Phật Thuyết Nhập Thai Tạng cũng nói ".... Nầy Nan Đà ! Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo những nghiệp ác và làm trụy thai người, do đó nên nay thai ấy tay chân ngang loạn chẳng lay chuyển được bèn chết trong bụng mẹ. Người mẹ nhơn đó mà chịu vô lượng thống khổ hoặc cũng phải chết.... Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo phước đầu chuyển mình chẳng tổn hại mẹ an ổn ra ngoài không các tai ách, lúc đẻ cũng khiến người mẹ rất đau khổ gần chết thai mới sanh ra được. ...... Nếu được Sanh ra đời, thì Sanh bảy ngày rồi, trong thân ấy có tám vạn hộ trùng ngang dọc ăn nuốt." Thân người được cấu tạo và hoạt động được đều do có sự sống siêu vi như thế ăn phá ... Trong Thân chứa đầy ô uế quả không khác gì "Thùng phân di động" .... [Xem Tooltip: Pháp ưu sinh và Tooltip: Cấu tạo xác thân Tứ đại]
+ Khởi một kiếp người - Cất tiếng khóc chào đời: Khi đủ duyên thoát thai và cất được tiếng khóc chào đời, Linh hồn chính thức trở thành một Sinh mệnh có sự sống đốc lập trong vũ trụ, có Số phận riêng và dần dần chịu sự chi phối của Nghiệp cá nhân ngày càng gia tăng ..... bao gồm có 10 giai đoạn phát triển từ Sanh đến Tử vong. Theo Kinh Nhập Thai Tạng, xét với Thọ mạng 100 năm có mười vị/ Giai đoạn:
01. Tối sơ là anh nhi, vị này nằm trong nôi.
02. Thứ hai gọi là đồng tử, làm trẻ nít chơi đùa.
03. Thứ ba gọi là thiếu niên thọ các dục lạc.
04. Thứ tư gọi là thiếu tráng dũng kiện đa lực.
05. Thứ năm gọi là thanh niên có trí đàm luận.
06. Thứ sáu gọi là thành tựu hay khéo tư lương giỏi làm kế sách.
07. Thứ bảy gọi là lần suy giỏi biết pháp thức.
08. Thứ tám gọi là hủ mại các việc suy nhược.
09. Thứ chín gọi là cực lão không còn làm gì được.
10. Thứ mười gọi là trăm tuổi, là đúng vị chết.:
II- Các giai đoạn tiến hóa theo Sự nghiệp đời người - Theo Minh triết:
01. Thân xác phát triển và hoại diệt qua các các giai đoạn lớn
a. Sanh [Từ đến 21 tuổi]: Thân xác phát triển hoàn chỉnh đúng y như thời điểm kiếp trước bỏ xác phàm [Chết => Nên biết, con người tu đạo thanh luyện Thân Tâm không bao giờ mất]. Giai đoạn tu học đạo làm người và tích lũy tri thức chuẩn bị bước vào đời.
b. Thành [Từ 22 đến 42 tuổi]: Thân xá
c. Trưởng [Từ 43 đến 63 tuổi]: Thân xá
d. Đại [Từ 64 đến khi chết]: Thân xá
[* LUÂN HỒI LÀ KHỔ ĐAU:... Nầy Nan Đà ! Thân ấy Sanh - Thành - Trưởng - Đại có nhiều bịnh hoạn, như là những bịnh đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, răng, cổ, họng, ngực, bụng, tay, chưn, hủi, cùi, điên cuồng, sưng thủng, ho suyễn, bịnh phong, hoàng nhiệt, đàm ấm, ngược bịnh, gân cốt đau nhức. .... Lại còn có 101 bịnh phong, 101 bịnh hoàng nhiệt, 101 bịnh đàm ấm, 101 bịnh tổng hợp, cộng là 404 bịnh từ nội thân phát sanh.....
Nầy Nan Đà ! Các chúng sanh còn có sự thống khổ lúc sống, như là bị chặt tay, chơn, đầu, móc mắt, thẻo tai, lắt mũi, ngục tù giam cầm gông xiềng đánh đập khảo tra, đói khát khổ sở, rét nóng mưa tuyết, muỗi mòng, kiến, rận, gió bụi, ác thú, độc trùng nhiều thứ bức não khổ sở vô lượng vô biên khó kể hết được_Kinh PT Nhập Thai Tạng]
III- Các giai đoạn tiến hóa đời người theo các loại chu kỳ khác nhau [Mỗi loại có mục đích ứng dụng riêng]:
01. Chu kỳ 01 năm: Một năm theo âm dương lịch có 12 tháng, chia ra 4 mùa, mỗi mùa 3 tháng [Hoặc 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng].
02. Chu kỳ 3 - 4 và 07 năm: Đây là chu kỳ khó học và suy lường, ứng dụng, nhưng nó lại hiện diện ở các Cảnh giới vũ trụ và có sự tương ứng, tương đồng nơi các Hình thể, bao gồm Thân Tâm con người ... Nghiên cứu được thì rất tuyệt vời.
03. Chu kỳ Thiên can 10 - 20 năm: Theo Vận trình đời người mỗi 10 năm, chia ra 5 năm đầu (Dương - Thiên Can quản) và 5 năm cuối (Âm - Địa chi quản). Đây là chu kỳ tiến hóa theo Âm Dương. Quy luật 01 âm 01 dương là Đạo => mỗi 2 năm có 01 năm Mệnh chung ngũ hành. Tương ứng 01 ngôi Sao chiếu Vận chu kỳ vận hành Vũ trụ trong Huyền Không.
04. Chu kỳ Địa chi 12 - 60 năm: Tương ứng chu kỳ vận hành trong Thái dương hệ của Mộc tinh, cũng tương ứng năng lượng các cung Hoàng đạo - Bị chi phối bới các Chòm sao xa săm..... Hệ thống Hành tinh trong Thái dương hệ cùng mặt Trời và mặt Trăng chi phối mọi sự sống trên Địa cầu theo chu kỳ mỗi năm và nhiều năm.
05. Chu kỳ 30 - 60 năm - Thổ tinh: 60 năm cũng tương ứng 2 chu kỳ của Thổ tinh. Mỗi 60 năm cũng tương ứng mỗi Nguyên trong Tam nguyên của Huyền không phi tinh ..... Nói chung Địa cầu chịu sự chi phối của nhiều loại năng lượng từ vũ trụ đến và chính Địa cầu - Với sự tương ứng, tương đồng vũ trụ của mình => Phóng phát ra nhiều năng lượng giúp duy trì phát triển các sự sống trên Địa cầu.
06. Chu kỳ 30 - 60 năm vòng Giáp tý: Minh triết nói rằng, Thời gian và Nghiệp quả là 2 từ đồng nghĩa. Vòng Giáp Tý giúp chúng ta Lập lá số sinh mệnh và theo đó có thể dự đoán Vận Mệnh mọi mặt đời người .... Rất tuyệt vời. [Xem Tooltip: Các Chu kỳ .....]
IV. Sự nghiệp đời người phát triển thành bại.
a. Khởi phát sự nghiệp: Sự hào hứng muốn chinh phục thử thách trong sự thiếu hiểu biết, có phần mù quáng ... với niềm đam mê khao khát phát triển tiền tài, giầu có, danh tiếng, uy quyền .... => Nêm mùi đau khổ do vấp ngã, có phần vỡ mộng, rễ thiếu tự tin do bị lắm ngang trái, chướng ngại, lừa giối .... cưỡng bức, bóc lột, tranh cướp công ..... => những bài học quan trọng đã được biết và nghi nhớ.l
b. Sự nghiệp thành thục: Giai đoạn đúc kết và ứng dụng kinh nghiệm phát triển sự nghiệp, không còn ham mạo hiểm, thử thách.
c. Sự nghiệp cực thịnh và về nghỉ: Giai đoạn sự nghiệp rút dần với vai trò Tư vấn hay Cố vấn.
V- Đời sống kiếp này: Số phận là có, do Nhân quả an bài - Có thể thay đổi qua tu hành như sách "Liễu Phàm Tứ Huấn". Theo đó Mệnh giầu nghèo sang hèn thọ yểu hay chân tay thiếu hụt, bệnh nạn ... đều do Nghiệp quả báo ứng. Luân hõi cõi Ta Bà này là cõi Sinh Tử khổ đau..... Xem Tooltip: Cõi ngũ trược ác thế nơi Thế giới và trong con người
Tài liệu trích dẫn chính:
- Kinh Đại Bảo Tích: Pháp Hội Phật Thuyết Nhập Thai Tạng
- Kinh điển Minh triết thiêng liêng: minhtrietmoi.org
+ Cấu Tạo Thể xác của Con Người với Tứ Đại và Ngũ Hành: ... Đức Phật dậy A Nan và Đại chúng: ... Trong thân ông tướng cứng là đất, tướng ướt là nước, hơi nóng là lửa, lay động là gió. Do bốn thứ ràng buộc nầy mà phân chia tâm giác ngộ sáng suốt vi diệu vắng lặng viên mãn trùm khắp của ông thành ra cái thấy nghe hay biết. Trước sau tạo thành năm lớp vẩn đục. Giảng giải:
Bây giờ Đức Phật giảng giải đến tứ đại. Trong thân ông tướng cứng là đất. Da thịt gân xương là yếu tố đất trong thân thể. Tướng ướt là nước. Nước miếng, nước mắt, máu, và các chất bài tiết là yếu tố nước. Hơi nóng là lửa. Thân nhiệt là thuộc về yếu tố lửa. Chức năng nầy giúp cho cơ thể luôn luôn duy trì được nhiệt độ điều hòa. Lay động là gió. Sự hô hấp lưu thông là thuộc về yếu tố gió. Do bốn mối ràng buộc nầy, bốn yếu tố kết hợp. Chúng hòa lẫn nhau. Yếu tố nầy kết hợp với yếu tố kia, và nó làm thành một thành phần độc lập. Trước khi quý vị biết đến nó, thì nó đã kết hợp với nhau và tạo thành một nhóm gọi là ‘khối lượng thân thể.’ Nên chân tánh của quý vị không có cách nào để hiển bày ra được. Thế nên nương trong cái chân mà cái hư vọng sinh khởi. Chân tâm thanh tịnh giác ngộ sáng suốt vi diệu viên mãn - Tánh Như Lai tạng, vốn thanh tịnh, là chân tánh bồ-đề, đã bị phân chia. Diệu giác minh tâm bị phân chia; ở mắt, thì thành tánh thấy. Chạy qua tai thì thành tánh nghe. Nên có câu kệ: Nguyên y nhất tinh minh - Phân thành lục hòa hợp.
Đến thân thì thành Xúc giác, đến tâm thì thành cái biết - Ý thức. Trước sau tạo thành năm lớp vẩn đục. Bốn yếu tố đất nước lửa gió tạo thành năm lớp vẩn đục, tức là ngũ trược ác thế.
Thế nào là vẩn đục? A-nan, ví như nước trong, vốn sẵn là thanh khiết. Lại như các thứ bụi đất tro cát, vốn là chất ngăn ngại. Hai thể chất ấy vốn đã như vậy, không hợp nhau được. Như có người thế gian lấy bụi đất kia ném vào nước trong, Trạng thái khuấy trộn đó gọi là vẩn đục. Năm lớp vẩn đục của ông cũng giống như vậy.
A-nan, ông thấy hư không khắp cả mười phương thế giới, mà chẳng thấy phân ra hư không và tánh thấy. (Tuy vậy) có hư không mà không có thực thể, có tánh thấy mà không có tánh biết. Hai bên [Thấy - Biết] đã đan dệt với nhau mà thành. Đây là lớp thứ nhất, gọi là ‘Kiếp trược.’
..... Thân ông hiện bám lấy tứ đại làm tự thể, nên cái thấy nghe hay biết bị ngăn ngại. Trở lại làm cho các thứ đất nước lửa gió thành ra có cái hay biết. Các thứ đó đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ hai gọi là Kiến trược.
Giảng giải: .... Sự giải thích về ngũ trược mà tôi có lần đã nói ở trước là hoàn toàn khác với ở đoạn nầy. Đoạn kinh trước là nói về ngũ trược trong phạm trù thế giới, còn ở đây ngũ trược được giải thích trong phạm trù thân thể của mình. Thực vậy, cái hỗn trược bên ngoài sở dĩ có là do ngũ trược bên trong. Vì vậy nên quý vị nên tịnh hoá các ngũ trược cụ thể hữu hình, thì các ngũ trược bên ngoài sẽ được tiêu trừ. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4 - Ch.IV)
+ Cấu tạo Sắc Thân - Xác thân do Tứ đại giả hợp mà làm thành:
Sắc pháp tuy có nhiều loại, mà tổng thể của sắc chính là thân thể chúng ta, gọi là sắc thân. Sao sắc thân lại là không? "Thật sự thân này có mà !"
Chư vị biết mặc đồ, ăn uống, ngủ nghỉ, sao chẳng biết không ? Nếu chư vị hiểu rõ sắc thân này được hình thành như thế nào thì chư vị sẽ hiểu rõ tánh không của nó. Vì vậy nên giảng về chân không tích pháp, cũng là pháp phân tích. Thân này là tổng tướng của sắc. Đất nước gió lửa là biệt tướng (tướng riêng) của sắc. Thân thể của chúng ta do đất nước gió lửa hợp thành. Xương cốt thịt thà chính là đất. Nước mắt, nước mũi, máu, tiểu tiện, mồ hôi, là nước. Thân thể được ấm áp là nhờ có lửa. Vận động hô hấp nhờ thân thể có gió. Bốn đại hòa hợp thì thân thể còn. Chúng phân tán thì thân thể mất. Đất trở về đất đá. Nước trở về nước. Gió trở về gió. Lửa trở về lửa. Mỗi đại đều trở về cội gốc, nên không thật có. Vì thế, mọi người chấp trước vào thân thể, tự cho là có, thật là sai lầm. Sao thân thể không phải là mình ? Thân thể không phải là mình. Mình là gì ? Có thể giữ gìn thân thể, có thể thấy, nghe, ngửi, biết, nhận thức bằng tri giác. Tri giác này cũng là mình. Thân thể là gì ? "Thân thể chính là mình, mình là thân thể".
Không thể cho rằng thân thể chính là mình được, vì thân thể chỉ giống như nhà ở. Chư vị không thể cho rằng nhà mình ở chính là mình. Chư vị gọi nhà ở chính là mình thì sợ rằng người ngoài cười cho. Nhưng nói thân thể chính là mình thì không ai cười cả. Sao không ai cười chư vị ? Vì ai cũng cho rằng thân thể chính là mình, tức là chấp nhà ở chính là mình. Thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, biết đều là Phật tánh. Phật tánh cũng chính là tự tánh của chư vị. Thân thể bất quá chỉ do nhân duyên hòa hợp. Nhân duyên ly biệt thì thân thể phân tán. Thế nên, chư vị đừng cho rằng thân thể chính là mình. Mình ở trong nhà, những việc bên ngoài không thể biết. Thế nên đừng chấp trước nhà ở chính là mình.
Bàn về sắc, chư vị hãy phân tích rõ, nó cũng là không. Do từ không mà biến thành sắc pháp. Đất nước gió lửa hợp thành thân thể mà có người lại nói rằng thượng đế tạo ra người. Dùng gì để tạo ra ? Cũng dùng đất nước gió lửa mà tạo thành. Chúng ta cũng có thể dùng một chút đất, nước, gió, lửa để tạo ra thân người. Ai ai cũng đều tạo ra người khác được. Con người do nhân duyên hòa hợp tạo thành. Nhân duyên biệt ly thì thân thể phân tán. Thế nên đừng gọi thân thể là mình. Sắc tức là không. Chư vị nếu hiểu rõ sắc tức là không thì không chấp trước thân thể là mình. Tất cả vật dụng thuộc về mình, mình đều bảo tồn, phụ trợ. Đó là làm nô lệ cho thân mình. Tâm của chư vị chính là tánh tri giác. Chư vị phải hiểu rõ thân thể là sắc pháp, là giả hợp, đừng nên chấp trước. Nếu không chấp trước thân thể tức là phá được sắc uẩn. Khi phá được sắc uẩn rồi thì nó biến thành không. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Cấu tạo thân xác tứ đại: ... (Nguồn: Kinh Tương Tích Dụ-Kinh A Hàm)
+ Thân Tứ đại: Thân người vốn có bốn bệnh:
1. Đất: đất thuộc về thân
2. Nước: nước thuộc về miệng
3. Lửa: lửa thuộc về mắt => lửa ít lạnh nhiều thì mắt mờ.
4. Gió: gió thuộc về tai
Gió tăng thì khí khởi lên, lửa tăng thì nhiệt khởi lên, nước tăng thì lạnh khởi lên, đất tăng thì lực mạnh lên. Vốn từ nơi 4 bệnh này, mà sinh ra bốn trăm bốn bệnh. (Nguồn: Kinh Phật Thuyết Y Kinh _Thích Đồng Tiến dịch )
+ Tánh Mạng: Ví như sinh năm Kỷ Hợi thì Kỷ là Tánh Thổ, Hợi là Mạng ... (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
+ Hình thành đặc tính Lá số cho một kiếp sống:
- Nghiệp quả: Là những việc nhất định sẽ xảy đến cho một người trong kiếp sống mà y không thể tránh khỏi. Nói vậy cũng đúng phần nào, nhưng đó chỉ là một khía cạnh của toàn vấn đề.
- Hình thành Thái dương hệ: Khi Đức Thái Dương Thượng Đế tạo lập thái dương hệ, Ngài thu hút vào trong phạm vi biểu hiện một số vật chất đủ dùng cho kế hoạch của Ngài, và các chất liệu thích hợp cho mục tiêu Ngài nhắm đến. Ngài không đặt tất cả những mục tiêu của Ngài vào chỉ thái dương hệ này. Ngài chỉ đặt một mục đích đặc biệt nào đó, nên nó cần một loại rung động đặc biệt và cần loại vật chất đã phân hóa nhất định. Phạm vi là “vòng giới hạn” thái dương hay của hệ thống, nó đặt giới hạn cho tất cả những gì xảy ra trong thái dương hệ, và cuộc biểu hiện nhị nguyên của chúng ta trong đó. Tất cả những gì trong vòng này đều rung động theo một nhịp điệu chủ yếu, tuân theo những qui luật nhất định, nhằm hoàn thành một mục tiêu đặc biệt và đạt một cứu cánh nhất định mà chỉ có Ngài mới hoàn toàn biết rõ. Tất cả cũng đều phục tùng những qui luật riêng, và chịu sự chế ngự của một nhịp điệu chính yếu nào đó, và có thể xem như bị chi phối bởi nghiệp quả của cuộc hiện hữu tuần hoàn thất phân đó, và bị thôi thúc bởi những nguyên nhân lâu đời, trước khi có vòng giới hạn. Vì thế mà thái dương hệ chúng ta được liên kết với hệ thống trước và hệ thống sẽ có sau này. Chúng ta là thành phần của một toàn thể vĩ đại hơn, đều chịu sự chi phối của định luật vũ trụ và cùng nhau thực hiện những mục tiêu nhất định.
- Hình thành Con người: Trên sao - Dưới vậy. Cũng như Thượng đế, một Chân nhân đã hình thành 3 thể để biểu hiện và đặt chúng trong vòng giới hạn với mục đích trước mắt là đưa vào thể nguyên nhân khả năng “hiểu biết các sự kiện cơ bản của đời sống bằng trí tuệ.” Mục tiêu của kiếp sống này là phát triển trí năng của môn sinh, là dạy cho y những sự kiện cụ thể và khoa học, mở mang thể trí của y, để dùng cho công việc sau này. Y có thể phát triển quá độ về mặt tình cảm hay sùng tín thái quá. Y có thể bỏ ra nhiều kiếp để mơ ước, để nhìn ngắm các linh ảnh và tham thiền thần bí. Nhu cầu lớn của y là phải thực tiễn, phải có đầy đủ lương tri, phải hiểu chương trình của Phòng Học tập và áp dụng sự hiểu biết đã học được một cách thực tế ở cõi trần. Tuy nhiên, dù cho vòng giới hạn của y có vẻ ngăn cản và hạn chế các khuynh hướng sẵn có nơi y, và dù đã có sắp xếp khiến cho dường như y phải học những bài học của cuộc sống thực tiễn ở thế gian, y cũng không chịu học, mà chỉ đi theo lối nào dễ dàng cho y nhất. Y tưởng đến những mơ ước của mình, và sống xa rời thế sự => Y không làm tròn ý muốn của Chân nhân mà bỏ lỡ cơ hội. Y chịu nhiều đau khổ, và trong kiếp tới y cũng cần ở trong sự sắp xếp tương tự với sức thôi thúc mạnh hơn và một vòng giới hạn chặt chẽ hơn, cho đến khi nào y thực hiện được ý muốn của Chân nhân y. (TTHM, thư 29.7.1920)
+ Mục tiêu kiếp sống: Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế. Mỗi kiếp sống, Chân nhân cần đạt được một mục tiêu rõ rệt, có thể là hoạch đắc đức hạnh bằng cách trả giá cho tật xấu. VD: Kinh doanh thành thạo; Mở mang tính nhạy cảm = thấy điều độc ác trong bản chất; Phát triển lòng yêu thương vô kỷ; Có thể là chuyển hóa dục vọng = Tham thiền. Chúng luôn có nguy hiểm nhất định. VD: Phát triển trí tuệ để tham thiền - kết quả: phát triển không đồng đều và tạm thời phí thời gian.
Kiếp sống của một đệ tử: Các kiếp sống của một đệ tử thường thường là các kiếp sống đầy bão tố và căng thẳng, cốt để cho các đặc tính (qualities), vốn dĩ chỉ tiến hóa một cách bình thường theo một chuỗi dài các kiếp sống trong ba cõi thấp, có thể được thôi thúc trong y thành sự phát triển nhanh chóng và mau đưa đến hoàn thiện. Khi vị đệ tử dao động (alternate) một cách mau lẹ từ vui tươi sang phiền muộn, từ bình lặng sang bão táp, từ nghỉ ngơi sang làm việc cật lực, đệ tử sẽ học được cách nhìn thấy các hình thái giả tạm (unreal forms) trong các thay đổi này, và xuyên qua vạn hữu, học được cách cảm nhận được một sự sống ổn định bất biến. Vị đệ tử trở nên lãnh đạm đối với việc còn (presence) hoặc mất (absence) của các sự vật thoạt đến thoạt đi như thế, đồng thời y ngày càng chú tâm vào cái thực tại bất biến thường hằng. (MTNX, 328)
Xem: Nguồn gốc số mệnh - cải mệnh;
Xem: Số mệnh - Định Mệnh - Định Nghiệp
+ Hai loại Ngũ Trược: ... Sự giải thích về ngũ trược mà tôi có lần đã nói ở trước là hoàn toàn khác với ở đoạn nầy. Đoạn kinh trước là nói về ngũ trược trong phạm trù thế giới, còn ở đây ngũ trược được giải thích trong phạm trù thân thể của mình. Thực vậy, cái hỗn trược bên ngoài sở dĩ có là do ngũ trược bên trong. Vì vậy nên quý vị nên tịnh hoá các ngũ trược cụ thể hữu hình, thì các ngũ trược bên ngoài sẽ được tiêu trừ.
Ngũ trược trong thân thể con người: ... Thế nào là vẩn đục? A-nan, ví như nước trong, vốn sẵn là thanh khiết. Lại như các thứ bụi đất tro cát, vốn là chất ngăn ngại. Hai thể chất ấy vốn đã như vậy, không hợp nhau được. Như có người thế gian lấy bụi đất kia ném vào nước trong, Trạng thái khuấy trộn đó gọi là vẩn đục. Năm lớp vẩn đục của ông cũng giống như vậy.
A-nan, ông thấy hư không khắp cả mười phương thế giới, mà chẳng thấy phân ra hư không và tánh thấy. (Tuy vậy) có hư không mà không có thực thể, có tánh thấy mà không có tánh biết. Hai bên đã đan dệt với nhau mà thành. Đây là lớp thứ nhất, gọi là ‘Kiếp trược.’
Thân ông hiện bám lấy tứ đại làm tự thể, nên cái thấy nghe hay biết bị ngăn ngại. Trở lại làm cho các thứ đất nước lửa gió thành ra có cái hay biết. Các thứ đó đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ hai gọi là Kiến trược.
Lại nữa, trong tâm ông do sự nhớ biết học tập mà tánh phát ra thấy biết. Dung nạp sáu trần, rời tiền trần thì không có tướng, rời cái biết thì không có tánh. Những điều đó đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ ba gọi là Phiền não trược.
Lại nữa, tâm ông sớm chiều sanh diệt không ngừng. Cái thấy biết thì cứ muốn lưu mãi ở thế gian, mà nghiệp báo chuyển vần luôn luôn đổi dời từ cõi nầy đến cõi khác. Những điều đó đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ tư gọi là Chúng sinh trược.
Cái thấy nghe của ông vốn chẳng phải là tánh nào khác, do các trần cách trở nên bỗng nhiên trở thành khác. Tánh thì vẫn biết nhau, nhưng trong phần dụng thì trái nghịch nhau. Cái đồng cái khác mất hẳn chuẩn đích, cùng đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ năm, gọi là Mạng trược. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4 - Ch.IV);
+ Ngũ trược trong thế giới [HT Tuyên Hóa]:
1. Kiếp trược (Trược thứ 5 do Trược 4 Đại làm thành ): Ðó là thời gian ô trược. Sự ô trược thời gian do đâu mà có? Thời gian ấy, bốn trược kia càng ngày càng thêm, càng ngày càng dữ dội và lấy sự gia tăng của bốn trược kia làm bản thể của nó. Phải có sự giúp đỡ của bốn trược: Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược, Mạng trược mới có thể biến thành Kiếp trược được. Cho nên Kiếp trược lấy sự gia tăng của bốn trược kia làm bản thể hừng hực mãi không ngừng làm tướng của nó, như lửa càng cháy càng bùng lên là tướng của nó.
2. Kiến trược: lấy năm lợi sử làm bản thể của nó. Năm lợi sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ và Giới cấm thủ. Kiến trược này lấy sự hiểu biết lầm lạc về sáu giác tri làm tướng, xưa nay là đạo lý đúng thật nhưng nó lại tưởng là thiên lệch thành ra tà tri tà kiến, ấy gọi là biết lầm về sáu giác tri.
3. Phiền não trược: lấy năm độn sử làm bản thể của nó. Năm độn sử là: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, lấy phiền não bức bách làm tướng.
4. Chúng sanh trược: Thứ trược này lấy ba duyên hòa hợp làm tự thể. Ba duyên là duyên cha, duyên mẹ và nghiệp duyên của chính mình. Lấy sự luân hồi không dứt làm tướng, có ba duyên hòa hợp rồi mới luân hồi không dứt, lặn đầu này trồi đầu kia, đời này họ Trương, đời sau họ Lý, hoặc đời này làm Tỳ-kheo-ni, đời sau làm Tỳ-kheo, rồi đời sau nữa làm Tỳ-kheo-ni nữa. Sau Tỳ-kheo-ni lại làm Tỳ-kheo nữa, thật là kỳ diệu biết bao! Như thế chuyển tới chuyển lui luân hồi không dứt.
5. Mạng trược: Mạng là sức nóng, hơi thở và thức. Lại có thuyết là tuổi thọ, sức nóng và thức làm thể, lấy sự rút mất tuổi thọ làm tướng. Từ nhỏ tới lớn, từ lớn tới già, từ già tới chết, đó là Tướng của mạng.
Trên đây là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược, Mạng trược mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ở trong đời ác ngũ trược chứng được quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nói cho các chúng sanh nghe pháp tất cả thế gian khó tin này. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni chính mình đã biết rõ, nói thứ pháp này là pháp rất ít người có thể tin được. Này Xá-lợi-phất, nên biết rằng; Này Xá-lợi-phất! Ông nên biết rằng: Ta ở đời ác năm trược làm việc khó làm này, được quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nói cho tất cả thế gian pháp khó tin này, thật là rất khó. Ta ở trong đời ác ngũ trược chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nói cho tất cả thế gian nghe thứ Phật pháp rất khó tin này. Thật là việc hết sức khó khăn. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói như thế, nhưng tôi (lời của Hòa Thượng) lại nói là rất dễ dàng. Tại sao thế? Chỉ cần niệm một câu Nam mô A Di Ðà Phật, cho nên rất là dễ dàng, đã không tốn tiền lại không tốn sức, tốn thời gian, vì thế tôi nói pháp môn này là một pháp môn dễ dàng quá sức. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh A Di Đà)
b- Ngũ trược trong phạm trù Thế giới: ... Kinh Lăng Nghiêm cũng có chép: "Thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết." (Khi nước và đất trộn lẫn, thì đất mất tánh lưu ngại, nước mất tánh thanh khiết.)
Bởi nước bị vẩn đục, mất đi sự thanh khiết, cho nên gọi là "trược." Cõi "Ngũ Trược ác thế" này ví như vũng bùn dơ bẩn - một hỗn hợp của nước và đất. Ðây là một thế giới không thanh tịnh bởi có sự hiện hữu của năm thứ ô trược:
1) Kiếp Trược. "Kiếp" là danh từ chỉ thời gian. Thời gian thì ô trược bởi chúng ta không thể phân định một cách rõ ràng là khi nào, thời điểm nào. Trước kia có người hỏi tôi, thế nào gọi là thời gian? Thật ra, không có cái gọi là "thời gian," không thể nào định rõ được thời gian. Ðó là Kiếp Trược.
2) Kiến Trược. Quý vị nghĩ xem, chúng ta có thể phân biệt cái "Thấy" của mình một cách rõ ràng hay không? Tất nhiên là không thể được! Chúng ta có thể phân ranh giới cho cái"thấy" của mỗi người hay không? Cũng không được! Bởi nếu quý vị nói rằng đây là cái "thấy" của quý vị, kia là cái"thấy" của tôi; thế thì quý vị lấy gì làm ranh giới để phân biệt giữa cái "thấy" của quý vị và cái "thấy" của riêng tôi? Chính vì cái "Thấy" ấy là một hỗn hợp lộn xộn, không có ranh giới, không thể phân định rõ ràng, nên gọi là Kiến Trược.
3) Phiền Não Trược. Mọi người đều có phiền não - quý vị có phiền não, tôi cũng có phiền não - phiền não của chúng ta trộn lẫn, xen lộn với nhau, không cách nào phân định cho rõ được. Có người nói: "Tôi thừa biết rằng phiền não của tôi là của tôi, phiền não của Thầy tức là của Thầy - của ai cứ nấy!" Nếu nói như thế thì tại sao quý vị lại có thể gây phiền não cho tôi được? Nếu quả thật phiền não là của tôi thì đáng lẽ không cần quý vị gây ra mới phải; còn nếu đó đích thật là của quý vị, thì tất nhiên cũng không cần tôi gây ra, không cần tôi làm cho quý vị sanh phiền não mới đúng chứ?! Như vậy, xét ra thì phiền não cũng không có ranh giới rõ rệt và cũng là một hỗn hợp ô trược, bất tịnh.
4) Chúng Sanh Trược. Có những chúng sanh đời này mang thân người, song biết đâu chừng đời sau lại phải đầu thai làm chó, làm mèo, làm chuột, hoặc làm côn trùng bò lung tung khắp nơi... - không có gì là nhất định cả. Như thế thì làm sao quý vị có thể phân biệt một cách rõ ràng được? Chúng sanh với chúng sanh cùng nhau hợp tác để mở một "đại công ty," cũng không phân biệt nhau được rõ ràng. Trong "đại công ty" này, nếu không phải mình bị người ta đem bán, thì cũng là người ta bị mình đem bán - tất cả đều có quan hệ qua lại với nhau. Như thế không phải là "trược" sao? Vậy, đó gọi là Chúng Sanh Trược.
5) Mạng Trược. Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược, bất tịnh.
Mặc dù năm thứ ô trược này rất phức tạp, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn có thể ở trong đời ác Ngũ Trược - một thế giới xấu xa nhất - mà hiện sức Ðại Trí Huệ và Thần Thông không thể nghĩ bàn. "Không thể nghĩ bàn" tức là vô cùng vi diệu, chúng ta không tài nào nghĩ ra hoặc mường tượng ra được. Thứ gì mà vi diệu, không thể nghĩ bàn như thế? Ðó chính là năng lực từ Ðại Trí Huệ và Ðại Thần Thông của Ðức Phật. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P1- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tánh Phật - Tự Tánh mình: ..... Huệ Năng nầy ngay lời đó đạt đại ngộ, biết rằng cả thảy muôn pháp chẳng lìa tánh mình, mới bạch với Tổ Sư rằng: Nào dè tánh mình vốn tự thanh tịnh, Nào dè tánh mình vốn không sanh diệt, Nào dè tánh mình vốn tự đầy đủ, Nào dè tánh mình vốn không lay động, Nào dè tánh mình có thể sanh ra muôn pháp! (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thể tánh - Tự tánh: Đức Phật bảo: A-nan, như tất cả sự vật hiện hữu trong thế giới từ ngọn cỏ, lá cây, sợi dây, nút thắt… khi gạn xét cội gốc của nó, mỗi thứ đều có thể tánh. Cho đến như hư không cũng có tên gọi và dáng mạo; HT Tuyên Hóa giảng: Hết thảy mọi thứ trên thế gian này gồm cả núi sông đất liền, tất cả vạn tượng như cây cỏ, thảo mộc, sợi dây, nút thắt cho đến như cả hư không, nó vẫn có cái tên là “hư không” và dáng mạo về “hư không.” Tất cả đều có một thể tánh.
Huống gì bản tâm thanh tịnh sáng suốt nhiệm mầu này là bản chất của tất cả mọi tâm niệm mà tự nó lại không có thể tánh hay sao? (Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q1-Phần chánh văn-Mục 90)
+ Thể Tánh của Chân Tâm - Tự Tánh (Không phải Tâm thức/ Tâm Nhị nguyên):
Đức Phật bảo A Nan. ... Đó chính là thức tinh nguyên minh - Tâm Bản Nguyên của ông.
HT Tuyên Hóa giàng: Chữ “nguyên” có nghĩa là cội gốc của bản thể thanh tịnh. Nghĩa là cái mà chẳng phải nhiễm ơ, chẳng phải thanh tịnh, không thêm, không bớt. Ánh sáng của nó vốn thường soi chiếu khắp nơi. Chữ “thức” ở đây không phải là tám thức, chẳng phải mạt-na hay a-lại-da thức. Nó chẳng liên quan gì đến tám thức ấy cả. Nó chính là cái tối tinh, tối diệu của thức, thể tánh của nó bản nguyên thanh tịnh, nó chỉ là tên gọi khác của bồ-đề niết-bàn. Cụm từ được dùng ở đây là nhờ vào lối văn chương bóng bẩy tránh sự lặp lại. Nó chính là khía cạnh rất tinh vi và mầu nhiệm của thức, của Phật tánh bản hữu của chân tâm thường trụ, tánh tịnh minh thể.... Bồ-đề niết-bàn là của báu chân thực trong nhà quý vị. Cơ bản là nó ở ngay bên cạnh quý vị nhưng quý vị không biết cách sử dụng nó để làm lợi ích cho mình.... Trong khi quý vị quên mất chơn tâm của mình và một khi chơn tâm đã bị bỏ quên thì nó cũng hoàn toàn giống như bị mất. Đây chính là lý do tại sao quý vị không thể thành Phật, thay vì vậy lại bị trói buộc trong vòng sinh tử, do vì quý vị không nhận ra chơn tâm. (Theo mục 86 - 93 Đức Phật giảng về Chân Tâm và Tâm thức phân biệt..- HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Căn Tánh - Mỗi Căn đều có tự Tánh: ... Chúng sinh sống trong thể tánh thanh tịnh, trong chân tâm thường trú hằng ngày. Bởi vì vọng tưởng vốn xuất phát từ chơn tâm, đó chính là tâm phan duyên lưu xuất từ một niệm sinh khởi từ vô thỉ. Tất cả mọi hiện tượng đều chỉ là sự biểu hiện từ chân tâm và niệm khởi này theo sát quý vị từ sáng đến tối, nhưng quý vị không thể nào nhận biết được niệm ấy. Quý vị chỉ biết làm thế nào để vận dụng tâm vọng tưởng của mình mà thôi.
Chơn tâm được biểu hiện qua tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh biết. Có người từng hỏi: “Phật tánh là gì?”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đáp:
– Tại mắt gọi là tánh thấy
– Tại tai gọi là tánh nghe
– Tại mũi gọi là tánh ngửi
– Tại lưỡi gọi là tánh nếm
– Tại thân gọi là tánh biết (do xúc chạm)
– Tại nơi ý gọi là tánh hay biết/ Tánh nhạy bén linh lợi/
Đức Phật đã trả lời như vậy.
Cái gì là Phật tánh? Đó là tánh thấy, tánh nghe… Đó là cách thế tự nhiên như khi tay mình cầm đồ vật. Tất cả những điều này đều là biểu hiện sự vi tế, bất khả tư nghì của chân tâm. Nhưng không ai biết được điều này. Bây giờ A-nan vẫn còn mê mờ, thế nên Đức Phật dùng rất nhiều cách ví dụ để giảng giải cho A-nan.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q1-Giảng giải)
+ Đức Phật bảo: ... "Nên từ đầu đến cuối các ông đều ở trong niệm niệm sinh diệt".
Các ông chấp chặt vào thân tâm các ông, cho đó là ông chủ của mình. Các ông dùng thức tâm phân biệt làm suy nghĩ của mình. Niệm tưởng từ thức tâm là chủ thể của sinh diệt. Niệm đầu tiên sinh rồi diệt, niệm tưởng kế tiếp theo nhau sinh diệt. Sinh diệt tiếp nối sinh diệt. Quý vị hết sức chú tâm vào cảnh giới sinh diệt nên không có được sự hiểu biết chân chính về tánh thấy.
Các ông bỏ mất chân tánh, làm những việc điên đảo. Đã đánh mất tâm tánh chân thật rồi, còn nhận vật làm chính mình, nên chính mình bị trôi lăn theo vòng lưu chuyển. (Nguồn: mục 77- 94 HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Căn Tánh - Tự Tánh: ... Thế tự tánh của quý vị giống như cái gì (Tánh các căn: Tánh nghe, Tánh thấy... không phải là đối tượng sinh diệt ... Đức Phật dậy, dù thân này tiêu tan thì Tánh nghe (các Tánh) không tiêu mất khi mình chết_HT Tuyên Hóa).
Tánh Thấy - A-nan, như khi ông thấy, thì chính ông chứ chẳng phải Như Lai, tánh thấy trùm khắp đó chẳng phải ông thì ai?...
Bởi do tánh giác sáng suốt nhiệm mầu ấy, nên khiến ông vượt ra khỏi cái ‘chỉ ra được’ và cái ‘chẳng chỉ ra được’ vậy....
Phải biết tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu nầy chẳng phải nhân chẳng phải duyên, chẳng phải tự nhiên, chẳng phải không tự nhiên.
Chẳng phải không tự nhiên, không có cái chẳng phải (phi) và chẳng chẳng phải (bất phi), không có cái phải (thị) và chẳng phải (phi thị).
Lìa tất cả tướng, tức tất cả pháp.
+ CÁC CĂN TÁNH - TỰ TÁNH - TÁNH NGHE, NẾM, NGỬI, XÚC TRẠM, Ý cũng tương tự. Mời xem Kinh văn gốc.
- Tánh Ngửi: Bây giờ sẽ đề cập đến mùi hương và lỗ mũi với tính biết ngửi....
- TÁNH THẤY: Đoạn giảng về Tứ đại - Tánh Không, Kiến giác và Tánh Thấy (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.3)
+ Tự tính/ Tự tánh/ Chân Tâm diệu dụng: Chân tâm phải tìm ở bên trong, chẳng phải ở bên ngoài, cũng do tự tính trí huệ sinh ra, cho nên Lục Tổ Huệ Năng nói Tự tính vốn tự: Thanh tịnh, Không động, đầy đủ và thường sinh trí huệ. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr73 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tự tánh: Tự tánh của các pháp không thể tìm thấy trong bốn duyên. Tự tánh là gì? Tự tánh là sự có mặt đích thực, sự có mặt như một thực tại biệt lập. Tự tánh là svabhāva. Bất cứ một cái gì mà ta công nhận là có thật thì nó phải có tự tánh của nó. Tự tánh (self-nature) là tánh của mình, nó làm cho ta khác với những cái khác (tha tánh). Chúng ta có thể tìm tự tánh của các pháp trong duyên của nó hay không? Hình như là tìm không được. Có thể là cái đó chưa sinh hay đã sinh rồi. Và ta có thể tìm tự tánh đó trong những điều kiện đang sinh hay sắp sinh đó hay không? Ví dụ chúng ta có một hộp diêm và ta đi tìm tự tánh của ngọn lửa trong hộp diêm đó. Trong hộp diêm có diêm sinh, có gỗ; ngoài hộp diêm có dưỡng khí. Chúng ta đi tìm trong những điều kiện đó, xem có thể có tự tánh của những cái đang sinh hay sắp sinh (tức ngọn lửa); nhưng chúng ta không tìm thấy tự tánh đó.
Nếu tự tánh đã không có thì làm gì có tha tánh? Tự tánh là đối với tha tánh. Giống như bên phải và bên trái, nếu bên phải không có thì làm gì có bên trái. Tự là đối với tha. (Nguồn: Pháp Nhân Duyên - TS Thích Nhất Hạnh)
+ Tự tánh: Phật có năng lực gì vậy? Phật không hề nói Ngài có năng lực. Phật nói là "Bản năng tự tánh của mỗi một người". ... Tự tánh là gì vậy? Là chân tâm. Chân tâm, bổn tánh của chúng ta vốn dĩ đầy đủ vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, vô lượng tài nghệ, vô lượng tướng hảo. Chúng ta thường nói Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nhưng trên thực tế, trong kinh Đại thừa nói "Phật có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp". .... “Sanh/ Chúng sanh, Phật bình đẳng, tánh tướng là một, sự lý không hai", đây là kinh nghĩa trên kinh đại thừa nói. Đây là chân tướng sự thật. (Nguồn: Kinh Thập thiện - PS Tịnh Không)
+ Xin mời quí vị đọc bài tổng hợp chuyên đề với thuật ngữ Thể dụng vi diệu: Mời xem tại đây
+ Trần Lao: Đức Phật bảo ngài A Nan: ... Nếu ông không biết tâm và mắt ở đâu thì không thể nào hàng phục được trần lao.
“Trần” có nghĩa là dơ bẩn, “lao” có nghĩa là nhiễu loạn, xáo trộn. Sự dơ bẩn, ô uế, làm nhiễu loạn tâm quý vị, nó quấy rối tự tánh của quý vị. Thế nên quý vị không thể nào chuyển hóa vọng tưởng thành chân tâm được. Nó giống như khi hai đạo quân giao chiến với nhau, sẽ có một bên thắng trận. Quý vị sẽ chiến thắng nếu quý vị hàng phục được trần lao, nghĩa là khi quý vị cắt đứt được vòng sinh tử.(Nguồn: Giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Trần lao: ... Rối loạn như vậy, đối đãi nhau sinh ra mệt mỏi. Mệt mỏi lâu dài phát ra trần tướng, tự làm vẩn đục lẫn nhau. Do đó đưa đến khởi phát trần lao phiền não.
Giảng giải: Nay sẽ nói đến lục thô. Phần nầy sẽ giải thích năm món thô đầu tiên.
Lục thô là:
1. Trí tướng: thuộc về câu sanh pháp chấp, tức là từ khi sinh ra đã có sẵn năng lực phân biệt. Đây không phải là trí tuệ cứu cánh, mà chỉ là tướng của trí có được do năng lực phân biệt.
2. Tương tục tướng: tức phân biệt pháp chấp, lúc nào cũng suy nghĩ, liên tục không gián đoạn
3. Chấp thủ tướng: thuộc về câu sanh ngã chấp, suy lường cùng khắp, chấp ngã, ngã sở.
4. Kế danh tự tướng: thuộc về phân biệt ngã chấp, chủ yếu là lập nên vọng tưởng giả danh, theo sự chấp trước giả danh mà duy trì vọng tưởng.
5. Khởi nghiệp tướng: Do kế danh tự tướng mà sinh khởi nên nghiệp tướng, tạo vô số nghiệp.
6. Nghiệp hệ khổ tướng: Do tạo nghiệp nên thọ lãnh quả báo, do vì trói buộc vào nghiệp mà thọ khổ.
Ban đầu khi nghe những điều nầy có lẽ quý vị không thể nào hiểu được, nhưng sau khi tham cứu một thời gian, quý vị dần dần sẽ hiểu. Còn bây giờ, hãy để cho nó lọt qua tai quý vị, và trong thức thứ tám của quý vị sẽ có ấn tượng. Nếu quý vị tham cứu Phật pháp một thời gian dài, chắc chắn quý vị sẽ đến thực tế là mọi thứ đều liên quan với nhau và quý vị bỗng nhiên hiểu ra.
Rối loạn như vậy: ở trong cái không đồng và cái không dị như đã nói ở trên, thế giới và hư không, “đồng dị phát sinh,” và tạo ra sự hỗn loạn, không có trật tự. Sự hỗn loạn nầy cuối cùng dẫn đến sự mệt mỏi. Trong cái đồng dị bỗng dưng được lập nầy, cuối cùng sinh ra sự mỏi mệt. Cái mỏi mệt là tướng trạng đầu tiên trong lục thô, đó là trí tướng. Mệt mỏi kéo dài sinh ra phiền não. Tiếp theo cái mệt mỏi là tướng trạng thứ nhì của lục thô, đó là tương tục tướng. Nhiễm ô là tướng trạng thứ ba của lục thô, đó là chấp thủ tướng. Những tướng trạng nầy kết hợp nhau trong một mớ hỗn độn u ám. Nó kết dính nhau và không có cách nào để tách rời chúng ra một cách rạch ròi. Đây là tướng trạng thứ tư của lục thô, đó là kế danh tự tướng. Sự hỗn loạn nầy tạo nên phiền não với sự tập nhiễm của trần lao. Trần lao là chính là phiền não. Phiền não chính là trần lao. Tám vạn bốn ngàn trần lao chính là tám vạn bốn ngàn phiền não. Từ những điều kiện khác nhau vừa bàn đến, phiền não sinh khởi. Cùng với phiền não là sự sinh khởi của núi sông đất liền. (Nguồn: HT Tuyên Hóa - Kinh Thủ LN-Q4-Chương 1)
+ Sinh Trần lao và các tướng thế gian: ... đức Phật bảo: Thế nên trong ấy, gió thì động, hư không thì tĩnh lặng, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối. Chúng sinh mê lầm, trái ngược tánh giác, hợp với trần cảnh. Nên phát ra trần lao và các tướng thế gian.
Giảng giải: Nguyên nhân là do chúng sinh mê lầm. Ở trong chỗ vô số hiện tượng ấy, chúng sinh trở nên mê lầm. Họ không nhận ra được đạo lý về chân tâm, nên họ bị mê muội. Do vậy, nên trong chân tâm (phần chân) của tánh Như Lai tạng đã sinh khởi nên tam tế lục thô.
Nhất niệm bất giác sinh tam tế - Cảnh giới vi duyên trưởng lục thô.
Như tôi đã giải thích ở trên, tam tế là nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng. Lục thô là trí tướng, tương tục tướng, chấp thủ tướng, kế danh tự tướng, khởi nghiệp tướng và khổ hệ nghiệp tướng. Một khi chúng sinh đã phát khởi lên những tướng nầy, họ liền bị mê mờ. Một khi đã mê mờ, thì họ trái ngược tánh giác, hợp với trần cảnh. Họ quay lưng lại với giác tánh và thích dính mắc với sáu trần. Đây là vì họ nghĩ rằng, trong tánh Như Lai tạng có sự xung đột lẫn nhau. Do vậy nên họ quay lưng lại với tánh giác và hợp với cảnh trần. Nên phát ra trần lao và các tướng thế gian. Núi sông đất liền và sự tương tục của thế giới trở thành hiện hữu. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN-Q4-Chương 2)
+ Có Tướng (Của các Trần): Nhân nguyên của "Có Tướng" trong Phật giáo Đại thừa:
Đức Phật bảo: A-nan, nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn), nhân các căn mà có tướng (của trần). Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tính, như bó lau gác vào nhau. (Nguồn: HT Tuyên Hóa - Kinh Thủ LN - Q.5)
+ Nếu cái thấy nghe nầy, rời các tướng sắc không, tối sáng, động tĩnh, thông bít, đậm nhạt, hợp ly, sinh diệt, thì rốt ráo nó không có tự thể. Cũng như tâm niệm, nếu rời khỏi tiền trần, là vốn không thật có. Sao lại đem cái tâm hoàn toàn đoạn diệt ấy làm nhân tu hành, mà mong đạt được bảy quả vị thường trụ của Như Lai? (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q1)
+ Các tướng sắc không, tối sáng, động tĩnh, thông bít, đậm nhạt, hợp ly, sinh diệt (Kinh Thủ LN - Q3: Nếu rời hẳn các tướng sắc không, động tĩnh, thông tắc, hợp ly, sinh diệt thì rốt ráo không có một pháp nào cả.)
Hư không kia làm sao vì ông mà thành đồng hay khác? Huống chi lại gọi là một hay chẳng phải một. Thế ông đã biết, sáu căn thọ dụng cũng giống như vậy.
Do hai thứ tối sáng hiển bày lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái thấy. Cái thấy ánh hiện ra thành sắc, kết sắc thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘nhãn căn’ như trái bồ đào. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo sắc.
Do hai tướng động tỉnh đối chọi lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái nghe. Cái nghe ánh hiện ra thành tiếng, cuộn cái tiếng lại thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘nhĩ căn’ là lá sen non. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo âm thanh.
Do hai tướng thông và bít phát hiện lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính ngửi. Tính ngửi ánh hiện ra thành hương, thu nạp các hương thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘tỉ căn’ như hai móng tay duỗi xuống. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo hương.
Do vị nhạt và vị khác xen lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính nếm. Tính nếm ánh hiện ra thành vị, thu nạp các vị thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘thiệt căn’ như mặt trăng lưỡi liềm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo vị.
Do hai tướng ly và hợp cọ xát lẫn nhau, kết dính sự yên lặng trong tánh diệu viên mà phát ra cái biết xúc chạm. Tính biết xúc chạm ánh hiện thành xúc, thu nạp các xúc thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi thể của ‘thân căn’ như cái trống cơm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo xúc.
Do hai thứ sinh diệt tương tục lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái biết. Tính biết ánh hiện thành các pháp, thu nạp các pháp thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi là ‘Ý tư,’ như cái thấy trong nhà tối. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo pháp. (Đoạn kinh nầy nói đến Ý căn, tức thức thứ sáu, là đối tượng của sinh diệt. Khi niệm trước vừa đình chỉ, niệm sau liền sinh khởi. Năng lực của Tánh biết là thu nạp các pháp, chính là trần cảnh. Ý căn bị thu hút bởi pháp trần_HT Tuyên Hóa)
A-nan, sáu căn như vậy do tánh giác minh soi lại tính minh giác. Làm mất tính sáng suốt kia, kết dính với cái vọng mà phát ra Ánh sáng. (chỉ vì qua sự sinh khởi một niệm vọng tưởng muốn soi lại tánh giác minh mà tánh giác ấy biến thành Vọng giác và Vọng minh – Kết quả là, bản thể bị mất đi; và do kết dính vào cái vọng, Ánh sáng của tánh thấy trở thành hiện hữu. Điều này tạo ra những tác dụng riêng biệt của tánh thấy, tánh nghe và các tánh khác. Đó thuộc về quang minh của thức thứ tám_HT Tuyên Hóa)
Vậy nên nay ông rời tối rời sáng, thì không có cái thể của thấy. Rời động rời tỉnh, thì không có cái nghe. Không có thông không bít, thì tính ngửi không phát sinh. Không có mùi vị, không lạt, thì tính nếm không có. Không rời xa, không kết hợp thì tánh xúc chẳng có. Không sanh không diệt, thì cái biết gá chỗ nào?
Ông chỉ cần không theo động tĩnh hợp li, điềm biến thông tắc, sanh diệt ám minh, mười hai tướng như vậy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q4)
+ Duyên có cái biết: ... Tánh Như Lai tạng, vốn thanh tịnh, là chân tánh bồ-đề, đã bị phân chia. Diệu giác minh tâm bị phân chia; ở mắt, thì thành tánh thấy. Chạy qua tai thì thành tánh nghe. Nên có câu kệ: Nguyên y nhất tinh minh - Phân thành lục hòa hợp.
Đến thân thì thành Xúc giác, đến tâm thì thành cái biết - Ý thức. Trước sau tạo thành năm lớp vẩn đục. Bốn yếu tố đất nước lửa gió tạo thành năm lớp vẩn đục, tức là ngũ trược ác thế. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời tiếp nhận được hứng khởi chợt đến với y từ Phòng Minh triết và liên kết các hứng khởi thoạt đến này với các sự kiện của Phòng Học Tập (Hall of Learning). (ĐĐNLVTD, 12)
+ 6- Sự hiểu biết siêu nhiên - Hiểu biết Ba La Mật - Hiểu thấu:
Hiểu biết siêu nhiên là phẩm hạnh cao nhất của Lục Ba-la-mật. Năm phẩm hạnh đầu tiên của Ba-la-mật là năm đối tượng trực tiếp của việc tu tập, phẩm hạnh thứ sáu là kết quả : tức là sự hiểu biết siêu nhiên. Tiếng Phạn gọi sự hiểu biết ấy là Prajna, vần pra đứng trước có nghĩa là trên, phía trên, bên trên, vần jna có nghĩa là hiểu biết. Đối tượng của sự hiểu biết tối thượng hay Prajna là tánh Không. Chữ Prajna được dịch là Trí tuệ (hay Trí huệ), Tuệ nhãn, Tuệ giác… : trí là chiếu thấy, tuệ là hiểu rõ. Tuy nhiên vì tính cách đặc thù của chữ này trong Phật giáo nên các học giả Tây phương có chiều hướng giữ nguyên tiếng Phạn không dịch, trong các bài viết có tính cách phổ thông, chữ Prajna được dịch là Sagesse hay Wisdom…, Kinh sách gốc Hán dịch là Trí tuệ như vừa trình bày trên đây, hoặc âm thẳng từ tiếng Phạn là Bát-nhã hay Ban-nhã. Sở dĩ dài dòng như thế để thấy rằng ngôn từ chỉ có tính cách quy ước, không thể nào diễn đạt một cách trọn vẹn sự thực tuyệt đối.
Tóm lại, năm phép đầu tiên của Ba-la-mật là những phép tu tập, tu tập nhưng không nhìn thấy gì cả, giống như không có mắt, khi Bát-nhã hiển hiện tức là Tuệ nhãn chiếu rọi, tất cả năm phép ấy sẽ trở thành siêu nhiên để tiếp tục trợ lực thêm cho phẩm hạnh thứ sáu. Năm Ba-la-mật được mô tả gần giống nhau trong các kinh sách, trong khi đó Ba-la-mật thứ sáu được trình bày có phẩn khác biệt giữa các học phái. Sau đây là các cách giải thích về sự Hiểu biết siêu nhiên thường thấy :
1. Cách giải thích thứ nhất: Ba-la-mật thứ sáu gồm có ba giai đoạn hay cấp bậc như sau :
a) Sự hiểu biết khi nghe giảng (trutamayiprajna) : cố gắng ghi nhớ và tìm hiểu các chữ và ý nghĩa của những chữ ấy qua những lời giảng huấn của một vị thầy.
b) Sự hiểu biết bằng suy tư và phán xét (cintamayiprajna) : ôn lại những lời giảng huấn đã nghe, dùng suy tư, phán đoán, nhận xét để tìm hiểu thêm những gì chưa hiểu hết. Phải tận dụng sự quán xét và phân tích để tự tìm hiểu thêm một cách sâu xa trong khi thiền định.
c) Sự hiểu biết bằng thiền định (bhavanamayiprajna) : đạt được sự hiểu biết bằng thiền quán, một sự hiểu biết trong sáng và minh bạch, vượt khỏi mọi do dự và nghi ngờ, quán thấy được thực thể tuyệt đối của mọi hiện tượng.
2. Cách giải thích thứ hai: Chia Trí tuệ Ba-la-mật làm ba cấp bậc, đây là cách giải thích tìm thấy trong Giải thâm mật kinh (Samdhinirmacanasutra) :
a) Sự hiểu biết dựa vào sự thực quy ước : tức bằng ngôn từ và bằng sự hiểu biết công thức, quy ước và nhị nguyên.
b) Sự hiểu biết hướng vào sự thực tối hậu : tức sự thực tuyệt đối, tối hậu và rốt ráo của hiện thực.
c) Sư hiểu biết hướng vào sự an lành của chúng sinh : tức sự hiểu biết xuyên qua lòng tư bi vô biên, vượt lên trên mọi lý luận.
3. Cách giải thích thứ ba: Đây là cách định nghĩa thường thấy trong Phật giáo Tây tạng, cách này cũng phân chia sự hiểu biết thành ba cấp bậc khác nhau :
a) Sự hiểu biết tạm thời : dựa vào sự thực quy ước của thế giới chung quanh, hàm chứa khía cạnh duy thực của mọi hiện tượng, từ tâm thức đến đối cảnh. Đó là sự hiểu biết chung của tri thức trong lãnh vực khoa học, văn hoá, giáo dục…thuộc cảnh giới chung quanh.
b) Sự hiểu biết « thấp » : tức sự hiểu biết hướng về tính cách vô ngã của cái tôi, cái của tôi, tức là cá thể con người, nhưng không quan tâm đến tính cách vô ngã của đối cảnh.
c) Sự hiểu biết « cao » : tức sự hiểu biết tối thượng về tính cách vô ngã của cá thể con người và của tất cả mọi hiện tượng, tức mọi vật thể và biến cố. Tất cả chỉ là tánh Không.
4. Cách giải thích thứ tư: Đây là cách định nghĩa thường thấy trong thiền học, đặc biệt là trong các học phái Zen. Sự hiểu biết được phân biệt thành hai loại khác nhau :
a) Sự hiểu biết thông thường : tức sự hiểu biết vận hành trong thế giới quy ước và nhị nguyên. Đó là sự hiểu biết thu đạt được từ kinh nghiệm trực tiếp của giác cảm và sự học hỏi. Sự hiểu biết đó rất cần thiết để cảm nhận thế giới chung quanh, kể cả sự hiểu biết minh bạch về Tứ diệu đế chẳng hạn, nhưng không thể sử dụng sự hiểu biết ấy để nhận biết thực thể của hiện thực.
b) Sự hiểu biết Bát-nhã : tức sự hiểu biết có tính cách trực giác và rốt ráo, quán thấy trực tiếp tánh Không của mọi vật thể và biến cố.
Tóm lại, hầu hết các cách phân loại trên đây dù mang ít nhiều khác biệt nhưng đều đưa đến một định nghĩa giống nhau về sự hiểu biết siêu nhiên trong cấp bậc cao nhất, đó là sự hiểu biết thoát khỏi mọi lý luận nhị nguyên và quy ước. Thí dụ sau đây sẽ cho thấy tính cách nhị nguyên ảnh hưởng đến tất cả những suy luận của chúng ta : chẳng hạn như Niết bàn có thể hình dung như một thể dạng không còn vướng mắc trong nguyên lý tương liên của mọi hiện tượng, cũng không phải là một sản phẩm do nguyên nhân và điều kiện tạo tác, Niết bàn là một biểu hiện của thể dạng tự do tuyệt đối. Nhưng dù hình dung Niết bàn như thế nào đi nữa thì ta vẫn vướng mắc trong nhị nguyên, nếu không có thế giới Ta bà hay Luân hồi đối nghịch với Niết bàn, làm cơ sở chống đỡ cho sự hiện hữu của Niết bàn, thì Niết bàn cũng không có vì không có ý nghĩa gì cả, ngược lại đối với thế giới Ta bà cũng vậy. Bát nhã phải vượt lên trên Niết bàn và Ta bà. Long-chen-pa, một đại sư Tây tạng thế kỷ XIV, có đưa ra hình ảnh sau đây để giải thích khái niệm ấy : nếu một người bị xiềng bằng một sợi giây xích bằng vàng hay bằng sắt thì đâu có gì khác nhau, trong cả hai trường hợp người ấy đều vướng mắc trong cảnh xiềng xích. Vậy muốn đạt được sự hiểu biết siêu nhiên, vượt lên trên mọi quy ước, khái niệm và đối nghịch, cần phải tu tập, tu tập để quán thấy thực thể thực sự của vũ trụ. Sự quán thấy ấy mới đích thực là sự Tự do và Giải thoát.(Nguồn: Lục độ Ba La Mật)
+ Mời đọc bài viết để có phương pháp học Phật pháp hiệu quả: Hướng dẫn tu học Phật pháp như Phật dậy
+ Ta không phải thân xác này - Thân xác này là nhà Ta/ Linh hồn ở - Thân này do tứ đại giả hợp, sinh diệt vô thường:
"Thấy sắc tức không thọ nạp thế".
Thấy sắc tức không, nghĩa là thấy được sắc mà sắc vốn là không. Sao nói sắc vốn không ? Phàm phu chúng ta đều chấp trước sắc này. Chấp vào sắc gì ? Tổng thể của sắc. Sắc pháp tuy có nhiều loại, mà tổng thể của sắc chính là thân thể chúng ta, gọi là sắc thân. Sao sắc thân lại là không? "Thật sự thân này có mà !"
Chư vị biết mặc đồ, ăn uống, ngủ nghỉ, sao chẳng biết không ? Nếu chư vị hiểu rõ sắc thân này được hình thành như thế nào thì chư vị sẽ hiểu rõ tánh không của nó. Vì vậy nên giảng về chân không tích pháp, cũng là pháp phân tích. Thân này là tổng tướng của sắc. Đất nước gió lửa là biệt tướng (tướng riêng) của sắc. Thân thể của chúng ta do đất nước gió lửa hợp thành. Xương cốt thịt thà chính là đất. Nước mắt, nước mũi, máu, tiểu tiện, mồ hôi, là nước. Thân thể được ấm áp là nhờ có lửa. Vận động hô hấp nhờ thân thể có gió. Bốn đại hòa hợp thì thân thể còn. Chúng phân tán thì thân thể mất. Đất trở về đất đá. Nước trở về nước. Gió trở về gió. Lửa trở về lửa. Mỗi đại đều trở về cội gốc, nên không thật có. Vì thế, mọi người chấp trước vào thân thể, tự cho là có, thật là sai lầm. Sao thân thể không phải là mình ? Thân thể không phải là mình. Mình là gì ? Có thể giữ gìn thân thể, có thể thấy, nghe, ngửi, biết, nhận thức bằng tri giác. Tri giác này cũng là mình. Thân thể là gì ? "Thân thể chính là mình, mình là thân thể".
Không thể cho rằng thân thể chính là mình được, vì thân thể chỉ giống như nhà ở. Chư vị không thể cho rằng nhà mình ở chính là mình. Chư vị gọi nhà ở chính là mình thì sợ rằng người ngoài cười cho. Nhưng nói thân thể chính là mình thì không ai cười cả. Sao không ai cười chư vị ? Vì ai cũng cho rằng thân thể chính là mình, tức là chấp nhà ở chính là mình. Thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, biết đều là Phật tánh. Phật tánh cũng chính là tự tánh của chư vị. Thân thể bất quá chỉ do nhân duyên hòa hợp. Nhân duyên ly biệt thì thân thể phân tán. Thế nên, chư vị đừng cho rằng thân thể chính là mình. Mình ở trong nhà, những việc bên ngoài không thể biết. Thế nên đừng chấp trước nhà ở chính là mình.
Bàn về sắc, chư vị hãy phân tích rõ, nó cũng là không. Do từ không mà biến thành sắc pháp. Đất nước gió lửa hợp thành thân thể mà có người lại nói rằng thượng đế tạo ra người. Dùng gì để tạo ra ? Cũng dùng đất nước gió lửa mà tạo thành. Chúng ta cũng có thể dùng một chút đất, nước, gió, lửa để tạo ra thân người. Ai ai cũng đều tạo ra người khác được. Con người do nhân duyên hòa hợp tạo thành. Nhân duyên biệt ly thì thân thể phân tán. Thế nên đừng gọi thân thể là mình. Sắc tức là không. Chư vị nếu hiểu rõ sắc tức là không thì không chấp trước thân thể là mình. Tất cả vật dụng thuộc về mình, mình đều bảo tồn, phụ trợ. Đó là làm nô lệ cho thân mình. Tâm của chư vị chính là tánh tri giác. Chư vị phải hiểu rõ thân thể là sắc pháp, là giả hợp, đừng nên chấp trước. Nếu không chấp trước thân thể tức là phá được sắc uẩn. Khi phá được sắc uẩn rồi thì nó biến thành không.
Thọ nạp như thế. Thọ uẩn cũng giống như sắc uẩn, là không thật có.
"Vọng tưởng quyện lưu hạnh nghiệp an bài, (vọng tưởng chuyển lưu, nghiệp an bài)".
Vọng tưởng là tưởng uẩn. Quyện lưu tức là hành uẩn. Hành nghiệp an bài là hành uẩn được an bài cùng hành nghiệp.
"Thức nãi liễu biệt ngũ âm cụ, (thức cũng liễu biệt đủ năm ấm)".
Liễu biệt là thức uẩn. Phân biệt đầy đủ năm ấm. Năm ấm là sắc thọ tưởng hành thức.
"Cảnh hoa thủy nguyệt liễu trần ai, (hoa gương trăng nước tuyệt bụi trần)".
Năm ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, giống như hoa hiện trong gương, như trăng hiện trên mặt nước. Tuyệt bụi trần tức là không còn một vết ô nhiễm bụi trần. Nói lên ý nghĩa là năm uẩn đều không.
"Không nhi bất không minh đại dụng, (không mà chẳng không rõ đại dụng)".
Chư vị phải hiểu rõ năm uẩn đều không. Lúc không hiểu rõ năm uẩn là không thì có nhiều phiền não, vọng tưởng. Hiểu rõ được thì chuyển thức thành trí. Khi ấy đắc đại diệu dụng phi thường. Hiểu rõ diệu dụng này tức thấy mà như chưa thấy thì an lạc sung sướng.
"Kiến do vị kiến lạc khoái tai, (thấy như chưa thấy, vui vô vàn)".
Nơi chân không xuất sanh ra diệu hữu, cùng đại dụng. Khi ấy chư vị thấy rõ mà cũng đồng như chưa thấy. Không bị cảnh giới chuyển. Có thế, chư vị mới đắc được an lạc chân chánh. Vì vậy nói rằng vui vẻ vô vàn. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ NHÂN DUYÊN SANH LÀM NGƯỜI VÀ MUÔN LOÀI CHÚNG SINH
Đức Phật giảng cho ngài Phú Lâu na: Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà tách rời, mà thành, mà chuyển hoá. Giảng giải:
Đồng nghiệp là chỉ cho nghiệp mình đã tạo nên và chỉ cho người cha và mẹ của mình–những nhân duyên nầy giống nhau. “Đồng nghiệp” cũng chỉ cho những niệm tưởng ái luyến sinh khởi ràng buộc lẫn nhau. Đồng nghiệp phát sinh cảm xúc luyến ái và sợ phải xa lìa. Đàn ông đàn bà dính chặt với nhau như keo sơn. Sự ràng buộc lẫn nhau nầy tạo nên dạng thai sanh và noãn sanh.
Kinh văn: Cái thấy phát minh thì sắc phát ra, soi rõ sự thấy thì có cái tưởng. Ý kiến khác nhau thành có cái ghét, cái tưởng đồng nhau thành có luyến ái. Lưu giữ tính ái thành có chủng tử, thu nạp niệm tưởng thành ra bào thai. Phát sanh sự giao cấu làm hấp dẫn đồng nghiệp. Nên có nhân duyên sanh ra yết-la-lam, át-bồ-đàm[11] v.v... Giảng giải:
Cái thấy phát minh thì sắc phát ra. Làm sao mà con người trở thành con người? Khi con người được hình thành, thức thứ tám có mặt trước tiên; và khi chết, thì thức thứ tám ra đi sau cùng. Nên có bài kệ:
Khứ hậu lai tiên tác chủ ông.[12]...
Trước khi thức thứ tám ra đi, thân thể con người vẫn còn hơi ấm. Khi thức thứ tám đi rồi, thân xác trở nên lạnh. Khi thức thứ tám ra đi đầu thai, nó trở thành thân trung ấm.[13] Nếu đầu thai làm người, thì thân trung ấm có hình tướng người; nếu đầu thai làm súc sinh, thì thân trung ấm có hình tướng súc sinh. Giống như được mô phỏng từ một cái khuôn. Bất luận có ở nơi xa với cha mẹ trong tiềm thức bao nhiêu, thức thứ tám nầy cũng tìm đến được nếu nó có nhân duyên với họ. Đối với thân trung ấm, mọi thứ đều là một màu đen tuyền. Chúng ta có được ánh sáng đèn điện, ánh sáng mặt trời, mặt trăng; nhưng thân trung ấm thì không thấy được các thứ ánh sáng ấy. Nó chỉ thấy được một màu đen như mực. Thế nên khi cha mẹ trong tiềm thức của nó giao cấu nhau, nó sẽ thấy được một chút ánh sáng nhỏ như đầu kim loé lên, bởi vì nó có mối tương quan với họ. Soi rõ sự thấy thì có cái tưởng. Ngay lúc thấy ánh sáng loé lên, thì cái tưởng liền hiện hữu. Tưởng điều gì? Suy nghĩ, phân biệt. Ý kiến khác nhau thành có cái ghét. Khi người ta không đồng quan điểm với mình, thì mình ghét họ. Cái tưởng đồng nhau thành có luyến ái. Khi có người dù có những sai lầm giống như mình, mình cũng yêu thích họ.
Nếu thân trung ấm là nam, nó sẽ yêu mẹ mà ghét cha. Nó sẽ có ý muốn đánh đuổi cha nó đi để lấy mẹ nó. Nó muốn giao hợp với mẹ nó. Thế nên cội nguồn xuất phát của con người rất là tồi tệ. Yêu mẹ nó và ghét cha nó, bằng một niệm vô minh như vậy, nó liền nhập vào thai mẹ. Lưu giữ tính ái thành có chủng tử, thu nạp niệm tưởng thành ra bào thai.
Nếu thân trung ấm là nữ, nó sẽ yêu cha và ghét mẹ. Đó là cách hình thành niệm tưởng.
Những ai thích nói về yêu đương thường khó chấm dứt luân hồi sinh tử. Vì yêu đương là cội gốc của sinh tử luân hồi. Những người thích nói về yêu đương cũng có thể chấm dứt luân hồi sinh tử rất nhanh chóng. Tại sao tôi lại mâu thuẫn với chính mình qua hai câu nói trái ngược nhau, trong lúc hai ý trong đó hoàn toàn đúng? Điều kỳ diệu là nằm ở đó. Quý vị phó mặc mình cho tình yêu đương luyến ái, nhưng yêu đương lại kéo người ta vào nẻo được luân hồi sinh tử. Tại sao vậy? Vì con người sinh ra từ tham ái và chết trong tham ái. Đây là chuyện thường tình phải xảy ra. Mọi người ai cũng đi trên con đường luân hồi sinh tử nầy cả.
Thế nên tôi nói nếu quý vị chiêm nghiệm thật kỹ về chuyện tình ái thì quý vị có thể nhanh chóng chấm dứt luân hồi sinh tử, nếu quý vị dốc lòng quán chiếu thật kỹ, quý vị sẽ thấy rất tường tận và sẽ chuyển hoá được chúng.
Biển khổ mênh mông, Quay đầu là bờ.
Khổ hải mang mang, Hồi đầu thị ngạn.
Nếu quý vị thấy xuyên suốt được vấn đề luyến ái, thì quý vị có thể chấm dứt luân hồi sinh tử. Con người cũng giống như loài sâu trong bắp cải, nó sinh ra, sống trong bắp cải và chết trong bắp cải. Con người sinh ra do tham ái và chết trong tham ái.
“Lưu giữ tính ái thành có chủng tử.” Nam nữ bày tỏ tình yêu của họ và cố lưu giữ cho đến khi có một dấu tích hữu hình của tình yêu ấy. Một khi tình yêu trở thành dấu tích hữu hình, nghĩa là có một hạt giống vừa được sinh ra.
“Tưởng” ở đây là chỉ cho thức thứ tám– tức là thân trung ấm.
Nên có nhân duyên sanh ra yết-la-lam, át-bồ-đàm v.v...
Yết-la-lam là chỉ cho bào thai vừa mới trưởng thành trong tuần đầu tiên. Yết-la-lam dịch là ngưng hoạt 凝滑, tức là do tinh cha huyết mẹ ngưng kết lại mà thành chất nầy.
Tuần thứ hai chất nầy được gọi là át-bồ-đàm, dịch nghĩa là bào, bắt đầu có thể trạng của bào thai.[14]
Tuần thứ ba gọi là bế-thi, ý dịch là khối thịt mềm (nhuyễn nhục),
Tuần thứ tư gọi là yết-nam 羯南, ý dịch là khối thịt cứng (ngạnh nhục 硬肉),
Tuần thứ năm gọi là thể-la-tra-khư (praśākhā), ý dịch là hình vị, cũng gọi là chi tiết, tứ chi và các phần khác đều đầy đủ.
Chúng ta hãy xem xét kỹ về chuỗi mười hai nhân duyên. Nguyên nhân để nam nữ phải lòng nhau – Phát sinh niệm tưởng tình ái, chính là do vô minh, tức một niệm vô minh sinh khởi trước tiên.
“Vô minh duyên hành.” Hành ở đây chính là sự giao cấu.
“Hành duyên thức.” Tức là thức thứ tám được đề cập ở đoạn kinh trên, “thu nạp niệm tưởng thành ra bào thai.” Thức chính là thân trung ấm nhập vào bào thai.
“Thức duyên danh sắc.” Danh là sự phát triển của bào thai từ tuần thứ nhất đến tuần thứ tư. Sắc là sự phát triển của bào thai từ tuần thứ năm đến tuần thứ sáu.
“Danh sắc duyên lục nhập.” Từ tuần thứ bảy trở đi, bào thai đã được hình thành đầy đủ các bộ phận: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm ý.
“Lục nhập duyên xúc.” Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý được hình thành, thì liền có cái biết của sự xúc chạm. Bào thai trong bụng người mẹ cảm nhận được sự xúc chạm nầy.
“Xúc duyên thọ.” Bào thai là nơi nhận biết sự xúc chạm nầy.
“Thọ duyên ái.” Khi có sự xúc chạm, liền phát khởi lòng ham thích. Đây chính là điểm khởi đầu của tình yêu. Và cũng trả lời cho câu hỏi tại sao nam nữ yêu nhau: ngay cả khi trong giai đoạn bào thai, nguyên nhân nầy đã được gieo trồng–đã có niệm tưởng luyến ái rồi.
“Ái duyên thủ.” Khi đã có niệm tưởng về ái, người ta muốn có một đối tượng tình yêu của riêng mình–mình muốn đối tượng tình yêu thành vật sở hữu của chính mình.
“Thủ duyên hữu, hữu duyên sinh.” Một khi mình đã có nó, nghĩa là mình liền được sinh ra.
“Sinh duyên lão tử.” Khi có sinh ra thì liền có sự chết. Thế nên các vị Duyên giác[15] quán chiếu mười hai nhân duyên nầy và biết đâu là hạt giống, nhân và duyên đều là bất tịnh. Tinh cha và huyêt mẹ đều là những thứ không thanh tịnh.
Nếu quý vị muốn chấm dứt luân hồi sinh tử, điều trước hết phải làm là quý vị đừng sinh khởi vô minh. Làm thế nào để được như vậy? Đừng khởi niệm tưởng tình ái! Không có vô minh thì không có hành. Nam nữ quan hệ với nhau hoàn toàn do vì một niệm vô minh ban đầu. Cái gì là vô minh? Đó là ‘Tôi không biết...’
Chẳng hạn, khi người nam thấy một người nữ, có thể cô ta đẹp, nhưng rốt ráo, tại sao anh ta động lòng? Đó chính là khi tâm động, và đó cũng là lúc vô minh sinh khởi. Khi người phụ nữ có cảm tình với người đàn ông, thì cũng tương tự như vậy. Vô minh, do vậy, chính là cội gốc của luân hồi sinh tử. Và đó chính là nơi mà mọi việc đều bắt đầu.
Khi quý vị đã hiểu mười hai nhân duyên và không bị xoay chuyển bởi chúng thì:
Khi vô minh diệt thì,
Hành diệt. Khi Hành diệt thì,
Thức diệt. Khi Thức diệt thì,
Danh sắc diệt. Khi Danh sắc diệt thì,
Lục nhập diệt. Khi Lục nhập diệt thì,
Xúc diệt. Khi Xúc diệt thì,
Thọ diệt. Khi Thọ diệt thì,
Ái diệt. Khi Ái diệt thì,
Thủ diệt. Khi Thủ diệt thì,
Hữu diệt. Khi Hữu diệt thì,
Sinh diệt. Khi Sinh diệt thì,
Lão tử diệt.
Đây là phương pháp của chiều hoàn diệt. Nếu quý vị chọn con đường theo chiều lưu chuyển, thì quý vị làm người. Nếu quý vị đi theo con đường hoàn diệt, thì quý vị thành Phật. Thế nên các vị Duyên giác quán sát mười hai nhân duyên và suy nghĩ, “Tại sao con người được sanh ra? À! Nguồn gốc nơi họ sinh ra cực kỳ bất tỉnh. Đó là hỗn hợp của tinh cha huyết mẹ, tạo nên thành bào thai nên hoàn toàn bất tỉnh.” Thế nên họ đoạn trừ vô minh và chấm dứt luân hồi sinh tử. Vào thời Lương Vũ Đế, Phật pháp hưng thịnh. Khi nào có đám cưới, các Pháp sư đều được thỉnh đến để tụng kinh thuyết pháp. Vào ngày sinh của trẻ con, các Pháp sư cũng được thỉnh đến để thuyết pháp và chúc mừng. Các Pháp sư thường có một bài pháp ngắn tán thán những điều tốt lành–chúc những điều tốt đẹp. Lúc ấy có một người giàu có tổ chức đám cưới cho con trai. Ông ta thỉnh Thiền sư Chí Công đến thuyết pháp và chúc mừng. Khi Thiền sư Chí Công đến nhà, ngài nhìn chung quanh rồi nói:
Lạ thay! Lạ thay!
Cháu cưới bà nội.
Con gái ăn thịt mẹ.
Con đánh cha.
Heo dê ngồi trên ghế.
Lục thân nồi da xáo thịt.
Người đến chúc mừng nhau.
Đúng thật là cảnh khổ.
Tại sao lại có chuyện cháu cưới bà nội? Là vì khi đứa cháu trai mới lên hai thì bà nội qua đời. Khi đang hấp hối, bà ta nắm chặt tay đứa cháu trai và nói, “Đã đến lúc bà phải đi đầu thai, nhưng bà không thể nào quên được cháu. Không biết có ai sẽ chăm sóc cháu sau nầy?” Bà chết khi tay vẫn nắm chặt tay đứa cháu trai.
Sau khi chết bà ta được đưa đến gặp vua Diêm La. Vua nói, “Ồ! Bà thương cháu mình nhiều vậy sao? Được rồi, bà hãy trở về lại cõi nhân gian rồi đầu thai làm vợ nó.” Thế nên bà ta được đầu thai làm người, khi đứa cháu trai đến tuổi thành hôn, nó liền chọn bà cưới làm vợ. Tại sao Thiền sư Chí Công biết được điều nầy? Vì ngài chứng được tha tâm thông và túc mạng thông. Ngài đã khai mở được Phật nhãn.
Khi nhìn ra trước nhà, ngài nói, “Con gái ăn thịt mẹ.” vì ngài thấy đứa bé gái đang ăn một đùi thịt heo. Mẹ nó đã chết và đầu thai làm heo trong nhà nầy. Con heo nay bị làm thịt để đãi khách đến dự đám cưới, và đứa con gái thật là đang ăn thịt mẹ mình vậy!
Khi ngài thấy các nhạc công đang ngồi bên cửa ra vào, ngài nói: “Cái trống mà đứa con trai đang đánh là được bọc bằng da của cha nó.” Người đánh trống đang sử dụng cái trống bọc bằng da dê. Cha của anh ta đã chết và đầu thai làm dê. Con dê đã bị làm thịt, thuộc da, và người đánh trống chẳng khác nào con đang đánh cha mình cả!
Rồi Thiền sư Chí Công lưu ý mọi người rằng, “Heo dê ngồi trên bàn.” Ngài thấy heo dê đang ngồi như những người khách trên những bộ ván ngựa giữa nhà. Đời nầy họ là người, nhưng trong những đời trước, họ đã từng là heo dê. Trong những đời trước họ là heo dê đã bị người ăn thịt, thế nên bây giờ khi họ được mang thân người, họ lại ăn thịt những người bị đoạ làm heo dê để đòi nợ.
Khi Thiền sư Chí Công nhìn thấy nồi thịt đang sôi, ngài kêu kên, “Lục thân nồi da xáo thịt.” Lục thân gồm họ hàng bên cha và bên mẹ, họ hàng của anh rể chị dâu, và họ hàng bên nội, bên ngoại của vợ (chồng) mình. Họ đều là những người bà con rất gần gũi, nhưng bây giờ đều đã đầu thai làm heo dê, lại bị giết thịt, đang bị nấu trong nồi.
Thiền sư Chí Công kết luận: “Người đến chúc mừng nhau.” Ai cũng đến nói lời chúc tụng. Nhưng Thiền sư lưu ý, “Tôi thấy đây toàn là cảnh khổ.” Những gì tôi thấy được chỉ toàn là chuyện khổ. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q4 - Chương I)
+ Pháp ưu sinh: Thai nhi nhập thai có sự tương ứng với phúc đức của cha mẹ thời điểm đậu thai, nên chọn Thời vận đang phát phúc thiện để mang thai, cũng nên tu sửa Tâm tính và hành thiện thí cúng để tích phúc, cầu nguyện Tam Bảo, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Địa Tạng ... gia hộ độ trì để có thể sinh con hiếu thảo. Đây là sự chuẩn bị mang thai - Pháp ưu sinh được con cái như ý, cầu được ước thấy - Phật pháp nhiệm mầu giành cho những ai thực hành đúng Như Pháp đức Phật dạy. Nếu tin sâu nhân quả và tu đạo thiện lành thì nếu mang Chú Đại Bi, Chú Lăng Nghiêm bên mình thì được bình an, nếu mang thai hoặc sinh con, người mẹ và bé luôn đeo Thần chú thì vạn sự cát tường, diệt trừ các chướng nhiễu nhương gây họa. (NTH tổng hợp tóm lược HT Tuyên Hóa giảng giải Chú Đại Bi, Chú Lăng Nghiêm ...)
+ Mang thai - Thai nhi phát triển: ... Kinh Thai Cốt - A Nan hỏi đức Phật: “Trên thế giới này, cái gì lớn nhất?” Đức Phật trả lời: “Trên thế giới này, công ơn cha mẹ, là điều lớn nhất!” A Nan bạch Phật: “Xin Phật từ bi nói cho con nghe”. Đức Phật dạy rằng: “Hình hài đứa bé ở trong bụng mẹ, trong khoảng tháng đầu, có thể ví như sương trên ngọn cỏ, buổi sáng tuy đọng, không lâu lại tan, chỉ biết buổi sáng, không chắc buổi chiều, cho nên gọi là sương đầu ngọc cỏ. Hình hài đứa bé ở trong bụng mẹ, vào khoảng hai tháng, hóa như cục tuyết, vào tháng thứ ba, biến thành máu đọng, và đã dài được sáu tấc ba phân; vào tháng thứ tư, tứ chi bắt đầu, trước sinh hai tay, sau sinh hai chân; đến tháng thứ năm sinh ra năm bào, nghĩa là trước hết sinh xương chỏm đầu, rồi xương hai vai, sau cùng, là xương đầu gối, thế là năm bào. Thân hình đứa bé ở trong bụng mẹ, vào tháng thứ sáu, sinh ra sáu căn: mắt hay nhìn sắc, tai thích nghe tiếng, mũi để ngửi mùi, lưỡi để nếm vị, thân để va chạm, ý để phân biệt, đó là sáu căn. Đến tháng thứ bảy, sinh các loại xương, chia thành bảy thứ: nếu là chư Phật, sinh xương cứng chắc, ví như kim cương, nếu là Bồ Tát, sinh xương đỏ thắm, như cánh hoa sen, nếu là Thanh Văn, sinh xương xá lợi, có đủ năm sắc, nếu là Đế vương sinh xương rồng phượng, nếu là đại thần, sinh xương móc khóa, nếu là tướng quân, sinh xương mãnh hổ, còn những người thường, sinh đủ 360 đốt xương. Đàn ông sinh xương từ đầu trở xuống, đàn bà sinh xương từ chân trở lên; nếu là đàn ông, xương trắng mà nặng, nếu đàn bà, xương đen và nhẹ.
Hình hài đứa bé, ở trong bụng mẹ, vào tháng thứ tám, chịu tám nỗi khổ: mẹ ăn thứ nóng, cảm thấy đau rát, mẹ uống nước lạnh, cảm thấy giá buốt, lúc mẹ ăn no, thấy bị đè ép, khi mẹ đói lòng, cảm thấy chơi vơi, lúc mẹ ngủ nghỉ, như nằm giường sắt, nếu mẹ đi lại, mình thấy lắc lư, khi mẹ ngồi xuống, mình như bị té, nếu mẹ cúi xuống, mình như bị treo; đến tháng thứ chín, ba lần xoay mình: xoay lần thứ nhất, trai chuyển bên trái, gái chuyển bên phải, xoay lần thứ nhì, tay ôm lòng mẹ, chuyển lần thứ ba, chân đạp sườn mẹ, đến tháng thứ mười, là kỳ sinh hạ, nếu đứa con hiếu, thì sinh dễ dàng, nếu là ngỗ nghịch, thì rất khó khăn, cả nhà lo sợ. Sau khi sinh rồi, thân mẹ nhơ nhớp, tinh thần tán loạn, trong khi sinh nở, lo khổ như thế, vì vậy nên biết, ân đức của mẹ, thật là to lớn. (Nguồn: Kinh Mục Liên Sám Pháp)
Xem thêm: Kinh đức Phật giảng nói về công sinh thành của người Mẹ thật lớn lao, không thể đền đáp - Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trộng Ân
+ Tu đúng như pháp tu hành: KHÔNG HỌC ĐỆ TỬ QUY, CẢM ỨNG THIÊN, THẬP THIỆN NGHIỆP MÀ HỌC KINH VÔ LƯỢNG THỌ, QUÝ VỊ HỌC 300 NĂM NỮA CŨNG VÔ ÍCH.
... Trong tất cả những kinh Phật có sâu cạn khác nhau. Nhưng tu học nhất định từ nơi cạn đến sâu, không thể vượt bậc. Vượt bậc nhất định tu không thành tựu được. ..... trong Đại Tạng Kinh có, Phật dùng cách khuyên dạy như vầy: "Phật tử không học Tiểu thừa trước rồi sau đó học Đại Thừa thì không phải là đệ tử Phật". Câu nói này rất quan trọng. Phật không thích dạy người vượt cấp, nhất định theo từng bước mà làm, từng bước vững vàng, quí vị mới thành tựu. [...]
Nhưng ngày nay Nho cũng không cần, Đạo cũng không cần, Tiểu thừa cũng không cần nữa, vừa vào đã học Đại Thừa, sau khi học được đều cuồng vọng tự đại, cho nên không thành tựu gì cả. Đây là gì? Không nghe lời giáo huấn của Phật.
Người Trung Quốc cho rằng: "không nghe lời người lớn, chịu thiệt ngay trước mắt". ... Ngày nay phải cắm rễ từ đâu? Nhất định phải từ Đệ tử quy, Cảm ứng thiên, Thập thiện nghiệp để cắm rễ. Nếu như không phải từ đây mà cắm rễ, quí vị học thêm 300 năm nữa cũng vô ích. Quí vị có thể khai ngộ không, đắc định không? Chắc chắn không thể. Đạo lý này nhất định phải hiểu được, phải vô cùng chăm chỉ nổ lực, dùng công phu hai ba năm để cắm rễ cho chắc. Nhất định phải hiểu được đức Thế Tôn năm xưa tại thế, dùng thời gian 12 năm để cắm rễ, gốc rễ đó sâu biết bao. Vì vậy đương thời người chứng A La Hán rất nhiều...... (Chủ giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không)
+ Đức Phật dạy Tu hành:
Lạy, không phải là quỳ lưng nằm sấp mà là buông bỏ ngạo mạn.
Niệm, không phải là tính số lần mà là thanh tịnh lương tâm.
Xá, không phải là chắp tay cái chào mà là cung kính đối phương.
Định, không phải là ngồi yên bất động mà là ngoài tâm vô vật.
Hỷ, không chỉ là nét mặt tươi vui mà là thân tâm thư thái.
Tu, không chỉ buông bỏ dục vọng mà là tâm không ích kỷ.
Thí, không phải là buông bỏ tất cả mà là tích lũy từ bi.
+ Tu đạo - Tu hành đúng: Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù:
Nếu tu hành còn uống rượu mà muốn thành đạo, thì cũng như người uống thuốc độc mà muốn được an vui, không có thể được. Cớ sao vậy?
Nếu tu hành mà còn ăn thịt, muốn được thành đạo, cũng như nhận kẻ oán thù cho là con mình, muốn được thân yêu không có thể được.
Nếu tu hành phạm tội trộm cắp, muốn đặng thành đạo, cũng như lấy cái lu thủng đựng nước, muốn nước đầy mãi không có thể được.
Nếu tu hành còn phạm dâm dục, muốn cầu thành đạo thì như nấu cát đá muốn cho thành cơm, không có thể được.
Nếu tu hành chẳng dứt bỏ nói dối, lấy cái dối làm thiệt, muốn cho thành đạo cũng như người thường dân xưng là vị quốc vương, muốn cầu giàu sang không có thể được.
Nếu tu hành mà tâm thường hay giận hờn, tánh thường hay tranh hơn thua, thiếu lòng từ bi bình đẳng mà muốn thành đạo, cũng như mình đi chiếc ghe lủng, muốn qua biển lớn thì phải bị chìm, tại nơi người muốn nên phải bị đọa, chẳng phải đức Phật chẳng cứu.
Nếu như muốn đoạt kết quả tốt đẹp của đạo Bồ đề thì phải giữ gìn trai giới của đức Như lai cho được thanh tịnh, thà là bỏ thân mạng, nhứt định không hủy phạm; đức Phật nhìn nhận người này chắc được thành Phật.... (Nguồn: Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Tu tinh tấn không giải đãi: Nầy Nan Đà ! Biển khổ sanh tử rất khổ rất khổ, lửa nóng đốt cháy, không một hữu tình nào là chẳng bị thiêu đốt. Các hữu tình ấy do nơi ngọn lửa phừng mạnh nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý tham cầu trần cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp....
Nầy Nan Đà ! Đó là những ngọn lửa tham sân si, những ngọn lửa sanh lão bịnh tử, những ngọn lửa ưu bi khổ não độc hại thường tự đốt cháy không một ai được khỏi. Nầy Nan Đà !
Người giải đãi thọ nhiều khổ sở, họ bị phiền não vây buộc mà tạo nghiệp ác, nên luân hồi chẳng dứt, sanh tử chẳng hết.
Người tinh tấn thọ nhiều an lạc, phát tâm dũng mãnh dứt trừ phiền não, tu tập pháp lành chẳng bỏ việc thiện không lúc nào thôi nghỉ.
Các ông phải quan sát thân thể này da thịt gân xương máu mạch tủy não sẽ tan rã chẳng lâu, thường phải nhứt tâm chớ để giải đãi, người chưa chứng đắc phải siêng cầu chứng ngộ. Các ông cần phải học tập như vậy.... (Nguồn: Pháp hội Phật thuyết Nhập Thai Tạng - Đại Bảo Tích Kinh)
+ Tranh chấp: 146. CHÚNG ĐỆ TỬ CỦA NHƯ LAI THẬT KHÉO THÚ HƯỚNG
Vua Ba Tư Nặc thưa: Bạch Thế Tôn, khi con ngồi trên đô tọa, con nhìn thấy mẹ tranh chấp với con, con tranh chấp với mẹ; cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha; cho đến anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc tranh chấp lẫn nhau. Trong khi tranh chấp, mẹ nói con xấu, con nói mẹ xấu, cha con, anh em, chị em, thân bằng quyến thuộc nói xấu lẫn nhau. Người thân thích trong nhà còn như thế, huống nữa là người ngoài...... (Trung A Hàm, Kinh Pháp Trang Nghiêm, Phẩm 18, số 213)
+ Không Tham Tranh: HT Tuyên Hóa đặc biệt dạy đệ tử phải “không tham” — điều thứ hai trong Lục Đại Tông Chỉ?
Bởi vì chúng sanh thường không sợ nhân, chỉ sợ quả, nên lòng tham trở thành mầm gốc của ái dục, là cội rễ trói buộc sanh tử. Tham giống như một con bạch tuộc của ngũ dục: Tài, sắc, danh, thực, thùy. ... hễ còn tham thì từ bi không trọn vẹn, giới hạnh dễ bị tổn giảm; vì tham mà đánh mất chánh niệm, chánh hạnh, rồi dần dần xa rời Đạo. ...
Hơn nữa, theo nhân quả và cộng nghiệp, khi lòng tham lan rộng trong cá nhân và xã hội, sẽ chiêu cảm những bất ổn về đạo đức, môi trường và đời sống con người. Đây là nguyên lý cảm ứng của nghiệp cộng đồng.
Vì vậy, người tu Đạo phải lấy “không tham” làm gốc, không phải để trở nên khô cằn hay chối bỏ đời sống, mà để nuôi lớn trí tuệ và từ bi, giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, và bước đi vững vàng trên con đường giải thoát.
Không tham thì tâm mới an - Tâm an thì giới mới vững - Giới vững thì định sanh - Định sanh thì tuệ hiện.
Phân tích: 6 tông chỉ là Không tranh – Không tham – Không cầu – Không ích kỷ – Không tự lợi – Không nói dối
I. Trong đó, “không tham” đứng ngay sau “không tranh”, vì: Tranh là biểu hiện bên ngoài - Tham là động cơ bên trong
Hòa Thượng dạy: “Hễ còn tham thì nhất định còn tranh. Hễ không tham thì tranh cũng không còn.” (HT Tuyên Hóa, 2009)
👉 Như vậy, tham là gốc, tranh chỉ là ngọn. Nếu không chặt gốc tham, người tu chỉ “không tranh” bằng hình thức, tâm vẫn động.
II. “Chúng sanh không sợ nhân, chỉ sợ quả” => vì sao tham dễ sinh?
1. Không thấy nhân → Buông lung tâm. Phàm phu: Thấy quả khổ thì sợ => Nhưng khi khởi tâm tham → không sợ
HT Tuyên Hóa nói rõ: “Khởi một niệm bất thiện, tuy không ai thấy, nhưng thiên địa quỷ thần đều biết.” (HT Tuyên Hóa, 2010)
Vì không tin sâu nhân quả trong từng niệm, nên tham trở thành mầm gốc của ái dục.
III. Tham là gốc của ái dục và sanh tử: Theo Thập Nhị Nhân Duyên: Ái → Thủ → Hữu → Sanh → Lão tử
Tham chính là Ái ở dạng thô nhất. Hòa Thượng giảng: “Ái là cái khóa khóa chặt sanh tử; Tham là tay cầm của cái khóa ấy.” (Hòa Thượng Tuyên Hóa, 2008)
👉 Do đó: Không đoạn tham → Không đoạn ái => Không đoạn ái → Sanh tử không dứt
IV. Ví dụ “bạch tuộc ngũ dục” — phân tích theo Phật học: Ngũ dục gồm Tài - Sắc - Danh - Thực - Thùy. “Ngũ dục như năm sợi dây trói người tu trong luân hồi.” (HT Tuyên Hóa, 2007)
V. Vì sao Hòa Thượng đặc biệt nghiêm khắc với đệ tử về “tham”?
1. Tham phá Giới: “Người tu mà còn tham, thì giới chỉ giữ được bên ngoài.” (HT Tuyên Hóa, 2011)
Tham khiến: Linh động với giới - Bao biện/ Biện hộ cho lỗi - Dùng Phật pháp để che tham tâm
2. Tham làm từ bi biến chất - Hòa Thượng nói thẳng: “Có tham thì từ bi trở thành điều kiện.” ( Hòa Thượng Tuyên Hóa, 2009)
Nghĩa là: Thương vì mình được lợi và Giúp vì mong đáp trả → đó không phải từ bi Phật pháp
3. Tham phá chánh niệm – chánh hạnh: Khi tham dẫn đường thì Niệm không còn chánh - Hạnh không còn trực. Dù hình thức còn tu, tụng kinh, giảng pháp, nhưng “Nội tâm đã rời Pháp.”
VI. Tham và cộng nghiệp: “Thiên tai không phải do trời, mà do tâm con người chiêu cảm.” (Hòa Thượng Tuyên Hóa, 2012)
Theo Phật học: Cá nhân tham → Tạo biệt nghiệp và Tập thể tham → Tạo cộng nghiệp => Bất công xã hội - Chiến tranh - Tàn phá môi trường - Thiên tai bất thường ===> Đây là nhân quả tập thể, không phải mê tín hay trừng phạt thần linh.
VII. “Không tham” không phải chối bỏ đời sống - HT cảnh tỉnh: “Không tham không có nghĩa là không làm, mà là làm mà không bị trói.” (HT Tuyên Hóa, 2010). Cho nên:
• Không tham ≠ Khổ hạnh cực đoan
• Không tham = Dùng mà không dính
• Sống giữa đời nhưng tâm không bị đời kéo
Đây chính là: Trung đạo - Bát Nhã - Giải thoát ngay trong hiện tại
VIII. Kết luận theo Giới – Định – Tu: Không tham Giới thanh tịnh => Giới thanh tịnh Định dễ sanh => Định sanh Tuệ hiển lộ => Tuệ hiện Sanh tử lỏng dần
👉 Vì vậy, HT Tuyên Hóa đặt “không tham” làm then chốt, không phải để hạn chế đệ tử, mà để bảo hộ huệ mạng của người tu.
+ Niệm tưởng - Tưởng ấm hay Nghĩ tưởng: Trích Đức Phật giảng cho ngài A Nan...
Nếu cái thấy nghe nầy, rời các tướng tối sáng, động tỉnh, thông bít, thì rốt ráo nó không có tự thể. Cũng như tâm niệm, nếu rời khỏi tiền trần, là vốn không thật có.
Sao lại đem cái tâm hoàn toàn đoạn diệt ấy làm nhân tu hành, mà mong đạt được bảy quả vị thường trụ của Như Lai?
Giảng giải:
Niệm tưởng của tâm chính là thức thứ sáu, đúng thật là ‘ly khai pháp trần thì sẽ không hiện hữu, không có tự thể.’ Sao lại đem cái tâm hoàn toàn đoạn diệt ấy làm nhân tu hành, mà mong đạt được bảy quả vị thường trụ của Như Lai? Làm sao có thể dùng nó để để tu chứng bảy quả vị thường trú, Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như Phật tính, Am-ma-la thức, Không Như Lai tạng, Đại viên cảnh trí được ?(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủi Lăng Nghiêm)
+ Niệm tưởng: Trích Đức Phật giảng cho ngài A Nan
... "A-nan, ví như dòng nước chảy mạnh, các làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt khỏi nhau."
Giảng:
Hành ấm giống như một dòng nước chảy xiết. A-nan, ví như dòng nước chảy mạnh, các làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt khỏi nhau. Các ngọn sóng chồm lên phía trước, phía sau vô số các ngọn sóng khác liên tục phủ lên nhau. Khi quý vị nhìn vào sóng, quý vị thấy sóng chồm về bên phải, rồi chồm về bên trái, rồi nghĩ rằng chẳng có ai theo dõi đến chúng, sóng rất có trật tự. Phần lớn, sóng chỉ có một dạng, nhưng ngọn sóng lớn lại phát tán ra thành nhiều ngọn sóng trong cùng một lúc. Những ngọn sóng ấy giống như các niệm tưởng trong tâm của con người. Trong tâm thức, trong thức thứ tám, niệm nầy sinh khởi, niệm khác hoại diệt theo sau các niệm khác dấy khởi. Sự sinh khởi và hoại diệt của các niệm trong tâm thức cũng giống như sóng trên mặt nước. Nó liên tục nối tiếp nhau, ngọn nầy kế tiếp ngọn kia, giống như niệm tưởng trong tâm con người vậy: niệm nầy dừng, niệm khác sinh khởi, niệm kia dừng, liền có niệm kế tiếp nối theo. Một niệm vừa diệt, niệm khác liền sinh, niệm kia vừa sinh, niệm sau liền diệt. Nó liên tục trình hiện như sóng, không bao giờ vượt qua nhau. Ngọn sóng đi sau không bao giờ phủ lên đầu ngọn sóng trước. Cũng vậy, niệm tưởng sau của quý vị không bao giờ phóng vọt lên trước niệm hiện tiền. Thế nên giữa các niệm có một hoạt động rất trật tự, không một chút sai lầm. Mới nhìn qua thấy các ngọn sóng tưởng như không có ranh giới, nhưng thực ra sóng di chuyển từng ngọn từng ngọn rất có trật tự và liên tục không bao giờ dừng nghỉ (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
389. LỤC HÒA Pháp ủy lao
1) Thân nghiệp từ hòa hướng đến các vị đồng phạm hạnh, pháp ấy gọi là pháp ủy lao. Đó là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn
2) Khẩu nghiệp nói năng từ hòa
3) Ý nghiệp từ hòa
4) Lợi hòa là có lợi lộc nào đúng pháp mà được, cho đến miếng cơm ở chính trong bình bát của mình, với phần lợi như vậy, mang chia xẻ cho các vị đồng phạm hạnh, pháp đó gọi là pháp ủy lao, là pháp khả ái, pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn
5) Giới hòa: Nếu có giới nào không bị sứt mẻ, không bị hư thủng, không bị dơ, không bị đen, vững vàng như mặt đất, được Thánh khen ngợi, đầy đủ khéo thọ trì. Với giới phần như vậy, cùng chia xẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp ủy lao, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
6) Kiến hòa: Nếu có kiến giải của Thánh có sự xuất yếu, được thông suốt bằng tuệ kiến, đưa đến sự chân chánh diệt khổ, với kiến phần như vậy, cùng chia xẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp ủy lao là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho ái niệm, khiến cho tôn trọng, khiến cho phụng sự, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
Ta vừa nói sáu pháp ủy lao, vì vậy mà ta giảng giải. Nếu các ngươi đối với sáu gốc rễ của đấu tranh mà đoạn tuyệt hoàn toàn, và với bảy pháp đình chỉ đấu tranh, khi trong Tăng chúng khởi lên đấu tranh, thì chấm dứt bằng luật đình chỉ đấu tranh như quăng bỏ giẻ rách, rồi lại thực hành sáu pháp ủy lao ấy, như vậy sau khi Ta khuất bóng, các con sống cộng đồng hòa hợp hoan hỷ không tranh chấp, cùng đồng nhất trong một tâm, cùng đồng nhất trong một giáo pháp, hòa hợp như nước với sữa, khoái lạc du hành như lúc Ta còn tại thế. (Trung A Hàm, Kinh Châu Na, Phẩm 16, số 196)
+ Chuyển động: Được đặc trưng bằng 3 tính chất: 1/ Tịnh (Inertia); 2/ Động (Mobility); 3/ Nhịp (Rhythm) (CTNM, 418)
+ Chuyển động: Nghĩa đen, tất cả mọi chuyển động đều là kết quả của sự va chạm hoặc sự giao lưu giữa các nguyên tử, và không có một nguyên tử nào ở bất cứ nơi đâu thoát khỏi được mãnh lực này. Trong trường hợp chuyển động quay tròn vốn đang chi phối hoạt động của nguyên tử vật chất, xung lực xuất phát từ bên trong vòng giới hạn và được tạo ra bởi sự va chạm của điện tích dương lên trên các điện tích âm. Điều này đúng cho tất cả các nguyên tử, thuộc vũ trụ, thái dương, cá nhân, hóa học và ..v.v… (LVLCK, 1039);
1/ Tính chất tịnh: Tính chất này là đặc điểm của mọi nguyên tử lúc bắt đầu biểu lộ, lúc bắt đầu một chu kỳ thái dương hay chu kỳ đại khai nguyên – (hay là 100 năm của Brahma), lúc bắt đầu một dãy, một bầu hay của bất cứ dạng hình cầu nào. Do đó, cách trình bày bao gồm toàn thể các hình hài biểu lộ trong Thái Dương Hệ; .... Tịnh là kết quả của sự thiếu hoạt động và sự tương đối bất động của các lửa vật chất.
2/ Tính chất động: Các lửa nội tại của vật chất tạo ra chuyển động quay. Sau rốt, sự quay này dẫn đến kết quả là sự phát xạ. Việc phát xạ của vật chất, kết quả của nhiệt lưỡng phân của nó, tất nhiên tạo ra một tác dụng lên các nguyên tử ở môi trường chung quanh nó (không có gì quan trọng, dù môi trường chung quanh đó là không gian vũ trụ, không gian Thái Dương Hệ hay là vùng bên ngoài của thể xác con người), và sự tương tác này tạo ra cự lực (repulsion, lực đẩy) và hấp lực (atraction, lực hút) tùy theo cực của nguyên tử vũ trụ, nguyên tử Thái Dương Hệ hay nguyên tử hồng trần. Sau rốt, chính điều này tạo ra sự cố kết của hình hài. Các cơ thể hay tập hợp các nguyên tử xuất hiện hay biểu lộ và tồn tại trong các chu kỳ lớn hay nhỏ của chúng cho đến khi tính chất thứ ba được nhận ra.
3/ Tính chất nhịp nhàng, tức là việc đạt tới điểm thăng bằng hoàn toàn và điểm quân bình. Lúc bấy giờ, điểm thăng bằng hoàn hảo này tạo ra một số hiệu quả đặc thù có thể được liệt kê và suy gẫm, cho dù chúng có thể dường như nghịch thường và mâu thuẩn đối với thể trí hữu hạn của chúng ta. Các hiệu quả:
a. Sự tan rã của hình hài
b. Giải thoát tinh hoa mà hình hài giam giữ.
c. Các phân ly của Tinh thần và Vật chất.
d. Kết thúc một chu kỳ, dù là hành tinh, con người hay thái dương.
e. Tạo ra việc quy nguyên và chấm dứt việc biểu lộ.
f. Tái hấp thu tinh hoa, phối hợp lại vật chất đã biến phân với cội nguồn của vật chất.
g. Kết thúc thời gian và không gian theo cách hiểu của chúng ta.
h. Hợp nhất 3 luồng Hỏa và đưa tới sự cháy tự phát, nếu có thể nói như thế.
i. Hoạt động tổng hợp của vật chất bằng 3 loại chuyển động – quay tròn, xoắn ốc theo chu kỳ và lũy tiến – mà chuyển động hợp nhất sẽ được tạo ra bằng sự tương tác của lửa vật chất, lửa của trí tuệ và của Tinh thần vào nhau. (LVLCK, 157–159)
+ 4 Thành trụ: “Sắc tức là không - Không tức là sắc - Sắc chẳng khác không - Không chẳng khác sắc”.
Vật lý lượng tử rất là lợi ích, giúp hiểu hơn về lý này. Vật lý lượng tử nói, vạn vật trên thế gian này, kể cả thân thể của chúng ta đều được cấu tạo từ các nguyên tử. Đi sâu hơn nữa vào bản chất nguyên tử, theo vật lý hiện đại, thì nguyên tử không phải là những hạt như kiểu hạt cát, hay hạt sỏi như cách chúng ta nghĩ. Ngay những hạt nguyên tử đó, lại có 1 hạt nhân mang điện tích dương nằm ở lõi trung tâm và các electron âm tính quay xung quanh với vận tốc cực cao, thậm chí ngày nay, khoa học còn chứng minh được rằng nhỏ hơn các hạt nguyên tử còn có thành phần là hạt notron, dưới notron còn có hạt quark, dưới quark còn có neutrino, và gần như chưa dừng lại,… có thể còn rất nhiều hạt nữa mà con người chưa thấy..... (Nguồn: 4 Thành trụ _ Đại Lai Lạt ma giảng)
+ Kinh Đại Bảo Tích:
a/ Trích Kinh Phật Thuyết Nhập Thai Tạng thứ mười bốn: Giúp người tu xa lìa tà dục, Đức Phật phán [Đệ tử muốn tu sanh Thiên]: "Nếu nguyện nhơn gian, hoặc cầu thiên thượng thì có những lỗi lầm như vậy. Nay em phải cầu Niết bàn mà tu phạm hạnh, chớ thích cõi trời mà gây sự khổ về sau.".Ngài Nan Đà nghe đức Phật dạy như vậy, trong lòng rất hổ thẹn cúi đầu nín lặng.
Đức Thế Tôn liền dắt Ngài Nan Đà cùng ra khỏi địa ngục về đến rừng Thệ Đa bảo Ngài Nan Đà và chư Tỳ Kheo rằng : "Trong tâm có ba thứ cấu dơ là dâm dục, giận thù và ngu si rất đáng được vứt bỏ, phải nên xa rời, các ông phải tu học".
Xem nguồn: Xem tại đâị
Pháp tu quán tưởng các loại vi trùng trong bộ phận sinh dục và cơ thể người phụ nữ giúp tu xa lìa tà dục
+ Chu Kỳ: Sự chuyển động lặp đi lặp lại theo Định Luật Chu Kỳ bao chùm và điểu khiển mọi hoạt động của vạn sự, vạn vật trong vũ trụ, sự tuần hoàn của các chu kỳ tuân theo Định Luật Tuần Hoàn - Định Luật Tiến Hóa của Vũ trụ. Ví dụ với Sự sống:
6. Mỗi sự sống biểu hiện có ba chu kỳ vĩ đại của nó (6-7)
Sinh ra Sống Chết.
Xuất hiện Phát triển Biến mất.
Giáng hạ tiến hoá Tiến hóa Qui nguyên
Bất động hoạt động Chuyển động nhịp nhàng
Sự sống tĩnh tại Sự sống sinh động Sự sống nhịp nhàng.
7. Kiến thức của các chu kỳ liên quan đến kiến thức về con số, âm thanh và màu sắc (7)
8. Kiến thức toàn bộ của các chu kỳ chỉ được biết đến khi đã là một người tinh thông lão luyện hoàn thiện (7)
Tri thức trọn vẹn của bí ẩn của các chu kỳ chỉ được sở hữu bởi Chân sư hoàn thiện. (LVLCK, 39)
+ Các chu kỳ: .... "Nhiều sự biểu thị về bản chất chu kỳ của hiện tượng này được rải rác khắp Bộ Luận này, và các môn sinh nên nhớ rằng trong tất cả những gì liên quan đến sự phát xạ, (Phật giáo gọi là phóng quang, Đạo giáo gọi là Khí trong Tinh - Khí Thần_HT Tịnh Không) giống như trong mọi hiện tượng khác, sẽ có những giai đoạn im lìm, và những giai đoạn hoạt động mãnh liệt. Điều này sẽ được thấy khá rõ ràng liên quan với GIỚI thứ tư của thiên nhiên. (LVLCK 2, 1078)
+ Chu kỳ và tuần hoàn: Cung II chi phối Chu kỳ xoay vòng tròn - Cung I chi phối tuần hoàn lập lại các Chu kỳ => Phối hợp 2 dạng chuyển động trong không gian thành đường Xoáy trôn ốc tiến thẳng mãi về phía trước, đồng thời vẫn thuộc khối hình tướng xoay tròn ....
+ Ví dụ về Chu kỳ Sanh => Trụ => Lão/ Dị => Diệt: Sanh/ Từ 0 thành có = Thành; Trụ/ Đình trụ, phát triển và biến suy lão; Lão / Biến hoại, biến dị; Hoại/ Dị - Diệt/ Không/ Vô thường - Là hoại diệt, sanh trụ dị diệt cũng chính là thành trụ hoại không. (Nguồn: Trăm Pháp minh môn luận_HT Tuyên Hóa)
+ Xem thêm: Tổng hợp về Chu kỳ
+ Phân hóa Vật chất: Vật chất và dĩ thái và những từ đồng nghĩa - Matter and ether are synonymous terms:
Bảy cõi giới chính này thuộc thái dương hệ của chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, chúng ta có thể từ đó thấy được lý do được Bà H. P. B. nhấn mạnh về sự kiện rằng vật chất và dĩ thái là những từ đồng nghĩa và rằng chất dĩ thái này được thấy ở dạng này hay dạng khác trên tất cả các cõi giới, và chỉ là một phân cấp của vật chất nguyên tử vũ trụ, được gọi một cách không phân biệt là mulaprakriti hay vật chất tiền di truyền nguyên thủy, và khi được phân hoá bởi Fohat (hay Lực năng lượng sống, Thượng Đế thứ ba hay Brahma), nó được gọi là prakriti, hay vật chất. (TCF/ LVLVT, 118)
+ Akasha: Tinh tú quang (Vật chất nguyên thuỷ) hay Linh hồn vũ trụ; cái Khuôn của vũ trụ; Bí Nhiệm Huyền Linh từ đó mọi vật vốn hiện tồn được sinh ra do sự phân ly hay biến phân. (LVLCK, 58) (Xem phân biệt: Tinh tú quang và Cảm dục quang)
+ Với Nội Tại - Cung nguyên thủy biểu lộ ra Lửa hoạt nhiệt. Trên cõi cao nhất, sự phối hợp của 3 yếu tố (hoạt nhiệt, tiềm nhiệt và chất liệu nguyên thuỷ mà chúng làm cho linh động) được biết dưới dạng thức ‘biển lửa’, trong đó Tiên thiên khí là biến phân thứ nhất của vật chất tiền căn nguyên. (LVLCK, 57)
+ Dĩ Thái: Dĩ thái là dạng thô trược nhất của Tiên Thiên Khí (Akasha). (GLBN I, 78)
+ DĨ THÁI KHÔNG GIAN - NƯỚC CỦA KHÔNG GIAN - Ether. Chúng ta đã tạo ra một thuật ngữ mà chúng ta gọi là dĩ thái (ether). Nói theo huyền linh học, đây là cách hiện đại để diễn đạt “nước của không gian” (“waters of space”), vốn là khối nước của ham muốn (waters of desire), mà chúng ta bị chìm ngập trong đó. Nó lên xuống liên tục và là luồng sự sống, được tạo thành với 49 loại năng lượng, đang tuôn đổ qua hoa sen chân ngã vũ trụ, và (tỏa ra từ nó) cung cấp theo mức độ của nó để nuôi dưỡng hình tướng – thuộc thái dương, thuộc hành tinh, hoặc thuộc con người − mà nó chịu trách nhiệm. Điều này được bàn đến trong bộ sách “Luận Về Lửa Càn Khôn”. (LVHLT, 275)
+ Dĩ thái: Trong và qua Dĩ thái của không gian, các năng lượng từ nhiều Cội Nguồn xuất phát đang nắm giữ/ vận dụng (Play). Thể dĩ thái của hành tinh, thái dương hệ và 7 thái dương hệ (Có thái dương hệ chúng ta)... cung cấp môi trường truyền chuyển cho tất cả các năng lượng đang tác động trên và qua thái dương hệ .... Nó chuyển động liên miên không dứt- một môi trường vĩnh cửu cho việc trao đổi và truyền chuyển năng lượng.
* Dĩ thái không gian, Dĩ thái hành tinh, Dĩ thái trong con người ........ mời xem tại (CTHNM, 16)
+ Chất dĩ thái sẽ hoàn toàn thấy được đối với nhiều người vào cuối thế kỷ (XX-ND) này (LVHLT, 374)
+ Chất liệu là chất dĩ thái (ether) thuộc một trong nhiều thứ bậc của dĩ thái và là những gì ẩn sau chính vật chất (matter). (TTCNT, 37)
+ Dĩ thái là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi hồng trần. Dĩ thái có 4 phân thân của nó là Tứ Đại: Phong, Hỏa, Thủy, Địa. (LVLCK, 43)
+ Có 4 loại chất dĩ thái của các cõi phụ của Cõi trần (Biến phân của Cõi Bảy = Cõi Hồng Trần Vũ Trụ, là Cõi thấp nhất của Bảy Cõi Vũ Trụ Hệ thống/ Gốc) (LVLCK, 320, 326):
a. Cõi phụ 1 - Cõi trần (cõi phụ cao nhất) chứa chất dĩ thái thứ 1.
b. Cõi phụ 2 - Cõi trần, chất dĩ thái 2, ánh sáng cõi trần sử dụng làm phương tiện truyền đi.
c. Âm thanh tác động qua Cõi phụ 3 - Chất dĩ thái 3.
d. Màu sắc có liên kết với Cõi phụ 4 - Chất dĩ thái 4. (Dĩ thái 4 là chất mà nhờ đó, đa số thể dĩ thái của con người được tạo thành)
+ Dĩ thái lực tức là sinh lực. (TLHNM II, 309)
+ Huyền linh học nhìn nhận có 7 Bản Tố Vũ Trụ, 4 hoàn toàn thuộc về vật chất, bản tố thứ 5, Dĩ Thái, bán vật chất, sẽ trở nên thấy được trong không khí vào cuối Cuộc Tuần Hoàn thứ 4. (GLBN I, 78)
+ Khoa học khám phá Dĩ thái: Còn Vật lý học với các khám phá về quark đã bước vào cõi phụ dĩ thái (etheric) của cõi trần. Trong tương lai, nếu khoa học có thể khám phá ra cách làm việc với các cõi phụ dĩ thái theo cách như hiện nay đang làm việc với thế giới vật lý (ba cõi phụ 5,6,7) thì có lẽ đó là một trong những tiến bộ vĩ đại nhất.
+ Dĩ thái/ Akasha là Prdhna dưới một dạng khác. (GLBN I, 300)
+ Dĩ thái: Là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) trên cõi sự sống Chân Thần, cõi Đại Niết Bàn.
+ Dĩ thái/ Akasha là dĩ thái vũ trụ thứ 2 ở cõi Chân Thần (Cõi Đại Niết Bàn). (LVLCK, 626)
+ 4 Thành trụ: “Sắc tức là không - Không tức là sắc - Sắc chẳng khác không - Không chẳng khác sắc”.
Vật lý lượng tử rất là lợi ích, giúp hiểu hơn về lý này. Vật lý lượng tử nói, vạn vật trên thế gian này, kể cả thân thể của chúng ta đều được cấu tạo từ các nguyên tử. Đi sâu hơn nữa vào bản chất nguyên tử, theo vật lý hiện đại, thì nguyên tử không phải là những hạt như kiểu hạt cát, hay hạt sỏi như cách chúng ta nghĩ. Ngay những hạt nguyên tử đó, lại có 1 hạt nhân mang điện tích dương nằm ở lõi trung tâm và các electron âm tính quay xung quanh với vận tốc cực cao, thậm chí ngày nay, khoa học còn chứng minh được rằng nhỏ hơn các hạt nguyên tử còn có thành phần là hạt notron, dưới notron còn có hạt quark, dưới quark còn có neutrino, và gần như chưa dừng lại,… có thể còn rất nhiều hạt nữa mà con người chưa thấy..... (Nguồn: 4 Thành trụ _ Đại Lai Lạt ma giảng)
* Xem thêm: Dĩ thái - Tiên thiên khí - Akasha. nhantrachoc
* Xem thêm: Điểm 6 - Quy Luật 5 - CT Con Người 13- Thể Hồng Trần- minhtrietmoi.org
+ LĂNG NGHIÊM CHÚ SỚ LƯỢC GIẢNG: Nhân duyên Ðức Phật thuyết kinh Lăng Nghiêm là vì A Nan bị Ma Ðăng Già Nữ dùng tà chú Tiên Phạm thiên mê hoặc, nhiếp dẫn vào nhà dâm, dựa kề vuốt ve, làm cho A Nan sắp bị hủy hoại giới thể. Ðức Phật sai Bồ tát Văn Thù đem chú đến cứu hộ, dắt A Nan về chỗ Phật. Vì thế nên biết Chú Lăng Nghiêm là chủ thể của Kinh Lăng Nghiêm. Nếu không có chú Lăng Nghiêm, thì không có Kinh Lăng Nghiêm. Mà Charles Luk khi phiên dịch Kinh Lăng Nghiêm ra tiếng Anh, lại võ đoán bỏ đi phần chú Lăng Nghiêm cùng với phần kiến lập thiết trí đạo tràng, nói người Tây phương đối với chú không có gì hứng thú. Ðiều này thật là hoàn toàn sai lầm. Thật như rằng lấy tai thay mắt (đối với vự việc chỉ nghe người ta nói liền tin theo mà không chịu phân tích, xét đoán), giống như thằng mù dẫn thằng đui, người ta nói sao mình cũng tào lao làm bậy theo, thật là vô tri ngu dốt, đáng thương vô cùng, đáng hổ thẹn biết bao. Ðã không thỉnh giáo với các bậc Thiện trí thức, lại lấy ý kiến nông cạn hẹp hòi của riêng mình, độc tài Kinh nghĩa, không sợ quả báo, gan to tầy trời, mà những người không hiểu biết lại a dua theo đó. Lại có những quyến thuộc của ma vương, vô cùng khiếp sợ chân lý của Kinh Lăng Nghiêm phá tà hiển chánh, thanh tịnh minh hối, chuyển mê về ngộ. (HT Tuyên Hóa giảng)
+ Chú Lăng Nghiêm - Thủ Lăng Nghiêm: Chú Lăng Nghiêm là Chú quan trọng nhất, hơn hết thảy trong các Chú. Bao gồm hết thảy thể chất và diệu dụng của Phật Pháp. Chú này chia làm năm bộ: Kim Cang bộ, Bảo Sinh bộ, Liên Hoa bộ, Phật bộ và Nghiệp bộ. Năm bộ Kinh này thuộc về năm phương:
1. Kim Cang bộ : Thuộc về phương Đông, Đức Phật A Súc là chủ.
2. Bảo Sinh bộ : Thuộc về phương Nam, Phật Bảo Sinh là chủ.
3. Phật bộ : Thuộc về chính giữa, Phật Thích Ca Mâu Ni là chủ.
4. Liên Hoa bộ : Thuộc về phương Tây, Phật A Di Đà là chủ.
5. Nghiệp bộ: Thuộc về phương Bắc, Phật Thành Tựu là chủ.
(Bộ sổ ghi nghiệp của chúng sanh được giữ bởi những vị “Cai Quản Nhân Quả” hay Minh Quan trong địa ngục_Từ điển thuvienhoasen.org)
- Mời đọc: Khai thị về Kinh và Chú Thủ Lăng Nghiêm
- Mời đọc: Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm
+ Ứng dụng Chú Lăng Nghiêm: Nếu quý vị tụng được chú Lăng Nghiêm, thì quý vị sẽ là một trong những người giàu nhất thế giới trong bảy kiếp sau. Thực vậy, nếu ngay bây giờ, nếu quý vị tụng được Chú Lăng Nghiêm, thì quý vị sẽ là một trong những người giàu nhất thế giới vì quý vị nhận ra được Pháp bảo tạng nầy. Và khi quý vị đặt Pháp bảo tạng nầy vào trong tâm quý vị rồi thì còn có ai đánh cắp ra khỏi được? Bất kỳ loại kẻ cắp nào cũng không lấy được. Pháp bảo tạng nầy ở trong tự tánh của quý vị. Nó đã được cất giữ trong vòm trời Như Lai tạng của quý vị. Chẳng ai có thể tìm đến đó để lấy cắp được. Chẳng thể diễn tả nó vi diệu đến chừng nào. Nếu quý vị thâm nhập được Phật pháp, thì ngay bây giờ quý vị là một trong những người giàu nhất thế gian. Nhưng bây giờ thì quý vị chưa sử dụng tài sản đó được. Khi nào quý vị thành Phật rồi thì điều ấy sẽ thuộc về quý vị. Bây giờ gia tài ấy chỉ mới được kí thác với tên của quý vị, nhưng quý vị chưa đến tuổi trưởng thành, thế nên bây giờ chưa dùng được. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
-Chú Thủ Lăng Nghiêm tiêu trừ Ái dục: ... Như Ma-đăng-già trước kia là dâm nữ, do nhờ sức của thần chú mà tiêu trừ ái dục. Nay trong Phật pháp có tên là Tánh tỷ-khưu ni.
Giảng giải:
"Như Ma-đăng-già trước kia là dâm nữ, do nhờ sức của thần chú mà tiêu trừ ái dục". Trong đời trước, cô ta là dâm nữ, vốn nhiều ái dục. Tuy vậy, năng lực của thần chú Thủ-lăng-nghiêm đã khiến cho tiêu tan hết ái dục trong cô. Nên bây giờ chúng ta mới biết công dụng thần chú Thủ-lăng-nghiêm là để tiêu trừ ái dục trong lòng mỗi người. “Thế thì tôi chẳng muốn tụng chú Thủ-lăng-nghiêm nữa,” quý vị bác lại. “Tôi không muốn tình yêu của mình bị khô héo. Tôi muốn có tình yêu mãi mãi.”
Giữ mãi tình yêu ấy? Được rồi! Quý vị cứ mặc tình. Nếu quý vị đã thích rồi, thì chẳng ai ngăn cản được. Nhưng quý vị nên nhớ rằng thần chú Thủ-lăng-nghiêm không những chỉ trừ bỏ được nghiệp ái, mà còn có thể khiến cho tăng trưởng năng lực thần thông và trí huệ. Đó là năng lực bất khả tư nghì.
Ái tình là khổ đau. Như tôi vừa nói đến. Yêu và ghét là hai cái khổ. Chẳng hạn, hãy xem tình yêu mà không được đáp lại. Người đang yêu không nghĩ đến gì khác ngoài người mình yêu đến mức không ăn không ngủ được. Họ cứ mơ tưởng đến cách theo đuổi, nhưng cuối cùng họ vẫn không đạt được. Có phải đó là nghĩ mãi đến cái khổ hay không?
Nay trong Phật pháp có tên là Tánh tỷ-khưu ni.
Pháp danh Tánh tỷ-khưu ni của Ma-đăng-già biểu hiện sự nhận ra tự tánh của cô ta. Ngay khi Đức Phật nói pháp cho cô ta nghe, ngay lúc đó cô ta chứng ngộ, đạt được quả vị thứ ba của hàng A-la-hán, không qua các thứ bậc sơ quả đến quả vị thứ hai. Cô ta chứng ngộ ngay quả vị thứ ba. Vì cô nhận ra rằng, thấy rằng ái dục vốn là không. A-nan vẫn còn trong giai vị sơ quả, trong khi người vợ của ông trong 500 kiếp trước đã vượt qua mình quá xa.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương III)
Xem thêm toàn văn (Googdrive): Giảng giải Chú Lăng Nghiêm
+ Dụng Chú Lăng Nghiêm: Với người giữ nghiêm giới luật, buông xả vạn duyên - Xem: Giảng Kinh Lăng Nghiêm, Tập 7 - HT Tuyên Hóa)
- Muốn biết nhân đời trước, phải nhìn đời này mình thọ quả báo gì. Muốn biết quả đời tương lai, phải xem đời này mình đang gieo nhân gì. Phật lại bảo: Giả sử nghiệp tội đã tạo trong trăm ngàn kiếp chưa tan, khi nhân duyên đến, quả báo phải tự thọ.
Kinh Lăng Nghiêm thuyết: "Nhân địa bất chân chánh thì phải chiêu quả báo cộng vạy".
Trồng nhân thiện thì kết quả lành. Trồng nhân ác thì kết quả xấu. Trồng dưa được dưa, hay trồng đậu thì được đậu. Đây là đạo lý tự nhiên. Đàm luận về lý nhân quả, tôi sẽ đơn cử hai câu chuyện xưa để chứng minh. (Nguồn: Tin sâu nhân quả)
+ Người tin sâu luật nhân quả có biểu hiện:
1. Không bao giờ làm điều xấu ác, chuyên nghĩ thiện, làm thiện, sống khiêm tốn giản dị, sẵn sàng giúp đỡ người khác với khả năng vốn có của mình.
2. Người tin luật nhân quả khi gặp điều không như ý, không đổ lỗi cho người, luôn nhẫn lỗi về mình, tỉnh táo sáng suốt sửa lỗi lầm.
3. Sống khiêm tốn, khiêm hạ, không đề cao bản thân, không tự khen mình, khi được khen khiêm tốn cảm ơn và bình thản cho qua, không chấp vào lời khen, danh vọng.Khi có thành quả cao không kiêu mạn.
4. Sống có trách nhiệm, cẩn thận kỹ lưỡng,cố gắng gieo nhân tốt, tránh những sai lầm tạo nhân xấu.
5. Luôn tu nhẫn nhục, nhẫn nhịn để hoá giải nghiệp xấu đồng thời tạo thêm nhiều phước lành cho bản thân và cho mọi người xung quanh.
6. Trải lòng yêu thương tới muôn người, muôn loài, sống chân thành, vị tha, bao dung độ lượng.
Vui với thành quả, niềm vui của mọi người.
Xót thương trước đau khổ của chúng sinh.
Luôn làm lợi ích cho người cho vật trong khả năng vốn có của bạn thân.
7. Người tin luật nhân quả không cầu phước hưởng thụ cho riêng mình, có phước nhiều từ chối hưởng thụ, sống giản đơn, bình dị.
Có phước lại tiếp tục làm phước cứu giúp mọi người khi có duyên,hướng về giác ngộ giải thoát.
8. Người tin luật nhân quả biết sống tuỳ duyên.
9. Người tin sâu luật nhân quả, giầu lòng tôn kính Đức Phật, Quý trọng Pháp, tôn kính chư tăng cúng dường Tam Bảo, hộ trì Phật Pháp, nguyện đời đời kiếp kiếp được theo bước chân Đức Phật phụng sự chúng sinh! (Theo Facebook Phạm Minh Thùy Sưu tầm)
+ Tin nhân quả: HỎI: Người mà không tin nhân quả thì sẽ như thế nào?
HÒA THƯỢNG: Trời có đức háo sanh, nên trời không muốn làm những chuyện não hại chúng sanh. Nhưng một khi đã làm sai nhân quả thì như câu nói: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Nhất thất thân, vạn kiếp bất phục.” Nghĩa là: “Một lần sảy chân để hận nghìn đời. Một khi mất thân người thì vạn kiếp không phục hồi lại được.”
Cái gì mình cũng đều có thể không tin, nhưng không thể chẳng tin vào nhân quả. Nếu ai bác bỏ là không có nhân quả thì tức là người ấy đang ở trong tình huống nguy hiểm vô cùng .(Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị Q.3)
- Mời xem Ấn Quang Đại Sư giản về Tin Sâu Nhân Quả
- Giảng về Tin Sâu Nhân Quả Báo ứng
- Giảng về Tin Sâu Nhân Quả Qua Thập Thiện
Dưới đây là giải thích đầy đủ – có hệ thống – đúng tinh thần lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa, giúp làm rõ vì sao đạo tràng của Ngài có quy củ như vậy, và vì sao Ngài KHÔNG khuyến khích cư sĩ tại gia trì Chú Lăng Nghiêm vào buổi tối, dù luôn khẳng định: “Chú Lăng Nghiêm còn thì Chánh Pháp còn.” Đáp:
I. Quy củ công phu trong đạo tràng Hòa Thượng Tuyên Hóa
Học hỏi thiện tri thức để biết rằng: tu hành không phải là đứng trên người khác, mà là cúi xuống sửa chính mình.
+ TRÌ TỤNG - TRÌ CHÚ - TRÌ NIỆM CHÚ
+ Thọ Trì: Thọ Là Nhận lấy, vui thích và cung kính nhận lấy. Trì: Là gìn giữ duy trì, y theo mà làm với Tâm chân thành, cung kính với tín tâm không chút nghi ngờ.
+ HỎI: Thỉnh hỏi các câu “Chú” có công dụng gì? ĐÁP: “Chú” không phải để nói là có công dụng gì, mà đây là trang nghiêm pháp giới, là một loại pháp của pháp giới Trang Nghiêm. Trang nghiêm pháp giới cũng tức là trang nghiêm tự tánh của con. Pháp giới trang nghiệm rồi thì tự tánh của con cũng trang nghiêm luôn. Tự tánh trang nghiêm tức là thành tựu một loại Pháp Bồ Đề. Chứ không phải nói rằng, tôi trì Chú này rồi thì tôi không ăn mà cũng không đói, tôi không mặc áo mà cũng không lạnh, tôi không ngủ mà cũng không buồn ngủ. Không phải như thế đâu, mà trì chú là giúp tăng trưởng thêm pháp thân huệ mạng của con đó. (HT Tuyên Hóa giải đáp - Gậy Kim Can Hét)
+ Trì tụng Chú Đại Bi: Trì là không dùng miệng lưỡi đọc, nhẩm - Lưỡi không động gọi là Trì. Thực hành Trì Chú hiệu nghiệm hơn nhiều là đọc tụng bằng miệng lưỡi. Xem (Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi - Phút 30 Clip)
+ Khi trì chú, niệm Phật thì nhất định là nên quán tưởng phải không (Câu Hỏi 246) ?
Đáp: Nếu quý vị quán tưởng thì có thể bớt được một chút vọng tưởng. Không quán tưởng thì vọng tưởng nhiều thêm một chút.
- Chữa Bệnh Nhiệm mầu: Câu Hỏi 15: Ông nội con bị bệnh nặng, thỉnh Hòa Thượng… chữa. Đáp: Chỉ có Bồ Tát Quán Thế Âm mới có thể sửa đổi được bộ sổ sanh tử mà thôi.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
+ Trì tụng Mật Chú: Mật Chú có nhiều quyền lực trong việc chữa trị bệnh tật khi tụng bằng tâm chân thành, tập trung sâu sắc, và ý định chính đáng. Chú Đại Bi và Chú Phật Dược là hai ví dụ như vậy. Khi tụng, mỗi Mật Chú tạo ra số lượng công đức to tát và có tác dụng chữa bệnh và biến đổi tuyệt vời (Nguồn: Phật giáo với y học)
+ Tụng Chú không thành tiếng - Niệm trong Tâm Trí:
Trong Kinh Thủ LN đức Phật dạy A Nan về Tánh nghe và tiếng chuông: ..... Khi tiếng chuông hết ngân và Đức Phật hỏi như vậy, La-hầu-la biết việc mình phải làm tiếp theo; ông rất là thông minh. La-hầu-la nổi tiếng là người tu tập mật hạnh. Mọi người không biết là ông ta đang tu tập. Không ai biết hằng ngày ông thực hành công phu. Ông ta công phu như thế nào? Ông ta có thể nhập định vào mọi lúc, mọi nơi. Khi vào phòng tắm, ông ta cũng nhập định. Khi ăn, ông vẫn ăn nhưng ông đang ở trong định. Tâm ông không để vào thức ăn. Không ai biết được chuyện đó, thể nên ông được xem là người mật hạnh đệ nhất. Hãy lấy việc tụng Chú Thủ-lăng-nghiêm làm ví dụ, không ai thấy La-hầu-la trì tụng chú, nhưng ông ta có thể tụng thuộc lòng. Không ai biết ông học lúc nào, nhưng ông tụng làu làu. Vì La-hầu-la là đệ nhất tu tập mật hạnh,.........(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4, Chương V)
+ Tụng Trì Đúng Pháp - Y Pháp Thọ Trì: Kinh Văn Nghĩa: “Nếu người ấy có thể tụng trì đúng pháp, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, thì lúc đó Ta sẽ sai bảo tất cả Thiện Thần, Long Vương, Kim Cang Mật Tích, thường theo hộ vệ, không rời bên mình, như gìn giữ tròng mắt, như bảo hộ tánh mạng của chính họ vậy.”
Lược giảng:
Quán Thế Âm Bồ-tát dạy tiếp: “Nếu người ấy có thể tụng trì đúng pháp... ” Thứ “pháp” mà Quán Thế Âm Bồ-tát nói đến ở đây là pháp gì? Đó là pháp “Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn”—pháp môn Bốn mươi hai Bàn Tay Ấn Pháp! Quý vị phải biết rằng: Hiện tại tôi giảng Kinh Đại Bi bởi vì quý vị cần phải hiểu rõ mọi chỉ dẫn để có thể tu tập cho đúng pháp.
“Y pháp thọ trì” tức là tu tập và hành trì đúng theo những gì đã dạy trong pháp Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn, và đó không phải chỉ tụng làu làu một mạch từ “Nam Mô Hắc Ra Đát Na Đa Ra Dạ Da. Nam Mô A Lị Da...” cho đến hết bài Chú Đại Bi là đủ. Không phải đơn thuần như thế! Cho nên, đối với pháp môn này, quý vị cần phải được “chân truyền,” tức là phải được chính thức và thật sự truyền dạy một cách đúng đắn thì mới được; bằng không, nếu không được chân truyền, mà chỉ toàn là nói suông và xem kinh nghĩa thôi, thì chẳng thể nào hiểu nổi! (Nguồn: Giảng Chú Đại Bi_HT Tuyên Hóa)
+ Trì Chú trước tiên phải theo Chánh tâm, thành ý: Học Chú thì trước tiên cần phải chánh tâm, thành ý; tâm không chánh thì học chú gì cũng thành tà. Tâm chánh, học Chú mới có cảm ứng. Chánh tâm cũng chưa đủ, cần phải thành ý. "Thành" tức là lúc nào mình cũng hết sức chuyên chú, chuyên tâm, không xao lãng, không làm những chuyện cẩu thả, tắc trách. Ðược vậy thì mới có cảm ứng.
Nếu không "chánh tâm, thành ý," nếu trong lòng đầy dẫy tư tưởng sai lầm, làm hại kẻ khác, tức là mình làm chuyện của ma. Pháp của ma vương là hại người, không lợi ích cho ai cả.
Nếu thật sự muốn tu hành thì trong bất cứ trường hợp nào cũng không được làm hại kẻ khác. Phải nuôi tâm làm lợi chúng sinh; không được học Chú để hàng phục ma quỷ hoặc đi đấu với người khác.
Người theo Phật Giáo không có kẻ thù, không tìm người để trả thù. Ðối với kẻ cố ý hại mình, mình phải nhẫn nại, tu hạnh Nhẫn Nhục Ba-la-mật; không sinh tâm báo thù. Ðó là chỗ cao siêu, là ưu điểm của Phật Giáo mà các tôn giáo khác thiếu sót.
Tôn chỉ hết sức trọng yếu của Phật Giáo là: Nếu bạn là ma quỷ thì tôi tuyệt đối không làm tổn hại bạn, không sinh lòng đối kháng, mà ngược lại, sẽ tìm cách để nhiếp thọ bạn. Ðây là giáo nghĩa đặc biệt nhất của đạo Phật. Ðối với chúng sinh luôn phát tâm từ bi, không làm hại kẻ khác.
"Tụng trì, mặc niệm, thiểu ý ngôn." Câu chú "Yin two na" (Nhân đa la) dịch nghĩa là tụng trì, hoặc là mặc niệm, hoặc thiểu ý ngôn; tức là mình không cần nói nhiều, cũng không vọng tưởng nhiều, chuyên tâm thì linh, tán loạn thì không cảm ứng.
Thế nào là chuyên nhất? Tức là luôn luôn đừng sinh tâm làm hại chúng sinh. Nếu có tâm làm hại kẻ khác thì tương lai sẽ gặp chuyện hết sức nguy hiểm; bởi vì: "Ða hành bất nghĩa tất tự tệ." (Nếu luôn làm chuyện bất nghĩa, thì mình sẽ tự tiêu diệt mình.)
Mình hại kẻ khác tức là mình đã hại chính mình. Mình giết cha người, thì có kẻ chắc chắc sẽ giết cha mình; mình giết anh người thì sẽ có kẻ giết anh mình; đó là luật nhân quả. Là Phật tử thì cần phải làm lành lánh dữ. Nếu không tạo nhân ác, thì sẽ tránh được quả ác trong tương lai.
Khổng Tử nói rằng: "Ngôn tất trung tín, Hành tất đốc kính, Tuy man mạch chi bang, hành hỹ." (Lời nói chân thật, Hành động chắc thật, cung kính, thì dù ở nơi nguy hiểm cũng vẫn được an toàn.). Xem nguồn: Trì chú theo Chánh pháp và Thành ý.
+ Thọ trì đọc tụng: “Thọ trì” là tuân thủ lời giáo huấn của Phật trong kinh điển, y giáo phụng hành. “Đọc tụng”, là mỗi ngày ôn tập lời giáo huấn ấy, không thể quên được. (Nguồn: HT Tịnh Không giảng về giáo dục)
+ XEM TƯỚNG MẠO
2. BA MƯƠI HAI TƯỚNG ĐẠI NHÂN_Phật dậy
1) Bàn chân bằng phẳng đầy đặn, đi đứng vững vàng.
2) Dưới bàn chân có dấu chỉ như bánh xe có ngàn căm, ánh sáng xen nhau.
3) Có màng lưới mỏng giữa kẽ ngón tay, chân như chân ngỗng chúa.
4) Tay chân mềm mại như áo trời.
5) Ngón tay chân thon dài không ai bằng.
6) Gót chân đầy đặn trông không chán.
7) Ống chân thon dài như của nai.
8) Các khớp xương móc lấy nhau như xích chuyền.
9) Mã âm tàng.
10) Đứng thẳng tay duỗi dài quá gối.
11) Mỗi chân lông đều có một sợi lông. Sợi lông ấy xoáy hữu, màu lưu ly xanh biếc.
12) Lông mọc xoay phía hữu, màu xanh biếc thẳng lên.
13) Thân sắc huỳnh kim.
14) Da thịt mịn màng không dính bụi nhơ.
15) Hai vai ngang bằng đầy đặn tròn đẹp.
16) Giữa ngực có chữ vạn.
17) Thân cao gấp đôi người thường.
18) Bảy chỗ trong người đầy đặn.
19) Mình cao to lớn như cây ni-câu-lô.
20) Hai má như sư tử.
21) Ngực vuông đầy như ngực sư tử.
22) Có bốn mươi cái răng.
23) Răng ngang bằng đầy đặn.
24) Răng khít nhau không hở.
25) Răng trắng, trong sáng.
26) Yết hầu thanh sạch, ăn thức gì cũng thích hợp.
27) Lưỡi rộng dài có thể liếm tới mép tai.
28) Tiếng nói trong rõ như tiếng Phạm thiên.
29) Con mắt màu xanh biếc.
30) Mắt như mắt trâu chúa, trên dưới có hai mí.
31) Có lông trắng giữa hai chân mày, mềm mại kéo ra dài một tầm.
32) Trên đỉnh có chỗ thịt nổi. Ấy là 32 tướng đại nhân.
Nguồn: (Trường A Hàm, Kinh Đại Bản Duyên, số 1)
+ Bàn tay mềm mại_HT Tuyên Hóa giảng: ... Nay tôi sẽ liên hệ đến một chi tiết trong môn nhân tướng học. Nếu quý vị cầm bàn tay của một người nào mà thấy nó mềm mịn như vải lụa thì người đó có một tương lai rất tốt, đầy hứa hẹn, hậu vận sẽ rất sang quý. Tay của những người bình thường rất thô cứng. Chẳng hạn như bàn tay tôi, cứng và thô như tấm gỗ, không mịn mềm như vải lụa. Tuy nhiên chỉ có bàn tay mềm thôi không đủ biểu hiện một tương lai tốt đẹp. Sắc diện mới có khả năng quan trọng biểu lộ vấn đề này. Cái gì là những nét đặc điểm của người anh hùng? Có phải là dáng dấp mạnh mẽ chăng?
Nói chung, bàn tay phụ nữ mềm hơn bàn tay đàn ông rất nhiều. Nếu quý vị chưa tin điều này quý vị có thể để ý xem khi lần tới có dịp bắt tay phụ nữ. Về nam giới tôi đã gặp hai người có bàn tay rất mềm. Vậy mà suốt thời gian tôi gặp họ, không có người nào biểu hiện dấu hiệu họ là bậc vĩ nhân, vì thân tướng của họ không tương xứng. Tôi cũng có một vị đệ tử có bàn tay rất mềm dịu, anh ta không làm việc lao động nặng nhọc, nhưng anh ta cũng rất bình thường. Một người học trò của tôi, cũng là người bà con, có bàn tay rất mềm nhưng trước khi tôi đến nước Mỹ anh ta chẳng làm được điều gì vĩ đại. Tôi chẳng biết anh ta đã thành tựu được trong lãnh vực gì không trong thời đó. (Nguồn: Trích Kinh Lăng Nghiêm_HT Tuyên Hóa giảng)
+ Bàn tay có ngón áp út dài hơn ngón trỏ: Đặc điểm này nói về người đó trong kiếp sống này có một mục tiêu mà Linh hồn họ ấn định về mặt tâm linh - Họ cần trải qua đau khổ để Giác ngộ và diệt trừ đau khổ cho mình và chúng sanh - Một kiếp sống ý nghĩa trên nền thử thách - Trải qua khổ đau hơn người thường, giúp họ tiến hóa tâm linh tinh thần hướng đến giải thoát luân hồi sinh tử .... [Xem: Sư Pháp Hòa giảng Ngón tay áp út dài hơn ngón trỏ]
+ Cúng Tế - Thờ Cúng - Cúng Thí: Ngài A Nan Đà hỏi Đức Phật: Tì-kheo dạy cư sĩ không cúng tế tất cả người chết là đúng lí không?
Đáp: Không đúng! Dù cha mẹ không thụ thực, nhưng vì cung kính cúng dường thì cư sĩ cũng được phúc. (Trích Kinh Ngũ Bách Vấn)
+ Pháp thờ cúng: So sánh công đức giữa thờ Xá Lợi Phật, tượng Phật, hình Phật và cát Mạn-đà-la
Trong Phật giáo, công đức không nằm ở vật được thờ, mà nằm ở tâm cung kính, tâm thực hành Giới – Định – Tuệ khi đối trước Tam Bảo.
“Chư Phật đâu cần chúng ta cúng dường; chính là chúng ta cần gieo trồng hạt giống giác ngộ. Cúng dường một nén hương bằng tâm chân thành còn hơn xây tháp véo von mà tâm không thanh tịnh_HT Tuyên Hóa, Giảng Kinh Hoa Nghiêm]"
Tuy nhiên, mỗi hình thức thờ tự có ý nghĩa riêng, giúp người tu phát tâm cung kính khác nhau.
1. Thờ Xá Lợi Phật – Công đức thù thắng nhất: Xá lợi là kết tinh của Giới – Định – Tuệ viên mãn của Phật và các Thánh Tăng. Vì vậy, công đức chiêm bái xá lợi thường được kinh điển tán thán bậc nhất. Ý nghĩa:
• Là biểu chứng thân thanh tịnh sau thiêu không hoại.
• Là “pháp thân hữu vi” để chúng sanh dễ phát tâm.
• Thấy xá lợi khởi tâm cung kính tức gieo nhân giải thoát.
"Xá lợi là do công đức thanh tịnh mà thành. Nếu chỉ một lần lễ bái mà sinh lòng tin thanh tịnh thì đã kết thiện căn đời đời_ Tuyên Hóa Hòa Thượng Vấn Đáp Tùy Cơ".
Công đức
• Thù thắng nhất trong các pháp khí thờ tự.
• Tùy tâm người lễ mà thành tựu nhiều hay ít.
2. Thờ tượng Phật: Dẫn khởi Định và Tín. Ý nghĩa
• Tượng là biểu tượng sắc thân của Phật.
• Giúp người mới học dễ sinh lòng cung kính.
• Là phương tiện quán tưởng tướng hảo, tu “niệm Phật tam-muội”.
“Có tượng Phật để nhắc mình: ‘Phật là giác, mình phải giác; Phật không sát sinh, mình phải giữ giới. Nếu không có tượng Phật, tâm dễ tùy tiện mà tạo nghiệp_Tuyên Hóa Hòa Thượng Giảng Luật Nghi".
Công đức
• Lợi ích đứng thứ hai sau xá lợi.
• Mạnh mẽ trong việc hỗ trợ tu định, quán tưởng.
3. Thờ hình Phật (tranh, ảnh): Công đức tùy tâm. Ý nghĩa
• Là “tượng họa”, công năng nhắc nhở không bằng tượng điêu khắc.
• Tuy nhiên, vẫn có thể làm duyên lành tạo niềm tin.
“Một tấm hình Phật cũng có thể độ người. Quan trọng là bạn dùng tâm thanh tịnh mà đối trước đó_Bách Pháp Minh Môn Giảng Ký"
Công đức
• Không mạnh bằng tượng hay xá lợi.
• Nhưng vẫn gieo duyên phước đức vô lượng nếu khởi tâm cung kính.
4. Cát Mạn-đà-la: Công đức thuộc về Trí tuệ Vô thường. Trong Kim Cang Thừa, Mạn-đà-la cát tượng trưng:
• Tính vô thường,
• Tính không,
• Sự viên mãn của pháp giới.
Công đức lớn khi:
• Người tạo Mạn-đà-la trì giới thanh tịnh,
• Dùng phương tiện Mạn-đà-la để quán chiếu vô ngã.
Công đức
• Không nhằm để thờ lâu dài => Chủ yếu để quán “Tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”.
Nhưng nhớ rằng: “Công đức không từ vật, mà từ tâm. Tâm kính một phần thì công đức một phần_Hòa Thượng Tuyên Hóa"
+ Tiếng vỗ của một bàn tay: (Anahata shabda B.P.)
- Khi luồng hỏa kundalini đi lên tới luân xa thứ tư, tức luân xa ở tim (heart chakra), nhà yogi nghe được âm thanh từ cõi cao, gọi là Anahata shabda). Shabda là âm thanh (sound), Anahata có nghĩa là “không bị va đập” (“not beaten”); đó là vì âm thanh đó được tạo ra mà không có hai vật chạm vào nhau. Do đó thuật ngữ này được dùng để tượng trưng cho những gì ở bên trên các cõi của phàm ngã. Chích thủ diệu thanh (chích: một, lẻ; thủ: tay). (GLTNVT, 159)
+ Nhãn thông (Clairvoyance): Đây là năng lực thấy trên cõi cảm dục và là một trong các “siddhis” thấp hay quyền năng tâm thông thấp. Năng lực này được đạt tới nhờ sự nhạy cảm ở bề mặt của toàn bộ “thể cảm giác” (body of feeling”), lớp vỏ tình cảm và là nhận thức của giác quan được đem lên tình trạng rất cao. Ngoại trừ phần tương ứng cao của nó, tức nhận thức tâm linh, nó mang lại tính chất lừa dối và là tuyệt đỉnh của ảo lực (maya) hoặc ảo tưởng (illusion). (ASCLH, 68)
+ Trẻ con có nhãn thông (Children have clairvoyance): Trong khoảng bảy năm đầu tiên của kiếp sống, các huyền lực (forces) vốn hoạt động/tác động (operating) về phía cực âm (negative pole) của chất dĩ thái (ether) trở nên linh hoạt, như vậy trẻ con ở lứa tuổi này có nhãn thông thuộc loại có cùng tính chất thụ động như các nhà đồng cốt (mediums); đây là lý do giải thích tại sao trẻ con lại chơi đùa rất bình thường với những người bạn mà người lớn không nhìn thấy được. (CKDCLH, 191)
+ Nhãn thông thuần túy (Pure vision): Nhãn thông này là năng lực của linh hồn vốn là kiến thức thuần túy và được biểu lộ khi linh hồn dùng thể trí như là khí cụ nhãn thông của nó... Đồng thời với việc phát triển loại nhãn thông này, tuyến tùng quả trở nên linh hoạt và con mắt thứ ba (trong chất dĩ thái) phát triển với một hoạt động song hành. (ASCLH, 68–69)
+ Nhãn thông biểu tượng (symbolic vision): Đây là năng lực của thể hạ trí và là nhân tố tạo ra việc nhìn thấy các màu sắc, các biểu tượng hình học, nhãn thông của chiều đo thứ tư, các giấc mơ và các linh thị vốn là kết quả của hoạt động thể trí chứ không phải là nhãn thông cõi cảm dục. Thường thường các nhãn thông này có tính cách tiên tri. (ASCLH, 68)
+ Nhãn thông biểu tượng (symbolic vision): Đây là năng lực của thể hạ trí và là nhân tố tạo ra việc nhìn thấy các màu sắc, các biểu tượng hình học, nhãn thông của chiều đo thứ tư, các giấc mơ và các linh thị vốn là kết quả của hoạt động thể trí chứ không phải là nhãn thông cõi cảm dục. Thường thường các nhãn thông này có tính cách tiên tri. (ASCLH, 68)
+ Tóm lược Sách Chiêm Tinh Học Nội Môn - Esoteric Astrology (CTHNM/ CTNM/ EA)
* Khoa Chiêm tinh: Thuộc Chiêm tinh học NM [Esoteric Astrology], vẫn sử dụng các hành tinh thông thường nhưng có bổ sung thêm Vulcan, một hành tinh được cho là nằm gần mặt trời. Vòng hoàng đạo sử dụng là vòng hoàng đạo xích đới (tropical).
+ Chiêm tinh học: Là chân lý huyền môn trên thế gian hiện tại, là khoa học có bàn đến các năng lượng và các lực đang chi phối và cai quản, chúng tác động qua và vào trong toàn thể lĩnh vực không gian và tất cả những gì nằm trong lĩnh vực đó .... các mối liên hệ giữa các thực thể cá nhân, hành tinh, thái dương hệ và vũ trụ sẽ được hiểu rõ và lúc bấy giờ chúng ta sẽ bắt đầu sống một cách khoa học, đó là mục tiêu, vì qua đây ta biết được Vận mệnh của mình và biết Y nên làm gì (CTHNM, 11)
+ Rộng nghĩa: Các quy luật và tạo lập Lá số Chiêm tinh; Định vị các Nhà; Vòng Hoàng Đạo và Mặt phẳng Hoàng đạo, đường Xích đạo Trời; Các Hành tinh có tính Ngũ Hành của nó mạnh hơn Ngũ hành cùng loại của các Cung Hoàng Đạo; Ý nghĩa các Cung Hoàng Đạo; Các Nhà; Các Góc hợp và Chủ tinh các Cung Hoàng Đạo; cũng như khái niệm về vượng, tướng, tù, tử; Cung chủ quản một Nhà; Mẫu sắc Ngũ hành; Tính điểm ngũ hành; Các góc hợp Tam hợp, Lục hợp .... (Xem: Chiêm tinh học 1; Xem: Chiêm tinh học 2; Xem: CTH nội môn 3)
+ Mỗi yêu tố Đất, Nước, Lửa, Gió chi phối 3 dấu hiệu, tương ứng các năng lượng thuộc các Cung Hoàng Đạo này (Xem nguồn)
+ CTH Chính thống/ Công truyền chỉ xem các đặc điểm và tính chất của phàm ngã, khía cạnh hình tướng, và cũng với các sự kiện, các diễn biến, các hoàn cảnh và môi trường qui định vốn xuất hiện trong lá số chiêm tinh cá nhân, biểu thị sự kiểm soát của các hành tinh chứ không phải sự kiểm soát của mặt trời. (EA 145 )
+ CTH huyền bí/ Bí truyền: Là khoa học về Linh Hồn, tượng trưng cho trạng thái Bác ái và Minh triết của Thượng Đế và luôn luôn được hướng tới điều tốt đẹp cao cả hơn....... bàn đến Sự Sống “các điểm ánh sáng” bên trong Sự Sống vũ trụ. Các tinh tòa, các thái dương hệ, các hành tinh, các giới trong thiên nhiên và con người tiểu vi (CTHNM, 16)
=> 3 mức quản: Công truyền - Bí truyền - Huyền giai ứng với các mức tiến hóa của Tâm thức (Xem nguồn); Xem 3 cấp độ Tâm thức
+ Khoa Chiêm Tinh là 5 KHOA HỌC: (1)- Các Cung; (2)- Giải thích huyền bí; (3)- Các Tam giác; (4)- Các Trung tâm lực; (5)- Khoa học về Vận Mệnh, khoa này dựa vào 4 Khoa học trước, và Lá số tiến bộ cá nhân là khởi đầu của khoa học này (CTHNM,99).
+ 3. Chiêm tinh học, với các chỉ dẫn của nó về vị trí của một người “trong mặt trời”, và trong hệ thống chung của sự vật. Những việc này liên kết y với hệ thống hành tinh … Đó là chiêm tinh học của địa vị đệ tử và mối quan hệ của các tinh tú với các hoạt động của Linh Hồn … chiêm tinh học của sự điểm đạo [vốn rất quan trọng]. (Trích tài liệu TLHNM - Khóa GQ - Học MF)
+ Sách CTHNM: Tôi không viết ra một luận thuyết về chiêm tinh học, mà là luận thuyết về 7 cung và các năng lượng tương đương và tương ứng của chúng, về các hiệu quả của năng lượng cung và sự tương tác của các năng lượng này với, và ảnh hưởng của chúng trên, các mãnh lực hành tinh khác nhau, đặc biệt là các lực của Địa Cầu (CTHNM, 36)
+ Chiêm tinh học có liên quan với hiệu quả được tạo ra trong vật chất của các thể thấp (sheaths, lớp vỏ) bởi các ảnh hưởng, các rung động v.v… của các hành tinh khác nhau. Chúng gồm 9 năng lượng + Từ Địa cầu chúng ta sống = 10 Năng lượng (CTHNM, 22 - Trích từ LVLCK, 1051)
+ Trường không gian (Field of space) và Khoa Chiêm Tinh Học: Bản chất của trường không gian là dĩ thái, và thể sinh lực của nó được tạo bằng tổng số các thể dĩ thái của tất cả các chòm sao, các Thái Dương Hệ và các hành tinh nằm trong đó. Toàn bộ mạng lưới quý báu của vũ trụ này có một sự lưu chuyển không ngừng của các năng lượng và các thần lực, điều này tạo thành nền tảng khoa học của các thuyết chiêm tinh học. Giống như các thần lực của hành tinh và của chân nhân (chỉ ghi nhận một trong số nhiều yếu tố) đang tuôn đổ qua thể dĩ thái của từng người trên cõi trần và chi phối ngoại hiện của con người, các hoạt động và các tính chất của y, cũng thế, các thần lực khác nhau của vũ trụ đang tuôn đổ qua mọi phần thể dĩ thái của thực thể mà chúng ta gọi là không gian, rồi chi phối, định đoạt phần ngoại hiện, các hoạt động và các tính chất của mọi hình hài nằm trong chu vi vũ trụ. (CTHNM, 11)......
Nguồn: Chiêm TH nội môn 8
Xem: Số mệnh - Định Mệnh - Định Nghiệp
Xem : Tổng hợp về xem Chiêm Tinh
+ Chữa trị bệnh: Hiểu rõ việc cần thiết phải chữa trị bệnh để giữ thân mạng tu hành. Dưới đây qua Hỏi - Đáp làm rõ:
1. Uống thuốc tẩy giun sán có phạm giới sát không?
❖ Theo luật Phật, giới không sát sanh có đủ 5 điều kiện mới thành trọng phạm:
1. Có chúng sanh (hữu tình),
2. Biết rõ là chúng sanh,
3. Có tâm cố ý giết,
4. Dùng phương tiện giết,
5. Chúng sanh chết vì hành động đó.
Trong trường hợp:
• Người bệnh không khởi tâm muốn giết,
• Mục đích là chữa bệnh, bảo toàn mạng sống,
• Việc uống thuốc là thuận theo y khoa, không phải vì sân hận hay ác ý,
- Không thành trọng tội sát giới.
HT giảng rất rõ: “Giới là ở nơi tâm. Nếu không có tâm sát, thì không thể gọi là phạm sát giới.” (Hòa Thượng Tuyên Hóa, Giảng Luật Sa-di)
Tuy nhiên, về nhân quả vi tế, vẫn có liên hệ nghiệp duyên, nên người học Phật khởi tâm từ bi, sám hối và hồi hướng là điều rất đúng pháp.
2. Làm sao giữ sức khỏe mà không trái giới?
HT luôn dạy: “Tu đạo không phải là hành hạ thân thể. Thân thể là pháp khí để tu hành.” (HT Tuyên Hóa, Giảng Kinh Lăng Nghiêm)
Nguyên tắc căn bản: Không cố ý giết - Không xem thường mạng sống - Không buông lung thân tâm - Cũng không chấp khổ một cách mê muội.
Nếu vì chấp “không sát” mà để thân thể suy kiệt, mất khả năng tu hành, thì đó là rơi vào biên kiến, không phải Trung đạo.
3. Có thể áp dụng câu “Chịu khổ hết khổ” của HT Tuyên Hóa? Ngài dạy không phải là: Bỏ điều trị y khoa. Hay để bệnh hoại thân.
Mà là:
• Chịu khổ trong phạm vi chánh niệm,
• Không oán trời trách người,
• Không khởi sân – sợ – ghét đối với bệnh và chúng sanh trong thân.
Ngài dạy: “Biết chịu khổ là tu, nhưng chịu khổ phải có trí huệ, không phải ngu si chịu đựng.” (HT Tuyên Hóa)
- Vì vậy, vừa điều trị, vừa tu tâm từ bi, mới là chánh hành.
4. Trì Chú Đại Bi vào nước uống, sám hối và trì chú Vãng Sanh cho giun sán: có đúng pháp không?
❖ Câu trả lời: RẤT ĐÚNG PHÁP – RẤT HỢP TÂM BỒ - TÁT ĐẠO
HT Tuyên Hóa thường dạy đệ tử: “Trước khi uống thuốc, nên trì Chú Đại Bi, hồi hướng cho các chúng sanh liên hệ.”
Việc bạn phát tâm:
• Trì 21 biến Chú Đại Bi vào ly nước,
• Thành tâm sám hối: “Con vô minh nhiều đời, nay khiến các ngươi chịu khổ trong thân con”,
• Trì Chú Vãng Sanh cho giun sán trong 7 ngày - Nguyện họ sanh về thiện đạo.
=> Đây là tâm đại từ bi - Là hóa giải oan nghiệp - Là chuyển sát nghiệp thành độ nghiệp.
Hòa Thượng Tuyên Hóa dạy: “Tu hành không phải chỉ lo cho mình, mà phải nghĩ cho tất cả chúng sanh có duyên với mình, dù là hữu hình hay vô hình.” (Giảng Chú Đại Bi)
5. Gợi ý cách hành trì trọn vẹn (tham khảo). Trong 7 ngày - Mỗi ngày:
• Trì 21 biến Chú Đại Bi,
• Trì 3–7 biến Chú Vãng Sanh,
• Phát nguyện hồi hướng: “Nguyện các chúng sanh hữu duyên với bệnh này đều được siêu thoát, lìa khổ, sanh thiện đạo.”
+ Giữ tâm: Không ghét bỏ - Không sợ hãi - Không khởi tâm sát.
=> Như vậy, giới không mất - Thân được bảo toàn - Nghiệp được nhẹ - Tâm được an.
+ Chữa trị bằng bức xạ: Trong cách chữa trị bằng bức xạ, tiến trình chữa trị thì đơn giản và an toàn hơn, vì người chữa trị chỉ quy tụ năng lượng (power) vào chính mình rồi phóng rải (radiate) năng lượng đó vào bệnh nhân dưới dạng một luồng năng lượng tỏa chiếu tuôn ra đều đặn. Dòng năng lượng này phải được hướng đến bí huyệt gần chỗ bị bệnh nhất. (CTNM, 101)
I- Phiền Lão: [“Phiền não không phải từ bên ngoài vào, mà do chính mình mua về_HT Tuyên Hóa”]
+ Phiền não là phiền tâm, não thân, nên gọi là “phiền não”. Nó khiến cho tâm quý vị phiền muộn, thân quý vị khổ não.
- Nguồn gốc phiền lão: Tham, sân, si là cội rễ của phiền não, vô lượng vô biên phiền não đều sanh từ chỗ này. Tam Độc Phiền Não, đúng là bẩm sanh.
* Phiền não gồm 3 loại lớn. Trong kinh Hoa Nghiêm:
- Kiến Tư phiền não được gọi là chấp trước,
- Trần Sa phiền não được gọi là phân biệt,
- Vô Minh phiền não được gọi là vọng tưởng. [Nguồn: PS Tịnh Không Giảng về Tâm độc - Phiền lão]
* Não - Nộ - Phiền:
- Não: Rầu rĩ ỷ ôi, tự dằn vặt, trách móc, đau khổ với lòng mình => Suy nghĩ, nói năng đầy dẫy tiêu cực, âm khí, không ai muốn gần gũi.
- Nộ: Lòng giận giữ hiện ra ngoài mặt như ngọn lửa cháy hừng hực, không có gì có thể dập tắt.
- Phiền: Lòng đầy phiền toái, nóng bức thúc dục, không yên ổn, cứ muốn làm điều ác - nghịch với thiên lý. [Giảng theo HT Tuyên Hóa]
+ Đức Phật dậy 10 phiền lão (Nguồn: Kinh Thập Thiện):
1. Sợ hãi.
2. Tâm nhỏ nhen - Không có tâm từ rộng lớn đối với chúng sinh.
3. Tập khí giận dữ.
4. Thân thể thường bệnh tật.
5. Mạng sống không thọ.
6. Không được loài phi nhân bảo vệ.
7. Thường có mộng ác, ngủ hay thức đều không yên.
8. Nhiều thù oán trói buộc, khó giải tỏa.
9. Thường đi theo đường ác.
10. Khi chết thường bị sinh vào cõi ác.
+ Phiền lão: Trích đoạn HT Tuyên Hóa giảng về phiền lão trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm ...
A-nhã Kiều-trần-như kết luận: Thế nên con suy nghĩ, trong lặng gọi là hư không, trong suốt và lặng lẽ, không lay động, đó được gọi là hư không. Lay động là trần, do lay động mà có tên gọi là trần.
Giảng: Quý vị hãy nhìn đám bụi trong dải tia sáng mặt trời đang nhảy múa lăng xăng không ngừng ấy. Cái gì là bụi? Bụi ấy biểu tượng cho phiền não, vô minh, phiền não chướng, sở tri chướng. Khi một ai bị chấp dính vào những thứ này được gọi là vướng “bụi trần.”
Hằng ngày quý vị nghe giảng kinh, tôi khuyên quý vị đừng có phiền não, nhưng những gì quý vị có được toàn là phiền não. Tôi khuyên quý vị đừng có vô minh nhưng những gì quý vị thể hiện ra đều là vô minh. Quý vị xem như vậy có phải là vâng lời không? Càng giảng giải về vô minh là điều không tốt bao nhiêu thì vô minh càng trở nên lớn hơn bên trong quý vị. Khi quý vị được giải thích là phiền não là không tốt thì phiền não lại càng lớn mạnh. Trước khi đề cập đến thì không có phiền não, nhưng một khi đã đưa ra bàn luận, thì phiền não lại sinh khởi và càng tăng. Thế nên có lẽ việc giảng giải kinh điển của tôi chẳng phải là lối giảng giải hay, vì tôi không có thể bao che, thanh minh cho phiền não của quý vị. Tôi hy vọng rằng quý vị sẽ liệng quách phiền não của quý vị xuống Thái Bình Dương cho xong, để đừng có xem phiền não của mình như một kho tàng quý giá nữa. Đừng nâng niu chiều chuộng chúng. Quý vị nên liệng hết phiền não xuống biển, cho dù phiền não có quá nhiều đến nỗi chúng có nguy cơ lấp tràn cả đại dương.
Phiền não là ma quỷ, quý vị có thể tìm thấy yêu tinh ma quỷ nơi đâu? Nói đơn giản, hễ có phiền não là có yêu quỷ. Quý vị và phiền não đang đi cùng nhau. Phiền não cực kỳ tệ hại, kinh này được giảng cũng chỉ để dạy cho mọi người biết cách từ bỏ phiền não. Thế nên khi tôi nói về phiền não chẳng phải là để cho nó càng nhiều hơn đâu. (Nguồn: mục 118- giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
II- Phiền Lão chướng và Sở chi chướng là hai lĩnh vực thuộc Chướng ngại.
- Phiền não chướng sinh khởi do chấp ngã. Khi chấp ngã, sẽ làm sinh khởi nên phiền não chướng. Bất luận điều gì xảy ra, quý vị đều không thể nào nhìn được thông suốt về nó cả, quý vị chẳng phóng xả sự việc đó được, vì thế nên quý vị bị vướng mắc với chúng. Và một khi sự vướng mắc sinh khởi, thì phiền não chướng theo sau liền. Đó là phiền não chướng.
- Sở tri chướng sinh khởi do chấp pháp. Về sở tri chướng, nếu quý vị nghĩ: “Tôi biết rất nhiều” thì đó là một chướng ngại. Chẳng phải là người ta càng học thì hiểu biết càng gia tăng đâu, mà trái lại họ càng học nhiều thì họ lại càng bị chướng ngại bởi những gì họ biết. Vì sao mà kiến thức là chướng ngại? Vì nó làm cho người ta kiêu ngạo và thường nghĩ: “Quý vị nhìn tôi xem. Tôi biết mọi thứ mà không ai trong các ông biết được. Tôi vượt xa các ông. Tôi chẳng thể nào so sánh với các ông được. Các ông đều là kẻ ngu đần. Nhưng còn tôi, tại sao sở học của tôi lại có một không hai trên thế gian này, đời này thật là hiếm có.” Ngay khi tâm kiêu mạn này trổi dậy thì đó chính là sở tri chướng.
Đây là hai món chướng ngại mà A-nan cho rằng toàn thể mọi người trong hội chúng đều bị ràng buộc. “Trói buộc” nghĩa là không có được tự tại. Họ không có được sự tự do bởi vì họ bị hai thứ chướng ngại này.
* Phiền não là ma quỷ, quý vị có thể tìm thấy yêu tinh ma quỷ nơi đâu? Nói đơn giản, hễ có phiền não là có yêu quỷ. Quý vị và phiền não đang đi cùng nhau. Phiền não cực kỳ tệ hại, kinh này được giảng cũng chỉ để dạy cho mọi người biết cách từ bỏ phiền não. Thế nên khi tôi nói về phiền não chẳng phải là để cho nó càng nhiều hơn đâu.(Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q1-Phần Kinh văn)
+ Phiền lão là Trần lao: ... Rối loạn như vậy: ở trong cái không đồng và cái không dị như đã nói ở trên, thế giới và hư không, “đồng dị phát sinh,” và tạo ra sự hỗn loạn, không có trật tự. Sự hỗn loạn nầy cuối cùng dẫn đến sự mệt mỏi. Trong cái đồng dị bỗng dưng được lập nầy, cuối cùng sinh ra sự mỏi mệt. Cái mỏi mệt là tướng trạng đầu tiên trong lục thô, đó là trí tướng. Mệt mỏi kéo dài sinh ra phiền não. Tiếp theo cái mệt mỏi là tướng trạng thứ nhì của lục thô, đó là tương tục tướng. Nhiễm ô là tướng trạng thứ ba của lục thô, đó là chấp thủ tướng. Những tướng trạng nầy kết hợp nhau trong một mớ hỗn độn u ám. Nó kết dính nhau và không có cách nào để tách rời chúng ra một cách rạch ròi. Đây là tướng trạng thứ tư của lục thô, đó là kế danh tự tướng. Sự hỗn loạn nầy tạo nên phiền não với sự tập nhiễm của trần lao. Trần lao là chính là phiền não. Phiền não chính là trần lao. Tám vạn bốn ngàn trần lao chính là tám vạn bốn ngàn phiền não. Từ những điều kiện khác nhau vừa bàn đến, phiền não sinh khởi. Cùng với phiền não là sự sinh khởi của núi sông đất liền. (Nguồn: HT Tuyên Hóa - Kinh Thủ LN-Q4-Chương 1)
+ Mỗi người thuộc 01 Nhóm chân Ngã: ... Điều sẽ hiển nhiên là khi một người nói đến karma, thì y đang bàn đến một điều gì đó rộng lớn hơn là sự tương tác của quả và nhân bên trong lĩnh vực của công việc thường lệ riêng tư của chính y. Trong tất cả mọi việc, y bị chi phối bởi các nguyên nhân xuất phát trong toàn bộ các kiếp sống vốn đang tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi sự tập hợp của các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm lực của một Hành Tinh Thượng Đế,... (LVLCK, 804)
+ Đối với tất cả đều Không chấp trước: Không chấp không - Không chấp có
Ngài lại dạy rằng: "Nầy Chư Thiện tri thức! Cái trí Bồ đề Bát nhã, người thế gian vốn tự có, nhưng bởi tâm mê, nên chẳng tự ngộ được. Phải cầu bực đại Thiện tri thức chỉ dẫn cho mới thấy tánh. Phải biết rằng dầu kẻ ngu hay người trí cũng đồng có Phật tánh giống nhau không khác. Nhưng bởi tâm mê ngộ chẳng đồng mới có kẻ ngu người trí. Vì đó nên nay ta mới nói pháp Ma ha Bát nhã Ba la mật, khiến cho mọi người đều đặng trí huệ. Hãy chú ý mà nghe cho rõ, ta vì đại chúng mà nói pháp đây.
Chư Thiện tri thức! Người thế gian suốt ngày miệng niệm Bát nhã, mà chẳng biết Bát nhã trong tánh mình, cũng như nói ăn mà chẳng no. Miệng chỉ nói "không" thì muôn kiếp cũng chẳng thấy tánh đặng, rốt cuộc không ích gì.
Chư Thiện tri thức! Ma ha Bát nhã Ba la mật là tiếng Phạn, có nghĩa là đại trí huệ đáo bỉ ngạn. Ấy là do nơi tâm làm, chớ chẳng phải do nơi miệng niệm. Miệng niệm và tâm làm theo, thì tâm và miệng hiệp nhau. Bổn tánh là Phật, lìa tánh thì không có Phật nào khác.
Sao gọi là Ma ha? Ma ha nghĩa là lớn, tâm lượng rộng lớn cũng như hư không, không có bờ mé, cũng chẳng phải vuông tròn lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, cũng không trên dưới dài ngắn, cũng không giận không mừng, không phải không quấy, không lành không dữ, không có đầu đuôi. Các cõi Phật thảy đều như hư không. Cái diệu tánh của người thế gian vốn là trống không, chẳng có một pháp gì trong đó mà tìm đặng. Cái tự tánh Chơn không cũng giống như thế.
Chư Thiện tri thức! Chớ nghe ta nói "không" mà liền chấp "không." Nếu để tâm trống không mà ngồi yên lặng, tức là chấp cái "vô ký không."
Giảng:
Ma ha có nghĩa là gì? Ma ha dịch là lớn (đại). Cái gì gọi là lớn? Tâm người lớn như hư không, giống như tâm muốn đến mặt trăng bèn phát minh hỏa tiễn. Cho nên nói Tâm vô biên tế, vô hạn lượng, tâm không có vuông tròn, không có lớn nhỏ. Tâm vô hình, lớn thì không có gì ở ngoài nó, nhỏ thì không có gì ở trong nó. Tâm lượng cũng không có sự biểu hiện của màu sắc xanh vàng đen trắng, cũng không có trên dưới dài ngắn. Tự tánh vốn không sân không giận, cũng không mừng không vui, tự tánh là trung đạo; cũng không đúng cũng không sai, nếu có đúng có sai thì không phải chân tâm của các ông. Không có thiện tâm sở hoặc ác tâm sở (cho nên Lục Tổ Đại sư khai thị Huệ Minh rằng: "Không nghĩ thiện không nghĩ ác"), tâm cũng không có đầu có đuôi. Cảnh giới của Chư Phật cũng giống như hư không. Diệu tánh của chúng ta vốn là không, không có một pháp khả đắc, cho nên nói Tự tánh như hư không, chân vọng đều ở trong, ngộ triệt bổn lai thể, một cái thông tất cả đều thông, tự tánh Chân không giống như đạo lý trên đây tôi vừa nói.
Quý vị Thiện tri thức! Không nên nghe tôi nói không, liền chấp vào không. Điều quan trọng nhất là không được chấp vào không. Nếu các ông nói tất cả là không, tâm không thân cũng không, thế giới cũng không, như thế ngồi thiền sẽ lạc vào vô ký không. Vô ký không thì giống như người đã chết rồi, cái gì cũng không biết, tuy là người sống nhưng vừa ngồi thiền là giống như chết. Chúng ta tu đạo cần phải biết trong cái Chân không có cái Diệu hữu, không phải cái gì cũng không biết. Cái gì cần biết, cái gì không cần biết, phải sáng suốt nhận định rõ ràng; giống như đạo lý "tâm thanh nước hiện bóng trăng, định tâm định ý bóng mây không còn."
Chư Thiện tri thức! Thế giới tuy là trống không, mà có thể bao hàm muôn vật. Tất cả các sắc tượng: mặt nhật, mặt nguyệt, tinh, tú, núi, sông, đất bằng, nguồn, suối, khe, rãnh, cỏ, cây, rừng, bụi, kẻ dữ, người lành, việc dữ, việc lành, thiên đàng, địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu-di, nhất thiết đều ở trong cái "không." Cái tánh trống không của người thế gian cũng giống như thế.
Chư Thiện tri thức! Tự tánh có thể bao hàm hết muôn pháp, ấy gọi là lớn. Muôn pháp đều ở trong tự tánh mỗi người. Nếu thấy cả thảy các điều dữ cùng các điều lành của người, mà chẳng chấp chẳng bỏ, cũng không nhiễm vương, không dính níu, lòng như hư không, ấy gọi là lớn, cho nên gọi là Ma ha.
Chư Thiện tri thức! Kẻ mê miệng nói, người trí lòng làm. Lại có người mê để lòng trống không, ngồi yên lặng chẳng nghĩ đến việc gì mà nói chính đây là "lớn." Với hạng người ấy, không thể nói gì được, vì họ bị sa vào lưới tà kiến.
Chư Thiện tri thức! Cái tâm lượng thiệt là rộng lớn, châu biến cả thảy Pháp giới, dùng nó liền hiểu rõ ràng. Cái tâm lượng khi ứng dụng ra, thì biết hết thảy cả sự vật. Cả thảy tức quy về một, một tức gồm hết cả thảy, tới lui thong thả, tâm thể suốt thông, không ngưng trệ, tức là Bát nhã vậy. (Nguồn: Lục Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Không chấp Có hoặc không:
VIII. Thuận Thế Phái (S.ii,77)
3) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều có?
-- Này Bà-la-môn, tất cả đều có, là chấp kiến thứ nhất của thế gian.
4) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều không có?
-- Tất cả đều không có, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ hai của thế gian.
5) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là một?
-- Tất cả đều là một, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ ba của thế gian.
6) -- Thưa Tôn giả Gotama, có phải tất cả đều là nhiều?
-- Tất cả đều là nhiều, này Bà-la-môn, là chấp kiến thứ tư của thế gian.
Này Bà-la-môn, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo.
7) Do duyên vô minh nên có hành. Do duyên hành nên có thức... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
8) Khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn thuộc phái Thuận Thế bạch Thế Tôn:
-- Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama!... con xin trọn đời quy ngưỡng. (Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Tương ưng nhân duyên)
+ Tâm chấp: Đức Phật dạy,một câu tóm tắt toàn bộ giáo pháp của Ngài là ĐỐI VỚI TẤT CẢ ĐỀU KHÔNG CHẤP TRƯỚC ...
I. HT giảng câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" - Nên không trụ vào đâu mà sanh tâm ấy; “Đây là cốt tủy của toàn bộ Kinh Kim Cang.” Ai hiểu được câu này thì biết tu, ai không hiểu thì dù tụng cả đời cũng chỉ là ngoài cửa.
1. “Ưng”: Không phải bắt buộc, mà là thuận theo đạo lý mà hành - Biết như vậy thì tự nhiên phải làm như vậy
2. “Vô sở trụ”: Không trụ vào: • Sắc • Thanh • Hương • Vị • Xúc • Pháp
- Không trụ vào công đức, tướng tu, ngã tướng, pháp tướng. “Chỉ cần còn ‘trụ’, thì chưa phải Kim Cang.”
3. “Nhi sanh kỳ tâm”: Không phải không có tâm, mà là tâm vẫn khởi, nhưng: Không chấp • Không dính • Không mắc kẹt => Tâm như gương soi, hiện mà không giữ.
II. Thí dụ:
1. Gương soi: Gương soi người, người đi thì bóng mất => Gương không nói: “Hồi nãy đẹp lắm, ta nhớ!”
- Sanh tâm: Gương phản chiếu
- Vô trụ: Không lưu giữ hình ảnh
* Người tu: Làm việc thiện • Độ chúng sanh • Hộ trì Tam Bảo => Xong rồi thì buông
2. Bồ Tát bố thí - Hòa Thượng nói:
“Bố thí mà còn nhớ: ‘Ta bố thí’, ‘người kia được bố thí’, ‘vật này là của ta’ => Thì vẫn là phàm phu.”
Đúng tinh thần Kim Cang: Không trụ người cho • Không trụ người nhận • Không trụ vật cho => Nhưng vẫn phải bố thí
3. Chèo thuyền qua sông: Thuyền là phương tiện, Sang bờ rồi không đội thuyền lên đầu. Ngài nhấn mạnh: “Pháp còn phải bỏ, huống chi là phi pháp.”
III. Tại sao phải “dùng vọng tu vọng”? Đây là chỗ rất sâu, Hòa Thượng thường cảnh tỉnh người học.
1. Sự thật đầu tiên: Chúng sanh hiện tại dùng gì để tu? Là dùng vọng tâm để tu, vì: Chưa chứng Thật Tướng - Chưa có Chân Tâm hiển lộ - Chưa phá vô minh => Không dùng vọng thì lấy gì mà khởi tu?
Ngài dạy rõ: “Dùng vọng tu vọng, nhưng không chấp vọng là thật.” Nếu: Tu mà chấp mình đang tu - Chấp mình có công phu - Chấp mình có cảnh giới => Vọng chồng thêm vọng
IV. Vì sao “vô trụ” mà vẫn “sanh tâm”? Hòa Thượng nói một câu rất nổi tiếng: “Không trụ là Định, sanh tâm là Huệ.”
Vô trụ Sanh tâm - Không dính, Không rơi vào không - Không chấp, Không đoạn diệt - Định Huệ => Đây chính là Trung Đạo
V. Lỗi hiểu sai: (1): Không trụ = không làm gì => Rơi vào ngoan không; (2): Sanh tâm = tùy ý khởi vọng => Rơi vào tán loạn. Hòa Thượng cảnh báo: “Không trụ mà không sanh tâm là chết - Sanh tâm mà có trụ là trói.”
VI. Kết luận theo lời Hòa Thượng Tuyên Hóa. Tu hành là:
• Làm mà không chấp
• Biết mà không kẹt
• Dùng vọng nhưng không bị vọng lừa
• Sanh tâm mà không có chỗ trụ
=> Đây là Kim Cang Bát Nhã hiện tiền
Tổng quan: một là “cương yếu”, một là “công phu thực hành”. Ngài thường dạy: Kinh Kim Cang là tông chỉ - Kinh Lăng Nghiêm là công phu;
“Vô sở trụ” và “Phản văn” là cùng một hướng quay. “Không trụ là Định - Sanh tâm là Huệ.” Ví dụ về cái Chuông:
– Chuông đánh → có tiếng
– Tiếng dứt → tánh nghe còn
• Kim Cang: không trụ tiếng
• Lăng Nghiêm: nhận ra cái nghe không sanh diệt. Trình tự tu hành (theo Hòa Thượng)
Kết luận cốt lõi Ưng vô sở trụ là tông chỉ Nhĩ Căn Viên Thông, là con đường Hai kinh không hai pháp: Một bên dạy đừng trụ - Một bên dạy trở về => Không trụ bên ngoài – Không mất bên trong
Ngài nói: “Không trụ mà không sanh tâm là chết, sanh tâm mà có trụ là trói.” là một câu cảnh tỉnh rất sâu cho người tu, trực chỉ vào chỗ sống – Chết của tâm Bát Nhã, xuất phát từ tinh yếu của Kinh Kim Cang: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” “Không trụ mà không sanh tâm là chết”
Ý nghĩa “Không trụ”: không bám vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
“Không sanh tâm”: tâm không khởi dụng, không có trí chiếu soi, không có từ bi, không có hành động lợi sanh.
Khi chỉ hiểu “không trụ” theo nghĩa trống rỗng, rồi: Không phát tâm tu - Không hành Bồ-tát đạo - Không độ mình, không độ người thì rơi vào không tịch khô cứng, đoạn diệt => giống như: • Tro nguội • Gỗ mục • Ngồi thiền mà tâm chết cứng => Ngài gọi đó là “chết”, vì: Không phải “vô trụ” của Bát Nhã, Mà là chấp không. Tu mà mất tác dụng giác ngộ - Đây chính là lỗi của người tu rơi vào “không ma”, “định chết”. “Sanh tâm mà có trụ là trói”.
Ý nghĩa “Sanh tâm”: phát tâm tu, tâm từ bi, tâm làm việc Phật pháp. Nhưng “có trụ”: Trụ vào ta đang tu - Trụ vào công đức của ta - Trụ vào ta giúp người - Trụ vào ta giỏi, ta đúng => Như vậy: Làm việc thiện mà ngã chấp càng lớn - Tu càng lâu thì ngã càng cao - Công đức biến thành phước hữu lậu => Hòa Thượng nói là “trói”, vì: Bị trói trong ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả - Bị trói trong công đức, hình tướng, danh tiếng - Không ra khỏi sanh tử => Đây là lỗi của người tu rơi vào “hữu ma”, “phước trói đạo”. Chỗ sống thật mà Hòa Thượng chỉ ra Con đường đúng là: Không trụ mà sanh tâm - Sanh tâm mà không trụ. Nghĩa là - Tâm luôn khởi dụng: Tu - Học - Độ sanh - Hành giới – định – tuệ. Nhưng: Không chấp công Không chấp ngã - Không chấp tướng;
Đúng như Kinh Kim Cang dạy: “Bồ Tát ưng vô sở trụ nhi hành bố thí.” Ngài thường nói: “Làm mà như không làm, độ mà như không độ, có mà như không.”
Kết luận cô đọng: Cảnh giác vơi 2 hố "Hố chấp không và Hố chấp có"
✨ Không trụ mà không sanh tâm → Đoạn diệt
✨ Sanh tâm mà có trụ → Luân hồi
✨ Không trụ mà sanh tâm → Bát Nhã hiện tiền
KHÔNG TRỤ – SANH TÂM: CHỖ SỐNG CỦA NGƯỜI TU
Hòa Thượng Tuyên Hóa từng cảnh tỉnh: “Không trụ mà không sanh tâm là chết - Sanh tâm mà có trụ là trói.”
Nghe qua tưởng nghịch lý, nhưng đây chính là chỗ sống–chết của người tu.
🔸 Không trụ mà không sanh tâm là chết. Có người hiểu “không trụ” rồi rơi vào trống rỗng, không phát tâm tu, không hành Bồ-tát đạo, tâm lạnh như tro nguội, định mà không giác.
Đó không phải giải thoát, mà là định chết – chấp không.
🔸 Sanh tâm mà có trụ là trói. Có người rất siêng tu, rất năng làm Phật sự, nhưng trụ vào “ta tu”, “ta có công”, “ta đúng”. Càng làm, ngã càng lớn, công đức biến thành dây trói trong luân hồi.
Chỗ đúng mà Phật dạy là: Không trụ mà sanh tâm. Làm hết lòng, nhưng không chấp công. Độ người, nhưng không thấy có người được độ. Tu nghiêm mật, nhưng không thấy có “ta” đang tu.
Kinh Kim Cang nói: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
- Tu mà không sanh tâm thì đạo chết.
- Tu mà có trụ thì tâm bị trói.
- Sanh tâm mà không trụ – đó là Bát Nhã sống, là con đường giải thoát chân thật.
[Nguồn: Trích tổng hợp chủ đề Tâm thanh tinh - HT Tuyên Hóa giảng giải các kinh Lăng Nghiêm Kinh - Kim Cang Kinh - Thiền Tông Khai Thị - Khai Thị Tu Hành .. của nhóm đệ tử HT Tuyên Hóa trên Zalo]
+ Tâm thanh tịnh: Tâm thanh nước hiện trăng - Ý tịnh trời sạch mây.
HT nói “Thanh tịnh không phải là không có vọng niệm, mà là vọng niệm đến mà không bị nó lôi đi.” Ta hiểu là: Có vọng tưởng nhưng không theo, không chấp, không bị chuyển.
HT dạy: “Tâm chạy theo sáu trần là tâm sanh tử; Tâm không theo sáu trần là tâm thanh tịnh.”Do đó, chỉ cần nhận sai tâm, dù tu nhiều cũng không ra khỏi luân hồi.
HT nói: “Chỉ cần một niệm không theo cảnh, thì đó là thanh tịnh.” Ngải nhấn mạnh: “Người mới tu thấy vọng tưởng nhiều, không phải là vọng tăng, mà là trước đây không biết, nay mới thấy.”
Vậy Tâm bất an – Tâm lo lắng có phải là Tâm không thanh tịnh không? HT dạy: “Biết lo là giác, không biết mình lo mới là mê.” Nghĩa là: Biết tâm bất an = Có ánh sáng trí tuệ; Bị bất an kéo đi = Tâm không thanh tịnh. Ngài dạy: “Biết mình lo mà vẫn niệm Phật được → đó là công phu.”
HT dạy: Tu mà tâm nhiều vọng tưởng là Miệng tu - Tâm không tu. “Miệng niệm Phật, tâm nghĩ tiền, đó không phải niệm Phật.” Tức Niệm bằng miệng, không bằng tâm.
HT dạy: “Đừng đánh vọng tưởng, càng đánh càng loạn.” Đừng dùng tụng kinh để trốn tâm, không đối diện tâm. Nhiều người: • Sợ vọng • Ghét vọng • Muốn tụng để “đè” vọng => Kết quả: vọng càng mạnh
=> Tâm không thanh tịnh là khi: Tin vọng là Ta - Vọng tưởng làm chủ – Tâm bị cảnh chuyển – Chạy theo vọng không còn tự biết - Lấy vọng làm quyết định.
Ngài dạy: “Tu không phải để hết vọng tưởng, mà là không để vọng tưởng sai khiến mình.”
Ba kinh khác cửa, nhưng cùng chỉ một việc: Không để vọng tâm làm chủ = Tâm thanh tịnh. [Kinh Lăng Nghiêm - Kinh A Di Đà - Kinh Kim Cang: “Lăng Nghiêm dạy biết giặc, A Di Đà dạy đừng theo giặc, Kim Cang dạy đừng ghét giặc.”]
Ngài dạy: “Nếu chấp mình thanh tịnh, thì đã không thanh tịnh.” Tâm thanh tịnh là: Không trụ vào vọng - Không trụ vào thanh tịnh - Không trụ vào công phu - Không trụ vào ta đang tu.
[Nguồn: Trích tổng hợp chủ đề Tâm thanh tinh - HT Tuyên Hóa giảng giải các kinh Lăng Nghiêm Kinh - Kim Cang Kinh - Thiền Tông Khai Thị - Khai Thị Tu Hành .. của nhóm đệ tử HT Tuyên Hóa trên Zalo]
+ Tâm Thanh Tịnh - Tâm giải thoát: Trong đoạn kinh này, đức Phật dạy chúng ta: Hiểu đơn giản nhất “Thanh tịnh tâm’” tức là tâm được giải thoát. Tâm giải thoát thì huệ cũng sẽ giải thoát. Vậy thì cái tâm này giải thoát như thế nào? Giải thoát là cách nói hình dung, tỷ dụ. Chẳng hạn như một người bị dây rợ trói chặt, chẳng tự tại, chẳng tự do, giờ đây có ai tháo gỡ cho, ngay lập tức bèn tự tại. Hiện thời tâm chúng ta chẳng tự tại, rất giống như người bị dây thừng trói chặt. Những dây thừng đó chính là vọng tưởng, phiền não, ưu lự, vướng mắc, trói buộc tâm ta chẳng được tự tại, mà Huệ chính là tác dụng của Tâm. Tâm không thanh tịnh là khi: Vọng tưởng làm chủ – tâm bị cảnh chuyển – không còn tự biết.Tâm chẳng tự tại, bèn chẳng có Huệ; tâm được tự tại, Huệ bèn hiện tiền.... Trong kinh đức Phật dạy: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Hoàn cảnh là y báo, nhân tâm là chánh báo. Nhân tâm chẳng thanh tịnh thì hoàn cảnh làm sao thanh tịnh được? Muốn cho hoàn cảnh thanh tịnh thì tâm phải cầu thanh tịnh trước đã! Nhưng tâm con người muốn đạt thanh tịnh thì phương pháp tối hiệu quả duy nhất là Phật pháp. Đích xác là Phật pháp có thể thanh tịnh thân tâm, khiến cho tâm chúng ta được giải thoát. Tâm thanh tịnh là tâm giải thoát, tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ chân thật. (Nguồn: Phật Thuyết Thanh Tịnh Tâm)
+ Tâm Thanh Tịnh thì Huyết Thanh Tịnh: Do đó tâm khởi phiền não ác nghiệp thì không chỉ là biểu hiện của tâm bệnh mà còn có thể dẫn đến “thân bệnh”. Trong “Chánh pháp niệm xứ kinh quán thiên phẩm” có nói: “Tâm thanh tịnh thì huyết thanh tịnh, huyết thanh tịnh thì nhan sắc (mặt) thanh tịnh”. Có thể nói Phật giáo đã đưa ra sự liên hệ chặt chẽ giữa tâm lý, hành vi của con người với sinh lý, bệnh tật cho đến cả cá nhân con người và xã hội, chỉ cho chúng sinh con đường thoát ly mọi thống khổ của tâm bệnh, thân bệnh, từ đó mà đạt đến cảnh giới Niết bàn an lạc vĩnh hằng.(Nguồn)
+ Tính chất của tứ đại:
- Tính chất của Đất - Thổ đại: Tính chất của đất rất sâu, dày và rộng, nhờ vậy mà đất có khả năng tiếp nhận, ôm lấy và chuyển hóa tất cả mọi thứ trong đó có các chất nhơ bẩn, hôi hám v.v… mà con người trút xuống. Đất không bao giờ tẩy chay, xua đuổi, ghét bỏ, kêu van hay oán trách một lời.
- Tính chất của nước - Thủy đại: Nước cũng vậy. Dung lượng của nước rất mênh mông, sâu rộng và uyển chuyển, vì thế nước có khả năng tiếp nhận, ôm lấy, dung chứa và thanh lọc tất cả.(Nguồn: Thích Nhất Hạnh)
+ Ngũ hành vận khí bốn mùa:
1. Đất: đất thuộc về thân; 2. Nước: nước thuộc về miệng; 3. Lửa: lửa thuộc về mắt => lửa ít lạnh nhiều thì mắt mờ.; 4. Gió: gió thuộc về tai
Gió tăng thì khí khởi lên, lửa tăng thì nhiệt khởi lên, nước tăng thì lạnh khởi lên, đất tăng thì lực mạnh lên. Vốn từ nơi 4 bệnh này, mà sinh ra bốn trăm bốn bệnh.
- Mùa xuân từ tháng giêng, tháng hai, tháng ba lạnh nhiều - Là vì vạn vật đều sinh ra, nhờ lạnh mà đâm chồi gọi là lạnh nhiều.
- Mùa hè từ tháng tư, tháng năm, tháng sáu gió nhiều - Là vì vạn vật hoa quả tươi tốt âm dương tụ họp gọi là gió nhiều.
- Mùa thu từ tháng bảy, tháng tám, tháng chín nóng - Là vì vạn vật bị khô héo gọi là nóng nhiều.
- Mùa đông từ tháng mười, tháng mười một, tháng mười hai có gió lạnh - Là vì vạn vật hoàn toàn đã mất hết nhiệt gọi là có gió có lạnh.
Xuân Hè: Từ tháng ba, tháng tư, tháng năm, tháng sáu, tháng bảy được nằm. Vì sao? Vì gió nhiều cho nên thân thể tỏa ra.
Thu Đông: Từ tháng tám, chín, mười, mười một, mười hai, giêng, hai không được nằm. Vì sao? Vì lạnh nhiều cho nên thân co lại.
- Ba tháng mùa Xuân có lạnh, nên không được ăn mì đậu - Nên ăn gạo tẻ, sữa đặc và những vật được nấu chín.
- Ba tháng mùa hè có gió, không được ăn khoai, đậu, lúa mì - Nên ăn gạo tẻ, uống sữa.
- Ba tháng mùa thu có nóng, không được ăn gạo tẻ, sữa đặc - Nên ăn gạo tấm, bột gạo rang, lúa mì.
- Ba tháng mùa đông có gió lạnh và âm dương hòa hợp - Nên ăn gạo tẻ, canh đậu phụ, sữa đặc.
=> Khi nằm có lúc gió khởi có lúc diệt, có lúc lửa khởi có lúc diệt, lạnh có lúc khởi lúc diệt. ....(Nguồn: Kinh Phật Thuyết Y Kinh _Thích Đồng Tiến dịch )
+ Tứ đại vận trong Thân: Thân thể con người do đất, nước, gió, lửa giả hợp mà thành. Nếu lửa nhiều thì nước ít, nếu gió nhiều thì đất ít, nếu nước nhiều thì lửa ít. Tứ Ðại không điều hợp, không quân bình thì tự nhiên sinh bịnh; có bịnh thì có đau đớn. (3. Bịnh khổ - HT Tuyên Hóa khai thị Q.2)
+ Phẩm tính hay đặc tính các Đại - Các Hành:
I. PHÁI SỐ LUẬN (SĀṂKHYA) VÀ HỆ THỐNG NGŨ ĐẠI:
Năm đại chủng (Mahābhūta) thuộc đế (tattva) thứ II, gồm 16 biến thể. Năm đại chủng được đánh số từ 20-24 trong 16 biến thể đó. Năm đại chủng (Mahābhūta) gồm những thành tố thô trọng, đó là đất, nước, lửa, gió và khí / Hư không (Từ điển Phật giáo gọi Gió là Khí/ Không khí). Và Kapila giải thích thêm:
‘… Đất, giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự nâng đỡ của nó. Nước giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự ẩm ướt. Lửa giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự làm cho chín muồi. Gió giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự làm khô ráo. Khí giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự ban tặng khoảng không.
‘Đất có 5 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, sắc màu, hương và mùi vị. Nước có 4 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, sắc màu, và mùi hương. Lửa có 3 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, và sắc màu. Gió có 2 phẩm tính: âm thanh, và xúc chạm. Khí có 1 phẩm tính là âm thanh…’
Tiếp theo là giải thích chi tiết các đại chủng:
Không khí (ākāśa), (âm thanh; śabda).
Gió (vāyu): âm thanh + xúc chạm
Lửa (tejas): âm thanh + xúc chạm + sắc
Nước (ap): âm thanh + xúc chạm + sắc + hương
Đất (pṛthivi): âm thanh + xúc chạm + sắc + hương + vị. (Điểm này cũng tương ứng với Minh triết_NTH)
Có lẽ đây là căn cứ cổ xưa nhất, và đầy đủ nhất đã thuyết minh về những yếu tố cấu thành vũ trụ. Mà sau nầy chúng ta được biết đến với những thuật ngữ như Tứ đại, Lục đại, v.v…
II. PHÁI TRIẾT HỌC THẮNG LUẬN (VAIŚEṢIKA): ... Những phạm trù nầy, bao quát toàn bộ lĩnh vực kiến thức, và đó là:
(1) Thể (Dravya), (2) Đức, Phẩm tính (Guṅa; quality); (3) Nghiệp (Karman); (4) Đồng, cái chung (Sāmānya), là giống loại hay cộng đồng, hay cái đã tạo thành chủng loại. (5) Dị (Viśeṣa), riêng biệt, thứ hạng, cái tạo nên cá tính riêng biệt. (6) Tính cố hữu (Samavāya) không thể tách rời, (7) Tình trạng phi hiện hữu (Abhāva) hay phủ định (negation).
Trong đó, phạm trù Thể (Dravya), có đề cập đến 5 đại chủng:
(1) Đất (Pṛthivi); (2) Nước (Āpaḥ); (3) Lửa (Tejas); (4) Gió (Vāyu; air); (5) Hư không (Akāśa; ether); (6) Thời (Kāla); (7) phương (Diś; space); (8) Tự ngã (Ātman); (9) Ý (Manas; mind).
......Những phẩm tính chủ yếu của Thể được đề cập qua Đức (Qualities) là: Sắc (rūpa), trong đất nước và lửa; (2) Vị (rasa), trong đất và nước; (3) Hương (gandha), trong đất; (4) Xúc (sparśa), trong đất nước lửa và gió;
III. THEO TẠNG NAM TRUYỀN: Trong Trường A-hàm, Khởi thế nhân bản kinh, 11, Kinh nói về nguồn gốc của loài người và xã hội loài người, chúng ta vẫn chưa thấy đề cập có hệ thống về Tứ đại chủng. Chỉ thấy nói đến nước, rồi đất, nhưng nội hàm là những yếu tố trong thiên nhiên.
‘…Này Vāsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Đất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh…’. ........
Cho đến Đại kinh dụ dấu chân voi (Mahāhatthipadopama sutta) 28, trong Trung Bộ Kinh, chúng ta mới thấy Đức Phật đề cập đến Tứ đại một cách có hệ thống.
Theo kinh nầy, Tôn giả Xá-lợi-phất tuyên bố Bốn chân lý là lớn nhất trong tất cả thiện pháp, như dấu chân voi lớn nhất trong các dấu chân. Xá-lợi-phất phân tích chân lý về Khổ với những khía cạnh của nó, đặc biệt là năm uẩn bị chấp thủ. Tiếp đến phân tích sắc uẩn là do bốn đại tạo nên; rồi Xá-lợi-phất lần lượt nói về bốn đại với hai khía cạnh trong và ngoài, nội đại chủng được phân tích chi tiết, ngoại đại chủng chỉ được nói sơ qua để so sánh cho đầy đủ. Mỗi đại chủng được hiển thị như là một nền tảng để phát sinh tuệ quán “duyên sinh, vô thường, vô ngã” cùng các đức tính nhẫn, niệm và xả tương ưng với thiện.
‘… Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ…
‘… Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ.
Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ….
Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. … Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới…’
Như vậy. mục đích Đức Phật nêu ra tứ đại chủng trong kinh nầy nhằm liện hệ với sắc thủ uẩn, để nhận ra Tứ diệu đế một cách rõ ràng hơn. Đây có thể được xem là căn cứ đầu tiên mà Đức Phật nêu lên Tứ đại trong Kinh tạng Nguyên thuỷ, để sau nầy các Luận sư thuộc các bộ giải thích thành giáo lý riêng bộ phái của mình.
IV. THEO A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN [Nhất thiết hữu bộ trình bày về Tứ đại qua luận giải nổi tiếng của ngài Thế Thân]
Thế Thân là một trong những Luận sư kiệt xuất đó, với quan điểm về các đại chủng trong bộ luận căn bản A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận như sau:
Luận: Đất, nước, gió, lửa có khả năng gìn giữ các tính chất riêng của mình và các sắc pháp được chúng tạo thành (sở tạo sắc, upādāyarūpa, bhautika) vì thế gọi là giới (dhātu). Bốn giới này được gọi là đại chủng (mahābhūta) vì chúng làm chỗ dựa cho tất cả các loại sắc khác và vì thế tính vốn rộng khắp; hoặc vì đại chủng đất, nước, v.v., tập trung với số lượng lớn trong đất, nước, v.v., hoặc vì khởi đủ các loại tác dụng lớn.
Bốn đại chủng này có khả năng tạo thành các nghiệp nào? – Theo thứ tự trên, chúng có thể trì giữ (dhāraṅa), kết dính (nhiếp, saṃgraha), làm chín (pakti) và làm tăng trưởng (vyūhama). Địa giới có khả năng trì giữ, thủy giới có khả năng kết dính, hỏa giới có khả năng làm chín và phong giới có khả năng làm tăng trưởng. Nói “tăng trưởng” có nghĩa là làm chuyển dịch (prasarpaṇa) và lớn mạnh (vṛddhi).
Bốn đại chủng này có những tính chất nào? Theo thứ tự trên chúng có các tính chất cứng, ướt, nóng, động. Địa giới có tính cứng, thủy giới có tính ướt, hỏa giới có tính nóng, và phong giới có tính động. Nhờ vào tính chất động này mới có thể dẫn dắt đại chủng tạo sắc tương tục sinh khởi đến các chỗ khác; cũng giống như trường hợp của ánh đèn.
V. THUYẾT NGŨ ĐẠI: Theo Kinh Đại Nhật, một bộ kinh căn bản của Mật giáo, đã nêu thêm một yếu tố nữa vào thuyết Tứ đại, đó là Không (ākāṣa). Tính chất của đại chủng này là vô ngạị. Tác dụng là giữ gìn, thu nhiếp, thành thục, tăng trưởng, không ngăn ngại.
Mật giáo chuyên sử dụng thuyết Ngũ đại, chủ trương tứ đại không lìa tâm đại, cho rằng tâm và sắc tuy khác nhưng thể tính của chúng thì chẳng phải 2; Chủng tự của Ngũ đại theo thứ tự là: 狣(a), 綯(va), 先(ra), 成(ha) và 几 (kha). Nghĩa của các chủng tự này theo thứ tự là: Vốn chẳng sinh 狣(a), lìa ngôn thuyết 綯(va), 先lìa cấu nhiễm (ra), lìa nhân duyên 成(ha), như hư không 几(kha).
Từ đó, trong nghĩ quỹ Mật giáo, đã phối hợp Ngũ đại với Ngũ phương (vị), Ngũ sắc, Ngũ Trí Như Lai.
VI. THUYẾT LỤC ĐẠI: Các Luận sư Du-già hành tông (Yogācāra) về sau đã đưa thêm vào một yếu tố nữa là Thức (vijñāna) vào hệ thống các Đại chủng để thành Lục đại. Quan điểm nầy đã được Mật giáo tán trợ và đề ra thuyết Lục đại Duyên khởi. Quan điểm này đã căn cứ vào Câu-xá luận, quyển 1, cho rằng đây chính là 6 yếu tố cấu tạo thành thế gian hữu tình vô tình và có mặt ở cùng khắp pháp giới nên gọi là Đại. Giải thích thêm rằng đất, nước, lửa, gió là 4 đại chủng năng tạo, là chỗ nương của tất cả vật chất; Không đại (không giới) chỉ cho những khe hở trong ngoài, cũng là nhân sinh trưởng muôn vật; Thức đại chỉ cho các thức hữu lậu, là chỗ nương cho sự sống còn của các loài hữu tình. Năm đại trước thuộc về Sắc pháp (vật chất), đại thứ 6 thuộc Tâm pháp (tinh thần).
Mật giáo cho 6 đại này là bản thể của vạn hữu, rồi lập ra các thuyết Lục đại thể đại, Lục đại duyên khởi. Tức chủ trương cho rằng 6 đại hiện hữu khắp vũ trụ, trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ 6 đại, hết thảy vạn hữu đều do 6 đại tạo thành. Trên phương diện tính chất, phổ biến cùng khắp nên gọi là Lục đại. Trên phương diện sở y (chỗ nương) của tất cả sự vật nên gọi là Thể đại.
Sáu đại này hiện diện trong nhau, dung hòa khắp trong nhau không ngăn ngại, cho nên còn được gọi là Lục đại vô ngại.
Sáu đại nương theo nhân duyên mà thành pháp giới vạn hữu, đó gọi là Lục đại tùy duyên. Từ đó nhìn về duyên khởi của vạn hữu thì gọi là Lục đại duyên khởi.
VII. THUYẾT THẤT ĐẠI: Trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm, Đức Phật nêu ra hệ thống Thất đại, bao gồm thêm Kiến đại.
A-nan, kiến giác không tự nhận thức được, nhân các thứ sắc không mà hiện hữu.., ‘….... Nếu như các sự thấy, nghe, hay, biết, bản tính viên mãn cùng khắp, vốn không lay động; thì nên biết kiến đại cùng với hư không vô biên chẳng dao động và bốn thứ vốn lay động là địa, thủy, hỏa, phong, gọi là sáu đại, vốn thật viên dung, đều là tánh Như Lai tạng, vốn không sinh không diệt.’......
Kiến đại còn vi tế hơn hư không, ở sâu hơn và gần Diệu tâm. Vì nó thuộc về kiến phần của thức sơ năng biến, trong khi hư không cùng bốn đại kia là thuộc về tướng phần …
[Kim luân: Đức Phật bảo, “Phú-lâu-na, như ông vừa hỏi, đã là thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng dưng sanh ra núi sông đất liền?”....
- Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mê muội, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Nên có phong luân nắm giữ thế giới.
- Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng, thành ra có ngăn ngại. Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng. Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ.
Giảng: ... sự lay động và tạo thành gió ..... thành ra tướng cứng chắc ngăn ngại của địa đại (yếu tố đất). Đây tức là lấy cái mê muội làm hư không, và trong thể hư không mê muội ấy, kết cái u tối hỗn trược thành sắc. "Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng". Tất cả các loại vàng bạc và các khoáng chất quý giá đều là tinh tuý trong lòng đất (địa đại), mà tánh chất của đất thì cứng chắc và ngăn ngại còn hơn cả kim loại. Nương nơi cái biết hư vọng của vô minh mà có ra tướng cứng chắc và ngăn ngại, như trong thế gian có người si tình mà hoá thành đá vậy.
- Biết cái cứng thì thành có kim bảo, rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra. Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá.
-Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt. Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới. (Nguồn: Tứ đại - Kinh Thủ LN - HT Tuyên Hóa)]
VII. TỨ ĐẠI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY: Trong tư tưởng thời cổ đại, 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa, thường được đề cập đến; có khi còn thêm yếu tố thứ 5 gọi là khí/không khí (aether; ether) theo Hi lạp cổ đại, hay theo Ấn Độ là ākāśa (hư không). Ý niệm về 5 đại chủng hình thành nên một nền tảng phân tích cho cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo.....
Người Hy lạp cổ đại tin rằng có 5 thành tố cơ bản, đó là đất (γῆ; ge), nước (ὕδωρ; hudor), gió (ἀήρ; aer), lửa (πῦρ pur) và không khí (αἰθήρ; aither), .... có ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng và nền văn hóa Âu châu.....
VIII. TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRIẾT HỌC THẮNG LUẬN (VAIŚEṢIKA) VÀ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Có thể đối chiếu một số quan điểm của vài tác giả thuộc trường phái triết học Epicure, với triết học phái Thắng luận (Vaiśeṣika).
Chúng ta được biết rằng nước, trong trạng thái nguyên tử, là hợp thể hiện hữu nhất thời trong cảnh giới của Varuna (thủy thần) được cấu thành, vị giác là giác quan thuộc về nước, sông là nước vô cơ (inorganic).
Lửa trong trạng thái nguyên tử, là hợp thể hiện hữu nhất thời. Có những thân thể hữu cơ sáng chói trong mặt trời, những tia sáng hay cảnh tượng hữu hình là ánh sáng hữu cơ. Lửa cháy là vô cơ.
Gió lại là vừa nguyên tử vừa là hợp thể. Sự hiện hữu của gió, tinh thần, v.v… là gió hữu cơ; sự xúc chạm trên da là nhẹ như không khí, gió là không khí vô cơ. Ở đây có vẻ như có điều gì không giống như học thuyết nguyên tử của Empedocles. Nhưng dù chúng ta có thể khám phá ra rằng có cùng tư tưởng trong triết học nguyên tử của Kāṇāḍa và Empedocles, nhưng hình thái diễn ra ở Ấn Độ tính cách đặc trưng vẫn khác với hình thái triết học ở Hi lạp.
Hư không luôn luôn là thường hằng và vô cùng tận. Thính giác là giác quan thuộc về thinh không: nói đúng ra, nó tưởng như là một thứ gì đó mà hư không thực sự chứa đựng trong tai. .......
IX. THUYẾT TỨ ĐẠI TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG:
Trong đạo Bön hay triết học cổ đại Tây Tạng, 5 thành tố gồm đất, nước, lửa, gió, không (space) là những chất liệu chính của mọi hiện tượng hay hợp thể tồn tại. Tiến trình của các thành tố từ lịch pháp, thiên văn, y học, tâm lý học, là nền tảng của các truyền thống tâm linh thuộc Saman giáo, của Mật tông và hệ truyền thừa Dzogchen.
Tenzin Wangyal Rinpoche xác định rằng những thuộc tính vật lý được gán cho các thành tố nầy; đất là rắn chắc; nước là kết dính; lửa là nóng, gió là chuyển động; hư không (space) là kích thước không gian để thích nghi cho hoạt dụng của bốn thành tố kia.
Tất cả 5 thành tố trong thể tính thuần khiết của nó đều có sẵn trong dòng tâm tức tương tục và liên kết ý niệm với tam thân (trikāya) những khía cạnh của khí tiên thiên. .... (Nguồn: Nguồn gốc Tứ đại - Hoavouu - TT Thích Nhuận Châu)
+ Mười thần trong Tứ trụ: Cũng gọi là mười phước - Nhân quả báo ứng biểu lộ trong Mệnh cục - Lá số Tứ trụ....
+ Chữ nhân: Hỏi: Nhà Nho nói nhân ( ) và nhà Phật nói từ bi ( ). Các từ ngữ này có quan hệ với nhau ra sao?
Ðáp: Nhân là lòng thương người, thương vật. Từ bi thì rộng nghĩa hơn; có lòng từ mẫn ngay với người không có duyên với mình, đó là đại từ; xem mọi người cùng một thể, đó là đại bi. [Nhân tức là Tánh, ở người là Tâm tánh. Còn có thể nói là Đạo, cũng có thể nói là Mẹ của vạn vật. Nhân và con người, hợp lại gọi là Đạo. Khổng Tử nói « Nhân » tức là tất cả cây cỏ đều có « Nhân » nầy, đều có Sinh cơ.]
Cho nên, Từ bi bao hàm lòng Nhân ở trong đó. Nhân còn gọi là “Thiện chủng tử,” nghĩa là hạt giống lành không ngừng sanh trưởng trong trời đất. Nhân cũng được gọi là “Phật Giới chủng tử,” tức là hạt giống của Giới Luật nhà Phật. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp).
+ Chữ nhân: Trong ngũ thường gồm Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, cái thứ nhất chính là "nhân". Người nhân từ không có đối thủ, nếu như có đối đầu với ta thì người này không nhân từ. Người khác có thể đối địch với ta, ta quyết không đối địch với người. Bảo người khác không đối đầu với ta thì thật khó, đây không phải là giáo huấn của Thánh hiền. Chính ta không thể đối đầu với người khác, người khác đối đầu là việc của họ, họ xem thường ta, chúng ta không dám xem thường họ; họ hủy báng ta, chúng ta không được hủy báng họ; họ nhục mạ ta, hãm hại ta, chúng ta quyết không dùng tâm lý báo thù để đối lại với họ, đây là học Thánh, học Hiền. Thánh hiền nhân cùng phàm phu khác biệt chính ngay chỗ này. Phàm phu tạo nghiệp, thánh hiền nhân tu công tích đức, không như nhau!... (Nguồn: Kinh Thấp thiện - PS Tịnh Không)
+ Bồ tát là Giác Hữu tình: ... Bồ là giác, Tát là hữu tình, Bồ Tát là « giác hữu tình », tức là giác ngộ hữu tình. Hết thảy tất cả chúng sinh đều gọi là hữu tình. Cây cỏ vô tình nhưng có Tánh, có « Sinh tánh », mà Nho giáo gọi là nhân. Nhân tức là Tánh, còn có thể nói là Đạo, cũng có thể nói là Mẹ của vạn vật. Con người đương nhiên cũng có « Nhân » nầy, bằng không, chẳng thể gọi là con người, nhân và con người, hợp lại gọi là Đạo. Khổng Tử nói « Nhân » tức là tất cả cây cỏ đều có « Nhân » nầy, đều có Sinh cơ.
Mùa xuân thì đâm chồi nảy lộc, như vậy cho đến mùa thu thì nở hoa kết trái, đây là nhờ có Tánh nhân. Hoa cỏ cây cối có nhân, chỉ là rất ít, cho nên khi hoa bị chặt đứt thì nó cũng phát ra một thứ tiếng sợ hãi, chỉ bất quá con người không nghe thấy mà thôi; nếu dùng khoa học để nghiên cứu thì sẽ nghe thấy được, đây là hiện tượng rất bình thường. Tại sao nó có thể phát ra tiếng ? Vì nó cũng có tánh, bất quá tánh nầy chẳng đầy đủ, chỉ có một chút mà thôi. Tại sao hoa cỏ cây cối cũng có tánh ? Vì chúng sinh lớn lên thời gian lâu dài, thì cũng sẽ có một thứ cảm giác.
Ở Trung Quốc có cây Chướng cầu giới, cũng có cây Bách Quả thọ giới. Tại sao chúng có thể thọ giới ? Chúng chẳng có tình cũng sẽ biến thành hình người đi thọ giới, đây chẳng phải là mâu thuẫn chăng? Kỳ thật, chẳng có gì là mâu thuẫn, đây chỉ là một thứ cảnh giới rất bình thường. Vì chúng tuổi thọ rất cao, kinh nghiệm cũng nhiều, hơn nữa cùng sống với con người trên thế gian, lâu dần thì sinh ra có tánh lai của một cổ nhân, tức cũng là có nhân. Có nhân rồi thì có tình cảm, có tình cảm rồi thì cũng có ý tưởng thọ giới. Trước khi chúng chưa thọ giới, thì làm chẳng biết bao nhiêu là việc xấu, về sau biết làm những việc như vậy không đúng, bèn đi thọ giới, thậm chí nghĩ muốn xuất gia. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Hoa Nghiêm - T.25)
HỎI: Sanh cơ hay mầm sống là gì?
+ Sản sinh sự sống - Mầm sống [Trích: Giáo lý bí nhiệm nói về Vi tử]:
1- Sự thông tuệ tuyệt đối làm chấn động khắp mọi vi tử – SD–I, 298.
2- Bất cứ nơi nào có một vi tử vật chất là có sự sống – SD–I, 245, 269, 279.
3- Vi tử là biểu lộ cụ thể của năng lượng vũ trụ – SD–I, 281.
4- Các sự sống vô hình tạo ra các vi tử – SD–I,132.
5- Mọi vi tử trong vũ trụ đều có tiềm năng ngã thức – SD–I, 132.
6- Vi tử và linh hồn đồng nghĩa nhau trong ngôn ngữ của đệ tử điểm đạo – SD–I, 620, 622.
7- Vi tử hoàn toàn thuộc vào địa hạt của siêu hình học – SD–I,559.
8- Mọi vi tử đều có thiên tính – SD–I, 89, 183.
9- Mọi vi tử đều chịu sự biến phân không ngừng – SD–I, 167.
10- Mục tiêu tiến hóa của vi tử là con người.
11- Ở trung tâm của mọi vi tử đều có cái mầm mống – SD–I, 87.
12- Trong mọi vi tử đều có sức nóng (heat) – SD–I, 112.
13- Mọi vi tử đều có 7 cõi hiện tồn – SD–I, 174.
14- Vi tử đều là rung động –SD–I, 694.(LVLCK, 246–247)
+ Chín Pháp giới Chúng sanh đều điên đảo
Ðiên đảo nghĩa là gì? Ðó là thấy khổ cho là vui, cho phải là trái, cho vô thường là thường tồn. Còn có nghĩa như trường hợp tâm tư bất định, trong đầu thì loạn tưởng, thấy việc nghĩa chẳng làm, thấy lợi thì chạy theo. Nói tóm lại, không phân biện trắng đen, không rõ điều chân giả, đều gọi là điên đảo.
Câu nói: "Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo" chính là định luật của nhân quả. Ðầu tiên là sự mê hoặc, khởi tâm sai lầm rồi theo đó tạo nghiệp. Tạo xong nghiệp thì nhận kết quả - quả báo, đó là lẽ tự nhiên. Quả báo là chẳng thể nghĩ bàn, mà chúng sanh tạo nghiệp cũng là điều chẳng thể nghĩ bàn. Lúc đầu tiên sanh ra mê hoặc, cũng là điều chẳng thể nghĩ bàn. Lý do là các loại sự vật, tất cả đều chẳng thể nghĩ bàn, do đó khiến cho chúng sanh thảy đều quay cuồng, bối rối, không biết đâu là đầu mối, như thế nào là thích đáng.
Từ pháp giới của a-tu-la mà nhìn về chư thiên thì họ không hiểu biết gì nhiều, nhưng nhìn về thế gian nhân loại thì họ biết một cách tường tận. A-tu-la thấy loài người điên đảo, trôi nổi trong sanh tử mà không biết khổ, lấy khổ làm vui, tham luyến không muốn bỏ, trông thật đáng thương.
Tại pháp giới của loài người, thì không ai biết được cảnh giới của a-tu-la ra sao, cũng không biết gì về đời sống của chư thiên, hay pháp giới của các bậc thuộc hàng Tứ thánh, nhưng đối với pháp giới của loài thú thì lại biết rõ rệt. Họ thấy súc sanh quá hồ đồ, điên đảo, không biết sự việc gì khác ngoài các vọng tưởng về ăn và dục.
Súc sanh nhìn về quỷ đói thì nhận thấy quỷ đói điên đảo, chúng vì miếng ăn mà khổ não, nhưng tới khi ăn thì đồ ăn là lửa, chúng không nuốt được.
Tại pháp giới quỷ đói nhìn sang pháp giới địa ngục thì thấy chúng sanh ở địa ngục điên đảo. Chúng sanh ở đây đã tạo ác nghiệp phải thọ ác báo, mà lại không biết sửa đổi, cải ác ra thiện.
Tại pháp giới địa ngục thì chúng sanh hoàn toàn không hiểu biết gì, sống trong mê, chết cũng trong mê, chỉ biết riêng lấy mình, không biết tới ai khác. Ðịa ngục là biển khổ mênh mông, không còn có đường nào sáng sủa......
Tại pháp giới địa ngục, mỗi ngày có hàng vạn chúng sanh được sanh ra rồi chết đi, trăm ngàn sự điên đảo, khổ sở không thể nói hết. Tại sao vậy? Ở đây ác nghiệp ngập trời nên chúng sanh phải đền tội. Trong cảnh vạn phần điên đảo không có được nửa phần không điên đảo, do đó lìa khỏi được pháp giới này thật là khó khăn vô kể.......
Tại pháp giới của loài người trong vạn phần điên đảo, thản hoặc có mười phần hay năm mươi phần, tối đa không quá một trăm phần, là không điên đảo. Trong lúc không điên đảo, người ta làm việc công đức, hoặc lạy Phật, hoặc niệm Phật. Khi điên đảo thì vọng tưởng lăng xăng, ham danh đoạt lợi, đấu tranh kiên cố. Tại sao trong vạn phần điên đảo lại chỉ có trăm phần không điên đảo? Ðại khái như khi lạy Phật chẳng hạn, lúc đó không điên đảo. Nhưng có những lúc thân đương lạy Bồ-tát mà tâm lại cầu Bồ-tát gia hộ, mong Bồ-tát ban cho trúng số, phù hộ cho được bình an; thậm chí, có kẻ chẳng chịu học hành mà cũng cầu Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho đỗ trạng nguyên, đó chính là điên đảo......
Quý vị phải nghiên cứu kỹ đi! Tại sao chúng ta ở thế giới này chưa thanh toán được phiền não, mà vẫn còn ở nơi hỗn tạp đợi chết? Kẻ xuất gia không ra vẻ người xuất gia, tại gia thì không chịu tu hành! Còn chờ đợi tới thời điểm nào nữa mới chịu tu? Ðời này là ngũ trược ác thế, lưu luyến sanh tử có ích lợi gì?
Quý vị! Hãy tha thiết vấn đề sanh tử, hãy mau phát tâm Bồ-đề, đừng tạo thêm những chuyện điên đảo nữa. Quay đầu lại đi! Ráng lên, "biển khổ không bờ, quay đầu là bến." (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng)
+ NGƯỜI TU HÀNH PHẢI CHỊU KHỔ: Có câu nói rằng: "Chịu khổ thì hết khổ, hưởng phước thì tiêu phước".
Chúng ta tu Ðạo phải tu khổ hạnh là vì lẽ gì? Mỗi ngày chúng ta chỉ ăn một bữa vì chúng ta muốn hết khổ. Khổ mà hết thì sẽ có vui.
Nói về phước thì có loại nên hưởng và có loại không nên hưởng. Phước nên hưởng là phước do tay ta tạo tác ra, như có nhà đẹp, mặc quần áo đẹp, ăn thứ ngon, đi xe hơi tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhớ rằng sau khi hưởng thọ hết những thứ đó thì phước cũng tiêu luôn, và trong trương mục của ngân hàng phước báo thì ngạch số tồn khoản cũng không còn.
Loại phước không nên hưởng là loại không do chính ta tạo dựng. Chúng đến với ta do mánh lới, như tiền của trộm cắp của người khác chẳng hạn. Chúng ta tiêu xài thứ đó một cách trái phép, tất sẽ bị pháp luật trừng trị. Vậy là ta đã thiếu nợ vì rút tiền quá lạm tại trương mục của ngân hàng phước báo.
Thọ hưởng phước thì khi hưởng hết, phước sẽ không còn, huống chi lại cố tình hưởng những loại phước không nên hưởng. Như vậy, không những tiêu mất phước mà lại còn bị vỡ nợ.
Vì lẽ đó mà phước chẳng thể hưởng hết, hưởng hết thì hết phước; khổ có thể chịu hết, chịu hết thì hết khổ. Làm người phải ghi nhớ điều này.
Gặp hoàn cảnh gian nan khốn khổ, ta vui lòng tiếp nhận nghịch cảnh. Vậy là không có sự oán hận, ta không mang tâm bất mãn.
Ðối với kẻ đã từng nghiên cứu Phật Pháp, tư tưởng và hành động của họ khác với người thế tục. Một đàng thì thuận theo giòng sanh tử và tạo nghiệp, còn người tu hành thì đi ngược giòng sanh tử và làm tiêu nghiệp. Trong mọi cảnh ngộ, những người này vẫn giữ tâm an nhiên, nên không cảm thấy khổ. Có câu nói: "Có nếm được cái khổ cùng cực, mới thành bậc thượng nhân". Thật là một câu chí lý.
Nay tôi kể một công án để quý vị tham khảo. Vị vua cuối cùng đời nhà Minh là vua Sùng Trinh. Là một vị quân vương, ông có đủ trí huệ, nhưng phước báo dành cho ngôi vị này lại không có. Bởi cớ gì? Bởi lý do gặp khổ nạn mà không lãnh thọ cho đến khi hết khổ.
Nguyên kiếp trước ông là một Sa-di, nhưng lại chết trước khi thọ giới Cụ túc, thành thử thân phận ông vẫn là tiểu Sa-di. Trong thời gian làm Sa-di, ông phải nhận hết những công việc nặng nhọc như gánh nước, bổ củi. Ông ráng chịu đựng, nén sự oán giận và ngày ngày khổ công trong công tác hộ trì Ðạo tràng.
Một hôm, ông leo lên nóc nhà để sửa mái, nhưng chẳng may trật chân rớt xuống đất chết. Các bạn tu vội báo cho Phương trượng hay. Hòa Thượng viện chủ vốn biết rõ nghiệp quả của vị tiểu Sa-di này, muốn tìm cách giúp cho đệ tử lãnh thọ cho hết khổ nạn, nên đối trước các chúng tuyên bố rằng: "Tiểu Sa-di này làm việc thiếu cẩn thận, sẩy chân ngã chết, làm thiệt hại cho Ðạo tràng. Y đã phạm vào tội xâm tổn thường trú, đáng bị trừng phạt. Các ngươi hãy buộc thi thể của nó vào đoàn ngựa, bắt ngựa kéo đi cho đến khi tan xác. Khỏi cần phải dùng quan tài mai táng nữa".
Các bạn tu nghe Phương trượng nói xong, thấy không đang tâm, nghĩ tới tình bạn tu mà động lòng trắc ẩn. Họ không nghe lệnh của Phương trượng rồi bàn bạc với nhau: "Chúng ta là sư huynh sư đệ, cùng tu chung một Ðạo tràng, lý nào để cho y bị ngựa kéo thây như vậy, chúng ta phải chôn cất mới phải". Bàn xong, tất cả chung tiền mua quan tài, rồi đem chôn xác trong núi.
Bởi đã khổ công làm việc chùa, tiểu Sa-di đã từng tích lũy công đức, nên kiếp sau được làm vua, tức vua Sùng Trinh. Có điều, ông chỉ tại vị trong thời gian 16 năm, lại gặp lúc thiên hạ đại loạn, trong nước thì Lý Tự Thành làm phản, bên ngoài thì nhà Thanh mang quân xâm lấn. Trong bao năm, ông chưa từng được hưởng một ngày an ổn, liên miên bị bức bách ưu phiền. Chính vì lòng tốt của các vị sư huynh sư đệ của ông đã làm hại ông, không để cho ông thọ lãnh cho hết khổ nạn. Nếu như các bạn đó sớm nghe lời Phương trượng, dùng ngựa kéo thây thì nạn khổ của ông đã hết và ngày sau đâu còn xẩy ra cảnh Sùng Trinh tự ải ở Môi Sơn, vì nước mà tử vong.
Nguồn: Hòa Thượng Tuyên Hóa Khai Thị
+ Khí vận trong cơ thể người: KHÍ LÀ GÌ?
Khí là dòng năng lượng vận hành nên sự sống.
Khí bên trong và bên ngoài cơ thể quyết định tính cách, cảm xúc, tinh thần, ý chí và sức mạnh thể chất của mỗi người.
Trong “Thương Hàn Luận”, Trọng Du nhấn mạnh:
“Nộ tắc khí thượng, hỷ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ.”
Tức là cảm xúc sẽ trực tiếp làm khí dâng lên, hạ xuống hoặc bị tắc nghẽn.
Điều này cho thấy: tính – chí – cảm xúc chính là yếu tố dẫn động khí.
Trong Đạo giáo và Đông y, khí được chia thành 9 loại, gọi là Cửu khí.
1. Nộ tắc khí thượng
Tức giận làm khí và huyết bốc lên gây:
• Đau đầu
• Chóng mặt
• Tức ngực
• Tim đập nhanh
Nặng hơn có thể ảnh hưởng tim mạch, huyết áp.
2. Hỷ tắc khí hoãn
Vui quá mức làm khí huyết chậm lại.
Niềm vui tích cực tốt cho cơ thể nhưng duy trì lâu cũng gây:
• Khí huyết lưu thông kém
• Uể oải, mệt mỏi
• Trí óc chậm nhạy
3. Bi tắc khí tiêu
Buồn bã, u sầu lâu ngày làm tiêu hao nguyên khí.
4. Khủng tắc khí hạ
Sợ hãi đột ngột khiến nguyên khí giảm sút, tụt xuống.
5. Hàn tắc khí thu
Lạnh quá làm khí co lại, vận hành chậm.
6. Huỳnh tắc khí tiết
Sáng tỏ, thông suốt → nguyên khí hiển lộ, cơ thể nhẹ nhàng.
7. Kinh tắc khí loạn
Hoảng loạn làm nguyên khí rối loạn, tâm thần bất an.
8. Lao tắc khí hư
Mệt mỏi, làm việc quá sức khiến nguyên khí hao tổn.
9. Tư tắc khí kết
Lo nghĩ, suy nghĩ nhiều khiến nguyên khí ứ trệ, dễ sinh bệnh.
🌱 NGUYÊN KHÍ – GỐC CỦA SỰ SỐNG
• Trường thọ
• Minh mẫn
• Tinh thần sáng suốt
• Thể chất khỏe mạnh
Khi nguyên khí hao tổn thì bệnh tật dễ phát sinh, và Cửu khí phía trên đều liên quan đến cảm xúc – tâm trí.
Cửu khí cho thấy mỗi cảm xúc đều chạm đến cơ thể, làm khí thông hay khí tắc.
Giữ tâm an – dưỡng thận tốt – điều hòa khí huyết → chính là gốc của sức khỏe.
Nguồn: Facebook Như Tịnh - An Phước Tâm
+ Mục tiêu kiếp sống: Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế. Mỗi kiếp sống, Chân nhân cần đạt được một mục tiêu rõ rệt, có thể là hoạch đắc đức hạnh bằng cách trả giá cho tật xấu. VD: Kinh doanh thành thạo; Mở mang tính nhạy cảm = thấy điều độc ác trong bản chất; Phát triển lòng yêu thương vô kỷ; Có thể là chuyển hóa dục vọng = Tham thiền. Chúng luôn có nguy hiểm nhất định. VD: Phát triển trí tuệ để tham thiền - kết quả: phát triển không đồng đều và tạm thời phí thời gian.
Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo
+ Lời cầu nguyện của Thánh Phanxicô
Lạy Chúa, hãy để con là một công cụ bình an của Chúa.
Nơi có sự thù hận, hãy để con gieo tình thương.
Nơi có sự tổn thương, hãy để con gieo sự tha thứ.
Nơi có sự nghi ngờ, hãy để con gieo niềm tin.
Nơi có sự tuyệt vọng, hãy để con gieo niềm hy vọng.
Nơi có nỗi buồn, hãy để con mang lại niềm vui.
(Nguồn: Giáo lý MQ - Học MF)
+ Phân biệt 3 chữ Thủy:
1. Thủy tinh (Mercury – Hành tinh)
2. Hành tố Thủy (Water – Nguyên tố vũ trụ)
3. Ngũ hành Thủy (Âm Dương – Ngũ hành)
- Hành tố Thủy và Ngũ hành Thủy: => Hai cách nhìn khác nhau về cùng một nguyên lý nước, là giữa: Vũ trụ – tâm lý với Tự nhiên – xã hội. Đều cùng chia sẻ phẩm chất căn bản là lưu động, mềm mại, tiềm thức, cảm xúc. Nhưng có phân biệt:
* Hành tố Thủy (Water element – Tây phương/ Tứ đại): phổ quát, mang tính vũ trụ và tâm lý học (liên quan cảm xúc, trực giác).
* Ngũ hành Thủy (Đông phương): Mang tính khí tượng – sinh học – xã hội (mùa đông, phương bắc, sự co rút, trí tuệ).
+ Phân biệt Hành tinh và Hành tố:
- Hành tinh biểu thị một trung tâm năng lượng cụ thể, có tính chất tâm lý, tinh thần và nghiệp lực.
- Hành tố (Ngũ hành) là nền tảng nguyên tố vũ trụ, mang tính bản chất phổ quát: Khí (Air), Nước (Water), Lửa (Fire), Đất (Earth).
Sự khác biệt chính:
- Hành tinh = Cá thể hóa, năng lượng cụ thể (ví dụ: Sao Hỏa = chiến đấu, nhiệt huyết).
- Hành tố = Mẫu số chung, nền tảng tự nhiên (ví dụ: Lửa = động lực, ánh sáng, sự bùng nổ).
+ Các nội dung trên xem thêm chi tiết đầy đủ hơn: Tổng hợp phân biệt Hành tinh và Hành tố
+ Xem thêm: Không đại là một Thực thể - Xem so sánh - Phân biệt các Đại biểu lộ trong vũ trụ và tương ứng trong con người và các Thể: Xem tại đây
+ ẢO ẢNH: Đây là hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảm và ảo tưởng được nhận thức trên các phân cảnh dĩ thái và cõi trần. Đó là “tình trạng hỗn độn của sinh lực, thiếu suy nghĩ, và cảm xúc” – mà kết quả là các loại người có hành vi lộn xộn, mà đa số người dường như luôn luôn sống trong đó.
+ Cách điều trị: Biện pháp cứu chữa duy nhất là mang tất cả các bí huyệt vào dưới sự kiểm soát của linh hồn – đạt được ở một trình độ tiến bộ. Trong khi chờ đợi, hãy tiếp tục với việc sinh sống chân chính và các thực hành tâm linh như sự dứt bỏ chân chính
Xem: Các rồi loạn Trí tuệ về Chia rẽ - Tích hợp - Kích thích, Ảo ảnh, Ảo tưởng, Ảo cảm và cách chữa trị
+ Hỏa Hành khí: Lửa bên trong của Thái dương hệ, của hành tinh, và của con người gồm có 3 loại Lửa (LVLCK, 70):
1. Tiềm hỏa: Lửa bên trong ở trung tâm của khối cầu, các lò lửa bên trong này tạo nên sự ấm áp.
2. Lửa Linh Hoạt - Lửa bức xạ: Loại lửa này có thể được diễn tả dưới tên là điện của cõi trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái [Cần phân biệt Bức xạ từ thể dĩ thái - Bức xạ của prana với từ điển, là một sự phóng phát từ một thể tinh anh]
3. Lửa thiết yếu hay Hoả hành khí: Chính chúng sẽ là tinh hoa của lửa. Phần lớn, chúng được chia thành 2 nhóm:
a. Hoả thiên thần (Fire devas) hay các thực thể tiến hoá thăng thượng.
b. Hoả tinh linh (Fire elementals) hay các thực thể tiến hoá giáng hạ
+ Tinh chất Hành khí [xem như bao gồm các tập hợp vật chất, ở một trong sáu cõi phụ phi nguyên tử của cõi trí và cõi cảm dục - KHÔNG được dùng làm hình hài]: Nếu chúng ta muốn đi sâu vào đề tài Tinh chất hành khí, chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong các sách của bà Annie Besant và ông CW Leadbeater. Trong tất cả các sách của Chân sư DK, thuật ngữ Elemental Essence được nhắc đến mười lần, và chỉ một lần nó được định nghĩa như sau:
- Tinh chất Chân thần (Monadic Essence), là vật chất của cõi phụ nguyên tử (hay cõi phụ cao nhất) của mỗi cõi chính.
- Tinh chất Hành khí (Elemental Essence), tức vật chất của sáu cõi phụ phi nguyên tử. Đó là vật chất phân tử.
" Chúng ta có thể định nghĩa Tinh chất Chân thần là vật chất nguyên tử được tạo thành bởi sự sống của [69] Thượng đế thứ hai. Đó là y phục của Ngài nhằm linh hoạt hoá và kết hợp các hình tướng lại với nhau; Ngài được bao phủ bởi vật chất nguyên tử. Với cương vị Thượng Đế, Sự Sống của chính Ngài tách biệt với sự sống của Atma-Buddhi-Manas trong con người, tách biệt với bất cứ sự sống nào trên cõi giới đó - mặc dầu Ngài truyền sức mạnh, thấm nhuần, và bao gồm tất cả các sự sống kia - chỉ được bao bọc trong vật chất nguyên tử, và chính điều này là ý nghĩa của thuật ngữ Tinh chất Chân thần. Vật chất của cõi đó, do bản chất của các nguyên tử của cõi đó, có khả năng đáp ứng bằng các rung động với các thay đổi linh hoạt của tư tưởng, được Làn Sóng Sinh Hoạt Thứ Hai đưa vào các kết hợp vật chất thích hợp để biểu lộ các tư tưởng - các tư tưởng trừu tượng ở trong vật chất tinh anh hơn, còn tư tưởng cụ thể ở trong vật chất thô thiển hơn.
- Các kết hợp vật chất của cõi phụ cao thứ hai và thứ ba tạo ra Giới Hành Khí Thứ Nhất.
- Các kết hợp vật chất trên bốn cõi phụ thấp tạo ra Giới Hành Khí Thứ Hai.
- Vật chất được giữ lại trong các phức hợp vật chất như thế được gọi là Tinh chất hành khí và dễ nhạy cảm để được tạo hình thành các hình tư tưởng.
Đạo sinh đừng nên nhầm lẫn Tinh chất hành khí với Tinh chất Chân thần (Monadic Essence); một bên [70] có cấu tạo nguyên tử, bên kia có cấu tạo phân tử_Annie Besant "
+ Tinh chất hành khí được xem như bao gồm các tập hợp vật chất, ở một trong sáu cõi phụ phi nguyên tử của cõi trí và cõi cảm dục - các tập hợp mà bản thân chúng không được dùng làm các hình hài dành cho bất cứ thực thể nào trú ngụ, mà là vật liệu nhờ đó các hình hài này có thể được tạo dựng.
... Làn sóng sinh hoạt thứ 2 [Ngôi II] - Nguyên tử trở thành Tinh chất Chân thần như đã giải thích ở trên. Làn sóng sinh hoạt tiếp tục hướng tới, tạo ra trên mỗi cõi phụ các kết hợp vật chất thích hợp để biểu lộ các cảm giác. Các kết hợp vật chất này tạo thành Giới Hành Khí Thứ Ba, và vật chất được giữ trong phức hợp như thế được gọi là Tinh chất hành khí, như trên, và trên cõi thứ sáu này, dễ nhạy cảm để được nắn tạo thành các hình-dục vọng.
Như thế ta thấy Tinh chất hành khí gồm có các tập hợp vật chất ở trên mỗi một trong số sáu cõi phụ phi-nguyên tử của cõi trí và cõi cảm dục, các tập hợp này chính chúng không dùng như các hình hài cho bất cứ thực thể nào trú ngụ, mà như [71] các vật chất mà từ đó, các hình hài như thế có thể được kiến tạo..... Làn sóng sinh hoạt lại tiến tới, tạo ra trên mỗi cõi phụ các kết hợp vật chất thích hợp để tạo thành thể xác, các nguyên tố hóa học trong tương lai, như chúng được gọi thế trên ba cõi phụ thấp.....
Bà Annie Besant giải thích Tinh chất hành khí này. Làn Sóng Ba chuẩn bị các nguyên tử với Sự sống của Thượng đế Ngôi Ba, trong khi Làn Sóng hai kết hợp các nguyên tử này thành tập hợp các nguyên tử để được kiến tạo thành các hình tướng cho các thực thể sinh sống: ... Chúng ta thấy rằng việc đi xuống của làn sóng này có liên quan đến những gì có thể được gọi một cách gần đúng là việc tạo ra các mô (tissues) đầu tiên, từ đó các thể tinh anh và các thể trọng trược sẽ được "Đan dệt" tạo thành tiếp theo đó.
"Các loại Tinh Chất Hành Khí" được Ông CW Leadbeater cho rằng có 2401 loại tinh chất hành khí khác nhau trên cõi trung giới, nhưng về cơ bản chúng là một “giới” (kingdom—vương quốc), “một kho chứa khổng lồ các tinh chất hành khí, nhạy cảm tuyệt vời với những suy nghĩ thoáng qua nhất của con người, chúng đáp ứng một cách rất tinh vi, nhanh chóng từng sát-na, đối với một rung động phát ra từ ý muốn hoặc dục vọng của con người, dù ý muốn hay dục vọng này chỉ xảy ra trong vô thức. Điều này có nghĩa rằng chúng luôn ở trong trạng thái “căng thẳng”, sẵn sàng kết tụ lại thành một hình thể dưới sự thúc đẩy của một suy nghĩ hoặc một mong muốn thoáng qua, hoặc sự kết hợp của cả hai. ...... Kể từ đó, nó bị tách ra khỏi kho chứa nguyên tố khổng lồ và trở thành một thực thể biệt lập được gọi là một tinh linh "Nhân tạo".
"Tính chất của tinh chất hành khí" - Chúng là những trung tâm của mãnh lực hoặc năng lượng được chúng ta tác động lên khi suy nghĩ và trong các chuyển động cơ thể khác. Chúng ta cũng tác động lên chúng, ban cho chúng một hình thể bởi kiểu suy nghĩ mà chúng ta không nhận ra được. ....., nếu anh ta thiết lập một luồng tư tưởng mạnh mẽ, anh ta thu hút các tinh linh với số lượng lớn hơn, và tất cả chúng đều mang một khuynh hướng hoặc màu sắc nổi bật, sao cho tất cả những tinh linh mới đến đều tìm thấy một màu sắc hoặc hình ảnh đồng nhất mà chúng ngay lập tức khoác lấy.
Thế giới tinh linh đã trở thành một nhân tố mạnh mẽ trong Nghiệp Quả của con người. Là vô thức, tự động và hoàn toàn ‘chụp ảnh’, nó khoác lấy màu sắc của chính gia đình nhân loại...... thế giới elemental, là lực lượng vô thức, quay trở lại hoặc phản ứng với nhân loại chính xác như cách con người đã hành động với nó [Nghiệp quả], .......
Khái lược "PHÂN LOẠI TINH CHẤT HÀNH KHÍ"....... chúng được chia thành 7 nhóm [Tinh chất Hành khí] chính, liên hệ đến bảy trạng thái của vật chất: đất, nước, không khí, và lửa; chuyển dịch từ biểu tượng thời trung cổ sang từ ngữ hiện đại là: chất đặc, chất lỏng, chất hơi, và 4 trạng thái của chất dĩ thái.........
+ Trong mỗi phân tử chất đặc đều có chứa một số lượng tinh chất hành khí sống động của đất tương ứng;
+ Trong mỗi phân tử của vật chất ở trạng thái lỏng, hơi, và dĩ thái đều chứa tinh hoa chất của nước, không khí, và lửa.
Như thế, loài tinh hoa chất thứ ba được phân chia nhiều loại - Xếp theo hàng ngang, mỗi phân loại lại chia thành bảy tiểu phân loại, tất cả khác biệt về độ đậm đặc, tuy mỗi bậc có sự chênh lệch rất nhỏ, như chúng ta cũng thấy rõ là có nhiều độ đậm đặc khác nhau trong các chất đặc, lỏng và hơi..... => tạo thành 7 × 7 = 49 phần theo chiều ngang (phân chia theo chiều dọc hoặc phân Hạng theo chiều dọc - Đều khó hiểu hơn). ..... Sự khác biệt giữa chúng không còn là vấn đề độ đậm đặc của vật chất, mà là giữa tính chất và hấp dẫn lực của chúng...... Ta có:
7 phân chia theo chiều ngang x 7 phân chia phụ x 7 phân chia dọc x 7 phân chia phụ theo chiều dọc = 2401 loại tinh chất hành khí.
...... Chuyển sang gáio lý của Chân sư Đ.K, Ngài dường như sử dụng từ Tinh Linh Elementals, theo một nghĩa nào đó, để chỉ bất kỳ sự sống giáng hạ tiến hoá bất kì được xây dựng từ các tinh chất hành khí như vậy:
Các tinh linh (elementals), trong bản chất chủ yếu, là nhóm dưới nhân loại. ..... Có thể tìm gặp chúng trên tất cả các cõi, và những hình thể tinh linh dĩ thái—chẳng hạn như các tiểu thần (brownies), các thần lùn (gnomes) và các tiên đồng (pixies)—rất nổi tiếng. Tạm chia làm 4 nhóm:
1.- Tinh linh đất; 2.- Tinh linh nước; 3.- Tinh linh không khí; 4.- Tinh linh lửa. [Chúng là tinh hoa của mọi vật, nếu bạn có thể nhận ra điều đó].
Chân sư DK đã nói rõ rằng: Thứ hai. Nhiều devas chuyển ra khỏi nhóm các sự sống thụ động với cố gắng trở thành các sự sống điều hành xuyên qua giới chim muông, và trước khi trở thành tiên nữ, thảo tinh linh, thổ tinh linh hoặc các tinh linh thiên nhiên khác, chúng trải qua một số chu kỳ trong loài chim....... (Nguồn: Sự tiến hóa giới Thiên thần Giáng hạ và Thăng thượng)
Xem thêm chi tiết: Tổng hợp về Hành khí và Phẩm tính biểu lộ
* Tooltip phân biệt các Thuật ngữ:
+ Phân biệt Tinh chất Hành khí (Elemental Essence), tức vật chất của sáu cõi phụ phi nguyên tử. Đó là vật chất phân tử. Đạo sinh đừng nên nhầm lẫn Tinh chất hành khí với Tinh chất Chân thần (Monadic Essence); một bên [70] có cấu tạo nguyên tử, bên kia - Tinh chất Hành khí có cấu tạo phân tử_Annie Besant ".
- Tinh chất hành khí được xem như bao gồm các tập hợp vật chất, ở một trong sáu cõi phụ phi nguyên tử của cõi trí và cõi cảm dục - các tập hợp mà bản thân chúng không được dùng làm các hình hài dành cho bất cứ thực thể nào trú ngụ, mà là vật liệu nhờ đó các hình hài này có thể được tạo dựng.
+ Xem: Phân biệt Lửa Phát xạ
+ Xem: Phân biệt Lửa Bức xạ
+ Huyền giai sáng tạo: Là trật tự đẳng cấp có trong nhiều đoàn nhóm khác nhau. Như các đẳng cấp của chính phủ, của giáo hội, hoặc những hệ thống đẳng cấp để phân biệt các giai tầng xã hội. ....
+ Nhiều ánh sáng, nếu thành tâm nghiên cứu các con số của Huyền Giai - Năm Huyền Giai đầu xem như các trừu xuất thuần túy.
HG 1 có các số: 6 . 1 . 7.
HG 2 có các số: 7 . 2 . 6.
HG 3 có các số: 8 . 3 . 5.
HG 4 có các số: 9 . 4 . 4.
HG 5 có các số: 10 . 5 . 3.
HG 6 có các số: 11 . 6 . 2.
HG 7 có các số: 12 . 7 . 1.
* Lưu ý, trong GLBN các Huyền Giai có số khác. Điều này để che đậy, nhưng nó cũng làm rối trí nhà nghiên cứu (CTHNM, 47)
+ Huyền giai sáng tạo thứ 4 - Nhân loại: Bây giờ chúng ta xem xét chủ yếu con người v| nguyên khí trí tuệ, sự phát triển của trí tuệ trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ 4, tức các Chân Thần nhân loại, với mối quan hệ đặc biệt tới dãy Địa cầu của chúng ta. (Nguồn: Trí tuệ con người - LVLCK, 456)
+ Huyền giai thứ 6: Điều này đã ảnh hưởng đến Huyền giai thứ 6, một trong các Huyền Giai thiên thần, đang cư trú trong hệ thống Kim Tinh. (LVLCK, 485)
+ Giới thứ 4 và Huyền giai Hành tinh: Một số sự kiện đã được hiểu rõ và được nhận thức bởi một môn sinh huyền linh bậc trung, vốn đã suy nghĩ về giáo lý này một cách cẩn thận. Y biết rằng sự kết nối của Tinh thần - vật chất với trí tuệ, hay manas, được thực hiện trong căn chủng thứ ba, và chắc chắn rằng gia đình nhân loại nhất định đã bắt đầu hiện diện trên địa cầu kể từ ngày ấy (LVLCK, 494)
+ Ba Đấng cao cả: Đức Bàn Cồ - Bồ Tát - Văn Minh Đại Đế đại diện cho Ý chí, Bác ái, và Thông tuệ. Mỗi người sẽ vào 1 trong 3 Ngành này của Huyền giai (MQ, Chủ đề 5)
+ Phân biệt Huyền giai: Nếu đạo sinh nhớ rằng bản chất của hình hài tùy thuộc vào tính chất (quality) của Sự Sống đang nhập thể (incarnating Life), y cũng sẽ nhớ rằng các phân biệt giữa các nhóm Huyền Giai khác nhau, vì các Sự Sống trong các nhóm này đều có tính chất khác nhau và các hình hài mà qua đó chúng biểu lộ đều khác hẳn nhau. Do đó, chúng ta phải phân biệt giữa:
1. Các nhóm tiến hóa hướng hạ.
2. Các nhóm tiến hóa hướng thượng.
3. Bảy nhóm sự sống mà chúng ta gọi là Nguyệt Tổ Phụ (lunar Fathers):
a/ Ba nhóm không có hình hài (incorporeal) mà chúng ta gọi là giới tinh hoa chất (elemental kingdoms).
b/ Bốn nhóm có vật chất, vốn là các hình hài của bốn giới trên cung hướng thượng.
4. Bảy huyền giai của các Sự Sống (Lives).
5. Bảy nhóm gồm các Solar Angels.
[Solar Angels = Thái Dương Thiên Thần: Các Đấng phú cho con người Chân Ngã hữu thức bất tử – Dù là xét về mặt ẩn dụ (metaphorically) hay theo nghĩa đen (literally). (GLBN III, 97)]
Đừng nên lẫn lộn về sự phân biệt giữa các huyền giai của các Đấng Cao Cả (Beings) với bảy Cung, vì mặc dầu có sự liên quan chặt chẽ (close connection), lại không có sự giống nhau (resemblance). Các “Cung” (“Rays”) chỉ là các hình thức nguyên thủy của một số Đấng Cao Cả (Lives), các Ngài “mang theo trong Quả Tim (Hearts) của các Ngài” mọi Mầm Mống (Seeds) của Hình Hài. Các Hierarchies là các nhóm sự sống đa dạng, ở mọi giai đoạn khai mở và tăng trưởng sẽ dùng đến các hình hài đó. (1) (LVLCK, 635)
+ NGHIÊN CỨU HỌC HỎI: Có ba nhóm sách mà ba loại người nghiên cứu và học hỏi trong đó (CTHNM 17):
1. Sách về Sự Sống – Các Điểm Đạo Đồ ‒ 12 chòm sao.
2. Sách về Minh Triết – Các Đệ Tử ‒ 12 hành tinh.
3. Sách về Hình Hài hay về Sự Biểu Lộ ‒ Nhân Loại – 12 Huyền Giai Sáng Tạo (12 Creative Hierarchies).
+ Xem thêm: Các huyền giai sáng tạo trong Giáo lý bí nhiệm
+ Thiên thức (Logoic consciousness, God consciousness):
- Thiên thức tức là các trạng thái tiếp nối của nhận thức thiêng liêng bên trong lĩnh vực thái dương (solar sphere). (LVLCK, 279)
- Thiên thức là trạng thái tâm thức thứ “bảy” bao hàm sáu trạng thái tâm thức kia (ba loại tâm thức của giới khoáng vật, thực vật, động vật – Tâm thức dưới nhân loại; Tâm thức nhân loại “bốn”, tâm thức tinh thần “năm”, tâm thức Niết Bàn “sáu”; Loại “năm” và “sáu” biểu hiện cho siêu thức. (LVLCK, 278)
[Đọc thêm Tooltip: Các Thức - Thức thứ 1 - 5; Thức thứ 6 - Thức 7 - Thức 8 - Thức 9 trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm]
- Thiên thức tức là tuyệt đối thức (Absolute consciousness). (LVLCK, 243)
- Tuyệt đối thức: Là Thiên thức = Thượng Đế thức, tức là các trạng thái tiếp nối của nhận thức thiêng liêng trong lĩnh vực thái dương. (LVLCK, 243)
- Lúc được điểm đạo lần sáu và bảy, trạng thái thứ nhất hay trạng thái ý chí tỏa chiếu, từ một vị Chân Sư Từ Ái và vị Chúa Bác ái, vị Thánh Sư trở nên siêu việt hơn, Ngài bước vào trạng thái tâm thức cao hơn tập thể thức và trở nên có được Thiên thức (God–conscious, Thượng Đế thức). (ĐĐNLVTD, 22)
+ Tuyệt đối thức (Absolute consciousness): Tuyệt đối thức tức là Thượng Đế thức (Thiên thức).(LVLCK, 243)
+ Phân thân: Mọi vi tử đều chịu sự biến phân không ngừng [SD–I, 167]
+ Biến dịch vũ trụ theo Luật tương ứng hay tương đồng: .... Chẳng hạn, một sự kiện xét theo lập trường của nhân loại ( từ “sự kiện” được dùng theo nghĩa khoa học, tức là điều đã được chứng minh, không còn gì nghi ngờ thắc mắc) thì có thể không phải là một sự kiện, theo lập trường của một vị Chân sư. Đối với Ngài, nó có thể chỉ là một phần của một sự kiện lớn hơn, chỉ là một bộ phận của cái toàn thể. Vì tầm nhìn của Ngài thấu đến bề đo thứ tư và thứ năm, nên nhận thức của Ngài về giá trị của thời gian trong vĩnh cửu phải đúng đắn hơn chúng ta. Ngài thấy các sự vật từ trên xuống dưới, và ở cương vị của một người thấy thời gian không có thực.
Một nguyên lý biến dịch chưa thể giải thích được vẫn tồn tại trong Trí tuệ của Đức Thượng Đế của thái dương hệ của chúng ta, và chi phối mọi hành động của Ngài. Chúng ta chỉ thấy các hình thể mãi mãi thay đổi, và thoáng thấy sự sống thường hằng tiến hoá bên trong các hình thể đó, nhưng vẫn chưa tìm ra manh mối của cái nguyên lý tác động xuyên qua chiếc kính vạn hoa luôn luôn biến chuyển gồm các thái dương hệ, các cung, các huyền giai, hành tinh, cảnh giới, hệ thống, các vòng tiến hoá, các giống dân chính, và các giống dân phụ. Tất cả đều đan vào nhau, liên kết nhau, xuyên thấu lẫn nhau, khiến chúng ta hoàn toàn sững sờ trước mô hình kỳ diệu của chúng bày ra trước mắt. ... Chúng ta không biết cách nào mà một có thể trở thành ba, ba trở thành bảy, và cứ thế mà tiếp diễn đến mức biến phân vô tận. Với tầm mắt của nhân loại thì sự đan kết cấu thành thái dương hệ thật phức tạp không thể tưởng, mà chìa khoá thì dường như chưa thể tìm thấy trong thời gian tới. ....
Chúng ta phải chấp nhận sự kiện rằng việc nghiên cứu luật tương ứng hay tương đồng là phương cách duy nhất để có thể tìm ra manh mối bí nhiệm của các cung, các hệ thống và các huyền giai. Đó là sợi chỉ duy nhất có thể giúp chúng ta tìm đường qua [7] mê lộ, là tia sáng duy nhất chiếu xuyên qua sự tối tăm của bức màn vô minh bao phủ chúng ta. H. P. Blavatsky đã nói như thế trong “Giáo Lý Bí Nhiệm,” nhưng cho đến nay, các môn sinh vẫn chưa cố gắng bao nhiêu để ích dụng được manh mối đó. Khi nghiên cứu Luật này, chúng ta cần nên nhớ rằng sự tương ứng vốn ở trong nền tảng, chứ không ở sự thể hiện của các chi tiết bề ngoài như chúng ta tưởng mình thấy được theo quan điểm hiện nay. Một lẽ là yếu tố thời gian làm chúng ta lạc hướng; chúng ta sai lầm khi cố ấn định rõ những thời khoảng hoặc giới hạn; trong cuộc tiến hoá, tất cả đều tiến triển thông qua sự hoà hợp, với một diễn trình luôn luôn chồng chéo và pha trộn lẫn nhau. Người môn sinh bình thường chỉ có thể nhận ra các điểm tương đồng cơ bản và những điều tổng quát mà thôi. Ngay khi y toan giản lược các điều đó thành những sơ đồ và bảng biểu chi tiết, là y bước vào các lãnh vực dễ bị sai lầm, đi quanh co qua đám sương mù mà cuối cùng sẽ lạc lối trong đó.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu luật tương đồng một cách khoa học, kiến thức của chúng ta sẽ tăng dần, và khi từ từ được tích lũy, các sự kiện sẽ dần dà hợp thành một hình thể ngày càng rộng lớn, chứa đựng nhiều chân lý. Bấy giờ, người môn sinh sẽ nhận biết rằng sau tất cả các cố gắng nghiên cứu, ít ra y cũng có được một ý niệm tổng quát về hình tư tưởng của Thượng Đế để có thể gắn vào đó các chi tiết y hoạch đắc qua nhiều kiếp luân hồi. Điều này đưa chúng ta đến điểm chót cần được xem xét, trước khi đi vào chính chủ đề, đó là:
Sự phát triển của con người chỉ là chuyển từ một trạng thái tâm thức này sang một trạng thái khác. Đó là một loạt những sự mở mang, phát triển khả năng ý thức vốn là đặc tính quan trọng nhất của Chủ thể Tư tưởng ở nội tâm. Đó là sự tiến triển từ mức tâm thức phân cực trong phàm nhân, phàm ngã hay hình thể, đến mức tâm thức phân cực trong Chân ngã, Chân nhân, hay linh hồn, rồi đến mức phân cực trong Chân thần, hay Tinh thần, mãi [8] cho đến mức rốt ráo là tâm thức Thiêng liêng. Trong quá trình phát triển của con người, trước hết, năng lực ý thức vượt qua những giới hạn giữ nó lại trong các giới hạ đẳng của thiên nhiên (khoáng vật, thực vật và động vật), đến ba cõi giới tiến hoá của phàm nhân, đến hành tinh mà y có vai trò trong đó, rồi đến thái dương hệ mà hành tinh này vận chuyển bên trong, cho đến cuối cùng nó vượt khỏi chính thái dương hệ và trở nên tâm thức đại đồng.... (Nguồn: Sách Điểm Đạo Trong Nhân Loại và Thái Dương Hệ)
+ Vật chất và Chất liệu (Matter and Substance): Để cho thật chính xác, để cho khỏi lẫn lộn và quan niệm lầm lạc (misconception), nên dùng thuật ngữ:
* “Vật chất” (“Matter) để chỉ tập hợp các vật (objects) có thể tri giác được, còn thuật ngữ
* “Chất liệu” (Substance”) để chỉ Thực Tướng (Noumena). (GLBN II, 42)
+ Thực tướng của sự vật (things–in–themselves) tức là chất liệu. (GLBN II, 43)
+ Hai loại hình hài, có vị trí khác nhau trong thiên cơ
- Hình hài trong giới thực vật, động vật và khoáng vật: Các hình hài chính là kết quả của công trình 2 ngôi của Thượng Đế (Ngôi 3 và Ngôi 2) và sự sống hợp nhất của các Ngài.
- Hình hài của thiên thần và con người: Hình hài là kết quả của tác động hợp nhất của 3 ngôi Thượng Đế.
- Hình hài đơn giản hơn được tiêu biểu trong Chất liệu nguyên thuỷ mà từ đó mọi hình hài khác được tạo thành. Vật chất này nói đúng ra là vật chất nguyên tử và phân tử và được làm cho linh hoạt bằng sự sống hoặc năng lượng của Thượng Đế Ngôi Ba (LVLCK, 120)
+ Chất liệu: Là năng lượng (energy). (ĐĐTKNM–II, 437)
+ Chất liệu: Là mãnh lực (force). (LVHLT, 565)
+ Chất liệu vũ trụ = Dĩ thái: Theo chuyên môn và huyền bí, thực ra chất liệu là chất dĩ thái vũ trụ (cosmic etheric matter) hay là chất tạo thành bốn cõi cao trong số 7 cõi (planes) của chúng ta. (VCVTDT, 189)
+ Chất liệu là chất dĩ thái (ether) thuộc một trong nhiều thứ bậc của dĩ thái và là những gì ẩn sau chính vật chất (matter). (TTCNT, 37)
+ Tiên thiên khí: Chất liệu nguyên thủy (Primordial Substance, Bắc Phạn gọi là Akasha hay Tiên thiên khí) còn được gọi là Chất liệu Vũ trụ, tức Vật chất (Matter).
- Vật chất, tức là Đầu (Alpha) và Cuối (Omega) của Hiện Tồn, chỉ là 2 phương diện (facets) của Tồn Tại Tuyệt Đối duy nhất (the one Absolute Existence). (GLBN II, 39)
+ Giác ngộ khác giầu sang: Người có phước đức thì giàu sang. Người có công đức thì giác ngộ. Người có phước thì hưởng nhiều. Người có công đức thì độ đời. Người hết phước thì sa đọa. người có công đức hết thân thì thành thánh. Ba điểm khác biệt lớn:
1. Phước đức ........ Công đức
Nuôi thân ........... Nuôi tâm
Cuộc đời rế sống ... Mở ra sự tỉnh thức
Dẫn đến cõi lành .... Đến giải thoát
2. Chịu nhân quả 1 hướng ... Đa hướng
Gieo gì gặt ấy ... Trồng rừng - Quá báo
vô lượng, lan khắp pháp giới
3. Hết thì mất .... Hết thì thành
Dùng thì tiêu .... Dùng thì lớn
* Công đức giống như lửa, càng thổi càng mạnh, giống như ánh sáng càng tỏa càng rộng. Cùng một hành động có khi thành phước đức, có khi thành công đức, cần phân biệt rõ sự khác biệt nằm ở Tâm - Dụng tâm khi hành động quyết định. Thành phước khi làm thí cúng còn phân biệt, chấp trước có Ngã, còn thấy ta đang làm, đáng giúp người, còn mong thấy quả báo, mong được phước đời sau xung sướng, được báo đáp, được biết ơn => Phước hữu lậu. Là Công đức nếu Không Ta - Không người - Không chúng sinh - Không vật thí, không mong biết ơn, đáp đền, không mong thấy quả báo, hành động vì lòng từ bi trí tuệ KHÔNG lưu lại dấu vết của Ta => Đây là công đức vô lậu. Đây là hành động giống nhau nhưng dụng Tâm khác nhau => Cho quả báo khác nhau rất lớn.
Phước hữu lậu tạo ra đời sống tốt - Công đức vô lậu xóa nghiệp, tăng trí, mở Phật tánh => Trí tuệ mà người bình dân không biết, các bậc Thánh đều thấy. Công đức cũng sanh ra ... giảng pháp đúng chánh pháp, hộ trì Chân tu chân chánh, truyền bá thiện pháp, giúp người khác phá Vô minh, giúp một sinh linh tăng cấp, tăng thức. Kinh Hoa Nghiêm dạy "Một niệm khai mở cho hữu tình phá vô minh, công đức hơn xây bảy báu tháp đầy tam thiên, đó là lý do khi cúng dường Tam Bảo đúng nơi, xây chùa cho bậc Chân tu hành trì đúng chánh pháp, giảng pháp độ sinh thì Công đức sẽ vô lượng. Người đời hay thường hỏi tu sao để giải nghiệp, làm sao để trả nghiệp cho nhẹ .....[Nguồn: Đức Đại Lai lạt Ma giảng]
+ Phân biệt Công đức và phước đức: Trong Ngũ Phước, quan trọng nhất là "Chết lành". Truyện người già lú lẫn rất phiền phức, chẳng tốt đẹp....
Công đức và phước đức khác nhau, chớ nên coi phước đức là công đức. Quý vị làm chuyện tốt, giúp đỡ người khác, đó là phước đức.
Quý vị thấy thuở ấy, Đạt Ma tổ sư đến Trung Quốc, Lương Vũ Đế tiếp kiến Ngài. Có thể nói Lương Vũ Đế là một vị hộ pháp lớn nhất trong Phật giáo sử Trung Quốc, thật sự tận tâm tận lực hộ trì Phật pháp. Ông ta dùng thân phận đế vương, lập cho Phật giáo bốn trăm tám mươi tòa đạo tràng, tự viện, am, đường, hộ trì mấy chục vạn người xuất gia, chiếu cố họ, chính mình rất đắc ý.
Đạt Ma tổ sư đến Trung Quốc, hai người gặp mặt, Lương Vũ Đế khoe khoang chính mình đã thay Phật môn làm những chuyện tốt đẹp như thế, hướng về Tổ thỉnh giáo, trên thực tế là khoe khoang: “Trong Phật môn, trẫm đã làm chuyện tốt đẹp nhiều ngần ấy, công đức có lớn hay không?”
Đạt Ma tổ sư trả lời bằng một câu: “Trọn chẳng có công đức”....
Công đức là tu hành. Trì giới có công, có công phu sẽ đạt được gì? Đắc Định, đắc Định là đức; có công phu tu Định sẽ khai trí huệ, do Định khai huệ, khai trí huệ là đức. Vì thế, những thứ ấy là thật, chẳng giả, chẳng dính dáng gì đến chuyện quý vị tu bố thí, cúng dường.
Bố thí, cúng dường là tu phước, nhất định phải biết điều này. Nếu khi ấy Lương Vũ Đế hỏi: “Trẫm có phước đức hay không”? Nhất định tổ Đạt Ma sẽ giơ ngón cái lên: “Rất ư là lớn, phước đức của bệ hạ rất lớn!”
Phước đức và công đức khác nhau, quả báo của phước đức là trong ba thiện đạo, công đức chẳng phải vậy, công đức là vượt thoát lục đạo luân hồi, thành Phật, làm Tổ, đó là công đức.
Công đức và phước đức nhất định phải phân biệt rõ ràng, phải hiểu rõ ràng.....
Trong kinh Phật có câu chuyện: “Tu huệ, bất tu phước, La Hán thác không bát” (Tu huệ, chẳng tu phước, La Hán đi khất thực, bát rỗng tuếch), A La Hán chứng đắc A La Hán quả, đó là công đức, nhưng thiếu phước báo, đi ra ngoài khất thực, chẳng được ai cúng dường, thiếu phước mà! Ngược lại, "tu phước, chẳng tu huệ, voi to đeo chuỗi báu". ...
Tụng kinh, niệm Phật là công đức chân thật, tu thiện tích đức là chuyện tốt đẹp, phước huệ song tu, như vậy là đúng. (Nguồn: PS Tịnh Không khai thị - Công đức và phước đức)
+ Phước đức khác Công đức: .... Vi Thứ sử bạch: "Đệ tử có nghe đức Đạt Ma lúc ban sơ hóa độ Lương Võ Đế, vua hỏi rằng: ‘Trẫm trọn đời cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước, có công đức gì?’ Đức Đạt Ma nói: ‘Thiệt không có công đức.’ Đệ tử chưa hiểu thấu lẽ ấy, xin Hòa Thượng giải cho."
Sư nói: Thiệt không có công đức. Chớ nghi lời của Thánh nhơn đời trước. Võ Đế lòng tà, không biết chánh pháp. Cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước, ấy gọi là cầu phước. Không thể lấy phước mà kể là công đức được. Công đức ở trong Pháp thân, chớ chẳng phải ở chỗ tu phước.
Sư lại nói: Thấy tánh là công, giữ lòng bình đẳng là đức. Niệm niệm tâm không ngưng trệ, thường thấy Bổn tánh, diệu dụng chơn thật, ấy gọi là công đức. Bên trong giữ lòng khiêm hạ là công, bên ngoài hành động theo lễ là đức. Tánh mình lập ra muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức. Chẳng lìa tánh mình là công, ứng dụng không nhiễm trần là đức. Muốn tìm cái công đức Pháp thân, thì phải y theo đây mà tu hành. Thế mới là thiệt có công đức..... Chư Thiện tri thức! Công đức phải thấy trong tánh mình, chớ chẳng phải tìm ở chỗ cúng dường và bố thí. Bởi vậy phước đức với công đức là khác nhau. Vua Võ Đế không biết Chơn lý, chớ chẳng phải Tổ Sư ta lầm.....còn dài, mời đọc Kinh văn gốc (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Đừng nhầm lẫn công đức và phước đức. Phân biệt giữa Nội công đức và Ngoại công đức. Phước đức như nước mưa - Hết thì ngừng mưa. Công đức như nước nguồn phun trào từ dưới đất lên, càng dùng nguồn càng mạnh vô tận: Bài giảng hay của đức Đại Lai Lạt ma
I - THEO MINH TRIẾT MỚI
+ Chúng ta có 3 thành phần chính trong cấu tạo của chúng ta: Chân thần, Linh hồn, và Phàm ngã. (Trích TL MQ/ MF)
+ Con người là biểu hiện của 7 nguyên khí và hoạt động của 5 cõi giới, trong đó 7 + 5 được thấy là manh mối cho bí ẩn của 7 và 5 chòm sao của hoàng đạo. (5 Cõi: Người thường ở 3 cõi thấp "Cõi hồng trần - Cõi cảm dục - Cõi trí cụ thể, tổng 18 phân cảnh"; Người tiến hóa thêm phân cảnh trừu tượng của cõi trí và 2 cõi: Cõi Bồ đề và Cõi Atma/ Tinh thần_Minhtrietmoi.org) (CTHNM, 483)
+ Thể: Dùng để chỉ một hình thể có khả năng hoạt động độc lập trong cõi hữu hình và vô hình. (KCVTT, 128)
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chính là bộ máy đáp ứng. Các thể gồm Thể Xác - Dĩ thái và Thể Cảm dục/ Tình cảm và Thể Trí (Thượng trí và Hạ trí) và Phàm ngã (Tổng hợp 3 thể thấp) và Chân Ngã và Chân Thần; (CTNM, 36).
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể Vật Lý - Thể Hồng trần tam phân gồm: (1) Thể dĩ thái. (2) Các nadis chủ yếu. (3) Xác thân. Thể Trí gồm hạ trí và Thượng trí. Ba Thể cao gồm: Thể Phàm Ngã - Tổng hợp 4 Thể thấp. Cao hơn là Thể Chân nhân / Chân ngã/ Linh Hồn/ Linh tánh; Thể Chân Thần/ Tinh thần.
+ Các Thể vật chất: Thể cảm dục và thể hạ trí đều là vật chất (Theo cách riêng của nó) (LVLCK, 73)
+ Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâm thức, và các thể với tư cách là các trung tâm của kinh nghiệm (EPII 335); (Trích TLHNM)
+ Trong mỗi kiếp sống, Phàm Ngã con người thuộc 1 trong 7 cung đó, luân phiên thay đổi tùy theo cung Chân Ngã. Sau lần điểm đạo thứ 3, con người xác định được vị trí Linh hồn của mình (tôi tạm nói như thế) ở trên 1 trong 3 cung chính... Phàm Ngã vô thường thay đổi hết cung này đến cung khác, hết kiếp này đến kiếp khác, cho đến khi mọi tính chất đều được phát triển và biểu lộ. (TLHNM I, 128–129).
+ Cơ thể con người: Chất liệu của 2 phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói thêm rằng nơi kẻ thường nhân, chất liệu của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm đa số tùy theo mức tiến hóa của người đó. (LVLCK,942)
+ Các Thể và các Đại/ Nguyên tố: Như chúng ta biết, thể xác con người gồm có 5 nguyên tố hồng trần: Địa, Thủy, Phong, Hỏa, và dĩ thái xuyên suốt tất cả. Các thể thanh của con người, tức là thể cảm dục hay tình cảm, thể trí và thể bồ đề hay còn gọi là thể tinh thần, thì cũng gồm các trạng thái tinh vi hơn của ngũ đại vừa kể, với những mức độ khác nhau. Ví dụ như thể cảm dục thì có liên quan đến nguyên tố Thủy, thể trí liên quan đến Phong, và dĩ thái và thể bồ đề liên quan đến Hỏa.
Trong lá số tử vi của mỗi cá nhân, một nguyên tố thường nổi bật lên các nguyên tố kia, nhưng mục tiêu tối hậu của con người là đạt được sự hiểu biết tự thức và kiểm soát được lần lượt mỗi nguyên tố trên con đường hướng thượng của mình đi vào ánh Sáng. Để đạt mục đích của tham thiền, hầu như không thể được giữa các giòng tư tưởng xung đột trong những thành phố, tôi thường sống ẩn dật ở một nơi hoang vắng trên bờ biển. Ở đó, khí địa, Phong và Thủy giao hòa, thì một số vị Thánh Sư đã có thể dùng quan năng thần thông để tạo ấn tượng cho tôi về nhiều vấn đề đang có trong thời đại hiện nay. (Nguồn: Ngũ hành và các vị Thánh Sư)
+ Sự cấu tạo của con người, xét trong những trang sau đây, cơ bản gồm có ba phần, như sau:
I. Chân thần, hay Tinh thần thuần khiết, là Cha ở trên Trời. Trạng thái này phản ánh ba trạng thái của Thượng Đế:
1. Ý chí hay Quyền lực Đức Chúa Cha
2. Bác ái - Minh triết Đức Chúa Con
3. Thông tuệ Linh hoạt Chúa Thánh thần
và chỉ có thể tiếp xúc với trạng thái này vào những lần điểm đạo cuối cùng, khi hành giả gần đến mức cuối cuộc hành trình và trở nên hoàn thiện.
+ Chân thần lại tự phản ánh trong
II. Chân nhân, Chân ngã, hay là Cái Ta cao siêu. Trạng thái này có tiềm năng là:
1. Ý chí tinh thần - Atma.
2. Trực giác Bồ-đề, ứng Bác ái-Minh triết, nguyên khí Christ.
3. Trí tuệ cao siêu hay trừu tượng Thượng trí.
Trong những người tiến hóa cao, Chân nhân bắt đầu phát lộ quyền lực của mình, và ngày càng tăng trên Đường Dự bị cho đến lần điểm đạo thứ ba thì Chân ngã hoàn toàn chế ngự phàm ngã, và trạng thái cao nhất bắt đầu phát lộ năng lượng.
+ Chân nhân tự phản ánh trong
III. Phàm nhân hay phàm ngã, con người hồng trần. Trạng thái này cũng tam phân:
1. Thể trí hạ trí.
2. Thể tình cảm / Thể cảm dục.
3. Thể hồng trần: Thể xác và thể dĩ thái.
Do đó, mục đích của tham thiền là giúp hành giả ý thức được Chân nhân để Chân nhân chế ngự phàm tính. Đây là mục tiêu ngay trước mắt của người sơ cơ. (Nguồn: Tham thiền huyền môn)
+ Cấu tạo con người qua Ba thể thấp: Xem tại đây
II - THEO PHẬT PHÁP
+ Thân Tâm hay Danh Sắc: Đức Phật dạy rằng con người là sự tập hợp của 2 thành phần chính gọi là danh và sắc.
Danh = Tâm: Là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức.
Sắc - Thân xác: Gồm có nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của tứ đại đất, nước, gió, lửa. (Xem nguồn)
+ Con người - Tứ đại: Do tứ đại và Ngũ ấm mà thành ra chúng sinh. Ngũ ấm là Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức. Sắc là Thân xác do tứ đại làm thành. Cõi Thiên không có thân xác tứ đại, nhưng còn Thọ Tưởng Hành Thức - Do Si mê mà có. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Tứ đại với xác thân con người: Trích: A-nan bạch Phật: Bạch Thế tôn, Như Lai thường nói về nhân duyên hòa hợp rằng: Tất cả các thứ biến hoá trong thế gian đều nhân bốn thứ 'đại' mà phát sinh. Giảng:
"A-nan bạch Thế tôn, Như Lai thường nói về các pháp nhân duyên và các pháp hòa hợp rằng. Thế tôn nói rằng Tất cả các thứ biến hoá trong thế gian – 'Thế gian' ở đây là chỉ cho hữu tình thế gian và khí thế gian – Tất cả mọi thứ biến hoá trong thế gian đều nhân bốn thứ 'đại' mà phát sinh."
Thế nào là bốn thứ 'đại' (tứ đại)? Đó là đất, nước, lửa, gió. Thân thể con người là hợp thể của tứ đại.
- Những phần cứng và chắc trong thân thể là thuộc về địa đại (đất),
- Hơi nóng trong cơ thể thuộc về hoả đại (lửa).
- Nước dãi, đàm dịch, nước mắt thuộc về thuỷ đại (nước).
- Hơi thở [Không khí] thuộc về phong đại (gió).
Khi chúng ta còn sống, thân thể chịu sự điều khiển của mình, nhưng sau khi chết thì tứ đại tan rã. Hơi ấm trong thân trở về với lửa. Các chất dịch trở về với nước. Các chất rắn trở về với đất. Hơi thở trở về với gió.
'Chuyện chết'? Mặc dù chúng ta còn đang sống, nhưng thân xác chúng ta được xem như là đã chết rồi. Cái đang sống được nói đến là gì? Mặc dù chúng ta không biết là nó đang sống, nhưng tinh thần chúng ta rất trẻ và đầy sức sống– đó chính là Phật tánh hằng có của chúng ta. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ Tâm tạo nghiệp: ... Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân; Thân là dụng của tâm. ... (Nguồn: Kinh Kim Cang)
Xem thêm: Các Thể của con người
Xem thêm: Thể vía ; Thể phách ;
Xem: T.H Tooltip và Thuật Ngữ, Cấu Tạo Con Người
+ Pháp sanh diệt - 12 Nhân duyên - Nguyên nhân luân hồi và phiền lão khổ đau: Nguồn gốc của khổ đau là con người buộc phải luân hồi tái sanh sáu cõi, tuân theo pháp 12 nhân duyên đức Phật dạy. Xét theo chiều thuận thì có sanh sanh diệt diệt luân hồi mãi không ngừng, bởi do tạo nghiệp vô minh. Chiều nghịch thì chấm dứt sanh tử luân hồi - Do chấm dứt vô minh tạo nghiệp luân hồi.
Ngài A Nan tham thiền quán xét pháp 12 nhân duyên và thưa với Phật, Pháp 12 nhân duyên không khó. Phật dậy: Pháp 12 nhân duyên rất vi diệu sâu xa ... Danh sắc duyên thức - Thức duyên danh sắc - Danh sắc duyên lục nhập - Lục nhập duyên Xúc - Xúc duyên Tho - Thọ duyên ái - Ái duyên Thủ - Thủ duyên hữu - Hữu duyên Sanh - Sanh duyên già chết, ưu bi khổ lão, tập thành một đại khổ ấm ...
Này A Nan, Tỳ kheo nào trong pháp này mà như thật chánh quán, với tâm giải thoát vô lậu, tỳ kheo ấy được gọi là Tuệ giải thoát - Tỳ kheo giải thoát - là vị A La Hán thành tựu Tâm giải thoát vô lậu do Tuệ mà đoạn trừ sở tri chướng - Chứng đắc giải thoát (Khác với do Định mà đoạn trừ phiền lão chướng, chứng đắc giải thoát, gọi là Tâm giải thoát)
Phật dậy, người thấy có Ngã - Thọ là ngã, gồm 3 thọ: Cảm thọ lạc - Cảm thọ khổ - Cảm thọ không lạc không khổ. Đều do Duyên Cảm xúc Lạc - Khổ mà cảm thọ, ví như 2 khúc cây cọ vào nhau sinh ra lửa, tách nhau thì lửa không có => Ba thọ là pháp Hữu vi, vô thường, do nhân duyên mà sanh diệt => Người nào cho thọ là ngã hoặc Thọ không phải ngã, Ngã là thọ đều là sai lầm ....
Có bảy chú xứ của Thức và hai nhập xứ gồm (1) loài người và chư Thiên; (2) Chúng sinh Trời Quang Âm; (3) Trời Biến Tịnh; (4) Nơi Không xứ; (5) Nơi Thức xứ; (6) Nới Vô sở hữu xứ; (7)..... => Tỳ kheo biết cái ấy không phải Ta - Với tri kiến như thật.
Hai nhập xứ: Vô tưởng nhập và Phi tưởng phi vô tưởng nhập => Tỳ kheo biết cái ấy không phải Ta - Với tri kiến như thật.
Tám pháp giải thoát .......... (Nguồn: 13. Đại duyên phương tiện - Kim A Hàm)
+ Tạo nghiệp mang thai - Câu hỏi: Bạch Hòa Thượng, có một số những người mẹ không hôn thú đang gây ra nhiều vấn nạn xã hội, rồi sau đó là có việc phá thai ... Con tự hỏi Hòa Thượng có ý kiến hay đề nghị gì về vấn đề này.
Hòa Thượng: Quý vị đang đề cập về những bà mẹ độc thân. Khổ thay, những người này đã đánh mất nhân phẩm, vì thế họ không tôn trọng những luật lệ trước khi lập gia đình. Ngày nay, những người trẻ thích khiêu vũ, xem phim ảnh, và ca hát. Họ hưởng thụ ăn uống, vui chơi và tìm khoái lạc. Những đam mê và hành vi dẫn đến sự mất nhân phẩm, đến độ họ không còn ý thức việc họ là con người. Là người, phải có hành vi của người, nhưng họ lại giống như ma quỉ -- lén lút không tôn trọng luật lệ, muốn thử hết trước khi lập gia đình ... và vì thế, họ có thai. Những chuyện như thế này có thể không có gì quan trọng ở phương Tây, nhưng ở Trung Hoa thì thật xấu hổ.
Vấn đề này xảy ra do chỉ do một niệm vô minh: Nam theo đuổi nữ, nữ tìm kiếm nam ... Bởi vì vô minh, nên hành nghiệp theo sau, sau khi hành nghiệp tạo tác thì có danh sắc, lục nhập, xúc, và thọ hiện hữu …, tất cả những thứ này đều tạo tác bởi vô minh ... Do mê mờ, tình ái khởi sanh, tiếp theo là dục vọng muốn nắm bắt (thủ và hữu), và sau đó là nhiều vấn đề khác xuất hiện … cho đến khi già chết (lão, tử) đến. Toàn bộ chuỗi biến cố này được gọi là Pháp Mười Hai Nhân Duyên.
Vì người đời không hiểu Mười Hai Nhân Duyên nên, họ làm những việc trái với đạo lý. Vì vậy vấn nạn của họ càng ngày càng lớn. Cho đến lúc họ mang thai, sự việc càng trở nên rắc rối hơn khi thay vì dưỡng thai bào để sinh nở, họ lại phá hủy bào thai lúc thai từ một đến bốn tháng tuổi.
Tội phá thai rất nặng. Quý vị có thể nghĩ chúng chỉ là con ma bé nhỏ, nhưng những con ma này có những năng lực tâm linh to lớn có thể làm quý vị chết hay mang những tật bệnh kỳ lạ, làm cho quý vị nói năng lảm nhảm và lẫn lộn đầu óc đến khi điên dại ... Tội phá thai còn nặng hơn tội giết người lớn. Nếu quý vị không muốn có con, tại sao lại gây ra việc thụ thai? Tại sao rắc rối như thế? Khổ thay, đàn ông và đàn bà không hiểu đạo lý làm người nên những vấn đề này mới xảy ra.
Để giải quyết những vấn đề này, chúng ta cần cung cấp giáo dục về tình dục cho những người trẻ, và dạy họ đừng dính mắc vào tình ái cho đến khi khôn lớn trưởng thành; nếu không, họ sẽ gặp những vấn nạn khó khăn. Chúng ta phải thúc đẩy mạnh mẽ để họ tuân theo những quy tắc này.......
Số phận nghiệp báo: ...... Sanh ra đời. mỗi người hình dáng không giống nhau, thì nhân quả cũng khác nhau. Mỗi người thiếu nợ kẻ khác từ bao đời nay cũng khác nhau. Có nhiều người thiếu quá nhiều nợ, đến đời này trả, trả mãi không hết. Nên nói: "nợ cao như núi". Ðó cũng là núi nghiệp chướng: núi ấy ngày càng cao lớn, ngày càng sâu dày. Nợ nợ chồng chất, rối rắm vô ngần, chẳng sao gỡ sạch. Ðó là vì duyên cớ gì? Vì là ngày trước họ tính lời quá cao; đem tiền cho vay, họ lấy lời cắt cổ. Thật là lòng tham không đáy. Họ nghĩ rằng mình chiếm thượng phong, nào ngờ kết quả là mình chiụ thua lỗ. Nghiệp chướng của họ ngày thêm sâu dày, đến độ cuối cùng họ chẳng sao rút chân ra đặng.
Có người thiếu nợ là phải làm cha, có người thiếu nợ là phải làm mẹ, có người thiếu nợ là phải làm chồng, làm vợ, hoặc phải làm con gái, phải làm con trai. Nên nói: "Cha mẹ đói khát, là nợ luân thường." Không biết là bao nhơn duyên hội họp để khiến vận mạng ngày nay của chúng ta an bài như vậy........
Vì vậy trong gia đình thân quyến có lúc bất hòa: ví như cha con bất hòa, mẹ con tranh chấp, vợ chồng cải lẫy, anh em đấu tranh, chị em gây lộn... đủ thứ chuyện rắc rối sản sinh. Chuyện đã như vậy, song họ chẳng ai thừa nhận, chẳng chịu thấy đây là nợ nần, mà ngược lại cảm thấy mình bị thiệt thòi. Kỳ thật, những việc trên xảy ra đều là do trước kia gieo nhân xấu nay gặt phải quả khổ. Trước kia gieo nhân gì, nay gặt quả là vậy, có gì đâu mà phải oán hận? Nên có câu rằng: "Kẻ biết mệnh trời thì không đứng dưới bước tường nghiêng đổ. Y không trách trời, không đổ lỗi cho người khác. Y biết hạ mình để học hỏi và nâng cao đạo đức để tiến lên." Người tu trước tiên phải hiểu lý nhân quả, không nên gieo nhân một cách bừa bãi, phải trồng nhân cho thanh tịnh. Nếu chuyện gì hợp với đạo lý thì mình tiến tới, không hợp đạo thì lùi lại. Không nên mờ mịt việc thiện ác khiến chúng rối rắm chẳng rõ; cũng không thể để chuyện thị phi đúng sai hổn tạp chẳng rành. Môt khi mình đã phân biệt được trắng đen, chân giả, thì phải nhân đó mà phản bổn hoàn nguyên, trở về với bản thể thanh tịnh, bản tánh chơn như mầu nhiệm. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Những vong linh thai nhi vô tội)
+ Tâm thức nhị nguyên sinh lành dữ: Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Có một pháp Đà la ni tên là Kim Cang tâm hay khiến chúng sanh một phen thấy, một phen nghe liền đặng đạo quả. Này gã trai lành! Thế nào gọi là Kim Cang tâm? Tâm/ Chân tâm này người người vẫn có không kẻ nào không, nên cái tâm bình đẳng của chúng sanh này tự biết lấy, tự hiểu lấy. Vì sao?
Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ.
Tâm là chủ của thân; Thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật. (Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ Con người là biểu hiện của 7 nguyên khí và hoạt động của 5 cõi giới, trong đó 7 + 5 được thấy là manh mối cho bí ẩn của 7 và 5 chòm sao của hoàng đạo. (5 Cõi: Người thường ở 3 cõi thấp "Cõi hồng trần - Cõi cảm dục - Cõi trí cụ thể, tổng 18 phân cảnh"; Người tiến hóa thêm phân cảnh trừu tượng của cõi trí và 2 cõi: Cõi Bồ đề và Cõi Atma/ Tinh thần_Minhtrietmoi.org) (CTHNM, 483)
+ Cấu tạo con người qua 7 nguyên khí: Trích Lời nói đầu: ..... Nhưng tôi rất vui mà nói rằng giáo huấn sau này chỉ cho thấy sự không đầy đủ trong quan niệm nguyên thủy của tôi về giáo lý bí truyền, chứ cho tới nay không có một sự sai lầm quan trọng nào. Thật vậy, tôi đã nhận được từ vị Chơn sư (mà tôi có được giáo huấn của mình lần đầu tiên) lời đoan chắc quyển sách như nó trình bày hiện nay là một phát biểu lành mạnh và đáng tin cậy về hệ thống Thiên nhiên theo như các điểm đạo đồ thuộc khoa huyền bí học hiểu được...... Chẳng hạn như tất cả những điều trong quyển sách này liên quan tới cuộc sống trên cõi Trung giới (tức Kama Loka) đã hoàn toàn lạc hậu. Tác phẩm sau này của tôi “Sự tăng trưởng của Linh hồn” đã minh họa đề tài này đến một mức độ nào đó, cuốn “Bên kia Cửa Tử” đã khoác lên một lớp vỏ mới cho những tình huống rất biến thiên vốn thịnh hành nơi các cảnh giới mà cái lớp vỏ siêu hồng trần của Trái đất được phân chia ra thành ..... Bảy thể của con người được mô tả sớm nhất, sơ đẳng nhất, gồm:
1. Thể Xác: Rupa
2. Sinh Lực: Prana hoặc Jiva
3. Thể Phách: Linga Sharira
4. Hồn Thú: Kama Rupa
5. Hồn Người: Manas
6. Hồn Thiêng: Buddhi
7. Tinh Thần: Atma
Xem thêm: Bảy nguyên khí con người (GQ-MF)
Theo: Theo Sách: Phật Giao Bí Truyền (Mục: 2- Cấu tạo con người)
CẤU TẠO CON NGƯỜI (Theo Minh Triết Mới)

+ Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế(TTHM, thu 28.7.20)
Xem Ảnh phóng to về Cấu tạo con người
Xem: Cấu Tạo Con Người 1
+ Các Luận trong kinh Thủ Lăng Nghiệm:
a- Kim luân: Đức Phật dạy "Kim luân Bảo trì Quốc độ". HT Tuyên Hóa giảng Kim luân cứng như Kim cương.
[NTH diễn giải (Xin chỉ tham khảo): Bảo trì hiểu là vật chất cứng chắc nhất, cốt lõi quyết định sự hình thành và tồn tại ổn định, bền vững của bất cứ hình dạng/ Hình thể/ Tướng trạng nào biểu hiện. Ví dụ:
+ Nếu xét âm dương Trời Đất thì ở Hư không, trong Trời có Không đại "Thấu suốt" các Vật chất/ Các đại.
+ Trong Hình tướng đều là vật chất lưỡng tính âm dương/ Vật chât và Tinh thần, ví như Địa cầu thì ngược lại với Trời, trong Mềm động, bề ngoài thì Đất cứng chắc trì giữ định hình, kèm Nước mềm lỏng giúp kết dính, nâng đỡ.
+ Ở Người: Con người ở giữa Trời - Đất (Loài sinh ra qua sự tác hợp giữa Tinh thần và Vật chất) là loài có "Sự sống" hình thể lưỡng tính âm dương (Thiên/ Tinh thần - Nhân/ Sự sống lưỡng tính biếu lộ - Đất/ Vật chất). Có sự tương ứng Đầu/ Tinh thần - Thân người/ Sự sống - Chân/ Đất. Liên kết "Bảo trì" sự sống bằng hệ Xương cốt cứng chắc bên trong (Kim luân), bên ngoài là Địa luân/ Đất/ Da thịt định hình thể ổn định thành khối.
Xét ở phần Đầu: Ứng Trời/ Tinh thần có vỏ Não cứng chắc định hình bên ngoài. (Toàn thân thì có Hệ Xương cốt cứng chắc kết lối Thiên - Nhân - Địa/ Bảo trì).
Khi phân âm dương thì Bên trên phần đầu là Tai/ Tánh Thủy đại - Mắt/ Tánh Hỏa đại sếp chiều Ngang (Xét về Tinh thần). Khi biểu lộ Tánh Thủy Hỏa thành Nước hướng xuống và Lửa hướng nên Tinh thần. Bên dưới phần đầu là Miệng lưỡi ứng Đất, Nước vật chất. Ở giữa có sự kết lối biểu hiện từ Không thành Có là Mũi, từ trong KHÔNG xuất sinh MỘT rồi sinh âm dương [2 Lỗ mũi - Một hốc Mũi], đại diện cho Không Đại bên trong. Ở miệng thì có vòm Miệng cứng chắc định hình, trong miệng/ Không đại có Răng Lợi cứng chắc bảo trì, có Lưỡi Đất + Nước mềm dẻo (lưỡng âm dương). Tánh Nước hướng xuống lắng đọng thành Hình, lên Miệng tương ứng Nước. Mắt ứng Lửa => Hình thành trục trên Hỏa - Dưới Thủy là chiều dọc (Xét về vật chất).
Xét ở Thân người - Xét ở Chân/ Đất;
b- Phong luân nắm giữ Thế giới:
+ Chữ Luân với các Đại: Ý nghĩa của từ ngũ luân theo Tự điển Phật học như sau:
I. Ngũ Luân: Trong Mật giáo, Ngũ luân chỉ cho 5 trí luân, tức là 5 đại: Đất, nước, lửa, gió và không. Năm đại này như cái vòng tròn xoay chuyển cùng khắp, không khiếm khuyết nên gọi là Ngũ luân (5 vòng tròn). Nếu đem 5 phần của thân thể chúng sinh (đầu, mặt, ngực, rốn, đầu gối) tương ứng với 5 đại, theo thứ tự phối hợp với 5 luân (không, gió, lửa, nước, đất) và 5 chữ Tất đàm ( , , , , ) để quán tưởng thì gọi là Ngũ luân quán, hoặc Ngũ luân thành thân quán. Phương pháp quán tưởng này giúp hành giả thể nhận được thân mình tức là thân Phật. Pháp quán Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới là đối lại với pháp quán Ngũ luân thành thân của Thai tạng giới. Nếu đứng về phương diện thân hình của chúng sinh mà nói, thì Ngũ luân nghĩa là ngũ thể (đầu, 2 tay, 2 đầu gối). Lại nữa, vì sắc không lìa tâm, tâm chẳng lìa sắc, cho nên có thể nói được là 5 đại tức 5 trí, 5 trí tức 5 luân. Nếu nói theo màu sắc và hình dáng thì trong 5 luân, không là hình cầu màu xanh, gió là hình bán nguyệt màu đen, lửa là hình tam giác màu đỏ, nước là hình tròn màu trắng và đất là hình vuông màu vàng. [Ngũ luân cửu tự minh bí mật thuyết]. (xt. Ngũ Tự Nghiêm Thân Quán).
II. Ngũ Luân: Chỉ cho tháp Ngũ luân. Tức là dùng những cái nêu 5 luân lần lượt xếp đống lên thành hình tháp, tượng trưng cho hình tướng pháp thân của đức Đại nhật Như lai. [X. kinh Lăng già Q.1]. (xt. Ngũ Luân Tháp).
III. Ngũ Luân. Chỉ cho 5 ngón tay. Tức theo thứ tự từ ngón út, ngón vô danh v.v... phối hợp với 5 luân: Đất, nước, lửa, gió và không. [X. Quảng đại nghi quĩ; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
IV. Ngũ Luân. Chỉ cho Ngũ giải thoát luân của Kim cương giới. Tức ở trong 1 cái vòng tròn Kim cương lớn, bày xếp 5 cái vòng tròn, để tượng trưng cho chỗ giải thoát của 5 đức Phật. (xt. Ngũ Giải Thoát Luân). (Nguồn: Từ điển Phật giáo)
+ Tứ Luân - Các Luân: Theo Câu Xá Luận, có tứ luân tạo nên thế giới, gồm [A. Đại địa tứ luân; B. Bốn hình tượng của Tứ luân; C. Tứ Phật luân; D. Tứ luân của Tứ Thiên vương]
A. Đại địa Tứ luân: Không luân - Phong luân - Thủy luân - Kim luân [Không luân = Không gian nơi Địa cầu/ Lõi địa cầu, nhỏ hơn Hư không luân trùm khắp pháp giới; Phong luân nương vào Hư không]. Thứ tự biến hiện là:
Không luân: Bánh xe không gian ở dưới nước và bánh xe gió của thế giới. (Goole dịch từ "The wheel of space below the water and wind wheels of the world")
Phong luân: Khởi lên từ bên trên Không luân, Thủy luân sanh ra trên Phong luân, và Kim luân sanh ra trên Thủy luân, và Địa luân dựa trên Kim luân.
Phong luân - Kim luân - Địa luân với Địa cầu: Nơi sâu tận cùng của thế giới là Phong Luân, Phong Luân này nương vào hư không, kiên cố như kim cang. Trên Phong Luân có Thủy Luân. Trên Thủy Luân có Kim Luân, được hình thành từ kim cang hình vòng tròn; nên gọi là Kim Luân. Trên Kim Luân này lại có chín núi tám biển, gọi là Địa Luân. Từ mặt nước cho đến Kim Luân, sâu đến 8 vạn do tuần; do vậy ta mới biết Địa Luân rất dày. Như vậy Kim Luân này còn có nghĩa là đại địa, vũ trụ, thế giới.
(Kim luân là tên gọi của một trong 7 loại báu do Chuyển Luân Thánh Vương cảm đắc được. Vòng tròn báu này có 4 loại khác nhau là vàng, bạc, đồng, sắt, từ đó sanh ra sự khác nhau giữa Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương và Thiết Luân Vương. Cũng là tên gọi tắt của Kim Luân Thánh Vương)
Hỏa luân: Lửa xoáy, ví dụ. lửa xoay tròn, cả vòng tròn như đang bốc cháy, biểu tượng của ảo ảnh; một bánh xe lửa. (Goole dịch từ "Whirling fire, e.g. fire whirled in a circle, the whole circle seeming to be on fire, emblem of illusion; a fire wheel"
Địa luân có nghĩa là: Tầng trên cùng của y báo (khí thế gian) và tầng cuối cùng của chính báo (thân hữu tình). Một trong 5 luân. Nếu đem phối hợp với nhục thân của chúng sinh thì địa luân là Tất luân (từ đầu gối trở xuống). Về hiển sắc, Địa luân là mầu vàng, về hình sắc, Địa luân có hình vuông, chủng tử là (A). (xt. Ngũ Luân).
B. Bốn hình tượng Tứ luân: 1) Màu vàng quan hệ tới vàng hay kim loại; 2) Màu trắng với nước; 3) Màu đỏ với lửa; 4) Màu đen với gió.
C. Tứ Phật Luân: 1) Kim Cang Luân với A Súc Bệ Phật; 2) Bảo Luân với Bảo Tướng Phật; 3) Pháp Luân với A Di Đà Phật; 4) Yết Ma Luân với Nam Phật.
D. Tứ luân của Tứ Thiên vương: 1) Kim Luân (vàng); 2) Ngân Luân (bạc); 3) Đồng Luân; 4) Thiết Luân (Sắt). (Nguồn: Từ điển Phật giáo và 4 loại Luân vương Kinh Dược Sư _ HT Tuyên Hóa giảng)
+ Kim luân:
I. Kim Luân. Cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới. Một trong 3 luân (phong, thủy, kim), hoặc 1 trong 4 luân (không, phong, thủy, kim). Vũ trụ luận của Ấn độ đời xưa cho rằng lớp dưới cùng của thế giới là hư không, trên hư không có phong luân, trên phong luân lại có thủy luân, trên thủy luân lại có kim luân. Do sức nghiệp của loài hữu tình khuấy động thủy luân, nên trên mặt thủy luân kết thành kim luân (lớp vàng rất dày). Các thế giới hiện thực như: Núi, biển, đảo, v.v... đều kiến lập và tồn tại trên kim luân. Phía dưới cùng của kim luân gọi là Kim luân tế (mé kim luân)
II. Kim Luân. Gọi đủ: Kim luân bảo. Cũng gọi: Luân, Luân bảo. Vũ khí hình bánh xe làm bằng kim cương (một trong 7 thứ báu) là vật cầm tay của vua Chuyển luân Thánh vương. Truyền thuyết cho rằng tùy theo luân bảo chuyển động xoay về hướng nào thì nơi ấy đều qui phục. Chuyển luân Thánh vương cầm Kim luân bảo gọi là Kim luân vương (gọi tắt là Kim luân). Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, tay cầm Kim luân được gọi là Kim luân thủ.
(1) Nơi sâu tận cùng của thế giới là Phong Luân, Phong Luân này nương vào hư không.... Trên Phong Luân có Thủy Luân, ... Trên Thủy Luân có Kim Luân, ... được hình thành từ kim cang hình vòng tròn. Trên Kim Luân này lại có chín núi tám biển, gọi là Địa Luân. ... Địa Luân rất dày. Như vậy Kim Luân này còn có nghĩa là đại địa, vũ trụ, thế giới.(Phật dạy Kim Luân bảo trì thế giới; Phong luân nắm giữ thế giới _Kinh Thủ LN)
(2) Là tên gọi của một trong 7 loại báu do Chuyển Luân Thánh Vương cảm đắc được. ... Cụ thể xem thêm nguồn: Thuật ngữ Kim luân - thuvienhoasen.
+ Vũ trụ vật lý ([8] 水輪; Skt. jala-maṇḍala): Theo A-tì-đạt-ma, được mô tả là ba tầng đài (maṇḍala): mặt đất bao gồm núi sông, các lục địa, được đặt trên đài bằng vàng, gọi là kim luân (kañcana-maṇḍala). Nằm phía dưới nâng đỡ kim luân là đài nước hay thủy luân (jala-maṇḍala). Nâng đỡ phía dưới thủy luân là phong luân hay đài gió (vāyu-maṇḍala). Phong luân y chỉ hư không mà tồn tại. (Nguồn: Kinh Thập nhất thiết xứ / Kinh Mười Biến Xứ ...)
+ Kim luân - Thành lập khí thế gian:
Phong luân ở dưới cùng,
Bề trên là thủy luân. (Hơi nước/ Chất hơi ngưng tụ mưa xuống thành nước)
Phần nước ở dưới sâu tám ức,
Phần còn lại ngưng kết thành vàng
Thủy luân và kim luân [ Có đường kính mười hai ức - Ba ngàn bốn trăm năm mươi; Chu vi gấp ba lần.]
Giảng: Phong luân - Thể của nó thuộc chất rắn. Giả sử như có một đại Nặc-kiện-na (mahānagna) dùng kim cương ném vào nó thì kim cương sẽ bị vỡ tan mà phong luân vẫn không tổn hoại gì.
Vàng, bạc, các chất báu và đất được cấu tạo như vậy đã kết tụ lại nhờ các thứ gió do nghiệp lực tạo ra; và chúng đã tạo thành núi cũng như các đại châu. (Nguồn: Câu Xá luận - BT Thế Thân)
+ Kim luân - Đức Phật dậy:
- Phú Lâu Na! Tánh giác thì sáng suốt; hư không thì bất động vô tri. Hai thứ tác động thành tác năng dao động => Do đó, trong thế giới có hiện tượng lay động phát sinh. Trong tánh năng dao động, những thứ đồng chủng hòa hợp với nhau kết thành tánh chất ngại. Đây là hiện tượng kim luân được hình thành để bảo trì quốc độ (Kim luân là dị dạng của địa đại, nhiếp thuộc về địa đại).
- Kim luân cọ sát với không khí trong hư không biến ra năng lượng => Hiện tượng hỏa đại phát huy từ đó.
- Kim luân sanh nước. Tánh nước chảy xuống. Tánh lửa bốc lên. Thủy đại chảy xuống, hỏa đại bốc lên, địa đại bảo trì => Từ đó hiện tượng vật chất đủ điều kiện hoàn thành viên mãn.
- Chỗ sâu có là nước biển, chỗ cạn là cồn bãi, lục địa. Do nguyên nhân đó:
=> Trong biển lửa thường sanh khởi. Cồn, bãi, lục địa, sông lạch thường tuôn chảy không ngừng. Chỗ thế nước kém thế lửa kết tụ thành núi cao cho nên đánh đá thì lửa nhoáng ra. Chỗ thế đất kém thế nước hay sinh cây cỏ. Vì vậy, rừng cháy thành đất, vắt ép gỗ chảy ra nước.
Sự vật hiện tượng trong thế giới tương quan làm nhân quả cho nhau mà sanh. Xoay vần làm nhân duyên cho nhau không dứt, vì vậy thế giới duy trì tương tục vô cùng. Phần trên Đức Phật đã chỉ rõ nguyên nhân của các pháp hữu vi là do không giác ngộ chơn tánh khiến vọng tưởng phân biệt phát sinh mà thành. Vì sự mê lầm ấy mà phát sinh ra thế giới, chúng sinh và nghiệp quả.
- Phong đại là gió, tượng trưng cho sức lay động vô hình. Mà vô hình là hư không vốn không có tri giác nghĩa là hư không, không hề biết thế nào là lay động hay thế nào là không lay động. Nhưng vì tâm mê mờ chơn tánh nên có năng có sở đối đãi phân biệt tạo thành vọng tưởng. Vọng tưởng này kích động tâm thể, chứa đầy hư vọng rồi biến thành tập khí đầy ắp trong hư không mà biến thành gió. Tất cả cảnh giới ở thế gian đều nương vào vọng tâm vô minh mà tồn tại, cho nên có phong đại (gió) nắm giữ trong thế giới là vậy.
- Địa đại cũng là loài vô tri vô giác, không tự mình biết là loài hữu tình hay vô tình, là lỏng hay cứng, là to hay vi tế. Nhưng vì giác tánh phân biệt, nương theo nghiệp mà phát minh ra tính cứng, lập ra sự ngăn ngại cho nên trong thế gian mới có đất, đá, sỏi, cát khắp mọi nơi. Vì địa đại có tánh ngăn ngại nên tất cả những gì mà choáng một phần không gian to lớn như núi cao rừng thẳm và cực nhỏ như những vi tử trong nước hay trong không khí đều là địa đại cả. Quả địa cầu cũng như tất cả những hành tinh khác trong thế gian vũ trụ này đều kết cấu giống như nhau. Đó là bên ngoài được kết tập bằng những lớp đất đá rất cứng, nhưng bên trong là những nham thạch rất nóng ở thể lỏng, xoay động dựa theo tiến trình di động của trái đất mà nhà Phật gọi là Kim luân tức là cái nền móng căn bản để kiến tạo vật thể trên thế gian.
* Gió thì lay động gặp đất ngăn cản nên có sự ma xát mà sinh ra lửa (hỏa đại). Hỏa đại không nhất thiết phải là lửa, mà có thể là tất cả sự nóng lạnh. Khi độ nóng tăng cao thì những chất cứng sẽ chảy thành nước. Nước là thể lỏng nên chảy từ cao xuống thấp trong khi lửa cháy thành khí nên bốc lên cao. Vậy tánh lửa bốc lên, tánh nước chảy xuống và tánh đất thì ngăn ngại và từ đó hiện tượng vật chất có đủ điều kiện hình thành viên mãn mà tạo ra hình dáng của thế giới.
- Thời gian trôi qua khiến vật chất thay hình đổi dạng. Chỗ sâu nước dồn xuống thì gọi là biển, chỗ cạn là cồn, bãi. Chỗ đất cao nổi lên thì gọi là đồi. Vì sự sinh biến mà trong biển lửa thường sinh khởi. Thí dụ ngày nay chúng ta thấy có rất nhiều vụ núi lửa nổ tung tận đáy biển sâu khoảng 4,000 ft ở Thái Bình Dương. Lửa cháy ở đáy biển cũng giống y như lửa cháy ở trên mặt đất vậy. Gần đây nhất, có vụ núi lửa nổ tung tận dưới lòng nước ở xứ Iceland mà ngọn lửa bốc lên cao hơn mặt nước biển. Khoa học ngày nay cũng mới khám phá một loại nham thạch trong các rặng san hô mà chỉ cháy trong nước.
1) Chỗ nào thế lửa (hỏa đại) bốc lên mạnh hơn thế nước (thủy đại) thì đất nổi lên thành núi cao. Vì thế, nếu lấy hai viên đá đập vào nhau sẽ phát ra tia lửa hoặc nấu các cục đá kia thì nó sẽ chảy thành nước.
2) Chỗ nào thế đất (địa đại) yếu hơn thế nước (thủy đại) thì đất hóa ra mềm làm sinh ra cây cỏ. Nhưng nếu đem những cây đó đốt đi thì nó sẽ cháy thành tro (đất, địa đại) hoặc nếu đem ép những cây gỗ thì có nước chảy ra (thủy đại). Xét như vậy thì đâu đâu cũng đều có đất, nước, gió, lửa tùy theo nhân duyên mà phát sinh những hiện tượng khác nhau.
=> Sự vật hiện tượng trong thế giới làm nhân làm duyên cho nhau, khi thành, khi trụ, khi hoại, khi không, không ngừng, không dứt. Vì vậy thế giới được duy trì tương tục vô cùng vô tận.
* Vạn sự đều do Tâm tưởng sanh - Chúng ta tạo ra Thế giới này: Vậy “Tánh giác diệu minh” làm mê mờ chân lý vũ trụ quan khiến vọng tưởng phát sinh mà tạo thành vạn pháp trong vũ trụ. Nói cách khác vạn pháp trong thế giới này là do tâm niệm của chúng sinh phát khởi mà thành. Vì thế nếu thế gian có được mưa thuận gió hòa cũng bởi con người có tâm niệm lành, biết thương yêu đồng loại, biết xóa bỏ tranh chấp đố kỵ. Ngược lại nếu con người vì tư lợi, tranh chấp, giết hại lẫn nhau thì dĩ nhiên vọng tưởng phát sinh liên tục khiến cho đất, nước, gió, lửa bất hòa mà tạo thành cuồng phong, bảo tố. Ngày nào con người còn tranh chấp, còn ý nghĩ tiêu diệt lẫn nhau thì ngày ấy còn động đất lớn, còn có những lượn sóng thần, còn bảo tố, còn núi lửa để cảnh giác con người. Do đó muốn sống hạnh phúc thanh nhàn thì do con người mà gánh chịu cảnh tang tóc đau thương thì cũng do con người chớ trời Phật không can dự vào. (Nguồn: Kinh Thủ LN - Phật dậy về Các Đại - Lê sỹ Minh Tùng)
+ Kim luân: Đức Phật bảo, “Phú-lâu-na, như ông vừa hỏi, đã là thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng dưng sanh ra núi sông đất liền?”....
- Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mê muội, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Nên có phong luân nắm giữ thế giới.
- Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng, thành ra có ngăn ngại. Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng. Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ.
Giảng: ... sự lay động và tạo thành gió ..... thành ra tướng cứng chắc ngăn ngại của địa đại (yếu tố đất). Đây tức là lấy cái mê muội làm hư không, và trong thể hư không mê muội ấy, kết cái u tối hỗn trược thành sắc. "Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng". Tất cả các loại vàng bạc và các khoáng chất quý giá đều là tinh tuý trong lòng đất (địa đại), mà tánh chất của đất thì cứng chắc và ngăn ngại còn hơn cả kim loại. Nương nơi cái biết hư vọng của vô minh mà có ra tướng cứng chắc và ngăn ngại, như trong thế gian có người si tình mà hoá thành đá vậy.
- Biết cái cứng thì thành có kim bảo, rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra. Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá.
-Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt. Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới. (Nguồn: Tứ đại - Kinh Thủ LN - HT Tuyên Hóa)
+ Dĩ thái - Tứ đại: Dĩ thái là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi hồng trần. Dĩ thái có 4 phân thân của nó là phong, hỏa, thủy, địa. (LVLCK, 43)
+ Phong (Air; Không khí): Là biến phân (differentiation) của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi trực giác, cõi Bồ Đề. (LVLCK, 43)
+ Không khí (Air): Không khí chỉ là chất dĩ thái phức tạp và đã biến phân. (GLBN II, 258)
+ Âm Dương Tứ đại:
Dương ..... Âm
Hỏa và Khí Nước và Đất
Các dấu hiệu số lẻ Các dấu hiệu số chẵn
Tích cực, tự thể hiện Thụ động, tiếp nhận
Năng lượng dương Năng lượng âm
+ Biểu tượng huyền bí các đại ứng Luân xa:
- Nơi mà nước và đất gặp nhau là bí huyệt đan điền (solar plexus centre).
- Nơi mà nước, đất và không khí gặp nhau là ở trong đầu.
- Đất là biểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài.
- Nước là biểu tượng của bản chất tình cảm.
Chính là từ bí huyệt lớn của đời sống phàm-ngã, tức huyệt đan điền, mà đời sống thường bị chế ngự và sự quản lý được thực hiện. Khi trung tâm điều khiển nằm dưới cơ hoành thì không huyền thuật nào có thể xảy ra. Sinh hồn (animal soul) kiểm soát và hồn thiêng (spiritual soul) tất nhiên không hoạt động.
- Không khí là biểu tượng của sự sống cao siêu, nơi đó nguyên khí Christ thống trị, nơi đó sự tự do được trải nghiệm và linh hồn đạt đến sự biểu lộ đầy đủ. Nó là biểu tượng của cõi bồ-đề, trong khi nước là biểu tượng của cõi tình cảm. (LVHLT, 250)
* Hành khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện; Có thể là người mơ mộng không thực tế; Khả năng buông xả; Thân thiện nhất trong tất cả các yếu tố; Có thể đánh giá quá cao các khả năng trí tuệ; Cần phải có khoảng cách và tính khách quan để khám phá chính mình.
+ Các Dấu hiệu Không khí: Song Tử, Thiên Bình, và Bảo Bình; (Xem Dấu hiệu Hoàng Đạo (Hành - Tứ Đại)
- Giao tiếp. Thông minh. Thích làm việc về mặt tinh thần. Nắm bắt ý tưởng nhanh chóng. Có thể nói hoặc viết hiệu quả. Có quan điểm hợp lý. (Nguồn: Chiêm THNM 4)
+ Không Khí hay Không Gian: Vì trong không gian vô cùng vô tận có chứa đầy đủ địa đại. thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại nên từ đó con người, sinh vật và vạn pháp mới được cấu tạo, hình thành một cách mầu nhiệm. (Nguồn: Phật dậy về các Đại và Tứ Đại tương tác)
+ Không đại - Không khí: ... dạy cho họ biết xương và thịt đó là địa đại, nước mắt và máu đó là thủy đại, khí nóng đó là hỏa đại, sự hô hấp đó là phong đại, cái không khí ở trong mũi đó là không đại và cái sự biết khổ biết vui đó là thức đại....(Nguồn: Kinh Thập Nhất Thiết Xứ dạy)
+ Sáng Tối đối đãi sinh Dao Động = Phong đại sinh Gió: .... Tánh giác thì không đồng khác, nhưng một khi đã phân năng sở thì đồng khác thành rõ ràng. Đồng là hư không, khác là thế giới … Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mờ tối, đối đãi thành ra dao động ===> nên có phong luân nắm giữ thế giới.... có kim luân giữ gìn cõi nước ...có hỏa đại..... có thủy đại. Các đại, gọi chung là Khí thế gian. Phần hình thành Tướng thế gian thấy có sai khác là tùy vào tâm của chúng sinh.
Còn có không đại là phản ánh của Chơn không. Kiến đại là chỗ lưu lộ của Chân như, thuộc năm hiện lượng. Nó chính là phần Năng kiến nói trong luận Khởi Tín, là phần Kiến tinh nói trong kinh Lăng Nghiêm. Thức đại là để biết do đâu có sự phân biệt cảnh... [Kinh Thủ Lăng Nghiêm]
+ Gió: Là phong giới, sự chuyển động, có màu sắc và hình dạng như nói “gió đen,” “gió xoáy,” v.v., tức đã dựa vào màu sắc và hình dạng để chỉ cho gió. (Nguồn: Kinh Thủ LN-Q3- HT Tuyên Hóa)
+ 522. PHONG GIỚI - Thế nào là phong giới? nội phong giới và ngoại phong giới - Đức Phật dậy
Nội phong giới là ở trong thân, được thâu nhiếp ở trong thân những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió, bị chấp thủ bên trong. Đó là những gì? Đó là gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió ngang, gió co thắt lại, gió như dao cắt, gió nhảy lên, gió phi đạo, gió thổi qua tay chân, gió của hơi thở ra, gió của hơi thở vào, tất cả những chất khác tương tự như vậy ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong thân, những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió, được chấp thủ bên trong. Này chư Hiền, đó là nội phong giới.
Ngoại phong giới là lớn, là tịnh, là không đáng tởm. (Nguồn: mục 522- (Trung A Hàm, Kinh Tượng Tích Dụ, Phẩm 3, số 30)
+ Phong thần - Thần gió: Tối thắng dũng mãnh đại phong thần - Nhà xập cây ngã rất kinh người ... Sân hận chiêu cảm tự trầm luân.
Giảng giải: Tối Thắng là tên của vị phong thần (thần gió). Vị thần này khí lực rất lớn, thường thường muốn tranh thắng, rất mãnh liệt, làm việc rất nhanh. Gió có nhiều loại như gió mát, gió ấm, gió này chẳng hại người, lúc thái bình thịnh thế, khi thì mưa, khi thì gió, thời tiết khí hậu điều hòa.
... Chủ thần gió, có thế lực rất lớn, ra oai rất là lợi hại, nhà cửa phòng ốc đều thổi ngã xập, cây cối trốc gốc, khí lực rất mãnh liệt, cho nên nói : ‘’Tối thắng dũng mãnh đại phong thần.’’ Ai có nóng giận tức là thần gió này trợ giúp. Cho nên nói: ‘’Nhà xập cây ngã rất kinh người.’’
‘’Tam Thiền đều sợ tai nạn này.’’ Lửa thiêu đốt đến cõi trời Sơ Thiền, Nước tràn ngập đến cõi trời Nhị Thiền, Gió thổi tan cõi trời Tam Thiền.
... Nạn gió này làm thế nào mà chiêu lại? ‘’Sân hận cảm chiêu tự trầm luân.’’ Vì làm người thì sự nóng giận quá lớn, tuy nhiên tu phước được sinh về cõi trời, nhưng phải thọ thứ quả báo nạn gió này. Gốc sân hận mà không đoạn trừ thì kết quả phải thọ quả báo nạn gió đó. (Nguồn: Google - Drive Giảng Chú Lăng Nghiêm)
+ Phân biệt Phong đại [Gió] với Phong luân - Thành lập khí thế gian nơi Địa cầu:
Phong luân ở dưới cùng,
Bề trên là thủy luân.
Phần nước ở dưới sâu tám ức,
Phần còn lại ngưng kết thành vàng
Thủy luân và kim luân [ Có đường kính mười hai ức - Ba ngàn bốn trăm năm mươi; Chu vi gấp ba lần.]
Giảng: Phong luân - Thể của nó thuộc chất rắn. Giả sử như có một đại Nặc-kiện-na (mahānagna) dùng kim cương ném vào nó thì kim cương sẽ bị vỡ tan mà phong luân vẫn không tổn hoại gì. Vàng, bạc, các chất báu và đất được cấu tạo như vậy đã kết tụ lại nhờ các thứ gió do nghiệp lực tạo ra; và chúng đã tạo thành núi cũng như các đại châu. (Nguồn: Câu Xá luận - BT Thế Thân)
+ Ngũ phước: Đức Phật bảo các vị Tỳ Kheo: "Khi hiền giả thuyết pháp có được năm phước đức:
1- Người ấy lúc sống được trường thọ.
2- Người ấy lúc sống được giàu có, nhiều tiền, nhiều của.
3- Người ấy lúc sống được đoan chánh không sánh được.
4- Người ấy lúc sống được tiếng khen xa nghe.
5- Người ấy lúc sống được thông minh, đại trí. (Nguồn: Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phước Đức Kinh)
+ Phước đức khác Công đức: .... Vi Thứ sử bạch: "Đệ tử có nghe đức Đạt Ma lúc ban sơ hóa độ Lương Võ Đế, vua hỏi rằng: ‘Trẫm trọn đời cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước, có công đức gì?’ Đức Đạt Ma nói: ‘Thiệt không có công đức.’ ... Chư Thiện tri thức! Công đức phải thấy trong tánh mình, chớ chẳng phải tìm ở chỗ cúng dường và bố thí. Bởi vậy phước đức với công đức là khác nhau. Vua Võ Đế không biết Chơn lý, chớ chẳng phải Tổ Sư ta lầm.....còn dài, mời đọc Kinh văn gốc (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Phước đức không bị sân hận chướng ngại. Bạn hằng ngày nổi giận, phước báo bạn tu vẫn còn đó. Phật ở trong kinh nói cho chúng ta biết, A-tu-la phước báo rất lớn. A-tu-la tu thành như thế nào vậy? Đều là ở trong cửa Phật tu phước. Phước đức không thể vượt qua tam giới.
Công đức chính là tâm thanh tịnh - Công đức chính là định tuệ. Bạn thấy trong tâm vừa nổi giận, thì định tuệ lập tức mất ngay, cho nên đốt cháy rừng công đức.
- Công đức mới có thể dứt sanh tử ra khỏi tam giới. .... Nếu như bạn sáng hôm nay mới nổi một cơn giận => Mấy chục năm tu trước đây đều đốt hết, không tính, không còn nữa. Nếu như học Phật, học cả đời, đến lúc sắp mạng chung nổi cơn giận dữ, là tiêu rồi, một lần này công đức gì cũng mất hết, điều này rất đáng sợ, đây đều là sự thật, đều là sự thật. Cho nên Phật khuyên chúng ta tích lũy công đức, nhất định phải tu nhẫn nhục Ba-la-mật, ...Nguồn: (Trích từ Kinh Kim Cang giảng ký - Hòa Thượng Tịnh Không). Xem thêm: Công đức phước đức
+ Phước đức: ... Chư Thiện tri thức! Công đức phải thấy trong tánh mình, chớ chẳng phải tìm ở chỗ cúng dường và bố thí. Bởi vậy phước đức với công đức là khác nhau. Vua Võ Đế (Xây nhiều chùa, cúng dường trai tăng nhiều ... là cầu phước báu - Tu phước ..... (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Trong công đức có phước đức: “Công đức” và phước đức có khác biệt, chúng ta cần phải nhận biết cho rõ ràng. Công là công phu, chính mình phải có công phu tu học chân thật. Công phu thu hoạch được gọi là công đức. Thí dụ trì giới có công, thiền định chính là đức. Bạn trì giới mà được định thì đó gọi là công đức. Nếu bạn trì giới rất tốt, thế nhưng không thể được định, thì trì giới của bạn có được lợi ích gì không? Có! Nhưng trì giới đó của bạn không gọi là công đức gọi mà gọi là phước đức. Bạn trì giới trì được rất tốt, rất tinh nghiêm thì bạn được phước báo của nhân thiên, đời sau hưởng phước, không phải công đức. Công đức có thể đoạn phiền não, có thể chứng được Bồ Đề, còn phước đức thì không thể. ....
Công đức không hề rời khỏi phước đức. Tu phước mà không dính mắc thì chính là công đức. Tu phước mà dính mắc thì đó chính là phước đức. Bạn tu tài bố thí, hy vọng tương lai được giàu có, vậy thì liền biến thành phước đức. Nhưng bạn tu tài bố thí “tam luân thể không”[Không thấy mình thí - Không thấy vật thí - Không thấy người nhận thí], không có bất cứ mong cầu nào thì liền biến thành công đức. Mặc dù bạn không có bất cứ mong cầu nào nhưng ở ngay trong cuộc sống thường ngày của bạn cũng không thiếu bất cứ thứ gì, vì trong công đức có phước đức, nhưng trong phước đức không có công đức...... (Trích từ: Kinh Vô Lượng Thọ Lần 10, năm 1998, tập 14- HT. Tịnh Không chủ giảng)
* Xem thêm còn nhiều nội dung về: Tổng hợp Quả báo về công đức, phước đức khi hành bố thí
+ Ngũ phước: Đức Phật bảo các vị Tỳ Kheo: "Khi hiền giả thuyết pháp có được năm phước đức:
1- Người ấy lúc sống được trường thọ.
2- Người ấy lúc sống được giàu có, nhiều tiền, nhiều của.
3- Người ấy lúc sống được đoan chánh không sánh được.
4- Người ấy lúc sống được tiếng khen xa nghe.
5- Người ấy lúc sống được thông minh, đại trí.
“Do đâu hiền giả thuyết pháp được trường thọ? Do đời trước lúc thuyết pháp, điều nói trước cũng thiện, điều nói giữa cũng thiện, điều nói sau cũng thiện. Điều nói ấy đầy đủ ý nghĩa, quy về chỗ tịch lặng, vô vi. Kẻ hiếu sát nghe pháp này liền dừng lại không sát hại nữa. Do vậy mà được trường thọ.
“Do đâu người thuyết pháp được giàu có, nhiều tiền, nhiều của? ... Kẻ trộm cắp nghe được Kinh liền dừng lại không trộm mà còn bố thí. Do vậy được giàu có.
“Do đâu người thuyết pháp được đoan chánh không sánh được? .... khiến cho người nghe pháp an lành, hòa diệu, sắc mặt vui vẻ, tự sinh mừng rỡ. Do vậy mà được đoan chánh.
“Do đâu người thuyết pháp được tiếng khen xa nghe? ... khiến người nghe pháp kính Phật, kính Pháp, kính Tỳ kheo Tăng. Do vậy mà được nghe danh.
“Do đâu người thuyết pháp được thông minh, đại trí? ... khiến người nghe pháp thấy rõ trí tuệ tuyệt diệu. Do vậy mà được thông minh, đại trí.” (Nguồn: Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phước Đức Kinh)
+ Tu được công đức hay phước đức: “Công đức” và phước đức có khác biệt, chúng ta cần phải nhận biết cho rõ ràng. Công là công phu, chính mình phải có công phu tu học chân thật. Công phu thu hoạch được gọi là công đức. Thí dụ trì giới có công, thiền định chính là đức. Bạn trì giới mà được định thì đó gọi là công đức. Nếu bạn trì giới rất tốt, thế nhưng không thể được định, thì trì giới của bạn có được lợi ích gì không? Có! Nhưng trì giới đó của bạn không gọi là công đức gọi mà gọi là phước đức. Bạn trì giới trì được rất tốt, rất tinh nghiêm thì bạn được phước báo của nhân thiên, đời sau hưởng phước, không phải công đức. Công đức có thể đoạn phiền não, có thể chứng được Bồ Đề, còn phước đức thì không thể. ....
Công đức không hề rời khỏi phước đức. Tu phước mà không dính mắc thì chính là công đức. Tu phước mà dính mắc thì đó chính là phước đức. Bạn tu tài bố thí, hy vọng tương lai được giàu có, vậy thì liền biến thành phước đức. Nhưng bạn tu tài bố thí “tam luân thể không”[Không thấy mình thí - Không thấy vật thí - Không thấy người nhận thí], không có bất cứ mong cầu nào thì liền biến thành công đức. Mặc dù bạn không có bất cứ mong cầu nào nhưng ở ngay trong cuộc sống thường ngày của bạn cũng không thiếu bất cứ thứ gì, vì trong công đức có phước đức, nhưng trong phước đức không có công đức...... (Trích từ: Kinh Vô Lượng Thọ Lần 10, năm 1998, tập 14- HT. Tịnh Không chủ giảng)
+ Phân biệt Công đức và phước đức:
Trong Ngũ Phước, quan trọng nhất là "Chết lành", người già lú lẫn rất phiền phức, chẳng phải tốt đẹp....
Công đức và phước đức khác nhau, chớ nên coi phước đức là công đức. Quý vị làm chuyện tốt, giúp đỡ người khác, đó là phước đức.
Như Đạt Ma tổ sư đến Trung Quốc, Lương Vũ Đế lập cho Phật giáo bốn trăm tám mươi tòa đạo tràng, tự viện, am, đường, hộ trì mấy chục vạn người xuất gia, chiếu cố họ, chính mình rất đắc ý... hỏi đức Đạt Ma: Công đức có lớn hay không?” Đạt Ma tổ sư trả lời bằng một câu: “Trọn chẳng có công đức”
... Công đức là tu hành. Trì giới có công, có công phu sẽ đạt được gì? Đắc Định, đắc Định là đức; có công phu tu Định sẽ khai trí huệ, do Định khai huệ, khai trí huệ là đức. Vì thế, những thứ ấy là thật, chẳng giả, chẳng dính dáng gì đến chuyện quý vị tu bố thí, cúng dường......
Tụng kinh, niệm Phật là công đức chân thật, tu thiện tích đức là chuyện tốt đẹp, phước huệ song tu, như vậy là đúng. (Nguồn: PS Tịnh Không khai thị - Công đức và phước đức)
+ Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng 2 loại: (1)- Nội công đức do bản thân giữ giới, tuân theo giới định tuệ mà thành; (2)- Ngoại công đức do giúp đỡ chúng sanh (và không chấp ngã chấp công) mà thành (công đức vô lậu). Nếu như giúp đỡ mà vẫn còn chấp công, vẫn muốn người khác thấy biết hay ghi nhận thì chỉ còn phước đức hữu lậu.
+ Công đức: ... gồm có chữ “công”, chỉ những gì được tạo lập ở bên ngoài; chữ “đức” chỉ những gì được tích lũy ở bên trong. Thí dụ, quý vị dựng chùa lập miếu, tu sửa cầu đường, mưu cầu hạnh phúc và lợi ích cho mọi người, như vậy gọi là tạo lập “công.” Còn “đức” là nói về sự tình ở trong tâm, ví dụ như quý vị làm một điều gì mà khi trông lên thì không thẹn với trời, trông xuống không hổ với người, ngoài không dối người, trong không dối mình. Những hành động như vậy ở bên ngoài thì lập nên công, ở bên trong thì tạo thành đức hạnh, đó gọi là “công đức.”
Về đức hạnh chúng ta có câu: “Thiện dục nhân kiến bất thị chân thiện”, nghĩa là phàm làm việc thiện mà lại muốn mọi người trông thấy, thì chẳng phải là chân thiện. Đức hạnh thì không ai hay biết, đó mới là đức hạnh. Như muốn mọi người hay biết, thì không phải rồi!
Dược Sư hiểu là Dược là thuốc, Sư là Thày. Vị Phật đây là một thầy thuốc lớn, có thể trị tất cả mọi bệnh tật của con người trong thế gian. Bất kể quý vị bị chứng bệnh nan y gì, nếu được Ngài cứu chữa thì chắc chắn bệnh sẽ hết. Bệnh gì cũng được chữa lành, ở cửa tử mà được hồi sanh, bệnh đáng chết mà được cứu sống. Bởi vậy Ngài mới có tên gọi là “Dược Sư”. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Dược Sư)
+ Công Đức: Công thì phải lập, đức thì phải làm. Thế nào gọi là lập công ? Ví như, trong một trường học, có một vị thầy giáo, tận tâm tận sức đối với trường học, dạy học hết mình, và còn làm những công việc khác, đây tức là công. Đức là làm việc có lợi ích đối với tất cả mọi người, giúp người không cần đền đáp, thi ân bất cầu báo, đây tức là đức. Đức có phân ra đức lớn và đức nhỏ, chẳng phải nói làm đức phải làm lớn, còn đức nhỏ thì không làm. Thế nào gọi là đức nhỏ ? Nghĩa là đối với người khác có lợi ích rất nhỏ, cũng phải làm. Bạn làm được nhiều rồi, thì tánh đức sẽ tự nhiên lớn lên. Nếu bạn không làm, thì vĩnh viễn sẽ chẳng có đức. Do đó « Đạo thì phải hành », tu đạo là phải tu hành, chẳng phải chỉ nói suông tu đạo bằng cái miệng, suốt ngày đến tối nhớ tu đạo, mà chẳng chịu tu hành, đây gọi là « Khẩu đầu thiền » mà thôi, chẳng có ích gì. « Đức thì phải làm », đức thì phải đi làm, chẳng làm thì sẽ không có đức. Cho nên nói: « Đạo thì phải hành, không hành sao gọi là đạo; Đức thì phải làm, không làm sao có đức ».
* Đức có phân ra hiển đức và mật đức. Ví như có thần thông rồi, trong vô hình đi trợ giúp hết thảy chúng sinh, mà họ đều không biết, đây gọi là mật đức (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Hoa Nghiêm-T25)
+ Công đức - Phước đức: .... Vi Thứ sử bạch: "Đệ tử có nghe đức Đạt Ma lúc ban sơ hóa độ Lương Võ Đế, vua hỏi rằng: ‘Trẫm trọn đời cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước, có công đức gì?’ Đức Đạt Ma nói: ‘Thiệt không có công đức.’ Đệ tử chưa hiểu thấu lẽ ấy, xin Hòa Thượng giải cho."
Sư nói: Thiệt không có công đức. Chớ nghi lời của Thánh nhơn đời trước. Võ Đế lòng tà, không biết chánh pháp. Cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước, ấy gọi là cầu phước. Không thể lấy phước mà kể là công đức được. Công đức ở trong Pháp thân, chớ chẳng phải ở chỗ tu phước.
Sư lại nói: Thấy tánh là công, giữ lòng bình đẳng là đức. Niệm niệm tâm không ngưng trệ, thường thấy Bổn tánh, diệu dụng chơn thật, ấy gọi là công đức. Bên trong giữ lòng khiêm hạ là công, bên ngoài hành động theo lễ là đức. Tánh mình lập ra muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức. Chẳng lìa tánh mình là công, ứng dụng không nhiễm trần là đức. Muốn tìm cái công đức Pháp thân, thì phải y theo đây mà tu hành. Thế mới là thiệt có công đức..... Chư Thiện tri thức! Công đức phải thấy trong tánh mình, chớ chẳng phải tìm ở chỗ cúng dường và bố thí. Bởi vậy phước đức với công đức là khác nhau. Vua Võ Đế không biết Chơn lý, chớ chẳng phải Tổ Sư ta lầm.....còn dài, mời đọc Kinh văn gốc (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Công đức chính là tâm thanh tịnh. Nếu như dùng danh từ pháp tướng Phật pháp để nói, thì công đức chính là định tuệ. Bạn thấy trong tâm vừa nổi giận, thì định tuệ lập tức mất ngay, cho nên đốt cháy rừng công đức.
- Công đức mới có thể dứt sanh tử ra khỏi tam giới. Cái này chúng ta nhất định phải hiểu rõ, phải sáng tỏ. Công đức là rất vô cùng không dễ dàng. Ở trong tâm hơi có một chút xíu không vui thì công đức đều không có.
- Nếu như bạn sáng hôm nay mới nổi một cơn giận, thì công đức của bạn cũng chẳng qua là mấy giờ mà thôi. Mấy chục năm tu trước đây đều đốt hết, không tính, không còn nữa. Nếu như học Phật, học cả đời, đến lúc sắp mạng chung nổi cơn giận dữ, là tiêu rồi, một lần này công đức gì cũng mất hết, điều này rất đáng sợ, đây đều là sự thật, đều là sự thật.
- Cho nên Phật khuyên chúng ta tích lũy công đức, nhất định phải tu nhẫn nhục Ba-la-mật, thì công đức của bạn mới có thể tích lũy lại được. Tích lũy công đức là rất khó, rất khó, không phải ta vẻ bề ngoài không nổi giận, ở trong tâm có một chút không vui thế cũng không được. Ở trong tâm hơi có một chút không vui là công đức không còn. Công đức này khó, vô cùng, vô cùng khó tu.
+ Trong công đức có phước đức: “Công đức” và phước đức có khác biệt, chúng ta cần phải nhận biết cho rõ ràng. Công là công phu, chính mình phải có công phu tu học chân thật. Công phu thu hoạch được gọi là công đức. Thí dụ trì giới có công, thiền định chính là đức. Bạn trì giới mà được định thì đó gọi là công đức. Nếu bạn trì giới rất tốt, thế nhưng không thể được định, thì trì giới của bạn có được lợi ích gì không? Có! Nhưng trì giới đó của bạn không gọi là công đức gọi mà gọi là phước đức. Bạn trì giới trì được rất tốt, rất tinh nghiêm thì bạn được phước báo của nhân thiên, đời sau hưởng phước, không phải công đức. Công đức có thể đoạn phiền não, có thể chứng được Bồ Đề, còn phước đức thì không thể. ....
Công đức không hề rời khỏi phước đức. Tu phước mà không dính mắc thì chính là công đức. Tu phước mà dính mắc thì đó chính là phước đức. Bạn tu tài bố thí, hy vọng tương lai được giàu có, vậy thì liền biến thành phước đức. Nhưng bạn tu tài bố thí “tam luân thể không”[Không thấy mình thí - Không thấy vật thí - Không thấy người nhận thí], không có bất cứ mong cầu nào thì liền biến thành công đức. Mặc dù bạn không có bất cứ mong cầu nào nhưng ở ngay trong cuộc sống thường ngày của bạn cũng không thiếu bất cứ thứ gì, vì trong công đức có phước đức, nhưng trong phước đức không có công đức...... (Trích từ: Kinh Vô Lượng Thọ Lần 10, năm 1998, tập 14- HT. Tịnh Không chủ giảng)
* Xem thêm còn nhiều nội dung về: Tổng hợp Quả báo về công đức, phước đức khi hành bố thí
+ Trí - Huệ: Nếu quý vị có trí thì giống như có thái dương/ Ngoài, có huệ giống như trăng sáng/ Trong tâm. Trí Huệ bát nhã thường chiếu sáng trong ngoài thân tâm, trong ngoài đều sáng suốt giống như lưu ly, vạn pháp trong tự tánh vốn trong sáng. Quý vị nhận biết bổn tâm của mình, thấy được bổn tánh, thì cũng giống như trời xanh không mây ... chính là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Lục Tổ Đàn Kinh)
+ Tu huệ: ... Có những người thì lại có trí nhớ rất tốt, chỉ xem qua một lần là không bao giờ quên. Họ vừa thông minh vừa khoẻ mạnh, và còn có biện tài vô ngại; khi họ thuyết Pháp thì có hiện tượng "trời mưa hoa xuống, đất trồi sen vàng" xảy ra => Là vì khi xưa họ đã từng tu huệ rất nhiều!
Làm thế nào để tu huệ và tu từ đâu? Trước hết, hãy bắt đầu từ Ðại Thừa, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa, nghiên cứu Tam Tạng cho thật thấu đáo, cho tới mức viên mãn, miệng có thể đọc thuộc, tâm có thể nghĩ suy. Sáng cũng như chiều, ngày ngày dùi mài Tam Tạng cho làu thông, thấu triệt, thì đại trí huệ khai mở, kiếp sau nhất định sẽ vừa thông minh vừa biện tài. [HT Tuyên Hóa: Tu đạo cần quý phước - Cầu huệ ]
+ Bát Nhã: ... Đây là nguyên khí (principle) giúp cho sự Giác Ngộ (Enlightement) có thể xảy ra nơi chúng ta cũng như nơi Đức Phật (Buddha). Không có trí huệ thì không thể có sự giác ngộ, đó là quyền năng tâm linh cao siêu nhất (highest spiritual power) mà chúng ta có được. Trí tuệ (the intellect) ... có hoạt động tương đối của nó ...Trước khi được giác ngộ, Đức Phật chỉ là một con người bình thường và chúng ta, tức những người bình thường, sẽ trở thành Phật vào lúc mà con mắt trí tuệ (mental eyes) của chúng ta mở ra cho sự Giác Ngộ. (TTTĐTG, 188)
- Pragna đồng nghĩa với Mahat, Toàn Linh Trí (Universal Mind). Năng lực nhận thức. Tâm thức . (NGMTTL, 259)
- Pragna là minh triết riêng của các Dhyan Chohans.
+ Trí Huệ/ Bát nhã: Tiếng Bát Nhã Ba La Mật. "Bát Nhã" là tiếng Phạn (Prajna); Trung Hoa dịch là "trí huệ." Trí Huệ lại phân ra Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Trí, cũng gọi là Thế Trí Biện Thông. Những tiến bộ về khoa học, triết học hiện nay cùng tất cả các kiến thức, đều là học vấn của thế gian. Khả năng biện luận thông minh, nhạy bén về các việc thế gian, dù không có lý cũng có thể nói thành có lý - đó gọi là Thế Trí Biện Thông.
Xuất Thế Gian Trí tức là trí huệ của xuất thế gian. Siêng năng cầu Phật Ðạo, nghiên cứu Phật Pháp không bao giờ ngơi nghỉ, thậm chí lúc ngủ cũng tư duy đến Phật Pháp, chiêm bao cũng suy nghĩ đến Phật Pháp, và cho dù ốm đau bệnh hoạn, bất kỳ lúc nào cũng nghĩ đến Phật Pháp - đó chính là chân chánh tu tập trí huệ xuất thế vậy.
Vậy thì trí huệ xuất thế gian và trí huệ thế gian rốt cuộc là một hay là hai thứ khác nhau? Ðó vốn chỉ là một, nhưng còn phải xem quý vị sử dụng nó như thế nào - dùng vào chuyện thế gian thì nó là trí huệ thế gian, dùng ở Phật Pháp xuất thế thì nó là trí huệ xuất thế.
Trí huệ hoàn toàn không có hai, mà chỉ phân ra để giảng thôi. Ban đầu, quý vị nghiên cứu các vấn đề của thế gian và biết được tất cả mọi thứ trên cõi đời này đều là Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Rồi sau đó, nếu quý vị dùng cái trí hiểu biết về việc thế gian ấy để nghiên cứu học vấn xuất thế, thì đó cũng chính là trí huệ xuất thế vậy. Cho nên, Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Trí vốn không phải là hai.
Ða số người đời chỉ có trí huệ thế gian chứ không có trí huệ xuất thế gian; song cũng có người lại có trí huệ xuất thế gian mà không có trí huệ thế gian. Vì sao lại có sự như thế? Có nhiều người rất thông minh nhưng cứ làm toàn những việc hồ đồ - chuyện không cần thiết thì tận lực mà làm, còn việc quan trọng như vấn đề sanh tử thì lại thờ ơ, chẳng để ý đến và cũng chẳng muốn tìm hiểu. Ngoài ra, cũng có người nghiên cứu vấn đề xuất thế nhưng lại không hiểu gì về pháp thế gian cả. Chúng ta cần phải hiểu rõ cả pháp nhập thế lẫn pháp xuất thế:
Nhập thế mà xuất thế, xuất thế mà nhập thế - sự nhập thế và xuất thế cần phải thông đạt vô ngại. Nếu quý vị hiểu rõ thì nhập thế cũng chính là xuất thế; nhược bằng không hiểu thì cho dù là xuất thế cũng trở thành nhập thế vậy!
Cổ nhân có câu:
(Thông minh sáng dạ nhờ âm đức,
Âm đức dẫn lối tới thông minh,
Thông minh nếu chẳng tin âm đức,
Ấy thông minh phản, thông minh hại)
(thông minh sáng dạ nhờ âm đức). Chúng ta nhờ đâu mà có được trí thông minh? Ðó là nhờ đời trước chúng ta làm được nhiều việc "âm trắc." Việc "âm trắc" là gì? Ðó là những việc nhân đức được thực hiện một cách âm thầm với lòng hảo tâm thật sự, chứ không phải với mục đích khoe khoang, hoặc để cho người khác thấy. Chẳng hạn có người cảnh nhà đơn chiếc, chết mà không có quan tài để chôn, quý vị động lòng trắc ẩn bèn mua cho người đó một cỗ áo quan, rồi lo khâm liệm và chôn cất tử tế; tuy làm được một việc tốt, đáng khen, nhưng quý vị không khoe khoang, không tiết lộ với ai cả - như thế là có âm đức vậy.
Tóm lại, quý vị ngầm giúp đỡ hoặc làm những việc có lợi cho người khác, song quý vị không kể lể lôi thôi, không để cho ai biết cả, thì đó gọi là "âm trắc." Ðời trước làm nhiều việc âm trắc thì đời này được thông minh; đời trước xem nhiều sách về Phật Học, tụng nhiều kinh điển Phật Giáo, như tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật được vài vạn biến, thì đời này cũng được thông minh, sáng dạ. Ngoài ra, nếu đời trước đọc sách nhiều, chịu khó nghiên cứu sách vở để học hỏi, thì đời này cũng được trí óc minh mẫn. Như vậy, trí thông minh chính là đến từ âm trắc - do đời trước đã tu nhân tích đức, tạo được nhiều âm đức, cho nên đời này mới được thông minh tài trí hơn người.
(âm đức dẫn lối tới thông minh). Nhờ có đức hạnh cho nên quý vị mới được thông minh; do đó có thể nói rằng chính đức hạnh đã dẫn dắt quý vị tới con đường thông minh vậy.
(thông minh nếu chẳng tin âm đức,/ ấy thông minh phản, thông minh hại). Nếu đời này quý vị được thông minh, nhưng vì quên lãng nên quý vị không đi theo đường ngay nẻo phải, không tin âm đức, không làm việc thiện, chỉ cậy vào trí thông minh của mình để mưu đồ việc xấu, thì chính cái trí thông minh của quý vị sẽ hại quý vị vậy. Vì sao ư? Bởi nếu không thông minh thì quý vị sẽ không làm được nhiều việc xấu! Chính vì thông minh lanh lợi cho nên quý vị mới biết được những điều mà kẻ khác không thể nào ngờ tới; do đó, cho dù quý vị làm điều mờ ám hoặc ám hại người khác, thì nhờ khôn khéo, quý vị vẫn không bị ai nghi ngờ hoặc phát giác ra được. Cho nên, sử dụng trí thông minh mà không tin là có âm đức, thì cái trí thông minh đó sẽ trở thành chướng ngại, và là thứ "thông minh có hại" vậy! (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng Kinh Địa Tạng)
+ Trí Huệ: Chư Thiện tri thức! Trí như mặt nhựt, Huệ như mặt nguyệt. Trí huệ thường sáng, nhưng bởi tâm dính níu cảnh vật ở ngoài, rồi bị mây vọng niệm của mình che án tánh mình, nên trí huệ chẳng đặng tỏ sáng. Nếu gặp Thiện tri thức, nghe người giảng chánh pháp, rồi tự mình dứt các điều mê vọng, trong ngoài sáng thấu, thì trong tánh muôn pháp đều hiện ra rõ ràng. Người thấy tánh cũng giống như thế. Ấy gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật. (Giảng: Nếu quý vị có trí thì giống như có thái dương, có huệ giống như trăng sáng. Tuy trí huệ Bát nhã thường thường chiếu sáng, nhưng nếu chấp trước cảnh giới bên ngoài thì bị phù vân vọng niệm che phủ tự tánh, trở thành ngu si mà không đắc được đại trí huệ). ..... Quý vị nhận biết bổn tâm của mình, thấy được bổn tánh, thì cũng giống như trời xanh không mây, cho nên nói: "Tâm bình bách nạn tán, ý định vạn sự kiết." Nếu tâm bình thì nạn tai nào cũng không có, ý nếu định thì việc gì cũng kiết tường. Lại nữa, tâm thanh tịnh hiện tiền giống như trời xanh không mây: "Tâm thanh thủy hiện, ý định thiên vô vân." Lại nói: "Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú quý, tư dục đoạn tận chân phước điền."........
Quý vị đối với Lục Tổ Đại sư nên có nhận thức chân chánh, Lục Tổ Đại sư chính vì không giải đãi, mà nỗ lực hành trì, cho nên Ngài mới có thể giác ngộ. Sau khi khai ngộ Ngài thuyết Lục Tổ Đàn Kinh. Tuy Ngài không biết chữ, nhưng cái không biết chữ này là trí huệ của thế gian. Mà Ngài nhận thức hiểu rõ tự tánh, minh tâm kiến tánh, cho nên sử dụng đại trí huệ vốn có. Kinh điển mà Ngài thuyết ra, là từ quang minh trí huệ nói ra, cho nên giá trị của bộ kinh này thì không thể so sánh được. Kinh này và kinh Phật nói thì giống nhau, vì thế chúng ta không nên nói vì Ngài không biết chữ, liền sanh tâm khinh mạn. Sau khi giảng xong Lục Tổ Đàn Kinh, tôi hy vọng các vị đối với điều này cần nên triệt để hiểu rõ. (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
5. Người Aryan – Người Thông Minh: Những Phàm ngã đã phát triển (EP II 26): Ở những người tiến hóa hơn ... chúng ta có sự hoạt động của thể trí; ... được tìm thấy ở một quy mô lớn trong nền văn minh phương Tây của chúng ta. Năng lượng của cung của thể trí bắt đầu đổ vào, và từ từ tự khẳng định mình. Khi điều này xảy ra, bản chất dục vọng được đưa vào sự kiểm soát, và do đó bản chất vật chất có thể rõ ràng trở thành khí cụ của các xung lực trí tuệ. Ý thức não bộ bắt đầu tổ chức và việc tập trung năng lượng bắt đầu chuyển dần ra khỏi các luân xa thấp vào các luân xa cao hơn. Nhân loại đang phát triển "ý thức Arya" và đang đạt tới sự trưởng thành. Trong những người tiên tiến hơn của thế giới, chúng ta cũng có sự tích hợp của phàm ngã và nổi bật lên thành sự kiểm soát rõ ràng của cung phàm ngã, với tính chất tổng hợp của nó, sự thu hút cố kết của ba thể và sự phối hợp của chúng thành một đơn vị hoạt động. Về sau, phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn nội tại. 26 (GQ1.1,Các trích dẫn EPII,22)
* Kinh Phân Biệt Ðại Nghiệp: ... Này A Nan, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn không có ác nghiệp, không có quả báo ác hạnh, chắc chắn không có thiện nghiệp, không có quả báo thiện hạnh". Như vậy Ta không chấp nhận cho vị ấy". Này A Nan vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn có ác nghiệp, có quả báo ác hạnh; chắc chắn có thiện nghiệp, có quả báo thiện hạnh". Như vậy Ta chấp nhận cho vị ấy.
Này A Nan, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người sát sinh, lấy của không cho... có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục". Như vậy Ta chấp nhận cho vị ấy. Nếu vị ấy nói: "Chắc chắn tất cả những ai sát sinh, lấy của không cho... có tà kiến, tất cả đều sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục". Như vậy Ta không chấp nhận cho vị ấy.
Này A Nan, nếu vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người sát sinh, lấy của không cho... có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này". Như vậy Ta chấp nhận cho vị ấy. Nếu vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả những ai sát sinh, lấy của không cho... có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, tất cả đều sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này". Như vậy Ta không chấp nhận cho vị ấy".
Này A Nan, nếu vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào thiện thú thiên giới, cõi đời này". Như vậy Ta cũng chấp nhận cho vị ấy. Nếu vị ấy nói: "Chắc chắn tất cả những ai từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung tất cả đều sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này". Như vậy Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy.
Này A Nan, nếu vị ấy nói: "Tôi đã thấy ở đây có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục". Như vậy Ta chấp nhận cho vị ấy. Nếu vị ấy nói: "Chắc chắn tất cả những ai từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung tất cả đều sinh vào cõi dữ ác thú, địa ngục". Như vậy Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy.
Này Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, có khả năng đưa đến lạc thọ, nó sẽ cảm giác lạc thọ; nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến khổ thọ, nó cảm giác khổ thọ, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến bất khổ bất lạc thọ, nó cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
Này A Nan, người nào sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến, sau khi mạng chung, nó sinh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Hoặc là một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do nó làm từ trước, hay do nó làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà kiến được nó chấp nhận và chấp chặt. Do vậy nó sinh vào cõi dữ, nó phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại trong một đời khác. Này A Nan, người nào sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến sau khi mệnh chung được sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Hoặc là một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do nó làm từ trước, hay do nó làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một chánh kiến được nó chấp nhận và chấp chặt. Do vậy nó sinh vào thiện, có phải thọ quả báo được khởi lên ngay trong hiện tại hay trong một cuộc đời khác.
(Ðoạn này ý nói một người: phải thọ quả báo dữ ngay trong hiện tại hay trong một đời khác bởi các nghiệp ác của họ tạo ra từ trước, hay tạo ra về sau, hay tạo ra vì là ác niệm khởi lên trong giờ phút lâm chung. Trái lại, có những người cả đời tạo nghiệp ác nhưng do thiện nghiệp của họ tạo ra từ trước, hoặc tạo về sau, hoặc trong giờ phút lâm chung mà khởi lên chánh kiến hướng về điều thiện, thì họ tạo được thọ quả bảo vui ngay trong hiện tại hay trong một đời khác chớ không phải thọ khổ. Ðây là trường hợp làm ác mà thọ vui vậy. Kinh còn dạy về người làm lành được sinh thiện thú, thiên giới, cõi đời này, nhưng cũng có người làm lành mà phải đọa ác thú, địa ngục, ý nghĩa cũng tương tự như vừa giải thích trên đây. Ðó là do trong giờ phút lâm chung họ khởi lên tà kiến hướng về việc ác, và cái ác niệm này rất mạnh nên phải bị đọa lạc. Bởi nghiệp do tâm tạo, trong giờ lâm chung tâm khởi lên chánh kiến thiện niệm hoặc tà kiến ác niệm mạnh hơn các nghiệp đã tạo ra lúc sống, thì các nghiệp này sẽ chuyển theo tâm niệm khi lâm chung mà thọ báo). (Nguồn: Kinh Phân Biệt Đại Nghiệp)
+ Chánh đạo và Tà đạo theo Phật dậy:
3) - Này các Tỷ-kheo, Vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ/ Lục nhập; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà đạo.
4) Và này các Tỷ-kheo, do ly tham, đoạn diệt vô minh (Làm hiển Minh Giác) một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ/ Lục nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt, đây gọi là chánh đạo. (Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Mười hai nhân duyên)
+ Chánh đạo: Là những Thiện tri thức, nghiêm trì ngũ giới, cao hơn là hàng trăm giới luật trong nhà phật quy định, thành tựu thập thiện và Bát chánh đạo. Vài đặc điểm chánh rễ nhận biết như HT Tuyên Hóa giảng: Nếu quý vị lấy sáu đại tông chỉ nầy làm cơ sở, và rèn luyện thân tâm, tức quý vị sẽ được tự do sanh tử. Lục Đại Tông Chỉ là:
1 - Không tranh: Không tranh là kể cả không nổi nóng. Một chút nóng giận cũng không được. Với ai mình cũng không phát cáu. Không nổi nóng thời phiền muộn vô minh cũng sẽ giảm bớt đi. Phiền não dứt rồi thì trí huệ sẽ phát sanh, và chúng ta cư xử với mọi người bằng tấm lòng từ bi.
2 - Không tham: Không tham tài cũng không tham sắc; không tham danh cũng không tham lợi, cái gì mình cũng không tham muốn. Mà hãy nên: Anh cần cái gì thì tôi sẽ cho anh cái ấy.
3 - Không cầu: Không truy cầu bên ngoài, những thứ không nên có thì mình tuyệt đối không cần đến.
4 - Không ích kỷ: Nguyên nhân chúng ta không thể thành Phật và bị đọa xuống tam ác đạo cũng là vì tự tư ích kỷ. Nếu chúng ta không có lòng ích kỷ, thời bất kỳ tội nghiệp gì cũng không có.
5 - Không tự lợi: Chúng ta không nên vì lợi ích cá nhân mà bất chấp thủ đoạn để làm lắm chuyện phi pháp, hoặc làm những việc tổn hại đến kẻ khác.
6 - Không vọng ngữ: Tức là nói thật. Chúng ta tuyệt không dối gạt kẻ khác, hay nói những lời nghe như thiệt nhưng lại là giả.
Tại Vạn Phật Thành, tất cả mọi người đều nói về Lục Đại Tông Chỉ nầy. Ai có thể thực hành theo một cách đầy đủ thì người đó sẽ ra khỏi tam giới, sẽ thành Phật. Bất luận làm việc gì, nếu quý vị có thể giữ đúng theo Lục Đại Tông Chỉ thì quý vị sẽ không tạo nghiệp đâu. Đó là điều kiện tối cơ bản để thành Phật. Nếu chúng ta có thể làm được thì thế giới sẽ được thái bình. Khi người và người không có sự tranh giành với nhau, thế giới nầy làm sao mà không hòa bình cho được. Giữa người và người không có sự tham lam, như tôi không muốn những gì của quý vị, cũng chẳng tham các tài vật không chánh đáng, tức lúc đó mọi người sẽ cùng nhau chung sống trong hòa bình. Một khi mọi người đều không tham, không cầu, không tranh, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ, thì thế giới tự nhiên sẽ hòa bình và vĩnh viễn sẽ không có sự phân tranh. Quý vị là những người học Phật, trước tiên hãy nên nhận thức rõ ràng về những điều kiện cơ bản nầy. Như vậy đối với việc học Phật, quý vị mới được nhiều lợi ích lớn lao.
Bậc Thiện tri thức luôn thành tựu các Đại Tông chỉ này. Người xuất gia nếu không thành tựu các Đại tông chỉ trên thì không phải đệ tử Phật theo đúng nghĩa Chánh đạo, không chân thật hộ trì Chánh pháp - Rễ vào ngoại đạo, thậm trí tà đạo. (Nguồn: Xem bài giảng đầy đủ của HT Tuyên Hóa)
+ Kẻ ngu - Người không phân biện - Không biết phân biện - Không phân biệt - Không biết phân biệt - Không biết phải trái - Đúng sai - Tốt xấu - Lành dữ ...
X. Phẩm Kẻ Ngu
1.- Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng chưa đến và người không mang gánh nặng đã đến. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
2. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người mang gánh nặng đã đến và người không mang gánh nặng chưa đến. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
3. Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là không hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
4. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không hợp pháp đối với việc không hợp pháp, và người tưởng là hợp pháp đối với việc hợp pháp. Hai người này, này các Tỷkheo, là hai bậc hiền trí.
5. Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là có phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này các Tỷkheo, là hai kẻ ngu.
6. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là không phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là phạm tội đối với việc có phạm tội. Hai người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
7. Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
8. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
9. Này các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng luật đối với việc phi luật, và người tưởng là phi luật đối với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.
10. Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là phi luật đối với việc phi luật, và người tưởng là đúng luật đối với việc đúng luật. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.
11. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người không lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
12. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người không lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người lo lắng những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
13. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc không đúng phép, và người tưởng là không đúng phép đối với việc đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
14. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng phép đối với việc đúng phép, và người tưởng là không đúng phép đối với việc không đúng phép. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
15. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc không phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc có phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
16. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là có phạm tội đối với việc có phạm tội, và người tưởng là không phạm tội đối với việc không phạm tội. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
17. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
18. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc phi pháp. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.
19. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc phi luật, và người tưởng là phi luật đối với việc đúng luật. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng.
20. Trong hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng người nào? Người tưởng là đúng luật đối với việc đúng luật, và người tưởng là phi luật đối với việc phi luật. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng.(Nguồn: Phẩm Kẻ Ngu - Kinh Tăng Chi Bộ)
+ Ba loại lửa: Sự sống nội tại Tinh hoa Thượng Đế (THTĐ) biểu lộ (LVLCK, 124)
- Lửa: Lửa Điện. Tinh thần. THTĐ Ngôi 1
- Linh hoạt- Ý chí - Nhiệt: Lửa thái dương.Tâm thức. TĐ N2 (Lưỡng nguyên)
- Chuyển động: Lửa do ma sát. Vật chất. THTĐ Ngôi 3
+ Lửa Đại Thiên Địa - Thái Dương hệ của (TĐ) biểu lộ
- TĐN 1: .... Lửa …Điện - Ý muốn L.hoạt/ ý chí hiện tồn
- TĐN 2:…. Nhiệt….Thái dương - L.Nguyên, Bác ái giữa 2
- TĐN 3:..Chuyển động...Lửa trí tuệ..... Lửa do ma sát
+ Biểu lộ nội tại Đại Thiên Địa
- Thái dương …......…. Ý chí hay quyền năng
- Kim tinh & Thuỷ tinh.... Bác ái và Minh triết
- Thổ tinh (Saturn)… Hoạt động hay Thông tuệ
+ Biểu lộ ngoại cảnh của Tiểu thiên địa
- Chân thần….Lửa điện……….. Ý chí - Quyền năng.
- Chân ngã…. Lửa thái dương...Bác ái và Minh triết
- Phàm ngã… Lửa do ma sát….Hoạt động/Thông tuệ.
+ Tiểu thiên địa - Biểu lộ bên trong
- Thể hạ trí……..Ý chí hay quyền năng …... Lửa
- Thể cảm dục...Bác ái - Minh triết …….…. Nhiệt
- Thể xác .… Hoạt động thông tuệ... Chuyển động
+ Biểu lộ với Thể xác
- Lửa điện: Não bộ .... Chân thần…Ý chí - Quyền năng.
- Lửa Thái dương: Tim ........ Chân ngã….Bác ái - Minh triết.
- Lửa ma sát: Cơ quan thấp...Phàm ngã…H. Động Thông tuệ.
+ Lửa trong việc biểu lộ:
- Lửa linh hoạt tức là prana (sinh khí).
- Lửa tiềm tàng tức là thân nhiệt. …
Khi tiềm hỏa phàm ngã phối hợp lửa của trí tuệ/ Chân Ngã + Lửa Thiêng = Điểm đạo lần 5, hoàn tất chu kỳ lớn (LVLCK, 47)
+ Bí nhiệm của Nước và Lửa: ... Bí nhiệm này của điện, chủ yếu là có tính tam phân, liên quan đến Brahma hay trạng thái thứ ba, còn có những tên sau:
1. Bí mật của Brahma - 2. Sự hiển lộ của Đức Mẹ - 3. Bí mật của Lực Fohat - 4. Bí nhiệm của Đấng Tạo Hoá - 5. Bí mật của Ba phát xuất từ (thái dương hệ) thứ Nhất, và cũng được gọi bằng bốn nhóm từ thần bí, mang nhiều ánh sáng đến cho trực giác:
6. Con Tàu Bí nhiệm vượt Đại dương.
7. Chìa khoá của Kho tàng Thiêng liêng.
8. Ánh sáng Hướng dẫn qua ba động U minh.
9. Đầu mối đưa đến Năng lượng kết hợp Lửa và Nước.
[172] Trong tất cả các tên gọi này có nhiều kiến thức sẽ đến với người môn sinh suy gẫm chúng cẩn thận, nhớ rằng chúng chỉ về trạng thái Brahma ở mức biểu hiện thấp nhất ... (Nguồn: Điểm đạo trong nhân loại ... Chương XVI)
Xem: Tổng hợp về lửa càn khôn
Xem: Tóm Lược sách Luận Về Lửa Càn Khôn
+ Chú Thủy - Trì Chú Vào Nước Tịnh Thủy - Không có vi trùng
Trong Thần Chú Dược Sư Quán Đỉnh Chân Ngôn :
Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong Kinh, Đức Phật Thích Ca nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhất tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sinh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng: chú này được gọi là "Quán Đỉnh" là nói chú này do nơi đỉnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đỉnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy (Xem Giá trị và Ý nghĩa Thần Chú)
+ Chú Thủy chữa bệnh - Đức Phật cho phép: A Nan Đà Hỏi Đức Phật: Tì-kheo bị bệnh thủng được phép nhờ người niệm thần chú để chữa trị không? Đức Phật đáp: Được.
Chú giải: Thủng là căn bệnh do các khí hàn và nhiệt kết tụ lại mà thành, tức do phong đại không điều hòa mà sinh. Nếu tì-kheo bị bệnh này, thường thì cho uống thuốc để khí lưu thông. Trong nội giáo có pháp Chú thủy có thể dùng để trị bệnh này chăng? Đức Phật cho phép. Bởi duyên khởi sâu xa của bệnh này là do tâm vọng tưởng điên đảo mà sinh, thần chú có thể giúp tiêu trừ vọng tưởng. Trong kinh “Quán đỉnh” ghi: “Gia trì một trăm lẻ tám biến thần chú vào nước không có vi trùng, rồi cho người bệnh uống, thì tất cả bệnh khổ đều tiêu trừ”, chính là ý này. (Xem nguồn - Phần 9 - Phẩm hỏi về bệnh tật )
+ Dùng Nước Đại Bi chữa bệnh (Câu thần chú số 42. Hô lô hô lô hê rị - Tay Ấn Pháp số 3 - HT Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi)
Hô lô hô lô. Hán dịch là “tác pháp vô niệm” cũng dịch là “tác pháp tự tại”. Trong câu chú Hô lô hô lô ma ra đã giảng ở trước có nghĩa là “tác pháp như ý”, khi tác pháp vẫn còn khởi lên ý niệm. Còn trong câu chú Hô lô hô lô hê rị thì vắng bặt sự khởi niệm khi tác pháp. Nếu khi hành trì ấn pháp này, mà còn khởi niệm tức là còn vọng tưởng. Nếu hành giả không khởi niệm, tức là không còn vọng tưởng nên đạt được khả năng “tác pháp tự tại” và trở thành người có năng lực Quán Tự Tại. Đó chính là vị Bồ tát thường quán sát âm thanh ở thế gian để cứu độ một cách tự tại, Bồ tát Quán Thế Âm.
Câu chú này là Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, là ấn pháp thứ ba trong số bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Ấn pháp này có công năng giải thoát cho chúng sanh khỏi những tai ương bệnh hoạn.
Các vị xuất gia khi gặp người bệnh, trì chú này vào trong ly nước, cho người bệnh uống thì có thể được khỏi bệnh. Nếu bệnh không lành, thì phải quán sát lại toàn bộ nhân duyên. Nếu gặp duyên lành, khi quý vị uống nước có trì chú Đại Bi thì liền được lành bệnh, là do đã đặt hết niềm tin vào Bồ tát Quá Thế Âm. Nếu không được lành bệnh, có thể là do quý vị thiếu lòng tin nơi Bồ tát.
Sự thực là như vậy, nay tôi sẽ truyền pháp này cho quý vị luôn. Để cho ly nước có trì chú Đại Bi, có được năng lực như vậy, quý vị không cần phải trì tụng toàn văn bài chú này, mà chỉ cần trì tụng câu Hô lô hô lô hê rị năm lần rồi dùng tay kiết ấn ba lần búng vào phía trên ly nước. Rồi trao cho người bệnh uống sẽ được khỏi hẳn. Có khi bệnh không lành, có khi bệnh lành hẳn. Tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên giữa hành giả và người bệnh. Nếu quý vị có nhân duyên sâu dày với người bệnh, thì khi họ uống xong nước có trì chú Đại Bi liền được khỏi bệnh. Còn nếu người bệnh không có duyên với hành giả, thì dù họ có uống nước đã trì chú, nhưng vì họ không có niềm tin ở Bồ tát Quán Thế Âm, thì bệnh họ không được lành hẳn.
Nói chung có vô lượng nhân duyên để tạo thành pháp duyên cơ bản này. Nếu người bệnh đã có công phu hành trì và phát tâm chí thành, khi uống nước có trì chú vào là liền khỏi bệnh. Còn nếu quý vị có tu tập nhưng thiếu lòng chí thành, thiếu sự tin tưởng vào chú Đại Bi thì dù uống nước đã trì chú cũng chẳng ích lợi gì. Còn nếu quý vị có tâm chí thành và dù không tu tập đi nữa, thì khi uống nước đã trì chú cũng có được sự lợi ích. Những người vốn đã tạo nghiệp chướng sâu dày, nếu được uống nước đã trì chú vào thì không đủ tạo nên năng lực để chuyển hóa bệnh của họ. Còn nếu người có nghiệp nhẹ khi uống nước đã trì chú vào thì có thể phát sinh năng lực to lớn. Đó là năng lực do thường xuyên trì niệm chú Đại Bi, đã tạo ra một năng lực cảm ứng đạo giao. Chính năng lực này đã chữa lành bệnh.
Thế nên bất luận trường hợp nào, có trùng trùng duyên khởi quyết định sự thành công. Đừng nghĩ rằng: “Tôi đã hành trì Bảo bát thủ nhãn ấn pháp, tôi đã trì chú Đại Bi vào trong nước, tại sao chẳng có chút nào hiệu nghiệm?”
Đó chẳng phải là nước trì chú Đại Bi không có hiệu nghiệm. Chỉ vì công phu của quý vị chưa được đắc lực, nên hiệu quả không được bao nhiêu.
Có một số phái ngoại đạo cũng dùng pháp trì chú Đại Bi vào nước để chữa bệnh và đạt được công hiệu linh ứng. Đó là vì họ có sự trợ giúp của loài thiên ma khiến cho người được lành bệnh tin vào họ, rồi dẫn dắt vào hàng quyến thuộc của thiên ma ngoại đạo. Vì thế, tuy cũng hành trì một pháp môn mà có thiên sai vạn biệt kết quả.
Dùng nước Đại Bi để chữa bệnh cho người là một pháp môn thực hành Bồ tát đạo. Nhưng quý vị muốn tu pháp này trước hết phải thực hành mọi hạnh nguyện của hàng Bồ tát. Phải luôn luôn giữ tâm niệm “vô ngã”, “vô nhân”. Nghĩa là trong tâm không còn bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả nữa. Quý vị đừng nghĩ rằng: “Tôi chữa lành bệnh của chúng sanh được, khi tôi trì chú Đại Bi, tôi tạo ra được sự cảm ứng vô cùng lớn lao”.
Nếu quý vị khởi niệm như thế, nghĩa là quý vị đã khởi dậy ngã chấp. Với ngã chấp ấy, liền bị rơi vào ma chướng, dù quý vị không có tâm niệm ngã chấp nhưng rất dễ bị gặp ma chướng khi tu tập pháp môn này. Bệnh nào cũng do nghiệp chướng hoặc ma chướng.
- Nếu bệnh vì nghiệp, thì chẳng có vấn đề gì khi quý vị chữa trị cho họ.
- Còn nếu bệnh do ma chướng, khi quý vị chữa trị cho họ có nghĩa là quý vị tuyên chiến với ma vương, nó có thể hãm hại quý vị. Nếu đạo lực của quý vị chưa đầy đủ, quý vị có thể bị thu phục vào cảnh giới của ma. Còn nếu quý vị có được đạo lực và tạo được đôi chút ảnh hưởng với chúng, thì chúng sẽ liên tục tìm mọi cách để đánh bại quý vị.
Tôi (Hòa Thượng Tuyên Hóa) vốn thích chữa bệnh cho mọi người nên khi có ai bị bệnh, tôi tìm mọi cách để chữa cho họ. Nhưng sau đó, tôi phải đối đầu với ma chướng rất trầm trọng. Ở Mãn Châu, có một loài thủy quái muốn dìm chết tôi, nhưng nó thất bại. Tuy vậy, có 50 – 60 người bị chết và hơn 800 căn nhà bị thủy quái này phá hủy. Sau đó, trên đường đi từ Thiên Tân đến Thượng Hải, loài thủy quái đó lại tìm cách lật thuyền của tôi, chỉ chút xíu nữa là tôi biến thành thức ăn của cá. Từ đó mỗi khi đi hoằng hóa đây đó, tôi thường ít khi chữa bệnh.
Thế nên chữa bệnh là cách tốt nhất để kết duyên, nhưng đó cũng rất dễ kết oán với quyến thuộc nhà ma. Nó có điểm tốt và cũng có điểm không hay. Nếu quý vị làm việc đó mà tâm niệm không vướng mắc vào bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì quý vị có thể xoay chuyển mọi tình huống. Còn nếu quý vị không tự chuyển hóa mọi tâm niệm của chính mình khỏi bốn tướng trên thì rất dễ rơi vào ma chướng. Cho nên, kết duyên với chúng sanh qua việc chữa bệnh cho họ là một vấn đề đòi hỏi năng lực tu tập rất cao.
+ Kinh chú Đà La Ni Thỉnh Bồ Tát Quán Thế Âm Tiêu Phục Độc Hại - Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú Kinh
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Phật ngự tại giảng đường Trùng Các của Tinh Xá Đại Lâm trong vườn cây Am La thuộc nước Tỳ Xá Ly cùng với 1250 vị Tỳ Kheo ... Bấy giờ Đức Thế Tôn cùng với 4 Chúng, 8 Bộ: Trời, Rồng, người, Phi Nhân… cung kính vây quanh.
Vào lúc ấy tất cả nhân dân của nước Tỳ Xá Ly đang mắc bệnh Đại Ác. Một là mắt đỏ như máu, hai là 2 lỗ tai tuôn ra mủ, ba là trong lỗ mũi chảy máu, bốn là lưỡi bị cấm không có tiếng nói, năm là các vật dụng để ăn liền đều hóa thành cứng rít, sáu là Thức bị ngăn bít giống như người say. Lại có 5 Dạ Xoa tên là Khất Noa Ca La (Krïsïnïa Kàla) mặt đen như mực, có 5 con mắt, lộ nanh chó hướng lên trên, hút tinh khí của con người.
Khi ấy trong thành Tỳ Xá Ly có vị Trưởng Giả tên là Nguyệt Cái cùng với 500 vị Trưởng Giả đồng hàng đi đến nơi Phật ngự, cúi đầu làm lễ, lui về một bên rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Người dân của nước này đang bị Đại Ác, vị lương y Kỳ Bà đã dùng hết Đạo Thuật mà chẳng thể cứu nổi. Nguyện xin Đức Thiên Tôn đem lòng Từ Mẫn vì tất cả mà cứu tế bệnh khổ khiến cho được khỏi tai hoạn”
Thời Đức Phật bảo Trưởng Giả rằng: “Cách đây chẳng xa, ở ngay phương chính Tây có Đức Phật Thế Tôn tên là Vô Lượng Thọ (Amitàyus). Nơi ấy có Bồ Tát tên là Quán Thế Âm (Avalokite’svara) và Đại Thế Chí (Mahà Sthamapràpta) thường dùng Từ Bi xót thương tất cả, cứu tế khổ ách. Nay ngươi nên đem 5 vóc cúi sát đất hướng về nơi ấy làm lễ, đốt hương, rải hoa, buộc niệm sổ tức khiến cho Tâm chẳng tán loạn, trải qua khoảng 10 niệm, vì chúng sinh mà cầu thỉnh Đức Phật và 2 vị Bồ Tát ấy”
Vừa nói xong thì trong hào quang của Đức Phật, được nhìn thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitàyus) và 2 vị Bồ Tát. Do thần lực của Như lai mà Đức Phật và 2 vị Bồ Tát ấy cùng đến nước này, trụ ngoài cổng thành Tỳ Xá Ly. Đức Phật, 2 vị Bồ Tát và các Đại Chúng phóng ra ánh hào quang lớn chiếu soi Tỳ Xá Ly đều thành màu vàng ròng.
Bấy giờ người dân Tỳ Xá Ly liền có đủ Dương Chi Tịnh Thủy (Nước trong sạch của nhành Dương Liễu) đem trao cho Quán Thế Âm Bồ Tát. Cầu xin Đức Đại Bi Quán Thế Âm xót thương cứu hộ tất cả chúng sinh mà nói Chú.
Quán Thế Âm Bồ Tát muốn dạy cho khắp cả chúng sinh nên nói rằng: “Ngày nay, các ngươi cần phải một lòng xưng niệm Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng, nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, Bậc Đại Bi Đại Danh Xưng cứu hộ khổ ách”.
Như đây, 3 lần xưng Tam Bảo, 3 lần xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát, đốt mọi danh hương, cúi 5 vóc sát đất, hướng về phương Tây, một lòng một ý khiến định hơi thở, vì muốn thoát khỏi ách khổ, cầu thỉnh Quán Thế Âm. Hợp 10 ngón tay chắp lại rồi nói Kệ là:
Nguyện cứu con thoát khổ
Đại Bi che tất cả
Phóng khắp hào quang tịnh
Diệt trừ màn Si Ám
Vì miễn khổ sát hại
Phiền não với mọi bệnh
Đi đến nơi con ở
Cho con đại an lạc
Nay con cúi đầu lễ
Nghe tên bậc cứu ách
Nay con tự quy y
Đấng cha lành Thế Gian
Nguyện xin quyết định đến
Miễn con khỏi ba Độc
Cho con đời này vui
Cùng với Đại Niết Bàn
Lại bạch với Đức Phật rằng: “Thế Tôn! Thần Chú như vậy quyết định là tốt lành và cũng là Đại Từ Đại Bi Đà La Ni Án của chư Phật 10 phương trong 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Người nghe Chú này thì vĩnh viễn hết sạch mọi khổ, thường được an vui, mau lìa 8 nạn, được niệm Phật Định, đời này gặp Phật. Nay con sẽ nói Thần Chú Cứu Hộ Chúng Sinh của chư Phật 10 phương.
Đa gia tha_ Ô hô nị (Gọi là Hảo Đầu Quỷ) Mô hô nị (Gọi là Si Quỷ) Thát bà nị (Gọi là Phạ Nhân Quỷ) Diêm bà nị (Gọi là Phạ Nhân Quỷ) Đam Bà Nị (Gọi là Bạn Nhân Quỷ) An trà lị (Gọi là Bất Bạch Quỷ) Bát trà lị (Gọi là Bạch Quỷ) Thủ bệ đế (Gọi là Thanh Quỷ) Bát bát trà trà la la (Gọi là Quỷ Mẫu, Tiền Quỷ Mẫu) Bà tư nị
Đa điệt tha (Như thị) I lê mị lê (Gọi là Khứ Quỷ) Đề lê thủ lê (Gọi là Bạn Nhân Quỷ) Gia ba lê (Gọi là Đái Độc Lâu Quỷ và Phộc Trước Lưỡng Giáp) Khư Đề đoan kỳ (Gọi là Thực Nhi Quỷ) Chiên đà lê (Gọi là Tựu Nhân Quỷ) Ma đặng kỳ (Gọi là Sư Tử Đầu Quỷ, Ma Vương Quỷ, Sư Tử Đầu) Lặc xoa lặc xoa (Thủ hộ tất cả chúng sinh) Tát bà tát đỏa bà bà gia bệ (Gọi là Tất cả loài Quỷ) Sa ha (Aån đi)
Đa trà tha già đế già đế nị già đế (Nói là: Đã đi) Tu lưu tỳ, tu lưu tỳ (Đi đi đừng đến nữa) Lặc xoa lặc xoa (Nói là: Phòng Hộ) Tát bà bà gia bệ (Nói là:Ẩn đi)
Lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Thần Chú này cũng là điều mà vô lượng chư Phật ba đời ở 10 phương diễn nói. Người tụng trì Chú này là nơi hộ trì của chư Phật, Đại Bồ Tát. Được miễn lìa sự sợ hãi, đao, gậy, thứ độc hại và khiến được mau khỏi các loại bệnh tật”
Khi nói lời này thì người dân Tỳ Xá Ly lại bình phục như cũ. (Nguồn: Kinh Chú Thỉnh Bồ Tát Quán Thế Âm Tiêu Phục Độc Hại)
+ Hóa giải - Tiêu trừ nghiệp: ...Nên biết rằng mang nghiệp chỉ mang nghiệp cũ, không mang nghiệp mới. Không nên nghĩ rằng mang nghiệp vãng sanh thì ta mỗi ngày chúng ta có thể tạo nghiệp đều có thể mang theo. Làm gì có đạo lý như vậy, quá khứ đã tạo nghiệp có thể mang theo, hiện tại tạo nghiệp không thể mang theo. Phải hiểu rõ cái đạo lý này. PS Tịnh Không giảng về Sám hối tiêu trừ nghiệp chướng. (Nguồn: Giảng về Sám hối - PS Tịnh Không)
+ Thần Chú Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại:
Bấy giờ Đức Thế Tôn thương xót chúng sinh, muốn che hộ tất cả nên lại thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát nói Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú
Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát dùng Đại Bi xông ướp Tâm, nương theo Thần Lực của Đức Phật mà nói Phá Ác Nghiệp Chướng Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni Chú.
“Nam mô Phật Đà
Nam mô Đạt Ma
Nam mô Tăng Già
Nam mô Bậc Đại Từ Đại Bi là Quán Thế Âm Bồ Đề Tát Đỏa, ma ha tát đỏa”
Nguyện xin xót thương con mà cứu hộ khổ não, cũng cứu tất cả chúng sinh đang bị sợ hãi khiến cho được Đại Hộ.
Đa điệt tha: Đà hô nị (Gọi là Đại Quỷ) Mạc hô nị (Gọi là Thủy Quỷ) Diêm bà nị đam bà nị a bà hy (Hư Đề Phản gọi là Nhân Sân Quỷ) Mạc hô nị (Miệng của loài Quỷ này tuôn ra lửa gọi là Quang Quỷ) An trà lê (Gọi là Hoa Quỷ) Bát trà lê (Thân của Quỷ này màu trắng nên gọi là Bạch Quỷ) Du bệ đế (Gọi là Cực Bạch Quỷ) Bát trà la bà tư nị hưu hưu lâu lâu (Tam Đầu Quỷ _ Quỷ 3 đầu) An trà lê đâu đâu lâu lâu (Tam Đầu Nhi Quỷ _ Quỷ hình con nít có 3 đầu) Bát trà lê (Gọi là Mẫu Hắc Nhi Bạch Quỷ) Chu chu lâu lâu (Vào trong núi đi chẳng giết. Chu chu lâu lâu gọi là Hảo Dụ Nhân Tiểu Nhi Sơn Trung Trú Quỷ _ Quỷ khéo dụ con nít vào trong núi ở) Nị bàn trà lê (Gọi là Xuất Bạch Quỷ) Đậu đậu phú phú [Đậu đậu gọi là Dục Tiện Khứ Quỷ (Quỷ khiến đi ngay) Phú phú gọi là Bất Canh Lai Quỷ (Quỷ đến chẳng thay đổi)] Bát trà la bà tư nị thần tri (Tấn Tư Phản gọi là Ức Quỷ) Chẩn trì (Gọi là Bất Ức Quỷ) Nị chẩn trì (Gọi là Tối Ức Quỷ) Tát bà a bà gia yết đa tát bà niết bà bà đà gia (Mạc trước nghi nhân _ Người không vướng nghi ngờ) A bà gia (Mạc tác Quỷ _ Quỷ đừng làm) Tỳ ly đà (Nói là Ngạ Quỷ _ Quỷ đói) Bế điện, sa ha (Ẩn đi đừng đến)
Tất cả loài gây sự sợ hãi, tất cả loài tạo sự độc hại, tất cả loài Quỷ ác, cọp, sói, sư tử nghe thấy Chú này thì miệng bị bế tắc, chẳng có thể gây hại được.
Người phá Phạm Hạnh làm 10 nghiệp ác nghe được Chú này thì khử trừ phẩn uế (phân dơ) trở lại được thanh tịnh. Giả sử có nghiệp chướng độc ác chẳng lành, nếu xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và trì tụng Chú này liền phá nghiệp chướng, đời này được gặp Phật.
Đức Phật bảo A Nan: “Nếu có Đệ Tử trong 4 Bộ thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng niệm Tiêu Phục Độc Hại Đà La Ni thì người hành Chú này, thân thường không có hoạn nạn, Tâm cũng không có tật bệnh.
Giả sử có nạn lửa lớn từ 4 mặt đến thiêu đốt thân mình, do trì tụng Chú này cho nên Long Vương giáng mưa liền được giải thoát.
Giả sử bị lửa đốt thân làm cho mỗi một chi tiết đau đớn mà nhất tâm xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, 3 lần tụng Chú này thì liền được trừ khỏi.
Giả sử gặp lúc đói kém, lúa gạo quý hiếm, nạn vua chúa, thú dữ, trộm cướp, bị mê man trên đường xá. Hoặc bị giam cầm trong lao ngục, bị gông cùm xiềng xích, 5 sự trói buộc. Hoặc vào trong biển lớn gặp gió bão (Hắc Phong) sóng đập vào núi tạo thành màu của nước. Hoặc bị nạn Dạ Xoa, La Sát. Hoặc bị thuốc độc, đao kiếm, sắp bị chém chết. Hoặc nghiệp duyên của đời quá khứ, hoặc đời này tạo ra mọi điều ác, do Nhân Duyên đó phải chịu tất cả sự khổ và điều rất sợ hãi. Khi ấy cần phải nhất Tâm xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và trì tụng Chú này 1 biến cho đến 7 biến sẽ tiêu phục độc hại, hạnh ác, nhóm ác chẳng lành giống như lửa thiêu đốt củi hết sạch không còn sót. Bởi nhân duyên ấy mà Thần Chú do Quán Thế Âm Bồ Tát nói, được gọi là: Ban cho tất cả chúng sinh thuốc Cam Lộ màu nhiệm, được không có bệnh sợ hãi, chẳng sợ chết đột ngột, chẳng sợ bị trói buộc với các nỗi sợ hãi về 3 Độc tham dục, giận dữ, ngu si. Chính vì thế cho nên ở Thế Giới Sa Bà (Saha Loka) này đều xưng tán Quán Thế Âm Bồ tát là Bậc ban cho sự không sợ hãi (Thí Vô Úy Giả _ Abhayamïdada)
_ Đà La Ni (Dhàranïì) là chương cú Quán Đỉnh, Phạm Hạnh vô thượng, quyết định Cát Tường, biển Công Đức lớn, chúng sinh nghe qua được đại an lạc cho nên cần phải tụng âm thầm (Ám Tụng).
Nếu muốn Tụng cần phải Trì Trai, chẳng uống rượu chẳng ăn thịt. Dùng tro xoa bôi thân thể rồi tắm gội sạch sẽ. Chẳng ăn Hưng Cừ, ngũ tân, vật hay xông hơi đều chẳng được ăn, cũng chẳng qua lại với phụ nữ ô uế. Thường niệm mười phương Phật với 7 vị Phật Thế Tôn, nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng trì Chú này thì thân này được thấy Quán Thế Âm Bồ Tát và đều được thành tựu tất cả Nguyện lành, đời sau được sinh trước mặt Phật chẳng còn bị khổ khác”
Đức Phật bảo: “Này A Nan! Đại thành Vương Xá có một nữ nhân bị ác quỷ nhiếp tên là Chiên Đà Lợi (Canïdïari). Ngày đêm Quỷ đó hiện thành hình người chồng đến quấy nhiễu cô gái này. Vì thân bị vướng tinh của con Quỷ nên sinh ra 500 Quỷ con. Ông còn nhớ chuyện đó không? Vào lúc ấy, Ta dạy cho cô gái này xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhờ Tâm lành tiếp nối mà được vào cảnh giới lành.
Này A Nan! Nên biết sức uy thần của Bồ Tát này khiến Ác Quỷ bị tiêu phục, được thấy sắc tượng không thể sánh của thân Ta. Vào lúc ấy mỗi mỗi lỗ chân lông của Ta hiện ra hoa sen báu, vô số vị Hóa Phật khác miệng cùng lời xưng tán Bậc Đại Bi Thí Vô Úy khiến cho người nữ thọ trì đọc tụng thông suốt. Công Đức của Chú này dứt sạch 3 Chướng, thoát khỏi lửa của ngục Tam Giới, chẳng thọ mọi khổ, 404 bệnh một Thời chẳng khởi.
Đề nghị xem kỹ Kinh văn gốc. Nếu thọ trì đọc tụng đúng như lý như pháp sẽ có được sự nhiệm mầu. (Nguồn: Kinh chú Đà La Ni Thỉnh Bồ Tát Quán Thế Âm Tiêu Phục Độc Hại)
+ Tiêu trừ nghiệp chướng: Phương Pháp tốt nhất để tiêu trừ nghiệp Chướng là đoạn ác, tu thiện, tích lũy công đức, nhất tâm hướng về Phật.
Chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý, biết làm thế nào có thể khắc phục bệnh khổ, bệnh chắc chắn là nghiệp Chướng, khi nghiệp Chướng khởi lên thì phải biết làm cách nào tiêu trừ nghiệp Chướng.
Phật là chí thiện, hết thảy thiện Pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có gì thiện hơn Phật, niệm Phật là việc thiện lành hạng nhất. Niệm Phật đích thật có thể giải quyết hết thảy vấn đề, tại sao không niệm?
- Bố thí là phương pháp tiêu tai giải nạn tốt cho người người gặp bệnh nạn khổ đau, ví như người bệnh sống dở chết dở, người nhà đem tài sản của người đó đi bố thí đúng pháp thì hiệu quả rất tuyệt. (Xem nguồn: PS Tịnh Không)
+ Phá trừ ba Chướng trược:
Thứ tư là luận bàn về dụng.(Của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa)
"Lực dụng khu trừ tam trược, (dùng lực dẹp trừ ba chướng trược".
Dùng lực gì ? Ðể làm gì ? Dùng tâm kinh bát nhã ba la mật đa để làm chi ?
Tức là dùng lực dụng của kinh này để phá trừ ba chướng. Ba chướng là gì ?
Một là báo chướng. Hai là nghiệp chướng. Ba là phiền não chướng.
1. Báo chướng có hai loại là chánh báo và y báo.
2. Bàn về nghiệp chướng thì nghiệp tức là sự nghiệp, công nghiệp. Không luận người xuất gia hay tại gia, nhất định đều có sự nghiệp. Tạo ra sự nghiệp rồi thì nhiều vấn đề khó khăn phát sanh. Khi có khó khăn thì liền sanh phiền não, rồi gặp bao việc không vui. Ðó gọi là nghiệp chướng.
3. Nói về phiền não chướng thì chúng ta ai ai cũng có ít nhất một loại phiền não. Phiền não này phát sanh từ đâu ?... Vì vậy, phiền não do tâm tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến phát khởi lên.
Bộ tâm kinh này năng phá trừ được ba chướng là báo chướng, nghiệp chướng và phiền não chướng. Làm sao phá trừ được ? Do có trí huệ chân chánh, trí huệ vi diệu, tâm như như bất động, và chân tâm nên phá trừ được ba chướng. Chúng ta hiểu rõ giáo nghĩa tâm kinh bát nhã ba la mật đa thì mới có trí huệ chân chánh, dẹp trừ được ba chướng.... (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Diệt trừ Giải thoát ác nghiệp khổ đau:
Chết, ai ai cũng đều không thích chết. Những loại khổ này đều gọi là khổ. Nay chúng ta tu hành nên phải dẹp trừ ba khổ, tám khổ, vô lượng khổ, nên gọi là độ thoát tất cả khổ ách.
Mọi khổ đều nằm trong biển khổ. Nếu chư vị vượt qua hết tất cả khổ ách thì chắc chắn sẽ thoát khỏi sáu nẻo luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, người, trời.
Pháp bốn diệu đế : Khổ, tập, diệt, đạo. Khi chứng đắc diệt đế thì thành đạo, đắc vô dư Niết Bàn, không đợi trải qua tám muôn bốn ngàn kiếp, mà mau chứng đắc vô dư Niết Bàn.
Nay, Bồ Tát Quán Thế Âm đã cắt đứt được biến dịch sanh tử.
"Ngũ trụ tận (tận hết năm trụ)". Nghĩa là năm trụ phiền não. Chúng là gì ?
Thứ nhất, kiến trụ phiền não, là trụ ái kiến.
Thứ hai, trụ ái dục.
Thứ ba, trụ sắc ái.
Thứ tư, trụ vô sắc ái.
Thứ năm, trụ vô minh ái.
Vì năm trụ ái này mà chúng ta sanh chấp trước, biến thành năm loại phiền não.
Bồ Tát Quán Thế Âm dẹp trừ hết năm loại phiền não này. (Nguồn: Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh -1- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tiêu trừ Nghiệp:
HỎI: Con nghe nói theo như Phật giáo phá thai là việc làm không đúng. Nhưng trước đây vì con không biết nên đã phạm lỗi. Vậy kể từ nay về sau, con phải nên làm sao để bù đắp lại tội xưa?.
ĐÁP: Có lỗi mà biết sửa, như vậy không phải là đại thiện rồi sao ? Vì tội lỗi dù ngập trời, một khi sám hối, tội lỗi liền tiêu. (HT Tuyên Hóa khai thị - Nguồn Nguyên Minh)
+ Tiêu trừ nghiệp chướng = Tịnh hóa nghiệp: Đãng vô tiêm trần: Đãng là bằng phẳng thảnh thơi, nghĩa là sạch hết. Giống như giảng đường này của chúng ta đôi lúc muốn sạch sẽ một tí thì phải dọn quét dọn. Nếu không quét thì sẽ dính đầy bụi bặm. Nhưng ở đây, Phật là đấng đầy đủ vạn đức, sạch làu không còn mảy trần. Ngài không còn vướng chút bụi trần nào. Đầy đủ vạn đức, chính là trí huệ viên mãn. Sạch làu không còn mảy trần, chính là lúc gọt trừ sạch mọi nghiệp chướng, nghiệp chướng đều được tịnh hóa. Trần ở đây cũng được mô tả bằng Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần sa hoặc, vì ba thứ này đã được tịnh hóa sạch hết. Cho nên cũng có thể nói là vô minh đã đoạn; vô minh đoạn hết phiền não trần sa cũng không còn. Tịnh trừ sạch hết mọi thứ không thanh tịnh. Đó gọi là bậc “sạch làu không vướng mảy trần”.(Nguồn: Kinh Hoa Nghiêm - HT T.Hóa giảng)
+ Diệt trừ nghiệp chướng: Lúc này Đế thích, vâng theo uy thần của đức Thế tôn, đứng dậy khỏi chỗ mình ngồi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay hướng về đức Thế tôn mà thưa, rằng bạch đức Thế tôn, thiện nam hay thiện nữ làm sao nguyện cầu vô thượng bồ đề, tu hành đại thừa, nhiếp hóa những kẻ tà kiến thác loạn? Những kẻ đã tạo nghiệp chướng thì làm sao sám hối để trừ diệt cho được?
Đức Thế tôn dạy Đế thích, rằng lành thay thiện nam tử, ông hỏi như vậy chính là tu hành, muốn làm cho vô lượng chúng sinh thanh tịnh giải thoát. Ông thương xót thế giới, ích lợi hết thảy. Thiện nam tử, những người đã vì nghiệp chướng mà gây tội lỗi, thì phải thúc dục lấy mình, ngày đêm sáu buổi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, nhất cái tâm, chuyên cái niệm, miệng tự nói rằng, ... (Mời đọc trong Kinh).... nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa.(Nguồn: Kinh Kim Quang Minh/ Ánh Sáng Hoàng Kim)
+ Thiền định tiêu nghiệp: ... Ông Đại Thiên này theo trong Tỳ bà sa luận quyển 99 cho rằng, việc ông đã phạm 3 tội nghịch, sau khi phạm 3 tội nghịch rồi, ông ăn năn quá, ân hận quá. Phạm lỡ rồi không biết làm sao cho hết tội. Ông nghe bên chúng Thích Ca có phép sám hối cho nên ông tìm tới. Khi tới ông nghe một vị Tỷ-kheo tụng bài kinh. Đây là câu trong kinh Pháp Cú.
Nếu người tạo trọng tội
Biết tu thiền để dứt trừ trọng tội đó,
Thì người đó sẽ soi sáng thế gian,
Như mặt trăng ra khỏi mây che.
Khi nghe xong câu đó, ông thích quá, đúng nguyện vọng của mình rồi. Ông nghĩ mình đang tìm cách diệt trừ tội, mà giờ có câu kinh đó tức là mình đã tìm đúng nơi để diệt tội rồi. Khi đó ông liền phát tâm xin xuất gia, và ông là người hết sức thông minh. Tuy tạo trọng tội nhưng thiện căn của ông chưa mất cho nên ông hiểu Phật pháp rất mau. Tam tạng giáo điển ông học và hiểu rất thông thạo, ai ai cũng tôn trọng ông hết...... Tuy gặp pháp lành, nhưng tu hành còn phạm trọng tội vọng ngữ, làm cho vẫn dậm chân tại hội chúng, chẳng chứng Thánh quả. (Nguồn: Luận Câu Xá ... - HT Thích Thiện Siêu)
+ Hỏi: Như thế nào mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng?
Hòa Thượng Tịnh Không trả lời: Tiêu trừ nghiệp chướng, quan trọng nhất là sám hối, biết chính mình đã làm sai, sám hối quan trọng nhất là “về sau không tạo nữa”. Sám hối rồi, ngày mai tái phạm nữa, như vậy không được, như vậy nghiệp chướng vĩnh viễn không thể tiêu trừ. Vấn đề này cũng có nhiều người hỏi đến. Về sau không tạo nữa, giống như Nhan Hồi, học trò của Khổng Tử, Khổng Tử chỉ tán thán người học trò này, người học trò này tốt ở chỗ nào? “Không mắc lỗi hai lần”, chỉ mắc lỗi một lần, ông sẽ không lập lại lỗi lầm của mình nữa. Đây chính là chân thật cầu sám hối, biết lỗi rồi, về sau ông không mắc nữa.
Ngoài ra định có thể tiêu trừ nghiệp chướng, định có thể tiêu nghiệp, định là tâm thanh tịnh. Tiểu định thì phục được nghiệp chướng, [nghiệp chướng] không khởi tác dụng, đè phục được. Đại định thì mới có thể tiêu trừ, đại định là định gì? Là Cửu thứ đệ định của của A La Hán, họ tiêu trừ được nghiệp chướng trong lục đạo luân hồi, nên họ không đến lục đạo nữa, nhân của lục đạo không còn. Thiền định của thế gian, tứ thiền bát định, bạn có thể sanh đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, định này chỉ phục [được nghiệp chướng], không thật sự tiêu trừ được nghiệp chướng, chỉ là đè phục. Nhưng khi mất định công, không phục được nữa thì nghiệp chướng lại hiện tiền, chính là phiền não tập khí lại hiện tiền. Cho nên, [dùng] định tiêu nghiệp chướng có phục đoạn, và thật sự có đoạn diệt. Sau khi khai trí huệ thì nghiệp chướng chân thật tiêu rồi. Từ trong thiền định mà khai trí huệ, thiền định đến công phu nhất định thì trí huệ hiện tiền, trí huệ hiện tiền, nghiệp chướng thảy đều chuyển thành Bồ Đề, phiền não tức Bồ Đề, đó là thật. Cho nên mục tiêu cuối cùng của học Phật là phải khai trí huệ, không thể không khai trí huệ, không khai trí huệ thì không thể giải quyết được vấn đề.(Nguồn: facebook Ngọc Diệp)
+ Tiêu Trừ Nghiệp Chướng: Câu Hỏi 113 - Phật giáo bảo là: “Định nghiệp thì không thể chuyển đổi được,” vậy nếu đã tạo ác nghiệp rồi thì nhất định là phải thọ quả báo phải không?
Đáp: Tuy nói, không thể thay đổi được định nghiệp, nhưng nhờ vào lực tam muội gia trì của Phật và Bồ Tát thì tội nghiệp cũng có thể được tiêu trừ. Nhưng chúng ta cần phải đặt hết lòng tin, sanh tâm hết sức chân thành sám hối và phải thật dũng cảm để sửa đổi các tội lỗi. Cho nên nói: “Lúc nóng giận mà có thể vui vẻ được, thì người chết sẽ sống trở lại. Nếu cho lời nói đây là giả, thì nên biết chư Phật không nói dối bao giờ?”
Tội lỗi dù ngập trời, nhưng một khi chúng ta sám hối thì tội lỗi liền tan. Bất luận là tội nghiệp có nặng nề bao nhiêu đi nữa, nhưng nếu chúng ta thật có thể phát đại Bồ-đề tâm cùng hết lòng tín ngưỡng Tam Bảo và thiện tri thức để tu công chuộc tội. Lúc tu hành tích tụ công đức một cách đầy đủ rồi thì tự nhiên chúng ta sẽ miễn trừ được hết các tai nạn, và bịnh đau. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
+ DƯỢC SƯ NHƯ LAI NIỆM TỤNG NGHI QUỸ - Niệm Tụng hay Đọc Tụng Kết Nguyện Chú
Một thời Đức Phật ngự dưới cây Nhạc Âm ở Duy Gia Ly (Vaiśali) cùng với 3 vạn 6 ngàn vị Đại Bồ Tát, 8 vạn vị Tỳ Khưu, 12 vị Thần Vương với các hàng quyến thuộc, các vị Đại Thần Vương của 8 Bộ Trời Rồng đến dự. Đức Phật ở trong Đại Chúng Hội của nhóm như vậy nói Pháp này xong thì Đại Chúng nghe được thảy đều vui vẻ. Pháp ấy tên là KẾT NGUYỆN THẦN CHÚ. Tức thời Đức Bạc Già Phạm (Bhagavaṃ: Thế Tôn) nói Chú là :
“Nam mô bạc già phiệt đế, tỳ sát xã lũ lô, tế lưu ly bát lạt bà hạt la xà gia, đát tha yết đa. Đát điệt tha: Án, tỳ sát thệ, tỳ sát thệ, tỳ sát xã, tam một yết đế, sa bà ha”
*) NAMO BHAGAVATE BHAṢAIJYA-GURU VAIḌURYA-PRABHARĀJĀYA TATHĀGATĀYA ARHATE SAYAKSAṂBUDDHĀYA TADYATHĀ: OṂ_ BHAIṢAIJYE BHAIṢAIJYE BHAIṢAIJYA SAMUDGATE_ SVĀHĀ
Nếu có người thọ trì Chân Ngôn này thì hay bạt trừ tất cả tội nặng sinh tử đời quá khứ trong thân, chẳng phải trải qua sự đọa lạc ở Tam Đồ (3 nẻo ác), hiểm nạn, 9 hoạnh (9 cách chết đột ngột), vượt qua mọi nỗi khổ. Trong 10 phương Thế Giới tuỳ nơi an vui tương ứng với Pháp Tự Tại Vô Ngại.
Như vậy nếu có kẻ trai lành, người nữ thiện nào thọ trì đọc tụng Chân Ngôn này. Ngày đêm tinh cần, dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch, giữ các Cấm Giới, như Pháp tụng Chân Ngôn đủ 10 vạn biến. Tìm được nơi thanh tịnh, như Pháp Trị Địa, dùng đất sạch tô bồi khiến cho bằng phẳng, lấy phân bò sạch hòa với Đàn Hương xoa tô Đàn Trường, lấy mọi loại tạp bảo trang nghiêm Đàn, đặt tượng Đức Dươc Sư Như Lai ở chính giữa Đàn, tay trái của Đức Như Lai ôm Dược khí (Bình đựng thuốc) cũng gọi là Vô Giá Châu (viên ngọc Vô Giá) tay phải kết Ấn Tam Giới, mặc áo cà sa , ngồi Kiết Già trên Đài hoa sen. Bên dưới Đài Sen là 12 vị Thần Tướng là bậc Thượng Thủ của 8 vạn 4 ngàn quyến thuộc. Lại làm Đài Sen trong uy quang của Đức Như Lai đặt 2
vị Bồ Tát Nhật Quang (Sūrya-prabha) và Nguyệt Quang (Candra-prabha). Như vậy an bày 5 màu sắc vây chung quanh 4 phương của Đàn. Sát phía trước đặt 2 cái bình sành sứ có chạm vỏ ốc (Śaṅkha: Thương Khư ngõa khí) chứa nước Át Già, tùy ý thọ dụng, dâng hiến , thừa sự Tôn Tượng.Ở trước Tượng niệm tụng 49 ngày hoặc 21 ngày.
Vẽ Tượng, đặt Hiền Bình ở 4 góc Đàn. Như vậy trong 7 ngày đêm tụng Chú cho đủ trăm ngàn vạn biến thì tuỳ theo Tâm mong cầu sẽ được vô lượng quả báo, ngoại trừ kẻ chẳng chí tâm. Ứng Pháp như vậy, bao nhiêu lợi ích chẳng thể nói hết, các công năng khác cũng chẳng thể nói hết được.
===> Nếu lại học phấp bắt ấn: Tiếp lại nói về Dược Sư Như Lai Căn Bản Ấn. Đem 2 ngón trỏ đặt bên dưới 8 ngón, cài ngược nhau trong lòng bàn tay, đưa 2 ngón cái qua lại (Xem hình trong Kinh văn). (Nguồn: Kinh Dược Sư, trang 250 bản pdf)
+ Hộ Pháp/ Kim Cang Hộ Pháp bảo hộ người trì tụng Chú Đại Bi
... Lại thuyết kệ sắc lệnh rằng: ... Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát nói một bài kệ, ra lệnh cho tất cả các Thiện Thần đều phải che chở, ủng hộ người thọ trì Chú Đại Bi.
“Ta sai Mật Tích Kim Cang Sĩ,/ Ô Sô, Quân Trà, Ương Câu Thi.” Đây là tên của các vị Kim Cang Hộ Pháp. Mỗi vị Kim Cang đều có thần lực riêng của mình. Có câu “ai có sở trường nấy”—chư vị Hộ Pháp cũng vậy, vị nào cũng có sở trường hoặc đặc điểm của vị ấy.
Thí dụ, có vị Hộ Pháp thì phát nguyện rằng: “Nếu có người nào tụng Chú Đại Bi được một trăm lẻ tám (108) biến, thì tôi sẽ thường xuyên túc trực để ủng hộ người đó; cho dù phải hy sinh tánh mạng, tôi cũng quyết bảo vệ người trì Chú ấy cho bằng được!”
Trong khi đó, có vị lại nguyện rằng: “Nếu có người nào tụng được dù chỉ một chữ hoặc một câu của Chú Đại Bi, thì tôi sẽ vĩnh viễn ủng hộ và bảo vệ người đó!”
Cũng có vị Hộ Pháp nguyện rằng: “Nếu có người nào, đừng nói là tụng Chú Đại Bi, cho dù chỉ nghe được danh hiệu ‘Chú Đại Bi’ thôi, thì tôi nguyện sẽ bảo vệ và khiến cho mọi điều mong cầu của người đó đều được thành tựu, muốn gì được nấy.”
Tuy rằng mỗi vị Kim Cang Hộ Pháp đều lập một lời thệ nguyện khác nhau, nhưng tựu trung, tất cả đều cùng chung một mục đích—đó là gì? Đó là ủng hộ người trì Chú Đại Bi, ủng hộ người nghe Chú Đại Bi, ủng hộ người có tín tâm chân chánh đối với Chú Đại Bi.
Trong Kinh có nói rằng, nếu chúng ta “còn sanh chút lòng nghi, ắt không được kết quả toại nguyện”; cho nên, nếu quý vị không có tín tâm đối với Chú Đại Bi, thì quý vị sẽ không thể có được sự thành tựu.
Có người nói rằng: “Tôi tụng Chú rất nhiều mà sao chẳng thấy linh nghiệm, chẳng thấy công hiệu gì cả?” Đó không phải là do Chú không công hiệu, mà là vì quý vị thiếu đức tin, thiếu thành khẩn, đầu óc lúc nào cũng lởn vởn những ý tưởng hoài nghi: “Tại sao không linh nghiệm? Tại sao không thấy có công hiệu gì cả?”; vì thế mà công hiệu gì, linh nghiệm gì cũng đều không xảy ra cả! Cho nên, nếu muốn có được sự cảm ứng chân chánh thì thâm tâm quý vị phải hoàn toàn không còn mảy may hoài nghi.
Đúng ra, nếu tụng Chú Đại Bi mà không thấy hiệu nghiệm thì quý vị phải hồi quang phản chiếu, tự hỏi chính mình: “Ồ! Phải chăng vì mình thiếu thành tâm, nên mới không đạt được sự tương ưng với năng lực bất khả tư nghì của Chú?”
Quý vị không được nói rằng: “Chú Đại Bi không linh nghiệm, những điều giảng nói trong Chú đều là hoang đường, không có thật!” Chúng ta tuyệt đối không được có lòng hoài nghi như thế!
Quán Thế Âm Bồ-tát nói rằng: “Ta sai Mật Tích Kim Cang Sĩ.” “Sai” tức là sai khiến, ra lệnh. Gọi là “mật tích” (hành tung bí mật, kín đáo) bởi lẽ cho dù những vị Kim Cang Hộ Pháp này đứng ngay bên cạnh quý vị, quý vị cũng không nhìn thấy được và cũng chẳng hề hay biết. Tất cả các vị Kim Cang Lực Sĩ đều có sức mạnh phi thường.
“Ô Sô, Quân Trà, Ương Câu Thi” là tên của các vị Hộ Pháp phiên âm từ tiếng Phạn và vẫn được giữ nguyên như thế trong bài Chú chứ không phiên dịch ra, cho nên bây giờ chúng ta cũng không cần phải giải thích ý nghĩa của những tên gọi đó. Quý vị chỉ cần nhớ rằng đó là các vị Kim Cang Hộ Pháp đến để bảo vệ người trì tụng Chú Đại Bi, như vậy là đủ rồi! Bởi Kim Cang Tạng Bồ-tát có tới tám vạn bốn ngàn vị, rất đông đảo chứ không phải chỉ có mấy vị trên đây mà thôi đâu! Cho nên, những tên gọi này, nếu quý vị không hiểu thì cũng không sao!
“Bát Bộ Lực Sĩ Thưởng Ca La.” “Bát Bộ” tức là Thiên Long Bát Bộ—trời, rồng, cùng tám bộ chúng. “Thưởng Ca La” là tên của một vị Lực-sĩ thuộc Bát Bộ.
“Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” Những vị Hộ Pháp kể trên đều được lệnh của Quán Thế Âm Bồ-tát là phải luôn luôn bảo vệ, trợ giúp những người trì tụng Chú Đại Bi.
“Ta sai Ma Hê Na La Diên.” “Ma Hê Na La Diên” chính là thiên chúng của cõi trời Ma Hê Thủ La. “Na La Diên” có nơi dịch là “đại mãng xà”; tuy nhiên, bất kể đó là ai, nói chung thì tất cả đều cùng một mục đích là hộ Pháp mà thôi.
Quán Thế Âm Bồ-tát cũng phái Ma Hê Na La Diên, cùng với các vị Hộ Pháp như “Kim Tỳ La Đà, Ca Tỳ La,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.”
“Ta sai Bà Cấp, Ta Lâu La.” Quán Thế Âm Bồ-tát lại nói tiếp: “Không phải chỉ có các Kim Cang Lực-sĩ nói trên mà thôi đâu, Ta còn ban sắc lệnh, khiến các Kim Cang Lực-sĩ, Thiện Thần Hộ Pháp là Bà Cấp, Ta Lâu La, Mãn Thiện, Xa Bát, Chân Đà La,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì. Họ sẽ luôn luôn kề cận để bảo vệ và giúp đỡ những người trì Chú Đại Bi.”
“Ta sai Tát Giá Ma Hòa La,/ Cưu Lan, Đan Tra, Bán Chỉ La,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” “Đan Tra” chính là vị “Ca Tra” được nhắc đến ở câu “Ca Tra Bổ Đan Na” trong Chú Lăng Nghiêm. Tất cả những vị Hộ Pháp này đều được lệnh của Quán Thế Âm Bồ-tát là phải theo dõi để bảo vệ kẻ trì Chú Đại Bi.
“Ta sai Tất Bà, Già La Vương,/ Ưng Đức, Tỳ Đa Tát Hòa La,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì,.” Đây là tên của các vị quỷ vương hoặc thần vương. Các vị này cũng được lệnh phải thường xuyên kề cận để che chở cho những kẻ thọ trì, tụng niệm Chú Đại Bi
Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp:
“Ta sai Phạm Ma Tam Bát La,/ Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm Ma La,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.”
“Phạm Ma Tam Bát La” là tên của một vị Hộ Pháp ở cõi trời; còn “Diêm Ma La” là tên của vị Hộ Pháp thuộc Ngũ Bộ ở cung trời Tịnh Cư. Các vị Hộ Pháp này được lệnh phải luôn luôn theo bảo vệ kẻ tụng trì Chú Đại Bi.
“Ta sai Thích Vương Tam Thập Tam,/ Đại Biện Công Đức Bà Đát Na,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.”
“Thích Vương” tức là vua Đế Thích, Thiên Chủ của cõi trời Ba Mươi Ba.
“Đại Biện Công Đức Bà Đát Na” tức là vị Hộ Pháp có tài biện luận và công đức rộng lớn tên Bà Đát Na.
Tất cả những vị Hộ Pháp này đều được Quán Thế Âm Bồ-tát phái đi phù hộ những người thành tâm trì tụng Chú Đại Bi.
“Ta sai Đề Đầu Lại Tra Vương,/ Cả Thần Mẫu Nữ, chúng Đại Lực,/ Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.”
“Đề Đầu Lại Tra Vương” là một trong bốn vị Tứ Đại Thiên Vương.
“Thần Mẫu Nữ” tức là “Quỷ Tử Mẫu” (mẹ của những quỷ con), thống lãnh bộ chúng Đại Lực—các quỷ thần thuộc hạ của bà đều có sức mạnh phi thường, riêng bản thân bà thì không.
Vì sao gọi là “Quỷ Tử Mẫu”? Ban đầu, đáng lẽ bà có thể được gọi là “Thần Tử Mẫu,” nhưng vì bà có hành vi giống như loài quỷ—cứ đi bắt cóc con của người ta để ăn thịt—nên mới bị gọi là “Quỷ Tử Mẫu.” Nhà nào có trẻ sơ sinh là Quỷ Tử Mẫu liền tới bắt về ăn; cả trẻ con chừng hai, ba tuổi cũng bị bà bắt ăn thịt nữa. Bà Quỷ Tử Mẫu có một ngàn (1.000) đứa con trai; những đứa con nít mà bà đi khắp nơi để lùng bắt và mang về không phải chỉ một mình bà mà cả bầy quỷ con cùng xúm lại chia nhau ăn.
Một hôm, chư Hộ Pháp Thiện Thần thấy hành vi của Quỷ Tử Mẫu càng ngày càng quá đáng và không đúng với giáo pháp, bèn quyết định đến bạch với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: “Bạch Đức Thế Tôn! Hiện nay trẻ con ở thế gian bị Quỷ Tử Mẫu bắt ăn thịt gần hết, chỉ còn lại một số rất ít! Nhân loại ở thế gian sắp bị tuyệt chủng tới nơi rồi; vậy chúng con phải làm gì bây giờ?”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo: “Không sao, việc này không phải là một vấn đề to tát lắm! Ta đã có cách giải quyết rồi!” Và thế là Đức Phật phái Mật Tích Kim Cang đi bắt đứa nhỏ nhất trong bầy quỷ con một ngàn đứa của Quỷ Tử Mẫu về và đem bỏ vào trong bình bát của Phật. Đức Phật lật úp cái bát lại, khiến đứa nhỏ bị nhốt trong bát, không thoát ra được.
Chú quỷ con bị nhốt một mình trong bát thì sợ hãi khóc òa, Quỷ Tử Mẫu nghe tiếng khóc liền nhận ra đó là tiếng đứa con út của mình, bèn ra lệnh cho chín trăm chín mươi chín (999) đứa con còn lại đến hè nhau nhấc cái bát lên cho chú quỷ út chạy ra, nhưng không thể nào nhấc lên nổi. Thấy thế, Quỷ Tử Mẫu bèn dùng sức thần thông để lật ngửa cái bát lên, song cái bát vẫn chẳng chịu nhúc nhích.
Ban đầu Quỷ Tử Mẫu chỉ nghĩ là lén cướp lại đứa con mà thôi, nhưng bây giờ thấy cướp không được thì chỉ còn cách tới hỏi thẳng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: “Tại sao Ngài lại bắt cóc con tôi và nhốt nó dưới bình bát của Ngài như thế? Chao ôi! Nó khóc lóc thảm thiết thế kia mà Ngài chẳng động chút lòng từ bi nào cả ư?”
Quý vị xem, bà Quỷ Tử Mẫu này dám chỉ trích người khác là không có lòng từ bi; thế còn bà ăn thịt con của người ta thì thử hỏi bản thân bà có được chút lòng từ bi nào chăng?
Bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mới từ tốn hỏi lại: “À! Ngươi có đông con thế kia thì mất đi một đứa cũng chẳng hề chi! Ngươi có tới một ngàn đứa con lận, nếu bớt đi một đứa bé này thì có sao đâu?”
Quỷ Tử Mẫu đáp: “Không được! Tôi thì một đứa cũng không thể thiếu được!”
Đức Phật ôn tồn hỏi: “Ngươi ăn thịt con của người ta, thế thì ngươi có lòng từ bi chăng?”
Quỷ Tử Mẫu phân trần: “Tôi nào muốn như thế đâu! Ngài cho rằng tôi thích ăn thịt con nít lắm sao? Nếu không ăn thì cái thân già nua này chịu đói không nổi! Bởi thịt trẻ con thì mềm mại, thơm ngon vô cùng, mà răng của tôi thì cũng không còn tốt cho lắm, cho nên tôi mới phải ăn thịt của chúng đấy thôi!”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại hỏi: “Ngươi ăn thịt con của người ta thì được, còn Ta mới bắt một đứa con út của ngươi thôi mà ngươi đã đau khổ, cuống quýt đến thế kia! Vậy thì ngươi nghĩ tâm trạng của những kẻ làm cha làm mẹ trong thiên hạ mà bị mất con là như thế nào?”
Quỷ Tử Mẫu vẫn bướng bỉnh: “Tôi đâu cần phải bận tâm về họ nhiều như thế! Tôi chỉ lo ăn cho no bụng mình là đủ rồi!”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nghiêm giọng phán: “Thế ư? Nếu thế thì Ta cũng chẳng bận tâm về chuyện của ngươi nữa! Ta chẳng cần biết là ngươi có bị mất con hay không! Ngươi có bản lãnh thì cứ đem nó về đi!”
Quỷ Tử Mẫu nghe Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói như thế thì lại tìm cách lật bát, nhưng không tài nào lật lên được. Chẳng còn cách nào khác, Quỷ Tử Mẫu bèn đến quỳ trước mặt Đức Phật mà khóc lóc năn nỉ, thỉnh cầu Ngài mở lòng từ bi mà thả con bà ra.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Được! Ngươi muốn Ta trả đứa con lại cho ngươi, thì cũng được thôi! Ta không ăn thịt con của ngươi đâu, bởi vì Ta không giống như ngươi—Ta chỉ ăn chay, cho nên, đừng nói là thịt người lớn hay con nít, bất cứ loại thịt nào Ta cũng không ăn cả!”
Quỷ Tử Mẫu nghe nói như thế thì tự nghĩ: “Ồ! Thì ra người này không ăn thịt!”; và thắc mắc: “Thế thì Ngài làm sao sống được?”
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: “Ta đi hóa duyên các nơi, xin thức ăn chay.”
Quỷ Tử Mẫu nói: “Thế nhưng tôi biết đi đâu để hóa duyên? Ngài là Phật nên có thể đi hóa duyên; còn tôi thì đâu làm như thế được. Tôi nào phải là người xuất gia!”
Đức Phật nói: “Thôi được! Nếu từ rày về sau ngươi sẵn sàng không ăn thịt trẻ con nữa, thì Ta sẽ bảo các đệ tử của Ta mang thức ăn chay bố thí cho ngươi—miễn sao ngươi không ăn thịt trẻ con nữa là được.”
Quỷ Tử Mẫu hớn hở thưa: “Nếu tôi có thức ăn đầy đủ thì đương nhiên là tôi khỏi ăn thịt trẻ con cũng được.”
Thế là, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thả chú quỷ con ra và trả lại cho Quỷ Tử Mẫu. Do nhân duyên này mà những người xuất gia khi thọ trai đều có lệ “thí thực.” “Thí” là bố thí, ban phát; “thực” là phạn thực, cơm ăn. Lúc thí thực, quý Thầy, Cô dành ra một ít thức ăn và xướng rằng:
(Chim đại bàng cánh vàng,
Quỷ thần nơi khoáng dã,
Mẹ con quỷ La-sát,
Đầy đủ nước cam-lồ.)
Rồi họ tụng một bài Chú và mấy mẹ con của bà Quỷ Tử Mẫu thảy đều có được thức ăn no đủ, không còn bị đói khát và do đó không phải ăn thịt con nít nữa.
Cho nên, chúng ta nhờ không bị Quỷ Tử Mẫu ăn thịt nên bây giờ mới còn sống và lớn lên cao ráo, khỏe mạnh, lại có được cơ hội học hành, làm việc. Nếu không nhờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo hóa được Quỷ Tử Mẫu, thì e rằng nhân loại trên thế giới sẽ không được đông đúc như hiện nay. Ngoài ra, từ đó Quỷ Tử Mẫu chẳng những không ăn thịt con nít mà còn trở thành kẻ hộ Pháp đắc lực cho Phật Giáo nữa.
Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp:
“Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa Vương, Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” Đây đều là tên của các vị Hộ Pháp Thần Vương của Tứ Đại Thiên Vương. Các vị này từng giây từng khắc theo bảo vệ người trì tụng Chú Đại Bi.
“Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương, Hai mươi tám bộ Đại Tiên chúng, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” “Khổng Tước Vương” chính là Đại Bàng Kim Sí Điểu (chim đại bàng cánh vàng). “Hai mươi tám bộ Đại Tiên chúng” tức là “nhị thập bát tú”—hai mươi tám vì tinh tú. Lúc giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi đã giảng cho quý vị nghe cả rồi.
“Ta sai Ma Ni Bạt Đà La, Tán Chi Đại Tướng Phất La Bà, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” Quán Thế Âm Bồ tát lại phái Ma Ni Bạt Đà La cùng Tán Chi Đại Tướng Phất La Bà, vốn là những vị Kim Cang Hộ Pháp, đến ủng hộ người trì Chú Đại Bi.
“Ta sai Nan Đà, Bạt Nan Đà, Bà Già La Long, Y Bát La, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” Nan Đà và Bạt Nan Đà đều là những vị Long Vương; còn Bà Già La Long và Y Bát La là Hộ Pháp của Long Vương.
“Ta sai Tu La, Càn Thát Bà, Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu La, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” Quán Thế Âm Bồ tát lại phái A Tu La cùng với Nhạc Thần Càn Thát Bà của Ngọc Đế, và luôn cả Ca Lâu Na, Khẩn Na La, Ma Hầu La thuộc Thiên Long Bát Bộ, tất cả phải thường xuyên theo phù hộ người trì tụng Chú Đại Bi.
“Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Điển Thần, Cưu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Xà, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.” “Thủy, hỏa, lôi điển thần” tức là thủy thần (thần nước), hỏa thần (thần lửa), lôi thần (thần sấm) và điển thần (thần sét). Cưu Bàn Trà và Tỳ Xá Xà vốn là quỷ, nay đều biến thành kẻ hộ pháp và cùng nhau bảo vệ người trì Chú. Cho nên, quý vị chỉ cần niệm Chú Đại Bi thì ngay cả ma cũng đến hộ pháp cho quý vị.
“Các vị thiện thần cùng thần Long Vương, thần Mẫu Nữ này, mỗi vị có năm trăm Đại Lực Dạ-xoa làm quyến thuộc.” Tất cả các vị thiện thần hộ Pháp kể trên—Thiên Long Bát Bộ, Tứ Thiên Vương, cùng hết thảy long chúng, quỷ chúng, thần chúng, và hết thảy Kim Cang Lực Sĩ, thần Long Vương, thần Mẫu Nữ, ...—mỗi một vị đều có năm trăm quyến thuộc. Những quyến thuộc ấy toàn là quỷ Đại Lực Dạ Xoa và tất cả đều “thường theo ủng hộ người trì tụng Thần Chú Đại Bi.”
Bồ Tát Quan Thế Âm dạy:
Nghĩa: “Người đó, nếu ở nơi không sơn khoáng dã ngủ nghỉ một mình, các thiện thần này sẽ thay phiên túc trực bảo vệ, ngăn trừ tai chướng; nếu ở nơi thâm sơn quên đường lạc lối, tụng trì Chú này, thiện thần, Long Vương sẽ hóa làm thiện nhân chỉ đúng đường về; nếu ở nơi núi rừng khoáng dã, thiếu thốn nước lửa, Long Vương vì ủng hộ sẽ biến hóa ra nước lửa.”
Lược giảng:
Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp: “Người đó, nếu ở nơi không sơn khoáng dã ngủ nghỉ một mình...” “Không sơn” tức là nơi vắng vẻ, không có người ở. “Khoáng dã” là nơi rất hoang vu, rất ít người lai vãng. Như vậy, giả sử người trì Chú Đại Bi đó sống đơn độc một mình ở chốn núi rừng hoang vắng để tu hành, thì “các thiện thần này sẽ thay phiên túc trực bảo vệ.”
“Thay phiên (phiên đại)” tức là luân phiên, lần lượt thay phiên nhau. Chẳng hạn vị thiện thần này tức trực bảo vệ trong hai tiếng đồng hồ, sau đó có vị khác đến thay thế; vị mới đến này canh gác được hai tiếng đồng hồ thì lại có một vị khác nữa đến gác thay. Hoặc là, vị rồng này đến túc trực bảo vệ được hai giờ đồng hồ thì có vị thần đến bảo: “Hết phiên của ngài rồi, ngài hãy về nghỉ đi. Bây giờ đến lượt tôi bảo vệ người này!” Rồi hai tiếng đồng hồ sau thì có thể là đứa con trai lớn của Quỷ Tử Mẫu xuất hiện và nói: “Hết phiên trực của ngài rồi đấy, chắc ngài cũng tired lắm rồi. Ngài hãy về nghỉ ngơi đi, tôi sẽ ở đây tiếp tục bảo vệ người này!” Đó gọi là “phiên đại túc vệ,” tức là thay phiên nhau túc trực để sẵn sàng bảo vệ người trì Chú Đại Bi.
“Ngăn trừ tai chướng.” Người trì Chú Đại Bi đó nếu có tai nạn gì thì đều được tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bình an vô sự; nếu có chướng ngại gì thì cũng được hóa giải, không thể xảy ra.
“Nếu ở nơi thâm sơn mà quên đường lạc lối, tụng trì Chú này, thiện thần, Long Vương sẽ hóa làm thiện nhân chỉ đúng đường về.” Giả sử quý vị đi vào sâu trong núi và bị lạc đường, mất phương hướng, không phân biệt được đông tây nam bắc là đâu với đâu; lại thêm cây cối um tùm rậm rạp che khuất ánh sáng mặt trời, khiến cho quý vị càng thêm hoang mang bối rối, không biết phải theo hướng nào mà đi cho đúng. Bấy giờ, nếu quý vị có thể tụng niệm Chú Đại Bi thì chư thiện thần cùng Long Vương sẽ biến thành người để chỉ đường cho quý vị: “Hãy đi về phía này!” và dẫn đường cho quý vị.
“Nếu ở nơi núi rừng khoáng dã, thiếu thốn nước lửa, Long Vương vì ủng hộ sẽ biến hóa ra nước lửa.” Giả sử người trì tụng Chú Đại Bi phải ở chốn thâm sơn cùng cốc, hoang vu vắng vẻ, chịu thiếu thốn mọi bề, hoàn toàn không có nước và cũng chẳng có lửa, thì Long Vương vì muốn bảo vệ và giúp đỡ người đó, sẽ biến hóa ra nước và lửa cho người đó dùng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Chú Đại Bi)
+ Thù ghét - Chán Ghét - Thù Oán - Oán Thù - Thù hận - Hận Thù - Căm thù: Sinh ra độc tố hại cơ thể. Nhân đọa cõi Địa Ngục Có nguồn gốc từ Nhân Sân hận - Nóng nảy - Giận hờn - Giận giữ - Thù hận, rất đáng sợ. Là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan. Căm giận đến mức thôi thúc phải trả thù => Cách hóa giải: Đem tình thương đáp lại hận thù. (Minh triết)
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ
+ Lửa nóng giận: ... Chẳng hạn, một người có tánh rất nóng, một khi ngọn lửa tự tánh của người ấy bộc phát mạnh thì thực chất của anh ta dễ dàng biến thành than ngay. Lửa của tự tánh rất mạnh, nó có sức nóng thật khủng khiếp, và như vậy, thực chất cũng dễ bị đốt cháy. Con người bao gồm các yếu tố kim loại, gỗ, nước, lửa và đất, nếu họ thường xuyên tiếp xúc và dốc hết tâm ý vào một yếu tố nào thì họ sẽ biến thành yếu tố đó. Điều đó xảy ra là do tư tưởng cố chấp tham trước... (Nguồn: Kinh Thủ LN 7- HT Tuyên Hóa)
+ “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù.
- Sở dĩ sân sinh khởi là do lòng yêu thích “cái ta” hay thích “cái của ta”. Nếu người ta mắng nhiếc, chê bai kẻ nào khác thời ta không thấy giận, nhưng nếu ai chửi bới hoặc khiển trách ta hay người thân của ta, hoặc làm tổn hại tài sản của ta lập tức ta cảm thấy khó chịu ngay. Khi khó chịu tăng dần thời sẽ trở thành nóng giận. Nhưng nên nhớ rằng trên đời này không ai tránh khỏi bị khiển trách, bị chê bai, khó tránh khỏi miệng thế gian như Đức Phật đã từng đưa nhận xét:
+ Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra.” Và: “Một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức”. Đức Phật khuyên: “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các ngươi.”
=> Theo Kinh “Thập Thiện Nghiệp Đạo” người nào không nổi sân, thì tâm không khổ não, tâm không tranh giành, tâm nhu hòa ngay thẳng, tâm từ bi như Phật, thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sinh, thân tướng trang nghiêm được chúng sinh tôn kính và vì có đức nhẫn nhục nên sẽ được mau sinh lên cõi Phạm Thiên. (Nguồn: Phật dậy về Tam độc Tham Sân Si)
+ Lửa sân hận: .... "Này người Bà-la-môn, tại sao lại phải buông bỏ, gạt đi và tránh xa ngọn lửa hận thù? Nếu tâm thức bị ám ảnh bởi hận thù, khống chế bởi hận thù, say đắm bởi hận thù, thì sẽ là cách bước vào con đường đưa đến các "hành động" thân xác tai hại, các "hành động" ngôn từ tai hại, các "hành động" tâm thần tai hại. Vì thế khi cái chết xảy đến, thân xác tan rã, thì sẽ tái sinh trong cõi địa ngục, gánh chịu phần số bất hạnh, lâm vào cảnh khốn cùng nơi địa ngục. (Nguồn: 11 Loại Lửa - Kinh về Lửa)
+ Lửa hận thù: ... phải buông bỏ, gạt đi và tránh xa ngọn lửa hận thù? Nếu tâm thức bị ám ảnh bởi hận thù, khống chế bởi hận thù, say đắm bởi hận thù, thì sẽ là cách bước vào con đường đưa đến các "hành động" thân xác tai hại, các "hành động" ngôn từ tai hại, các "hành động" tâm thần tai hại. Vì thế khi cái chết xảy đến, thân xác tan rã, thì sẽ tái sinh trong cõi địa ngục, gánh chịu phần số bất hạnh, lâm vào cảnh khốn cùng nơi địa ngục. (Nguồn: 11 Loại Lửa - Kinh về Lửa)
+ Mạng trược: Có hai loại giải thích cần phân biệt
Sự giải thích về ngũ trược mà tôi có lần đã nói ở trước là hoàn toàn khác với ở đoạn nầy. Đoạn kinh trước là nói về ngũ trược trong phạm trù thế giới, còn ở đây ngũ trược được giải thích trong phạm trù thân thể của mình. Thực vậy, cái hỗn trược bên ngoài sở dĩ có là do ngũ trược bên trong. Vì vậy nên quý vị nên tịnh hoá các ngũ trược cụ thể hữu hình, thì các ngũ trược bên ngoài sẽ được tiêu trừ. Như vậy có hai loại
a- Ngũ trược trong phạm trù thế giới.
- 5) Mạng Trược. Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược, bất tịnh.
Mặc dù năm thứ ô trược này rất phức tạp, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn có thể ở trong đời ác Ngũ Trược - một thế giới xấu xa nhất - mà hiện sức Ðại Trí Huệ và Thần Thông không thể nghĩ bàn. "Không thể nghĩ bàn" tức là vô cùng vi diệu, chúng ta không tài nào nghĩ ra hoặc mường tượng ra được. Thứ gì mà vi diệu, không thể nghĩ bàn như thế? Ðó chính là năng lực từ Ðại Trí Huệ và Ðại Thần Thông của Ðức Phật. (Nguồn: Kinh Địa tạng - HT Tuyên Hóa giảng)
b- Mạng Trược trong thân thể con người - Mạng trược tức là ngu si.
Cái thấy nghe của ông vốn chẳng phải là tánh nào khác, do các trần cách trở nên bỗng nhiên trở thành khác. Tánh thì vẫn biết nhau, nhưng trong phần dụng thì trái nghịch nhau. Cái đồng cái khác mất hẳn chuẩn đích, cùng đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ năm, gọi là mạng trược.
Giảng giải:
A-nan và tất cả các ông đều chưa chứng được quả vô lậu, cái thấy nghe của ông vốn chẳng phải là tánh nào khác. Chúng chẳng phải là hai thứ xuất phát từ hai nguồn. Chúng là một và đồng nhất. Do các trần cách trở nên bỗng nhiên trở thành khác. Tánh thì vẫn biết nhau, nhưng trong phần dụng thì trái nghịch nhau. Tánh thấy và tánh nghe cùng chia nhau một nguồn hiểu biết chung. Nghĩa ở đây là:
Nguyên y nhất tinh minh 元依一精明
Phân thành lục hòa hợp. 分成六和合
Thế nên chân tánh sáng suốt có một cái biết chung, nhưng chức năng, tác dụng của sáu thứ thì khác nhau. Sự phân chia thành sáu phương diện gây ra những tác dụng khác nhau mà lại trái nghịch nhau. Mắt có thể thấy chứ không thể nghe. Tai có thể nghe chứ không thể thấy. Mũi có thể ngửi chứ không nghe, không thấy được. Lưỡi có thể nếm biết mùi vị chứ không thấy nghe, ngửi được. Cái đồng cái khác mất hẳn chuẩn đích. Nó không có tính nhất định. Vì sáu căn mất hẳn tính đồng nhất với nhau, nên tác dụng của nó cũng mất hẳn tính chính xác. Nó vốn không đồng không khác, nhưng nhìn qua hai phương diện, thấy thiếu sự phân định rõ ràng dứt khoát. Do vậy nên nói, “Cái đồng cái khác mất hẳn chuẩn đích.”
Cùng đan dệt nhau, hư dối mà thành. Đây là lớp thứ năm, gọi là mạng trược. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4 - Ch.IV)
+ Mạng trược: Mạng là sức nóng, hơi thở và thức. Lại có thuyết là tuổi thọ, sức nóng và thức làm thể, lấy sự rút mất tuổi thọ làm tướng. Từ nhỏ tới lớn, từ lớn tới già, từ già tới chết, đó là tướng của mạng. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Vận mạng người ngu: Về câu ‘’ Ngu si kiến trược rất đáng sợ.’’ Ngu si tức là mạng trược. Vì sao ? Vì vận mạng người ngu si là ô trược, sinh ra thì chẳng thông minh, đều có mối quan hệ với nhau. (Nguồn: Giảng Kinh Hoa Nghiêm-T1)
+ Đọc Tụng Kinh Có Lợi Ích - Đọc Kinh hay Tụng Kinh Có lợi ích gì - Lợi ích của việc đọc tụng Kinh Chú:
... Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Lợi ích đọc tụng Kinh Chú: Kinh Bảo Tích nói: “Người nghe Phật nói, niệm danh hiệu Phật, tụng đọc kinh điển, người ấy diệt được, hằng sa tội chướng; những người bố thí, thụ trì trai giới, không giết sinh linh, thọ mệnh vô cùng, người nào nhẫn nhục, tính tình nhu hòa, được vào chính định; người trừ tham vọng, dứt được phiền não; người biết quán thân, là đồ nhơ nhớp, thì xa bể ái, người tu phạm hạnh, chóng chứng Bồ Đề, người chăm thuyền định, thành bậc Chính Giác. (Nguồn: Kinh Đại Bảo Tích)
+ Ví dụ về lợi ích đọc tụng kinh chú: Đọc tụng ví như nước sách, Tâm thì nhiễm ô nhiều tầng lớp. Mỗi lần đọc, nước sẽ gột rửa Tâm ta ngày một trong sáng ... (Nguồn: Lợi ích của việc đọc tụng kinh sách dù không nhớ)
+ Hóa giải Tam độc - Ba độc Tham Sân Si = Pháp Niệm Quán Thế Âm hay Quan thế âm
Này Vô Tận Ý! Ðại Bồ Tát Quán Thế Âm có sức oai thần cao lớn như thế.
Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni sau khi giảng giải lý lẽ như trên xong, lại gọi tiếp: “Này Vô Tận Ý! Sức oai thần của Bồ Tát Quán Thế Âm thật là rộng lớn cao tột!” Nói mãi không rồi, giảng hoài không hết.
Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, liền đặng ly dục.
Giả như có những chúng sanh nào, lòng đặc biệt dâm dục quá nhiều. Có người vừa học Phật vừa sanh tâm dâm dục, học Phật-pháp càng nhiều, tâm dâm dục càng phát triển mạnh. Cả ngày từ sáng đến tối khởi lên vọng tưởng dâm dục cuồn cuộn như giòng nước chảy tràn. Ðó là một thứ tư tưởng, hành vi cùng biểu hiện rất xấu xa! Vậy thì phải làm sao? Quý vị đừng buồn, cũng đừng lo! Chỉ cần thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm là được. Nhưng chỉ đơn thuần tụng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm vẫn chưa đủ, mà phải đem lòng cung kính chân thành đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Âm thật nhiều nữa.
Ðảnh lễ Phật và Bồ-tát là một biểu hiện rất cung kính. Nhưng có một số người không biết lý lẽ này, nhất là những người ngoại đạo, nhìn thấy người ta lạy Phật rồi phê bình một cách mù quáng rằng: “Ðó đều là ngẫu tượng, là thứ gỗ khắc hay tô đắp mà thành, lạy làm chi?” Tại vì chính mình không có huệ nhãn, không thấy được cảnh giới Phật quang chiếu khắp mới sanh ra đại ngã mạn như thế, thậm chí coi mình còn hơn Phật cho nên mới nói cần gì phải lạy Phật! Ðó chính là kẻ ngu si mắc phải sai lầm quá lớn! Nếu thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì tâm dâm dục của quý vị tự nhiên lìa khỏi. Có người nói: “Thật là bậy quá! Tôi thích dâm dục mà bây giờ không có nữa, phải làm sao đây?” Nếu quý vị thích có, cũng không cần phải lo, rồi sẽ có. Nếu quý vị không thích có rồi sẽ được không có.
Hoặc người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, liền đặng lìa lòng giận.
Giận hờn là gì? Chính là nổi nóng, chính là phiền não, cũng là vô minh. Giận hờn lợi hại giống như lửa vậy.
Ấy là: “Một đốm lửa giận, có thể đốt tiêu cả rừng công đức.”
Người xưa cũng nói: “Ngàn ngày gánh củi một mồi lửa.”
Ý nói quý vị đốn củi một ngàn ngày chỉ cần một đốm lửa châm vào có thể đốt cháy sạch. Ðó là hình dung bình thường chúng ta tích tạo bao công đức thiện nghiệp, dù tu hành bao lâu mà một khi quý vị nổi cáu lên, phừng lửa vô minh, thì bao nhiêu công đức tích tụ được đều đốt sạch cả. Hạng người nào thích nổi lửa vô minh thế? Chính là A-tu-la đấy. Mỗi cá nhân đều có một xu hướng riêng. Người thuộc Phật đạo, tính cách đa số là từ bi; người thuộc Tiên đạo thì ưa thích thanh nhàn, thuộc Nhân đạo thì đều có nhân duyên với mọi người; thuộc Quỷ đạo thì tánh hay giảo hoạt, không muốn thua thiệt, là người không thành thật, lén lén lút lút, và cũng giống như quỷ La-sát đã nói ở trước, đều có ý “muốn đến hại người.” Người thuộc Súc sanh đạo thì nặng về tham dục, bất luận thứ gì họ đều không sợ nhiều, càng nhiều càng tốt, tham mãi không chán. Người thuộc Tu-la đạo thì hay phát cáu, những người này hễ động đến thì nổi giận ngay, cáu gắt om sòm. Những người như thế thì phải làm sao? Có cách gì có thể sửa đổi được? Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã đem pháp môn này dạy bảo cho quý vị kỹ càng, đó là phải thường niệm: “Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát.” Hơn nữa, phải tiếp tục luôn luôn không gián đoạn.
“Thường” nghĩa là không dứt. Mỗi khi lên chùa, gặp chỗ nào có thờ Phật, hoặc thờ Bồ Tát Quán Thế Âm thì phải cung kính cúi đầu đảnh lễ. Cũng không nên hôm nay lạy, rồi ngày mai không lạy; sáng nay đảnh lễ, chiều tối lại không đảnh lễ. Nếu chịu kiền thành hằng thường kính lễ chư Phật Bồ-tát, lâu dần rồi bịnh nổi cáu ấy sẽ không còn nữa, mà chính mình cũng không biết vì sao? Nếu quý vị không tin, tôi sẽ đem kinh nghiệm của chính mình nói cho quý vị nghe. Tôi trước kia là người rất dễ nổi giận, hễ nói đánh là đánh, nói mắng là mắng ngay. Năm tôi 12, 13 tuổi rất thích đánh nhau. Bất luận là người lớn bao nhiêu, đến với tôi thì phải nghe tôi chỉ huy, nếu không nghe tôi chỉ huy thì tôi đánh! Dù chết cũng phải đánh, đánh đến chừng nào chịu hàng phục mới thôi. Thế gọi là gì? Ðó chính là một thứ hành động của A-tu-la. Về sau tôi học Phật, mới biết thói giận bướng như thế là không tốt, phải cải hóa tự tân mới được, nên thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Cho nên bây giờ làm sư phụ, tôi phải tu hạnh nhẫn nhục. Có lúc đồ đệ đến hiếp đáp, trước hết tôi nổi cáu, nhưng rồi nhỏ nhẹ ôn hòa, nhẫn nhục cho đến khi người ấy từ từ hiểu ra, tự nhận biết lỗi mình. Vì trước đây tôi chọc người khác giận nên bây giờ tôi bị đệ tử đến hiếp đáp. Có thể nói đây là một thứ quả báo! Có người hỏi: “Ðồ đệ nào dám hiếp đáp thầy vậy?” Người nào hiếp đáp tôi thì người đó tự biết.
Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, liền đặng lìa ngu si.
Trước đã nói về tham và sân, bây giờ nói về si. Tham sân si được gọi là ba độc. Ba độc này làm hại Phật tánh của chúng ta hôn mê như say ngủ. Tại sao chúng ta chưa giác ngộ? Cả đời sống say chết mộng? Ðó là bởi ba độc này. Tham là tham dục. Xưa nay tham dục này tác hại rất lớn đối với tự tánh, nhưng có một số người lại cho nó là một thứ hưởng thụ tối cao, cho nên đã gây ra biết bao hành vi điên đảo, đem tự tánh của mình vùi chôn dưới lớp trần cấu. Thứ trần cấu này càng ngày càng nhiều, vì thế mà ánh sáng Phật tánh của quý vị không hiển lộ được. Ðó là sự tệ hại của tham độc. Tác hại của sân độc cũng rất lớn không kém gì tham độc.
Còn thế nào là si độc? Si là ngu si. Ngu si mà chẳng biết mình ngu si, đó là ngu si đấy. Có kẻ cho mình là người rất thông minh, có trí huệ; nhưng trên thực tế, nếu quý vị hỏi anh ta: “Anh từ đâu đến đây? Tương lai anh sẽ về đâu?” thì anh ta không biết. Ðến không biết mình từ đâu đến, đi không biết mình đi về đâu, quý vị thử nghĩ xem người như thế có phải là thông minh không? Nhưng chính anh ta lại không thừa nhận mình là người ngu si. Ấy là:
Việc nhỏ lợi danh người người thích,
Việc lớn sanh tử chẳng ai lo.
Trên thế gian này, việc tìm cầu danh lợi tuy là nhỏ, nhưng người ta suốt ngày quần quật bôn ba, thậm chí hại bạn, giết người, phóng hỏa đều là vì lợi cả. Nếu không vì “lợi” cũng vì “danh”! Trên thế gian này, số quốc gia cùng con người không đếm kể hết, song tựu trung lại có hai hạng người: Một là cầu danh, hai là cầu lợi. Danh lợi nó chi phối, làm điên điên đảo đảo biết bao nhiêu người vẫn chưa giác ngộ được. Từ khi sanh ra đến lúc chết, đều ở trong tình trạng bon chen, giành giật, có người ham làm quan, có người ham phát tài, có người ham được con cái, cho đến những ham muốn nghiêng về khoái lạc. Khát vọng một đời, chờ đợi mọi thứ khoái lạc, nhưng mà chưa hưởng thụ được bao nhiêu rồi phải chết. Chết rồi đi về đâu cũng không biết! Lúc sống đều tự cho mình là phi thường, cảm thấy chính mình thật là không ai bằng.
-“Ta là người có trí huệ thông minh nhất. Lúc còn đi học, ta mỗi năm đều được hạng nhất, bất cứ làm việc gì ta cũng đều dẫn đầu, trên người một bậc.”
Tự cho mình là thông minh khác thường, mà kỳ thật cả bản lai diện mục của mình cũng không nhận biết! Sự thông minh như thế đều là giả cả, đó là thứ “thông minh giả.” Người thật sự có thông minh thì không cảm thấy chính mình có trí huệ. Vậy thì thấy mình là ngu si sao? Cũng không tự thấy mình là ngu si, lại càng không tự thấy mình có trí huệ. Tuy rằng, ngoài mặt xem ra cũng cùng một thân thể hình trạng như mọi người, nhưng mà những tư tưởng quan niệm của họ thật thấu suốt rõ ràng. Rõ ràng là thế nào? Thấu suốt rõ ràng rằng tất cả đều như huyễn như hóa. Biết rằng tất cả mọi thứ đều là giả, họ không tham đắm vinh hoa phú quý trong mộng, ham giành sắc đẹp, tranh nhân ngã, tranh thị phi, tranh đứng đầu, tranh danh đoạt lợi, mà hiểu rõ tất cả đều là vô thường. Vì thế Kinh Kim Cang nói:
“Tất cả pháp hữu vi
Như chiêm bao, bóng nước,
Như điện chớp, mù sương,
Hãy quán cho thật tường.”
Tất cả pháp hữu vi như chiêm bao, bóng nước. Pháp hữu vi là gì? Tất cả những gì có hình tướng, có thể nhìn thấy, đều là pháp hữu vi. Nó giống như chiêm bao, bọt nước. Bọt nước trong biển cả, quý vị cho là thật hay giả? Nói là thật, thì sao nó lại hóa ra không có? Nói là giả, thì sao lại có cái bọt nước? Tuy có bọt nước, nhưng không phải thật tại, không có thể tánh chơn thật. Bóng, cũng là hư ảo. Lại giống như mù sương; sáng sớm có mù sương, nhưng khi mặt trời mọc lên nó lại tan biến hết. Ðiện, cũng là có; nhưng lửa điện, lửa đá chớp mắt tan đi, cũng không phải là chơn thật. Nếu có thể quán tưởng tất cả sự vật như thế thì còn có gì phải chấp trước? Không có chấp trước mới là thật hiểu rõ. Bấy giờ, quý vị sẽ không tưởng Ðông tưởng Tây, càng không tưởng Nam tưởng Bắc, tất cả vọng tưởng trần lao đều bị vất bỏ. Bỏ hết những vọng tưởng trần lao rồi, lúc ấy quý vị không muốn thành Phật cũng không được, muốn không có trí huệ cũng không được, sẽ tự nhiên có thôi.
Cho nên đương lúc tự mình không có trí huệ, không nên cho là mình có trí huệ. Trí huệ không phải tìm cầu ở bên ngoài mà có. Không nên sanh tâm kiêu ngạo, cho là:
-“Giữa mọi người, ta là kẻ thông minh nhất, đẹp đẽ nhất, kiệt xuất đối với mọi người, siêu quần bạt tụy, trên tất cả.”
Nếu quý vị có tư tưởng này là quý vị còn chấp tướng. “Tướng” vốn là cái đãy da hôi, nó như là chiêm bao, bóng nước. Quý vị suốt ngày cho nó ăn ngon mặc đẹp, hết lòng cho nó hưởng thụ. Nhưng đến lúc nó bỏ đi, nó cũng không thèm để ý tới quý vị. Có người lại chăm chút cho đãy da hôi này, vừa hút thuốc, vừa uống rượu, vừa ăn thịt, suốt ngày lo lấp cái hố sâu không đáy này, lấp rồi lại chảy, chảy rồi lại lấp, lấp mãi vẫn không đầy. Nhưng người ta cứ bỏ cũ thay mới, mới cũ thay nhau, vì bản thân mà bận rộn, vất vả.
Tại sao mỗi ngày ăn một bữa cơm? Tại vì sợ phiền phức cho nên ăn ít một chút để bớt đi phiền rộn. Có một số người cho rằng ăn ngon là cách hưởng thụ tốt nhất, tôi lại cho rằng đó là việc phiền rộn nhất. Giải thích như thế nào đây? Nếu ăn nhiều vào thì bụng sẽ khó chịu. Ăn ít vào, lại sanh ra tâm tham:
-“Ðồ ăn ngon như thế này, nên ăn nhiều một ít!”
Nếu đồ ăn không ngon thì không thể sanh tâm tham. Bao tử cũng không bị khổ sở. Cho nên đó đều là những việc phiền phức. Tại sao người ta lại có những phiền phức này? Tại vì mình quá ngu si mới tham hưởng thụ, cầu giàu sang, cầu danh lợi, cầu vui sướng, các thứ ấy thảy đều là điên đảo cả. Quý vị tham cái này cái nọ, thì kết quả sẽ ra sao? Kết cuộc rồi cũng phải chết thôi. Ðến lúc chết, không đem theo được tí gì. Ðó không phải là ngu si sao? Ngu si như thế thì phải làm sao? Theo phương pháp của Kinh Pháp Hoa dạy: “Thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm.” Sự ngu si của quý vị sẽ mất đi và trí huệ sẽ hiện lên. Ai có thể biết mình ngu si? Ðó mới là nhận thức đúng đắn về mình. Ðã có trí huệ, mới biết mình là ngu si. Nếu quý vị tự mình không có trí huệ thì rốt cuộc không thể biết tự mình là ngu si đâu, càng nghĩ càng xa thôi. Chính mình vốn là ngu si, mà tự cho là rất thông minh thì há không phải là trên ngu si lại thêm ngu si hay sao? Trước là một kẻ ngu si còn chưa đủ, lại muốn biến thành kẻ ngu si gấp đôi. Hiện tại chúng ta nếu muốn mình không ngu si thì phải thường cung kính niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Ðó là một phương pháp hay nhất, linh diệu nhất. Tuyệt đối bảo đảm mầu nhiệm không thể nói được.
Nói về ngu si và trí huệ, thì thế nào là ngu si? Thế nào là trí huệ? Tôi sẽ nói một đạo lý mà quý vị sẽ không tin đâu, đó là
-“Ngu si chính là trí huệ, trí huệ chính là ngu si.”
Tại sao nói thế? Ở Tâm Kinh có câu: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc.” Cảnh giới này nói lên chơn sắc từ chơn không mà sanh, chơn không từ chơn sắc mà có, cho nên hai mà không hai. Ngu si và trí huệ cũng cùng một đạo lý ấy. Khi quý vị biết dùng thì đó là trí huệ, nếu không biết dùng thì đó là ngu si. Ngu si và trí huệ không phải là hai mà phải xem quý vị có biết dùng hay không! Nếu quý vị biết dùng thì ngu si cũng biến thành trí huệ; nếu không biết dùng thì trí huệ biến thành ngu si. Nếu thấu triệt được đạo lý này thì quý vị sẽ không còn điên đảo nữa.
Trên đây là Đức Phật giảng về Bồ Tát Quán Thế Âm - Phẩm Phổ Môn:
Bồ Tát Quán Thế Âm cứu bảy thứ nạn, giải trừ ba thứ độc và đáp ứng hai thứ mong cầu của chúng sanh.
Bảy thứ nạn này trong kinh văn nói rất tỉ mỉ; đó là nạn lửa, nạn nước, nạn quỷ La-sát (gió bão), nạn đao gậy, nạn ác quỷ, nạn gông cùm (lao tù), và nạn oán tặc.
Ba thứ độc là gồm những thứ nào? Ðó là ba độc tham, sân, si.
Hai điều cầu mong tức là cầu mong sanh con trai và cầu mong sanh con gái. (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - Quán Thế Âm)
+ Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật
Chính tôi được nghe: lần chuyển bánh xe chánh pháp đầu tiên, Đức Thế Tôn độ tôn giả Kiều-trần-như và lần thuyết pháp sau cùng, Ngài độ tôn giả Tu-bạt-đà-la. Những người có thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Vào đêm cuối trước ngày Niết-bàn vô dư, giữa rừng Sa-la, dưới cây song thọ, không gian thật vắng lặng, yên tĩnh, Đức Phật đã nhắn nhủ những điều cốt lõi của chánh pháp như sau.
1- Này các đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt. Phải biết rằng giới luật là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở đời bao nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn dạy các vị về giới luật ấy thôi.
Người giữ giới thì không được kinh doanh, thương mại, xây dựng nhà cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê người giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây cối, đào đất, móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ tốt xấu, xem sao đoán mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi hưng suy, hay coi lịch đoán số.
Các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao, giải thoát. Không tham dự chính trị, lãnh sứ mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo người quyền quý, kết thân kẻ ngạo mạn. Cần phải giữ tâm chân thật, sống chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải thoát. Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với bốn phẩm vật cúng dường. Sống vừa đủ để hành đạo, không cất chứa tài sản và tiền bạc.
Như Lai vừa nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới luật đó là căn bản, là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang nghiêm, thiền định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu diệt sự đau khổ. Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một cách trọn vẹn. Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp lành. Người thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức.
2. Này các đệ tử, các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng dong ruổi theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú mục đồng cầm roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người. Một khi các vị buông lung năm giác quan, không những các vị không chế ngự được năm thứ dục lạc, mà các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả của phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một đời, trong khi nạn giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn thận.
Thế nên, người có trí cần phải chế ngự các giác quan chứ không phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng giặc cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.
Này các đệ tử, trong các giác quan của con người, ý là quan trọng nhất. Các vị phải thận trọng chế ngự tâm ý mình. Tâm ý rất đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc, thậm chí nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải mê cầm giữ chén mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường, sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say mà không có móc sắt; như khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà chuyền nhảy, muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các vị siêng năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp thiện. Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không thành. .......
4. Này các đệ tử, ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không luống bỏ. Giữa đêm tụng niệm, tu trì. Đừng vì chuyện ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô ích. Hãy tâm niệm rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, để tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng, ngủ nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy hiểm hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ mà không cảnh giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng như rắn độc nằm trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn độc ra rồi ta mới an tâm ngủ nghỉ. Rắn độc chưa ra mà mải mê ngủ nghỉ thì thật là người không biết hổ thẹn.
Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm thú.
5. Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai. Tâm sân hận trỗi dạy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập. Đức tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng. Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ. Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập. Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc, thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thứ vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp.
7. Này các đệ tử, tâm lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo giải thoát. Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật chất trực. Nên biết rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà người xuất gia không nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh, phát huy đức tánh trung trực. Đó là con đường vào đạo.
11- Này các đệ tử, nỗ lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế nên các vị phải siêng năng, tinh tấn như giọt nước thường nhỏ có thể xuyên thủng đá. Người tu hành mà biếng nhác thì khác nào như người cọ cây lấy lửa, cây chưa kịp nóng đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì thế mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng.
13- Này các đệ tử, nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ vào định. Tâm trụ thiền định thì sẽ thấu triệt được trạng thái sinh diệt, chuyển biến của thế giới. Các vị phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm định thì trạng thái chao động, tán loạn sẽ tiêu mất cũng như người biết cách giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng vậy, muốn có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định, không để cho rỉ chảy.
16. Này các đệ tử, hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để từ bỏ tất cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã tuyên nói chánh pháp lợi ích rốt ráo. Về phần mình, các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý, cho toa thuốc hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải là lỗi của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường, chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát. Biết rõ đường lành mà không chịu cất bước lên đường không phải là lỗi của vị đạo sư!
Kinh còn dài, mời đọc tại trang: Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật
+ Mở đài - Mở ti vi: Giảng Kinh - Đọc tụng Kinh Chú trong nhà
Cư Sĩ Lâm mở chiếu băng ghi hình giảng Kinh 24 giờ không gián đoạn. Lúc mới đầu là oan gia trái chủ của Lão Lâm trưởng yêu cầu, quỷ thần nghe.Mở chiếu những băng ghi hình này,ban ngày người nghe, quỷ cũng nghe;ban đêm người không nghe, quỷ vẫn tiếp tục nghe. Thật tình mà nói thì có rất nhiều quỷ còn tinh tấn hơn chúng ta. Con người chúng ta tương lai có thể đọa tam đồ, còn những quỷ thần đó đều sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc. Vì sao chứ? Làm quỷ quá khổ, muốn mau mau “lìa khổ được vui”. Con người bởi vì sao không muốn vãng sanh? Con người trong cuộc sống hiện nay, đặc biệt là tại Singapore này thì quá tốt, vẫn không muốn đi, cho nên kết quả trong tương lai con người không bằng quỷ. Nếu như chúng ta hiểu được đạo lý này, nếu muốn rộng kết thiện duyên, hiện tại thật sự có thể kết duyên.
Nếu như điều kiện trong nhà bạn cho phép, ở trong nhà bạn chuyên dùng một chiếc truyền hình 24 giờ đồng hồ mở chiếu băng ghi hình giảng Kinh, để cúng dường hư không pháp giới tất cả chúng sanh trong cõi U Minh, pháp duyên của bạn liền rộng lớn. Bạn không có duyên với người mà có duyên với quỷ thần, họ đều đến xem, đều đến nghe. Bạn dùng một cái máy ghi âm hoặc là cái máy niệm Phật hiện nay rất tốt, cái máy niệm Phật đó mở niệm Phật 24 giờ không gián đoạn, thì có rất nhiều chúng sanh trong cõi U Minh niệm Phật cùng với bạn. Nếu như vậy trở đi, không phải tôi đều đã mời gọi quỷ về nhà mình rồi sao?
Vậy có thể được sao?
Không sai, sẽ có rất nhiều rất nhiều quỷ ở nhà bạn, nhưngbạn không cần sợ, đó đều là thần hộ pháp của bạn.Vì sao vậy? Họ nhận ân đức của bạn. Khi mà bạn không mở máy chiếu giảng Kinh thì họ không được nghe Kinh, bạn không mở máy niệm Phật thì họ sẽ quên việc niệm Phật. Cho nên, bạn mà làm như vậy thì bạn là đại ân nhân của quỷ thần trong cõi U Minh, họ sẽ tri ân báo ân. Hiện nay, mỗi một gia đình đều có thể làm được, chẳng qua nếu bạn làm ở nhà thì bạn phải trưng cầu sự đồng ý của cả nhà.
Vì sao vậy?
Để tránh việc ban đêm máy niệm Phật này, truyền hình mở băng giảng Kinh đó không ồn đến nỗi người trong nhà không thể ngủ được, rồi họ sẽ kháng nghị, vậy thì sẽ phiền phức. Nhất định phải hiểu được đạo lý này. Nếu như trong nhà phòng ốc nhiều, thì dùng một căn phòng làm Phật đường, khi bạn mở phát thì âm lượng nhỏ một chút cũng không sao, nhất định phải có âm thanh. Chúng ta tương lai thành Phật, cái quang minh ấy sẽ không thua kém Phật A Di Đà. Đây là sự kỳ vọng của Phật A Di Đà đối với chúng ta. Phật A Di Đà nhất định không mong muốn chúng ta có thành tựu giống như Ngài, vậy thì bạn đã sai rồi, quả thật giống như sự kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái. Có người làm cha mẹ nào mà không kỳ vọng con cái tương lai thành tựu vượt trội hơn cả chính mình chứ?
Các vị thử nghĩ mà xem, hiện tại thầy cô thì tôi không hiểu cho lắm, người làm thầy ngày trước duy nhất chỉ có một sự hy vọng là học trò được thành tựu cao hơn cả chính mình. Đó là sự thành tựu của người thầy. Đời sau nếu không thể siêu vượt qua được đời này của chúng ta, thì thành tựu gì cũng đều không thể bàn luận. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Phân biệt Tâm Chánh - Tà: HỎI: Thế nào là chánh tâm? Thế nào là tà tâm?
ĐÁP: Chánh tâm là tâm Bồ Đề, tâm bình đẳng, tâm từ bi, tâm thương xót, tâm bố thí, tâm xấu hổ. Tà tâm là tâm ích kỷ, tâm tự lợi, tâm ganh ghét, tâm oán hận, tâm kiêu ngạo, tâm vọng tưởng. Mục đích tu đạo của chúng ta là bỏ vọng tâm, tồn giữ chân tâm; cũng tức là trừ bỏ tà tâm và sanh khởi chánh tâm. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị Q.3)
+ Chánh tâm - Thành ý mới có cảm ứng khi học trì chú
Học Chú thì trước tiên cần phải chánh tâm, thành ý; tâm không chánh thì học chú gì cũng thành tà. Tâm chánh, học Chú mới có cảm ứng. Chánh tâm cũng chưa đủ, cần phải thành ý. "Thành" tức là lúc nào mình cũng hết sức chuyên chú, chuyên tâm, không xao lãng, không làm những chuyện cẩu thả, tắc trách. Ðược vậy thì mới có cảm ứng.
Nếu không "chánh tâm, thành ý," nếu trong lòng đầy dẫy tư tưởng sai lầm, làm hại kẻ khác, tức là mình làm chuyện của ma. Pháp của ma vương là hại người, không lợi ích cho ai cả.
Tôn chỉ hết sức trọng yếu của Phật Giáo là: Nếu bạn là ma quỷ thì tôi tuyệt đối không làm tổn hại bạn, không sinh lòng đối kháng, mà ngược lại, sẽ tìm cách để nhiếp thọ bạn. Ðây là giáo nghĩa đặc biệt nhất của đạo Phật. Ðối với chúng sinh luôn phát tâm từ bi, không làm hại kẻ khác. (Nguồn: Trì chú theo Chánh pháp và Thành ý)
+ Học chú phải chánh tâm - Thành ý: Học Chú trước hết phải chánh tâm thành ý, nếu tâm không chánh, thì học Chú gì cũng đều là tà, tâm chánh học Chú mới có cảm ứng. Tâm chánh còn chưa đủ, còn phải thành ý.
Thành ý tức là niệm từ từ, tơ hào đều không cẩu thả, không thể phô diễn, lơ là, mới có cảm ứng. Nếu bạn không chánh tâm thành ý, mà tồn tại tà tri tà kiến, muốn đi hại người, tức là ma pháp, là pháp của ma vương thực hành, ma thì hại người, không lợi người.
Người chân chánh muốn tu pháp dưới bất cứ hình thức nào, cũng không được hại người, phải tồn tại tâm lợi ích chúng sinh. Ðừng có tư tưởng học Chú vì để hàng phục ma quỷ, hoặc là khởi tâm đối đãi với kẻ khác.
Người theo Phật Giáo không có kẻ thù, không tìm người để trả thù. Ðối với kẻ cố ý hại mình, mình phải nhẫn nại, tu hạnh Nhẫn Nhục Ba-la-mật; không sinh tâm báo thù. Ðó là chỗ cao siêu, là ưu điểm của Phật Giáo mà các tôn giáo khác thiếu sót.....
Tôn chỉ hết sức trọng yếu của Phật Giáo là: Nếu bạn là ma quỷ thì tôi tuyệt đối không làm tổn hại bạn, không sinh lòng đối kháng, mà ngược lại, sẽ tìm cách để nhiếp thọ bạn. Ðây là giáo nghĩa đặc biệt nhất của đạo Phật. Ðối với chúng sinh luôn phát tâm từ bi, không làm hại kẻ khác.
Chú Lăng Nghiêm là chú kinh thiên động địa, khiến quỷ thần phải run sợ, là linh văn hết sức hiệu nghiệm. Học Chú Lăng Nghiêm rồi thì phải luôn luôn phát tâm từ bi, cử tâm động niệm không được làm hại người khác. Nếu ai đối với mình không tốt cũng đừng khó chịu, đừng oán ghét. Tâm mình cần phải rộng lớn như ba ngàn thế giới vậy, vạn vật đều có thể chứa gọn trong tâm mình; đó chính là bản sắc của người Phật tử vậy! (Nguồn: Trí chú phải chánh tâm thành ý - H.T Tuyên Hoá giảng Chú Lăng Nghiêm; Tr 480)
+ Mời cùng tu - Làm thế nào thỉnh linh hồn người chết đột tử tham gia được pháp hội tại gia: Tu sỹ tại gia có thể mời Linh hồn người mới chết hay chúng sinh các cõi cùng về và cộng tu lễ lạy đọc tụng Kinh Chú tại gia. Nhưng phải với Tâm chân thành, cung kính và thân chinh đi mời và dẫn họ đến Đạo tràng của mình. Khi mời đi và đến Đạo tràng của mình đều phải kính cáo Thần Hộ pháp cho họ đi cùng và vào Đạo tràng cùng với mình với mục đích để tu hành cùng nhau, khi xong thì mời họ ra về để Thần Hộ pháp biết. Thực hiaạn như thế thì chỉ có lợi ích mà không có hại gì cả. Nếu có sảy ra truyện trở ngại chỉ là do Tâm chưa Nhất tâm. chưa Chân thành, cung kính ... (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Đọc Tụng Kinh Có Lợi Ích - Đọc Kinh hay Tụng Kinh Có lợi ích gì - Lợi ích của việc đọc tụng Kinh Chú:
Kinh là gì: ví dụ: Bát nhã ba la mật đa là pháp. Tâm là ví dụ. Kinh là bộ kinh này. Kinh có thông danh và biệt danh. Thông danh là thống nhiếp hết mọi bộ kinh. Biệt danh là mỗi bộ kinh có danh tự riêng biệt, những bộ kinh khác không có tên giống nhau. Tâm kinh bát nhã ba la mật đa là biệt danh của bộ kinh này. Bộ tâm kinh bát nhã ba la mật đa này thuộc trong bộ Bát Nhã, biểu thị tâm trong tâm.
Kinh tức là kinh pháp thường bất chuyển, không thể thay đổi. Một chữ cũng không thể bỏ được, hay cũng không một chữ được. Đó là kinh pháp thường bất biến.
Lại "kinh" là một con đường, nghĩa là tu hành phải đi qua một con đường nhất định. Chư vị có muốn tu hành à ? Nhất định chư vị phải đi trên đường đạo này. Nếu chư vị không đi trên đường đạo này thì sẽ bị lạc vào rừng rậm hoang vu. Chư vị phải nên đi trên đường tu hành thì không bị lạc đường. Ngày này qua ngày nọ đều được bình an, sáng suốt. Sao gọi là đi lạc ? Vì chư vị xưa nay quên mất, không biết tụng niệm kinh này. Qua ba bốn tháng, không tụng niệm nên quên mất, mới đi lạc. Tụng kinh được lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại cho là có ích lợi ?"
Này chư vị cư sĩ ! Đừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Nhưng, không nên vì tụng kinh mà sanh ra phiền não. Chớ nói ": Này đạo hữu ! Đạo hữu tụng kinh quá nhanh, khiến tôi theo không kịp. Hoặc đạo hữu tụng kinh quá chậm, khiến tôi phải đợi. Hoặc tiếng tụng kinh của đạo hữu không hay lắm, khiến tôi không thích nghe."
Không nên dùng công phu tu học như thế. Chúng ta biết rằng mọi người đều là những kẻ mới bắt đầu học Phật pháp. Không phải ai cũng biết tụng kinh hết, hay có người biết tụng mà không muốn tụng. Nhưng, tất cả mọi người đều phải đồng tụng kinh. Được như thế thì ai ai cũng đều đồng huân tu tập. Lại nữa, không nên mình tìm lỗi xấu người; người khác tìm lỗi xấu mình. Nếu thật có lỗi xấu thì thì mọi người nhất định phải tự mình nhìn thấy. Nếu không tự mình nhìn thấy thì lỗi xấu càng ngày càng nhiều; tu hành không thể tương ưng với đạo được. Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Bài tụng Vô tướng cho người tại gia hay xuất gia tu đọc tụng hàng ngày. Pháp đốn giáo - Pháp đốn ngộ. Minh tâm kiến tánh
Chư Thiện tri thức! Ta có một bài tụng "Vô Tướng," các ông nên tụng đọc. Người tại gia hay xuất gia cũng phải y theo bài tụng nầy mà tu hành. Nếu tự mình chẳng tu, mà chỉ nhớ lời ta nói, thì cũng không có ích gì. Hãy nghe ta tụng...
Pháp môn mà tôi truyền chính là muốn quý vị có thể minh tâm kiến tánh. Quý vị minh tâm thì không có việc gì khó, kiến tánh rồi thì không còn lo âu. Hiểu rõ bổn lai diện mục, mới là hiểu rõ Phật pháp. Pháp môn này chuyên giảng những đạo lý xuất thế, là tôn chỉ phá trừ bàng môn tả đạo, ngoại đạo.
Pháp vốn không có sự sai khác của đốn và tiệm, nhưng đối với người mê cần phải dạy cho họ pháp môn tiệm tu, đối với người trí thì có thể dạy họ pháp môn đốn ngộ, cho nên người mê chậm một chút, người có căn tánh lanh lợi thì có thể khai ngộ nhanh một chút.
Mê và ngộ chỉ là vấn đề nhanh chậm mà thôi, quý vị nay không đoạn, sau này thành Phật nhứt định phải đoạn. Quý vị nay không muốn làm Phật cho nên không muốn đoạn. Đốn pháp này là cửa kiến tánh. Nếu quý vị có thể đoạn trừ lòng dâm dục thì có thể minh tâm kiến tánh. Không nên giảng pháp này cho người ngu si nghe, họ không thể hiểu được, dù quý vị giảng cho họ nghe, họ cũng không tin tưởng đâu.
Bài kệ (Xem trong trang nguồn) này nếu ghi nhớ vào lòng thì trọn đời thọ dụng không cùng. Lục Tổ Đại sư nói hay quá, vừa đơn giản vừa rõ ràng, mọi người đều dễ dàng hiểu được. Nếu có thể hiểu được ý này thì đối với việc tu đạo có rất nhiều lợi ích.
Nếu tự mình không có đạo tâm, không tu đạo, chỉ biết làm những việc tội lỗi, không dám cho người khác biết, thì đó không phải là đạo. Người chân chánh tu đạo không nhìn thấy những lỗi lầm của người thế gian. (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Cầu được ước thấy - Cầu nguyện như ý: Là nói với người tu hành Chánh đạo - Tức người thiện lành như trong Kinh Phật thường nói Thiện nam tử - Thiện nữ nhân, cầu nguyện vạn sự chánh đáng, không hại người lợi mình .... Cũng tức là người tu giữ ngũ giới hay tu Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, hành thập thiện, thường bố thí không phân biệt và cúng dường Tam Bảo, Phật, Bồ Tát, Bậc Thánh hiện, Tăng chúng .... Đây gọi là Tâm tương ứng với Đạo.
+ Cầu gì được ấy - Cần phân biệt chánh tà
Lại còn có loại tiểu ác quỷ nữa. Các tiểu ác quỷ thường nương náu trên cây cối và thị hiện thần thông, khiến cho người ta tin tưởng chúng. Ðiển hình là chuyện thọ Giới của cây long não (chương thọ) ở Chùa Nam Hoa (Trung Hoa). Lúc chưa thọ Giới, vị thần cây thường hiển thị thần thông—hễ ai có việc gì mà đến thắp nhang khẩn cầu thần cây thì đều được cảm ứng; cảm ứng như thế nào? Ví dụ như người bị đau ốm đến cầu xin, thì chỉ cần thắp nén nhang là liền được khỏi bệnh ngay; hoặc có người bị mất đồ, bèn thắp hương cầu khẩn, thì liền tìm lại được những đồ đã mất—những chuyện "linh ứng" như vậy xảy ra rất nhiều. Những người đến cầu xin tưởng rằng đó thật là sự linh cảm, là Bồ Tát hiển linh, nên họ liền giết gà, mổ heo, mang thịt của đủ loại súc sanh đến cúng tế để tạ ơn, và thế là thần cây được hưởng "lộc ăn." Song, thật ra, đó là một loại tiểu ác quỷ tác quái.
Trên thế gian này có rất nhiều chuyện kỳ lạ, cho nên nếu quý vị không hiểu rõ Phật Pháp thì rất dễ nhận lầm các loại ác thần ác quỷ này là Bồ Tát, tưởng rằng có sự linh cảm thật sự. Do vậy, người học Phật Pháp chớ nên nghĩ rằng hễ nơi nào có sự linh ứng mầu nhiệm xảy ra thì đều là Phật Pháp—hoàn toàn không phải như vậy. Quý vị cần phải thông hiểu các đạo lý Phật Pháp một cách chân chánh, thấu đáo, thì mới không dễ bị lầm lẫn. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Sở cầu - Sở nguyện như ý: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.
Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”
Lược giảng:
“Điều nguyện” tức là điều mà quý vị ao ước, mong muốn đạt được. Quý vị mong ước cái gì, muốn xin việc gì, đều có thể được toại nguyện cả, song quý vị phải làm một việc; đó là việc gì? Đó là quý vị phải quy y Bồ Tát Địa Tạng, chiêm ngưỡng đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng, cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và khen ngợi hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng. Nếu quý vị làm được như thế thì mọi nguyện vọng, mọi mong cầu của quý vị đều được tùy tâm mãn nguyện, đều được thành tựu.
“Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.” Nếu quý vị muốn cầu xin Bồ Tát Địa Tạng rũ lòng từ bi bao la mà phù hộ cho quý vị mãi mãi, thì khi quý vị đang say ngủ, Ngài sẽ thị hiện trong giấc mộng mà xoa đảnh thọ ký cho quý vị. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P12 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tự mình đọc hoặc thỉnh nhờ đọc tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện hộ:
"Lại nữa, này Phổ Quảng! Như những chúng sanh ở đời vị lai, hoặc trong mộng trong mị, trông thấy các quỷ thần cùng các hình bóng khác, hoặc buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt; đây đều là cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, quyến thuộc từ một đời, mười đời, trăm đời, hay ngàn đời trong quá khứ, còn đang bị đọa lạc trong ác đạo, chưa được ra khỏi, lại không trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt, nên mới mách bảo với kẻ có tình cốt nhục trong đời trước, khiến làm phương tiện hầu mong được thoát khỏi ác đạo.
Này Phổ Quảng! Ông nên dùng thần lực khiến hàng quyến thuộc đó đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, chí tâm tự đọc Kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc, đủ số ba biến hoặc bảy biến. Như vậy, kẻ quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số mấy biến đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy hiện về nữa."
Giảng:
Nếu hàng quyến thuộc vì lý do nào đó nên không thể tự đọc tụng được, thì họ có thể bỏ tiền ra nhờ người khác tụng Kinh Ðịa Tạng giúp cho vong linh. Bất luận là ai, người đó đều phải tụng "đủ số ba biến hoặc bảy biến." "Ba" và "bảy" đều là số dương. Những số 1, 3, 5, 7, 9 đều thuộc dương và là số lẻ; còn những số 2, 4, 6, 8 thì thuộc âm và là số chẵn. Số dương là biểu hiện của sự phá trừ nghiệp tội địa ngục.
"Như vậy, kẻ quyến thuộc đang ở trong ác đạo kia, khi tiếng tụng Kinh đủ số mấy biến đó xong, sẽ được giải thoát, cho đến trong mộng trong mị không thấy hiện về nữa." Khi tụng xong Kinh Ðịa Tạng, đủ số ba biến hoặc bảy biến, tiếng tụng Kinh vừa dứt thì những vong linh quyến thuộc đang trầm luân trong ác đạo kia cũng đều được giải thoát, và trong mộng lẫn trong mị, quý vị đều vĩnh viễn không còn thấy họ hiện về như thế nữa. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thỉnh mởi chư tăng: Quỷ Vương Chủ Mạng lại bạch với Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thì thần thức hôn ám mê muội.” Lúc con người sắp chết thì khí ấm (noãn), hơi thở (tức) và các thức (sự hiểu biết) đều lìa khỏi cơ thể—xác thân không còn hơi ấm, hô hấp ngừng bặt và Thức Thứ Tám (thức A-lại-da) cũng lìa khỏi thân, đây gọi là “mạng chung” (sanh mạng hết). Khi vừa mới chết thì thần thức (tức là Thân Trung Ấm) rơi vào trạng thái hôn trầm mê muội, không còn sáng suốt tỉnh táo, không còn rõ biết gì nữa cả; đó là vì thần thức mới vừa tách rời khỏi cơ thể, chính mình vẫn chưa biết là mình đã chết.
“Không phân biệt được thiện ác, cho đến mắt và tai đều không còn thấy nghe gì nữa.” “Không phân biệt được thiện ác” tức là không còn khả năng biện biệt, không thể biết được rõ ràng thế nào là thiện, thế nào là ác nữa. Lúc bấy giờ, kẻ lâm chung không còn nhìn thấy và cũng chẳng thể nghe thấy gì cả—tri giác về thấy và nghe đều không còn.
Vì thế, “hàng quyến thuộc phải nên thiết đại cúng dường, chuyển đọc tôn kinh, niệm danh hiệu của Phật cùng Bồ Tát.” Tất cả bà con thân thích bấy giờ nên vì người sắp chết mà làm những việc công đức tạo phước lành lớn, như thỉnh chư Tăng đến tụng kinh, hoặc tự mình tụng kinh cho người ấy.
Do đó, ở Trung Hoa khi trong gia đình có người vừa qua đời, hàng quyến thuộc thường thỉnh cầu chư Tăng tụng kinh trong suốt bảy thất (bốn mươi chín ngày), là cũng vì lẽ ấy. Như lúc Lão Hòa Thượng Hư Vân viên tịch (1959), Phật Giáo Giảng Ðường tại Hương Cảng đã làm công đức tụng Kinh Ðại Bát Nhã trong suốt một trăm sáu mươi ngày ròng rã. Ðây là việc xưa nay chưa từng xảy ra—từ thời Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến nay, chưa có vị Tổ Sư nào viên tịch mà được tụng Kinh Ðại Bát Nhã cả. Tổ chức một pháp hội lớn lao như vậy gọi là “thiết đại cúng dường.”
“Chuyển đọc tôn kinh” tức là trì tụng bộ kinh này—Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện.
“Những thiện duyên như thế có thể khiến cho người chết thoát khỏi các đường ác, và các ma quỷ, ác thần đều phải rút lui hoặc giải tán.” Bởi hàng quyến thuộc vì người chết mà làm các việc công đức, cho nên những nhân duyên thiện lành đó có thể hỗ trợ, giúp cho người chết xa lìa các ác đạo. Lại nữa, “đức đại tắc oan nghiệt tiêu”—kẻ có công đức lớn thì tội nghiệt cũng được giảm nhẹ hoặc tiêu tan; do đó tất cả ma quỷ và ác thần thảy đều thối lui, bỏ chạy hết, không còn đeo đuổi người ấy nữa. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P8 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Quỷ Vương Ác Độc - Quyến thuộc Quỷ Vương - Thần Thổ địa
Bấy giờ, Quỷ Vương Ác Ðộc chắp tay cung kính bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Hàng Quỷ Vương chúng con số đông vô lượng, ở cõi Diêm Phù Ðề hoặc làm lợi ích cho người, hoặc làm tổn hại cho người, mỗi mỗi không giống nhau. Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi khắp thế giới làm ác nhiều, làm thiện ít.
“Ði qua sân nhà người ta, hoặc thành phố, xóm làng, trang trại, vườn cây, buồng nhà, trong đó như có người nam kẻ nữ nào tu được thiện sự bằng mảy lông sợi tóc; cho đến treo một tràng phan, một bảo cái và dâng chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ Tát, hoặc chuyển đọc tôn kinh, đốt hương cúng dường cho một bài kệ, một câu kinh; thì hàng Quỷ Vương chúng con sẽ kính lễ người đó như kính lễ các đức Phật thuở quá khứ, hiện tại cùng vị lai.
“Chúng con ra lệnh cho các tiểu quỷ có oai lực lớn và thần Thổ Ðịa đều phải bảo vệ, che chở, chẳng để cho các việc dữ, các tai nạn bất kỳ, hoặc bệnh nan y, bệnh hiểm nghèo bất kỳ, cho đến những việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để cho vào cửa!”
Lược giảng:
Bấy giờ, Quỷ Vương Ác Ðộc... Vị Quỷ Vương này tuy rất độc ác, chuyên trừng trị những người ác độc, song giờ đây, đến trước mặt Ðức Phật thì dù có ác cách mấy cũng không còn ác, có độc đến đâu cũng không còn độc nữa!
Vậy, Quỷ Vương Ác Ðộc đến trước mặt Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, rồi chắp tay cung kính bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Hàng Quỷ Vương chúng con số đông vô lượng.” Mỗi thế giới đều có vô lượng vô biên Quỷ Vương, mà thế giới thì nhiều đến vô lượng vô biên, cho nên sĩ số Quỷ Vương cũng đông đảo đến vô lượng vô biên.
Các Quỷ Vương này đều cư ngụ “ở cõi Diêm Phù Ðề, hoặc làm lợi ích cho người, hoặc làm tổn hại cho người, mỗi mỗi không giống nhau.” Ở cõi Nam Diêm Phù Ðề thì tuy có những Quỷ Vương thường làm lợi ích cho loài người, song cũng có các Quỷ Vương chỉ gây tổn hại cho nhân loại mà thôi—mỗi vị Quỷ Vương đều coi sóc mỗi công việc khác nhau. Có vị thì chuyên làm những việc hại người, có vị thì chỉ làm các việc lợi người; tại sao lại như thế? Ở đây, Quỷ Vương nói “hại người” ngụ ý là điều phục người có lòng dạ ác độc, và “lợi người” tức là đem sự lợi ích đến cho người hiền lương.
Quỷ Vương Ác Ðộc bạch tiếp: “Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi khắp thế giới làm ác nhiều, làm thiện ít.” Tại sao các Quỷ Vương phải làm những công việc này? Chính vì nghiệp báo mà họ đã trót gây tạo trong quá khứ khiến nay họ phải làm Quỷ Vương, và cũng do nghiệp báo mà loài quỷ quyến thuộc của họ đi khắp nơi gieo rắc phần lớn là điều xấu, việc ác.
Tuy rằng loài quỷ thường “làm ác nhiều, làm thiện ít,” nhưng khi họ “đi qua sân nhà người ta, hoặc thành phố, xóm làng, trang trại, vườn cây, buồng nhà, trong đó như có người nam kẻ nữ nào tu được thiện sự bằng mảy lông sợi tóc; cho đến treo một tràng phan, một bảo cái và dâng chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ Tát, hoặc chuyển đọc tôn kinh—đọc tụng Kinh Ðịa Tạng hoặc các kinh điển Ðại Thừa khác như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Kim Cang—hoặc đối trước tượng Phật mà đốt hương cúng dường cho một bài kệ, một câu kinh; thì hàng Quỷ Vương chúng con sẽ kính lễ người đó như kính lễ các đức Phật thuở quá khứ, hiện tại cùng vị lai.”
Cho nên, hàng Quỷ Vương “chúng con ra lệnh cho các tiểu quỷ có oai lực lớn—tuy gọi là “tiểu quỷ” nhưng đã là loài quỷ thì đều có sức đại thần thông—và thần Thổ Ðịa đều phải bảo vệ, che chở những người như thế! Ngoài ra, còn phải chẳng để cho các việc dữ, các tai nạn bất kỳ, hoặc bệnh nan y, bệnh hiểm nghèo bất kỳ, cho đến những việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để cho vào cửa!”
.... Các Quỷ Vương còn chẳng để cho những việc không may xảy ra ở gần những nhà có người tu hành như thế, huống chi là các việc dữ, các tai nạn rủi ro, hoặc các bệnh tật hiểm nghèo đột ngột! Cho nên, các Quỷ Vương cùng quyến thuộc của họ thường bảo hộ những người như thế, khiến cho mọi việc của những người ấy đều được kiết tường. Vì sao tất cả mọi việc của những người đó đều được tốt lành? Bởi họ đã cúng dường Tam Bảo, biết tu hành, làm nhiều thiện sự, do đó những việc dữ không thể xảy đến cho họ được!
Ðức Phật khen ngợi Quỷ Vương rằng: “Lành thay! Lành thay! Các ông cùng với Vua Diêm La có thể ủng hộ các thiện nam thiện nữ như thế! Ta cũng bảo Phạm Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông!” (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P8 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Lợi ích thờ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện hay đọc tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát
"Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại, nếu có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường (Địa Tạng Vương Bồ Tát) như thế, thì sẽ được sự lợi ích như vậy."
Lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, ở nơi mình cư ngụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát, thì con thường ngày đêm dùng thần lực của mình hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các tai họa bất trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch."
Lược giảng:
Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại, nếu có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường như thế— tức là chọn nơi sạch sẽ thanh tịnh trong nhà mình về hướng Nam mà trần thiết hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng rồi cúng dường—thì sẽ được sự lợi ích như vậy. Các chúng sanh ấy sẽ được mười điều lợi ích kể trên."
Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, ở nơi mình cư ngụ mà có kinh điển này—Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện—cùng hình tượng của Bồ Tát—Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát ..."
Nếu người đó không những có được bộ Kinh Ðịa Tạng và tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, mà còn có thể đọc tụng bộ kinh này đồng thời đảnh lễ và cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng nữa, "thì con thường ngày đêm dùng thần lực—sức thần thông—của mình hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các tai họa bất trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch." Như thí dụ bị xe đụng tôi vừa nêu ra, có người bị xe đụng thì mất mạng, đó gọi là tai họa lớn (đại hoạnh); có người thì chỉ bị thương nhẹ, trầy sướt sơ sài, đó gọi là tai họa nhỏ (tiểu hoạnh).
Thời đại hiện nay không được tốt đẹp lắm, đến đâu cũng có những chuyện phiền phức xảy ra, không cướp giật thì cũng trộm cắp ngang nhiên giữa ban ngày ban mặt. Cho nên, quý vị cần phải cẩn thận, đề phòng bọn ăn cướp này. Người Trung Hoa có câu:
"Chậm giấu của cuốn lôi kẻ trộm
Chuốt dung nhan lôi cuốn dâm ô.
(Mạn tàng hối đạo,
Dã dung hối dâm.)
(Chậm cất giấu tiền của thì cuốn hút người khác vào đường trộm cắp; trau chuốt lẳng lơ thì lôi cuốn người ta vào đường dâm ô.)
"Mạn tàng" có nghĩa là cất giấu không cẩn thận, thiếu kín đáo. Như quý vị có báu vật thì phải mau mau cất giấu cho kỹ lưỡng, kẻo chậm trễ, bọn cướp trông thấy sẽ sanh lòng tham và đến cướp đi mất. Tại sao quý vị bị cướp? Bởi vì quý vị cất giấu quá chậm, cho nên mới dẫn đường cho bọn cướp đến đánh cắp.
Ðó là nói về tài sản vật chất bên ngoài. Ðối với tài sản bên trong của chúng ta—tức là tự tánh của chính mình—chúng ta cũng cần phải cất giấu. Nếu chúng ta cất giấu chậm thì cũng bị bọn yêu ma quỷ quái đến cướp mất vậy. Chúng cướp mất cái gì của quý vị? Cướp đi "trân bảo vô thượng" của quý vị. Nói như thế thì chúng ta phải cất giấu món "trân bảo" tự tánh của mình như thế nào? Cách cất giấu này thì không giống như cách cất giấu những tài sản có hình có tướng—như đem chôn ở một nơi bí mật, hoặc cất giữ trong két bảo hiểm—không phải như thế!
Thế thì phải cất giấu "tài sản quý báu" tự tánh như thế nào? Phải chính mình không sanh vô minh! Quý vị phải biết rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đều thuộc loại "đại tặc," là những tên giặc rất lợi hại. Ðừng tưởng rằng con mắt giúp đỡ chúng ta—sở dĩ hiện nay quý vị chưa thể thành Phật cũng chính là vì bị con mắt này tác oai tác quái. Không những mắt là giặc, mà tai cũng là giặc, mũi cũng là giặc, lưỡi cũng là giặc, thân thể cũng là giặc, ý cũng là giặc. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chính là sáu tên giặc; chỉ có linh tánh của quý vị là "pháp bảo," là bảo bối vô cùng trân quý.
Nếu mắt mà phân tán đi một chút thì quý vị bị thiếu mất một chút, tai mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, mũi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, lưỡi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút, thân mà chia bớt đi một bộ phận thì lại thiếu mất một chút, ý mà chia bớt đi một phần thì quý vị lại thiếu mất một chút.
Ðối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu quý vị không thâu nhiếp chúng trở về được, tức là quý vị "thả lỏng" chúng đấy! Mỗi tên chạy rông mỗi nơi lo những chuyện không liên can. Mắt trông thấy vật gì đều muốn thấy cho tận tường thêm nữa, đó gọi là lo chuyện tào lao. Tai nghe thấy việc gì dù chẳng liên quan tới mình cũng tò mò muốn nghe lần nữa cho thỏa thích; như thế cũng gọi là bị cảnh giới lay chuyển, đều do "bọn giặc" gây ra! Thế nên, quý vị đừng để cho sáu tên giặc này thừa cơ cướp đoạt mất "bảo bối" tự tánh của mình! Nếu hằng ngày quý vị cứ tùy theo sáu căn này mà hành sự, thì chúng đích thị là những tên giặc chực cướp đi tự tánh của quý vị.
Bây giờ tôi giảng đạo lý này thì có thể quý vị chưa hoàn toàn am hiểu, hoặc chưa thể lãnh hội thấu đáo được. Song, nếu quý vị chịu khó dụng công, thì sau một thời gian quý vị sẽ vỡ lẽ: "À! Thì ra cái này thật là xấu xa, tệ hại!" Bấy giờ, biết được mắt tác hại như thế nào, tai chẳng vâng lời ra sao, thì quý vị sẽ thấy rằng hóa ra bọn chúng đều là "giặc" cả!
"Dã dung hối dâm" có nghĩa là chải chuốt hình dáng là khiến kẻ khác sanh lòng dâm. Ví dụ như người con gái bôi phấn thoa son, trang điểm thật lộng lẫy, đây chính là khêu gợi, khiến người khác trông thấy liền sanh lòng tà vạy. Thế nên người nữ tốt nhất là để dung mạo tự nhiên, không cần phải tô son điểm phấn. Nếu bôi son trét phấn vào môi vào má hồng hồng đỏ đỏ, cho rằng làm như vậy rất có ý nghĩa, song thật ra thì chẳng có ý nghĩa gì cả, mà chỉ là thể hiện sự điên đảo của chúng sanh—sự điên đảo của chúng sanh chính là ở điểm này vậy!
Sở dĩ nói sáu căn là bọn giặc chẳng qua là vì chúng ta không biết cách vận dụng chúng (nên chúng mới biến thành "giặc") mà thôi. Nếu quý vị biết vận dụng, thì không những chúng không biến thành "giặc" mà còn trở thành "hộ pháp" nữa là đằng khác! Do vậy, trong Kinh Lăng Nghiêm có chép rằng: Chúng sanh bị luân hồi khổ sở trong sáu nẻo là vì sáu căn này; nhưng nếu chúng sanh có thể "hồi quang phản chiếu," thanh tịnh tự tâm, thì thành Phật được cũng là nhờ ở sáu căn này chứ chẳng phải đâu xa lạ. Quý vị biết vận dụng chúng thì chúng chính là "hộ pháp"; còn không biết vận dụng chúng thì chúng chính là "giặc" vậy. Thí dụ, quý vị trông thấy đồ vật mà trong lòng sanh khởi chánh niệm thì đây chính là hộ pháp, còn nếu như sanh tà niệm thì đó là ma quỷ vậy. Lục Tổ Ðại Sư đã từng dạy:
"Lúc tà mê là ma choán chỗ,
Khi chánh niệm là Phật tại nhà."
(Tà niệm chi thời, ma tại xá,
Chánh niệm chi thời, Phật tại đường.)
Do đó, nếu bất cứ lúc nào quý vị cũng có thể đề khởi chánh niệm, thì sáu căn sẽ biến thành hộ pháp của quý vị—chúng trợ giúp quý vị rất đắc lực. Khi mắt nhìn thấy hình sắc thì liền chạy theo sắc trần; tai vừa nghe lọt âm thanh thì liền chạy theo thanh trần; mũi vừa ngửi thấy mùi liền chạy theo hương trần; lưỡi vừa nếm biết vị liền chạy theo vị trần; thân cảm nhận có sự tiếp xúc, đụng chạm liền chạy theo xúc trần—thì bấy giờ sáu căn là những tên giặc ghê gớm, lợi hại. Vì sao nói là "chạy theo"? Chính là vì quý vị cảm thấy thích thú, ưa muốn; tự trong lòng nảy sanh sự ham thích, thì đó chính là "chạy theo" vậy. Bởi chưa có định lực cho nên ý nghĩ của quý vị sau khi tiếp xúc với pháp thì liền chạy theo pháp trần, đuổi theo ngoại cảnh. Lại cũng vì ý nghĩ còn tà vạy, không được chân chánh, nên mới bị cảnh giới lay chuyển; nếu ý nghĩ chân chánh thì sẽ xoay chuyển được cảnh giới. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P11- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thủ nhãn ấn pháp Độc lâu trượng thủ:
Bạch cốt hoàn giao thổ vị mai
Hành nhân tu pháp thiết cung đài
Luyện thành quỷ thần tuân hiệu lệnh
Độc lâu trượng thủ bi nguyện hoài.
Phiên dịch
Xương trắng còn trên đất chưa chôn
Người tu thánh pháp dựng đài cao
Luyện thành quỷ thần tuân hiệu lệnh
Chống gậy đầu lâu nguyện đại bi. (Nguồn: 42 Thủ nhãn CĐB - HT Tuyên Hóa)
+ Ngồi thiền phóng quang làm sạch không khí và môi trường không gian sống - Tiêu trừ độc tố và bệnh trên thân
Có hai câu thơ thật đầy ý nghĩa:
(Nếu ai tĩnh tọa chỉ một sát-na,
Còn hơn xây hằng sa tháp bảy báu.)
Ðó là hình dung công đức ngồi Thiền: nếu người ngồi Thiền có thể tịnh tâm chỉ trong một khoảnh thời gian ngắn ngủi thôi thì công đức ấy so với công đức xây hằng hà sa số tháp bảy báu còn nhiều hơn gấp bội. Bởi vì tạo ra vô số tháp bất quá cũng để cúng dường xá-lợi của Phật; song nếu tĩnh tọa chỉ trong giây lát, có thể tạo ra chân-thân của Phật. Do vậy, tĩnh tọa chỉ một sát-na mà hơn xây nhiều tháp bảy báu.
Nếu tĩnh tọa trong khoảnh khắc mà công đức lớn như vậy, thì hàng ngày tĩnh tọa, công đức càng khó kể xiết. Nếu trong một thời gian ngắn ngủi quý vị chẳng khởi vọng tưởng, tâm được thanh tịnh, thì dần dà quý vị sẽ trở nên "trạm nhiên thường tịch."
Khi tĩnh tọa ở Thiền-đường, không những công đức của quý vị vô lượng, mà đối với toàn thế giới nhân loại, công đức ấy cũng vô lượng. Có người hỏi: "Công đức của tôi làm sao san sẻ cho nhân loại, cho toàn thế giới được chứ?" Hiện nay nhân loại trên thế giới, do vì tranh danh đoạt lợi, nên tạo ra sát khí đằng đằng, ích kỷ tự lợi, nào là ta tranh, người giành, khiến thế giới biến thành đen tối u ám, đầy dẫy độc khí. Nhân loại đấu tranh ác liệt, càng ngày càng dữ dội càng ngày càng nguy hiểm, mỗi lúc mỗi thêm nghiêm trọng. Nếu chúng ta không tìm cách cứu vãn nguy cơ đang bao trùm thế giới, chắc hẳn một ngày nào đó địa cầu sẽ bùng nổ! Vì sao bùng nổ? Bởi vì giờ đây khoa học quá tiến bộ, các nước lớn đang nghiên cứu vũ khí giết người sao cho mau chóng; họ thi đua chế tạo những vũ khí hạt nhân, tia laser, v.v... Một khi chiến tranh phát sinh, những vũ khí ấy sẽ biến trái đất thành tro bụi. Lúc đó quả là ngày tàn của nhân loại.
Lúc dụng công tu hành trong Thiền-đường, vô hình trung chúng ta có thể tiêu diệt những thứ sát khí ấy, khiến thế giới tránh được nguy cơ. Làm sao tiêu diệt chúng? Bầu không khí đã bị ô nhiễm vì những chất độc, và hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp những khí độc ấy ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng sinh, đe dọa sinh mạng của muôn loài. Quý vị hãy xem, hiện nay các thứ tật bịnh quái dị càng ngày càng nhiều, khiến các bác sĩ phải bó tay. Ðó là do không khí bị ô nhiễm, chẳng được trong lành sạch sẽ, đâu đâu cũng toàn là độc khí. Người tu Ðạo chúng ta phải dùng một loại điện liệu để làm tiêu tan chất độc trong không khí. Thế nào là "điện liệu"? Tức là tĩnh tọa, và từ đó mà ánh sáng trí huệ được phóng đi. Ánh sáng trí huệ này chính là một luồng điện lực. Luồng điện ấy di chuyển trong không gian và sẽ có tác dụng giải độc, khiến cho không khí hỗn trược biến thành thanh khiết. Ðó gọi là cách chữa trị các căn bệnh của thế giới bằng phương pháp điện liệu.
Bây giờ có người hoài nghi về tánh khả thi của nguyên tắc ấy: "Tĩnh tọa làm sao có thể làm tiêu tan chất độc trong không khí đặng?" Tôi xin kể một câu chuyện như sau: Vào đời nhà Tống có một vị đại văn hào tên là Tô Ðông Pha. Ðương thời cũng có vị Thiền-sư pháp danh là Phật Ấn. Hai người là bạn Ðạo, thường hay lui tới với nhau, nên có câu đối như sau để chứng minh tình quý vị gắn bó của họ:
(Ra vào: có Sư Phật Ấn thường gần gũi.
Tới lui: chẳng bạn Ðông Pha thì còn ai.)
Có lần Tô Ðông Pha làm một bài kệ:
(Ðảnh lễ Thiên trung Thiên (tức là Phật)
Hào quang chiếu vũ trụ.
Tám gió thổi chẳng động.
Ngồi vững tòa sen vàng.)
... Hào quang này chính là điện liệu, rọi chiếu toàn đại thiên thế giới và làm cho tiêu độc. Hào quang này có thể làm tiêu trừ không khí hỗn trược trong vũ trụ, tẩy sạch hoàn toàn cho đến một chút xíu độc tố cũng không còn.
Nếu quý vị có thể phóng hào quang chiếu khắp vũ trụ, thì phần độc khí của quý vị sẽ được tiêu tan. Nếu kẻ khác có thể phóng hào quang chiếu khắp vũ trụ thì phần độc khí của kẻ ấy sẽ được diệt trừ. Nếu mọi người có thể phóng hào quang chiếu khắp vũ trụ thì độc khí của mọi người sẽ được tiêu trừ.
Nếu ai ai cũng đồng tâm hiệp lực dùng phương pháp điện liệu để chữa trị các căn bịnh của thế giới thì không khí ô nhiễm sẽ càng ngày càng giảm bớt, không khí trong lành sẽ càng ngày càng gia tăng. Dần dần bầu không khí sẽ trở nên hoàn toàn trong sạch. Quý vị phải biết rằng không khí ô trược là độc tố, còn không khí trong lành là trí huệ.
Hiện tại vì sao không khí ô nhiễm? Vì đa số người ta không biết tu hành, không biết dùng pháp điện liệu, do đó không khí càng lúc càng ô trược. Người tu Ðạo chúng ta phải nhận trách nhiệm làm cho không khí trở nên thanh khiết. Không những bản thân mình phải dũng mãnh tinh tấn tu Thiền, mà còn phải khuyến khích quý vị bè thân thích ngồi Thiền. Công đức tọa Thiền vô lượng vô biên, đối với thân tâm có ích lợi không thể nghĩ bàn. Nếu họ không tin, quý vị hãy bảo họ thử thí nghiệm xem, sớm muộn họ sẽ đạt được ích lợi khó nghĩ bàn. Quý vị hãy gắng công tọa Thiền. Khi hào quang của quý vị chiếu khắp đại thiên thế giới, độc tố trong không khí sẽ tự nhiên tiêu diệt hết.
Quý vị hãy chú ý! Chỉ cần quý vị ngừng bặt vọng tưởng thì có thể phóng ra trí huệ quang minh. Hào quang này có thể chiếu khắp đại thiên thế giới và trừ độc trong không khí. Quý vị sẽ gặt hái vô lượng công đức có lợi ích cho nhân loại toàn thế giới. Lợi ích gì? Tức là có thể tiêu diệt độc tố làm ô nhiễm không khí, khiến nhân loại không còn bị tai họa vì các chứng bịnh hiểm nghèo. Ðây chính là lợi ích gián tiếp cho tất cả mọi người vậy. (Nguồn: Pháp tu thiền định - HT Tuyên Hóa giảng)
246. GIẢI THOÁT DỤC
Thế nào là biết dục? Biết dục có năm công đức của dục, khả ái, khả hỷ, mỹ sắc, tương ưng với dục, rất khả lạc. Những gì là năm?
Sắc được biết bởi mắt, thanh được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, pháp được biết bởi ý.
Thế nào là biết nhân sanh của dục? Biết từ xúc, do xúc nên có dục.
Thế nào là biết hữu báo của dục? Tùy theo chủng loại dục mà sanh ái lạc, đắm trước rồi trụ vào đó, do nhân duyên đó lãnh thọ quả báo, đến chỗ có phước, đến chỗ phi phước hay chỗ bất động.
Thế nào là biết sự thắng liệt của dục? Hoặc có dục ham muốn sắc, hoặc có dục ham muốn tiếng, hoặc có dục ham muốn hương, hoặc có dục ham muốn vị, hoặc có dục ham muốn xúc.
Thế nào là biết sự diệt tận của dục? Biết xúc diệt, dục liền diệt.
Thế nào là biết dục diệt đạo? Biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết dục diệt đạo.
Đó gọi là đạt phạm hạnh, có thể diệt tận tất cả dục. (Trung A Hàm, Kinh Đạt Phạm Hạnh, Phẩm 10, số 111)
248. GIẢI THOÁT TAM ĐỘC
Vì nhân chánh kiến nên sanh chánh tư duy, nhân chánh tư duy nên sanh chánh ngữ, nhân chánh ngữ nên sanh chánh nghiệp, nhân chánh nghiệp nên sanh chánh mạng, nhân chánh mạng nên sanh chánh tinh tấn, nhân chánh tinh tấn nên sanh chánh niệm, nhân chánh niệm nên sanh chánh định. Hiền thánh đệ tử đã định tâm như vậy rồi, liền giải thoát tất cả dâm, nộ, si.
Hiền thánh đệ tử đã chánh tâm giải thoát như vậy rồi, liền biết đúng như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa. (Trung A Hàm, Kinh Ngũ Chi Vật Chủ, Phẩm 14, số 179)
249. GIẢI THOÁT TAM LẬU
Đa văn Thánh đệ tử nên quán như thế này: ‘Dù là dục của đời này hay dục của đời sau, dù là sắc của đời này hay là sắc của đời sau, dù là dục tưởng của đời này hay là dục tưởng của đời sau, dù là sắc tưởng của đời này hay là sắc tưởng của đời sau và bất động tưởng, vô sở hữu tưởng, vô tưởng tưởng, tất cả các tưởng ấy đều là pháp vô thường, khổ và diệt, đó là hữu thân. Nếu là hữu thân thì đó là sanh, đó là già, đó là bệnh, đó là chết.
Nếu có pháp này thì diệt trừ tất cả, không để lưu dư, không để có trở lại. Như vậy thì không sanh, không già, không bệnh, không chết.
Bậc Thánh quán như vậy. Nếu có thì chắc chắn đó là pháp giải thoát. Nếu có Vô dư Niết-bàn thì gọi là cam lộ. Vị nào quán như vậy, chắc chắn tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Đã giải thoát liền biết đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. (Trung A Hàm, Kinh Tịnh Bất Động Đạo, Phẩm 7, số 75)
250. GIẢI THOÁT TỪ VÔ DỤC
Nếu Thế Tôn thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe, các bậc trí phạm hạnh cũng thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe; họ nghe pháp rồi thấu hiểu pháp, thấu hiểu nghĩa, và do sự thấu hiểu pháp, thấu hiểu nghĩa đó nên được hoan duyệt, nhân hoan duyệt mà được hoan hỷ. Nhân hoan hỷ mà được thân khinh an. Do thân khinh an nên được cảm thọ lạc. Do cảm thọ lạc nên được tâm định.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nhân tâm định nên được thấy như thật, biết như thật. Do thấy như thật, biết như thật nên phát sanh sự nhàm tởm. Do nhàm tởm nên được vô dục. Do vô dục nên được giải thoát. Do giải thoát mà biết là mình giải thoát, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa’. (Trung A Hàm, Kinh Thuyết Xứ, Phẩm 7, số 86)
597. SỰ XUẤT LY KHỎI DỤC
Đa văn Thánh đệ tử quán sát dục một cách cực kỳ mãnh liệt. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát dục nên tâm không hướng theo dục, không vui say dục, không gần gũi với dục, không quyết tâm nơi dục. Khi tâm dục vừa sanh, tức thì bị cháy tiêu, khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được mở rộng ra, bị vứt bỏ đi, không trụ nơi dục, chán ghét, nhàm tởm.
Giống như lông và gân của con gà bị đem quăng vào trong lửa, tức khắc cháy tiêu, khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được mở rộng ra. Đa văn Thánh đệ tử cũng vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát dục. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát dục nên tâm không hướng theo dục, không vui say trong dục, không gần gũi với dục, không quyết tâm nơi dục. Khi tâm dục vừa sanh, tức thì bị cháy tiêu, khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được mở rộng ra. Vị ấy vứt bỏ, không trụ nơi dục, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự dục.
Vị ấy quán sát vô dục, tâm hướng về vô dục, vui say vô dục, gần gũi vô dục, quyết tâm nơi vô dục, tâm không bị chướng ngại, không ô trược, tâm được an lạc, rất an lạc, viễn ly tất cả dục, viễn ly các lậu và các thứ phiền nhọc, ưu sầu do dục mà có, giải chúng, thoát chúng và lại giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn nhận lãnh các cảm thọ ấy nữa, tức các cảm thọ sanh ra bởi dục. Như vậy, đó là sự xuất ly khỏi dục. (Trung A Hàm, Kinh Thuyết Xứ, Phẩm 7, số 86)
+ Tâm Đoan nghiêm - Thờ và đọc tụng Kinh Phật nhiều phúc đức.
Đoan nghiêm (端嚴 decorous): Đức Phật lúc nào cũng đoan chính và trang nghiêm. Chúng ta phải học theo hạnh nầy. Khi nghe giảng kinh, chúng ta phải ngồi trong tư thế ngay thẳng và cung kính. Đừng ngồi với tư thế uể oải, xiêu vẹo, hoặc duỗi người ra. Vì chính trước mặt quý vị là Đức Phật đang giảng pháp. Vì chúng ta tin vào Đức Phật, nên chúng ta phải kính trọng ngài. Chúng ta không nên giải đãi ngay trước mặt ngài. Khi nghe kinh, quý vị không được nằm hoặc ngủ. Không được nằm mà đọc kinh. Tôi đã giảng cho quý vị nghe rằng, nếu làm như vậy thì đời sau sẽ bị đoạ làm thân rắn. Rắn thì luôn luôn nằm dù khi di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác. Nó không đứng dậy được. Khi đọc kinh, quý vị nên ngồi thẳng người và đạt kinh trên mặt bàn phía trước mặt mình. Nếu quý vị có một phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ một phần; Nếu quý vị có mười phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ mười phần. Nếu quý vị có một trăm, ngàn, vạn phần kính trọng, thì sẽ phát triển trí huệ trăm, ngàn, vạn phần, trí huệ tăng trưởng dần theo mức độ tôn kính. Quý vị cũng được tăng trưởng thiện căn. Kinh Kim Cang có nói rất rõ: “Ở nơi nào có kinh nầy, tức nơi đó có Đức Phật hoặc như các vị đệ tử được tôn trọng của Đức Phật.” Nếu quý vị có tâm tôn kính, thì quý vị sẽ có được quả báo tốt lành, nếu không kính trọng thì không có được quả báo ấy. Quý vị hãy xem như chính Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang giảng pháp và ngài A-nan đang ngồi bên cạnh. Chung quanh quý vị trong hội chúng là các vị Đại Bồ-tát. Hãy tưởng tượng pháp hội đang diễn ra trên núi Diệu cao. Nếu quý vị đã có tâm kính trọng như thế nầy, chắc chắn sẽ đến lúc quý vị được giác ngộ. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Bộ Bát Nhã Tâm Kinh
Kinh là gì: ví dụ: Bát nhã ba la mật đa là pháp. Tâm là ví dụ. Kinh là bộ kinh này. Kinh có thông danh và biệt danh. Thông danh là thống nhiếp hết mọi bộ kinh. Biệt danh là mỗi bộ kinh có danh tự riêng biệt, những bộ kinh khác không có tên giống nhau. Tâm kinh bát nhã ba la mật đa là biệt danh của bộ kinh này. Bộ tâm kinh bát nhã ba la mật đa này thuộc trong bộ Bát Nhã, biểu thị tâm trong tâm.
Sao gọi là kinh ? Kinh tức là kinh pháp thường bất chuyển, không thể thay đổi. Một chữ cũng không thể bỏ được, hay cũng không một chữ được. Đó là kinh pháp thường bất biến.
Lại "kinh" là một con đường, nghĩa là tu hành phải đi qua một con đường nhất định. Chư vị có muốn tu hành à ? Nhất định chư vị phải đi trên đường đạo này. Nếu chư vị không đi trên đường đạo này thì sẽ bị lạc vào rừng rậm hoang vu. Chư vị phải nên đi trên đường tu hành thì không bị lạc đường. Ngày này qua ngày nọ đều được bình an, sáng suốt. Sao gọi là đi lạc ? Vì chư vị xưa nay quên mất, không biết tụng niệm kinh này. Qua ba bốn tháng, không tụng niệm nên quên mất, mới đi lạc. Tụng kinh được lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại cho là có ích lợi ?"
Này chư vị cư sĩ ! Đừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Nhưng, không nên vì tụng kinh mà sanh ra phiền não. Chớ nói ": Này đạo hữu ! Đạo hữu tụng kinh quá nhanh, khiến tôi theo không kịp. Hoặc đạo hữu tụng kinh quá chậm, khiến tôi phải đợi. Hoặc tiếng tụng kinh của đạo hữu không hay lắm, khiến tôi không thích nghe."
Không nên dùng công phu tu học như thế. Chúng ta biết rằng mọi người đều là những kẻ mới bắt đầu học Phật pháp. Không phải ai cũng biết tụng kinh hết, hay có người biết tụng mà không muốn tụng. Nhưng, tất cả mọi người đều phải đồng tụng kinh. Được như thế thì ai ai cũng đều đồng huân tu tập. Lại nữa, không nên mình tìm lỗi xấu người; người khác tìm lỗi xấu mình. Nếu thật có lỗi xấu thì thì mọi người nhất định phải tự mình nhìn thấy. Nếu không tự mình nhìn thấy thì lỗi xấu càng ngày càng nhiều; tu hành không thể tương ưng với đạo được. Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Bộ Bát Nhã - Lời Nói Đầu: Kinh gồm 24 Tập và 600 quyển (Nguồn: Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa)
+ Hóa giải: Bị Chú sớ - Thuốc độc - Ngộ độc - Yểm mỵ
Chú trớ, các thuốc độc
Muốn hại đến thân đó,
Nhờ sức niệm Quán Âm
Người gây lại gánh chịu.
Chú là niệm chú; Trớ cũng giống như chú. Chú có rất nhiều thứ, Mật tông có nhiều chú nhất. Các vị Lạt-ma ở Tây Tạng có một loại chú, chỉ cần niệm trong bảy ngày là có thể khiến người khác chết được. Có thứ chú giết người, có thứ chú làm lợi ích cho người. Chú nói ở đây là thứ chú hại người. Các thuốc độc là chỉ chung cho tất cả các loại thuốc độc. Khi quý vị gặp phải những loại chú trớ, thuốc độc làm phương hại đến cơ thể, trong tình cảnh đó, nếu quý vị nhất tâm niệm: "Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát," thì những chú trớ cùng thuốc độc này chẳng những không thể làm hại được quý vị mà còn trở lại làm hại chính hung thủ.
Xưa kia ở Trung Hoa có một người chuyên môn đoán quẻ và đoán rất đúng. Do đâu mà người ấy đoán được linh diệu như thế? Vì trong thân người ấy có yêu quái ma quỷ giúp đỡ. Thứ ma quỷ này mỗi năm ăn một đứa đồng nam và một đứa đồng nữ, do đó ông thầy bói toán này mỗi năm đều phải bắt cóc một đứa bé trai và một đứa bé gái để cúng tế ma quỷ ấy. Năm đó, ông ta bắt được một đứa bé gái mà ở nhà thường được dạy niệm Quán Thế Âm Bồ-tát. Ðương lúc bị nhốt trong phòng để chờ ma quỷ đến ăn thịt, đứa bé ấy liền niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Một lát sau, ma quỷ đến và đứng ngoài cửa sổ nhìn vào. Từ mắt của quỷ phóng ra hai luồng ánh sáng chiếu thẳng vào người đứa bé. Ðứa bé ấy nhơn miệng niệm Bồ-tát Quán Thế Âm nên từ trong miệng nó cũng phóng ra một luồng ánh sáng. Bỗng nhiên đứa bé cảm thấy có một cái gì thật lớn từ trên nóc nhà rớt xuống. Ngỡ là yêu quái đến sắp ăn thịt mình, đứa bé sợ quá kêu toáng lên. Ðúng lúc ấy, bên ngoài có vị quan đi tuần đêm vừa tới, nghe thấy trong nhà có tiếng con nít kêu khóc cầu cứu bèn phá cửa xông vào, và phát hiện xác một con đại mãng xà. Con đại mãng xà này chính là loại Ma-hầu-la-già (Maharaga).
Kết quả là người bói toán ấy bị quan phủ bắt, và thẩm vấn: "Tại sao ông bắt bé gái ấy nhốt trong đó?"
Ông ta đáp: "Tôi được một vị tiên giúp tôi bói toán, vị tiên ấy mỗi năm phải ăn một bé trai và một bé gái. Mấy năm nay tôi đều cúng tế như vậy, nhờ thế vị tiên ấy giúp tôi bói toán rất linh nghiệm, kiếm được rất nhiều tiền."
Thế rồi ông ta bị bắt giam vào ngục, xử phạt theo pháp luật. Vị thầy bói ấy bói toán rất linh nghiệm, nhưng không tính được kết cuộc của chính mình là bị luật pháp trừng phạt và chém đầu răn chúng.
Ðó là một thí dụ về: "Chú trớ, các thuốc độc, muốn hại đến thân đó, nhờ sức niệm Quán Âm, người gây lại gánh chịu." Cho nên, hại người rốt cuộc là hại chính mình vậy!
Câu "Người gây lại gánh chịu," ngày xưa Tô Ðông Pha đã từng sửa là "Hai bên đều vô sự." Ông ta cho là Phật giáo rất trọng lòng từ bi, nếu nói "Người gây lại gánh chịu" tức là làm hại chính người ấy thì há chẳng phải là thiếu từ bi sao? Câu sửa của ông ta có ý nói: Người niệm chú trớ và người bị trù ếm thảy đều bình an vô sự. Kỳ thật, ý đó là sai lầm. Tại sao thế? Phật giáo tuy dạy giới sát, phóng sanh, nhưng mà "trừ bạo để được an lành." Trừụ ác chính là một mặt của thiện. Giả như không trừ người ác, họ sẽ làm hại đến người lương thiện.
Nếu họ trù ếm, hay dùng thuốc độc hại người mà kết cuộc họ không bị hề hấn chi, há không phải là khuyến khích cho họ sao? Họ không hại được người, nhưng trước sau vẫn có ý muốn hại người. Họ hại không được người này thì lại có ý muốn hại người khác, mà người khác ấy nếu không biết niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì có thể bị chết vì họ! Nếu biết niệm, dĩ nhiên họ hại không được rồi; nhưng người không biết niệm Bồ Tát Quán Thế Âm lại rất nhiều, nên nói "Hai bên đều vô sự" thì không đúng, phải là "Người gây lại gánh chịu" mới không lầm lẫn. Phải khiến cho người ác tự họ chịu đựng một ít khổ, họ nhận lấy quả báo ấy cũng là xứng đáng, để về sau họ tự nhiên không dám hại người nữa.
Trên đây là Đức Phật giảng về Bồ Tát Quán Thế Âm - Phẩm Phổ Môn:
Bồ Tát Quán Thế Âm cứu bảy thứ nạn, giải trừ ba thứ độc và đáp ứng hai thứ mong cầu của chúng sanh.
Bảy thứ nạn này trong kinh văn nói rất tỉ mỉ; đó là nạn lửa, nạn nước, nạn quỷ La-sát (gió bão), nạn đao gậy, nạn ác quỷ, nạn gông cùm (lao tù), và nạn oán tặc.
Ba thứ độc là gồm những thứ nào? Ðó là ba độc tham, sân, si.
Hai điều cầu mong tức là cầu mong sanh con trai và cầu mong sanh con gái. (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - Quán Thế Âm)
+ Cõi Địa ngục được cảm ra bởi ác nghiệp của chúng sinh. Cõi này là nơi mà nỗi thống khổ của chúng sinh lên đến cùng cực và kéo dài vô tận, với hai loại điển hình là địa ngục nóng và lạnh. Những ác nghiệp được tạo bởi tâm hận thù, sân giận tột độ là nguyên nhân dẫn tới cõi này.
Nhân sinh vào cõi này là phạm 5 trọng nghiệp (giết cha, giết mẹ, phá hòa hợp Tăng, làm thân Phật chảy máu) và 10 ác nghiệp (sát đạo, dâm vọng, ác khẩu, hai lưỡi, thêu dệt, nói dối, tham, sân, si).(Xem nguồn)
+ Thời gian ở Cõi địa ngục: .... Đức Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát: “ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A-tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi! Ông cần phải bảo hộ tất cả những chúng sanh đó, làm cho họ không bị đọa lạc vào ác đạo.”
“A-tỳ” cũng gọi là “vô gián”; địa ngục Đại A-Tỳ chính là địa ngục Đại Vô Gián.
Quý vị nên biết, một ngày một đêm ở cõi trời Tứ Thiên Vương dài bằng năm mươi năm ở cõi nhân gian của chúng ta; còn một ngày một đêm ở cõi nhân gian chúng ta thì dài bằng năm trăm năm ở chốn địa ngục. Tại sao như vậy? Bởi vì đời sống ở cõi trời vô cùng vui sướng, mà khi vui vẻ sung sướng thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất nhanh! Ở cõi nhân gian vì có khổ não, cho nên năm mươi năm của chúng ta là một thời gian rất dài, song đó chẳng qua chỉ bằng một ngày một đêm trên cõi trời mà thôi.
Lại nữa, một ngày một đêm ở cõi nhân gian của chúng ta thì tương đương với năm trăm năm ở chốn địa ngục. Nếu so với cõi nhân gian thì ở địa ngục còn thống khổ hơn nhiều, mà khi phải chịu thống khổ thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất chậm chạp. Như khi chúng ta phải làm một việc gì đó chẳng hạn, nếu trong lòng cứ đắn đo, phiền muộn, thì sẽ thấy ngày dài lê thê; còn nếu tâm trí thơ thới, vui vẻ, thì lại thấy thời giờ trôi qua vùn vụt, hết một ngày lúc nào không hay! (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng P13 - Kinh Địa Tạng)
+ Hành tinh - Tinh tú = Luân xa - Bí huyệt hay Chakra: Các Chòm sao là các luân xa của Vũ trụ. Các hành tinh là luân xa của các Thái dương hệ, có quan hệ với các trung tâm lực/ luân xa con người (GQ1-C.Tạo con người)
+ 12 Hành tinh chi phối 12 Cung HĐ, chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ lên khía cạnh Phàm ngã con người, cộng với các tình trạng nghiệp quả kế thừa, tạo ra các trạng thái chung quanh và các hoàn cảnh sống và sau rốt việc kiểm soát khía cạnh hình tướng của sự sống (CTHNM, 63)
+ 12 Chòm Sao: Có liên quan trước tiên với việc kích thích của Linh hồn bên trong hình hài, tạo ra hoạt động bên trong mà, đến lượt nó, tạo lên các thay đổi trong biểu hiện bên ngoài (CTHNM, 64)
+ Mỗi hành tinh ảnh hưởng đến một khu vực của cuộc sống, từ Mặt trời ra và mỗi hành tinh toả chiếu một màu đến chúng ta (CTHNM 4)
+ Có 12 Hành tinh (7 H.Tinh thánh thiện và 5 không thánh thiện) có liên quan với sự sống bên ngoài, môi trường và các hoàn cảnh của cá nhân. Các mãnh lực biểu hiện trạng thái thiêng liêng thứ 3 - Ý muốn hiểu biết; (CTHNM, 38)
+ Hành tinh chi phối con người: Có 5 Hành tinh không Thánh thiện gồm Hỏa T - Mặt Trời - Mặt Trăng - Diêm VT - Địa cầu; Có 7 hành tinh Thánh thiện gồm Mộc T - Thủy T - Kim T - Thổ tinh - Hải VT - Thiên VT - Vulcan (Ẩn dấu trong Mặt trời và mặt Trăng). Ảnh hưởng của một hành tinh linh thiêng hoặc không linh thiêng rất khác nhau:
Hành tinh không linh thiêng chủ yếu tác động lên đời sống trong ba cõi. Hành tinh linh thiêng... sẽ hỗ trợ trong tiến trình dung hợp Linh hồn và thể xác, của ý thức và hình thể; chúng cũng sẽ thúc đẩy sự khai mở trực giác (Linh hồn tinh thần), vốn là phương diện thấp hơn của Chân Ngã.
Trong suốt một thời kỳ dài của chu kỳ luân hồi và giai đoạn biểu lộ, con người chủ yếu bị chi phối bởi hoạt động của các hành tinh không linh thiêng với nhân cách
Hành tinh - Ảnh hưởng đối với Nhân cách
Mars (Sao Hỏa) - Dẫn truyền năng lượng Cung Sáu (Chiến đấu vì lý tưởng), tác động lên thể xác vật chất và hành động.
Earth (Trái Đất) - Thể hiện nguyên lý của Cung Ba (Hoạt động Thông tuệ), chủ yếu liên hệ với đời sống hành động và tiến hóa qua xung đột.
Pluto (Diêm Vương Tinh) - Cung Một (Ý chí Quyền năng), cai quản nhà của cái chết và các chia ly lớn - quá trình thanh lọc nhân cách.
Moon (Mặt Trăng) - Cung Bốn (Hài hòa qua Xung đột), tác động lên thể sinh lực/dĩ thái, duy trì hình hài và sự sống sinh học.
Sun (Mặt Trời - Che giấu Vulcan), liên quan tới sinh lực (prana) và thể hiện nguyên khí sống, chủ yếu tác động Bản ngã cá nhân chưa tiến hóa.
* Nhóm Nhân cách với Hành tinh có 3 nhóm chính: (1). Phàm ngã phối kết đang dần chịu chi phối của Linh hồn; (2). Phàm ngã đã hợp nhất, điều phối nhưng chưa chịu ảnh hưởng của Linh hồn; (3). Phàm ngã chưa phối kết - Có Nhân cách đang thức tỉnh, hòa nhập với phân nhóm thứ ba và là sự thể hiện tốt nhất của nhóm đó. Xét các hành tinh không linh thiêng (LT) tương ứng với các loại Nhân cách (đặc biệt ở cấp phổ thông):
Hành tinh không LT ... Phương diện Nhân cách tác động chính
Mars (Sao Hỏa) ... Thể xác vật chất và sự xung động hành động
Earth (Trái Đất) ... Kinh nghiệm trần thế, nghiệp quả
Moon (Mặt Trăng) ... Thể sinh lực, thói quen hình tướng
Sun (Mặt Trời - thay Vulcan) - Bản ngã riêng, ý chí cá nhân hóa
Pluto (Diêm VT) ... Sự chết của những ham muốn thấp kém, sự tái sinh nhân cách.
* Các trung tâm lực chính chịu ảnh hưởng của các hành tinh không linh thiêng:
Trung tâm lực - Hành tinh không LT .... Ghi chú
TT lá lách - Earth (Trái Đất) ..... Trung tâm tiếp nhận năng lượng prana; chủ yếu cho thể vật lý và thể sinh lực.
TT phụ ở ngực ... (Mặt Trăng) ... Gắn với tuyến ức, liên quan đến sự sống sinh học, không hoạt động ở người tiến hóa cao.
TT xương cùng - Mars (Sao Hỏa) ... Trung tâm của hoạt động sinh sản và ham muốn vật chất.
TT đám rối mặt trời - Pluto (Diêm VT) ... Trung tâm của cảm xúc bản năng và bản năng tự vệ; giai đoạn thanh lọc.
TT trước cổ họng - Sun (Mặt Trời - che Vulcan) ... TT phụ giúp trung chuyển sáng tạo giữa TT sinh sản và TT cổ họng.
Tình trạng hoạt hóa các TT ở người bình thường và đệ tử: 5 TT dọc theo cột sống liên hệ với 5 hành tinh không LT, nhưng ở người chưa tiến hóa hoặc trung bình, chúng chủ yếu tập trung trên cõi cảm dục và trong thể cảm dục. Ý nghĩa của sự chuyển hóa khi tiến hóa, năng lượng từ các TT lực này được nâng cao:
TT xương cùng và đám rối Thái dương/ Mặt trời dần nhường chỗ cho sự hoạt hóa mạnh mẽ hơn của TT cổ họng, TT tim và trung tâm đầu. Các hành tinh linh thiêng bắt đầu chi phối các trung tâm này thay vì các hành tinh không linh thiêng. (Nguồn: Sách Minh triết - ChatGPT tổng hợp)
+ Xem thêm: Các Hành tinh - Các Sao - Tinh tú
+ Thuỷ tinh - Sao Thủy: Thủy tinh và Mặt trăng (ẩn Vulcan) truyền dẫn Cung 4 (GQ1- CT con người) - Sao Thủy điều khiển thể trí, là lực chiếm ưu thế ở cấp độ phàm ngã. Đáp ứng với câu châm ngôn "Hãy để vật chất thống trị", tâm trí tràn ngập những tư tưởng về tiền bạc và tài sản......
Jupiter và các ảnh hưởng của nó cho thấy rằng con đường lâm phàm là phương pháp khai mở tiến hóa “có lợi” và rằng con đường bác ái ‒ minh triết (cung 2) là con đường cho nhân loại bước đi. Mercury chỉ rằng con đường ít đối kháng nhất cho nhân loại là hài hòa qua xung khắc, vì Mercury biểu hiện cho năng lượng cung bốn vốn thuộc bồ đề, trực giác và biểu hiện của Christ, vì Mercury và Mặt Trời là một.... (CTHNM, 80);
(Vài Cung tự biểu hiện qua 2 hành tinh. Thí dụ Cung 4, qua Mặt Trăng và cả qua Mercury, trong khi Cung 1, đến với chúng ta qua Vulcan và qua Pluto. Lý do thực sự là một trong các bí mật của điểm đạo và được ẩn giấu trong vận mệnh của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư - Nhân loại).
+ Mercury: Ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến Tứ nguyên ở người; Chân Sư DK (CTHNM, 338):
Sirius Leo Mercury Saturn
Tinh Thần ... Linh hồn .... Trí tuệ ....... Bộ óc
Sự sống ..... Tính chất ... Giác ngộ .. Sắc tướng
Hít vào ........Tạm nghỉ ... Thở ra ...... Tạm nghỉ
- Lời nói, viết, suy nghĩ có ý thức, logic
- Cách chúng ta nghĩ và xử lý thông tin, và do đó ảnh hưởng đến cách chúng ta giao tiếp. Suy nghĩ là một quá trình chứ không phải là một đặc điểm tĩnh bên ngoài của một người. Nói chung, các nhà chiêm tinh vẫn giải thích Thuỷ tinh một cách đơn giản hơn là liên kết một số lượng lớn các hiện tượng dường như không liên quan với Thuỷ tinh . Có sự đồng thuận rộng rãi về ý nghĩa của nó, vì vậy chúng ta không cần phải thảo luận về các cách hiểu khác nhau.
- Thống kê và ý nghĩa: Các quy luật và tạo lập Lá số Chiêm tinh; Định vị các Nhà; Vòng Hoàng Đạo và Mặt phẳng Hoàng đạo, đường Xích đạo Trời; Các Hành tinh có tính Ngũ Hành của nó mạnh hơn Ngũ hành cùng loại của các Cung Hoàng Đạo; Ý nghĩa các Cung Hoàng Đạo; Các Nhà; Các Góc hợp và Chủ tinh các Cung Hoàng Đạo; cũng như khái niệm về vượng, tướng, tù, tử; Cung chủ quản một Nhà; Mẫu sắc Ngũ hành; Tính điểm ngũ hành; Các góc hợp Tam hợp, Lục hợp ....
+ Thuỷ tinh (☿): Thuỷ tinh ảnh hưởng đến cách chúng ta nghĩ và xử lý thông tin, và do đó ảnh hưởng đến cách chúng ta giao tiếp. Suy nghĩ là một quá trình chứ không phải là một đặc điểm tĩnh bên ngoài của một người. Nói chung, các nhà chiêm tinh vẫn giải thích Thuỷ tinh một cách đơn giản hơn là liên kết một số lượng lớn các hiện tượng dường như không liên quan với Thuỷ tinh . Có sự đồng thuận rộng rãi về ý nghĩa của nó, vì vậy chúng ta không cần phải thảo luận về các cách hiểu khác nhau. (Nguồn: Chiêm tinh học nội môn 4)
+ Thủy tinh: 11. Thứ mười một sao Tư (Chủy) 2 bước, Tham (Sâm) 4 bước, Tỉnh 3 bước, chỗ của Thần Tinh (sao Thủy, Mercury). Thần của nó như vợ chồng, cho nên tên gọi là cung Dâm (QNB chú: cũng gọi là Song Tử, tương ứng với cung Thân), chủ những việc về thai sản con cháu. Nếu người nào sinh ra thuộc cung này, theo pháp hợp lắm thê thiếp, được người yêu mến kính trọng, hợp đảm nhiệm quản lý chìa khóa nhà cửa hộ tịch. (Nguồn: Tú Diệu Lịch Kinh - cohoc.net)
+ Hành Tinh Thủy tinh - Mercury (Tham khảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm)
1. “Mercury chỉ vừa mới bắt đầu rời khỏi trạng thái triều nguyên.
a/ Mercury không có vệ tinh nào.
b/ Mercury là dãy thất phân.” (188, 189)
2. “Mercury già hơn Địa Cầu nhiều”. (I, 180)
3. “Mercury được gọi là thần thứ nhất trong số các Thần thiên giới, Thần Hermes… mà Thượng Đế được gán cho là sáng tạo ra và cuộc khai mở đầu tiên của con người vào Huyền Thuật. …Mercury là Budh, Minh Triết, Giác Ngộ hay là “làm sống lại” trong khoa học thiêng liêng”. (I, 513)
4. “Mercury là Chúa của Minh Triết”. (II, 31)
5. “Mercury còn huyền bì và ẩn mật hơn là Venus. Nó vốn:
a/ Đồng nhất với Mithra.
b/ Bạn đồng hành vĩnh cửu của Mặt Trời Minh Triết.
c/ Lãnh tụ và kẻ trục triệu (evocator) của linh hồn.
d/ Đồng nhất với Mặt Trời”. (II, 31)
6. “Mercury chữa lành kẻ mù, và phục hồi sự thấy của tinh thần và vật chất”. (II, 571)
7. “Mercury đôi khi tượng trưng:
a/ Như là có ba đầu, bởi vì là một với Mặt Trời và Venus.
[Thủy tinh biểu lộ 3 trạng thái ứng Ánh áng Mặt trời và mức Tiến hóa: Vật chất - Tâm linh - Huyền bí nơi con người_NTH]
b/ Như hình lập phương, không có tay, vì ‘sức mạnh của sự nói và hùng biện có thể chiến thắng mà không cần sự trợ giúp của tay và chân’”. (II, 572)
8. “Giống dân thứ năm được sinh ra dưới Mercury” (giống dân Aryan. A.A.B.) (II, 32)
9. “Mercury là anh của Địa Cầu”. (II, 48)
10. “Mercury nhận được ánh sáng bảy lần nhiều hơn bất cứ hành tinh nào khác”. (II, 570)
11. “Buddhi và Mercury tương ứng với nhau và cả hai đều vàng (yellow) có màu hoàng kim sáng rực. Trong hệ thống con người, mắt phải tương ứng với Buddhi, còn mắt trái tương ứng với Manas và Venus hay là Lucifer”. (III, 447, 448)
12. “Mercury được gọi là Hermes; Venus được gọi là Aphrodite và sự liên kết của chúng trong con người trên bình diện tâm lý – vật lý (psycho-physical plane) mang lại cho y tên gọi Hermaphrodite (Lưỡng Tính, Bán Thư Bán Hùng)” (III, 458) Tham khảo trong Luận về Lửa Càn Khôn
13. “Venus, Jupiter và Saturn có thể được xem như là các hiện thể của ba siêu nguyên khí hay nguyên khí chính. Mercury, Địa Cầu và Mars được liên kết chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng ở đây có ẩn một bí mật còn bị che giấu”. (299).
14. “Gợi ý thứ hai mà Tôi tìm cách đưa ra, nằm trong tam giác được hợp thành bởi Địa Cầu, Mars, Mercury. Liên quan với tam giác này, sự tương tự nằm trong sự kiện rằng Mercury và trung tâm lực Kundalini ở đáy xương sống trong con người có liên kết chặt chẽ. Mercury cho thấy Kundalini ở trạng thái hoạt động sáng suốt trong khi Mars cho thấy Kundalini ở trạng thái tiềm tàng”. (181)
15. “Vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, cùng với Thượng Đế của hành tinh hệ Venus và của Địa Cầu chúng ta, Đấng Chủ Quản (Lord) của Mercury tạo ra một tam giác lực tạm thời”. (371)
+ Thủy tinh trong Song tử: Đọc Tooltip nói nhiều điều về Thủy tinh ... Xem tại đây
* Nguồn: Tổng hợp Đặc Tính các Chòm Sao và Cung Hoàng Đạo - Hành tinh - Chủ Tinh
* Xem: Chiêm tinh học 1- 2 - 3; Xem thêm: Tổng hợp về Hành tinh; Xem: Tổng hợp về Thủy tinh
+ Tổng hợp kiến thức tương ứng với Phương bắc - Mùa Đông - Nhâm Quý - Hành Thủy - Thủy ngũ hành/ Nước
+ Thủy - Nước: Phù hợp với các sắc thái và tinh tế; Liên lạc với cảm xúc, nhạy cảm; Trực quan, đáp ứng cảm thông với người khác hoặc chiều sâu của cuộc sống; Dễ bị tổn thương, có thể phản ứng, sợ hãi, thương thân trách phận; Tìm kiếm sự gần gũi và sáp nhập - Đa cảm. Trực quan. Nhạy cảm với môi trường xung quanh và với người khác. Sáng tạo. Trí tưởng tượng mạnh. Đồng cảm (Chiêm THNM 4)
+ Nước: Vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực mềm, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được. Đạo cũng ví như nước vậy. (Theo Đạo Đức Kinh của Mạnh Tử)
+ Hành Thủy - Nước trong thể Cảm Xúc được mô tả về tính chất (LVHLT, 160):
- Thật thú vị khi nhớ điều này: Nếu một hình-tư-tưởng được đưa vào thế giới cảm xúc để thu thập cho nó một thể của ham muốn (lực thôi thúc vốn tạo ra mọi biểu lộ ngoại tại – objectivity) và được nhấn chìm vào một “tình trạng của nước”, vốn có thể được mô tả tốt nhất như là hoàn toàn ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất, do bị hút vào thể cảm dục của vị đệ tử, vốn là điểm tập trung cho mọi năng lượng cảm dục mà người đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một lốc xoáy, mà thể cảm dục cá nhân là trung tâm của lốc xoáy đó, và đánh mất sự sống riêng biệt của nó. Sự so sánh về xoáy nước có giá trị ở đây........ (LVHLT, 162)
+ Tôn Giả Xá Lợi Phất nói về đức hạnh của Tứ đại: ... "Bạch Thế Tôn, giống như những người vất lên mặt đất những thứ trong sạch và những thứ không trong sạch, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ và máu, tuy nhiên, mặt đất đón nhận mọi thứ mà không chán ghét, nôn mửa, hay thù hận; quả tim con: Giống như nước giặt những thứ mà bị dính bởi phân, nước tiểu, nước bọt, mủ và máu, tuy nhiên, nước đón nhận mọi thứ mà không chán ghét, nôn mửa, hay thù hận; .... (Nguồn: Đức hạnh ngài Xá Lợi Phất)
+ Thủy chủ về trí = Trí cảm dục [Tâm Thủy này đúng với người tiến hóa trung bình trưa bước vào đường đạo]: Dịch Nghĩa - Đức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục chẳng thấy được Đạo, ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên, khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ. Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Đạo. Sa-môn các ông phải xả bỏ ái dục, cấu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Đạo!"
Lược giảng: Chương thứ mười sáu nói về tâm của người đời chúng ta. "Nước tâm" (tâm thủy) vốn lóng trong, nhưng nếu quý vị khuấy lên thì nước ấy sẽ không còn trong nữa. Như vậy, sự lóng trong là gì? Là Đạo! Còn không lóng trong là gì? Là ái dục! Chính lòng tham ái và tham dục gây chướng ngại, khiến chúng ta không thể minh tâm kiến tánh, không thấy được Đạo, không chứng được quả vị. Chứng được Sơ-quả A-la-hán là đạt đến ngôi vị Kiến Đạo, tức là đã thấy được Đạo vậy.
Đức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục..." Giảng cái pháp này cho người Tây phương nghe thì thật khó mà giảng cho thông, vì đa số người Tây phương bất luận chuyện gì cũng đều nhắc tới ái (love), nói tới dục. .... Thật là những kẻ chẳng hiểu gì về Đạo cả!
Những người cứ ôm giữ lòng ái dục, thâm tâm chỉ toàn nhớ tưởng tới ái tình và dục vọng, thì "chẳng thấy được Đạo." Nếu quý vị tu Đạo nhưng lại không hiểu Đạo, thì sẽ một mặt tu hành, một mặt hủy hoại sự tu hành của mình - khuyên quý vị phải dứt bỏ lòng ái dục thì lòng ái dục của quý vị lại càng gia tăng!
"Ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên." Khi bị lòng tham ái và tham dục xâm chiếm thì quý vị không thể thấy được Đạo; giống như việc gì? Giống như nước đã lóng trong mà quý vị lại lấy tay khuấy lên, làm cho đục vậy. Sở dĩ như thế là vì trong nước ấy có đất cát, bùn, bụi bặm. Nếu trong nước hoàn toàn không có cát và bùn, thì quý vị có khuấy thế nào đi nữa, nước cũng chẳng bị đục! Cát và bùn ở đây tượng trưng cho cái gì? Tượng trưng cho ái và dục - ái tình và dục vọng ví như bụi bặm, bùn đất trong nước. Khi lòng tham ái và tham dục của quý vị dấy khởi, thì cũng giống như quý vị lấy tay khuấy đục nước, "khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ" vậy. Tất cả những người đứng cạnh bờ nước đều không thấy có bóng mình phản chiếu trên mặt nước; vì sao? Vì nước đã bị khuấy đục! Vì sao quý vị không thấy được Đạo? Vì lòng tham ái và tham dục làm cho quý vị trở thành u mê tăm tối!
"Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Đạo." Từ sáng đến tối, họ chỉ nghĩ đến ái tình và dục vọng - những ý tưởng bất tịnh, không trong sạch. Vì bị lòng tham ái và tham dục xáo trộn, chi phối, nên họ không nghĩ tới điều gì khác ngoại trừ ái và dục. Trong tâm họ, cấu trược dấy lên làm đục "nước trí huệ" (trí huệ thủy) - họ không còn sáng suốt, không còn trí huệ nữa; và do đó, họ chẳng hiểu được Đạo. Quý vị ngày ngày miệt mài tu hành mà vẫn không chứng được quả vị, chẳng thấy được Đạo, là vì sao? Vì quý vị vẫn còn lòng tham ái và tham dục! Nếu không có tâm ái dục thì quý vị sẽ thấy được Đạo rất mau chóng.
Vì thế Đức Phật căn dặn: "Sa-môn các ông phải xả bỏ ái dục." ... Tất cả chúng ta đều nên dứt bỏ lòng tham ái và tham dục. Dứt bỏ ái dục không có nghĩa là phải tuyên bố: "Tôi rất ghét phái nữ. Hễ gặp họ là tôi nổi nóng, đuổi họ đi ngay!" Không phải như thế! Vậy thì phải như thế nào? Phải "nhìn mà như không thấy, nghe mà như chẳng nghe!" Quý vị không nhất thiết phải căm ghét họ; tuy nhiên, cũng chớ vì họ mà xao xuyến, khởi tâm động niệm, hoặc bị họ chi phối.
Trong câu "xả bỏ ái dục," thì "xả bỏ" có nghĩa là bố thí, đem cho. Thí dụ quý vị bố thí tiền bạc, thì một khi đã cho người ta rồi tức là quý vị không có số tiền đó nữa - quý vị đã xả bỏ số tiền ấy. "Cấu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Đạo!" Khi lòng tham ái và dục niệm - những rác rưởi dơ bẩn - đều không còn nữa, thì quý vị có thể thấy được Đạo, chứng được quả vị. (Nguồn: Kinh 42 chương-HT T.Hóa)
+ Thái Dương Thiên Thần (Solar Angels): Các Đấng phú cho con người Chân Ngã hữu thức bất tử là các “Thái Dương Thiên Thần” – dù là xét về mặt ẩn dụ (metaphorically) hay theo nghĩa đen (literally). (GLBN III, 97)
+ Solar Angels/ Thần Thái Dương: ..... 4/ Bằng cách kích thích các Chân Ngã thể của con người, để cho các Solar Angels có thể xúc tiến với độ chính xác cao và thúc ép sự va chạm của các Ngài với các Lunar gods (Nguyệt thần). Đây là cuộc chiến thực sự ở trên trời (heaven). Vì các Thần Thái Dương (1) luôn luôn xuống gần cõi trần, và trong khi giáng xuống, các Ngài đảm trách việc kiểm soát ngày càng nhiều các bản chất của nguyệt thần, tất nhiên các tư tưởng và dục vọng của con người được tinh lọc và thanh luyện. Các Lửa thái dương dập tắt Ánh sáng thái âm, nên bản chất thấp sau rốt được thanh lọc và chuyển hóa. Vào đúng lúc, các Solar Angels (Thái Dương Thiên Thần) chiếu diệu với tất cả vẻ huy hoàng của các Ngài qua phương tiện phàm ngã trên cõi trần, phàm ngã đó cung cấp nhiên liệu cho các ngọn Lửa. Thế là “Kẻ Chận Ngõ” đáng ghét dần dần bị diệt vì thiếu thức ăn, và tan rã vì thiếu sinh khí, con người được giải thoát.
(1) - Thần Thái Dương (LVLCK, tr 951)
1 Các Solar Gods (Thần Thái Dương, Nhật Thần) là các “Thiên Thần Sa Đọa” (“Fallen Angels”). GLBN II, 287.
a. Các Ngài làm ấm các bóng tối … các cơ thể con người.
b. Đến lượt các Ngài được làm ấm bằng Monad, hay Atma. GLBN II, 116, 117.
c. Các Ngài là các Minh Triết Xà. GLBN II, 240.
d. Bản chất các Ngài là Tri Thức và Bác Ái. GLBN II, 527.
e. Các Ngài đến từ cõi trí vũ trụ. GLBN III, 540.
* Ego tức là Solar Angel bị giam nhốt. GLBN I, 621.
a. Nó phải tự giải thoát khỏi vòng kềm tỏa của tri giác, thuộc giác quan.
b. Nó phải thấy bằng ánh sáng của Thực Tại duy nhất.
c. Xem GLBN II, 578.
d. Để đền bù cho nhân loại (to redeem humanity). GLBN II, 257.
e. Để phú cho (endow) nhân loại các tình thương (affections) và các hoài bão. GLBN II, 257
f. Các Ngài trao cho nhân loại trí thông minh và tâm thức. GLBN I, 204.
+ Nhật Thần (Solar Gods):
- Ban cho con người hạ trí và thượng trí. (LVLCK, 614)
- Nhật Tinh Quân là các “Thiên Thần Sa Đọa” – SD–II, 287.
a/ Các Ngài sưởi ấm các bóng... các thể con người.
b/ Đến phiên các Ngài được sưởi ấm bởi Chân Thần hay Atma.
c/ Các Ngài là Minh triết xà.
d/ Bản chất của các Ngài là Tri thức và Bác Ái.
e/ Các Ngài đến từ cõi trí vũ trụ. (LVLCK, 950)
+ Nhật Tinh Quân (Solar Lord):
- Chân Ngã (Ego) tức là Nhật Tinh Quân. (ĐĐNLVTD, 136)
- Solar Lord tức sun god, tức linh hồn. (CTNM, 342)
+ Thái Dương Tinh Quân: (Manasa-Dhyanis, Solar Devas, Agnishvatta Pitris) là các Đấng Ban Phát (givers) trí tuệ và tâm thức cho con người. (GLBN I, 233)
+ Akasa và Prana biểu lộ vũ trụ: ..... Theo nhiều triết gia Ấn Độ, toàn thể vũ trụ được cấu tạo bằng hai loại chất liệu, một loại là ākāśa, còn loại kia là prāna. Ākāśa là sự tồn tại toàn nhiên phổ hiện, bao trùm vạn hữu. Mọi sự vật mang hình tướng, mọi sự vật hình thành do hòa hợp đều tiến hóa từ ākāśa này. Chính ākāśa chuyển biến thành thể khí, thể lỏng, rồi thành thể rắn; chính ākāśa đã chuyển biến thành mặt trời, trái đất, mặt trăng, thành tinh tú, sao chổi; chính ākāśa chuyển biến thành thể xác con người, thể xác loài vật, cây cỏ, thành tất cả những gì ta có thể tri giác được, tất cả những gì tồn tại. Ta không thể nhận thức được ākāśa, nó tế vi đến mức bất khả tư nghì, vượt ra ngoài mọi sự nhận thức, ta chỉ có thể nhìn thấy được ākāśa khi nó biến thành dạng thô, và mang một hình tướng. Ngay từ buổi khởi thủy sáng tạo, chỉ có ākāśa, đến cuối chu kỳ thì mọi vật thể rắn, lỏng và khí đều tan chảy vào ākāśa trở lại, và một chu kỳ sáng tạo tương tự khác lại xuất phát từ ākāśa này. Là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.
Do năng lực nào mà ākāśa hiển lộ thành vũ trụ? Đó là nhờ năng lực của prāna. Giống như ākāśa là chất liệu vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ thì prāna cũng thế, nó là năng lực hiển thị vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ. Tại khởi thủy và chung cục của một chu kỳ thì vạn vật đều biến thành ākāśa, và tất cả những lực trong vũ trụ này đều hồi chuyển vào prāna. Trong chu kỳ tiếp theo từ prāna lại tiến hóa ra tất cả những thứ ta gọi là năng lượng, tất cả những thứ ta gọi là lực. Prāna tự thân hiển lộ như là sự vận động, prāna tự thân hiển lộ như là lực hấp dẫn vạn vật, như là từ lực. Prāna tự thân hiển lộ như là hoạt động của thể xác, như là những dòng thần kinh, như là sức mạnh của tư tưởng. Từ tư tưởng cho đến những lực vật lý thấp kém nhất, tất cả đều là sự biểu hiện của prāna. Tổng số các lực trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, khi hồi chuyển về trạng thái nguyên thủy, được gọi là prāna. “Khi không có một gì cả, cũng không có hư không, khi bóng tối bao trùm bóng tối thì cái gì tồn tại? Đó là ākāśa tồn tại trong trạng thái bất động”. Chuyển động vật lý của prāna dừng lại, nhưng nó vẫn luôn tồn tại y nhiên bất biến. Đến cuối chu kỳ, tất cả năng lượng đang phô bày trong vũ trụ sẽ lắng dịu lại và biến thành dạng thế năng. Đến đầu chu kỳ kế tiếp thì chúng lại khởi động, tác động mạnh vào ākāśa, rồi từ ākāśa xuất phát ra muôn ngàn hình tướng đa thù, và khi ākāśa chuyển biến thì prāna cũng chuyển biến thành những tất cả những dạng biểu hiện năng lượng này. Tri thức và năng lực kiểm soát prāna được gọi là prānāyāma. ........
Prāna là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.....
Đối với thế giới nội tâm cũng vậy. Vật chất được biểu trưng bằng khí ê-te; khi hoạt động của prāna là hoạt động tế vi nhất thì khí ê-te này, trong trạng thái dao động còn tế vi hơn, sẽ biểu trưng cho tâm trí, và khi đó, ê-te vẫn là một khối vật chất nguyên vẹn....... (Nguồn: Triết học Kinh Vệ Đà_Tr 593-596)
+ Tìm hiểu thêm về Prana - Sinh khí biểu lộ: Năng lượng vũ trụ biểu lộ
+ Từ lực hay là prana, sinh lực, sinh khí. (TVTTHL, 245)
+ Prana: X. Sinh khí, thần kinh lực
+ Sinh khí: Tương ứng với Fohat trong tiểu vũ trụ là các dòng sinh lực qua thể dĩ thái để giữ cho xác thân được sống động và có từ lực. Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít ai biết, và khi hiểu đúng người ta sẽ biết bí quyết của sức khỏe hoàn hảo (TTHM, 185)
+ Sinh khí thể (body of prana): Là thể sinh lực hay thể dĩ thái (vital body or etheric body). LVHLT, 206)
+ Sinh khí không phải là hơi thở mặc dù thường được dịch như thế. Đó là toàn thể năng lượng vũ trụ. Đó là năng lượng hiện hữu trong mỗi thể, và biểu lộ rõ rệt nhất của nó là sự vận động của phổi. Vận động này được tạo ra bởi sinh khí được cuốn vào trong hơi thở và là những gì mà chúng ta tìm cách kiềm chế trong thuật chuyển khí (Pranayama). Chúng ta bắt đầu bằng cách kiểm soát hơi thở vì đó là cách dễ nhất để kiểm soát prana. (ASCLH, 218)
+ Là yếu tố chủ quan ẩn bên dưới luồng khí được hít vào và thở ra. (LVHLT, 206)
+ Nhiệt linh hoạt (active heat) là prana. (LVLCK, 45)
+ Lửa linh hoạt (active fire) là prana. (LVLCK, 47)
+ “Prana hay nguyên khí sinh động (vital principle) là liên hệ chuyên biệt của Atma với hình thức vật chất nào đó, mà nhờ mối liên hệ với Atma, nó được tổ chức và kiến tạo như là một phương tiện để có được kinh nghiệm. Mối liên hệ chuyên biệt này tạo thành sinh khí cá biệt trong cơ thể một người. Sinh khí vũ trụ thấm nhuần vạn vật không phải là prana theo nghĩa thô thiển mà là một tên gọi dành cho Brahman như là Đấng Sáng tạo prana cá biệt ... Mọi thực thể, dù là thiên thần, con người hay con vật, chỉ tồn tại bao lâu mà prana còn ở trong cơ thể. Đó là kỳ gian sự sống của vạn vật ... Prana hay sức sống là chức năng chung của thể trí và mọi giác quan” Trích Serpent Power, trang 94–95.(LVLCK, 77)
+ Prana: Mặt trời cũng truyền sinh khí (revitalises) có prana, và điều này nên được xem xét (Trong phục hồi, duy trì sức khỏe) (LVHLT, 342)
+ Phân biệt Bức xạ từ thể dĩ thái - Bức xạ của prana với từ điển: Prana là một sự phóng phát từ một thể tinh anh (VD: thể cảm dục) và từ điển (Giải thích lửa bức xạ). Sự phân biệt này rất quan trọng và phải được nhận ra một cách cẩn thận (LVLCK, 72)
1. Lửa Nội Tại truyền sinh lực (Lửa do ma sát). Là hoả xà cá nhân, nó làm linh hoạt xác thân và biểu lộ theo 2 cách:
- Tiềm nhiệt (Nhiệt tiềm ẩn): Nó là căn bản của sự sống của tế bào tựa hình cầu, hay nguyên tử, và điều chỉnh sự quay của tế bào này so với tất cả tế bào khác.
- Hoạt nhiệt hay prana: Làm linh hoạt vạn vật và là lực phát động của hình hài đang tiến hoá. Prana tự biểu lộ trong 4 loại dĩ thái và trong trạng thái hơi. Sự tương ứng trên cõi hồng trần, với con người so với Akasha và biểu lộ ngũ phân của nó trên cõi của Thái dương hệ. (LVLCK, 61)
2. Kế tiếp là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ (Lửa Thái dương trong con người). Lửa này tạo thành đơn vị suy tư hữu ngã thức hay là linh hồn. Lửa của trí tuệ này bị chế ngự bởi Định Luật Hút. Chính tia lửa trí tuệ này trong con người, biểu lộ như hoạt động xoắn ốc có chu kỳ, nó đưa đến sự bành trướng và rốt cuộc trở về trung tâm của hệ thống nó, tức Chân Thần - nguồn cội và mục tiêu cho Chân Thần nhập thế tức là con người. Vì trong đại vũ trụ, lửa này cũng biểu lộ theo 2 cách:
1. Lửa linh hoạt hay prana. (Tiềm nhiệt hay thân nhiệt).
2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí. Hai điều này hợp thành một tứ nguyên huyền bí, với yếu tố thứ năm, tức là điểm linh quang của ý chí sáng suốt, =>>> tạo thành năm của biểu lộ Chân Thần - biểu lộ trong trường hợp này có nghĩa là một biểu lộ nội tâm thuần tuý vì không hẳn là tinh thần, cũng không hẳn là vật chất.
3. Cuối cùng có Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng. Ngọn Lửa này biểu hiện rung động cao nhất mà Chân Thần có thể có được, bị chế ngự bởi định luật Tổng hợp và là nguyên nhân của chuyển động luỹ tiến của Nguyên sinh khí đang tiến hoá.
Khi cả 3 toả chiếu như một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất hay khỏi hình hài vật chất được thành tựu, tạo thành một vận hà cho sự giải thoát (LVLCK, 64)
+ Akasa và Prana biểu lộ vũ trụ: ..... Theo nhiều triết gia Ấn Độ, toàn thể vũ trụ được cấu tạo bằng hai loại chất liệu, một loại là ākāśa, còn loại kia là prāna. Ākāśa là sự tồn tại toàn nhiên phổ hiện, bao trùm vạn hữu. Mọi sự vật mang hình tướng, mọi sự vật hình thành do hòa hợp đều tiến hóa từ ākāśa này. Chính ākāśa chuyển biến thành thể khí, thể lỏng, rồi thành thể rắn; chính ākāśa đã chuyển biến thành mặt trời, trái đất, mặt trăng, thành tinh tú, sao chổi; chính ākāśa chuyển biến thành thể xác con người, thể xác loài vật, cây cỏ, thành tất cả những gì ta có thể tri giác được, tất cả những gì tồn tại ...... (Xem Tooltip: Biểu lộ vũ trụ)
+ Tìm hiểu thêm về Prana - Sinh khí biểu lộ: Năng lượng vũ trụ biểu lộ
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158)
+ Năng lượng biểu lộ qua nhân loại: .... xung lực ý chí nổi bật này biểu lộ qua tiếng nói của đại chúng trên khắp thế giới. Ý chí này biểu lộ qua âm thanh, như tâm thức hay tình thương biểu lộ qua ánh sáng. (Nguồn: sách Điểm đạo trong nhân loại _Tr 17)
+ Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ:
* Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi:
- Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện.
- Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương
- Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí tuệ. Lửa do ma sát.
* Biểu lộ nội tại Đại thiên địa.
- Thái dương ……....… Ý chí hay quyền năng
- Kim tinh & Thuỷ tinh ... Bác ái và Minh triết
- Thổ tinh (Saturn)…….. Hoạt động hay Thông tuệ
* Biểu lộ ở Tiểu thiên địa
- Chân thần….. Lửa điện……….. Ý chí - quyền năng.
- Chân ngã…… Lửa thái dương.. Bác ái và minh triết
- Phàm ngã….. Lửa do ma sát… Hoạt động - thông tuệ.
* Đây là biểu lộ bên trong.
- Thể hạ trí………… Ý chí hay quyền năng….. Lửa
- Thể cảm dục…….. Bác ái - Minh triết ………. Nhiệt
- Thể xác………….. Hoạt động thông tuệ…….. Chuyển động
* Biểu lộ ngoại cảnh của Tiểu thiên địa
- Thể xác Não bộ… Chân thần…Ý chí - quyền năng. Lửa điện.
- Tim… Chân ngã…. Bác ái-Minh triết. Lửa thái dương.
- Các cơ quan thấp… Phàm ngã… Hoạt động thông tuệ. (Nguồn: LVLCK, 124)
+ Akasa và Prana biểu lộ vũ trụ: ..... Theo nhiều triết gia Ấn Độ, toàn thể vũ trụ được cấu tạo bằng hai loại chất liệu, một loại là ākāśa, còn loại kia là prāna. Ākāśa là sự tồn tại toàn nhiên phổ hiện, bao trùm vạn hữu. Mọi sự vật mang hình tướng, mọi sự vật hình thành do hòa hợp đều tiến hóa từ ākāśa này. Chính ākāśa chuyển biến thành thể khí, thể lỏng, rồi thành thể rắn; chính ākāśa đã chuyển biến thành mặt trời, trái đất, mặt trăng, thành tinh tú, sao chổi; chính ākāśa chuyển biến thành thể xác con người, thể xác loài vật, cây cỏ, thành tất cả những gì ta có thể tri giác được, tất cả những gì tồn tại. Ta không thể nhận thức được ākāśa, nó tế vi đến mức bất khả tư nghì, vượt ra ngoài mọi sự nhận thức, ta chỉ có thể nhìn thấy được ākāśa khi nó biến thành dạng thô, và mang một hình tướng. Ngay từ buổi khởi thủy sáng tạo, chỉ có ākāśa, đến cuối chu kỳ thì mọi vật thể rắn, lỏng và khí đều tan chảy vào ākāśa trở lại, và một chu kỳ sáng tạo tương tự khác lại xuất phát từ ākāśa này. Là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.
Do năng lực nào mà ākāśa hiển lộ thành vũ trụ? Đó là nhờ năng lực của prāna. Giống như ākāśa là chất liệu vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ thì prāna cũng thế, nó là năng lực hiển thị vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ. Tại khởi thủy và chung cục của một chu kỳ thì vạn vật đều biến thành ākāśa, và tất cả những lực trong vũ trụ này đều hồi chuyển vào prāna. Trong chu kỳ tiếp theo từ prāna lại tiến hóa ra tất cả những thứ ta gọi là năng lượng, tất cả những thứ ta gọi là lực. Prāna tự thân hiển lộ như là sự vận động, prāna tự thân hiển lộ như là lực hấp dẫn vạn vật, như là từ lực. Prāna tự thân hiển lộ như là hoạt động của thể xác, như là những dòng thần kinh, như là sức mạnh của tư tưởng. Từ tư tưởng cho đến những lực vật lý thấp kém nhất, tất cả đều là sự biểu hiện của prāna. Tổng số các lực trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, khi hồi chuyển về trạng thái nguyên thủy, được gọi là prāna. “Khi không có một gì cả, cũng không có hư không, khi bóng tối bao trùm bóng tối thì cái gì tồn tại? Đó là ākāśa tồn tại trong trạng thái bất động”. Chuyển động vật lý của prāna dừng lại, nhưng nó vẫn luôn tồn tại y nhiên bất biến. Đến cuối chu kỳ, tất cả năng lượng đang phô bày trong vũ trụ sẽ lắng dịu lại và biến thành dạng thế năng. Đến đầu chu kỳ kế tiếp thì chúng lại khởi động, tác động mạnh vào ākāśa, rồi từ ākāśa xuất phát ra muôn ngàn hình tướng đa thù, và khi ākāśa chuyển biến thì prāna cũng chuyển biến thành những tất cả những dạng biểu hiện năng lượng này. Tri thức và năng lực kiểm soát prāna được gọi là prānāyāma. ........
Prāna là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.....
Đối với thế giới nội tâm cũng vậy. Vật chất được biểu trưng bằng khí ê-te; khi hoạt động của prāna là hoạt động tế vi nhất thì khí ê-te này, trong trạng thái dao động còn tế vi hơn, sẽ biểu trưng cho tâm trí, và khi đó, ê-te vẫn là một khối vật chất nguyên vẹn....... (Nguồn: Triết học Kinh Vệ Đà_Tr 593-596)
+ Tìm hiểu thêm về Prana - Sinh khí biểu lộ: Năng lượng vũ trụ biểu lộ
+ Sinh khí hành tinh (Planetary prana): Bức xạ (emanation) của hành tinh được chúng ta đặt tên là sinh khí hành tinh. Đó là những gì được đề cập đến khi người ta nói về các tính chất ban phát sức khỏe (health–giving qualities) của Từ mẫu Thiên nhiên (Mother Nature) và nằm sau tiếng kêu gọi việc nhà vật lý học hiện đại, khi y hô hào “Hãy hướng về Địa cầu”. Chính bức xạ lưu chất của sinh khí này tác động lên thể xác, dù rằng trong trường hợp này, nó không xuyên qua thể dĩ thái. Nó được thu hút hoàn toàn qua lớp da và các lỗ chân lông (pores) là con đường dễ dàng nhất của nó (LVLCK, 60–61)
+ Lá lách (spleen) là cơ quan mà sinh khí hành tinh hay sinh lực (vitality) được thu nhận và chuyển đi. (TLHNM II, 65)
+ Giãm sút sinh khí (vitality) trong thể xác. Trường hợp này xảy ra là do thể cảm dục đòi hỏi quá nhiều sinh khí của thể xác, nên khi nỗ lực để đáp ứng và khi cảm thấy bất lực không thể đáp ứng được một cách đầy đủ, người ta lại có cảm giác ngã lòng. Việc này thường xảy đến cho những người mà thể xác được cấu tạo một cách tinh tế.
+ Akasa và Prana biểu lộ "Các chất liệu" vũ trụ: ..... Theo nhiều triết gia Ấn Độ, toàn thể vũ trụ được cấu tạo bằng hai loại chất liệu, một loại là ākāśa, còn loại kia là prāna. Ākāśa là sự tồn tại toàn nhiên phổ hiện, bao trùm vạn hữu. Mọi sự vật mang hình tướng, mọi sự vật hình thành do hòa hợp đều tiến hóa từ ākāśa này. Chính ākāśa chuyển biến thành thể khí, thể lỏng, rồi thành thể rắn; chính ākāśa đã chuyển biến thành mặt trời, trái đất, mặt trăng, thành tinh tú, sao chổi; chính ākāśa chuyển biến thành thể xác con người, thể xác loài vật, cây cỏ, thành tất cả những gì ta có thể tri giác được, tất cả những gì tồn tại. Ta không thể nhận thức được ākāśa, nó tế vi đến mức bất khả tư nghì, vượt ra ngoài mọi sự nhận thức, ta chỉ có thể nhìn thấy được ākāśa khi nó biến thành dạng thô, và mang một hình tướng. Ngay từ buổi khởi thủy sáng tạo, chỉ có ākāśa, đến cuối chu kỳ thì mọi vật thể rắn, lỏng và khí đều tan chảy vào ākāśa trở lại, và một chu kỳ sáng tạo tương tự khác lại xuất phát từ ākāśa này. Là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.
Do năng lực nào mà ākāśa hiển lộ thành vũ trụ? Đó là nhờ năng lực của prāna. Giống như ākāśa là chất liệu vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ thì prāna cũng thế, nó là năng lực hiển thị vô biên và toàn nhiên phổ hiện của vũ trụ. Tại khởi thủy và chung cục của một chu kỳ thì vạn vật đều biến thành ākāśa, và tất cả những lực trong vũ trụ này đều hồi chuyển vào prāna. Trong chu kỳ tiếp theo từ prāna lại tiến hóa ra tất cả những thứ ta gọi là năng lượng, tất cả những thứ ta gọi là lực. Prāna tự thân hiển lộ như là sự vận động, prāna tự thân hiển lộ như là lực hấp dẫn vạn vật, như là từ lực. Prāna tự thân hiển lộ như là hoạt động của thể xác, như là những dòng thần kinh, như là sức mạnh của tư tưởng. Từ tư tưởng cho đến những lực vật lý thấp kém nhất, tất cả đều là sự biểu hiện của prāna. Tổng số các lực trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, khi hồi chuyển về trạng thái nguyên thủy, được gọi là prāna. “Khi không có một gì cả, cũng không có hư không, khi bóng tối bao trùm bóng tối thì cái gì tồn tại? Đó là ākāśa tồn tại trong trạng thái bất động”. Chuyển động vật lý của prāna dừng lại, nhưng nó vẫn luôn tồn tại y nhiên bất biến. Đến cuối chu kỳ, tất cả năng lượng đang phô bày trong vũ trụ sẽ lắng dịu lại và biến thành dạng thế năng. Đến đầu chu kỳ kế tiếp thì chúng lại khởi động, tác động mạnh vào ākāśa, rồi từ ākāśa xuất phát ra muôn ngàn hình tướng đa thù, và khi ākāśa chuyển biến thì prāna cũng chuyển biến thành những tất cả những dạng biểu hiện năng lượng này. Tri thức và năng lực kiểm soát prāna được gọi là prānāyāma. ........
Prāna là nguồn sinh lực trong mọi vật, và hoạt động tinh tế nhất, cao siêu nhất của prāna là tư tưởng.....
Đối với thế giới nội tâm cũng vậy. Vật chất được biểu trưng bằng khí ê-te; khi hoạt động của prāna là hoạt động tế vi nhất thì khí ê-te này, trong trạng thái dao động còn tế vi hơn, sẽ biểu trưng cho tâm trí, và khi đó, ê-te vẫn là một khối vật chất nguyên vẹn....... (Nguồn: Triết học Kinh Vệ Đà_Tr 593-596)
+ Tìm hiểu thêm về Prana - Sinh khí biểu lộ: Năng lượng vũ trụ biểu lộ
+ Các Tâm [Tâm tánh - Thánh tánh - Thiên tánh - Phật tánh - Thanh tịnh pháp thân]: Trích Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là thanh tịnh pháp thân?
Thế Tôn nói: Thanh tịnh pháp thân ấy là chơn tánh thanh tịnh (Thấy pháp thân). Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy pháp thân, xưa nay thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành. Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục. Nếu người muốn được giác ngộ mà không cầu thầy chứng minh cho, nhận giả làm thiệt, lâu ngày sẽ thành tà ma ngoại đạo, thành yêu thành quái, phỉnh gạt chúng sanh. Hiện đời sẽ bị pháp luật nhà vua hành phạt, chết rồi đọa vào ác đạo, một khi mất thân người muôn kiếp khó khục hồi được.(Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Thiên tính (Divinity, tính thiêng liêng, thánh linh): Thiên tính là sự biểu lộ của ý chí hay mục tiêu của Đấng mà ta sống, hoạt động và hiện tồn bên trong Ngài.(CVĐĐ, 204)
+ Thiên tính được nhận biết như là sự sống, nơi mà Chân Thần (Monad) và biểu hiện của nó, tức Tam Thượng Thể Tinh thần (Spiritual Triad), được liên kết lại. (CVĐĐ, 74)
+ Ba lửa biểu lộ:
1. Lửa ma sát: ...
2. Kế tiếp là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ (Lửa Thái dương trong con người). Lửa này tạo thành đơn vị suy tư hữu ngã thức hay là linh hồn. Lửa của trí tuệ này bị chế ngự bởi Định Luật Hút. Chính tia lửa trí tuệ này trong con người, biểu lộ như hoạt động xoắn ốc có chu kỳ, nó đưa đến sự bành trướng và rốt cuộc trở về trung tâm của hệ thống nó, tức Chân Thần - nguồn cội và mục tiêu cho Chân Thần nhập thế tức là con người. Vì trong đại vũ trụ, lửa này cũng biểu lộ theo 2 cách:
1. Lửa linh hoạt hay prana. (Tiềm nhiệt hay thân nhiệt).
2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí. Hai điều này hợp thành một tứ nguyên huyền bí, với yếu tố thứ năm, tức là điểm linh quang của ý chí sáng suốt, =>>> tạo thành năm của biểu lộ Chân Thần - biểu lộ trong trường hợp này có nghĩa là một biểu lộ nội tâm thuần tuý vì không hẳn là tinh thần, cũng không hẳn là vật chất.
3. Cuối cùng có Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng. Ngọn Lửa này biểu hiện rung động cao nhất mà Chân Thần có thể có được, bị chế ngự bởi định luật Tổng hợp và là nguyên nhân của chuyển động luỹ tiến của Nguyên sinh khí đang tiến hoá.
Khi cả 3 toả chiếu như một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất hay khỏi hình hài vật chất được thành tựu, tạo thành một vận hà cho sự giải thoát (LVLCK, 64)
+ Tài năng hay năng khiếu (talents or gifts): Các tài năng hay các năng khiếu đều được xem như có được trong một kiếp sống trước. (TNVT, 95)
+ Nghề nghiệp nội môn - Năng Khiếu các Cung Năng Lượng: Cung LINH HỒN quyết định định hướng nghề nghiệp của chúng ta. Cung Hoàng Đạo và các Nhà và các Hành Tinh, xem: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạo và hành Tinh
+ Nghề ngoại môn:
+ Tài năng hay năng khiếu (talents or gifts): Các tài năng hay các năng khiếu đều được xem như có được trong một kiếp sống trước.(TNVT, 95)
+ Năng Khiếu các Cung Năng Lượng - Cung Hoàng Đạo Và các Nhà và Các Hành Tinh - Xem tại đây: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạo và hành Tinh
+ Năng khiếu bí truyền Cung 3, Thông tuệ Linh hoạt: các năng khiếu của cung 3 yêu cầu sự khéo léo và khả năng thích ứng về trí tuệ, một trí tuệ trong sáng, khả năng nói với giọng nói của lý trí và sự thông minh, và tài tháo vát. Thí dụ: nhà chiến thuật, nhà chiến lược, nhà hoạch định tài chính, người kinh doanh, nhà thầu, triết gia, chiêm tinh gia, kinh tế gia và sử gia. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Năng khiếu bí truyền Cung 4, Hòa hợp qua Mâu thuẩn: các năng khiếu của cung 4 yêu cầu sự tự nhiên và sự sáng tạo của một hình thức về mỹ thuật, màu sắc hay sự hài hòa nào đó. Ví dụ: nam, nữ nghệ sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, nhà môi giới, nhà thơ và cố vấn. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Năng khiếu bí truyền Cung 5, Khoa học Cụ thể: Các năng khiếu của cung 5 đòi hỏi một trí tuệ sắc sảo, sự chính xác một cách chi tiết, các kỹ năng khoa học và nghiên cứu. Thí dụ: nhà khoa học, thợ điện, kỹ sư, nhà phân tích, kỹ thuật viên dữ liệu, bác sĩ phẫu thuật, nhà nghiên cứu, nhà giả kim thuật, nhà phát minh và kỹ thuật viên. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Năng khiếu bí truyền Cung 6, Sùng tín và Lý tưởng: Các năng khiếu của cung 6 đòi hỏi sự sùng tín, sự cống hiến và phụng sự vị tha. Thí dụ: mục sư, thần bí gia, nhà truyền giáo, tín đồ mộ đạo, người thuyết pháp, nhà hùng biện, quân nhân, y tá, thư ký cá nhân, nhà từ thiện và người tham gia một cuộc vận động. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Năng khiếu bí truyền Cung 7, Nghi lễ Trật tự: các năng khiếu đòi hỏi khả năng và sự khéo léo thực tế, các kỹ năng tổ chức, một khả năng tạo ra sự trật tự, và khả năng biểu lộ các ý tưởng trên Cõi Trần. Thí dụ: người kinh doanh, người tổ chức, thẩm phán, nhân viên pháp lý, kiến trúc sư, nhà xây dựng, nhà quản lý, nhà thiết kế, nhà cách mạng, thuật sĩ, và thần bí gia. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Các Lửa chữa trị [Phân loại theo AI - ChatGPT Việt dịch]: Trong hệ thống của D.K (Alice A. Bailey), “The Healing Fire” và “Solar Fire” đều có thể được gọi là “Lửa chữa trị”, nhưng chúng KHÔNG giống nhau, bởi vì cần phân biệt:
- The Healing Fire (Lửa từ Linh hồn) = magnetic fire = Chữa trị – điều hòa – tim.
- Solar Fire (Lửa linh hồn) = electric fire = Chuyển hóa – linh hồn – trí tuệ.
✅ 1. “The Healing Fire” – Lửa Chữa Trị này có Bản chất: Là dòng hỏa năng mang tính từ-lực (magnetic fire) của Trái Tim (Heart center), có tính hút – điều hòa – hàn gắn – tái lập hòa âm.
Nguồn là:
– Hỏa của Linh Hồn qua luân xa tim (Heart center).
– Mang tính từ lực – thanh nhẹ – quân bình – nuôi dưỡng.
Công dụng:
Hỗ trợ chữa lành, phục hồi.
Làm dịu sự mất cân bằng ở etheric/astral.
Không gây áp lực lên hệ thần kinh.
Dùng trong công tác healing và tái lập hòa âm nội tâm.
Đặc tính:
Hút (magnetic)
Mềm, bao bọc, điều chỉnh
Năng lượng của tình thương và linh hồn
👉 Đây là dòng lửa an toàn cho người đang học tu dưỡng.
🌿 Gợi ý dịch chính xác hơn của: The Healing Fire
Lửa chữa lành / Lửa từ chữa trị
Từ hỏa chữa trị
Linh hỏa chữa lành
(Hàm ý: động lực từ lực – magnetic)
✅ 2. “Solar Fire” – Lửa Mặt Trời / Hỏa Thái Dương/ Lửa Thái dương
Bản chất: Là hỏa của Linh Hồn (Solar Fire), còn gọi là Hỏa của Ý chí linh hồn, có tính điện-lực (electric).
Nguồn là:
– Cấp cao hơn: hỏa của cõi trí linh hồn (higher manas).
– Mang tính kích hoạt – chuyển hóa – thiêu rụi cấu trúc cũ.
Công dụng:
Chuyển hóa, thay đổi bản chất.
Hỏa của minh triết, soi sáng, trí tuệ sống động.
Đốt bỏ vật chất thô, bẻ gãy các mô hình tâm lý cũ.
Dùng trong phép tu đặc thù như:
– phát động nội hỏa,
– khai mở luân xa,
– luyện ba hỏa (kundalini–solar–friction).
Đặc tính:
Điện (electric)
Mạnh, xuyên phá, kích hoạt
Nguồn gốc của Prana tinh luyện
👉 Không phải dòng hỏa chữa trị cơ bản – mà là hỏa của chuyển hóa mạnh.
🔥 Gợi ý dịch chính xác hơn của: Solar Fire
Hỏa Thái Dương
Lửa Linh hồn
Lửa Mặt Trời
Solar Hỏa
(Hàm ý: điện lực – electric)
+ Tu để có Nội hỏa mạnh:
🔥 8. KHI NÀO NỘI HỎA MẠNH?
D.K liệt kê 3 tình huống:
- Thiền tâm linh chân chính
- Phụng sự vô kỷ
- Tâm trí an định – cảm xúc thanh sạch
Trong trường hợp này:
- Đỉnh đầu ấm → não sáng
- Tim ấm → mở rộng từ bi
- Hệ thần kinh có “luồng ấm chạy dọc sống lưng”
Nhưng không phải bốc nóng phá hủy.
🔥 9. Cảnh báo của D.K về sai lầm thường gặp
D.K rất rõ ràng:
❌ Không ép hơi thở
❌ Không vận công nơi xương cùng
❌ Không kéo kundalini
❌ Không sử dụng “nóng vật lý” làm tiêu chí
❌ Không cố ý kích thích luân xa dưới rốn
❌ Không tập khi đang rối loạn cảm xúc
Lửa nội hỏa chỉ xuất hiện tự nhiên khi:
✔ Linh hồn chi phối phàm ngã
✔ Thân – khí – tâm hài hòa
✔ Không có tham vọng huyền thuật
✨ KẾT LUẬN – HỌC THUYẾT NỘI HỎA CỦA D.K
Yoga nội hỏa = Solar Fire Yoga
→ Lửa của linh hồn
→ Tác động vào nhân cách
→ Làm ấm – chữa lành – chuyển hóa.
Nó khác hoàn toàn với:
Tummo
Kundalini yoga
Khí công nhiệt
Hơi thở mạnh
D.K muốn hành giả an toàn, tiến hóa bằng ánh sáng chứ không bằng nhiệt thô.
🔥 1. Khi nào nội hỏa xuất hiện? – Theo D.K
+ Lửa nội hỏa chỉ xuất hiện khi hội đủ 3 điều kiện:
1. Tâm trí an định – vững như tảng đá
2. Nước cảm dục (astral) lắng xuống – không sóng
3. Linh hồn thực sự chiếu sáng qua trung tâm Ajna hoặc Tim
+ Không thể ép cho xuất hiện bằng: Hơi thở mạnh - Quán tưởng nóng - Vận khí - Kích kundalini - Gồng ý chí
+ Solar Fire khởi lên từ trên xuống, không phải từ dưới đáy cột sống đi lên.
+ Xem thêm bài viết tổng hợp: Tu chuyển hóa Prana với Nội hỏa - Lửa Linh hồn
+ Các thuật ngữ liên quan đến Lửa - Sinh khí Prana:
- Sinh khí thể = Body of prana
- Lửa kiến thiết = The building fire
- Lửa chữa trị = The healing fire
- Lửa Thái dương hóa = Solarizing the personality
- Nhiệt sinh học = Bio-thermal
+ Lửa Nội hỏa:
🔥 3. D.K chỉ rõ: Lửa nội hỏa hoạt động theo 3 cấp
(1) Lửa Nhân dạng – Fire by Friction
- Hơi nóng của thân
- Chuyển hóa thực phẩm, tuần hoàn
- Tạo nhiệt để cơ thể hoạt động
- KHÔNG phải mục tiêu luyện tập
(2) Thái dương hỏa – Solar Fire – Lửa Linh hồn - Lửa Mặt Trời / Lửa Thái Dương [Chữa trị]
→ chính là chủ đề Yoga Nội Hỏa
- Lửa của linh hồn chi phối thể trí
- Làm sạch astral
- Điều hòa khí lực
- Là nguồn nhiệt chữa trị
(3) Điện lửa – Electric Fire – Ý chí tinh thần
- Không sử dụng trong chữa bệnh
- Chỉ dành cho đệ tử cao cấp, bậc điểm đạo
* Nếu Yoga Nội Hỏa theo D.K được khơi mở:
→ Solar Fire tràn xuống, làm ấm tuyến nội tiết, tim, và não.
🔥 4. Nguyên tắc căn bản: LỬA không sinh ra từ đáy cột sống – mà từ LINH HỒN
Điều này cực kỳ quan trọng. Trong hầu hết truyền thống, người ta dạy: “Đánh thức kundalini để sinh ra lửa.”
D.K bác bỏ cách này:
✔ Lửa thực sự trong Yoga nội hỏa không xuất phát từ kundalini.
✔ Kundalini chỉ bốc lên khi linh hồn đã chiếm quyền, không phải do hơi thở hay ép buộc.
✔ Lửa chủ yếu xuống chứ không phải lên.
Ngài nói:
“Không phải lửa từ dưới lên, mà là lửa từ trên xuống kiểm soát lửa bên dưới.”
Vậy:
Thực hành “Nội hỏa” → Kích hoạt Solar fire, không đụng đến kundalini. (Nguồn: Sách D.K do ChatGPT tổng hợp)
+ Xem thêm bài viết tổng hợp: Tu chuyển hóa Prana với Nội hỏa - Lửa Linh hồn
+ Lửa trong Đại Thiên Địa - Lửa do ma sát (cọ xát) hay lửa sinh động nội tại: Các lửa này làm linh hoạt và đem lại sức sống cho Thái Dương hệ đang biểu lộ. Chúng là toàn bộ hoả xà của Thượng Đế khi hoạt động của Thái Dương hệ được đầy đủ (LVLCK, 51)
+ Lửa do ma sát = Fire by Friction [Lửa Nhân dạng]: Theo ý nghĩa siêu hình là sự kết hợp giữa Tuệ giác hay nguyên khí thứ 6 với Trí tuệ hay nguyên khí thứ 5. Nhờ sự kết hợp hay gắn chặt vào nhau này mà nguyên khí thứ 5 hỗn hợp một phần nào và trở nên thành phần của Chân Thần. Theo ý nghĩa vật chất thì lửa do ma sát có liên quan với tia lửa sáng tạo hay mầm sống vốn khai sinh và tạo ra con người. (GLBN III, 250)
+ Lửa do ma sát (Lửa bên trong của vật chất): Chúng là một hậu quả trứ không phải nguyên nhân. Nó được tạo ra bởi 2 thứ lửa Tinh thần và Trí tuệ (Lửa điện và lửa thái dương) tiếp xúc với nhau qua trung gian vật chất. Biểu lộ trong vật chất như lửa bên trong mặt trời hay các hành tinh hay trong con người. (LVLCK, 68)
- Sự tồn tại: Khi sự tiến hoá chấm dứt, lửa của vật chất (Lửa ma sát) thì không thể nhận biết được. Nó chỉ tồn tại khi 2 thứ lửa kia được kết hợp lại và nó không tồn tại khi chính nó tách ra khỏi chính vật chất.(LVLCK, 68)
+ Nirmathana: Lửa do ma sát, như sự ma sát của hai miếng gỗ. (LVLCK, 602)
Xem: Tổng hợp về lửa càn khôn
Xem: Tóm Lược sách Luận Về Lửa Càn Khôn
+ Văn Hóa Tâm Linh - Văn Hóa Tu Hành - Văn Hóa Tu Đạo
Văn hóa này khác với văn hóa đạo đời/ Văn hóa thế gian là thứ văn hóa đề cao trí tuệ của cái tôi, thường gắn với quyền lãnh đạo, chỉ huy, quản lý ... mà từ vị trí quyền lực đó, họ rễ áp đặt ý chí cá nhân, coi thường người trong tổ chức, tự cho mình cái quyền mắng riếc, kỷ luật, kết nạp hay loại bỏ ai đó theo thành kiến cá nhân mà không tuân theo quy chế tổ chức và hoạt động của nhóm.
Văn hóa Tâm linh là tình thương rộng mở, không có cái Ta trong đó, nếu có ở vị trí lãnh đạo, quản lý, chỉ huy thì đó chỉ là trách nhiệm tạm thời để đạt được mục tiêu lan tỏa tình thương của Hạnh Bồ Tát đạo đến với chúng sinh, họ không cho chức vị đó là đặc quyền đặc lợi chi cả, họ luôn sẵn sàng từ bỏ nó để chuyển giao cho người khác mà không chút vị kỷ, tiếc nuối. Vì mục tiêu của văn hóa tâm linh là giúp tất cả mọi người hướng đến tu hành giải thoát, mà hoạt động của bất cứ tổ chức/ Nhóm hội nào cũng chỉ đáp ứng mục tiêu duy nhất này.
Thứ văn hóa này có thể tóm lược qua Sáu chữ T (Thương, Tha thứ, Thôi, Tùy, Thoáng, Thông): Thương, Tha thứ, Thôi, Tùy (lúc nào cũng biết được đặc tánh đại từ, đại bi, đặc tánh dễ thương, đặc tánh từ bi hỷ xả, đặc tánh trí huệ, của Phật tánh, tùy theo đó và không đi trái ngược với sự lưu chuyển của ánh sáng từ trong chân tâm; tùy là như vậy chớ không phải ai nói gì mình làm theo cả), Thoáng (tâm thần lúc nào cũng mở rộng, tâm lúc nào cũng mở, thần, tức là trí óc cao nhất, spirit lúc nào cũng mở, chớ không đóng, tức là mình lúc nào cũng hướng thượng, lúc nào cũng mở ra, chớ không phải lúc nào mình cũng kẹt trong một định kiến, thành kiến và nhất là trong một chức vụ), và cuối cùng là Thông (sự cảm thông tình người với nhau, cảm thông nhau và thông cảm).
Mời xem bài giảng rất hay của Thầy Hằng Trường về Tổ chức và hoạt động của nhóm Từ Bi Phụng Sự: Xem tại đây
X. Bí huyệt chính.
11. Định luật Huyền linh (Occult law):
Con người suy tưởng thế nào thì y trở thành thế ấy (As a man thinketh, so is he).
Con người nghĩ đến nơi đâu thì y hiện hữu ở nơi đó (Where a man thinketh, there is he). (ASCLH, 281)
+ Công việc huyền linh học thực sự bao hàm:
1. Sự tiếp xúc với Thiên-Cơ.
2. Ý muốn chính đáng để hợp tác với Thiên Cơ.
3. Công việc kiến tạo hình-tư-tưởng và việc giới hạn sự chú tâm của người sáng tạo ra những hình-tư-tưởng này vào cõi trí. Điều này có bản chất mạnh đến nỗi các hình-tư-tưởng được tạo ra có một chu kỳ sống của riêng chúng, và không bao giờ thất bại khi biểu lộ và thực hiện công việc của chúng.
4. Sự điều khiển hình-tư-tưởng từ cõi trí và việc giới hạn sự chú ý vào công việc đặc biệt đó, biết rằng tư tưởng chân chính và sự định hướng chân chính dẫn đến hành động đúng đắn, và chắc chắn tránh khỏi tả đạo. (LVHLT, 268)
+ Huyền linh (Occult): Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự sống (being) và các động lực hướng dẫn này (springs of conduct) tạo ra biểu lộ ở ngoại cảnh. (LVHLT, 10)
+ Định luật Huyền linh (Occult law) (ASCLH, 281) :
- Con người suy tưởng thế nào thì y trở thành thế ấy (As a man thinketh, so is he).
- Con người nghĩ đến nơi đâu thì y hiện hữu ở nơi đó (Where a man thinketh, there is he).
+ Huyền linh học (Occultism):
- Nghiên cứu huyền linh học một cách chân chính là nghiên cứu về nguyên nhân và cách diễn biến của hiện tượng. (TVTTHL, 204)
- Nghiên cứu huyền linh học là về các lực, về cội nguồn cùng hiệu quả của các lực đó. (ĐĐTKNM–I, 700)
- Huyền linh học là cách nghiên cứu sáng suốt những gì còn ẩn tàng. (SHLCTĐ, 337)
- Huyền linh học là môn học về cách vận dụng năng lượng, về khía cạnh hút và đẩy của lực. (TLHNM, 317)
+ Nhà huyền linh thuật (White magician): Khi nghiên cứu Qui Luật I, chúng ta có thể tóm tắt nó một cách đơn giản nhưng sâu sắc bằng các lời sau đây (LVHLT, 57):
1. Sự Giao tiếp với Chân Ngã (Egoic Communication).
2. Sự Thiền định có chu kỳ (cyclic Meditation).
3. Sự Phối kết hay Sự Nhất-quán (At-one-ment).
Các qui luật mở đầu trong Luận Về Lửa Càn Khôn với một bản tóm tắt ngắn về tiến trình và một trình bày về bản chất của nhà huyền linh thuật. Bình luận vắn tắt về Qui luật I đưa ra các trình bày sau:
1. Nhà huyền linh thuật là người đang tiếp xúc với linh hồn của mình.
2. Y dễ tiếp thu với và có ý thức về mục tiêu và kế hoạch của linh hồn mình.
3. Y có khả năng tiếp nhận các ấn tượng từ lĩnh vực tinh thần, và ghi nhận các ấn tượng đó trong bộ óc hồng trần của mình.
4. Cũng có thể nói rằng huyền linh thuật − - Tác động từ trên hướng xuống dưới.
- Là kết quả của rung động thái dương (solar vibration) và do đó của năng lượng Chân Ngã.
- Không phải là kết quả của rung động của khía cạnh sắc tướng của sự sống, được tách khỏi xung lực tình cảm và trí tuệ.
5. Dòng giáng lưu (the downflow) của năng lượng từ linh hồn là kết quả của :
- Sự bình tĩnh nội tại (internal re-collectedness) thường xuyên.
- Sự giao tiếp nhất tâm được tập trung bởi linh hồn với thể trí và bộ óc.
- Sự tham thiền đều dặn về cơ tiến hóa.
6. Do đó, linh hồn ở trạng thái thiền định sâu xa trong toàn bộ chu kỳ lâm phàm ở cõi trần, đó là tất cả những gì liên quan đến môn sinh ở đây.
7. Việc thiền định này có tính chất nhịp nhàng và theo chu kỳ trong thiên nhiên, giống như mọi hiện tượng khác trong vũ trụ. Linh hồn truyền sinh khí (breathes) và hình hài của nó sống nhờ đó.
8. Khi sự giao tiếp giữa linh hồn với khí cụ của nó trở nên hữu thức và đều đặn, con người trở thành nhà huyền linh thuật.
9. Do đó, một cách bất biến và thông qua chính bản chất các sự việc, các hành giả trong huyền linh thuật đều là những người tiến hóa, vì phải mất nhiều chu kỳ sống để đào tạo một nhà huyền thuật.
10. Linh hồn chế ngự hình tướng của nó qua trung gian của sutratma hay sinh mệnh tuyến (life thread), và (thông qua tuyến này) truyền sinh khí cho ba khí cụ của nó (thể trí, thể tình cảm và xác thân), và do đó thiết lập một sự liên lạc với não bộ. Thông qua não bộ được kiểm soát một cách có ý thức, con người được kích hoạt vào hoạt động sáng suốt trên cõi trần.
* Trên đây là bản phân tích vắn tắt về qui luật 1 dành cho huyền thuật, và Tôi muốn đề nghị rằng trong tương lai, khi các môn sinh thiền định về các qui luật thì họ sẽ tự làm một bản phân tích như thế.(LVHLT, 58)
- Nhà huyền linh thuật là kẻ đang tiếp xúc được với linh hồn của mình. Y bén nhạy với và nhận biết được mục tiêu và kế hoạch của linh hồn mình. Y có khả năng thu nhận các ấn tượng từ lĩnh vực tinh thần và ghi nhận các ấn tượng đó vào bộ óc xác thịt của mình. (LVHLT, 57)
- Nhờ có sự chỉnh hợp hữu thức với Chân Ngã và với “Thiên thần” (“angel”) của mình, nhà huyền linh thuật bao giờ cũng là kẻ bén nhạy với các kế hoạch và mục tiêu của mình, do đó, có khả năng nhận được ấn tượng cao siêu. (LVHLT, 60)
- Nhà huyền linh thuật là kẻ vận dụng mọi năng lực và kiến thức trong việc phụng sự nhân loại. (TVTTHL, 331)
+ Nhà huyền linh thuật tức là nhà huyền linh học (occultist). (ASCLH, 222)
+ Nhà Huyền linh học thật sự là một nhà khoa học và một người sùng tín, và khi mà hai điều này không hòa hợp vào nhau, chúng ta có nhà thần bí học (the mystic) và con người có nguy cơ thiên về hắc đạo, bị chi phối bởi trí năng (intellect) chứ không phải bởi lòng vị tha (Chân Sư DK_Xem nguồn)
+ Các phẩm tính mà nhà huyền linh thuật cần có, và một số các nhận thức vốn sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức của y.
- Thứ nhất, y phải nhận biết “bốn tạo thành Một”. Nói cách khác, tứ bộ đầu tiên mà y phải biết và biết rõ là tứ bộ mà về cơ bản là chính y:
1. Thể xác, bản chất cảm xúc nhạy cảm, thể trí và linh hồn;
2. Linh hồn, thể trí, não bộ và thế giới bên ngoài của các mãnh lực;
3. Tinh thần, linh hồn và thể xác bên trong Tổng Thể vĩ đại (great Whole).
Do đó, điều này hàm ý sự thành đạt tâm linh thực sự và năng lực để hoạt động như một linh hồn. Cho đến khi điều này đã đạt được, bằng không thì người ta có thể là một người khao khát thực hành huyền thuật, nhưng người đó vẫn chưa là một nhà huyền linh thuật.
- Thứ hai, y phải nhận biết “thành phố vẫn vững chắc/ vuông vức” (“the city that stands foursquare”). Y phải hiểu được ý nghĩa của “con người, khối lập phương”, và hiểu theo ba cách:
1. Bản thân y là một con người;
2. Đồng bào của y có liên quan với chính y và Tổng-Thể;
3. Giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, khi xét toàn bộ giới đó như một thực thể, một sự sống có tổ chức hoạt động trên cõi trần, nơi trú ngụ của linh hồn, được tinh thần làm sinh động. (LVHLT, 546)
Xem thêm: Tổng hợp Huyền học - Huyền Bí Học - Huyên Linh học và Huyền Linh Thuật
+ Luận về huyền linh thuật (LVHLT/ LVCT) - Treatise on White Magic (TWM): Nói về 15 Qui Luật về Huyền Thuật có trong Luận Về Lửa Càn Khôn. Tôi sẽ dẫn giải về chúng, không đề cập đến ý nghĩa vũ trụ - Các tương ứng và các tương đồng về thái dương hay về điều gì khác. Nhưng áp dụng chúng vào công việc của người tìm đạo, và đưa ra các gợi ý thực hành đối với việc phát triển tốt hơn sự tiếp xúc với linh hồn và sự biểu lộ của linh hồn. Trong sách này, Tôi tìm cách làm 4 điều, và tìm cách kêu gọi đến 3 hạng người. Sách này có 4 định đề căn bản:
1. Giảng dạy các định luật về tâm lý học tinh thần khi được phân biệt với tâm lý học trí tuệ và tình cảm.
2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối liên hệ của linh hồn với thái dương hệ và vũ trụ. Điều này sẽ bao gồm cả các mối quan hệ tập thể của nó như là một giai đoạn mở đầu.
3. Chứng minh các mối liên hệ giữa Chân Ngã với các thể thấp (lớp vỏ) mà Chân Ngã đó có thể sử dụng, và nhờ đó làm sáng tỏ ý tưởng chung về cấu tạo của con người.
4. Giải thích vấn đề về các năng lực phi thường, và đưa ra các qui luật đối với sự phát triển an toàn và hữu ích của chúng. (Nguồn: Luận Về Huyền Linh Thuật, 17)
+ Chủ đề chính của sách LVHLT: Điểm nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo tưởng cảm dục mà tất cả nhân loại đều sống trong đó, và năng lực quyến rũ của nó ngay cả với người phụng sự dày dặn kinh nghiệm. Tôi đã xem xét điều này rất chi tiết trong bộ luận này (LVHLT), mà, như bạn biết, vốn là một bộ luận về sự kiểm soát thể cảm dục và là một sự hiểu biết chính xác các định luật của nó.(LVHLT, 637)
+ Tinh khiết (purity, trong sạch): Cần nhận thức rằng sự tinh khiết của tất cả các hiện thể (vehicles) là quan trọng hàng đầu. Nếu một Huynh đệ hắc đạo chiếm được sự kềm chế nơi bất cứ người nào, thì điều đó chẳng qua cho thấy rằng người đó có một nhược điểm nào đó trong cuộc sống của mình. Cửa đi vào phải do chính con người mở ra Chỗ mở mà nhờ đó các mãnh lực độc hại có thể tuôn vào phải được tạo ra bởi chủ nhân của các hiện thể. Do đó, cần phải cẩn thận thanh tẩy thể xác, luôn luôn có tình cảm trong sạch trong thể cảm dục và giữ tư tưởng thanh khiết trong thể hạ trí. Khi làm được như thế thì các thể thấp sẽ có được sự phối kết và chính linh hồn sẽ không cho phép có sự xâm nhập nào. (TVTTHL, 137)
+ Nước Hạt Châu Phương Như - Hạt Châu:
Trích đoạn Phật dậy A Nan về Tứ Đại - Thủy Đại ..."Muốn cầu thái âm tinh để pha chế huyễn dược. Các vị ấy vào đêm trăng sáng, tay cầm hạt châu phương chư, hứng nước từ mặt trăng.”
Họ muốn dùng thái âm tinh[86] pha chế thành một loại huyễn dược để mê hoặc lòng người. Loại huyễn dược nầy giống như loại LSD [87] ngày nay vậy, tuy không pha chế bằng thái âm tinh nhưng rất gần với loại huyễn dược đề cập trong kinh. Thuốc nầy khiến cho người uống thấy mọi thứ rất kỳ ảo và nghĩ rằng mình cũng biến thành các thứ kỳ ảo ấy. Thuốc khiến cho não trạng con người rối lọan, điên đảo và không còn được tin cậy nữa.
Vào đêm trăng rằm, tức ngày 15 âm lịch mỗi tháng, họ đem dụng cụ ra–một cái mâm vuông và hạt châu phương chư [88] – để hứng nước tinh khiết. Khi hạt châu phương chư hướng về mặt trăng đêm rằm, nước sẽ tiết ra và đọng lại trong mâm. Nước nầy sẽ dùng để pha chế huyễn dược. Chắc là không có được nhiều. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Phục hồi (Work of Restitution): Tác động phục hồi có nghĩa là việc hoàn trả hình hài sắc tướng về nguồn chứa căn bản của vật chất; còn đối với linh hồn thì năng lượng tinh thần thiêng liêng trở về cội nguồn của nó – hoặc là trên các phân cảnh linh hồn, hoặc là trên các phân cảnh Chân Thần, tùy theo trình độ tiến hóa. Việc phục hồi này hầu hết là công việc của nhân hồn bên trong thể xác và có liên quan đến cả hai bí huyệt tim và đầu. (CTNM, 394–395)
+ Hồn tinh thần (spiritual soul, divine soul, hồn thiêng): Trực giác (hồn tinh thần) là trạng thái thấp của Chân Thần.(CTHNM, 506)
- Cái chết thứ nhì dùng để chỉ cái chết hay sự hủy diệt của linh hồn thể mà từ trước đến giờ hồn tinh thần đã hoạt động trong đó.(CTNM, 408)
- Sự đau đớn (suffering) chỉ có thể xảy ra khi linh hồn đồng nhất hóa với thể xác, hay đúng hơn, khi trạng thái tinh thần của linh hồn (trong thể xác) đồng nhất hóa với sinh hồn (animal soul) vốn đang thấm nhuần (inform) và làm sinh động (vitalise) hình hài và đang tạo ra sự sống tạm thời của nó. Trong cơn vô thức, sinh hồn cũng biết được sự đau đớn, những người chăm sóc và canh giữ bệnh nhân đều biết rõ sự kiện này, nhưng không có đau đớn thực sự, vì Chân nhân, hồn tinh thần đã xuất ra hoặc là do đau cực độ (như trong trạng thái vô thức thực sự), hoặc là do thuốc mê. (CTNM, 346)
- Hồn Tinh thần ở trên cõi Thượng trí (higher mental plane).(CTNM, 407)
+ 10 loại Linh hồn tiến hóa/ Cấp độ tâm hiểu biết: Người Thú giật lùi; 2- Người Thú; 3- Người Lemuria; 4- Người Atnantis (Người trung bình); 5- Nhóm Người Aryan ( Chuyển tiếp - Tích hợp - Thức tỉnh); 6- Người tìm đạo; 7- Người Dự bị; 8- Đệ tử; 9- Điểm đạo đồ; 10 - Chân Sư (Xem thêm GQ1.1)
+ Tâm tánh: .... Thế Tôn nói, Thanh tịnh pháp thân ấy là chơn tánh thanh tịnh (Thấy pháp thân). Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy pháp thân, xưa nay thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành. Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. ... (Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ LINH HỒN và THỨC ĐẦU THAI: Linh Hồn theo Minh Triết Thiêng Liêng. Còn Thức Đầu Thai theo Phật giáo. Cả hai đều chỉ năng lượng gốc để từ đó có con người và nhân loại trên thế gian. Về bản chất không có mấy khác biệt.
* Có một số người nói là trong đạo Phật không có quan niệm về “Linh hồn.” Vậy có đúng không?
Đáp: Có lẽ là có một số người nói như thế. Nhưng những lời nói đó đâu có thể đại diện cho cả toàn thể Phật giáo được. Từ trước tới nay, tôi chưa nghe qua đạo lý này, mà tôi cũng là một phần tử của Phật giáo vậy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc câu hỏi 368)
+ Tam hồn trong con người (Three souls in man): Cần nên nhớ rằng, mọi quyền năng tâm thông là các quyền năng, năng lực và năng khiếu của Linh hồn Độc Nhất (One Soul), nhưng trong thời gian và không gian, một số trong chúng là các biểu hiện của động vật thức hay sinh hồn (animal soul), một số của nhân hồn (human soul) và một số của hồn thiêng liêng (divine soul). (TLHNM II, 559)
+ Sinh hồn (Animal soul) và Linh hồn (soul): Trong thiên nhiên, có loại thần lực (force) làm linh hoạt các giới dưới nhân loại, năng lượng phú linh hồn (ensouling energy), khi được kết hợp với năng lượng của vật chất và bản ngã (self), sẽ tạo ra mọi hình hài. Hiệu quả của việc liên kết (junction) này là đưa thêm vào trí tuệ còn phôi thai của chính vật chất một khả năng cảm thụ (sentiency) và khả năng đáp ứng tiềm tàng để tạo ra một cái gì đó nằm bên trong (subjective something) mà chúng ta gọi là sinh hồn. Sinh hồn tồn tại theo bốn mức độ hay bốn trạng thái cảm thức (sentient awareness):
1. Ý thức (consciousness) của giới khoáng vật.
2. Ý thức của giới thực vật.
3. Ý thức của giới động vật.
4. Ý thức của phàm nhân (animal form) mà chân nhân hoạt động thông qua đó, mà sau rốt chỉ là một bộ phận của nhóm trên dưới hình thức cao nhất.
Thứ đến là, có loại lực tâm thông (psychic force) vốn là kết quả của sự kết hợp của tinh thần với vật chất hữu cảm thức trong giới nhân loại, nó tạo ra một trung khu tâm thông (psychic centre) mà ta gọi là linh hồn của con người (soul of man). (LVHLT, 12)
+ Linh hồn và Nhân hồn: Cần phân biệt Linh hồn trên cõi của nó, liên quan đến mô tả trong các cõi cảm dục và trí tuệ. Đó là Nhân hồn - Linh hồn phân thân đi đầu thai.
* Phải nhớ rằng không có cái nào trong số tên gọi này và các hoạt động này (Trên cõi cảm dục, cõi trí) liên quan đến linh hồn trên cõi riêng của nó (Chân Ngã – ND), mà chỉ có liên quan tới các nhân hồn (human souls) đang luân hồi trên cõi trần mà thôi. Điều này phải được nhấn mạnh, vì trên cõi riêng của mình, các Linh hồn của tất cả mọi người đều thoát khỏi ảo tưởng (illusion), và không linh hồn nào có thể bị hủy diệt, bị lừa dối cũng không bị lôi kéo. Đó chỉ là “những linh hồn trong ngục tù”, những linh hồn này bị lệ thuộc vào các hoạt động của các tà lực (forces of evil) và chỉ trong một kỳ hạn (LVHLT, 241)
+ Nhân hồn và hồn tinh thần: Khi hai giai đoạn của Nghệ thuật Từ Trần kết thúc, linh hồn thoát xác trở nên thoát khỏi sự kềm chế của vật chất; linh hồn này được thanh luyện (tạm thời bằng các giai đoạn hoàn trả và loại bỏ) khỏi mọi sự nhiễm trược (contamination) của vật chất. Đạt được điều này không phải qua bất cứ hoạt động nào của hồn trong hình hài (soul in form), tức nhân hồn, mà là do kết quả của hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó (tức là Hồn Tinh thần trên cõi Thượng trí–ND), Hồn Tinh thần này đang tách ra một phần của chính nó mà chúng ta gọi là nhân hồn. Về cơ bản, chính công việc của hồn đang phù trì (overshadowing soul, tức là Hồn Tinh thần–ND) mới là thực hiện điều này chứ hồn trong phàm ngã (soul in personality, tức Nhân hồn–ND) không hề làm việc đó. Trong giai đoạn này, nhân hồn chỉ đáp ứng với lực kéo (pull) hay lực thu hút (attractive force) của hồn tinh thần (spiritual soul) khi hồn tinh thần – với ý định có cân nhắc – kéo nhân hồn ra khỏi các lớp vỏ giam nhốt của nó. Sau đó, khi các diễn trình tiến hóa nối tiếp và linh hồn ngày càng kềm chế phàm ngã, chính là phần hồn bên trong các lớp vỏ giam nhốt này mới sẽ tạo ra – một cách hữu thức và có chú tâm – các giai đoạn từ trần. Trong các giai đoạn trước, việc giải thoát này (release) chỉ được tạo ra với sự trợ giúp của hồn tinh thần đang phù trì (overshadowing spiritual soul). Về sau, khi con người đang sống trên cõi trần với tư cách là linh hồn (tức nhân hồn–ND)– với sự liên tục đầy đủ của ý thức – chính linh hồn (soul–tức Nhân hồn) sẽ tiến hành các tiến trình tách ra, và lúc bấy giờ sẽ (với mục tiêu có định hướng) “tiến lên chỗ mà từ đó linh hồn (nhân hồn–ND) xuất phát”. (CTNM, 409–410)
+ Người không linh hồn (soulless man, người mất linh hồn): Khi Phàm ngã tách rời khỏi Chân Ngã (lower discarded self), nếu còn thể xác, nó trở thành một người không linh hồn. (LVLCK, 1017)
+ Người không linh hồn (Soulless human beings), ở đây từ ngữ Linh Hồn (Soul) dĩ nhiên là thay thế cho Hồn “Tinh Thần” (“Spiritual Soul, còn gọi là Hồn Thiêng) bất cứ khi nào Hồn Thiêng rời bỏ một người “không linh hồn” thì Hồn Thiêng trở thành nguyên nhân của việc nguyên khí thứ năm (Animal Soul, tức Sinh hồn) đang trượt xuống (Sliding down), vào cõi thứ tám (eighth sphere). (Thư của Chân Sư, 359)
+ Mất linh hồn (lost souls). Không một linh hồn nào có thể bị mất khi nào:
1. Có một đạo tâm tốt lành.
2. Làm được hành động không ích kỷ.
3. Cuộc sống được củng cố bằng đức hạnh.
4. Cuộc sống có đạo đức.
5. Cuộc sống tất nhiên trong sạch. (Nguồn: SD–III, 528–529. LVLCK, 992–993)
+ Sách: Linh Hồn và các Cơ Chế của Nó - The Soul and its Mechanism (LHVCCCCN/ SAM)
+ NHƯ LAI TẠNG - Các đại không ngăn ngại nhau
+ b/ 2- Ngài Phú Lâu Na Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả các thứ: 5 ấm, 12 xứ, 18 giới và 7 đại trong thế gian đều là hiện tượng biểu hiện xuất phát từ tánh thanh tịnh bản nhiên của Như Lai Tạng, vậy thì tại sao Như Lai Tạng bỗng nhiên lại sanh các tướng hữu vi vô thường vận động thay đổi trước sau, vô cùng vô cực như thế?
Bạch Thế Tôn! Như Lai cũng đã từng nói : Địa, thủy, hỏa, phong 4 đại bản tánh viên dung, khắp cùng khắp giới, vắng lặng thường trú. Bạch Thế Tôn! Nếu địa đại cùng khắp thì làm sao dung được thủy đại? Nếu thủy đại cùng khắp thì làm sao hỏa đại có điều kiện phát sinh? Làm sao có thể hiểu biết được rằng: Thủy đại và hỏa đại đều cùng khắp pháp giới mà không đối kháng hủy diệt nhau? Bạch Thế Tôn! Tánh địa đại thì ngăn ngại, tánh hư không là rỗng suốt, làm sao có sự kiện hai đại đồng khắp cùng trong một bầu pháp giới? Con không biết nghĩa ấy là thế nào. Xin Phật rủ lòng từ, vén mây mê lầm cho con và đại chúng. Có 2 câu hỏi ở đây:
1) Tại sao trong Như Lai Tạng tánh vốn thanh tịnh bản nhiên bỗng dưng lại chuyển biến sinh ra những hiện tượng hữu vi như như núi, sông, đất, liền…?
2) Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến và thức thì trong 7 đại này tánh chất có đối kháng nhau. Thí dụ nước kỵ lửa kỵ, gió kỵ đất… Nếu thế, tại sao chúng có thể dung hợp được với nhau trong Như Lai Tạng mà không tương tàn, tương diệt? Phật dạy rằng:
- ”Tánh sắc chơn không” nghĩa là Tánh của sắc là không mà hư không thì bao trùm bao la vô cùng vô tận.
- ”Tánh không chơn sắc” nghĩa là trong hư không đã có đủ tất cả tánh chất của sắc hay nói chung của địa, thủy, hỏa, phong…,
=> Nhưng từ cái thể tánh thanh tịnh của hư không khi hội tụ đủ nhân duyên sẽ biến hiện thành ra sắc.
- Tuy thủy đại đầy khắp hư không pháp giới tức là nơi nào trong không gian vô tận cũng đều chứa nước mà nước đâu có dập tắt lửa (hỏa đại) và nước cũng không làm ngập chìm cả thế gian nên Phật nói rằng : ”Tánh thủy chơn không”. Trong hư không tức là pháp giới không đại, vốn không phải nước (thủy đại) vậy mà trong không đại khắp đầy thủy đại. Do đó Phật mới dạy rằng : ”Tánh không chơn thủy”.
- Hỏa đại cũng thế, lửa thì đầy khắp hư không mà không làm cháy nhà cửa, xe cộ, núi rừng hay vạn hữu thế gian. Vì vậy Phật mới nói : ”Tánh hỏa chơn không”. Trong hư không vốn không có lửa, nhưng khi chúng sinh cần thì lửa sẽ có trong hư không, cho nên Phật dạy rằng : ”Tánh không chơn hỏa”.
=> Nói tóm lại, tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau vì thế tuy trong hư không có đầy đủ các đại mà chúng không tương tàn, tương diệt vì các đại cùng chung một thể tánh. Đó là chơn không (bất biến).
=> Vì trong không gian vô cùng vô tận có chứa đầy đủ địa đại. thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại nên từ đó con người, sinh vật và vạn pháp mới được cấu tạo, hình thành một cách mầu nhiệm. (Nguồn: Kinh Thủ LN - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Trong pháp giới thanh tịnh vốn không có chúng sinh, nhưng vì do vọng niệm từ vô thỉ mà thành vô minh rồi dần dần biến thành căn nguyên sinh ra chúng sinh. Do vậy vọng minh chính là vô minh và cũng từ cái vô minh này mà dần theo thời gian hình thành sở tướng của tứ đại và hấp thụ tứ đại để làm thân. Vọng tưởng sai lầm đã biến con người thành “vọng năng” và dĩ nhiên chấp nhận có “sở năng” bên ngoài. Một khi chấp có “năng sở” nghĩa là chấp có chủ thể và đối tượng tức là chấp có sự đối đãi phân biệt. Năng minh là lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) ở bên trong của con người và sở minh chính là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là ngoại trần. Vì thế tuy thế giới vạn pháp có bao la vô cùng vô tận, nhưng cũng không ra ngoài căn, trần cả.
+ NHƯ LAI TẠNG: Trích HT Tuyên Hóa giảng:
Trước đây mỗi khi quý vị học kinh, hằng ngày quý vị đều sống cùng với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình, nhưng trong mọi thời quý vị đều không biết được những cái ấy từ đâu đến. Ai thử đoán tại sao lại có quá nhiều thứ như thế trong Như Lai tạng?
Như Lai tạng lớn đến chừng nào để có thể chứa được chừng ấy thứ?
Như Lai tạng lớn hơn tất cả mọi thứ, thế nên mới chứa được mọi vật. Nếu nó không lớn hơn tất cả mọi thứ thì nó không thể nào chứa được nhiều đến vậy.
Nó để nhiều thứ như vậy ở đâu?
Hãy phân chia Như Lai tạng ra nhiều ngăn. Quý vị có nhãn nhập, người khác cũng có nhãn nhập; quý vị có nhĩ nhập, người khác cũng có nhĩ nhập; quý vị có tị nhập, người khác cũng có tị nhập; quý vị có thiệt nhập, người khác cũng có thiệt nhập. Nếu tất cả đều trộn lẫn với nhau, thì đến khi cần dùng nó, làm sao quý vị sử dụng nó được? Nếu đơn giản nó gom lại thành một khối, nhưng được phân chia đều nhau để chỗ thu nạp (nhập) của riêng mỗi người đều ở trong một vị trí riêng, thế cần phải có rất nhiều chỗ. Nên nó phải là một khoảng không gian rất lớn. Đó là lí do tại sao tôi nói Như Lai tạng lớn hơn tất cả mọi thứ nên mới chứa trọn được cả mọi vật. Chẳng có thứ gì mà không chứa được trong đó. Bây giờ chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đều đang ở trong Như Lai tạng.
Quý vị liền nói: “Tôi chẳng hiểu Như Lai tạng giống như cái gì cả.”
Hằng ngày quý vị đều thấy Như Lai tạng. Nhưng quý vị không nhận ra. Trong mọi động dụng hằng ngày quý vị đều ở trong Như Lai tạng. Những gì mắt quý vị thấy, những gì tai nghe mọi cái hoàn toàn đều ở trong Như Lai tạng. Quý vị vẫn chưa hình dung Như Lai tạng giống như thế nào.... Giảng:
Rốt ráo đạo lý nầy muốn chỉ bày điều gì? Chỉ ra rằng tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng vốn không sinh không diệt. Nó bao trùm mọi nơi, có trong mọi vật. Nó không như một con người, khi ở một nơi nào đó thì gọi là có mặt, và khi ông ta rời khỏi chỗ đó rồi thì gọi là không hiện hữu ở đó nữa. Đúng hơn, tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng là không sinh không diệt. Điều ấy chỉ ra rằng căn tánh vốn là chân thật và vọng tưởng là hư vọng, không thật.
... Đạo lý đang được giảng giải (Tứ Đại) sẽ đưa đến sự giải thích về Bảy đại – đất, nước, lửa, gió, không, kiến và thức – trùm khắp cả pháp giới. Năm uẩn, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới đã đề cập trước đây được giải thích là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng, nhưng chúng chưa được nói là trùm khắp cả pháp giới.
+ Chân Như Tự Tánh: Trong phần giảng về Tứ Đại trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 3: Phật dậy A-nan, như nước thành băng, băng tan thành nước.
Giảng: A-nan, ông nên biết rằng chân như tự tánh tuỳ duyên nhưng bất biến, bất biến nhưng tuỳ duyên. Điều ấy được giải thích như thế nào? Chân như tự tánh cũng chính là tánh Như Lai tạng, cũng là Thật tướng, và cũng là chân tâm, như nước thành băng, băng tan thành nước....
Ông vốn không biết rằng trong Như Lai tạng, tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc, xưa nay vốn thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, biến hiện tuỳ theo mức độ hiểu biết từ tâm chúng sinh.
Giảng: "Ông vốn không biết, A-nan, trong Như Lai tạng – Như Lai tạng là Chân tâm, là Thật tướng. Ông không biết rằng nếu ông cứu xét kỹ cho đến tận nguồn cội hư không và lân hư trần, ông sẽ thấy rằng mình không thể nào biết được nó cả. Mà đạo lý ấy lại được tìm thấy trong Như Lai tạng: tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc." Ở điểm rốt ráo, sắc tướng chính là chơn không; và tánh không cũng chính là chơn sắc. Nó vốn không nhiễm ô, không thanh tịnh, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm. Cơ bản là bất biến. Tự tánh của nó vốn là thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, chẳng có gì làm cho nó tăng thêm, cũng chẳng bớt đi chút nào.
"Tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc." Đây là một hoạt dụng vi diệu "tuỳ theo mức độ hiểu biết từ TÂM chúng sinh." Nó đáp ứng tuỳ theo mọi năng lực NHẬN THỨC từ TÂM chúng sinh: mức độ của sự nhiệm mầu sẽ hiển bày tương ứng với năng lực nhận thức của mỗi chúng sinh.
Ông vốn không biết, trong Như Lai tạng tánh của thức là rõ biết sáng suốt, tính giác ngộ sáng suốt chính là chơn thức. Bản giác trong sáng nhiệm mầu, vắng lặng cùng khắp pháp giới.
Bao gồm và hiển bày trong khắp mười phương hư không, đâu có phương hướng xứ sở?
Theo nghiệp mà biến hiện ra các cảnh giới hiện hữu. Thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên. Tất cả đều là do thức tâm phân biệt suy lường. Chỉ là tên gọi, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Lúc bấy giờ A-nan và cả đại chúng, được sự khai thị nhiệm mầu của Đức Phật, khiến thân tâm vắng lặng, chẳng còn ngăn ngại. Trong đại chúng, mọi người đều tự nhận ra tâm mình trùm khắp mười phương. Thấy mười phương hư không như xem một lá cây hay đồ vật trong bàn tay.
Giảng: Cái gì chứa đựng cả chân thật và hư vọng? Chính là chân tâm chúng ta, Chân tâm chúng ta bao hàm cả cái chân thật và hư vọng và không có xứ sở. Nó ở cùng khắp hư không và bao trùm cả pháp giới. Thế thì nó ở đâu? Nó chẳng ở đó mà cũng chẳng phải không có ở đó. Vậy nên tâm bao hàm trong vạn pháp, vạn pháp chỉ là tâm. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ NHƯ LAI TẠNG LÀ “PHI” - LÀ KHÔNG TẤT CẢ - Đức Phật dậy
- Như Lai Tạng vốn là bản thể nhiệm mầu viên mãn. Tuy nhiên, nó không phải là tâm, không phải là không, không phải địa, không phải thủy, không phải hỏa, không phải phong. Nó không phải nhãn, không phải nhĩ, không phải tỷ, không phải thiệt, không phải thân, không phải ý. Nó không phải là sắc, không phải thanh, không phải hương, không phải vị, không phải xúc, không phải pháp. Nó không phải nhãn thức giới cho đến không phải ý thức giới. Nó không phải minh, không phải vô minh, không phải hết vô minh cho đến không phải lão tử, không phải hết lão tử. Nó không phải khổ, không phải tập, không phải diệt, không phải đạo. Nó không phải trí cũng không phải đắc. Nó không phải bố thí, không phải trì giới, không phải nhẫn nhục, không phải tinh tấn, không phải thiền định, không phải trí tuệ. Nó không phải là Như Lai, là ứng cúng, chánh biến tri. Nó không phải đại niết bàn, không phải thường, lạc, ngã, tịnh vì Như Lai Tạng không phải là pháp thế gian mà cũng không phải là pháp xuất thế gian.
NHƯ LAI TẠNG LÀ “TỨC” - LÀ BẤT KHÔNG TẤT CẢ
Nhưng cái bản thể nhiệm mầu viên mãn Như Lai Tạng lại cũng tức là tâm, là không, là địa, là thủy, là hỏa, là phong. Cũng tức là nhãn, là nhĩ, là tỷ, là thiệt, là thân, là ý. Cũng tức là sắc, là thanh, là hương, là vị, là xúc, là pháp. Cũng tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Cũng tức là minh, là vô minh cho đến là lão tử, là hết lão tử. Cũng tức là khổ, là tập, là diệt, là đạo. Cũng tức là trí, là đắc. Cũng tức là bố thí, là trì giới, là nhẫn nhục, là tinh tấn, là thiền định, là trí tuệ cho đến cũng tức là Như Lai, là ứng cúng, là chánh biến tri. Cũng tức là đại niết bàn, là thường, là lạc, là ngã, là tịnh. Vì vậy, Như Lai Tạng biểu hiện qua tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian.
Phật bảo: Do vậy (Như Lai Tạng) nó là cả hai pháp thế gian và xuất thế gian, Tức là Như Lai tạng diệu minh tâm nguyên. (là chân tâm vắng lặng mà vẫn thường chiếu soi - HTTH).
Rời các nghĩa “tức,” “phi,” mà cũng là nghĩa “tức,” và chẳng phải nghĩa “tức.”
Phật bảo: Làm sao chúng sinh trong ba cõi thế gian, cùng với hàng Thanh văn Duyên giác xuất thế gian, đem tâm sở tri mà suy lường Vô thượng bồ-đề của Như Lai, dùng ngôn ngữ thế gian để nhập vào tri kiến Phật?
Ông và chúng sinh cũng đều như vậy. Chân tâm giác ngộ quý báu đều đầy đủ trong mỗi người. Nhưng khi Như Lai ấn ngón tay thì hải ấn phát ra hào quang, còn các ông chỉ tạm móng khởi tâm, thì trần lao liền nổi dậy.
Do vì không siêng năng cầu đạo giác ngộ vô thượng. Chỉ thích nghĩ đến Tiểu thừa, được một ít liền cho là đủ.
Phú-lâu-na bạch, “Chân tâm quý báu, thanh tịnh vi diệu, giác ngộ sáng suốt của con cùng với Như Lai vốn là viên mãn không hai. Nhưng xưa con mắc phải vọng tưởng từ vô thủy, nên phải ở lâu trong luân hồi. Nay được thánh thừa, còn chưa được chỗ cứu cánh. Như Thế tôn, hết thảy các vọng đều dứt trừ, chỉ có diệu dụng của tính chân. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q4 - Chương II)
+ Thanh tịnh Pháp Thân Phật: Nếu quý vị có trí thì giống như có thái dương/ Ngoài, có huệ giống như trăng sáng/ Trong tâm. Trí Huệ bát nhã thường chiếu sáng trong ngoài thân tâm, trong ngoài đều sáng suốt giống như lưu ly, vạn pháp trong tự tánh vốn trong sáng. Quý vị nhận biết bổn tâm của mình, thấy được bổn tánh, thì cũng giống như trời xanh không mây ... chính là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Lục Tổ Đàn Kinh)
+ Xin mời quí vị đọc bài tổng hợp chuyên đề với thuật ngữ Thể Dụng vi diệu của Như Lai tạng và tánh Như lai tạng, bản giác ... : Mời xem tại đây
+ Các Chướng ngại - Các chướng nạn: Thứ tư là luận bàn về dụng của Tâm kinh - Dùng lực dẹp trừ ba chướng trược. Ba chướng là: Báo chướng - Nghiệp chướng - Phiền não chướng.
1. Báo chướng: Chánh báo = Thân thể minh và Y báo = Y phục, thức ăn, chỗ ở, v.v...
a. Chánh báo: Thân thể đẹp xấu, khỏe mạnh hay bịnh tật, tướng mạo anh tuấn hay xấu xí, người người trông thấy đều hoan hỷ, ái kính hay ghét bỏ. Là người có trí huệ hay có thiện căn. Mỗi hạng phân làm hai:
Thứ nhất, người có trí huệ mà không có thiện căn. Vì sao thế ? Những hạng người này đa số đều từ quỷ quái yêu ma mà sanh ra trên thế gian. Như sơn tinh ở núi lâu năm thành yêu quái, là loài si mị võng lượng (quỷ xuất sanh từ gỗ đá). Những loại quỷ thần đầu trâu mặt ngựa này là những yêu tinh lâu năm thường ăn thịt người, hay những yêu quái đã chết lâu rồi, nay trở lại làm người. Chúng rất thông minh như những người khác. Tuy nhiên, chúng làm việc gì cũng đều không thông minh, luôn làm những việc sai lầm, chuyên môn không giữ luật lệ. Những việc có hại đến người khác thì chúng đều làm. Chúng thường nói những điều làm loạn trật tự xã hội, vì sợ thiên hạ không bị loạn. Loại người này có trí huệ mà không có thiện căn.
Lại nữa, người có thiện căn mà không có trí huệ. Có thiện căn là vì đời trước có làm những việc lành, nhưng không nghiên cứu kinh điển, nên không có trí huệ, rất ngu si.
Bàn về chánh báo, có người tướng mạo đầy đủ, thọ mạng lâu dài, được phú quý. Lại có người tướng mạo xấu xí, thọ mạng ngắn ngủi, chết lúc tuổi còn nhỏ. Tất cả đều do tiền nhân hậu quả, (nhân trước quả sau).
b- Y báo là y phục, thức ăn, nhà cửa v.v...Y báo cũng là quả báo của đời quá khứ. Ðời trước trồng nhân lành thì đời này được quả báo tốt. Ðời trước trồng quả ác thì đời này chịu quả báo xấu. Tương lai có thể còn chịu quả báo xấu nữa. Ðó là báo chướng.
Bàn về nghiệp chướng thì nghiệp tức là sự nghiệp, công nghiệp. Không luận người xuất gia hay tại gia, nhất định đều có sự nghiệp. Tạo ra sự nghiệp rồi thì nhiều vấn đề khó khăn phát sanh. Khi có khó khăn thì liền sanh phiền não, rồi gặp bao việc không vui. Ðó gọi là nghiệp chướng.
Nói về phiền não chướng thì chúng ta ai ai cũng có ít nhất một loại phiền não. Phiền não này phát sanh từ đâu ? Nó do tâm tham, tâm sân, tâm si phát khởi ra. Sao chư vị phát sanh phiền não ? Vì có tâm tham, nên tham không được liền sanh phiền não. Vì có tâm sân hận nóng giận, mọi sự tình đều không hợp với tâm ý chư vị, liền phát sanh phiền não. Vì tâm ngu si, không sáng suốt, nên phát sanh phiền não. Vì còn tâm ngã mạn, kiêu căng, nên xem thường người khác, nên phát sanh phiền não. Vì tâm nghi, đối với tất cả sự tình đều phát sanh hoài nghi. Do có hoài nghi nên tạo ra phiền não. Lại vì còn tà kiến, nên kiến giải của chư vị không chánh đáng, nên phát sanh phiền não. Nếu có chánh tri chánh kiến, tức có trí huệ chân chánh thì đối với mọi việc, chư vị đều hiểu rõ ràng. Vì thông suốt từ đầu đến cuối nên không sanh phiền não. Vì vậy, phiền não do tâm tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, tà kiến phát khởi lên.
Bộ tâm kinh này năng phá trừ được ba chướng là báo chướng, nghiệp chướng và phiền não chướng. Làm sao phá trừ được ? Do có trí huệ chân chánh, trí huệ vi diệu, tâm như như bất động, và chân tâm nên phá trừ được ba chướng. Chúng ta hiểu rõ giáo nghĩa tâm kinh bát nhã ba la mật đa thì mới có trí huệ chân chánh, dẹp trừ được ba chướng.(Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Y báo Và Chánh Báo:
Núi sông đất liền, lâu đài nhà cửa, thế giới y báo cũng như chánh báo đều không vượt ra ngoài tâm niệm hiện tiền của chúng ta.
Núi sông, đất liền, lâu đài nhà cửa ..., các hành tinh, các cõi nước mười phương gọi là thế giới y báo. Thế giới chánh báo là thân tâm của chúng ta, chính là nơi mà con người chúng ta thọ nhận sự báo ứng. Nếu quý vị đã hiểu được sự báo ứng khi chính mình thọ nhận, nghĩa là quý vị không còn vô minh nữa. Không còn vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này được ví như tấm gương: “Vật đến liền chiếu. Vật biến hoàn không”. Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả. Kẻ trí thường thản nhiên với mọi chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì.
Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng, nhưng mọi vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó thường tự hiển bày nhưng chẳng hề bị vướng mắc. (Trích HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi, câu 37. Thất na thất na)
+ Y Báo - Pháp hữu vi biến đổi sanh diệt - Pháp Thế gian:
Đức Phật bảo. ... A-nan, nếu ở nhân địa, lấy tâm sanh diệt làm nhân chính tu tập, mà cầu Phật thừa không sanh không diệt, thì chuyện ấy không bao giờ có.
Do nghĩa ấy, ông phải thấy rõ các pháp có thể tạo tác trên thế gian đều theo sự biến diệt. A-nan, ông xem các pháp có thể tạo tác trên thế gian, có pháp nào không hoại diệt?
Giảng giải:
Dùng trí huệ để quán chiếu điều nầy: Khí thế gian là các hiện tượng trên thế gian, là cõi giới của y báo, gồm cả núi sông đất liền và những công trình tạo tác khác. Tất cả các pháp hữu vi đều biến đổi và hoại diệt. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q 4 - Chương IV)
+ Y và Chánh báo với Địa cầu: Địa luân có nghĩa là: Tầng trên cùng của y báo (khí thế gian) và tầng cuối cùng của chính báo (thân hữu tình). Một trong 5 luân. Nếu đem phối hợp với nhục thân của chúng sinh thì địa luân là Tất luân (từ đầu gối trở xuống). Về hiển sắc, Địa luân là mầu vàng, về hình sắc, Địa luân có hình vuông, chủng tử là (A). (xt. Ngũ Luân) [Tooltip: Chữ Luân].
+ Ta bà: Saha (B.Phạn):
+ "Ta Bà" là tiếng Phạn (Saha); Trung Hoa dịch là "kham nhẫn," và cũng là "cực khổ." So với thế giới Cực Lạc ở phương Tây, thì thế giới Ta Bà của chúng ta này đây quả thật là thế giới "Cực Khổ"!
Vì sao gọi là "kham nhẫn"? Vì chúng sanh ở thế giới này có thể nhẫn nhịn, chịu đựng sự thống khổ. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Động tâm là Tình động: THẤT TÌNH LỤC DỤC LÀM CHƯỚNG NGẠI TÂM TU ĐẠO
Chúng ta là người tu hành quyết phải mang tất cả những vọng tưởng thất tình lục dục quét cho sạch một phen, thanh toán chúng cho hết.
Chúng ta phải hiểu rằng thất tình là hòn đá tảng buộc chân chúng ta.
Các vọng tưởng về thất tình sẽ làm ngăn cản sự chuyên tâm tu đạo của chúng ta, khiến cả ngày bị vọng tưởng lăng xăng, gặp cảnh thì tâm động, có chút định lực nào gom góp được thì bị tiêu hao mất, há chẳng uổng bao nhiêu công phu lâu nay đã tham thiền tĩnh tọa hay sao?
Bất cứ nam hay nữ đều phải tận diệt Thất-tình. Thế nào gọi là Thất-tình? Ðó là hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục - mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham dục; được giới thiệu một cách giản dị như sau:
Hỷ: Không nên mừng, mừng thì tình sẽ động.
Nộ: Không nên giận, giận thì tình sẽ động.
Ai: Không nên bi ai, bi ai cũng động tình.
Cụ: Không nên sợ hãi, sợ hãi cũng động tình.
Ái: Không nên sanh tâm tham ái, bởi tham ái làm cho tình động.
Ố: Không nên có lòng chán ghét, chán ghét làm cho tình động.
Dục: Không nên có dục niệm, dục niệm sẽ làm cho tình động.
Nếu nặng tình cảm về các loại Thất-tình nói trên, hành giả sẽ bị hoàn cảnh chi phối. Nếu Thất-tình có thể lay chuyển được mình, thì định lực sẽ bị tiêu ma, ta sẽ bị làn gió của các loại hoàn cảnh làm cho phiêu bạt, tâm bị lay động, không còn làm chủ được nữa và, khi không có chủ tức thành điên đảo.
Chúng sanh tại địa ngục làm bất cứ chuyện gì cũng là làm trong sự điên đảo, bởi lý do quá si mê và thiếu trí huệ.
Làm cái gì cũng là sai quấy. Chúng ta ở thế gian nếu làm sai quấy thì cũng chẳng khác gì chúng sanh trong địa ngục, nghĩa là làm những gì không đúng với pháp, có mục đích ích kỷ tự lợi thì đó là địa ngục.
Hoan hỷ điều này, hoan hỷ cái kia, buồn giận vì điều này, buồn giận vì điều nọ. Còn làm việc với những loại cảm tình đó là còn sống trong cảnh địa ngục. Các vị hãy chú ý!
Hãy nhớ kỹ! Phải đoạn trừ Thất-tình và Lục-dục. Lục-dục tức là sáu thứ dục do sáu căn mang lại. Sáu căn còn có tên là sáu tên giặc, vì chúng chuyên ăn cướp tự tánh trân quý của chúng ta.
Bởi vậy chúng ta phải cẩn thận giữ gìn các cửa của sáu căn kẻo đồ châu báu bị cướp mất. (HT Tuyên Hóa khai thị)
+ Tâm Thức Nhị nguyên nhiễm ô: Các chủng tử được gieo vào mảnh đất A lại da ví như các hình ảnh xấu đẹp, xanh vàng phản chiếu trên mặt gương sáng. Gương sáng nghĩa là gương không dính bụi, không bị ngăn che, là tượng trưng cho tánh vô phú vô ký của thức A lại da, nhận chứa tất cả các chủng tử mà không phân biệt tốt xấu, thiện ác hay nhiễm tịnh.
Suy lường, chấp trước và phân biệt giữa ta và người, tốt và xấu, yêu và ghét, có và không, lớn và nhỏ, dài và ngắn, nhơ và sạch là những hành tướng của Mạt na thức và Ý thức, là nguyên nhân gây ra phiền não, làm chướng ngại tánh giác khiến chúng sanh cứ mê mờ mà trôi lăn trong biển sanh tử.....(Nguồn: A Lại Da Thức - Duy Thức Học)
+ Tâm Tạo Tác - Hoạt động của Tâm: Đức Phật dạy. Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân; thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.(Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ Tâm Tánh Chúng Sinh: Trích Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là thanh tịnh pháp thân?
Thế Tôn nói: Thanh tịnh pháp thân ấy là chơn tánh thanh tịnh. Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy pháp thân, xưa nay thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành. Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục. Nếu người muốn được giác ngộ mà không cầu thầy chứng minh cho, nhận giả làm thiệt, lâu ngày sẽ thành tà ma ngoại đạo, thành yêu thành quái, phỉnh gạt chúng sanh. Hiện đời sẽ bị pháp luật nhà vua hành phạt, chết rồi đọa vào ác đạo, một khi mất thân người muôn kiếp khó khục hồi được.(Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Tâm tưởng - Đức Phật dạy: .... Vậy nên chúng sinh, tâm nhớ thức ăn ngon thì trong miệng nước chảy ra; tâm nhớ người trước đó, hoặc thương, hoặc giận thì trong mắt lệ tràn; tham cầu của báu thì trong tâm phát ra ái tiên, cả mình đều trơn sáng; tâm dính vào việc dâm dục thì hai căn nam nữ, tự nhiên dịch khí rỉ ra.
+ Suy tưởng thế nào, trở thành thế ấy (As a man thinketh, so is he): Như chúng ta biết, năng lượng theo sau tư tưởng và bị nhuốm sắc thái của tính chất tư tưởng đó. Con người chuyển con mắt chỉ trích và kinh tởm lên phàm ngã mình và khi làm thế, lại nuôi dưỡng chính các điều mà y lên án (deplore), và như thế, hoàn lại cho chính mình những cái càng không thích hợp hơn nữa cho công việc mà y muốn thay đổi. Đó là một vòng nỗ lực luẩn quẩn và cần phải bị xóa đi bằng một nhận thức đầy đủ về cái chân lý chứa trong các lời: “Con người nghĩ tưởng như thế nào thì y trở thành thế ấy”. Khi con người nghiền ngẫm mãi (dwell) về bản chất của linh hồn toàn tri của mình thì y trở nên giống với linh hồn đó. Tư tưởng của y được tập trung trong linh hồn thức và y trở thành linh hồn đó đang biểu lộ qua trung gian của phàm ngã. (LVHLT, 306)
+ Tâm Tánh Chúng Sinh: Trích Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là thanh tịnh pháp thân?
Thế Tôn nói: Thanh tịnh pháp thân ấy là chơn tánh thanh tịnh. Vọng tánh của chúng sanh chỉ thấy nhục thân mà không thấy pháp thân, xưa nay thanh tịnh, không sanh không diệt, không hoại không thành. Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục. Nếu người muốn được giác ngộ mà không cầu thầy chứng minh cho, nhận giả làm thiệt, lâu ngày sẽ thành tà ma ngoại đạo, thành yêu thành quái, phỉnh gạt chúng sanh. Hiện đời sẽ bị pháp luật nhà vua hành phạt, chết rồi đọa vào ác đạo, một khi mất thân người muôn kiếp khó khục hồi được.(Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Thể tính trong Phật giáo: Sự hiện hữu các vật trong thế gian. Tất cả các Pháp đều do từ tâm biểu hiện - Nhân Nơi tâm mà có - Bao gồm trong tâm.
"... Đức Phật từ nơi toà sư tử, đức phật xoa đầu A-nan rồi bảo rằng: ... Như Lai thường nói các pháp phát sinh đều do từ tâm biểu hiện. Tất cả nhân quả và thế giới nhiều như vi trần đều nhân nơi tâm mà có thể tính (hiện hữu), Giảng:
... Như Lai từ lâu nay đã thường nói rằng hết thảy mọi pháp, đều là sự biểu hiện của tâm.
Tất cả nhân quả nhân tiếp liền nhân, quả nối liền quả, hết thảy các pháp trên thế gian và suốt khắp thế giới nhiều như vi trần đều nhân nơi tâm mà có. Tất cả đều là sự hiển bày từ tâm chúng ta. Thế nên cổ văn Trung Hoa có câu: "Nếu người nào nhận ra được bản tâm của mình, thì dưới chân mình không còn có một tấc đất".... Đó là một cách diễn tả của Thiền tông về sự trớ trêu của điều bất khả tư nghì. Thật là không may khi chưa nhận ra được bản tâm của mình, nên trái đất vẫn là một hạt bụi rất lớn. (Nguồn: Kinh TLN-Q1-Phần Kinh văn, mục 89)
+ Tất cả Pháp do từ Tâm biểu hiện - Bao gồm trong tâm - Do Tâm tưởng sinh: (Đoạn này nói về THỨC TÂM nằm trong DIỆU MINH CHÂN TÂM là cái không sinh không diệt, vạn pháp bao gồm trong này).... Đức Phật giảng rằng: Thân Như Lai gọi là Chính Biến Chi - Thân A Nan và chúng sinh gọi là Thân điên đảo, nhưng A Nan không biết sự khác nhau/ Điên đảo này nằm ở đâu, chỗ nào mà lại khác Thân các Như Lai. Đức Phật bảo đại chúng: Này các thiện nam tử! Như Lai thường nói: “Sắc, tâm, các duyên, các tâm sở sử cùng các pháp sở duyên, đều do tâm biến hiện.” Giảng:
Đức Phật bảo: “Này các thiện nam tử!”. “Như Lai thường nói: Sắc, tâm, các duyên, các tâm sở sử cùng các pháp sở duyên.” Trước đây, Như Lai đã nói rất nhiều lần. “Sắc” là chỉ cho các sắc pháp, và “tâm” là chỉ cho tâm pháp. Theo Bách pháp minh môn luận, có 11 sắc pháp và 8 tâm pháp. Tâm pháp thuộc về 8 thức tâm vương. Có 51 thứ thuộc về tâm sở pháp, 24 thứ thuộc về tâm bất tương ưng pháp, có nghĩa là không tương ưng với sắc pháp, không tương ưng với tâm pháp, hay với vô vi pháp. Cùng với 6 pháp vô vi, tạo thành tất cả 100 pháp.
Các duyên có nghĩa là 4 duyên:
- Thân nhân duyên 親 因 緣: duyên dựa trên nhân tức thời.
- Tăng thượng duyên 增 上 緣.
- Thứ đệ duyên 次 弟 緣: còn gọi là đẳng vô gián duyên.
- Sở duyên duyên 所 緣 緣.
“Đều do tâm biến hiện.” Tất cả các pháp đều sinh khởi từ nhân duyên và không pháp nào vượt ra ngoài biểu hiện dù chỉ trong một niệm tưởng từ chân tâm. Từ đó mà tất cả các pháp – núi sông, đất liền, cỏ cây cùng vô số hiện tượng sinh thành. Chúng đều xuất sinh từ tâm; tất cả các pháp ấy đều bao gồm trong tâm. Chẳng phải các pháp nầy chứa đựng bản tâm mà trái lại: tuyệt đối tất cả các pháp chung quanh ta, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, tất cả đều lưu xuất từ bản tâm. Nếu quý vị nhận ra chân tâm thường trú của mình, thì tất cả các pháp nầy không còn hiện hữu nữa.
Thân tâm ông đều là vật hiện ra từ trong diệu minh chân tinh diệu tâm.
Giảng: “Thân ông” có nghĩa là thân thể ông đang mang hiện nay, và “tâm ông” có nghĩa là tâm thức của ông. Cả 2 đều là biểu hiện từ diệu minh chân tinh diệu tâm. Đó có phải là vượt lên trên và bên ngoài thức tâm mà có một diệu minh chân tâm khác hay sao?
Không phải vậy. Đó chính là thức tâm của quý vị, nó vốn ở trong diệu minh chân tâm, nhưng vì chúng sinh không biết vận dụng diệu minh chân tâm nầy, nhận lầm thức tâm làm chân tâm. Thực là sai lầm, họ đã nhận giặc làm con. Do đó khiến họ phát sinh vô số điên đảo. (Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q2)
+ Nhược nhân dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật. Ưng quán pháp giới tánh Nhất thiết duy tâm tạo
Vào đời Đường có vị xuất gia tên là Vương Minh Cán. Vị đó tuy xuất gia làm hoà thượng, nhưng không tu hành. Một ngày nọ, bị quỷ vô thường bắt đi, vị đó gặp Bồ Tát Địa Tạng, dạy vị đó một bài kệ Kinh Hoa Nghiêm - Dịch nghĩa là: "Nếu ai muốn biết rõ Tất cả Phật ba đời - Hãy quán tánh pháp giới Hết thảy do tâm tạo".
Vị đó thấy vua Diêm Vương thì đọc ra bài kệ nầy, do đó được phóng thích. Bài kệ nầy không những cứu được sinh mạng của vị đó, mà cũng cứu được chúng sinh thọ khổ dưới địa ngục. Các bạn thấy đó ! Bài kệ nầy có diệu dụng như thế, cho nên phải tụng Kinh Hoa Nghiêm, phải lạy Kinh Hoa Nghiêm, phải ấn tống Kinh Hoa Nghiêm, thì nhất định có công đức vô lượng. (Nguồn: Giảng Kinh Hoa Nghiêm-HT Tuyên Hóa - T1)
28. Tất Cả Do Tâm Tạo: “Nếu ai muốn biết rõ, tất cả Phật ba đời, nên quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo.” Tức là tất cả các đạo lý đều do tâm hiển hiện. Tất cả Phật ba đời cũng là do tâm mà hiển hiện. Nói tóm lại, tất cả đều do tâm tạo. Con người có thể tạo nên thiên đường, thì con người cũng có thể tạo ra địa ngục. Thực hành theo mười điều lành là tạo nên thiên đường, làm mười điều ác là tạo thành địa ngục. Tâm cũng có thể tạo ra con người, A-tu-la, súc sanh và ngạ quỷ. Tâm của con người thì vi diệu như thế đó. Vì nó thiên biến vạn hóa không rời khỏi một niệm, cho nên nói “tất cả do tâm tạo.”
Mỗi khi tâm chúng ta khởi động niệm, chư Phật đều thấy biết hết. Nhưng con người chúng ta hầu như đều là bịt tai để trộm chuông, tự mình lừa dối mình, cứ tưởng rằng, chắc Phật Bồ Tát không biết, quỷ thần không biết, ai ai cũng không biết. Khi có ý nghĩ như thế, chúng ta sẽ tạo ra biết bao chuyện điên điên đảo đảo, hại người hại mình, gây thành những điều sai lầm to lớn.
Đối với Phật giáo, chúng ta nên ủng hộ đạo tràng và xem việc chấn hưng Phật giáo là trách nhiệm của mình. Chúng ta không nên tạo các nghiệp ác ở trong đạo tràng và nên hiểu rằng tất cả đều do tâm tạo. Cho nên tại Vạn Phật Thành, trường Đại Học Pháp Giới, Trung Học Bồi Đức và Tiểu Học Dục Lương đều lấy Lục Đại Tông Chỉ: không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ để làm lời răn dạy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị- Mục 28)
+ Pháp vô vi - Pháp hữu vi/ Pháp thế gian:
Từ đồng nghĩa Vô vi: Vĩnh hằng - Vĩnh cửu - Bất biến - Không đổi - Không sanh không diệt - Pháp vô vi cũng là vô bất vi diệu dụng.
Pháp hữu vi - Pháp vô vi: Hết thảy pháp hữu vi - Như mộng huyễn bọt bóng - Như sương cũng như điện - hãy quán chiếu như thế. Pháp hữu vi là hết thảy pháp có sở tác vi, có biểu hiện, có hình tướng, tức cũng là pháp thế gian. Pháp hữu vi thì vô thường - Pháp vô vi thì thường hằng không sinh không diệt, không bắt đầu không kết thúc, không hình không tướng, pháp không thể biểu hiện. Pháp vô vi có nhiều loại. Đây là nói vô vi mà vô bất vi, đại tạo đại hóa, thứ pháp vô vi này không rễ gì tu hành, cũng không rễ gì thấu hiểu. Phần đông con người đều chấp trước vào pháp hữu vi, cho nên từ sáng đến tôi đều tranh, tham, cầu, tự lợi.... (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr 335 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Là tâm Vô Vi: “Vô vi” có nghĩa là không làm; thế thì “không làm” điều gì? Đó là không làm những việc tà vạy, không khởi tà niệm, không sanh tà tri tà kiến. Cái tâm luôn nhắc nhở quý vị chớ nên làm điều xấu xa bại hoại, được gọi là tâm vô vi. Quý vị không làm điều xấu điều ác, tức là quý vị đang niệm Chú Đại Bi! Nếu quý vị vừa niệm Chú Đại Bi lại vừa làm điều sai trái, tức là quý vị không có tâm vô vi; và như thế có nghĩa là quý vị không niệm Chú Đại Bi vậy! (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng về Chú Đại Bi)
+ Tâm Vô Vi/ Tâm Vô Trú: Ta bà hà có nghĩa là “vô trú”. Nghĩa “vô trú” này nằm trong ý nghĩa của câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cang.
“Vô trú” nghĩa là không chấp trước, không vướng mắc hay bám chấp một thứ gì cả.
Tâm vô trú là không có một niệm chấp trước vào việc gì cả. Không chấp trước nghĩa là tâm tùy thuận với mọi việc, thấy mọi việc đều là tốt đẹp. Đây chính là trường hợp: “Vô vi nhi vô bất vi” (không khởi niệm tác ý nhưng điều gì cũng được thành tựu). Vô trú chính là vô vi theo nghĩa ở trên, và vô vi chính là vô trú.
* Hành giả hãy thọ trì đọc tụng và sử dụng Ấn Kiếm cho Thần chú Ta Bà Ha này (Trong Thần Chú Đại Bi) để tiêu trì phá chấp trước rất nhiệm mầu:
Khi quý vị vừa móng khởi lên một niệm tưởng, đừng nên vướng mắc vào một thứ gì cả, đó là nghĩa thứ sáu của Ta bà ha. Quý vị đừng nên trụ vào các niệm tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu quý vị có tất cả các tâm niệm trên thì phải nhanh chóng hàng phục chúng, chuyển hóa chúng để tâm mình không còn trụ ở một niệm nào cả. Hàng phục, chuyển hóa được những tâm niệm chúng sinh ấy gọi là vô trú. Dùng cái gì để chinh phục chúng? Dùng Bảo kiếm ấn pháp này để hàng phục. Quý vị nói rằng tâm quý vị bị đầy dẫy niệm tham chế ngự. Tôi sẽ dùng Bảo kiếm này để cắt sạch. Nếu tâm quý vị có đầy ma oán, tôi cũng sẽ dùng Bảo kiếm này đuổi sạch. Nếu tâm quý vị bị ma si mê chiếm đoạt, tôi sẽ dùng kiếm trí tuệ này chặt đứt chúng từng mảnh.
Tôi sẽ chặt đứt tất cả các loài ma ấy bằng Bảo kiếm Kim cang vương này, tức là dùng kiếm Trí tuệ để hàng phục. Nếu quý vị muốn hàng phục thiên ma ngoại đạo thì trước hết quý vị phải chuyển hóa được mọi vọng tưởng của mình. Khi quý vị chuyển hóa được vọng tưởng trong tâm mình, thì thiên ma ngoại đạo cũng được hàng phục luôn, cho dù chúng có muốn đến để quấy phá, chúng cũng chẳng tìm được cách nào để hãm hại được cả.
- Thành tựu Tâm Vô Vi - Tâm Vô Trú: Hãy dùng Bảo kiếm trí tuệ/ Kiếm Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi để cắt sạch các niệm Tham Sân Si Mạn Nghi. Đuổi sạch Ma oán - Chặt đức ma si mê trong Tâm. Như thế quí vị phải hàng phục, chuyển hóa mọi vọng niệm tưởng trong Tâm của mình, thì Thiên Ma ngoài đạo theo đó cũng bị hàng phục luôn, vì chúng chẳng tìm được cách hãm hại quí vị. (Câu 52 - Chú Đại Bi, mời đọc bài Giảng Chú Đại Bi - HT Tuyên Hóa)
+ Pháp Vô vi bất biến - Không đổi:
- Pháp hữu vi: ... Nhưng bây giờ Đức Phật bảo họ phải dứt khoát và từ bỏ các tướng hữu vi. Các pháp nhân duyên vốn thuộc Tiểu thừa. ‘Hưũ vi’ là chỉ cho tất cả các pháp được tạo tác. Mọi thứ có hình tướng đều là pháp hữu vi. Các pháp nhân duyên, mọi pháp có sắc tướng, rốt ráo đều phải hoại diệt.
- Pháp vô vi không có sắc tướng thế nên không bao giờ bị hoại diệt. Trong kinh văn phần trước Đức Phật có đưa ra ví dụ về hư không, ngài có hỏi rằng có khi nào hư không bị hoại diệt chăng? Câu trả lời là chẳng bao giờ hư không bị hoại diệt, vì nó không có hình tướng. Đó là cách khác mà Đức Phật dùng hư không để biểu tượng cho tánh Như Lai tạng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương IV)
+ Tu pháp vô vi: Người tu pháp vô vi, trước phải từ pháp hữu vi mà dụng công, không sợ chạy hương, ngồi hương. Chạy hương là hữu vi, ngồi hương là vô vi. Hai mà chẳng hai vậy.
Xem Tâm Chấp trước
Xem: Tổng hợp những câu truyện về Chấp Trước ;
Xem thêm nguồn tại đây
+ Các trần gồm 6 là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp - Đối tượng/ các Tướng của 6 Căn: Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý
+ Các loại sắc: Âm thanh quy về nơi sắc trần. Nơi năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.
+ Ngũ ấm - Ngũ uẩn hay Năm lớp vỏ/ màn che trong Minh triết Ấn Độ (Phật giáo gọi là ngũ Ấm hay ngũ Uẩn) là những cái tích tụ, chất đầy, bao phủ che lấp lên, như Đức Phật dậy 5 lớp màn che/ Bóng tối che lấp mặt trời Chân Tâm., gồm Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức. (Nguồn: Xem tại đây)
+ Pháp Trần: ... Nếu nhân pháp trần sinh ra, thì các pháp trong thế gian, không ngoài năm trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc, có tướng trạng rõ ràng đối với năm căn, đều không thuộc về phần thu nhiếp của ý căn.... Các pháp trần đều không thể nhìn thấy được. Thế nên quý vị có thể tìm kiếm tướng trạng của chúng, nhưng không thể nào nhìn ra được. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Pháp trần: Trong tâm duyên pháp. Tâm pháp có 8, sắc pháp có 11. tâm sở pháp có 51, pháp bất tương ưng có 24, vô vi pháp có 6, cộng thành 100 pháp. Tâm duyên pháp trần khiến tự tính không được thanh tịnh. ...... Con người chánh chết đuối lại nhảy vào lửa mà chết. Chết đuối - Chết thiêu tương ưng với Tham tài thì bị tài sản chôn vùi, tài tương ưng với nước, giống như chết đuối. Tham sắc - Lòng tham muốn/ Lửa thiêu đốt thân. Nước lửa là ví dụ Tài Sắc. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr 197 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Các Pháp: Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất rằng hãy nên chú ý lắng nghe cho kỹ. "Thị chư pháp không tướng vô tánh, (các pháp vốn không tướng vô tánh)".......
.... Thọ tưởng hành thức như không sắc
Lại nữa Xá Lợi nên lắng nghe kỹ
Các pháp đều không tướng vô tánh
Không sanh không diệt, thông tịch nhiên
Không nhơ không sạch xa nhiễm ô
Không tăng không giảm ngộ trong huyền
Thâm sâu cực tĩnh vượt tạo hóa
Đốn giác ngã pháp vốn viên dung."
Bên trên giảng sắc không khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc.
Sắc này có nhiều loại sắc pháp, nhưng tổng quát không ngoài ba loại, tức là khả đối khả kiến sắc, khả đối bất khả kiến sắc, bất khả bất đối kiến sắc.
Sao gọi là khả đối khả kiến sắc ? Khả đối tức là có thể đối mặt. Khả kiến tức là có thể thấy. Khả đối bất khả kiến sắc là có thể đối đãi, nhưng không thể nhìn thấy. Lại bất khả đối bất khả kiến sắc là chư vị có đối đãi cũng không có đối đãi, thấy cũng không thể thấy sắc. Loại sắc này xuất phát từ đâu ? Do phân biệt từ cảnh giới sáu trần như hình sắc, âm thanh, hương vị, xúc chạm, pháp.
Sao gọi là khả đối khả kiến sắc ? Thí như nhân, ngã, tha, chúng sanh, núi non, sông hồ, đất đai... vạn tượng bao la, đều có hình sắc, có sắc tướng, có hình chất nên có thể thấy. Do đó đều gọi là khả kiến khả đối sắc (có thể thấy, sắc có thể đối đãi), tức chung quy nơi sắc pháp.
Lại nữa, chung quy nơi sắc pháp mà khả đối bất khả kiến (sắc có thể đối đãi mà không thể thấy). Đối là có thể đối đãi, nhưng chư vị không thể nhìn thấy, chỉ có thể nghe thôi. Tại sao ? Nay nói về âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm. Đối với thanh trần, tức âm thanh mà chư vị có thể nghe. A ! Âm thanh hoặc hay hoặc dở, chư vị có thể đối trước với nó mà sanh tâm thức phân biệt, nhưng không thể thấy được âm thanh. Hãy nói, âm thanh là sắc gì, là màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng ? Nó không có hình sắc. Âm thanh này hình dáng ra sao, hình tròn, hình tam giác, hình dài ? Chư vị không thể biết, không thể thấy. Không thể thấy được thể tướng của thanh trần, nên gọi là khả đối bất khả kiến sắc (có thể đối trước, nhưng không thể thấy). Âm thanh này chung quy nơi sắc trần. Nơi năm ấm, sắc thọ tưởng hành thức, chung quy về sắc.....
Bên trên, giảng về ba loại sắc, tức là sắc có thể đối có thể thấy, sắc có thể đối không thể thấy, sắc không thể đối không thể thấy. Đó là mười một loại sắc pháp. Tại sao thế ? năm căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý, lại thêm sáu trần sắc, thanh hương vị xúc pháp. Năm căn đối với sáu trần sanh ra 11 loại sắc pháp. Mười một loại này cũng được phân tách từ ba loại sắc ở bên trên, tức là sắc có thể đối có thể thấy, sắc có thể đối không thể thấy, sắc không thể đối không thể thấy.
Có thể đối có thể thấy, tôi đã giảng ở phần trên rồi, tức là tất cả vật có hình tướng, hiển lộ hình sắc trước mắt chư vị. Có thể đối không thể thấy tức là bốn loại âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm. Âm thanh có thể nghe nhưng không thể thấy. Hương vị xúc cũng như thế, chỉ có cảm giác mà không thể thấy. Không thể đối không thể thấy tức là pháp trần, cũng chung quy nơi sắc pháp. Sắc pháp này không thể thấy được, cũng không thể cảm giác được, nhưng trong ý niệm lại biết đến. Sao gọi là sắc pháp ? Vì nó là ảnh tử của năm trần lưu lại trong tâm thức. Loại ảnh trần này cũng thuộc về sắc pháp. Đó là một loại sắc trong ý thức. Bên trên đã nói sắc tức là không. Thọ tưởng hành thức cũng đều không, cũng lại đồng dạng với sắc trần. Sắc trần từ đâu đến ? Sắc trần đối với sáu căn sanh ra sáu thức, nên biến thành sắc trần....
Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất rằng hãy nên chú ý lắng nghe cho kỹ.
"Thị chư pháp không tướng vô tánh, (các pháp vốn không tướng vô tánh)".
Tánh của sáu căn, thấy, nghe, ngữi, nếm, giác, tri vốn là không.
Sắc do tánh mà hiển. Sắc cũng là không. Chẳng thể bỏ rời sắc mà giữ được không. Bàn về sắc và kiến tánh, chư vị bảo rằng sắc có trước hay kiến tánh có trước ? Nếu nói sắc có trước thì chưa thấy gì mà sao lại hiển xuất ra sắc? Nếu nói đầu tiên có kiến tánh, thì khi không có sắc có thể đối thì kiến tánh (thấy tánh) chỗ nào ? Không có sắc mà chư vị kiến tánh (thấy tánh) thì không ích lợi gì. Thế nên phải thấy tánh vốn là không. Sắc cũng là không. Chư vị chớ khởi ra loại biến kế chấp tánh. Chấp trước có tức là có, không tức là không. Không và có vốn không hai. Chấp thấy có tức nhất định là có, thì không thể liễu giải (hiểu rõ) đạo lý không hai của có và không.
Vì vậy, nếu hướng ngoại truy cầu, thì đem đầu đặt lên đầu, chấp trước khởi vọng. Vì thế, Phật thuyết "Tâm Kinh" tức là thuyết về đạo lý không hai của có và không. Diệu pháp không hai của có và không. Thọ tưởng hành thức cũng đồng với không và sắc. Chư pháp vốn không tướng vô tánh.
Tất cả năm uẩn pháp, sắc, thọ tưởng hành thức đều là tổng hợp các pháp, tức là mười một loại sắc pháp, tám tâm pháp, năm mươi mốt tâm sở pháp, hai mươi bốn bất tương ưng pháp, sáu vô vi pháp, thành một trăm pháp. Mười một sắc pháp tức là mười một loại sắc trần vừa giảng ở trên, cũng là năm căn đối với sáu trần. Năm căn là năm loại sắc pháp. Sáu trần là sáu loại sắc pháp. Cộng thành mười một loại sắc pháp. Tám tâm pháp tức là nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na hức, cùng a lại da thức, cộng thành tám tâm pháp. Năm mươi mốt tâm sở pháp nghĩa là thọ và tưởng phân tích tường tận ra thành năm mươi mốt loại tâm sở pháp. Hành tức là hai mươi bốn bất tương ưng pháp. Thức cũng là tám thức đã nói ở trên. Lại thêm sáu vô vi pháp, tổng cộng thành một trăm pháp.
Một trăm pháp này do hai vị bồ tát Thiên Thân, Vô Trước tóm gọn sáu trăm sáu mươi pháp của bồ tát Di Lặc phân thành một trăm pháp. Bồ tát Di Lặc lấy thời số một đời thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni mà biên thành sáu trăm sáu mươi loại pháp. Vì sáu trăm sáu mươi pháp quá nhiều, nên sau này, bồ tát Thiên Thân và Vô Trước nghiên cứu tóm thâu lại thành một trăm pháp. Do đó nói rằng các pháp vốn không tướng, vô tánh, tức bảo rằng năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức đều là không, chẳng có tự tánh. (Nguồn: Bát Nhã Ba Đa Mật Đa Tâm Kinh_HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tâm pháp (Heart doctrine, secret Heart):
Tâm pháp chi phối sự phát triển huyền linh. Tâm pháp dựa vào bản chất đại đồng của linh hồn, Chân Thần, Đấng Duy nhất, chi phối và có dính líu đến thực tại. (CVĐĐ, 458)
Tâm pháp là giáo lý bí truyền (Secret Heart is the esoteric doctrine). (TNVT, 231)
+ Các Vọng của tâm [Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - HT Tuyên Hóa giảng]:
Nguồn gốc phát sinh của các Vọng tưởng: Từ vô minh bất giác, một niệm chẳng rõ chân tâm, liền khởi vọng niệm. Vọng tâm nối tiếp nhau mà thành dòng sanh tử.”
[Một niệm bất giác → sinh ra vọng tâm → vọng tâm tạo ra vọng tưởng → vọng tưởng tích tập thành vọng tánh (ngũ ấm ma). Đây chính là quá trình “nhất niệm sanh tam tế” ...
- Làm sao đối trị những vọng này? Hòa Thượng Tuyên Hóa luôn nhấn mạnh: Không thể dùng vọng để trừ vọng, mà phải phản vọng hoàn nguyên — quay trở lại chân tâm thường trụ.
1. Phản văn văn tự tánh – Tu Nhĩ Căn Viên Thông: “Quán Âm Bồ Tát tu hành pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông, tức là từ vọng tâm mà phản chiếu trở lại, nghe lại tự tánh của mình, đó là ‘phản văn’. Đến khi không còn nghe gì nữa, thì vọng tưởng cũng không còn.”
2. Giới – Định – Tuệ là lửa luyện vàng: “Muốn dứt vọng tưởng thì phải giữ giới, sinh định, phát tuệ. Không giữ giới thì tâm không thanh tịnh, vọng niệm kéo đến liên miên. Giữ giới là cắt nguồn vọng tưởng.” (Tuyên Hóa, Pháp Ngữ, tr. 148)
3. Dùng Chánh Niệm để trừ Tà Niệm: “Dùng một niệm chánh để phá trừ vạn niệm vọng. Niệm Phật, trì chú, quán chiếu – đều là phương tiện đối trị. Nhưng chớ chấp vào cảnh giới, phải biết bỏ thuyền khi qua sông.”
Tóm tắt cốt lõi [Đệ tử của Hòa thượng]:
• Vọng tánh là bản chất hư dối hình thành từ tích tụ vọng tưởng và chấp trước.
• Vọng tâm là dòng tâm thức trôi nổi theo cảnh.
• Vọng tưởng là từng niệm khởi lên trong tâm, không thực.
• Đối trị: Giữ giới – Phản văn tự tánh – Dùng chánh niệm phá vọng niệm – Quán Không, Vô Ngã.
b/ Hình tượng hóa các Vọng tâm: Vọng Tâm như mảnh đất, Vọng Tưởng như những hạt đậu, và Vọng Tánh như hạt giống phát triển thành cây to nếu gặp môi trường thích hợp - là một cách hình tượng hóa rất gần gũi với tinh thần Phật giáo Đại thừa, đặc biệt phù hợp với Kinh Lăng Nghiêm và lời giảng của Hòa Thượng Tuyên Hóa.
Chúng ta sẽ đi vào phân tích từng phần để thấy mối liên hệ nhân-duyên-quả giữa các “vọng” và cách điều phục chúng. Tóm tắt:
Một niệm vọng tưởng nhỏ (hạt đậu) nếu rơi vào “vọng tâm” (mảnh đất màu mỡ của vô minh, không tỉnh giác) sẽ nảy mầm, lớn lên thành “vọng tánh” – tức ngã chấp sâu dày, khó gỡ.
II. Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng thế nào?
1. Vọng tưởng là khởi điểm, vọng tâm là môi trường tiếp sức. “Một niệm bất giác sanh ra ba tướng vi tế, sáu thô tướng theo đó mà hiện. Nếu không có mảnh đất của tâm thì vọng tưởng không thể sinh ra. Vọng tưởng là gốc của sanh tử.” (HT Tuyên Hóa, Kinh Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, Q.1, 2003)
“Tâm như đất, chủng tử như hạt giống. Gieo nhân gì thì gặt quả đó. Nếu gieo vọng tưởng, thì sẽ sinh ra vọng tánh.” (HT Tuyên Hóa, Pháp Ngữ)
2. Vọng tánh là tích lũy lâu ngày – trở thành “ngã”. “Vọng tánh là kết tinh của vô minh và vọng tưởng. Lâu ngày thành nghiệp tánh, ngã chấp càng sâu, càng khó phá.” (HT Tuyên Hóa, Kinh Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, Q.4)
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: “Tất cả vọng tưởng là do chúng sanh trong tâm không giác, vọng động mà sanh. Nếu dừng được vọng tâm thì tánh chân thật hiện tiền.”
III. Làm sao hóa giải hạt giống vọng tưởng không trở thành cây vọng tánh?
1. Thay “mảnh đất vọng tâm” bằng “mảnh đất chánh niệm”: “Phải chuyển đất mê thành đất giác. Nghĩa là tâm mê thì vọng tưởng sinh, tâm giác thì vọng tưởng không có chỗ bám.” (HT Tuyên Hóa, Pháp Ngữ)
2. Không gieo hạt (tức đoạn vọng tưởng từ đầu): “Từ một niệm vọng tưởng khởi, nếu không chạy theo nó thì nó tự tiêu. Đừng tiếp xúc, đừng để ý, đừng nuôi dưỡng nó.” (HT Tuyên Hóa, Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa)
3. Tưới tẩm “chủng tử Phật tánh” bằng Giới – Định – Tuệ: “Tâm địa nếu không thanh tịnh thì hạt giống tốt cũng không nảy mầm được. Phải dùng Giới để bảo hộ đất tâm, Định để giữ ẩm, và Tuệ để chiếu soi hạt giống chân tâm.” (HT Tuyên Hóa, Giới Luật Giảng Nghĩa)
“Nếu đất tâm không tiếp nhận, thì hạt giống vọng tưởng không thể nảy mầm. Người tu hành chân thật là người ngăn vọng nơi đầu nguồn.” (HT Tuyên Hóa)
+ Người Tu không bị Phong Thủy xấu tương tác làm hại: ... Như Lai Tạng bây giờ nếu tùy duyên tác động vào tâm chúng sinh, con người sẽ phát sinh ra những cảm giác vui buồn, hờn giận, thương ghét, tốt xấu, hơn thua, phải quấy… nhưng nếu chúng sinh biết xoay về bản thể chân thật của mình thì vui buồn tan biến, thương ghét không còn và tâm sẽ trở về với tự tánh thanh tịnh bất biến của nó. Nói cách khác, Như là bất biến còn Lai là tùy duyên. Vì thế Như Lai là bất biến tùy duyên và cũng tùy duyên bất biến. Có tùy duyên bất biến nên chúng sinh mới có thể hóa giải vô minh phiền não để trở về sống với chơn tâm, tánh giác diệu minh của chính mình. (Nguồn: Xem mục Dùng Phật nhãn nhìn lên ....)
+ Ý nghĩa không gian và Thời gian theo Phật giáo có thể chia làm hai mặt:
- Không gian: Nếu đứng về phương diện không gian thì đạo Phật chủ trương rằng vạn pháp là do nhân duyên hòa hợp mà thành.
- Thời gian: Còn đứng về phương diện thời gian thì vạn pháp là do nhân và quả mà thành tựu.(Nguồn: Mục Lại rơi vào thuyết nhân duyên đối đãi ....)
+ Tham sắc dục - May thay chỉ có một: Dịch Nghĩa: Đức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Đạo được cả!"
Giảng: Đức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục." Ở đây, "ái dục" tức là ái tình và dục vọng. Sắc dục tức là tâm dâm dục. Trong tất cả, không có gì đáng ngại bằng nữ sắc
* Tứ dục (bốn ý muốn của chúng sanh trong cõi Dục-giới từ loài ở nơi đất (địa cư), loài ở hư không, cho đến chư thiên sáu cảnh Lục-dục):
1) Tình dục (lòng ham tình). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với cảnh tình ái trai gái, khởi lòng ham muốn.
2) Sắc dục (lòng muốn sắc đẹp). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với cảnh tình ái cái sắc mềm mại, xinh đẹp của trai gái, khởi lòng ham muốn.
3) Thực dục (lòng muốn ăn). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với món ăn ngon, khởi lòng ham muốn.
4) Dâm dục (lòng muốn dâm). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với chỗ đụng chạm nhiễm trước trong đám trai gái, khởi lòng ham muốn. (Nguồn: Kinh 42 chương-HT T.Hóa)
+ Tài sắc - Nước lửa: Con người dụng Tâm Ý Thức phan duyên, chánh chết đuối lại nhảy vào lửa mà chết. Chết đuối - Chết thiêu tương ưng với Tham tài thì bị tài sản chôn vùi, tài tương ưng với nước, giống như chết đuối. Tham sắc - Lòng tham muốn/ Lửa thiêu đốt thân. Nước lửa là ví dụ Tài Sắc. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr 197 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tài - Sắc ứng Nước - Lửa: Con người dụng Tâm Ý Thức phan duyên, chánh chết đuối lại nhảy vào lửa mà chết. Chết đuối - Chết thiêu tương ưng với Tham tài thì bị tài sản chôn vùi, tài tương ưng với nước, giống như chết đuối. Tham sắc - Lòng tham muốn/ Lửa thiêu đốt thân. Nước lửa là ví dụ Tài Sắc. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr 197 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tánh của Nước và Lửa: Trong Phật pháp mô tả
- Tánh của Nước thì ẩm ướt, hàn lạnh, hướng xuống và thu hút;
- Tánh của Lửa thì khô nóng, phát nhiệt, hướng lên và tỏa ra xung quanh
+ Luận về thủy hỏa: Chân Sư DK Luận, trong những tháng mùa hè - Khi chu kỳ lớn ấy đến trên các miền khác nhau trên địa cầu—thì các Hỏa thần, các hỏa tinh linh và những thực thể tiềm ẩn “agnichaitans” của những lò lửa nội tại hoạt động mạnh mẽ, rồi trở lại tình trạng cũ, ít hoạt động hơn khi mặt trời xa dần. Ở đây có sự tương ứng giữa các trạng thái lửa của cơ cấu tổ chức địa cầu trong quan hệ với mặt trời cũng như giữa các trạng thái nước trong liên hệ với mặt trăng. Đây hoàn toàn là một điều ngụ ý huyền môn. Tôi cũng muốn đưa ra một đoạn dù ngắn nhưng có tính huyền môn . . . mà hiện nay có thể phổ biến được. Nếu suy ngẫm sâu xa, nó sẽ đưa người môn sinh đến một cảnh giới cao hơn và kích thích được sự rung động nơi y. (TTHM_Nguy hiểm trang tham thiền)
+ Bí nhiệm của Nước và Lửa: ... Bí nhiệm này của điện, chủ yếu là có tính tam phân, liên quan đến Brahma hay trạng thái thứ ba, và đôi khi được gọi bằng những tên sau đây:
1. Bí mật của Brahma/ 2. Sự hiển lộ của Đức Mẹ/ 3. Bí mật của Lực Fohat/ 4. Bí nhiệm của Đấng Tạo Hoá/ 5. Bí mật của Ba phát xuất từ (thái dương hệ) thứ Nhất, và cũng được gọi bằng bốn nhóm từ thần bí, mang nhiều ánh sáng đến cho trực giác:
6. Con Tàu Bí nhiệm vượt Đại dương.
7. Chìa khoá của Kho tàng Thiêng liêng.
8. Ánh sáng Hướng dẫn qua ba động U minh.
9. Đầu mối đưa đến Năng lượng kết hợp Lửa và Nước.
[172] Trong tất cả các tên gọi này có nhiều kiến thức sẽ đến với người môn sinh suy gẫm chúng cẩn thận, nhớ rằng chúng chỉ về trạng thái Brahma ở mức biểu hiện thấp nhất ... (Nguồn: Điểm đạo trong nhân loại ... Chương XVI)
+ Luận về Thủy Hỏa - Hải Thượng Lãn Ông: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH HỌC THUYẾT THỦY HỎA
1. Thủy hỏa là thực thể
2. Tinh hoa của thủy là “chí”, tinh hoa của hỏa là “thần”
3. Hỏa làm chủ cho thủy, thủy tức là nguồn của hỏa; nguồn của thủy và hỏa không thể lìa nhau
4. Hỏa quá thừa là vì thủy không đầy đủ, thủy không đầy đủ biết rằng hỏa đã quá thừa.
5. Hỏa được yên vị thì mọi vẻ tốt tươi.
6. Hỏa tức là khí, khí không được thăng bằng mà sinh ra bệnh
7. Hỏa động thì nhiệt, hỏa uất thì hàn; hàn cực độ thì nhiệt, nhiệt cực độ thì hàn
8. Dương hỏa thuận lợi về cách chính trị, âm hỏa thuận lợi về cách tòng trị.
9. Năm tạng đều có “tướng hỏa”, mà đều thuộc vào tâm
10. Thủy hỏa là dấu hiệu của âm dương, âm dương là cội gốc của thủy hỏa.
ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT THỦY HỎA TRONG ĐIỀU TRỊ BẰNG CHÂM CỨU
1. Trong học thuyết kinh lạc
2. Trong điều trị hội chứng âm dương và tạng phủ
3. Điều trị hội chứng âm dương ...... (Nguồn: Luận về Thủy Hỏa_Trần Văn Thanh)
+ Tánh của Nước và Lửa: Trong Phật pháp mô tả
- Tánh của Nước thì ẩm ướt, hàn lạnh, hướng xuống và thu hút;
- Tánh của Lửa thì khô nóng, phát nhiệt, hướng lên và tỏa ra xung quanh
+ Tánh của Nước: ...Trong Kinh Trường A Hàm có nói đến nguồn gốc của biển, sông, hồ. Ðó là bởi thế gian này có sự hiện diện của mặt trời - từ mặt trời phát ra một nguồn nhiệt lực gây nóng bức khiến cho vạn vật đều tiết "mồ hôi"; chính lượng "mồ hôi" này tích tụ lại và hình thành sông, hồ, ao, biển... Không phải chỉ riêng con người mà ngay cả đất đai, cây cối cũng có "mồ hôi" - tất cả chúng sanh đều có "mồ hôi." Mặt trời dọi đến đâu thì tỏa sức nóng đến đó, và sức nóng này gọi là "chích" (nướng). Thế giới này vì có quá nhiều "mồ hôi" - nhiều nước - nên có rất nhiều sông, hồ.
Nước hiện hữu khắp nơi - tận hư không, khắp Pháp Giới, đâu đâu cũng có nước cả. Trong Kinh Lăng Nghiêm có chép về việc cầm hạt châu thủy tinh hướng lên không trung để hứng nước trong ánh trăng vào giữa đêm trăng sáng. Ðiều này chứng tỏ rằng khắp nơi đều có nước. Tuy nhiên, cũng có những nơi chúng ta không thấy có sự hiện diện của nước, là vì những nơi đó chỉ có "Tánh" của nước chứ không có "Thể" của nước. Ðiều này cũng tương tự như việc mọi người đều có Phật tánh, nhưng chúng ta không thấy được Phật tánh mà chỉ thấy được hình thể con người thôi vậy. Tánh của nước là ẩm ướt; hầu như mọi nơi đều có khí ẩm, do vậy có thể nói rằng mọi nơi đều có nước. Ðồng thời, mọi nơi đều có lửa.
Tánh nước và tánh lửa vốn hỗ tương hợp tác, chứ không xung khắc lẫn nhau; vậy thì tại sao nước không tràn ngập khắp mọi nơi? Bởi giữa trời, đất và nước có sự tương quan, gắn bó mật thiết với nhau. Vả lại, Tứ Ðại Thiên Vương còn có viên ngọc "trị nước" (tỵ thủy châu); nếu không nhờ viên ngọc này thì khắp cả thế giới sẽ toàn là nước, tất cả đều bị chìm trong biển nước mênh mông. Cho nên, không phải khắp nơi đều có sự hiện hữu rõ rệt của nước. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Phước cầu không được - Tu thì được: PHẬT NÓI: "PHƯỚC CẦU KHÔNG ĐƯỢC, TU THÌ ĐƯỢC".
Thật tại mà nói người đời đi chùa lễ Phật chẳng qua là để cầu phú quý, cầu trường thọ, cầu bình an trong gia đạo. Nhưng đi được vài ba năm mà thấy cảnh ngộ của mình chẳng có chút tiến triển, ngược lại càng thêm khốn đốn thì cho rằng Phật, Bồ Tát không linh, để rồi từ bỏ việc đi chùa lễ Phật. Chúng ta phải biết rằng, cuộc sống của chính mình là họa hay phước đều chẳng phải do Phật, Bồ Tát hay 1 đấng thần linh nào mang đến, mà là do chính những lời nói, việc làm, suy nghĩ của chính mình mang đến.
Đời này bạn có thể phát tài hay không thì phải xem trong mệnh của bạn có tài khố hay không? Mà tài khố từ đâu mà có? Là do đời trước bạn đã tu bố thí tài mà có. Nếu như trong tài khố này của cải rất tràn đầy, thì tương lai không luận là bạn kinh doanh hay làm bất cứ nghề nghiệp nào đều sẽ phát tài to, có thể nói tiền tài này giống như nguồn nước vậy không ngừng trào dâng. Nếu như trong quá khứ đời đời kiếp kiếp của bạn là bỏn xẻn, đều là không chịu bố thí, vậy thì bên trong tài khố của bạn nhất định là trống không, không có tài sản thì bạn làm sao mà phát tài được chứ? Bạn chỉ có thể làm công cho người khác kiếm 1 ít tiền để duy trì cuộc sống của bạn mà thôi, được vậy cũng không tệ rồi, vì cả đời sẽ không sợ bị đói.
... Vậy có biện pháp gì để cải thiện - nhất định là có, chỉ cần đời này họ chịu tích luỹ tài khố, bồi đắp tài khố, thì trong mạng sẽ lại có tài khố. Đó là bố thí, hoan hỷ mà đi bố thí. Không có tiền nhiều để bố thí không sao cả, nhưng 1, 2 đồng thì chắc là có, hãy thành tâm thành ý đem 1, 2 đồng này đi bố thí cứu giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, trong tâm không mong cầu sẽ được đền đáp thì phước báo mà họ nhận lại đó sẽ vô cùng to lớn, ngang bằng với hư không pháp giới. ....
Đức Phật thường nói: " Phước cầu không được, tu thì được".
Đây chính là chân lý, chỉ cần bạn chịu tin tưởng, chịu chân thật đi làm thì nhất định sẽ gặt hái được hiệu quả không thể nghĩ bàn, người không có tài khố thì nhất định sẽ được tài khố, người đã sẵn có tài khố thì tài khố sẽ ngày càng sung túc, tràn đầy hơn.
Người không có trí tuệ thì tu bố thí pháp, tức là đem những điều hay lẽ phải, những thứ người khác không biết chỉ dạy lại cho họ, thì nhất định sẽ gặt hái được quả báo là thông minh trí tuệ.
Người thường hay bệnh hoạn ốm đau cho đến đoản mạng thì tu bố thí vô uý, tức là phóng sanh, ái hộ sanh mạng của tất cả chúng sanh, thì liền được mạnh khoẻ sống lâu.
.... Mời đọc đầy đủ tại: Pháp ngữ của Pháp Sư Tịnh Không.
+ Phá mê lầm:.... Phật nói tất cả khổ là từ mê mà ra. Mê cái gì vậy? Mê mất đi chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Vũ trụ chính là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta. Chúng ta đối với hoàn cảnh sinh hoạt của chính chúng ta không thể không thấu hiểu. Nhân sanh chính là mình. Đối với chính mình, đối với hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình hoàn toàn vô tri, không biết gì hết, một ngày từ sớm đến tối nghĩ tưởng xằng bậy.
Bạn xem những người đi bái lạy thần mình thì rất rõ ràng. Họ đi bái thần hỏi tiền đồ của chính mình, hỏi tương lai của chính mình, đó chẳng phải là đối với chính mình, đối với hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình không hiểu gì hết nên phải đi hỏi người khác? Vậy thần mình có biết được hay không vậy? Không thấy được là biết. Có người nói vị thần này rất linh, tôi cũng gặp được một số đồng tu nói với tôi thần minh ở nơi kia rất hiển linh, họ thường hay đi. Tôi liền hỏi ngược lại họ, giả như một trăm người đi hỏi thần minh này mà một trăm người đều linh thì tôi tin tưởng thần minh này linh. Nhưng nếu nói 100 người đi cầu mà chỉ có một mình bạn linh thì đó là do vận may của bạn đến đúng lúc, không phải do thần minh nhận biết. Một người có đầu óc tỉnh táo sáng suốt một chút thì dễ dàng nhận ra. Bạn đi bái thần, thần bảo hộ bạn phát tài, không sai, hôm nay quả nhiên phát tài, đó là do trong mạng của bạn có, không bái thần thì cũng phát tài, vừa bái thần thì cũng đúng lúc liền cho rằng thần minh linh hiển. Khi những người khác đi cầu khẩn vì sao họ không phát tài được vậy? Chỉ riêng bạn phát tài, thăng quan? Có thể thấy, cái việc này không do thần minh thao túng. Đây là đều vô tri, mê tín, hoàn toàn mê mất đối với mình và hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình. Đây là nguồn gốc của tất cả khổ nạn. Cho nên phương pháp giáo dục của Phật tập trung vào nhân tố này. Phật đề xướng phá mê khai ngộ, hay nói cách khác, Phật dạy chúng ta nhận thức chính mình chuẩn xác, nhận thức hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, làm một người chân thật giác ngộ mà không mê hoặc, tư tưởng kiến giải, hành vi của chúng ta hoàn toàn phù hợp với chân tướng sự thật. Vậy thì không mê, như vậy mới có thể được lợi lạc, lìa khổ được vui......... Pháp Sư Tịnh Không giảng lý, mời bạn xem thêm
+ Tham cầu danh lợi: ... Đức Phật thường nói: " Phước cầu không được, tu thì được".
Đây chính là chân lý, chỉ cần bạn chịu tin tưởng, chịu chân thật đi làm thì nhất định sẽ gặt hái được hiệu quả không thể nghĩ bàn, người không có tài khố thì nhất định sẽ được tài khố, người đã sẵn có tài khố thì tài khố sẽ ngày càng sung túc, tràn đầy hơn.
Người không có trí tuệ thì tu bố thí pháp, tức là đem những điều hay lẽ phải, những thứ người khác không biết chỉ dạy lại cho họ, thì nhất định sẽ gặt hái được quả báo là thông minh trí tuệ.
Người thường hay bệnh hoạn ốm đau cho đến đoản mạng thì tu bố thí vô uý, tức là phóng sanh, ái hộ sanh mạng của tất cả chúng sanh, thì liền được mạnh khoẻ sống lâu. [Nguồn: Pháp ngữ của Pháp Sư Tịnh Không]
+ Tham danh tiếng: Khổ đau cũng là một loại gió trong tám gió. Tức là xưng/ Khen - kỵ/ Chê - khổ - lạc - lợi/Vinh - suy/ Nhục - đắc - thất.
1. Xưng/ Khen nghĩa là xưng tán, tán thán, ca tụng - KHEN - Xưng tán chư vị => Thích thú
2. Kỵ/ Đố kị/ Chê nghĩa là kỵ phúng, khiển trách, chỉ trích - CHÊ BAI => Buồn chán
5. Vinh tức là lợi ích, danh vọng - DANH THƠM => Thích thú, kiêu mạn
6. Nhục là suy bại, không có được danh vọng - TIẾNG XẤU => Khổ lão
Chúng đều là gió cả. Gió mưa tám hướng mà không khinh sợ thì tám gió thổi đến cũng không động. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tham danh tiếng: Lửa dục
+ Kinh Tám ngọn gió đức Phật dậy
1. Được và Mất (Làbha và Alàbha)
Được và mất, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lãi. Dĩ nhiên, khi được lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Nhưng đến khi lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Nhiều trường hợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn trí, lắm khi đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu không còn chịu đựng được nữa. Chính trong những hoàn cảnh tương tợ, ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và giữ tâm bình thản, không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời sống, tất cả mọi người đều phải gặp những lúc thăng, lúc trầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng đối phó, nhất là trong nghịch cảnh.
Mất một vật gì, tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cái buồn ấy không giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phải nghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởng một cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ, an lành và hạnh phúc. Hoặc giả ta có thể tự an ủi: "Đây chỉ là một mất mát nhỏ nhen, không quan trọng." Hoặc giả ta có thể chấp nhận một thái độ triết lý cao thượng: "Không có gì là 'Ta', không có cái gì là 'Của Ta'".
Ta phải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt, mất mát. Phải đương đầu với nó, và như câu "họa vô đơn chí" diễn tả, nó có thể đến một cách đột ngột, từng đoàn, từng đám đông, chớ không đơn độc. Ta phải điềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà) hoàn toàn, và nghĩ rằng: đây là cơ hội vàng ngọc để thực hành đức tánh Xả ly cao thượng nầy.
2. Danh tiếng: Danh Thơm và Tiếng Xấu (Yasa và Ayasa)
Danh thơm và tiếng xấu là cặp thăng trầm khác mà ta phải đối phó hàng ngày.
Danh thơm, chúng ta hoan hỷ đón mừng. Tiếng xấu thì chúng ta không thích. Danh thơm làm phấn khởi tinh thần. Tiếng xấu làm cho ta phiền muộn, khổ đau. Chúng ta thích được trứ danh...
Thật ra, chúng ta không cần chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Nếu ta xứng đáng, ắt nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượm mật đầy đủ thì ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mời ong, hay mời bướm.
Còn tiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe, hay nghĩ đến. Chắc chắn là khi những lời nói xấu lọt vào tai, nó sẽ làm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm càng sâu đậm hơn, nếu những lời gọi là tường thuật hay báo cáo ấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.....
3. Ca Tụng và Khiển Trách (Pasamsà và Nindà)
Được ca tụng và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng trầm khác, hằng ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi được ca tụng thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bị khiển trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu. Đức Phật dạy rằng giữa những lời ca tụng hay khiển trách, bậc thiện trí không thỏa thích, cũng không ủ dột ưu phiền, mà tựa hồ như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dưới cơn bão táp phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng đáng, những lời khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta không xứng đáng, như trường hợp có người nịnh bợ, thì những lời ấy dù có êm tai, cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và là một tai hại....
Kẻ si mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khác mà không nhìn cái tốt cái đẹp của ai....
Nguyền rủa, chửi mắng là chuyện thường tình. Càng hoạt động, càng phục vụ, chúng ta càng trở nên trưởng thành hơn, và càng phải chịu vu oan, nói xấu, phỉ báng nhiều hơn.
4. Hạnh Phúc và Đau Khổ (Sukha và Dukkha)
Hạnh phúc và đau khổ là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó cũng có nhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống nhân loại.
Điều gì làm được dễ dàng là hạnh phúc. Cái gì khó chịu đựng là đau khổ. Thông thường, thỏa mãn điều mong ước là hạnh phúc. Nhưng, liền khi vừa đạt được điều mong ước ấy, ta đã ước mong một loại hạnh phúc khác. Phần đông chúng ta thỏa thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đời sống. Nhưng cũng có hạng người thỏa thích trong sự từ khước, buông bỏ các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượt lên trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh phúc đối với người đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn -- tức trạng thái thoát ra khỏi mọi đau khổ -- là hình thức hạnh phúc cao thượng nhất.
Chúng ta vui vẻ đón mừng hạnh phúc. Nhưng đau khổ thì không được niềm nở tiếp nhận. Đau đớn (vật chất) và phiền muộn (tinh thần) đến với ta dưới nhiều hình thức. Chúng ta đau khổ khi phải chịu bệnh hoạn, già yếu, đó là lẽ tự nhiên. Phải điềm tĩnh chịu đựng những khổ đau đó.
Lắm khi chúng ta phải xa lìa thân bằng, quyến thuộc. Cảnh biệt ly vô cùng đau khổ. Chúng ta phải nhận thức rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Đó là luật Vô thường, và đây là cơ hội quý báu để ta thực hành tâm Xả....... (Nguồn: Tám Pháp Thế Gian)
+ Xem thêm về tám ngọn gió: Tám pháp thế gian
+ Hay Cười - Hay Khóc: ... Trước đây tôi đã nói qua rằng, Ngồi ở đâu cũng đừng lay động đầu gối. Đứng ở đâu cũng không rung quần. Khi mừng chớ cười to như phát cuồng. Lúc nổi giận cũng không cao giọng gào thét. Cho nên gọi là: Nghĩ trước nói sau, vui rồi thì cười, phải nghĩa mới lấy, đến đâu cũng đều nghĩ về người khác, chứ không nghĩ cho cá nhân mình. Cho nên người học Phật, thứ nhất là phải giữ giới luật. Vì sao ai đó có thể không khóc, không cười? Không khóc, không cười tức là có định lực. Người không có định lực mới khóc, mới cười. Quý vị có được định lực thì mới có trí tuệ. Quý vị không có định lực, tức là quý vị không có giữ giới. Quý vị nói mình có trí tuệ, nhưng lại không dùng được chút nào (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tám gió - Gió nghiệp - Khổ đau cũng là một loại gió:
Sao gọi là tám gió. Tức là xưng/ Khen - kỵ/ Chê - khổ - lạc - lợi/Vinh - suy/ Nhục - đắc - thất.
1. Xưng/ Khen nghĩa là xưng tán, tán thán, ca tụng - KHEN. "A ! Đạo hữu thật là Phật tử chân chính, lại hiểu rõ Phật pháp, có trí huệ, cũng rất thông minh, biện tài vô ngại !" Đó là xưng tán chư vị
2. Kỵ/ Đố kị/ Chê nghĩa là kỵ phúng, khiển trách, chỉ trích - CHÊ BAI. "Sao đạo hữu lại học Phật pháp. Hiện tại là thời đại khoa học. Học những lời cổ xưa cả mười tám đời, thật không có ý nghĩa gì hết. Hãy suy nghĩ kỹ. Thời đại khoa học sao lại học Phật pháp, nhân nhân quả quả, vô nhân vô ngã. Trong thời đại khoa học, mình là mình và người lại là người." Đó là lời kỵ phúng (chê bai).
3. Khổ - KHỔ ĐAU cũng là một loại gió.
4. Lạc tức là an lạc - HẠNH PHÚC, sung sướng. Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang trọng, ngày ngày đều sung sướng an lạc. Việc gì cũng mong tốt đẹp hết. Đó là một loại gió.
5. Vinh tức là lợi ích, danh vọng - DANH THƠM. "Tôi tu hành rất khổ cực. Tôi cũng không khởi vọng tưởng, lại có người cúng dường cả chục ngàn đồng để giúp tôi xây chùa, nên tâm tôi rất vui vẻ".
6. Nhục là suy bại, không danh vọng - TIẾNG XẤU. Có người muốn phá hoại, nói :" Hòa Thượng kia không tốt. Việc gì thầy cũng làm. Chớ nên tin tưởng thầy đó. Tốt nhất là hãy tin tôi."
7. Lợi/ Đắc/ Được nghĩa là lợi dưỡng ĐƯỢC.
8. Hại/ Thất/ Mất tức là không lợi dưỡng - MẤT.
Chúng đều là gió cả. Gió mưa tám hướng mà không khinh sợ thì tám gió thổi đến cũng không động.
"Quyện chi tắc thối tạng ư mật, (cuộn lại giữ gìn trong bí mật)".
Bộ kinh này phải nên để nơi thanh tịnh, không nên để nơi bất kính. Chư vị phải tôn kính bộ kinh này.
"Phóng chi tắc di lục giáp trung, (mở ra chấn động khắp thế gian)".
Một khi mở kinh ra thì trí huệ Bát Nhã phóng quang đầy khắp sáu phương (tức đông tây nam bắc và trên dưới). Chư vị có thấy pháp môn Bát Nhã vi diệu lắm không. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Kinh Tám ngọn gió đức Phật dậy
1. Được và Mất (Làbha và Alàbha)
Được và mất, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lãi. Dĩ nhiên, khi được lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Nhưng đến khi lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Nhiều trường hợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn trí, lắm khi đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu không còn chịu đựng được nữa. Chính trong những hoàn cảnh tương tợ, ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và giữ tâm bình thản, không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời sống, tất cả mọi người đều phải gặp những lúc thăng, lúc trầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng đối phó, nhất là trong nghịch cảnh.
Mất một vật gì, tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cái buồn ấy không giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phải nghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởng một cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ, an lành và hạnh phúc. Hoặc giả ta có thể tự an ủi: "Đây chỉ là một mất mát nhỏ nhen, không quan trọng." Hoặc giả ta có thể chấp nhận một thái độ triết lý cao thượng: "Không có gì là 'Ta', không có cái gì là 'Của Ta'".
Ta phải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt, mất mát. Phải đương đầu với nó, và như câu "họa vô đơn chí" diễn tả, nó có thể đến một cách đột ngột, từng đoàn, từng đám đông, chớ không đơn độc. Ta phải điềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà) hoàn toàn, và nghĩ rằng: đây là cơ hội vàng ngọc để thực hành đức tánh Xả ly cao thượng nầy.
2. Danh tiếng: Danh Thơm và Tiếng Xấu (Yasa và Ayasa)
Danh thơm và tiếng xấu là cặp thăng trầm khác mà ta phải đối phó hàng ngày.
Danh thơm, chúng ta hoan hỷ đón mừng. Tiếng xấu thì chúng ta không thích. Danh thơm làm phấn khởi tinh thần. Tiếng xấu làm cho ta phiền muộn, khổ đau. Chúng ta thích được trứ danh...
Thật ra, chúng ta không cần chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Nếu ta xứng đáng, ắt nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượm mật đầy đủ thì ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mời ong, hay mời bướm.
Còn tiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe, hay nghĩ đến. Chắc chắn là khi những lời nói xấu lọt vào tai, nó sẽ làm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm càng sâu đậm hơn, nếu những lời gọi là tường thuật hay báo cáo ấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.....
3. Ca Tụng và Khiển Trách (Pasamsà và Nindà)
Được ca tụng và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng trầm khác, hằng ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi được ca tụng thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bị khiển trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu. Đức Phật dạy rằng giữa những lời ca tụng hay khiển trách, bậc thiện trí không thỏa thích, cũng không ủ dột ưu phiền, mà tựa hồ như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dưới cơn bão táp phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng đáng, những lời khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta không xứng đáng, như trường hợp có người nịnh bợ, thì những lời ấy dù có êm tai, cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và là một tai hại....
Kẻ si mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khác mà không nhìn cái tốt cái đẹp của ai....
Nguyền rủa, chửi mắng là chuyện thường tình. Càng hoạt động, càng phục vụ, chúng ta càng trở nên trưởng thành hơn, và càng phải chịu vu oan, nói xấu, phỉ báng nhiều hơn.
4. Hạnh Phúc và Đau Khổ (Sukha và Dukkha)
Hạnh phúc và đau khổ là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó cũng có nhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống nhân loại.
Điều gì làm được dễ dàng là hạnh phúc. Cái gì khó chịu đựng là đau khổ. Thông thường, thỏa mãn điều mong ước là hạnh phúc. Nhưng, liền khi vừa đạt được điều mong ước ấy, ta đã ước mong một loại hạnh phúc khác. Phần đông chúng ta thỏa thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đời sống. Nhưng cũng có hạng người thỏa thích trong sự từ khước, buông bỏ các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượt lên trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh phúc đối với người đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn -- tức trạng thái thoát ra khỏi mọi đau khổ -- là hình thức hạnh phúc cao thượng nhất.
Chúng ta vui vẻ đón mừng hạnh phúc. Nhưng đau khổ thì không được niềm nở tiếp nhận. Đau đớn (vật chất) và phiền muộn (tinh thần) đến với ta dưới nhiều hình thức. Chúng ta đau khổ khi phải chịu bệnh hoạn, già yếu, đó là lẽ tự nhiên. Phải điềm tĩnh chịu đựng những khổ đau đó.
Lắm khi chúng ta phải xa lìa thân bằng, quyến thuộc. Cảnh biệt ly vô cùng đau khổ. Chúng ta phải nhận thức rằng mọi kết hợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Đó là luật Vô thường, và đây là cơ hội quý báu để ta thực hành tâm Xả....... (Nguồn: Tám Pháp Thế Gian)
+ 106. CHÚNG SANH BỊ XOAY CHUYỂN THEO TÁM PHÁP
Có tám pháp thế gian theo đó chúng sanh xoay chuyển. Những gì là tám? 1. lợi/ Được, 2. hại/ Mất, 3. vinh, 4. nhục, 5. khen, 6.chê, 7. Khổ, 8. Lạc. Tỳ-kheo, đó là có tám pháp mà thế gian theo đó xoay chuyển. Các Tỳ-kheo, hãy nên tìm cầu phương tiện trừ tám pháp này.
Như Lai xuất hiện thế gian, lại thành Phật đạo ở thế gian, nhưng không bị tám pháp thế gian lôi cuốn. Giống như hoa sen sinh ra từ bùn lầy, hết sức tươi sạch, không nhiễm nước bùn, được chư thiên yêu kính, ai thấy đều vui vẻ trong lòng. Như Lai cũng lại như vậy, được sanh từ bào thai, ở trong đó được nuôi lớn, được thành thân Phật. Cũng ngọc lưu-ly là loại báu làm sạch nước, không bị bụi nhơ làm nhiễm; Như Lai cũng lại như vậy, cũng sanh ở thế gian, không bị tám pháp thế gian nhiễm đắm. Cho nên, Tỳ-kheo, hãy nên tinh tấn tu hành tám pháp. (Tăng Nhất A Hàm, Tám Pháp, 43. Phẩm Thiên Tử Mã Huyết Hỏi tám Chính, Kinh số 8-9)
+ Xem thêm về tám ngọn gió: Tám pháp thế gian
+ Tham Thùy = Ngủ nhiều: Tinh đủ thì không sợ lạnh - Khí đủ thì không thấy đói (Nhưng tiếng nói vẫn tràn đầy khí lực nếu Chân khí đủ) - Thần đủ không buồn ngủ. Người ngủ nhiều là Thần khí bất túc, Âm khí thịnh, Dương khí suy yếu.
+ Pháp trị buồn ngủ - Ngủ gật: Trong Tăng Chi Bộ Kinh ghi: Một hôm Phật dùng thiên nhãn quan sát nơi khu rừng chư Tăng ẩn tu, thấy ngài Mục Kiền Liên đang tọa thiền bị ngủ gật, Phật liền đến dạy:
(Nếu ông ngồi bị ngủ gật nên khởi tưởng để đánh tan ma ngủ gật. Trường hợp khởi tưởng không hết thì quán pháp. Quán pháp không hết thì tụng đọc kệ chú. Tụng đọc kệ chú nếu không hết, dùng hai tay nắm hai trái tai kéo xuống, xoa tay, xoa chân. Nếu còn ngủ nữa thì đi rửa mặt. Nếu rửa mặt không hết ra ngoài xem trăng, xem sao hoặc quán ánh sáng. Quán ánh sáng không hết thì đi kinh hành trụ tâm ở trước. Cuối cùng nếu không hết thì nằm như sư tử (nghiêng phía tay mặt hai chân chồng lên).
Bình: Thùy miên là một món phiền não trong năm món phiền não (ngủ cái) che đậy chân tánh chúng sanh. Nó là cái nhân làm cho chân tánh bị lu mờ, trí tuệ không phát sanh được (dù một món cũng có hại). Vì thế, người tu Thiền định muốn được tam muội phải xua đuổi con ma thùy miên không cho đến gần. Những phương tiện Phật dạy trên là cây roi sắt đập mạnh vào con ma buồn ngủ. Đuổi mạnh và đuổi nó đi xa thật xa, không cho nó bén mảng đến chỗ chúng ta ngồi tu. (Trích sách "Nhặt Lá Bồ Ðề". HT. Thiền Sư Thích Thanh Từ)
+ Thời khóa tu - Ngủ 4 giờ: Người xuất gia ngủ bốn giờ, nhằm lúc trung dạ. Ở Ấn Độ thời gian được chia thành ba thời ban ngày, ba thời ban đêm, một ngày ở Ấn Độ thời cổ là sáu thời. Trung dạ là từ mười giờ đêm đến hai giờ sáng, đó là thời gian để người xuất gia ngủ nghỉ, hai giờ sáng thức dậy tụng khóa sáng, một ngày chỉ ngủ bốn tiếng đồng hồ. Hiện tại, chúng ta nghiệp chướng nặng nề, người Tây Dương đề xướng ngủ tám tiếng. Ngủ hơn tám tiếng là chẳng như pháp! Nếu có thể giảm bớt một, hai tiếng, tôi cho rằng ngủ sáu tiếng là được lắm rồi. Một phần quang âm là một phần thọ mạng đấy nhé! Thế gian thường nói: “Một tấc quang âm, một tấc vàng”. Quang âm trọng yếu như thế đó, cho nên phải gìn giữ quang âm quý báu, nỗ lực tu hành. (Nguồn: Phật Thuyết Thanh Tịnh Tâm Kinh)
+ Nhóm ngũ hành: Mỗi hành có sáu loại đại diện (Phân theo Mệnh nạp âm)
Vàng trong biển (Kim)
Sắt đầu kiếm (Kim)
Kim bạch lạp (Kim)
Vàng trong cát (Kim)
Bạch kim (Kim)
Vàng trang sức (Kim)
Gỗ trong rừng (Mộc)
Gỗ dương liễu (Mộc)
Gỗ tùng Bách (Mộc)
Gỗ đồng bằng (Mộc)
Gỗ dâu (Mộc)
Gỗ thạch Lựu (Mộc)
Nước dưới lạch (Thuỷ)
Nước trong khe (Thuỷ)
Nước giữa dòng (Thuỷ)
Nước trên trời (thuỷ)
Nước giữa khe lớn (Thuỷ)
Nước giữa biển (Thuỷ)
Lửa trong lò (Hoả)
Lửa trên đỉnh núi (Hoả)
Lửa trong chớp (Hoả )
Lửa chân núi (Hoả)
Lửa đèn (Hoả)
Lửa trên trời (Hoả)
Ðất ven đường (Thổ)
Ðất đầu thành (Thổ)
Ðất trên mái nhà (Thổ)
Ðất trên vách (Thổ)
Ðất vườn rộng (Thổ)
Ðất trong cát (Thổ)
+ Nước cam lồ trong tu thiền: Tọa như chung/ Ngồi như đại hồng chung. Không giao động, ngay ngắn, thẳng thắn. Mắt quán mũi, mũi quán miệng, miệng quán tâm, lưỡi thì uốn cong lại để ở hàm trên, có nước dãi thì nuốt vào. Hành như phong/ gió thoảng nhẹ. Trạm như tùng/ Đứng như cây tùng. Ngọa như cung ....
- Ngồi thiền thì uốn đầu lưỡi lên hàm trên, nếu có nhiều nước dãi thì nuốt vào. Đây là "Nước cam lồ". Vid sao? Vì ngồi thiền, ngồi lâu rồi nước dãi là vị ngọt. Tuy không đồng như đường, hoặc như mật, nhưng cũng là một vị ngọt đàm đạm. Người thường uống thức nước cam lồ này, thì thường không ăn cơm cũng không đói, không uống nước cũng không khát, cho đến đi không biết đi, đứng không biết đứng, ngồi không biết ngồi, nằm không biết nằm, công phu đã đả thành một khối, thời khắc đều ở trong định.
Nước cam lồ trị được bách bệnh, cường thân kiện thể, khai mở đại trí huệ, nhưng phải luôn luôn dụng công, không nên gián đoạn. Vì sao người tu đạo không thích nói nhiều, vì họ muốn dụng công, bổ củi, gánh nước ... đều dụng công, cho đến thành thục không dụng mà tự dụng công, khong nghĩ tham " Niệm Phật là ai" nó cũng tự tham. Tham đến thành khối mưa gió mặc trời.
Nước cam lồ lại còn gọi là "nước nhà mình", ba chữ này hợp lại đọc thành chữ dược "Thuốc". Thuốc này sống thọ lâu năm, thuốc liễu sinh thoát tử, thuốc thoát khỏi luân hồi lục đạo. Ai ai cũng có thuốc này, nhưng mọi người không dùng đến nó. Ai cũng bỏ gốc tìm ngọn ..., thứ thuốc này tự tính vốn sẵn có. Người nào thường dụng công thì nước dãi rất ngọt, thậm trí còn hơn mật, đường. đợi đến khi thuốc này công hiệu thì trong thân thể liền sinh sản biến hóa. Nếu chưa tu đến chỗ diệu dụng, thì không biết, nếu đến được rồi thì thời thời khắc khắc không thể buông bỏ công phu. Không thể gián đoạn, nhưng phải luôn giữ thường hằng. Không phải 3 ngày đánh cá, 2 ngày phơi lưới ... phải kiên, thành, hằng, thường dụng công thì mới có thể thành tựu........
...... Bình thường không cần giảng nhiều. Đầu lưỡi uốn cong lên hàm trên, có nước dãi thì nuốt vào, đó là nước nhà mình, cũng gọi là nước cam lồ, thường uống nước cam lồ, sẽ tiêu trừ bách bệnh, thân thể tự nhiên kiện khang. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr41; 127; 139 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Y bệnh: Các thầy thuốc Đông - Tây y khám chữa bệnh theo khoa học, gọi là Y bệnh cứu người.
+ Y Mệnh: Các thầy xem Lá số Tử vi - Tứ trụ - Chiêm tinh - Quẻ dịch để dự đoán Bệnh nạn, thuốc thang ... gọi là Y Mệnh cứu người.
+ Đường đạo: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền linh học và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và vị thánh. Sự tiếp cận ở đầu hoặc ở tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách phải được hiểu biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền linh học; nhà huyền linh học bên chính đạo (white occultist) đã là nhà thần bí thánh thiện (saintly mystic). Tri thức thực sự (true knowledge) là lòng bác ái sáng suốt, vì đó là sự phối hợp của trí tuệ (intellect) và lòng sùng đạo. (LVHLT/ LVCT 80)
+ Con đường đạo: Là Pháp tu TRUNG ĐẠO - Là con đường Chánh đạo mà chính Đức Phật đã dậy qua nhiều Kinh văn Phật Giáo. Là con đường như Lưỡi dao cạo thật khó đi. Quí vị phải cân bằng giữa Học Giáo lý Kinh Văn Phật pháp và tu tập thật hành hàng ngày để làm người Quân tử trước khi muốn tu thành tựu bất cứ pháp môn nào cao hơn. Muốn vậy, đầu tiên phải giữ giới luật, thực hành Thập thiện nghiệp đạo và Bát Chánh đạo, tuân thủ theo nguyên tắc "Giữ giới sinh Định - Có Định sanh trí huệ". Cao hơn thì thực hành Tham thiền tu Định lực hàng ngày để phát triển trí huệ, như thế mới có thể tránh rơi vào Tà đạo/ Ngoại đạo mà trở lên rời xa Chánh đạo, sẽ mãi vẫn ở trong vòng Luân hồi khổ đau, rất đáng sợ. Có câu "Thân người khó được - Phật Pháp khó nghe". Quí vị cần học hiểu để biết rằng ngàn vàng chẳng mua được trí tuệ chân thật, chỉ có tu hành mới mong thành tựu. Như HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, là Vạn vật đồng nhất thể, hiểu là trong nghe giảng Kinh và tu tập, quí vị nên nhất tâm hòa làm một với người giảng hay vị Thầy Chánh đạo mình hướng tới, ví như đọc Chú Đại Bi thì Tâm làm một với Bồ Tát Quan Thế Âm - Gọi là tu Hóa thân Bồ Tát Quan Thế Âm, như vậy mới đúng Pháp và thu được nhiều thành tựu nhanh chóng (Lời NTH)
+ ĐƯỜNG ĐẠO VÀ CÁC CUNG - HÀNH TINH
Cung I: Mãnh lực - Năng lượng - Hành động - Huyền bí gia.
Cung II: Tâm thức - Mở rộng - Điểm đạo - Nhà tâm thông thực sự.
Cung III: Thích nghi - Phát triển - Tiến hóa - Thuật sĩ.
Cung IV: Rung động - Đáp ứng - Biểu lộ - Nghệ sĩ.
Cung V: Hoạt động trí tuệ - Hiểu biết - Khoa học - Nhà khoa học.
Cung VI: Lòng tôn sùng - Ý niệm trừu tượng - CN lý tưởng - Người sùng tín.
Cung VII: Thần chú - Huyền thuật - Hành Nghi thức - Người hành lễ.
+ Nhân duyên đức Phật giảng pháp: ... đức Phật nói sau khi đắc đạo Chánh đẳng chánh giác: Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu (Phật hãy Thuyết pháp), vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước.
Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên) . Nguồn: 26.Kinh Thánh cầu
+ Đức Phật Nói Pháp - Lời Nói Viên Âm:
Trích đoạn A Nan xin Phật giảng nói Pháp: ...“Cúi mong Đức Phật thương xót, tuyên dạy viên âm, nhổ sạch gốc nghi ngờ trong con, để quay về đạo vô thượng.”
Giảng:
“Cúi mong Đức Phật thương xót, tuyên dạy lời viên âm.” Viên âm là âm thanh viên dung không ngăn ngại. Viên âm tức là nhất âm. Nên nói rằng: “Đức Phật chỉ dùng một âm thanh mà thuyết pháp, chúng sinh tuỳ theo căn cơ nghiệp lực mình đều được hiểu.” Khi loài người nghe nhất âm, họ cũng hiểu được; khi chư thiên nghe nhất âm, chư thiên cũng hiểu được; khi loài ngạ quỷ nghe nhất âm, ngạ quỷ cũng hiểu được; ngay cả khi loài súc sinh nghe nhất âm, loài súc sinh cũng hiểu được. Mọi loài chúng sinh– người, trời, Bồ-tát, A-la-hán, đại tỷ-khưu, loài vật, loài ở địa ngục, quỷ đói–mỗi loài đều hiểu được giáo lý Đức Phật giảng giải bằng nhất âm. Khi Đức Phật giảng pháp, chúng sinh chỉ cần có duyên với Đức Phật, bất luận họ ở xa Đức Phật bao nhiêu, họ đều có thể nghe lời nói của Đức Phật như thể họ đang ở ngay bên cạnh Ngài vậy. Không cần bận tâm đến khoảng cách. Quý vị xem đó có vi diệu không?(Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q2)
+ Đức Phật Giảng Về Phật Pháp: ..... Những gì được giảng giải trước đây đều là pháp phương tiện. Pháp đang được giảng nói bây giờ là Đệ nhất nghĩa đế, là giáo lý rốt ráo của Trung đạo, hoàn toàn khác với pháp môn được giảng nói trước đây. Năm uẩn, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới–tất cả các pháp nầy đều không sinh khởi do nhân duyên, cũng chẳng sinh khởi do tự nhiên.
Trước đây Đức Phật đã dùng pháp nhân duyên để phá tan thuyết tự nhiên do ngoại đạo chủ trương. Đây là lí do tại sao A-nan chấp trước vào pháp nhân duyên sinh mà chưa thể nào giải trừ được. A-nan không thể nào từ bỏ được ý tưởng ấy. Ông nghĩ rằng pháp mà Đức Phật giảng nói trước đây sẽ không bao giờ thay đổi, không bao giờ khác đi. Tại sao bây giờ Đức Phật lại phủ nhận những đạo lý trước đây ngài đã giảng nói? Vì chính Đức Phật cũng không công nhận rằng các pháp ngài đã nói trước đây là mâu thuẫn, Đúng vậy không? Ngài nói ngược lại với những điều đã giảng trước đây. Đến mức A-nan phải phát sinh vô số nghi nan và còn muốn hỏi rất nhiều điều. Thế nên bây giờ Đức Phật bảo A-nan rằng trước đây ngài nói pháp nhân duyên sinh là để phá trừ thuyết tự nhiên sinh của ngoại đạo; pháp ấy chưa phải là rốt ráo. Đó không phải là pháp môn cứu cánh. Bây giờ đã đến lúc giảng nói pháp Trung đạo liễu nghĩa, pháp Đệ nhất nghĩa đế. Những pháp Như Lai giảng nói trước đây không còn hợp thời nữa; đừng tiếp tục chấp dính vào nó nữa. A-nan vẫn chưa hiểu được điều nầy; thế nên ông tiếp tục hỏi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ ĐỨC PHẬT CÓ GIẢNG PHÁP KHÔNG? Trích đoạn Đức Phật giảng cho ngài Phú Lâu Na trong Kinh:
Chẳng phải là minh, chẳng phải vô minh; chẳng phải là hết minh, chẳng phải hết vô minh. Như vậy cho đến chẳng phải là hết lão, hết tử, chẳng phải là hết lão, chẳng phải hết tử.
Giảng giải:
Đức Phật giảng pháp tuỳ duyên có lúc nói pháp và có lúc quét sạch tất cả pháp. Khi Đức Phật sắp nhập niết-bàn, có đệ tử hỏi, “Bạch Thế tôn, giáo pháp mà ngài đã tuyên thuyết, vào đời sau, chúng con sẽ phải lưu thông như thế nào?”
Quý vị có nghĩ rằng Đức Phật sẽ trả lời như thế nào không? Ngài trả lời, “Như Lai chưa từng thuyết pháp.” Nay quý vị đừng nghĩ rằng qua câu trả lời nầy, Đức Phật đã bị chút ít lẩm cẩm khi gần nhập niết-bàn. Hoàn toàn không phải như vậy. Ngài nói rằng, “Nếu có người bảo rằng Như Lai đã từng thuyết pháp dù chỉ một chữ, tức là huỷ báng Như Lai.”
Thế là ngài đã giảng pháp suốt 49 năm, khai mở hơn 300 hội giảng kinh nhưng chưa từng nói một lời nào! Vậy là như thế nào? Cơ bản là Đức Phật giảng pháp, nhưng sau khi ngài giảng xong thì chúng biến mất. Thế nên có câu kệ:
Tảo nhất thiết pháp 掃 一 切 法
Ly nhất thiết tướng. 離一 切 相.
Đó là để dạy mọi người không nên chấp cứng vào pháp. Là để ngăn ngừa những người sẽ nói, “Tôi phải y cứ đúng như pháp Đức Phật đã dạy.” Nếu có người nói như vậy, tức là vướng vào pháp chấp, tức họ sẽ khó đạt được pháp không. Để cho mọi người đều đạt được cả nhân không và pháp không, nên trong đoạn văn nầy, Đức Phật phủ nhận mọi điều ngài đã nói.
Quý vị sẽ nói, “Tôi đã đạt được nhân không và pháp không rồi, bây giờ từ sáng đến tối tôi chỉ còn biết ngủ. Tôi chẳng cần tu học gì nữa cả. Rốt ráo tất cả là nhân không. Thế nên chỉ cần ngủ thôi.”
Thế thì quý vị vẫn còn bị chấp vào cái ‘ngủ.’ Khi nào cái ngủ ấy hết rồi, thì đó mới thực sự là không. Nếu vẫn còn ngủ, thì vẫn chưa thể là không. Vấn đề là quý vị cần phải làm cho chấp pháp và chấp ngã hoàn toàn không.
Kinh Kim Cương nói rằng pháp Đức Phật giảng nói giống như chiếc bè. Tưởng tượng sẽ mệt nhọc xiết bao khi quý vị mang chiếc bè trên vai sau khi dùng nó để qua sông rồi. Chiếc bè chỉ giúp cho quý vị vượt qua bên kia sông. Quý vị phải lìa bỏ nó khi đã đến bờ rồi. Tương tự như vậy, mục đích của giáo pháp là chuyển hoá phiền não cho chúng ta. Một khi phiền não không còn, thì cũng chẳng cần đến pháp nữa. Nhưng trước khi phiền não dứt sạch, thì mình chẳng làm được gì nếu không có giáo pháp. Nếu quý vị từ chối giáo pháp vào lúc nầy, chắc chắn phiền não sẽ tăng trưởng.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Chúng ta học tập giáo pháp là để dứt trừ phiền não. Nay tôi nói với quý vị vài điều về chân Phật pháp. Quý vị phải dứt trừ phiền não. Nếu học Phật pháp cả ngàn năm mà không dứt trừ được phiền não, thì cũng giống như chưa học được điều gì.
Quý vị sẽ hỏi, “Làm sao để dứt trừ phiền não?” Chỉ cần giữ tâm đừng bị lay động bởi những cảnh giới chung quanh. Nếu tâm quý vị không bị xoay chuyển bởi mọi hoàn cảnh, nghĩa là quý vị đã có định lực. Đó chính là Phật pháp.
“Vì sao các ngài nói rằng Phật pháp vốn không có cái ‘phải’ và cái ‘chẳng phải’?”
Lục tổ đã dạy chúng ta:
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?
Thế nên mọi hiện tượng trên đều được phủ nhận.
Nếu quý vị có thể hiểu được rằng Phật pháp vốn không có cái ‘phải’ và cái ‘chẳng phải,’ thì quý vị đã được chứng ngộ. Lục tổ đã hỏi ngài Huệ Minh, “Đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác. Ngay lúc ấy, cái gì là bản lai diện mục của Thượng toạ Minh?”[7]
Chẳng nghĩ thiện, đó chính là không có cái ‘phải.’ Chẳng nghĩ ác, đó chính là không có cái ‘chẳng phải.’ Tu hành tinh tấn đến mức không có cái ‘phải’ và cái ‘chẳng phải,’– có nghĩa là đến mức không có cái thiện, cái ác nữa–và nỗ lực nhận rõ mọi cảnh giới đang diến ra. Sự vắng bặt ý niệm ‘phải’ và ‘chẳng phải,–ý niệm thiện, ác– thì chính ngay đó là Phật tánh, là bổn diệu viên minh. Nếu quý vị đạt được điều ấy, thì quý vị có tất cả, và đồng thời quý vị cũng chẳng có cái gì cả; nhưng, không phải là chấp cứng vào các cảnh giới hiện tiền ấy. Khi nào thì quý vị có tất cả, và quý vị có những gì? Quý vị có tất cả pháp bảo trong Như Lai tạng. Mà quý vị chẳng có gì hết thảy; có nghĩa là quý vị chẳng còn chút nào phiền não. Trong Như Lai tạng có rất nhiều phiền não cũng như có rất nhiều pháp bảo. Tại sao quý vị không có được những pháp bảo ấy? Vì quý vị có quá nhiều phiền não, và vì trong bụng quý vị đã chứa quá nhiều thứ rồi. Thế nên, nếu quý vị có quá nhiều phiền não, thì quý vị chỉ còn chứa được một ít nước pháp–pháp tánh nhỏ nhoi. Nếu mọi phiền não đều được chuyển hoá, thì chính nó là nước pháp; đó chân thật là pháp tánh của quý vị.
Đừng có sợ rằng mình có quá nhiều tập khí. Tập khí càng nhiều, thì pháp tánh càng lớn. Nhưng đừng để nó chuyển thành tập khí, vì nếu quý vị để mặc như vậy, thì sẽ làm mất tác dụng tánh linh của mình. Quý vị sẽ khởi đầu bằng trí thông minh và kết thúc bằng ngu muội nếu quý vị làm như vậy. Phật pháp dạy quý vị dứt trừ phiền não, rồi những phiền não nầy sẽ chuyển thành bồ-đề, như băng tan thành nước. Khi nước đông lại, băng chính là phiền não của quý vị; khi băng tan, phiền não hết, ngay đó chính là bồ-đề. Chẳng có gì quá khó hiểu về chuyện nầy. Toàn bộ những gì quý vị cần phải làm là thay đổi, và quý vị sẽ thành tựu.
"Chẳng phải là minh"–chẳng phải là tánh giác–"chẳng phải vô minh"– không phải là sai lầm hư vọng sinh khởi từ cái một chân thật– "chẳng phải là hết minh, chẳng phải hết vô minh. Như vậy cho đến chẳng phải là hết lão, hết tử, chẳng phải là hết lão, chẳng phải hết tử". Giáo pháp thập nhị nhân duyên cũng biến thành không.
Giáo pháp được giảng bây giờ chính là không Như Lai tạng. Kế đến, quý vị sẽ được giải thích Như Lai tạng vốn là không và bất không. Thế nên quý vị thấy, Như Lai tạng vốn không chỉ đơn thuần là một trạng thái, mà nó có vài điều khác biệt trong nầy. Vậy nên quý vị đừng thấy rằng mình biết được vài thuật ngữ Phật pháp rồi kể rằng mình đã hiểu được tất cả. Có thể quý vị chỉ biết về Như Lai tạng, nhưng quý vị còn phải biết cách làm cho Như Lai tạng thành không; và quý vị biết được Như Lai tạng là bất không, nhưng rồi quý vị phải nhận ra được Như Lai tạng vốn vừa là không vừa là bất không. Quá rắc rối, phải không? (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.4 - Chương II)
+ Chánh Ngữ (bát chánh đạo) trong Phật Giáo: Là Nói lợi mình và Người. Kinh tương ưng bộ: Chánh ngữ là từ bỏ các lời nói láo - hai lưỡi - độc ác - phù phiếm.
1. Không nói dối hay Nói láo hay Vọng ngữ: Chân chính trung thực, nói sự thật, không dối trá lừa gạt, chuyện có nói không, không nói có, vu oan giá họa vì bất cứ lợi ích gì để tránh bị đọa đường ác.
2. Không như mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng, nhục mạ - Gây đau lòng, tổn thương: Không xúc phạm = lời nói hung ác, xiên xỏ, nguyền rủa, nói lời kiêu căng, chỉ trích nặng lời, lời nói cộc cằn, thô lỗ. Đức Phật đã so sánh lời nói với một cái búa. Nên nói lời hoà nhã, dịu dàng, hiền hậu, đạo đức, từ bi, lợi lạc ai nghe cũng hân hoan, kính trọng.
3. Không nói Hai lưỡi như thêu dệt thêm bớt để chia rẽ hay đả phá: Tránh "tà ngữ” với ác tâm. Không nói lời hai lưỡi, đòn xóc hai đầu, làm người ghét nhau, thù nhau. Không được nói lời thêu dệt, thêm bớt, nói châm chọc gây buồn phiền và khởi tà niệm. Không gây tạo ác cảm cho 2 bên thù oán, sân hận đấu tranh. Có dịp thì khuyên can người nói tà ngữ.
4. Không nói lời phù phiếm: Chuyện phù phiếm, nhảm nhí, vô nghĩa hay u mê... mất yên tĩnh và định tâm. Nói sau lưng là tà ngữ, không xét đúng/ Sai. Xem: Chánh ngữ trong Phật Giáo
+ 125. CHÁNH NGỮ
Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó ngoài bốn diệu hành thuộc miệng, còn các ác hành khác nơi miệng đều viễn ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ hội. (Nguồn mục 125 - (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31))
+ 3. Chánh ngữ: Là trong lời nói của chính mình không có một chút ý nào dâm loạn. Những lời nói ra đều thật đứng đắn. Nếu ai có nói với mình những lời không đứng đắn, mình cũng phải nói với họ những lời đứng đắn mà không được dùng lời không đứng đắn đáp lại. Ðó tức là chánh, là khẩu nghiệp thanh tịnh. Trên đời này bất cứ người nào cũng gặp phải điều ấy. Nếu có ai nói những lời không đứng đắn, chẳng cần phê bình họ nói không đúng, mà không nên tiếp cận với họ là được. Nhưng mặt khác, bạn không cần cho họ là nói lời không chánh đáng, thế thì không chánh đáng cũng biến thành chánh đáng. Chánh tư duy tức là ý thanh tịnh, mà chánh ngữ là khẩu nghiệp thanh tịnh. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ 3. Chánh ngữ: Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý. Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùng danh dự của người khác.(Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
+ Các Kinh các Bồ Tát và Hiền Thánh vấn Phật - Vấn minh - Hỏi Phật
+ Phầm Bồ Tát Vấn Minh (Kinh Hoa Nghiêm): Giảng nói nhiều điều lấy ví dụ về các tánh hạnh của các Đại - Tứ đại;
a/ ...Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát hỏi Giác-Thủ Bồ-Tát: 'Phật-tử! Tâm-tánh vốn là một, sao lại thấy có các thứ sai khác?
Những là: Đến đường lành nẻo dữ, căn thân có đủ có thiếu, thọ sanh đồng và khác, đẹp-đẽ cùng xấu-xí, nào vui nào khổ, nghiệp không biết tâm, mà tâm cũng chẳng biết nghiệp, thọ không rõ báo mà báo cũng chẳng rõ thọ, tâm chẳng biết thọ mà thọ cũng không biết tâm, nhơn không biết duyên mà duyên cũng chẳng biết nhơn, trí chẳng biết cảnh mà cảnh cũng chẳng biết trí. Giác-Thủ Bồ-Tát nói kệ để đáp: Các đại và các Pháp đều hoạt động theo quy luật tự nhiên, chúng mà chẳng biết nhau;
b/ Tất cả chúng-sanh đồng có tứ-đại, không ngã, không ngã-sở, tại sao lại có những sự khác biệt, như khổ vui, tốt xấu, ưa trong chuộng ngoài, thọ ít hưởng nhiều, hoặc hiện báo, hoặc hậu báo. Nhưng trong pháp-giới vẫn không tốt xấu?
* Con người cùng thân xác Tứ đại, nhưng do Tiền nhân hậu quả nên có số phận khác nhau;
c/ Chỗ giác-ngộ của Đức Như-Lai chỉ là một pháp duy-nhứt, sao lại bảo là vô-lượng-pháp, hiện vô-lượng cõi, hóa vô-lượng-chúng, diễn vô-lượng âm, thị vô-lượng thân, biết vô-lượng tâm, hiện vô-lượng thần-thông, có thể chấn động khắp vô-lượng thế-giới, thị-hiện vô-lượng sự thù-thắng trang-nghiêm, hiển-.....
* Tất cả pháp là MỘT - Khi biểu lộ vô lượng, như Đất mọc muôn loài cây cỏ, hay muôn loài tu hội sống trên Đất mà Đất chẳng phân biệt; Như Nước muôn ngọn Sóng trào; Như Gió nhiều luồn lay chuyển muôn thứ; Như mây sấm, mưa khắp nơi nơi; Mặt Nhật Nguyệt có 1, chiếu sáng khắp
d/ Như-Lai phước-điền đồng một không sai khác, sao lại thấy chúng-sanh bố-thí được của quả-báo chẳng đồng?
Những là: Nhiều loại sắc, nhiều loại thân, nhiều loại căn, nhiều loại nhà, nhiều loại chủ, nhiều loại quyến thuộc, nhiều loại quan-chức, nhiều loại công-đức, nhiều loại trí-huệ. Nhưng đức Phật đối với họ, tâm Phật thường bình-đẳng, không có quan-niệm riêng khác: Như Đất 1 vị, không thân sơ, mọi loài ở riêng khác; Như Nước 1 vị, đồ đựng sai khác;
e/ Phật-giáo là một, chúng-sanh được thấy biết, cớ sao không liền đều dứt trừ tất cả phiền-não hệ-phược mà được xuất-ly? Nhưng nơi chúng-sanh, sắc, thọ, tưởng, hành và thức, năm uẩn, dục, sắc, vô-sắc, ba cõi, vô-minh, tham-ái đều không sai khác. Như thế thời Phật-giáo, đối với chúng-sanh, hoặc có lợi ích, hoặc không có lợi ích?
* Tu giải đãi ví như Lửa ít mà đốt ướt chóng tắt; Cọ cây lấy lửa mãi không thành lửa; Lửa to nước ít sao dập được; .....
g/ Nếu có chúng-sanh thọ-trì Chánh-pháp thời đều có thể dứt trừ tất cả phiền-não?
Nhưng cớ sao có người thọ-trì chánh-pháp lại tùy thế-lực của tham, sân, si, mạn, tùy thế-lực của phú, phẩn, hận, tật, xan, cuống, siểm ... xoay chuyển không rời nơi tâm. Người hay thọ-trì pháp, cớ sao lại ở trong tâm hành khởi các phiền-não? Đây nói về người Đa văn Giác ngộ mà chẳng tu hành...
* Như người không ăn chịu đói; Người giỏi Dược phương, chẳng trị nổi bệnh mình nếu chẳng tu đạo dưỡng sanh; Người điếc ca hát, người nghe mình không; Mù họa hình tượng, người thấy mình không;
h/ Trong phật-pháp, trí-huệ là trên tất cả, cớ sao với các chúng-sanh, đức Phật hoặc ca ngợi sự bố-thí, sự trì-giới, hoặc ca ngợi sự nhẫn-nhục, sự tinh-tấn, thiền-định, trí-huệ, từ-bi, hỉ xả ... , mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải-thoát, thành vô-lượng chánh-đẳng chánh-giác?
* Phật tùy thuyết: Tánh phận đều chẳng đồng; Tùy chỗ họ đáng thọ; Theo đó mà thuyết pháp; Vì kẻ tham, khuyên thí; Vì người lỗi, khen giới; Nhiều sân, thời khuyên nhẫn; Giải-đãi, thời khuyên siêng; Loạn tâm phải tu-định; Ngu-si trau trí-huệ; Bất-nhơn phải từ-mẫn; Giận-hại khuyên rèn bi; Lo rầu thời ngợi hỉ; Chấp trước lời khen xả; Tuần tự tu như vậy; Lần đủ các phật-pháp; Như trước xây nền móng - Rồi sau tạo nhà cửa - Thí và giới cũng vậy - Là gốc hạnh Bồ-Tát. .... (Nguồn: Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm BT Vấn Minh)
+ Người nữ: .... Thiện-nam-tử ! Như xưa kia ta nói kệ rằng [Phật nói với đối tượng có tánh Kiêu mạn]:
Tất cả sông ngòi, Quyết có xoáy cong. Tất cả rừng rậm, Quyết có cây cối. Tất cả người nữ, Quyết lòng dua vạy. Tất cả tự tại, Quyết hưởng an vui.
Lúc đó Văn-thù Sư-Lợi Bồ-Tát đến lạy chơn Phật mà nói kệ rằng:
Chẳng phải tất cả sông, Điều quyết có xoáy cong, Chẳng phải tất cả rừng, Quyết gọi là cây cối. Chẳng phải mọi người nữ, Quyết có lòng dua vạy. Tất cả hàng tự tại. Chẳng quyết đều hưởng vui.
Văn-Thù Sư-Lợi lại bạch : “ Kệ của đức Phật nói còn có nghĩa dư thừa, cúi mong đức Như-lai nói rõ nhơn duyên kia.
Thế-Tôn ! Vì nơi thế giới nầy, có bờ Câu-da-ni, nơi ấy có con sông Ta-bà-da ngay thẳng chẳng cong, như sợi dây, chạy thẳng vào biển Tây. Con sông ấy nơi trong những kinh khác Phật chưa từng nói, xin đức Như-Lai nhơn hội phương đẳng nầy, nói nghĩa còn dư thừa trong kinh A-Hàm, khiến các vị Bồ-Tát hiểu rõ nghĩa ấy.
Thế-Tôn ! Ví như có người, lúc trước thời biết quặng vàng, lúc sau lại chẳng biết vàng. Cũng vậy, đức Như-Lai biết rõ tất cả pháp mà lời nói ra còn có nghĩa dư thừa chẳng trọn. Dầu đức Như-Lai nói nghĩa thừa như vậy, nhưng cũng nên phương tiện giải rõ ý nghĩa kia.
Tất cả rừng rậm quyết là cây cối. Đây cũng chưa được trọn, vì các thứ cây vàng, bạc, lưu ly những cây bằng chất báu, cũng gọi là rừng.
Tất cả người nữ quyết có lòng dua vạy. Đây cũng chưa trọn, vì cũng có người nữ khéo giữ giới cấm trọn nên công đức, có lòng đại từ bi.
Tất cả tự tại quyết hưởng an vui. Đây cũng chưa trọn, ví như Thích-Ca Như-Lai là đấng pháp vương tự tại, chẳng ở trong phạm vi vô thường, chẳng thể diệt dứt là rốt ráo an vui. Hàng Phạm-Vương Đế-Thích, các trời, dầu đặng tự tại, nhưng đều là vô thường, chưa phải an vui. Nếu đặng thường trụ không biến đổi mới đặng gọi là tự tại, chính là Đại-thừa Đại-Niết-bàn.”
Phật bảo Văn-Thù Sư-lợi : “ Nay ông khéo đặng biện tài vô ngại.
Nầy Thiện-nam-tử ! Vả thôi, nên lóng nghe. Ví như trưởng giả mang bịnh khổ, y sĩ hiệp thuốc cao để điều trị. Vì tham, người bịnh muốn uống nhiều. Y sĩ bảo, nếu có thể tiêu hoá được thời nên uống nhiều, nay thân trưởng giả gầy yếu chẳng nên uống nhiều. Phải biết thuốc cao nầy gọi là cam lồ, cũng gọi là độc dược, nếu uống nhiều chẳng tiêu hóa được thời thành chất độc.
Nầy Thiện-nam-tử ! Nay ông chớ cho rằng lời nói của y sĩ là trái nghĩa mật lý, làm hư công hiệu của thuốc cao.
Nầy Thiện-nam-tử ! Cũng vậy, đức Như-Lai nhơn vua Ba-Tư -Nặc, Vương-tử, và hậu phi có lòng kiêu mạn, vì muốn điều phục họ nên thị hiện nói lời ấy cho họ sợ sệt, như y sĩ kia. Do đó mà ta nói kệ rằng: Tất cả sông ngòi, Quyết có xoáy cong, Tất cả rừng rậm, Quyết là cây cối. Tất cả người nữ, Quyết lòng dua vạy. Tất cả tự tại, Quyết hưởng an vui.
Nầy Văn-Thù Sư-Lợi ! Ông nên biết rằng lời nói của đức Như-Lai không có sai sót. Như cõi đất nầy, có thể làm cho lật úp, lời nói của Như-Lai trọn không sai sót. Do nghĩa nầy nên lời nói của đức Như-Lai tất cả có dư thừa.
Lúc đó đức Phật khen Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát : “ Lành thay ! Lành thay ! Nầy Thiện-nam-tử ! Từ lâu ông đã biết nghĩa như vậy. Vì thương xót tất cả, muốn làm cho chúng sanh đặng trí huệ, nên ông cố ý hỏi đức Như-Lai nghĩa của bài kệ như vậy “.
Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát lại ở nơi trước Phật mà nói bài kệ rằng :
Với lời nói của người, Tùy thuận chẳng chống trái, Cũng chẳng xem người khác, Làm hay là chẳng làm, Chỉ tự xem thân mình, Làm lành hay chẳng lành. (Nguồn: Phẩm Đại Chúng Sở Vấn thứ 17_Văn Thù BT hỏi Phật)
+ Thiên chức người phụ nữ: NỮ NHÂN LẤY “TƯƠNG PHU GIÁO TỬ” (GIÚP CHỒNG DẠY CON) LÀM THIÊN CHỨC. GIÚP CHỒNG THÀNH TỰU ĐỨC HẠNH, KHÉO DẠY BẢO CON CÁI, KHIẾN CHO BỌN HỌ ĐỀU THÀNH HIỀN NHÂN, THIỆN NHÂN, ĐẤY CHÍNH LÀ CHỨC PHẬN CỦA NỮ GIỚI!
Phàm người quy y Phật pháp, bất luận nam hay nữ, đều phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt lòng tà, giữ lòng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, yêu tiếc sanh mạng loài vật, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây phương. Chớ nên dùng công phu luyện đan vận khí của ngoại đạo để cầu trường sanh và sanh lên trời làm thần tiên cõi trời Đại La v.v… Hãy quyết định phát nguyện cầu khi lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Nếu tín nguyện chân thật, thiết tha, ai nấy đều có thể vãng sanh. Nếu được vãng sanh thì sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử........ (Trích sách Tại Gia Học Phật, Ấn Quang đại sư khai thị, Như Hòa chuyển ngữ_Theo Facebook Thiếu Niên Bảo Thân)
+ Người nữ trong gia tộc: “Người phụ nữ đọc kinh sách chính là cái đức của bản thân họ, của gia tộc và của cả quốc gia. Phụ nữ tu học Phật chính là đang đi trên con đường đúng đắn trong cuộc đời, học cách làm người mẹ tốt, con dâu tốt, người vợ tốt”.
Phúc báo của một người phụ nữ, không những ảnh hưởng đến cuộc đời chính họ, mà còn tác động đến chồng con và gia đình.
Kim cương thừa nhấn mạnh tới nguyên lý mẫu tính giác ngộ thông qua những hình ảnh Phật Mẫu Bát nhã, Phật Mẫu Tara, biểu trưng cho cội nguồn của vạn pháp. Cho nên được gọi là mẹ của hết thảy chư Phật.
Nếu coi gia tộc là một cây đại thụ, thì nữ giới chính là nguồn nước, cây mà thiếu nước ắt khô, cành lá cũng héo úa. (Nguồn: Phụ nữ tu Phật Pháp)
+ Phụ nữ trong xã hội: ... Đại sư Ấn Quang ở trong “Văn Sao” cật lực chủ trương: “Phụ nữ, sự nghiệp vĩ đại nhất của họ, cống hiến lớn nhất của họ đối với tất cả chúng sanh, đối với quốc gia xã hội, đối với dân tộc chính là chăm sóc con cái”. Toàn tâm toàn lực chăm sóc, bồi dưỡng chúng, con cái của bạn có tài đức, con cái của bạn hiểu biết, đây chính là rường cột của quốc gia, của xã hội. Làm thế nào để bồi dưỡng? Do mẹ bồi dưỡng giáo dục. Ấn Tổ nói, hiện nay sự nghiệp vĩ đại nhất của phụ nữ đã vứt bỏ rồi, họ không làm, họ tìm một công việc nhỏ ở trong xã hội, đây là điên đảo. Cho nên, tiêu chuẩn đúng, sai của các bậc thánh hiền quả thật không giống như người thế gian chúng ta, họ nhìn rất xa, nhìn rất sâu. (Nguồn: Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao)
+ Đau khổ riêng biệt của đàn bà: Đức Phật dạy "Có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông"
1. Người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con (Vạn sự phải tự thích nghi nơi bên nhà chồng)
2. Người đàn bà có kinh nguyệt.
3. Người đàn bà phải mang thai. (Cái đau đớn và đau tâm sinh lý trong lúc kinh kỳ, mang thai và sanh nở ...)
4. Một người đàn bà phải sanh con.
5. Người đàn bà hầu hạ đàn ông.
(Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Tương Ưng Nữ Nhân)
+ Sức mạnh người đàn bà với người đàn ông:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rừng Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
1. Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
2. Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
3-5.Ta không thấy một hương... một vị... một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương... vị... xúc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
6. Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
7-10. Ta không thấy một tiếng... một hương... một vị... một xúc nào khác. Này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như tiếng... hương... vị... xúc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà. (Nguồn: Phẩm Sắc- Kinh Tăng Chi Bộ)
+ Sức mạnh người đàn bà trong gia đình: Phần Ba - Phẩm Các Sức Mạnh
* Người đàn bà có đủ năm sức mạnh: Sắc đẹp - Tài sản - Bà con - Con trai - Giới hạnh (Thiếu một thì sức mạnh không đủ)
25. I. Không Sợ Hãi: Đầy đủ 5 sức mạnh - Người đàn bà sống ở nhà không có sợ hãi.
26. II. Ưc Chế (Người chồng): Đầy đủ 5 sức mạnh - Người đàn bà sống ở nhà, ức chế người chồng.
27. III. Chinh Phục: Đầy đủ năm sức mạnh - Người đàn bà sống ở nhà, chinh phục người chồng.
28. IV. Một - Đàn ông chinh phục đàn bà có đủ 5 sức mạnh: Do đầy đủ một sức mạnh? Sức mạnh của người làm chủ (isariyabalena) - Người đàn bà đã bị chinh phục bởi sức mạnh của người làm chủ, này các Tỷ-kheo, thời sức mạnh nhan sắc không che chở được, sức mạnh tài sản không che chở được, sức mạnh bà con không che chở được, sức mạnh con trai không che chở được, sức mạnh giới hạnh không che chở được. (Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Tương Ưng Nữ Nhân)
30. VI. Họ Đuổi Đi: .... Người đàn bà có đủ giới hạnh nhưng thiếu 1 trong 4 sức mạnh kia thì vẫn KHÔNG bị đuổi ra khỏi nhà. Nhưng có đủ 4 sức mạnh kia màd thiếu giới hạnh thì vẫn bị đuổi ra khỏi nhà (Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Tương Ưng Nữ Nhân)
+ Kinh Phật: Bồ Tát Quả Trách Sắc Dục - Dâm giới - Giới dâm
* Xem thêm: Đạo làm người thiện lành
+ So sánh Nam Nữ: Đời sống nhân loại - Pháp thuộc thế gian. Nhân loại đang tiến đến quyền bình đẳng qua thực hành dân chủ - Chiến thắng tập quán phân biệt đẳng cấp trọng nam, khinh nữ.
- Nam Nữ khả ý và không khả ý với nhau
1. Nữ không khả ý Nam: ... Đầy đủ năm đức tánh, người nữ nhân hoàn toàn không khả ý đối với người đàn ông: Nhan sắc - Tài sản - Giới hạnh - Lười biếng - Vô sinh con. Có đủ 5 là khả ý nhất.
2. Nam không khả ý Nữ: ... Đầy đủ năm đức tánh này, một người đàn ông hoàn toàn không khả ý đối với nữ nhân: ... Nhan sắc - Tài sản - Giới hạnh - Lười biếng - Vô sinh con. Có đủ 5 là khả ý nhất.
Trong kinh có nhiều điều Đức Phật dạy liên quan đến người đàn bà, rất đáng đọc và suy ngẫm. (Nguồn: Kinh tương ưn bộ)
+ Thân đàn ông và Thân đàn bà khác nhau:
- Đàn ông có 7 thứ báu: Có chí khí, dạo chơi không sợ hãi - Thường làm chủ, nắm quyền hành - Tự chủ, tự lập tài sản, lập nghiệp - An thân, giúp việc quan quyền, hiếu dưỡng cha mẹ - Thánh tri, hay quyết đoán sự việc - An bang giao lưu khắp cả, sự lý dung hòa - Định tánh, gần gũi người hiền, tôn thờ vị thánh.
- Đàn bà có 5 thứ lậu là chẳng đặng: Làm chủ Thân - Làm chủ trong nhà - Làm chủ người khác - Làm chủ súc vật - Làm vị Thánh. (Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ Bổn phận nam nữ: Đức Phật cảm nhận an lạc và hòa hài trong gia đình ở một mức rộng lớn là do người đàn bà. Nhiều trường hợp này đã được miêu tả rõ ràng trong các Kinh Anguttara Nikaya và Samyutta Nikaya.
a- Về phần người chồng:
- Người chồng phải trung thành, lịch sự và không khinh miệt.
- Bổn phận người chồng là trao quyền cho người vợ;
- Thỉnh thoảng cung cấp đồ trang sức cho vợ.
- Người đàn ông phải cải tiến và ổn định kỹ năng và tài thủ công nghệ và chuyên cần vào công việc của mình.
- Phải có khả năng tìm ra những phương tiện để duy trì và giữ vững gia đình.
- Bổn phận người đàn ông là tìm kiếm kiến thức không bao giờ chấm dứt.
b- Mặt khác, bổn phận của phụ nữ:
- Coi sóc nhà cửa và chồng.
- Phục vụ cha mẹ chồng trong tình thương yêu như chính cha mẹ mình.
- Phải trân trọng và kính nể thân quyến và bè bạn bên chồng như vậy bầu không khí thuận thảo và hạnh phúc sẽ được tạo nên trong gia đình khi mới về nhà chồng.
- Phải tìm hiểu bản tính người chồng, xác định hoạt động, tính nết, tâm tính của chồng, và trở nên luôn luôn hữu ích và cộng tác khi mới về nhà chồng.
- Nên lễ phép, tử tế và ý tứ trong sự giao tế với người làm.
- Phải dành dụm tiền kiếm được của người chồng và phải biết sự chi tiêu trong gia đình cần được tính toán và duy trì. Đó là lời khuyên có giá trị vô tận của Đức Phật.
+ Sống thuận thiên chức - Theo luân thường đạo lý:
-Thuận thiên chức: Người nam hợp chủ gia đình, ra ngoài làm kinh tế ...; Người nữ hợp nội trợ, nôi dạy con cái ...
- Theo luân thường đạo lý: Ngũ luân và ngũ thường (Nguồn: Đạo làm người thiện lành)
+ Thuyết âm dương: Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng tất cả những gì bên trong thái dương hệ đều là lưỡng nguyên (dual) và có cả hai mặt âm và dương trong chính nó: dương đối với hình thức riêng của nó, còn âm đối với lĩnh vực lớn hơn. Do đó mọi nguyên tử đều dương lẫn âm - chính một âm điện tử cũng là một nguyên tử. (LVLCK, 480)
* Âm dương động tịnh: Trong Kinh Kim Cang có nói : « Bậc Như Lai, chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai ». Như là tĩnh, Lai là động. Tr 42 (HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thuật ngữ Càn Khôn - Âm Dương:
- Âm Dương: Xuất phát từ Thái cực sinh lưỡng nghi - Gọi là âm dương, ký hiệu Dương một vạch liền, âm một vạch đứt. Đạo âm Dương có trước, sau đó mới đến đạo Càn Khôn
* Quy nạp Đạo âm dương: Vạn sự vạn vật trong trời đất đều không ngoài âm dương, cũng gọi là Đạo âm dương, biểu hiện ở Thiên đạo - Địa đạo - Nhân đạo, tùy theo trình độ phát triển Tâm thức/ Linh hồn tiến hóa mà giảng nói, tiếp thu mức hiểu biết tương ứng. Vậy nên các tôn giáo như Nho giáo - Đạo giáo - Phật giáo ... đều có thể giảng nói về chữ Đạo thâm sâu vi diệu này mãi không hết. Đức Lão Tử giảng nói trong Thanh Tịnh Kinh rất sâu xa về Ðại đạo vô hình: Sinh dục thiên địa - Vận hành nhật nguyệt (Sinh ra tiết hậu) - Trưởng dưỡng vạn vật - Thanh trược Động tịnh cực điểm thì hóa, là tánh tự nhiên (Một dương với một âm là đạo). Giáng bổn lưu mạt, nhi sanh vạn vật (Vạn vật vô tình, hữu tình cái gì cũng có cả)
* Thiên thanh địa trược, thiên động địa tĩnh: Trời thì thanh, khí thanh bốc lên tạo thành bầu trời; đất thì trược, khí trược chìm xuống thành ra đất. Trời thì động, có mặt trăng mặt trời vận hành, các sao di động, đều là động cả. Ðất thì tĩnh, núi sông, đất rộng, và nhà cửa đều ở trạng thái tĩnh.
* Nhật Nguyệt: Mặt trời là tinh hoa của yếu tố dương, mặt trăng là tinh hoa của âm, cả hai đều vận hành bất tuyệt trong quỹ đạo, do đó mới có bốn mùa là xuân, hạ, thu, đông, chi tiết hơn thì phân ra thành hai mươi bốn tiết, bẩy mươi hai hậu. Tiết và hậu đều phát sinh từ sự vận hành của mặt trăng và mặt trời vậy.
* Nam thanh nữ trược, nam động nữ tĩnh: Phái nam thì thuộc về thể thanh tịnh, phái nữ thì thuộc thể ô trược. Nam thì động, chủ về phía ngoài, gây dựng sự nghiệp, đi bôn ba khắp nơi. Nữ thì tĩnh, chủ về bên trong, giúp chồng dạy con, quản lý gia đình. (Nay thì nam nữ nghịch đạo). (Nguồn: Tóm lược HT Tuyên Hóa giảng TTK)
* Càn - Trời: "Trời" có nghĩa là gì? Không có nghĩa gì cả; bởi nếu có nghĩa thì đã không gọi là "trời"! Vì sao không có nghĩa? "Trời" lấy "tự nhiên" làm nghĩa; "tự nhiên" là ý nghĩa của "trời". (Nguồn: Kinh Địa Tạng - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Nhật - Nguyệt: 8. “Mặt Trăng là Trí, còn Mặt Trời là sự hiểu biết”. (II, 675 - Chú thích) (Trích dẫn Shankacharya). [Trích ghi chú trong Giáo Lý Bí Nhiệm]
+ Tiên thiên - Hậu thiên:
- Số tiên thiên: Đại biểu cho quá trình vũ trụ đang trong quá trình phân dã - Hòa hợp nên chưa hình thành hoàn chỉnh Thiên Địa và vạn vật. Theo đó, sự vận hành các chu kỳ vũ trụ như năm tháng ngày giờ ... đều gắn với con số (Khi chiêm đoán dùng số lập Quẻ tiên thiên, ví như theo ngày giờ, theo chữ, theo âm thanh ... đoán cát hung ...).
- Số hậu thiên: Đại biểu cho quá trình vũ trụ đã hòa hợp thành Sắc tướng vạn vật vô tình như cái bàn, cái nghế, cây hoa ..., sinh ra các chúng sinh hữu tình có Thân tướng hoạt động tương tục trong thế giới sắc tướng. Vạn vật vô tình đều có Số sinh tử, chúng sinh hữu tình cũng vậy, tất cả đều phải tuân theo quy luật bao trùm là "Thành - Trụ - Hoại - Không". (Khi dụng xem Quẻ, vi như 8 phương vị đã định tướng ứng 8 Quẻ. Người già trẻ hay vật vuông tròn quy nạp vào Quẻ tương ứng, kết hợp lại lập Quẻ dự đoán gọi là Quẻ có trước quy ra số => Theo hậu thiên)
- Càn Khôn bát quái: Xuất phát từ Kinh dịch, gồm tám Quẻ, mỗi quẻ ba hào do hào âm và hào dương kết hợp lại thành Quẻ. Quẻ CÀN do 3 hào dương chông lên nhau. Quẻ KHÔN do 3 hào âm chồng lên nhau. Càn - Khôn khi phối các quẻ phân âm dương thì hiểu như sau:
- Càn - Dương - Nam giới - Vật có tính dương: 3 hào của quẻ Càn bao hàm và tương ứng ba quẻ thuộc Dương là (i)- Hào thượng là quẻ Cấn; (ii)- Hào giữa là quả Khảm; (iii)- Hào dưới là quẻ Chấn
- Khôn - Âm - Nữ giới - Vật có tính âm: 3 hào của quẻ Khôn bao hàm và tương ứng ba Quẻ thuộc Âm là (i)- Hào thượng là quẻ Đoài; (ii)- Hào giữa là quẻ Ly; (iii)- Hào dưới là quẻ Tốn.
+ Sáng - Tối/ Âm - Dương đối đãi sinh Dao động: .... Tánh giác thì không đồng khác, nhưng một khi đã phân năng sở thì đồng khác thành rõ ràng. Đồng là hư không, khác là thế giới … Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mờ tối, đối đãi thành ra dao động ===> nên có phong luân nắm giữ thế giới.... có kim luân giữ gìn cõi nước ...có hỏa đại..... có thủy đại. Các đại, gọi chung là Khí thế gian. Phần hình thành Tướng thế gian thấy có sai khác là tùy vào tâm của chúng sinh.
Còn có không đại là phản ánh của Chơn không. Kiến đại là chỗ lưu lộ của Chân như, thuộc năm hiện lượng. Nó chính là phần Năng kiến nói trong luận Khởi Tín, là phần Kiến tinh nói trong kinh Lăng Nghiêm. Thức đại là để biết do đâu có sự phân biệt cảnh... [Các Đại ..._Kinh Thủ Lăng Nghiêm]
+ Ngũ hành: Mộc và Hỏa là khí, là động. Thủy và Kim là hình tướng, là Tĩnh. Có phân mức độ động tĩnh khác nhau. Thiên can là khí - Là dương - Là động; Địa chi là âm, là Tĩnh.
+ Xem thêm: Nguyệt tinh quân của Phàm ngã - 1
và phần hai: Nguyệt tinh quân của Phàm ngã - 2
+ Các hệ thống trong cơ thể:
1. Hệ tuần hoàn. (Tim, Máu, mạch máu - Hệ thống Bạch huyết gồm tuyến ức, A my dan, Lá lách ... giúp lưu thông máu)
2. Hệ hô hấp. (mũi, thanh quản, hầu, khí quản, phế quản và phổi ...)
3. Hệ thống tiêu hóa (miệng, thực quản, dạ dày, gan, ruột non, ruột già, túi mật, tuyến tụy, hậu môn ...)
4. Hệ thống xương. ...
5. Hệ vận động/ hệ cơ (Cơ tim, Cơ xương, cơ trơn), xương, khớp ...
6. Hệ thần kinh (Não bộ và tủy sống. ...)
7. Hệ thống bài tiết. (thận, ống dẫn nước tiểu, bàng quang..., lọc và đào thải ra ngoài, duy trì nước đầy đủ )
8. Hệ nội tiết.( tuyến yên, tuyến giáp, tuyến trên thận, tuyến tùng và các tuyến sinh dục ..., cân bằng hoạt động sinh lý)
9. Hệ vỏ bọc: da, tóc, mỡ, và Móng (động vật).
10. Hệ sinh dục: gồm các cơ quan sinh dục, như là buồng trứng, vòi tử cung, tử cung, âm đạo, tuyến vú, tinh hoàn, ống dẫn tinh, túi tinh và tuyến tiền liệt
+ Chi tiết:
1- Hệ tuần hoàn
Hệ thống tuần hoàn là một mạng lưới cơ thể toàn máu, mạch máu, và bạch huyết. Được cung cấp bởi tim, đó là hệ thống phân phối oxy, hormone và các chất dinh dưỡng thiết yếu đến các cơ quan, giúp nó hoạt động tốt.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống tuần hoàn: Tim. Phổi. Óc. Thận.
2- Hệ hô hấp
Mỗi mô trong cơ thể đều cần oxy để hoạt động. Hệ thống hô hấp, trong đó bao gồm đường dẫn khí, mạch phổi, phổi, và cơ, cung cấp oxy máu đến các mô cơ thể và loại bỏ khí thải.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống hô hấp: Mũi. Phổi. Hầu họng. Phế quản.
3- Hệ thống tiêu hóa
Hệ thống tiêu hóa giúp cơ thể chuyển hóa thức ăn thành các chất dinh dưỡng có thể sử dụng thông qua một quá trình phân hủy hóa học. Điều này xảy ra thông qua một hệ thống các cơ quan giống như ống, bao gồm thực quản, dạ dày, gan, tuyến tụy và ruột.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống tiêu hóa: Miệng. Lưỡi. Răng. Cổ họng. Cơ hoành. Dạ dày. Lách. Gan. Túi mật. Tuyến tụy. Ruột non.
4- Hệ thống cơ - xương
Hệ thống xương cho cơ thể khuôn khổ cơ bản của nó, xây dựng cấu trúc, bảo vệ, và chuyển động. 206 xương trong cơ thể cũng tạo ra các tế bào máu, lưu trữ các khoáng chất quan trọng và giải phóng các hormone cần thiết cho sự sống.
Hệ cơ
Hệ thống cơ bao gồm tổng số cơ khắp cơ thể theo bộ xương, duy trì tư thế ổn định, và tạo ra nhiệt thông qua sự trao đổi chất của tế bào. Con người có ba loại cơ bắp.
5- Hệ thần kinh
Hệ thống thần kinh cho phép chúng ta nhận thức, hiểu và đáp ứng với thế giới xung quanh chúng ta. Hệ thống thần kinh cũng vận hành các chức năng sinh lý thiết yếu của cơ thể, chẳng hạn như thở và tiêu hóa.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống thần kinh: Não. Tủy sống. Màng não. Màng cứng.
6- Hệ thống sinh sản (nữ)
Hệ thống sinh sản nữ bao gồm tất cả các bộ phận phụ nữ cần thiết để thụ thai và sinh một đứa trẻ.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống sinh sản nữ: Âm đạo. Cổ tử cung. Buồng trứng. Tử cung.
Hệ thống sinh sản (nam)
Hệ thống sinh sản nam bao gồm một loạt các cơ quan sử dụng trong quan hệ tình dục và sinh sản. Các cơ quan chính là tuyến sinh dục, sản xuất ra tinh trùng. Ở nam giới, đây là những tinh hoàn.
Các bộ phận cơ thể trong hệ thống sinh sản nam giới: Dương vật. Tinh hoàn. Mào tinh hoàn. Ống dẫn tinh.
* Xem nguồn: Hệ thống trong cơ thể
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12)
Dương ...... Âm
Hỏa và Khí ...... Nước và Đất
Các dấu hiệu số lẻ ..... Các dấu hiệu số chẵn
Tích cực, tự thể hiện ..... Thụ động, tiếp nhận
Năng lượng dương ..... Năng lượng âm
+ Hành thủy Cung Hoàng đạo: Cự Giải, Hổ Cáp và Song Ngư; (Xem Dấu hiệu Hoàng Đạo - Hành - Tứ Đại)
+ 3 Cung Hành Thủy với 3 biểu tượng: Con Cua (Bắc Giải) - Hổ Cáp (Bọ Cạp) - Con Cá (Song Ngư). 3 Cung (Nước) đúc kết về sự phát triển của con người - Phàm ngã, minh họa về Luật Nhân Quả (CTHNM, 359)
+ CÁC ĐẠI VÀ LUÂN XA: Một manh mối cho ý nghĩa của các thuật ngữ này được tìm thấy trong việc công nhận sự thực huyền bí sau đây.
- Nơi mà nước và đất gặp nhau là bí huyệt đan điền (solar plexus centre).
- Nơi mà nước, đất và không khí gặp nhau là ở trong đầu.
- Đất là biểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài.
- Nước là biểu tượng của bản chất tình cảm.
Chính là từ bí huyệt lớn của đời sống phàm-ngã, tức huyệt đan điền, mà đời sống thường bị chế ngự và sự quản lý được thực hiện. Khi trung tâm điều khiển nằm dưới cơ hoành thì không huyền thuật nào có thể xảy ra. Sinh hồn (animal soul) kiểm soát và hồn thiêng (spiritual soul) tất nhiên không hoạt động.
- Không khí là biểu tượng của sự sống cao siêu, nơi đó nguyên khí Christ thống trị, nơi đó sự tự do được trải nghiệm và linh hồn đạt đến sự biểu lộ đầy đủ. Nó (Không khí) là biểu tượng của cõi bồ-đề, trong khi nước là biểu tượng của cõi tình cảm. (LVHLT, 250)
+ Hành Thủy - Nguyên tố thủy: Để giúp ích những người chưa quen với các thuật ngữ khoa Chiêm tinh, ở đây tôi xin nói rõ nguyên tố Thủy chế ngự cõi tình cảm hay cảm dục, mà huyền thuật nghi lễ có liên quan mật thiết. Từ đó, Hội Theosophia, hầu như vô tình đã đi vào một chu kỳ ngắn cần cách hoạt động kết hợp với nguyên tố Thủy hay yếu tố tình cảm này, mà cũng lạ là nó đã chế ngự tất cả các nguyên tố khác trong lá số tử vi thành lập hội vào tháng 11/1875. (Nguồn: Ngũ hành - Các vị Thánh sư - Tr5)
+ Thủy đại - Thần thủy: Giảng giải: ‘’Cai quản thủy tộc ở cung rồng.’’ Thủy thần thì cai quản chúng sinh trong biển, cho nên nói ‘’Ðại dương biển lớn nổi ba đào.’’ Ở trong nước thường đi du ngoạn trong nước, xem cá bơi đi bơi lại, có ăn, không có ăn, đều rất sung sướng.
‘’Tưới khắp thấm nhuần dưỡng vạn vật.’’ Hoa cỏ, thảo mộc, cây cối ngũ cốc đều cần nước, đều nương nước mà sống.
‘’Mênh mông ràn rụa diễn hồng mông.’’ Nếu nước lớn thì âm thanh lớn. Gia Tô giáo nói hồng thủy làm chết người thế gian, đều vì tin thần giả, không tin thần thiệt, cho nên dùng nước làm chết bạn, nếu thật là như thế, thì tin thần giả tức là phạm tội, vậy kẻ giết người, phóng lửa sao không làm chết họ đi, tin thần ngược lại có tội, nói thẳng thật là vô lý. ...
131. Nan giá na xá ni.
Tên của Thủy Thần diệu vô cùng
Nhâm quý tật dịch tấu kỳ công
Hay trừ nạn sinh già bệnh chết
Tất cả tai ương hóa thành bụi.
Giảng giải: Câu Chú trên đây là tên của Thủy Thần. ‘’Danh tự Thủy Thần diệu vô cùng.’’ Bạn niệm tên của Thủy Thần thì sự việc rất áo diệu sẽ hiện ra. Việc gì?
‘’Nhâm quý tật dịch tấu kỳ công’’. Nước độc, bệnh về nước đều được giải trừ. ‘’Hay trừ nạn sinh già bệnh chết.’’ Nạn sinh già bệnh chết đều có thể giải trừ.
‘’Tất cả tai ương hóa thành bụi.’’ Bất cứ tai nạn gì, cũng đều hóa giải được, giống như tán thành bụi. (Nguồn: Giảng Chú Lăng Nghiêm-Tr301-Google - Drive)
+ Thủy đại thắng diệu nhất: .... Lại giải thoát gọi là thủy-đại. Ví như thủy-đại thắng hơn các đại khác, hay nhuận hột giống của tất cả cỏ cây. Cũng vậy, giải thoát hay nhuận tất cả loài có sự sanh sống. Giải thoát như vậy tức là Như-Lai. (Nguồn: Kinh Đại Bát Niết Bàn - Chương 7)
+ Tĩnh cực quang thông đạt - Ngồi thiền thấy ánh quang: Ngồi thiền tĩnh đến cực điểm thì trí huệ quang minh liền hiện tiền, nhưng quang minh không phải là chân, bạn nhìn thấy quang minh đó bất quá thì chỉ là bóng trăng mà thôi, không nên cho đó là chân. Chúng ta tu hành có chút cảm ứng hoặc chút cảnh giới, không nên được nhỏ cho là đủ, phải tiếp tục lỗ lực, từ từ, mỗi ngày định thời ngồi thiền tập tĩnh; Ngày ngày dụng công, lâu dần công phu thuần thục thì thượng lộ, một khi công phu thượng lộ, thì thời thời khắc khắc luôn luôn nghĩ muốn dụng công.
Tâm thanh thủy hiện nguyệt - Ý định thiên vô vân: Tâm thanh tịnh thì như mặt trăng hiện trong nước, Ý định thì như bầu trời không mây.
Tâm bình bách nạn tán - Ý định vạn sự cát: Tâm yên tĩnh thì trăm nạn tiêu trừ - Ý định thì vạn sự đều tốt lành.
Bình thường không cần giảng nhiều. Đầu lưỡi uốn cong lên hàm trên, có nước dãi thì nuốt vào, đó là nước nhà mình, cũng gọi là nước cam lồ, thường uống nước cam lồ, sẽ tiêu trừ bách bệnh, thân thể tự nhiên kiện khang. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr 138 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Nước Chú Đại Bi chữa bệnh: HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG KHAI THỊ DÁN CHÚ ĐẠI BI LÊN BÌNH NƯỚC CỐC NƯỚC UỐNG TRỊ BỆNH.
Bản thân chúng ta uống nước, bây giờ chúng ta biết rằng nước cùng với vạn vật đều có kiến văn giác tri, đều có thể hiểu được ý của con người. Cho nên bạn gửi cho nó một tín hiệu tốt thực sự nó có thể trở nên rất tốt rất đẹp. Đây là tiến sĩ Giang Bản của Nhật Bản đã làm thí nghiệm cho chúng ta; Ví dụ như bình nước chúng ta uống hàng ngày, bạn dán chữ “cảm ơn” lên mặt nước, dán lên từ “yêu”, chất lượng của nước này sẽ đặc biệt rất tốt; Nếu làm ngược lại, dán lên “tôi ghét bạn, tôi hận bạn” thì chất lượng nước sẽ thực sự không tốt, thậm chí uống thường xuyên có thể sinh bệnh.
Sau đó bạn liền hiểu được tại sao nước Đại bi có thể trị bệnh, chính là đạo lý này vậy. Bây giờ chúng ta hiểu được nước có kiến văn giác tri, chúng ta dán chú Đại Bi lên cốc nước, đó chính là nước Đại Bi. Cho nên bây giờ tôi dạy cách cho mọi người: chú Đại Bi in nhỏ lại lên giấy dán, bạn dán lên bình nước, dán lên cốc nước, đó chính là nước Đại Bi. Khi nào dán lên rồi, thì sau đó một tiếng hãy uống, điều này thực sự có tác dụng, bạn không thể niệm cũng không sao, dán lên là được rồi, nước có thể nhìn thấy. Cho nên phương pháp này rất tốt. Tôi bảo họ làm rất lâu rồi nhưng vẫn chưa làm được, tôi lại phải đi giục thêm nữa, giống như bình nước nhà các bạn đều có thể dán, sau khi dán lên, khi chúng ta sử dụng nước phải cung kính, đừng lấy một cách tùy tiện, khi cầm cốc uống nước, cũng phải cẩn thận, đừng nên tùy ý, cung kính thì mới có công đức. (Nguồn: Ân Sư Tịnh Không khai thị.)
+ Nước thanh tịnh chữa bệnh: ... 13. Nước biểu thị cái tâm, tâm thanh tịnh, nước thanh tịnh. Nước bình lặng, biểu thị sự thanh tịnh, bình đẳng. Thấy một chén nước, bèn nghĩ xem cái tâm có giống nước hay không, nó biểu thị pháp. Tuyệt đối chẳng phải nước đã cúng dường Phật ấy uống vào có thể trị bách bệnh, [thế nhưng hiểu theo chân nghĩa thì] thật sự là trị bách bệnh! Chẳng phải là uống vào trị bách bệnh, mà quý vị hiểu ý nghĩa của nó: Tâm địa quý vị thanh tịnh, bình đẳng thì bệnh gì cũng đều chẳng có! Bệnh từ đâu ra? Tâm quý vị chẳng thanh tịnh thì mới sinh bệnh, tâm đã thanh tịnh, lẽ đâu sinh bệnh? Tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, sẽ không thể sinh bệnh. Nước biểu thị thanh tịnh và bình đẳng. (Nguồn: HT Tịnh Không khai thị)
+ Người đần độn - Trí nhớ kém tu Quán hơi thở - Pháp tu viên thông Tị Căn thành A La Hán:
Châu-lợi Bàn-đặc-ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật và bạch Phật rằng - Giảng giải:
Châu-lợi Bàn-đặc-ca rất là đần độn. Do tu không nhớ gì nên muốn tự vẫn. Đức Phật biết liền khuyên:
Đừng chết! Thần cây bảo,–Đừng phí sinh mạng mình. Đó là lí do tại sao ông quá đần độn. Ông hãy cố gắng sửa đổi lỗi lầm của mình trong quá khứ. Khi đã thay đổi, mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp.
Thế chuyện nhân quả từ quá khứ khiến cho tôi bị u mê đời nầy là sao? Bàn-đặc-ca hỏi. Đức Phật bảo:
– Trong một đời trước, ông là một pháp sư tinh thông tam tạng có 500 đệ tử. Ngày nào họ cũng muốn học với ông nhưng ông không muốn dạy họ. Ông không muốn giảng kinh thuyết pháp, dù họ cầu thỉnh. Họ phải quỳ trước ông 3 ngày ba đêm mà ông vẫn không nói cho họ một lời. Vì ông không chịu giảng pháp, nên ông trở nên đần độn đến mức không nhớ nỗi một dòng kệ.
Khi nghe như vậy, Bàn-đặc-ca rất xấu hổ. “Tại sao mình tệ đến mức như vậy?” Điều ấy được gọi là bỏn xẻn pháp (stingy with the dharma). Quý vị nên nhớ kỹ điều nầy. Sau khi quý vị nghe tôi giảng pháp, đến đâu quý vị cũng phải nên giảng giải lại cho mọi người cùng hiểu. Đừng bao giờ nuôi dưỡng thái độ, “Ta sẽ không giảng giải Phật pháp cho các người, nếu các người hiểu ra, ta sẽ ra sao đây?” Đừng có đố kỵ với sự hiểu biết Phật pháp của người khác. Quý vị càng đố kỵ bao nhiêu, thì mình càng trở nên kém hiểu biết. Bàn-đặc-ca đã bỏn xẻn pháp, nên quả báo là ông bị ngu đần. Nhưng vì ông còn nhiều thiện căn, nên ông được sinh vào thời gặp Đức Phật.
Đức Phật nói cho Bàn-đặc-ca biết rõ nguyên nhân trong quá khứ rồi, ngài liền cầm cái chổi lên và hỏi:
Ông biết cái gì đây không?
Thưa, cái chổi.
Ông có nhớ được chăng?
Thưa, nhớ được.
Rồi Đức Phật dạy ông:
– Hãy lặp lại suốt ngày chữ nầy: ‘Chổi, chổi, chổi.’
Bàn-đặc-ca lặp đi lặp lại chữ chổi liền vài tuần lễ. Đức Phật bảo ông dừng lại và hỏi
– Như thế nào, ông có nhớ được chăng?
Bàn-đặc-ca trả lời:
Bạch Thế tôn, con nhớ được.
Được rồi! Như Lai sẽ đổi chữ ấy thành ‘quét sạch.’ Hãy cố gắng học thuộc.
Bàn-đặc-ca liền học, ‘quét sạch, quét sạch, quét sạch.’ Và ông đã dùng cái chổi vô hình đó quét sạch những phiền não nhiễm ô của ông. Điều ông đang làm là quét sạch tính bỏn xẻn pháp của chính mình. Quý vị hãy ghi nhớ điều nầy. Hãy nhớ những đạo lý tôi đã giảng trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm và giảng giải cho nhiều người cùng nghe. Nếu quý vị làm việc đó, trong đời sau quý vị sẽ được trí huệ và thông minh. Nếu quý vị muốn thực hành hạnh pháp thí, quý vị sẽ không bao giờ bị ngu đần.
Kinh văn:
Con không có khả năng trì tụng, không có khiếu đa văn. Khi mới được gặp Phật, nghe pháp xuất gia, con cố nhớ một câu kệ của Như Lai, nhưng trong 100 ngày, nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước.
Giảng giải:
Bàn-đặc-ca trình bày lại những điều mình đã trải qua. Con không có khả năng trì tụng, không có khiếu đa văn. A-nan không bao giờ quên điều gì khi đã đọc qua. Ông có khả năng ghi nhớ rất sâu và rất thông minh. Nhưng con, Bàn-đặc-ca, thì quá chậm lụt. Khi mới được gặp Phật, nghe pháp xuất gia. Dù con đã xuất gia, khi con cố nhớ một câu kệ của Như Lai–dòng kệ đó là “Thân ngữ ý nghiệp bất tác ác,” –nhưng trong 100 ngày, nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước. Con cố gắng nhớ được vài chữ đầu lại quên mấy chứ sau. Khi con nhớ được mấy chữ sau lại quên mấy chữ đầu. Thế nên suốt thời gian dài, con không bao giờ thuộc được dù chỉ một câu kệ. Con thật là đần độn.
Bàn-đặc-ca chậm lụt là vì trong quá khứ ông đã từ chối giảng kinh và thuyết pháp cho mọi người. Nay bất kỳ quý vị ở đâu, cũng nên cố gắng giúp cho mọi người đọc kinh hoặc giảng nói Phật để giáo hoá cho mọi chúng sinh. Quý vị làm việc nầy như là sứ mệnh của chính mình. Đừng có tâm bỏn xẻn pháp.
Tôi đã nói chuyện nầy rồi, nhưng muốn lặp lại, Bàn-đặc-ca phải chịu quả báo đần độn vì ông ta không tu hạnh bố thí pháp– ông ta bỏn xẻn pháp. Việc giảng kinh thuyết pháp của tôi hiện nay chính là đang bố thí pháp. Tại sao tôi giảng pháp cho quý vị? Vì nếu tôi hiểu Phật pháp mà không chịu giải thích cho quý vị thì trong đời sau, thậm chí tôi còn không được như Bàn-đặc-ca; ông ta không nhớ được một dòng kệ trong suốt 100 ngày, còn tôi thì có lẽ không nhớ được một chữ trong suốt cả năm. Đó là lí do tôi không nhận tiền khi giảng pháp. ...Từ rất lâu, tôi được nghe một vị pháp sư dạy rằng nếu người nào không tu tập hành bố thí pháp thì quả báo sẽ chịu ngu si, tôi không bao giờ quên điều ấy.
Việc nầy nhắc tôi nhớ lại một chuyện dân gian (public record). Thời nọ có một vị quan, có lẽ đến chức đầu tỉnh, là người rất sùng kính kinh Pháp Hoa. Nhưng có điều rất lạ, trong bộ kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển, ông ta nhớ rất kỹ 3 quyển rưỡi đầu. Ông ta ghi nhớ ngay khi mình đọc kinh xong. Nhưng 3 quyển rưỡi sau thì ông ta không thể nhớ được điều gì cả, dù ông có đọc nhiều lần đi nữa. Ông không thể nào hiểu nổi sao lại như vậy, thế nên ông đến hỏi một vị cao tăng của thời ấy, vốn là một vị thiện tri thức có đạo nhãn và lục thông.
Khi vị quan đầu tỉnh đến, Lão thiền sư ra tiếp, và vị quan trình bày vấn đề. “Trong các kinh Phật, kinh Pháp Hoa thu hút tôi nhất. Tôi rất quý kinh nầy, nhưng tôi chỉ nhớ được 3 quyển rưỡi đầu. Lý do tại sao như vậy?”
Lão thiền sư đáp, “Ồ! Nay ông muốn biết. Được rồi, nhưng khi tôi nói thì ông đừng sửng sốt hoặc không tin.”
thưa, “Xin vâng. Nguyện sẽ tin những lời Thầy dạy.”
Lão thiền sư giải thích, “Nguyên nhân đời nầy ông làm quan là do trong đời trước ông đã làm nhiều công đức. Trong quá khứ ông từng làm thân bò, và ông giúp cày ruộng cho chùa. Từ đó ông đã cúng dường cho Tam bảo, và ông đã có công đức. Nguyên nhân ông chỉ nhớ được 3 quyển rưỡi đầu của kinh Pháp Hoa là như sau: Theo lệ thường, trong chùa phơi kinh vào mỗi ngày mồng sáu tháng 6 trong năm để phòng mối mọt. Vào lúc ấy, ông tiếp xúc được với kinh Pháp Hoa và ông chỉ ngửi được bộ thứ nhất, chưa tới bộ thứ hai. Đó là lí do tại sao ông chỉ thuộc 3 quyển rưỡi đầu cuốn kinh Pháp Hoa trong đời nầy.”
Vị quan đảnh lễ Lão thiền sư, sau đó ông càng tinh tấn hơn trong việc tham cứu kinh Pháp Hoa.
Một con bò ngửi kinh mà được thông minh đến như vậy, trong khi Bàn-đặc-ca từ chối giảng pháp mà trở nên bị ngu si. Nếu quý vị biết so sánh hai chuyện trên đây và chiêm nghiệm thật sâu, cũng đủ để biết những gì mình sẽ nếm trải. Thực vậy, tôi mong rằng quý vị đừng có thử, vì bị chìm đắm như Bàn-đặc-ca sẽ khổ vô cùng. Mặt khác, chúng ta không nên xem thường Bàn-đặc-ca. Dù ông ta chậm lụt, nhưng đã được giác ngộ sau khi niệm mãi “chổi” và ‘quét sạch’ trong một thời gian ngắn. Chúng ta có thể thông minh hơn Bàn-đặc-ca, nhưng chúng ta không được giác ngộ nhanh như ông ta. Thế nên về mặt nầy, chúng ta không được như Bàn-đặc-ca.
Kinh văn:
Đức Phật thương con ngu muội, dạy con pháp an cư, điều hoà hơi thở ra vào. Con quán sát hơi thở của con đến chỗ rốt ráo, từng chi tiết của các hạnh sinh, trụ, dị, diệt trong từng sát-na.
Giảng giải:
Đức Phật thương con ngu muội. Đức Phật thấy thương xót con vì con chậm lụt, nên ngài dạy cho con đọc chữ “chổi” và ‘quét sạch.’ Dạy con pháp an cư, điều hoà hơi thở ra vào. Pháp tu nầy là duy trì hơi thở vào trong khi đếm từ 1 đến 10, rồi duy trì ý thức khi thở ra và đếm từ 1 đến 10. Bất luận dù ai có đần độn đến đâu cũng có thể đếm từ 1 đến 10. Một hơi thở vào và một hơi thở ra được đếm là 1. Con quán sát hơi thở của con đến chỗ rốt ráo, từng chi tiết của các hạnh sinh, trụ, dị, diệt trong từng sát-na. Trong một hơi thở, thời điểm mà quý vị bắt đầu thở ra được gọi là sinh, và tiến trình tiếp theo được kể là một hơi thở kế tiếp. Tông Thiên thai chia việc quán sát nầy thành sáu giai đoạn – sáu phương pháp quán sát hơi thở. Chúng ta sẽ không đi sâu vào chi tiết việc nầy ở đây. Chỉ nên biết rõ rằng khi bắt đầu thở ra được gọi là sinh, hơi thở tiếp tục được gọi là trụ, khi hơi thở đến gần dứt gọi là dị, khi hơi thở đến cuối gọi là diệt. Điều nầy diễn biến trong từng sát-na. Trong một niệm tưởng có 90 sát-na. Trong mỗi sát-na có 900 lần sinh diệt. Những chi tiết nầy mắt thường không thể nào thấy được.
Kinh văn:
Tâm con bỗng nhiên đạt được đại vô ngại, cho đến hết sạch các lậu hoặc, thành A-la-hán. Trước pháp toà của Phật, con được ấn chứng là bậc vô học.
Giảng giải:
Lúc ấy, con quán sát hơi thở của mình cho đến khi đạt được cảnh giới vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả tướng. Con thở vào thở ra một cách không cần dụng công và tâm con được hợp thành một. Con không còn niệm tưởng phân biệt và tâm phan duyên. Mọi niệm tưởng đều dừng bặt. Tâm con bỗng nhiên đạt được đại vô ngại. Ồ! Con đã quay trở lại và đến được cội nguồn! “Bỗng nhiên” ở đây là chỉ cho sự giác ngộ. Giông như cánh cửa gian phòng bỗng dưng bị bật tung ra. Không khí trong phòng trở nên tức thời thanh tịnh. Chẳng còn không khí ẩm mốc. Quý vị có để ý rằng dù có nhiều người trong giảng đường này nhưng không vẫn thanh tịnh? Nếu quý vị hỏi tôi tại sao, sẽ rất khó trả lời cho quý vị. Chỉ nói rằng trong một bồ-đề đạo tràng, có sự thanh tịnh bất khả tư nghì cho đến cả bầu không khí.
Khi quý vị đến nghe giảng pháp, điều cần nhất là phải vô cùng cung kính. Đó là vì chư Phật và Bồ-tát sẽ nói rằng, “Ông là đồ trứng thối! Tại sao ông đến đạo tràng mà lại hành xử như vậy?” Mọi người nên kính trọng nhau và khiêm tốn, hoà hợp với nhau, Đừng tự mãn hay tự cao. Đừng nói nghiệp chướng câu như thế nầy, “Hãy xem ông đần độn đến mức nào! Tôi giỏi hơn ông nhiều.” Ngay khi quý vị nghĩ như vậy, là mình đã tự làm ngu muội mình đi. Đừng xem thường người khác. Những người trong pháp hội nầy đều là cha mẹ trong quá khứ của mình và là chư Phật trong tương lai. Nếu quý vị xem thường những người nầy, là chẳng khác gì xem thường Phật. Thế nên khi quý vị tu học Phật pháp, quý vị nên nhìn mọi người không phân biệt.
Trong bồ-đề đạo tràng, quý vị phải giữ quy luật. Khi đang nghe kinh, không được đứng dậy và đi lang thang. Đừng ngồi dựa ngửa ra hoặc dựa vào vật gì khác. Hãy ngồi thật ngay thẳng. Đừng có thái độ lười biếng trễ nãi. Thậm chí dù quý vị là một con trùng lười biếng, cũng không nên làm như vậy. Quý vị nên phát huy chính mình thành một người nghiêm túc. Cũng vậy, đừng ngủ khi nghe giảng kinh, nếu như vậy, trong tương lai , quý vị sẽ giống như A-na-luật-đà.
Đoạn kinh tiếp tục: cho đến hết sạch các lậu hoặc. Sau khi chứng ngộ, A-na-luật-đà dần dần đạt được quả vị vô lậu. Và thành A-la-hán. A-na-luật-đà chứng được qủa vị thứ tư của hàng A-la-hán. Trước pháp toà của Phật, con được ấn chứng là bậc vô học. Con luôn luôn theo Phật và ngồi dưới chân Phật để nghe giảng kinh. Đức Phật đã ấn chứng cho con và nói rằng con cũng đã đạt được quý vị thứ tư của hàng A-la-hán.
Một người đần độn như vậy mà cũng chứng được quả vị thứ tư của hàng A-la-hán. Còn chúng ta thì quá thông minh nhưng chưa chứng được đến sơ quả. Quý vị có thấy hổ thẹn không?
Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, như điều chứng được của con, quay hơi thở trở về với tánh không, đó là phương pháp hay nhất. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Hơi thở vô và hơi thở ra: Nhiều nội dung chi tiết cần đọc tại chuyên mục Hơi thở vô và hơi thở ra trong Kinh. Mời xem (Nguồn: Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm - Tương ưng Giác Chi)
+ Nguyên nhân của trí nhớ kém - Không nhớ:
55. V. Sangàrava (S.v,121)....
3) -- Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật (mantà) mà tôi học thuộc lòng lâu ngày (sajjhàyakatà:đọc tụng) lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật mà tôi không học thuộc lòng lâu ngày, lại nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật được học thuộc lòng?
I- Không thể nhớ
4) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham (kàmaràga) xâm chiếm, bị dục tham chi phối và không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng, và ở đây một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
5) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị sân xâm chiếm, bị sân chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi sân đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm... Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
6) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên chi phối, không như thật biết sự xuất ly ra khỏi hôn trầm thụy miên đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
7) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm, bị trạo hối chi phối, không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo hối đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
8) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy sự lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy sự lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
9) Đây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng.
II- Trí nhớ tốt
10) -- Này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm, không bị dục tham chi phối, lại như thật rõ biết sự xuất ly của dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không trộn lẫn với thuốc gôm lắc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh, hay màu vàng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị dục tham xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
11) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không được lửa đun sôi, không sôi lên sùng sục, không sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị sân xâm chiếm, không bị sân chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
12) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối... còn nó gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, không bị hôn trầm thụy miên chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
13) Lại nữa, này Bà-la-môn, khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước không bị gió thổi, không bị dao động, không bị chấn động, không bị nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị trạo hối xâm chiếm, không bị trạo hối chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
14) Lại nữa, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối... còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trừng tịnh, trong sáng, không bị khuấy động, đặt giữa ánh sáng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm bóng mặt của mình, có thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm không bị nghi hoặc xâm chiếm, không bị nghi hoặc chi phối và như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, như thật biết và thấy lợi ích cả hai. Cho nên, các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày được nhớ đến, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
15) Đây là nhân, đây là duyên, này Bà-la-môn, có khi các chú thuật không được học thuộc lòng lâu ngày lại có thể nhớ đến được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng.
16) Có bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không chướng ngại, không triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát... Xả giác chi, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Bảy giác chi này, này Bà-la-môn, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.
17) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Nguồn: Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm - Tương ưng Giác Chi)
+ Người trí luôn nhớ nghĩ: Bực trí giả có 12 điều luôn luôn phải nghĩ tới không bao giờ lãng quên: Một là khi gà gáy sáng, đã nghĩ tới tội lỗi mà lo làm việc phúc đức để đền bù lại; Hai là nhớ việc hầu hạ tôn thân; Ba là gặp việc gì phải suy nghĩ dự bị trước; Bốn là phải lo nghĩ lánh xa sự nguy hại; Năm là phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi phải lầm lạc; Sáu là phải nghĩ đến những kẻ lạc lầm mà đem lời trung chánh dạy bảo nhắc nhủ họ; Bảy là phải là nghĩ đến những kẻ nghèo khổ để thương xót cấp hộ; Tám là phải lo làm việc bố thí nếu mình có của; Chín là phải nghĩ đến việc ăn uống cho có chừng độ; Mười là phải nhớ giữ sự công bình khi phân xử hoặc phân chia; Mười một là phải nhớ đem ân từ ban bố cho nhân gian; Mười hai là phải thường nghĩ đến sự huấn luyện nếu mình là quân sĩ hay võ quan.
Đấy là mười hai điều mà kẻ trí giả phải nghĩ đến. Vậy nên trong kinh có câu: "Làm việc gì phải lo dự bị trước, như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày mỗi lớn không khi nào thất bại." (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Pháp lành của người Tu Bồ tát đạo: đức Phật dậy, Bồ Tát có một pháp để có thể cắt đứt sự khổ trong tất cả các đường ác “Nghĩa là suốt ngày đêm thường nhớ nghĩ, tư duy quán xét pháp lành, làm cho các pháp lành tăng lên trong mỗi ý nghĩ, chẳng cho chút nghiệp ác nào xen vào.
- Đây có thể làm cho các ác dứt hẳn, pháp thiện tròn đầy, thường được gần gũi Chư Phật, Bồ Tát cùng các Thánh Chúng khác. Gọi là pháp lành ấy tức các hàng Trời, người, Bồ Tát, Thanh văn, Bồ Đề Độc Giác, Bồ Đề Phật Đà.
- Tất cả đều nương nơi pháp này làm căn bản mà được thành tựu, cho nên gọi là pháp lành. Pháp này chính là Thập Thiện nghiệp đạo: "Hoàn toàn xa lìa sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói hai chiều, nói lời thô ác, nói lời thêu dệt, tham lam, sân hận và ngu si.” (Nguồn: Kinh thập thiện nghiệp đạo)
+ 613. TÁM PHÁP SUY NIỆM CỦA BẬC ĐẠI NHÂN
1) Đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
2) Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
3) Đạo từ viễn ly chứ không phải từ chỗ ưa tụ hội, không phải từ sự sống chỗ tụ hội, không phải từ sự sống hội hợp tụ hội mà chứng đắc.
4) Đạo từ tinh cần chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
5) Đạo từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
6) Đạo từ chỗ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
7) Đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
8) Đạo từ chỗ không hý luận, ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ sự ưa hý luận, không phải từ sự hành hý luận, mà chứng đắc. Nguồn: mục 613- (Trung A Hàm, Kinh Bát Niệm, Phẩm 7, số 74)
+ Các chủ đề thường suy ngẫm - Hãy suy ngâm: “Ponder on this” là câu đức DK thường sử dụng trong các sách của mình để lưu ý người đọc hãy suy gẫm để hiểu được những ý nghĩa thâm sâu đằng sau những câu nói của Ngài. Thống kê có tất cả 323 lần mà Ngài sử dụng câu nói trên trong 18 quyển sách của Ngài. Đó những trường hợp Ngài trực tiếp lưu ý người đọc nên suy gẫm. Nhà xuất bản Lucis Trust Publishing có xuất bản quyển sách Ponder on This như một compilation những câu nói như trên của đức DK , sắp theo từng chủ đề. (Nguồn: Hãy suy ngẫm kỹ_Chân Sư DK)
+ Người hạ căn - Căn tánh chậm chạp - Căn tánh chậm lụt - Người tiểu căn - Người độn căn - Người thượng căn
Người tiểu căn nghe pháp Đốn giáo nầy ắt là điên đảo. Cũng như loài cỏ cây gốc rễ nhỏ yếu, nếu bị một trận mưa to, chắc đều ngã rạp, không thể lớn lên được. Nguyên người tiểu căn có trí Bát nhã cũng như người đại trí, không có chỗ gì khác. Nhưng bởi cớ sao họ nghe pháp, mà tâm chẳng mở mang tỏ sáng? Vì bởi nghiệp chướng của tà kiến còn nặng, cái gốc rễ của sự phiền não còn thâm sâu. Cũng như một đám mây lớn che ám mặt trời, nếu chẳng được luồng gió thổi, thì ánh sáng mặt trời không hiện ra được.
Cái trí Bát nhã vốn không lớn nhỏ, chỉ vì cái tự tâm của chúng sanh mê ngộ chẳng đồng mà thôi. Lòng mê chỉ thấy bề ngoài, tu hành tìm Phật mà chưa tỏ sáng Bổn tánh của mình, tức là người tiểu căn. Hiểu rõ pháp Đốn giáo tu hành mà không chấp bề ngoài, trong tâm mình thường khởi chánh kiến, những sự phiền não trần lao thường chẳng nhiễm Bổn tâm mình tức là thấy tánh.......(Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Người lợi căn: Trong số các chúng sanh đó, "hoặc có kẻ có lợi căn, nghe thấy liền tín thọ." Kẻ có "lợi căn" tức là người có thiện căn sâu dầy, thông minh lanh lợi, rất có trí huệ. Những chúng sanh có lợi căn khi nghe được giáo pháp của Phật thì liền mau mắn tin nhận.
"Hoặc có kẻ có thiện quả, phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu." Lại có hạng người mà trong đời trước đã từng làm một vài việc thiện, có gieo trồng thiện quả, thì Phật cũng phải ân cần khuyên bảo thêm để họ được nhanh chóng thành tựu Phật Ðạo, và không phải chỉ khuyên bảo một lần mà là rất nhiều lần. "Ân cần khuyên bảo" không có nghĩa là chỉ khuyên bảo một lần rồi thôi. Khi chúng ta có lòng muốn cứu vớt, độ thoát một người nào đó, thì phải nhớ rằng chưa chắc chỉ khuyên bảo một lần mà "độ" được người ấy ngay. Khuyên một lần mà chưa "độ" được thì phải khuyên thêm lần nữa; nếu thêm lần này mà vẫn chưa "độ" được, thì chúng ta lại phải cố gắng thêm nhiều lần nữa. Nếu những người đó ở xa thì quý vị nên viết thư nhắc nhở, kể chuyện Phật Pháp cho họ biết; còn nếu ở gần thì thỉnh thoảng nên gặp gỡ, tiếp xúc với họ để giảng Phật Pháp cho họ nghe.
Lại nữa, hễ đã phát tâm muốn "độ người" thì chớ để cho mình bị "người độ"! Thế nào gọi là bị "người độ"? Thí dụ, ban đầu là quý vị muốn độ họ, muốn làm cho họ tin Phật, nhưng rốt cuộc thì quý vị lại bị lung lạc và bị lôi kéo vào tôn giáo của họ! Thâm tâm mình vốn muốn "độ người," làm cho họ tin Phật, ngờ đâu lại bị họ làm cho mình chuyển đổi tín tâm, thay đổi tín ngưỡng—như thế là mình bị "người độ" vậy. Muốn "độ người" thì bản thân mình cần phải có Ðịnh Lực; sở dĩ mình bị "người độ" chính là vì mình không có Ðịnh Lực.
"Ân cần khuyên bảo" ngụ ý là thường xuyên nhắc nhở, sốt sắng khuyên lơn. Ví dụ quý vị suy nghĩ: "Người bạn này đối xử với mình quá tử tế, mình phải độ anh ấy, khiến anh ấy tin theo Phật mới được! Lại còn ông chú bà bác kia nữa, họ đều là những người tốt bụng, mình cũng nên độ họ, làm cho họ thích học Phật Pháp!" Do đó quý vị "ân cần khuyên bảo" họ. Không phải chỉ khuyên một lần mà là kiên nhẫn khuyên lơn rất nhiều lần, lần này mình khuyên giải mà họ chưa hiểu rõ thì cố gắng thêm lần nữa, rồi cứ lần này sang lần khác như thế, dứt khoát không chịu bỏ cuộc. Nói tóm lại, quý vị phát tâm độ người thì phải độ cho tới nơi tới chốn, độ được họ phát tâm tin Phật và cho tới khi họ thành Phật—như thế, sứ mạng mới hoàn tất, thệ nguyện mới viên mãn!
"Hoặc có kẻ ám độn, phải giáo hóa thời lâu mới quay về." "Ám độn" tức là ngu si, căn tánh mê muội, không có trí huệ. Ðối với hạng chúng sanh ám độn, si mê thì cần phải có thời gian lâu dài để giáo hóa, chứ không thể một sớm một chiều mà được ngay đâu. "Ân cần khuyên bảo" thì tính theo số lần; còn "thời lâu" là thuộc vấn đề thời gian. Nếu trong một ngày mà mình chưa độ được họ, thì phải kiên trì cho dù là hai ngày, ba ngày, năm ngày, hoặc một tháng, hai tháng, ba tháng, năm tháng, hoặc một năm, hai năm, ba năm, năm năm...—quý vị phải nuôi trong lòng một chí nguyện bền bỉ, lâu dài, và giáo hóa họ với cái tâm trường cửu, nhất quyết làm cho họ thành tâm tin tưởng đạo Phật. Ðây gọi là "cửu hóa phương quy"—phải trải qua một sự giáo hóa lâu dài họ mới có thể quay về, quy y Tam Bảo. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Người trí biết được:
Nhà Vua khen ngợi: Gần bực minh đức thật rất có lợi. Đàm luận với Ngài, Trẫm lại được thêm trí tuệ.
- Người có trí tuệ, đại khái biết 45 việc:
1) Sửa sang nhà cửa;
2) Gây một không khí hòa hợp trong gia đình;
3) Giao thân với chín họ;
4) Tin ở bè bạn;
5) Theo học với bực minh sư;
6) Làm việc gì quyết cho thành tựu;
7) Tài trí cao rộng;
8) Mọi hành vi đều hướng về việc lành;
9) Giàu sang thì lo làm việc ân đức;
10) Tạo tác và sửa sang đều phải thận trọng;
11) Có của phải mở mang sự nghiệp;
12) Không giao của cải cho con cái nếu chúng còn nhỏ;
13) Kết bạn với người hiền;
14) Không quá tin những ai mới vừa quen biết;
15) Tiền của ở chỗ huyện quan phải đem về đừng để lâu;
16) Mua bán đổi chác phải thật thà không hề lừa gạt;
17) Dời ở nơi nào phải đến xem trước;
18) Đến đâu phải biết đó là giàu hay nghèo, quý hay tiện;
19) Phải giao thiệp thân cận với người lành;
20) Phải nương vào một thế lực;
21) Đừng tranh hơn kém với kẻ cường bạo;
22) Xưa giàu mà nay suy thì có thể mong phục hưng gia nghiệp;
23) Nếu là bần khổ thì đừng có cao vọng to tát;
24) Có của quý không nên khoe với người;
25) Việc bí mật đừng nói cho vợ nghe;
26) Làm vua phải kính người hiền đức;
27) Phải ở ăn có hậu, nhất là với các bậc trung tín;
28) Nếu là thanh liêm, có thể dùng trị nước, hay có thể đứng ra trị nước;
29) Gặp việc phải lập công to;
30) Trong công việc giáo hóa, lấy sự hiếu thuận làm căn bản;
31) Phép của ông thầy là quý sự ôn hòa, như thế học trò đủ cung kỉnh;
32) Thầy có nhiều học trò phải dạy chúng làm điều trung nghĩa;
33) Làm thuốc phải có hiệu nghiệm, nghề còn vụng chớ đem ra thi thố;
34) Đau ốm phải nghe lời thầy thuốc;
35) Ăn uống phải giữ cho có độ lượng;
36) Có của ngon vật lạ chia xẻ cho nhau đừng tiếc;
37) Cho ai hoặc cho ai mượn gì phải tự tay mình trao cho họ;
38) Làm chứng cớ cho người chính;
39) Đừng vu oan cho kẻ không tội;
40) Can gián sự oán giận và làm cho sự thuận thảo trở về giữa hai người;
41) Nhẫn nại và xa lánh việc ác;
42) Đừng phân biệt giàu nghèo mà ở với người;
43) Lấy sự thuận hòa làm quý;
44) Theo đạo thì phải giữ giới;
45) Lấy sự trong sạch làm quý hơn tất cả. (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Người trí nhớ kém Tu vẫn giác ngộ.
Châu-lợi-bàn-đà-già (Tiểu Ðịa Ðạo) cùng với Bàn-đà-già (Ðịa Ðạo) là hai anh em. ... Anh sanh ra như thế nào thì em cũng sanh ra đúng như thế đó, cách sanh thì giống nhau, nhưng trí huệ thì lại khác nhau xa. Người anh thì thông minh tuyệt đỉnh, còn người em thì ngu si quá mức. Ngu si đến cỡ nào? Ngu si đến nỗi nửa bài kệ học cũng không thuộc. Phật bảo năm trăm vị La-hán dạy cho ông một bài kệ:
Giữ miệng, nhiếp tâm, thân không phạm,
Chớ hại tất cả loài hữu tình,
Khổ hạnh vô ích nên xa lánh,
Hành giả như thế mới độ sanh.
Giữ miệng, nhiếp tâm không cho buông lung, thân không phạm giới, đó là giữ ba nghiệp thanh tịnh. Ðối với bất cứ chúng sanh nào cũng không nên làm cho họ sanh phiền não, là chẳng nên để cho họ vì mình mà sanh phiền não....
Năm trăm vị La-hán mỗi ngày thay phiên nhau dạy Châu-lợi-bàn-đà-già học bài kệ tụng này, học rất lâu mà ông vẫn không thuộc. Dù năm trăm vị La-hán đều có thần thông dạy ông đọc một lần, hai lần, ba lần, bốn lần, năm lần, sáu lần..., dạy rồi hỏi ông, ông lại cũng không nhớ. Vì thế người anh ông nổi giận mới bảo ông hoàn tục, không nên đi tu nữa. Nhưng Tiểu Ðịa Ðạo trí nhớ quá kém cõi mà tánh giận hờn lại quá lớn, mới nói với anh rằng: "Anh không cho tôi xuất gia thì tôi chết cho anh xem!" Nhơn đó ông ra sau vườn hoa định treo cổ. Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni biến thành vị thần cây, nói với ông: "Anh là phần anh, còn ông ở đây tu hành có sao đâu."
Tiểu Ðịa Ðạo nghe nói nghĩ thầm: "Phải đấy! Anh là anh, ta là ta. Anh không có quyền bảo ta không thể xuất gia."
Ðức Phật lại nói: "Bây giờ ta dạy ông một câu Chửu tảo, tức là quét đất, quét tâm của ông, quét sạch những bụi bặm trong tâm của ông."
Tiểu Ðịa Ðạo nghe nói nghĩ thầm: "Phải đó! Quét những bụi dơ trong tâm mình cho sạch." Tuy nhiên, ông nhớ được chữ Chửu thì quên mất chữ Tảo; nhớ được chữ Tảo lại quên mất chữ Chửu; giống như chúng ta niệm Phật, càng niệm vọng tưởng càng nhiều. Nhưng ông ta là người cố gắng không biếng lười, từ sáng tới chiều "Chửu tảo" quét tâm mình. Niệm tới niệm lui mãi, không đầy một tuần lễ, được hoát nhiên khai ngộ. Một khi đã khai ngộ thì cái gì cũng rõ biết hết, thông đạt được thật tướng các pháp, so với anh ông thì ông thông minh gấp nhiều lần. Cho nên người ngu si chỉ cần dụng công tu hành thì ai cũng có thể khai ngộ được. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Pháp tu cho người trí nhớ kém - Nghiệp chướng sâu dày => Thành trí sáng - Nhớ dai:
“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng, dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được; những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.”
Lược giảng:
“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa—các sách kinh Phật và điển chương—sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng ...” “Đọc” tức là nhìn vào sách mà đọc; còn “tụng” là đọc mà không cần nhìn vào sách bởi đã thuộc nằm lòng.
Những người đó vừa nhìn thấy các kinh điển Đại Thừa thì nâng niu, trân quý hơn bất kỳ báu vật nào khác, và liền phát tâm Đại Thừa không thể nghĩ bàn mà lập nguyện rằng: “Tôi nhất quyết phải đọc tụng bộ kinh này. Bất luận thế nào tôi cũng phải học thuộc bộ kinh này!” Thế nhưng, “dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được.” Những người đó phát tâm bất khả tư nghì, có chí nguyện muốn đọc tụng các kinh điển Đại Thừa, và còn gặp được bậc minh sư tận tâm dạy cho cách đọc kinh, xem kinh nữa. Tuy nhiên, họ cứ học thuộc rồi lại quên. Mặc dù họ chăm chỉ cần cù học tập trong suốt một thời gian dài—có thể là trong vài tháng mà cũng có thể là trong một năm hoặc nhiều năm—họ vẫn không thể nào đọc cho trôi chảy, tụng cho nhuần nhuyễn được! Vì sao họ cứ học rồi lại quên, phải học đi học lại mãi như thế?
“Những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch ...” Đó là do bị nghiệp chướng từ đời trước ngăn che, khiến họ không thể nào thuộc được kinh điển. Vì nghiệp chướng, mà họ cảm thấy lười biếng, không muốn tụng kinh. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ học kinh thì cơn buồn ngủ ập đến. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ muốn đọc tụng thì đầu óc lại hôn trầm. Tuy nhiên, cũng thật là kỳ lạ, khi không tụng kinh thì họ thấy đầu óc rất tỉnh táo, nhưng hễ tụng kinh thì họ lại cảm thấy buồn ngủ—cứ đặt quyển kinh xuống, không tụng nữa, thì con ma ngủ bỏ đi; mà hễ cầm quyển kinh lên để tụng thì con ma ngủ lại kéo tới!
Tôi tin rằng vài người trong quý vị đã có kinh nghiệm về việc này. Quý vị muốn nghe kinh ư? Ngay tức khắc cơn buồn ngủ xâm chiếm quý vị! Ngược lại, nếu quý vị nói chuyện thị phi, nói những chuyện vô ích, thì càng nói càng hăng say, càng nói càng hào hứng, nói đến nỗi nước miếng văng tới tấp như mưa vậy mà cũng chẳng thấy mệt mỏi hoặc buồn ngủ chút nào!
“Cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.” Do vì nghiệp chướng chưa được tiêu trừ nên họ không có khả năng đọc tụng, không có được sức nhớ dai, không thể học thuộc kinh điển Đại Thừa.
Kinh văn:
“Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát. Lại đem một chén nước trong đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng. Uống nước xong, phải kiêng cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho. Những người này thức dậy liền được thông minh, các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!”
Lược giảng:
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ ...” “Bày tỏ” tức là trình bày, nói rõ ý kiến của mình. Bày tỏ ý kiến gì?
Những người đó chớ nên buồn bã ưu sầu vì sự kém nhớ dễ quên, học đâu quên đó của mình, chỉ cần khi họ nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, trông thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, họ nên dốc trọn vẹn bổn tâm—tức là “diệu minh chân tâm,” cái tâm chân thật, vi diệu, sáng suốt của chính mình chứ không phải cái tâm gian dối xảo trá— mà cung kính thưa trình với Địa Tạng Vương Bồ Tát, khấn nguyện rằng: “Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát! Xin Ngài từ bi giúp con dẹp trừ con ma ngủ, xua tan mọi ma chướng đang ngăn che trí nhớ của con, để cho đầu óc con được sáng suốt minh mẫn, có khả năng ghi nhớ thật tốt!”
“Rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát.” “Thức uống” ở đây không phải là rượu, mà là nước lọc, nước đã đun sôi để uống. Quý vị chớ lầm “thức uống” này là rượu; không phải vậy đâu! Nếu quý vị uống rượu thì trí nhớ của quý vị sẽ càng tệ hại hơn nữa đấy!
Quý vị đem các món đồ chơi cúng dường Bồ Tát để làm gì? Bồ Tát cũng cần đồ chơi sao? Bồ Tát cũng thích đồ chơi sao? Thật ra, ngay cả các đồ chơi, như trái banh của trẻ con, đều có thể đem cúng dường cho Bồ Tát Địa Tạng được cả. Địa Tạng Vương Bồ Tát không nhất thiết là sẽ chơi đá banh, nhưng nếu quý vị đem những đồ vật mà mình yêu thích đến cúng dường Ngài, thì Ngài rất hoan hỷ.
“Lại đem một chén nước trong—phải là thứ nước thật tinh khiết, không được dùng nước dơ—đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm. Những người đó nên lấy một chén nước trong đặt trước mặt Địa Tạng Vương Bồ Tát để cúng dường suốt một ngày và một đêm. Sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng.” Lúc uống chén nước này, họ phải ngoảnh mặt về hướng Nam và phải hết sức cung kính, trân trọng, phải đem lòng chí thành khẩn thiết mà quán tưởng rằng Địa Tạng Vương Bồ Tát đã gia trì chén nước này—tôi nhận thấy rằng điều này vô cùng quan trọng.
“Uống nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ cùng các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày.” Sau khi uống chén nước đó rồi, thì đừng ăn năm thứ có mùi vị hăng nồng gọi là “ngũ tân”—tỏi, hành, hẹ, kiệu, nén (hưng cừ). Năm thứ này đều làm gia tăng sự hôn trầm, khiến con người trở nên ngu si thêm và tâm dâm dục càng lớn mạnh hơn, cho nên chúng ta cần phải kiêng cữ. “Cữ” tức là kiêng cữ, không nên dùng—những người đó phải cẩn thận tránh dùng năm món hăng nồng này, đừng dùng rượu thịt, đừng có hành vi sắc dục, đừng nói dối, và đừng làm những việc giết hại.
Sau khi kiêng cữ, ngăn ngừa như thế trong một tuần lễ hoặc ba tuần lễ, “những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên—Pháp thân vô biên—đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho.” “Rưới nước quán đảnh cho” tức là Bồ Tát Địa Tạng rưới nước cam lồ trên đỉnh đầu của các thiện nam tín nữ đó.
Trong Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn có một ấn pháp gọi là “Tay Cam Lồ” (Cam Lồ Thủ)—đây chính là ấn pháp Bồ Tát dùng để quán đảnh cho quý vị. Tay Cam Lồ này hễ duỗi ra thì quý vị sẽ cảm thấy như được tắm mát, có nước xối xuống đầu mình gột rửa mọi cấu trược, trừ sạch hết thảy nghiệp chướng. Nếu quý vị tu tập ấn pháp Tay Cam Lồ đến chỗ thành tựu, thì trong tương lai quý vị cũng có thể quán đảnh cho người khác. Người tu tập theo pháp môn này quyết không được lười biếng—một ngày cũng không được gián đoạn, một ngày cũng không được trễ nãi việc tu tập; nếu bỏ sót một ngày không tu, thì phải lập lại lần nữa.
“Những người này thức dậy liền được thông minh.” Quý vị thấy có kỳ lạ không? Họ ngủ một giấc, nằm mộng thấy mình được quán đảnh, và khi thức dậy thì trở nên thông minh mẫn tiệp; quý vị nói có tuyệt diệu hay không chứ? Quý vị có muốn mình cũng được như thế không? Nếu muốn được như thế thì quý vị hãy làm thử xem sao!
“Các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!” Trước kia thì họ hay quên, song bây giờ thì không còn quên nữa; cho dù họ muốn quên cũng chẳng thể nào quên được! Những người này ngay cả một câu kinh, một bài kệ tụng cũng không hề quên. Quý vị xem đấy, thật là mầu nhiệm không thể nói được!
Cũng như có người tìm cách để đừng đến Phật Giáo Giảng Đường nữa, song không nghĩ ra cách nào cả, nên vẫn cứ đến đều đặn—kỳ lạ như thế đấy! (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P12 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ NGƯỜI CÓ TRÍ TRÁNH ĐƯỢC NÊN TRÁNH: Có chín nguyên nhân, mạng sống chưa diệt tận mà bị chết bất ngờ:
1. Không nên ăn cơm mà ăn cơm: Tức là ăn những thứ không ưa ý, ăn không theo thời tiết bốn mùa và ăn những thứ đã bỏ đi mà lấy lại ăn.
2. Ăn cơm không chừng mực: Ăn uống vô độ tức là không biết tiết độ trong khi ăn, ăn quá nhiều, ăn quá no.
3. Không tập cách ăn: Ăn những thứ không quen tức là khi đi đến một nước khác, do không biết tập tục ăn uống của người ta, ăn phải những thức ăn không quen và ăn uống trái giờ thường lệ, không chịu tập ăn chút chút trước cho quen dần thức ăn.
4. Không xuất ra: Không kịp tiêu hoá nghĩa là mới ăn xong, thức ăn chưa tiêu hoá đã ăn thêm thứ khác, hoặc khi uống thuốc xổ mà chưa xổ hết liền ăn trở lại.
5. Làm cho dừng lại: Nín đại tiểu tiện nghĩa là lúc cơ thể muốn đại tiểu tiện mà không đi liền, kiềm chế quá lâu, hoặc kiềm chế hạ phong.
6. Không giữ giới tức là phạm vào năm giới cấm, sống đời gian dâm, xâm phạm vợ con người khác, bị luật pháp trừng trị bỏ tù hoặc xử tử, hoặc bị tra tấn đến chết, hoặc bỏ đói đến chết, hoặc vượt ngục trốn thoát ra ngoài bị oán gia hại chết, hoặc lo sợ buồn sầu đến chết.
7. Gần gũi với ác tri thức: Gần gũi người ác nghĩa là người ta làm điều ác mà mình cũng đến gần gũi, chơi thân.
8. Vào trong nhà không đúng thời, không hành đúng như pháp: Nhập cư bất hợp pháp và không biết luật pháp sở tại để thi hành nghĩa là sáng sớm hoặc chiều tối đi qua nước khác, hoặc đi vào vùng chiến sự, bị quan phủ truy bắt mà không trốn; hoặc vào nhà người ta, trông thấy những điều không đáng thấy, nghe được những điều không đáng nghe, phạm vào những điều không đáng phạm, nhớ những điều không đáng nhớ…
9. Có thể tránh mà không tránh: đó là khi gặp những trâu điên, ngựa chứng, chó dại, rắn độc, hoặc gặp nước dữ, lửa lớn, hoặc hầm hố vực sâu, hoặc xe ngựa chạy quá nhanh, hoặc gặp người say, người ác cầm đao đâm chém nhau lại ra can gián… đó là những trường hợp tránh được mà không chịu tránh, để rồi lâm nạn vong thân.
Người có trí nên biết, những điều gì tránh được thì hãy tránh để có được hai điều lợi. Thứ nhất là được trường thọ. Thứ hai là được nghe chánh pháp, cũng được tu tập lâu dài. (Nguồn: Phật Thuyết Phật Y Kinh)
+ Theo đạo Phật có 4 cách chết:
a/ Chết vì hết tuổi thọ: Tuổi thọ của mỗi loài sinh vật đã được định trước theo những định luật di truyền và những điều kiện sinh sống của mỗi loài, mỗi cá thể. Tuổi thọ của con người có nhiều người sống trên 100 tuổi khi đời sống văn minh.
b/ Chết vì hết nghiệp: Nghiệp ở đây có thể được hiểu là sinh nghiệp của kiếp sống đó hoặc nghiệp của toàn bộ kiếp sống của một chúng sinh, như vậy chúng sinh nầy đã đắt đạo quả A la Hán, đã thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi.
c/ Chết vì hết tuổi thọ và hết nghiệp: Đây là cái chết của người lớn tuổi, đã sống hết tuổi thọ sinh học và đồng thời hết nghiệp của kiếp sống đó - hoặc là cái chết của một vị A la Hán đã hết tuổi thọ. Những vị nầy đã chết vì hết tuổi thọ và đồng thời cũng chấm dứt mọi nghiệp báu từ những tiền kiếp.
d/ Chết vì một Đoạn nghiệp: Có những Đoạn nghiệp cho quả làm cắt đứt thình lình dòng sinh nghiệp trước kỳ hạn của kiếp sống. Đây là cái chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, bịnh tật, hoặc tự tử. (Sinh nghiệp là năng lực có thể làm phát sinh và duy trì tâm và sắc trong đời sống hiện tại, đồng thời lúc vừa chết có khả năng tái tạo một đời sống mới, nó là sức mạnh để đưa đi tái sanh). (Nguồn: Bàn về Thuyết Nhân Duyên của Tuệ thiện Nguyễn Tối Thiện)
+ Xem: Chết và Tái sinh (Nói về việc Tu thập thiện nghiệp với nhân quả của việc chết và tái sanh. Việc tái sanh phụ thuộc rất lớn vào Nghiệp chướng và Tâm thức con người tại thời điểm lúc chết rất quan trọng)
+ Chọn bạn và kết bạn: Chọn bạn - Ðức Phật dạy, Có 10 kẻ mình không nên mời về nhà: Một là thầy ác; Hai là bạn tà; Ba là kẻ hay khinh bỉ bực thánh nhân; Bốn là kẻ hay nói tráo trở; Năm là kẻ dâm ô; Sáu là người thèm rượu; Bảy là kẻ có tính xấu; Tám là người không biết ơn nghĩa; Chín là đàn bà con gái mất nết; Mười là kẻ tì thiếp ưa trang sức. Đấy là 10 hạng không nên mời về nhà. Kinh chép: "Lánh xa người ác, đừng làm bạn với kẻ dâm lung, chỉ nên tùng sự các bực hiền giả, mới mong thành người minh đức.
- Kết bạn: Ðức Phật dạy kết bạn có 4 loại là
* Như Hoa: Khi bông hoa còn tươi tốt thì giắt trên đầu, khô héo rồi bỏ đi. Kết bạn cũng thế: hễ thấy giàu sang thì xu phụ theo, thấy nghèo nàn lại bỏ làm lơ.
* Như cân: Khi để vật nặng thì đầu gục xuống, vật nhẹ thì đầu vổng lên, có qua lại thì cung kính nhau, không qua lại thì khinh dẻ nhau.
* Như núi: Hòn núi vàng, loài chim thú tụ về, lông cánh được chói màu vàng rực. Kết bạn cũng thế: khi sang thời sang với nhau, khi vui đồng vui.
* Như đất: Tất cả mọi vật đều dựa đất mà sinh. Làm bạn để nuôi dưỡng, ủng hộ, ân hậu không quên...
- Kết bạn: Lên gần gũi bậc Đại Đức Hiền Trí - Tránh xa kẻ Đại ác (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Kết bạn - Chọn bạn: Gần mực thì đen - Gần đèn thì rạng. HT Tuyên Hóa giảng về chủ đề này rất sâu sắc.... Bấy giờ Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Những chúng sanh chưa được giải thoát thì tánh thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả; làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh, luân chuyển trong Ngũ Ðạo, chẳng tạm ngừng ngớt; trải qua trần kiếp, mê hoặc chướng nạn, như cá bơi trong lưới theo dòng nước chảy, tạm thoát ra được rồi lại mắc vào lưới. Vì những kẻ đó mà Ta phải lo nghĩ.
Ðời trước Ông đã phát nguyện, nhiều kiếp lập trọng thệ quảng độ những kẻ có tội, thì Ta còn lo gì nữa!"
Lược giảng:... tánh thức không định. Tánh và tri thức của các chúng sanh đó đều không nhất định. Chẳng hạn có người ban đầu muốn học Phật Pháp, nhưng học chưa được bao lâu thì lại đổi ý, thay đổi tông chỉ—đó là do "tánh thức không định" vậy.
Quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả.....
Làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh. Thế nào gọi là "theo cảnh mà sanh"? Thí dụ quý vị gặp được bạn tốt (thiện hữu), thường giảng Phật Pháp cho quý vị nghe và hướng dẫn quý vị làm các việc từ thiện; quý vị chăm chú lắng nghe và làm theo—và thế là quý vị làm được thiện sự. Thế nhưng, nếu quý vị gặp nhằm bạn xấu (ác hữu), rủ rê quý vị vào con đường rượu chè cờ bạc, chơi bời lêu lổng, sa đọa trụy lạc; và vì nghe mãi cũng bùi tai nên quý vị xiêu lòng đi theo, thì rồi quý vị cũng trở thành hư đốn như họ vậy!....
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
..... cho nên, trước hết mọi người cần phải biết "chọn bạn mà chơi," phải phân biệt được bạn tốt và bạn xấu. Ðối với những người bạn tốt, thân thiện, thì quý vị nên tin tưởng; còn đối với bạn xấu thì bất luận họ nói điều gì quý vị cũng chớ nên tin! ....(Kinh Địa Tạng - Phẩm 4 - HT Tuyên Hóa)
+ Trí tuệ và ngu si - Người trí thức: Bồ tát Văn Thù sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là người trí, sao kêu là người ngu, sao kêu là người mê, sao kêu là người ngộ. Xin đức Phật từ bi giảng dạy cho tôi được biết?
Đức Phật nói: Chữ trí là biết, người trí biết có đạo Phật cần phải tu, biết có thánh giáo cần phải học, biết có minh sư cần phải cầu. Biết có phước cần phải làm, biết có tội cần phải sám hối, cho đến biết rõ pháp thế gian, pháp xuất thế gian và sự luân hồi quả báo như trên trời có mặt nhật, như đêm tối có đèn. Được hiểu biết, được nghe thấy sự báo ứng của việc lành việc dữ, hễ hiểu biết nghe thấy rồi liền bỏ dữ theo lành, cải tà quy chánh. Việc phi lý không bao giờ nói, ngoài phận sự không bao giờ làm, không phải đạo chơn chánh không theo, không phải vật của mình không lấy. Tư tưởng trung chánh mỗi mỗi chơn thật, tích đức nêu danh lưu truyền đời sau, như vậy gọi là người trí thức.
Ngu là tối, người ngu cái lòng tối tăm, chẳng biết cao thấp lớn nhỏ, chẳng biết thiên đàng địa ngục, chẳng tin có tội phước luân hồi. Một bề tham luyến tửu sắc, sát sanh hại mạng để cung cấp cho cái miệng hay bao tử. Trong một đời sát sanh trăm ngàn súc vật, gây cái nợ oan trái trăm ngàn muôn ức tánh mạng, luân hồi gặp gở ăn nuốt lẫn nhau, không biết bao giờ thôi dứt. Hết thảy các loại trâu, dê, heo, ngựa đều là đòi trước hoặc kẻ thân nhân, hoặc người thù oán, sau khi luân hồi thay hình đổi dạng làm thân súc sanh. Người si mê không biết giết hại mà ăn, cũng như giết cha mẹ của mình, hay ăn thịt bà con dòng họ của mình. Cha bị con giết, con bị cháu giết, trên đường luân hồi cha con chẳng biết nhau, giết nhau ăn nhau không bao giờ dứt, một khi mất thân người muôn kiếp khó phục hồi đặng.
Người mê muội tham mến tửu sắc, muốn được khoái lạc, buông lung sáu căn tham mến sáu trần, làm nhiều cách điên đảo đủ điều, chỉ nhớ sự thọ dụng hiện tiền, không ngó lại thân sau chịu khổ, mê muội chơn linh đuổi theo huyễn vọng, bỏ xa tánh giác phối hợp trần duyên. Ví dù gặp bậc thánh hiền cũng không cứu độ được, chìm sâu biển khổ mất hẳn tánh linh, một khi mất thân người muôn kiếp khó phục hồi đặng. (Nguồn: Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Người trí: ... Có mười sự chứng tỏ đó là người trí:
Một là biết kẻ hiền người ngu; Hai là biết kẻ sang người hèn; Ba là biết kẻ giàu người nghèo; Bốn là biết việc nào khó việc nào dễ; Năm là biết việc nào đáng bỏ việc nào nên làm; Sáu là biết nhiệm vụ của mình; Bảy là vào nước nào biết được phong tục của nước đó; Tám là biết được chỗ trở về; Chín là học rộng hiểu nhiều; Mười là biết được túc mạng. Mười việc đó chứng tỏ người có trí.
Kinh dạy: "Khi tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ yếu người mạnh, có luận nghị mới biết được người trí, lúc cơm thua gạo kém mới biết người có lòng nhân." (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Người có trí - Người trí: Đức Phật bảo A-nan: Hôm nay Như Lai chân thật nói với ông, những người có trí cần phải dùng ví dụ mới được khai ngộ. HT Tuyên Hóa giảng:
Hàng trí thức thích dùng những thí dụ để được khai ngộ. Vì khi quý vị thực sự có trí tuệ thì quý vị có thể hiểu được mười điều khi chỉ cần nghe một điều - Đó là có trí tuệ chân chính. “Người trí” mà trong kinh văn nói đến không phải là người có trí tuệ chân chánh mà là những người có trí thức thông thường, không cao không thấp. Họ có thể được giác ngộ thông qua việc sử dụng những thí dụ. Nhưng nếu những người chậm lụt, thiếu trí tuệ, nếu đưa cho họ một ví dụ, họ sẽ không hiểu nổi (Nguồn: Giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm-Q1-Phần kinh văn)
+ Người có trí tuệ - Đức Phật dậy:
14- Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh tật và là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế, các vị cần trau dồi tuệ giác “văn, tư, tu” để tăng trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất mọi vật. Nguồn
+ Ðức Phật dạy: "Tỳ-kheo các ông! Nếu có trí huệ thì không tham đắm, vướng mắc. Thường tự xét mình, chẳng để có sai sót. Như vậy thì ở trong pháp ta có thể được giải thoát. Nếu chẳng được vậy, thì chẳng phải người tu đạo, cũng chẳng phải người thế tục, chẳng có tên để gọi. "Trí huệ thật là chiếc thuyền bền chắc đưa người vượt qua biển già, bệnh, chết; lại như ngọn đèn lớn sáng soi trong chỗ vô minh đen tối; như món thuốc hay trị được hết thảy bệnh tật; như cái rìu sắc bén đốn ngã cây phiền não. Vậy nên các ông phải lấy các môn trí huệ là nghe biết, suy xét, tu tập mà tự làm tăng thêm phần ích lợi. Nếu người được sự chiếu sáng của trí huệ, thì dù chỉ có mắt thịt, nhưng chính thật là người thấy rõ tất cả. Như vậy gọi là trí huệ." - Nguồn: Xem tại đây
+ 154. Có Trí Tuệ_Đức Phật dậy
- Là Người ham học hỏi và thực hành các Pháp lành: Do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có trí tuệ tốt đẹp? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào thường hay đến nơi kia hỏi việc. Nếu có Sa-môn, Phạm chí danh đức, người ấy thường đến nơi ấy mà hỏi đạo nghĩa, rằng ‘Thế nào là nghiệp thiện, thế nào là bất thiện? Thế nào là tội, thế nào là không tội? Thế nào là vi diệu, thế nào là không vi diệu? Thế nào là trắng, thế nào lào đen? Trắng và đen từ đâu sanh ra? Ý nghĩa của quả báo hiện tại là thế nào? Ý nghĩa của quả báo vị lai là thế nào? Ý nghĩa quả báo hậu thế như thế nào? Hỏi xong lại thường thực hành. Người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi trời. Mãn kiếp ở cõi trời, lại sanh vào nhân gian, có trí tuệ tốt đẹp. Nguồn (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 13, số 170)
+ LỜI PHẬT DẠY VỀ SỰ NHÌN THẤU ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG HẠNH PHÚC
- KHÔNG TRANH CHẤP LÀ TỪ BI
- KHÔNG TRANH LUẬN LÀ TRÍ TUỆ
- KHÔNG NGHE THẤY LÀ SỰ THANH TỊNH
- KHÔNG QUAN SÁT LÀ SỰ TỰ TẠI
- KHÔNG THAM LAM LÀ BỐ THÍ
- BỎ ÁC LÀ CÁI THIỆN
- SỬA ĐỔI BẢN THÂN LÀ SÁM HỐI
- NHÚN NHƯỜNG CHÍNH LÀ LỄ PHẬT
- THA THỨ LÀ GIẢI THOÁT
- BIẾT ĐỦ CHÍNH LÀ BIẾT BUÔNG BỎ
- LỢI CỦA MỌI NGƯỜI CHÍNH LÀ CÁI LỢI CỦA BẢN THÂN.
* NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
+ Ðức Phật dạy:
Người trí tuệ vì bị vô minh che khuất, ái duyên ràng buộc, nên có được thức thân này. Kia vô minh dứt trừ, ái duyên hết sạch. Do vô minh dứt trừ, ái duyên hết sạch, nên sau khi chết không còn tái sanh nữa. Vì chẳng thọ sanh trở lại nên giải thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não. Vì sao? Vì người này trước đây đã tu phạm hạnh, chân chánh hướng đến dứt sạch khổ, tận cùng của mé khổ, nên người này sau khi chết không tái sanh trở lại. Bởi không thọ thân nên giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Đó là chỗ sai khác giữa phàm phu và người trí tuệ khi ở nơi Ta tu các phạm hạnh.(Kinh A Hàm).
+ Người Trí Tuệ - Người Quang minh: Không còn vô minh nghĩa là có trí tuệ. Điều này được ví như tấm gương:
Vật lai tắc ánh
Vật khứ tắc không.
Nghĩa là: “Vật đến liền chiếu. Vật biến hoàn không”. Tấm gương chẳng lưu giữ dấu vết gì cả. Kẻ trí thường thản nhiên với mọi chuyện và cứ để nó trôi qua mà lòng chẳng còn vướng bận điều gì.
Mặc dù kẻ trí chẳng lưu giữ điều gì lại trong lòng, nhưng mọi vật thường tự hiển bày. Và mặc dù nó thường tự hiển bày nhưng chẳng hề bị vướng mắc.
Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có được đại trí tuệ, phải nỗ lực vượt bậc để thường nhớ trì tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”. (Trích lời giảng của HT Tuyên Hóa trong câu Thần Chú Đại Bi số 37. Thất na thất na)
+ Người Trí: Ðức Phật dạy, Người trí được ví như con ngựa phi nước đại, bỏ sau con ngựa yếu hèn kém để nêu rõ hạnh tinh cần của người trí giữa các người phóng dật, và sự tỉnh thức của người trí giữa quần mê: "Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê. Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn (Kinh Pháp Cú 29)
- Kẻ trí thấy rõ cần phải nhiếp phục tự thân: "Người trị thủy dẫn nước, Kẻ làm tên nắn tên, Người thợ mộc uốn gỗ, Bậc trí nhiếp tự thân. (Kinh Pháp Cú 80)
- Và sau đây là hạnh của người trí giữa khen chê ở đời: "Như tảng đá kiên cố, Không gió nào lay động, Cũng vậy giữa khen chê, Người trí không giao động." (Kinh PC 81)
- Nói cho rõ hơn, người trí có một lựa chọn dứt khoát giữa thiện và bất thiện: "Kẻ trí bỏ pháp đen, Tu tập theo pháp trắng, Bỏ nhà sống không nhà Sống viễn ly, khó lạc." (Kinh PC 87)
+ Thể - Dụng - Tánh Của Nước và Dòng Nước:
Trích Kinh Phật Dậy. ... A-nan, tánh của dòng nước (Sóng lớp lớp chồng lên nhau theo chật tự) như vậy chẳng do hư không sinh ra, chẳng phải do nước mà có, cũng chẳng phải tánh nước, cũng chẳng lìa hư không và nước.
- Nếu lìa hư không và nước thì hư không vốn chẳng có trong và ngoài; ngoài nước ra vốn chẳng có dòng nước.
Giảng:
Nếu lìa hư không và nước – ông muốn nói rằng dòng chảy ấy tách rời hẳn hư không và nước mà có. Nhưng hư không vốn chẳng có trong và ngoài; ngoài nước ra vốn chẳng có dòng nước. Tách rời khỏi nước thì chẳng có dòng chảy nào cả. Nên nói lìa khỏi nước mà có dòng chảy là không đúng. Ông sẽ cho rằng chẳng lìa (khỏi nước mà có dòng chảy), điều ấy cũng sai luôn. Phân tích rốt ráo, A-nan, ông nói như thế nào về việc nầy? Đó chẳng phải là cái gì hiện hữu do nước hoặc hư không. Cội nguồn của nó là Như Lai tàng diệu chân như tánh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Bàn về sóng biển - Thể dụng
Khi ra biển ngắm những làn sóng lặn hụp lên xuống thì “sóng “là” nước hay sóng “không là” nước? Nếu nói sóng và nước thì chắc chắn sóng và nước là hai tức là sóng “không là” nước. Còn nếu nói rằng nếu sóng mà không có nước thì làm gì có sóng do đó sóng “là” nước và nước “là” sóng. Như vậy sóng là hiện tượng của nước và nước là bản thể của sóng, tuy hai nhưng mà một bất khả phân ly. Khi động (có gió) thì nước nổi thành sóng, nhưng khi tịnh (gió tan) thì sóng trở về với thể tánh yên tịnh của nước vậy thôi. Như Lai Tạng cũng vậy, là bất tức bất ly bởi vì Tạng là tổng thể trùm chứa tất cả mọi nguyên nhân và kết quả của sự vật hiện tượng. Còn Như Lai là thường hằng bất biến, nhưng trong cái thường hằng bất biến này lại tùy duyên mà phát sinh ra muôn sinh vạn vật. Đó là bất biến mà tùy duyên. Thí dụ, trong thế gian này nơi nào cũng đều có đất tức là dạng của địa đại, nhưng cũng từ đất này mà tùy duyên tạo thành nhà cửa, chén đĩa, lâu đài, thành quách….nhưng một ngày nào đó thì những sự tướng kia cũng theo thời gian mà biến đổi và cuối cùng cũng trở về lại với đất. Đây là tùy duyên mà bất biến vậy. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - HT Tuyên Hóa giảng.)
+ Xin mời quí vị đọc bài tổng hợp chuyên đề với thuật ngữ Thể dụng vi diệu: Mời xem tại đây
+ Nước Thủy Triều Dâng: Khi biễn lớn dâng thì sông hồ lớn dâng .... các hồ nhỏ dâng.
Cũng vậy, khi vô minh dâng thì hành dâng ... Thức dâng .... Danh sắc dâng .... Sáu xứ dâng .... Xúc dâng .... Thọ dâng .... Ái dâng ..... Thủ dâng ..... Hữu dâng ..... Sanh dâng .... già chết dâng. Ngược lại ..... (Nguồn: Kinh Tương Ưng Bộ - Tương ứng nhân duyên - Chương 12)
+ Phong đại: ... Ngài dạy quán sát thế giới nầy và thân chúng sinh đều là do sức lay động/ Phong đại của nhân duyên hư vọng mà ra. ...... (Giảng: Ngay khi niệm tưởng vừa sinh khởi trong tâm, chúng ta đã tạo nên lực lay động của gió ngay trong tâm. Một khí có sức lay động của gió trong tâm, thì liền có nhiều loại gió bên ngoài sanh khởi). .... Bấy giờ con nhận ra các tánh lay động ấy, đến không do đâu, đi chẳng về đâu..... (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa)
+ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI CHÚNG SINH VÀ SÔNG NÚI BIỂN CẢ CÂY CỎ ... TƯƠNG TỤNG
Bạch Thế tôn, nếu hết thảy các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới v.v... trong thế gian đều là tánh Như Lai tạng, thanh tịnh bổn nhiên, thì làm sao lại bỗng dưng nổi lên các tướng hữu vi, núi sông đất liền, liên tục trước sau, theo nhau dời đổi?
Lại nữa, Như Lai thường nói bản tính của đất, nước, lửa, gió vốn là viên dung, bao trùm khắp pháp giới, vắng lặng, thường trú.
Bạch Thế tôn, nếu tánh của đất đầy khắp, thì làm sao còn chứa được nước? Nếu tánh của nước đầy khắp, thì lửa ắt là không sanh ra được. Lại nữa, Như Lai giải thích làm sao tánh của nước và tánh của lửa đều đầy khắp hư không mà không lấn hại lẫn nhau? Bạch Thế tôn, tánh của đất là cứng, tánh của hư không là thông suốt; làm sao cả hai tánh nầy đều cùng lúc trùm khắp pháp giới được? Con không biết nghĩa nầy sẽ dẫn đến đâu?...
Đức Phật bảo, “Phú-lâu-na, như ông vừa hỏi, đã là thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng dưng sanh ra núi sông đất liền?”....
Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mê muội, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Nên có phong luân nắm giữ thế giới. Giảng giải:
Thế giới có bốn yếu tố: đất, nước, lửa, gió. Trước hết chúng ta đề cập đến phong luân. Khi muốn đem thêm cái sáng vào cho bản giác diệu minh thì vô minh liền sinh khởi và cái sáng bị trói buộc trong tính nhị nguyên, tức là cái tối. Hư không thì mê muội, hư không có khi rất tối tăm mờ mịt. Khi cái sáng của giác và cái tối tăm của hư không giao xen nhau, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Hư không và thể của giác minh, có nghĩa là vô minh do kết quả của việc đưa thêm cái sáng vào cho bản giác diệu minh–đối đãi nhau, cuối cùng tạo nên sự lay động. Ngay khi có sự lay động, liền có phong luân. Với sự lay động đó, yếu tố gió sinh khởi. Bên dưới thế giới là phong luân để nâng đỡ, duy trì thế giới. Ngày nay chúng ta nói về không gian nơi không có bầu khí quyển, nhưng vượt ra ngoài không gian lại còn có những nơi khác có gió. Chữ luân 輪 ở đây trong tiếng Hán có nghĩa là bánh xe, nhưng dịch nghĩa như thế không hợp, vì nghĩa rộng của từ nầy là trùm khắp, rộng khắp. Gió có năng lực nâng đỡ, duy trì thế giới. Điều nầy sẽ được giảng giải chi tiết trong đoạn kinh sau.
Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng, thành ra có ngăn ngại. Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng. Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ. Giảng giải:
"Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng", nhân nơi hư không mê muội, mờ tối, và cái sáng muốn chiếu soi lại tánh giác; cái tối và cái sáng ấy xâm đoạt lẫn nhau, khiến sanh ra sự lay động và tạo thành gió. "Thành ra có ngăn ngại". Do cố giữ lấy cái vọng minh, tức muốn đem cái sáng vào trong tánh giác, muốn soi sáng cái mê muội, mờ tối của thể hư không, liền kết cái tối ấy thành sắc, nên thành ra tướng cứng chắc ngăn ngại của địa đại (yếu tố đất). Đây tức là lấy cái mê muội làm hư không, và trong thể hư không mê muội ấy, kết cái u tối hỗn trược thành sắc.
"Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng". Tất cả các loại vàng bạc và các khoáng chất quý giá đều là tinh tuý trong lòng đất (địa đại), mà tánh chất của đất thì cứng chắc và ngăn ngại còn hơn cả kim loại. Nương nơi cái biết hư vọng của vô minh mà có ra tướng cứng chắc và ngăn ngại, như trong thế gian có người si tình mà hoá thành đá vậy.
"Thế nên có kim luân để bảo trì quốc độ." Do tâm vọng chấp kiên cố mà thành tướng cứng chắc và ngăn ngại, lại kiên cố vọng chấp không dừng nghỉ, nên tích chứa thành kim luân để bảo trì quốc độ, nên tất cả các quốc gia trên thế giới, đều nương nơi kim cương luân mà được an trụ. [9]
Biết cái cứng thì thành có kim bảo, rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra. Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá. Giảng giải:
"Biết cái cứng thì thành có kim bảo". Kim loại thì cứng và đất cũng có tính chất như vậy. Cái cứng nầy được tích chứa lâu ngày. Nhân chấp cứng cái biết sai lầm hư vọng mà thành có kim bảo.
"Rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra". Kim bảo tạo nên trạng thái diêu động, và từ đó phong đại sanh khởi. Trong trường hợp nầy, phong luân và kim bảo giao xen nhau. "Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá".
Ngọn lửa xông lên, KIM BẢO sanh ra tánh ướt. Nên có THỦY luân trùm khắp mười phương cõi giới. Giảng giải:
"Ngọn lửa xông lên, KIM bảo sanh ra tánh ướt". Khi kim loại bị nung lên, nó sẽ mềm ra và sinh ẩm ướt, nước sẽ tiết ra thành giọt trên bề mặt. Do lửa nên có sự ẩm ướt sinh ra nơi kim loại. Sự ẩm ướt nầy là tính chất của nước. Và do ánh sáng của lửa phát ra, từ sự ẩm ướt nơi kim loại, thành ra những giọt nước. Khi lửa từ phía dưới xông lên, thì kim loại tiết ra hơi nước. "Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới". Do có hiện tượng ngưng tụ và bay hơi khi kim loại gặp lửa, nên có thủy luân tràn khắp mặt đất trong mười phương cõi giới.
Lửa thì bốc lên, nước thì sa xuống; giao xen nhau, phát ra thành tánh cứng. Chỗ ướt thành biển lớn, chỗ khô thành gò nổi. Giảng giải:
Sau khi giải thích về thủy luân, Đức Phật giảng giải vì sao mà biển cả và núi non được hình thành. Lửa thì bốc lên, nước thì sa xuống. "Lửa thì bốc lên cao, nước thì rơi xuống". Trong đoạn kinh trước, Đức Phật đã nói rằng KIM LOẠI bốc hơi và lửa phát ra, thế nên sự ẩm ướt đã tạo nên thủy luân. Thế nên lửa thì bốc lên còn nước thì sa xuống, và sự kết hợp hai tính chất nầy làm thành tánh cứng. "Giao xen nhau, phát ra thành tánh cứng". Điều nầy tạo nên ĐẤT CỨNG. Chỗ ướt thành biển lớn, chỗ khô thành gò nổi. Nước rơi xuống và đọng lại trở thành sông biển. Chỗ khô thành đất liền, gò đống, núi non.
Do nghĩa ấy, nên trong biển lớn kia, thường phát ra ánh lửa; trong đất liền kia, sông ngòi thường chảy.
Thế nước kém thế lửa thì kết thành núi cao. Thế nên khi đập đá núi thì nháng tia lửa, khi nấu thì chảy ra nước.
Thế đất kém thế nước, vươn ra thành cỏ cây. Thế nên rừng cây bị đốt thì thành đất, vắt đất ra thì thành nước. Giảng giải:
Thế đất kém thế nước, vươn ra thành cỏ cây. Khi thế của đất yếu hơn thế của nước, thì thành ra thảo mộc, cây cối. Thế nên rừng cây bị đốt thì thành đất, vắt ra thì thành nước. Tro vốn chỉ là đất. Nếu quý vị vắt cỏ lá hay thân cây thì nước liền rỉ ra.
Vọng tưởng giao xen phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau. Do nhân duyên đó mà thế giới tương tục.
Giảng giải:
"Vọng tưởng giao xen phát sinh, lần lượt làm chủng tử cho nhau".
Giao tức giao xen với nhau. Vọng tức là tâm hư vọng và cảnh hư vọng. Ban đâu là do sai lầm muốn soi lại tánh giác (vọng minh) mà thành có u tối, hỗn trược của hư không. Cái sáng, cái tối ấy xâm đoạt nhau thành ra diêu động nên sanh ra phong đại. Chấp cứng cái vọng minh mà thành ra có địa đại. Phong đại và kim luân cọ xát nhau mà thành hoả đại. Kim loại và hỏa đại thiêu đốt nhau mà thành thủy đại. Nên tứ đại chính là do vọng tưởng giao xen phát sinh.
Chỉ một niệm vọng tưởng sinh khởi, lửa và nước liền thành chủng tử của núi sông do sự giao xen lẫn nhau. "Do nhân duyên đó mà thế giới tương tục". Từ sự giao xen lẫn nhau nầy mà tạo nên chủng tử, thế giới hoại diệt rồi lại sinh khởi, bắt đầu rối kết thúc. Thành, trụ, hoại, không cùng vô số tướng trạng, sự tương tục của thế giới là vô cùng vô tận, tiếp diễn không bao giờ dừng nghỉ.
Lại nữa Phú-lâu-na, vọng tưởng chẳng phải là cái gì khác, chính do giác minh mà hoá ra lầm lỗi. Giảng giải:
Lại nữa Phú-lâu-na, Như Lai sẽ giải thích cho ông rõ hơn. "Vọng tưởng chẳng phải là cái gì khác, chính do giác minh mà hoá ra lầm lỗi". Chẳng có cái gì khác lừa bẫy ông đâu; đơn giản chỉ là do ông muốn soi lại tánh giác (vọng minh). Đó là lý do khiến mọi chuyện phát sinh. Muốn soi lại tánh giác (vọng minh) chẳng khác gì trên đầu mọc thêm một cái đầu nữa.[10]
Cái sở minh hư vọng đã lập, thì phạm vi của năng minh cũng không thể vượt qua được. Do nhân duyên ấy, cái nghe không ra ngoài tiếng, cái thấy không vượt khỏi sắc.
Sáu cái vọng sắc hương vị xúc v.v... đã thành lập. Do đó chia ra có thấy nghe hay biết.
Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà tách rời, mà thành, mà chuyển hoá.
Cái thấy phát minh thì sắc phát ra (Làm sao mà con người trở thành con người? Khi con người được hình thành, thức thứ tám có mặt trước tiên; và khi chết, thì thức thứ tám ra đi sau cùng_HT Tuyên Hóa giảng), soi rõ sự thấy thì có cái tưởng. Ý kiến khác nhau thành có cái ghét, cái tưởng đồng nhau thành có luyến ái. Lưu giữ tính ái thành có chủng tử, thu nạp niệm tưởng thành ra bào thai. Phát sanh sự giao cấu làm hấp dẫn đồng nghiệp. Nên có nhân duyên sanh ra yết-la-lam, át-bồ-đàm[11] v.v...
Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hoá sanh, tuỳ theo nghiệp tương ứng. Thai sanh do ái tình mà có. Thấp sanh là do cơ cảm mà hợp lại, hoá sanh do phân ly mà ứng hiện.
Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay đổi lẫn nhau. Các loài thọ nghiệp báo cũng theo nhau lên xuống. Do nhân duyên đó mà chúng sinh tương tục.
Phú-lâu-na, tư tưởng thương yêu ràng buộc lẫn nhau, yêu mãi không rời. Thế nên cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau không dứt. Loại nầy thì lấy tham dục làm gốc.
Lòng tham ái cùng giúp nhau tăng trưởng, tham mãi không dứt. Thế nên các loài noãn sanh, thai sanh thấp sanh, hoá sanh trong thế gian, tuỳ sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau. Loại chúng sinh nầy lấy sát và tham làm gốc.
Do người ăn dê, dê chết hoá làm người, người chết hoá làm dê. Như thế cho đến mười loại chúng sinh, sống chết xoay vần, ăn nuốt lẫn nhau. Ác nghiệp cùng tạo ra cho đến vị lai. Loại chúng sinh nầy lấy trộm đạo và tham lam làm gốc.
Ông nợ mạng tôi, tôi trả nợ thân mạng cho ông. Do nhân duyên ấy, trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sinh tử.
Ông yêu cái tâm tôi, tôi yêu hình sắc của ông. Do nhân duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong vòng ràng buộc.
Phú-lâu-na, ba thứ tương tục điên đảo ấy, đều là do tánh sáng hư vọng muốn soi rõ tánh giác. Nhân cái liễu tri mà phát ra cảnh tướng, theo vọng tưởng mà kiến chấp phát sinh. Các tướng núi sông đất liền thứ lớp dời đổi. Do hư vọng nầy mà xoay vần không cùng tận.
Nếu cái diệu giác dó, vốn bản tính là diệu minh, cùng với tâm Như Lai không tăng không diệt. Không có cớ gì bỗng nhiên phát sanh các tướng hữu vi, núi sông đất liền. Như Lai nay đã chứng được bản giác diệu không, thế thì núi sông đất liền, các tập khí hữu lậu hữu vi, có còn sanh khởi trở lại hay không?
..... Cũng như khoáng chất kim loại lẫn trong vàng, khi đã luyện thành vàng ròng rồi thì vàng không trở thành tạp chất kim loại nữa. Như cây cháy đã thành tro, tro ấy không trở lại thành cây được nữa..... (Nguồn: Kinh Thủ LN - Q4 - C.I và xem Kinh Thủ LN - Q4 - C.II- HT Tuyên Hóa)
+ CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINH
+ Đức Phật dậy: Để chỉ cho công đức của 6 căn con người tương quan trong thế giới. Tuy nhiên xét chỗ hơn kém thì công đức của sáu căn không nhất thiết đồng nhau, như sau:
1- Xét về nhãn căn thì mắt chỉ thấy phía trước và một phần của hai bên. Cho nên luận về mắt chỉ được 800 công đức.
2- Xét về nhĩ căn, lỗ tai có ba đức ưu việt. Viên, Thông và Thường. Luận về nhĩ căn thì có 1200 công đức.
3- Xét về tỷ căn, lỗ mũi tương tục chỉ có thở ra và hít vào. Điểm giao tiếp giữa hít và thở gián đoạn. Luận về tỷ căn có được 800 công đức.
4- Xét về thiệt căn thì lưỡi có thể phô diễn cùng tột trí thế gian và xuất thế gian. Ngữ ngôn tuy hữu hạn mà diệu lý diễn đạt vô cùng. Luận về thiệt căn thì có được 1200 công đức.
5- Xét về thân căn, thân thì biết xúc. Có thể xúc thuận xúc nghịch, nhưng khi hợp thì biết, lúc ly thì không. Luận về thân căn chỉ có 800 công đức.
6- Xét về ý căn, ý căn thầm lặng mà dung nạp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian mười phương ba đời, thành phàm không pháp nào không bao dung cùng tột. Luận về ý căn có đủ 1200 công đức. (Nguồn: Chỉ rõ sự ràng buộc hay siêu thoát của thế giới chúng sinh, ở nửa cuối trang)
+ Đức Phật dậy về Thế giới chúng sinh
... Như hiện nay sáu thứ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà.
Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc, không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian.
Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc, không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian.
Giảng giải:
"Do đây mà chúng sinh trong thế giới từ vô thủy phát sinh sự ràng buộc". Sáu căn, sáu trấn, sáu thức giao thiệp lui tới với nhau, cái nầy nương vào cái kia. Giống như hai con thú lang và bái.[5] Con lang dùng hai chân trước, con bái dùng hai chân sau. Nên con lang và bái cùng dựa vào nhau để đi. Nếu chúng không hòa hợp nhau, thì con lang không thể đi được và con bái cũng không thể tự mình đi được. Một dạng tương thuộc lẫn nhau tương tự là cần phải có giữa sáu căn, sáu trần, sáu thức. Nó giữ cùng một kiểu cách như vậy. Từ vô thủy đã có sự tương tục của thế giới và tương tục của chúng sinh. Cả hai kết hợp chặt chẽ với nhau đến mức chúng sinh không thể không cần thế giới, và thế giới không thể hiện hữu mà không có chúng sinh. Hai thứ kết dính với nhau, thế nên không thể thoát khỏi các hiện tượng thế gian. Hiện tượng thế gian ở đây là chỉ cho toàn thể núi sông đất liền, các công trình tạo tác, và các thứ do con người làm ra. ‘Chúng sinh’ là chỉ cho cõi giới của các loài hữu tình. Rốt ráo các các loài hữu tình không thể tách rời ra khỏi các hiện tượng thế gian, và các hiện tượng thế gian không thể thoát ta ngoài cõi giới của các loài hữu tình. Các hiện tượng thế gian thu hút các loài hữu tình vào, hấp dẫn chúng cho đến khi cả hai cài chặt vào nhau và không cái nào thoát khỏi ra cái nào được cả. Thế nên có một sự phụ thuộc lẫn nhau trong sự tương tục của thế giới và tương tục của chúng sinh cùng sự tương tục của nghiệp quả. Không có chúng sinh, sẽ không có thế giới, sẽ không có nghiệp quả. Để có thế giới thì ắt phải có nghiệp quả và có chúng sinh. Nếu một thứ không hiện hữu, thì các thứ kia cũng không. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.4 - Chương IV)
+ Tứ đại - Ngũ hành Thổ - Thủy hay Đất - Nước:
Theo Kinh Lăng Nghiêm, nếu ta bỏ một nắm đất vào chậu nước trong, thì công năng vốn có của đất và nước sẽ bị mất đi.
Vậy công năng vốn có của đất (thổ) là gì? Là "lưu ngại" (lưu giữ, ngăn ngại)! Ðất (thổ) có tánh gây chướng ngại cho nên con người có thể đi lại trên đất. Nếu không có đất, chúng ta sẽ bị rơi vào biển cả, bởi bên dưới đất là nước, nước có thể cuốn trôi đất. Bên dưới nước lại là lửa; cho nên có lúc núi lửa bộc phát là do tác dụng của một sự biến hóa. Nếu nói rằng bên dưới nước là lửa, vậy lửa này không bị nước dập tắt sao? Vì lửa cháy quá dữ dội nên nước không dập tắt nổi! Muốn hiểu thấu đạo lý này thì quý vị phải nghiên cứu Phật Pháp thâm sâu hơn nữa mới được.
Kinh Lăng Nghiêm cũng có chép: "Thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết." (Khi nước và đất trộn lẫn, thì đất mất tánh lưu ngại, nước mất tánh thanh khiết.)
Bởi nước bị vẩn đục, mất đi sự thanh khiết, cho nên gọi là "trược." Cõi "Ngũ Trược ác thế" này ví như vũng bùn dơ bẩn - một hỗn hợp của nước và đất. Ðây là một thế giới không thanh tịnh bởi có sự hiện hữu của năm thứ ô trược (Cần phân biệt Ngũ trược Thế giới và Ngũ trược trong con người):
1) Kiếp Trược. "Kiếp" là danh từ chỉ thời gian. Thời gian thì ô trược bởi chúng ta không thể phân định một cách rõ ràng là khi nào, thời điểm nào. Trước kia có người hỏi tôi, thế nào gọi là thời gian? Thật ra, không có cái gọi là "thời gian," không thể nào định rõ được thời gian. Ðó là Kiếp Trược.
2) Kiến Trược; Phiền Não Trược; Chúng Sanh Trược; Mạng Trược (Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược, bất tịnh). (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P1- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Vũ trụ vật lý ([8] 水輪; Skt. jala-maṇḍala): Theo A-tì-đạt-ma, được mô tả là ba tầng đài (maṇḍala): mặt đất bao gồm núi sông, các lục địa, được đặt trên đài bằng vàng, gọi là kim luân (kañcana-maṇḍala). Nằm phía dưới nâng đỡ kim luân là đài nước hay thủy luân (jala-maṇḍala). Nâng đỡ phía dưới thủy luân là phong luân hay đài gió (vāyu-maṇḍala). Phong luân y chỉ hư không mà tồn tại. (Nguồn: Kinh Thập nhất thiết xứ / Kinh Mười Biến Xứ ...)
+ Tứ đại - Ngũ hành Thổ - Thủy [Đất - Nước] tương tác:
Theo Kinh Lăng Nghiêm, nếu ta bỏ một nắm đất vào chậu nước trong, thì công năng vốn có của đất và nước sẽ bị mất đi.
Vậy công năng vốn có của đất (thổ) là gì? Là "lưu ngại" (lưu giữ, ngăn ngại)! Ðất (thổ) có tánh gây chướng ngại cho nên con người có thể đi lại trên đất. Nếu không có đất, chúng ta sẽ bị rơi vào biển cả, bởi bên dưới đất là nước, nước có thể cuốn trôi đất. Bên dưới nước lại là lửa; cho nên có lúc núi lửa bộc phát là do tác dụng của một sự biến hóa. Nếu nói rằng bên dưới nước là lửa, vậy lửa này không bị nước dập tắt sao? Vì lửa cháy quá dữ dội nên nước không dập tắt nổi! Muốn hiểu thấu đạo lý này thì quý vị phải nghiên cứu Phật Pháp thâm sâu hơn nữa mới được.
Kinh Lăng Nghiêm cũng có chép: "Thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết." (Khi nước và đất trộn lẫn, thì đất mất tánh lưu ngại, nước mất tánh thanh khiết.)
Bởi nước bị vẩn đục, mất đi sự thanh khiết, cho nên gọi là "trược." Cõi "Ngũ Trược ác thế" này ví như vũng bùn dơ bẩn - một hỗn hợp của nước và đất. Ðây là một thế giới không thanh tịnh bởi có sự hiện hữu của năm thứ ô trược (Cần phân biệt Ngũ trược Thế giới và Ngũ trược trong con người):
1) Kiếp Trược. "Kiếp" là danh từ chỉ thời gian. Thời gian thì ô trược bởi chúng ta không thể phân định một cách rõ ràng là khi nào, thời điểm nào. Trước kia có người hỏi tôi, thế nào gọi là thời gian? Thật ra, không có cái gọi là "thời gian," không thể nào định rõ được thời gian. Ðó là Kiếp Trược.
2) Kiến Trược; Phiền Não Trược; Chúng Sanh Trược; Mạng Trược (Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược, bất tịnh). (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P1- HT Tuyên Hóa giảng)
777. VẤN NẠN [Sự tồn tại các pháp tướng]
Phạm chí liền hỏi: Thưa Cù-đàm, kinh điển của Phạm chí nương vào đâu mà tồn tại?
Đức Thế Tôn đáp: Kinh điển của Phạm chí nương vào con người mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, con người nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Con người nương vào lúa gạo mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, lúa gạo nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Lúa gạo nương vào đất mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, đất nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Đất nương vào nước mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, nước nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Nước nương vào gió mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, gió nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Gió nương vào hư không mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, hư không nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Hư không không có nương tựa, nhưng nhân mặt trời, mặt trăng mà có hư không.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, mặt trời và mặt trăng nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Mặt trời, mặt trăng nương vào Tứ thiên vương mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Tứ thiên vương nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Tứ Thiên vương nương vào Tam thập tam thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Tam thập tam thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Tam thập tam thiên nương vào Diệm-ma thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Diệm-ma thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Diệm-ma thiên nương vào Đâu-suất-đà thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Đâu-suất-đà thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Đâu-suất-đà thiên nương vào Hóa lạc thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Hóa lạc thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Hóa lạc thiên nương vào Tha hóa lạc thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Tha hóa lạc thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Tha hóa lạc thiên nương vào Phạm thiên mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Phạm thiên nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Phạm thiên nương vào Đại phạm mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Đại phạm nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Đại phạm nương vào nhẫn nhục, ôn hòa mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, nhẫn nhục, ôn hòa nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Nhẫn nhục, ôn hòa nương vào Niết-bàn mà tồn tại.
Hỏi: Thưa Cù-đàm, Niết-bàn nương vào đâu mà tồn tại?
Đáp: Ý muốn của Phạm chí nương vào những sự kiện không cùng nên ông nay đã hỏi Ta về sự không có giới hạn, nhưng Niết-bàn không nương vào đâu cả. Niết-bàn là tịch diệt, Niết-bàn là tối thượng. Này Phạm chí, vì mục đích này mà nhiều người theo ta mà tu hành Phạm hạnh. (Nguồn: mục 777- (Trung A Hàm, Kinh A-Già-la-ha-na, Phẩm 12, số 159)
+ NHỮNG PHẨM TÍNH tương ứng Thể xác - Thể Vía - Thể Trí.
* Tooltip: P.Tính đồng ứng con số - Chia & Nhóm biểu lộ
I- Từ khóa - Phẩm chất con người:
+ Phẩm tính: Tooltip_Nhân cách và kỹ năng
* Kiến tạo Nhân cách: Qua 2 phần
(1) - Đức hạnh nên chiếm 2/ 3 - Tự mình tu dưỡng - Khó, tự khắc kỷ.
(2)- Kỹ năng/ Kỹ thuật nghề nghiệp chỉ nên chiếm 1/ 3 - Có thể học.
[Tooltip: Kiến tạo tính cách; Xem: Tooltip_ Các hạnh tốt]
+ Tooltip: NGUYÊN MỆNH - TẬP KHÍ BẢN NĂNG
+ Tooltip: Phẩm tính người phương Đông - Tây
+ Tooltip: Tham lam - Xem: Tâm tham dục
+ Tooltip: Kiêu mạn - Chấp ngã nặng
+ Tooltip: Tham chấp, Sợ hãi, Đố kị, Nóng giận, Thân ...
+ Tooltip: Phẩm tính Người tìm đạo
II- Tương ứng Phẩm tính con người - Các từ khóa:
1. Phẩm tính các Cung năng lượng
+ Cung 1: Thức đại - HỎA - Mặt Trời - Ứng người: Tooltip Cung 1
+ Cung 2: Kiến đại - THỦY - Mặt Trăng - Ứng người: Tooltip Cung 2
+ Cung 3: Không đại - Không khí - Thổ [Địa cầu] - Ứng người: Tooltip Cung 3
+ Cung 4: Phong đại - Gió - Mộc - Ứng người: Tooltip Cung 4
+ Cung 5: Hỏa đại - Lửa - Hỏa - Ứng người: Tooltip Cung 5
+ Cung 6: Thủy đại - Nước - Thủy - Ứng người: Tooltip Cung 6
+ Cung 7: Địa đại - Đất - Kim - Ứng người: Tooltip Cung 7
* Tooltip: Dụng Cung 7 - Hôn phối T.Thần & Vật C
+ Dụng Cung 2: Trái tim Minh triết
+ Tổng hợp tính chất 7 Cung: Tooltip_Phẩm tính 7 Cung
2. Phẩm tính các Cung Hoàng đạo - Hành tinh - Các Đại Hành tương ứng:
+ Tooltip: Phẩm tính Cung đối nghịch
+ Tooltip: Từ khóa Phẩm tính ứng Hành tinh
+ Tooltip: H. Tinh với Nhân cách, Luân xa
+ Tooltip: HT DT, Quản Thể, Khả năng, Mầu ...
+ Tooltip: Phẩm tính các Đại - Hành
+ Tooltip: Tánh & Quy nạp Đại hành ứng cơ thể
+ Tooltip: Về Thể - Dụng các Đại
+ Tooltip: Phẩm tính Đồng Dị các Đại hành
III- Những Phẩm tính Nhân nào - Quả đấy
+ Tooltip: Gieo nhân - gặp quả
IV- Những Phẩm tính :
+ Xem thêm: Tổng hợp về Học vấn và Nghề nghiệp
* Xem Trang: Các Sách dịch học luận thiên cơ
* Xem Trang: Các Sách và bài viết liên quan đến dạy thiên cơ
* Xem Sách: Sách Tư liệu: Kiến thức luận về Âm Dương - Các Đại - Các Hành - Hành tinh [Để soạn GT giảng]
* Xem Sách: Sách Tư liệu: Dự đoán Tứ trụ theo Chuyên mục: Dụng thần - Mười thần và Tâm tính [Trích G.Trình và bảng Exell]
* Xem Sách: Tổng giáo trình Tứ trụ [Phân cấp ....]
* Xem Sách: Gợi nhớ - Tooltip thuộc tính Dự đoán theo Tứ trụ
+ Danh mục các các Chương Sách của Nhân Trắc Học:
Chương: Bảng tổng hợp ứng Ngũ phương [Tooltip Thuộc tính - Copi từ Bài viết]
Danh sách các Trang Thuật ngữ - Tooltip - Siêu trang: Tổng hợp các tương ứng_Nhiều nội dung
Tổng hợp Kiến thức theo Clip - Lớp Tứ trụ Cơ bản Khóa 01 [Phần 1: Clip 1 - 6]
Bảng Tổng Hợp Các Tương Ứng Giữa Vũ trụ với Con Người: Xem tại đây
Tổng hợp Kiến thức theo Clip - Lớp Tứ trụ Cơ bản Khóa 01 [Phần 2: Clip 7 - 12]
Tài liệu tổng Hợp Về Chiêm Tinh Học và Cung Hoàng Đạo và Bốn Mùa: Xem tại đây
Tổng Hợp Các Khai Thị Phương Pháp Tu - Hóa giải chướng ngại - Hóa giải nghiệp - Tiêu trừ nghiệp chướng
PHẦN I- Tổng Hợp Kiến thức Dự Đoán Tứ trụ Tổng Hợp [HTML - Đã đồng bộ ML Sách TVH]
PHẦN II- Tổng Hợp Kiến thức Dự Đoán Tứ trụ Tổng Hợp [HTML - Đã đồng bộ ML Sách TVH]
Xem Chương: Lý thuyết về dự đoán Tứ trụ_ Cần đối chiếu kiểm tra
II- TỔNG HỢP CÁC LINK TÀI LIỆU THEO CÁC TOOLTIP
1. Phẩm tính các Cung ứng con người qua các Từ khóa mô tả phẩm tính con người có những phẩm tính ứng các cung năng lượng - Nhân cách đạo đức của con người qua các từ khóa: Xem tại đây
2. Tổng hợp các pháp dự đoán - Tổng hợp kiến thức chọn nghề nghiệp - Tổng hơp kiến thức Chọn ngành học - Chọn học nghề - Tư vấn Định hướng nghề nghiệp - Chọn Nghề nghiệp theo Lá số sinh - Lá số Tứ trụ: Xem tại đây
+ Nguồn gốc vũ trụ - Các đấng vũ trụ - Thượng đế biểu hiện:
Nhưng chúng ta là ai, xuất phát từ đâu? Câu trả lời của Minh Triết Thiêng Liêng là tất cả chúng ta đều xuất phát từ Sự Sống Duy Nhất Đại đồng (One Universal Life). Chúng ta là một phần bất khả phân của Sự Sống Duy Nhất đó, là Tia lửa của Ngọn Lửa Thiêng hay điểm Linh Quang, Chân thần, chảy ra xuyên qua các Đấng Vũ trụ (Universla Beings), xuyên qua các Đấng nhỏ hơn như các chòm sao, đến hành tinh của chúng ta, cuối cùng đến con người chúng ta trên trái đất này.
Các đấng Vĩ đại này, mà cơ thể của các Ngài là vũ trụ hay các chòm sao, phân thành 7 dạng biểu lộ, thể hiện 7 lọai năng lượng hay là 7 Cung (7 Rays).
Khi Thượng đế khai sinh một vũ trụ mới, từ Ngài phóng ra bảy phát xạ (emanations). Cổ thư hay dùng từ “thở ra” (breathe out) để mô tả tiến trình này. Sự Sống Duy Nhất thở ra hay phân hóa thành bảy luồng năng lượng được biết đến như là Bảy Cung.
Bảy Cung cung ứng toàn bộ môi trường thể hiện cho Thượng đế Biểu hiện, và bản thân chúng là các phẩm tính như Bác Ái, Sùng Tín, Mỹ Lệ. Mỗi cung có cung bậc, âm thanh, màu sắc, và rung động riêng của nó. Ta có thể thấy chúng trong màu sắc của cầu vồng, bảy note của âm giai. Ta còn thấy các ví dụ khác về số bảy như 7 ngày trong tuần, 7 tội lỗi chết người, Bảy Kỳ quan của thế giới, 7 Luân xa hay 7 tuyến … (Nguồn: Cấu tạo con người 1)
+ Các Đấng Thiêng Liêng:
– Ah–hi tức là Thiên Trí (Universal mind) – Ah–hi, các Đấng Kiến Tạo vĩ đại (greater Builders), các Ngài là các Tinh Quân thi hành ý chí của Thái Dương Thượng Đế, các Ngài sử dụng phần lớn hai cõi để giao tiếp với nhau và với các đoàn thể của các Ngài: Một là cõi thứ hai, nơi mà các Ngài giao tiếp bằng phương tiện tinh thần mà hiện nay con người không thể hiểu được. Hai là cõi trí, nơi mà các Ngài giao tiếp với tất cả các sự sống thứ yếu bằng loại viễn cảm thuộc thể trí. (LVLCK, 815)
– Ah–hi: các Đấng Thiêng liêng (Celestial Beings). (GLBN I, III)
+ Bảy cung - Số 7 biểu lộ: Cần nhớ kỹ khi nghiên cứu thái dương hệ, các cõi, các hành tinh hệ, con người và nguyên tử, đó là việc phân nhóm của các đường hoặc các dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hóa đương nhiên rơi vào bốn phân chia :
1/ Cách chia 1 - 3 - 3: Cách này Hiểu dưới định luật về các tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của thái dương hệ, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi nỗ lực của con người được điều nghiên liên quan với nhau.
2/ Cách chia: 4 - 3: Cách này trở nên dễ hiểu hơn khi sự liên lạc chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được hiểu rõ. Việc này có thể trở nên sáng tỏ bằng việc nghiên cứu về 4 chất dĩ thái hồng trần và 3 cõi phụ thấp của cõi trần chúng ta.
3/ Cách chia: 3 - 4: Cách này có manh mối đối với bí ẩn của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cõi phụ vô sắc tướng và bốn cõi phụ hữu sắc tướng của cõi đó.
4/ Cách chia: 3 - 1 - 3: Cách này có thể hiểu được khi người nghiên cứu đi đến việc hiểu biết về bản chất riêng của nó như là một Tam Thượng Thể Tinh Thần, một thể chân ngã và một con người tam phân hạ đẳng. Nhà nghiên cứu cũng có thể tiến tới phân chia thứ nhất một cách tương tự và xem chính mình như một mãnh lực đầu tiên hay Chân Thần, một mãnh lực tam phân hay Ego và một năng lượng tam phân hạ đẳng, hay là phàm ngã, nên nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ bàn đến năng lượng sáng tạo và bàn đến trạng thái biểu lộ của Brahma khi trạng thái đó tự kết hợp với trạng thái Vishnu. (Nguồn: LVLCK, 923, tập 2)
+ Quyền năng (power, siddhis, huyền công, thần thông)
+ Năng lượng Thần lực: Trong toàn thể Vũ Trụ biểu lộ này, có 3 trạng thái được nhận thức.
1. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Một, vô ngã và vô hiện, có trước Vũ Trụ Biểu Lộ.
2. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Hai, Tinh Thần - Vật Chất, Sự Sống, Tinh Thần của Vũ Trụ.
3. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Ba, Thiên Ý Hồng Nguyên Vũ Trụ, Linh Hồn Vũ Trụ Đại Đồng. Từ các nguyên lý sáng tạo căn bản này, trong phát triển kế tiếp, có xuất phát theo trình tự được an bài. Vô số Vũ Trụ gồm hằng hà sa số các Tinh Tú Biểu Lộ và các Thái Dương Hệ. Mỗi Thái Dương hệ là sự biểu lộ của năng lượng và sự sống của một Đấng Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà vì thiếu một danh xưng hoàn hảo hơn, chúng ta gọi là Thái Dương Thượng Đế. Thái Dương Thượng đế lâm phàm hay biểu lộ qua trung gian của một Thái Dương Hệ. Thái Dương hệ này là xác thể hay sắc tướng của Đấng Vũ Trụ và chính Đấng này tam phân (itself triple). Thái Dương hệ tam phân này có thể được mô tả bằng tên gọi có 3 trạng thái (three aspects), hay là (theo như Thần học Cơ Đốc giáo) là 3 Ngôi (three Persons).
Ba trạng thái này của Thượng Đế, tức Thái Dương Thượng Đế, và Năng Lượng Trung Ương hay Thần Lực (vì các tên gọi đều đồng nghĩa về phương diện huyền linh) biểu lộ xuyên qua bảy trung tâm lực – 3 trung tâm lực chính yếu và 4 trung tâm lực thứ yếu. Bảy trung tâm này của Thiên Lực được tạo nên để hợp thành các Thực Thể Thông Linh kết hợp. Các Đấng này được biết dưới danh xưng: a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế; b. Bảy Tinh Quân trước Thiên Toà; c. Bảy Cung (Rays); d. Bảy Thiên Đế (Heavenly Men). (Nguồn: Luận về Lửa càn khôn)
+ Quyền năng hay thần lực nguyên thủy: Có 6 thần lực nguyên thủy trong Thiên Nhiên. Các Shaktis này như sau:
1. Parashakti: Nghĩa đen là đại thần lực hay quyền năng tối cao (supreme force or power). Nó bao gồm và có nghĩa là quyền năng của ánh sáng và nhiệt.
2. Jnanashakti: Nghĩa đen là quyền năng của trí tuệ (power of intellect) của chân minh triết hay chân tri thức (real wisdom or knowledge). Quyền năng này có hai trạng thái
+ Jnanashakti (Trí tuệ thần lực): Thần lực của trí năng hay thể trí.
+ Parashakti (Tối thượng thần lực): Theo nghĩa đen là thần lực, năng lượng và bức xạ tối cao ở trong và xuất phát từ vật chất.
+ Mantrikashakti (Linh từ thần lực): Thần lực tiềm phục trong âm thanh, ngôn từ và âm nhạc (LVLCK, 395–396)
+ Bảy Cung - Số 7 biểu lộ: Cần nhớ kỹ khi nghiên cứu thái dương hệ, các cõi, các hành tinh hệ, con người và nguyên tử, đó là việc phân nhóm của các đường hoặc các dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hóa đương nhiên rơi vào bốn phân chia :
1/ Cách chia 1 - 3 - 3: Cách này Hiểu dưới định luật về các tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của thái dương hệ, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi nỗ lực của con người được điều nghiên liên quan với nhau.
2/ Cách chia: 4 - 3: Cách này trở nên dễ hiểu hơn khi sự liên lạc chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được hiểu rõ. Việc này có thể trở nên sáng tỏ bằng việc nghiên cứu về 4 chất dĩ thái hồng trần và 3 cõi phụ thấp của cõi trần chúng ta.
3/ Cách chia: 3 - 4: Cách này có manh mối đối với bí ẩn của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cõi phụ vô sắc tướng và bốn cõi phụ hữu sắc tướng của cõi đó.
4/ Cách chia: 3 - 1 - 3: Cách này có thể hiểu được khi người nghiên cứu đi đến việc hiểu biết về bản chất riêng của nó như là một Tam Thượng Thể Tinh Thần, một thể chân ngã và một con người tam phân hạ đẳng. Nhà nghiên cứu cũng có thể tiến tới phân chia thứ nhất một cách tương tự và xem chính mình như một mãnh lực đầu tiên hay Chân Thần, một mãnh lực tam phân hay Ego và một năng lượng tam phân hạ đẳng, hay là phàm ngã, nên nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ bàn đến năng lượng sáng tạo và bàn đến trạng thái biểu lộ của Brahma khi trạng thái đó tự kết hợp với trạng thái Vishnu. (Nguồn: LVLCK, 923, tập 2)
+ Xem thêm: Các Thần lực - Các Linh hồn - Các Tâm thức
* Tổng hợp các bí quyết và bí nhiệm: Rất tuyệt vời nếu ứng dụng trong hiểu biết sẽ giúp con người mạnh khỏe, ít bệnh, trường thọ và trí tuệ với khả năng sáng tạo rất lớn ...
+ Cần Nghiền ngẫm kỹ: Chân Sư DK nói - Hãy suy ngẫm kỹ điều này => Đây là những kiến thức ĐẶC BIỆT ẩn chứa các bí quyết hay bí nhiệm, điều tuyệt diệu được trao truyền - Mà nếu nghiền ngẫm để hiểu đúng, ứng dụng được vào đời sống => TỘT ĐỈNH NHÂN GIAN, bởi vì: KHI YÊN LẶNG SUY NGHĨ ĐIỀU ĐÓ TRONG TÂM, ÁNH SÁNG CÓ THẺ ĐẾN VÀ NGỌN LỬA NỘI TẠI SẼ BÙNG CHÁY VỚI SỨC NÓNG NHIỀU HƠN => Thành quả ứng dụng là có sức khỏe, ít bệnh, chữa lành, sống thọ ... và khả năng sáng tạo vô cùng lớn [Theo quan điểm phàm nhân] (Thư về TTHM-188)
+ Bí nhiệm chuyển hóa sự sống: ... lực gây tác dụng chuyển hóa là lửa. Sự hiểu biết đúng đắn ... mà trong bộ sách này có diễn đạt nhiều đến nỗi nó lộ ra cho những ai lưu tâm tìm kiếm.... Kết quả sáng tạo -> Tạo ra: Sự ẩm ướt - Hơi ấm - Chói lọi cần thiết được mô tả "Tạo ra Sự ẩm ướt đầu tiên, chậm chạp và bao bọc tất cả => Sau đó sưởi ấm với hơi ấm ngày càng tăng và cường độ mãnh liệt => Kế đó, sức mạnh ép xuống, dồn lại và tập trung - Như vậy, sự tỏa chiếu được tạo ra; rỉ ra như thế đó; biến đổi như thế đó; Sự thay đổi hình hài như thế đó. Cuối cùng là sự giải thoát, tinh hoa dễ bay hơi bốc ra và gom góp cặn bã trở lại chất liệu nguyên thủy.
Kẻ nào nghiềm ngẫm các công thức này và kẻ nào suy gẫm dựa vào phương pháp và diễn trình được gợi ra, kẻ ấy sẽ nhận được một ý niệm tổng quát về diễn trình tiến hóa của sự chuyển hóa, vốn sẽ có giá trị đối với y hơn là các công thức mà theo đó các thiên thần chuyển hóa các khoáng chất khác nhau. (Tooltip: Bí nhiệm chuyển hóa_Luận về LCK, tr 476)
+ Bí nhiệm thất phân: ... Mỗi bí nhiệm liên quan đến một trong bảy cảnh giới của thái dương hệ. Liên quan đến 1 trong 7 Định luật thiên nhiên .... (khi thấy bằng thần nhãn) thì mỗi bí nhiệm gồm một hình bầu dục với một màu nhất định, ... một con số và Ngành của Cung ... (Tooltip: Bí nhiệm thất phân)
+ Bí nhiệm "Cần tiết lộ": ... Nghìn Xưa dạy rằng “không gian là một thực thể”. Chính là với sự sống của thực thể này và với các thần lực và năng lượng, các xung lực và các nhịp điệu, các chu kỳ và mùa tiết mà chiêm tinh học huyền bí bàn đến. H.P.B. có nói đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Tôi xin nhắc các bạn rằng có một chìa khóa chiêm tinh học cho Giáo Lý Bí Nhiệm .... mà nhà nghiên cứu khi có hiểu biết => Giải thích nó cho nhân loại – Tiết lộ nguyên lý cơ bản vĩ đại thứ tư - 3 nguyên lý căn bản trong lời nói đầu của GLBN (Tooltip: Chìa khóa Chiêm tinh học)
+ TTHM-183: Con người truyền đạt cho Thiên thần những ý kiến khách quan. Các Thiên Thần sẽ ban giải cho con người Từ lực để chữa trị. Các Thiên Thần gìn giữ Prana, như con người giữ nguyên khí thứ 5 hay Trí tuệ.
+ TTHM-184: Mặt Trời trung tâm thái dương hệ chúng ta; Trái Tim là trung tâm con người
+ TTHM-185: Prana- Hiểu đúng => Biết bí quyết sức khoẻ hoàn hảo
+ TTHM-187: Viêm Kim Cương gắn trên đỉnh Thần Trượng nó tập chung được 3 loại lửa:
(i)-Tia lửa thiêng - Nguyên khí thứ năm
(ii)- Tia lửa Trí tuệ - Tam nguyên
(iii)- Luồng Hoả hậu - Kundalini của Tứ hạ thể. Nó tương tự như thấu kính hội tụ gom được ánh sáng mặt trời để làm bùng lên một ngọn lửa hoà hợp => Như thế, mọi quyền năng sẽ biểu lộ đầy đủ, các chất không tinh khiết, căn bã sẽ bị đốt sạch = Hành giả đạt đích
+ Suy ngẫm kỹ: ... Việc nghiên cứu huyền bí học đích thực là nghiên cứu về nguyên do và cách nào mà các hiện tượng xảy ra. Đó là việc tìm kiếm phương pháp để đạt kết quả, cũng như phân tích tỉ mỉ các sự kiện và các trường hợp để tìm ra những định luật quản trị chi phối chúng... Một trong những câu châm ngôn về cung và cầu là: Chỉ khi nào mức cung được sử dụng một cách khéo léo cho các nhu cầu của người phụng sự và công việc phụng sự thì nguồn cung cấp ấy mới tiếp tục tuôn tràn vào. (Câu này tôi chọn cẩn thận từng từ).
Bí quyết là: Sử dụng, yêu cầu, nhận lấy. Chỉ khi nào cánh cửa mở ra do định luật cầu thì một cánh cửa khác cao hơn mới mở ra để cung tuôn vào. Trong luật vạn vật hấp dẫn có ẩn chứa bí mật này. Các bạn hãy suy ngẫm kỹ. (TTHM, 204)
+ Số 7 biểu lộ: Cần nhớ kỹ khi nghiên cứu thái dương hệ, các cõi, các hành tinh hệ, con người và nguyên tử, đó là việc phân nhóm của các đường hoặc các dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hóa đương nhiên rơi vào bốn phân chia :
1/ Cách chia 1 - 3 - 3: Cách này Hiểu dưới định luật về các tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của thái dương hệ, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi nỗ lực của con người được điều nghiên liên quan với nhau.
2/ Cách chia: 4 - 3: Cách này trở nên dễ hiểu hơn khi sự liên lạc chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được hiểu rõ. Việc này có thể trở nên sáng tỏ bằng việc nghiên cứu về 4 chất dĩ thái hồng trần và 3 cõi phụ thấp của cõi trần chúng ta.
3/ Cách chia: 3 - 4: Cách này có manh mối đối với bí ẩn của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cõi phụ vô sắc tướng và bốn cõi phụ hữu sắc tướng của cõi đó.
4/ Cách chia: 3 - 1 - 3: Cách này có thể hiểu được khi người nghiên cứu đi đến việc hiểu biết về bản chất riêng của nó như là một Tam Thượng Thể Tinh Thần, một thể chân ngã và một con người tam phân hạ đẳng. Nhà nghiên cứu cũng có thể tiến tới phân chia thứ nhất một cách tương tự và xem chính mình như một mãnh lực đầu tiên hay Chân Thần, một mãnh lực tam phân hay Ego và một năng lượng tam phân hạ đẳng, hay là phàm ngã, nên nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ bàn đến năng lượng sáng tạo và bàn đến trạng thái biểu lộ của Brahma khi trạng thái đó tự kết hợp với trạng thái Vishnu. (Nguồn: LVLCK, 923, tập 2)
+ Do đó, các hành tinh hệ sẽ rơi vào nhóm tương tự, và việc này sẽ mở ra cho các nhà nghiên cứu một lĩnh vực ức đoán rộng lớn. Bảy Đấng Prajapatis thuộc về hai nhóm ba, với một Đấng cai quản. Các nhà nghiên cứu cần nhớ kỹ khi nghiên cứu thái dương hệ, các cõi, các hành tinh hệ, con người và nguyên tử, đó là việc phân nhóm của các đường hoặc các dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hóa đương nhiên rơi vào bốn phân chia :
1/ 1 - 3 - 3.
2/ 4 - 3.
3/ 3 - 4.
4/ 3 - 1 - 3.
- Cách chia 1 có thể được hiểu dưới định luật về các tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của thái dương hệ, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi nỗ lực của con người được điều nghiên liên quan với nhau.
- Cách chia 2 trở nên dễ hiểu hơn khi sự liên lạc chặt chẽ giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được hiểu rõ. Việc này có thể trở nên sáng tỏ bằng việc nghiên cứu về 4 chất dĩ thái hồng trần và 3 cõi phụ thấp của cõi trần chúng ta.
- Cách chia 3 có manh mối đối với bí ẩn của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cõi phụ vô sắc tướng và bốn cõi phụ hữu sắc tướng của cõi đó.
- Cách chia 4 có thể hiểu được khi người nghiên cứu đi đến việc hiểu biết về bản chất riêng của nó như là một Tam Thượng Thể Tinh Thần, một thể chân ngã và một con người tam phân hạ đẳng. Nhà nghiên cứu cũng có thể tiến tới phân chia thứ nhất một cách tương tự và xem chính mình như một mãnh lực đầu tiên hay Chân Thần, một mãnh lực tam phân hay Ego và một năng lượng tam phân hạ đẳng, hay là phàm ngã, nên nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ bàn đến năng lượng sáng tạo và bàn đến trạng thái biểu lộ của Brahma khi trạng thái đó tự kết hợp với trạng thái Vishnu. (Nguồn: LVLCK, 923, tập 2)
+ Bộ số 666 - 777 - 888: Không hề có sự cố định về thời gian tạm ngưng, đó chỉ là vấn đề nhu cầu của linh hồn mà thôi; (VLH, 199)
+ Người ta cho rằng bí nhiệm ẩn tàng trong 777 lần luân hồi. Con số này đem lại cơ hội cho nhiều suy gẫm. Cần nói rõ rằng đó không phải là con số chu kỳ luân hồi mà con người phải vượt qua nhưng nó nắm giữ chìa khóa cho 3 chu kỳ chính đã nói trước (chu kỳ của Chân Thần, chu kỳ của Chân Ngã, và chu kỳ của Phàm ngã –ND). Trước tiên, con số này áp dụng cho Hành Tinh Thượng Đế của hệ thống hành tinh chúng ta chứ không phải cho các hành tinh hệ khác. Mỗi Đức Hành Tinh Thượng Đế có con số của Ngài, còn con số của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta ẩn giấu trong 3 con số nói trên, cũng như 666 và 888 nắm giữ cái huyền bí được che giấu của hai Đức Hành Tinh Thượng Đế khác. Số 777 này cũng là số chuyển hóa, vốn là công việc căn bản của tất cả các Hành.
Xem: Thống Kê Tương Ứng Số Và Thuật Ngữ
Xem: Thống Kê Tương Ứng Số
Xem: Tương Ứng Bảy Cảnh Giới Sự Sống Thái Dương
I- TỔNG HỢP TƯƠNG ỨNG CÁC CON SỐ
+ Các Tương ứng số Nhân Trắc Học thống kê
- Thống kê tương ứng với số 01
- Thống kê tương ứng với số 02
- Thống kê tương ứng với số 03
- Thống kê tương ứng với số 04
- Thống kê tương ứng với số 05
- Thống kê tương ứng với số 06
- Thống kê tương ứng với số 07
- Thống kê tương ứng với số 08
- Thống kê tương ứng với số 09
- Thống kê tương ứng với số 10
- Thống kê tương ứng với số 12
- Thống kê tương ứng với các số khác
Xem: Tương ứng số 7 + 5 = 12 Cung Hoàng đạo
Xem: Trang tổng hợp thống kê tương ưng số
+ Các Tương ứng con Số - Đức Phật dậy, Xem: Mục từ khoảng 140 - 160 tại đây
+ Kinh Tương Ưng: Cái này có => Cái kia có và cái này không thì cái kia không - Duyên sanh khởi và đọan diệt các pháp: Xem Kinh Tương Ưng
+ Nghề nghiệp nội môn: Cung LINH HỒN quyết định định hướng nghề nghiệp của chúng ta (GQ2.5 Các Cung CTH-TLH)
* Trang: Đa số người, Y dao động giữa các cặp đối ứng, cả theo quan điểm chiêm tinh, tình cảm, lẫn 4 nhánh của Thập Giá Khả Biến....: Chỉ dẫn dự đoán Chiêm TH Ngoại môn
+ Trang: Các Bảng tổng hợp nghề nghiệp
+ Trang: Nghề nghiệp theo Chiêm tinh học
+ Trang: Tổng hợp Phẩm tính con người ứng Cung và hành tinh
+ Trang: TH Phẩm Tính Của Hành Tinh và Hành Tố - Ngũ Hành
+ Trang: Biểu lộ Biến phân Các Đại - Các Hành - Can Chi và Phẩm tính
+ Trang: KIẾN THỨC CUNG HOÀNG ĐẠO VÀ HÀNH TINH CHI PHỐI
+ Trang: - Dự Đ T.Mạo Theo Dịch Minh Phật - Văn Thù BT .......
+ Trang: - Tổng hợp - Sơ đồ Kiến Thức Chiêm Tinh Học
+ Trang: - Tổng hợp Tiến hóa Thuận Nghịch: Chiêm tinh học
+ Trang: - Huyền Giai Sáng Tạo - Cung Hoàng Đạo
+ Trang: - Tổng hợp Cung Hoàng Đạo - Tiết khí - Hành Tinh chủ quản
+ Trang: TH Tương Ứng Số Biểu Lộ - Các đại - Các hành - Can Chi
+ Trang: Tổng Hợp Bảy Cung - Tương Ứng Thất phân
+ Trang: TH Ngũ Phương tương ứng Đại Hành - Thân Tâm và Ngũ phúc
+ Trang: Tổng hợp các Chu Kỳ - Nhịp Độ Và Tiết Điệu và tương ứng
+ Trang: Tổng hợp các Tinh linh Hành tố - Ngũ hành
+ Trang: TH các chu kỳ biểu lộ và T. Ứng Cung - Tâm trí - H.Tinh - 5 hành
+ Trang: Tổng hợp về các loại Chu kỳ tuần hoàn
+ Trang: TH Diễn G chu kỳ 4 GĐ Thành Trụ Hoại Không - Sinh Lão Bệnh Tử
+ Trang: Tổng hợp Cải Mệnh theo Ngũ hành Dụng thần Tứ trụ
+ Trang: Đạo của Người Thiện Tín Có Trí Phân Biệt
+ Trang: Đạo của Người Quân Tử Có Trí Phân Biện
* Xem Tooltip: Tổng hợp các Phẩm tính các Cung - Đại - Hành
+ Thanh = Sắc: Khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh, thì đó là sự thực hiển nhiên... tôi đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh màu sắc và xin các bạn luôn luôn nhớ rằng tất cả các âm thanh đều tự biểu lộ bằng màu sắc_TTHM, 204
+ Danh xưng ứng Tứ đại biểu lộ Thần - Lực: Chúng ta nên nhớ rằng các Devas Lords (Các Thần: Agni/ Thần Lửa - Varuna/ Thần Nước - Kshiti/ Thần Đất) trong giáo lý công truyền tượng trưng cho trạng thái vật chất của thể đặc của Thượng Đế, trong khi trạng thái lực khi tuôn chảy qua thể dĩ thái của Thượng Đế được xem xét dưới các tên khác nhau, đó là Shiva, Surya, Brahma. Tuy nhiên, 2 trạng thái chỉ là một:
- Thần lửa - Agni: Tức Hỏa Thần Quân (Thần Chủ Quản về Lửa) trong kinh Veda, Vị Thần cổ nhất và được tôn kính nhất trong số các thần ở Ấn Độ. Ngài là 3 phương diện của Lửa, do đó là toàn bộ của biểu lộ. Ngài cũng được xem như Thần Chủ Quản của Cõi trí (cõi thứ 5), biểu tượng của Ngài là Lửa.
- Thần Nước - Varuna: Vị thần của Nước, theo ý nghĩa nước của không gian hay là nước của vật chất. Ngài cũng được xem là Thần Cai Quản cõi cảm dục (cõi thứ 6) biểu tượng của Ngài là nước.
- Thần Đất - Kshiti: Vị Thần của Đất theo ý nghĩa chất đặc và không phải là một thể của Hành tinh; Ngài là Thần của cõi trần, cõi thứ 7; (Mục Các Thần theo công truyền - LVLCK, 766)
+ Các Đại biểu lộ ra Mầu Sắc:
- Màu sắc chỉ là phương tiện biểu lộ ra bên ngoài để nhờ đó mà mãnh lực bên trong tự truyền chuyển (TVTTHL, 211)
- Nên nhớ, màu sắc chính là cách nhận thức về mức rung động mà mắt người tiếp nhận được, là người đang sử dụng thể xác của căn chủng thứ 5, trong cuộc tuần hoàn thứ 4 trên dãy hành tinh thứ 4. (TVTTHL, 222–223)
- Màu sắc là các biểu hiện (expressions) của thần lực (force) hay tính chất (quality). Màu sắc che giấu hay bao phủ các tính chất trừu tượng của Thượng Đế, các tính chất này được phản chiếu trong tiểu thiên địa ở ba cõi thấp như là các đức tính hay khả năng. (TVTTHL, 228)
- Màu sắc chỉ là hình hài bị một loại mãnh lực nào đó khoác lấy (assumed), khi mãnh lực đó tác động ở một tiêu chuẩn (measure) nhất định và khi sự tác động và sự chuyển dịch của nó bị cản trở hay được thông suốt bởi vật chất mà qua đó nó tác động. (TVTTHL, 232)
- Màu sắc là hiện tướng (form) và sức mạnh của đức hạnh (theo nghĩa huyền linh học) trong đời sống nội tâm (inner life). (TVTTHL, 249)
- Các màu sắc đều là các màu của ánh sáng (colours of light).(TVTTHL, 205–206)
- Màu sắc chỉ là hình thể được hiển thị do một loại mãnh lực, khi lực ấy đang vận chuyển ở một tầm mức nhất định, và khi sự tác động và vận hành của nó bị ngăn trở hay không bị ngăn trở do loại vật chất mà nó tác động xuyên qua đó. Trong câu này có chìa khóa giải quyết vấn đề tại sao màu sắc ở những cõi cao và những cõi thấp lại khác nhau.... Màu sắc thấy trong hào quang của người dã man và trong hào quang của người tiến hóa trung bình đã rất khác nhau rồi (TTHM, 232)
+ Mầu Mây_ Kinh A Hàm: Mây có bốn thứ: màu trắng; màu đen; màu đỏ; màu hồng.
- Mây có màu trắng vì yếu tố đất đặc biệt nhiều;
- Mây có màu đen vì yếu tố nước đặc biệt nhiều hơn;
- Mây có màu đỏ vì yếu tố lửa đặc biệt nhiều hơn;
- Mây có màu hồng vì yếu tố gió đặc biệt nhiều hơn.
Mây cách mặt đất từ 20 - 4000 dặm. (Nguồn: Mục 29- Tại đây)
+ Xem thêm: Định luật về mầu sắc
Xem: Tổng hợp về mầu sắc
+ Thanh - Sắc: Khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh, thì đó là sự thực hiển nhiên... tôi đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh màu sắc và xin các bạn luôn luôn nhớ rằng tất cả các âm thanh đều tự biểu lộ bằng màu sắc_TTHM, 204
+ Màu tím. Điều kỳ lạ là Cung màu tím, Định luật Nghi thức hay Trật tự, lại là cung tổng hợp khi biểu hiện trong tam giới. Cũng như Cung tổng hợp Bác ái và Minh triết là tổng hợp của tất cả các mãnh lực của sự sống, thì trong tam giới Cung bảy tổng hợp tất cả những gì liên quan đến hình thể. Trên cảnh giới thứ nhất, sự sống ở trong trạng thái tổng hợp tinh khiết nhất, cao cả nhất, chưa phân hóa gì cả. Trong khi trên cảnh giới thứ bảy thì hình thể ở trong trạng thái dày đặc nhất, thô kệch nhất, và phân hóa thành thiên hình vạn trạng. Một mặt, sự sống được thu vào Cung tổng hợp của Bác ái. Trong khi đó phương diện hình thể chịu sự tác động của Cung bảy.(TTHM, 222)
+ Cung Bảy: Nghi lễ, Trật tự, Huyền thuật. Cung 7 có Hành tinh dẫn truyền và Chủ quản Cung Hoàng đạo là Cung Bảo bình - Chủ tinh: Thiên Vương Tinh dẫn truyền cung 7; (Chiêm TH cổ điển dùng Thổ Tinh - Dẫn truyền Cung 3). (CTHNM, 80)
+ Trong mọi điều Tôi đã nói liên quan tới thể dĩ thái của con người, liên quan đến hành tinh, liên quan đến chơn linh của địa cầu, mấu chốt của toàn bộ tình hình nằm trong sự kiện là năm cung vào lúc này, có cung 7 là cung chiếm ưu thế của chúng. Cung 7 là cung kiểm soát thể dĩ thái (the etheric) và các devas dĩ thái. Nó kiểm soát cõi phụ thứ bảy của tất cả các cõi nhưng vào lúc này nó chi phối cõi phụ thứ bảy của cõi trần. Cũng vì đang ở trong vòng tuần hoàn thứ tư, khi một cung tiến vào sự nhập thế (incarnation) rõ ràng, nó không những chỉ kiểm soát trên các cõi có cùng một số, mà còn có một ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư. Hãy lưu ý cách mà cung này tác động vào lúc này trong ba cõi thấp:
1. Cõi dĩ thái thứ tư, cõi thấp nhất trong số các cõi dĩ thái, sẽ là cõi vật chất kế tiếp của tâm thức. Chất dĩ thái ngay lúc này đang trở nên có thể thấy được đối với một số người, và sẽ có thể nhìn thấy hoàn toàn vào cuối thế kỷ này đối với nhiều người.
2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ lại phần lớn con người khi họ qua đời, và tất nhiên nhiều công việc với số lượng lớn nhất nhờ đó có thể được hoàn tất.
3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi devachan (thiên đường tạm). (LVHLT, 374)
+ Cung 7: Hiện nay, sự nhập cuộc của cung màu tím, tức là Cung Nghi thức hay Cung bảy ...(TTHM, Thư 08.10.1919)
+ Thí dụ gọi là Huyền giai: Thí dụ như địa vị của màu tím (violet) trong quang phổ (103) có tầm quan trọng bậc nhất, liên quan với các chu kỳ lớn, và đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ và sự bắt đầu một chu kỳ mới. Cõi bồ đề đặc biệt là cõi của màu tím, mặc dù tất cả các màu sắc đều có nơi đó; Đấng Chủ Quản của Cung Nghi Lễ Huyền Thuật vốn tiêu biểu cho tia tím hay huyền giai tím, có một mối quan hệ đặc biệt với cõi bồ đề. Phải nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng Đế hoạt động trước tiên trên một trong bảy cõi, từ điều này, chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Ngài tìm thấy đường lối ít đối kháng nhất của nó trên một cõi nào đó, mặc dù nó được áp dụng trên mọi cõi. (Nguồn: LVLCK, 424)
+ Cung nghi lễ - Cung hôn phối: ... Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Con”, bởi vì Tinh thần và vật chất có thể đáp ứng và hợp nhất trên cung này. Sự kiện này cũng sẽ được ghi nhớ trong một trăm năm tới đây, vì chúng sẽ chứng kiến các thay đổi lớn trong các luật hôn nhân. (LVLCK, Tr 909)
* Cung năng lượng - Cung bảy:
+ Phẩm tính Cung Bảy: Nghi lễ, Trật tự, Huyền thuật
- Ưu điểm: Mạnh mẽ, bền chí, can đảm, lịch sự, hết sức chú ý về chi tiết, tự lập, trật tự, cơ cấu, hoàn thiện hình thức, tuân thủ.
- Khuyết điểm: Chuộng hình thức, cố chấp, tự cao, hẹp hòi, phán đoán nông nổi, quá tự phụ, quá thủ cựu.
+ Các Đức Tính và các Tật Xấu EPI 210-211( Xem Bảy đấng ....)
- Đức Tính đặc biệt: Sức mạnh, nhẫn lại/ sự kiên trì, can đảm/ lòng dũng cảm, tao nhã/ lịch sự, cực kỳ cẩn thận trong chi tiết, tính tự lực.
- Tật Xấu của Cung: Tính(chủ nghĩa) hình thức, cố chấp, tự cao/ kiêu hãnh, cư sử hẹp hòi, các phán đoán hời hợt/ phiến diện, cố chấp/ bảo thủ ý kiến quá mức. quá đam mê
- Các Đức Tính cần có: Nhận thức về tính thống nhất, tâm trí rộng mở, lòng khoan dung, khiêm tốn, dịu dàng và bác ái. + Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung
+ Hành tinh dẫn truyền và Chủ quản Cung Hoàng đạo: Cung Bảo bình - Chủ tinh: Thiên Vương Tinh dẫn truyền cung 7; (Chiêm TH cổ điển dùng Thổ Tinh - Dẫn truyền Cung 3). (CTHNM, 80)
+ Huyền thuật: Tooltip Huyền linh thuật
A- HUYỀN THUẬT HAY CHÁNH ĐẠO
+ Huyền thuật (Magic). GLBN I, 284.
- Huyền thuật là một khoa học thiêng liêng dẫn đến việc tham dự vào các phẩm đức (attributes) của chính sự thiêng liêng. Isis Unveiled I, 25.
- Mọi hoạt động huyền thuật cốt ở việc gạt bỏ các khúc cuộn của Con Rắn Cũ xưa (Ancient Serpent). Isis Unveiled I, 138.
- Mục tiêu của Khoa huyền thuật là sự hoàn thiện của con người. Isis Unveiled I, 309.
- Pháp thuật thiêng liêng cốt ở khả năng nhận ra tinh hoa của các sự vật dưới ánh sáng của thiên nhiên (cảm dục quang, astral light) và – bằng cách dùng các sức mạnh - linh hồn của Tinh Thần – để tạo ra các sự việc vật chất từ vũ trụ không nhìn thấy, và bằng các hoạt động như thế, Thượng (Above) và Hạ (Below) phải được tập hợp lại và tạo ra một tác động hài hòa. GLBN II, 538.
- Huyền thuật và từ lực (magnetism) là các thuật ngữ đồng nghĩa. Isis Unveiled I, 279.
- Huyền thuật là toàn bộ tri thức tự nhiên (natural knowledge). Isis Unveiled II, 99, 189.
- Huyền thoại không hàm ý sự vi phạm các định luật của thiên nhiên. Isis Unveiled I, Preface.
+ Căn bản của Huyền thuật.
- Huyền thuật được dựa vào các quyền năng bên trong của linh hồn con người . Isis Unveiled I, 459.
- Trinity của thiên nhiên là ổ khóa của huyền thuật, trinity của con người là chìa khóa vừa với nó. Isis Unveiled II, 635. 3.
- Huyền thuật là tâm lý học huyền linh. Isis Unveiled I, 612 – 616 4.
- Cảm dục quang là tác nhân chính của huyền thuật. Isis Unveiled I, 128. GLBN I, 275; II, 537.
+ Huyền thuật. Chính thuật ngữ Magic (Huyền Thuật) mang bằng chứng về nguồn cội cao siêu của nó. Tiếng La Tinh Magus, tiếng Hy Lạp Magos, tức nhà huyền thuật (magician), đem lại cho tất cả chúng ta các thuật ngữ khác này biểu thị cho uy quyền, minh triết, sự vượt trội. Kế đó chúng ta có phạm vi ảnh hưởng lộng lẫy, khoa trương, để diễn tả sự lớn lao ở vị thế, trong hành động và trong ngôn từ. Với âm tiết cuối hơi thay đổi, các từ giống nhau trở nên oai vệ, hàm ý quyền chi phối, và lần nữa, chúng ta có vị thẩm phán (magistrate), bất cứ điều gì có uy quyền mà lần nữa đã được đơn giản hóa thành Đức Thầy, và sau cùng bằng tiến trình tiến hóa ngôn từ đã trở thành chữ Mister (Ông) dễ hiểu. Nhưng chữ La Tinh chỉ là một cách truyền đạt các từ. Chúng ta cũng có thể lần theo sự phát triển lịch sử của ngữ căn này đến lúc chúng ta đạt đến ngôn ngữ Zend nơi mà chúng ta tìm thấy nó làm nhiệm vụ dưới tên dành cho toàn thể đẳng cấp tu sĩ. Các nhà huyền thuật (magi) được biết đến trên khắp thế giới vì sự minh triết và khéo léo của họ trong huyền linh học, và chắc chắn là từ ngữ huyền thuật hầu như mắc nợ vào cội nguồn đó vì sự tồn tại và ý nghĩa hiện nay của nó. Vậy chúng ta không cần dừng lại ngay cả nơi đây để trở lại ngôn ngữ Zend “mag”, hiện ra mờ mờ từ Bắc Phạn ngữ, maha, có nghĩa là vĩ đại”. Các học giả lỗi lạc nghĩ rằng chữ maha (lớn, đại) được viết theo chính tả lúc đầu mà “magha”. Phải công nhận là trong Bắc Phạn ngữ (sanskrit) có chữ Maga nghĩa là một thầy tu của Mặt Trời, nhưng chữ này rõ ràng là một từ vay mượn từ Zend (ngôn ngữ ?-ND) có nguồn gốc của nó từ ngôn ngữ láng giềng của nó là Bắc Phạn ngữ. (Nguồn: Tạp chí Lucifer, q X, 157.)
+ Huyền Thuật (Magic). Pháp thuật thiêng liêng cốt ở khả năng nhận ra tinh hoa của các sự vật dưới ánh sáng của thiên nhiên (cảm dục quang, astral light) và – bằng cách dùng các sức mạnh - linh hồn của Tinh Thần – để tạo ra các sự việc vật chất từ vũ trụ không nhìn thấy, và bằng các hoạt động như thế, Thượng (Above) và Hạ (Below) phải được tập hợp lại và tạo ra một tác động hài hòa. GLBN II, 538.
+ Magic là Vidya thứ hai trong bốn Vidyas (Minh Triết Tri Thức) và là maha - Vidya vĩ đại trong các tác phẩm Vạn Pháp Kỳ Thư (Tantric writtings). Nó cần có ánh sáng của vidya thứ tư (atma vidya, minh triết tinh thần) chiếu rọi lên nó để trở thành White Magic (Huyền Linh Thuật). GLBN I, 192.
+ Xem thêm: Chánh đạo/ Huyền thuật và Tà đạo/ Hắc thuật (LVLCK)
+ Cung Bảy: Nghi lễ, Trật tự, Huyền thuật. Cung 7 có Hành tinh dẫn truyền và Chủ quản Cung Hoàng đạo là Cung Bảo bình - Chủ tinh: Thiên Vương Tinh dẫn truyền cung 7; (Chiêm TH cổ điển dùng Thổ Tinh - Dẫn truyền Cung 3). (CTHNM, 80)
+ Cung nghi lễ - Cung hôn phối: ... Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Con”, bởi vì Tinh thần và vật chất có thể đáp ứng và hợp nhất trên cung này. Sự kiện này cũng sẽ được ghi nhớ trong một trăm năm tới đây, vì chúng sẽ chứng kiến các thay đổi lớn trong các luật hôn nhân. (LVLCK, Tr 909)
+ Cung đang biểu lộ - Ngày Cơ hội: Câu hỏi có thể dặt ra ở đây là kiến thức này có phần nào giá trị đối với môn sinh chăng. Để minh giải điều này, các môn sinh nên khôn ngoan suy gẫm kỹ ý nghĩa sự giáng nhập của Cung hiện nay, là cung Định luật Nghi lễ hay Pháp thuật. Đó là cung vận dụng các mãnh lực kiến tạo của thiên nhiên, liên quan đến việc trạng thái sự sống sử dụng hình thể một cách thông minh. Đây chính yếu là cung của công tác chấp hành, có mục đích kiến tạo, phối hợp và tạo sự nối kết trong bốn giới thấp của thiên nhiên. Nó được phân biệt chính yếu bởi năng lượng tự biểu hiện trong nghi lễ, nhưng từ nghi lễ này không được thu hẹp đến mức sử dụng hiện nay của nó trong nghi lễ của hội Tam Điểm hay tôn giáo. Áp dụng của nó thì rộng lớn hơn rất nhiều, và gồm các phương pháp tổ chức được phô diễn trong tất cả các cộng đồng văn minh, như trong giới thương mại hay tài chính, và các tổ chức kinh doanh lớn ở khắp nơi. Trên hết mọi sự, điều thú vị ở chỗ đây là cung mang cơ hội đến cho các giống dân Tây phương, và qua trung gian của mãnh lực sự sống của tổ chức thừa hành, của sự quản trị bằng luật lệ và trật tự, bằng tiết điệu và nghi thức, sẽ đến lúc các chủng tộc Tây phương (với trí tuệ cụ thể, tích cực và năng lực làm việc rộng lớn của họ) có thể được điểm đạo - một cuộc điểm đạo mà chúng ta phải nhớ là trên một cung tạm thời được thừa nhận là một cung chính. Phần đông các điểm đạo [183] đồ và những vị đã đạt được trình độ Chân sư trong chu kỳ trước, là người Đông phương và trong xác thân người Ấn. Chu kỳ đó đã do cung sáu cùng hai cung trước thống ngự, và đang trôi qua. Để giữ thế quân bình, nay sẽ đến một thời kỳ thành đạt của người Tây phương, trên một cung thích hợp với loại trí tuệ của họ. Nên ghi nhận điều thú vị là mẫu người Đông phương đạt mục tiêu của họ qua tham thiền, với một phần nhỏ tổ chức chấp hành và nghi thức, còn người Tây phương sẽ thành đạt phần lớn qua tổ chức mà hạ trí tạo ra, và một lối tham thiền mà sự tập trung cao độ trong công việc có thể xem là một ví dụ. Sự áp dụng trí tuệ chuyên nhất của một thương gia người U hay người Mỹ có thể được xem là một loại tham thiền. Nếu sự áp dụng này dựa trên động lực nội tâm trong sạch, thời cơ tốt đẹp sẽ đến với người Tây phương. (Sách điểm đạo trong nhân loại và thái dương hệ)
+ Cung bảy biểu lộ: ... Cung Bảy (Định luật Nghi thức hay Trật tự) đang gia tăng quyền lực và cho người phương Tây những gì mà từ lâu đã là đặc quyền của người phương Đông. Cơ hội hiện nay rất lớn lao, và trên đà chế ngự của cung này có sức thúc đẩy cần thiết (nếu áp dụng đúng) sẽ đưa người Tây phương đến dưới chân Đức Chúa tể Hoàn cầu. (Tham thiền huyền môn)
+ Xem: Tổng hợp Cung 7 ứng con người
+ Chìa khóa Chiêm tinh học (Chân Sư DK)
3. Điều này đưa Tôi đến giải trình thứ ba, nó có nền tảng và căn bản đến nỗi Tôi muốn các bạn tạm dừng và xem xét nó, cho dù cho đến nay bạn không hiểu đủ hết các hàm ý của nó. Minh Triết Nghìn Xưa dạy rằng “không gian là một thực thể” (“space is an entity”). Chính là với sự sống của thực thể này và với các thần lực và năng lượng, các xung lực và các nhịp điệu, các chu kỳ và mùa tiết mà chiêm tinh học huyền bí bàn đến. H.P.B. có nói đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm.
Tôi xin nhắc các bạn rằng có một chìa khóa chiêm tinh học cho Giáo Lý Bí Nhiệm mà chưa thể được đưa ra đầy đủ. Tuy nhiên, Tôi có thể trao cho các bạn một số ẩn ngôn và gợi ra một số đường lối tiếp cận, và các đường lối này, nếu được tiến hành trong tâm thức của các nhà chiêm tinh học giác ngộ, có thể giúp một trong số họ vào một thời đại sau này khám phá ra chìa khóa đó và lúc bấy giờ ‒ giải thích nó cho nhân loại – tiết lộ nguyên lý cơ bản vĩ đại thứ tư của Minh Triết Muôn Thuở mà 3 nguyên lý căn bản đã được đưa ra trong lời nói đầu của GLBN.
Không gian là một thực thể và toàn bộ “vòm trời” (như nó được gọi một cách thi vị) là cái bề ngoài hiện tượng (phenomenal appearance) của thực thể đó. Bạn nên để ý rằng Tôi không nói bề ngoài vật chất (material appearance) mà nói bề ngoài hiện tượng. Việc suy đoán về bản chất, lịch sử và tung tích / chân tướng (identity) của thực thể đó là vô dụng và không có giá trị. Ý tưởng mơ hồ nào đó, cung cấp sự giống nhau dù cho khi vượt quá các đặc điểm, có thể trở thành có lợi, nếu bạn cố gắng suy tưởng về gia đình nhân loại, tức giới thứ tư trong thiên nhiên, dưới hình thức một thực thể, khi tạo thành một đơn vị đơn độc, tự biểu lộ qua biết bao dạng thức biến cải của con người. Với tư cách một cá nhân, bạn là một phần nguyên vẹn của nhân loại, tuy thế bạn sống cuộc sống riêng của chính bạn, bạn phản ứng lại với các ấn tượng của chính bạn, bạn đáp ứng với các ảnh hưởng và các tác động bên ngoài, và đến lượt bạn, bạn phóng xuất ra các ảnh hưởng, đưa ra một hình thức phóng phát cá tính nào đó và lộ ra một hoặc nhiều đặc tính nào đó. Bằng cách ấy và ở một phạm vi nào đó, bạn tạo ảnh hưởng lên chung quanh bạn và những người mà bạn tiếp xúc. Tuy nhiên, suốt thời gian đó bạn vẫn là một phần của một thực thể hiện tượng (phenomenal entity) mà chúng ta gán cho tên gọi là nhân loại. Bây giờ, nới rộng ý tưởng này đến một thực thể hiện tượng vĩ đại hơn, tức là một thái dương hệ. Chính thực thể này là một phần nguyên vẹn của một Sự Sống còn vĩ đại hơn đang tự biểu lộ qua bảy thái dương hệ, mà thái dương hệ của chúng ta là một. Giá mà bạn có thể hiểu được ý tưởng này, một minh họa mơ hồ về một chân lý vĩ đại đang nằm dưới chân lý huyền bí sẽ xuất hiện trong tâm thức của bạn. Chính sự sống và ảnh hưởng, các bức xạ (radiations) và các phóng phát (emanations) của thực thể này, và ảnh hưởng hợp nhất của chúng trên sự sống hành tinh chúng ta, các giới trong thiên nhiên và các nền văn minh đang khai mở của nhân loại, mà chúng ta sẽ phải xem xét một cách vắn tắt.
Đề tài quá rộng lớn đến nỗi Tôi đã đối mặt với khó khăn của phương pháp hữu hiệu nhất để nhờ đó mà vận dụng nó. Tôi lựa chọn sự ngắn gọn, việc giải trình chính xác các sự kiện (các sự kiện đối với những ai trong chúng ta đang hoạt động ở khía cạnh nội môn của sự sống, nhưng chúng phải hữu lý chỉ ở các giả thuyết đối với bạn) đồng thời tránh đi vào chi tiết và bàn thảo tỉ mỉ. Chúng ta sẽ cố gắng hoạt động từ cái phổ quát đến cái đặc thù, và từ khái quát đến cụ thể, nhưng trọng điểm của chúng ta sẽ luôn luôn ở trên cái phổ quát và khái quát, chứ không dựa vào cái đặc thù và cụ thể. Nó sẽ dựa vào những ai trong các bạn vốn là các nhà nghiên cứu chiêm tinh học để áp dụng đúng chân lý cho cái đặc thù.
Chắc chắn là về điều này, chiêm tinh học hiện đại đã đi lạc đường. Nó đã đảo ngược phương pháp chân thực và đúng đắn và đã nhấn mạnh vào cái đặc thù và riêng biệt; dựa vào lá số cá nhân và mệnh số cá biệt, và đã không nhấn mạnh vào các năng lượng vĩ đại và Cội Nguồn các năng lượng đó. Các cội nguồn này đều chịu trách nhiệm tối hậu cho sự biểu lộ của cái đặc thù. Lập trường và cách trình bày chân lý này phải được thay đổi.
Do đó, trong chiêm tinh học huyền bí, chúng ta bàn đến Sự Sống và Các Sự Sống đang làm linh hoạt (inform) “các điểm ánh sáng” bên trong Sự Sống vũ trụ (universal Life).
Các tinh tòa, các thái dương hệ, các hành tinh, các giới trong thiên nhiên và con người tiểu vi (microscopic man) hầu như là kết quả của hoạt động và sự biểu lộ năng lượng của một số Đấng Cao Cả (Lives) mà chu kỳ biểu lộ và các mục tiêu bao la của các Ngài nằm ngoài sự hiểu biết của các thể trí giác ngộ và tiến hóa nhất trên hành tinh chúng ta.
Điểm kế tiếp mà mỗi người trong các bạn cần hiểu rõ đó là sự kiện dĩ thái của không gian chính là lĩnh vực mà trong và qua đó các năng lượng từ nhiều Cội Nguồn xuất phát đang nắm giữ/ vận dụng (Play). Vì lẽ đó chúng ta chỉ đề cập tới thể dĩ thái của hành tinh, của thái dương hệ và của bảy thái dương hệ mà trong đó thái dương hệ của chúng ta là một, cũng như bàn đến thể dĩ thái rộng lớn hơn của vũ trụ mà chúng ta đang nằm trong đó. Ở đây Tôi sử dụng từ ngữ “located” (“nằm”, “có vị trí”…) một cách có cân nhắc và vì các suy đoán mà thuật ngữ đó dẫn đến. Lĩnh vực rộng lớn này, cũng như các lĩnh vực nhỏ hơn và có giới hạn hơn, cung cấp môi trường truyền chuyển (medium of transmission) cho tất cả các năng lượng đang tác động trên và qua thái dương hệ chúng ta, các bầu hành tinh chúng ta và mọi hình thức, sự sống trên các bầu này. Nó tạo thành một lĩnh vực hoạt động liên tục trong một chuyển động liên miên không dứt – một môi trường vĩnh cửu cho việc trao đổi và truyền chuyển năng lượng. (CTHNM, 14)
+ Chìa khoá nằm trong giới nhân loại, mở cánh cửa để hiểu biết rộng rãi hơn về các bí nhiệm của thiên nhiên. Dù chìa khoá đó phải được xoay 7 lần, tuy nhiên, chỉ một lần thôi cũng đủ tiết lộ các con đường chưa được nói đến về sự hiểu biết tối hậu (LVLCK, 140)
Chìa khoá Giáo Lý Bí Nhiệm (GLBN I, 343, II, 551. 1).
+ Mọi biểu tượng và ẩn từ đều có 7 chìa khoá:
- Chỉ có 3 chìa khoá hữu dụng trong thế kỷ XIX.
- Có 7 chìa khoá dẫn đến cửa vào các Bí Nhiệm. Bà Blavatsky đề cập đến là:
a. Về tâm lý học
b. Về thiên văn học
c. Về vật lý hay sinh lý học.
d. Về siêu hình học
e. Về nhân chủng học
f. Về chiêm tinh học
g. Về hình học
h. Về huyền học
I. Về biểu tượng học
j. Về số học
5. Mỗi chìa khoá phải được xoay 7 lần
6. Chính người Do Thái đã lợi dụng được 2 trong số 7 chìa khoá.
7. Chìa khoá siêu hình học có thể hữu dụng.
+ Ba chìa khóa:
1. Giải thích vũ trụ. Các biểu tượng thay cho các sự kiện vũ trụ. Nghĩa là Bóng tối. Ánh sáng. Chữ thập. Tam giác.
2. Giải thích Thái Dương Hệ. Bàn đến sự tiến hóa của Thái Dương Hệ và vạn vật trong đó.
3. Giải thích về con người. Bàn đến chính con người. Thập giá của nhân loại. Ngọn nến có 7 nhánh.
Xem chi tiết: Tổng hợp về Thía khóa Giáo lý bí nhiệm
+ a. Tiến trình chuyển hóa. Chuyển hóa là một vấn đề mà từ các kỷ nguyên trước đã từng làm bận tâm các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các nhà luyện kim đan. Năng lực đổi thay, qua việc dùng nhiệt, dĩ nhiên được nhận thức một cách tổng quát, nhưng chìa khóa đưa đến bí nhiệm hay cái bí ẩn của công thức có phương pháp được bảo vệ thận trọng khỏi những kẻ tìm kiếm, và chỉ được tiết lộ dần dần sau cuộc điểm đạo thứ 2. Vấn đề kỳ diệu đến nỗi chỉ có thể nêu ra bằng những nét khái quát rộng lớn làm cách nào mà việc đó có thể tiếp cận được. ... Trí óc nhà khoa học đang tìm kiếm một dung môi chung, dung môi này sẽ đưa vật chất thành chất liệu nguyên thủy (primordial substance), giải phóng năng lượng và như vậy lộ ra diễn trình tiến hóa, và giúp cho kẻ tìm tòi tự kiến tạo (từ nền tảng nguyên thủy) các dạng thức mong muốn. Trí óc của nhà luyện đan đang tìm kiếm Hòn Đá Tạo Vàng (Philosopher’s Stone), mà tác nhân chuyển hóa có hiệu quả sẽ đưa tới sự khai mở, và mãnh lực đặt để ý chí của nhà hóa học lên các sức mạnh Hành khí (elemental forces) sẽ tác động trong, bởi và qua vật chất. Tín đồ, nhất là theo Cơ Đốc giáo, nhận thức được tính chất tâm linh của năng lực chuyển hóa này, và các thánh thư thường có nói đến việc linh hồn chịu thử thách 7 lần trong lửa. Tất cả các nhà khảo cứu và sưu tầm đang nhận thức được một chân lý vĩ đại từ khía cạnh thu hẹp của riêng họ, và cái tổng thể không nằm ở chỗ này hay chỗ khác, mà là trong toàn thể.
Khi xác định sự chuyển hóa như được hiểu về mặt huyền linh, chúng ta có thể diễn tả như sau : Chuyển hóa là đoạn đường băng qua từ trạng thái hiện tồn này đến trạng thái khác qua cơ nguyên/ lực gây tác dụng là lửa. Sự hiểu biết đúng đắn về điều này được dựa trên 4 định đề (postulates) chính yếu. Các định đề này phải được diễn đạt bằng các thuật ngữ của Cổ Luận (Old Commentary), bộ sách này diễn đạt nhiều đến nỗi nó lộ ra cho những ai lưu tâm tìm kiếm, nhưng vẫn là bí hiểm với những kẻ không sẵn sàng, hay đối với những kẻ lạm dụng sự hiểu biết vào các mục tiêu vị kỷ.
Các phát biểu này như sau:
I. Kẻ nào chuyển di sự sống của Từ Phụ cho 3 sự sống thấp hơn, kẻ ấy đã tìm được lực gây tác dụng của lửa (agency of fire), ẩn giấu trong tâm của Từ Mẫu. Kẻ ấy hoạt động với các Hỏa Thiên Thần (Agnichaitans) đang che giấu, đốt cháy và như thế tạo ra sự ẩm ướt cần thiết.
II. Kẻ nào chuyển di sự sống ra khỏi 3 sự sống thấp kém vào trong sự sống sẵn có thứ 4, kẻ ấy đã tìm thấy lực gây tác dụng của lửa ẩn giấu trong tâm của Brahma. Kẻ ấy hoạt động với các sức mạnh của các hỏa thần Agnishvattas, vốn xuất phát, phối hợp và như vậy tạo ra hơi ấm cần thiết.
III. Kẻ nào chuyển di sự sống vào trong sự sống tập hợp thứ 5, kẻ ấy đã tìm thấy sức mạnh của lửa ẩn tàng trong tâm của Vishnu. Kẻ ấy hoạt động với các lực của hỏa thần Agnisuryans đang bừng cháy, đang giải phóng tinh lực (essence) và như vậy tạo ra sự chói lọi cần thiết.
IV. Sự ẩm ướt đầu tiên, chậm chạp và bao bọc tất cả; sau đó sưởi ấm với hơi ấm ngày càng tăng và cường độ mãnh liệt; kế đó, sức mạnh ép xuống, dồn lại và tập trung. Như vậy, sự tỏa chiếu được tạo ra; rỉ ra như thế đó; biến đổi như thế đó; thay đổi hình hài như thế đó. Cuối cùng là sự giải thoát, tinh hoa dễ bay hơi bốc ra và gom góp cặn bã trở lại chất liệu nguyên thủy (primordial stuff).
Kẻ nào nghiềm ngẫm các công thức này và kẻ nào suy gẫm dựa vào phương pháp và diễn trình được gợi ra, kẻ ấy sẽ nhận được một ý niệm tổng quát về diễn trình tiến hóa của sự chuyển hóa, vốn sẽ có giá trị đối với y hơn là các công thức mà theo đó các thiên thần chuyển hóa các khoáng chất khác nhau. (Nguồn: Luận về lửa càn khôn, tr 476)
+ Nhập xác: Trong trường hợp nhập xác thì con người bị một thực thể tà vạy (evil entity) chiếm lấy và truyền cho ý tưởng... Lúc nhập xác, tà lực (evil force) bắt Phàm ngã làm nô lệ, mà trong đa số trường hợp, Phàm ngã chỉ là ma hình (Shell). Hitler là một thí dụ của trường hợp này. Việc ám này tạo ra một hiệu lực lớn trên cõi trần và cõi cảm dục, nó nhanh chóng hơn và có kết quả trực tiếp, nhưng mãnh lực không được bền và hiệu quả tương đối tạm bợ.
Có 4 nguyên nhân nhập xác (causes of obsession):
1. Yếu ớt của thể dĩ thái. Nguyên nhân này thuộc cõi trần và là kết quả của việc điều chỉnh sai vật chất ở cõi trần. Đó là kết quả của nghiệp quả và có trước khi sinh. Nữ thường gặp hơn nam.
2. Thiếu sự phối kết giữa thể cảm dục với thể xác, và khi con người hoạt động trong thể cảm dục (như vào ban đêm), khó nhập trở lại thể xác, đó là cơ hội cho các thực thể khác nhập vào xác, ngăn chận việc chiếm hữu của Chân Ngã đích thực. Đây là cách nhập xác thường thấy nhất và tác động vào người có thể xác mạnh mẽ và các rung động của thể cảm dục cũng mạnh nhưng thể trí yếu ớt. Khi có xảy ra tranh giành, nó đưa tới cảnh la hét điên cuồng dữ dội và đưa tới các cơn bộc phát của người bị động kinh. Nam thường gặp trường hợp này hơn là nữ, vì đàn bà thường an trụ nhiều vào thể cảm dục.
3. Một loại nhập xác ít xảy ra là nhập thể trí. Việc ám trí bao hàm việc đổi chỗ xảy ra trên cõi trí, do đó ít xảy ra. Thể xác và thể cảm dục vẫn hợp nhất nhưng Chủ Thể Tư Tưởng bị bỏ lại trong thể trí, trong khi thực thể ám (khoác lấy chất trí) nhập vào 2 thể thấp. Trong trường hợp ám thể cảm dục, Chủ Thể Tư Tưởng bị bỏ lại với thể cảm dục và thể trí mà không bị bỏ lại với thể xác. Nguyên nhân là thể trí quá phát triển còn thể cảm dục và thể xác tương đối yếu. Nam và nữ dễ bị như nhau.
4. Một nguyên nhân nhập xác nữa dứt khoát là do các Huynh đệ hắc đạo. (SHLCTĐ, 307–308)
+ Đa nhân cách - Tâm thần phân liệt: Ở đây tôi không thể bàn rộng về vấn đề nhập xác (obsession) do sự triệt thoái của trạng thái ngã thức của chủ thể trong thể xác (tức linh hồn –ND). Tiến trình tách ra này chỉ để lại một cái vỏ sinh động (living shell), một cái nhà trống rổng. Có quá nhiều điều phải được xem xét về một luận đề như luận đề này. Không dễ gì mà nhà nghiên cứu tâm lý khoa học chấp nhận giả thuyết (premise) về sự thay thế tâm thức của một thực thể khác vào vị trí tâm thức của một người không thể giữ mối liên kết trong não bộ với mức rõ ràng thích hợp. Nhưng nói với tư cách của một kẻ hiểu biết, những trường hợp như thế thường xảy ra, đưa đến nhiều vấn đề được gọi là “tâm thần phân liệt” (“split personality”), thực ra đó là tình trạng hai người (persons) làm chủ một thể xác đặc biệt – một người cung cấp dòng sinh lực (life stream), (bám trụ vào tim), còn người kia cung cấp ý thức (stream of consciousness) (bám trụ–anchored– trong não bộ) và nhờ đó kềm chế thể xác, chỉ huy các hoạt động của thể này và tự biểu hiện qua cơ quan ngôn ngữ (speech). Đôi khi việc ám (hay nhập xác, possession) này xảy ra luân phiên giữa hai cá nhân liên hệ. Đôi khi nhiều hơn hai, và nhiều người trên khía cạnh nội môn của sự sống, sử dụng cùng thể xác. Lúc đó, bạn có trường hợp đa nhân cách (tâm thần phân liệt). (TLHNM–II, 419–420)
+ Phẩm chất con người: Phẩm là tư cách - Chất là tính cách hay Tính chất bên trong - Tư cách đạo đức trong con người, gồm 2 phần [Theo khoa học]:
1. Phẩm chất đạo đức và nhân cách
Trung thực: Nền tảng của mọi hành động đúng đắn, không gây hại cho người khác.
Khiêm tốn: Luôn khiêm nhường, tôn trọng người khác và sẵn sàng học hỏi.
Dũng cảm: Sẵn sàng đối mặt và vượt qua khó khăn, thử thách.
Kiên trì: Giúp con người vượt qua chướng ngại để đạt được mục tiêu.
Nhân ái: Có lòng yêu thương, sự quan tâm và lòng trắc ẩn với mọi người.
Khoan dung: Sẵn sàng tha thứ, bao dung với những sai lầm của người khác.
Thành tín: Giữ lời hứa và xây dựng lòng tin trong các mối quan hệ.
Liêm chính: Sống ngay thẳng, không vụ lợi và luôn đặt đạo đức lên hàng đầu.
Tự trọng: Có lòng tự tôn, biết xấu hổ trước việc sai trái và luôn tự soi xét bản thân.
2. Phẩm chất cá nhân và kỹ năng
Trí tuệ: Có đầu óc sáng suốt, khả năng tư duy và giải quyết vấn đề hiệu quả.
Sáng tạo: Có khả năng đổi mới, nghĩ ra những ý tưởng mới và khác biệt.
Chăm chỉ: Không ngừng nỗ lực và cố gắng để đạt được mục tiêu.
Cầu tiến: Luôn mong muốn cải thiện và phát triển bản thân trong nhiều lĩnh vực.
Thích ứng linh hoạt: Có khả năng thích nghi nhanh với các hoàn cảnh khác nhau.
Cởi mở: Sẵn sàng tiếp thu kiến thức, thay đổi và mở rộng các mối quan hệ.
Tự tin: Có trạng thái tâm lý thoải mái, tích cực và tràn đầy năng lượng.
Nhận thức rõ ràng về bản thân: Hiểu rõ điểm mạnh để phát huy và điểm yếu để khắc phục.
Chịu trách nhiệm: Có tinh thần trách nhiệm và luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Vài ví dụ diễn giải:
Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Con người phải biết đặt lợi ích của cách mạng và của Tổ quốc lên trên hết.
Hiếu với dân là tin vào vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân. Sống gần gũi với dân, gắn bó với dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Đồng thời vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cần kiệm liêm chính chí công vô tư
Cần là lao động cần cù, lao động có kế hoạch, lao động với tinh thần sáng tạo và có năng suất cao. Phải nhận thức được lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Không được lười biếng, ỷ lại, dựa dẫm.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của dân, của nước và của bản thân. Phải tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to. Không được xa xỉ, hoang phí, bừa bãi. Và không phô trương hình thức; không được liên hoan chè chén lu bù.
Liêm là trong sạch, tôn trọng giữ gìn của công và của dân. Không xâm phạm tài sản, tiền của của Nhà nước và nhân dân. Trước tiên là không tham địa vị, tiền tài. Không ham người khác tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Chính là không tà, là thẳng thắn là đứng đắn trong mội công việc quan hệ. Nhất là đối với mình không tự cao tự đại. Đối với người không nịnh hót đợ bỡ. Cuối là đối với việc không sợ khó sợ khổ.
Chí công vô tư là luôn đặt việc công lên trước việc nhà, việc tư. Khi làm bất cứ việc gì cũng không được nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau. Tức là phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Thực hành chí công vô tư phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
Thương yêu con người
Tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự kế thừa từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc. Tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. [Nguồn: Sưu tầm]
+ Lục nghệ: ... Khổng Tử có ba ngàn học sinh. Ngài thông suốt lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, gọi là lục nghệ. Ðệ tử Ngài có bảy mươi hai người cũng thông suốt lục nghệ. Lễ tức là những lễ tiết, lễ nghi về hôn nhân, mai táng, hay là cúng tế. Nhạc tức là âm nhạc. Xạ tức là bắn cung. Ngự tức là cởi ngựa, đánh xe. Thư tức là ghi chép, lịch sử. Số tức là toán thuật. Mỗi một môn nào cũng phải hoàn toàn tinh thông, thì mới được gọi là một người hoàn toàn. (Nguôn: HT Tuyên Hóa - Xem tại đây)
+ Lục nghệ: Số là số học, cho nên nói: “Tri mỗ số, thức mỗ danh,” người biết số học thì sẽ hiểu văn học.
Hiện nay người ta chế ra hỏa tiễn, phi đạn vốn phát minh từ trong ngành toán số. Như việc dùng điện não computer để điều khiển hỏa tiễn bay bao xa cũng đều không ngoài môn toán số.
Cho đến như âm nhạc, thì trong thời tụng niệm của Phật Giáo là thuộc về âm nhạc. Cho nên hễ ai đánh mõ có nhịp nhàng tiết tấu sẽ có công đức. Còn nếu người nào gõ mõ với tâm bực dọc, hoặc gõ quá lớn tiếng, hoặc gõ quá nhỏ thì sẽ có tội. Tán tụng cũng như là dùng âm nhạc để cúng dường Phật. Cho nên nếu một mặt cúng dường, một mặt lại giận hờn, quý vị nghĩ như thế Phật có hoan hỉ không? Dùng âm nhạc để cúng dường Phật vốn có rất nhiều công đức, nhưng khi phát giận quý vị không tán tụng được, mà lại còn dộng chuông gõ mõ loạn xạ cả lên, vậy tức là có tội rồi. .... (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị 6)
+ Các nghành Nghề chính theo Đào tạo đại học:
01. Chăm sóc và thể dục thẩm mỹ
02. Du lịch và dịch vụ nhà hàng khách sạn
03. Giáo dục và đào tạo
04. Máy tính và công nghệ thông tin
05. Khóa học xã hội và truyền thông
06. Khoa học ứng dụng và cơ bản
07. Kinh doanh và quản lý
08. Kiến trúc và xây dựng
09. Kỹ thuật
10. Luật
11. Nghệ thuật sáng tạo và thiết kế
12. Nhân văn
13. Nông nghiệp và thú ý
14. Y tế và sức khỏe (Nguồn: Nghành nghề - đào tạo đại học)
+ Xem: Tổng hợp nghề nghiệp theo Chiêm tinh NGOẠI MÔN
+ Xem: Tổng hợp nghề nghiệp theo CÔNG TRUYỀN VÀ BÍ TRUYỀN
+ Các Đức Tính và Tật Xấu EPI209-210
- Đức Tính đặc biệt: Sùng tín, chuyên tâm, lòng bác ái, sự dịu dàng, trực giác, lòng trung thành, lòng tôn kính.
- Tật xấu của Cung: Tình yêu ích kỷ và ghen tuông, quá dựa vào người khác, tính thiên vị, [trang 209] tự dối mình, tính bè phái, mê tín dị đoan, định kiến, các kết luận quá nhanh chóng/ vội vàng, tính giận dữ nóng nảy/ cuồng nộ.
- Rộng nghĩa: Lòng sùng tín cứng nhắc, chủ nghĩa lý tưởng, bị ảo cảm, tự lạm dụng, giận giữ, điên cuồng, cuồng tín. Người tử vì đạo/ Nạn nhân. Rế bị ảnh hưởng bởi hành vi đám đông, độc ác. (Trích từ năng lượng của 7 cung/ Khóa học GQ/ MF)
- Các Đức Tính cần có: Sức mạnh, sự hy sinh, sự thanh khiết, chân thật, khoan dung, thanh thản, sự cân bằng và có lương tri.
+ Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung.
+ Đặc điểm nổi bật nhất của cung 6 là sự Sùng Tín, Trung Thành, Nhiệt Huyết. (Con chó - biểu tượng trung thành, hình người cầu nguyện và đoàn khách hành hương biểu tượng sự sùng tín hay biểu tượng cho chủ nghĩa quá khích cực đoan, một khía cạnh thấp của cung 6. Hình lính cứu hỏa tượng trưng cho lòng can đảm, tượng Nữ thần tự do tượng trưng cho lòng nhiệt huyết, hi sinh cho tổ quốc. Trái tim rỉ máu cũng là biểu tượng của lòng nhiệt huyết tự hi sinh.
- Điểm tiêu cực của cung 6 là sự cuồng tín, không chấp nhận cái gì khác với lý tưởng mình tôn thờ. Nhược điểm này phải được chuyển hóa bằng đặc tính tích cực của cung 2 là sự bao dung, bao gồm tất cả vào mình. (Nguồn: TLHNM 1)
+ Xem: Tổng hợp Cung 6 ứng con người
I- Phẩm tính Cung Năm: Kiến thức Cụ thể, Khoa học
- Ưu điểm: Phát biểu hết sức chính xác, công bằng (không thương xót), bền chí, lương tri, chính trực, độc lập, trí năng sắc sảo, suy nghĩ thẳng thắn, muốn hiểu biết và thấu đáo.
- Nhược điểm: Chỉ trích gắt gao, thái độ hẹp hòi, kiêu căng, không tha thứ, thiếu thông cảm và tôn kính, thành kiến.
+ Các Đức Tính và Tật Xấu EPI 207-8
- Đức Tính đặc biệt: Các phát biểu hoàn toàn chính xác, sự công bằng (không có lòng thương xót), sự kiên trì, lương tri, tính ngay thẳng, tính độc lập, trí tuệ sắc sảo.
- Tật Xấu của Cung: tính phê bình khắc nghiệt, hẹp hòi, kiêu ngạo, tính không khoan nhượng, thiếu sự cảm thông và tôn kính, thành kiến.
- Đức Tính cần có: Lòng tôn kính, sự tận tâm, thông cảm, tình yêu, tư tưởng phóng khoáng.
+ Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung (Xem: tóm lược về bảy cung)
II- NGƯỜI CUNG 5:
+ Linh hồn cung 5 qua Kinh nghiệm - Đóng góp - Năng lực - Nguyện vọng - Cảm giác - Mong muốn - Năng khiếu - Tâm lý: Xem LH Cung 5
+ Phàm ngã C5: Hẹp hòi và độc quyền thiên về trí, chuyên môn và kỹ thuật riêng, không toàn cảnh do quá duy lý, chia rẻ và lãnh đạm, không tình cảm. Là chuyên gia - Không thỏa mãn do hay chỉ trích và phân tích, giám sát, tranh luận.
Tiến hóa: Lang thang trong bóng tối sâu thẳm của tinh thần. Y đã tìm kiếm qua đa dạng pháp màn che thực tại - Đánh mất chính y qua cái Tôi tò mò từng mảnh ghép từ Y phục, hình dạng, mầu sắc, hình thức, kiểu mẫu ... cấu thành và Dụng nó => Sáng tỏ bí ẩn Hình tướng - Xa dời bí nhiệm Tinh thần - Chỉ thấy Y phục.
Các tính chất: Vô minh, chỉ trích, duy lý hóa và phá hủy, chia rẻ về trí tuệ, ham tri thức => Nặng vật chất, Phân tích tỉ mỉ, Tính duy vật mãnh liệt và sự phủ định Thượng Đế nhất thời, cô lập - Chú trọng sai lầm, quan điểm lệch lạc về chân lý, Sự hiến dâng trí tuệ cho hình tướng và hoạt động của hình tướng, Thuyết thần học, dẫn đến:
Một tri thức về thực tại, Việc nhận thức linh hồn và các tiềm năng của nó, Năng lực nhận biết và tiếp xúc với Thiên thần Bản Lai Diện Mục, Sự nhạy cảm với Thượng Đế, với ánh sáng và với minh triết, sự hiến dâng về tinh thần và trí tuệ, Năng lực để được điểm đạo. (Điểm quan trọng thực sự.). Xem tại đây
+ Phương pháp tiếp cận Thánh đạo: Xem pháp tiếp cận Thánh đạo
+ Tập khí/ Bản năng và năng khiếu bí truyền Thể trí C5:
- Tập khí - Bản năng công truyền với Hạ Trí:
Tính tốt đặc biệt: Chính xác, công bằng vô tình, kiên nhẫn, lương tri, chính trực (uprightness), độc lập, trí nhạy bén.
Tật xấu: Chỉ trích khe khắt, hẹp hòi, ngạo mạn, khó tha thứ, thiếu tình cảm và sùng kính, thành kiến (prejudice).
Đức tính cần tập: Tôn kính, sùng tín, cảm tình, bác ái, đầu óc phóng khoáng (wide–mindedness).
- Năng khiếu bí truyền: Trí tuệ sắc sảo, chính xác chi tiết tỷ mỷ, kỹ năng khoa học (Toán học) và nghiên cứu. Thí dụ: nhà khoa học, thợ điện, kỹ sư, nhà phân tích, kỹ thuật viên dữ liệu, bác sĩ phẫu thuật, nhà nghiên cứu, nhà giả kim thuật, nhà phát minh và kỹ thuật viên. Xem tại đây
+ Pháp chữa bệnh: Là bác sĩ phẫu thuật hoàn hảo, và những PP chữa trị tốt nhất của y sẽ diễn ra nhờ phẫu thuật và điện.
+ Mẫu/ Kiểu người C5: Nhà hoá học, thợ điện, kỹ sư, bác sĩ phẫu Thuật. Lãnh đạo hẹp hòi - Cái Tôi - Xuất sắc về kỹ thuật đặc biệt, lính pháo binh. Nghệ sĩ thì rất hiếm, trừ có C 4/ C 7 phụ ảnh hưởng. Điêu khắc và âm nhạc kém. Viết và nói rõ ràng, nhưng thiếu lửa và dấu chấm vì thường dài dòng muốn nói quá nhiều: Xem tại đây
+ Chức năng/ Chức vụ, nghề nghiệp: Trí sắc sảo, chính xác từng chi tiết, nỗ lực truy ra sự thật nhỏ nhất đến tận nguồn cội, và để xác minh mọi lý thuyết. Trung thực, giải thích dễ hiểu, có mô phạm và đáng chán do cứ khẳng định - Chi tiết, vụn vặt, tầm thường, vô ích. Ngăn nắp, đúng giờ, tháo vát, không thích nhận những ưu đãi hoặc sự nịnh hót: Xem tại đây
+ Xem: Tổng hợp Cung 5 ứng con người
+ Cung 4 là Cung Hài Hòa thông qua Xung Khắc, với màu đặc trưng của nó là màu vàng. Nhiều người có thể trí ở cung 4.
- Cảm xúc <> trực giác, tinh thần chiến binh, “phát triển” thông qua đau khổ, khủng hoảng, đấu tranh liên tục. Khuynh hướng hòa giải, yêu vẻ đẹp / phim / nghệ thuật / giải trí / sáng tạo. ( Năng lượng 7 cung - GQ/MF )
+ Phẩm tính Cung Bốn: Điều hòa qua Xung độ.
- Ưu điểm: Tình thương mạnh mẽ, đồng cảm, can đảm về thể chất, rộng lượng, cởi mở, trí tuệ và nhận thức nhanh nhạy.
- Nhược điểm: Lấy cái tôi làm trung tâm, âu lo, không chính xác, thiếu can đảm về đạo đức, nhiều ham muốn, biếng nhác, ngông cuồng.
+ Các Đức Tính và Tật Xấu EPI 205-7 (Xem Bảy đấng ....)
- Các Đức Tính đặc biệt: Tình cảm mạnh mẽ, sự thông cảm (Cảm tình), can đảm thể chất (Liều mạng), lòng quảng đại (Rộng lượng), sự tận tâm (Sùng tín), nhanh chóng (Nhanh trí) về trí tuệ và nhận thức mau lẹ.
- Các Tật Xấu của Cung: Ngã chấp (tự cho mình là trung tâm), hay lo lắng, thiếu chính xác (Sai sót), thiếu can đảm về đạo đức, nhiều đam mê (niềm đam mê mạnh mẽ), lười biếng/ Thụ động, phung phí/ Vô độ.
- Các Đức Tính cần có: Trầm tĩnh (Sự bình thản), tự tin, tự kiềm chế, Trong sạch (thanh khiết), vị tha, sự chính xác, sự thăng bằng về trí tuệ và đạo đức (Sự quân bình).
+ Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung.
+ Luận về Cung 4 với 2 trường hợp Ngoại môn với Phàm ngã chưa Phối kết và đã phối kết:
- Mặt trăng dấu Vulcan: c. Cung 4. – Hài hòa qua Xung đột, qua Mặt trăng, trong trường hợp này che giấu hành tinh Vulcan. Ở đây, Vulcan "rèn trên chiếc đe của mình, nhờ lửa và búa đập, mạng lưới liên kết bao gồm cả quốc gia và khiến chúng gắn bó với nhau." Cung này nối kết nước Đức và Hoa Kỳ với nhau, vì cung bốn là cung linh hồn của Đức, trong khi cung một, được Vulcan truyền qua Mặt trăng, liên kết linh hồn và phàm nhân của Đức với Hoa Kỳ. Do vậy, một số đông người Đức đến Hoa Kỳ, để thoát khỏi hoạt động phàm nhân của Đức khi nó biểu lộ qua khía cạnh hủy diệt thuộc cung một của nó.
- Mặt trăng trực tiếp: d. Cung 4. – Tôi kể ra cung này lần thứ hai, vì ở đây nó biểu lộ qua Thủy tinh, vị Sứ giả, và nhấn mạnh khía cạnh hài hòa trái với phương diện xung đột mà Mặt trăng và Vulcan đã cùng nhau tuôn đổ. Chính mối liên hệ Mặt trăng - Vulcan tạo sự xung đột chính trị luôn bùng lên tại Hoa Kỳ.
- Mặt trăng che Thiên VT: h. Cung 4. – Như bạn thấy, ảnh hưởng này thường xuất hiện. Nhưng lần này nó biểu lộ qua Mặt trăng, khi Mặt trăng che giấu Thiên vương tinh. Ảnh hưởng này tạo sự xung đột có tính chất khác với những gì xảy ra khi Mặt trăng che giấu Vulcan, hoặc truyền trực tiếp năng lượng của cung bốn. Thiên vương tinh là phương tiện cho cung 7, và việc nó hòa hợp với cung bốn, qua Mặt trăng, có chức năng mang lại mối quan hệ kỳ diệu giữa nhiều quốc tịch khác nhau ở Hoa Kỳ. Vì thế mà hòa hợp và phối hợp họ thành một toàn thể đồng nhất – mà hiện nay chưa có được. (Trang 92) (Vận mệnh các quốc gia)
+ Xem: Tổng hợp cung 4 ứng con người
+ Phẩm tính Cung 3: Thông tuệ linh hoạt
- Ưu điểm: Tầm nhìn rộng về tất cả những vấn đề trừu tượng, trí tuệ sáng tỏ, năng lực tập trung nghiên cứu triết học, kiên nhẫn, thận trọng, khả năng truyền đạt khái niệm, trí sáng tạo.
- Nhược điểm: Tự cao về trí tuệ, lạnh lùng, cô lập, thiếu chính xác trong chi tiết, đãng trí, ương ngạnh, ích kỷ, tính chỉ trích thái quá đối với người khác.
+ Các Đức Tính và Tật Xấu EPI 204-5 (Xem Bảy đấng ...)
- Các Đức Tính đặc biệt: quan điểm rộng rãi về tất cả các vấn đề trừu tượng, mục đích chân thành, trí năng trong sáng, khả năng tập trung vào các nghiên cứu triết học, kiên nhẫn, cẩn thận, không có xu hướng làm phiền chính mình hoặc người khác về những chuyện vặt vãnh.
- Các Tật xấu của Cung: sự tự hào về trí tuệ, sự lạnh lùng, cô lập, thiếu chính xác trong các chi tiết, đảng trí, ngoan cố, ích kỷ, hay chỉ trích những người khác.
- Các Đức Tính cần có: Thông cảm, khoan dung, sự tận tâm, tính chính xác, nghị lực và lương tri.
+ Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung
+ Cung 3 - Cung Phàm ngã của Hành Tinh Trái Đất thống trị con người, mang lại yếu tố phân biện thông qua hoạt động trí tuệ, và điều này sẽ cân bằng cái gọi là bản chất bác ái, và là ... nguyên nhân của sự phát triển tiến hóa của chúng ta; Trong ảnh hưởng quy định này có một manh mối cho sự đau khổ, sự bi thảm và nỗi đau trong thế giới ngày nay. (EPI-335/8)
+ Biểu lộ 3 ngôi chính:
Ngôi 1 về ý chí hoặc quyền năng tự biểu lộ trong cung này dưới hình thức Thiên Luật, lập pháp, tính hợp pháp, công lý;
Ngôi 2 biểu lộ dưới hình thức sự liên quan giữa các cặp đối nhập (biểu tượng cái cân), và trên cõi trần tự hiện ra dưới hình thức Tính Dục;
Ngôi 3 biểu lộ dưới hình thức năng lượng cụ thể hóa và điều này chúng ta gọi là Tiền Tài. Theo nghĩa đen chính là vàng và đây là biểu tượng hiện ra bên ngoài của những gì được tạo ra bởi việc nhập lại của tinh thần và vật chất trên cõi trần. Như bạn biết, trạng thái thứ 3 là trạng thái sáng tạo.... (CTHNM, 275)
+ Xem: Tổng hợp Cung 3 ứng con người
+ Cung Hai - Bác ái/ Hấp dẫn và Minh triết: Vị Chúa Bác Ái này là vị uy lực nhất trong bảy cung, bởi vì Ngài ở trên cùng cung vũ trụ với Thái Dương Thượng Đế. Ngài tự biểu lộ chủ yếu qua Mộc Tinh, vốn là thể biểu lộ của Ngài?
+ Cung 2: Biểu tượng của Ngài là sấm sét, Linh từ vốn quay theo chu kỳ xuống các thời đại. Cung này được gọi là cung minh triết do ham muốn đặc trưng của nó đối với tri thức thuần túy và chân lý tuyệt đối – rễ lạnh lùng và ích kỷ, nếu không có bác ái, và thụ động nếu không có nghị lực. Khi cả quyền lực và bác ái đều có mặt, bấy giờ bạn có cung của chư Phật và của tất cả các đại huấn sư của nhân loại.
+ Các Đức tinh và Tật Xấu EPI 202-4: Các Đức Tính đặc biệt: Bình tĩnh, sức mạnh, sự kiên nhẫn và sức chịu đựng, tình yêu chân lý, lòng trung thành, trực giác, trí thông minh rõ ràng, và tính khí thanh thản.
- Các Tật Xấu của Cung: Quá miệt mài học hỏi, sự lạnh lùng, thờ ơ với những người khác, coi thường những hạn chế về trí tuệ ở những người khác.
- Các Đức Tính cần có: Lòng bác ái, lòng từ bi, vị tha, nghị lực. (Xem Bảy đấng kiến tạo bảy cung GQ1....)
- Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung
+ Bác Ái và Minh Triết - Cung 2 - Cung Âm chủ THU HÚT
- Bác ái / Hấp dẫn, nhấn mạnh về phương diện “Tâm, Chữa lành, Cứu Rỗi”
- Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (Tâm lý học NM 1 - Cung mềm):
+ Biểu lộ 3 ngôi chính:
Ngôi 1 về ý chí hoặc quyền năng tự biểu lộ trong cung này dưới hình thức Thiên Luật, lập pháp, tính hợp pháp, công lý;
Ngôi 2 biểu lộ dưới hình thức sự liên quan giữa các cặp đối nhập (biểu tượng cái cân - Cung Thiên bình), và trên cõi trần tự hiện ra dưới hình thức Tính Dục;
Ngôi 3 biểu lộ dưới hình thức năng lượng cụ thể hóa và điều này chúng ta gọi là Tiền Tài. Theo nghĩa đen chính là vàng và đây là biểu tượng hiện ra bên ngoài của những gì được tạo ra bởi việc nhập lại của tinh thần và vật chất trên cõi trần. Như bạn biết, trạng thái thứ 3 là trạng thái sáng tạo.... (CTHNM, 275)
+ Xem: Tổng hợp Phẩm tính Cung 2 ứng con người
+ Cung 1 - Ý chí, Quyền lực: Y là nhà lãnh đạo bẩm sinh trong bất kỳ và trong mọi sự nghiệp công....; Y có thể là kẻ trộm hay vị thẩm phán lên án y, nhưng y luôn ở đầu.
- Áo choàng màu xanh của Ngài che đậy mục đích muôn đời của Ngài, nhưng trong lúc mặt trời mọc và lặn, thiên thể màu đỏ của của Ngài được nhìn thấy.
- Lời Ngài là quyền lực.
- Ánh sáng của Ngài là điện. Sét là biểu tượng của Ngài.
- Ý chí của Ngài ẩn trong dự định của tư tưởng Ngài. Không có gì được tiết lộ.
+ Các Đức tính và các Tật xấu EPI 201-2
- Các Đức Tính đặc biệt của Cung 1: Sức mạnh, lòng can đảm, sự kiên định, sự trung thực, phát sinh từ sự vô úy tuyệt đối, năng lực cai trị, là khả năng nắm bắt những vấn đề lớn theo cách thức nhìn xa trông rộng, và năng lực xử lý con người và các biện pháp.
- Các Tật Xấu của Cung: Tự cao, tham vọng, bướng bỉnh, cứng rắn, kiêu ngạo, ham muốn kiểm soát người khác, ngoan cố, giận dữ.
- Các Đức Tính phải có: Sự dịu dàng, khiêm tốn, sự cảm thông, lòng khoan dung, kiên nhẫn.
+ Đặc Điểm - Mầu Sắc - Âm Thanh - Độ rung động của Cung (Nguồn: Xem Bảy đấng kiến tạo bảy cung GQ1 ...)
+ Biểu lộ 3 ngôi chính:
Ngôi 1 về ý chí hoặc quyền năng tự biểu lộ trong cung này dưới hình thức Thiên Luật, lập pháp, tính hợp pháp, công lý;
Ngôi 2 biểu lộ dưới hình thức sự liên quan giữa các cặp đối nhập (biểu tượng cái cân), và trên cõi trần tự hiện ra dưới hình thức Tính Dục;
Ngôi 3 biểu lộ dưới hình thức năng lượng cụ thể hóa và điều này chúng ta gọi là Tiền Tài. Theo nghĩa đen chính là vàng và đây là biểu tượng hiện ra bên ngoài của những gì được tạo ra bởi việc nhập lại của tinh thần và vật chất trên cõi trần. Như bạn biết, trạng thái thứ 3 là trạng thái sáng tạo.... (CTHNM, 275)
+ Cung I: Luật Tuần Hoàn là một, nhưng vì nó dựa trên xung động ban đầu, và dựa trên nhịp đập của “trái tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể nào (thái dương hệ, cơ chế hành tinh, chuỗi hành tinh, nhóm chân ngã hay đời sống chân ngã cá nhân).
- Năng lượng của Chủ Quản cung 1 vận hành qua Luật Tuần Hoàn. Năng lượng của Chủ Quản cung này mang đến cái chết của một con kiến hay của một thái dương hệ, một tổ chức, một tôn giáo, hay một chính phủ, một dạng giống dân hay một hành tinh. Ý chí hay mục đích của Ngài thể hiện qua Luật Tuần Hoàn. (EP I 65)
+ Vi phạm Định Luật Tuần Hoàn là một nguyên nhân của bệnh tật: Tôi muốn nói đến, trước hết, với tiền đề cơ bản rằng bệnh tật và trở ngại thể chất không phải là kết quả của suy nghĩ sai lầm. Một ví dụ thú vị của sự thất bại này là sự thật rằng con người không tuân theo Luật cơ bản về Nhịp Điệu, luật thống trị tất cả các quá trình trong tự nhiên, và con người là một phần của tự nhiên. Sự thất bại trong việc hoạt động theo Luật Tuần Hoàn chính là gây ra khó khăn nội tại trong việc sử dụng và lạm dụng kích thích tình dục. .... Trong thế giới hiện đại ngày nay, bắt đầu xuất hiện khắp nơi việc vi phạm những luật tinh thần này, đặc biệt là Luật Chu Kỳ, luật xác định thủy triều, điều khiển các sự kiện thế giới và cũng tác động đến cá nhân và thiết lập những thói quen nhịp điệu của đời sống - một trong những khuynh hướng thúc đẩy chính dẫn đến sức khỏe tốt.
Do phá vỡ Luật Nhịp Điệu, con người đã làm tan rã những mãnh lực mà nếu được sử dụng đúng đắn, sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh; bởi làm thế, con người đã tạo nên nền tảng cho sự suy nhược tổng quan và những khuynh hướng hữu cơ nội tại mà chúng có khuynh hướng mở đường cho sức khỏe yếu và cho phép những vi khuẩn đi vào cơ thể, .... (EH 90)
* Xem thêm: Tổng hợp các Phẩm tính Cung một ứng con người
+ Cung Thể cảm dục Cung 2: Bình tĩnh về mặt cảm xúc, rất tình cảm và thương người, rất nhạy cảm và dễ dàng bị choáng ngợp. Muốn bao gồm tất cả mọi người, không muốn làm tổn thương bất cứ ai, trừ khi có sức mạnh đến từ một thể khác, một người như vậy có thể rất thụ động, ngoan ngoãn, một người bị khinh khi vì không thể nói “không”. Loại đáng sợ nhất của những loại người thuộc cung tình cảm sẽ “nhượng bộ” một cách dễ dàng khi bị đe dọa. Một tính năng phân biệt là nó không công khai phản ứng – ngay cả khi bị khiêu khích nghiêm trọng và sợ hãi. Nó vẫn bình tĩnh và tránh những sự bộc lộ rất tình cảm. Đây là thể tình cảm vô hại nhất, và người ta thích ở xung quanh nó.
- Thể cảm dục Cung 2: Thể cảm dục cung hai của bạn làm cho công việc của bạn rất thuận tiện, đem cho bạn sự hiểu biết và tính vô hại; các cảm xúc của bạn do đó không gây trở ngại cho sự phán xét của bạn và các quyết định của bạn. (DNA 168)
- Thể cảm dục Cung 2: Thể cảm dục của bạn chắc chắn với vai trò là một tập hợp các năng lượng cung hai và đó là ảnh hưởng của tình thương mà bạn mang theo khắp mọi nơi với bạn. Tuy nhiên, Tôi muốn nhắc nhở bạn rằng khi linh hồn và thể cảm dục đều ở trên cùng một cung, thì khi đó luôn nảy ra một khó khăn về sự quân bình gây mất thì giờ. Trong những trường hợp như vậy, sẽ có một xu hướng dẫn tới sự thiếu cân bằng trong toàn bộ kết quả của thể cảm dục, và – như bạn biết – bạn phải liên tục đối phó với điều này. (DNA I, 152)
+ Thể cảm dục Cung 3, 4, 5, 7: cung này không chi phối thể cảm dục, ngoại trừ các đệ tử.
+ Nhận dạng cung - Nguồn: Nhận dạng các cung
+ Chức Nghiệp (Chức Vụ - Nghề Nghiệp) Người Cung 2: Cung này được gọi là cung minh triết do ham muốn đặc trưng của nó đối với tri thức thuần túy và chân lý tuyệt đối – lạnh lùng và ích kỷ, nếu không có bác ái, và thụ động nếu không có nghị lực. Khi cả quyền lực và bác ái đều có mặt, bấy giờ bạn có cung của chư Phật và của tất cả các đại huấn sư của nhân loại, – những vị, đã đạt được minh triết vì lợi ích của người khác, dành cuộc đời các Ngài cho việc ban phát nó ra. Môn sinh trên cung này luôn không thỏa mãn với những thành tựu cao nhất của y; bất kể kiến thức của y lớn lao như thế nào, tâm trí của y vẫn cố định vào những gì chưa biết, xa hơn nữa, và vào những đỉnh cao mà cho đến nay chưa ai trèo lên. (Nguồn: Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1)
+ Người cung 2: Sẽ có sự khéo léo và tầm nhìn xa; y sẽ làm một đại sứ tuyệt vời, và một giáo viên hạng nhất hoặc đứng đầu một trường cao đẳng; với vai trò là một người của công việc, y sẽ có trí thông minh rõ ràng và khôn ngoan trong việc đối phó với các vấn đề xảy đến trước mặt y, và y sẽ có khả năng ghi khắc những quan điểm thực sự về sự vật lên những người khác và làm cho họ thấy sự vật giống như y. Y sẽ làm một doanh nhân giỏi, nếu được thay đổi bởi cung thứ tư, thứ năm và thứ bảy. Người lính ở cung này sẽ lên kế hoạch một cách khôn ngoan và thấy trước các khả năng; y sẽ có một trực giác về các đường lối tốt nhất để theo đuổi, và y sẽ không bao giờ dẫn người của mình vào nguy hiểm do sự liều lĩnh. Y có thể thiếu sự hành động nhanh chóng và nghị lực. Người nghệ sĩ trên cung này sẽ luôn tìm cách dạy học qua khiếu nghệ thuật của y, và các tranh ảnh của y sẽ có một ý nghĩa. Tác phẩm văn học của y sẽ luôn có tính giáo dục. Nguồn: Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1) Xem: Bảng 5 - Kiểu người theo 7 cung
Phương pháp chữa bệnh, đối với người cung hai, sẽ là tìm hiểu kỹ về tính khí của bệnh nhân cũng như là thông thạo hoàn toàn bản chất của bệnh tật, để dùng năng lực ý chí của y trong trường hợp có lợi nhất. (Nguồn: Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1)
Năng khiếu bí truyền Cung 2, Bác ái Minh triết : các năng khiếu yêu cầu sự tế nhị, tầm nhìn xa, sự thu hút cá nhân, sự ấm áp và quan tâm đối với người khác. Ví dụ: đại sứ, nhà trị liệu tâm lý, giáo sư, nhà chữa trị, nhà giáo dục, hiền triết, học giả và nhà nghiên cứu văn hóa. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Cung Linh hồn thuộc Cung Hai
• Kinh nghiệm: một sự tràn ngập rực rỡ của minh triết đầy yêu thương.
Việc kiến tạo một cách khôn ngoan, liên quan đến Thiên Cơ.
Tính bao gồm.
Một sự khao khát đối với minh triết và chân lý.
Sự nhạy cảm với Tổng Thể.
Sự từ bỏ tà thuyết lớn về tính chia rẻ.
Sự tiết lộ ánh sáng.
Sự giác ngộ chân thật.
Chánh ngữ nhờ minh triết được tạo ra. EPII 40
• Sự đóng góp lớn lao nhất: phụng sự qua việc dạy dỗ người khác đầy yêu thương và khôn ngoan.
• Mục tiêu: phát triển một sự hiểu biết đầy yêu thương sâu sắc có tính trực giác về mọi người, và / hoặc trở nên bao dung và khôn ngoan để soi sáng những người khác.
• Hoạt động vui thích nhất: “yêu thương”; hay theo đuổi minh triết và gieo rắc sự hiểu biết mang tính trực giác.
• Cảm giác thiêng liêng lớn nhất: lòng bác ái thiêng liêng, hay sự bao dung vô hạn.
• Mong muốn của tâm hồn: yêu thương tất cả, là một với tất cả; hoặc đạt được sự minh triết và toàn tri thiêng liêng và hoàn toàn.
• Các năng khiếu: những gì đòi hỏi tài ứng biến, tầm nhìn xa, sự thu hút cá nhân, sự ấm áp và quan tâm đối với những người khác. Họ làm những đại sứ tuyệt vời, những nhà chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lý, các giáo viên, các nhà chữa bệnh, các nhà giáo dục. Tôn giáo cũng xuất hiện dưới cung này. (EPI 50)
Vị đệ tử sử dụng năng lượng Cung 2 yêu thương một cách khôn ngoan, hiểu mọi người bằng trực giác và hướng dẫn hoạt động ở cõi trần một cách kiên nhẫn, tế nhị và từ bi. Có hai loại tâm lý người,
a/ một loại người chủ yếu đến từ tim và biểu lộ lòng bác ái,
b/ loại người kia chủ yếu đến thông qua thể trí và biểu lộ sự hiểu biết khôn ngoan.
Linh hồn Cung Hai. Năng lượng của Bác Ái – Minh triết. (EP II 80-1)
Các linh hồn trên cung này sử dụng phương pháp “tập hợp vào”, hay “thu hút vào”. Linh hồn thiết lập một sự rung động (tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể hiểu chút ít ý nghĩa thực sự của từ đó) và rung động đó tác động lên môi trường của nó, và các nguyên tử vật chất trên cả ba cõi được thu hút vào điểm năng lượng trung tâm. Phương pháp này thì tương đối nhẹ nhàng, khi so sánh với phương pháp của cung thứ nhất, và diễn trình thì lâu hơn một chút trong khi việc phủ bóng (overshadowing) (được tiến hành trước việc nhập vào [Trang 81] ba cõi thấp vì các mục đích xuất hiện) thì lâu hơn rất nhiều. Điều này nói đến việc phủ bóng vật chất dùng để kiến tạo thành hình tướng, chứ không phải nói đến sự phủ bóng của hình tướng đã được hoàn thành, tức là đứa trẻ trong bụng mẹ. Trong trường hợp thứ nhất, có thể nói rằng các linh hồn trên cung một đột ngột và nhanh chóng khi họ muốn lâm phàm, và theo các phương pháp được dùng. Các linh hồn trên cung hai thì chậm hơn khi tiến đến hành động “thôi thúc” (“impulsive”) đó (theo nghĩa của sự thôi thúc đến hành động chứ không phải sự thôi thúc về thời gian) vốn dẫn đến việc sản xuất huyền bí một sự xuất hiện để biểu lộ. // Các linh hồn trên cung này thu hút, khi họ đi vào luân hồi thông qua sự mong muốn. Họ thu hút hơn là họ năng động; họ có tính xây dựng, và họ làm việc theo đường lối đó, mà đối với mọi sự sống và mọi hình tướng, vốn là đường lối ít đối kháng nhất trong vũ trụ của chúng ta.
Linh hồn Cung Hai – có hai nhóm, tự nhiên là có nhiều trường hợp ngoại lệ.
(1) Những người ở khía cạnh bác ái của cung hai bước đi trên đường này hay đường kia của các con đường khác nhau, chủ yếu là con đường của các Đấng Cứu Thế của Thế Gian; Họ trở thành nhà tâm lý học thiêng liêng và các Huấn Sư của Thế Gian. Đức Christ đã kết hợp trong Ngài cả ba đặc tính vĩ đại này. Những người trong nhóm linh hồn thứ hai này trên cung thứ hai cũng thuộc về hai nhóm: Họ theo con đường có đặc điểm chuyên biệt và có một sự bao quát toàn diện, và là các huyền bí gia xuất sắc; nhóm kia được nhận thấy bởi lòng bác ái thuần khiết.
(2) Các linh hồn ở khía cạnh minh triết của cung thứ hai đi đến Shamballa và tham gia Đại Hội đồng theo một khả năng này hay khả năng khác. Một người như thế là Đức Phật.. sự đơn giản của linh hồn mở đường vào Shamballa .. người ta nhận thấy một tính đơn giản đã phát triển sẽ chi phối tất cả các mối quan hệ.
Khi tôi nghiên cứu bạn .. một từ ngữ hiện ra trong tâm thức của tôi dành cho bạn: sự đơn giản .. Sự đơn giản và sự thống nhất có liên quan; sự đơn giản là sự nhất tâm về quan điểm, thoát khỏi ảo cảm và những phức tạp của cái thể trí tạo ra hình tư tưởng; sự đơn giản là sự rõ ràng về mục đích và tính kiên định trong ý định và trong nỗ lực, không bị ngăn cản bởi sự truy vấn và sự xem xét nội tâm quanh co; sự đơn giản dẫn đến tình thương đơn giản, không đòi hỏi sự đáp trả; sự đơn giản dẫn đến sự im lặng, không phải sự im lặng như là một hành động né tránh, mà là một “sự giữ lại lời nói có tính huyền bí.” .. Sự đơn giản bao hàm bản thiết kế vốn “ẩn dưới” cấu trúc bên ngoài của sự sáng tạo, của cuộc sống, của tình thương và của việc phụng sự.. Sự đơn giản đầy yêu thương này – thoát khỏi sự suy tư phức tạp, khỏi sự bí ẩn và khỏi sự nội quan ích kỷ – sẽ cung cấp chủ đề cho công việc thiền định của bạn cho đến khi tôi liên lạc với bạn lần sau.
Linh hồn Cung 2, Phàm ngã Cung 4 (EP II 335) Một người – qua sự ưa thích của phàm ngã, là một nghệ sĩ sáng tạo – đột nhiên có một sự quan tâm sâu sắc đến toán học, ta có thể suy ra điều này là do bởi ảnh hưởng của một linh hồn cung hai .
Kỹ thuật Tích hợp của Cung Hai : “’Một lần nữa tôi lại đứng; một điểm trong một vòng tròn, và tuy vậy một mình tôi.’ / Tình yêu vì tình yêu phải thống trị, không phải yêu vì được yêu. Năng lực thu hút tới bản thân phải thống trị, nhưng năng lực đó một ngày nào đó không thể thâm nhập vào thế giới của hình tướng. Đây là bước đầu tiên hướng tới một sự tìm kiếm sâu xa hơn. / Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: “Hãy giải phóng bản thân ngươi khỏi tất cả những gì ở xung quanh, bởi vì nó không có gì cho ngươi, vì vậy hãy trông cậy vào ta. Ta là Đấng kiến tạo, duy trì và thu hút ngươi lên cao mãi. Hãy trông cậy vào ta với đôi mắt yêu thương.. , và hãy tìm kiếm con đường dẫn từ đường tròn bên ngoài đến vị trí. / Ta vẫn giữ vững vị trí đó. Ta thu hút tại vị trí đó. Tại vị trí đó ta điều khiển, lựa chọn và thống trị. Tại vị trí đó ta yêu thương tất cả, thu hút họ đến trung tâm và di chuyển về phía trước với các điểm đang di chuyển hướng tới Trung Tâm vĩ đại, nơi mà Điểm Duy Nhất an trụ. Bạn muốn nói gì bằng Từ Ngữ đó? ” EPII 355
Linh hồn Cung Hai: phương pháp Dứt Bỏ: “Hãy để tất cả sự sống được rút tới Trung Tâm, và như vậy nhập vào trung tâm Bác Ái Thiêng liêng. Khi đó, từ điểm của Sự Sống tri giác đó, hãy để cho linh hồn nhận thức tâm thức của Thượng Đế. Hãy để cho linh từ phát ra, vang dội qua sự im lặng:.. ‘Không có gì ngoài Ta’ “(EPI 417)
Chiều Hướng của Cung Hai: phương pháp Dứt Bỏ – Định Luật Đẩy: “Vị Học Giả biết chân lý. Tất cả được tiết lộ cho ông. Được bao quanh bởi những cuốn sách của mình, và được che chở trong thế giới của tư tưởng, ông tìm tòi như một con chuột chũi, và tìm thấy lối đi của mình vào bóng tối; ông đạt được tri thức về thế giới của sự vật tự nhiên. Ông không còn quan tâm gì nữa. Đôi mắt của ông được mở rộng. Ông ở trong thế giới của mình trong sức chứa sâu xa. / Từng chi tiết nhập vào nội dung của thế giới tư tưởng của ông. Ông tích chứa những quặng vàng kiến thức của thế giới, như một con sóc lưu giữ những hạt của nó. Nhà kho bây giờ khá đầy đủ …. Thình lình một nhát thuổng hạ xuống, vì nhà tư tưởng chăm sóc khu vườn tư tưởng của ông, và do đó phá hủy những lối đi của thể trí. Sự tàn phá đến, phá hủy nhanh chóng nhà kho của thể trí, sự bảo vệ an toàn, bóng tối và sự ấm áp của một sự truy vấn đã được thỏa mãn. Tất cả được loại bỏ. Ánh sáng của mùa hè đi vào trong, và các ngách tối tăm của thể trí nhìn thấy ánh sáng …. Không còn lại gì trừ ánh sáng, và cái đó không thể được sử dụng. Đôi mắt bị lóa và con mắt duy nhất cho đến nay không nhìn thấy …. / Dần dần con mắt minh triết phải được mở ra. Dần dần tình yêu đối với chân, mỹ và thiện phải đi vào những lối đi tối của tư tưởng trần gian. Dần dần ngọn đuốc ánh sáng, ngọn lửa công chính phải đốt cháy những kho tàng kiếm được trong quá khứ, nhưng cho thấy sự hữu dụng cơ bản của chúng …. / Bảy con đường ánh sáng phải lấy đi sự chú ý của vị Học Giả ra khỏi tất cả những gì đã được tìm thấy, được lưu trữ, và được sử dụng. Ông cự tuyệt điều này và tìm thấy con đường của mình vào Phòng Minh Triết, được xây dựng trên một ngọn đồi, chứ không phải sâu dưới lòng đất. Chỉ có con mắt sáng suốt mới có thể tìm thấy con đường này.” (EPII 167)
Linh hồn Cung Hai: Sự Giác Ngộ: “Thiên thần của Bản Lai Diện Mục (The Angel of the Presence) thu hút kẻ lang thang tới mình. Lòng bác ái thiêng liêng hấp dẫn người tìm kiếm trên Thánh Đạo. Điểm hợp nhất được đạt đến / Miệng kề miệng, hơi thở được rút ra, và hơi thở được rút vào trong. Tim kề tim, nhịp đập của cặp này được hòa hợp thành một. Chân kề chân, sức mạnh được chuyển từ lớn sang nhỏ, và như vậy người ta bước lên Thánh Đạo. / Mãnh lực truyền cảm hứng cho Linh Từ, tức Hơi Thở. Lòng bác ái truyền cảm hứng cho tim, tức sự sống. Sự hoạt động kiểm soát việc bước lên Thánh Đạo. Ba điều này tạo ra sự hợp nhất. Mọi thứ bấy giờ bị mất đi và được thành tựu / Linh từ phát ra: ‘Tôi đi trên Con Đường Bác Ái. Tôi yêu Thiên Cơ. Tôi dâng nộp tất cả những gì tôi có cho Thiên Cơ đó. [Page 46] Tôi dâng hiến tình yêu sâu sắc trong lòng tôi cho Tổng Thể. Tôi phụng sự Thiên Cơ; Tôi phụng sự Tổng Thể với tình yêu và sự hiểu biết’ ” (EPII 45,46)
Nguồn: Nhận dạng các cung
+ Thể Trí Cung Một: Mãnh liệt, nhanh chóng, mạnh mẽ. Một thể trí tổng hợp, nhìn thấy sự việc rộng rãi, và tập trung vào các nguyên tắc, các quá trình tư duy như laser, trong suốt như kim cương tách ra các điều căn bản từ cái không căn bản. Độc lập và thẳng thắn, không thay đổi trong tư tưởng và ý kiến, dứt khoát, vắn tắt và đi thẳng vào trong tư tưởng và lời nói. Một thể trí “thực tế”, nhất tâm, tập trung, có tổ chức, có ưu tiên.
Thể trí Cung 1 : (DNA I, 219) Cung thể trí của bạn cũng là cung một. Điều này có nghĩa rằng thể trí thông minh của bạn có thể thống trị khi cần và có thể mạnh mẽ hơn nhiều khi biểu lộ so với lúc bình thường.
Thể trí Cung 1: Ở NGƯỜI KÉM TIẾN HÓA
1. Ý chí muốn sống hay muốn biểu lộ trên cõi trần.
2. Do đó, xung lực thể hiện như bản năng tự bảo tồn.
3. Khả năng chịu đựng, bất kể những khó khăn nào.
4. Sự cô lập độc đáo. Người luôn luôn là “Một người đứng một mình.”
+ Thể trí Cung 1: Ở NGƯỜI TIẾN HÓA
1. Ý chí giải thoát hay muốn biểu lộ hữu thức trên cõi của linh hồn.
2. Khả năng phản ứng với thiên cơ, hoặc đáp ứng với ý chí Thượng Đế được nhận thức.
3. Nguyên lý bất tử.
4. Tính kiên trì hoặc sức chịu đựng trên Đường Đạo.
* Thể trí Cung 2, 3: cung này không chế ngự thể trí, ngoại trừ các đệ tử.
+ Thể trí Cung Ba: Một trí năng mạnh mẽ và nổi bật. Một loại thể trí rộng rãi bao quát. Một người đang len lỏi, hoạt động không ngừng, linh động, linh hoạt, lời lẽ cao, hay giao tiếp, có khả năng hoạch định và lên kế hoạch, có lý luận và tháo vát, khả năng phân tích cao, phát biểu, khả năng suy luận, không dựa vào kinh nghiệm, hay chỉ trích và thích tư duy trừu tượng. Điểm yếu của nó là nó có thể không quan tâm đến tính chính xác, quá tổng quát hoá, và đãng trí.
Nguồn: Nhận dạng các cung
Xem thêm: Về Các Cung của Thể Trí
+ Cung Phàm ngã - Cung 1: Bất chấp luật lệ, tự hào, tham vọng về quyền lực, ngoan cố, cứng rắn, kiêu ngạo, bướng bỉnh, nóng giận, có ảnh hưởng lớn, đầy tính ta đây, muốn kiểm soát người khác. Nó thích sự cô lập, quyết tâm làm những việc hoàn toàn một mình nó, theo cách của nó, và sẽ chịu đựng không có sự can thiệp. Họ đe dọa người khác bởi chính sự hiện diện của họ. Kêu gọi sự chú ý đến bản ngã bởi là người đứng đầu và giỏi nhất về mọi thứ, bởi việc nhận lãnh trách nhiệm – một cách đáng chú ý, vênh váo ‘cái ngữ’ của họ một cách ngạo mạn. Phàm ngã cung một thật sự, làm việc để đáp ứng với ảnh hưởng Shamballa này, sẽ gìn giữ trân trọng lợi ích tối hậu của nhóm sâu trong tâm thức và tâm hồn của y; y sẽ suy nghĩ về tổng thể chứ không phải về phần tử. Đó là điều mà y sẽ cố gắng để gây ấn tượng lên tâm thức chủng tộc. Điều này đôi khi có thể dẫn tới sự tàn nhẫn và độc ác nếu phàm ngã của cá nhân chưa được kiểm soát bởi xung lực của linh hồn. Người ta có thể thường thấy các trường hợp như thế. (DN 15-16)
+ Phàm ngã cung 1- Cung Ý Chí hay Quyền Lực. Cung đó trong thời gian lâu dài đã kém quan trọng so với cung linh hồn của bạn trong quá khứ, đó là sự tận tâm với linh hồn, với Thánh Đoàn, với nhân loại, cũng như với chính bạn. Vấn đề của bạn về tầm quan trọng của phàm ngã đã thay đổi từ vấn đề về việc gây ấn tượng liên tục về các thái độ của phàm ngã, các ý tưởng và các mong muốn của bạn lên môi trường của bạn (như trường hợp trong kiếp sống cuối cùng của bạn) tới một sự nhấn mạnh thỉnh thoảng theo chu kỳ và gần như dữ dội lên một cá nhân nào đó. Điều này bây giờ chỉ còn thỉnh thoảng (nói một cách tương đối). Bạn đang học cách để cho những người khác được tự do – một bài học khó khăn cho một phàm ngã cung một, như bài học của bạn, được sinh động bởi tri thức và thiện chí. (DINA I, 219)
+ [Y] “.. huỷ hoại (hoặc làm vỡ) .. Y khẳng định: Quyền năng của tôi thì vĩ đại, tôi sẽ tiêu diệt tất cả những trở ngại. Không có gì có thể ngăn chặn sự tiến tới mục tiêu của tôi. Xung quanh tôi là những gì mà tôi đã phá hủy.” (EPII 36)
+ Tình yêu quyền lực phải chiếm ưu thế. (EPII 351)
Các tính chất: Sự nhất tâm năng động, Năng lượng hủy diệt, Năng lực được thực hiện một cách ích kỷ, Không có tình yêu, Cô lập, Một sự khao khát quyền lực và quyền hành, Muốn thống trị, Sức mạnh và sự bướng bỉnh được biểu lộ, dẫn đến: Việc sử dụng năng lượng năng động cho việc thực hiện Thiên Cơ, Việc sử dụng các mãnh lực hủy diệt nhằm dọn đường cho các Đấng Kiến Tạo, Muốn có quyền lực để hợp tác, Quyền lực được nhận thức như là vũ khí chính của bác ái, Sự đồng nhất hóa với nhịp điệu của Tổng Thể, Chấm dứt sự cô lập.
Xem: Bảng 5 - Kiểu người theo 7 cung
Xem: Hình thành - Tính chất - Tâm thức Phàm ngã
+ Chức Nghiệp (Chức Vụ - Nghề Nghiệp) Người Cung 1: Điều này đã được nói về cung quyền lực, và được gọi một cách chính xác như thế, nhưng nếu nó là quyền lực một mình, mà không có minh triết và bác ái, thì một mãnh lực có tính phá hoại và gây tan rã sẽ xảy ra. Tuy nhiên, khi ba đặc điểm được kết hợp, nó sẽ trở thành một cung sáng tạo và chi phối. Những người trên cung này có năng lực ý chí mạnh mẽ, đối với điều tốt hay xấu, vì là điều tốt khi ý chí được điều khiển bởi minh triết và thành vị tha bởi bác ái. Người cung 1 sẽ luôn “nổi bật” trong đường lối riêng của y. Y có thể là kẻ trộm hay vị thẩm phán lên án y, nhưng trong cả hai trường hợp, y sẽ ở đầu trong giới của mình. Y là nhà lãnh đạo bẩm sinh trong bất kỳ và trong mọi sự nghiệp công, một người để tin tưởng và dựa vào, một người để bảo vệ những người yếu đuối và dẹp đi sự áp bức, không sợ những hậu quả và hoàn toàn thờ ơ với sự phê bình. Mặt khác, cung một nguyên thủy có thể tạo ra một người tàn ác có bản chất không biết thương xót và khắc nghiệt. (Nguồn: Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1)
+ Người cung 1: Thường có cảm xúc và tình cảm mạnh mẽ, nhưng [Trang 202] y không dễ dàng biểu lộ nó; y sẽ yêu thích những sự tương phản mạnh mẽ và các khối màu sắc, nhưng hiếm khi là một nghệ sĩ; y sẽ vui thích trong các hiệu ứng dàn nhạc tuyệt vời và các dàn hợp xướng hoàn toàn, và nếu được thay đổi bởi các cung thứ tư, thứ sáu hoặc thứ bảy, thì có thể là một nhà soạn nhạc vĩ đại, chứ không là cái nào khác; và có một loại của cung này vốn điếc về âm thanh, và một loại khác vốn mù màu với những màu sắc tinh tế hơn. Một người như vậy sẽ phân biệt được màu đỏ và màu vàng, nhưng sẽ nhầm lẫn một cách vô vọng giữa màu xanh, màu xanh lá cây và tím. Các tác phẩm văn học của một người cung 1 sẽ mạnh mẽ và đanh thép, nhưng y sẽ ít chăm chút cho phong cách hoặc đoạn kết trong các tác phẩm của y. Có lẽ các ví dụ của loại này sẽ là Luther, Carlyle, và Walt Whitman. Người ta nói rằng trong nỗ lực chữa bệnh, phương pháp tốt nhất cho người cung 1 sẽ là rút sức khỏe và sức mạnh từ những nguồn sống vũ trụ bằng quyền năng ý chí của y, và rồi đổ nó qua bệnh nhân. Điều này, tất nhiên, về phần y, hàm ý kiến thức về các phương pháp huyền bí. Nguồn :Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1 Xem: Bảng 5 - Kiểu người theo 7 cung
Người ta nói rằng trong nỗ lực chữa bệnh, phương pháp tốt nhất cho người cung 1 sẽ là rút sức khỏe và sức mạnh từ những nguồn sống vũ trụ bằng quyền năng ý chí của y, và rồi đổ nó qua bệnh nhân. Điều này, tất nhiên, về phần y, hàm ý kiến thức về các phương pháp huyền bí. (Nguồn: Bảy đấng kiến tạo bảy Cung GQ1)
+ Năng khiếu bí truyền Cung 1, Ý chí hay Quyền lực: lãnh đạo, quản lý, giám sát, chính trị gia, huyền bí gia, nhà thám hiểm, nhà điều hành, giám đốc và nhà độc tài. Các mãnh lực. Bất kỳ nghề nghiệp nào đòi hỏi quyền năng ý chí lớn lao, sức mạnh và sức chịu đựng, khả năng vẫn kiên định khi đối mặt với mọi trở ngại, khả năng hủy diệt nếu cần. Xem các năng khiếu Cung, Cung Hoàng Đạo và Hành Tinh
+ Cung Linh hồn là Cung 1
Kinh nghiệm: một trách nhiệm năng động của ý chí và quyền năng tinh thần đối với việc xúc tiến Thiên Cơ.
Việc sử dụng các mãnh lực hủy diệt nhằm dọn đường cho các Nhà Kiến Tạo.
Ý chí quyền lực để hợp tác.
Quyền lực được thực hiện như là vũ khí chính của bác ái.
Sự đồng nhất hóa với nhịp điệu của Tổng thể.
Việc chấm dứt sự cô lập. (EPII 40)
Lương tâm tinh thần: thúc giục họ gìn giữ các nguyên tắc và các giá trị tinh thần.
Đóng góp lớn nhất: động viên và giải phóng những người khác.
Các mục tiêu: trở thành những nhà lãnh đạo nhân từ đầy quyền lực, đáp ứng những điều tốt đẹp nhất, và / hoặc giải thoát mọi người khỏi cảnh nô lệ và áp bức.
Hoạt động yêu thích nhất: loại bỏ tất cả những điều không thiết yếu và được tự do hoàn hảo.
Cảm giác thiêng liêng lớn lao nhất: đồng nhất hóa với Đại Ngã Duy Nhất, và niềm vui được ở trong sự hiện diện của sức mạnh và quyền lực của Thượng Đế.
Mong muốn của tâm hồn: “Trở thành Đấng Độc Nhất vô nhị “.
Các thiên hướng: Tài chính trị, cầm quyền, các nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà giám sát, chính trị, ngành ngoại giao hiện đại, các lực lượng, bất kỳ nghề nghiệp nào đòi hỏi năng lực ý chí rất lớn, sức mạnh và sức chịu đựng, khả năng đứng vững khi đối mặt với mọi trở ngại, khả năng hủy diệt khi cần.
Các đệ tử biểu lộ mãnh lực Cung 1 với quyền năng năng động, mục đích, sức mạnh, lòng can đảm, tính kiên định và sự trung thực xuất phát từ tính vô úy tuyệt đối. Họ có thể đứng một mình. Họ vững vàng và chịu đựng đối với mọi trở ngại. Họ muốn đạt được sự giải thoát và tự do đối với mọi thứ.
Linh hồn Cung Một. Năng lượng của Ý chí hay Quyền Lực. Trạng thái của Tác nhân Hủy Diệt (EP II 80) Các linh hồn trên cung này được nói tới một cách huyền bí là “đâm sầm để lấy lối của họ vào luân hồi”. Họ chiếm đoạt một cách năng nỗ những gì mà họ cần. Họ không cho phép sự trở ngại trong những việc làm thỏa mãn những ham muốn của họ. Họ đứng một mình trong một sự biệt lập tự hào, hãnh diện về sức mạnh của họ, và tính nhẫn tâm của họ. Những tính chất này phải được chuyển hóa thành việc sử dụng thông minh quyền năng vốn làm cho chúng thành yếu tố mạnh mẽ trong Thiên Cơ, và các trung tâm lực có tính thu hút, tập hợp những người phụng sự và các mãnh lực xung quanh họ. Một minh họa cho điều này có thể được nhìn thấy trong hoạt động của Chân Sư Morya, Ngài là trung tâm, trung tâm hấp dẫn có từ tính của tất cả các nhóm nội môn, ban cho họ, bằng quyền năng của Ngài, khả năng phá hủy những gì không mong muốn trong đời sống của các đệ tử. Chớ quên rằng công việc kích thích những gì cần thiết là một trong những nhiệm vụ chính của một Chân Sư, và năng lực của một đệ tử để hủy diệt những gì hạn chế y thì rất cần thiết. Các linh hồn của cung này thấu hiểu, vì họ đi vào luân hồi do mong muốn. Điều này biểu lộ bản chất của sự thể hiện mãnh lực được dùng. Có một mức độ mãnh liệt trong kỹ thuật của họ. Cuối cùng, họ “chiếm lấy cõi giới thiên đàng bằng vũ lực.”
Kỹ thuật Hội Nhập của Cung Một : “Tình yêu quyền lực phải thống trị. Cũng phải có sự phủ nhận những hình thức không vận dụng quyền lực. /Linh từ phát ra từ linh hồn tới hình tướng: ‘Hãy đứng lên. Hãy khẩn trương hướng ra ngoài để vào sự sống. Hãy đạt được một mục tiêu. Đối với bạn, không phải có một vòng tròn, mà là một đường thẳng. /Hãy chuẩn bị hình thể. Hãy để mắt nhìn về phía trước, không ở một bên nào. Hãy để đôi tai đóng lại đối với tất cả những tiếng nói bên ngoài, và những bàn tay được nắm chặt, cơ thể căng lên, và thể trí tỉnh táo. Cảm xúc không được sử dụng trong việc xúc tiến Thiên Cơ. Lòng bác ái hãy chiếm vị trí của nó. /Biểu tượng của một điểm ánh sáng di động xuất hiện phía trên trán. Chủ âm của sự sống mặc dù không được thốt ra, nhưng vẫn được nghe rõ:… ‘Tôi tiến tới quyền lực Tôi là Đấng Duy Nhất. Chúng tôi là một Nhất Nguyên (Unity) nắm quyền lực. Và tất cả phục vụ cho quyền lực và vinh quang của Đấng Duy Nhất.'”(EPII 351,352)
Phương pháp Dứt Bỏ: “Hãy để cho các Mãnh Lực đến với nhau. Hãy để chúng leo tới Chốn Cao Thâm, và từ địa vị cao quý đó, hãy để cho linh hồn nhìn ra trên một thế giới bị hủy diệt. Bấy giờ, hãy để linh từ phát ra: ‘Tôi vẫn còn tồn tại !'”(EPI 416)
Khuynh Hướng của Cung Một: phương pháp Dứt Bỏ – Định Luật Đẩy: “Khu vườn vẫn được tiết lộ. Hoa và cây của nó sống trong vẻ đẹp có trật tự. Tiếng thì thầm của những con ong và côn trùng đang bay trên cánh của chúng được nghe thấy từ mọi phía. Không khí đầy mùi hương. Những màu sắc làm náo loạn tới màu xanh của bầu trời …. / Gió của Thượng Đế, hơi thở thiêng liêng của Ngài, quét qua khu vườn …. Các bông hoa nằm rạp xuống. Các cây gập lại, bị tàn phá bởi gió. Sự hủy diệt mọi vẻ đẹp được theo sau bởi cơn mưa. Bầu trời đen tối. Người ta thấy sự đổ nát. Rồi đến cái chết …. / Sau đó, một khu vườn khác! nhưng lần này có vẻ xa xôi. Hãy gọi một người làm vườn. Người làm vườn, tức linh hồn, trả lời. Hãy gọi mưa, gió, mặt trời đang thiêu đốt. Hãy gọi người làm vườn. Sau đó, hãy để cho công việc tiến hành. Luôn luôn sự hủy diệt đi trước quy luật của cái đẹp. Sự đổ nát đi trước sự thật. Khu vườn và người làm vườn phải tỉnh táo! Công việc tiếp tục. (EPII 166,167)
Linh hồn Cung Một: Sự Giác Ngộ
“Thiên thần của Bản Lai Diện Mục (The Angel of the Presence) đứng trong ánh sáng thiêng liêng – trung tâm và nơi gặp gỡ của nhiều mãnh lực. / Những mãnh lực này gặp gỡ và phối hợp. Chúng tập trung vào đầu của người đứng trước Thiên Thần. / Họ đứng, mắt đối mắt, và mặt đối mặt, và tay trong tay. Ý chí tăng cường ý chí và bác ái đáp ứng bác ái. Ý muốn-quyền lực hợp nhất với ý muốn-yêu thương, và sức mạnh với minh triết gặp nhau. Hai điều này là một. Từ điểm thống nhất cao đó, Đấng đã được giải thoát đứng ra và nói: “Tôi trở về từ nơi tôi xuất phát; Tôi thực hiện cuộc hành trình của tôi từ cõi vô sắc tướng đến cõi sắc tướng. Tôi sẽ hiện hữu. Tôi sẽ hoạt động. Tôi sẽ phụng sự và cứu rỗi. Tôi sẽ nâng cao nhân loại. Tôi phụng sự Thiên Cơ với ý chí, Tổng Thể với quyền lực. ” (EPII 45)
Nguồn: Nhận dạng các cung
+ Tình hình thế giới biến động (Giảng về 3 Cung năng lượng biểu lộ qua 3 Trung tâm Hành tinh chính yếu: Cung 1: Shamballa; Cung 2: Thánh đoàn; Cung 3: Nhân loại): Cần lưu ý điều thực tế rằng khi bạn thấy hình ảnh thế giới với những hỗn loạn rõ rệt, các ý thức hệ và những thế lực đang tranh chấp và chiến đấu với nhau, sự ngược đãi các dân tộc thiểu số, những mối căm thù gay gắt dẫn đến chiến tranh, và bao âu lo, kinh khủng khắp nơi, thì không có nghĩa là bạn đang thấy hình ảnh này đúng như thực tế. Bạn đang thấy những gì nông cạn, thuộc về thế tục, phù du, và hoàn toàn liên quan đến phương diện hình thể. Như bạn biết rõ, Thánh Đoàn quan tâm chính yếu đến phương diện tâm thức, và khai mở ý thức, dùng hình thể làm phương tiện chỉ để hoàn thành mục đích của nó. Khi nghiên cứu kỹ hơn về các mãnh lực đang tạo ra sự rối loạn bên ngoài, bạn có thể thấy rõ hơn và phục hồi niềm tin vào Thiên cơ với nguồn bác ái thiêng liêng và vẻ đáng yêu của nó. Vì thế, chúng ta hãy xem xét các mãnh lực này và các trung tâm khởi nguồn của chúng, để khả dĩ có được tầm nhìn mới mẻ và quan điểm xây dựng hơn.
Ảnh hưởng của Các Cung Ngày nay:
Thứ nhất: Mãnh lực thấy rõ và mạnh mẽ nhất trên thế giới ngày nay là mãnh lực của Cung một Ý chí và Quyền lực. Mãnh lực này biểu lộ theo hai lối:
(1) - Bao giờ cũng là ý-chí-hướng-thiện;
(2) Như là yếu tố hủy diệt trong thời sự thế giới. Đây là việc con người sử dụng sức mạnh ý chí này cho đến nay ít khi là sự biểu lộ linh hoạt của ý-chí-hướng-thiện. Trái lại, nó là điều đưa đến sự tự khẳng định (của cá nhân hoặc quốc gia) và dẫn đến chiến tranh kèm theo những hệ lụy – như chia rẽ, hoạt động ngoại giao ích kỷ, thù ghét và chạy đua vũ trang, bệnh tật và tử vong. Đây là mãnh lực tuôn đổ vào thế giới từ Shamballa, trung tâm chủ yếu của thế giới.... Đây tất cũng là những hậu quả hiển nhiên của các nguyên nhân đã chi phối.
Chỉ có hai lần trước đây trong lịch sử nhân loại, năng lượng này của Shamballa đã xuất hiện và được cảm nhận qua những thay đổi/ Khủng hoảng lớn lao mà nó mang lại:
1. Con người trở thành Linh hồn sống động: Khi cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên của nhân loại xảy ra vào thời gian biệt lập ngã tính của con người trong thời kỳ Lemuria cổ xưa.
2. Cuộc điểm đạo sắp đến của nhân loại: Vào thời gian có cuộc đại chiến trong thời kỳ Atlantis giữa “Các vị Chúa của Ánh sáng và các vị Chúa Biểu lộ Vật chất.” _ Nó có thể xảy ra (nếu bạn tin điều đó) nhờ nhiều cuộc điểm đạo cá nhân trước đây đã trải qua bởi các thành viên của gia đình nhân loại có tầm nhìn tinh thần, và sẵn lòng trả giá đắt.....
Chính nhân loại cũng chịu ảnh hưởng của năng lượng cung này (Cung I) khi nó biểu lộ bằng hai cách, và tạo ra hai kết quả, như sau:
1. Hiện nay, đang xuất hiện một số phàm nhân cung một thống trị với nhiều quyền lực trên diễn trường thế giới. Những người này tiếp xúc thẳng với mãnh lực nói trên của Shamballa, và nhạy cảm với năng lượng ý chí thiêng liêng. Tùy theo loại phàm nhân và trình độ tiến hóa của họ, mà họ sẽ phản ứng thế nào, và từ đó họ hữu ích đến đâu cho Đức Chúa tể Hoàn cầu khi Ngài thực thi kế hoạch của Ngài cho công cuộc khai mở trên thế giới. Năng lượng ý chí của Thượng Đế hoạt động thông qua họ, dù được hạ thế và thường bị sử dụng sai và áp dụng sai, do những phàm nhân khác biệt và còn giới hạn của họ, và được diễn giải không thỏa dáng do tâm thức của họ còn chưa phát triển. Những người này có trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhân loại. Họ là những người nổi bật, và những nhà độc tài trong mọi phương diện của đời sống con người – chính trị, xã hội, tôn giáo, và giáo dục. Ai nói được (cho đến khi ít nhất một thế kỷ đã trôi qua) rằng ảnh hưởng và nỗ lực của họ là tốt hay xấu. Khi họ trắng trợn vi phạm Định luật Bác ái, thì ảnh hưởng của họ có thể rất mạnh, nhưng nó cũng chóng tàn và không ai mong muốn, ít nhất là trong giai đoạn có liên quan đến những hoạt động của họ. Khi họ đáp ứng được tình trạng khẩn cấp và nhu cầu của con người, và làm việc theo những đường lối cơ bản là phục hưng và bảo tồn những “đơn vị tổng hợp,” thì ảnh hưởng của họ là tốt đẹp và xây dựng.
Phàm nhân cung một thực sự làm việc đáp ứng với ảnh hưởng này của Shamballa bao giờ cũng ghi sâu phúc lợi tối hậu của tập thể trong tâm hồn mình. .... Đôi khi điều này có thể đưa đến sự tàn nhẫn và độc ác, nếu phàm nhân của người đó chưa được sức mạnh của linh hồn chế ngự. ... Một ví dụ trong lịch sử của người Do Thái, như đã ghi trong Kinh Cựu ước. Khi cung một chế ngự và đi qua một trong những chu kỳ hoạt động hiếm hoi của nó, chúng ta đọc thấy rằng họ giết hại và tàn sát tất cả những kẻ thù của họ – đàn ông, phụ nữ và trẻ con – bằng kiếm. Lưỡi kiếm bao giờ cũng là biểu tượng của mãnh lực cung một, như cây bút tương trưng cho ảnh hưởng của cung hai.
Trước sự biểu lộ của năng lượng này (Cung 1), những người thiếu suy nghĩ trong nhân loại thấy hết sức sợ hãi, và không muốn có. Khi phàm nhân của họ đầy thù ghét và ương bướng, người ta thường dùng năng lượng này cho các mục tiêu vị kỷ của chính mình. Nếu con người (ngay cả những người giỏi nhất trong họ) không đến đỗi quá kém phát triển và quá hời hợt trong phán đoán và tầm nhìn của họ, thì họ sẽ có thể thấu hiểu ý nghĩa của những gì đang tiếp diễn trong các nước chính yếu trên thế giới. Đồng thời, họ sẽ có thể thấy sự dần dần xuất lộ của các điều kiện mới và tốt đẹp hơn, cũng như sự ra đi của các hình thể dù được yêu mến nhưng đang từ từ hư hoại. Tuy nhiên, năng lượng Shamballa quá mới lạ đến đỗi người ta khó lòng biết được thực tính của nó – là sự phát lộ Ý chí của Thượng Đế trong sức sống động mới mẻ và mãnh liệt.
1. Cách thứ hai, trong đó xung lực ý chí nổi bật này biểu lộ qua tiếng nói của đại chúng trên khắp thế giới. Ý chí này biểu lộ qua âm thanh, như tâm thức hay tình thương biểu lộ qua ánh sáng. Lần đầu tiên, âm thanh của các quốc gia đã được nghe với tính cách âm thanh của đại chúng. Ngày nay, tiếng nói này nêu rõ các giá trị thể hiện sự cải thiện của con người. Nó yêu cầu có hòa bình và thông cảm giữa mọi người, và từ chối – sẽ nhất định từ chối – không cho phép xảy ra một số điều tệ hại. “Tiếng nói này của dân chúng,” vốn thực tế là tiếng nói của công luận, lần đầu tiên đang được quyết định bởi Ý chí của Thượng Đế, và sự thực này chưa được nhận biết.
Thứ hai: Năng lượng vĩ đại kế tiếp đang góp phần mạnh mẽ vào hiện tình thế giới là năng lượng của Cung hai Bác ái Minh triết, là cung của Đức Christ. Năng lượng này tuôn đổ vào thế giới qua trung tâm vĩ đại thứ hai của hành tinh, mà chúng ta gọi là Thánh Đoàn. .... Năng lượng Shamballa (Cung 1) mở đường cho năng lượng của Thánh Đoàn. Điều đó đã có từ thuở sơ khai, nhưng các chu kỳ của Thánh Đoàn, dù tương đối thường xảy ra, đã không trùng hợp với các chu kỳ của Shamballa, vốn hiếm khi và không thường có. Theo thời gian, tác động của mãnh lực Shamballa sẽ xảy ra thường hơn, vì mọi người sẽ phát triển năng lực chịu đựng và trụ vững đối với nó. Cho đến nay, nó vẫn là loại năng lượng quá nguy hiểm khi áp dụng cho nhân loại, vì kết quả đưa đến sự hủy diệt, trừ cuộc khủng hoáng lớn thứ nhất vào thời kỳ Lemuria. Vì thế, tác động của nó đã được giới hạn hầu như hoàn toàn bên trong Thánh Đoàn, với các Nhân viên được trang bị để xử lý nó và hấp thụ nó đúng cách, cũng như sử dụng nó để trợ giúp nhân loại.
Nay đang có cuộc thử nghiệm, cho phép con người tiếp nhận nó (Cung 1) và sự tác động của nó, mà không qua trung gian của Thánh Đoàn. ..... Đã có nhiều thành công theo đường hướng này, nhưng các kết quả không có vẻ rõ ràng đối với những người thông minh. Lý do là vì họ không chịu nhìn thấy bất cứ điều gì ngoại trừ phương diện hủy diệt, và sự tan biến của những hình thể mà cho đến nay họ đã gắn chặt tình cảm, sự ham muốn, và nhận thức trí tuệ của họ vào đó. Họ vẫn chưa thấy được bằng chứng không thể phủ nhận của hoạt động xây dựng và công tác thực sự sáng tạo......
Các Thành viên của Thánh Đoàn có thể làm việc với chính số ít người này, vì họ (cho dù thiếu hiểu biết) vẫn không hề có ác ý hay thù ghét kẻ khác. Tình thương là tác nhân vĩ đại tạo sự kết hợp và thông cảm.
Năng lượng tình thương này chính yếu tập trung trong Đoàn Người Mới Phụng sự Thế gian (cho mục đích hoạt động của Thánh Đoàn). Tập thể này đã được Thánh Đoàn chọn làm phương tiện biểu lộ chính của các Ngài. Tập thể này hiện gồm tất cả các đệ tử ở thế gian và các điểm đạo đồ đang hoạt động. Họ có đại diện trong mọi nhóm lý tưởng gia, và phụng sự viên, và trong mọi đoàn thể dân chúng nói lên ý nghĩ của con người, đặc biệt là trong phạm vi cải thiện và nâng cao đời sống nhân loại. Qua họ, mãnh lực bác ái-minh triết có thể biểu lộ.....
Thứ ba: giờ đây chúng ta bàn đến năng lượng chính là hoạt động thông tuệ – mãnh lực của cung ba. Mãnh lực này biểu lộ qua trung tâm lớn thứ ba trên hành tinh, mà chúng ta gọi là Nhân loại. (Nguồn: sách Điểm đạo trong nhân loại _Tr 11-17)
* Các Tiến trình Kết - Giải nghiệp:
+ Tiến trình Sinh - Vượng - Mộ - Tuyệt theo Tooltip: Nhân quả Tâm
+ Tu đạo Cải mệnh hướng đến giải thoát - Tooltip: Thứ tự tu đúng
+ Sinh yêu ghét: Tư tưởng => Suy niệm => Sinh dục => Sinh yêu ghét/ thích hay không thích => Không có bỏn xẻn và ganh tị _ Tooltip: Bỏn xẻn và nghanh tị
+ Đố kị San tham => Sống trong Hận thù: Do tật đố (Đố kị) và xan tham (Ích kỷ/ Bỏn xẻn/ Keo kiệt của Tâm tham lam). Thế nên với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù. Mà ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; mà Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; Mà Tầm/ Suy nghĩ có mặt thì dục có mặt; Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm/ Suy nghĩ có mặt. Suy ra tiến trình: Khởi suy nghĩ - Vọng tưởng tà kiến sinh => Tâm tham dục phát sinh => Ưa ghét phát sinh => Đố kị, ích kỷ, tham lam phát sinh. [Tooltip: Sống trong hận thù]
+ Về sự chết_Tooltip: Tiến trình chết
+ Về tu thiền định_Tooltip: Tiến trình thiền định
+ Khởi ý tưởng muốn làm: ... Bạn cần nghiên cứu kỹ, vì khi hiểu rõ và nhận định đúng - Có lợi ích. Hiển nhiên là lịch sử chứng minh tiến trình Xuất lộ ý tưởng -> chấp nhận = lý tưởng và rốt cuộc bị thay thế bởi sự áp đặt của các ý tưởng tiếp theo - Nhân loại hiện chưa có thể tự do [cần lưu ý]. Chỉ khi một ý tưởng trở thành lý tưởng, thì nhân loại có thể tự do loại bỏ hay chấp nhận nó. Với ý tưởng đến từ nguồn cao siêu - Thiên cơ tiến hóa Hành tinh, và được áp đặt lên trí tuệ nhân loại, dù họ có muốn điều đó hay không - Họ sẽ tiến nhanh hay chậm vì thiếu hiểu biết .... Không điều gì có thể ngăn chặn hay cản trở Thiên cơ biểu lộ - Cần ghi nhớ. .. (Nguồn: Vận Mệnh Của Các Quốc Gia)
+ Ba tiến trình chính của sự chết:
1. Hoàn trả: Nghĩa là việc hoàn lại hình hài vào kho chứa cơ bản của vật chất; hay là đối với linh hồn, năng lượng tinh thần thiêng liêng trở lại cội nguồn của nó - hoặc là trên các phân cảnh linh hồn, hoặc trên các phân cảnh Chân Thần, tùy theo mức độ tiến hóa. Hầu hết việc hoàn trả này là công việc của nhân hồn bên trong thể xác và liên quan đến cả bí huyệt tim lẫn bí huyệt đầu.
2. Thuật loại bỏ: 2 hoạt động của con người tinh thần bên trong; đó là việc loại bỏ (thải hồi mọi kềm chế của phàm ngã tam phân, và tiến trình tái tập trung chính nó trên các phân cảnh cụ thể của cõi trí như là một điểm sáng rực rỡ). Điều này chính yếu là có liên quan đến nhân hồn.
3. Hội nhập: Các tiến trình này có liên quan đến công việc của con người tinh thần đã giải thoát khi y hoà mình với linh hồn (đại hồn) trên các phân cảnh cao của cõi trí. Cái bộ phận trở về với tổng thể, và con người hiểu được ý nghĩa đích thực của các lời của Đức Krishna: “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh nhỏ của chính ta, ta vẫn còn nguyên vẹn. Con người tinh thần cũng thế, cái mảnh nhỏ trải qua kinh nghiệm hữu thức đã tỏa khắp tiểu vũ trụ của hình hài trong 3 cõi thấp, vẫn còn đó. Con người biết được chính mình là một phần của tổng thể. (CTNM, 394-395)
+ Sự chết có 2 giai đoạn chính:
1- Cái chết của thể xác– thể dĩ thái, có 2 mục:
a/ Các nguyên tử cấu thành thể xác được hoàn trả cho cội nguồn của chúng, là toàn thể vật chất của hành tinh, tạo thành thể xác trọng trược.
b/ Thể dĩ thái, là tập hợp các thần lực, hoàn trả lại các lực này cho kho chứa năng lượng chung. Chúng chia 2 phần trong tiến trình.
2- Loại bỏ các hiện thể trí cảm. ... Sau cái chết của thể xác, thể Trí Cảm vẫn còn hoàn toàn thực. Nhưng sức mạnh của nó từ từ tàn lụi; con người thiên về trí bắt đầu nhận thức được trạng thái tâm thức thực sự của riêng mình (dù đã/ chưa phát triển), và lần chết thứ 2 có thể bắt đầu xảy ra. Là tiến trình loại bỏ. Khi cả 2 giai đoạn kết thúc, linh hồn thoát xác mới thoát khỏi sự kềm chế của vật chất; nó trở nên tinh khiết (tạm thời), thoát khỏi mọi nhiễm trược của vật chất. Điều này không do nhân hồn đảm trách - Kết quả hoạt động của linh hồn trên cõi riêng của nó (trên cõi thượng trí–ND), hồn này tách ra một Nhân hồn đi đầu thai tái sanh. ... Về sau, khi con người sống trên cõi trần với tư cách là linh hồn, y sẽ – với sự liên tục toàn vẹn của ý thức – chính mình xúc tiến các tiến trình trừu xuất (tách ra) và lúc bấy giờ sẽ (với mục đích đã định) “thăng lên đến chỗ mà từ đó y xuất phát”. Đứa Con hoàn thiện về với Thượng Đế. (CTNM, 408–410)
+ Hồi quan (Panorama, hồi cố, quay lại nhìn): Một cách từ từ, vị chúa của xác thân (lord of the body) tự rút ra, được bao bằng thể dĩ thái màu tím-xám (violet-grey) và đắm chìm trong cơn đại định của cuộc hồi quan (hồi cố) về kiếp sống đã qua của mình, mà trong phút lâm chung (deathhour) đang tháo mở ra trước mắt y với đầy đủ mọi chi tiết. Trong bức tranh sự sống đó có tất cả các biến cố của kiếp sống, cả nhỏ lẫn lớn. Y thấy được các tham vọng việc mình với sự thành công hay thất bại của chúng, các nỗ lực, các chiến thắng, các sai hỏng, các thương yêu, các oán thù; khuynh hướng vượt trội của tổng thể hiện ra một cách rõ rệt, tư tưởng chỉ đạo trong kiếp sống nổi bật lên và tự in sâu vào linh hồn, đánh dấu vùng mà phần lớn kiếp sống sau khi chết (post-mortem existence) của y sẽ được trải qua trong đó. Trang nghiêm biết bao cái thời điểm mà con người đứng đối mặt với sự sống của mình, và từ cửa miệng của quá khứ, con người nghe được điều tiên báo (presage) đối với tương lai của mình. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, con người thấy được thực tướng của mình, nhận biết được mục đích kiếp sống của mình, biết được sức mạnh, độ chính xác và cái tốt đẹp của Thiên Luật (the Law). (MTNX, 94)
+ Lúc Lâm Chung: Thường một người vừa nằm xuống ra đi, có 3 dấu hiệu như sau:
1/ Cặp mắt, khi mà họ nhắm lại một cách nhẹ nhàng vô cùng thì tức là: Mắt liên quan tới cái gan, là phần hồn (soul), phần tâm linh của mình - Yên ổn thì mắt nhắm lại...
2/ Miệng: Miệng dính với Thổ, Thổ tức là thận, tỳ và ý chí (intention). Miệng để nói chuyện và chứa đựng. Tư tưởng nói ra đó thì gọi là bằng lời. Thường hễ mà lời lành cần nói mình đã nói đủ, lời hứa đã làm, lời tha thứ cần nói thì đã nói xong, lời thương yêu nói xong rồi thì thường thường miệng mình đóng lại, không mở.
3/ Hiện tượng ở tay: Nhiều khi tay nắm lại, co quắp. Nếu tay mở ra, hạ xuống thì thường là một điều rất tốt là vì tay thuộc về thủy (chứ không phải thuộc về kim). Những việc cần làm mình làm xong rồi, những việc tốt mình đã làm xong rồi. (Mời xem đầy đủ tại nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
+ Bí nhiệm Thất phân: Sau khi tuyên thệ giữ kín điều bí nhiệm và không vi phạm, tân điểm đạo đồ một mình tiến đến gần vị Chủ lễ, rồi đặt tay lên phần dưới của Điểm đạo Thần trượng mà vị Chủ lễ cầm ở phần giữa. Bấy giờ, ba Vị đứng chung quanh ngôi chủ lễ mới đặt tay các Ngài lên viên kim cương chói rạng gắn trên đầu Thần trượng, và khi cả năm vị được liên kết theo cách này bởi năng lượng luân chuyển, phát ra từ Thần trượng, thì Đấng Điểm Đạo giao phó bí nhiệm cho điểm đạo đồ. Lý do của điều này là: Mỗi một trong năm cuộc điểm đạo trực tiếp liên quan đến chúng ta (hai cuộc điểm đạo cao hơn không có tính bắt buộc, nên chúng ta không xét đến) đều ảnh hưởng đến một trong năm luân xa nơi con người, [164]
1. Luân xa ở đầu,
2. Luân xa tim,
3. Luân xa cổ họng.
4. Luân xa nhật tùng,
5. Luân xa chót xương sống,
và tiết lộ cho y kiến thức về các loại mãnh lực và năng lượng khác nhau làm sinh động thái dương hệ, và đến với y qua một luân xa dĩ thái đặc biệt. Khi áp dụng Thần trượng, các luân xa của y được ảnh hưởng một cách đặc biệt. Qua việc truyền thụ Bí nhiệm, y được cho biết lý do của nó và cho thấy nó đồng nhất với lý do nhất thiết tạo nên một sự biểu lộ hành tinh đặc biệt, và gây nên một chu kỳ đặc biệt lớn hơn. Có thể nói rằng:
1. Mỗi bí nhiệm liên quan đến một trong bảy cảnh giới của thái dương hệ.
2. Mỗi bí nhiệm liên quan đến và phát biểu một trong bảy định luật của thiên nhiên. Vì thế chúng liên hệ đến một trong các trường tiến hoá cơ bản của mỗi hành tinh hệ. Mỗi hệ thể hiện một trong các định luật là luật chính yếu của nó, và tất cả các trường tiến hoá của nó đều có khuynh hướng biểu dương sự hoàn thiện của định luật đó với sáu biến thái phụ thuộc của nó, sáu biến thái này khác nhau một chi tiết trong mỗi trường hợp, tùy theo định luật chính được phát biểu.
3. Mỗi bí nhiệm truyền đạt chìa khoá để hiểu bản tính của một vị Hành Tinh Thượng Đế, và do đó đưa ra manh mối để biết những đặc tính của các Chân thần thuộc cung hành tinh đó. Hiển nhiên là sự hiểu biết như thế rất cần cho vị Chân sư đang cố gắng làm việc cho nhân loại, vận dụng các dòng mãnh lực đang ảnh hưởng đến họ và do họ phát ra. [165] 4. Mỗi bí nhiệm liên quan đến một cung hay một màu sắc nào đó và cho biết con số, nốt nhạc và sự rung động tương ứng.
Bảy bí nhiệm này chỉ là những công thức ngắn gọn, không có giá trị của thần chú, như trong trường hợp của Linh từ, mà có tính chất toán học, ngôn từ được dùng chính xác để truyền đạt đúng đắn ý định của người nói. Đối với người chưa được điểm đạo thì các bí nhiệm này trông có vẻ và nghe giống như các công thức đại số, ngoại trừ (khi thấy bằng thần nhãn) thì mỗi bí nhiệm gồm một hình bầu dục với một màu nhất định, tùy theo bí nhiệm được truyền đạt, có chứa năm chữ tượng hình hay biểu tượng đặc biệt. Một biểu tượng chứa công thức của định luật liên hệ, một biểu tượng khác cho biết khoá và âm độ hành tinh, biểu tượng thứ ba đề cập đến rung động, trong khi biểu tượng thứ tư cho biết con số và ngành của cung liên hệ. Chữ tượng hình cuối cùng đưa ra một trong bảy chìa khoá của ĐĐCG để các thành viên của ĐĐCG hành tinh chúng ta có thể liên lạc với các cấp thái dương. Đây hiển nhiên là những chi tiết rất mơ hồ và tối nghĩa, nhưng để nêu rõ rằng, như trong trường hợp các Linh từ, phải dùng hai giác quan để hiểu, muốn nhận thức được các bí nhiệm cũng phải sử dụng hai giác quan, để nghe, và thấy các biểu tượng bằng nội nhãn. (Nguồn: Sách điểm đạo trong nhân loại và Thái dương hệ)
+ Xem thêm sách: Giáo Lý Bí Nhiệm I, II, III, IV,V
+ Bí nhiệm: Hiểu là những bí quyết nhiệm mầu mà nếu ứng dụng thực hành đúng như pháp giúp ta hóa giải hiểm nguy, thậm chí từ cõi chết trở về .... Nhiệm mầu là nói về vượt ngoài/ lên trên khoa học, vậy nên thường cần phải là người thiện lành, có tâm chân thành, cung kính, tin tưởng tuyệt đối không chút lòng nghi ngờ dù chỉ một chút vậy.
Chữ tin tưởng tuyệt đối trong Phật pháp thường được diễn giải về đức tin vào Tam bảo, Phật, Bồ tát là "Con nguyện đem hết Thân Mạng của con giao cho Tam bảo, Phật hay Bồ Tát, các Ngài bảo con sống thì con sống, bảo con chết thì con chết. Sống chết hoàn toàn giao phó cho Phật hay Bồ tát mà mình tin kính" (NTH)
1. Xin mách bạn BÍ QUYẾT SỐNG - CHẾT: Ngay lúc khẩn thiết nhất giữa sự sống và cái chết ập đến thì làm gì để được cứu, Quí vị có một cách duy nhất, rất nhiệm mầu là hãy gắng quên đi lỗi lo lắng sợ hãi tột cùng, kể cả đau đớn (Nếu có), để dồn toàn tâm toàn ý liều mạng mà đọc niệm Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát liên tục liên tục cho đến hơi thở cuối cùng, một niệm cuối cùng, kể cả thầm niệm không rời 7 chữ này. RẤT NHIỆM MẦU ĐÓ. Muốn vậy, quí vị rất, rất cần hàng ngày phải tập, để khi hoạn nạn bất ngờ xảy đến chỉ trong tích tắc quí vị vẫn kịp niệm để được cứu. Sống - Chết quyết định chỉ có vài giây vậy thôi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị hướng dẫn)
1. Tiến trình hoàn trả (Process of restitution), chi phối giai đoạn triệt thoái của linh hồn (đây là nhân hồn-ND) ra khỏi cõi trần và ra khỏi hai trạng thể thuộc cõi hiện tượng (phenomenal aspect) của linh hồn, đó là thể xác và thể dĩ thái. Tiến trình này liên quan đến thuật từ trần. Xem thêm: Tổng hợp về Tiến hóa
+ Tiến trình thải hồi (Process of elimination). Tiến trình này chi phối giai đoạn sinh hoạt của nhân hồn sau khi chết và lúc ở trong hai cõi tiến hóa khác của nhân loại (tức là cõi cảm dục và cõi hạ trí-ND). Nó liên quan đến việc linh hồn (tức nhân hồnND) loại bỏ thể trí cảm (astral-mental body) để cho linh hồn “sẵn sàng phiêu diêu tự tại (stand free) trong cõi riêng của mình”.
+ Tiến trình hội nhập (Process of Integration), liên quan đến giai đoạn mà linh hồn đã thoát ra (liberated soul) lại trở nên biết được chính mình là Thiên Thần Bản Lai Diện Mục và được tái hóa nhập (reabsorbed) vào thế giới linh hồn, như thế, tiến vào trạng thái phản hồi (state of reflection). Sau đó, dưới tác động của Định luật Trách Nhiệm Nghiệp Quả hay Tất yếu Nghiệp Quả, linh hồn lại tự chuẩn bị cho lần giáng nhập khác vào hình hài. (CTNM, 407-408)
+ Một tiến trình rõ rệt do Chân Sư đưa tới với sự sẵn sàng chấp nhận của vị đệ tử, sẽ kết hợp thành một dạng thức bền bĩ các cố gắng và các kết quả đã thâu lượm một cách vất vả trong nhiều năm. Ở mỗi lần điểm đạo, điện lực hay từ lực được đưa vào lại có một hiệu quả tạo ra ổn định. Nó làm cho các kết quả mà vị đệ tử đạt được trở nên bền bĩ. Giống như người thợ gốm làm khuôn và tạo hình cho đất sét và sau đó dùng lửa làm cứng lại, người tìm đạo cũng tạo hình, nắn khuôn và kiến tạo, rồi để lửa làm rắn chắc lại. Cuộc điểm đạo đánh dấu việc thành đạt lâu dài và bắt đầu chu kỳ nỗ lực mới.
+ Sống trong hận thù: Tật đố và san tham hay Đố kị và ích kỷ là nguồn gốc phát sanh.
1. Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:
- Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài ..., dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do tật đố (Đố kị) và xan tham (Ích kỷ/ Bỏn xẻn/ Keo kiệt của Tâm tham lam). Thế nên với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
2. Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì khiến dục sanh khởi, khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
- Này Thiên chủ, dục do tầm/ Suy nghĩ làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm/ Suy nghĩ có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt. (Khi tâm suy nghĩ về một đối tượng thì tham dục sinh khởi, khi tâm không suy nghĩ gì thì tham dục không sinh khởi).
- Bạch Thế Tôn, tầm/ Suy nghĩ lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tướng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm/ Suy nghĩ không có mặt". (Trường Bộ Kinh II, 21.Đế Thích Sở Vấn)
+ Hướng ngoại, hướng nội: Về mặt huyền bí, linh hồn có thể được xem như là những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của kinh nghiệm” và do đó hướng về phía biểu hiện vật chất, và những kẻ “tìm kiếm ánh sáng hiểu biết” và do đó rút khỏi lĩnh vực nhân tình thế sự để trui rèn con đường hướng nội của mình thành ý thức linh hồn, và như thế trở thành “kẻ an trú trong ánh sáng vĩnh cửu”. Vì không hiểu rõ ý nghĩa của các thời kỳ trên, các nhà tâm lý học mơ hồ cảm thấy các chu kỳ này và gọi một số là những người hướng ngoại và số kia là những người hướng nội.(LVHLT, 243)
+ Chiêm Tinh Học: Lửa và không khí là các yếu tố hướng thượng và hướng ngoại, trong khi đất và nước quay vào trong (hướng nội) và hướng xuống; Mục Các Hành: Các dấu hiệu lửa và không khí được cho là nam tính, hoặc Dương. Dấu hiệu nước và đất là nữ tính, hoặc Âm. Chính xác hơn thì không khí như dương-âm và các dấu hiệu đất như âm-dương, vì hai yếu tố này có xu hướng chia sẻ những phẩm chất lưỡng tính nhiều hơn.
- Lửa tương ứng với trực giác; Đất, cảm giác, lý trí, và quan sát thực nghiệm; Không khí, tư duy; và Nước, cảm xúc. Xem mục Các Cung Hoàng Đạo
I. Theo trục đối xứng [Theo Tiết khí: Tức không phải theo tháng âm lịch do có nhuận]
1. Trục Bạch Dương – Thiên Bình [Tiết khí] là xung đột giữa xung lực và hòa hợp; cái tôi và xã hội. Đây là quá trình thiết lập sự cân bằng / linh hồn kiểm soát phàm ngã
2. Trục Kim Ngưu – Bọ Cạp [Tiết khí] là thực tế đối lập với tính cưỡng chế; chiếm hữu đối lập với mãnh liệt. Đây là quá trình dùng minh triết của linh hồn để thiết lập các mối quan hệ đúng đắn.
3. Trục Song Tử – Nhân Mã [Tiết khí] là linh hoạt đối lập với sự quá độ; tri thức đối lập với minh triết. Đây là quá trình kiểm soát các cặp đối cực thông qua hành động tâm linh.
4. Trục Cự Giải – Ma Kết [Tiết khí] là nuôi dưỡng đối lập với quyền lực; nhạy cảm đối lập với trách nhiệm. Đây là quá trình nuôi dưỡng trực giác của linh hồn để chuẩn bị cho điểm đạo.
5. Trục Sư Tử – Bảo Bình [Tiết khí] là cái tôi cá nhân đối lập với cái tôi vô ngã; sáng tạo đối lập với phi truyền thống. Đây là sự làm chủ bản thân dẫn đến nhận thức nhóm và phụng sự thế giới vô ngã.
6. Trục Xử Nữ – Song Ngư [Tiết khí] là phân tích đối lập với lý tưởng; phân biệt đối lập với cuồng tín. Đây là quá trình nuôi dưỡng Đấng Christ bên trong trái tim và ý thức biểu hiện Ngài ra bên ngoài
II. Theo từng cung [Theo Tiết khí: Thiên bàn theo Mặt trời, Ngũ hành tinh (10 Thiên Can) và Nhật, Nguyệt ]
1. Bạch Dương [Tiết khí] – môi trường không khuyến khích sự tự biểu lộ, tính hiếu thắng, khởi xướng và độc lập. Hãy nhu mì và dịu dàng – đừng thử những điều mới.
2. Kim Ngưu [Tiết khí] – Môi trường không cung cấp đủ tình yêu, sự trìu mến, ấm áp, sự công nhận, nhu cầu vật chất hay cảm giác về giá trị bản thân. Bị ngăn cản trong việc trở nên chiếm hữu, bị xem nhẹ và coi thường.
3. Song Tử [Tiết khí] – Cơ sở học tập không đầy đủ. Việc học bị gián đoạn – do bệnh tật, khó khăn trong học tập, chăm sóc anh chị em, v.v.
4. Cự Giải [Tiết khí] – Có quá nhiều hoặc quá ít sự an toàn về cảm xúc/vật chất.
5. Sư Tử [Tiết khí] – Sự sáng tạo bị đè nén. Bị ngăn cản trong việc có bạn tình lãng mạn hoặc con cái. Những mối tình và đời sống xã hội không thoả mãn.
6. Xử Nữ [Tiết khí] – Môi trường hay chỉ trích nói rằng bạn không bao giờ làm đúng điều gì. Đừng hỏi, cứ làm – không được phép phân tích.
7. Thiên Bình [Tiết khí] – Không có cơ hội để kết nối với người khác. Bị ngăn cản trong việc giao tiếp xã hội. Vì không có tính hiếu thắng và độc lập, bạn ở nhà.
8. Bò Cạp [Tiết khí] – Tính dục và cảm xúc mạnh mẽ (giận dữ, ghen tuông) bị dồn nén. Môi trường có thể không mang lại cho ta sự thấu hiểu bản thân hay các giá trị của người khác. Có nhu cầu sâu sắc được dấn thân vào các môn huyền bí hoặc nghiên cứu siêu hình. Bị chặn dòng thừa kế.
9. Nhân Mã [Tiết khí] – Không được tạo điều kiện để học sau trung học. Bị ngăn cản trong việc chấp nhận rủi ro. Được nuôi dạy trong môi trường tôn giáo nghiêm khắc hoặc khác biệt.
10. Ma Kết [Tiết khí] – Không được tôn trọng, công nhận, có địa vị và giúp đỡ để đạt mục tiêu. Thiếu cơ hội việc làm. Bị ngăn cản trong việc theo đuổi mục tiêu.
11. Bảo Bình [Tiết khí] – Môi trường không khuyến khích tính cá nhân, không khuyến khích có bạn bè – quá cứng nhắc với bạn. Cảm thấy bị giam hãm và cần được tự do.
12. Song Ngư [Tiết khí] – Môi trường không khuyến khích bạn tin tưởng vào bản thân, kết nối với trực giác hay theo đuổi giấc mơ của mình.
Nguồn: Xem tài liệu MFVN
+ Pralaya : X. Qui nguyên hay ẩn tàng
* Ví dụ diễn giải: Trong A Treatise on Cosmic Fire, Chân sư DK chỉ ra rằng mỗi hành tinh đều trải qua các kỳ nghỉ ngơi (obscuration) giữa các chu kỳ hiện thân. Một hành tinh có thể biến mất khỏi tầm nhìn thiên văn, nhưng điều đó không có nghĩa nó "chết", mà là nó đang ở trong một giai đoạn pralaya – chuẩn bị cho một chu kỳ mới mạnh mẽ hơn.
Ví dụ: Sao Hỏa được mô tả là đang trong kỳ pralaya, trong khi Trái Đất đang ở giữa chu kỳ biểu lộ mạnh mẽ (Mobility phase).
+ Hạ Trí của Thể trí hay chỉ trích có các tính chất và hạnh xấu ác do tánh phân biệt chấp trước ích kỷ hẹp hòi ... chỉ biết mình:
1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn.
2. Tính phân biệt, chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng.
3. Tàn bạo – Vốn là sự thỏa thích với các phương pháp của phàm ngã, nó làm cho trí óc trở thành dụng cụ của ý thức quyền lực
+ Hạ trí thuộc phàm ngã tương ứng với Cung 5: Kiến thức, tức Cung của trí tuệ phân tích. Nhà khoa học là gương mẫu điển hình của loại hình này.
+ Hạ trí chịu trách nhiệm về khả năng nhận thức của chúng ta. Gồm việc suy nghĩ, suy luận, phân tích, so sánh, học tập, hình dung và phân biện. Tất cả các hoạt động thông thường của não bộ thuộc về trí cụ thể. Não bộ - Thành phần của thể xác và nó không suy nghĩ. Nó đơn giản là một công cụ tinh tế nhất đáp ứng với hoạt động của thể trí và chuyển nó thành hành động trong cõi hồng trần. (CTHNM, 231)
+ Thể hạ trí: Cõi hạ trí, hay cõi Devachan, hay cõi Thiên đường (Facebook TT Học:)
* HẠ TRÍ CỦA THỂ TRÍ_(LVHLT, 80)
Hạ trí, tự bản thân nó, cống hiến cơ hội cho một luận đề rất dài, nhưng ở đây sẽ là đủ để đưa ra một vài cách thức mà nó gây cản trở cho những giống dân vốn tiêu biểu cho nó nhiều nhất.
a/ Bằng hoạt động mãnh liệt và hành động bị kích thích, nó ngăn cản dòng chảy xuống (downflow) của cảm hứng từ trên cao. Nó hoạt động như một bức màn tối ngăn chận sự giác ngộ cao siêu. Chỉ nhờ sự vững vàng và sự yên tĩnh ổn định mà sự tỏ ngộ mới có thể thẩm thấu, xuyên qua các thể cao, đến được bộ não vật chất và nhờ thế sẵn sàng cho việc phụng sự thực tế.
b/ Sự minh triết của Tam Thượng Thể (Triad) tồn tại cho việc sử dụng của phàm nhân, nhưng bị chận lại bởi những sự tìm tòi (disquisitions) của hạ trí. Khi ngọn lửa của thể trí cháy quá mãnh liệt, nó tạo nên một luồng chống lại với dòng giáng lưu cao siêu, và ép buộc lửa dưới thấp vào lại nơi trú ẩn. Chỉ khi nào ba luồng hỏa gặp nhau, nhờ sự điều chỉnh của ngọn lửa trí tuệ ở giữa, ánh sáng đầy đủ mới có thể đạt được, và toàn bộ cơ thể mới tràn đầy ánh sáng, ngọn lửa từ bên trên/ tức ánh sáng của Tam Thượng Thể - Ngọn lửa của phàm ngã/ tức kundalini - Ngọn lửa của trí tuệ / tức manas vũ trụ phải gặp nhau trên bàn thờ. Trong sự hiệp nhất của chúng xảy ra việc thiêu rụi tất cả những gì cản trở và sự giải thoát được hoàn thành.
c/ Bằng sự phân biện – một năng lực của thể trí cụ thể (hạ trí) – các thể thấp được huấn luyện thuật phân biệt ảo giác với trung tâm của thực tại; cái chân với cái giả; ngã với phi ngã. Vì vậy, tiếp theo đó là một giai đoạn phải được vượt qua, trong đó sự chú ý của Chân Ngã (Ego) nhất thiết được tập trung vào phàm ngã và các hiện thể của nó, và trong đó, sự rung động của Tam Thượng Thể, các định luật liên quan đến sự tiến hóa đại-thiên-địa, và việc chinh phục lửa cho việc sử dụng của Thánh Linh (Divine), phải tạm thời hoãn lại. Khi con người nhanh chóng nhìn thấy sự thật trong tất cả những gì mà y tiếp xúc, và tự động chọn sự thực hoặc điều chân, lúc đó y học kế tiếp bài học về hành động đầy niềm vui, và con đường của toàn phúc sẽ mở ra trước mắt y. Khi điều này xảy ra như vậy, con đường huyền bí học trở thành thích hợp cho y, vì hạ trí đã được dùng vào mục đích của nó, và đã trở thành khí cụ của y chớ không còn là chủ của y nữa, kẻ thể hiện của y chứ không phải là kẻ ngăn trở (hinderer) y nữa.
d/ Trí cụ thể còn cản trở theo một cách khác và bất thường hơn, và là cách mà môn sinh cũng không hiểu được khi lần đầu cố gắng để đặt chân trên con đường gai góc của sự phát triển huyền bí. Khi hạ trí bất trị và chi phối hoàn toàn phàm ngã, người tìm đạo không thể hợp tác với các sự sống (lives) khác và các đường lối tiến hóa khác nhau, cho đến khi lòng bác ái thay thế cho trí cụ thể (mặc dù y có thể, về mặt lý thuyết, hiểu được các định luật chi phối sự tiến hóa của Thiên Cơ, và sự phát triển của các thực thể thái dương khác ngoài Thánh Đoàn (Hierarchy) của chính y). Thể trí chia rẻ, còn lòng bác ái thì thu hút. Thể trí tạo ra một rào cản giữa một người và mỗi deva van cầu (suppliant). Lòng bác ái phá tan mọi rào cản, và dung hợp các nhóm khác nhau trong sự hợp nhất. Thể trí đẩy ra bằng một rung động mạnh mẽ dữ dội, vứt bỏ tất cả những gì được tiếp xúc, giống như một bánh xe thải ra tất cả những gì cản trở chu vi xoay tít của nó. Lòng bác ái tập hợp tất cả vào chính nó, và tiếp tục mọi thứ với chính nó, gắn kết các đơn vị riêng biệt thành một tổng thể đồng đều hợp nhất. Thể trí gây khó chịu qua nhiệt dồi dào riêng của nó, làm khô héo và đốt cháy cái gì đến gần nó. Lòng bác ái xoa dịu và chữa lành bằng sự giống nhau của nhiệt của nó với nhiệt trong những gì mà nó tiếp xúc, và phối hợp sự ấm áp và ngọn lửa của nó với sự ấm áp và ngọn lửa của các sự sống đang tiến hóa khác. Sau cùng, thể trí đập vỡ và phá hủy trong khi lòng bác ái tạo ra sự kết hợp và hàn gắn.
+ Có 3 nhóm trí tuệ mãnh liệt kích động bản chất dục vọng: Trí tuệ hướng nội - Tự ám ảnh, cô lập, tính tự cao tự đại hoang tưởng - Hướng ngoại trí tuệ (Nguồn)
+ Thể Hạ Trí: Bốn cõi phụ dưới của cõi trí được gọi là hạ trí, hay là trí cụ thể. Với trí tuệ, chúng ta học, viết và liên hệ các tư tưởng với nhau, cũng như khi phân tích, giải toán, thu thập và xử lý dữ liệu, thì phần lớn chúng ta đang sử dụng hạ trí hay cái trí cụ thể này.
- Mảnh thông tuệ của linh hồn được cấy vào trong thể trí của con người. Nó là công cụ mà qua đó sự Tự Thực Chứng được thành tựu.
- Và Hạ Trí thì Không Ổn Định và Chưa Được Huấn Luyện, và phần lớn còn Chưa Ý Thức hoặc Vô Minh.
- Hạ trí được xây dựng trên cơ sở không chính xác và liên tục thay đổi. Nó hiếu động, chuyển động không ngừng. Nó có thể được ví như một ngọn lửa nến bị phơi bày, dễ bị những cơn gió của hoàn cảnh tấn công, lập lòe, dao động, làm mồi cho những hoàn cảnh bên ngoài. Sự di chuyển không ngừng nghỉ của thể trí và sự huyên thuyên không ngừng trong trí là vấn đề lớn đối với Chân Thần, vì ảnh hưởng phát ra của nó bị mất đi như trong những cơn sóng bập bềnh của một hồ nước bẩn (thể trí không thanh khiết), bị thôi thúc bởi những niềm tin tiêu cực trong tiềm thức. Khi thể trí liên tục chất đầy những tư tưởng thấp kém, thì sự rung động của nó thấp và thô.
1. Hạ trí cụ thể tức nguyên khí lý luận. Các tiến trình giáo dục công khai bàn đến trạng thái này của con người.
2. Hạ trí hay trí cụ thể, là trạng thái cao nhất của phàm ngã.(GQ1.3_GT Cung 5):
+ Thể trí hình bầu dục, bao quanh và ló ra ngoài thể xác, mang hình tư tưởng đủ loại liên tục luân chuyển trong đó...(TVTTHM, 95)
Xem: Hình ảnh 4 cõi thấp - Hạ trí
Xem: Xem Rộng Trí Tuệ là Cung 1 – 4 – 5
Xem: TH về Cõi trí, Thể trí (Thượng, hạ trí), Cung Thể Trí
Xem: Rối loạn Chia rẽ, Kích thích, Tích hợp và cách chữa trị
Xem: TH về Trí tuệ, Cung Thể Trí Và Cõi Trí (Hạ Trí và Thượng Trí)
+ Tham thiền:
Ðả Thiền Thất Phải Khắc Kỳ Thủ Chứng
Cần chân thật dụng công tham thiền.
Có bản lĩnh thật sự thì mới đáng kể.
Hôm nay là ngày đầu thiền thất. Hy vọng quý-vị tham thiền chớ lãng phí cơ hội khai ngộ.
Ðả thất thì phải khắc kỳ thủ chứng. Không thể ngồi trên thiền sàng mà khởi lên vọng tưởng. Như vậy thì chỉ cô phụ công việc tham thiền của mình mà thôi. Quý-vị vọng tưởng điều gì? Vọng tưởng có nhiều thứ không giống nhau, nhưng tóm lại đều là những thứ vọng tưởng không có biên tế. Có người có vọng tưởng như vầy: "Kỳ này tới tham thiền thất hy vọng sẽ khai ngộ, sẽ đắc đại trí huệ. Sau khi khai ngộ, nhất định tôi sẽ tuyên bố trước thế giới tin tức đặc biệt này, khiến toàn thế giới đều biết rằng tôi là người đã khai ngộ và để cho mọi người phải cung kính tôi."
Quý-vị hãy nghĩ xem, người có tư tưởng như vậy phải chăng là đã khai ngộ? Tôi dám chắc rằng, tuyệt đối y chưa khai ngộ! Tại sao vậy? Bởi vì mới ngồi lên thiền sàng mà vọng tưởng đã đầy dẫy như thế, nếu không vì cầu danh thì cũng là cầu lợi. Vì danh lợi mà dụng công thì làm sao khai ngộ được.
Có người lại có vọng tưởng như sau: "Kỳ thiền thất này ta nhất định sẽ khai ngộ! Ta sẽ là người khai ngộ đầu tiên trong khóa thiền này. Kẻ khác không khai ngộ, chỉ có mình ta là độc nhất khai ngộ, đó thật là một chuyện hết sức vinh quang vậy!" Thậm chí có những kẻ không hiểu biết gì về khai ngộ, tự mình mạo xưng là khai ngộ. Ði đâu cũng tuyên bố là mình đã khai ngộ rồi, lừa bịp đại chúng khiến họ phải cung kính. Ðó là thứ "ngư mục hỗn châu," (trợn mắt cá để người khác tưởng lầm là hạt ngọc). Những tư tưởng ấu trĩ như vậy thật là đáng buồn cười. Hy vọng quý-vị đừng có những vọng tưởng đó. Phải "cước đạp thật địa" nghĩa là chân phải đứng vững trên mặt đất, dụng công tham thiền để có bản lãnh chân thật thì đó mới là đáng kể.
Có người thì có vọng tưởng như vậy: "Mình phải nhất định khai ngộ; khai ngộ rồi thì người ta mới đến cúng dường; có cúng dường thì lúc đó mới xây chùa lớn, làm một vị pháp chủ, tín đồ mới lại thân cận cúng dường và mình sẽ trở thành một vị đại pháp sư vang danh thiên hạ; ai cũng biết mình là danh tiếng cao ngất." Quý-vị phải biết những kẻ không học, không tài, không thuật, mà thọ sự cúng dường thì lương tâm làm sao an ổn được.
Bây giờ nói về tư thế tọa thiền, mình cần phải ngồi cho đúng mới có ích lợi cho thân tâm. Nếu không, tọa thiền không có giá trị gì. Trong khi tọa thiền, trước hết phải để thân tâm mình tự nhiên nhẹ nhàng, không nên gấp rút khẩn trương. Tốt nhất là ngồi thế kiết già, đó là thế căn bản của pháp ngồi thiền.
Thế kiết già phu tọa (hoặc là thế kiết già) là gì? Tức là lấy chân trái để lên chân mặt, sau đó để chân mặt lên đùi trái. Ðó là thế Kim-cang tọa, nghĩa là thế kiên cố bất động. Trong quá khứ chư Phật đã ngồi thế Kim-cang tọa mà thành Phật; tư thế này có thể hàng phục thiên ma và chế chỉ ngoại đạo. Khi chúng thấy mình ngồi trong tư thế này thì chúng liền thối lui, không dám lại quấy phá.
Sau khi đã ngồi kiết già rồi, mắt phải nhìn vào chóp mũi, không được nhìn phía đông cũng không được nhìn phía tây. Ðó gọi là:
Nhãn quán tỷ, tỷ quán khẩu, khẩu quán tâm.
Nghĩa là:
Mắt nhìn mũi, mũi hướng về miệng, miệng hướng về tâm.
Như vậy thì mình mới có thể nhiếp trì được thân tâm; đem tâm đang chạy loạn xạ đó mà định trụ lại, không cho nó chạy ra bên ngoài nữa. Khi được như vậy thì gọi là:
Tâm chuyên nhất, mới linh cảm.
Tâm phân tán, thì bế tắc.
Mình cần phải đoan nghiêm chính tọa, xương sống phải thẳng, đầu phải ngay, không cúi về trước cũng chẳng ngã ra sau; không nghiên bên trái hoặc ngã bên phải. Mình phải ngồi như cái chuông lớn, vững vàng không động đậy. Ðừng ngồi giống như cái chuông treo, lắc qua bên đông lắc qua bên tây. Ngồi kiết già là tư thế thích hợp nhất để tham thiền.
Người sơ học sẽ cảm thấy không quen, nào là đau chân, mỏi lưng, không nên coi đó là quan trọng. Mình cần phải cắn răng chịu đựng, nhẫn nại một thời gian lâu dài thì tự nhiên hiện tượng đó không còn nữa. Ðó gọi là "cửu tọa hữu thiền" nghĩa là ngồi lâu tự nhiên sẽ có thiền, tự nhiên sẽ đắc được thiền vị.
Thế nào gọi là thiền vị? Thiền vị tức là đắc được sự an lạc của thiền định, nếm được mùi vị khinh an nhẹ nhàng. Mùi vị đó thật là ảo diệu vô cùng, không thể dùng tâm tư cũng không thể dùng ngôn ngữ diễn tả được. Cũng giống như người uống nước, tự y mới biết nóng hay lạnh; mình cũng không thể dùng ý dùng tâm mà hội được, không thể dùng ngôn ngữ mà truyền đạt. Quý-vị muốn biết thiền vị đó là ngọt hay đắng thì phải ná»— lá»±c tham thiền, tới được cảnh giới tương ưng thì tự nhiên sẽ hiểu được mùi vị đó. Cho nên quý-vị phải tham thiền. Tham tới lúc "thủy lạc thạch xuất" nghĩa là nước cạn thì đá sẽ lộ ra, lúc đó mình mới nếm được thiền vị.
Thiền thì không thể nói được, cần phải tham. Nên thiền tông thì không lập văn tự, không lập chữ nghĩa, là truyền thừa ở ngoài giáo điển. Trực chỉ tâm của con người để mình thấy tánh, lập tức thành Phật.
Người tham thiền, khi tham đến chỗ hỏa hầu của mình đã đủ thì tuyệt đối không còn nổi giận nữa, không còn tranh luận với người khác, tới chỗ gọi là vô-tranh tam-muội. Lại cũng không cầu danh, cầu lợi; coi phú quý như giọt sương trên lá, công danh như bọt nước trên ngói. Trong khoảnh khắc giọt sương, hơi nước sẽ tan mất đi. Người chân chánh tu hành thì xa lánh danh lợi; không vì danh lợi mà giao động tâm mình.
Quý vị muốn trắc nghiệm kẻ đó có chân chính tu hành hay không, thì coi tâm hắn có bị danh lợi làm giao động chăng? Nếu y cầu danh không được thì nổi nóng, cầu lợi không xong thì tức giận, nổi phừng ngọn lửa vô minh, tánh dữ như cọp, hung tợn hơn ai hết, không cần hỏi mình cũng biết nhất định y là kẻ cầu danh lợi rồi.
Ðời nhà Thanh, hoàng đế Càn Long có lần đi tới Kim Sơn Thiền Tự ở tỉnh Trấn Giang để thưởng ngoạn phong cảnh. Nơi sông Trường Giang hoàng đế hỏi Pháp Thanh Thiền-sư rằng: "Trên giòng sông này một ngày có bao nhiêu con thuyền qua lại?" Thiền-sư đáp rằng: "Chỉ có hai lần thuyền qua lại." Vua Càn Long không hiểu hỏi: "Ông làm sao mà biết được chỉ có hai lần thuyền qua lại?" Thiền-sư trả lời: "Một con thuyền gọi là danh, một con thuyền gọi là lợi."
Do chuyện này mình biết rằng những kẻ độ thuyền qua sông, nếu không vì danh cũng vì lợi. Nhưng họ không biết rằng kẻ cầu danh thì chết vì danh, kẻ cầu lợi chết vì lợi. Cuối cùng chỉ tay trắng tới gặp ông Diêm Vương.
Cho nên:
Mọi thứ nào đem đặng.
Chỉ nghiệp là theo hoài.
Người tu đạo nếu không có lòng nóng giận, có thể nhẫn nhục, nại khổ thì dễ thành pháp khí, có thể ở trong Phật-giáo là bậc đống lương, là bậc rường cột, có thể đem Phật-giáo truyền bá sâu rộng. Người tu mà thường hay nổi nóng là người phá hoại Phật-giáo, là kẻ làm hại tập thể.
Phật-giáo mới tới Tây-phương (tức là nước Mỹ) trồng xuống khoảng đất thanh tịnh hạt nhân bồ đề, hiện tại bắt đầu manh nha sinh xuất ra mạ. Hy vọng quý-vị là những người làm vườn tốt, siêng năng tưới nước bón phân khiến được tươi tốt, rồi tương lai cây cao lớn khai hoa và kết quả bồ đề.
Những người ở trong Vạn Phật Thánh Thành đối với chuyện nói năng cần phải chú ý, không được nói bừa bãi, không được tùy ý nói chuyện thị phi. Vạn Phật Thành Thành là nơi thánh địa thanh tịnh để tu Ðạo, không thể có những ngôn ngữ của bàng môn tả đạo. Các vị cần biết rằng đối diện với vạn Phật thì làm sao mình có thể ăn nói loạn xạ được? Quý-vị phải nhớ lấy!
Bịnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu sinh.
Nghĩa là:
Bịnh do miệng mà vào, họa cũng do miệng mà ra.
Ðây là câu danh ngôn rất chí lý; quý-vị nói gì cũng phải suy nghĩ ba lần rồi mới nói, để tránh nói những điều sai với nhân quả. Lời nói ra rồi thì không những mình phải chịu trách nhiệm đối với pháp luật, mà còn chịu báo ứng đối với luật nhân quả nữa.
Phật-giáo là tôn giáo đề xướng tinh thần "vô ngã" cho nên không chấp nhận chuyện bói toán, coi tử vi, phong thủy, hay coi tướng số. Những chuyện đó đều đi ngược lại với Phật-pháp, cho nên mình phải cấm chỉ chuyện phổ biến nó. Nếu như quý-vị tin vào những thứ tà pháp đó thì tự nhiên chấp nhận cái "ngã" của mình tồn tại, tất cả là vì mình. Hễ có cái của mình, thì mình luôn luôn tìm cách vì mình mà tính toán, vì mình mà chẳng vì người khác; như vậy thì không còn gì là Phật-pháp nữa.
Phật-pháp thì dạy con người không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ. Còn phong thủy thì dạy người ta tranh, dạy người ta cầu, ích kỷ, dạy họ tự lợi, dạy họ nói láo. Thậm chí còn nói láo rằng trong một trăm ngày thì có thể đại phát tài, có thể làm quan. Người có lòng tham thì liền tin lời của y. Thật ra đại tài chưa phát mà tiểu tài đã hao đi, vì phải đem tiền đi trả lễ cho ông thầy bói rồi. Bói như vậy chẳng khác nào bảo người đó đi cướp tiền ngân hàng để lập tức được phát tài, không cần một trăm ngày cũng đã phát rồi.
Lại nữa, nếu ông thầy bói biết chỗ nào có phong thủy tốt có thể phát tài, có thể thăng quan tiến chức thì tại sao bản thân y không dùng mà nói cho người khác biết? Thật là vô lý! Hy vọng những người thông minh như quý-vị đừng nên mê tín bị những kẻ đó lừa bịp.
Y học, bói toán, tinh văn, tướng số, y bốc tinh tướng ở trong Phật-giáo là một trong năm nghề người tu đạo không nên làm. Y tức là bác sĩ trị bệnh cho người khác (người tại gia làm bác sĩ được, song kẻ xuất gia không làm). Bói toán biết chuyện tốt xấu kiết hung. Tinh tức là tinh văn coi tinh tú biết được chuyện tốt xấu kiết hung. Tướng tức là tướng mạo, coi biết được mệnh vận thuận hay nghịch. Ðó là những điều mê tín. Mình phải biết rằng đạo lý "nhân định thắng thiên" con người có thể thắng được trời.
Người xuất gia tu đạo, sinh tử là chuyện không sợ, hà huống là những chuyện nhỏ nhặt này? Những thứ đó có gì mà phải lấy làm lạ. Người xuất gia là người siêu xuất ra số mạng.
Vượt ra khỏi tam giới,
Không ở trong ngũ hành.
Nếu tính tướng mạng, phong thủy, đó là những thứ mà những kẻ thế tục mới tin. Mình phải hiểu rằng vận mệnh con người đều do nghiệp lực chiêu cảm mà sinh ra. Mình đừng để tập khí dắt dẫn, đừng để vật dục làm mê mờ; cần phải tự sáng tạo vận mạng cho chính mình, phải làm chủ tể vận mạng. Cứ làm nhiều công đức thì sẽ cải tạo vận mạng của mình. Khi gặp nạn tự nhiên sẽ hóa thành kiết tường. Rằng:
Cứ làm việc tốt,
Ðừng hỏi chuyện tương lai.
Bây giờ đả thiền thất thì mình phải sáng tạo một sinh mạng mới. Chớ mê tín, phải có chánh tín, chớ nên theo người ta nói ừ thì mình ừ, rồi cứ việc đi theo người khác, họ đi trước mình theo sau, điều đó hết sức sai lầm. Mình phải có Trạch-pháp-nhãn (con mắt biết nhận ra chân lý), biết cái nào đúng cái nào sai, biết phân biệt thiện với ác, trắng với đen; phân minh rõ rệt thì mới không bị điên đảo mê hoặc.
Người tu thiền có thể làm chủ chuyện sinh tử của chính mình, sống chết rất tự do, không còn hạn chế nữa. Nên nói:
Tánh mệnh do ngã bất do thiên.
Nghĩa là:
Tánh mệnh của mình là do mình tạo, không phải do trời.
Chính ông Diêm-la-vương cũng không thể nào khống chế, không làm gì mình được. Tại sao vậy? Bởi vì mình đã ra ngoài cõi Tam-giới rồi.
Thế nào là đến đi một cách tự do? Có nghĩa là đối với chuyện sinh tử mình hết sức tự do, nếu muốn sống thì sống, muốn chết thì chết, tùy tâm mong muốn. Tuy nhiên quý-vị phải chú ý, sự chết này không phải do tự sát, tự uống thuốc độc.
Thân thể của mình cũng giống như căn phòng vậy. Muốn du hành ra ngoài, muốn đến chỗ nào thì tự do mà làm. Muốn hóa thân thành trăm ngàn vạn ức tới tận hư không biến Pháp-giới để giáo hóa chúng sinh thì tùy ý nhậm vận. Nếu không muốn đi du hành thì mình vẫn ở trong căn phòng, không ai có thể tới làm phiền mình cả. Nên hiểu rằng tận hư không biến Pháp-giới, tất cả mọi thứ đều ở trong pháp thân, không có gì chạy ra khỏi pháp thân này.
Quý-vị hết sức siêng năng cần khổ lại tham thiền, ngày đêm không ngừng dụng công, là chỉ vì muốn được tự do trong sinh tử, khống chế được sinh mạng của chính mình, làm chủ chuyện sinh tử. Khi đã làm chủ được thì đó là mình đã tới được cảnh giới sinh tử tự do.
Người tham thiền tham đến chỗ trên không biết có trời, dưới không biết có đất, giữa cũng không thấy có người, cùng với hư không hợp thành một. Tới cảnh giới như vậy sẽ có cơ hội khai ngộ. Lúc ngồi lúc đi đều là cơ duyên để khai trí huệ.
Mình tham câu: "Niệm Phật là Ai?" Niệm Phật là người nào? Người nào đang niệm Phật? Ai là người đang ngồi đây? Người ngồi đây là Ai? Lúc ăn cơm, Ai là người ăn cơm? Lúc ngủ, Ai là người đang ngủ? Phải tìm ra kẻ đó. Tìm tất cả là Tham; tham đến lúc thủy cùng sơn tận thì với một sự chuyển thân mình sẽ khai ngộ. Rằng:
Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu ấm hoa minh hựu nhất thôn.
Nghĩa là:
Núi cùng, sông bặt, tưởng hết đường,
Tàng liễu, hoa giăng, hiện thôn trang.
Núi đã hết, sông đã tận cùng, nghĩ rằng không còn đường đi nữa. Nhưng sau tàng cây liễu, sau đám hoa tươi kia lại xuất hiện một thôn làng.
Lại nói:
Bách xích can đầu trùng tấn bộ,
Thập phương thế giới hiện toàn thân.
Nghĩa là:
Ðầu sào trăm trượng, dấn bước thêm bước,
Mười phương thế giới sẽ hiện thân.
Nếu như không ngồi tịnh tọa, không tham thiền, thử hỏi các vị có biết mình từ đâu sinh ra và chết rồi về đâu không? Các vị nói không biết. Không biết tức là hồ đồ sinh ra, rồi lại hồ đồ chết đi. Cả một đời như thế thì thật đáng thương!
Người dụng công tham thiền khi khai ngộ rồi, nhận thức được bản lai diện mục của mình trước khi được cha mẹ sinh ra. Thoát nhiên hiểu suốt; tất cả những thứ tinh thô đẹp xấu mà người ta khó biết thì tâm mình không có chỗ nào chẳng thấu suốt. Khi tới được cảnh giới đại tạo hóa, thì tương lai sẽ thành Phật đạt tới quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lão Tử từng nói hai câu như sau:
Thiên hạ biết đẹp là đẹp, ắt đã có cái xấu rồi.
Biết việc lành là lành, hẳn đã có cái không lành rồi.
Người trên thế giới đều biết làm chuyện tốt là tốt, nhưng đến lúc làm thì chẳng tốt đẹp gì. Người ta biết làm chuyện thiện là đúng, đến lúc thử thách tới thì không vượt qua được. Lại bị cảnh giới làm mê hoặc, không làm được việc thiện mà chỉ chạy đi làm chuyện ác.
Người học Phật biết rằng "từ, bi, hỷ, xả," tứ vô lượng tâm là căn bản của pháp hành đạo Bồ-tát nhưng lại không chịu làm. Biết rõ đạo lý thì phải biết công dụng như thế nào? Ngày nào cũng học Pháp "Lục độ," đến lúc gặp thử thách thì bố thí mình không chịu bố thí, trì giới thì chẳng trì giới, nhẫn nhục cũng hết nhẫn nhục, tinh tấn liền mất tinh tấn, thiền định cũng không thiền định, trí huệ thì cũng chẳng có trí huệ. Quý-vị hỏi mình học như vậy thì có ích gì?
Sau đây là ý nghĩa của Lục-độ:
1. Bố-thí: Tức là dùng tài sản vật chất hoặc Phật-pháp để bố thí kẻ khác. Có người lúc cần bố thí thì không chịu bố thí. Ngược lại, y kêu người khác bố thí cho mình, càng nhiều càng tốt. Nói rằng bây giờ tôi không muốn cho anh, anh cần phải bố thí cho tôi! Y luôn tìm cách chiếm tiện nghi, không chịu thua thiệt. Hạng người này lúc nào cũng cho mình là đúng.
2. Trì-giới: Thiên hạ người nào cũng biết trì giới là trì giới, nhưng đến lúc gặp thử thách không những không giữ giới mà lại phá giới nữa. Thọ giới tức là không động tâm. Bất luận cảnh giới nào đến mình cũng không động. Rằng:
Thái Sơn băng tiền tâm bất kinh.
Mỹ sắc đang tiền tâm bất động.
Nghĩa là:
Nếu núi Thái có sập trước mặt, lòng ta chẳng kinh hãi.
Mỹ sắc trước mắt, lòng ta không xao xuyến.
Ðó là định lực có thể chuyển được cảnh giới. Bất kể là cảnh ác hay thiện, thuận hay nghịch, mình đều thản nhiên; không sinh tâm phân biệt thì tự nhiên gió yên sóng lặng.
3. Nhẫn-nhục: Nghĩa là nhẫn thọ những gì không như ý. Nếu có thể nhẫn thọ tất cả những chuyện không đúng với ý mình, thì đó tức là mình chịu khảo nghiệm và chịu thử thách. Nếu mình có thể chịu được thử thách thì có thể qua được "quan" (cửa). Nếu không chịu được thì mình không qua được cửa. Ai cũng biết nhẫn nhục thì sẽ đến được bờ bên kia; nhưng khi cảnh giới tới thì chẳng nhẫn được. Lửa vô minh cao ba thước nổi lên; bao nhiêu công đức kết tụ trong một khoảnh khắc tiêu sạch hết.
4. Tinh-tấn: Khi mình đả thiền thất tức là tinh tấn. Ai ai cũng muốn tinh tấn, nhưng đến lúc tinh tấn thì không chịu tinh tấn, chỉ muốn lười biếng an phận thụt lui, hoặc chạy đi pha trà hoặc cố ý đi nhà vệ sinh, hoặc cố ý xuống bếp để uống trà; tất cả đều là cái cớ để cho qua thời giờ. Khi chưa đả thiền thất thì nói nghe rất là hăng hái, rằng tôi sẽ tham gia thiền thất thật giỏi. Ðến khi thiền thất bắt đầu thì không còn nhớ điều mình thề nguyền lúc trước nữa. Tại sao vậy? Ðây chính là biết rõ mà cố ý phạm lỗi. Tuy biết tham thiền là chuyện tốt mà vẫn cứ lười biếng. Quý-vị nghĩ xem tâm lý mâu thuẩn như vậy làm sao giải quyết đây? Qui củ của thiền đường là nếu người nào không giữ luật lệ sẽ bị đánh; đánh đến lúc nào khai ngộ thì thôi.
5. Thiền-định: Hiện tại tham thiền tức là thời gian dụng công tốt nhất. Tại sao cần phải đả thiền thất? Vì muốn tinh thần được tập trung, tâm không vọng tưởng, khiến trí huệ mình hiện tiền. Cho nên có câu: "Trí huệ giải thoát" tức thiền định là phương pháp khắc kỳ thủ chứng (nghĩa là định kỳ hạn để tu chứng).
6. Trí-huệ: Là thứ đưa mình tới bờ bên kia, liễu sinh thoát tử. Nếu như muốn khai trí huệ mà lười biếng thì sẽ mất đi cơ hội khai ngộ. Nên tham thiền cần phải chăm chú không để thời gian qua uổng vì không biết mình sẽ khai ngộ trong giây phút nào. Có người có vọng tưởng như vầy: "Tôi không muốn có trí huệ vì sự ngu si của tôi cũng tốt lắm mà! Tôi không hiểu mọi chuyện thì cũng chẳng sao." Ðó là thứ gọi là: "Yếm nhĩ đạo linh." Nghĩa là vừa đánh chuông vừa bịt tai (tưởng không ai nghe), mình chỉ tự lừa mình. Ðến lúc chết rồi mới hiểu rằng mình đến thế gian này một cách luống uổng. Lúc đó có hối hận cũng đã muộn rồi.
Phật-giáo ở Mỹ là lúc mới bắt đầu, nên phải có người tu hành chân thật, phải "cung hành thực tiễn" tức là thực sự tu hành. Cần chuyên nhất tu hành, tự mình cải bỏ lỗi lầm để tu hành, sửa đổi tập khí mà tu hành, phải làm gương cho kẻ khác thì tiền đồ Phật-giáo mới sáng lạng được. Nếu như mới bắt đầu mà không có người chơn chánh tu hành làm mô phạm, không có ai phát tâm bồ đề, thì Phật-giáo ở Tây-phương không thể hưng thịnh được. Do đó sự hưng thạnh của Phật-giáo phải do các vị thanh niên đảm nhận.
Hiện tại hai vị "Tam bộ nhất bái" là những vị tu hành rất thành tâm, có thể nói là tiên phong mở đường cho Phật-giáo vậy. Các vị đó trên đường lộ, đi ba bước lạy một lạy, không phải vì cầu phước báo cho mình, mà vì muốn cầu hòa bình toàn thế giới. Hơn hai năm qua, hai vị đó nhịn đói nhịn khát, nhẫn lạnh nhẫn nóng, chịu gió chịu mưa hết sức cực khổ. Tu hành như vậy không phải là chuyện người thường có thể làm đặng. Các vị đó nhẫn chịu những thứ mà người khác không nhẫn chịu được, nhường nhịn những cái mà người khác không thể nhường nhịn được, ăn những đồ ăn mà người khác không muốn ăn, mặc những quần áo mà người khác chê không thèm mặc. Bất kể là gió thổi hay mưa rơi vẫn cứ lạy Phật không ngừng, cũng không cần biết là trời nóng hay lạnh, đói hay khát, không ngừng nghỉ, cũng không giải đãi, không lười biếng, ngày ngày đều tụng kinh sáng chiều hai thời, mỗi giờ mỗi phút không bao giờ lười biếng an phận. Hai vị đó tinh tấn ná»— lá»±c tu hành là vì muốn Phật-giáo có thể phát triển khắp nơi trên toàn thế giới. Hai vị tu hành cực khổ như vậy, không phải vì danh cũng chẳng phải vì lợi, mà vì muốn lấy trách nhiệm của Phật-giáo làm trách nhiệm của chính mình. Tinh thần đó thật là đáng khen ngợi.
Quý-vị phải học cho bằng công hạnh của hai vị Tam-bộ Nhất-bái. Lấy họ làm gương soi để mình phản tỉnh. Xem đối với Phật-giáo mình đã cống hiến được những gì, chuyện mình làm là vì mình hay vì Phật-giáo? Nếu như vì mình, thì hãy sinh tâm hết sức hổ thẹn, lập tức sửa đổi hành vi không chánh đáng đó. Nếu vì Phật-giáo thì mình cần phải ná»— lá»±c hơn nữa, cần phải cổ võ khiến Phật-giáo phát triển, bảo vệ Phật-giáo, cần phát bồ đề tâm, hành Bồ-tát đạo, lúc nào cũng muốn kẻ khác được an lạc, không tính toán riêng tư cá nhân, đó mới là tinh thần của Bồ-tát đạo.
Quý-vị ở trong thiền đường, lúc đi lúc ngồi cho là khổ sở nhưng nếu so với hai vị Tam-bộ Nhất-bái thì sự khổ sở ấy thật là hết sức sung sướng vậy. Quý-vị cần thể nghiệm điều này một cách sâu xa, đừng để mất cơ hội. Hai vị hành giả đó nếu không phát tâm bồ đề, không hành Bồ-tát đạo thì đương nhiên là chẳng thể hoàn tất cuộc hành trình của họ được.
Ở thiền đường quý-vị đừng nên sinh tâm vọng tưởng; thân ở trong thiền đường mà tâm thì đến thế giới khác du ngoạn, đó tức là đầy dẫy vọng tưởng, có thể ảnh hưởng đến tâm tu đạo của mình; quý-vị phải nhớ lấy! Không được để cho thời gian trôi qua một cách lãng phí mà mình phải nắm lấy thời cơ, chụp lấy cơ hội khai ngộ. Nếu mình chuẩn bị như vậy thì không hổ thẹn với chính mình, còn ngược lại thì chỉ là nói suông mà thôi. (Nguồn: Ðả Thiền Thất Phải Khắc Kỳ Thủ Chứng - HT Tuyên Hóa)
+ Định Luật Luân Hồi: (Law of Reincarnation) Toàn thể mục đích của Luật Luân Hồi là đi đến chỗ sau rốt Chân Ngã sẽ học được cách tạo ra một hiện thể của tâm thức (vehicle of consciousness), để, nhờ hiện thể đó, chân ngã có thể phản chiếu ra (mirror forth) mọi trạng thái thuộc Đấng Thánh Linh (divinity, Phật Tánh, Chơn Như) của nó dưới trạng thái quân bình hoàn hảo. (VLH, 140)
+ Định luật Luân Hồi (Law of Rebirth, Luật Tái Sinh): Định luật này là hệ luận chính của Định luật Tiến Hóa. Ở Tây phương, định luật chưa bao giờ được hiểu đúng, còn ở Đông phương, nơi mà định luật này được thừa nhận là nguyên lý cai quản sự sống, nó lại tỏ ra không hữu ích vì có hậu quả ru ngủ (soporific) và gây hại cho sự tiến bộ. Đạo sinh phương Đông xem luật này như là dịp đem lại cho họ nhiều thì giờ; điều này đã làm cho nỗ lực mạnh mẽ để đạt mục tiêu thành vô hiệu. ... Khi sự sống của Thượng Đế tiến tới ... từ các hình hài khoáng chất thành hình hài thảo mộc và từ thảo mộc thành hình hài động vật; từ giai đoạn hình hài động vật, sự sống của Thượng Đế chuyển vào giới nhân loại và chịu sự chi phối của Luân Hồi, ... Cái hay nhất của họ có thể được nói đến là họ đã làm cho quảng đại quần chúng được làm quen với lý thuyết này..... Nếu mục tiêu của Đức Christ là giảng dạy về các mối liên hệ đúng đắn giữa con người ở khắp nơi thì giáo huấn của Ngài phải nhấn mạnh vào Luật Luân Hồi. ... Trước đây, lúc Đức Christ còn hiện hữu trên cõi trần, Ngài đã nhấn mạnh sự thật về linh hồn và giá trị của cá nhân. Ngài nói cho con người biết rằng họ có thể được cứu vớt bằng sự sống của linh hồn và của Christ nội tâm. Ngài cũng nói rằng “Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”. Chỉ có linh hồn mới có thể làm công dân của cõi đó. (Trích T. Kinh, 91).
+ Luật Luân hồi/ Nghiệp quả: ... Nên nhớ rằng, trong thực tế, mọi nhóm huyền linh và các tác phẩm về huyền học đều thiếu sáng suốt khi đặt tìm quan trọng vào tiền kiếp (past incarnation) và vào việc nhớ lại tiền kiếp. Việc nhớ lại này không thể kiểm chứng hợp lý được – Bất cứ ai cũng có thể nói hay đưa ra chuyện gì túy thích. Cách giảng dạy đó đã đưa ra nhiều quy luật tưởng tượng được cho là chi phối phương trình thời gian (time equation) và khoảng cách giữa các kiếp sống mà quên rằng thời gian là một năng lực của ý thức não bộ (brain–consciousness) và khi tách rời khỏi bộ óc thì thời gian không có nữa (non–existent); người ta đã luôn luôn nhấn mạnh vào việc trình bày các mối liên hệ theo sự tưởng tượng. Từ trước đến giờ, giáo huấn được đưa ra về luân hồi đã làm hại nhiều hơn là lợi. Chỉ có một yếu tố vẫn còn giá trị: hiện giờ sự hiện hữu của Luật Luân Hồi đã được hàng ngàn người bàn bạc và chấp nhận. Ngoài việc biết được định luật này có thật, chúng ta không biết nhiều về nó. Những ai do kinh nghiệm mà biết được bản chất thật của việc luân hồi đều nghiêm chỉnh bài bác các chi tiết không thể có và thiếu sáng suốt được các đoàn thể huyền linh học và Theosophy đưa ra như là có thực. Luật Luân Hồi vẫn có, nhưng cho đến nay, chúng ta chưa biết gì về các chi tiết tác động của nó. Chỉ có thể nói vài điều về luật này một cách chính xác và các điều này cho thấy không có sự mâu thuẩn nào:
1. Định luật Luân hồi là một định luật thiên nhiên vĩ đại trên hành tinh chúng ta.
2. Đó là một tiến trình được thiết lập và tiến hành theo định luật Tiến hóa.
3. Nó liên quan mật thiết và bị chi phối bởi Luật Nhân Quả.
4. Đó là tiến trình phát triển liên tiếp, giúp con người tiến hóa, từ các hình hài thô sơ nhất của chủ nghĩa vật chất thiếu suy xét đến sự hoàn thiện tâm linh và nhận thức sáng suốt, giúp cho con người trở thành thành viên của Thiên Quốc.
5. Nó giải thích các dị biệt giữa con người và – cùng với Luật Nhân Quả (ở phương Đông được gọi là Luật Nghiệp Quả) – nó giải thích các dị biệt về hoàn cảnh và thái độ đối với đời sống.
6. Đó là biểu hiện cho trạng thái ý chí của linh hồn, chứ không phải là kết quả của bất cứ việc ấn định nào của hình hài; chính linh hồn trong mọi hình hài mới luân hồi, chọn lựa và kiến tạo các thể xác, thể cảm dục và hạ trí thích hợp để nhờ đó mà học được các bài học cần thiết kế tiếp.
7. Đối với nhân loại, định luật Luân hồi tác dụng trên cõi linh hồn. Việc chuyển kiếp (incarnation) được thúc đẩy và điều khiển từ phân cảnh linh hồn, trên cõi trí.
Linh hồn chuyển kiếp theo nhóm, theo chu kỳ và theo định luật, mục đích để đạt được các liên giao hoàn toàn với Thượng Đế và với đồng loại.
8. Theo luật Luân Hồi. Việc phát triển tăng tiến bị chi phối, phần lớn bởi nguyên khí trí tuệ, vì “khi con người suy tưởng như thế nào trong tâm thì y trở nên như thế ấy” (“as a man thinketh in his heart, so is he”). Các lời vắn tắt này cần được xem xét thật kỹ càng.
9. Theo Luật Luân Hồi, con người từ từ phát triển thể trí, kế đó, thể trí bắt đầu kiểm soát bản chất xúc cảm, tình cảm và sau rốt phát hiện ra linh hồn cùng là bản chất và môi trường của linh hồn đối với con người.
10. Ở mức độ phát triển này, con người bắt đầu bước lên Con Đường Trở Về Cội Nguồn, và sau nhiều kiếp sống, dần dần tự định hướng tiến tới Thiên giới.
11. Khi nào nhờ mở được trí, có được minh triết, thực hành việc phụng sự và do hiểu biết, con người đã học được việc không đòi hỏi gì cho bản ngã hay chia rẽ, thì bấy giờ, y mới từ bỏ được lòng ham sống trong ba cõi thấp và mới thoát được Định luật Luân Hồi.
12. Giờ đây, con người có được ý thức tập thể, biết được nhóm linh hồn của mình, biết được linh hồn trong mọi hình hài và đã đạt được – như Đức Christ đề ra – giai đoạn hoàn thiện giống như Đấng Christ, tiến đến “được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ” (Bản dịch T.Kinh, nhà XB T. Ch. Giáo, trang 201). (“Measure of the stature of the fulness of the Christ” – Eph. IV:13) (STLCĐC, 115–119)
+ Thời gian giữa 2 kiếp luân hồi: Đối với những người kém tiến hóa, hầu như không tồn tại; họ luân hồi ra vào kiếp sống với tốc độ kinh ngạc... Khi tiến hóa tăng lên, các khoảng thời gian không có thân người dần dần kéo dài, cho đến khi vượt xa thời gian sống ở cõi trần. Khi đó, giai đoạn gián cách chiếm ưu thế.” [Luận về Chánh Thuật, tr. 514]
“Từ khoảnh khắc tách rời hoàn toàn khỏi thể xác và thể dĩ thái... con người ý thức được quá khứ và hiện tại... y lập tức ý thức được tương lai... Do đó, quá khứ, hiện tại và tương lai được thấy như một; sự nhận thức về ‘Hiện Tại Vĩnh Cửu’ dần được phát triển qua từng kiếp luân hồi và trong suốt tiến trình tái sinh liên tục.” [Chữa Lành Huyền Linh, tr. 497]
Xem thêm: Tổng hợp về Luân hồi sáu cõi
+ Thiên chúa - Thiên Chủ: .... Do công đức này sở cảm, sau khi chết được sinh lên cõi trời Ðao Lợi, do thiện nghiệp sở cảm được làm Thiên chủ, tức là phần đông thường nói là chân thần.
Chung quanh trời Ðao Lợi, đông tây nam bắc mỗi hướng có tám cõi trời cộng thành ba mươi hai với chính giữa cộng thành ba mươi ba ! Thiên chủ cõi trời
Tam Thập Tam là tiền thân của người nữ ấy, tức cũng là Chân thần, Thượng đế, chủ tể vạn vật mà Gia Tô Giáo, Thiên Chúa Giáo sùng bái. Vì y làm Thiên chủ cõi trời và cai quản nhân gian.
Nhân Ðà La này là Trời Ðế Thích, một danh hiệu trong 108 danh hiệu. Trong Kinh Di Ðà xưng là Thích Ðề Hoàn Nhân. ... Thiên Chúa Giáo đồ nghe đoạn này rồi, sẽ nói chúng ta tin Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa này. Vậy Thiên Chúa nào? Nếu không phải là Thiên Chúa này, chẳng lẽ có hai Thiên Chúa, tôi đây có một Thiên Chúa, bạn đó cũng có một Thiên Chúa, trong đó có một Thiên Chúa thật, một Thiên Chúa giả ! Cứu kính cái nào là thật ? Bạn muốn bạn là Thiên Chúa thật, tôi muốn tôi là thật Thiên Chúa..... Thiên Chúa thật hay giả không cần bình luận. ...
Cho nên Thiên Chúa, Chân thần, thật ra là Nhân Ðà La, Nhân Ðà La là Chúa, Chúa tức là Chúa, còn có gì thật với giả.
‘’Chân thật thí quyền đại Bồ Tát‘’, Thiên Chúa cũng hành Bồ Tát đạo. Y là Phật Pháp chân thật lại hành quyền pháp, dạy bạn tin Thiên Chúa, tin Gia Tô, tin thần thổ địa, tin Ngọc Hoàng. Ðây chỉ là đến dẫn dụ bạn hướng từng bước từng bước đi trên đại lộ, đây gọi là chân thật thí quyền, vì chân thật, trước hết cho
bạn một phương pháp quyền xảo phương tiện, dạy bạn tu hành, đây là đại Bồ Tát. Thiên Chúa trong quá khứ cũng đã từng tích thiện tu phước hành bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, lục độ.
‘’Thích Phạm Thánh chúng đều kính trọng‘’, hết thảy chư Thiên, Đại Phạm Thiên Vương, đều rất khách sáo đối với Thiên Chúa. Mọi người đừng tin Thiên Chúa liền mê Thiên Chúa, tin Phật liền mê Phật, vì Thiên Chúa, vì Phật mà tranh chấp kiện tụng. .....
.... Bồ Tát là muốn tu hành Bồ Tát đạo lợi ích kẻ khác, ngoại đạo cũng muốn đi trên con đường chánh. Thiên Chúa Giáo và Gia Tô Giáo đều nhận rằng giáo của mình không sai, có thể sinh về nước Chúa. Vì trí huệ của họ chỉ nhiều như thế, chỉ biết có nước Chúa, không biết có những thế giới còn diệu hơn nước Chúa, trí lực của họ không đạt đến được, đây là vấn đề trình độ. Học sinh tiểu học, không thể so sánh với học sinh đại học, cũng không thể so sánh với học sinh trung học. Về phương diện khác là vấn đề nghiệp. Quá khứ nghiệp tạo ra khiến họ chỉ hiểu được nhiều như thế thôi. Cứu kính họ đều muốn khai ngộ, bất quá có ngộ sớm và ngộ trễ, mê ngộ có chậm trễ mà thôi. Tu Bồ Tát đạo thì đắc được giác ngộ sớm một chút. Tu pháp ngoại đạo thì chậm một chút. Nhanh chậm chỉ là vấn đề thời gian, chứ chẳng phải có tốt và không tốt, kết quả đều là đắc quả bồ đề.(Tr 280) (Nguồn: Giảng Chú Lăng Nghiêm - Google Drive)
+ Đấng Thượng Đế Vạn Năng: Các thuật ngữ tương ứng gồm Thiên chủ - Thiên chúa - Đấng Chúa trời vạn năng .... mà phương tây vẫn tôn thờ, trong Phật pháp thì Ngài chỉ là Thần hộ pháp mà thôi. Mời đọc lời giảng của HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng, (xem phút thứ 50 đến 60). Lời giảng chi tiết rất hay và sâu sắc
+ Định luật Luân Hồi / Luật Tái Sinh: ... Ở Tây phương, định luật chưa bao giờ được hiểu đúng, ở Đông phương, ... nó lại tỏ ra không hữu ích vì có hậu quả ru ngủ (soporific) và gây hại cho sự tiến bộ.... đã làm cho nỗ lực mạnh mẽ để đạt mục tiêu thành vô hiệu.
Người Thiên Chúa giáo bậc trung lầm lẫn định luật Luân Hồi với “Thoái bộ luân hồi của linh hồn” và thường tin rằng luân hồi có nghĩa là chuyển con người vào thân thể của con thú hay của các hình thức sự sống thấp kém hơn. Chẳng đúng chút nào cả. Khi sự sống của Thượng Đế tiến tới ... từ các hình hài khoáng chất thành hình hài thảo mộc và từ thảo mộc thành hình hài động vật => chuyển vào giới nhân loại và chịu sự chi phối của Luân Hồi... Cái hay nhất của họ có thể được nói đến là họ đã làm cho quảng đại quần chúng được làm quen với lý thuyết này.... (Trích T. Kinh, 91)..
+ Cõi trí theo Bí truyền: Cõi trí có 3 dạng thức của Thể trí, tạo ra phần quan trọng nhất của bản chất con người:
1. Hạ trí cụ thể tức nguyên khí lý luận. Các tiến trình giáo dục công khai bàn đến trạng thái này của con người.
2. Con của trí tuệ hay Chân Ngã hay Linh hồn. Đây là nguyên khí trí tuệ và được gọi bằng nhiều tên, như là Thái Dương Thiên thần, nguyên khí Christ, .v.v... Tôn giáo có bàn đến.
3. Thượng trí trừu tượng [Trí phân biện], tác nhân bảo quản ý niệm và truyền chuyển sự giác ngộ đến cho Hạ trí khi mà hạ trí giao tiếp được với linh hồn.
+ Trí tuệ thuần túy: Được gọi là Thượng Trí.(MTNX, 193)
+ Bốn cung/ Tứ nguyên trí tuệ: Liên hệ tới nghiệp quả của 4 vị Hành Tinh Thượng đế, là 4 Cung thứ yếu, lo về Hài Hoà, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ (Cung 3 tổng hợp 4 cung này) (LVLCK, 145).
+ Thể hạ trí có dạng hình trứng, bao quanh thể xác và trải rộng nhiều hơn ra khỏi thể xác …, qua hình trứng đó luôn luôn có các hình tư tưởng thuộc nhiều loại khác nhau chạy quanh (đó là các tích chứa của thể trí con người và các tư tưởng của những kẻ chung quanh y) khiến cho hạ trí hình trứng này bị nhuốm sắc thái của các thu hút mạnh mẽ và bị đa dạng hóa bằng nhiều dạng hình học, tất cả đều ở tình trạng thay đổi liên tục hay chạy quanh. (TVTTHL, 95)
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng.
* Người trung bình, Thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thành bản chất tâm thông thấp. Người này đang nhìn xuống [Hướng ra ngoài] vào ngoại giới, liên tục tìm kiếm những cách thức để làm thỏa mãn những nhu cầu của y. Thể trí này không được tự do hành động theo ý nó. Nó bị buộc chặt với bản chất cảm dục. Nó là nô lệ của thể cảm dục này!
+ Hạ Trí có tính Then Chốt, vì nó có thể được Kết Hợp hoặc với Linh hồn, hoặc với Phàm ngã. (GQ1- Người & TT)
+ Ba khía cạnh của Thể trí (GQ1.3_GT Cung 5):
1. Thượng trí hay trí trừu tượng, là hiện thân của một tam nguyên cao hơn.
2. Hạ trí hay trí cụ thể, là trạng thái cao nhất của phàm ngã.
3. Chân Nhân hay Thái Dương Thiên Thần, là Con Trí Tuệ thuần túy, vốn biểu lộ trí thông minh, cả trừu tượng và cụ thể, và là điểm hợp nhất.
+ Triết học gọi 3 dạng thức (GDTKNM, 5):
1. Trí tiếp nhận - Các nhà tâm lý học bàn đến.
2. Trí biệt ngã tức Con của Trí tuệ.
3. Trí giác ngộ tức thượng trí [Trí phân biện].
+ Ba chức năng Thể Trí - Giác quan thứ 6: Người chí nguyện ghi nhớ, nắm bắt sẽ tiến bộ nhanh chóng trên đường Đạo (ASCLH, 125):
1- Giao tiếp, tiếp nhận => Chuyển thông tin đến Chân nhân/ Người chi kiến = Ý thức phàm nhân
2- Công năng 5 phương tiện đầu Yoga mang lại = Nối kết não bộ với Linh hồn
3- Công năng 3 phương tiện cuối Yoga mang lại, được Linh hồn dùng làm cơ quan tri kiến
+ Ba chức năng Thể trí (LVHLT, 365):
- Trí cụ thể là khả năng kiến tạo hình hài. Các tư tưởng (thoughts) là các sự việc (things).
- Trí trừu tượng là khả năng kiến tạo mô hình (pattern), hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà dựa vào đó các hình hài được lên khuôn (modelled).
- Trực giác - Trí phân biện hay lý trí thuần túy là khả năng giúp cho con người đi vào sự giao tiếp với Thiên Trí và hiểu được Thiên Cơ về phương diện tổng hợp, lĩnh hội được Thiên Ý hoặc tách ra một chân lý cơ bản và thuần túy nào đó.
+ Chức năng của Bác Ái và Thể Trí:
- Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụ và tiểu thiên địa, nhưng thể trí là nhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ.
- Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng được Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụ và tiểu thiên địa. (LVHLT, 125)
+ Trí phân biệt hay Trí phân biện: Tu hành pháp đại thừa không nên tính toán phân biệt, càng phân biệt thì bạn càng khó học, càng tính toán thì càng không hiểu.... Đừng học với sự vọng tưởng phân biệt so lường. Phân biệt là thức thứ sáu, tính toán là riêng về thức thứ bảy. ... Nếu bạn muốn thâm nhập Chú Lăng Nghiêm, thì bạn phải trừ khử sạch sự tính toán và phân biệt. Đừng dùng thức để học Phật Pháp, mà dùng chân tâm, đó mới chính là diệu pháp. (Nguồn: Chú Lăng Nghiêm - HT Tuyên Hóa)
+ Thể trí làm cho con Người thành Phật hay con Thú: Thường ở Người trung bình, Thể trí được đồng hóa mạnh mẽ với ham muốn của thể cảm dục (kama), tạo thành bản chất tâm thông thấp. Người này đang nhìn xuống vào ngoại giới [Hướng ngoại tìm cầu], liên tục tìm kiếm những cách thức để làm thỏa mãn những nhu cầu của y. Thể trí này không được tự do hành động theo ý nó. Nó bị buộc chặt với bản chất cảm dục. Nó là nô lệ của Thể cảm dục này!(Đức Phật Gautama).
+ Biểu tượng Chánh pháp: ... Các kinh điển của Phật giáo đều là trọng yếu cả. Kinh Lăng Nghiêm lại càng đặc biệt. Nơi nào có kinh Lăng Nghiêm tức nơi đó có chánh pháp. Kinh Lăng Nghiêm mà không còn thì lúc đó là mạt pháp. Tín đồ Phật giáo chúng ta phải mang hết tâm trí, và mồ hôi nước mắt để ủng hộ bộ kinh này.... (Nguồn: Biểu tượng chánh pháp - HT Tuyên Hóa)
+ Subhadda vẫn nài nỉ xin gặp Đức Phật trước khi Ngài nhập diệt. Ngài gọi Ānanda đến và nói:
“Ānanda, hãy để Subhadda đến gặp Như Lai. Ông ấy rất thông minh và đầy đủ căn cơ để lãnh hội được những gì Như Lai nói với ông.” Thành kính đảnh lễ Đức Phật xong, Subhadda hỏi:
“Thưa Tôn Giả Cồ Đàm, những vị lãnh đạo lừng danh của các giáo phái khác có thật sự đã giác ngộ như họ tuyên bố hay không?”
“Này Subhadda,” Đức Phật nói, “đừng để tâm đến câu hỏi đó nữa. Hãy lắng nghe, Như Lai sẽ nói Chánh Pháp cho ông nghe.”
“Bất cứ học thuyết hay giới luật nào không bao gồm Bát Chánh Đạo sẽ không có người chứng ngộ Thánh Quả. Bất cứ nơi nào hành trì Bát Chánh đạo, sẽ có những vị chứng ngộ Thánh quả. Chỉ có Chánh Pháp của Như Lai dạy đạo lý Bát Chánh Đạo. Nếu các vị tỳ kheo của Như Lai nghiêm chỉnh thực hành đạo lý này, thế giới sẽ không bao giờ vắng bóng những bậc A La Hán cao thượng.”
Subhadda vô cùng hoan hỉ. Ông xin được Đức Phật nhận làm đệ tử xuất gia của Ngài. Đức Phật chấp thuận, và truyền cho Đại Đức Ānanda cho Subhadda thọ giới xuất gia.(Nguồn)
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI
+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh học bàn đến.” (CTHNM, 14)
+ Không gian chính là Thái Uyên (The Deep). (Thư của Ch.S. 379).
- Không gian và vật chất (substance) là các thuật ngữ đồng nghĩa; vật chất là tập hợp các sự sống nguyên tử, nhờ đó mà mọi hình hài được kiến tạo. (CVĐĐ, 105)
- Chân Sư thoát khỏi các giới hạn của thời gian, mặc dù không thoát được các giới hạn của không gian, bởi vì không gian là một Thực Thể vĩnh hằng (eternal Entity) (CVĐĐ, 437)
- Đối với Thái Dương Thượng Đế, không gian, theo sát nghĩa, là dạng thức (form) mà trong đó, các hoạt động hữu thức và mục tiêu của Ngài được hoàn thành – vòng giới hạn Thái Dương. Một cách tương tự, không gian mà trong đó một Hành Tinh Thượng Đế thực thi các kế hoạch của Ngài chẳng khác gì so với không gian thái dương khi tâm thức của Ngài đủ mở rộng để sử dụng. (LVLCK, 281)
+ Thời gian (time):
- Thời gian chính là trình tự các biến thái (modifications) (hay hoạt động – activities, ASCLH, 17) của thể trí, thời gian cũng kết liễu nhường chỗ cho Hiện tại Vĩnh cửu. (ASCLH, 428)
- Thời gian là chuỗi của các sự việc xảy ra (sequence of events) và của các trạng thái ý thức theo sự ghi nhận của bộ óc xác thân. Nơi nào không có bộ óc của thể xác thì những gì mà nhân loại hiểu theo ý nghĩa thời gian (by time) không còn nữa (non–existent). Việc gỡ bỏ các ngăn trở (barriers) của hình hài, hết giai đoạn này đến giai đoạn khác sẽ đưa đến nhận thức ngày càng tăng về Hiện Tại Vĩnh Cửu (Eternal Now). (CTNM, 403–404)
- Trên cõi trí, không có thời gian. (LVHLT, 480)
- “Thời gian” chỉ là một ảo tưởng phát sinh do sự nối tiếp của các trạng thái tâm thức khi chúng ta trải qua kỳ gian Vĩnh Hằng, nơi nào không có tâm thức để cho ảo tưởng có thể phát sinh thì nơi đó sẽ không có thời gian, thời gian “yên nghỉ”. (GLBN I, 110)
- Thời gian và Nghiệp quả là 2 từ đồng nghĩa (Chân Sư DK)
II- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO PHẬT HỌC
+ Không - Thời gian: Chúng sinh là không gian - Thọ giả là thời gian. Không gian và Thời gian đều không có, đều chẳng tồn tại. Vậy nên Thân xác Ta là giả không phải thật là Ta. Đức Phật dậy Vô ngã tướng - Vô nhân tướng - Vô chúng sanh tướng - Vô thọ giả tướng là vậy. (PS Tịnh Không)
+ Phật dậy Hư Không Là Đồng Và Thế Giới Là Dị: A Nan! Bản thể của hiện tượng vốn chung cùng, do nhơn duyên mà biến hiện. Trong thể tánh không đồng không dị, phân giải sinh ra thành dị. Khác với các dị hóa hợp lại thành đồng. Tánh đồng dị đã phát minh, hai lực hấp dẫn và đề kháng [ĐỐI HỢP] cũng tự thành năng lực. Giữa sự nhiễu loạn mâu thuẫn bên trong của vật lý tâm lý và tánh hư không; những tánh chất năng động [TÍNH DƯƠNG] hợp thành thế giới, tánh thể bất động là hư không. Hư không là đồng, thế giới là dị. Đồng dị hay không đồng dị, tất cả đều gọi là pháp hữu vi.
+ Định nghĩa Hư Không - Không Gian: Khái niệm quan trọng trong đạo Phật. Hư không được hiểu là » Không gian « Có 2 thứ không gian:
1. Không gian do sắc thể quy định mà thành và
2. Không gian vô cùng tận - Hư Không.
* Khái niệm đầu thuộc sắc thể (Ngũ uẩn), khái niệm sau là một trong 6 yếu tố (Giới), không có tự tính nhưng lại là cơ sở của mọi sắc thể và của Tứ đại chủng là đất, nước, gió, lửa. Hư không (khái niệm thứ hai) là tính Không, rời mọi sắc thể, thường còn và không thể mô tả nghĩ bàn;
- Hư Không - Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Hoặc:
- Theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc; (Nguồn: Định nghĩa Hư Không)
+ Trong không gian vũ trụ này thì chỗ nào cũng có 7 Đại là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại (Nhận thức trực giác) và thức đại (Nhận thức tư duy, phân biệt). (Nguồn: Chương 7 - Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác)
+ Ý nghĩa không gian và Thời gian theo Phật giáo có thể chia làm hai mặt:
- Không gian: Đạo Phật chủ trương rằng vạn pháp là do nhân duyên hòa hợp mà thành.
- Thời gian: Vạn pháp là do nhân và quả mà thành tựu.(Nguồn: Mục Lại rơi vào thuyết nhân duyên đối đãi ....)
+ Chữ "kiếp": "Kiếp" chỉ thời gian, ví như các tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Chữ kiếp trong Kiếp trược - Thuộc "Ác ngũ trược" cũng hiểu là Thời gian; (HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Chữ "Kiếp" trong Ngũ trược Chánh báo/ Thân thể người: Gọi là Thời phần (Nguồn: Kinh Thủ LN - Q.4 - Ch.IV)
+ Thời gian Tiểu Kiếp - Trung Kiếp - Đại Kiếp:... Đức Phật bảo A Nan: Nếu có thể xa lìa các duyên hòa hợp và không hòa hợp, thì diệt trừ được các nhân sinh tử, đó chính là tánh giác ngộ tròn đầy không sinh không diệt, chính là chân tâm bản giác thanh tịnh thường trú.
Giảng: Văn trên đã nói về y báo và chánh báo. “Y báo” là núi sông, đất bằng, nhà cửa, lầu các, phòng xá. “Chính báo” là thân người.
Y báo thì phải chịu trải qua các tiến trình Thành, trụ, họai, không. Chánh báo thì phải trải qua các tiến trình Sinh, lão, bệnh, tử.... (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.1)
+ Thời gian một kiếp - Tiểu - Trung - Đại Kiếp: ...Đức Phật nói: Trừ vọng tưởng điên đảo của con từ ức kiếp. Chẳng trải qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp mà được pháp thân. Giảng:
"Trừ– làm tiêu tan vọng tưởng điên đảo của con từ ức kiếp." Một kiếp là 139.600 năm,[125] một ngàn kiếp là một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp là một đại kiếp. Ức kiếp ở đây biểu tượng cho con số không thể tính đếm được về thời gian. Từ vô thủy đến nay, vọng tưởng điên đảo đã tiêu tan sạch, từ ngày nay hoặc ngày mai sẽ không còn sinh khởi nữa. Nó sinh khởi cách đây từ vô lượng vô lượng kiếp, tích lũy dần dần từng chút. Đó là những tập khí. Tập khí là bản chất của vọng tưởng điên đảo. Tập khí làm cho vọng tưởng điên đảo sinh khởi. 'Điên đảo' có nghĩa là xem cái thật thành cái giả và nhận cái giả làm cái thật. Họ nhận cái đen làm trắng. Quý vị nói với họ cái ấy trắng thì họ bảo là đen.
Họ làm mọi chuyện đảo ngược. Người ta nghĩ một đường, thì kẻ điên đảo nghĩ một đường khác. Họ luôn luôn muốn có một cách khác người.
Khiến cho con "Chẳng trải qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp mà được pháp thân."
'A-tăng-kỳ[126]' là tiếng Sanskrit có nghĩa là 'vô số lượng.' Phải cần đến ba đại a-tăng-kỳ kiếp mới thành tựu Phật quả. Từ sơ phát tâm đến hàng Sơ địa Bồ-tát phải cần một a-tăng-kỳ kiếp. Từ Sơ địa Bồ-tát đến Thập địa Bồ-tát phải trải qua một a-tăng-kỳ kiếp nữa. Từ Bát địa Bồ-tát đến quả vị Diệu giác, thành tựu quả vị Phật phải cần một a-tăng-kỳ kiếp nữa là ba. Thời gian ba kiếp dài vô số lượng nầy là bao nhiêu? Thật là con số lớn lao vô cùng.
A-nan nghe được pháp môn vi diệu mà Đức Phật vừa khai thị, đã khiến cho A-nan được khai ngộ. Do A-nan đã khai ngộ, nên không cần phải trải qua một thời gian dài ba đại a-tăng-kỳ kiếp như vậy mới thấy được Pháp thân.
Nhưng 'thấy được' pháp thân ở đây không phải là chứng ngộ. Đó chỉ là nhận ra được đạo lý về pháp thân. A-nan còn phải tu hành nhiều hơn nữa mới thực sự gọi là chứng được pháp thân. A-nan phải tinh tấn trong công phu nhiều hơn nữa. A-nan đã biết rằng mình không cần phải trải qua một thời gian dài ba đại a-tăng-kỳ kiếp trước khi tu tập thành Phật. A-nan biết rằng chân tâm thường trú thanh tịnh sáng suốt. A-nan biết rằng chính mình và mọi sắc tướng đều là chân tâm sáng suốt nhiệm mầu của Như Lai tạng. Do A-nan đã nhận ra như vậy, ngài biết rằng mình sẽ nhanh chóng thành tựu Phật quả. (Nguồn: Kinh Thủ LN - Q.3)
+ Xem thêm: Bàn về thời gian qua Phật giáo
+ Vũ trụ biến dịch biểu lộ: ..... Một nguyên lý biến dịch chưa thể giải thích được vẫn tồn tại trong Trí tuệ của Đức Thượng Đế của thái dương hệ của chúng ta, và chi phối mọi hành động của Ngài. Chúng ta chỉ thấy các hình thể mãi mãi thay đổi, và thoáng thấy sự sống thường hằng tiến hoá bên trong các hình thể đó, nhưng vẫn chưa tìm ra manh mối của cái nguyên lý tác động xuyên qua chiếc kính vạn hoa luôn luôn biến chuyển gồm các thái dương hệ, các cung, các huyền giai, hành tinh, cảnh giới, hệ thống, các vòng tiến hoá, các giống dân chính, và các giống dân phụ. Tất cả đều đan vào nhau, liên kết nhau, xuyên thấu lẫn nhau, khiến chúng ta hoàn toàn sững sờ trước mô hình kỳ diệu của chúng bày ra trước mắt. ... Chúng ta không biết cách nào mà một có thể trở thành ba, ba trở thành bảy, và cứ thế mà tiếp diễn đến mức biến phân vô tận. Với tầm mắt của nhân loại thì sự đan kết cấu thành thái dương hệ thật phức tạp không thể tưởng, mà chìa khoá thì dường như chưa thể tìm thấy trong thời gian tới. .... (Nguồn: Sách Điểm Đạo TNH và TDH)
+ Khởi nguyên vũ trụ: Từ SỰ SỐNG DUY NHẤT (ONE LIFE), vô sắc tướng, bất sinh bất diệt, phát sinh ra Vũ Trụ của mọi Sinh Vật (the Universe Of Lives). Thoạt tiên, từ khối Hỗn Mang (Chaos) mới biểu lộ ra lửa lạnh và sáng (ánh sáng mờ ảo như chất hơi) hình thành những chất Cô đọng (Curds) trong Không Gian [có lẽ là khối tinh vân?]… Những chất cô đọng này va chạm lẫn nhau, phát ra nhiệt lực và gây nên sự vận chuyển xoay vòng. Kế đó mới có sự biểu lộ đầu tiên của Lửa Hậu Thiên (VẬT CHẤT), những Ngọn Lửa nóng, những Sao Chổi [Comets] trên không gian. Nhiệt lực tạo nên hơi ấm, hơi ấm tạo nên nước đặc (solid water) [?]; rồi đến sương mù khô, sương mù ướt, lỏng như nước, nó dập tắt sức nóng chói rạng của những kẻ hành hương [Sao Chổi?] và hình thành những Bánh Xe đặc sệt (những Bầu Thế Giới VẬT CHẤT – MATTER Globes). Địa Cầu (Bhumi) xuất hiện với sáu bầu chị em của nó. Những bầu này do sự vận chuyển liên tục mới tạo nên lửa hậu thiên (inferior fire), nhiệt lực và sương mù đặc, nó sản xuất ra NƯỚC (Nguyên Tố thứ ba – the third World-Element) và do khí vận trên không gian và sinh ra KHÔNG KHÍ [gió]. Tứ nguyên hay tứ đại này là bốn nguyên tố của bốn Cuộc Tuần Hoàn (Rounds) đầu tiên trong Chu kỳ Sáng Tạo (Manvantara). Còn ba nguyên tố nữa sẽ tiếp theo sau. ....
...“Thoạt đầu, Đức Chúa Trời tạo ra cõi trời lưỡng phân, Thượng Thiên và Hạ Thiên, tức là sự phân tích của vật chất nguyên thuỷ - vốn có phần trên là ánh sáng, còn phần dưới (Vũ Trụ biểu lộ) là bóng tối – ra hai phần vô hình và hữu hình đối với các giác quan của chúng ta.... (Nguồn: Giáo lý bí nhiệm, tr 664)
* Đọc sự tiến hóa của vũ trụ đầy đủ (Chân sư DK hay trích dẫn): Giáo lý bí nhiệm - Phần đầu
+ KHI MỘT BIẾN THÀNH HAI, THÌ BỘI SỐ BA HIỆN RA (a). BA LÀ (1 ) MỘT; VÀ ĐÓ LÀ SỢI CHỈ CỦA CHÚNG TA, HỠI ĐỆ TỬ, TRÁI TIM CỦA CÂY NGƯỜI (MANPLANT), GỌI LÀ SAPTAPARNA (b)
(a) “Khi cái Một trở thành cái Hai, cái Ba xuất hiện”, nghĩa là khi cái Một Trường Cửu phản ánh vào cõi Biểu Lộ, thì sự phản ánh đó, tức là cái “Tia Sáng” phân hoá “Không Gian Thuỷ” (“Water of Space”). Tử Vong Kinh dạy: “Nhờ vào đại quyền năng của linh từ của Ngôi Mặt Trời Trung Ương, nhờ vào ánh quang huy chói lọi của Tia Sáng Nguyên Thuỷ (the Ray of Primordial Light) xua tan mọi bóng đêm, Hỗn Mang không còn nữa. Hỗn Mang biến thành thư hùng lưỡng tính, còn Nước được Ánh Sáng ấp ủ và Đấng Tam Phân được xạ ra như là đứa con “đầu lòng” của nó....
.... Sáng tạo vũ trụ có nhiều Nhóm .... Trong đó có Nhóm tạo ra Nhân loại, Nhóm này tạo nên con người sơ khai (hãy còn là hình bóng chưa có thể xác tạm gọi là “người bóng” (“shadowy man”) trong Chu kỳ hiện tại, cũng như một nhóm khác thiêng liêng cao cả hơn nữa đã sáng tạo ra con người trong cuộc Tuần Hoàn thứ Ba. Đó là Nhóm thứ Sáu (trên nấc thang từ trên đi xuống của giai tầng tâm linh) có nhiệm vụ tạo nên Tinh Thần hãy còn mờ ảo như cái bóng trong suốt và thanh nhẹ như sương của con người tương lai. Nhóm thứ Bảy và cuối cùng là cấp đẳng Tinh linh ngũ hành, có nhiệm vụ trợ giúp trong việc cấu tạo lần hồi hình dáng và thể xác con người, làm cho y có được xác phàm rắn chắc như hiện nay.
- Cuộc tuần hoàn I: Các Hỏa tinh quân tạo ra nguyên tố Lửa, hiện phổ cập khắp nơi trong toàn Thái Dương Hệ;
- Cuộc TH II: biểu lộ Nguyên Tố thứ hai, tức KHÔNG KHÍ (AIR), là nguyên tố mà sự thuần khiết bảo đảm sự sống liên tục cho người sử dụng nó.
- Cuộc TH III: Ba phát triển Nguyên Tố thứ ba (third Priciple) là NƯỚC:
- Cuộc TH IV: Biến đổi những chất lỏng bốc hơi và hình thể mềm dẻo của Trái Đất thành một Bầu vật chất đông đặc, cứng rắn như địa cầu ngày nay. Trái Đất đã đạt tới Nguyên Khí thứ tư của nó, và sẽ đạt tới cái chân tướng rốt ráo cùng tột của nó, tức cái vô cùng đông đặc. ... các Tinh linh ngũ hành thuộc đẳng cấp thấp kém hơn, không có trí khôn hay chỉ có trí khôn nửa vời, tất cả đều sẽ trở thành người trong tương lai. (Đoạn này nói về ngoại môn (Tr 675). Xem tại nguồn: Giáo lý bí nhiệm, tr 620)
+ Phân thân (Emanation): Một dòng thần lực tức là một phân thân. (LVLCK, 69)
+ Ba luồng phân thân: Xuất phát từ Thượng Đế 3 ngôi (Tam vị nhất thể) đặt ngoài khung thời gian và không gian 7 cõi Thái Dương hệ chúng ta. Mỗi 1 trong 3 ngôi có 1 phân thân (LVLCK, 123):
- Luồng 1: Giáng xuống từ ngôi 3 - Đường thẳng, xuống tận cùng vật chất trọng trượt nhất.
- Luồng 2: Giáng xuống từ ngôi 2 - Đi xuống tận vật chất thấp nhất rồi vòng về phân cảnh Hạ trí thì dừng lại (3/4 đường tròn)
- Luồng 3: Giáng xuống từ ngôi 1- Chỉ xuống tới Cõi thứ 4 - Bồ Đề, rồi gặp luồng 2 đi lên ở đó, qua tam giác - Là Chân Ngã luân hồi)
+ Hoạt động 3 luồng
- Luồng 1: Phát ra từ Thượng Đế, làm linh hoạt vũ trụ chất và khiến cho mọi nguyên tử vật chất trong “vòng giới hạn” của Thái Dương Hệ của Ngài rung động theo 7 mức rung động khác nhau.
- Luồng 2: Gây ra các phối hợp phân tử, nhờ thế tạo ra sáu cõi phụ dưới cõi phụ nguyên tử ở mỗi cõi và tạo ra hình hài.
- Luồng 3: Với mỗi Linh hồn thể được tạo thành từ từ bằng các phần tử vật chất thuộc cùng tính chất và cùng loại như nguyên tử dùng làm nhân của nó, và khi linh hồn thể được kiến tạo như thế qua các thời kỳ tiến hóa dài thì trung tâm ý thức thiêng liêng đang ứng linh, mà qua bao thời kỳ đã tiến hóa riêng biệt, lại kết hợp với nó, Chân Ngã bất tử bắt đầu leo lên qua giới nhân loại. (TLHNM I, 168–169)
+ Vũ trụ biểu lộ - Tiên thiên và hậu thiên: Một Giáo lý huyền linh dạy: “Chuyển động có tính cách vĩnh cửu trong thế giới tiên thiên và tuần hoàn trong thế giới hậu thiên. Chỉ khi nào nhiệt do Ngọn Lửa giáng xuống vật chất nguyên thuỷ đã làm chuyển vận cấu tử của nó thì chuyển vận mới thành cơn gió lốc”. Một giọt chất lỏng có dạng hình cầu vì các nguyên tử của nó tự quay mình trong bản chất thực tượng, cực vi và bất khả phân giải (ít ra thì cũng bất khả phân giải đối với Vật lý học). (Nguồn: Giáo lý bí nhiệm)
+ Thái cực sinh lưỡng nghi - Số 1 biến thành số 2 - Đồng biến dị: Tánh giác (Số 0) thì không đồng khác, nhưng một khi đã phân năng sở thì đồng khác thành rõ ràng. Đồng là hư không, khác là thế giới …
Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mờ tối, đối đãi thành ra dao động nên có phong luân nắm giữ thế giới. Nhân hư không mà sinh ra dao động kiên cố cái sáng mà thành có ngăn ngại. Các loại kim bảo kia đều do minh giác lập ra tánh cứng chắc, nên có kim luân giữ gìn cõi nước. Phong đại và kim bảo cọ xát mà có lửa sáng làm thành tính biến hóa… Nơi Sở minh, tự yêu thích cái sáng suốt của tánh minh, dòng yêu thích làm thành chủng tử, ấy là nguyên nhân có thủy đại . Đó là cách hình thành các đại, gọi chung là khí thế gian. Phần hình thành tướng thế gian thấy có sai khác là tùy vào tâm của chúng sinh. Đại sư Hàm Thị nói: “Bốn đại chỉ là tâm. Tùy thế lực của tâm mà có nặng nhẹ. Sân hận nhiều, yêu thích ít nên ứng hiện ra ngoài có núi cao. Đập đá thì tóe lửa, nấu thì chảy ra nước. Yêu thích nặng, cố chấp nhẹ nên ngoài ứng hiện ra cỏ cây…”. Quá trình này được ví dụ mắt nhặm mà thấy hoa đốm hiện ra trong hư không, hoặc như ngủ rồi mộng mà thấy mọi thứ, không thứ nào có chất thật như hiện nay đa số vẫn lầm. Mọi thứ đều là biến hiện của thức.... (Nguồn: Chẳng phải nhân duyên - Tự nhiên)
+ Xem thêm Tooltip: Chữ Đạo
+ Cặp đối tương tác: Tương xung - Tương khắc - Tương hình - Tương hại - Đối xung - Xung đối
+ Định luật Tuần Hoàn - Law of Periodicity/ ĐL Chu Kỳ :
[Lưu ý về dịch thuật có sự khác nhau giữa các dịch giả:
- Law of Periodicity - Dịch là Định luật Tuần Hoàn, MFVN dịch môn học 110 - QU1, dịch từ sách LVLCK (tr 5);
- Law of Periodicity - Dịch là Định Luật Chu Kỳ - Bác Thông Thiên Học cũng dịch sách từ LVLCK (tr 5),
- Law of Cycles - Định luật Chu Kỳ - Theo Chiêm Tinh học Nội Môn (tr 89)
- Định Luật Chu Kỳ: Trong LVLCK, tr 5–6 thì dịch Law of Periodicity là Định Luật Chu Kỳ, không phải (Law of Cycles)]
+ Định luật Chu Kỳ (Law of Cycles): Định luật Chu Kỳ định đoạt thủy triều, kiểm soát các biến cố trên thế gian và cũng sẽ chi phối cá nhân và như thế thiết lập các thói quen của cuộc sống có tiết điệu – một trong các động cơ chính yếu được định trước để có được sức khỏe tráng kiện. (CTNM, 89)
+ Định Luật Tuần Hoàn: Là Nguyên Lý Cơ Bản II của Vũ trụ gốc (Định Luật này luôn bao hàm định Luật Chu Kỳ - Cung II - Chuyển động xoay tròn, xoắn ốc chiều đi xuống) - Xem chi tiết
- Định Luật này chi phối tất cả các biểu hiện, dù đó là biểu hiện của một Thái Dương Thượng Đế thông qua trung gian một thái dương hệ [Trang 6], hay là biểu hiện của con người thông qua trung gian một hình thể. Tương tự, Định luật này cũng điều khiển tất cả các vương quốc trong tự nhiên (LVLCK, tr 6)
- Định Luật Tuần Hoàn này nằm dưới tất cả các quá trình của tự nhiên (LOS 362)
Người ta nói rằng một sự thấu hiểu hoàn toàn về Luật Tuần Hòan sẽ đưa con người đến một bậc điểm đạo cao cấp. Luật Tuần Hoàn này là nền tảng của tất cả các quá trình trong tự nhiên và việc nghiên cứu nó sẽ dẫn con người ra khỏi thế giới của những hiệu ứng khách quan và đi vào thế giới của những nguyên nhân chủ quan. Người ta cũng nói rằng thời gian bản thân nó đơn giản chỉ là sự liên tiếp của những trạng thái tâm thức và điều này đúng với một nguyên tử, con người hay Thượng Đế.
- Định Luật Tuần Hoàn(797): Luật Tuần Hoàn là một, nhưng vì nó dựa trên xung động ban đầu, và dựa trên nhịp đập của “trái tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể nào (thái dương hệ, cơ chế hành tinh, chuỗi hành tinh, nhóm chân ngã hay đời sống chân ngã cá nhân).
- Năng lượng của Chủ Quản cung 1 vận hành qua Luật Tuần Hoàn (EP I 65)
Năng lượng của Chủ Quản cung này mang đến cái chết của một con kiến hay của một thái dương hệ, một tổ chức, một tôn giáo, hay một chính phủ, một dạng giống dân hay một hành tinh. Ý chí hay mục đích của Ngài thể hiện qua Luật Tuần Hoàn.
- Vi phạm Định Luật Tuần Hoàn là một nguyên nhân của bệnh tật (EH 90)
Tôi muốn nói đến, trước hết, với tiền đề cơ bản rằng bệnh tật và trở ngại thể chất không phải là kết quả của suy nghĩ sai lầm. Chúng có lẽ không là kết quả của bất kỳ suy nghĩ nào, hay chúng sinh ra do sự thất bại trong việc tuân theo các luật cơ bản thống trị Tâm Thức Thượng Đế. Một ví dụ thú vị của sự thất bại này là sự thật rằng con người không tuân theo Luật cơ bản về Nhịp Điệu, luật thống trị tất cả các quá trình trong tự nhiên, và con người là một phần của tự nhiên.
Sự thất bại trong việc hoạt động theo Luật Tuần Hoàn chính là gây ra khó khăn nội tại trong việc sử dụng và lạm dụng kích thích tình dục. Thay vì con người được thống trị bởi các biểu hiện theo chu kỳ của xung động tình dục, và đời sống của anh ta, vì thế, được cai quản bởi một nhịp điệu nhất định; ở thời điểm này chưa tồn tại thứ như thế, ngoại trừ trong những chu kỳ mà người phụ nữ trải qua, và những điều này ít được chú ý đến. Tuy nhiên, đàn ông, không bị thống trị bởi bất kỳ chu kỳ nào như thế, đã bị phá vỡ cũng trong nhịp điệu mà cơ thể người phụ nữ nên là trực thuộc, và điều đó - hiểu một cách đúng đắn - sẽ xác định tập quán của mối quan hệ tình dục, một cách tự nhiên cũng bao gồm cả xung động của người đàn ông nữa. Thất bại trong việc tuân theo Luật Tuần Hoàn và giáng cấp những dục vọng theo sự điều khiển mang tính chu kỳ là một trong những nguyên nhân chính của bệnh tật; và vì những luật này được đưa ra trong cõi trí, một người có thể nói một cách hợp pháp rằng sự vi phạm của họ có một cơ sở tâm trí. Điều này có thể là trường hợp nếu giống dân đang hoạt động về thể trí, nhưng nó không phải vậy. Trong thế giới hiện đại ngày nay, bắt đầu xuất hiện khắp nơi việc vi phạm những luật tinh thần này, đặc biệt là Luật Chu Kỳ, luật xác định thủy triều, điều khiển các sự kiện thế giới và cũng tác động đến cá nhân và thiết lập những thói quen nhịp điệu của đời sống - một trong những khuynh hướng thúc đẩy chính dẫn đến sức khỏe tốt.
Do phá vỡ Luật Nhịp Điệu, con người đã làm tan rã những mãnh lực mà nếu được sử dụng đúng đắn, sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh; bởi làm thế, con người đã tạo nên nền tảng cho sự suy nhược tổng quan và những khuynh hướng hữu cơ nội tại mà chúng có khuynh hướng mở đường cho sức khỏe yếu và cho phép những vi khuẩn đi vào cơ thể, tạo ra những dạng thức bên ngoài của bệnh tật nguy hiểm. Khi nhân loại lấy lại được sự hiểu biết về việc sử dụng đúng đắn thời gian (điều đó sẽ xác định Luật Nhịp Điệu trên cõi hồng trần), và có thể xác định những chu trình đúng đắn cho những biểu hiện khác nhau của lưc sống trên cõi hồng trần, như vậy cái trước đây là thói quen bản năng sẽ trở thành sự sử dụng thông minh của tương lai. Điều này cấu thành một nền khoa học hoàn toàn mới, và nhịp điệu của các quá trình tự nhiên và việc thiết lập, như những thói quen, những chu kỳ đúng đắn cho chức năng thể chất, sẽ đem lại một kỷ nguyên mới về sức khỏe và tình trạng thể chất khỏe mạnh của toàn bộ giống dân.
2. Ba Định Luật Vũ Trụ được kết nối với Định luật tuần hoàn này (6)
a. Định luật Tiết Kiệm ..... định luật thống trị vật chất, phương diện thứ ba.
b. Định Luật Hấp Dẫn/ Hút và Đẩy… định luật thống trị linh hồn, phương diện thứ hai.
c. Định Luật Tổng Hợp.... định luật thống trị tinh thần, hay phương diện thứ nhất.
3. Có bảy Định Luật hệ thống, thống trị sự biểu hiện của Đấng Thái Dương Thượng Đế của chúng ta. (6)
4. Mỗi định luật trong các định luật này biểu lộ chủ yếu trên một trong bảy cảnh giới của thái dương hệ (6)
5. Mỗi luật có hiệu lực tuần hoàn (6)
Mỗi định luật hoạt động theo chu kỳ và mỗi cõi có chu kỳ biểu lộ và chu kỳ yên nghỉ của nó.
6. Mỗi sự sống biểu hiện có ba chu kỳ vĩ đại của nó (6-7)
Sinh ra Sống Chết.
Xuất hiện Phát triển Biến mất.
Giáng hạ tiến hoá Tiến hóa Qui nguyên
Bất động hoạt động Chuyển động nhịp nhàng
Sự sống tĩnh tại Sự sống sinh động Sự sống nhịp nhàng.
7. Kiến thức của các chu kỳ liên quan đến kiến thức về con số, âm thanh và màu sắc (7)
8. Kiến thức toàn bộ của các chu kỳ chỉ được biết đến khi đã là một người tinh thông lão luyện hoàn thiện (7)
Tri thức trọn vẹn của bí ẩn của các chu kỳ chỉ được sở hữu bởi Chân sư hoàn thiện. (LVLCK, 39)
+ Định luật Chu Kỳ (Law of Cycles): Định luật Chu Kỳ định đoạt thủy triều, kiểm soát các biến cố trên thế gian và cũng sẽ chi phối cá nhân và như thế thiết lập các thói quen của cuộc sống có tiết điệu – một trong các động cơ chính yếu được định trước để có được sức khỏe tráng kiện. (CTHNM, 89)
+ Định luật Chu Kỳ (Law of Cycles): Năng lượng Cung II, chuyển động xoay tròn, xoắn ốc, chi phối Định luật Chu Kỳ - Định đoạt thủy triều, kiểm soát các biến cố trên thế gian và cũng sẽ chi phối cá nhân và như thế thiết lập các thói quen của cuộc sống có tiết điệu – một trong các động cơ chính yếu được định trước để có được sức khỏe tráng kiện. (CTNM, 89)
+ Định Luật Tuần Hoàn (Cung I): Luật này nằm dưới tất cả các quá trình của tự nhiên (LOS 362)
+ Chu kỳ và tuần hoàn: Cung II chi phối Chu kỳ xoay vòng tròn - Cung I chi phối tuần hoàn lập lại các Chu kỳ => Phối hợp 2 dạng chuyển động trong không gian thành đường Xoáy trôn ốc tiến thẳng mãi về phía trước, đồng thời vẫn thuộc khối hình tướng xoay tròn ....
+ Bệnh Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2. (CTNM, 383)
+ Xem thêm: Tổng hợp về Chu kỳ
+ 267. HAY BỊ BỊNH
Do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ đa phần có tật bệnh? Nếu có kẻ nam hay người nữ nhiễu hại chúng sanh; người ấy hoặc nắm tay, hoặc dùng cây đá, hoặc dùng dao gậy nhiễu hại chúng sanh.
Người ấy thọ nghiệp này, tạo thành nghiệp ấy đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp địa ngục, lại sanh vào nhân gian, chịu nhiều tật bệnh. (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 13, số 170)
+ Dung mạo xấu xí:
"Lại nữa, này Phổ Quảng! Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bệnh tật, đến trước tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát, chí tâm chiêm lễ trong chừng một bữa ăn, người nữ đó trong ngàn muôn kiếp sẽ được thọ sanh thân hình tướng mạo viên mãn. Người nữ xấu xí đó, nếu không nhàm chán thân gái, thì trong trăm ngàn muôn ức đời thường làm Vương Nữ, cho đến Vương Phi, hoặc con gái dòng dõi Tể Phụ, Ðại Quan, Ðại Trưởng Giả, đoan chánh thọ sanh, các tướng viên mãn.
Do chí tâm chiêm lễ hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát mà được phước như thế."
Lược giảng:
Ðức Phật dạy tiếp: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bệnh tật..."
Trên thế gian này, cùng là con người song tại sao có người thì tướng mạo đẹp đẽ xinh xắn, có người lại xấu xí cục mịch? Hoặc có người thì thân thể tráng kiện, có người lại ốm đau quặt quẹo? Vì lẽ gì mà có những sự khác biệt như thế?
a/ Có mười nghiệp dữ (Thập Ác Nghiệp) khiến cho tướng mạo con người bị xấu xí; những gì là mười?
- Ác nghiệp thứ nhất là thường hay phẫn nộ, thích sanh lòng căm phẫn. Chữ "phẫn" này là một trong hai mươi thứ phiền não; còn "nộ" là phát cáu, nổi giận.
Người nữ đa số dễ nổi nóng, dễ giận hờn. Tuy rằng không phải người nữ nào cũng như vậy, nhưng phần đông thì đều là dễ nổi giận; họ có thể vì một cây kim hay một sợi chỉ mà sanh ra giận dữ, tức tối. Nổi giận, nổi nóng là đặc tính của người nữ.
- Ác nghiệp thứ hai là trong lòng thường chất chứa một mối hiềm nghi và ghét hận. Người nữ thường có tánh đa nghi, cái gì cũng hoài nghi cả; lại còn có thêm lòng phẫn hận nữa. Họ "hận người," cho rằng ai cũng có lỗi, cũng đắc tội với mình, cũng đáng cho mình thù ghét cả.
- Ác nghiệp thứ ba là gì? Là ưa nói dối, thích mê hoặc người khác—làm cho người khác bị điên điên đảo đảo, không biết thế nào cho phải nữa.
- Ác nghiệp thứ tư là gì? Là thích não loạn chúng sanh—đa số người nữ rất thích điều này.
- Ác nghiệp thứ năm là không có lòng ái kính chân thành đối với cha mẹ; cũng có người có vậy, nhưng đa số thì không.
- Ác nghiệp thứ sáu là không sanh tâm cung kính đối với nơi chốn tôn nghiêm của Thánh Hiền và Thiện Thần. (Những vị tu học Phật Pháp mà chứng quả A La Hán đều được gọi là bậc "Thánh Hiền."). Thậm chí ở trước mặt đức Phật, ở chùa chiền, đa số người nữ cũng không sanh lòng cung kính, không có được lòng cung kính chân chánh.
- Ác nghiệp thứ bảy là xâm đoạt tài sản ruộng vườn nhu yếu của Thánh Hiền. Ác nghiệp này chỉ nói về một số người nữ mà thôi, chứ không phải ai cũng như vậy. "Xâm đoạt" tức là cướp lấy, chiếm đoạt một cách ngang ngược.
- Ác nghiệp thứ tám là thường dập tắt những ngọn đèn thắp trước tượng Phật ở trong chùa hoặc trong tháp thờ Phật, không để đèn tiếp tục cháy sáng nữa. Ðây là hành vi thứ tám dẫn đến quả báo xấu xí. Thật ra, cũng rất ít người nữ nào lại thổi tắt đèn thắp trước tượng Phật như thế.
- Ác nghiệp thứ chín là thấy người nào xấu xí thì liền sanh lòng chê bai, khinh miệt, nói rằng: "Ôi! Người gì mà xấu xí quá sức, thật là chẳng ai dám nhìn!" Người nữ thường có thói khinh người như thế—song le, thấy người ta xấu xí mà khinh thường người ta, kết quả là chính bản thân mình cũng bị xấu xí luôn! Quý vị phải biết rằng, trong tự tánh của mình vốn có "tấm gương thu hình"; khi quý vị nhìn thấy một kẻ xấu xí rồi sanh lòng khinh mạn, thì tất cả đều được ghi nhận và thu vào "tấm gương" của quý vị; và đến đời sau, quý vị phải đầu thai làm kẻ còn xấu xí tệ hơn người đó nữa.
- Ác nghiệp thứ mười là thích học theo hoặc bắt chước theo những thói hư tật xấu (ác hạnh), những hành vi không chánh đáng.
Trên đây là mười thứ ác nghiệp hay mười nguyên nhân dẫn đến việc thọ quả báo tướng mạo xấu xí.
b/ Lại có mười nguyên nhân khiến cho thân thể mang nhiều bệnh tật; những gì là mười?
- Thứ nhất, là thích đánh đập mọi loài chúng sanh. Bất luận là chúng sanh nào, hễ trông thấy là đều muốn đánh đập—đây là nguyên nhân đầu tiên của quả báo thân thể phải mắc nhiều bệnh khổ.
- Nguyên nhân thứ hai dẫn đến quả báo bệnh tật khổ sở là xúi giục hoặc sai bảo người khác đánh đập chúng sanh—chó, mèo, chuột..., thậm chí cả trẻ em.
- Thứ ba, là khen ngợi việc đánh nhau. Khen ngợi cái gì? Trầm trồ, khen ngợi cách đánh đập, hành hạ chúng sanh. Do vì tán thưởng cách đánh đập của người khác, nên chính bản thân mình phải chịu quả báo nhiều bệnh tật.
- Thứ tư, là thấy sự đánh đập mà vui mừng. Có những kẻ thấy người khác đánh đập chúng sanh thì trong lòng lại vui mừng hớn hở, cho là chuyện thú vị: "Hay thật! Ðáng đời! Ðánh thật là đẹp mắt!"; xem ra còn thú vị hơn cả coi xi-nê nữa!
- Thứ năm, là thấy chúng sanh bệnh tật đau đớn rên siết, thì trong lòng lại hân hoan vui sướng. Có nhiều người hễ thấy kẻ khác bị ốm đau bệnh hoạn, thì trong lòng lại mừng rỡ, thích thú: "Có chúng sanh bị đau ốm rồi. Ồ! Hay quá! Có thế chứ, hắn bệnh rồi đấy!" Họ không cảm thông thương xót đã đành, lại còn vui cười mừng rỡ nữa.
- Thứ sáu, là thấy người bệnh được bình phục thì trong lòng cảm thấy không vui. Có những kẻ thấy người khác mắc bệnh song sau đó được thuyên giảm hoặc khỏi hẳn thì họ không vui, chính vì thế cho nên kiếp sau chính bản thân họ phải chịu quả báo nhiều bệnh tật, hay đau ốm.
- Thứ bảy, là cho chúng sanh uống thứ thuốc không đúng bệnh. Có những người đem thuốc cho chúng sanh bị bệnh, họ cho thứ thuốc gì? Họ cho thứ thuốc không phải trị đúng chứng bệnh mà chúng sanh đó đương mắc phải. Ví dụ, như người bệnh đau đầu thì họ lại cho thuốc đau bụng, chẳng những thế, họ còn huênh hoang: "Quý vị xem, tôi cho bệnh nhân uống thuốc rồi đó."
- Thứ tám, là thấy người bệnh được thầy thuốc tận tâm chữa trị cho, thì sanh lòng đố kỵ, ghen ghét, nói rằng: "Ôi! Ông bác sĩ đó tốt nhất là chết sớm đi, khỏi cần phải trị bệnh cho hắn nữa! Thấy mà gai mắt!"
- Thứ chín, là thấy người khác ốm đau bệnh hoạn thì lại vui thích, còn mong sao người đó cứ luôn luôn ốm đau, mãi mãi bị bệnh tật hành hạ.
- Thứ mười, là thích ăn vặt, ăn luôn miệng. Mới vừa ăn xong chưa kịp tiêu hóa hết thì lại ăn nữa, miệng lúc nào cũng thấy thèm ăn, muốn ăn luôn miệng, không ngừng nghỉ.
Do mười thứ ác nghiệp này mà phải thọ quả báo nhiều ốm đau bệnh tật.
Chúng sanh sở dĩ tướng mạo xấu xí hoặc thân thể nhiều bệnh tật là đều do phạm vào hai mươi ác nghiệp kể trên mà ra. Nếu không phạm vào hai mươi ác nghiệp đó thì sao? Thì tướng mạo không bị xấu xí, thân thể cũng không bị nhiều bệnh tật.
Như vậy, nếu bị xấu xí và nhiều bệnh tật thì phải làm thế nào? Thì hãy "đến trước tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát, chí tâm chiêm lễ, dùng cái tâm thành khẩn thiết tha mà chiêm ngưỡng lễ bái Bồ Tát Ðịa Tạng trong chừng một bữa ăn, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi lâu bằng ăn xong một bữa cơm, người nữ đó trong ngàn muôn kiếp sẽ được thọ sanh thân hình tướng mạo viên mãn."
Thế nào gọi là "tướng mạo viên mãn"? Ðó là mắt thì giống hình dạng của mắt, tai thì có dáng vẻ của tai. Thế thì, quý vị nói mắt như thế nào là không giống mắt? Thông thường, chúng ta thấy hầu hết mọi người đều có đôi mắt dài dài tựa như hạt hạnh nhân vậy, nhưng có kẻ lại có con mắt hình tam giác hoặc vuông vức bốn cạnh; hoặc đa số có tai dài, hình đĩnh vàng, song có kẻ lại có vành tai nhòn nhọn như mũi dao vậy; có người thì mũi lại hỉnh lên, lỗ mũi lộ ra ngoài. Nói theo sách tướng, người có tướng mũi như thế là người chẳng có chút phước báo nào cả—đó là tướng bần cùng. Gặp những người có tướng như thế thì quý vị chớ nên kết giao làm bạn, bởi vì làm bạn với họ sẽ chẳng có gì tốt đẹp cả.
Tôi có biết một vị Pháp Sư nọ có tướng mắt hình tam giác và mũi thì lộ ra. Khi còn ở Hương Cảng thì tôi giúp đỡ ông cũng nhiều, nhưng sau đó ông ta lại tráo trở, dùng đủ cách để bôi nhọ, phá hoại tôi. Tuy vậy, tôi cũng chẳng hề trách móc gì ông ta cả. Về sau, ông ta mắc phải chứng ung thư mà chết. Lúc sắp chết vẫn còn ham thể diện, chưa bỏ được cái "mặt" này, ông căn dặn rằng: Hãy làm như Pháp Sư Từ Hàng vậy—hãy đặt nhục thân của ông ta ngồi trong cái vại lớn rồi niêm lại, sau ba năm thì hãy mở ra xem, nếu nhục thân vẫn còn tươi tốt thì đem ra thếp vàng. Rút cuộc, để chưa tới hai hôm thì đầu của ông đã gục xuống rồi!
Có người nói với tôi rằng nếu là người có công phu tu hành thật sự, thì bất luận chết đã bao nhiêu ngày, nhục thân của họ vẫn trong tư thế đoan nhiên chánh tọa, chứ đầu không gục xuống như thế! Vị Pháp Sư này sang ngày thứ hai đầu đã gục xuống, thế nhưng ông ta còn ham thể diện, dặn đợi đến ba năm rồi mới mở vại. Tuy nhiên, mấy người học trò của ông ta không dám mở vại, vì họ biết rằng không "chắc ăn"! Cho nên, người có tướng mũi lộ ra như thế thì không được tốt cho lắm!
Lại nữa, đàn ông miệng rộng thì tốt, song đàn bà mà miệng rộng thì không tốt, đây là tướng phân nam nữ. Vận hạn của mỗi người, lúc nào thì tốt, lúc nào thì xấu, đều có thể biết được qua tướng mạo. Chỉ cần xem tướng mạo, người ta có thể biết được thời thanh niên quý vị đã thành công như thế nào, thời trung niên sẽ ra sao, và lúc về già hậu vận sẽ như thế nào. Cho nên, sự hiểu biết của người Trung Hoa về lãnh vực tướng số rất uyên thâm, chỉ xem tướng người mà biết được kẻ ấy mai sau tiền đồ có xán lạn hay không.
"Tướng mạo viên mãn" tức là tốt đẹp toàn diện, như Hồng y Yu Bin (Vu Bân) chẳng hạn, tướng mạo của ông ấy vô cùng tốt đẹp, tuổi già được vận may. Quý vị có thể chú ý tướng mạo của ông ấy—mắt, mũi, miệng đều rất cân xứng, hài hòa, tướng người rất phúc hậu, đức độ. Thế nhưng, rốt cuộc ông lại đi lầm đường; nếu theo Phật Giáo, ông ta có thể trở thành một vị Pháp Sư bất khả tư nghị.
"Tướng mạo viên mãn" là quả báo nhờ đã từng niệm Phật, lạy Phật, hoặc lạy những vị Bồ Tát.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: "Người nữ xấu xí đó, nếu không nhàm chán thân nữ, tuy rằng xấu xí nhưng nếu cô ta vẫn thích thân nữ, vẫn muốn làm người nữ, thì trong trăm ngàn muôn ức đời thường làm Vương Nữ." Nhờ lễ bái hình tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, cô ta chẳng những được thác sanh làm con gái của vua chúa mà còn được tướng mạo xinh đẹp, viên mãn nữa.
"Cho đến Vương Phi." Thậm chí cô ta có thể được thọ sanh làm vợ vua, "hoặc con gái dòng dõi Tể Phụ, Ðại Quan, Ðại Trưởng Giả." Cô ta có thể được làm con gái của quan Tể Tướng, con gái của bậc Ðại Quan, hoặc con gái của vị Ðại Trưởng Giả giàu có.
"Ðoan chánh thọ sanh, các tướng viên mãn." Tướng mạo của cô ta nhất định là rất đoan trang và vô cùng xinh đẹp, mỹ miều.
Như tôi vừa nói ban nãy, nếu cặp mắt thì xinh đẹp nhưng mũi lại không cân đối, như thế là không viên mãn; mũi rất đẹp mà mắt không cân xứng thì cũng không viên mãn; mắt, mũi đều đẹp cả mà tai lại không đẹp, không tương xứng, thì cũng không gọi là viên mãn, hoàn chỉnh. Chẳng hạn, một tai lớn, một tai nhỏ; một mắt to, một mắt nhỏ; mũi nằm lệch sang một bên mặt; miệng dính liền với mũi, hoặc mũi với miệng không tách rời nhau, không biết đó là mũi hay miệng nữa—các tướng mạo như thế đều là không viên mãn. Cũng đều là có mắt, có tai, có mũi như nhau, nhưng lại không hài hòa, không cân xứng, hoặc là lộn xộn dồn về một chỗ với nhau—mắt, mũi, tai tụ về thành một khối; quý vị nói xem, như thế có dễ coi không? Tướng mạo như thế đều là không viên mãn!
"Do chí tâm chiêm lễ Ðịa Tạng Bồ Tát mà được phước như thế." Thế thì, tướng mạo viên mãn, các căn hoàn chỉnh, mắt cũng đẹp, tai cũng xinh, mũi cũng tốt, miệng cũng vừa phải, mặt mày đều dễ nhìn, nói chung là tất cả đều đẹp đẽ, tương xứng, là do đâu? Do có lòng tin chí thành, tha thiết chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng mà được thọ hưởng phước báo tướng mạo đoan trang xinh đẹp như thế!
Có rất nhiều người tướng mạo không được đoan chánh. "Không đoan chánh" tức là những trường hợp có đầu như đầu khỉ, mặt như mặt ngựa, mắt như mắt chuột. Người Trung Hoa có câu nói: Ðầu thỏ, mắt rắn, tai chuột, má ưng.” (Thố đầu, xà nhãn, thử nhĩ, ưng tai.)
Có nghĩa là người mà đầu có hình thù giống như đầu thỏ, mắt như mắt rắn, tai giống tai chuột, má giống má của chim ưng. Con người mà có nhiều tướng súc sanh tập trung lại, biến thành một cái tướng mạo, thì đó là không tốt, không đoan chánh. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Mười nghiệp ác làm tướng mạo xấu xí: Thường với người nữ giới thì Phẫn lộ, hờn giận - Chất chứa hiềm nghi, Ghét hận - Ưa nói dối, mê hoặc người - Thích lão loạn - Không có lòng ái kính - Không cung kính - Thích xâm đoạn tài sản nhu yếu - Thường tắt đèn cúng dường Phật - Thích sanh lòng chê bai, khinh biệt người xấu xí - Thích học đòi theo thói hư, tật xấu.
Và Mười nguyên nhân khiến thân thể nhiều bệnh: Thích đánh đạp - Xúi dục, sai bảo bảo người khác đánh đập - Khen ngợi việc đánh nhau - Thấy đánh đập thì vui mừng - Vui mừng khi người khác bị bệnh đau - Thấy người bệnh khỏi không vui - Cho thuốc không chữa được bệnh - Ganh ghét, đố kị người được bác sỹ chăm sóc tận tình - Thích thấy người khác bị bệnh đau - Thích ăn vặt, ăn luôn miệng. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
* Mười nghiệp xấu ác kết tập sâu dày qua nhiều kiếp sống: Dâm dục - Tham lam - Kiêu mạn - Sân hận - Sảo trá, lừa gạt - Nói giối, bịp bợm, vọng ngữ - Thường oán trách , đổ lỗi - Tà tri, tà kiến, bất chánh - Cong vạy, không ngay thẳng - Thích tranh giành, kiện tụng. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P8 - HT Tuyên Hóa giảng)
* Ngũ độn sử: “Cùng cọp, sói, sư tử, rắn độc, bò cạp.” Trong con đường ấy, ngoài quỷ Dạ-xoa ra còn có cả cọp, sói, sư tử, rắn độc, bò cạp cũng đang rình chờ nữa. “Cọp” là dụ cho lòng tham, tham lam như cọp. Do đó, điều phục được lòng dâm dục tức là thuần phục được cọp; điều phục không nổi lòng dâm dục tức là chưa hàng phục được cọp vậy.
“Sói” là dụ cho cái gì? Ðó là dụ cho lòng sân hận. Loài sói rất lợi hại; lòng sân hận và loài lang sói thì đều đáng sợ như nhau.
“Sư tử” là dụ cho sự ngu si.
“Rắn độc, bò cạp” là dụ cho tánh kiêu mạn và nghi ngờ
“Tham, sân, si, mạn, nghi,” gọi chung là Ngũ Ðộn Sử. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P8 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Có 5 nhóm bệnh tật chính:
1/ Các bệnh do di truyền:
a/ Có sẵn trong chính hành tinh và có hiệu quả nhất định trên nhân loại qua việc tiếp xúc với đất và nước.
b/ Đã phát triển vào các thời kỳ xa xưa trong chính nhân loại và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.
c/ Đặc trưng của gia đình đặc biệt nào đó và được kế thừa bởi người của gia đình này như là một phần của nghiệp quả đã định của người ấy. Các linh hồn giáng nhập vào một số gia đình nào đó nhân cơ hội này.
2/ Các bệnh tật bị gây ra bởi các khuynh hướng trong chính con người. Các bệnh này là do cung thiên tượng của con người chi phối – hoặc là cung thái dương, hoặc là cung đang lên của y (sẽ được nghiên cứu sau).
3/ Các bệnh lây nhiễm vốn có nguồn gốc tập thể và dính líu đến con người như là một phần của nghiệp quả tập thể của con người, nhưng thường thường không liên quan đến nghiệp quả cá biệt của con người.
4/ Các bệnh tật và tai nạn mắc phải vốn là kết quả của hành động bất cẩn hay các thói quen thiếu khôn ngoan trong kiếp sống này và nhất định là chi phối nghiệp quả trong tương lai của con người. Ở đây có điểm lý thú liên quan đến tai nạn có thể được nêu ra. Thường thường tai nạn được gây ra bởi những gì có thể được xem như là “sự bùng nổ của mãnh lực”. Các bùng nổ này do một người hay do một nhóm người tạo ra do sự thù hận hoặc ganh tỵ hoặc không tha thứ, mà các tính chất phản ứng lại hay là bị “quay ngược trở lại” vào cuộc đời cá nhân.
5/ Các bệnh của những nhà thần bí mà hiện nay chúng ta đang đề cập tới. Nói chung, các bệnh này đều gây ra bởi năng lượng của một bí huyệt thấp đã khai mở và linh hoạt đang được chuyển vào bí huyệt cao. (TLHNM II, 547–548)
+ Bệnh tật chỉ có trong thế giới hiện tượng (SHLCĐD9CG, 36)
* Tham khảo: 5. Bài báo viết về virus và vi khuẩn (Do bác MQ-MFVN dịch): Một xem xét cơ bản là loại cảm xúc hoặc đam mê làm cho các loại vi-rút hoặc vi khuẩn khác nhau biểu hiện như một tác nhân hủy diệt và một gói thông tin tiêu cực hoặc phá hủy được thu hút từ thể cảm xúc của hành tinh, và chuyển động tích cực bởi cảm xúc tiêu cực và hoạt động của cá nhân. Cúm rõ ràng không phải là bệnh hoa liễu bởi vì cảm xúc "sợ hãi" là nguyên nhân của nó "có nguồn gốc từ nỗi sợ hãi và lo lắng", trong khi "ham muốn vô độ" là cảm xúc mạnh mẽ là nguyên nhân của các bệnh xã hội / hoa liễu.
+ Các loại bệnh tật: Các Loại Bệnh Tật - Nguồn Phát Sinh Bệnh - Nhóm Bệnh - Nguồn bệnh - Nguồn gốc bệnh - Nguyên nhân gây bệnh - Căn nguyên bệnh ... (Xem: Tổng hợp bệnh tật_Tooltip)
+ Các loại Bệnh: Bệnh ác nghiệp - Bệnh Nghiệp Chướng - Bệnh do Nghiệp - Bệnh nạn do nghiệp - Bệnh nan y - Bệnh ác tính - Bệnh Oan gia - Bệnh Oán gia - Bệnh nạn do Oan gia (Xem: Bệnh ác tính_Tooltip)
+ Thân người vốn có bốn bệnh:
1. Đất: đất thuộc về thân
2. Nước: nước thuộc về miệng
3. Lửa: lửa thuộc về mắt => lửa ít lạnh nhiều thì mắt mờ.
4. Gió: gió thuộc về tai
* Gió tăng thì khí khởi lên, lửa tăng thì nhiệt khởi lên, nước tăng thì lạnh khởi lên, đất tăng thì lực mạnh lên. Vốn từ nơi 4 bệnh này, mà sinh ra bốn trăm bốn bệnh.
- Mùa xuân từ tháng giêng, tháng hai, tháng ba lạnh nhiều - Là vì vạn vật đều sinh ra, nhờ lạnh mà đâm chồi gọi là lạnh nhiều.
- Mùa hè từ tháng tư, tháng năm, tháng sáu gió nhiều - Là vì vạn vật hoa quả tươi tốt âm dương tụ họp gọi là gió nhiều.
- Mùa thu từ tháng bảy, tháng tám, tháng chín nóng - Là vì vạn vật bị khô héo gọi là nóng nhiều.
- Mùa đông từ tháng mười, tháng mười một, tháng mười hai có gió lạnh - Là vì vạn vật hoàn toàn đã mất hết nhiệt gọi là có gió có lạnh.
Xuân Hè: Từ tháng ba, tháng tư, tháng năm, tháng sáu, tháng bảy được nằm. Vì sao? Vì gió nhiều cho nên thân thể tỏa ra.
Thu Đông: Từ tháng tám, chín, mười, mười một, mười hai, giêng, hai không được nằm. Vì sao? Vì lạnh nhiều cho nên thân co lại.
- Ba tháng mùa Xuân có lạnh, nên không được ăn mì đậu - Nên ăn gạo tẻ, sữa đặc và những vật được nấu chín.
- Ba tháng mùa hè có gió, không được ăn khoai, đậu, lúa mì - Nên ăn gạo tẻ, uống sữa.
- Ba tháng mùa thu có nóng, không được ăn gạo tẻ, sữa đặc - Nên ăn gạo tấm, bột gạo rang, lúa mì.
- Ba tháng mùa đông có gió lạnh và âm dương hòa hợp - Nên ăn gạo tẻ, canh đậu phụ, sữa đặc.
=> Khi nằm có lúc gió khởi có lúc diệt, có lúc lửa khởi có lúc diệt, lạnh có lúc khởi lúc diệt. ....(Nguồn: Kinh Phật Thuyết Y Kinh _Thích Đồng Tiến dịch )
+ 100 thứ Bệnh: Chúng ta thấy Thái Thượng Lão Quân của Đạo Giáo đã nói tới 100 thứ bệnh, và cũng nhắc tới 100 món thuốc. Cụ thể:
Thứ nhất là “hỷ nộ vô thường là một bệnh”... Phàm là người ngã bệnh thì là không bình thường, đúng mực, chẳng thể khống chế tâm tình. ... con gái bà ta hai mươi tám tuổi qua đời, để lại hai đứa con thơ. Nửa năm trước khi bà qua đời bèn hỷ nộ vô thường; trước kia, bà ta chẳng như vậy. Do vậy bèn nói đây là điềm báo bệnh tật nẩy sanh, tỏ lộ tâm tình đặc biệt nóng nảy, bộp chộp. Nếu chúng ta có tình hình ấy, cần phải đi khám sức khỏe. Người học Phật phải nên bình lặng, nên niệm Phật hiệu cho nhiều, lạy Phật cho nhiều hòng tiêu nghiệp chướng.
Thứ hai, “quên nghĩa hám lợi là một bệnh”, lợi là thứ con người hiện thời ắt phải tranh giành. ... là bậc đại phú trưởng giả, cất một tòa biệt thự lộng lẫy, từng ở nơi đó một ngày. ... Bình thường có ba người đầy tớ trông nom tòa biệt thự, quét dọn sạch sẽ, ba người ấy hưởng phước ở đó, sống nhiều năm ở đó. Quý vị thấy: Suốt đời ông ta chỉ ở một hôm, quyền sở hữu tài sản thuộc về ông ta, nhưng quý vị thấy ông ta chẳng có cách nào hưởng phước! Ba người hầu có quyền sử dụng, họ hưởng phước, đó là do mạng vận đã định. Chuyện như vậy có thể thấy khắp mọi nơi trên cả thế giới...... Tôi tin tưởng còn có những người suốt cả một đời cũng chưa ở một ngày, sao mà khổ thế? ....
Thứ ba, “Háo sắc, hoại đức là một bệnh”, bệnh này hết sức phổ biến trong xã hội hiện thời. ... “Họa phước không có cửa, chỉ do con người tự chuốc lấy”. ... Trong xã hội hiện thời, quan hệ nam nữ rất hỗn loạn, mỗi ngày có bao nhiêu kẻ phá thai? Phá thai là sát nhân. Luật nhân quả thường cảnh tỉnh chúng ta, đó là chuyện thật! Thiếu mạng phải đền mạng, thiếu nợ phải đền tiền. .... Có người thông linh thấy theo sau cô ta là một bầy tiểu quỷ; vì thế, bản thân cô ta khổ chẳng thể nói nổi, thân thể hết sức tệ, bệnh tật rất nhiều. Bệnh tật là gì vậy? Bệnh tật là do oán thân trái chủ gây rối cô ta. ...
Thứ tư, “Chuyên tâm yêu thương mê mệt là một bệnh”, nay chúng ta gọi là “sủng ái”. Quý vị sủng ái một ai thì người ta thường nói là “thiên vị”. Nếu trong một gia đình, quý vị yêu thương một ai đó quá lẽ, kẻ khác có phục hay không? Khiến cho người khác ganh tỵ, thậm chí khiến cho kẻ khác báo thù, phiền não liền xảy đến. Vì thế, chuyện này rất đáng sợ.
Thứ năm, “Thù ghét, mong cho kẻ khác chết đi là một bệnh”. Oán hận kẻ ấy, không ưa, mong cho kẻ ấy chết ngay lập tức. Điều này thuộc loại oán hận, thuộc loại nguyền rủa, tự nhiên kết thù chuốc oán. ......
Thứ sáu, “Tham dục phóng túng, ẩn giấu lỗi lầm là một bệnh”, tham dục đã là lầm lỗi, lại còn phóng túng thì còn gì để nói nữa? Tham lam không bờ bến, càng bị hãm sâu hơn. Có lỗi phải sám hối, phải sửa đổi, không thể che giấu.... Che giấu lỗi lầm chẳng cho người khác biết, đó là bệnh.....
Thứ bảy, “Chê người, khen mình là một bệnh”, chuyện này cũng thường nẩy sanh. ... Đối với người khác phải tán thán, Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta “lễ kính chư Phật, tán thán Như Lai”. ...
Thứ tám, Điều tiếp theo, “Tự tiện thay đổi là một bệnh”, vấn đề này cũng hết sức nghiêm trọng! Cổ thánh tiên hiền đã lập ra quy củ, chính chúng ta sửa đổi, có phải gánh trách nhiệm nhân quả hay không? Khẳng định phải chịu. Cổ thánh tiên hiền đã lập ra những phép tắc ấy, thường được các tôn giáo hiện thời gọi là “chân lý”, không thể thay đổi! ... Đặc biệt là những vị làm phụ mẫu tuổi trẻ, chẳng có kinh nghiệm dạy dỗ trẻ thơ, tâm mong con trở thành kẻ tài năng quá mạnh, hy vọng con mình có thể vượt trỗi kẻ khác, thứ gì cũng biết, thứ gì cũng học, đứa bé ấy rất đáng thương, chẳng thể chịu đựng nổi, học hành rất đau khổ. Hiện thời, chúng ta thường nghe nói học trò Tiểu Học tự sát, trong quá khứ, chưa hề có chuyện này. Vì sao chúng tự sát? Chúng quá đáng thương, quá khổ! Đó là gì? Lỗi lầm của cha mẹ, không biết dạy con! Thời cổ, trẻ nhỏ đi học chỉ học một môn, “quý dĩ chuyên” mà! Mấy ngàn năm qua đều là như vậy. Học một môn này chưa xong, chẳng thể học môn thứ hai. Nay thì có thể học đồng thời bảy, tám môn, thế thì sao? Chẳng được rồi! (Nguồn: HT Tịnh Không giảng Tịnh độ ...., T 124)
+ Xem thêm: Bệnh thân xác do ăn uống không hợp bốn mùa dưỡng sinh
+ Tật Bệnh: .... Phàm các ác bệnh nan y, độc địa như sốt rét, ung thư... đều do quỷ từ phía sau chi phối, khiến cho ngũ tạng trong thân con người bị xáo trộn vị trí, và tứ đại không điều hòa.
Đó đều là do nghiệp chướng quỷ tác quái. Bởi con người có nghiệp chướng từ lâu đời, cho nên đến thời đến lúc thì quỷ tới đòi nợ. Mà cũng bởi vì con người không đủ dương khí, tức âm thịnh dương suy, cho nên quỷ mới có thể tùy tiện được. Nếu quý vị thường không phiền não và trí huệ luôn hiện tiền, thì sẽ không có sơ hở để ma quỷ thừa cơ lợi dụng.
Nhưng một khi quý vị khởi dục niệm và vô minh, quỷ bèn thừa cơ hội mà lẻn vào một cách dễ dàng.
Từ đó suy ra, tám vạn bốn ngàn tật bệnh là đều có tiền nhân hậu quả cả. Thậm chí khi quý vị bị con muỗi cắn, con ong chích, cho đến tất cả những tai nạn mà quý vị gặp phải, đều là do nhân quả đan dệt với nhau. Người hiểu rõ đạo lý nầy thì một chút lầm lỗi cũng không dám làm, vì hễ có lỗi là tự mình phải chịu báo ứng...... (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị).
+ III- TAI ÁCH - HOẠN NẠN ĐỚN ĐAU - SỢ HÃI KHIẾP ĐẢM
Tai ách hoạn nạn với con người có rất nhiều hình thái, đều mang lại phiền lão khổ đau cho con người. Tất cả đều do Nhân nào - Quả đấy, dù ta tin hay không tin thì quy luật vẫn vận hành không có sai lầm với bất cứ ai. Ai gieo nhân thì người ấy tự chịu nhận quả báo. Các xúc cảm đau đớn:
Mũi tên đâm vào da thịt khiến người bị trúng tên đau đớn, thế nhưng cũng có thể khiến cho người này hoảng sợ, la hét, kinh hoàng, tức giận, oán trách, hoặc cũng có thể ngất xỉu. ..... Đấng Thế Tôn giảng rằng: "Một người bình dị không được học hỏi mỗi khi phải gánh chịu một giác cảm đau đớn, thì sẽ ta thán, oán trách, đau buồn, đấm ngực (hối tiếc vì mình đã lỡ lầm) và hoảng sợ. .... Đấy là cách mà người ấy cảm nhận cả hai thứ khổ đau: trên thân xác và cả trong tâm thần......
"Cảm nhận sự thích thú, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. Cảm nhận sự đau đớn, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. Cảm nhận được giác cảm không thích-thú-cũng-không-đau-đớn, người ấy cảm thấy mình tách rời ra với nó. [Vì thế] có thể xem người ấy như là một môn đệ cao quý được hưởng sự giáo huấn, đã tách ra khỏi sự sinh, sự già nua và cái chết, đã tách ra khỏi mọi thứ lo buồn, ta thán, đau buồn, khốn cùng và tuyệt vọng. Ta bảo cho các tỳ kheo biết rằng người ấy đã thoát ra khỏi khổ đau". (Nguồn: Giảng về sự đau đớn - Kinh Mũi tên)
+ Cuộc sống cần chánh xa những nguyên nhân mang tới sự sợ hãi, khiếp đảm. (Nguồn: Trích đoạn Kinh Sợ hãi - Khiếp đảm)
+ Bệnh tật:
1. Mọi bệnh tật đều là sự mất hài hòa và thiếu sự chỉnh hợp cùng sự kiềm chế.
a) Bệnh tật có trong tất cả bốn giới của thiên nhiên.
b) Bệnh tật thật ra là sự thanh lọc
c) Các phương pháp chữa trị nhất định đều đặc biệt cho nhân loại và bắt nguồn ở thể trí
2. Bệnh tật là một sự kiện trong thiên nhiên.
a) Đối kháng với bệnh tật chỉ làm kích hoạt nó.
b) Bệnh tật không phải là kết quả của cảm nghĩ sai lầm của con người.
3. Bệnh tật là một tiến trình giải thoát và là thù địch của những gì tĩnh tại (static).
4. Định luật nhân quả chi phối bệnh tật cũng như chi phối mọi sự biểu hiện khác. (CTNM, 32)
+ Bệnh tật chỉ có trong thế giới hiện tượng (SHLCĐD9CG, 36)
Mời xem trang Tổng hợp NGUỒN GỐC - LOẠI BỆNH VÀ CÁCH HÓA GIẢI - CHỮA TRỊ BỆNH NẠN VÀ QUỶ THẦN
+ I- SƠ LƯỢC SỐ PHẬN - NGHIỆP BÁO VỀ BỆNH TẬT - HOẠN NẠN
1- Nhân quả - Luân hồi tái sanh là có: Đức Phật dậy: Trồng dưa được dưa - Trồng đậu được đậu. Nhân quả theo ta như bóng theo hình. Đã chót gieo nhân thì không bao giờ mất, sớm muộn cũng buộc phải nhận quả báo dù là quả đắng cay ngọt bùi ... (Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng;)
2- Chòm Sao Bắc Đẩu Thất Tinh: ... Khi thấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi từ tòa đứng dậy, tiến đến trước Phật mà bạch rằng:
Thưa Đức Thế Tôn, con thấy hầu hết nhân dân sang hèn trùng xuẩn động, nằm trong Thái, Thiếu Âm Dương, Ngũ hành Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ thảy đều do nơi Bắc Đẩu Thất nguyên Tinh làm chủ tể. Vì cớ gì mà 7 sao Bắc Đẩu ở giữa trời có uy quyền uy đức tối tôn như vậy? Cúi xin Thế Tôn vì chúng con tuyên thuyết, tất cả nhân Thiên và đại chúng đây thẩy đều quy hưởng.
Khi ấy Phật bảo Bồ Tát Văn Thù và đại chúng rằng: Quý hóa lắm thay! Ta nay sẽ vì ông và chúng sinh ở đời vị lai tuyên thuyết duyên do để cho đời sau đều cùng hiểu biết, công đức lớn lao của 7 sao ấy, phúc thì quyền sinh, ân thí muôn cõi...... Khi ấy Phật bảo tất cả đại chúng rằng:
- Có thiện nam hay tín nữ nào mà hàng năm cứ ngày 8 tháng Giêng, ngày 7 tháng 7, ngày 9 tháng 9, và hàng tháng cứ ngày 7, ngày 9 với ngày sinh mình mặc y phục sạch đối trước tinh tượng chí tâm xưng niệm Danh hiệu 7 vị Phật và 2 vị Bồ Tát thời tùy tâm nguyện cầu gì cũng thấy cảm ứng ngay.
- Lại nếu có thể thắp 7 ngọn đèn bày theo tinh vị rồi lúc nửa đêm dâng cúng các thứ hương hoa tinh thủy dốc lòng khẩn cầu ắt được như ý.
- Ông Văn Thù này! Khắp cõi tể – quan, cư sĩ, tăng – ni, đạo – tục dù sang dù hèn cũng chỉ có 7 vị Bắc Đẩu Tinh Quân làm chủ bản mệnh.....
- Ông Văn Thù này ! Bắc Đẩu Cổ Phật quảng đại từ bi, thị hiện giữa bầu trời, chủ trương niên – mệnh , thống lãnh Càn Khôn. Trên từ vua- chúa, dưới đến nhân dân, trời đất núi sông, chim muông cây cỏ, tất cả đều do Thất Tinh Bắc Đẩu cai quản soi chiếu. ... (Xem Kinh Phật Thuyết Thiên – Trung Bắc Đẩu Cổ Phật)
+ Phẩm tính/ Tính chất/ Phẩm đức (Quality): Dùng "Phẩm tính" để diễn tả Ngôi Hai, Con của Thượng Đế, Christ vũ trụ lâm phàm trong hình hài – một hình hài được sinh ra do mối liên hệ của tinh thần và vật chất. (TLHNM I, 18)
- Ba phẩm tính của Thượng Đế: Thông tuệ, bác ái–minh triết và ý chí hay quyền năng (TTCNT, 98)
+ Mê tín: Chưa tìm hiểu rõ ràng chân tướng sự thật bèn tin tưởng, vậy gọi là mê tín.
- Người học Phật, Chưa tìm hiểu rõ chân tướng sự thật bèn tin Phật Pháp, bèn niệm Kinh lạy Phật, thì đó là mê tín, chẳng sai gì cả! Mê này có lợi.
- Người Chưa tìm hiểu Phật pháp rõ ràng, minh bạch, bèn nói ta là mê tín, do đó họ cũng mê tín => Mê này có hại, chẳng có lợi [Dù cả hai đều là mê tín] => Tùy tiện phê bình người khác thì rất dễ làm mích lòng, rất dễ tạo ác báo như trong Kinh đã nói. Do ngu si - Chưa tìm hiểu rõ ràng bèn nói bừa, tùy tiện phê bình, vậy là không nên, thái độ học vấn như vậy là sai lầm, chẳng đúng đắn.
- Người học Phật pháp chẳng phải nhất loạt thuận theo, nghe theo Ngài, chúng ta ở trong ấy tu học, cầu chứng, chứng minh lời Phật nói là chân thật, chẳng phải giả. Đây là điểm thù thắng của nền giáo học Phật Đà, Đức Phật nói cho bạn, giảng cho bạn hiểu rõ, tín, giải, hành, chứng. (Nguồn: PS Tịnh Không)
Bạn phải tin trước, sau khi bạn tin xong thì tìm cầu giải, chỉ tin thôi không được, nhất định phải giải hiểu rõ. Giải xong, bạn phải cầu chứng, chứng minh điều bạn tin, điều bạn giải, đích thật là vốn có trong tự tánh, chẳng phải đến từ bên ngoài.
+ Kinh Viên Giác, Đức Phật dạy, giáo pháp của Ngài như ngón tay chỉ mặt trăng, là phương tiện để đạt đến chân lý, cho nên đừng lầm ngón tay là mặt trăng, chân lý không nằm trong kinh điển. Nếu y theo kinh điển để giải nghĩa, để tìm chân lý trong những giòng chữ, thì đó chính là chỉ biết nhìn ngón tay mà chưa biết nhìn mặt trăng. Nhưng rời bỏ hẳn kinh điển đi thì lại có thể rơi vào những điên đảo vọng tưởng. Đức Phật nói: "trong 49 năm thuyết pháp ta chưa từng thuyết một chữ". Và chấp lấy phương tiện làm cứu cánh tức là làm oan ức cho chư Phật, mà bỏ mất phương tiện đi thì cũng không có cách gì đạt đến cứu cánh.(Nguồn: Giải nghĩa Kinh)
+ Dị Đoan: Dị đoan là những điều quái lạ, huyễn hoặc, chỉ tồn tại trong niềm tin thiếu lý trí của con người. Mê tín là niềm tin mù quáng, không phân biệt đúng sai, nhắm mắt làm càn, thể hiện sự mê muội và mất lý trí. Mê tín và dị đoan là cặp song sinh. Nơi nào có dị đoan, nơi đó có mê tín. Ai sống với mê tín, người đó chấp nhận các dị đoan. Dị đoan là mê tín. Mê tín thường kéo theo dị đoan.
Đằng sau các dị đoan và mê tín là nỗi sợ hãi về những điều bất hạnh bao gồm cái chết, bệnh tật, tổn thất, bất hạnh và nghịch cảnh. Nỗi sợ hãi là “thực phẩm” thầm lặng nuôi sống mê tín. Những kẻ truyền bá mê tín thường khai thác tâm lý sợ hãi của tín chủ để lợi dụng, từ đó, tạo ra tình trạng tiền mất tật mang. Có một số người truyền bá mê tín không vì mục đích lợi nhuận hay lừa đảo, mà chỉ để làm cho mình được nổi tiếng (dĩ nhiên đó chỉ là hư danh). [Nguồn: Chìa khóa hạnh phúc gia đình - TT Thích Nhật Từ]
+ Tâm Si: Là Ngu Si - Tin vào Tà kiến: Kinh văn: “Phục thứ Long vương, nhược ly tà kiến, tức đắc thành tựu thập công đức pháp”. Bộ kinh Thập thiện mở đầu dạy chúng ta: “Ngày đêm thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quan sát thiện pháp”.
“Tà kiến” là ngu si. Ngu si biểu hiện ra bên ngoài chính là tà tri tà kiến. Tà tri tà kiến là cách nghĩ sai lầm, cách nhìn sai lầm. Cách nghĩ, cách nhìn của bạn hoàn toàn trái ngược với tự tánh, đây gọi là si. Cho nên, si chính là tà kiến. Có thể xa lìa ngu si, đây là việc khó khăn nhất, khó hơn nhiều so với hai điều phía trước. Trong thập thiện, bảy điều phía trước đều dễ dàng đoạn, chỉ có một điều sau cùng này là khó đoạn. .... Thân và khẩu có thể không phạm, có thể tu định. Định có thể đoạn tham, sân, nhưng mà si thì vô phương. Muốn đoạn si thì nhất định phải khai trí tuệ. .... Không khai trí tuệ thì không có biện pháp nào cả. Chúng ta phải biết rằng, ngu si là gốc rễ của mọi phiền não. Tại sao lại có tham, tại sao lại có sân? Là vì ngu si. Tại sao thân tạo ra sát-đạo-dâm; khẩu tạo ra vọng ngữ, lưỡng thiệt? Đều là do ngu si. Từ đó cho thấy, khai trí tuệ là quan trọng. Mục tiêu cuối cùng của tu học Phật pháp là ở khai trí tuệ. .... Nhất định phải nương giới để được định, do định khai tuệ. ... không thể có ngoại lệ.
... Cái trí tuệ không có giới định, trong Phật pháp gọi là “thế trí biện thông”, nhà Nho gọi là “cái học nhồi nhét”, không phải trí tuệ. Bạn nghe nhiều, thấy nhiều, nhớ rất nhiều, đây không phải từ trong tự tánh, mà toàn là đến từ bên ngoài, đây là “cái học nhồi nhét”. Nhà Nho đối với sự việc này nói rất hay: “Cái học nhồi nhét không đủ để làm thầy người khác vậy”. Qua đó có thể thấy, thời xưa lựa chọn thầy, không chọn người học nhồi nhét, mà chọn thầy thật sự có tu, có chứng. ... . Trì giới mới có thể được định. Thiền định thật sâu mới khai trí tuệ, định cạn vẫn không có trí tuệ. Nhà Phật nói: “Tứ thiền bát định” đều không có trí tuệ, cho nên không ra khỏi tam giới. .....
Tà kiến - Chấp trước cái thân này là “Ta”, Phật nói với chúng ta, nghiệp nhân của cõi quỷ là tham dục. Cái đứng đầu chính là tham tính cho mình, tham ái cái cơ thể này, cái sắc thân này, đây là điều đầu tiên, là gốc rễ của tham dục. Chúng ta không biết cái thân này là giả, Phật nói rất hay: “Tứ đại, ngũ uẩn giả hợp mà sanh”, không phải thật.
Tà kiến: Không tin có Nhân Quả, tin nhân quả không sâu vẫn là người hồ đồ =>>> Phải Quy Y (“Quy y” Chính là trong kinh thường nói: “Thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói”) - Lấy Phật làm Thầy... Bồ Tát Phổ Hiền dạy chúng ta “lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, quảng tu cúng dường”. Chúng ta đối với tất cả thiên thần, quỷ thần phải tôn kính, tán thán, cúng dường. Điều này nhất định phải có, đối với quỷ thần phải có thái độ này ; (Xem lời giảng đầy đủ: Kinh Thập thiện - Tập 37 và Tập 38 PS Tịnh Không giảng)
+ Si độc: Si là ngu si. Ngu si mà chẳng biết mình ngu si, đó là ngu si đấy. Có kẻ cho mình là người rất thông minh, có trí huệ; nhưng trên thực tế, nếu quý vị hỏi anh ta: "Anh từ đâu đến đây? Tương lai anh sẽ về đâu?" thì anh ta không biết. Ðến không biết mình từ đâu đến, đi không biết mình đi về đâu, quý vị thử nghĩ xem người như thế có phải là thông minh không? Nhưng chính anh ta lại không thừa nhận mình là người ngu si. Ấy là: Việc nhỏ lợi danh người người thích; Việc lớn sanh tử chẳng ai lo.
Trên thế gian này, việc tìm cầu danh lợi tuy là nhỏ, nhưng người ta suốt ngày quần quật bôn ba, thậm chí hại bạn, giết người, phóng hỏa đều là vì lợi/ Danh cả...... (Nguồn: Phẩm Phổ Môn - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Ảo giác mê lầm do ngu si ám độn: ..... "Này người Bà-la-môn, tại sao lại phải buông bỏ, gạt đi và tránh xa ngọn lửa của những thứ ảo giác? Nếu tâm thức bị ám ảnh bởi những thứ ảo giáo, khống chế bởi những thứ ảo giác, say đắm bởi những thứ ảo giác, thì sẽ là cách bước vào con đường đưa đến các "hành động" thân xác tai hại , các "hành động" ngôn từ tai hại, các "hành động" tâm thần tai hại. Vì thế khi cái chết xảy đến, thân xác tan rã, thì sẽ tái sinh trong cõi địa ngục, gánh chịu phần số bất hạnh, lâm vào cảnh khốn cùng nơi địa ngục. (Nguồn: 11 Loại Lửa - Kinh về Lửa)
+ 30. BA NGHIỆP CỦA Ý: Những gì ba nghiệp của ý cố ý tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ lấy khổ báo?
1) Tham lam; thấy tài vật và các tư cụ sinh sống của người khác thường tham lam ước muốn sao cho được về của mình.
2) Sân nhuế; trong ý ôm ấp oán ghét, nghĩ rằng: chúng sanh kia đáng giết, đáng trói, đáng bắt, đáng loại bỏ, đáng đuổi đi, mong cho kẻ kia thọ khổ vô lượng.
3) Tà kiến/ Ngu si: Sở kiến điên đảo, thấy như vầy, nói như vầy: ‘không có bố thí, không có trai phước, không có chú thuyết, không có nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này, đời sau; không có cha mẹ, trên đời không có bậc chân nhân đi đến chỗ chí thiện, khéo vượt qua, khéo hướng đến, ở đời này và đời sau mà tự chứng tri, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú.
Đó là ba nghiệp do ý cố tạo bất thiện, đưa đến khổ quả, thọ ấy khổ báo. (Nguồn: Trung A Hàm, Kinh Tư, Phẩm 2, số 15)
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. (Xem: Các hạng người rễ nhận thấy)
+ 62 Tà kiến - Kinh Phạm Võng: ... Nội dung bản Kinh rất dài, có thể chia ra ba phần: (1) các giới-luật; (2) các kiến-chấp; (3) nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp đó và cách vượt thoát.
1. Các giới-luật là các điều răn-cấm, gồm có ba cấp: Tiểu-giới dành cho kẻ tu-hành thấp; Trung-giới và Đại-giới dành cho bực tu-hành cao.
2.- Các kiến-chấp là các tà-kiến khiến nghiệp-lực lôi-kéo kẻ dính mắc phải trôi-lăn mãi trong cõi Luân-hồi. Có tất cả 62 kiến-chấp: 18 kiến-chấp liên-quan về quá-khứ và 44 kiến-chấp liên-quan về tương-lai. Trong 44 kiến-chấp về tương-lai bao gồm 5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận.
Năm luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận này do các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương rằng, trong hiện-tại bản-ngã của chúng-sanh có thể đạt tới cõi Niết-bàn tối-thượng: (1) khi bản-ngã tận hưởng năm món dục-lạc (thú vui vật-chất) do các giác-quan mang đến; (2) khi bản-ngã ấy biết lià xa các dục-lạc, đạt đến cõi Sơ-thiền; (3) khi bản-ngã ấy ... đạt đến cõi Nhị-thiền; (4) khi bản-ngã ấy ... đạt đến cõi Tam-thiền; (5) khi bản-ngã ấy ... đạt đến cõi Tứ-thiền. (TN. Mtl 2006-02-27)
3.- Nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp là sự chấp-thủ vào các kinh-nghiệm do sự xúc-cảm của các căn gây nên các cảm-thọ, rồi từ thọ đến ái, từ ái đến thủ (tức là sự chấp-thủ). Nếu biết như-thật các cảm-thọ: sự tập-khởi, sự diệt-trừ, vị ngọt, sự nguy-hiểm và sự xuất-ly khỏi chúng, sẽ vượt ra ngoài các kiến-chấp đó. (Nguồn: 62 Tà kiến - Kinh Phạm Võng)
+ Cấu tạo Tâm: Trong Minh triết Ấn Độ gọi là 5 lớp vỏ. Phật giáo gọi là 5 Ấm hay 5 Uẩn là những cái tích tụ, chất đầy, bao phủ che lấp, như Đức Phật dậy 5 lớp màn che/ Mây mù che lấp mặt trời Chân Tâm:
1- Sắc: Kinh nghiệm của thân xác. Ví như bị bệnh đau thật khó tu, chứ nói chi đến Chân Tâm
2- Thọ: Kinh nghiệm của cảm tình, cảm xúc. Ví dụ khi giận hợp oán trách ... chẳng thể tu, nói gì quán ánh sáng Tâm.
3- Tưởng: Kinh nghiệm của tư duy, quan niệm. Ví như cứ ngồi nghĩ vẫn vơ sao có thể tham thiền, tu định ... để an định Tâm.
4- Hành: Kinh nghiệm của tập khí, thói quen. Ví như không chịu đúng thời tu hành, chẳng thể tiến tu.
5- Thức: Kinh nghiệm của sự nhận tri, nhận biết. Thể trí thường suy nghĩ lầm lạc, vì chúng luôn ở trong trạng thái nhị nguyên.
Cho nên, sự mầu nhiệm của sự tu hành là mình bắt đầu tìm được thời gian, thay đổi tập quán, thay đổi tư tưởng, thay đổi tình cảm, cảm xúc, thay đổi quan niệm và cuối cùng là mình thay đổi thân xác - Nói là Tu tâm nhưng thật sự ra là mình tu tất cả mọi chuyện .. v.v… Đâu có dễ đâu (Nguồn: Xem Thầy Hằng Trường giảng)
+ Đức Phật thường dạy chân lý: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”.
- Theo cách nghĩ của bạn người chết đều thành quỷ. Bạn có ý nghĩ, quan điểm như vậy thì nhất định bạn đi làm quỷ rồi! Có bao nhiêu người suy nghĩ sau khi chết được làm người, hoặc sinh lên cõi trời hay làm Phật, Bồ-tát; điều này rất ít nghe nói đến, chỉ có nghe người chết đều bị làm quỷ. ... (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Hoạt dụng của tâm: Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ.
Thân Tâm: Tâm là chủ của thân; thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.
Phật nói: Cho nên Phật cùng chúng sanh tâm tánh như nhau, tại người tu và không tu, tin cùng chẳng tin, nên có người làm Phật có người làm chúng sanh.
Tâm Tánh hay Tâm Kinh Cang: Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Sao gọi là Kinh Kim Cang?
Đức Thế Tôn nói: Kim Cang là thí dụ tánh của mình, còn Kinh thì thí dụ tâm của mình. Nếu người rõ tâm mình, thấy tánh mình, người này tự trong thân có Kinh, trên sáu căn thường hiện ra hào quang sáng suốt, chói lòa trời đất, đầy đủ công đức như số cát sông Hằng, sanh ra tứ quả tứ tướng, thập thánh tam hiền nhẩn đến ba mươi hai tướng của đức Như lai và tám mươi việc tốt. Hết thảy công đức đều từ nơi mình, do tâm địa mà ra chứ không phải tìm nơi ngoài mà được.
Dụng Tâm Phật - Chân Tâm: Nếu có người minh tâm kiến tánh thường nghe tâm Phật của mình, thường thường nói pháp, thường thường độ chúng sanh, thường thường hiện thần thông, thường thường làm việc Phật, hiểu được lý như vậy mới gọi là thọ trì Kinh Kim Cang, mới gọi là Kim cang bất hoại thân........
Thường quán sát tâm của mình chẳng sanh chẳng diệt, chí thánh chí linh. Gặp cảnh như là có, cảnh qua rồi như là không, nay biết được chân tâm thường giác chẳng mê, chẳng theo vọng tưởng kéo dắt, chỉ nương chân tánh làm chủ, gọi là ngộ Tâm không, câu kệ thứ hai.
Lại quán sát tánh của mình thường lặng yên không lay động, nếu cảm đến liền thông suốt, biến hóa vô cùng, uy linh khó nghĩ, sáng suốt làu làu. Tự mình giác ngộ hiểu biết linh thiêng, vắng lặng vô vi mà không ngoài hữu vi, gọi là ngộ Tánh không, câu kệ thứ ba. (Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ TÂM CHÚNG SINH: ... Trích đoạn Kinh Đức Phật GIẢNG VỀ TỨ ĐẠI cho ngài A Nan.
Ông vốn không biết rằng trong Như Lai tạng, tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc, xưa nay vốn thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, biến hiện tuỳ theo mức độ hiểu biết từ TÂM CHÚNG SINH. Giảng:
"Ông vốn không biết, A-nan, trong Như Lai tạng–Như Lai tạng là Chân tâm, là Thật tướng. Ông không biết rằng nếu ông cứu xét kỹ cho đến tận nguồn cội hư không và lân hư trần, ông sẽ thấy rằng mình không thể nào biết được nó cả. Mà đạo lý ấy lại được tìm thấy trong Như Lai tạng: tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc." Ở điểm rốt ráo, sắc tướng chính là chơn không; và tánh không cũng chính là chơn sắc. Nó vốn không nhiễm ô, không thanh tịnh, không sinh, không diệt, không tăng, không giảm. Cơ bản là bất biến. Tự tánh của nó vốn là thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, chẳng có gì làm cho nó tăng thêm, cũng chẳng bớt đi chút nào.
"Tánh sắc là chơn không, tánh không là chơn sắc." Đây là một hoạt dụng vi diệu "tuỳ theo mức độ hiểu biết từ tâm chúng sinh." Nó đáp ứng tuỳ theo mọi năng lực nhận thức từ TÂM CHÚNG SINH: mức độ của sự nhiệm mầu sẽ hiển bày tương ứng với năng lực nhận thức của mỗi chúng sinh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ Vạn Pháp Đều Do Tâm Tạo
Hỏi câu 190: Làm thế nào để kềm giữ tâm mình, nhất là người tại gia khi sống trong cảnh lục trần? Sống trong xã hội mà có nhiều sự cám dỗ, vậy chúng con nên tu trì pháp môn nào mới chánh đáng?
Đáp: Pháp môn này là muốn cho quý vị tự mình phải có chí khí, phải có sự cứng rắn và tự nói là sẽ không bị ngoại cảnh cám dỗ, dù cho có chuyện gì tới cũng không động tâm. Là vậy thôi chớ không có pháp môn gì cả. Không có một bài chú nào có thể khiến quý vị đừng bị ngoại cảnh lôi cuốn, cũng không có bộ kinh nào có thể kềm chế được tâm vượn ý mã của quý vị. Cho nên cũng vẫn là tự mình phải ra công phu và tự mình phải lập ý chí. Vạn pháp đều do tâm tạo, bởi thế nếu trong tâm quý vị không muốn bị ngoại cảnh lay chuyển thì cũng không ai lay động quý vị được. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)
* Chữ Tâm với con người:
+ Các Tâm: ... Thế Tôn nói ... Tại chỗ phàm phu gọi là tâm tánh, tại nơi thánh hiền gọi là thánh tánh, trong trời đất gọi là thiên tánh. Tới chỗ Bồ tát gọi là Phật tánh, tại chỗ chư Phật gọi là thanh tịnh pháp thân. Nếu không tu hành thì không thể ngộ được bản lai diện mục..... (Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Hoạt dụng của tâm: Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ.
Thân Tâm: Tâm là chủ của thân; thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.
Phật nói: Cho nên Phật cùng chúng sanh tâm tánh như nhau, tại người tu và không tu, tin cùng chẳng tin, nên có người làm Phật có người làm chúng sanh.
Tâm Tánh hay Tâm Kinh Cang: Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Sao gọi là Kinh Kim Cang?
Đức Thế Tôn nói: Kim Cang là thí dụ tánh của mình, còn Kinh thì thí dụ tâm của mình. Nếu người rõ tâm mình, thấy tánh mình, người này tự trong thân có Kinh, trên sáu căn thường hiện ra hào quang sáng suốt, chói lòa trời đất, đầy đủ công đức như số cát sông Hằng, sanh ra tứ quả tứ tướng, thập thánh tam hiền nhẩn đến ba mươi hai tướng của đức Như lai và tám mươi việc tốt. Hết thảy công đức đều từ nơi mình, do tâm địa mà ra chứ không phải tìm nơi ngoài mà được.
Dụng Tâm Phật - Chân Tâm: Nếu có người minh tâm kiến tánh thường nghe tâm Phật của mình, thường thường nói pháp, thường thường độ chúng sanh, thường thường hiện thần thông, thường thường làm việc Phật, hiểu được lý như vậy mới gọi là thọ trì Kinh Kim Cang, mới gọi là Kim cang bất hoại thân........
Thường quán sát tâm của mình chẳng sanh chẳng diệt, chí thánh chí linh. Gặp cảnh như là có, cảnh qua rồi như là không, nay biết được chân tâm thường giác chẳng mê, chẳng theo vọng tưởng kéo dắt, chỉ nương chân tánh làm chủ, gọi là ngộ Tâm không, câu kệ thứ hai.
Lại quán sát tánh của mình thường lặng yên không lay động, nếu cảm đến liền thông suốt, biến hóa vô cùng, uy linh khó nghĩ, sáng suốt làu làu. Tự mình giác ngộ hiểu biết linh thiêng, vắng lặng vô vi mà không ngoài hữu vi, gọi là ngộ Tánh không, câu kệ thứ ba. (Nguồn: Kinh Kim Cang)
+ Chữ Tâm: Đức Phật nói rằng Tâm bao hàm 2 thứ, chính vì cái Tình và cái Tưởng đó mà chúng ta mới có thế giới nội tâm. Thế giới nội tâm này là chủ thể và lúc nào nó cũng cần một đối tượng. Chủ thể và đối tượng/ Tâm nhị nguyên này làm cho chúng ta khó mà nhận ra được Chân tâm. Vọng Tâm nhị nguyên tới chỗ Chân Tâm là con đường tu hành của người phật giáo.
+ Phân biệt Tánh - Thức - Ý và Tâm: Tánh của Tâm ví như đứa trẻ mới sinh ra, cái gì cùng không - Không người, không ta, không chúng sinh, không thọ giả ... Nhưng khi nó uống sữa thì Thức bắt đầu xuất hiện dần dần. Khi nó thấy đói và đòi ăn là cái Ý "Biết" đã xuất hiện. Khi đứa trẻ lớn lên nó muốn cái này, muốn cái kia và tìm cách đáp ứng cái ham muốn đó ấy là Tâm đang phát tác. Như vậy, Tâm bao gồm 4 thứ nhưng tất cả là một, không thể tách dời được. Ngài dạy, cốt lõi hoạt động của Tâm vẫn là do Nghiệp tác quái mà ra cả. (Hỏi - Đáp Gậy Kim Cang Hét_HT Tuyên Hóa)
+ Tìm hiểu sâu rộng về chữ Tâm:
I- Tâm con người - Xem Tooltip: Hiểu về chữ Tâm
1- Tâm Tánh và biểu lộ hoạt động của Tâm tương ứng với Tứ đại - Xem Tooltip: Tâm là Cõi - Tánh là Vua
2- Tâm Mê là Phàm phu - Ngộ là Thánh - Xem Tooltip: Tâm mê Ngộ
II- Cấu tạo của Tâm - Xem Tooltip: Đức Phật dạy Tâm gồm hai thứ "Tình và Tưởng"
1- Giác quan với Tứ đại - Xem Tooltip: Tâm Thấy Nghe Hay Biết
2- Sự tiến hóa của Tâm Thức - Xem Tooltip:
III- Hoạt động của Tâm - Xem Tooltip: Tâm Thức và các căn hoạt động
1- Tất cả Duy Tâm tạo - Xem Tooltip: Tất cả đều do Tâm tưởng sanh
2- Các Thức tâm hoạt động - Xem Tooltip: Tám thức hoạt động; Xem: Hình thành Thức thứ 8
3- Sự tiến hóa của Tâm Thức - Xem Tooltip: Các giai đoạn tiến hóa Tâm Thức
4- Phát triển khai mở Tâm Thức - Xem Tooltip: Khai mở Tâm
+ Chữ tín - Tín nguyện - Tín tâm
+ Tín Tâm - Tin Phật Pháp: Tỷ kheo có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Tỷ-kheo ấy không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Tỷ-kheo ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu với các thiện pháp. Tỷ-kheo ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt các pháp, Thành tựu sự thể nhập thuộc bậc Thánh, đưa đến chân chánh đoạn diệt khổ đau. - Vị ấy suy nghĩ như trên: “Ta có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán,…Phật, Thế Tôn; Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa....” ... (Xem phẩm Vua - Tỷ Kheo)
+ Tín tâm: Kinh Kim Cang nói bạn phải có chữ "Tin". Bát nhã là lý không, bạn nên tin. Giả như bạn không tin lý không thì giảng nhiều hay ít đều vô dụng. Phật pháp như biển cả, chỉ có chữ tin mới vào được. Bạn có tín tâm mới có thể đi vào biển Phật pháp được. Không tin thì không thể có tín tâm được. (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa - HT Tuyên Hóa giảng)
+ NÓI VỀ BỐN MÓN TÍN TÂM
1. Tin căn bản, tức là ưa nghĩ nhớ pháp chơn như.
2. Tin Phật có vô lượng công đức; hành giả thường phải nghĩ tưởng, gần gũi, cung kính và cúng dường chư Phật, để pháp khởi căn lành và nguyện cầu đặng "Nhứt thế trí".
3. Tin Pháp của Phật có lợi ích lớn; hành giả phải thường nhớ tu hành các pháp Ba la mật.
4. Tin Tăng là người chơn chánh tu hành, tự lợi lợi tha, và hành giả thường ưa thân cận các vị Bồ Tát để cầu học cái hạnh chơn thật. (Nguồn: Giảng về Tín Tâm trong Tu hành)
+ Tín tâm trong Tín Nguyện hạnh: Tín tương ưng với Định, niềm tin kiên cố không lay chuyển. Hạnh tương ưng với Giới, chỉ cho sự thực hành, hành trì, công phu tu tập. Và Nguyện tương ưng với Tuệ, trí tuệ sáng suốt soi đường dẫn lối để hành giả đi đúng con đường đến giải thoát.... Hạnh là thực hành. (Nguồn: Tín nguyện hạnh trong Kinh A Di Đà)
+ Triền cái: Cái, Chướng, Ngăn, phiền lão Che lấp thiện tâm.
1- Ngũ cái/ Phiền lão: Tham dục/ dâm - Sân nhuế - Hôn trầm - Trạo hối - Nghi pháp.
2- Ngũ ác: Sát - Đạo - Dâm - Vọng - Riệu.
+ Do pháp Triền cái - 5 Cái thành Mười:
14) Cái gì thuộc nội dục tham/ ngoại dục tham triền cái này thành hai.
15) Cái gì thuộc về nội sân / ngoại sân, triền cái này thành hai.
16) Cái gì thuộc về nội hôn trầm thụy miên / ngoại trầm, miên triền cái này thành hai.
17) Cái gì thuộc nội trạo hối/ ngoại trạo hối, triền cái này thành hai.
18) Cái gì thuộc về nội nghi hoặc / ngoại nghi hoặc, triền cái này thành hai.
IV. Phẩm Triền Cái: Những pháp thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy không phóng dật làm căn bản, làm chỗ quy tụ => là tối thượng => ..... bảy giác chi sẽ được tu tập, bảy giác chi sẽ được làm cho sung mãn. ....
+ Đối với Vàng - Có 5 cấu uế làm vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng: Sắt - Đồng - Thiếc - Chì - Bạc là cấu uế của vàng.
Cũng vậy, người có năm cấu uế/ Triền cái này của tâm => khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tỉnh để đoạn diệt các lậu hoặc. (Nguồn: Kinh ... Giác Chi)
+ Các Thức - Đại trong Phật giáo:
- "Thức" tâm: được định nghĩa như là tạo nên sự phân biệt, Căn (các giác quan) được xem là nơi các chức năng tri giác ấy phát xuất, nó có gốc là thân thể của chúng ta. Trần (cảnh, đối tượng) được định nghĩa như vậy là do phẩm tính của nó là nhiễm ô. Nó không thanh tịnh, nên nó làm nhiễm ô bản tính của sáu căn. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì các thức sinh khởi...
- Mười Tám Giới: ... Lại nữa, A-nan, như ông thường biết được rằng, như ông đã rõ, ông đã được nghe giáo lý quyền thừa trước đây. Giáo lý quyền thừa đề cập đến năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Ông đã hiểu được toàn bộ giáo lý nầy. Nhưng, giáo lý về mười tám giới chỉ được diễn bày như là một pháp môn phương tiện cho hàng Nhị thừa và ngoại đạo để dẫn dắt họ. Nay Như Lai sẽ giảng giải giáo lý ấy thật chi tiết. Đừng trở nên chấp trước với những pháp trần nầy.
- Thức 7 và Thức 8: Thức thứ 7 là Thức Xuất Nhập Nghiệp từ 6 thức tạo nghiệp, qua thức 7 vào Thức 8 là A Lại Da Thức/ Tàng thức/ Thức đi Luân hồi đầu thai tái sanh.
- Thức thứ 9: A đà na vi tế hơn cả Thức thứ 8
Đức Phật dậy
Thức A-đà-na rất vi tế.
(Khiến cho) tập khí chảy như dòng nước xiết
E rằng sẽ lầm đó là chơn hay phi chơn
Nên Như Lai thường không nói đến
Giảng giải:
Đây là giáo pháp mà Đức Phật hiếm khi nói đến. “Như Lai thường ít khi giảng giải cho các ông toàn bộ vấn đề nầy.” Quý vị hãy tưởng tượng: Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giảng giải giáo pháp nầy cho hàng Đại A-la-hán, Đại Bồ-tát, Đại tỷ-khưu. Thế mà nay chúng ta lại có dịp thuận tiện để nghe được giáo pháp vi diệu do chính Đức Phật giảng nói!
Thức A-đà-na rất vi tế. Đây là một thức rất vi tế, thậm chí còn hơn cả thức thứ 8. Thức A-đà-na còn gọi là ‘Bạch tịnh thức.’ Đó chính là chủng tử thanh tịnh. (Khiến cho) tập khí chảy như dòng nước xiết. Thức tinh nhạy và vi tế nầy đặc biệt tạo nên những tập khí cuồn cuộn chảy như dòng nước xiết. Đây chính là cội nguồn luân hồi sinh tử. Ngay khi một niệm hư vọng sinh khởi trong phương diện nhất chân của thức vi tế nầy, thì đó là một niệm vô minh; trở lại, nó khiến cho tập khí cuồn cuộn dấy lên và chảy như dòng nước xiết. Không có gì có thể ngăn cản được dòng tập khí nầy. Dòng nước chảy xiết ở đây dụ cho luân hồi sinh tử của chúng ta. Sinh ra rồi hoại diệt, sống rồi chết, đời nầy sang đời kia, có khi làm người, có khi làm thú, có khi làm chúng sinh ở cõi trời, có khi đoạ vào địa ngục, xoay vần không ngừng nghỉ– đó là tập khí đang tuôn chảy như dòng thác (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5)
+ Sáu Thức - Mười Tám Giới: Trích đoạn Đức Phật dậy..... Lại nữa, A-nan, thế nào mà 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?
Giảng:
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo A-nan, "Thế nào mà 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?"
Mười tám giới là những gì? Là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý–cùng với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; cộng thêm sáu thức nữa: nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Cả ba nhóm gộp lại thành 18. Sáu căn đi với sáu trần, giữa hai cái nầy phát sinh ra sáu thức. Thức được định nghĩa như là tạo nên sự phân biệt, Căn (các giác quan) được xem là nơi các chức năng tri giác ấy phát xuất, nó có gốc là thân thể của chúng ta. Trần (cảnh, đối tượng) được định nghĩa như vậy là do phẩm tính của nó là nhiễm ô. Nó không thanh tịnh, nên nó làm nhiễm ô bản tính của sáu căn. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì các thức sinh khởi. Mắt thấy sắc liền sinh khởi phân biệt như đẹp hoặc là xấu xí. Khởi tâm thích hoặc không thích hình sắc ấy, nên có sự phân biệt. Ở tai cũng như vậy: nghe tiếng êm dịu hoặc không êm dịu, hoặc thích nghe hoặc không thích nghe âm thanh ấy. Khi sinh khởi tâm phân biệt như vậy được gọi là nhĩ thức. Mũi ngửi được mùi thơm và mùi thối. Hai hương trần thơm và thối cũng được phân biệt như trên vậy. Quý vị có thể thích hương thơm và không thích những mùi hương khác, như vậy là trong quý vị đã sinh khởi tị thức. Lưỡi phân biệt được mùi vị. Khi lưỡi (thiệt căn) đi chung với mùi vị (vị trần[41]) liền có sự phân biệt về mùi vị, hoặc là dễ chịu hoặc là ghê tởm–mình có thể thích hoặc không thích, Thân căn đi chung với xúc trần–trơn láng hoặc xù xì, thô ráp hoặc mịn màng, có nhiều dạng cảm giác khác nhau, hoặc ưa thích hoặc không ưa thích. Thân căn đi chung với xúc trần sẽ làm phát sinh thân thức để phân biệt những cảm giác nầy.
Ý căn đi chung với pháp trần. Năm trần vừa mới đề cập ở trên– sắc, thanh, hương, vị, xúc– tất cả đều có sắc tướng biểu hiện.[43] Chỉ có pháp trần là không được biểu hiện qua sắc tướng.[44] Chúng không có một biểu tượng nào. Tuy nhiên, khi ý căn tiếp xúc với pháp trần, tâm ý liền khởi phân biệt, thế nên trong tâm cũng có ý thức phân biệt. Đó là cách mà sáu căn tiếp xúc với sáu trần khiến sinh khởi sáu thức và cùng lập nên 18 giới.
Tất cả chúng đều chứa trọn trong tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
+ NHÃN THỨC: A-nan, như ông đã rõ, nhãn căn và sắc trần làm duyên, phát sinh nhãn thức.
Do vậy, ông nên biết nhãn căn và sắc trần làm duyên, sinh ra giới của nhãn thức. Cả ba chỗ nầy đều không thực có. "Nên cả ba giới của nhãn căn, sắc trần và nhãn thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên." (Nó chỉ là biểu hiện của tánh chân như nhiệm mầu từ Như Lai tạng_HT Tuyên Hóa)
+ NHĨ THỨC: A-nan, như ông đã rõ, nhĩ căn và thanh trần làm duyên, sinh ra nhĩ thức.
Do vậy nên biết, nhĩ căn và thanh trần làm duyên, sinh ra giới nhĩ thức. Cả ba chỗ nầy đều không thực có. Nên cả ba giới của nhĩ căn, thanh trần và nhĩ thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên.
(Cả ba giới trên, cũng vậy, chẳng gì khác hơn chính là sự biểu hiện tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng _HT Tuyên Hóa giảng)
+ TỊ THỨC: A-nan, như ông đã rõ, tị căn và hương trần làm duyên, sinh ra tị thức.
Vậy nên biết rằng thiệt căn, vị trần làm duyên, sinh ra giới thiệt thức. Cả ba chỗ đều không. Cả ba giới của thiệt căn, vị trần, và thiệt thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng không phải tính tự nhiên. Rốt ráo, giới của thiệt thức từ đâu sinh ra? Cũng vậy, đó là biểu hiện tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
+ THÂN THỨC: A-nan, như ông đã rõ, thân căn và xúc trần làm duyên, sinh ra thân thức.
Vậy nên biết rằng thân căn, xúc trần làm duyên, sinh ra giới thân thức. Cả ba chỗ đều không. Cả ba giới của thân căn, xúc trần, và thân thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng không phải tính tự nhiên.
Giảng:
Những gì được giảng giải trước đây đều là pháp phương tiện. Pháp đang được giảng nói bây giờ là Đệ nhất nghĩa đế, là giáo lý rốt ráo của Trung đạo, hoàn toàn khác với pháp môn được giảng nói trước đây. Năm uẩn, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới–tất cả các pháp nầy đều không sinh khởi do nhân duyên, cũng chẳng sinh khởi do tự nhiên.
+ Ý THỨC: A-nan, như ông đã rõ, ý căn và pháp trần làm duyên, sinh ra Ý thức.
Giảng: Thế thì chúng là gì? Ý căn, pháp trần, và ý thức được sinh ra khi ý căn và pháp trần tiếp xúc nhau đều là lưu xuất từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng.
+ Thức Đại và Tánh của Thức Đại
A-nan, tánh của thức đại không có nguồn gốc, duyên theo sáu căn trần hư vọng mà có. Nay ông nhìn khắp thánh chúng trong hội nầy, khi mới dùng mắt xem qua; nhìn chung, chỉ thấy như bóng trong gương, chưa phân tích rõ được.
Giảng:
Sáu đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến đã được giảng rõ. Nay thêm thức đại để thành bảy đại. 'Thức' là gì? Là sự nhận biết hoặc không nhận biết. Biết cái gì và không biết cái gì? Không biết gì cả chính là biết.
Tại sao tôi nói thức không biết gì cả? ... Thế nên, sáu đại được giảng giải trên đây và đại thứ bảy nầy–thức đại– cũng giống như bảy anh em ruột. ....(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Thức thứ sáu và thứ bảy: ... Muốn học thuộc Chú Lăng Nghiêm, đừng rơi vào sự tính toán phân biệt, càng phân biệt thì bạn càng khó học, càng tính toán thì càng không hiểu. Đừng nghĩ : ‘’ Tại sao tôi không thể học Chú này ? ‘’ Đừng nghĩ gì hết ! Mà phải đọc tụng, đọc tụng như là bổn phận và trách nhiệm của bạn. Đừng học với sự vọng tưởng phân biệt so lường. Phân biệt là thức thứ sáu, tính toán là riêng về thức thứ bảy. Kinh Lăng Nghiêm mà chúng ta đọc là do nguyên nhân vấn đề của Ngài A Nan. Tại sao ? Vì Ngài chú tâm việc học mà coi nhẹ việc tu định. Nếu bạn muốn thâm nhập Chú Lăng Nghiêm, thì bạn phải trừ khử sạch sự tính toán và phân biệt. Đừng dùng thức để học Phật Pháp, mà dùng chân tâm, đó mới chính là diệu pháp. (Nguồn: Chú Lăng Nghiêm - Kệ và Giảng - HT Tuyên Hóa)
+ Xem thêm Duy Thức học nhập môn về chức năng và hoạt động của Nhãn - Nhĩ - Tỷ - Thiệt - Thân - Ý thức. Tâm pháp, Tâm sơ pháp. Trạng thái vận hành của Ý thức. Thức Mê - Ngộ. Thức Mạt na (Thứ 7), A Lại Da thức (Thứ 8) ..... (Nguồn: Tâm và Các Thức-TT Thích Viên Thông)
+ Đức Phật giảng về tứ đại:
+ Các Đại và Tánh Các Đại: Ông vốn không biết rằng trong Như Lai tạng, tánh nước là chơn không, tánh không là chơn thủy, xưa nay vốn thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, biến hiện tuỳ theo mức độ hiểu biết từ tâm chúng sinh.
Giảng:
"A-nan, Ông vốn không biết rằng trong Như Lai tạng, tánh nước là chơn không." Cũng vậy, thể tánh của nước chính là chơn không. "Tánh không là chơn thủy." Thế ông cho rằng nó từ đâu mà có? Nó vốn từ trong Như Lai tạng." Nó có trong chân tâm của mỗi chúng sinh như chúng ta. Chúng ta có đầy đủ không những thủy đại, mà còn có hỏa đại, địa đại, phong đại. Hoàn toàn có đủ trong tâm chúng ta địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại , và thức đại là bảy đại, tất cả đều có đủ trong tâm chúng ta. Nhưng, mặc dù chúng hiện hữu ở đó, chúng vẫn không lẫn lộn hay ngăn ngại nhau. "Xưa nay vốn thường thanh tịnh, trùm khắp pháp giới. Tánh của nước vốn thường thanh tịnh và trùm khắp cả pháp giới. Ông nên biết rằng trong thể tánh thanh tịnh là sự hiện hữu mầu nhiệm (diệu hữu)."Trong chơn không là diệu hữu. Nếu ông quán chiếu sâu vào đạo lý nầy, ông sẽ liễu ngộ được. Nói cách khác, khi chính ông có công phu[89]– khi ông tọa thiền, có được định lực và phát khởi trí huệ, thì ông sẽ nhận ra rằng đạo lý được giảng giải trong kinh nầy là chân thật, không hư ngụy. Nhưng, đạo lý nầy không dễ gì hiểu được nếu ông cố dò tìm nó bằng thức tâm.
"Biến hiện tuỳ theo mức độ hiểu biết từ tâm chúng sinh. "Bất kỳ các loài chúng sinh trong 9 pháp giới[90] nếu có tâm mong cầu điều gì đều được đáp ứng đúng theo sở nguyện. Bất luận họ muốn điều gì, bất kỳ họ muốn bao nhiêu, đều được thỏa nguyện. Nếu quý vị muốn có một ly nước, sẽ có ly nước để uống. Nếu quý vị muốn có hai ly nước, sẽ có hai ly nước để uống. Mọi ước nguyện của mọi loài chúng sinh đều được đáp ứng xứng theo tâm lượng của họ........
+ Thức Đại và Tánh của Thức Đại
A-nan, tánh của thức đại không có nguồn gốc, duyên theo sáu căn trần hư vọng mà có. Nay ông nhìn khắp thánh chúng trong hội nầy, khi mới dùng mắt xem qua; nhìn chung, chỉ thấy như bóng trong gương, chưa phân tích rõ được.
Giảng:
Sáu đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến đã được giảng rõ. Nay thêm thức đại để thành bảy đại. 'Thức' là gì? Là sự nhận biết hoặc không nhận biết. Biết cái gì và không biết cái gì? Không biết gì cả chính là biết.
Tại sao tôi nói thức không biết gì cả? Ông nghĩ rằng ông biết được cái gì? ...... Thế nên, sáu đại được giảng giải trên đây và đại thứ bảy nầy–thức đại– cũng giống như bảy anh em ruột. .... Quý vị không nhận biết được địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - Là Tứ đại; và quý vị không nhận biết được không đại và kiến đại. Ngay cả ngài A-nan cũng không nhận biết được chúng. Thế nên Đức Phật... đã tìm ra bảy anh em của quý vị.... Quý vị đã từ bỏ của báu vốn có của mình, phong cảnh quê hương của mình. Nên khi quý vị đi xa, quý vị lìa bỏ cội gốc mà bám lấy cành nhánh. Quý vị từ bỏ những gì thân thiết gần gũi mà tìm cầu những thứ xa xôi. Quý vị đi ra và kết thân với nhiều người. Vậy chẳng phải điên đảo hay sao? Tại sao quý vị hướng ra bên ngoài kết bạn với người khác mà không nhận ra những người anh em ruột thịt của mình? Vì quý vị nhận cái hư giả làm cái chân thật. Quý vị nhận giặc làm con. Quý vị nhận giặc cướp làm bạn mình và hướng ra bên ngoài dùng thức tâm để ứng xử mọi việc.....
Trong giáo lý Tiểu thừa, khi quý vị nhận những gì hư giả làm cái chân thật và dùng thức tâm để ứng xử mọi việc thì rất là tai hại. Nay quý vị đã nhận ra cái hư giả và cái chân thật. Đã nhận ra được bảy anh em ruột thịt trong nhà, thế là bây giờ, mặc dù thức tâm là hư giả, nhưng nó đã chuyển thành Như Lai tạng. Nó vốn biến hiện từ Như Lai tạng. Đó được gọi là 'chuyển tướng thành tánh.' Trong quá khứ, quý vị đã dính mắc hoàn toàn vào tướng, nhưng nay quý vị đã nhận ra được tự tánh, quý vị sẽ không còn từ bỏ cái thân thiết gần gũi để tìm kiếm cái xa xôi nữa, không còn từ bỏ gốc để chạy theo nắm bắt nhành ngọn nữa, hoặc không còn nhận giặc làm con nữa.
"A-nan, tánh của thức đại không có nguồn gốc."– Nó không đến từ nơi nào cả. Nói cách khác, nó không có nguồn gốc. "Thế thì, nó là cái gì?" Quý vị liền hỏi.
Nó "duyên theo sáu căn trần hư vọng mà có." Để hiện hữu, nó phải mượn nhờ sáu căn: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý và sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp– là 'kiến phần' và 'tướng phần.[104]'
Đến đây kinh văn sẽ đề cập đến hoạt dụng của thức.
Rồi trong tâm thức ông, theo thứ tự chỉ ra, đây là Văn-thù, Phú-lâu-na, đây là Mục-kiền-liên, đây là Tu-bồ-đề,
Ông phải suy xét thật kỹ, quán sát thật tường tận. Cái thấy phải nương nhờ con mắt ông, sắc tướng là cảnh của tiền trần. Những gì có tướng mới thành có, chẳng có tướng ắt thành không. Cái thức như vậy, do đâu mà có?
Thức thì linh động (Phân biệt, linh hoạt), cái thấy trong lặng, chẳng hòa chẳng hợp. Tánh ngửi, tánh nghe và tánh hay biết cũng đều như vậy. Chẳng lẽ tâm thức không do đâu mà có?
Nếu thức ấy chẳng do đâu sinh ra, thì nên biết tác dụng của kiến văn giác tri vốn vắng lặng cùng khắp, tánh chẳng do đâu mà có. Hai đại ấy (thức đại và kiến đại) cùng với hư không, địa, thủy, hỏa, phong, đều gọi là bảy đại, tánh thật viên dung, đều là tánh Như Lai tạng,
A-nan, tâm ông nông cạn, không ngộ được cái kiến văn, không rõ được cái giác tri vốn là tánh Như Lai tạng. Ông nên quán sát sáu chỗ thức tâm nầy là đồng hay khác, là không hay là có, là chẳng đồng chẳng khác, là chẳng không chẳng có?
Giảng:
"Không ngộ được cái kiến văn–và tánh biết ngửi, tánh biết nếm và tánh hay biết, tác dụng của chúng, và không rõ được cái giác tri đều vốn là tánh Như Lai tạng. Ông không nhận ra được đạo lý Đức Phật đã giảng giải về địa, thủy, hỏa, phong, không và kiến, ông không nhận ra được cái tánh hay biết cũng đồng là tánh Như Lai tạng. Ông không hiểu được rằng tất cả đều là tác dụng lưu xuất từ Như Lai tạng."
"Ông nên quán sát sáu chỗ thức tâm." Sáu chỗ của thức tâm là địa, thủy, hỏa, phong, không và kiến. Sáu lĩnh vực của thức tâm nầy là đồng hay khác, là không hay là có, là chẳng đồng chẳng khác? Nó chẳng đồng hay chẳng khác? Là chẳng không chẳng có? Có phải nó chẳng không mà cũng chẳng hiện hữu? Ông nói sáu thức nầy như cái gì?
Ông vốn không biết, trong Như Lai tạng tánh của thức là rõ biết sáng suốt, tính giác ngộ sáng suốt chính là chơn thức. Bản giác trong sáng nhiệm mầu, vắng lặng cùng khắp pháp giới. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Quyển 3)
A- Các Hành tố - Theo âm dương ngũ hành
1. Nhất Nguyên hay Thái Cực: Vật chất hỗn độn, dung hợp
2. Chia Âm Dương: Duyên khởi chia Âm Dương và phân chia mãi vô cùng tận, thiên biến vạn hóa biến thành muôn vật, muôn việc vi diệu
3. Tứ đại: Chữ Đại - Là yếu tố năng lượng bản nguyên biểu lộ trùm khắp HƯ KHÔNG BIẾN PHÁP GIỚI => Đại = To lớn vô cùng tận, không bờ mé. Mỗi Đại có bản Tánh riêng biệt nên gọi là Đạo như đức Phật giảng cho Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát trong "Đại Thừa Kim Cang Luận": Đất có tánh chắc, nước có tánh thông, lửa có tánh nóng, gió có tánh động kêu là tứ đại. Các Đại là chất liệu nền tảng để các năng lượng biểu hiện thành các tầng lớp Vật chất từ Vi tế đến thô kệch nhất. Trong Dịch học gọi là Ngũ hành. [NTH]
B- THEO MINH TRIẾT MỚI:
+ Tứ đại (vật chất vi tử, yếu tố): X. Yếu tố, Hợp tố.
+ Tứ đại - Dĩ thái: Dĩ thái là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi hồng trần. Dĩ thái có 4 phân thân của nó là Tứ đại: Phong (Air), Hỏa (Fire), Thủy (Water), Địa (Earth). (LVLCK, 43)
+ Ngũ Đại có 5 yếu tố: Dĩ thái (Ether), Không khí/ Phong (Air), Lửa (Fire), Nước (Water), và Đất (Earth) .(ASCLH, 157)
+ Dĩ thái - "Thuộc về Sao": Khi tiếp xúc với thế giới dĩ-thái, ấn tượng đầu tiên được mang lại luôn luôn là một ánh sáng đầy sao, sự sáng chói, sự nhấp nháy (LVHLT, 221)
+ Tattva hay vật chất vi tử của một cõi là kết quả của một vùng xoáy được tạo nên bởi tattva của cõi kế trên trong các tập hợp thô trược nhất của cõi cao kế trên đó, vùng xoáy này được tạo ra bởi một tanmatra mới phát ra từ Isvara, các yếu tố:
1. Cõi Tối Đại Niết Bàn (cõi thứ 7). Do sự phối hợp của vật chất vi tử Cõi này mà 6 phân cảnh thấp của cảnh giới (cõi) cao nhất được tạo thành.
2. Cõi Đại Niết Bàn, vật chất vi tử của cảnh giới Đại Niết Bàn, cõi thứ 6.
3. Tiên thiên khí (Tiên thiên khí đại, tương ứng với Dĩ thái (ether), âm thanh (sound), vật chất vi tử của cõi Niết Bàn (Nirvana), cõi thứ năm.
4. Yếu tố Phong (Phong đại), tương ứng với Không Khí (Air), xúc giác (Touch), vật chất vi tử của cõi thứ tư, cõi Bồ Đề. (Bất cứ sự động nào đều phát sinh gió)
5. Yếu tố Hỏa (Hỏa đại), tương ứng với Lửa, ánh sáng, vật chất vi tử của cõi thứ ba, cõi trí (Manasic plane).
6. Yếu tố Thủy (Thủy đại), tương ứng với Nước, Vị giác (taste), vật chất vi tử của cõi thứ hai, cõi cảm dục
7. Yếu tố Thổ (Thổ đại), tương ứng với Đất, khứu giác (smell), vi tử hồng trần của cõi thứ nhất, cõi trần. (LVLCK, 56, 94)
- Xem thêm Hợp tố, Tattvas hay là các biến phân của lực dưới 7 hình thức của chúng. (ASCLH, 153)
- Xem thêm: Sách Ngũ hành - Minh Triết mới
+ Tứ đại: ... Kế đó Vật Chất Nguyên Thuỷ tự phân tán và hợp thành những Nguyên Tố qui định thành Tứ Đại trong Nguyên Tố thứ năm, tức Dĩ Thái, một biến thể của Akasha, tức chất Tinh Quang (Anima Mundi) hay Mẹ của Vũ Trụ. Tại sao và bằng cách nào có sự hình thành những “Chấm điểm, Đường thẳng, Tam giác, Khối vuông, Vòng tròn” và sau cùng là những khối “Bầu Tròn”? Thiên bình luận nói rằng đó là luật Thiên Nhiên và vì Thiên Nhiên tự biểu lộ theo những phương pháp hình học. (Nguồn: Giáo lý bí nhiệm)
+ Ngũ hành: ... Sự liên hệ chặt chẽ giữa những Mãnh Lực thiên nhiên đó (dưới bàn tay dìu dắt của các Đấng Cao Cả) với các loại ngũ hành của Vật chất thuần tuý tạo nên những hiện tượng vật chất như ánh sáng, nhiệt lực, từ điện, v.v....... Điện lực, ánh sáng, nhiệt lực v..v… đã được gọi một cách chính xác là “Cái Bóng của Vật Chất Vận Chuyển” ....
.... Nhưng, đằng sau mãnh lực này, có tiềm ẩn những nguyên nhân thâm diệu cao xa hơn, cũng như người chủ xe điều khiển người đánh xe từ bên trong. Đó là những Đấng Thông Tuệ, sáng suốt, từ tinh hoa của các Ngài phát xuất những trạng thái “Mẹ”, tạo nên vô số Tinh Linh thuộc về ngũ hành trong thiên nhiên, cũng như mỗi giọt nước chứa đựng vô số Sinh vật vô cùng nhỏ bé (Infusoria) (1).....
g) NHÓM THỨ SÁU và THỨ BẢY có đặc tính thấp hơn của Tứ thể hạ. Đó là những Thực Thể hữu thức, thể chất mong manh như sương và vô hình như chất Dĩ Thái, xuất phát từ nhóm trung ương đầu tiên gồm có Bốn vị Thiên Vương. Đến lượt các Nhóm ấy lại phóng phát ra vô số các nhóm nhỏ, nhóm thấp nhất là những tinh linh ngũ hành, gồm vô số loại, từ những loại vô sắc và không có thể chất - những TƯ TƯỞNG tuyệt đích của các Đấng sáng tạo ra chúng - dẫn xuống đến vi trần mà mắt người không nhìn thấy ..... (Nguồn: Giáo lý bí nhiệm)
+ Thứ tự tính vật chất tăng dần thì bảy nguyên tố vũ trụ là (Thư của Chơn sư, 90):
1. Akāsha (đôi khi được gọi là Aether),
2. Thủy (Linh hồn Thế giới hoặc chính xác hơn là phần cao của nó),
3. Dĩ thái (thường được viết là Aether),
4. Tứ Đại: Lửa, Gió, Nước (phần thấp của Linh hồn Thế giới) và Đất.
- Ba nguyên tố đầu tiên tương ứng với ba cõi cao, “vô sắc giới” (aroupa) của vũ trụ,
- Bốn nguyên tố cuối cùng đôi khi được gọi là 4 phương chính (Giáo Lý Bí Truyền I, 359, 501) tương ứng với bốn cõi thấp, “sắc giới” (roupa). (Nguồn: Thông thiên học)
+ CÁC ĐẠI VÀ LUÂN XA: Một manh mối cho ý nghĩa của các thuật ngữ này được tìm thấy trong việc công nhận sự thực huyền bí sau đây. (Xem Tooltip: Các đại và luân xa)
+ Theo truyền thống Ấn Độ thì 4 đại: Địa, Thủy. Hỏa, Phong là 4 đặc tính của vật chất hay là các nhân tố tạo thành vật chất. Trong đó:
- Địa Đại là nguyên tố rắn chắc có tác dụng giữ gìn tức là tính bền của vật chất.
- Thủy Đại là nguyên tố ướt mềm có tác dụng nhóm họp tức là tính dính ướt của vật chất.
- Hỏa Đại là nguyên tố phóng quang ấm áp có tác dụng thiêu cháy, nấu chín tức là tính ấm áp của vật chất.
- Phong Đại là nguyên tố bốc hơi (Chất hơi) rung chuyển có tác dụng lay động tức là tính động của vật chất.
Như vậy bất kỳ một thứ nào nếu không có 4 tính năng lớn đó thì không phải là vật chất, nghĩa là mọi thứ vật chất đều phải dựa vào sự tương tác tương tùy của bốn đặc tính này mà tồn tại.
+ Linh hồn của các Hành Tố. Các sinh vật tiến hóa trong 4 giới/ 4 Hành – Địa, Phong, Hỏa và Thủy. Tín đồ Do Thái Bí giáo gọi các tạo vật này là Thổ tinh linh (thuộc về đất), Phong tinh linh (thuộc về không khí), Hỏa tinh linh ( thuộc về lửa) và Thủy tinh linh (thuộc về nước).… (NGMTTL, 111–112)
C- THEO PHẬT GIÁO: Trong Phật giáo có các thuyết: Tứ đại, Ngũ đại, Lục đại, Thất đại...
I. Sao gọi Tứ đại: Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật: Sao kêu là tứ đại?
Thế Tôn nói: Đất có tánh chắc, nước có tánh thông, lửa có tánh nóng, gió có tánh động kêu là tứ đại. Trong thân người cũng có tứ đại hòa hiệp mới thành một thể, nên da thịt gân cốt hiệp thành cái thân tên là địa đại. Nước miếng, nước tiểu và máu tươi nhuận cái thân tên là thủy đại. Trong mình hơi ấm vận chuyển điều hòa cái thân tên là hỏa đại. Tay chân co duổi đi đứng tới lui, chuyển động cái thân tên là phong đại. Hễ tứ đại điều hòa thì thân an lạc; tứ đại chẳng hòa ắt sanh bệnh khổ. Nên địa, thủy, hỏa, phong kêu là tứ đại. (Nguồn: Đại Thừa Kim Cang Luận)
1. Tứ đại vốn lay động: Nếu như các sự thấy, nghe, hay, biết, bản tính viên mãn cùng khắp, vốn không lay động; thì nên biết kiến đại cùng với hư không vô biên chẳng dao động và bốn thứ vốn lay động là địa, thủy, hỏa, phong, gọi là sáu đại, vốn thật viên dung, đều là tánh Như Lai tạng, vốn không sinh không diệt.
Giảng: ".... đất, nước, lửa, gió, không và kiến – gọi là sáu đại, vốn thật viên dung, đều là tánh Như Lai tạng." Đó đều là biểu hiện của tánh Như Lai tạng. "Vốn không sinh không diệt.". (Nguồn: Kinh Thủ LN-Q.3 tiếp Q.2- HT Tuyên Hóa)
2. Tứ Đại nương tựa vào nhau để tồn tại: Con Người nương tựa vào lúa gạo để tồn tại - Lúa gạo dựa vào Đất - Đất dựa vào Nước - Nước dựa vào Gió - Gió Tựa vào Hư Không - Hư Không không có nương tựa, nhưng Nhân (nhờ Mặt Trời và Mặt Trăng) mà mà có Hư Không - Mặt trời, mặt trăng nương vào Tứ thiên vương mà tồn tại - Tứ Thiên vương nương vào Tam thập tam thiên mà tồn tại .... Nhẫn Nhục dựa vào Niết Bàn tồn tại - Niết Bàn không dựa vào đâu mà tồn Tại - Là Pháp Tối Thắng Của Đức Phật. (Nguồn: mục 777- Xem tại đây)
3. Hiểu đơn giản: Gồm đất (địa đại), nước (thủy đại), gió (phong đại) và lửa (hỏa đại). Bốn đại là bốn yếu tố căn bản tạo thành vật chất:
- Đất tượng trưng cho độ rắn chắc, kết cấu của vật chất;
- Nước tượng trưng cho độ ẩm, sự hiện diện của nước trong vật chất;
- Lửa tượng trưng cho nhiệt năng hay năng lượng, hàm chứa trong mọi vật chất;
- Gió tượng trưng cho sự chuyển động, thay đổi của các phân tử cấu thành vật chất.
Tất cả vật chất trong vũ trụ đều do bốn tính chất này hòa hợp theo những tỷ lệ khác nhau mà tạo thành. Thân thể con người cũng không phải ngoại lệ, nên được gọi là thân tứ đại. Vì thân tứ đại là cội nguồn của mọi sự tham dục, khổ não nên người tu tập nên quán xét nó như là con rắn độc (tứ đại độc xà).(Nguồn: Định nghĩa tứ đại)
+ Đại khái các tông Câu xá, Duy thức... đều áp dụng thuyết Tứ đại, vì tứ đại tạo ra tất cả các sắc pháp nên gọi là Tứ đại chủng hay Năng tạo tứ đại.
- 4. Hiểu toàn diện: Bốn yếu tố lớn hình thành nên vật chất, gồm:
(1) Địa Đại (Đất), bản chất của nó cứng rắn, có tác dụng bảo trì.
(2) Thủy Đại (Nước), bản chất ẩm ướt, có tác dụng thâu nhiếp, tập trung.
(3) Hỏa Đại (Lửa), bản chất ấm nóng, có tác dụng thành thục.
(4) Phong Đại (Gió), bản chất động, có tác dụng sinh trưởng.
- Khi 4 yếu tố này hợp lại thì có thể hình thành nên vạn vật, và khi chúng tan biến thì vạn vật cũng theo đó mà tiêu diệt; cho nên, không có người sáng tạo ra vạn vật, mà cũng chẳng có vạn vật nào được sáng tạo cả; vì vậy, trong Phật Giáo vẫn thường dùng từ “Tứ Đại giai không, bốn đại đều không thật có).
- Tứ đại luôn động/ thay đổi: Bốn yếu tố lớn cấu tạo nên vạn hữu. Bốn thành phần nầy không tách rời nhau mà liên quan chặt chẽ lẫn nhau. Tuy nhiên, thành phần nầy có thể có ưu thế hơn thành phần kia. Chúng luôn thay đổi chứ không bao giờ đứng yên một chỗ trong hai khoảnh khắc liên tiếp. Theo Phật giáo thì vật chất chỉ tồn tại được trong khoảng thời gian của 17 chập tư tưởng, trong khi các khoa học gia thì cho rằng vật chất chỉ chịu đựng được 10 phần 27 của một giây. Nói gì thì nói, thân thể của chúng ta chỉ là tạm bợ, chỉ do nơi tứ đại hòa hợp giả tạm lại mà hành, nên một khi chết đi rồi thì thân tan về cát bụi, các chất nước thì từ từ khô cạn để trả về cho thủy đại, hơi nóng tắt mất, và hơi thở hoàn lại cho gió. Chừng đó thì thần thức sẽ phải theo các nghiệp lực đã gây tạo lúc còn sanh tiền mà chuyển vào trong sáu nẻo, cải hình, đổi xác, tiếp tục luân hồi không dứt.
- II- Ngũ Đại - Cũng gọi Ngũ đại chủng. Chỉ cho 5 nguyên tố của thể tính rộng lớn, sinh thành ra muôn pháp, tức là: Đất, nước, lửa, gió và không. Tính chất của 5 nguyên tố này theo thứ tự là cứng, ướt, nóng, động và vô ngại; tác dụng là giữ gìn, thu nhiếp, thành thục, tăng trưởng, không ngăn ngại.
+ Mật giáo thì chuyên sử dụng thuyết Ngũ đại, Lục đại (đất, nước, lửa, gió, không, thức), chủ trương tứ đại không lìa tâm đại, cho rằng tâm và sắc tuy khác nhưng thể tính của chúng thì chẳng phải 2;
- Lại đem Ngũ đại phối với ngũ phương(vị), ngũ sắc, ngũ Phật, ngũ môn và ngũ trí.
- Còn nói về hình tướng và màu sắc thì đất là hình vuông màu vàng; nước hình tròn màu trắng; lửa hình tam giác màu đỏ; gió hình bán nguyệt màu đen; không là hình bảo châu màu xanh. Đây chính là tháp Ngũ luân hình Tam muội da của đức Đại nhật Như lai. [Nguồn: X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại nhật Q.5....).
- 2. Ngũ Đại. Chỉ cho 5 đại: Không đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại và địa đại do Ngũ duy sinh ra. (Ngũ duy chỉ cho: Thanh duy, xúc duy, sắc duy, vị duy và hương duy).
Đây là 1 khoa trong 25 đế do học phái Số luận thành lập. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí, thì có thuyết cho rằng từ Ngã mạn sinh ra 10 pháp là ngũ đại và ngũ duy; nhưng cũng có thuyết chủ trương Ngã mạn chỉ sinh ra ngũ duy, còn ngũ duy thì sinh ra ngũ đại, và ngũ đại sinh ra 11 căn.
- Phật giáo thì cho tứ đại và ngũ đại là năng tạo, còn học phái Số luận thì chủ trương ngũ đại là sở tạo. Đây là sự sai khác căn bản giữa 2 bên. [ Nguồn: X. kinh Niết bàn Q.35, 36 (bản Nam).... (Nguồn: Định nghĩa ngũ đại)
+ Tứ đại do năng tạo, ở Thiên là khí, ở đất là hình: Phật nói: “Giác không phải là sở minh, nhân minh mà lập sở. Sở đã vọng lập liền sanh cái vọng năng nơi ông”. Tánh bản nhiên thường trụ do Vô minh bất giác phân thành năng sở. Luận thì thấy có trước sau mà thực là năng sở đồng hiện. Năng sở đã lập thì cảnh giới vọng hiện, tánh giác liền ẩn.
Tánh giác thì không đồng khác, nhưng một khi đã phân năng sở thì đồng khác thành rõ ràng. Đồng là hư không, khác là thế giới …
Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mờ tối, đối đãi thành ra dao động nên có phong luân nắm giữ thế giới.... có kim luân giữ gìn cõi nước ...có hỏa đại..... có thủy đại . Đó là cách hình thành các đại, gọi chung là khí thế gian. Phần hình thành tướng thế gian thấy có sai khác là tùy vào tâm của chúng sinh.
Ngoài tứ đại còn có không đại, kiến đại và thức đại. Vì không đại là phản ánh của chơn không. Kiến đại là chỗ lưu lộ của chân như, thuộc năm hiện lượng. Nó chính là phần Năng kiến nói trong luận Khởi Tín, là phần Kiến tinh nói trong kinh Lăng Nghiêm. Thức đại là để biết do đâu có sự phân biệt cảnh.... (Nguồn: Chẳng phải nhân duyên hay tự nhiên- Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ MỤC HỎI ĐÁP VỀ TỨ ĐẠI (Phật dậy trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Đại chủng là bốn giới - Tức đất, nước, lửa, gió - Khả năng và tính chất
- Luận: Đất, nước, gió, lửa có khả năng gìn giữ các tính chất riêng của mình và các sắc pháp được chúng tạo thành (sở tạo sắc) vì thế gọi là giới. Bốn giới này được gọi là đại chủng vì chúng làm chỗ dựa cho tất cả các loại sắc khác và vì thế tính vốn rộng khắp; hoặc vì đại chủng đất, nước, v.v., tập trung với số lượng lớn trong đất, nước, v.v., hoặc vì khởi đủ các loại tác dụng lớn.
- Hoạt động tương tác - Tạo nghiêp: Theo thứ tự trên, chúng có thể trì giữ, kết dính (nhiếp), làm chín và làm tăng trưởng.
* Địa giới có khả năng trì giữ, thủy giới có khả năng kết dính, hỏa giới có khả năng làm chín và phong giới có khả năng làm tăng trưởng. Nói “tăng trưởng” có nghĩa là làm chuyển dịch (prasarpaṇa) và lớn mạnh (vṛddhi).
* Các tính chất bốn Đại: cứng, ướt, nóng, động. Địa giới có tính cứng, thủy giới có tính ướt, hỏa giới có tính nóng, và phong giới có tính động. Nhờ vào tính chất động này mới có thể dẫn dắt đại chủng tạo sắc tương tục sinh khởi đến các chỗ khác; cũng giống như trường hợp của ánh đèn. Phẩm Loại Túc luận (Prakaranas) và Khế kinh (Garbhāvakrantisūtra) nói: Phong giới là gì? - Là tính chất nhẹ nhàng (laghutva). Phẩm Loại Túc luận lại nói: “Tính chất nhẹ nhàng này là một sở tạo sắc.” Vì thế một pháp có tính động (iraṇātmaka) là phong giới; tức ở đây đã dựa vào tác dụng động (iraṇātmakrman) để trình bày thể tính cho nên mới nói là “nhẹ nhàng”.
+ Những khác biệt giữa đại chủng đất, v.v., là gì? Đáp: Đất là hiển và hình; Tùy thế tục đặt tên; Nước, lửa cũng như vậy; Gió là phong giới cũng là hiển sắc và hình sắc.
- Luận: Địa là màu sắc và hình dạng, có sắc xứ làm thể, thế gian gọi như vậy. Bởi vì thế gian khi chỉ cho nhau xem đất đều dựa vào màu sắc và hình dạng của nó. Về nước và lửa cũng vậy.
+ Gió chính là phong giới, vì thế gian căn cứ vào sự chuyển động để gọi tên hoặc giống như trường hợp của đất v.v. Ở đây cũng tùy theo cách gọi của thế gian nên gọi là gió. Gió chính là màu sắc và hình dạng vì thế mới nói là “cũng như vậy” (diệc dĩ). Như thế gian nói “gió đen,” “gió xoáy,” v.v., tức đã dựa vào màu sắc và hình dạng để chỉ cho gió. (Nguồn: (Nguồn: Kinh Thủ LN-Q3- HT Tuyên Hóa)
+ Hành kim trong ngũ hành cũng tương ứng là/ Nhiếp thuộc Địa đại trong tứ Hành tố (Đất - Nước - Gió - Lửa là vật chất đậm đặc nhất (Được chia tương ứng 4 phương). Tứ Hành tố là "biến phân" của các tứ Đại gồm Địa đại - Thủy đại (Phần cao của nước) - Hỏa đại - Phong đại; Ngoài ra còn Không, Kiến, Thức đại). Các đại hình thành trời đất/ muôn vũ trụ khắp hư không. Tứ đại ở trời là KHÍ thì động, biến đổi không ngừng, đều do nhân Phong luân/ Gió lay động mà phát sinh các nhân duyên hòa hợp hoặc phân ly mà thành ra các sắc vô tướng biến đổi không ngừng. Ở đất thành hình đều do Đất ngăn ngại hòa hợp với Nước - Gió - Lửa mà thành Tướng vạn vật biến đổi không ngừng, muôn sai vạn biệt, sinh diệt diệt sinh không cùng. Đại khái, hiểu theo nghĩa thế gian thì bảy đại trong hư không, có tứ đại (Địa - Thủy - Hỏa - Phong) thì động, ba đại là Không - Ý - Thức thì tịnh) - Nhân trắc học tổng hợp - Mong chỉ tham khảo;
Xem thêm: Tổng hợp phân biệt Hành tinh và Hành tố
Xem thêm: Phần 1: Phân biệt các Giới - Đại chủng
Xem thêm: Các Đại Dựa Vào Nhau Để Tồn Tại
Xem thêm: Tổng hợp Tooltip các đại và các Hành
Xem thêm: Các Đại và các hành tương tác
Xem thêm: Các Đại và các Hành trong Đại Thiên Địa
+ Hàng nhị thừa: Xe cừu và xe nai là dụ cho hàng Nhị thừa/ A La Hán. Xe trâu là dụ cho hàng Bồ-tát Đại thừa. Xe trâu trắng lớn là dụ cho Phật thừa, có thể chuyên chở mọi chúng sinh vượt qua dòng chảy phiền não, từ bờ sinh tử bên nầy sang bờ niết-bàn bên kia. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 Chương II)
+ Xe Trâu trắng đi trên đường Đại thừa - Phật thừa
"Tam tâm tam chỉ thấu tam quan, (ba tâm ba chỉ thấu ba cửa)."
Ba tâm tức là tâm quá khứ, hiện tại, vị lai. Tâm quá khứ đã ngừng. Tâm hiện tại cũng dừng. Tâm vị lai lại dừng. Ba tâm không thể có. Tâm quá khứ không thể được. Tâm hiện tại không thể được. Tâm vị lai cũng không thể được. Ba tâm không thể được. Không thể khởi tâm quá khứ. Tâm hiện tại không thể sanh. Tâm vị lai cũng chưa có. Khi ấy, tâm không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Ba tâm của chư vị cũng không có. Sao gọi nghĩ thiện, nghĩ ác ? Tức là khi chư vị dụng công tu hành, đạt đến cảnh giới dùng thiền duyệt làm món ăn, pháp hỷ đều đầy đủ. Khi ấy, đang ngồi tĩnh tọa, chư vị khai mở sơ quan (cửa đầu), trung quan (cửa giữa), thượng quan (cửa trên). Sơ quan cũng gọi là cửa Mao Cung. Trung quan gọi là cửa Lai Tích. Thượng quan gọi là cửa Ngọc Chẩm, hay là cửa sanh tử. Cửa đầu và gữa dễ dàng phá vỡ, vượt qua, nhưng đến cửa thứ ba thì rất khó khăn. Vượt qua được cửa thứ ba, chư vị lại phải hướng về phía trước mà tiếp tục tu hành. Khi đó, chư vị đạt đến cảnh giới gì ?
"Bạch ngưu đại xa lân lân chuyển, (trâu trắng, xe lớn, chuyển từ từ)".
Trong kinh Pháp Hoa có nói đến xe lớn, trâu trắng, tức là Phật thừa, chỉ có Phật thừa mà không có thừa nào khác. Lại nữa, muốn thành Phật thì phải đi trên con đường này, thì mới ngồi trên cổ xe lớn trâu trắng. Chưa thành Phật được thì không thể ngồi trên xe này. Tức bảo rằng chúng ta dụng công đắc lực để chuyển pháp luân, giáo hóa chúng sanh.
Sao gọi là cổ xe lớn trâu trắng, mà không nói xe lớn trâu đen, hay xe lớn trâu vàng, hoặc xe lớn trâu nhiều màu ? Con trâu này màu trắng, giống như tự tánh của chúng ta không ô nhiễm. Chư vị từ từ hành pháp đại thừa. Xe trâu trắng đi trên đường đại thừa, phát ra âm thanh lân lân. Khi đó, người tu hành đạt được cảm giác. Cảm giác gì ?
"Hoàng kiểm tiểu nhi khiếu khiếu toản, (bé mặt vàng đáp tới đáp lui)".
Cảm giác như say sưa, ngủ mơ, mộng mị, tức là không biết gì là chân, gì là giả, là hư là thật, bốn chi (hay tay hai chân) rất mềm diu. Tay không có sức lực; chân cũng không có sức lực, giống như bùn non, không muốn làm gì hết. Khi ngồi thiền, hay không ngồi thiền, thân thể đột nhiên rung động nhanh chóng. Khi ấy tâm chúng ta đập. Kỳ thật không phải là tâm đập mà là lá lách đập. Sao lá lách đập ? Lá lách đập giúp chúng ta tiêu hóa dễ dàng. Chư vị chạy mau chút ít thì lá lách làm việc nhiều chút ít. Hoàng kiểm tiểu nhi là ai ? Tức là ý niệm của chư vị, nghĩa là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Ý tại lá lách. Lá lách màu vàng, nên gọi là đứa bé mặt vàng.
"Khiếu khiếu toản", tức là đập tới đập lui. Thế nên, người thường ngồi thiền, lắm khi ngồi đến lúc không biết gì hết. "Tim tôi đập như thế nào, có bị bịnh gì không ?"
Tâm khởi lo sợ như thế. Chớ lo sợ. Đó chỉ là quá trình tu hành mà chúng ta phải vượt qua. Khi xe lớn trâu trắng chuyển pháp luân thì ý niệm cũng khởi dậy, tim đập mạnh rất nguy hiểm. Lúc đó tâm phát sanh sợ hãi. Tim đập mạnh như thỏ nhảy tới nhảy lui. Nguồn: Bát nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh -2- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thế giới báo - Quy nạp Âm Dương:
- Thế giới Y báo - Muôn vật vô tình: Gồm núi sông đất liền, vạn sự vật nhân tạo, các hành tinh, thiên hà ... cho đến muôn cõi thế giới tuân theo quy luật Thành - Trụ - Hoại - Không.
- Thế giới Chánh báo - Các loài hữu tình: Thân người, sự sống muôn loài có tình tuân theo quy luật Sinh - Lão - Bệnh - Tử; (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 2)
+ Tương ứng khí hình: Đại Sư Huyền Trang dạy, "Rồng đất không thể làm mưa, nhưng muốn cầu mưa thì cần có rồng đất". Phàm Tăng (Người xuất gia không giữ giới) tuy họ không thể ban phúc, nhưng muốn cầu phúc thì cần có tâm cung kính họ.
+ Nhẫn nhục (Kshnti): Kiên nhẫn, dịu dàng, sao cho không điều gì có thể làm mất bình tĩnh.(TNVT, 178)
+ Nhẫn nhục: Là Kiên nhẫn, một trong các Ba–la–mật (Ba–la–mật thứ ba –ND).(NGMTTL, 181)
+ Nhẫn nhục trong Lục độ: Trong sáu Ðộ (Lục Ba La Mật), Ðộ thứ ba là "Sằn Ðề"; đây cũng là tiếng Phạn (Ksanti); Trung Hoa dịch là "nhẫn nhục."
"Nhẫn nhục" thì gồm có Sanh Nhẫn, Pháp Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vô Sanh Pháp Nhẫn là một cảnh giới vô cùng thâm áo, vi diệu, luôn tràn ngập một niềm Pháp hỷ. Phải chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, thì quý vị mới thực sự nếm được mùi vị của Phật Pháp, thực sự hiểu rõ được sự áo diệu và không thể nghĩ bàn của Phật Pháp.
Quý vị phải có thể nhẫn nhục thì mới mong đạt được "Ba La Mật"; không nhẫn nhục được thì không thể nào đạt được "Ba La Mật" - không đến được "bờ bên kia" vậy! (Nguồn: HT Tuyên Hóa Giảng Kinh Địa Tạng)
+ Giảng về nhẫn nhục: ... Chúng ta phải thấy rằng, những đau khổ, khó khăn trong cuộc sống thật vô cùng quý giá. Nếu sống một cuộc đời yên ả, dễ chịu, chúng ta sẽ mất hết ý chí, nghị lực, sẽ không có cơ hội rèn luyện sức chịu đựng. Bởi vậy, nhẫn nhục là một hạnh rất quan trọng để làm tăng đạo lực của người tu hành. Đó là lý do vì sao trong cuộc đời tu hành của Đức Phật luôn có ông Đề Bà Đạt Đa đi theo quấy phá. Đức Phật bị quấy phá từ bao nhiêu kiếp. Cho đến khi thành Phật, Ngài cũng không thoát khỏi sự quấy phá ấy. Sở dĩ như vậy vì trong mọi công phu tu tập, để có được Đạo lực, Đạo hạnh, nhẫn nhục và tinh tấn đóng một vai trò rất quan trọng. Để có hạnh nhẫn nhục, chúng ta rất cần nghịch cảnh để rèn luyện. Nhắc đến điều này, chúng ta nhớ lại câu thơ của một nhà sư:
Không đau khổ lấy chi làm chất liệu
Không buồn thương sao biết chuyện con người
Quả thật, không đau khổ chúng ta sẽ không có điều kiện rèn luyện bản thân mình. Liên hệ đến đời sống của những người lính trong quân ngũ, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn giá trị của những gian khổ, khó khăn. Nếu không chịu đựng những tháng ngày huấn luyện nhọc nhằn, dầm mưa dãi nắng; nếu không chịu những hình phạt nặng nề, làm sao họ có thể đương đầu với hy sinh gian khổ, quyết sống mái với kẻ thù? (Nguồn: Trích trong bộ "Tâm lý đạo đức" bài giảng, Nhẫn Nhục. SP TT. Thích Chân Quang)
+ Nhẫn nhục là mạnh nhất - Tâm không nhiễm ô/ Cấu nhiễm là sáng nhất:
... Có vị Sa môn hỏi Ðức Phật: "Ðiều gì là mạnh nhất? Ðiều gì là sáng nhất?"
Ðức Phật dạy: Nhẫn nhục là mạnh nhất vì không chứa ác tâm nên tăng sự an ổn. Nhẫn nhục là không ác, tất được mọi người tôn kính.
Tâm ô nhiễm đã được đoạn tận, không còn dấu vết gọi là sáng nhất, nghĩa là tất cả sự vật trong 10 phương, từ vô thỉ thuở chưa có trời đất cho đến ngày nay không vật gì là không thấy, không vật gì là không biết, không vật gì là không nghe, đạt được Nhất thiết trí, như vậy được gọi là sáng nhất". (Nguồn: 15. Nhẫn nhục - Kinh 42 Chương)
+ Nhẫn nhục cao siêu: ... "Đỏa y mông" có nghĩa là “Ngã”/ Cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhẫn và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”. Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy (HT Tuyên hóa giảng Chú Đại Bi câu 10)
+ Nhẫn chịu: (1. 451. NHẪN CHỊU) Đa văn Thánh đệ tử có thể nhẫn nại đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, chí rận, gió nắng bức bách, tiếng dữ, gậy hèo cũng có thể nhẫn; thân thể gặp các thứ bệnh tật rất đau đớn đến gần như tuyệt mạng và những điều không khả lạc thảy đều có thể nhẫn nại. (Trung A Hàm, Kinh Văn Đức, Phẩm 12, số 147)
+ Nơi đặt ảnh hay tượng thờ phụng Địa Tạng Vương Bồ Tát
"Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất; ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ, ngợi khen, thì ngay chỗ những người đó ở sẽ được mười điều lợi ích.
Lược giảng:
Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc cái thất—để thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát ..."
Trong đời này và đời sau, có những chúng sanh cất cái khám thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, bằng đất, bằng đá, bằng gỗ, hay bằng tre... ngay trên một khoảnh đất sạch sẽ, thanh tịnh về phía Nam của nơi mình cư ngụ. Rồi họ ở trong cái khám đó mà tô vẽ hình của Bồ Tát Ðịa Tạng, hoặc là dùng vàng, dùng đồng, dùng bạc, thậm chí có thể dùng cả thứ vật liệu rất rẻ tiền như sắt, để đúc thành tượng Bồ Tát Ðịa Tạng; và họ lại ở trước hình tượng của Bồ Tát mà chí thành "đốt hương cúng dường, chiêm lễ—nhìn ngắm, luyến mộ, ngợi khen, thì ngay chỗ những người đó ở sẽ được mười điều lợi ích."......
Tôi lấy một ví dụ—chẳng hạn khi một người nam thích một người nữ thì cậu ta cứ hết nhìn lại ngắm, hết ngắm lại nhìn cô ta; hoặc như lúc một người nữ thích một người nam cũng vậy, cô ta cứ hết ngó lại nhìn, hết nhìn lại ngó cậu ta. Song le, cái "nhìn" đó có tính cách không thanh tịnh—một cái "nhìn" chứa chan dục niệm. Quý vị cần phải chuyển dục niệm thành trí huệ, phải dùng cái niệm thanh tịnh của trí huệ để chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng. Chúng ta phải nhìn ngài Ðịa Tạng với sức thanh tịnh tự nhiên như thế, chứ chẳng phải như cách nhìn đắm đuối của một đôi nam nữ yêu nhau; cho nên ở đây nói là "chiêm lễ khen ngợi."
Quý vị có thể chiêm ngưỡng, đảnh lễ, và ca ngợi như vầy: "Nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thật vô cùng to lớn! Mọi người chúng ta đều nên tin tưởng vào Bồ Tát Ðịa Tạng! Chúng ta hãy cùng nhau tụng Kinh Ðịa Tạng, đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng."
Cho nên, nay tôi tặng quý vị hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng, quý vị mang về nhà có thể suốt ngày nhìn ngắm, chiêm ngưỡng hoài mãi cho đến lúc quý vị thành Phật, giống như Bồ Tát Ðịa Tạng vậy! (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P11- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Đạo đức của quẻ càn: Đạo đức theo Kinh dịch - Đạo làm người trong kinh dịch:
Ðây là quẻ thứ nhất trong 64 quẻ của Kinh Dịch. Ðức Càn là đức thuần dương, hết sức cương quyết mạnh mẽ. Người có thân tu theo đạo Càn thì hành động không làm ác, không làm trái nhân nghĩa, ngược luân thường. Miệng không nói lời hủy báng, phá hoại kẻ khác hay dối trá, hiển độc, giả dối. Tâm không chút mờ ám, vẩn đục bởi tư lợi ích kỷ, hay nhỏ hẹp ganh ghét. Tâm người theo đạo Càn thì lúc nào cũng quang minh, chính đại, khoan dung độ lượng. Không bao giờ để cho hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng phá hoại lý tưởng và chí hướng bên trong.
Thầy Tăng tử nói rằng: Hàng ngày tôi tự nhắc nhở mình ba điều: khi tính chuyện làm việc cho kẻ khác, tôi có trung thật hay không? Khi kết giao với bạn hữu, tôi có giữ chữ tín chăng? Dạy người khác làm gì, tôi đã tự mình thực hành chưa?
1. Làm việc cho người: Hãy xét tâm mình có trung thật chăng? Tức là xét xem mình mưu sự cho người ta với động cơ gì? Phải chăng mình có mưu đồ, tính toán ích kỷ, lo toan cho ích lợi cá nhân, lợi dụng người khác để lợi mình. Mình có chân thật muốn giúp họ không? Người Phật tử làm việc cho chùa mà tính toán mưu cầu danh lợi thì chùa loạn. Người xuất gia làm việc cho chúng sinh mà mưu cầu cho cá nhân, quyền vị thì đạo loạn.
2. Kết giao với bạn hữu: Hãy xét xem lời mình nói có chân thật hay không? Mình có giữ lời hứa với bạn hay không. Tình bằng hữu sẽ bền vững và thắm thiết nếu mình biết giữ lời hứa và hy sinh cho bạn. Khi bạn cần giúp đở, mình hãy tận lòng giúp. Ðừng bao giờ bán đứng hay phản bội bạn. Ở đời kẻ phản bội thì chẳng có ai thích gần gũi, coi trọng, trước sau y cũng bị người đời khám phá, khinh rẻ, dù y có điạ vị cao đến dường nào. Ðối với người tu, tín nhiệm là điều quan trọng bậc nhất, bạn đạo có tín nhiệm thì mới tu chung được; thầy trò có tín nhiệm thì mới học hỏi nhau được; đạo tràng có tín nhiệm thì mới hết thị phi đuợc.
3. Dạy kẻ khác mà mình không tự làm: Nói mà không làm thì chẳng ai tin. Thái độ chỉ tay năm ngón bắt người làm, mình ngồi trên điều khiển thì chẳng ai thích. Không làm thì không có kinh nghiệm. Không tu thì không có thực chứng. Không kinh nghiệm thì không dạy được ai. Do đó phải làm phải tu thì mới dạy được người khác. Không làm không tu mà dạy người khác thì chẳng ai phục.
Khổng tử dạy rằng: Ðừng lo rằng bạn chẳng có điạ vị; lo rằng bạn chẳng có đủ đức (tài cán, năng lực, trí tuệ) để ở điạ vị ấy. Ðừng lo chẳng ai biết bạn, chỉ cầu sao bạn có đức xứng đáng để người ta biết (với cái tên mà người ta biết).
Lược giải:
Ðiạ vị không phải do tranh mà được. Kẻ có vị cao mà không có thật đức, tài cán, năng lực để làm việc thì không thể ngồi lâu tại vị. Thanh danh cũng chẳng phải do mua chuộc, thủ đoạn mà có. Thanh danh do mua, do đoạt thì luôn tạo đau khổ. Tu theo đạo quẻ Càn là tu đức độ, trí huệ, năng lực nội tại; không phải tu theo bóng dáng giả dối bên ngoài. Ðức Phật dạy ta cứ lo trồng nhân cho tốt, đừng bao giờ lo quả báo. Cũng chớ mong cầu quả báo tốt mà chẳng chịu trồng nhân tốt. Trồng nhân thì phải dựa vào chính mình, đừng dựa vào hoàn cảnh bên ngoài.
Khổng tử nói: Ta chưa thấy một ai cứng cỏi. Có người đáp rằng: Có anh Thân Chấn đó. Ðức Khổng tử trả lời: Anh Chấn còn đầy dục vọng, làm sao anh cứng cỏi được chớ?
Lược giải:
Thân Chấn tự là Tử Châu, người nước Lỗ, là một học sinh của đức Khổng Tử. Anh ta nổi tiếng là người có sức lực mạnh mẽ, cang cường bất khuất. Sức mạnh ấy chỉ để chinh phục những đối tượng bên ngoài. Sư chân chính cứng rắn cang kiện theo đức Khổng tử dạy là sức mạnh khắc phục những dục vọng trong tâm. Dục vọng thì ai cũng có. Kẻ mềm yếu thì bị dục vọng khống chế. Kẻ cang kiện thì khống chế dục vọng. Ðức Phật dạy rằng chẳng có chiến thắng nào lớn bằng chiến thắng lòng mình, khắc phục thói hư tật xấu của chính mình.
Nhiễm Cầu nói rằng: Chẳng phải tôi không thích đạo của phu tử, chẳng qua sức tôi không đủ để (học và hành) đạo ấy đó thôi. Khổng tử mới dạy rằng: Kẻ không đủ sức tu đạo, nửa đường là y đã bỏ phế. Bây giờ con chưa chi (chưa hành đạo gì cả), đã tự mình hạn chế chính mình rồi.
Lược giải:
Chuyện gì cũng phải làm thử. Ðạo thì phải thực hành, đức thì phải tu. Không muốn làm rồi tìm lý do bào chữa thì chỉ mình tự lừa mình. Lý do bào chữa thì lúc nào cũng có sẵn, nhiều đến vô lượng vô biên. Bởi vậy, tu theo đạo Càn là đừng khởi vọng tưởng, đừng để vọng tưởng làm cùn lụt ý chí tu hành. (Nguồn: Vạn Phật Thánh Thành)
+ Quẻ khôn: Nói về hình tượng của đất. Ðất thì rộng rãi, sâu dày. Người quân tử nhìn đó mà bắt chước, để tâm lượng và đạo đức cũng như đất: rộng rãi sâu dày. Ðất thì nuôi dưỡng mọi hạt giống, trưởng dưỡng cây cỏ, đem lại lợi ích cho muôn vật. Người quân tử nhìn đó nên bắt chước tính đất: trưởng dưỡng, lợi lạc kẻ khác. Nói về rộng rãi thì chẳng có gì bằng lòng đại bi. Nói về sâu dày thì chẳng gì hơn lòng nhân. Tu theo quẻ Khôn thì mình cần nuôi dưỡng lòng đại bi nhân từ, lúc nào cũng sẵn sàng giúp người, thành tựu người. Ðối xử với kẻ khác, bậc quân tử chỉ dùng đạo đức, mong sao có thể thật sự giúp ích cho người; chẳng dùng thủ đoạn, tính toán vị kỷ, chẳng hời hợt trên đầu môi chót lưỡi để vừa lòng người. Do lòng từ bi, bậc quân tử lúc nào cũng ôn hòa nhu thuận, không để ý nghĩ lời nói ác ôn giận dữ, thâm độc đố kỵ, hại người tổn đức, có cơ hội khơi dậy. Tu đạo Càn là tu trí huệ, tu đạo Khôn là tu đức hạnh, từ bi nhân hậu vậy. (Nguồn: Vạn Phật Thánh Thành)
+ Dụng tâm: .... Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Có một pháp Đà la ni tên là Kim Cang tâm hay khiến chúng sanh một phen thấy, một phen nghe liền đặng đạo quả. Này gã trai lành! Thế nào gọi là Kim Cang tâm? Tâm này người người vẫn có không kẻ nào không, nên cái tâm bình đẳng của chúng sanh này tự biết lấy, tự hiểu lấy. Vì sao?
Hết thảy việc lành, việc dữ đều tại tâm mình sanh ra. Tâm mình tu việc lành, thân mình được an vui. Tâm mình tạo việc dữ thân mình chịu khốn khổ. Tâm là chủ của thân; thân là dụng của tâm. Tại sao vậy? Bởi vì đức Phật cũng do tâm thành, đạo do tâm học, đức do tâm chứa, công do tâm tu, phước do tâm ra, họa do tâm tạo. Tâm làm ra thiên đường, tâm làm ra địa ngục. Tâm làm ra Phật, tâm làm ra chúng sanh; nếu tâm chánh thì thành Phật, tâm tà thì thành ma. Tâm từ là người của Trời, tâm ác là người của La Sát, nên cái tâm là hột giống cho hết thảy sự tội phước. Nếu người giác ngộ được tâm mình, làm chủ giữ cho chắc chắn, không tạo các sự dữ, thường làm các việc lành, hành trì hạnh nguyện đều y theo Phật.
Phật nói: Người này không bao lâu sẽ được thành Phật; nếu có người trai lành, gái tín muốn cầu Phật đạo, mà không rõ được tâm của mình thì không thể thành Phật. Nếu có người người rõ được tâm, thấy được tánh, y theo Phật dạy tu hành, quyết định thành Phật, còn hơn công đức tụng ba mươi muôn biến kinh Kim Cang cũng không sánh kịp. ......
.... Nếu có người minh tâm kiến tánh thường nghe tâm Phật của mình, thường thường nói pháp, thường thường độ chúng sanh, thường thường hiện thần thông, thường thường làm việc Phật, hiểu được lý như vậy mới gọi là thọ trì Kinh Kim Cang, mới gọi là Kim cang bất hoại thân. (Nguồn: Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ Dụng tâm: Vì sao không tương ưng với đạo?
“Chúng sanh sở dĩ không đắc được Ðạo chơn thật là vì có vọng tâm giả dối. Khi đã có tâm giả dối thì sẽ kinh động tới thần. Khi thần bị kinh động thì mình sẽ chấp trước vào vạn vật. Khi chấp trước vào vạn vật thì mình sanh ra tham cầu. Khi đã tham cầu thì sẽ sanh phiền não. Phiền não vọng tưởng thì thân tâm khổ đau. Do đó mình mới rớt vào chỗ ô trược, lưu lạc trong sanh tử, trầm luân nơi khổ hải và vĩnh viễn mất đi đạo chân thường. Ðạo chân thường, kẻ ngộ tự mình chứng đắc. Ðắc ngộ Ðạo rồi thì luôn thường thanh tịnh."
Vì sao bất luận mình dụng công thế nào cũng không _tương ưng với Ðạo được, cũng không thể tiến tới được. Ðó là vì nguyên nhân nào vậy? Chỉ vì mình còn có tâm hư vọng, hư ngụy không chân thật. Mình còn thích điều xa xôi vời vợi, cầu danh tham lợi.
Ðó tức là những tâm hư vọng, có tâm hư vọng thì đối với tự tánh còn có sự giao động. Ví như một thùng nước, khi không khuấy động thì bao nhiêu cát bùn sẽ tự nó lắng xuống dưới đáy, mặt nước sẽ trở nên thanh tịnh. Nếu dùng một cây que mà quậy thì nước sẽ thành ô trược, cây que ấy ví như cái vọng tâm. Từ đó mình không phân biệt được cái nào giả và cái nào là thiệt, không phân biệt được thiện ác. Lúc ấy con mắt nhìn sự thật (Trạch pháp nhãn) sẽ không đủ mà trí huệ sẽ không hiện tiền. Khi nước ô trược không thanh tịnh thì mình sẽ chấp trước vào vạn vật, tâm thần rối loạn, tìm không ra con đường giải thoát. Vì sao vậy? Bởi vì mình chấp trước vào vạn vật thì sẽ sanh ra tâm tham cầu, cho vạn vật là chân thật. Khi sanh ra tâm tham lam cầu cạnh thì tự mình sanh phiền não. Mình tham cầu không được thì sanh phiền não, tham cầu mà được cũng sanh phiền não, bởi vì phiền não và vọng tưởng liên kết chặt chẽ với nhau. Do đó mình bị chìm ngập trong dòng nước ngũ dục của cõi ngũ trược ác thế này và không thể khôi phục lại được tánh thanh tịnh. Bởi thế cho nên sanh rồi lại chết, chết rồi lại sanh; sanh tử không ngừng và chẳng bao giờ chấm dứt. Lúc sanh ra mà chẳng biết vì sao được sanh, do đó hồ đồ mê muội. Khi chết đi, cũng không biết vì sao mà chết, lại cũng hồ đồ mê muội. Không những lúc sanh bị mê muội mà cho đến lúc chết cũng mơ hồ mê muội. Ngay như lúc sanh cũng là mê muội cả đời, không biết được chuyện gì cho rõ ràng.
Vì thế luân hồi sanh tử đánh mất chân tâm, chân tâm đã đánh mất rồi thì mình lặn ngụp trong biển khổ, không ngoi lên, không bơi ra được. Nếu hiểu được đạo lý này thì mình sẽ giác ngộ, không bị những cảnh giới hư vọng làm cho xoay chuyển, mà trí huệ lúc nào cũng hiện tiền. Khi có trí huệ thì không còn điên đảo.
Kinh Lăng Nghiêm nói rằng: "Cuồng tâm đốn hiết, hiết tức bồ đề," tâm điên cuồng hư ngụy chấm dứt thì sự chấm dứt ấy tức là giác ngộ. Vì sao không tương ưng với Ðạo? Là bởi vì tâm điên cuồng hư ngụy chưa ngừng nghỉ. Tâm điên cuồng này cũng chính là tâm không bằng lòng với hiện thực, cũng chính là tâm tham lam không đáy, cũng chính là lòng thương yêu ghen ghét. Nếu dứt được cái tâm này thì đó là trí huệ, cũng chính là giác ngộ, cũng chính là bản thể của Phật tánh. Song le con người ai cũng quên mất đạo lý này, do đó trở nên mê muội. Trong cảnh giới mê muội lại cho rằng sung sướng, khoái lạc, vui vẻ lắm, rồi chẳng tìm cách thoát khỏi biển khổ sanh tử của Tam Giới. [Khai thị Q.3 - HT Tuyên Hóa]
+ Xem bài viết về Dụng Tâm: Tất cả duy tâm tạo
+ Quyền năng điều khiển: Khi kiểm soát được các mãnh lực Tinh linh (elemental forces) của thiên nhiên, nhà huyền thuật (magician) sử dụng được quyền năng này và đó là nền tảng của khoa yoga thần chú (mantra yoga) tức yoga về âm thanh (sound) hay về linh từ sáng tạo (creation Word). Quyền năng sáng tạo, tức là huyền công thứ 7, liên quan đến các bản tố và việc đem lại sinh lực của chúng ngõ hầu chúng trở thành các “nhân tạo ra quả” (“effective causes”). Huyền công thứ 8 này liên quan đến quyền năng của Linh từ (Word) để đưa các mãnh lực kiến tạo của thiên nhiên vào hoạt động cố kết để tạo tác các hình hài. Khi 8 quyền năng này hoạt động thì cái thứ 9, sự hoàn hảo xác thân (bodily perfection) đưa đến kết quả, đối với vị cao đồ, là có thể tạo nên một hiện thể (vehicle) thích hợp cho nhu cầu của Ngài, có thể hành động với hiện thể đó tùy ý và nhờ đó đạt được mục tiêu. Sau cùng, quyền năng thứ 10 sẽ được biểu hiện đầy đủ và không một hình hài nào tạo ra được bất cứ chướng ngại nào nữa đối với thành quả của ý chí vị yogi. Ngài đã thoát ra khỏi hình hài và các tính chất của nó. (ASCLH, 346–348)
+ Bồ Tát mới phát tâm: Phật nói, Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết Bàn, lại sẽ giáo hóa tất cả chúng sinh, thảy đều được đầy đủ bát nhã ba la mật”. Như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha.
Cho nên Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, thời được gọi là Bồ Đề nhân duyên, chúng sinh nhân duyên, chính nghĩa nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp nhân duyên, thâu nhiếp tất cả cỗi gốc thiện pháp.
Cho nên Bồ Tát được gọi là bậc Đại Thiện, cũng gọi là cỗi gốc lành của tất cả chúng sinh, vì vậy mà Bồ Tát có thể phá trừ ba nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý v.v… cho tất cả chúng sinh.
Tất cả những thệ nguyện của thế gian, tất cả thệ nguyện của xuất thế gian, không có thệ nguyện nào bằng được thệ nguyện Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Thệ nguyện như thế, thực không gì hơn được, không gì trên được nữa.
Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, có năm việc: Một là tín - Hai là hạnh - Ba là cảnh giới - Bốn là công đức - Năm là tăng tưởng.
Bồ Tát nếu hay phát được tâm Bồ Đề, thì được gọi là Ma Ha Tát, quyết định sẽ chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, trọn Đại thừa hạnh.
Cho nên khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, tức hay thâu nhiếp được tất cả thiện pháp. Bồ Tát Ma Ha Tát phát tâm Bồ Đề, tu hành mong được quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác, nếu không phát tâm quyết không thể nào thành được, cho nên phát tâm, là cỗi gốc của quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Cho nên phát tâm là cỗi gốc của đạo Vô thượng Bồ Đề, do phát tâm Bồ Đề, mới hay hành trì được Bồ Tát giới.
Cho nên phát tâm gọi là gốc, gọi là nhân, gọi là nhành, gọi là lá, cũng gọi là hoa, lần lượt gọi là quả, cũng gọi là hạt.
+ Phát tâm trong tu hành: Phát tâm rất không dễ dàng gì phát, thế nhưng phát tâm là quan trọng không gì hơn được, không phát tâm không thể thành tựu .... Phát tâm bồ đề là quan trọng. Sau khi phát tâm bạn nhất định có thể thương yêu chúng sanh. Tâm Bồ đề chính là Tứ Hoằng Thệ Nguyện, chân thật có thể giúp đỡ tất cả chúng sanh. Cái hoằng nguyện này: Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ - Phiền lão vô lượng thệ nguyện đoạn - Pháp môn vô lượng thệ nguyện học - Phật đạo vô lượng thệ nguyện thành. Câu “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, cái “Độ” này chính là giúp đỡ, hiệp trợ.
Muốn giúp đỡ chúng sanh thì chính mình phải có năng lực, phải có đức hạnh, cho nên cần thiết phải đoạn phiền não. Phiền não không đoạn thì trí tuệ không khai mở. Trí huệ là sẵn có, không phải từ bên ngoài mà đến. Trong phẩm Xuất Hiện của kinh Hoa Nghiêm, Phật nói rất rõ ràng: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai; do vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc”. Vọng tưởng là vô minh, chấp trước là kiến tư, trần sa phiền não. Cho nên chỉ cần đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đoạn nhất, trí tuệ đức tướng trong tự tánh liền hiện tiền.
Trí tuệ không phải từ bên ngoài đến. Do đó, tu học của Phật pháp là tu cái gì? Tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô số tông phái phương pháp không giống nhau, lối đi không giống nhau, nguyên lý nguyên tắc là một, đều là tu thiền định. Nhân giới được định, nhân định khai huệ. Cái huệ này là trí tuệ của tự tánh vốn sẵn đủ. (Nguồn: Tịnh nghiệp tam phước - tập 4 - PS Tịnh Không)
+ Phát Bồ Đề tâm: Người tu hành nếu không phát Bồ Đề Tâm, thì dù tu hành vạn kiếp cũng chỉ lo tự lợi, không thể thành tựu quả Bồ Tát hay Phật. Phát Bồ Đề Tâm là nền tảng của đạo Bồ Tát. (HT Tuyên Hóa - Pháp Ngữ, tập 1)
- Không phát Bồ Đề Tâm thì tu hành chỉ được phước báo nhân thiên, khó ra khỏi sanh tử. Phát Bồ Đề Tâm mới siêu xuất tam giới.” (HT Tuyên Hóa - Pháp Ngữ, tập 2)
- Phát Bồ Đề Tâm mà phá giới thì giống như có hạt giống quý nhưng không biết vun trồng, sẽ bị cỏ dại lấn át. Nhưng không phát Bồ Đề Tâm thì không có hạt giống giác ngộ, chỉ hưởng phước hữu lậu, không ra khỏi luân hồi.” (HT Tuyên Hóa - Pháp Ngữ, tập 3)
- Kinh Hoa Nghiêm nói: “Quên mất Bồ Đề Tâm mà tu hành các thiện pháp là hành động của ma.” (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới)
+ Phải "Phát Bồ Đề Tâm": Phải “phát Bồ Đề tâm”. Trên tu cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sanh. Nói cụ thể sẽ là Tứ Hoằng Thệ Nguyện*. Tứ Hoằng Thệ Nguyện là Bồ Đề tâm, phải thật sự phát tâm độ chúng sanh........ Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, thệ nguyện thứ nhất là Bồ Tát nguyện, nguyện thứ hai và thứ ba là Bồ Tát hạnh, nguyện thứ tư là quả vị Bồ Tát. Đã phát nguyện rồi, thực hiện từ nơi đâu? Thực hiện từ đoạn phiền não. Chẳng đoạn phiền não, chính mình chẳng thể thành tựu, mà cũng chẳng thể hóa độ chúng sanh. Đã đoạn phiền não rồi mới học pháp môn. (Nguồn: Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện - PS Tịnh Không)
+ Phát tâm bồ đề: Trong tam phước - Phước thứ ba là nền tảng của Bồ Tát Đại Thừa. “Phát tâm Bồ Đề - Tin sâu nhân quả - Đọc tụng Đại thừa - Khuyến tấn hành giả”. “Phát tâm Bồ Đề” chính là phát tứ hoằng thệ nguyện. Nguyện phát rồi phải thực hiện thì cái nguyện đó không phải nguyện suông, phải làm được. Cho nên, Bồ Tát có tâm hổ thẹn; hổ thẹn đang thúc đẩy động viên họ, khiến họ có thể quyết chí hướng thượng, dũng mãnh tin tấn. Hổ thẹn là đạo. Không hổ không thẹn, không biết xấu hổ, đó là phi đạo. (Nguồn: Tịnh Nghiệp Tam Phước - PS Tịnh Không)
+ Bồ Tát tri ân báo ân - Phát Đại nguyện - Phát Thệ nguyện: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết Bàn, lại sẽ giáo hóa tất cả chúng sinh, thảy đều được đầy đủ bát nhã ba la mật”. Như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha.
Cho nên Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, thời được gọi là Bồ Đề nhân duyên, chúng sinh nhân duyên, chính nghĩa nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp nhân duyên, thâu nhiếp tất cả cỗi gốc thiện pháp.
Cho nên Bồ Tát được gọi là bậc Đại Thiện, cũng gọi là cỗi gốc lành của tất cả chúng sinh, vì vậy mà Bồ Tát có thể phá trừ ba nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý v.v… cho tất cả chúng sinh.
Tất cả những thệ nguyện của thế gian, tất cả thệ nguyện của xuất thế gian, không có thệ nguyện nào bằng được thệ nguyện Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Thệ nguyện như thế, thực không gì hơn được, không gì trên được nữa.
Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, có năm việc: Một là tín - Hai là hạnh - Ba là cảnh giới - Bốn là công đức - Năm là tăng tưởng.
Bồ Tát nếu hay phát được tâm Bồ Đề, thì được gọi là Ma Ha Tát, quyết định sẽ chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, trọn Đại thừa hạnh.
Cho nên khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, tức hay thâu nhiếp được tất cả thiện pháp. Bồ Tát Ma Ha Tát phát tâm Bồ Đề, tu hành mong được quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác, nếu không phát tâm quyết không thể nào thành được, cho nên phát tâm, là cỗi gốc của quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Bồ Tát Ma Ha Tát coi thấy chúng sinh phải chịu những sự khổ não, thì lòng sinh thương xót, nên Bồ Tát, nhân tâm từ bi, mà phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác;
Nhân phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, mà hay tu tập ba mươi bảy trợ đạo pháp, nhân tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp, mà chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác;
Cho nên phát tâm là cỗi gốc của đạo Vô thượng Bồ Đề, do phát tâm Bồ Đề, mới hay hành trì được Bồ Tát giới.
Cho nên phát tâm gọi là gốc, gọi là nhân, gọi là nhành, gọi là lá, cũng gọi là hoa, lần lượt gọi là quả, cũng gọi là hạt.
Bồ Tát phát tâm, cũng có người thì được rốt ráo, có người thì không được rốt ráo, người được rốt ráo thì mãi mãi cho đến khi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, trọn không bao giờ thoái chuyển.
Còn người không được rốt ráo, là trong tâm đã có sự thoái chuyển.
Thoái chuyển có hai thứ: Một là thoái chuyển rốt ráo, hai là thoái chuyển không rốt ráo.
Người thoái chuyển rốt ráo, là người trọn không thể phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, không thể suy tìm, tu tập pháp đó được.
Người thoái chuyển không rốt ráo, là người thường cầu phát tâm Bồ Đề, thường tu tập pháp đó.
Phát tâm Bồ Đề có bốn thứ:
- Một là, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, hoặc được coi thấy, nghe thấy những việc bất khả tư nghị của chư Phật, Bồ Tát, liền sinh tâm cung kính, và nghĩ rằng: “Những sự của Phật, Bồ Tát là bất khả tư nghị, nếu Phật, Bồ Tát chứng được sự bất khả tư nghị ấy, thì ta đây cũng quyết sẽ chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, cho nên ta dốc lòng, nhớ nghĩ đạo Bồ Đề, và phát tâm Vô thượng Bồ Đề.
- Hai là, lại có người không được coi thấy những sự bất tư nghị của chư Phật, Bồ Tát mà chỉ nghe thấy cái tạng bí mật của chư Phật, Bồ Tát liền sinh tâm cung kính tin tưởng, cầu đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, và Ma Ha Bát Nhã, cho nên phát tâm Bồ Đề.
- Ba là, lại có người không được coi thấy những việc bất tư nghị của chư Phật, Bồ Tát cũng không được nghe pháp, mà do vì khi coi thấy pháp diệt, rồi trong lòng nghĩ rằng: “Vô thượng Phật pháp, hay diệt trừ được vô lượng khổ não cho chúng sinh, làm ích lợi lớn lao cho chúng sinh, chỉ có chư Phật, Bồ Tát, mới hay làm cho Phật pháp được trường tồn bất diệt, ta ngày nay cũng nên phải phát tâm Bồ Đề, khiến cho các chúng sinh, xa lìa phiền não, thệ nguyện thân này của ta, dầu cho phải chịu mọi sự đại khổ não đi chăng nữa, ta quyết giữ gìn Phật pháp, khiến cho Phật pháp được trường tồn mãi mãi ở thế gian, cho nên ta phát tâm Bồ Đề.
- Bốn là, lại có người không được coi thấy chư Phật, Bồ Tát, không được nghe pháp, khi pháp diệt cũng không được thấy, mà chỉ thấy tất cả chúng sinh ở trong đời ác trược, đủ mọi thứ phiền não, tham dục, giận tức, ngu si, không thẹn, không hổ, bỏn xẻn, tật đố, ganh ghét, nghi ngờ, lười biến v.v…
Thấy như thế rồi, liền nghĩ rằng: “Trong đời ác trược này, chúng sinh chẳng chịu tu thiện, tâm Nhị thừa còn không phát, nữa là tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, ta nay phải nên phát tâm Bồ Đề, phát tâm Bồ Đề rồi, liền dạy bảo tất cả chúng sinh đều phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác”.
Bấy giờ Ngài Hỷ Vương Bồ Tát, lại bạch Phật rằng:
- Lạy Đức Thế Tôn! Bồ Tát tri ân báo ân bằng cách tự phát tâm Bồ Đề và dạy bảo tất cả chúng sinh đều phát tâm Bồ Đề. Song Đức Như Lai thuở xưa khi còn phải sinh tử, thoạt mới phát tâm Bồ Đề, là do nhân duyên gì? Phật dạy:
- Thiện nam tử! Về đời quá khứ lâu xa, kiếp số nhiều không thể kể tính được, khi ta còn ở trong vòng sinh tử, do phiền não trọng chướng, tạo nên những nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý, nên phải đọa lạc vào các địa ngục như: Địa ngục A ha ha, địa ngục A ba ba, địa ngục A đạt đa, địa ngục Đồng phủ, địa ngục Đại đồng phủ, địa ngục Hắc thạch, địa ngục Đại hắc thạch, cho đến địa ngục Hỏa xa.
Ta nhớ khi ta phải đọa vào địa ngục Hỏa xa, ta cùng với hai người bạn phải kéo một cái xe lửa, bốc cháy ngùn ngụt, quỷ đầu trâu tên là A Bàng, ngồi ở trên xe, mắm miệng, nghiến răng, trợn mắt, miệng, mắt, tai, mũi đều phun ra khói lửa, thân thể to lớn, tay chân gân guốc, hình sắc tía đen, tay cầm gậy sắt, đánh đập luôn luôn, mặc dầu ta bị đánh đập đau đớn, nhưng vẫn cố sức kéo, lúc đó hai người bạn của ta, vì hơi sức yếu đuối, kéo không nổi, nên bị quỷ đầu trâu A Bàng, lấy đinh ba bằng sắt, đâm vào bụng, lấy gậy bằng sắt đập vào lưng, máu phun ra như suối chảy, đau đớn khó nhẫn, những người ấy cất tiếng kêu gào rất thảm thiết, người thì kêu cha mẹ, người thì kêu vợ con. Nhưng dầu có kêu gào như thế, cũng chẳng ích lợi gì đối với mình. Lúc ấy, ta thấy những người bạn của ta chịu sự khổ não như vậy, lòng ta sinh ra thương xót. Nhân lòng sinh tưởng thương xót ấy, cho nên ta phát tâm Bồ Đề, vì những người chịu tội ấy, mà khuyên bảo quỷ đầu trâu A Bàng rằng:
- Những người phải chịu tội đây, thực đáng thương xót, xin ông hãy rũ lòng nới tay, đừng nên đánh đập họ tội nghiệp.
Lúc ấy quỷ đầu trâu A Bàng, nghe ta nói như thế, lòng sinh giận tức, dùng đinh ba bằng sắt đâm vào cổ ta, chết liền tại chỗ, ta liền được thoát khỏi cái tội trăm kiếp phải đọa lạc ở nơi địa ngục Hỏa xa, chính vì lúc đó ta phát được tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác vậy.
Phật bảo Ngài Bồ Tát Hỷ Vương: Người kéo xe lửa tức là thân ta ngày nay, nhân phát tâm Bồ Đề, mà chóng được thành Phật.
Thế nên biết: Tất cả chúng sinh phát tâm Bồ Đề, sự đó chẳng phải một, hoặc nhân lòng từ bi, hoặc nhân lòng giận tức, hoặc nhân lòng bố thí, hoặc nhân lòng bỏn xẻn, hoặc nhân lòng vui mừng, hoặc nhân phiền não, hoặc nhân ân ái ly biệt, hoặc nhân sự oán ghét gặp gỡ, hoặc nhân gần gũi bạn lành, hoặc nhân bạn ác, hoặc nhân được coi thấy Phật, hoặc nhân được nghe pháp… cho nên biết: Tất cả chúng sinh, phát tâm Bồ Đề, mỗi mỗi chẳng phải đồng nhất.
Hỷ Vương nên biết! Bồ Tát Ma Ha Tát, tri ân báo ân, sự đó như thế. (Nguồn: Phẩm Phát Tâm Bồ Đề 4 - Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân)
+ Công đức Sơ Phát Tâm Bồ Đề: ... Thưa Phật-tử! Bồ-Tát sơ phát bồ-đề tâm được bao nhiêu công-đức? ... Giả sử có người đem tất cả đồ sở-thích cúng-dường chúng-sanh trong vô-số thế-giới ở mười phương trọn một kiếp; rồi sau đó dạy họ thọ-trì ngũ-giới thanh-tịnh.
Cứ theo ý ông, công-đức của người này nhiều chăng? Thiên-Đế thưa: 'Công-đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được.
Pháp-Huệ Bồ-Tát nói: 'Này Phật-tử! Công-đức của người này đem so với công-đức sơ-phát-tâm của Bồ-Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na-do-tha ức, một phần số, một phần ca-la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu-ba-ni-sa-đà.
Công-đức căn lành của Bồ-Tát sơ-phát-tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy? Vì Bồ-Tát phát tâm chẳng phải vì chỉ muốn biết bao nhiêu tri-giải của bao nhiêu chúng-sanh đó, mà vì muốn biết những tri-giải của các chúng-sanh trong tất cả thế-giới. ... (Nguồn: Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Sơ Phát Tâm công đức)
+ Quán tự tại là gì:
Quán Tự Tại Bồ Tát. Quán tức là quán tưởng. Tự Tại là trong mọi thời đều an lạc, không buồn, không bị trở ngại. Không trở ngại tức là Quán Tự Tại. Chư vị nếu bị trở ngại thì không tự tại. "Hồi quang phản chiếu Quán Tự Tại".
Chư vị hồi quang phản chiếu thì quán tự tại. Bằng ngược lại thì không thể quán tự tại. Sao gọi là hồi quang phản chiếu ? Hồi quang phản chiếu tức là trong mọi việc đều phải tự hỏi chính mình. Ví như người khác đối xử không tốt, thì mình phải tự hỏi lấy rằng tại sao như thế. Mình phải tự suy nghĩ. A ! Nguyên nhân vì mình không tốt. Đó gọi là hồi quang phản chiếu. Nếu có người đối xử không tốt mà không kể mình đúng hay sai, liền đùng đùng đánh đối phương lỗ đầu chảy máu. Thật là tự mình không có lý trí. Chư vị hồi quang phản chiếu thì có lý trí. Vì thế, hồi quang phản chiếu là quán tự tại. Hãy tự hồi quang phản chiếu xem coi mình có được tự tại hay không ? Tự tại tức là tự chính mình. Tại tức là hiện tại ngay nơi đây. Tôi sẽ giải thích cho chư vị từng chữ một. Sao gọi là ngay tại đây ? Nói cách khác, chư vị có khởi vọng tưởng hay không ? Nếu khởi vọng tưởng thì không được tự tại. Không có vọng tưởng thì được tự tại. Ngay tại nơi đây, chư vị hãy nhìn xem, thật rất đơn giản ! Chư vị hồi quang phản chiếu tức là tự xem coi mình có vọng tưởng hay không. Có vọng tưởng tức không tự tại. Không vọng tưởng tức được tự tại. Chư vị thấy có vi diệu lắm không !(Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Hồi Quang phản chiếu:
Quán Tự Tại Bồ Tát. Quán tức là quán tưởng. Tự Tại là trong mọi thời đều an lạc, không buồn, không bị trở ngại. Không trở ngại tức là Quán Tự Tại. Chư vị nếu bị trở ngại thì không tự tại.
"Hồi quang phản chiếu Quán Tự Tại".
Chư vị hồi quang phản chiếu thì quán tự tại. Bằng ngược lại thì không thể quán tự tại. Sao gọi là hồi quang phản chiếu ? Hồi quang phản chiếu tức là trong mọi việc đều phải tự hỏi chính mình. Ví như người khác đối xử không tốt, thì mình phải tự hỏi lấy rằng tại sao như thế. Mình phải tự suy nghĩ. A ! Nguyên nhân vì mình không tốt. Đó gọi là hồi quang phản chiếu. Nếu có người đối xử không tốt mà không kể mình đúng hay sai, liền đùng đùng đánh đối phương lỗ đầu chảy máu. Thật là tự mình không có lý trí. Chư vị hồi quang phản chiếu thì có lý trí. Vì thế, hồi quang phản chiếu là quán tự tại. Hãy tự hồi quang phản chiếu xem coi mình có được tự tại hay không ? Tự tại tức là tự chính mình. Tại tức là hiện tại ngay nơi đây. Tôi sẽ giải thích cho chư vị từng chữ một. Sao gọi là ngay tại đây ? Nói cách khác, chư vị có khởi vọng tưởng hay không ? Nếu khởi vọng tưởng thì không được tự tại. Không có vọng tưởng thì được tự tại. Ngay tại nơi đây, chư vị hãy nhìn xem, thật rất đơn giản ! Chư vị hồi quang phản chiếu tức là tự xem coi mình có vọng tưởng hay không. Có vọng tưởng tức không tự tại. Không vọng tưởng tức được tự tại. Chư vị thấy có vi diệu lắm không !(Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Hồi Quang Phản Chiếu trong Tu hành của các Căn Tánh để trở về Chân Tâm - Tâm Bản nguyên - Tánh Như Lai Tạng diệu giác minh thanh tịnh bao chùm để giải thoát Niết Bàn.
Sáu căn của ông cũng giống như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.
Giảng giải:
Chúng vốn là đồng, mắt hoạt dụng như là mắt, tai hoạt dụng như là tai, mũi hoạt dụng như là mũi, lưỡi hoạt dụng như là lưỡi, thân hoạt dụng như là thân, ý hoạt dụng như là ý. Vốn chúng là một và đồng. Nhưng ngay điểm nầy mà chúng phân chia ra. Thậm chí ngay lúc đó, chúng vẫn còn tốt nếu chúng hoà hiệp với nhau. Chúng đều có thể hồi quang phản chiếu. Mắt có thể xuay lại tánh thấy vào bên trong. Tai có thể lắng nghe bên trong và nghe được tự tánh. Mũi không bị xoay chuyển bởi mùi hương bên ngoài. Lưỡi không bị xoay chuyển bởi mùi vị. Thân không bị xoay chuyển bởi sự xúc chạm, và thức không bị ảnh hưởng các ý niệm tâm hành. Nếu chúng cùng kết hợp với nhau và cùng hồi quang phản chiếu, thì chúng sẽ là một. Nhưng chúng không thể hoà hiệp thành một được. Mắt thấy sắc, mũi ngửi hương và truy tìm theo chúng, lưỡi tìm cầu vị ngon lạ và bị xoay chuyển bởi chúng, thân thích xúc chạm và bị ràng buộc bởi chúng, tâm ý bị ảnh hưởng bởi suy tưởng trói buộc chúng. Điều quan trọng là đừng đuổi theo chúng, nhưng người phàm phu không thể nào tránh khỏi việc theo đuổi nầy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5)
+ Tàm - Quý: Sự hổ thẹn
Tàm là biết hổ thẹn với chính mình khi làm điều sai quấy. Biết ăn năn hối lỗi tự biết xấu hổ với chính mình, thường tôn trọng danh dự cá nhân nên không bao giờ để tái phạm lại lỗi lầm xưa.
Quý là biết hổ thẹn với người nên cố gắng không làm điều xấu ác. Khi ta lỡ làm một điều gì lầm lỗi ta cảm thấy ăn năn, ta cảm thấy hối tiếc mà cố gắng tìm cách khắc phục sửa sai. Người biết hổ thẹn xấu hổ với lỗi lầm, tức còn thấy mình sai nên cố gắng sửa sai do đó có cơ hội làm mới lại chính mình mà vươn lên vượt qua số phận tối tăm. (Thích Đạt ma Phổ Giác giảng)
+ Đáng hổ thẹn: ... Người đời có mười cái đáng hổ thẹn:
Một là làm vua không hiểu chánh trị;
Hai là tôi thần mà vô lễ;
Ba là thọ ân không lo báo đáp;
Bốn là có tội lỗi không chịu chừa bỏ;
Năm là một vợ hai chồng;
Sáu là chưa cưới mà có thai;
Bảy là tập học không thành;
Tám là có binh khí mà không thể chiến đấu;
Chín là kẻ bỏn sẻn thấy người bố thí;
Mười là tôi tớ mà chủ không sai khiến được.
Đó là mười cái đáng hổ thẹn. Kinh chép: "Những ai biết hổ thẹn đều là kẻ rất dễ dạy, rất dễ sách tấn cũng như điều khiển ngựa hay."(Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Hổ thẹn trong chữ Liêm sỉ
8. Liêm sỉ: Chữ Sỉ tức là hổ thẹn. Gặp chuyện gì không hợp đạo lý, đi ngược lại với lương tâm của mình, thì tuyệt đối chẳng làm. Con người nếu không biết hổ thẹn thì giống như cầm thú vậy.
Hiếu, Ðễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ là tám đức tính căn bản để làm người, các em đừng quên. Trong tương lai ra đời phục vụ xã hội, các em phải: Ngôn tất trung tín, Hành tất đốc kính. (Lời nói phải trung tín, Hành vi phải cung kính.)
Hễ các em nói lời nào thì nhất định phải giữ chữ tín, đừng có nói dối; làm việc gì thì cũng phải hết sức cung kính, chân thật, tuyệt đối đừng làm cho có lệ mà thôi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị)
+ Sự hổ thẹn: Đức Phật dậy: Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm thú. (Nguồn: Kinh Lời Dạy Cuối Cùng Của Đức Phật)
+ Tâm hổ thẹn - Pháp bảo hộ thế gian: “Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có hai diệu pháp bảo hộ thế gian. Nghĩa là có tàm, có quý. Này các Tỳ-kheo, nếu không có hai pháp này, thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, có vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; liền sẽ cùng lục súc heo, gà, chó, trâu, dê v.v... đồng một loại. Do thế gian có hai pháp này ủng hộ, nên thế gian ắt phân biệt có cha, có mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ, cũng không đồng với lục súc. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên tập có tàm, có quý. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!
Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.
* Tàm, quý đều là tâm hổ thẹn với các điều tội lỗi, xấu xa mà mình đã tạo ra. Tự hổ thẹn với chính mình gọi là tàm, đối với người sinh tâm hổ thẹn gọi là quý. Có những tội lỗi chỉ một mình mình biết, ngược lại có những tội lỗi mọi người đều biết. Dĩ nhiên khi điều xấu của mình được phơi bày, không giấu giếm được thì ta rất xấu hổ (quý). Người lâm vào tình cảnh này mà không biết xấu nữa (vô quý) thì bó tay, hết thuốc chữa. (Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Tàm quý, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.259)
+ 620. TÀM QUÝ: Nếu Tỳ-kheo nào biết hổ thẹn thì có ái và kính. Nếu có ái và kính thì thường có tín. Nếu có tín thì thường có chánh tư duy. Nếu có chánh tư duy thì thường có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, tĩnh chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu giải thoát thì liền được Niết-bàn. (Trung A Hàm, Kinh Tàm Quý II, Phẩm 5, số 46)
+ Lợi ích của Tâm Hổ thẹn: Khi làm việc xấu ác vẫn phải bị đọa lạc tam ác đạo, nhưng vì biết Hổ thẹn, Sám hối liền sau khi tạo nghiệp thì tuy bị đọa lạc ác đạo nhưng Thời gian thọ quả ác được giảm thiểu. Đức Phật lấy ví dụ, người tạo ác nghiệp tuy vẫn bị đọa Địa ngục, nhưng do biết Hổ thẹn liền sau đó ăn năn thì tuổi thọ trong Địa ngục giảm đi nhiều, theo đó sớm được chuyển tái sanh lên Cõi giới thiện lành hơn - Biết hổ thẹn còn gì bằng!
+ Tâm hổ thẹn của Bồ Tát: Phước thứ ba là nền tảng của Bồ Tát Đại Thừa. “Phát tâm Bồ Đề. Tin sâu nhân quả. Đọc tụng Đại thừa. Khuyến tấn hành giả”. “Phát tâm Bồ Đề” chính là phát tứ hoằng thệ nguyện. Nguyện phát rồi phải thực hiện thì cái nguyện đó không phải nguyện suông, phải làm được. Cho nên, Bồ Tát có tâm hổ thẹn; hổ thẹn đang thúc đẩy động viên họ, khiến họ có thể quyết chí hướng thượng, dũng mãnh tin tấn. Hổ thẹn là đạo. Không hổ không thẹn, không biết xấu hổ, đó là phi đạo. “Tin sâu nhân quả”. Tôi giảng câu này giảng rất nhiều, nhân quả này không phải nhân quả phổ thông. Nhân quả phổ thông Bồ Tát đâu có đạo lý nào không biết. Cái nhân quả này là “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Đạo lý này, thật sự người biết không nhiều. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng Tịnh Nghiệp Tam Phước)
+ Trình tự tu trí tuệ:
Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu có Tỳ-kheo nào không tàm không quý (Không biết hổ thẹn) thì làm tổn hại ái và kỉnh [2- Ái cung kính]. Nếu không có ái và kỉnh thì làm tổn hại tín. Nếu không có tín thì làm tổn hại chánh tư duy. Nếu không có chánh tư duy thì làm tổn hại chánh niệm chánh trí. Nếu không có chánh niệm chánh trí thì làm tổn hại gìn giữ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, tĩnh chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu không giải thoát thì làm tổn hại Niết-bàn.
“Nếu Tỳ-kheo nào biết hổ thẹn thì có ái và kỉnh. Nếu có ái và kỉnh thì thường có tín. Nếu có tín thì thường có chánh tư duy. Nếu có chánh tư duy thì thường có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, tĩnh chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu giải thoát thì liền được Niết-bàn.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
“Này chư Hiền, cũng như cây nào mà lớp vỏ ngoài tổn hại thì lớp vỏ trong cũng hư. Vỏ trong hư, nên thân, lõi, nhánh, cành, hoa, lá chắc chắn thảy đều tàn rụi." (Nguồn: 45 - 46.Kinh Tàm Quý - Kinh A Hàm)
+ Pháp tu trí tuệ - Tu có trí tuệ - Người có trí tuệ - Người ngu đần - Người liệt tuệ
3) -- Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống các hồ nhỏ. .... xuống các hồ lớn... xuống các sông nhỏ... các sông lớn.... ra biển, ra đại dương. Tại đấy, thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.
4) Cũng vậy, ... Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp....
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
44.IV. Liệt Tuệ (Duppanna) (S.v,99)
1) ...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến... ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :
3) -- "Kẻ liệt tuệ ngu đần, kẻ liệt tuệ ngu đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là liệt tuệ ngu đần?
4) -- Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.
5) Này các Tỷ-kheo, chính do bảy giác chi này không được tu tập, không được làm cho sung mãn, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.
45.V. Có Trí Tuệ (S.v,100)
1-2) ...
3) -- "Có trí tuệ không ngu đần, có trí tuệ không ngu đần", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là có trí tuệ không ngu đần?
4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần. Thế nào là bảy giác chi này? Niệm giác chi... Xả giác chi.
5) Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi này, này các Tỷ-kheo, được gọi là có trí tuệ không ngu đần.
46.VI. Bần Cùng (Daliddo) (S.v,100)
1-2) ...
3) -- "Bần cùng, bần cùng", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là bần cùng?
4) -- Do không tu tập, do không làm cho sung mãn bảy giác chi, nên được gọi là bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.
5) Do không tu tập, không làm cho sung mãn bảy giác chi này, này Tỷ-kheo, được gọi là bần cùng.
47.VII. Không Bần Cùng (S.v,100)
1-2) ...
3) -- "Không bần cùng, không bần cùng", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là không bần cùng?
4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn bảy giác chi, này Tỷ-kheo, được gọi là không bần cùng. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... Xả giác chi.
5) Chính do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này nên được gọi là không bần cùng. (Nguồn: Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm - Tương ưng Giác Chi)
+ Chánh tư duy: Tư duy là ở bên trong, người ta không thể thấy được, chính mình phải dùng trí huệ vô lậu. Tôi nhiều lần giảng cho quý vị nghe về vô lậu, nhưng càng giảng quý vị càng lậu thêm. Giả sử có được chút trí huệ nào cũng bị chảy sạch hết. Nước trí huệ rịn chảy hết thì có lửa vô minh sanh ra. Pháp mà tôi giảng cho quý vị nghe là pháp hay nhất mà cả trong thiên hạ này không pháp nào hay hơn. Nếu không chịu chú ý, chẳng nghe cho kỹ thì dù Ðức Phật Thích Ca tái thế cũng cứu không được quý vị. Vô lậu tức là không có tà tư tà kiến. Không có tâm dâm dục tức là vô lậu. Có tâm dâm dục tức là hữu lậu. Chánh tư duy tức là vô lậu, tà tư duy tức là hữu lậu. Tư duy thuộc về tâm, cũng là ý. Trong ý niệm không khởi một niệm không chính đáng nào tức là Chánh tư duy. (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Chánh tư duy: Chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi mình và người. (Sách: Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn)
+ 127. CHÁNH NIỆM CHÁNH TRÍ
Nếu Tỳ-kheo nào không thường hay lãng quên, có chánh trí thì thường xuyên có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ gìn các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu đã giải thoát liền chứng đắc Niết-bàn. Nguồn mục 127 - (Trung A Hàm, Kinh Niệm, Phẩm 5, số 44)
+ 132. CHÁNH TƯ DUY
Thế nào là chánh tư duy? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải thoát, trong đó là sự tư sát, tư sát toàn diện, tùy thuận tư sát, điều nào nên niệm thì niệm, điều nào nên hy vọng thì hy vọng. nguồn mục 132 - (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Thánh Đế, Phẩm 3, số 31)
+ 9. KINH CHÁNH TRI KIẾN (Sammàditthi Sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo".--"Hiền giả", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:
-- Chư Hiền, chánh tri kiến, chánh tri kiến, được gọi là như vậy. Chư Hiền, cho đến như thế nào, một Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chúng tôi từ xa đến để được hiểu ý nghĩa lời nói ấy từ Tôn giả Sariputta. Thật lành thay, nếu Tôn giả Sariputta giảng cho ý nghĩa lời nói ấy. Sau khi nghe Tôn giả Sariputta, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Chư Hiền, vậy hãy nghe, hãy khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, Hiền giả! - Các Tỷ-kheo vâng đáp Tôn giả Sariputta.
Tôn giả Sariputta nói như sau: (Thiện và bất thiện)
-- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện?
Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.
Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.
Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền,
như vậy gọi là thiện.
Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
(Thức ăn): Lành thay, Hiền giả! Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn? Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp,
Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
(Tứ diệu đế). Lành thay, Hiền giả! Các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta liền hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
-- Này Hiền giả, có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Ðoạn diệt của khổ, tuệ tri con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là Khổ, thế nào là Tập khởi của khổ, thế nào là Ðoạn diệt của khổ, thế nào là con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chư Hiền, như vậy gọi là Khổ.
Chư Hiền, thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Chư Hiền, như vậy gọi là Tập khởi của khổ.
Chư Hiền, thế nào là Ðoạn diệt của khổ? Ðó là sự đoạn diệt ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy.
Chư Hiền, thế nào là con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ? Chính là Thánh Ðạo Tám Ngành đưa đến khổ diệt, tức là Chánh tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ như vậy, tuệ tri Tập khởi của khổ như vậy, tuệ tri Ðoạn diệt của khổ như vậy, tuệ tri con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
(Già và chết) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử... (như trên)... thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư
Hiền, như vậy gọi là già. Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết.
Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến... (như trên)... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết như vậy, tuệ tri tập khởi của già chết như vậy, tuệ tri đoạn diệt của già chết như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên... (như trên)..., và thành tựu diệu pháp này.
(Sanh) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sanh, tuệ tri tập khởi của sanh, tuệ tri đoạn diệt của sanh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế nào là đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện, hiện hành các uẩn, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là sanh.
Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của sanh, từ sự đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt của sanh, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri được sanh như vậy, tuệ tri được tập khởi của sanh như vậy, tuệ tri được đoạn diệt của sanh như vậy, tuệ tri được con đường đưa đến đoạn diệt của sanh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... (như trên)... như vậy... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
(Hữu) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu, tuệ tri tập khởi của hữu, tuệ tri đoạn diệt của hữu, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu, thế nào là đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu? Chư Hiền, có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn diệt của thủ có đoạn diệt của hữu và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu như vậy, tuệ tri tập khởi của hữu như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hữu như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Thủ) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri tập khởi của thủ, tuệ tri đoạn diệt của thủ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ? Chư Hiền, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ; và Thánh Ðạo Tám Ngành
này là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thủ như vậy, tuệ tri tập khởi của thủ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thủ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên và thành tựu diệu pháp này.
(Ái) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái, tuệ tri tập khởi của ái, tuệ tri đoạn diệt của ái, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào là đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của ái? Chư Hiền, có sáu loại ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ, có tập của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái, và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của ái, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái như vậy, tuệ tri tập khởi của ái như vậy, tuệ tri đoạn diệt của ái như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp.
(Thọ). Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ, tuệ tri tập khởi của thọ, tuệ tri đoạn diệt của thọ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thọ, thế nào là tập khởi của thọ, thế nào là đoạn diệt của thọ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ? Chư Hiền, có sáu loại thọ này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Từ tập khởi của xúc, có tập khởi của thọ; từ đoạn diệt của xúc, có đoạn diệt của thọ; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ như vậy, tuệ tri tập khởi của thọ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thọ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Xúc) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc, tuệ tri tập khởi của xúc, tuệ tri đoạn diệt của xúc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là xúc, thế nào là tập khởi của xúc, thế nào là đoạn diệt của xúc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc? Chư Hiền, có sau loại xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Từ tập khởi của sáu nhập, có tập khởi từ xúc; từ đoạn diệt của sáu nhập, có đoạn diệt của xúc, và
Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc như vậy, tuệ tri tập khởi của xúc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của xúc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Nhập). Lành thay, Hiền giả...câu hỏi như sau: Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập, tuệ tri tập khởi của sáu nhập, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là sáu nhập, thế nào là tập khởi của sáu nhập, thế nào là đoạn diệt của sáu nhập, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập? Chư Hiền, có sáu nhập này: nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập. Từ tập khởi của danh sắc có tập khởi của sáu nhập; từ đoạn diệt của danh sắc có đoạn diệt của sáu nhập; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập như vậy, tuệ tri tập khởi của sáu nhập như vậy, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu hạnh pháp này.
(Danh sắc). Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc, tuệ tri tập khởi của danh sắc, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là danh sắc, thế nào là tập khởi của danh sắc, thế nào là đoạn diệt của danh sắc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, chư Hiền, như vậy gọi là danh; bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành, chư Hiền, như vậy gọi là sắc; như vậy đây là danh và đây là sắc, Chư Hiền, như vậy gọi là danh sắc. Từ tập khởi của thức, có tập khởi của danh sắc; từ đoạn diệt của thức, có đoạn diệt của danh sắc; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc như vậy, tuệ tri tập khởi của danh sắc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Thức). Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức, tuệ tri tập khởi của thức, tuệ tri đoạn diệt của thức, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thức, thế nào là tập khởi của thức, thế nào là đoạn diệt của thức, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức? Chư Hiền, có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ tập khởi của hành, có tập khởi của thức; từ đoạn diệt của hành có đoạn diệt
của thức; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức như vậy, tuệ tri tập khởi của thức như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Hành) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành, tuệ tri tập khởi của hành, tuệ tri đoạn diệt của hành, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là hành, thế nào là tập khởi của hành, thế nào là đoạn diệt của hành, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hành? Chư Hiền, có ba loại hành này: thân hành, ngữ hành, tâm hành. Từ tập khởi của vô minh, có tập khởi của hành; từ đoạn diệt của vô minh, có đoạn diệt của hành; và Thánh
Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của hành, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành như vậy, tuệ tri tập khởi của hành như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hành như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Vô minh) . Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh, tuệ tri tập khởi của vô minh, tuệ tri đoạn diệt của vô minh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, khi ấy, Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là vô minh, thế nào là tập khởi của vô minh, thế nào là đoạn diệt của vô minh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh? Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt, Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh. Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh như vậy, tuệ tri tập khởi của vô minh như vậy, tuệ tri đoạn diệt của vô minh như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
(Lậu hoặc) . Lành thay, Hiền giả!
Các vị Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta, liền hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
-- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc. Chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là lậu hoặc, thế nào là tập khởi của lậu hoặc, thế nào là đoạn diệt của lậu hoặc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc? Chư Hiền, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Từ tập khởi của vô minh có tập khởi của lậu hoặc; từ đoạn diệt của vô minh có đoạn diệt của lậu hoặc và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc như vậy, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta. (Nguồn: Kinh Chánh Tri Kiến)
+ Pháp Nhãn trong Ngũ nhãn Lục thông
1. Con mắt pháp, năng lực nhận ra các pháp một cách tường tận. Với Pháp nhãn này, Bồ Tát có thể cứu độ tất cả chúng sinh;
2. Dạng thứ 2 trong Ngũ nhãn (五眼);
3. Tên của một vị Thiền sư quan trọng (885-958) vào đời Đường Trung Hoa, thường được biết với thuỵ hiệu là Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師). Còn được biết qua pháp danh Văn Ích (文益). Pháp Nhãn Văn Ích.
I. Pháp Nhãn. Chỉ cho mắt trí tuệ có khả năng thấy được thực tướng của tất cả các pháp và thấu suốt các pháp duyên sinh sai biệt 1 cách rõ ràng. Là 1 trong Ngũ nhãn. Bồ tát vì hóa độ chúng sinh, dùng Pháp nhãn thanh tịnh quan sát khắp các pháp, tu hành chứng đạo; lại biết rõ các pháp môn phương tiện thích hợp với mỗi chúng sinh, nên có thể giúp chúng sinh tu hành chứng đạo. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33; luận Du già sư địa Q.14]. (xt. Ngũ Nhãn).(Nguồn: Xem tại đây)
+ Tu đạo cần có con mắt pháp: HỎI: Trong kinh nói: “Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. Tự quy y pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. Tự quy y Tăng đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. Hòa nam Thánh chúng.”
Vậy khi làm một vị Pháp sư xuất gia tất nhiên phải thống lý đại chúng và làm mọi việc đều phải phù hợp với đạo Phật mới phải. Nhưng là con người thì không thể mười phần vẹn toàn được; vì người rốt cuộc cũng vẫn là người. Nếu như tự bản thân các vị Pháp sư vẫn chưa hoàn toàn giữ được thanh quy giới luật, vậy loại thống lý đại chúng này, không phải là sẽ dẫn dắt chúng sanh đến chỗ sai lầm hay sao?
ĐÁP: Trên thế giới này hễ có tốt là có xấu. Có người tu hành nhưng cũng có người không tu hành. Có vị chân chánh hành trì theo Phật giáo, nhưng cũng có người chỉ ỷ lại mà mặc áo nhà tu, ăn cơm nhà Phật, lấy danh nghĩa Phật giáo để tính chuyện làm ăn, lập xí nghiệp để chơi đùa, đó tức là mắt cá trộn lẫn với ngọc châu. Vậy phải xem coi mỗi người có con mắt chọn pháp hay không. Người có trạch pháp nhãn sẽ biết nhận thức đâu là phải, cái gì là trái; còn như không có mắt chọn pháp thì sẽ nhận giặc làm con, lấy khổ làm vui, đen trắng đều điên đảo.
HỎI: Tại sao Phật giáo của chúng ta không đơn giản hóa một chút để cho nhiều người hiểu biết ngay?
ĐÁP: Tại sao các vị không nghĩ ra cách cho tụi con nít mới sanh ra là có thể làm việc được liền? (Gậy Kim Cang Hét 2 - Hoà Thượng Tuyên Hóa)
+ 4. Pháp nhãn thấy được cái phương tiện pháp của chư Phật trong ba đời và hiểu được các pháp phương tiện tùy theo căn cơ cao thấp mà truyền đạo không sai lạc, như bệnh nào cho thuốc nấy.
Năm thứ con mắt này đều do các công đức phước lành chiêu cảm mà ra. Duy có một bậc Phật là hoàn toàn, ngoài ra các bậc khác chưa được. Con mắt tuy chia làm năm, mà gốc tại cái tâm tu hành đến chỗ kiến tánh rồi thì ai ai cũng có được. (Nguồn: Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận)
+ " Pháp Nhãn quán tục đế (Pháp Nhãn duy quán tục). "Con mắt Pháp" chỉ quán xét, nhìn thấy tục đế. "Tục đế" tức là những tình hình của thế gian nói chung. Nếu quý vị được mở Pháp Nhãn thì khi tụng kinh sẽ không cần phải nhìn vô sách nữa. Bấy giờ, quý vị chỉ việc "mở con mắt Pháp" ra thì sẽ thấy cùng tận hư không và khắp Pháp Giới đều toàn là kinh điển, đâu đâ cũng thấy tràn ngập vô lượng vô biên Pháp bảo. Quý vị chỉ cần chứng đắc Pháp Nhãn Tịnh là có thể quán thấy được tất cả thật tướng của các pháp. Vậy, Pháp Nhãn chỉ quán xét tục đế. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Tu cần có trí tuệ: Kẻ tu hành phải có con mắt trạch pháp ("Trạch Pháp nhãn" hay "Dharma-selecting vision"), mới có thể chọn lựa thứ gì là chánh pháp, thứ gì là tà pháp. Chánh pháp là không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Ðây là sáu đại tông chỉ, người tu Ðạo noi theo sẽ có được chánh tri và chánh kiến. Ngược lại, tà pháp chính là tranh, tham, cầu, ích kỷ, tự lợi, nói dối. Nếu có sáu thứ đó thì sẽ có tà tri tà kiến.
Ðây là điểm then chốt, là đường phân ranh giữa hai phía, hướng tới phía trước là Chánh pháp, về phía sau là tà pháp. Chúng ta phải nhận cho rõ điểm này. Giả như không có tà tri tà kiến thì chỉ cần giữ định lực kiên cố, ma vương sẽ không có cách gì quấy phá ta, không thể làm cho tâm ta lay động. Có câu rằng:
"Phật đến giết Phật, ma đến giết ma". Câu này là nghĩa thế nào? Ðây chỉ là lời khuyên ta không nên quá chấp vào cảnh giới.
Thấy Phật đến mà cũng không tiếp nhận hình ảnh này, huống chi là thấy ma! Tuy rằng trong nhiều trường hợp các cảnh giới đó là những tin báo trước, rất linh ứng, nhưng chúng ta cũng không nên tin vào.
Ðiều mà chúng ta cần tin tưởng chính là sáu đại tông chỉ, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng nói dối.
Ðó chính là lưỡi gươm chém ma, cái chầy hàng phục ma vậy. ..... Ðây mới chính là mục tiêu của hành giả trên con đường tu Ðạo. (Nguồn: Khai thị - HT Tuyên Hoá Q.5)
+ CHỌN PHÁP TU VỚI CÔNG ĐỨC TU CÁC CĂN: Mỗi người mỗi khí chất, theo đó mỗi người có điểm mạnh yếu khác nhau, cần chọn điểm mạnh, ít trở ngại nhất để tu
Phật dậy: A Nan! Thế giới chúng sinh tức là vũ trụ bao gồm hai mặt không gian và thời gian
* Thế là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu - Luật Nhân quả báo ứng.
* Giới là không gian - Lý Nhân duyên sanh hợp, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phương hướng tả hữu, trước sau. Phương hướng mà người thế nhân nhận rõ là: Đông, Tây, Nam, Bắc bốn phương. Nhưng thật ra có tất cả 10 mười trong thế gian này. Đó là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới.
* Thời gian có 3 thời là: Quá khứ, hiện tại và vị lai.
=> Lấy không gian và thời gian nhân cho nhau: Bốn nhân ba hay ba nhân bốn thành con số 12. Vì có 10 phương hướng trong khi số lưu chuyển của thời gian là 3 nên nhân lên ba lần là 4 x 3=12 rồi 12 x 10= 120 và sau cùng 120 x 10= 1200. Số 1200 là con số tượng trưng biểu hiện cho công đức của 6 căn tương quan trong thế giới.
Tuy nhiên, nếu xét riêng thì công năng của mỗi căn cao thấp khác nhau, chẳng đồng:
1. Xét về nhãn căn thì mắt chỉ thấy phía trước và một phần của hai bên. Cho nên luận về mắt chỉ được 800 công đức.
2. Xét về nhĩ căn, lỗ tai có ba đức ưu việt. Viên, Thông và Thường. Luận về nhĩ căn thì có 1200 công đức.
3. Xét về tỷ căn, lỗ mũi tương tục chỉ có thở ra và hít vào. Điểm giao tiếp giữa hít và thở gián đoạn. Luận về tỷ căn có được 800 công đức.
4. Xét về thiệt căn thì lưỡi có thể phô diễn cùng tột trí thế gian và xuất thế gian. Ngữ ngôn tuy hữu hạn mà diệu lý diễn đạt vô cùng. Luận về thiệt căn thì có được 1200 công đức.
5. Xét về thân căn, thân thì biết xúc. Có thể xúc thuận xúc nghịch, nhưng khi hợp thì biết, lúc ly thì không. Luận về thân căn chỉ có 800 công đức.
6. Xét về ý căn, ý căn thầm lặng mà dung nạp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian mười phương ba đời, thánh phàm không pháp nào không bao dung cùng tột. Luận về ý căn có đủ 1200 công đức.
=> A Nan! Ông muốn ngược dòng sinh tử hãy xét 6 căn ông hiện thọ dụng. Cái nào hợp, cái nào ly, căn nào sâu, căn nào cạn, căn nào viên thông, căn nào không viên thông. Nếu khai ngộ được một căn viên thông thì đảo ngược tất cả dòng nghiệp vô thỉ. Đối với hiệu quả tu hành, bấy giờ một ngày bằng một kiếp.
Tôi nay đã chỉ rõ cho ông: Sáu căn, căn nào cũng trong sáng và đều có số lượng công năng. Tùy ông chọn lựa. Thích hợp căn nào tôi sẽ hướng dẫn cho ông để ngày thêm tăng tiến.
Mười phương Như Lai, căn, trần, thức, 18 giới đều là công cụ để viên mãn Vô thượng Bồ-Đề. Căn cơ trí tuệ còn non nớt, ông cần đi sâu tu tập một căn. Một căn thanh tịnh thì sáu căn đồng thời được tháo mở hoàn toàn thanh thoát.
Vì thế, người đệ tử Phật trên con đường tu tập diệt trừ phiền não nên chọn căn nào thích hợp nhất cho mình, căn nào có công năng cao nhất thì sự thành công sẽ mau chóng hơn là chọn những căn yếu công năng. (Nguồn: Xem mục Chỉ rõ sự ràng buộc và siêu thoát ...)
+ Phát Triển Trí Huệ - Trí Thông Tuệ: Chúng ta là hàng phàm phu, chưa có được đại trí tuệ, phải nỗ lực vượt bậc để thường nhớ trì tụng chú Đại Bi, hoặc thường niệm câu: “Y hê, y hê, thất na, thất na”. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng câu Chú Đại Bi số 37 - Thất na thất na)
+ Trí Thức/ Trí Tuệ khác nhau: Đạo Đời / Đạo Phật có các thuật ngữ tương ứng về người thu đạt được kiến thức như Trí thức/ Trí tuệ hay Trí Tuệ Biện Thông/ Trí tuệ Chân Thật; Học giả/ Hành giả; Bác học/ Trí tuệ vô lậu/ Trí Tuệ bát Nhã. Bởi vì trí thức là trí do ý thức nhanh nhẹn khéo léo, so sánh phân biệt, đối chiếu rành rõ, khiến người nghe dễ nhận dễ hiểu. Còn học giả là lượm lặt, gom kiến thức làm của mình. Bác học nghiền ngẫm, nghiên cứu phát minh .... Như vậy nhà trí thức, học giả và bác học là nhắm thẳng vào ý thức sinh diệt ... lo cho thân này mỗi ngày mỗi sung túc, mỗi tốt đẹp, mỗi giàu có hơn; Người học Phật lấy trí tuệ làm gốc, có 2 phần:
(i) Trí tuệ hữu lậu, là Văn, Tư, Tu. Văn tức là học lời chân thật, lý thật, chân lý của cuộc đời. Tư- Nghiền ngẫm, thấy rõ, hiểu tường tận là Tư. Tu là ứng dụng => Thấy đúng như thật chân lý Phật đã dạy, để tâm không nhiễm, không dính mắc tất cả pháp sinh diệt bên ngoài, đó là Tu. Trí tuệ hữu lậu còn luân hồi sanh tử.
(ii) Trí tuệ vô lậu là gì? Là Giới, Định, Tuệ. Đây là Pháp Tu để giải thoát niết bàn (Nguồn)
+ Trí tuệ chân chính: Trích ... Nếu ánh sáng mặt trời không chiếu qua các khe cửa, thì quý vị không thể nào thấy được bụi trần, cho dù thực sự có rất nhiều bụi trần khắp mọi nơi. Nhưng khi bụi trần nhiễu động lăng xăng thì hư không vẫn tĩnh lặng, hư không chẳng hề dao động. Khả năng thấy được bụi trần trong tia sáng mặt trời chiếu soi qua khe cửa biểu tượng cho năng lực của ánh sáng trí tuệ. Khi quý vị chứng được sơ quả a-la-hán, đoạn diệt được tám mươi tám món kiến hoặc [64] thì sẽ có được trí tuệ chân chính. Lúc ấy quý vị có thể thấy được các niệm vô minh sinh khởi phiền não trong mình cũng nhiều như cát sông Hằng. Mặt trời trí tuệ chiếu soi vào khách trần phiền não – qua ví dụ của A-nhã Kiều-trần-như – cũng như ánh sáng mặt trời chiếu qua khe cửa. Hang động âm u của vô minh sẽ được chiếu sáng, lúc ấy quý vị sẽ nhận ra khách trần phiền não, và quý vị sẽ được giác ngộ.(Nguồn: Giảng Kinh Thủ LN-Q1-Phần CV_M.118)
+ Trí huệ chân chính (True idea): Một ý tưởng xuất phát từ các phân cảnh trực giác của tâm thức thiêng liêng là một trí huệ chân chính.(VCVTDT, 189)
+ Trí huệ từ đâu mà có: TRÍ HUỆ CHẲNG LÌA GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, NHẤT ĐỊNH TỪ GIỚI - ĐỊNH MÀ KHAI TRÍ HUỆ, TRÍ HUỆ MỚI THẤU LỘ. Nguồn: Tịnh Không Giảng Giải Ký
+ Siêu trí tuệ: Siêu trí tuệ là sự đáp ứng của thể trí giác ngộ với Thiên Trí (CTHNM, 495)
+ Trí Huệ Từ Đâu mà có: "Chẳng vượt biển trí Văn Thù, khó nhập hạnh môn Phổ Hiền"
* Trong xã hội hiện thời, nhìn trên hình thức, giáo dục dường như rất phát triển, trường học rất nhiều. Quan sát cẩn thận, tất cả sự giáo dục hiện thời, chúng ta thường nói là giáo dục gia đình, giáo dục trong học đường, giáo dục trong xã hội, cho đến giáo dục tôn giáo, đều chẳng nhấn mạnh trí huệ, chỉ nhấn mạnh kiến thức. Chư vị phải biết: Trí huệ và kiến thức khác nhau, chẳng tương đồng! Trí huệ có thể giải quyết hết thảy vấn đề, giải quyết rất viên mãn, chẳng để lại hậu quả. Kiến thức có hạn chế, nó chẳng thể giải quyết hết thảy vấn đề, có những vấn đề có thể giải quyết được, nhưng cũng có những vấn đề chẳng thể giải quyết, lại còn để lại rất nhiều hậu quả, chúng ta chớ nên chẳng biết điều này! Học rộng nghe nhiều, mà nếu chẳng có trí huệ, sẽ là tri thức (kiến thức). Trí huệ học từ đâu? Trí huệ chẳng lìa Giới, Định, Huệ, nhất định là từ Giới - Định mà khai trí huệ, trí huệ mới thấu lộ. Nói cách khác, người tâm thường ở trong Định, sẽ dễ khai trí huệ. Nếu một kẻ tâm bộp chộp, hời hợt, làm sao có trí huệ cho được? Nguồn: PS Tịnh Không
Xem hình ảnh 4 cõi thấp - Hạ trí
Xem: Xem Rộng Trí Tuệ là Cung 1 – 4 – 5
Xem: TH về Cõi trí, Thể trí (Thượng, hạ trí), Cung Thể Trí
Xem: Rối loạn Chia rẽ, Kích thích, Tích hợp và cách chữa trị
Xem: TH về Trí tuệ, Cung Thể Trí Và Cõi Trí (Hạ Trí và Thượng Trí)
+ Bốn cung trí tuệ:
Thứ ba. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các Chân Thần nhân loại được duy trì bằng định luật nghiệp quả tứ phân dưới sự hƣớng dẫn của các Vị Lipikas.
Thứ tư. Bốn vị Hành Tinh Thượng Đế (47) lo về sự Hài Hoà, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ, các Ngài [113] xét chung vốn là Tứ Nguyên của Manas trong khi có diễn trình tiến hoá, và các Ngài chuyển vào dưới ảnh hưởng của các Ngài tất cả các con của nhân loại.
Thứ năm. Các Thiên Thần Tinh Quân ở bốn cõi, đó là cõi Bồ Đề hay cõi Trực Giác tâm linh, cõi Manas hay cõi Trí, cõi Cảm dục và cõi trần, các Ngài cũng có liên hệ với sự tiến hoá nhân loại theo một ý nghĩa mật thiết hơn ba cõi cao.
Bốn cung về trí tuệ là bốn cung thứ yếu, vốn hợp thành Tứ Nguyên của Thượng Đế (logoic Quaternary) và vốn sau rốt được tổng hợp thành một cung thứ 5, cung chính yếu thứ 3 của trí tuệ hoạt động hay khả năng thích ứng. Danh xưng của các cung như sau:
Ba cung chính yếu:
1. Cung Ý Chí hay Quyền Năng.
2. Cung Bác Ái hay Minh Triết.
3. Cung Trí Tuệ Hoạt Động.
Bốn cung thứ yếu:
4. Cung Mỹ Lệ, Hài Hoà, Mỹ Thuật hay Nhịp nhàng.
5. Cung Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học.
6. Cung Lý tưởng trừu tƣợng.
7. Cung Trật Tự Nghi Lễ hay Tổ Chức.
Các Chân Thần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức các Chân Thần con người, tồn tại trong ba nhóm chính:
a. Các Chân Thần Ý Chí (The Monads of Will).
b. Các Chân Thần Bác Ái (The Monads of Love).
c. Các Chân Thần Hoạt Động (The Monads of Activity)
- Đức Mahachohan. (Văn Minh Bồ Tát). Một viên chức trong Thánh Đoàn hành tinh chúng ta. Ngài chủ trì các hoạt động được xúc tiến trong 4 cung thứ yếu và cung tổng hợp thứ 3 của bốn cung này.
Ngài có liên quan đến nền văn minh, đến sự mở mang trí tuệ các giống dân, và với năng lượng thông tuệ, Ngài là vị lãnh đạo các Thánh sư (Adepts).
- Đức Bồ Tát (Bodhisattva). Đấng tiêu biểu (the exponent) cho thần lực cung 2, Bậc Thầy (Teacher) của các Thánh sư, con người và thiên thần. Chức vụ này lúc đầu do Đức Phật nắm giữ, nhưng (sau khi Đức Phật trở nên Toàn Giác) thì Đức Christ giữ địa vị này.
Công việc của Đức Bồ Tát liên quan đến các tôn giáo trên thế gian và liên quan đến Bản Thể tâm linh trong Con Người.
- Đức Bàn Cổ: (The Manu) Đấng chủ trì cơ tiến hoá của các chủng tộc. Ngài là con người lý tưởng. Ngài phải làm việc với các hình hài mà xuyên qua đó Tinh Thần phải biểu lộ; Ngài huỷ diệt và xây dựng lại.
Ba Đấng này chủ trì ba Bộ Môn (Departments) được phân chia trong Thánh Đoàn, và do đó tượng trưng ba Trạng Thái biểu lộ thiêng liêng trong lãnh vực đặc biệt của các Ngài. (Nguồn: LVLCK, 156 - 165)
+ Đại Tạng Kinh - Chánh pháp Phật: Câu hỏi: Gần đây Nhất Quán Đạo lấy danh nghĩa Phật Giáo bắt đầu lan truyền đến Mẫu Đơn Giang, xin Lão pháp sư từ bi khai thị sự khác biệt giữa Phật giáo và Nhất Quán Đạo ạ.
Sự khác biệt đơn giản nhất, Phật giáo nhất định nương vào Kinh điển, Kinh điển này nhất định phải có trong “Đại Tạng Kinh”. Kinh điển cũng có ngụy tạo, nếu không có trong “Đại Tạng Kinh” thì không đáng tin. Trong “Đại Tạng Kinh” có thì nhất định không có vấn đề gì, cho nên “Đại Tạng Kinh” là tiêu chuẩn thật sự của Phật pháp. Y theo Kinh Điển mà tu học, đây là Phật giáo chân chánh. Nếu không y theo Kinh điển mà tu học thì đó không phải là Phật giáo, chúng ta nhất định phải phân biệt rõ ràng điều này. Trước đây rất nhiều người hỏi tôi, Pháp Luân Công có phải là Phật giáo không? Tôi nói tu học của Pháp Luân Công không phải là Kinh điển Phật giáo, vậy thì không phải là Phật giáo. Nếu họ đúng là y theo Phật giáo, Kinh điển Phật giáo rất nhiều, bất luận là y theo một bộ Kinh điển nào mà tu học thì đó đều là Phật giáo, là đệ tử của Phật, bạn cứ nhìn từ trên tiêu chuẩn này thì nhất định sẽ không sai. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Pháp phá tà hiển chánh - Pháp chánh đạo - Pháp của đức Thế Tôn:
Dưới đây trích đoạn giảng rất hay về Tà pháp, tìm ra chánh pháp: ..... Trước hết là thầy Pháp Cứu (Dharmatrāta) đã dùng ví dụ vàng và những vật được chế tạo ra bằng vàng. Ví dụ như một đôi bông tai vàng hay một chiếc nhẫn vàng hay một cái kiềng vàng, ba vật đó rất khác nhau. Nhưng kỳ thực chúng có một cái chung là vàng. Vậy thì ba thời, quá khứ, hiện tại và vị lai, khác nhau như vậy, có khi được gọi là còn hay không còn, có mặt hay không có mặt, nhưng nằm dưới sự khác nhau đó có cái chung của ba thời. Nhìn vào trong đôi bông tai, trong chiếc nhẫn và trong cái kiềng, chúng ta thấy có một cái gì chung cho cả ba, và cái đó thường có. Đó là ví dụ của thầy Pháp Cứu (Dharmatrāta).
Một thầy khác là thầy Diệu Âm (Ghosa) thì dùng một ví dụ khác rất hay: có nhiều người khác nhau nhưng có cùng một phận sự nào đó như phận sự làm bếp chẳng hạn. Như thầy Pháp Độ là một, thượng tọa Giác Trí là hai, sư anh Nguyện Hải là ba, chúng ta có ba đầu bếp, ba người rất khác nhau nhưng khi đã vào bếp thì đều thành ra đầu bếp. Tuy chúng ta thấy ba người khác nhau, nhưng phận sự vẫn là một. Nhìn vào ba người khác nhau, ta thấy có một cái gì chung nằm sâu trong đó, đó là tài nấu bếp của các thầy, là khả năng có thể đóng vai trò đầu bếp. Đó là ví dụ của thầy Diệu Âm (Ghosa).
Thầy Thế Hữu (Vasumitra) là người sáng tạo ra bộ “Dị Bộ Tông Luân Luận”, một tác phẩm nói về nội dung của 18 bộ phái khác nhau của Phật giáo. Thầy đã dùng ý niệm về con số như con số 1, con số 2 hay con số 3. Mỗi con số có thể đóng được nhiều vai trò. Ví dụ như số 3, khi đi với một con số 0 thì nó là 30 (ba mươi), khi đi với hai con số 0 thì nó thành 300 (ba trăm), khi đi với ba con số 0 thì nó thành 3000 (ba ngàn). Ta thấy 30 không giống 300, 300 không giống 3000, nhưng trong ba trường hợp đều có ý niệm về số 3. Những thứ khác nhau như quá khứ, hiện tại, vị lai, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp,... những thứ đó khác nhau như vậy nhưng bên dưới chúng có một cái gì đồng nhất, đó là tự tánh.
Thứ tư là thầy Giác Thiên (Buddhadeva). Thầy lấy ví dụ một cô con gái. Khi sinh ra, cô được gọi là con, cô đóng vai trò người con. Khi lớn lên lấy chồng, cô đóng vai trò thứ hai là người vợ. Khi sinh con ra thì cô đóng vai trò người mẹ. Ba vai trò rất khác nhau: con gái, vợ, mẹ; nhưng chỉ có một cô đó đóng vai mà thôi. Trong ba cái khác nhau có một cái gì đồng nhất, cái đó gọi là tự tánh.
Chủ trương đó rất nguy hiểm, có thể đưa đạo Bụt trở lại với chủ trương của Số luận (Samkhyā) và đưa tới quan niệm của Vedānta, nó không phải là chính thống Phật giáo. Vì vậy cho nên thầy Long Thọ rất lo, thầy dùng biện chứng pháp để đập phá những tư tưởng như là “Pháp thể hằng hữu”, có nghĩa là tự tánh của các pháp luôn luôn có, giống như vàng của ba thứ trang sức, giống như số 3 của toán học, giống như trách vụ nấu bếp của ba thầy, giống như một người vừa làm con, vừa làm vợ, vừa làm mẹ.
Hữu Bộ thuộc về Tiểu thừa, thuộc về Phật giáo Bộ phái, nhưng đã đi xa đạo Bụt nguyên thỉ. Nói Phật giáo Tiểu thừa hay Phật giáo Bộ phái là Phật giáo nguyên thỉ thì điều này không đúng. Phật giáo nguyên thỉ rất là trong (pure). Chúng ta phải khôn khéo để đừng đi xa nguyên ý của Đức Thế Tôn.
Thầy Long Thọ được coi như người có công rất lớn, thầy dùng trí thông minh tuyệt thế của thầy để đập phá những quan niệm, những sự giảng giải đưa người ta đi xa nguyên ý của Đức Thế Tôn. Đương thời cũng như những thế hệ sau đã nghĩ rằng thầy Long Thọ là một vị Bụt thứ hai (the second Buddha). Đó là một vị Bụt thứ hai đã cứu vị Bụt thứ nhất, để vị Bụt thứ nhất là Đức Thích Ca không bị hiểu lầm. Toàn tác phẩm Trung Quán Luận là để “phá tà hiển chính”, tức là phá tất cả những quan niệm sai lầm và làm hiển lộ ra giáo pháp chân chính nguyên thỉ của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã từng dạy rằng: “Giáo pháp của ta như ngón tay chỉ mặt trăng, đừng có lầm ngón tay là mặt trăng”. Bụt nói ra câu gì thì người ta bị kẹt vào câu đó, ví dụ như Bụt nói “chỉ có hiện tại thôi” để chúng ta đừng tự đánh mất mình trong quá khứ, trong tương lai. Nhưng chúng ta lại cho là, nếu hiện tại có thì cố nhiên quá khứ có, quá khứ có thì hiện tại mới có. Chúng ta đã đi quá xa. Bụt không cố ý chứng minh hiện tại là có. Mục đích của Ngài không phải là triết học, mục tiêu của Ngài là giúp cho chúng ta đừng sống trong quên lãng. Chúng ta lấy giáo lý đó làm nền tảng cho một nền triết học thì hơi tội cho Ngài.
Tỳ Bà Sa Luận là một công trình triết học đồ sộ, chuyên làm việc phân tích. Thầy Long Thọ từ miền Nam lên và thầy nghiên cứu nền triết học của Tỳ Bà Sa Luận. Cái thấy về Trung Quán của thầy nhờ đó mà sâu hơn. Và thầy thấy được phải dùng phương pháp nào để đả phá những quan niệm triết học có thể đưa giáo lý nguyên thỉ đi xa. Vì thế thầy mới sáng tác Trung Quán Luận.... Đây chỉ là trích đoạn, mời đọc kỹ trong bài giảng tại: Phẩm Nhân Duyên - TS Thích Nhất Hạnh giảng
+ 96. CHÍN HẠNG NGƯỜI QUA LẠI [Pháp biết người - Người tài trí biết]
Thế gian này có chín hạng người qua lại.
1) Đoán biết ý nghĩ của người
2) Nghe rồi mới biết
3) Xem tướng sau đó mới biết
4) Quán sát nghĩa lý sau đó mới biết
5) Biết vị nếm sau đó mới biết
6) Biết nghĩa biết vị nếm sau đó mới biết
7) Không biết nghĩa không biết vị
8) Học ở sức thần túc tư duy
9) Nghĩa được nhận rất ít.
Nay Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc chỉ tập thần túc, chứ không học pháp khác. Tỳ-kheo này thường dùng thần túc thuyết pháp cho người.
Tỳ-kheo A-nan của Ta xem tướng mà đoán biết ý nghĩ của người, biết Như Lai cần cái này, không cần cái này; cũng biết Như Lai sẽ nói việc này, bảo xa lìa việc này. Tất cả đều biết rõ ràng. Như nay, không có ai vượt lên trên Tỳ-kheo A-nan về việc xem rộng các nghĩa kinh không đâu không khắp.
Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc này có thể hóa một thân thành nhiều thân, rồi hiệp trở lại thành một. Tỳ-kheo này ngày sau sẽ diệt độ ở giữa hư không. Ta không thấy người nào khác diệt độ như Tỳ-kheo A-nan và Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc này.
Thần túc là chỉ Tứ thần túc/ Tứ như ý túc gồm: 1. Dục thần túc, sự tập trung ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tấn thần túc, nghị lực mạnh mẽ; 3. Tâm thần túc, sự chú tâm; 4. Trạch pháp thần túc, chú tâm vào sự tra xét, tìm tòi. (Nguồn: Tăng Nhất A Hàm, Chín Pháp, 44. Phẩm Chín Chúng Sanh Cư, Kinh số 7)
+ Thần Túc thông: Sáu loại thần thông chính là Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông, Túc Mạng Thông, Lậu Tận Thông, và Thần Túc Thông.
5) Thần Cảnh Thông (cũng gọi là Thần Túc Thông hoặc Như Ý Thông). Chữ "thần" này đồng nghĩa với chữ "thần" vừa giảng ở trên, và cũng chỉ cho một cảnh giới kỳ diệu, không thể nghĩ bàn. Ý nghĩa của chữ "thần" và chữ "diệu" có đôi chút tương đồng; cho nên có lúc nói "thần diệu khôn lường", chính là ám chỉ một thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn.
"Cảnh" là cảnh giới; còn "thông" là thông đạt vô ngại, vốn không thông mà lại thông. Thí dụ, bức tường chắn ngang tuy có gây trở ngại, nhưng nếu quý vị khoét một lỗ hổng thì sẽ được thông lưu. Tương tự như thế, "bức tường" vô minh gây chướng ngại, ngăn che ánh sáng quang minh của tự tánh trong chúng ta; song, nếu quý vị có thể dùng "gươm" trí huệ của mình để phá vỡ bức tường đó, thì sẽ được thông suốt ngay. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - HT Tuyên Hóa)
5. Thần túc thông: Cũng gọi là Thần cảnh thông hay Như ý thông. Sao gọi là Thần túc thông? Ðó là một sức mạnh không thể nghĩ lường, có thiên biến vạn hóa, ngay đến quỷ thần cũng không lường biết. Lại gọi là Thần cảnh thông, vì có thể đến mọi cảnh giới, thông suốt không bị ngăn ngại, và Như ý thông: Ðược toại lòng mong muốn, muốn lên trời hoặc xuống địa ngục đều được tùy ý; thậm chí vào lửa, lửa không đốt được; vào nước, nước không nhận chìm; có thể mặc ý xuyên qua vách tường, không cần phải theo lối cửa; toại lòng như ý, muốn gì được nấy. (Thứ thần thông này không thể nghĩ bàn, cảnh giới rất vi diệu.) (Nguồn: Giảng Kinh A Di Đà)
+ Học Phật Pháp xuất gia và tại gia: ... Cho nên "Phật pháp ở thế gian thì không thể lìa thế gian giác". Câu nói này quan trọng, hay nói cách khác lìa khỏi thế gian thì bạn không thể giác, bạn không rời thế gian thì bạn mới có thể giác, làm sao mà bạn có thể từ bỏ đi công việc, buông bỏ gia đình? Đó là bạn không gánh vác trách nhiệm, bạn học Phật hiểu biết không thấu triệt, chỉ nghe lời truyền miệng, bạn không nên có cách làm như vậy. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Phương pháp đọc và Học: Những chú giải Kinh của nhiều Thầy chúng ta đều có thể tham khảo, nhưng nhất định không được có thành kiến. Có thành kiến bạn sẽ không thể học được gì. “Chỉ cung cấp cho ta tham khảo”. Nhất định tự mình phải có chủ ý riêng, không thể hoàn toàn đi theo người ta, làm như thế bạn sẽ vĩnh viễn không thể xuất đầu lộ diện.(Kinh TTNĐ-Tập 62_PS Tịnh Không)
+ Học 1 biết 10: Chúng ta thường nghe trong nhà Phật nói: “Một kinh thông suốt, hết thảy kinh thông suốt”. Câu nói này ngàn vạn phần đúng đắn, tuyệt đối chẳng hư giả, mãi đến năm nay tôi mới chứng nhập được cảnh giới này_PS Tịnh Không. (Nguồn: Tu Thanh Tịnh Tâm)
+ Phụ nữ học Kinh Phật có những lợi ích sau:
1. Nhận thức được chân tướng cuộc sống, học được nguyên tắc vận hành của cuộc sống, chọn được con đường đúng đắn trong cuộc đời, làm một người phụ nữ hạnh phúc.
2. Nuôi dưỡng chính khí, hóa giải oán khí, tăng phúc khí, nâng cao năng lượng sống, nạp đầy hi vọng trong cuộc sống.
3. Hóa giải tâm trạng không tốt ở tuổi mãn kinh, tích lũy năng lượng sống trong suốt nửa đời còn lại.
4. Tăng thêm sự tín nhiệm giữa hai vợ chồng, tăng thêm tình thân giữa mẹ và con, bồi dưỡng năng lượng cho gia đình.
5. Tăng cảm giác sống có mục tiêu, sống có giá trị. Cảm nhận được nhiều thành tựu trong việc làm; cảm nhận được thêm nhiều ý nghĩa trong cuộc sống; cảm nhận được hạnh phúc; cảm nhận được tâm tưởng sự thành, vạn sự như ý.
6. Toàn gia đình dưỡng chính khí, con cái thêm yêu học tập, chồng thêm yêu gia đình, gia nghiệp thêm hưng thịnh.
7. Làm Người mẹ tốt: Hôm nay đọc kinh Phật làm người mẹ tốt, mai sau làm một người bà tốt.
8. Người lương thiện: Có cơ hội làm người lương thiện, khuyên bảo được người thân, bạn bè, hàng xóm…học tập, hành thiện, tích đức.
9. Nguồn Phúc: Có năng lực tích phúc đức lớn.
10. Được hưởng ngũ phúc lâm môn: trường thọ, phú quý, bình an, khỏe mạnh, thiện chung. Phúc báo của một người phụ nữ không những ảnh hưởng đến cuộc đời chính họ mà còn tác động đến chồng con và gia đình. (Nguồn: Phụ nữ học Kinh Phật)
+ PS Tịnh Không: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” nghĩa là y theo câu văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, thì ba đời Phật bị oan. Cứ chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi!
Quý vị xem: Học Phật pháp phải quy về tự tánh, điều này khẩn yếu lắm, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh, mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. ....”Nguồn: Y Kinh Giải Nghĩa ...
+ Phật lại dạy rằng: "Chỉ học thuộc lòng và nhiều kiếp nhớ ghi Kinh văn diệu pháp của Phật, cũng không bằng một ngày chuyên tu vô lậu nghiệp. Xa lìa hai khổ thương ghét thế gian..."... A Nan! Bồ-đề Niết bàn còn xa, nếu ông không siêng năng tu tập, dù ông có nhớ diệu nghĩa 12 bộ kinh của thập phương Như Lai cũng chỉ thêm nhiều hý luận. (Nguồn: Mục Lại rơi vào thuyết nhân duyên đối đãi ....)
+ Đọc Tụng Kinh - Chứng ngộ đạo: .... Kinh Pháp Hoa là bộ kinh rất quan trọng trong đạo Phật. Kinh Thủ Lăng Nghiêm là để khai mở trí huệ, chỉ ra con đường tu tập. Kinh Pháp Hoa là để tựu thành Phật đạo. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ Giảng Nói Phật Pháp Tùy Căn Cơ Chúng Sinh: Trích đoạn Kinh Đức Phật dạy ngài A Nan "Lại nữa, A-nan, như ông thường biết được rằng, như ông đã rõ, ông đã được nghe giáo lý quyền thừa trước đây. Giáo lý quyền thừa đề cập đến năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Ông đã hiểu được toàn bộ giáo lý nầy. Nhưng, giáo lý về mười tám giới chỉ được diễn bày như là một pháp môn phương tiện cho hàng Nhị thừa và ngoại đạo để dẫn dắt họ. Nay Như Lai sẽ giảng giải giáo lý ấy thật chi tiết. Đừng trở nên chấp trước với những pháp trần nầy.... (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Đức Phật giảng Pháp Có Nhiểu Cấp Độ: HT Tuyên Hóa giảng nghĩa Kinh Thủ Lăng Nghiêm ... Những gì được giảng giải trước đây đều là pháp phương tiện. Pháp đang được giảng nói bây giờ là Đệ nhất nghĩa đế, là giáo lý rốt ráo của Trung đạo, hoàn toàn khác với pháp môn được giảng nói trước đây. Năm uẩn, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới–tất cả các pháp nầy đều không sinh khởi do nhân duyên, cũng chẳng sinh khởi do tự nhiên.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)
+ 272. HIỂU PHÁP
Cũng như có người muốn bắt được rắn, bèn đi tìm rắn. Khi đi tìm rắn, người ấy tay cầm gậy sắt, đi trong rừng hoang, thấy một con rắn rất lớn, liền lấy gậy sắt đè lên đầu con rắn, rồi lấy tay nắm đầu nó. Con rắn kia tuy ngoặt đuôi lại, hoặc quấn tay chân, hoặc các chi thể khác, nhưng không thể mổ. Người kia làm như vậy để tìm bắt rắn và đạt được mục đích, không chuốc lấy cực khổ luống công, cũng không tự gây phiền nhọc.
Vì sao? Vì người ấy khéo biết cách bắt rắn. Cũng vậy, hoặc có thiện gia nam tử ghi nhớ và hiểu biết về nghĩa và văn không điên đảo. Người ấy do tự mình ghi nhớ và hiểu biết không điên đảo về nghĩa và văn mà biết pháp kia như vậy như vậy, tức chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghĩa. Người ấy không vì tranh luận mà biết nghĩa này, nhưng vì giải thoát mà biết nghĩa này. Người ấy biết pháp này vì mục đích ấy nên đạt đến nghĩa này, không chuốc lấy cực khổ luống công, không tự gây phiền nhọc. Vì sao? Vì ghi nhớ và hiểu biết không điên đảo về pháp. (Trung A Hàm, Kinh A-lê-tra, Phẩm 16, số 200)
+ Ngũ phước: Của người giảng kinh thuyết pháp có được (Nguồn: Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phước Đức Kinh)
+ Xin mời đọc bài viết tổng hợp các hướng dẫn học đạo phật để có thành tựu chân thật: Học Phật pháp theo Phật dậy
+ Giảng câu 32 Chú Đại Bi: Thất phật ra da (Hỏa diệm quang = Hỏa quang = Lửa trí tuệ = Nước từ bi)
Mỗi khi quí vị niệm Thất Phật ra da thì toàn pháp giới này có một luồng chớp sáng phát ta. Cứ mỗi niệm Thất Phật ra da là có một luồng quang minh phóng ra bao trùm cả vũ trụ.
Thất Phật ra da được dịch là “phóng quang”. Còn dịch là “tự tại”. Phiên âm từ tiếng Phạn “Isara” như trong chữ “Avalokihesvara”. ở đây có nghĩa là “Quán”, vì có quán chiếu thâm sâu rồi mới được “tự tại”. Nếu quí vị không có sức quán chiếu thâm sâu, thì quí vị sẽ không đạt được năng lực tự tại.
Quán chiếu nghĩa là hướng vào bên trong tự tâm mà công phu chứ không phải hướng ra ngoại cảnh bên ngoài. Nghĩa là hướng vào bên trong mà quán chiếu không ngừng. Hãy tự hỏi: “Ta có hiện hữu hay không?”. Ông chủ có hiện hữu trong chính tự thân quí vị hay không? Quí vị có làm chủ được mình hay không? Mặt mũi xưa nay của ông chủ có hiện hữu hay không? Thường trụ chơn tâm thể tánh thanh tịnh có hiện hữu hay không? Nếu những cái đó đều hiện hữu, có nghĩa là quí vị đạt được tự tại. Còn nếu không hiện hữu, có nghĩa là quí vị không có được tự tại.
Sự phóng quang cũng mang ý nghĩa tự tại. Nếu quí vị đạt được năng lực tự tại, thì quí vị có thể phóng quang. Nếu chưa có được năng lực tự tại, thì không thể phóng quang được.
Thất Phật ra da cũng được dịch là “Hoả diệm quang”, cũng gọi là Hoả quang. Đó là lửa, nhưng không phải là lửa phát sinh từ tập khí phiền não, như quí vị thường nói: “Tôi vừa nổi nóng như lửa”. Đó cũng không phải là lửa xuất phát từ sự sân hận, phẫn nộ, căm hờn của quí vị, mà đó chính là lửa trí tuệ. Đó cũng chính là nước từ trí tuệ tiết ra để dập tắt lửa vô minh. Trí tuệ chân chính hiển lộ khi lửa vô minh bị dập tắt. Đó chính là Hoả Diệm Quang.
Khi quí vị trì tụng Thất Phật ra da tức là quí vị đang phóng quang. Nhưng trước tiên quí vị phải có được năng lực tự tại. Không có năng lực tự tại thì quí vị không thể nào phóng quang được. Hãy nhớ kỹ điều này.
Đây là Nhật Tinh Ma Ni thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng chữa trị bệnh mắt mờ không thấy rõ. Dùng ấn pháp này khiến cho mắt được sáng lại. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Thần Chú Đại Bi)
+ Trí căn tánh: Căn Tánh Phàm phu - Người chưa giác ngộ - Người thế tục:
- Người thế tục: Có hai loại (i) người thế tục mù lòa), và ( ii) người thế tục hiểu biết
1.1 - Người thế tục mù lòa: Là người Không hiểu giáo pháp của Đức Phật. Chưa nghe giáo pháp của Đức Phật. Không tìm hiểu giáo pháp của Đức Phật. Những lời dạy của Đức Phật bao gồm những pháp như: Ngũ Uẩn, Căn, Trần, Xứ, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ v.v… Những pháp này là các đề tài được Đức Phật dạy. Một người chưa biết hoặc không hiểu những giáo pháp này được gọi là những người thế tục mù lòa.
1.2 - Người thế tục hiểu biết: Là người hiểu giáo pháp của Đức Phật như: Ngũ Uẩn, Căn, Trần, Xứ, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ v.v… Người này không những hiểu biết giáo pháp mà còn có khả năng bàn luận và phân tích giáo pháp cho người khác hiểu. Đôi khi nhờ hiểu biết, nhờ khả năng bàn luận về giáo pháp nên những người này có đức tin xác quyết về giáo pháp của Đức Phật. Như vậy, muốn trở thành người kalyāṇa puthujjana (người thế tục hiểu biết), chúng ta phải học hỏi giáo pháp Phật. (Nguồn: Các hạng chúng sinh)
+ Sáu loại căn tánh: 1. Dục tánh (Tham) 2. Nộ tánh (Sân) 3. Độn tánh (Si) 4. Đãng tánh (Tầm): buông cái này bắt cái kia, không theo đuổi đến cùng 1 thứ gì mà nay theo cái này, mốt theo cái kia … 5. Mộ tánh (Tín) : đức tin, sùng mộ, thần tượng … 6. Ngộ tánh (Giác)
“ LỤC ĐẠI CHÂN KINH “
1. Kinh Chánh Xuất Gia dành cho hạng chúng sanh Dục Tánh
2. Kinh Tranh Luận dành cho hạng chúng sanh Nộ Tánh
3. Kinh Mặt Trận Lớn (Những Vấn Đề Lớn) dành cho hạng chúng sanh Độn Tánh
4. Kinh Mặt Trận Nhỏ (Những Vấn Đề Nhỏ) dành cho hạng chúng sanh Đãng Tánh
5. Kinh Con Đường Mau Chóng dành cho hạng chúng sanh Mộ Tánh
6. Kinh Trước Khi Hủy Hoại (Chuyện Phải Làm Trước Khi Chết) dành cho hạng chúng sanh Ngộ Tánh. (Nguồn: Facebook: Diễn đàn chia sẻ Giáo lý của DTTX4)
+ Năm Căn tánh - Ngũ chủng tánh: Trên phương diện tương đối thì căn cơ của chúng sanh được chia ra làm 5 hạng:
1. Chủng Tánh Phàm Phu – Người có chủng tánh phàm phu thì ưa thích thị phi, tranh đấu hơn thua, chỉ vui thích theo thế thường phàm tục, không thích đến chùa hay nghe kinh pháp, nếu có nghe thì nhức đầu buồn ngủ hoặc không tiếp nhận nổi giáo lý. Nếu có kẻ đến chùa thì cũng với một mục đích riêng tư, tự lợi nào đó, ví dụ như kiếm thêm người để chơi hụi, chứ không phải là ý tốt.
2. Chủng Tánh Bất Định – Đây là những tâm hồn bất định, dễ nghe và dễ tin, không có một lập trường rõ ràng. Có người khuyên theo Phật liền theo Phật, hôm sau có người khuyên theo Chúa thì liền theo Chúa, hôm sau có người khuyên theo A La thì liền theo A La, không bao giờ xác định được lập trường của mình. Nói theo cách nói thông thường là “gió chiều nào thì theo chiều đó”.
3. Chủng Tánh Ngoại Đạo – Đây là hạng người hướng ngoại, tìm cầu đạo ở bên ngoài (ngoài cái Tâm), là những tâm hồn mê tín dị đoan, ưa thích những chuyện hoang đường huyễn hoặc, hay ưa thích cúng kiến lễ lạy, cầu khẩn bên ngoài, mong được ban ơn giáng phước mà không hiểu rõ chân lý. Họ rất sợ hãi và không tiếp nhận nổi chân lý (kinh Đại Thừa Liễu Nghĩa). Khi nghe đến hệ tư tưởng Đại Thừa thì họ liền bực bội khó chịu, đem lòng chống đối, phỉ báng ngang ngược vô lý.
4. Chủng Tánh Nhị Thừa (Tiểu Thừa) – Người có chủng tánh nhị thừa thì không tránh né, không sợ hãi và có thể tiếp nhận được hệ giáo lý Đại Thừa Liễu Nghĩa, mặc dù là chưa hiểu thấu suốt tường tận nghĩa lý thẩm sâu của hệ tư tưởng này.
5. Chủng Tánh Đại Thừa – Người có chủng tánh đại thừa khi nghe các kinh đại thừa liễu nghĩa liền hoan hỷ, tiếp thu nghĩa lý sâu xa của kinh một cách nhanh chóng, và cảm thấy tâm hồn nhẹ bổng, an lạc, như gỡ được một cái gánh nặng, và cảm thấy như một người vừa tỉnh một giấc mộng dài. Phải chăng đấy sự giải thoát giác ngộ mà chư tổ thường nhắc đến?
Như vậy, trong 5 loại chủng tánh thì chỉ có Chủng Tánh Nhị Thừa và Chủng Tánh Đại Thừa mới có thể tiếp nhận nổi giáo lý Đại Thừa Liễu Nghĩa, hày còn gọi là Viên Giáo. Nếu đạo hữu là một người thích nói kinh, thuyết pháp thì nên lưu ý các loại chủng tánh này. Vì nếu người có chủng tánh phàm phu hay ngoại đạo mà giảng nói kinh Đại Thừa liền bị chống đối và phỉ báng. Ngược lại đối với những người có chủng tánh Đại Thừa mà giảng nói các phẩm phương tiện hay bất liễu nghĩa thì liền bị “sửa lưng” ngay. Thầy thuốc muốn cho thuốc cũng phải cần bắt mạch. Thế thì muốn nói kinh cũng phải tùy căn cơ, chủng tánh của chúng sanh mà nói pháp, bao gồm cả khi đàm luận với bạn đạo. ....
Phân tích thêm về chủng tánh:
+ Thế gian chủng tánh/ Phàm phu: Đây cũng gọi là vô tánh, vô tánh là không chủng tánh gồm chánh pháp hoặc ngoại đạo mà chỉ có chủng tánh thế gian, người có chủng tánh thế gian hay nói cách khác là hạt giống đời, thì đối với Đạo lòng tin rất nông cạn. Dù có diễn giải về Đạo họ cũng lấy sự học hiểu của đời làm căn bản, không thể thâm nhập và làm mất ý nghĩa thuần túy của Đạo. Tuy nhiên vì đối với Đạo không có nhận thức và tin tưởng cố định, nên hạng này dễ dẫn nhập vào chánh pháp hơn kẻ ngoại đạo.
+ Bất định chủng tánh: Đây là hạng người có đủ chủng tánh ba thừa, đi theo đường lối tiệm ngộ, trước trãi qua các thừa sau mới vào Đại thừa, tiến trình hạng này có hai lối : Từ thanh văn hay Duyên giác vào Bồ Tát thừa, hoặc từ Độc giác vào Bồ Tát thừa, vì hạng này không nhất định lấy cảnh Vô dư Niết Bàn làm tiêu điểm chung cuộc nên gọi là Bất định chủng tánh vậy.
+ Ngoại đạo chủng tánh: Hạng này từ kiếp trước đã tu theo ngoại đạo nên trong tàng thức đã có hạt giống ngoại đạo, ưa thích ngoại giáo và bài bác chánh pháp. Những vị có chủng tử chánh pháp mà lạc vào ngoại đạo, nếu gặp thiện hữu tri thức có thể trở lại chánh giáo, trái lại nếu những kẻ có hạt giống ngoại đạo tuy hoàn cảnh được ở trong Đạo Phật nhưng lòng tin của họ không vững, gặp ngoại đạo liền hướng theo, vì thiếu chánh kiến nên họ diễn giải kinh điển thường bị sai lầm.
Trên đây là căn cứ theo nghiệp thức chúng sanh mà lập ra năm loại chủng tánh. Tuy nhiên thức tánh của loài hữu tình vẫn như huyễn, nếu chưa lên ngôi vị bất thối chuyển, thì dù có chủng tánh Bồ Đề mà không gặp thiện hữu tri thức vẫn có thể bị cảnh duyên làm biến đổi, phải bị sa đọa vào Tam Đồ, cho nên người học Phật cần phải duyệt lãnh Kinh điển, gần gũi Thầy lành bạn tốt, phải xa lánh các nhiễm duyên, siêng năng dõng mãnh, y cứ theo chỗ văn tư mà tu hành thì trên đường giải thoát mới có phần bảo đảm.
(Nguồn: Ngũ chủng tánh)
+ Bảy trụ thức và hai trụ xứ:
19. A-LA-HÁN DANH TUỆ GIẢI THOÁT
Thế tôn nói: A-nan, đối với trụ xứ thứ nhất của thức, chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân, với các chủng loại tưởng, là loài người và loài trời cõi Dục; nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự tập khởi của trụ xứ của thức, biết sự diệt tận, vị ngọt, tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trụ xứ của thức ấy, kế trước và trụ nơi trụ xứ ấy của thức chăng?
A-nan đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ hai của thức, chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân nhưng một chủng loại tưởng, là Phạm thiên sơ sanh không yểu thọ; nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự tập khởi của trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ ba của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại thân nhưng nhiều chủng loại tưởng, ấy là Hoảng dục thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ tư của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại thân, với một loại tưởng, ấy là Biến tịnh thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ năm của thức, chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào vô lượng không xứ, thành tựu an trụ vô lượng không xứ, ấy là Vô lượng không xứ thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, này A-nan, vị Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ sáu của thức, chúng sanh vô sắc vượt tất cả vô lượng không xứ, vào vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ vô lượng thức xứ, ấy là Vô lượng thức xứ thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể an lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ bảy của thức, chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả vô lượng thức tưởng, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ, ấy là Vô sở hữu xứ thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, vị Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ nhất, chúng sanh hữu sắc không có tưởng, không có thọ, ấy là Vô tưởng thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật trụ xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi trụ xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi trụ xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
Hỏi: A-nan, đối với trụ xứ thứ hai của thức, chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, ấy là Phi hữu tưởng phi vô tưởng thiên. Nếu có Tỳ-kheo biết như thật xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết tai hoạn, biết xuất yếu, thì này A-nan, Tỳ-kheo ấy có thể hoan lạc nơi xứ kia của thức, kế trước và trụ nơi xứ kia của thức chăng?
Đáp: Bạch Thế Tôn, không.
A-nan, nếu có Tỳ-kheo biết như thật bảy trụ xứ của thức và hai xứ kia, tâm không nhiễm trước, được giải thoát thì gọi là Tỳ-kheo A-la-hán danh tuệ giải thoát. (Trung A Hàm, Kinh Đại Nhân, Phẩm 9, số 97)
+ Bảy trụ xứ của Thức:
64. BẢY TRỤ XỨ CỦA THỨC
1) Chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân khác nhau, các chủng loại tướng khác nhau, ấy là loài người và loài trời cõi Dục.
2) Chúng sanh hữu sắc với các chủng loại thân khác nhau, nhưng chỉ có một loại tưởng, ấy là Phạm thiên sơ sanh không yểu thọ.
3) Chúng sanh hữu sắc với một loại thân nhưng nhiều chủng loại tưởng, ấy là Hoảng dục thiên.
4) Chúng sanh hữu sắc với một thân, với một loại tưởng, ấy là Biến tịnh thiên.
5) chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào vô lượng không xứ, thành tựu an trụ vô lượng không xứ, ấy là Vô lượng không xứ thiên.
6) Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả vô lượng không xứ, vào vô lượng thức xứ, thành tựu an trụ vô lượng thức xứ, ấy là Vô lượng thức xứ thiên. .
7) Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả vô lượng thức tưởng, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ, ấy là Vô sở hữu xứ thiên. (Trung A Hàm, Kinh Đại Nhân, Phẩm 9, số 97)
+ Nguồn: Chương 4 - Những lời dậy của Phật - Kinh Trung A Hàm
+ Kim Cang: Biểu tượng năng lực tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất, kim cương với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu khác được phản chiếu trong ấy, mà nó vẫn giữ được tính không màu sắc của nó. Nó có thể cắt đứt được mọi vật rắn khác, trong khi không một thứ gì có thể cắt đứt được nó.
(A) Nghĩa của Kim Cang:
1) Kim Cang chùy của vua Trời Đế Thích
2) Biểu tượng của mặt trời
3) Một trong thất bảo
(B) Ba đặc tánh của Kim Cang:
1) Cứng rắn
2) Chiếu sáng
3) Sắc bén
- Trong Phật giáo, kim cang có thể cắt đứt mọi phiền não, khiến cho chúng sanh có được đại trí để tiến đến tâm Bồ đề. (Nguồn: Thuật ngữ Kim Cang)
+ Kiếm Ấn: Loại ấn tướng trong Mật giáo biểu thị dao kiếm, chia ra 3 loại:
1. Bất động minh vương kiếm ấn: Ấn tướng có hình thanh kiếm ở trong bao kiếm, tức là tay phải làm hình kiếm, tay trái làm bao kiếm.
2. Đại nhật kiếm ấn, có 2 thứ:
a) Kim giới tam muội da hội Đại nhật ấn, cũng gọi Tì lô giá na Kim cương giới tự tại khế, Ngũ Phật quán đính ấn, Bảo quan ấn. Ấn tướng này, 2 tay đan vào nhau và nắm lại, 2 ngón giữa dựng đứng, hợp lại, đốt tay trên co lại làm hình thanh kiếm, 2 ngón trỏ duỗi ra đặt trên lưng 2 ngón giữa.
b) Khai tháp ấn: Hai tay chắp lại, giữa lòng bàn tay để rỗng, đốt giữa của 2 ngón tay trỏ co lại, 2 đầu ngón tay chống nhau, 2 ngón cái đè lên đốt trên của 2 ngón trỏ, khoảng giữa 2 ngón cái hơi mở ra giống như hình thanh kiếm.
3. Văn thù kiếm ấn: Ấn kiếm hình Tam muội da của bồ tát Văn thù. Trong pháp cúng dường ngài Văn thù, ấn này còn được gọi là Kim cương lợi kiếm ấn, Kim cương lợi diệu ấn, Kim cương trí kiếm ấn. Ngoài ra, còn có Đại tuệ đao ấn, cũng gọi Kiếm ấn, là một ấn khế chân ngôn của hội Như lai thân. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật, Thánh Quán tự tại quán hành quĩ; Bí sao vấn đáp Q.10]. (Nguồn: Thuật ngữ Kiếm Ấn)
+ Kim cang vương bảo giác: Đó gọi là Diệu liên hoa, vi diệu và mầu nhiệm. Hoa sen sinh ra từ bùn nhưng không bị ô nhiễm bởi bùn dơ. Nó mọc trong bùn nhưng chính nó lại thanh tịnh, và hoa sen lẫn quả của nó hình thành cùng lúc. Đó chính là Kim cang vương bảo giác. Kim cang là kim loại cứng chắc nhất. Nó biểu tượng cho trí huệ. Không có thứ gì có thể phá huỷ hay xuyên thủng được trí huệ. ‘Vương’ có nghĩa là tự tại, như một vị Vua vậy. ‘Bảo giác’ là chỉ cho chân tâm chúng ta. Nếu quý vị có thể không bị chấp thủ vào tướng phần và kiến phần, thì có thể trở về với nguồn tâm gốc tánh, có thể trở về trong tánh Như Lai tạng. Tức đã chuyển thức thành trí. Khi sự chuyển y đã viên mãn, thì tướng phần và kiến phần chuyển thành Diệu liên hoa–Bảo giác.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5)
+ d) Phương thức học giỏi: “Ba Trong, Ba trên”
Vùng cạnh Thôn Ngài, có một học sinh họ Đường mười bốn tuổi, thân thể yếu ớt, thường hay bệnh hoạn, lại rất ngu độn, học chi rồi cũng quên hết. Tuy cha mẹ, Thầy cô giáo bao lần đốc thúc nghiêm khắc dạy dỗ nhưng chẳng được kết quả gì. Chính bản thân em cũng phiền não về sự ngu si của mình.
Khi ấy, em thường nghe người trong Thôn kể về sự tích của Ngài, nên có ý định đến xem vị cao Tăng này có thể giúp được em không? Ngày nọ, em hẹn với mười lăm bạn đồng học đến lạy Ngài, cầu xin Quy y và khẩn cầu Ngài từ bi chỉ dạy làm thế nào khai mở trí tuệ, thuộc bài dễ dàng, và nhớ dai hơn?
Ngài bảo chúng:
- Muốn học giỏi, phải theo phương pháp Ba trong, ba trên. Ba trong là khi học bài phải đặt vào ba chỗ:
1) trong tâm,
2) trong miệng,
3) trong mắt.
Tức là dùng mắt xem bài, dùng miệng đọc bài, và dùng tâm để tư duy bài học.
Ba trên nghĩa là phải học luôn luôn:
1) trên đường,
2) trên gối,
3) trên cầu vệ sinh.
Lúc đi trên đường thường nên suy gẩm, nhớ lại bài học mà thầy cô vừa dạy, về nhà, lúc lên giường, trước khi nhắm mắt ngủ, phải đọc qua một lần những bài vừa học ở Trường, và lúc ngồi trên cầu vệ sinh đừng để uổng phí thời giờ nghĩ viễn vong mà nên chuyên tâm, nhớ lại những gì mình học vừa qua.
- Khi học bài phải để hết cả tâm trí vào bài vở và chỉ thấy có quyển sách thôi, nếu có ai thổi kèn bên tai các con, các con cũng không nghe. Nếu có những màu sắc sáng chói, lộng lẫy chiếu trước mắt, các con cũng không thấy. Các con nếu cứ thế mà chuyên tâm nhất ý, thì không việc gì mà không đạt được, huống chi nói về việc học thuộc bài?
Bọn học trò nghe qua hiểu rõ, và ghi khắc lời dạy vào lòng. Sau khi trở về, chúng y theo lời dạy của Ngài, quả nhiên trí tuệ khai sáng. Từ học sinh bình thường, chúng trở thành xuất sắc, thông minh. Cha mẹ và Thầy Cô giáo của các em đều không khỏi kinh ngạc. Chuyện truyền ra xa, học sinh từ khắp nơi không ngừng tìm đến Ngài xin Quy y và cầu Ngài dạy dỗ.(Nguồn: Tiểu sử HT Tuyên Hóa - Mục 17)
+ Đọc Kinh Chú phát triển trí tuệ:
Tụng kinh được lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại cho là có ích lợi ?"
Này chư vị cư sĩ ! Đừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Khai Mở trí tuệ - Trí huệ qua đọc tụng Kinh Chú:
Tụng kinh được lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại cho là có ích lợi ?"
Này chư vị cư sĩ ! Đừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Nhưng, không nên vì tụng kinh mà sanh ra phiền não. Chớ nói ": Này đạo hữu ! Đạo hữu tụng kinh quá nhanh, khiến tôi theo không kịp. Hoặc đạo hữu tụng kinh quá chậm, khiến tôi phải đợi. Hoặc tiếng tụng kinh của đạo hữu không hay lắm, khiến tôi không thích nghe."
Không nên dùng công phu tu học như thế. Chúng ta biết rằng mọi người đều là những kẻ mới bắt đầu học Phật pháp. Không phải ai cũng biết tụng kinh hết, hay có người biết tụng mà không muốn tụng. Nhưng, tất cả mọi người đều phải đồng tụng kinh. Được như thế thì ai ai cũng đều đồng huân tu tập. Lại nữa, không nên mình tìm lỗi xấu người; người khác tìm lỗi xấu mình. Nếu thật có lỗi xấu thì thì mọi người nhất định phải tự mình nhìn thấy. Nếu không tự mình nhìn thấy thì lỗi xấu càng ngày càng nhiều; tu hành không thể tương ưng với đạo được. Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Phát triển trí tuệ: ... Ở dưới tòa, một vị thiện hữu thành tựu bản lĩnh tham học thì mới có năng lực tham học. Cái bản lĩnh này là gì vậy? Trong kinh Bát Nhã gọi là “căn bản trí”. Tham vấn khắp tất cả thiện tri thức là thành tựu “hậu đắc trí”, trí tuệ mới viên mãn. Kinh Hoa Nghiêm cuối cùng đã làm nên tấm gương cho chúng ta, Thiện Tài Đồng Tử gần gũi Bồ Tát Văn Thù, một vị thiện tri thức, đó là sư thừa. Ở dưới tòa, Văn Thù đã đạt được căn bản trí, sau đó ra đi tham học, 53 tham nữa là thành tựu viên mãn hậu đắc trí, vậy là trí tuệ viên mãn rồi.
Không có căn bản trí bạn sẽ không có năng lực tham học. Căn bản trí là thật trí, trí tuệ chân thật. Họ có năng lực phân biệt chân vọng; có năng lực phân biệt tà-chánh, đúng-sai, thiện-ác, lợi-hại. Họ vừa tiếp xúc liền biết rõ, cho nên ra đi tham học, bất kể gặp người thế nào, bất kể gặp phải việc gì, đối với họ đều là khai trí tuệ, không bị gặp phải chướng ngại. Nếu như bạn không có cái nội lực này, bạn ra đi tham học, một vị thiện tri thức chỉ bạn đi một con đường, hai vị thiện tri thức tức là hai con đường, ba vị thiện tri thức chính là ở ngã ba đường, bốn vị thiện tri thức tức là ở ngã tư, vậy thì bạn đi về đâu? Bạn không biết đi đường nào rồi. Bạn có nội lực, bạn có thể biện biệt, có thể nhận thức thế là không sợ, có gần gũi nhiều thiện tri thức đi nữa, nhưng phương hướng của bạn, mục tiêu của bạn chắc chắn không thay đổi. (Nguồn: HT Tịnh KHông giảng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên - Tập 11)
+ Đọc Tụng Kinh có Lợi ích Phát triển trí tuệ hay trí huệ bát nhã:
Kinh là gì: ví dụ: Bát nhã ba la mật đa là pháp. Tâm là ví dụ. Kinh là bộ kinh này. Kinh có thông danh và biệt danh. Thông danh là thống nhiếp hết mọi bộ kinh. Biệt danh là mỗi bộ kinh có danh tự riêng biệt, những bộ kinh khác không có tên giống nhau. Tâm kinh bát nhã ba la mật đa là biệt danh của bộ kinh này. Bộ tâm kinh bát nhã ba la mật đa này thuộc trong bộ Bát Nhã, biểu thị tâm trong tâm.
Sao gọi là kinh ? Kinh tức là kinh pháp thường bất chuyển, không thể thay đổi. Một chữ cũng không thể bỏ được, hay cũng không một chữ được. Đó là kinh pháp thường bất biến.
Lại "kinh" là một con đường, nghĩa là tu hành phải đi qua một con đường nhất định. Chư vị có muốn tu hành à ? Nhất định chư vị phải đi trên đường đạo này. Nếu chư vị không đi trên đường đạo này thì sẽ bị lạc vào rừng rậm hoang vu. Chư vị phải nên đi trên đường tu hành thì không bị lạc đường. Ngày này qua ngày nọ đều được bình an, sáng suốt. Sao gọi là đi lạc ? Vì chư vị xưa nay quên mất, không biết tụng niệm kinh này. Qua ba bốn tháng, không tụng niệm nên quên mất, mới đi lạc. Tụng kinh được lợi ích gì ? "Tụng kinh không được lợi ích gì cả, chỉ mất thời gian, tốn sức thôi. Tụng bộ kinh này từ đầu cho đến cuối tốn khí lực, thời gian, tinh thần. Sao lại cho là có ích lợi ?"
Này chư vị cư sĩ ! Đừng để tâm vô minh che lấp. Chư vị đừng tìm cầu lợi ích. Càng tìm cầu thì càng không chân thật. Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng (nếu còn có tướng thì đều là hư giả cả). Nếu có hình có tướng mà chư vị có thể thấy được thì không phải là lợi ích chân thật. Tại sao lại không thấy được ích lợi ? Chư vị tụng kinh một lần thì tự tánh được rửa sạch một lần. Như khi chư vị tụng kinh Kim Cang, tụng qua một lần thì hiểu rõ ý nghĩa của kinh đôi chút. Tụng hai lần thì hiểu thêm nữa. Tụng ba lần thì lại càng hiểu rõ thêm. Tụng kinh khiến trí huệ tự tánh càng gia tăng. Nhưng khi trí huệ gia tăng thì chư vị không thể thấy, chỉ tự cảm giác thôi. Thế nên, lợi ích của sự tụng kinh không thể nói hết được.
Nhưng, không nên vì tụng kinh mà sanh ra phiền não. Chớ nói ": Này đạo hữu ! Đạo hữu tụng kinh quá nhanh, khiến tôi theo không kịp. Hoặc đạo hữu tụng kinh quá chậm, khiến tôi phải đợi. Hoặc tiếng tụng kinh của đạo hữu không hay lắm, khiến tôi không thích nghe."
Không nên dùng công phu tu học như thế. Chúng ta biết rằng mọi người đều là những kẻ mới bắt đầu học Phật pháp. Không phải ai cũng biết tụng kinh hết, hay có người biết tụng mà không muốn tụng. Nhưng, tất cả mọi người đều phải đồng tụng kinh. Được như thế thì ai ai cũng đều đồng huân tu tập. Lại nữa, không nên mình tìm lỗi xấu người; người khác tìm lỗi xấu mình. Nếu thật có lỗi xấu thì thì mọi người nhất định phải tự mình nhìn thấy. Nếu không tự mình nhìn thấy thì lỗi xấu càng ngày càng nhiều; tu hành không thể tương ưng với đạo được. Thế nên, tụng kinh tức là hộ giúp cho tự tánh mình. Hộ giúp việc gì ? Tức là hộ giúp khai mở trí huệ. Tụng kinh Kim Cang thì trí huệ được khai mở. Tụng tâm kinh cũng khai được trí huệ. Thế nên, chư vị bảo tụng kinh không có lợi ích nhưng kỳ thật sự lợi ích này rất lớn. Chư vị không thể thấy được lợi ích thì mới chân thật là lợi ích. Nếu chư vị thấy được lợi ích thì đó chỉ thấy ngoài da thôi. Đó là ý nghĩa của sự tụng kinh. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Giảng về Phiền lão - Sóng phiền lão trở ngại phát triển trí huệ bát nhã:
Nay y chiếu theo kệ của tôi mà giảng giải.
"Hành đạo tu thân mạc ngoại tầm, (hành đạo tu thân chớ tìm ngoài)".
Chư vị muốn tu đạo, tu thân, thì chớ tìm bên ngoài. Không nên hướng ngoại tìm cầu, mà hãy tìm lại tự tánh của mình.
"Tự tánh bát nhã thâm mật nhân, (tự tánh bát nhã nhân thâm mật)".
Trong tự tánh bát nhã có hạt giống thâm mật.
"Bạch lãng xung tiêu hắc ba chỉ, (sóng bạc tiêu lặn biển đen dừng)".
Lúc tu đạo, sóng bạc tức là trí huệ, như nước chảy tạo thành sóng màu sắc trắng.
Sóng biển đen tức là phiền não. Khi sóng đen ngừng thì trí huệ tăng, pháp thậm thâm cũng cao siêu. Hành bát nhã ba la mật đa, lưu xuất pháp thậm thâm không ? Vì pháp này rất cao siêu, nhìn xem không thể thấy, nên gọi là bát nhã thậm thâm. Sóng đen dừng tức là phiền não dừng.
"Niết bàn bỉ ngạn nhậm vận đăng, (bờ Niết Bàn, từ từ leo lên)".
Một khi đã có trí huệ thì tự nhiên biết cách để đạt đến bờ niết Bàn, không bỏ phí sức lực nào.
"Thời hề thời vật thác quá, (thời qua thời chớ để trôi qua)".
Chúng ta tu đạo, thời gian rất quý báu, đừng để chúng trôi qua vô ích. Thế nên, thời qua thời chớ để trôi đi. Thời gian nào ? Tức là lúc hành thâm bát nhã ba la mật. Chư vị chớ nên để thời gian trôi qua vô ích.
"Thận chi thận thủ thiên chân, (thận trọng, thận trọng giữ thân chân)".
Chư vị phải cẩn thận, đừng để thời gian trôi mất, ngày đêm luống qua vô ích. Hiện tại phải tu hành đắc được pháp bát nhã thậm thâm, chân lý cao thượng.
"Yểu yểu minh minh thông hưu tức, (mờ mờ ảo ảo thông tin tức)".
Mờ mờ ảo ảo, nói nghe nhưng thực không nghe, nói thấy nhưng thực không thấy.
"Hoảng hoảng hốt hốt kiến bổn tôn, (vội vội vàng vàng thấy bổn tôn)".
Hiện nay, chư vị phải được tin tức mờ mờ ảo ảo, vội vội vàng vàng thấy bổn chân. Lại như không có hình tướng mà nói thấy hình tướng. Thấy bổn tôn tức là thấy rõ tự tánh của chính mình. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - 1 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Chọn thời điểm tu - Phi thời - Không đúng thời - Hợp thời - Phải thời - Đúng thời
53.III.Lửa (Tạp 27,3, Đại 2, 191c) (S.v,112)
1) ...
2) Rồi một số đông Tỷ-kheo, vào buổi sáng, đắp y cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-10) ... (Giống như kinh Pháp Môn 52)
11) -- Được nói vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau : "Này chư Hiền, khi tâm thụ động (linam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời? Nhưng, này chư Hiền, trong khi tâm dao động (uddhatam), trong khi ấy, tu tập giác chi nào là không phải thời, trong khi ấy, tu tập giác chi nào là phải thời?" Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể cắt nghĩa được, sẽ rơi vào khó khăn.
12) Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, vấn đề này vượt ngoài giới vức của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai ở Thiên giới, thế giới này, ở Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể làm thỏa mãn tâm với câu trả lời cho những câu hỏi này, ngoại trừ Như Lai, hay đệ tử Như Lai, hay những ai được nghe từ hai vị ấy.
I. Phi Thời
13)-- Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
14) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
II. Phải Thời
15) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
16) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
III. Không Phải Thời
17) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy.
18) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.
IV. Phải Thời
19) -- Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này.
20) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
21) Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp. (Nguồn: Kinh Tương ưng bộ, thiên Đại phẩm - Tương ưng Giác Chi)
+ Tu trí bát nhã - Tu Huệ bát nhã - Tu hạnh bát nhã Ba la mật
Chư Thiện tri thức! Pháp môn của ta đây do một pháp Bát nhã mà sanh ra tám muôn bốn ngàn trí huệ. Bởi cớ sao? Vì người thế gian có tám muôn bốn ngàn trần lao. Nếu không có trần lao, thì trí huệ thường hiện ra, nhưng nó chẳng lìa tự tánh. Hiểu rõ pháp này, thì không có vọng niệm, không hồi ức, không dính cảnh, không sanh điều giả dối. Dùng tánh Chơn như của mình, lấy trí huệ mà chiếu soi, đối với tất cả các pháp không giữ không bỏ, tức là thấy tánh, là thành Phật đạo vậy.
Chư Thiện tri thức! Muốn vào Pháp giới cao thâm cùng trí Bát nhã tam-muội, thì phải tu hạnh Bát nhã. Phải trì tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã, tức đặng kiến tánh.
Giảng:
Quý vị Thiện tri thức! Pháp môn này của tôi, từ một loại Bát nhã mà sanh vô lượng Bát nhã, từ một loại Bát nhã mà sanh tám vạn bốn ngàn trí huệ. Tại sao cần phải có tám vạn bốn ngàn trí huệ? Vì người đời có tám vạn bốn ngàn trần lao. Nếu đem trần lao biến đổi qua tức chính là Bát nhã. Nếu đem trần lao biến đi, thì trí huệ hiện tiền, nhưng trí huệ Bát nhã không rời tự tánh. Quý vị hiểu rõ pháp này, chính là vô sở niệm, vô sở hồi ức (không hoài nhớ chuyện cũ), cũng không chấp trước, cho nên không có một chút cuống vọng, lừa dối. Dùng chân như tự tánh của chính mình, dùng trí huệ quán chiếu tất cả vạn pháp, không dùng thức tâm, phân biệt tâm mà quan sát, không chấp không xả, đó chính là kiến tánh thành Phật đạo.
Nếu quý vị muốn thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải, được thấm nhuần diệu pháp và diệu định Bát nhã, cần phải tu hạnh Bát nhã, tụng niệm Kinh Kim Cang. Lục Tổ Đại sư từ Kinh Kim Cang mà khai ngộ, cho nên Ngài chủ trương mọi người cần phải niệm Kinh Kim Cang. Cần phải thọ trì tụng niệm không được quên. Nếu siêng năng tụng Kinh Kim Cang, thì có thể kiến tánh.
Tụng kinh, điều quan trọng là không được vọng tưởng, không được sanh các loại tạp niệm. Trước kia có một người mỗi ngày đều tụng Kinh Kim Cang, ngày nọ nằm mộng, mơ thấy một con quỷ thỉnh ông ta tụng kinh siêu độ cho nó, giống như chúng ta mỗi năm vào ngày rằm tháng bảy siêu độ cho Cha Mẹ trong quá khứ vậy. Người đó bèn hỏi quỷ cần phải tụng bao nhiêu kinh? Quỷ nói: "Chỉ tụng một quyển kinh là được rồi." Người này hôm sau bèn bắt đầu tụng, lúc tụng đến một nửa, người hầu của ông ta đưa đến một tách trà, ông ta khoát tay trong tâm nói "không cần" rồi tiếp tục niệm kinh. Tối đó quỷ lại đến nói: "Ông đã hứa tụng kinh cho tôi, nhưng sao chỉ tụng có một nửa, còn một nửa chưa tụng?"
Người này trả lời:
– Rõ ràng tôi đã tụng cho ngươi một quyển kinh rồi.
Quỷ nói:
– Đúng là ông tụng một quyển kinh, nhưng giữa chừng có hai chữ "không cần," là không cần công đức tụng kinh nửa phần sau, vì thế tụng kinh nửa phần sau không có công đức.
Người này nghĩ rằng: "Tôi không cần trà, không phải không cần kinh. Nhưng lúc tụng kinh nghĩ đến hai chữ không cần, quỷ thần cho rằng mình không cần công đức. Đại khái công đức tụng kinh bị quỷ thần tự lấy đi hết rồi. Sau đó người này nói: "Được rồi, tôi sẽ tụng cho ngươi một quyển kinh nữa." Ngay đêm hôm đó, quỷ này hoan hỷ khấu đầu đảnh lễ ông ta, cám ơn ông ta đã giúp đỡ tụng kinh siêu độ mình.
Cho nên quý vị tụng Kinh Kim Cang không nên có tạp niệm thêm vào hai chữ "không cần", thí dụ như: "Tu Bồ Đề, không cần," thì Ngài Tu Bồ Đề liền chạy mất. Tụng Kinh Kim Cang có cảm ứng rất lớn, có thể kiến tánh.
Phải biết công đức của kinh ấy thiệt là vô lượng vô biên. Những lời khen ngợi trong kinh rất rõ ràng, không thể nói ra hết được. Pháp môn ấy là pháp tối thượng thừa, vì người đại trí, vì người thượng căn mà nói. Các người tiểu căn tiểu trí nghe pháp môn ấy, lòng nghi ngờ chẳng tin là bởi cớ sao? Tỷ như các vị Thiên Thần và Long Thần làm mưa xuống cõi Diêm-phù-đề, thì tất cả thành, ấp, làng, xóm, đều nổi trôi như lá táo. Còn nếu mưa xuống biển cả, thì thấy chẳng thêm chẳng bớt. Cũng như người Đại thừa người tối thượng thừa nghe Kinh Kim Cang, thì tâm liền khai ngộ. Thế nên biết rằng Bổn tánh tự nó có trí Bát nhã. Bởi Bổn tánh mình lấy trí huệ sáng soi, cho nên chẳng cần dùng văn tự. Tỷ như nước mưa chẳng phải do trời làm mà có, nguyên bởi sức rồng dấy động mà sanh ra, khiến cho cả thảy loài hữu tình, các loài vô tình, tất cả đều được thấm nhuần. Cả thảy sông ngòi đều chảy vào biển cả, hiệp làm một thể. Cái trí Bát nhã của Bổn tánh chúng sanh cũng giống như thế.
Giảng:
Quý vị cần phải biết công đức của Kinh Kim Cang vô lượng vô biên. Trong kinh tán thán công đức thù thắng của Kinh Kim Cang rất rõ ràng, tôi nay không cần nói nhiều. Kinh Kim Cang này là pháp môn tối thượng thừa, thuyết cho người đại trí huệ, thuyết cho người có đầy đủ thiện căn. Người kém thiện căn, kẻ ít trí huệ nghe đến Kinh này, tâm không tin mà nói rằng: "Tụng Kinh có chỗ nào hay. Các ông không ăn cơm xem có thể sống được không?" Tại sao họ không tin? Giống như rồng trên trời giáng mưa xuống cõi Diêm phù đề, vì mưa to, thành quách thôn ấp đều bị chìm trong dòng nước lớn, ngọn cỏ lá cây bị cuốn trôi đi. Nếu như mưa rơi ngoài biển lớn thì không tăng không giảm. Người kém căn ít trí cũng giống như ngọn cỏ lá cây, có mưa lớn thì sẽ bị úng chết, vì họ không tin tưởng pháp đại thừa.
Nếu người có căn tánh đại thừa, nghe thuyết Kinh Kim Cang, tâm tức khai ngộ, hiểu rõ Bát nhã vốn tự tánh đầy đủ. Những người này thường dùng trí huệ của chính mình quán chiếu, cho nên không nhất định cần phải học cho thật cao mới có thể nhận thức trí huệ Bát nhã. Giống như nước mưa, không phải từ trên trời sẵn có, mà là rồng làm mây giáng mưa, khiến cho mọi loài chúng sanh, thảo mộc, hữu tình vô tình, đều được nước mưa thấm ướt mà sanh sôi nảy nở. Tất cả suối khe sông ngòi đều chảy về biển lớn, hợp thành nhất thể. Trí huệ Bát nhã của chúng sanh cũng giống như mưa rơi ngoài biển lớn. Biển chính là bổn tánh trí huệ của mỗi người chúng ta, bất luận mưa bao nhiêu, nó cũng không tăng không giảm. Cho nên nói: "Phật pháp như biển lớn, chỉ có lòng tin mới có thể vào, chỉ có trí huệ mới có thể độ," nếu không có trí huệ thì không dễ dàng vào được biển cả mênh mông bao la.
Chư Thiện tri thức! Người tiểu căn nghe pháp Đốn giáo nầy ắt là điên đảo. Cũng như loài cỏ cây gốc rễ nhỏ yếu, nếu bị một trận mưa to, chắc đều ngã rạp, không thể lớn lên được. Nguyên người tiểu căn có trí Bát nhã cũng như người đại trí, không có chỗ gì khác. Nhưng bởi cớ sao họ nghe pháp, mà tâm chẳng mở mang tỏ sáng? Vì bởi nghiệp chướng của tà kiến còn nặng, cái gốc rễ của sự phiền não còn thâm sâu. Cũng như một đám mây lớn che ám mặt trời, nếu chẳng được luồng gió thổi, thì ánh sáng mặt trời không hiện ra được.
Cái trí Bát nhã vốn không lớn nhỏ, chỉ vì cái tự tâm của chúng sanh mê ngộ chẳng đồng mà thôi. Lòng mê chỉ thấy bề ngoài, tu hành tìm Phật mà chưa tỏ sáng Bổn tánh của mình, tức là người tiểu căn. Hiểu rõ pháp Đốn giáo tu hành mà không chấp bề ngoài, trong tâm mình thường khởi chánh kiến, những sự phiền não trần lao thường chẳng nhiễm Bổn tâm mình tức là thấy tánh.
Chư Thiện tri thức! Tâm mình trong ngoài chẳng trụ, lui tới tự do, bỏ đặng lòng chấp trước, suốt thông không trở ngại, tu trọn các hạnh ấy, thì đối với kinh Bát nhã vốn không có chỗ nào sai khác.
Giảng:
Tu Bát nhã hạnh, cần phải không trụ bên trong, không trụ bên ngoài, bên trong không thân tâm, ngoài không thế giới. Nhưng cũng không phải là ngoan không, mà là bên trong không chấp thân tâm, bên ngoài không chấp thế giới. Nếu quý vị không chấp trong ngoài thì có thể đến đi tự do, biết từ đâu đến và đi về đâu........ (Nguồn: Lục Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Chữ tin - Đức tin - Tín căn: Tín trong "Tín, Giải, Hành, Chứng”: ... Chư Phật mười phương đều từ nơi Tín mà vào đạo. Có lòng tin rồi mới phát tâm học, rồi mới thực hành, sau đó mới có thể chứng quả. Nếu chỉ tin mà không hành thì là tà tín, không phải chánh tín. (Hòa Thượng Tuyên Hóa, Pháp Bảo Đàn Kinh Giảng Nghĩa)
+ Đức Tin: Đạo Phật gọi niềm tin là tín căn, một trong năm căn lành để thực hành đường lối tu tập hướng đến mục tiêu giác ngộ (niềm tin, tinh tấn, ghi nhớ, thiền định, trí tuệ), là một trong bảy tài sản của bậc Thánh: “Niềm tin, giới hạnh, hổ mình, thẹn với người, học rộng, bố thí, trí huệ; đó là bảy thánh tài”....
Đức Phật dậy trong Kinh Hoa Nghiêm “Niềm tin là căn nguyên/ Nguồn của đạo, là mẹ của mọi công đức, nuôi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa người vượt qua dòng nước ái dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết-bàn" (Nguồn: Niềm tin và lòng tự tín)
- Giảng câu "Tin là mẹ đẻ của công đức", ý này rất sâu rất rộng. Chúng ta luôn luôn là qua loa sơ ý xem qua, việc này dường như là rất thông thường. Việc thường hay nói, trẻ nhỏ ba tuổi đều biết thì việc này có gì hiếm lạ đâu? Chúng ta không biết được, then chốt của thành công hay thất bại chính ngay trong đó....chữ Tín trong “Tín-Nguyện-Hạnh” => Cầu nguyện đượi lợi ích. Có tín mà không có nguyện, hạnh thì đều là giả. Đây cũng giống như tòa lầu ba tầng, tin là tầng thứ nhất, nguyện là tầng thứ hai, hạnh là tầng thứ ba.....Phương pháp duy nhất có thể giúp chúng ta đoạn những ô nhiễm này chính là "đọc tụng đại thừa, vì người diễn nói". (Kinh Thập Thiện - Tập 36_PS Tịnh Không)
+ Tin Phật: Trong kinh Nikaya đức Phật dạy " Người nào tin Ta mà không hiểu Ta, tức là phỉ báng Ta"
+ Niềm tin chưa đầy đủ cũng đồng nghĩa với không có niềm tin ... (HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN, Q 1)
[Người tin Phật thì phải lạy Phật, cho đến Phật mà không lạy, thì làm sao nói đến lòng tin được? Do đó chúng ta phải lễ lạy tượng Phật. Tượng Phật tuy làm bằng gỗ, vậy chúng ta lạy Ngài có lợi ích gì ? Tượng Phật đó cũng chẳng phải Phật, Phật thì đầy khắp tất cả mọi nơi, chẳng có một nơi nào mà chẳng có pháp thân của Phật ở tại đó. Tượng gỗ chỉ bất quá là một thứ biểu pháp mà thôi, cũng là đại biểu cho Phật. Tr 31-HT Tuyên Hóa giảng Kinh Pháp Hoa]
+ Tin ở mình: Kinh Niết-Bàn, đức Phật đã dạy: “Hãy tự xem mình là hải đảo của mình. Hãy tự xem mình là chỗ nương tựa của mình. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác”. Và “các ông phải tự mình nỗ lực (Giác ngộ), các đấng Như Lai chỉ là người thầy dẫn đường”. (Kinh Pháp Cú, 276)
+ Đức tin (Faith): Sức mạnh của đức tin có thể làm khởi động (set in motion) các năng lượng cao siêu (superior energies), các năng lượng này có thể vô hiệu hóa (negate) hay làm cản trở (retard) bệnh tật. Toàn thể chủ đề về đức tin, ý nghĩa thiết yếu và mãnh lực của nó đều ít được hiểu, giống như là Luật Nghiệp Quả. Đây là một chủ đề bao la và tôi không thể quảng diễn thêm nữa. Nhưng tôi đã nói đủ để giúp bạn tài liệu suy đoán. (CTNM, 350)
+ Đức tin chân chính: (Real faith, pistis). Đức tin chân chính tức là pistis của người Hy Lạp, là “đức tin dựa vào tri thức” (“ belief based on knowledge”) dù cho tri thức đó được cung cấp bởi bằng chứng của các giác quan vật chất hay tinh thần. (CKMTTL, 169)
+ Niềm tin chân chính: Ðức Phật dạy, tin là căn bản của sự thành công và là nguồn gốc để phát sinh muôn hạnh lành; nhưng lòng tin của người phật tử không phải là một lòng tin cuồng nhiệt, sôi nổi, bốc đồng, mà không có suy xét, kiểm chứng qua sự thực hành. Ðức Phật đã từng nói: “Ta chỉ là vị thầy dẫn đường giúp cho mọi người đi đến con đường bình yên, hạnh phúc; ta không phải là một vị thần linh hay một đấng tối cao có quyền ban phước, giáng hoạ”.... (Nguồn: Niềm tin chân chính_Thích Đạt Ma Phổ Giác)
+ Đức tin - Lòng tin: "Đức Phật có nói: Rằng chúng ta đừng nên tin vào một điều gì được nói ra chỉ vì nó được nói mà thôi; đừng tin vào các truyền thống vì chúng đã được truyền xuống từ thời xa xưa; đừng tin vào các đồn đãi như thế; cũng không tin vào các câu viết của các vị thánh, vì các thánh đó đã viết ra các câu ấy; cũng đừng tưởng rằng chúng ta có thể nghi ngờ khi được một Thiên Thần gợi hứng nơi chúng ta (nghĩa là, trong những gì được cho là có chứa hứng cảm tâm linh); cũng đừng tin vào các suy đoán được rút ra từ một giả định không cẩn trọng nào đó mà chúng ta có thể đưa ra; cũng như không vì những gì có vẻ như một sự tương đồng tất yếu; cũng không chỉ dựa vào thẩm quyền của các huấn sư hoặc các bậc thầy của chúng ta. Nhưng chúng ta PHẢI TIN khi nào bài viết, lý thuyết hoặc châm ngôn được chứng thực bằng chính lý lẽ và ý thức của chúng ta. Để kết luận, Ngài nói: “Vì lẽ đó, ta khuyên con đừng nên tin chỉ vì con đã nghe, mà hãy nên TIN vào ý thức của con, rồi hãy hành động cho thật phù hợp với điều đã biết”. (Trích: Giáo Lý Bí Nhiệm III, 401")
+ Chữ tín - Chữ tin: Dưới đây là đại khái 6 lối tin về Tịnh độ.
Tin tự: Tin chắc rằng mình có Phật tánh sáng suốt, đủ vô lượng công đức. Nếu mình cố công lo niệm Phật thì quyết có thể chứng ngộ được.
Tin tha: Công nhận rằng lời dạy của Đức Phật Thích Ca không luống dối; Đức Phật A Di Đà luôn luôn nhiếp thọ tùy theo cơ cảm của mình mà ứng.
Tin nhơn: Đinh ninh công hạnh niệm Phật hiện tại của mình có năng lực giải thoát.
Tin quả: Tin chắc ở chín phẩm sen vàng là nơi sẽ về của ta sau này.
Về được đó thì dù hạng nào cũng không thối chuyển.
Tin sự: Xác nhận ngoài cõi Ta-Bà có một cõi Cực-Lạc đúng như lời Phật nói.
Tin lý: Tin tự tâm ta cũng tức là Tịnh-Độ, nếu một khi nó đã được trong sạch.Sự và lý viên dung không tách biệt.
Tóm lại, không tin thì thôi, nếu có tin cần phải tin sâu, tin chắc, và tin rồi phải thực hành.
Hạnh: Là thực hành, phải cho kiên nhẫn và đúng pháp. (Nguồn: Tín nguyện hạnh - HT Thích Thiền Tâm)
- Đọc thêm: Niềm tin chánh đạo của người Phật tử
+ Nghiệp quả: .... Là những việc nhất định sẽ xảy đến cho một người trong kiếp sống mà y không thể tránh khỏi. Nói vậy cũng đúng phần nào, nhưng đó chỉ là một khía cạnh của toàn vấn đề. (TTHM, thư 29.7.1920)
+ ỨNG SỬ VỚI NGIỆP QUẢ: CHẤP NHẬN - TU SẼ SỬA, LÀM NHẸ NGHIỆP BÁO. Nên đừng trách, đừng buồn, đừng thở than - Đừng hờn, đừng giận, đừng ngỡ ngàng - Nhẹ nhàng chấp nhận điều ngang trái - Oán hận làm chi chuyện bẽ bàng - Sự đời sóng gió chuyện thường thôi - Phật pháp ít nhiều đã hiểu rồi - Chấp chứa trong lòng chi để khổ - Xả đi quá khứ việc xa xôi - Kém phước, hết duyên vậy đó mà - Tạo thêm duyên phước đừng lo xa - Đâu ai rảnh rỗi ban và giáng - Nghiệp quả chính mình nên nhận ra - Đủ duyên, đủ phước, đủ tài tình - Đủ đức, đủ từ, đủ trí minh - Tự tại thản nhiên chấp nhận hết - Khổ đau, hạnh phúc tự nơi mình. (Lời hay ý đẹp)
+ Tin sâu nhân quả: Chịu thiệt là phước, Phật pháp dạy chúng ta làm như vậy (Tin sâu Nhân Quả), trong đó có đạo lý lớn. Nếu thấu triệt được đạo lý này, ít nhất phải mất hai ba mươi năm, đây là đại học vấn!. Nếu thật sự rõ ràng minh bạch, tự nhiên ta sẽ thực hành và làm được điều đó, như vậy đời sống của ta sẽ vô cùng an vui. Phải làm được mới có thể giúp người khác, mới có thể dạy bảo người khác, người ta mới tin tưởng. Thân thể mạnh khỏe, ta không bị sanh bệnh.... ( Trích- HT. Tịnh Không, Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa (VLT 11), tập 145.)
+ Nghiệp: Là cái gánh nặng của con người, sanh mạng và của tinh thần. Nghiệp của mỗi người tạo ra thì thâu cất vào kho chứa riêng của mỗi người, là thửa ruộng của thức thứ tám. Kho chứa này có sức thần thông, cho nên nghiệp nặng hay nghiệp nhẹ gì bỏ vào cũng đều được cả. Nó thì không lớn, không nhỏ, cũng không có gì là phân biệt. Đấy đều là nghiệp của chính mình, không phải của người khác, nên không ai đánh cắp được, cũng không ai cướp đoạt hay lấy đi được. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp)
+ Nghiệp - Quả: ... Bấy giờ Ðức Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Những chúng sanh chưa được giải thoát thì tánh thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả; làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh, luân chuyển trong Ngũ Ðạo, chẳng tạm ngừng ngớt; trải qua trần kiếp, mê hoặc chướng nạn, như cá bơi trong lưới theo dòng nước chảy, tạm thoát ra được rồi lại mắc vào lưới. Vì những kẻ đó mà Ta phải lo nghĩ.....(Kinh Địa Tạng - Phẩm 4 - HT Tuyên Hóa)
+ Nhân quả báo ứng là chân lý, là định luật của thế xuất thế gian. Bồ-tát tu hành đã thành Phật rồi cũng không có cách gì thay đổi nhân quả. Đạo lý này ở trong kinh Phật nói rất nhiều, nói rất thấu triệt.... “Nhân quả thiện ác không thể bù trừ”. Không thể nói là quá khứ tôi đã tạo rất nhiều ác nghiệp, hiện nay tôi đều làm thiện nghiệp rồi, tôi đem thiện nghiệp để bù trừ nó, lấy công chuộc tội. Điều này pháp thế gian có nhưng trong Phật pháp thì không có .(Kinh Thập Thiện_PS Tịnh Không)
+ Nghiệp quả (Karma): Tác động ở cõi trần. Về mặt siêu hình là Luật Báo Phục; Luật Nhân Quả, hay gây hậu quả về mặt đạo đức. Có nghiệp quả do công và nghiệp quả do tội. Đó là quyền lực kiềm chế vạn vật. Kết quả của hành động đạo đức hay là hậu quả về mặt đạo đức của một việc làm được thực hiện để đạt một điều gì hầu thỏa mãn dục vọng cá nhân. (ĐĐNLVTD, 219)
+ Nghiệp quả báo ứng: Nghiệp quả được áp đặt lên thực thể có linh hồn qua trung gian của chính vật chất hay chất liệu (mà nó tác động tới) và vật chất hay chất liệu này là nguyên liệu thông minh được tạo thành bằng tinh túy của thiên thần.
+ Xem thêm: Nhân quả - Luân hồi - Tái sanh)
+ Trung tâm lực tủy sống (The altar major centre): Trung tâm lực tủy sống được tạo nên ở điểm mà ống tủy sống tiếp xúc với hộp sọ và do đó, nằm ở phần thấp nhất của phía sau đầu. Nó được cấu tạo bằng chất dĩ thái thấp nhất, tức chất dĩ thái thứ tư, trong khi đó, các Trung tâm lực dĩ thái của các đệ tử được cấu tạo bằng chất dĩ thái cao hơn.(LVLCK, 1129)
+ Bí huyệt sinh lực: Vital plexi - X. Hạch thần kinh [ Hạch thần kinh mà y học chính thống biết được là các phản ảnh (reflections) hay các hình bóng (shadows) của các bí huyệt sinh lực (vital plexi) chứ không còn gì khác. (ASCLH, 328–329)]
+ Trung tâm lực tức là bí huyệt (chakra). (LVHLT, 362)
+ Trung tâm lực (Force centres): Toàn thể các dây thần kinh với hàng triệu từ lực đạo (nadis) hay “đối phần tuyến” (“thread counterparts”) trong thể dĩ thái, tạo thành một đơn vị, theo giáo huấn của Minh Triết Vô Thủy (Ageless Wisdom), đơn vị này có trong nó các điểm tập trung cho các loại năng lượng khác nhau. Các điểm tập trung này được gọi là “các trung tâm lực”, kinh nghiệm sống của linh hồn cùng biểu hiện của nó dựa vào các trung tâm lực này chứ không dựa vào thể xác. Chúng là các yếu tố chi phối hệ thống tuyến của cơ thể. (TLHNM–II, 64)
+ Các chòm sao là các luân xa (chakras) của Vũ trụ. Các Hành tinh là luân xa của các Thái dương hệ, có quan hệ với các trung tâm lực/ luân xa con người (GQ1-C.Tạo con người)
+ Có hai sự kiện quan trọng là (LVHLT, 191):
1. Ba trung tâm lực dưới cơ hoành,
a/ Bí huyệt đáy xương sống,
b/ Bí huyệt xương cùng,
c/ Bí huyệt đan điền,
mà hiện nay là những bí huyệt có uy lực nhất trong nhân loại bậc trung, và là những bí huyệt “linh hoạt” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng, và được đưa từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực.
2. Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành,
a/ Bí huyệt tim,
b/ Bí huyệt cổ họng,
c/ Bí huyệt giữa hai mày,
d/ Bí huyệt đầu,
phải được đánh thức và được đưa từ trạng thái tiêu cực sang trạng thái tích cực (Xem chi tiết: Chuyển trạng thái luân xa ở LVHLT, 192)
+ Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến gần đến cổng của con đường điểm đạo. Vào lúc điểm đạo, tâm điểm của luân xa (một điểm của lửa tiềm tàng) được chạm đến, độ quay trở nên mãnh liệt và có hoạt động theo chiều đo thứ tư. (LVHLT, 362)
+ Bí huyệt với Thái Dương hệ:
- Bí huyệt tim trong con người mở cánh cửa vào những gì được gọi là “tâm của Mặt Trời” (“heart of the Sun”).
- Bí huyệt cổ họng mở đường vào sự hiểu biết đầy đủ về đường đi của Mặt Trời vật chất, và tất cả các nhà chiêm tinh chân chính cuối cùng phải có bí huyệt đó hoạt động.
- Bí huyệt đầu mở đường tới Mặt Trời tinh thần trung ương, => Mỗi bí huyệt đi tới một trong những cõi vũ trụ, xuyên qua sự tương ứng hành tinh (LVHLT, 364)
+ Một mô tả khác về các luân xa:
- Luân Xa: Luân Xa là các trung tâm hay cơ quan siêu vật lý thông qua đó năng lượng của các trường khác nhau được đồng bộ hóa và phân phối cho cơ thể vật lý. Chúng ít nhiều hoạt động trên thể cảm dục, thể trí và (ở mức độ nào đó) trên các cấp độ cao hơn, có chức năng khác nhau ở mỗi thể, nhưng chúng có tầm quan trọng hàng đầu ở cấp độ dĩ thái, nơi chúng đóng vai trò là công cụ tập trung năng lượng trong cơ thể.
Bảy luân xa dĩ thái, có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của cơ thể vật lý và thể dĩ thái, có các đối phần của chúng ở cấp độ cảm dục và thể trí...
Các luân xa đồng thời là các cơ quan truyền dẫn và biến đổi năng lượng từ trường này sang trường khác, vì cơ chế của chúng là đồng bộ hóa các năng lượng cảm xúc, trí tuệ và dĩ thái. Chúng biến đổi năng lượng lên hay xuống, làm chậm hay tăng tốc, từ trường này sang trường khác, khiến cho năng lượng nhanh hơn của trường cảm xúc có thể ảnh hưởng đến năng lượng chậm hơn của thể dĩ thái, và ngược lại.
Các luân xa không bao giờ tĩnh; tốc độ quay của chúng vừa nhanh vừa biến đổi theo tình trạng sức khoẻ và chất lượng dòng chảy. Toàn bộ quá trình này tương tự như cơ chế hô hấp, vì năng lượng cũng được con người hít vào và thở ra. Năng lượng đổ vào lõi trung tâm của luân xa, đến xương sống qua phần cuống, sau đó chảy dọc theo các đường dẫn nhỏ bé của thể dĩ thái được kết nối với hệ thần kinh cơ thể. Cuối cùng năng lượng quay trở lại các luân xa, di chuyển ra ngoài theo đường xoắn ốc thông qua các vòng xoáy của các cánh hoa, theo nhịp điệu vào ra đều đặn. Những xoắn ốc của năng lượng ngày càng mở rộng ra trong suốt quá trình tuần hoàn, dần dần lẫn vào và tan biến trong trường dĩ thái của toàn bộ cơ thể, và sau đó hòa lẫn vào trường vũ trụ, giống như hơi thở ra của con người trở thành một phần của toàn bộ bầu khí quyển trái đất.
Các luân xa chính của thể dĩ thái được nằm dọc theo một trục thẳng đứng, năm luân xa dưới nằm song song với tủy sống, kéo dài từ xương cùng tới hộp sọ, trong khi hai luân xa còn lại một nằm giữa hai lông mày và một nằm ở đỉnh đầu. Luân xa đỉnh đầu thường lớn hơn các luân xa khác, và là điểm tập trung tâm thức.
Sợi chỉ tâm thức thức tỉnh gắn liền với lõi trung tâm của luân xa đỉnh đầu. Trong giấc ngủ, luồng năng lượng ở đây giảm xuống, và được kích hoạt lại khi tỉnh thức. Tuy nhiên sợi chỉ sự sống kết nối luân xa tim với trái tim của cơ thể, và kết nối này không bị gián đoạn trong suốt cuộc đời. Vào lúc chết, sợi chỉ tâm thức rút khỏi luân xa đỉnh đầu, và sợi chỉ của sự sống rút khỏi trái tim, báo hiệu sự tan rã của tất cả các luân xa khác. Như vậy khi chết tất cả các kết nối bị phá vỡ; thể dĩ thái trước tiên nới lỏng liên kết khỏi cơ thể vật lý, sau đó tách ra, và tan rã trong vòng vài ngày sau khi chết trong điều kiện bình thường.
Tóm lại, các chức năng chính của luân xa dĩ thái là hấp thu và phân phối prana hay sinh lực cho thể dĩ thái, qua nó đến cơ thể vật lý, và để duy trì các liên kết động với các luân xa tương ứng trong thể cảm xúc và thể trí. ... (Nguồn: Luân xa và năng lượng con người)
+ 2. Tướng sanh diệt
+ Pháp Sanh diệt: Đức Phật bảo ngài A Nan. ... Không theo cái thường, chỉ đuổi theo sanh diệt. Do vậy phải sanh mãi và chịu tạp nhiễm khi lưu chuyển. Giảng giải:
Không theo cái thường. Họ không theo đạo lý lưu xuất từ bản tánh vi diệu thường trú trong chính mình; lại nữa, họ đi ngược lại với đạo lý nầy, và họ chỉ đuổi theo sanh diệt. Có thứ gì trên thế gian nầy không là đối tượng của sinh diệt? Mọi thứ có hình tướng đều là pháp sinh diệt. Pháp không sanh diệt không có sắc tướng. Nhưng phần nhiều chúng sinh trở nên dính mắc với sắc tướng và quên đi đạo lý thanh tịnh vi diệu chân thường. Do vậy phải sanh mãi. Đời nầy kế tiếp đời sau, đời sau kế tiếp đời sau nữa. Điều gì khiến cho đời nầy kế tiếp đời sau? Vì chúng sinh phải chịu tạp nhiễm khi lưu chuyển. Chữ ‘tạp nhiễm’ hàm ý rằng chúng sinh không duy trì được tinh thanh tịnh mà bị nhiễm phải cấu uế dơ bẩn, càng làm ô nhiễm thêm. Chúng sinh nhiễm phải những thứ gì? Nhiễm những gì trong cảnh giới mà họ lưu chuyển? chúng sinh đầu thai qua các cảnh giới tùy theo Nghiệp nhiễm ô từng cảnh giới họ đã sống.. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.4 - Ch.V)
+ Các Tướng: Diệt sanh - Sanh diệt - Diệt sinh - Sinh diệt là Các tướng - Cảnh trần - Trần lao - Trần tướng = > Các pháp hữu vi
... Các tướng sắc không, tối sáng, động tĩnh, thông bít, đậm nhạt, hợp ly, sinh diệt
Hư không kia làm sao vì ông mà thành đồng hay khác? Huống chi lại gọi là một hay chẳng phải một. Thế ông đã biết, sáu căn thọ dụng cũng giống như vậy.
Do hai thứ tối sáng hiển bày lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái thấy. Cái thấy ánh hiện ra thành sắc, kết sắc thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘nhãn căn’ như trái bồ đào. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo sắc.
Do hai tướng động tỉnh đối chọi lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái nghe. Cái nghe ánh hiện ra thành tiếng, cuộn cái tiếng lại thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘nhĩ căn’ là lá sen non. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo âm thanh.
Do hai tướng thông và bít phát hiện lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính ngửi. Tính ngửi ánh hiện ra thành hương, thu nạp các hương thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘tỉ căn’ như hai móng tay duỗi xuống. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo hương.
Do vị nhạt và vị khác xen lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra tính nếm. Tính nếm ánh hiện ra thành vị, thu nạp các vị thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi hình thể của ‘thiệt căn’ như mặt trăng lưỡi liềm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo vị.
Do hai tướng ly và hợp cọ xát lẫn nhau, kết dính sự yên lặng trong tánh diệu viên mà phát ra cái biết xúc chạm. Tính biết xúc chạm ánh hiện thành xúc, thu nạp các xúc thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi thể của ‘thân căn’ như cái trống cơm. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo xúc.
Do hai thứ sinh diệt tương tục lẫn nhau, kết dính tánh yên lặng nơi tánh diệu viên mà phát ra cái biết. Tính biết ánh hiện thành các pháp, thu nạp các pháp thành căn. Bổn nguyên của căn là tứ đại thanh tịnh. Nhân đó gọi là ‘ý tư,’ như cái thấy trong nhà tối. Phù căn tứ trần giong ruổi chạy theo pháp. (Đoạn kinh nầy nói đến ý căn, tức thức thứ sáu, là đối tượng của sinh diệt. Khi niệm trước vừa đình chỉ, niệm sau liền sinh khởi. Năng lực của tánh biết là thu nạp các pháp, chính là trần cảnh. Ý căn bị thu hút bởi pháp trần_HT Tuyên Hóa)
A-nan, sáu căn như vậy do tánh giác minh soi lại tính minh giác. Làm mất tính sáng suốt kia, kết dính với cái vọng mà phát ra ánh sáng. (chỉ vì qua sự sinh khởi một niệm vọng tưởng muốn soi lại tánh giác minh mà tánh giác ấy biến thành vọng giác và vọng minh–kết quả là, bản thể bị mất đi; và do kết dính vào cái vọng, ánh sáng của tánh thấy trở thành hiện hữu. Điều này tạo ra những tác dụng riêng biệt của tánh thấy, tánh nghe và các tánh khác. Đó thuộc về quang minh của thức thứ tám_HT Tuyên Hóa)
Vậy nên nay ông rời tối rời sáng, thì không có cái thể của thấy. Rời động rời tỉnh, thì không có cái nghe. Không có thông không bít, thì tính ngửi không phát sinh. Không có mùi vị, không lạt, thì tính nếm không có. Không rời xa, không kết hợp thì tánh xúc chẳng có. Không sanh không diệt, thì cái biết gá chỗ nào?
Ông chỉ cần không theo động tĩnh hợp li, điềm biến thông tắc, sanh diệt ám minh, mười hai tướng như vậy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q4)
+ Tu tâm định tĩnh giúp cơ thể không mỏi mệt: Trích đoạn ... đức Phật bảo: Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như vầy: "Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động....
Đức Phật bảo: Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. (Nguồn: 19. Kinh Song Tâm)
+ Luận về ngũ hành trong cơ thể con người (Trích Giáo lý bí nhiệm)
... Giảng lý hiện đại giải thích câu này, xem như đó là nhắm vào một sự kiện thiên văn trứ danh, đó là “Thủy Tinh nhận được ánh sáng và nhiệt xuất phát từ Mặt Trời bảy lần nhiều hơn Trái Đất, hoặc nhiều hơn cả Kim Tinh kiều diễm, nó chỉ nhận được số lượng ánh sáng và nhiệt hai lần nhiều hơn Bầu hành tinh bé bỏng của chúng ta
Trên cương vị một hành tinh chiêm tinh, Thủy Tinh còn có tính cách Huyền linh và bí nhiệm hơn Kim Tinh....Ngài là thần Mercury màu Hoàng kim,....
Mọi nhà thần học (theologians) đều quả quyết rằng Thần Mercury và Thần Thái Dương chỉ là một… Ngài là vị thần minh hùng biện nhất và minh triết nhất, điều này chẳng có gì là lạ, vì Thần Mercury gần gũi với Minh Triết và Huyền Âm của Thượng Đế [Thái Dương] đến nỗi mà Ngài bị lầm lẫn với cả hai (Tr 63)
"Mọi tội lỗi phạm phải trên Địa Cầu đều được Ushanas-Shukra (Kim tinh) cảm thấy. Bậc Đạo Sư của các Daitytas (người Khổng lồ) là Chơn Linh bảo vệ của Địa Cầu và Loài người. Mọi sự biến đổi trên Kim Tinh đều được Trái Đất cảm thấy và phản ánh."
Một chìa khóa khác dạy về nguồn gốc của Thủy, việc nó trộn lẫn với Hỏa – được gọi là “Lưu Hỏa” (“Liquid Fire”) và bắt đầu mô tả về mặt Luyện kim đan, sản phẩm của hai thứ trên: đó là hai chất đặc như là khoáng chất (minerals) và đất đá (earths). Từ “Không Gian Thủy”(“Waters of Space”), sản phẩm của Lửa Tinh Thần dương và (hơi) Nước âm đã biến thành Đại Dương bao la trên Địa Cầu.... (Tr 129)
Nếu muốn biết một điều bí mật nào đó về các LINH HỎA, y cứ việc tham khảo các tác phẩm của các nhà Luyện kim đan, họ đã tỏ ra chí lý khi liên kết Lửa với mọi Hành (chẳng khác nào các nhà Huyền bí học). ...... Trong các tôn giáo ngoại môn, cũng như trong Nội môn Bí giáo, Ngũ Hành – nhất là Thủy, Hỏa và Phong được xem như là Thủy Tổ của Năm giác quan vật chất và vì thế có liên hệ trực tiếp với nhau một cách huyền bí. .... Các giác quan vật chất này còn thuộc về một Cơ sáng tạo thấp kém, tức “Cơ Sáng tạo Thứ Yếu”..... Vì thế, Hỏa, Thủy và Phong là Tam Vị Nhất Thể của Vũ Trụ bản sơ.
Sau đây là bảng kê sự tương quan song hành trong cơ tiến hóa của Ngũ Hành và Ngũ quan, tức là trong Phàm Nhơn vũ trụ (tức “Tinh Thần”) và phàm nhơn hữu hoại.
1. Dĩ Thái ......................... Thính giác .…Thính.
2. Không khí ................... Xúc giác ........Thính và Xúc.
3. Lửa hay Ánh sáng ...... Thị giác ..........Thính, Xúc và Sắc
4. Nước ............................ Vị giác .........Thính, Xúc, Sắc, Vị .
5. Đất ............................... Khứu giác.....Thính, Xúc, Sắc, Vị và Hương.
Như đã thấy ở trên, mỗi Nguyên tố thêm vào những đặc tính riêng của nó những đặc tính của nguyên tố trước đó, cũng như mỗi Giống dân lại có thêm giác quan đặc biệt của Giống dân trước đó.....
Giống dân thứ Nhất có ba Nguyên Tố (Elements) song không có Sinh Hỏa (Living Fire). Tại sao thế ? Bởi vì:
Đức Hermes Ba lần vĩ đại dạy: “Con ơi, ta nói bốn Nguyên tố, song phải có ba”. “Trong Vòng Tròn nguyên thủy”, tức cuộc Sáng Tạo, cái được ký hiệu là, có nghĩa là “Gốc rễ”, trong cuộc Sáng Tạo thứ yếu cũng vậy.
Như vậy, trong khoa luyện kim đan hay Bí giáo Tây phương một biến thể của Nội môn Bí giáo Đông phương – chúng ta thấy:
X X
Lưu huỳnh ..................... Ngọn lửa ..........Tinh Thần (Spiritus)
Thủy ngân (Mercury) ... Thiên Nhiên ........Nước (Aqua)
Muối ..............................Mẹ (Mater) .........Máu (Sanguis)
Cả ba đều là các tứ nguyên được hoàn chỉnh bởi Hỏa, Gốc của chúng. Bên ngoài Thế giới biểu lộ, Tinh Thần là Hỏa LINH KHÍ dưới dạng Nhất Nguyên tuyệt đối. Trong Thế giới biểu lộ, nó là Mặt trời Tinh Thần Trung Ương, Lửa điện của Vạn Hữu. Trong Thái Dương Hệ chúng ta, nó là Mặt Trời hữu hình, Tinh Thần của Thiên Nhiên, Thần Linh của Địa Cầu ở trong, ở trên và xung quanh Quả Đất là Hỏa Tinh Linh của nó – Phong, Hỏa lưu chất; Thủy, Lửa lỏng; và Thổ, Lửa đặc (solid fire). Tất cả đều là Lửa – Ignis với cấu tạo căn cốt, tức , nguồn gốc của nó là Ο (số không) theo quan niệm của chúng ta. Tổng thể trong Thiên Nhiên và Trí Tuệ của nó. “ProMetor” chính là Lửa thiêng. Đó là Đấng Sáng Tạo, Đấng Hủy Diệt và Đấng Bảo Dưỡng. (Tr 220)
“Cha” của con người thể chất nguyên thủy (tức là xác thân của y) là Nguyên sinh khí Điện lực của Mặt Trời. Mặt Trăng là “Mẹ” y, vì trong Mặt Trăng có cái năng lực huyền bí có tác dụng quyết định đối với cơ năng thụ thai và sinh sản.
Năng lực của mặt trăng điều chỉnh cơ năng này cũng như là ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của loài động vật và thực vật.
Trong trường hợp này, “Phong” tức Dĩ Thái tiêu biểu cho tác nhân truyền đạt các ảnh hưởng nêu trên từ hai vầng nhật nguyệt xuống và ban rải cho thế gian. Nó được mệnh danh là “Điều dưỡng viên” (“Nurse”) (1 ); còn “Lửa Tinh Thần” chỉ biến con người thành một thực thể thiêng liêng và hoàn thiện.
Thế thì, thứ “Lửa Tinh Thần” ấy là cái gì? Trong khoa Luyện kim đan, nó chính là Hydrogen nói chung, còn trong Nội môn Bí giáo, nó lại là phân thân hay Tia sáng phát xuất từ Thực Tượng, “Đấng Thần Quân của Nguyên tố Bản sơ”. Hydrogen chỉ là một chất khí trên cõi hồng trần. Nhưng ngay cả trong hóa học, hydrogen cũng là dạng vật chất duy nhất tồn tại – và hầu như lúc nào cũng liên can tới nguyên hình chất, tức là Layam. Có thể nói, nó là cha đẻ, hay đúng hơn là Upãdhi (căn bản) của cả Phong lẫn Thủy và là “hỏa, phong và thủy”, thật vậy, đó là ba phương diện của một duy nhất; vì thế mới có tam vị nhất thể của hóa học và khoa luyện kim đan. Trong cõi biểu lộ hay cõi Vật Chất, nó là biểu tượng ngoại cảnh và phân thân vật chất của Thực Thể nội giới thuần tâm linh trong cõi Thực Tượng vô vi. Godfrey Higgins đã so sánh và đồng nhất hóa hydrogen với TO ON, “Đấng Độc Tôn” của người Hy Lạp. Ấy là vì ông đã nhận thấy rằng Hydrogen không phải là nước, mặc dù nó sản sinh ra nước; hydrogen không phải là lửa, mặc dù nó biểu lộ hay tạo ra lửa; nó cũng chẳng phải là không khí, mặc dù không khí có thể xem như là sản phẩm của sự kết hợp nước và lửa (vì chúng ta thấy hydrogen trong hành thủy của bầu khí quyển). Nó đúng là tam vị nhất thể. (GLBN, Tr 204)
... Cha của Vật Duy Nhất (Con người) ấy là Mặt trời; Mẹ nó là Mặt Trăng; Gió mang nó ở trong lòng, và Trái Đất nuôi dưỡng nó.
Trong lời giải thích Nội môn của câu này có thêm: “và Lửa Tâm Linh là Thầy của nó”.
Lửa này là Chơn Ngã tức là Linh Hồn luôn luôn đầu thai chuyển kiếp dưới ảnh hưởng của những Phàm Ngã thấp kém, những phàm ngã này luôn luôn đổi mới với mỗi kiếp tái sinh, có đầy dẫy sự khát vọng (Tanha) hay lòng khao khát muốn sống. Thật là một định luật lạ lùng trong Thiên Nhiên mà thấy rằng trên cõi thấp, tính chất tâm linh cao cả lại bị lệ thuộc phần tính chất thấp hèn ... (GLBN, Tr 211)
... Khi đó, với sự phát triển của Lửa Tâm Linh, tức cái thực thể “Ba mà Một” trong Chơn ngã, y hoạch đắc do Chơn ngã hay bậc Thầy của y, sự Minh Triết của Tâm Thức cá biệt, mà y không có sở hữu từ lúc đầu. Như vậy, ở đây Tinh Thần Thiêng Liêng lại được tượng trưng bằng Mặt Trời hay là Lửa; Linh Hồn Thiêng Liêng được tượng trưng bằng Nước và Mặt Trăng, cả hai đều tượng trưng cho Cha và Mẹ của Pneuma (Hồn người, tức Trí Tuệ), được tượng trưng bằng Phong, vì Pneuma có nghĩa là “Hơi Thở” (“Breath”). (GLBN, tr 218)
Chúng ta có thể bao gồm trong loại này các Đấng sáng tạo lưỡng tính bản sơ của mọi vũ trụ khởi nguyên luận. Đó là thần Zeus-Zên (Hậu thiên khí) của người Hy Lạp và Chthonia (Đất Hỗn Mang) và Metis (Thủy) là những quí phu nhân của Ngài; Osiris và Isis-Latona – Osiris cũng tiêu biểu cho Hậu thiên khí, phân thân thứ nhất của Đấng Thánh Linh Tối Cao Amun, cội nguồn của Ánh Sáng; rồi lại tới Nữ Thần Đất và Nước. Mithras, vị Thần thạch sanh (the rockborn God), biểu tượng của Lửa dương ở trần thế, tức là Bản Quang hiện thân, và Mithra, Nữ Thần Lửa, vừa là mẹ vừa là vợ của Ngài; hành Hỏa thuần túy (nguyên khí dương chủ động) được xem như là ánh sáng và nhiệt, cùng với Thổ và Thủy, tức Vật Chất (yếu tố âm hay thụ động của sự sinh hóa vũ trụ). (1) Tất cả những điều này đều là tài liệu bàn về Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng bản sơ. (GLBN, Từ tr 66 - 250)
Tóm lại, cái Tàu hay Bè – Navis – là biểu tượng của Nguyên khí âm sinh sản, nó được tiêu biểu trên trời bằng Mặt Trăng và dưới Trần Thế bằng Tử Cung. Cả hai đều chứa các mầm mống của sự sống và sự tồn tại, và Mặt Trời tức Vishnu, Nguyên khí dương, làm linh hoạt và đơm bông kết trái.... (GLBN, tr 267)
+ Vật chất, linh hồn, tinh thần (Matter, soul, spirit):
- Vật chất là thể biểu lộ của linh hồn trên cõi kinh nghiệm này,
- Linh hồn là thể biểu lộ của Tinh thần trên vòng xoắn ốc cao hơn.
=> Cả ba là Tam vị nhất thể (Trinity) được tổng hợp bởi Sự sống đang thấm nhuần vạn hữu. (ASCLH, 369)
+ Tam vị nhất thể [Hỏa - Thủy - Phong]: Một chìa khóa khác dạy về nguồn gốc của Thủy, việc nó trộn lẫn với Hỏa – được gọi là “Lưu Hỏa” (“Liquid Fire”) và bắt đầu mô tả về mặt Luyện kim đan, sản phẩm của hai thứ trên: đó là hai chất đặc như là khoáng chất (minerals) và đất đá (earths). Từ “Không Gian Thủy”(“Waters of Space”), sản phẩm của Lửa Tinh Thần dương và (hơi) Nước âm đã biến thành Đại Dương bao la trên Địa Cầu.... (Tr 129)
Nếu muốn biết một điều bí mật nào đó về các LINH HỎA, y cứ việc tham khảo các tác phẩm của các nhà Luyện kim đan, họ đã tỏ ra chí lý khi liên kết Lửa với mọi Hành (chẳng khác nào các nhà Huyền bí học). ...... Trong các tôn giáo ngoại môn, cũng như trong Nội môn Bí giáo, Ngũ Hành – nhất là Thủy, Hỏa và Phong được xem như là Thủy Tổ của Năm giác quan vật chất và vì thế có liên hệ trực tiếp với nhau một cách huyền bí. .... Các giác quan vật chất này còn thuộc về một Cơ sáng tạo thấp kém, tức “Cơ Sáng tạo Thứ Yếu”..... Vì thế, Hỏa, Thủy và Phong là Tam Vị Nhất Thể của Vũ Trụ bản sơ. (Giáo lý bí nhiệm: Tr 220)
+ Vật chất nguyên sơ (Primeval Matter, vật chất bản sơ). Vật chất xuất hiện ngay lần biến phân đầu tiên của nó từ trạng thái trung hòa (laya condition, vượt quá các đường tác dụng zero).(GLBN 2, 313)
I- Quy nạp ngũ hành:
+ Ngũ hành với Thân Xác con người: Con người do Tứ đại hợp thành: Xem tại đây
+ Ngũ hành với tâm linh và giác khiếu:
- Đức tánh: Mộc chủ về nhân - Hỏa chủ về lễ - Thủy chủ về trí - Kim chủ về nghĩa - Thổ chủ về tín
- Giác quan - Khai khiếu: Tứ đại với giác quan Xem tại đây
- Giác quan tương ứng các Cõi: Xem tại đây
+ Chiến tranh: Súng đạn thuộc Hỏa; Nguyên tử thuộc thủy. Nói về chiến tranh Việt Nam, người Việt nhiều người tin theo Phật, nhưng Tâm sát quá nặng kèm nóng giận là nguyên nhân của quả báo phát sinh chiến tranh liên miên... (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr275 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tin Theo tà đạo - Tin theo Ngoại Đạo - Nghi ngờ chánh đạo - Nghi ngờ Phật Pháp
Kinh văn:
"Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn nhiều đời tích phước sâu dày, được mọi người kính nể, đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ; song bà mẹ lại tin theo tà đạo, thường khinh chê ngôi Tam Bảo.
Thuở ấy, Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ, hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn; và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung, thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.
Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác, bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng, rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường."
Lược giảng:
Vậy, trong thời Tượng Pháp sau khi Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai nhập Niết Bàn, "có một người con gái dòng Bà La Môn..."
Bà La Môn là một phái ngoại đạo của Ấn Ðộ. Người theo phái ngoại đạo này tu hạnh thanh tịnh—họ chủ trương ăn chay, không ăn thịt, cũng giảng về việc tu Ðạo, không có hành vi nam nữ bất tịnh— cho nên còn gọi là "Tịnh Duệ." "Tịnh" tức là hạnh thanh tịnh, trong sạch. "Thanh tịnh" là không có hành vi bất tịnh giữa nam nữ, nếu phạm tức là không thanh tịnh.
Dòng Bà La Môn này tuy cũng tu pháp môn "viễn ly," song tu tới tu lui vẫn không đến được chỗ cốt tủy, không đạt được đạo lý rốt ráo. Ðây là một giáo phái có tự ngàn xưa của nước Ấn Ðộ; và cho đến hiện nay, tại Ấn Ðộ vẫn còn rất nhiều loại giáo phái như thế. Ðiển hình là phái Du Già, một giáo phái thoát thai từ đạo Bà La Môn. Ðối với người Trung Hoa thì đạo Bà La Môn chính là Ðạo Giáo (đạo Lão), một giáo phái cũng chủ trương tu hạnh thanh tịnh.
Vậy, cô gái dòng Bà La Môn này được mọi người kính nể, nói gì cũng được mọi người hoan hỷ lắng nghe, và khởi xướng việc gì cũng được mọi người hoan hỷ tán thành, hết lòng hỗ trợ. Chẳng những thế, "đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ." Hằng ngày, cô ta luôn luôn được chư Thiên âm thầm che chở, phù hộ.
Như tôi đã nói ban nãy, chúng ta hiện nay đã "kết giới," cho dù quý vị có nghiệp chướng—thí dụ có ma quỷ muốn gây chướng ngại cho quý vị—thì chúng cũng phải đình hoãn lại, không được đến quấy nhiễu quý vị trong lúc này. Bởi vì quý vị đến đây để nghe giảng kinh và bây giờ nơi này đã được "kết giới," thì mọi nợ nần vay trả đều phải tạm thời đình chỉ, không ai được phép đến đây gây rắc rối hoặc sinh sự lôi thôi, mà phải để cho quý vị một lòng một dạ chuyên chú nghe giảng kinh.
Mặc dù cô gái dòng Bà La Môn này có phước đức sâu dày, khi đi đứng lúc nằm ngồi đều có các vị Hộ Pháp, Thiện Thần, Thiên Long Bát Bộ, hoặc chư Thiên theo phù hộ; "song bà mẹ lại tin theo tà đạo, chứ không tin Chánh Pháp, và thường khinh chê ngôi Tam Bảo."
Thế nào gọi là "tin theo tà đạo"? "Tin theo tà đạo" không nhất thiết là tin theo bàng môn tả đạo, mà còn có nghĩa là vừa tin vừa ngờ. Thí dụ có người hôm nay tin Phật, ngày mai lại sanh lòng hoài nghi, phân vân lưỡng lự, không biết mình đúng hay sai: "Nói là tin Tam Bảo Phật Pháp Tăng, nhưng tôi chưa hề gặp một ông ‘Phật’ nào cả. Tôi cũng chưa hề gặp được ‘Pháp’; tuy nói là có kinh điển, song giáo lý chứa đựng trong các kinh sách đó cũng tầm thường, chẳng có gì đặc biệt. Còn ‘Tăng’ thì bất quá chỉ là những con người phàm phu tục tử như bao kẻ khác thôi, vì sao tôi lại phải kính trọng họ?" Sanh lòng hoài nghi như thế, thì cũng gọi là "tin theo tà đạo." Nói tóm lại, không có chánh niệm thì đó chính là tà niệm; và không có chánh tín thì đó là tà tín, là "tin theo tà đạo" vậy.....
"Tin theo tà đạo" cũng có nghĩa là nói ra những điều không có đạo lý, không hợp tình hợp lý. Chẳng hạn có người tuyên bố một cách phi lý rằng: "Quý bà quý cô chỉ cần đưa tôi một trăm đồng (hoặc một ngàn đồng, một vạn đồng), tôi bảo đảm kiếp sau ai nấy đều được sanh làm thân nam, không còn phải mang thân nữ nữa!" Thế nhưng, quý vị nghe xong liền nhẩm tính: "Ồ! Ðược đấy chứ! Một triệu đồng mà mua được thân nam thì đâu có đắt, quá rẻ nữa là khác"; và ngoan ngoãn đem tiền ra nộp cho ông thầy ngoại đạo. Cất tiền vào hầu bao rồi là hắn tha hồ nhậu nhẹt, chơi bời thỏa thích. Tiền bạc một khi đã bị hắn tiêu xài hết rồi, quý vị chẳng có cách nào đòi lại được. Cho nên, tuy nói là bảo đảm kiếp sau làm thân nam, song cũng không có bảo chứng để quý vị có thể đòi bồi thường. Ðó gọi là "tin theo tà đạo." Trên đây là tôi chỉ mới kể ra một vài thủ đoạn lường gạt của bọn "cáo già" (những kẻ chuyên môn đi lường gạt thiên hạ) mà thôi.
Bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn này "thường khinh chê ngôi Tam Bảo." Chỉ vì bà ta toàn là tin vào tà thuyết, cho nên không tin theo Chánh Pháp.
Thế nào gọi là tà thuyết? Chẳng hạn nói rằng: "Quý vị cần gì phải tin Phật? Quý vị chính là Phật kia mà!...
"Khinh chê ngôi Tam Bảo" tức là coi thường Tam Bảo, gặp Tăng, Ni—người xuất gia— thì đều hủy báng, buông lời xúc phạm. Những người thường tỏ ra bực bội, ghét trông thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni; đó cũng là "khinh chê ngôi Tam Bảo" vậy.
"Thuở ấy, Thánh Nữ—tức là cô gái thuộc dòng Bà La Môn nói trên—lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ." "Phương tiện" ở đây có nghĩa là đối với những người xem chừng có thể tin tưởng Phật Pháp, thì chúng ta tùy thuận theo hoàn cảnh và trình độ của họ mà linh động giảng giải để họ có thể lãnh hội được. "Khuyến" là dùng lời lẽ khéo léo để khuyên lơn; "dụ" là dẫn dụ, tức là dùng sự lợi lộc để cám dỗ.
Mặc dù Thánh Nữ nhiều lần khuyên nhủ thân mẫu như thế, "hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn." ... Ðó gọi là vừa tin vừa ngờ, chưa trọn lòng tin cậy vậy.
Không lâu sau thì bà mẹ của cô gái dòng Bà La Môn này qua đời. ...
Người xưa có nói:
(Trông thấy người khác chết,
Lòng ta như lửa đốt,
Chẳng phải xót cho người,
Mà vì nghĩ đến mình. )
Như vậy, sau khi thân mẫu của Thánh Nữ Bà La Môn nọ qua đời thì "thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián." "Thần" là thần thức, và "hồn" là linh hồn. "Thần hồn" cũng chính là thức thứ tám. Vì sao gọi là địa ngục Vô Gián (không gián đoạn)? Bởi ở địa ngục này thì thời gian và thân mạng đều không hề gián đoạn—đây là chỉ cho việc dù có một hay nhiều tội nhân thì địa ngục cũng chật đầy như nhau. Trong những bài giảng sắp tới, chúng ta sẽ được biết tường tận hơn về địa ngục Vô Gián.
Vô gián" nghĩa là gì? "Vô gián" có nghĩa là liên tiếp không ngừng, không hề có sự gián đoạn. Ở địa ngục này, tội nhân mặc dù phải chịu muôn phần khổ sở, nhưng mạng vẫn không đứt đoạn; do đó họ cứ liên tục chết đi rồi sống lại, sống lại rồi chết đi. Ðó là do tác dụng của thần thức, mà thần thức thì bất biến.
Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác." "Không tin nhân quả" tức là không tin rằng phàm trồng thiện nhân thì được thiện quả, gieo ác nhân tất gặp ác báo. Bà mẹ của Thánh Nữ không chịu tin rằng hễ cái nhân mà không thanh tịnh thì quả cũng không thanh tịnh, và nếu cái nhân không chánh đáng thì quả cũng sẽ không chánh đáng.
Bởi biết rằng mẹ mình sinh thời đã tạo nhiều ác nghiệp, sau khi chết tất phải bị đọa vào đường ác, nên Thánh Nữ "bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng—trái cây, đèn đuốc, tràng phan, bảo cái ...—rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường." Ở đây, "chùa tháp thờ tiên Phật" tức là nội viện chùa tháp của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ 105. CHỒNG ĐỐI VỚI VỢ CÓ BỐN VIỆC: Có người vợ như là mẹ. Có người vợ như là bạn thân, có người vợ như là giặc, có người vợ như là nô tỳ.
- Vợ như mẹ, ấy là tùy thời chăm sóc chồng không để thiếu thốn, thờ kính, phục vụ. Người ấy được chư thiên hộ vệ; người và loài phi nhân không thể rình cơ hội. Này con gái ông trưởng giả, đó gọi là vợ như mẹ.
- Vợ như là bạn thân? Ở đây, này con gái ông trưởng giả, sau khi thấy chồng rồi, tâm không tăng giảm, cùng chung vui hay khổ.
- Vợ như giặc? Này Cô, khi thấy chồng, trong lòng sân nhuế, ganh ghét chồng, không phục vụ, không thờ kính, không cung kính, thấy là muốn hại, mà tâm để nơi người khác. Chồng không thân vợ, vợ cũng không thân chồng. Người ấy không được mọi người yếu kính; không được chư thiên hộ vệ, sẽ bị ác quỷ xâm hại; thân hoại mạng chung sanh vào địa ngục.
- Vợ như nô tỳ? Người vợ hiền lương, thấy chồng thì tùy thời chăm sóc, nhẫn nhịn lời nói, không bao giờ cãi lại; nhẫn chịu khổ lạnh, hằng có tâm từ ái, Đối với Tam tôn thì sanh niệm tưởng này. ‘Kia còn thì tôi còn. Kia suy thì tôi suy.’ Do sự việc ấy, người ấy được chư thiên hộ vệ; người và loài phi nhân đều yêu mến; thân hoại mạng chung sanh vào chỗ lành, sanh lên trời. (Tăng Nhất A Hàm, Mười Pháp, 51. Phẩm Phi Thường, Kinh số 9)
+ Phật chia người vợ ra thành 7 loại:
1. Bất cứ người vợ nào có tâm hiểm độc, hai lòng, không sống chung thủy, một dâm nữ ham muốn thú vui xác thịt với người khác, bỏ rơi chồng mình, quan hệ mờ ám với người đàn ông khác chỉ vì choáng ngợp trước sự giàu có hay vẻ ngoại hình, luôn khinh bỉ chồng, tính tình hiếu chiến. Người vợ này không lắng nghe chồng, không trung thành, không biết giữ gìn tài sản cho chồng, khinh khi ông chồng. Đây gọi là làm vợ như kẻ sát nhân. Hạng vợ xấu ác - Đê tiện.
2. Người vợ không chung sức vun vén chăm sóc kinh tế gia đình, lại hay tiêu sài hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn kiếm được, không vâng lời và không trung thành với chồng. Đây là làm vợ như kẻ ăn trộm. Hạng vợ xấu ác.
3. Người vợ ỷ lại, lười biếng, không lời từ ái, không chút nhu hòa, phát ngôn thô tháo, thích lấn lướt chồng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, thô bạo, thích nói lời ác, vợ thường hành xử độc đoán, tàn nhẫn, đàn áp, hống hách, cứng đầu, không trung thành, không gìn giữ tài sản của chồng. Nói ra những lời cay đắng, những câu tàn nhẫn, những lời khó chịu, và thô lỗ, Người đàn bà mà bắt nạt người đã cấp dưỡng cho mình. Đây là làm Vợ như một chủ nhân - Vợ Độc Đoán. Hạng vợ xấu xa.
4. Người vợ có lòng thương yêu, lo lắng, chở che, giúp chồng hết mực; có cách giữ gìn, làm giàu tài sản của chồng tạo ra, thường trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ và chăm con đứa con trai. Quan tâm đến tất cả mọi nhu cầu của chồng, trung thành, hết lòng vì chồng. Đây là làm vợ như mẹ. Hạng vợ cát tường.
5. Người vợ thùy mị, đoan trang, khiêm tốn, nhún nhường, hiểu và thuận phục đối với chồng mình như với anh ruột trong một gia đình, kính trọng chồng, như em gái đối với anh cả, sống thuận theo ý chồng. Vợ xem chồng như người anh lớn của mình. Bảo vệ tài sản và trung thành với chồng. Ðó là làm vợ như em út. Hạng vợ cát tường.
6. Người vợ hiểu biết, thông cảm, niềm nở, vui vẻ, hòa thuận với chồng như thể hội ngộ một người bạn bè từ lâu mới gặp, sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao năm xa cách, người có đạo đức, sống thanh tịnh. Người vợ này khiêm hạ, dễ bảo, trung thành và biết bảo vệ tài sản của chồng. Ðó là làm vợ như bạn bè. Hạng vợ cát tường.
7. Người vợ tính tình mềm mỏng, không chút nóng nảy, không giận, hờn dỗi; dù khi bị chồng đối xử không đẹp vẫn khéo nhường nhịn, không hề lỗ mãng, lớn tiếng chửi lại; biết tùy thuận chồng, khéo léo khuyên răn, thuyết phục chồng mình, thường vẫn bình tĩnh, chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ mẫn, tâm không biết giận. Không than phiền, chịu đựng những thiếu sót của chồng, nếu có, một cách âm thầm, dễ bảo, khiêm hạ, trung thành và bảo vệ tài sản của chồng. Là Vợ Tận Tụy - Như người phục vụ/ Người hầu. Hạng vợ cát tường nhất.
Đức Phật nói: Ta đã nói đến ba bà vợ sau đây: bà vợ giống như "Kẻ Giết Người", Bà vợ giống như "Người Ăn Trộm", và bà vợ giống như "Người Chủ nhân/ Độc Tài", Khi ba bà vợ nầy chết đi, họ sẽ bị đọa vào cõi địa ngục sâu thẳm, và tăm tối.
Nhưng ngược lại, bốn bà vợ sau đây: bà vợ giống như "Bà Mẹ", bà vợ giống như "Cô Em Gái", bà vợ giống như "Người Bạn", Và bà vợ giống như "Người Hầu Hạ", bởi vì họ luôn luôn sống vững vàng, trong vòng đạo đức, nên bốn bà vợ nầy khi chết đi, họ sẽ được tái sinh vào cõi trời. (Nguồn: Về bảy loại vợ; hoặc Bảy loại vợ - Kinh Tăng Tri Bộ)
+ Bốn loại sống chung (KinhTăng chi I):
- Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.
- Đê tiện nam sống chung với Thiện nữ.
- Thiện nam sống chung với đê tiện nữ.
- Thiện nam sống chung với Thiện nữ” (Nguồn: Kinh Thiện Sanh - Đạo Làm Người - Vợ Chồng)
+ Lời khuyên dành cho người vợ: Với lời khuyên cho phụ nữ về vai trò của họ trong cuộc sống gia đình, Đức Phật đánh giá cao sự an vui và hòa thuận của một mái ấm phần lớn tùy thuộc vào phụ nữ (Nguồn: Đức Phật dạy về hôn nhân hạnh phúc)
+ Đạo Vợ Chồng: “Vợ thờ chồng có 5 việc:
1. Chồng đi đâu về phải đứng dậy nghênh tiếp;
2. Chồng đi khỏi phải lo mọi việc nấu nướng, quét dọn chờ chồng về;
3. Không được có lòng dâm dục với người khác, chồng có trách mắng cũng không được có thái độ trách mắng lại;
4. Hãy làm theo lời chồng răn dạy, có nhặt được vật gì cũng không được che giấu;
5. Khi chồng ngủ nghỉ, phải lo sắp xếp xong rồi mới ngủ.
- Chồng với vợ có 5 điều:
1. Đi đâu phải cho vợ biết;
2. Việc ăn uống đúng giờ, cung cấp áo quần cho vợ;
3. Phải cung cấp vàng bạc châu báu;
4. Những vật ở trong nhà nhiều ít đều phải giao phó cho vợ;
5. Không được ngoại tình, bằng cách nuôi dưỡng, hầu hạ, chuyển tài sản”.
+ Hôn Nhân Lý Tưởng: Đức Phật đã dạy rằng, nếu họ muốn gặp nhau từ đời này đến đời sau, yêu thương và hạnh phúc, cả hai người phải đồng tín, đồng giới, đồng thí và đồng trí tuệ, như vậy sẽ gặp nhau nữa:
1- Đồng có đức tin (Samasaddhā), nghĩa là cả hai người đều có chánh tín, tin tưởng Tam bảo, tin lý nghiệp báo.
2- Đồng có giới hạnh (Samasīla), nghĩa là cả hai người đều giữ giới, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
3- Đồng có bố thí (Samacāgā), nghĩa là cả hai người đều có tâm rộng rãi, xả tài, thích phân phát tài sản đến người nghèo khó, biết cúng dường đến các sa môn.
4- Đồng có trí tuệ (Samapaññā) nghĩa là cả hai người đều có trí hiểu biết chân chánh, có chánh kiến, thấy biết nhân quả, thấy biết bản chất cuộc đời, nhận thức được bốn sự thật khổ - tập - diệt - đạo. -- A.II.61. Xem: Bốn nhân duyên Vợ chồng
+ Tu đạo có hai Hạng người: Người học Phật có hai hạng nhất định có thành tựu:
a) Một là người thông minh phi thường, nhà Phật thường gọi là “thượng căn lợi trí”. Hạng người này vừa nghe Phật pháp, giác ngộ ngay lập tức. Sau đó bèn chân chánh y giáo phụng hành, hạng người như vậy nhất định có thể thành tựu.
b) Hạng người thứ hai là “thiện căn sâu dày”. Hạng người đối với những lời giáo huấn của Phật, Bồ Tát bèn nỗ lực vâng làm, họ chẳng cần biết đến lý luận, cứ dựa theo lời chỉ dạy của Phật mà làm theo. Hạng người chân thật như thế có thể thành tựu. (Nguồn: Phật thuyết thanh tinh tâm kinh-PS Tịnh Không giảng)
+ Đạo của người quân tử: Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Ngũ thường - Năm đức tính của con người quân tử theo Đạo đời:
1. Nhân: Nhân (trong "nhân hậu")/ Không sát sinh
2. Nghĩa: Nghĩa (trong "chính nghĩa")/ Không trộm cắp
3. Lễ: Lễ (trong "lễ phép")/ Không tà dâm
4. Trí: Trí (trong "trí tuệ")/ Không uống riệu
5. Tín: Tín (trong "uy tín")/ Không vọng ngữ (nói dối, khoe khoang, lừa dối)
... Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh, kinh Hoa nghiêm ghi: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Đây cũng là lời Đức Phật dạy, con người sau khi chết, được thân người lại rất khó; huống gì theo nguyên lý kinh Phật đã dạy, đời sau muốn được làm thân người thì nhất định phải đầy đủ điều kiện của năm giới. Năm giới với năm thường của nhà Nho ở Trung Quốc nội dung giống nhau. Năm thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
1. Nhân (Không gây tổn hại): Nhân (trong "nhân hậu") là lòng yêu thương đối với vạn vật. Ứng với Mộc trong ngũ hành. Là nhân từ chúng ta làm được không? Đối với người, đối với vật chúng ta có lòng nhân từ chưa?
2. Nghĩa (Không tham lam): Nghĩa (trong "chính nghĩa") là phải cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải. Ứng với Kim trong ngũ hành. Đối với người, đối với sự vật, chúng ta có tận tâm làm tròn nghĩa vụ chưa? Tuy có thù lao, nhưng không xem trọng thù lao mà cho là việc bổn phận của ta. Chúng ta phải tận tâm tận lực làm cho tốt; đây là đạo nghĩa, nhưng không nên xem là trả thù lao. Thù lao nhiều thì tôi làm nhiều, thù lao ít thì tôi làm ít, hạng người này không có nghĩa. Thấy lợi phải luôn nghĩ đến nghĩa, không vì lợi mà quên nghĩa, có quyền lợi chính đáng phải biết nghĩ đến người khác (lộc bất tận hưởng). Người trọng nghĩa khinh tài rất đáng kính.
3. Lễ (Không kiêu mạn): Trong "cung kính lễ phép", mang tính tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người. Ứng với Hỏa trong ngũ hành. Giữa người với người phải có lễ phép qua lại, gồm rất nhiều thủ tục lớn chào hỏi, lễ khi vào đình chùa, vào nhà mới, cưới xin ....Người hiểu biết và giữ lễ nghi là người có văn hóa. (* Thầy Hằng Trường giảng Clip 9: Tu Lễ - Nét đặc trưng để làm người tốt. Tu lễ + Tu hành = Người toàn diện; Nếu thêm Tu luyện => Siêu nhân, có năng lực thần thông)
4. Trí (Không nghiện ngập): Trí (trong "trí tuệ") là sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai. Ứng với Thủy trong ngũ hành. Nói đơn giản là lý trí, chẳng phải theo tình cảm mà làm việc. Lý trí là khả năng hiểu biết và phân biệt tốt xấu, đúng sai, việc quan trọng và ít quan trọng, thường tự trách mình, thường tránh không gây tạo chia rẽ, hận thù, thường dùng lời nói bình hòa giúp người đúng lúc, đúng chỗ và đúng pháp ...
5. Tín (Chân thật): Tín (trong "uy tín") là phải giữ đúng lời hứa. Ứng với Thổ trong ngũ hành. Là tín dụng, chữ tín rất quan trọng là “không dối mình, không lừa người”. Tự lừa dối mình là lương tâm bị mê muội. Chúng ta thường nghe tục ngữ nói: “Người không có lương tâm”. Người không có lương tâm thì bàn đến chữ tín làm gì? Bên trong lương tâm mê muội; bên ngoài dùng nhiều thủ đoạn tinh vi lừa gạt người khác.
- Người nào phạm 5 điều này thì đời sau không làm được thân người. Chúng ta làm được năm điều này thì lương tâm không có hổ thẹn, chắc chắn đời sau được làm thân người. Chúng ta xem những người này trong xã hội ngày nay, lại so với mình, điều quan trọng nhất là tự kiểm điểm mình, tự mình có làm được hay không? Tự mình đời sau có được thân người không? Nếu như chúng ta không có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì đời sau nhất định đọa trong ba đường ác. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Lục đại tông chỉ: Tương ứng với Ngũ thường (Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín) và Ngũ giới, cụ thể:
- Không tranh, tức là không sát sinh/ Chữ nhân;
- Không tham, tức là không trộm cắp/ Chữ nghĩa
- Không cầu, tức là không dâm dục/ Chữ lễ
- Không ích kỷ, tức là không vọng ngữ/ Chữ tín
- Không tự lợi, tức là không uống rượu/ Chữ trí
* Không nói dối là người tu đạo muốn tiến xa phải thật hành. (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị)
+ Ngũ thường - Đức hạnh biểu hiện
1. Nhân: Là tâm nhân ái không muốn sát hại sinh mạng kẻ khác.
2. Nghĩa: Lòng nhận thức biết làm chuyện gì phải, và làm hết sức đứng đắn, đúng với trung-đạo, không có thái quá cũng không có thiếu sót, không nghiêng về bên phải cũng chẳng lệch qua phía trái, luôn luôn trung-đạo. Hiểu biết nghĩa lý thì không ăn cắp. Người có nghĩa khí thì không bao giờ ăn cắp đồ vật kẻ khác.
3. Lễ: Là lễ thứ lễ mạo, lễ tiết. Nếu mình có lễ tiết thì không làm những chuyện gian dâm. Ăn cắp và tà dâm đều là thứ không hợp với lễ nghĩa, đi ngược lại với luân thường.
4. Trí: Người có trí huệ thì không bao giờ uống rượu, hay hút thuốc xì ke, ma túy, những thứ độc dược. Người ngu si thì mới làm những thứ điên đảo nầy.
5. Tín: Người có thành tín thì không bao giờ nói dối cả.
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, đó gọi là Ngũ-thường. Hễ mình có đầy đủ Ngũ-thường này tức là có đạo, có đức. Cho nên đạo đức là do từ nơi tâm sinh ra. Nhưng khi phát ra thì nó có nhiều hình thái: có xanh, vàng, đỏ, trắng, và đen. Ðó là biểu hiện của đức hạnh, là ánh sáng của đức hạnh. Cho nên ông Hàn Dũ trong bài Nguyên Ðạo có một đoạn văn nói rằng: "Nghĩa là lòng bác ái tức là lòng Nhân. Lòng nhân đúng cách (hợp lẽ) thì gọi là Nghĩa. Nhờ đó mà tiến tới gọi là Ðạo. Ðầy đủ nơi mình không dựa vào bên ngoài nên gọi là Ðức." Ông Mạnh Tử cũng nói rằng: Nghĩa là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí sinh gốc rễ trong tâm mình. Màu sắc của nó chiếu soi nơi vẻ mặt, sáng soi nơi lưng, vận dụng nơi tay chân. Tứ thể không cần nói nhưng biểu hiện đã rõ. Người có đức thì không những biểu hiện nơi khuôn mặt của mình, mà ngay trên lưng của mình cũng lưu lộ ánh sáng đức độ, thậm chí cho đến tay chân cũng có thể biểu hiện ra đạo đức đó. Ðức tướng nầy không cần nói mà tự nó phát hiện ra, khiến ai ai cũng thấy một cách rõ ràng. Sự biểu hiện của đức hạnh chân chính đó là do công phu dụng công. Ðức hạnh nầy mình không thể giả trang được, nếu như hư dối thì chỉ tạm thời thôi, chớ không thể vĩnh viễn lừa dối người khác được.... (Nguồn: Biểu Hiện của Đức Hạnh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Đạo làm Người rất hay: Xem 28 Điều Lời Khai thị của Ấn Quang Đại Sư
+ Khổng Tử bàn về “đạo của quân tử”
Cao Đình nước Tề nói với Khổng Tử: “Tôi từ nước Tề xa xôi đến đây gặp Ngài vì muốn học đạo quân tử. Mong Ngài hãy chỉ cho tôi”.
Khổng Tử đáp: “Nội tâm phải chính trực, đây là cái gốc làm người. Bề ngoài, trong công việc phải cẩn trọng, giữ vững ý chí của mình; kiên trì thực hiện nhân nghĩa; thấy người có tài đức thì khiêm tốn học tập; gặp kẻ tiểu nhân bất tài thì tránh xa. Với người quân tử có tài năng không sinh lòng đố kỵ mà phải biết học tập. Làm được như thế thì người ở xa đến mấy cũng có thể thân như anh em. Nếu không muốn học theo đạo người quân tử thì người ở gần bên cạnh cũng khó thân nhau được”.
“Còn nữa, trong cuộc sống thường ngày, mỗi ngày chúng ta nói gì, làm gì, muốn làm sao không nói lời gây tai họa, làm những việc mình phải ân hận, thật không phải dễ dàng. Chỉ có người tài năng, có trí tuệ mới làm được. Vì thế phải luôn cẩn trọng, chú ý lời nói và việc làm của mình. Cần biết: cho dù một người cả đời trước đây chưa làm điều gì sai trái, nhưng cũng có thể chỉ vì một câu nói không hay nhất thời mà bao nhiêu công lao trước đây bị mất hết. Vì thế, muốn trở thành người quân tử phải luôn luôn cẩn trọng!” (Xem Khổng Tử bàn về quân tử)
+ Tâm sở qui định BẢN TÁNH hay CĂN TÁNH con người.
Theo Phật giáo, con người có 6 căn tánh chính là: Tham, Sân, Si, Kiêu, Mạn, Nghi. Sáu căn tánh nầy phối hợp với nhau cho ra 63 tánh tình khác nhau. Gồm có 14 thuần tánh và 49 hổn hợp tánh. Không ai có thể biết chính xác tâm tánh người khác, ngay cả tâm tánh của chính mình hay của vợ chồng với nhau, ngoại trừ những vị có Tha Tâm Thông.
+ Phật giáo có 5 yếu tố để xét đoán về 6 căn tánh người:
1- Oai nghi: Cách đi, đứng, ngồi, nằm, cử chỉ, nói năng…
2- Thọ dụng: Cách ăn uống, sở thích ăn uống. TD: Người tham thích ăn vị béo ngọt.
3- Cách làm việc, Ví dụ:
- Người Minh: Làm việc chu đáo, kỹ lưỡng
- Người Tham: Làm việc nhanh le, gắp rút.
- Người Sân: Làm việc dục chạc, cẩu thả.
4- Cách nhận thức, tính cảm quan, cách diễn dịch sự vật xuyên qua 5 giác quan: Lạc quan, bi quan hay thực tế hay không tưởng (trên trời, dưới đất). Cách chấp thủ, bám víu, hay thờ ơ, lảnh đạm với đối tượng nầy.
5- Khuyết tánh(tánh xấu), ví dụ:
5.1- Người Tham: Không biết đủ, mưu mô, gian xảo, hay xo đo những gì có lợi cho mình ; tự cao, ngã mạn ; thích được tân bốc.
5.2- Người Sân: Nóng giận, thù hiềm, hay chỉ trích việc công đức người khác, ganh tị, bỏn xẻn, hối tiếc.
5.3- Người Si : Ngủ nhiều, không tỉnh táo, phân vân, ngờ vực vì không có khả năng để nhận xét đối tượng, thiếu tự tin.
5.4- Người Tín: Dể tin, dể dụ ; nếu thích hợp với tánh tầm thì lại hay hoài nghi, chẻ sợi tóc làm 4.
5.5- Người Minh: Có nhiều tánh tốt hơn tánh xấu, tùy loại:
* Nếu hợp với tham thì họ sẽ ích kỹ, ngã mạn.
* Nếu hợp với sân thì họ sẽ thiếu nhẫn nại và hay bõ rơi đồng bạn.
5.6- Người Tầm: Thường nói nhiều, có ý nghĩ rắc rối, chẻ sợi tóc làm tư, vui thích những nơi tập hợp đông đảo, thiên hướng bất định, nên việc làm không đi đến kết quả. Đêm hay suy tính, nghĩ ngợi nên thường hay mất ngủ hoặc ngủ ít.
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)
Nguồn: Tổng hợp giảng về ngũ thường hay
Nguồn: Nghiên cứu Tâm Tánh
Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng
Xem thêm: Kinh thiện ác nhân quả
Xem: Giữ ngũ giới
+ Nên viết luận đề - Đề tài về các cặp đối:
...... Do đó, sáu hành tinh cai quản Thập Giá Khả Biến xét về mặt nhân loại, và trong chính nó điều này có ý nghĩa, vì sáu là con số của công việc lớn lao của giai đoạn biểu lộ, là con số của “the Beast” (“Thú Vật”), vốn là bản chất thấp xét về con người, và là tất cả những gì đang tìm cách hủy diệt sự sống cao siêu, nhưng cũng là những gì có thể được kiềm chế và sau rốt được điều khiển bởi linh hồn. Ý nghĩa của các con số đi vào khoa chiêm tinh học nội môn và huyền số học (numerology) vì chính nó là một nhánh của chiêm tinh học nội môn. Bác Ái ‒ Trí Tuệ ‒ Kinh Nghiệm ‒ Sắc Tướng ‒ Sự Hiểu Biết của Con Người ‒ Tử Vong: đây là các chủ âm của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại và chúng được tiêu biểu cho các ảnh hưởng của hành tinh đang tuôn đổ qua các hành tinh này từ các cung có quan hệ gần gũi của chúng.....
Một luận đề có thể được viết ra dựa vào đề tài về sự liên hệ của các đối nghịch (opposites) trong vòng hoàng đạo, vì chúng thể hiện tinh thần và vật chất và mối liên hệ hỗ tương của chúng, cộng với sự tác động của các năng lượng định tính; đồng thời chúng làm chứng cứ cho sự kiện rằng hai đối nghịch đó là một, và chỉ là biểu hiện của Người chưa tiến hóa. Người tiến hóa cái dễ thay đổi lớn lao, tuy vậy là các Sự Sống tinh thần cố định và được khai mở. (Chiêm THNM)
+ Đồng tử (Medium, Người ngồi đồng):
- Nên nhớ rằng đồng tử là một người có các nguyên khí được nối kết một cách lỏng lẻo và có thể bị mượn (borrowed) bởi các thực thể (beings) khác hay bởi các nguyên khí trôi dật dờ (floating principles), nhờ có được một sức hút đối với một số trong chúng hay một phần nào đó của chúng. (PGNM, 78)
- Một đồng tử thông thường (average medium) là một người có một bản chất tiêu cực hay dễ tiếp thu (negative or receptive nature), và thường thường bản chất tam phân (threefold nature, Phàm Ngã) của người này được phối kết (co–ordinated) một cách lỏng lẻo đến nỗi một mãnh lực hay thực thể bên ngoài có thể sử dụng bộ óc, bàn tay hay thân thể của người này. (TTCNT, 135)
+ Đồng cốt (mediumship, đồng bóng):
- Trạng thái đồng cốt thường diễn ra khi tiến trình hoàn toàn bị giới hạn vào các phân cảnh cảm dục... Trạng thái đồng cốt nguy hại vì thể hạ trí không can dự vào và vì thế, linh hồn không có kiểm soát. Đồng tử là một khí cụ vô ngã thức (unconscious), không phải chính y là yếu tố kiềm chế, mà là y bị kiềm chế. Thường thường, các thực thể thoát xác cũng dùng phương pháp giao tiếp này, lợi dụng bộ óc hay bộ máy nói của đồng tử, vốn không tiến hóa cao và hoàn toàn thiếu khả năng sử dụng các phương pháp ở cõi trí. (LVHLT, 179–180)
- Điều trước tiên cần ghi nhớ là hiện tượng đồng bóng tiêu cực, thiếu sáng suốt và hiện tượng tâm thông (psychism) hạ thấp kẻ thực hành môn đó (exponent) đến mức độ một người máy. Hiện tượng đồng cốt thì nguy hại và không nên theo vì nó lấy đi tự do ý chí và tính chủ động (positivity) của con người và ngăn trở không để cho con người hành động như là kẻ thông minh không bị ràng buộc. Trong các trường hợp này, con người không còn hoạt động như là vận hà cho linh hồn riêng của mình mà chỉ hơn được chút ít so với con vật sống theo bản năng, nếu không nói trắng ra y là cái vỏ trống rổng mà một thực thể nhập xác có thể chiếm cứ và sử dụng. Khi nói như thế là tôi nói đến loại thấp kém nhất của trạng thái đồng bóng mà ngày nay đang xảy ra quá nhiều và vốn dĩ là nguyên nhân của sự dính dáng đối với các trí óc mở mang trong mọi phong trào đang bảo trợ cho đồng cốt. Một trạng thái đồng cốt vốn được nhập vào với một thái độ tập trung hữu thức đầy đủ và trong đó, đồng tử, nhờ hiểu biết và sáng suốt, rời bỏ thể xác của mình cho một thực thể nhập vào mà y hoàn toàn biết được và thực thể này chiếm hữu với sự chấp thuận có ý thức của y để phụng sự mục tiêu tâm linh nào đó và giúp huynh đệ y có thể là chính đáng và tốt lành. Nhưng làm cách nào có được trạng thái đồng cốt này? Ít đồng tử biết được kỹ thuật chi phối việc nhập vào hay xuất ra của một thực thể mượn xác, họ cũng không biết cách thức tiến hành công tác này sao cho không một giây phút nào mà họ lại không biết về điều mà chính họ đang làm và mục đích của hoạt động của họ. Một cách rõ rệt và có mục đích hẳn hoi, họ tạm thời cho một linh hồn khác mượn thể xác của họ để phụng sự mà lúc nào cũng giữ được sự toàn vẹn của riêng họ. Biểu hiện cao siêu nhất của loại hoạt động này là việc hiến dâng thể xác của vị đệ tử Jesus cho Đấng Christ sử dụng. Chính trong từ ngữ “phụng sự“ này có ẩn toàn bộ vấn đề và sự an toàn. Khi sự mượn xác chân chính này được hiểu rõ hơn, chúng ta sẽ có sự việc là đồng tử xuất ra khỏi xác với ý thức tỉnh táo đầy đủ xuyên qua khe ở đỉnh đầu của mình chứ không phải như trong đa số trường hợp hiện nay là xuyên qua bí huyệt nhật tùng mà không duy trì được ý thức về sự việc xảy ra và cũng không nhớ lại được những gì đã diễn ra. (SHLCTĐ, 10–11)
+ Kinh phước đức - Kinh Cát tường - Kinh điềm lành:
Hôm nay chúng ta học Kinh Phước Đức trong Hán Tạng để so sánh với Kinh Phước Đức của Tạng Pali. ....
1. Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người./ Vì Người thường có khả năng đưa ra vị những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai. / Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi: Cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất? Ngay lúc đó với lòng xót thương. Bụt đã thuyết giảng về những gì thiết yếu và chân thật.
Ngài dạy:
1. Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp, đó là điềm lành lớn nhất.
2. Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp, đó là điềm lành lớn nhất.
Lánh xa kẻ xấu ác / Được gần gũi người hiền / Tôn kính bậc đáng kính / Là phước đức lớn nhất
[Không nên cầu may mắn - Hạnh phúc chính là con đường]
3. Không chạy theo các giới trời và người, / để cầu mong ban phúc và tránh họa, / cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu, / đó là điềm lành lớn nhất.
4. Chọn được môi trường tốt, có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức, giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh, đó là điềm lành lớn nhất.
[Mình phải chọn môi trường tốt và phải đóng góp vào việc tạo ra môi trường tốt đó.]
5. Biết bỏ ác theo lành / Không uống rượu, biết tiêt chế / Không đắm trong sắc dục / Đó là điềm lành lớn
6. Học rộng biết trì giới / Siêng năng tu tập theo giáo pháp và luật nghi / Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào các cuộc tranh chấp / Đó là điềm lành lớn nhất.
7. Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha / Biết chăm sóc gia đình, giữ cho trong nhà êm ấm / Không để cho lâm vào cảnh nghèo đói / Đó là điềm lành lớn nhất.
8. Không kiêu mạn, không cho mình là hơn người / Biết tri túc, biết xét suy / Có thì giờ đọc tụng và thực tập kinh điển / Đó là phước đức lớn nhất.
9. Biết nhẫn nhục khi nghe điều bất như ý / Có hạnh phúc mỗi khi được gặp người xuất gia / Mỗi khi nghe pháp hết lòng tiếp nhận để hành trì / Đó là điềm lành lớn nhất.
10. Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh / Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức / Biết nương vào các bậc có trí sáng / Đó là điềm lành lớn nhất.
11. Có niềm tin, có một đời sống tâm linh / Tâm ý ngay thẳng, không bị hoài nghi che lấp / Có quyết tâm lánh xa ba nẻo về xấu ác / Đó là điềm lành lớn nhất
12. Biết bố thí với tâm niệm bình đẳng / Biết phụng sự những bậc đắc đạo / Biết tôn quý những kẻ đáng tôn quý trong hai giới nhân và thiên / Đó là điềm lành lớn nhất.
13. Biết xa lìa tham dục / Sân hận và si mê / Thường tu tập để mong đạt được chánh kiến / Đó là điềm lành lớn nhất.
Thường dục ly tham dâm: Có nghĩa là mình luôn luôn muốn lìa bỏ cái ham muốn và nhất là cái ham muốn về sắc dục. Mỗi khi có ham muốn, si mê và sân hận phát khởi thì mình phải nhận diện được nó. Chữ ngộ này có nghĩa là gặp......... Tất cả đều nằm ở chỗ này: năng tập thành đạo kiến, làm thế nào luyện tập, để có cái thấy về Tứ Diệu Đế, về Bát Chánh Đạo?
14. Biết buông bỏ những nghiệp vụ phi nghĩa/ Có khả năng áp dụng đạo pháp vào đời sống hằng ngày / Biết theo đuổi một lý tưởng đáng được theo đuổi / Đó là điềm lành lớn nhất.
15. Vì tất cả nhân loại / Vun bón tâm đại từ / Nuôi dưỡng tình thương để đem lại an bình cho thế gian / Đó là điềm lành lớn nhất.
16. Là bậc trí giả ở trong cuộc đời / Thường tập hạnh tạo tác những điềm lành / Cho đến khi chính mình thành tựu được tuệ giác lớn / Đó là điềm lành lớn nhất.
* Kinh rất dài, mời xem giảng giải kinh văn gốc (Nguồn: Kinh Phước đức - HT Thích Nhất Hạnh giảng)
+ Xem bản kinh rút gọn trên Nhân Trắc Học: Kinh Điềm Lành Lớn Nhất
+ Sự Việc Cát Tường - Hộ Chú Cát Tường: Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn ngự gần Savatthi (Xá Vệ) tại Jetavana (Kỳ Đà Viên), vườn của ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Bấy giờ đêm khuya sắp tàn, có một vị Chư Thiên toả ánh sáng rực rỡ, chiếu sáng cả khu Kỳ Đà Viên, đến gần và đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi lui sang một bên. Vị Chư Thiên đứng đó, và hỏi Đức Thế Tôn bằng bài kệ: “Có rất nhiều Trời, Người Khát khao điều hạnh phúc, Suy ngẫm sự Cát Tường. Cho con biết điều gì là Cát Tường tối thượng?”
1. “Không gần kẻ ngu si. Biết kết thân người trí. Tôn kính phải tùy khi dành cho người xứng đáng. Là Cát Tường tối thượng.
2. Cư trú nơi thích hợp. Tích đức khéo giữ gìn. Biết chọn riêng cho mình. Con đường đi chính đáng. Là Cát Tường tối thượng.
3. Sở học cần sâu rộng. Thủ công khéo tay nghề. Luật lề được huấn luyện. Nói chuyện thạo kỹ năng. Là Cát Tường tối thượng.
4. Phụ mẫu luôn hiếu đễ, thê, tử phải chăm coi. Không phiền rối lôi thôi. Trong việc làm sinh sống. Là Cát Tường tối thượng.
5. Hành sự tâm quảng đại. Chính trực giữ lòng chân. Tương trợ với tương lân. Lỗi người không trách cứ. Là Cát Tường tối thượng.
6. Không làm điều quấy trái. Tránh sử dụng chất say. Cẩn trọng khéo giác hay. Trong hành vi thiện pháp. Là Cát Tường tối thượng.
7. Khiêm cung và kính trọng. Biết chấp nhận hài lòng, Ơn nhận khắc ghi công, Tùy thời nghe giảng Pháp. Là Cát Tường tối thượng.
8. Tính tình luôn kham nhẫn. Nhu thuận biết nghe vâng. Gặp thánh nhân thích gần. Tùy thời đàm luận Pháp. Là Cát Tường tối thượng.
9. Thực hành trong phạm hạnh. Sống cuộc sống thánh nhân. Tứ Đế liễu nghĩa chân. Niết Bàn tâm chứng ngộ. Là Cát Tường tối thượng.
10. Tâm đối cảnh thế gian. Không mảy may chao đảo. Không dấy lên phiền não. Vô nhiễm và bình an. Là Cát Tường tối thượng.
=> Đạt được những điều này. Mọi nơi không chướng ngại. Trải khắp nẻo hành trình. Bình yên không sự cố.
Nguồn: Kinh hạnh Phúc hay Hộ Chú Cát Tường ( Theo bài viết của Tỳ Kheo Minh Tâm tự Thiện Tâm Mùa Hè Năm Mùi Tháng Giêng 2015 tại Hoa Nghiêm Thiền Đường Melbourne - Australia).
+ Wesak (Lễ Đức Phật hiện): Một lễ xảy ra ở Himalaya vào kỳ trăng tròn tháng 5 dương lịch. Người ta nói rằng, trong lễ này, mọi thành viên của Thánh Đoàn đều hiện diện, trong một lúc ngắn, Đức Phật đổi mới sự tiếp xúc và liên kết của Ngài với công việc của hành tinh chúng ta. (ĐĐNLVTD, 225)
+ Quyền năng/ Huyền công/ Thần thông (power, siddhis):
+ Các Hành tinh chi phối Khả năng (CTHNM, 715):
- Thổ tinh“ Saturn – chi phối các khả năng mộ đạo.
- Thủy tinh Mercury – chi phối các khả năng trí tuệ.
- Mộc tinh Jupiter – điều hành các khả năng tình cảm.
- Mặt Trời – điều hành các khả năng cai trị.
- Hỏa tinh Mars – chi phối các khả năng ích kỷ.
- Kim tinh Venus – chi phối các khả năng kiên trì.
- Mặt Trăng – chi phối các bản năng”.(GLBN III, 463).
+ Hành tinh dẫn truyền Cung NL(GQ1- Cấu tạo con người):
Vulcan và Diêm Vương tinh - Cung 1,
Mặt trời và Mộc tinh- Cung 2,
Trái đất và Thổ tinh - Cung 3,
Thủy tinh và Mặt trăng - Cung 4,
Kim Tinh - Cung 5,
Hỏa tinh và Hải Vương Tinh - Cung 6,
Thiên Vương Tinh- Cung 7
+ Ý nghĩa từ khóa của các hành tinh (Ngoại môn)
1-Mặt trời: bản ngã, cái tôi, ngoại hình, lập trường trong cuộc sống hoặc bạn là ai
2-Mặt trăng: tính khí, nhà, bản chất trong nhà, phẩm chất nuôi dưỡng
3-Thuỷ tinh: lời nói, viết, suy nghĩ có ý thức, logic
4-Kim tinh: cảm nhận thẩm mỹ, nghệ thuật, vẻ đẹp, tình cảm, tình yêu
5-Hoả tinh: tham vọng, lực đẩy, năng lượng, bản chất hung hăng
6-Mộc tinh: mở rộng bất cứ cái gì nó chạm vào. Lớn, quá mức, hạnh phúc
7-Thổ Tinh: cấu trúc, kỷ luật, tập trung, nghiêm trọng, tách rời, phân cách
8-Thiên Vương Tinh: không ổn định, tự phát, bốc đồng, sáng tạo, không có kỷ luật
9-Hải Vương tinh: tưởng tượng, lý tưởng, mơ mộng, trẻ con, nghệ thuật, tưởng tượng, dễ tiếp thu
10-Diêm Vương Tinh: ám ảnh, ép buộc, cuồng tín, ý thức nhiệm vụ, bị tình cảm tác động (Nguồn: CTHNM 3)
+ Hành tinh đại diện bốn phương chính (Đông - Tây - Nam - Bắc): Chính xác nhất cho bán cầu nam là Thổ Tinh; Hỏa Tinh ở Bán cầu đông; Mặt trăng ở Bán cầu bắc; và Kim Tinh ở Bán cầu tây. Điều này là do thực tế rằng chúng cũng là những chủ tinh tự nhiên của bốn nhà góc (nhà 10, nhà 1, nhà 4 và nhà 7) tạo thành khung cơ bản cho các ngôi nhà khác của lá số chiêm tinh. Nguyên tắc tứ phân này là nguyên mẫu mà theo đó chúng ta đưa ra thực tiễn. Có bốn mùa, bốn hướng chính, bốn yếu tố, bốn mặt của một kim tự tháp, và bốn loại tâm lý.... (Nguồn: CTHNM 2)
Xem thêm trang Thuật ngữ: Tổng hợp về mầu sắc
Xem thêm trang Thuật ngữ: Tổng hợp Đặc Tính các Chòm Sao và Cung Hoàng Đạo - Hành tinh - Chủ Tinh/ Hành tinh Cai quản
* Kiến thức Chiêm tinh học: MỘT VÍ DỤ CON NGƯỜI TIẾN HÓA QUA HOÀNG ĐẠO
+ Chiêm tinh học ngoại môn đã bàn đến và được chấp nhận rộng rãi rằng Vulcan (Hỏa Vương Tinh), Uranus (Thiên Vương Tinh), Pluto (Diêm Vương Tinh) và Neptune (Hải Vương Tinh) không cai quản các cung hoàng đạo mà chỉ có ái lực với các cung này. .... Hiển nhiên là chiêm tinh học cổ hãy còn bất toàn, nhưng cho đến khi con người trở nên đáp ứng công khai với các ảnh hưởng đến với ... Linh hồn thể sau này khi nhân loại tiến hóa.
Cung này cũng có hai mặt. Trong Aries chúng ta có nhị nguyên vốn gắn liền với việc tập hợp lại tinh thần và vật chất trong hoạt động sáng tạo lớn lao là hoạt động biểu lộ vào lúc bắt đầu chu kỳ tiến hóa, trong khi đó ở cung Pisces chúng ta có sự hợp nhất hay pha trộn của linh hồn và sắc tướng đối với con người, tạo nên sự biểu lộ của Christ Lâm Phàm (Incarnated Christ), tức linh hồn cá biệt hoàn thiện, sự biểu lộ hoàn hảo của tiểu thiên địa..... Nhị nguyên tính của Pisces phải được nghiên cứu liên quan đến ba chủ âm, đó là: 1. Nô lệ hoặc giam cầm; 2. Từ bỏ hoặc đoạn tuyệt; 3. Hy sinh và tử vong.......
Khi con người cá biệt nhập vào chu kỳ các cuộc lâm phàm của mình và xuất lộ vào cung Cancer, vốn được tìm thấy trong Thập Giá Cơ Bản, thì về mặt ẩn dụ, y leo lên Thập Giá Khả Biến, và kỳ hạn dài giam nhốt của y trong hình tướng bắt đầu và các bài học khổ sai phải được học hỏi. Y tiếp tục học cho đến khi y đã biến đổi việc khổ sai (servitude) thành việc phụng sự (service). Y dao động giữa các cặp đối ứng, cả theo quan điểm chiêm tinh, tình cảm, lẫn theo quan điểm của bốn nhánh của Thập Giá Khả Biến. Tính lưu chuyển (fluid), tính nhạy bén trong Pisces – thuộc đồng cốt (mediumistic) và được an trụ về mặt tâm thần (psychically polarised) – phải được ổn định trong Virgo, nơi cung nào mà sự phản tỉnh trí tuệ và phân tích quyết định có thể xảy ra và dùng để ngăn chận tính chất dễ lưu chuyển của Pisces. Hai cung này quân bình lẫn nhau.
Chúng ta có thể khảo cứu tiến trình lưỡng phân đang xảy ra trên vòng hoàng đạo qua trung gian của Thập Giá Khả Biến mà Pisces tạo thành một phần theo cách sau đây:
1. Pisces (Song Ngư). Ở chỗ này kẻ bắt đầu trên con đường sống khởi sự với tính dễ thụ cảm vật chất, tính chất này sẽ giúp cho y đáp ứng với mọi tiếp xúc trong chu kỳ biểu lộ. Ở giai đoạn này y có tính tiêu cực, hay thay đổi (fluid) và được phú cho một ý thức theo bản năng, vốn chứa trong chính nó tiềm năng của trực giác. Nhưng hạt giống của trực giác còn trong trạng thái hôn thụy (dormant). Thể trí vốn là khí cụ tiếp nhận từ trực giác, ở giai đoạn này, chưa được khơi hoạt.
2. Sagittarius (Nhân Mã). Ở đây người thông thường bắt đầu lộ ra một khuynh hướng, ấy là trở nên tập trung hơn và tính hay thay đổi và tiêu cực của Pisces trở nên tập trung vào việc đạt được những gì được ưa thích. Con người lộ ra các bản năng ích kỷ cố chấp và mặc dầu y có thể tỏ ra hòa mục và tốt bụng chẳng hạn, chính là vì muốn có sự nổi tiếng. Đây là một biểu hiện tốt của chủ thể cá nhân Sagittarius và cũng cho thấy khuynh hướng của linh hồn là cuối cùng muốn đổi mọi xấu xa thành ra tốt lành. Các bài học của sự sống đang được học hỏi và kinh nghiệm đang diễn tiến.
3. Virgo (Xử Nữ). Trong cung Virgo, con người hay thay đổi (fluid) trong Song Ngư và ích kỷ về mặt tình cảm cũng như đầy tham vọng trong Nhân Mã, bắt đầu tập trung một cách chăm chú hơn và bắt đầu lý luận và suy tư. Linh hồn tiềm tàng đang trở nên linh hoạt ở bên trong; một tiến trình nảy mầm đang tiếp diễn; con người ẩn giấu đang làm cho sự hiện hữu của mình được nhận ra. Trí tuệ đang khơi hoạt và bản năng – sau khi vượt qua giai đoạn tình cảm – đang được chuyển hóa thành trí tuệ (intellect).
4. Gemini (Song Nam). Nơi người chưa phát triển hoặc người bậc trung, các kinh nghiệm được trải qua trên ba nhánh của Thập Giá Khả Biến đưa con người tới giai đoạn mà “giấc mơ của sự sống” có thể được đổi thành nhận thức về thực tại và Đại Ảo Tưởng (Great Illusion) có thể được thấy như là không được ưa thích và không đúng thực tế. Ở giai đoạn này, nhận thức về lưỡng nguyên, theo bản năng nhưng đang trở nên ngày càng xác thực và vững chắc hơn.. Con người bắt đầu mơ đến sự bền vững, đến các thay đổi được an bài và mơ đến sự hợp nhất với những gì mà y cảm nhận là thành phần hiện thực nhất của chính y. Linh thị thần bí hiện vào trong tâm thức y và y trở nên biết được bản ngã cao siêu qua các tia sáng lung linh yếu ớt đầu tiên của trực giác. Kinh nghiệm trên Thập Giá Khả Biến kéo dài một lúc lâu và đưa con người luôn luôn trở lại hết lần này đến lần khác vào lĩnh vực ảnh hưởng của Aries, mà qua hoạt động chi phối của cung 1, cả việc củng cố ý chí của con người (dù cho y thuộc cung nào), lẫn kết thúc chu kỳ này đến chu kỳ khác với “từ hủy diệt” (“word of destruction”).
Hết lần này đến lần khác, y nhập vào cung Pisces và tìm ra con đường của mình chung quanh vòng hoàng đạo lớn cho đến khi kinh nghiệm của sự thay đổi và của sự khả biến, và việc thiết lập tiến trình chuyển hóa đưa tâm thức của y từ giai đoạn bản năng và trí tuệ đến các bắt đầu của các tiến trình trực giác trong Gemini.
Kế đó đến một tiến trình lớn, tiến trình an trụ,và một thời điểm chuyển di, sau đó ảnh hưởng của Thập Giá Cố Định gây nên sự đảo ngược và các bài học được thu thập trên Thập Giá Khả Biến phải được thể hiện và các ảnh hưởng được chứng minh trên Thập Giá Cố Định. Trong các giai đoạn khai mở ban đầu, đừng nên tưởng rằng kinh nghiệm được thu thập chỉ qua Thập Giá Khả Biến mà thôi. Con người sinh hoạt và trải qua kinh nghiệm trong tất cả các cung hoàng đạo, nhưng các ảnh hưởng tuôn đổ qua Thập Giá Khả Biến có tác động mạnh vào y hơn là các ảnh hưởng tuôn đổ trong các giai đoạn ban đầu qua Thập Giá Cố Định. Chỉ khi nào linh hồn trở nên linh hoạt hơn bên trong hình hài và con người nhận biết được lưỡng nguyên của mình (his duality), thì các năng lượng của Thập Giá Cố Định mới thay thế một cách có hiệu quả các năng lượng của Thập Giá Khả Biến, giống như sau cuộc điểm đạo thứ ba, các năng lượng của Thập Giá Cơ Bản (Cardinal Cross) bắt đầu kiểm soát con người và có sự thúc đẩy triệt để hơn là các năng lượng của hai thập giá kia.
Virgo (Xử Nữ). Sẵn có tính phân tích và chỉ trích dưới ảnh hưởng của Virgo, thể trí biến đổi tính chất đó của trí vốn được mô tả đúng nhất bằng các từ ngữ giác ngộ (illumination)và khai mở (revelation). Đấng Christ, Đấng mà sau rốt Đức Mẹ Đồng Trinh đã khai sinh ra, được nhận biết như hiện hữu trong khuôn sáng tạo, mặc dù chưa được sinh ra. Sự Sống được nhận biết. Tiến trình khai mở của tâm thức Christ được xúc tiến một cách sáng suốt, còn các hoài bão ích kỷ và các kinh nghiệm của người kém phát triển bị thay thế bởi lòng vô kỷ của vị đệ tử giác ngộ và có trực giác.
Sagittarius (Nhân Mã). Ngày nay, đây là cung của vị đệ tử nhất tâm. Sự sống có sự đáp ứng uyển chuyển với vật chất trở thành sự sống của sự đáp ứng có tập trung với tinh thần và việc chuẩn bị cho điểm đạo trong Capricorn. Mũi tên của trí tuệ được phóng một cách không thể sai chạy về phía mục tiêu.
Pisces (Song Ngư). Nơi đây, ở giai đoạn cuối, Pisces thay cho cái chết của phàm ngã và sự giải thoát của linh hồn ra khỏi tình trạng bị giam cầm và sự quay lại của linh hồn vào nhiệm vụ của Đấng Cứu Thế. Thành quả lớn lao được chấm dứt và cái chết cuối cùng được trải qua. “Không còn biển nữa” đó là lời của cổ thư, câu đó hiển nhiên hàm ý “cái chết của loài cá” và sự giải thoát của sự sống bị giam nhốt vào hình thức mới hay là các chu kỳ mới của cuộc Phiêu Lưu thiêng liêng.
Thập Giá Khả Biến này, mà Pisces là một trong các nhánh của nó, chủ yếu là Thập Giá của “các cuộc lâm phàm được lặp lại”, của các thử nghiệm khác nhau dưới cung hoàng đạo khác nhau và các chủ thể điều khiển chính thống và của những ai mà nhiều kinh nghiệm đang dẫn đến các mở rộng tâm thức liên tục và kế tiếp.......
Ý tưởng mà Tôi muốn truyền đạt cho bạn nơi đây là vào lúc này, ảnh hưởng của Pisces trên cung tiến hóa đi xuống, và vì Thái Dương đi giật lùi qua các cung, được cảm thấy phần lớn trong anima mundi (linh hồn thế giới) và trong Christ ẩn giấu, hóa thân và bị giam nhốt; ... Christ ẩn giấu này không thể tự tháo gỡ ra khỏi “sự tiếp xúc với Nước”. ... Sự thay đổi bao giờ cũng cần thiết, nhưng phương pháp tự thay đổi từ khuynh hướng thay đổi thường xuyên và tính chất thay đổi của Thập Giá Khả Biến sang một số thay đổi thuộc loại chính yếu, được mang lại bởi một khuynh hướng sống thường xuyên và có hướng dẫn.....
... Ở giai đoạn này con người có trong chính mình các sức mạnh và các tính chất của Christ nội tại, nhưng chúng không lộ ra và chỉ là các khả năng tiềm tàng vì cho đến nay y hoàn toàn bị kiềm chế bởi bản chất sắc tướng của mình (ngục tù) và môi trường quanh y. Các quyền năng ẩn tàng của linh hồn còn tiêu cực, và các sức mạnh của phàm ngã thì tích cực và bắt đầu tìm thấy biểu hiện mạnh mẽ ngày càng tăng. Các khuynh hướng tâm linh tự nhiên của con người bị ức chế (vìPisces thường là một cung ức chế và có các cản trở) còn thú tính tự nhiên và các sức mạnh của phàm ngã – đặc biệt là sức mạnh của xúc cảm – là các tính chất hiển nhiên và dễ thấy được của con người.....
Đồng tử cấp thấp thông thường là thí dụ nổi bật của các khía cạnh tồi tệ nhất của Pisces – tính chất tiêu cực, tính dễ xúc cảm (impressionability), tính nhạy cảm về xúc cảm với sự kém phát triển hoàn toàn của nguyên khí trí tuệ. Thật là lý thú khi tìm thấy hai sự kiện khoa học:
1. Bất luận thế nào đi nữa đa số loại đồng tử thấp nhất (đặc biệt là các đồng tử xuất thần) đều có cung Pisces vượt trội theo một cách thức mạnh mẽ nào đó trong các biểu đồ của các đồng tử này.
2. Bất luận các đồng tử này, dù họ đang trở nên tích cực hơn và có tự chủ hơn (self-controlled), họ đang bắt đầu có được một sự thoáng nhìn về các tương ứng cao hơn trong công việc của họ ‒ trạng thái đồng tử và hoạt động diễn dịch – không có Virgo xuất hiện một nơi nào đó với sức mạnh thực sự và hoạt động thực sự........
Đối với các cung năng lượng đang tự thể hiện qua các chủ thể chi phối thuộc hành tinh và cung năng lượng đang thu hút hoặc là đang cộng tác với các ảnh hưởng của cung hoàng đạo Pisces và như thế ảnh hưởng đến hành tinh chúng ta và nhân loại, chúng ta tìm thấy một tình huống vô cùng lý thú. Hai cung năng lượng chính tự thể hiện qua các chủ thể chi phối Pisces, chính thống và huyền bí: Cung 1, Cung Ý Chí hoặc Quyền Năng, tập trung qua Pluto, và Cung 2, Cung BácÁi ‒ Minh Triết. Chính sự tương tác của hai sức mạnh này, sẽ:
1. Tạo ra nhị nguyên của cung hoàng đạo này.
2. Đưa tới vấn đề chính của Pisces – sự bén nhạy tâm linh..........
+ Sự nghiệp các Hành tinh: Như bạn biết, Pluto thay cho cái chết hay là vùng chết; Địa Cầu thay cho lĩnh vực kinh nghiệm; Nguyệt Cầu hay Vulcan [Hỏa vương tinh] thay cho sự ca ngợi, qua sự thanh luyện và tách rời, đối với vật chất, và Venus thay cho sự xuất hiện của nguyên khí bác ái qua sức mạnh chỉ đạo của thể trí. Các nhà nghiên cứu sẽ thấy lý thú khi vạch ra các hàm ý cho chính mình. Chiêm tinh học chính thống chỉ ấn định có hai hành tinh cho bốn cung hoàng đạo này, mà trong chính nó cho thấy một tương tác rõ rệt. Jupiter và các ảnh hưởng của nó cho thấy rằng con đường lâm phàm là phương pháp khai mở tiến hóa “có lợi” và rằng con đường bác ái ‒ minh triết (cung 2) là con đường cho nhân loại bước đi. Mercury chỉ rằng con đường ít đối kháng nhất cho nhân loại là hài hòa qua xung khắc, vì Mercury biểu hiện cho năng lượng cung bốn vốn thuộc bồ đề, trực giác và biểu hiện của Christ, vì Mercury và Mặt Trời là một. Nhưng các hành tinh nội môn thì lộ rõ hơn trong các suy đoán của chúng, và khi sẵn sàng cho ảnh hưởng của chúng, con người dường như đáp ứng theo cách tứ phân mà y không đáp ứng trong các giai đoạn trước kia. Chúng biểu hiện cho sự thừa nhận và các phản ứng vốn chi phối tâm thức con người khi y chuẩn bị chuyển ra khỏi Thập Giá Khả Biến và leo lên Thập Giá Cố Định. Do đó, y đến
1. Qua Venus – dưới mãnh lực trí tuệ, biến đổi thành minh triết qua phương tiện tình thương.
2. Qua Nguyệt Cầu – dưới sự giam nhốt của hình hài để nhờ kinh nghiệm của hình hài mà đạt được giải thoát và “nâng cao vật chất” (“uplift of matter”) trong Vulcan.
3. Qua Địa Cầu – dưới ảnh hưởng của kinh nghiệm hành tinh (vốn dị biệt với kinh nghiệm cá nhân) ngõ hầu chuyển hóa tâm thức cá nhân của y thành hiểu biết tập thể (group awareness).
4. Qua Pluto – dưới sức mạnh hủy diệt của cái chết – cái chết của dục vọng, cái chết của phàm ngã và của tất cả những gì đang giữ y giữa các cặp đối ứng (pair of opposites), để đạt được sự giải thoát cuối cùng. Pluto hoặc cái chết không bao giờ hủy diệt trạng thái tâm thức (conciousness aspect).
Do đó, sáu hành tinh cai quản Thập Giá Khả Biến xét về mặt nhân loại, và trong chính nó điều này có ý nghĩa, vì sáu là con số của công việc lớn lao của giai đoạn biểu lộ, là con số của “the Beast” (“Thú Vật”), vốn là bản chất thấp xét về con người, và là tất cả những gì đang tìm cách hủy diệt sự sống cao siêu, nhưng cũng là những gì có thể được kiềm chế và sau rốt được điều khiển bởi linh hồn. Ý nghĩa của các con số đi vào khoa chiêm tinh học nội môn và huyền số học (numerology) vì chính nó là một nhánh của chiêm tinh học nội môn. Bác Ái ‒ Trí Tuệ ‒ Kinh Nghiệm ‒ Sắc Tướng ‒ Sự Hiểu Biết của Con Người ‒ Tử Vong: đây là các chủ âm của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại và chúng được tiêu biểu cho các ảnh hưởng của hành tinh đang tuôn đổ qua các hành tinh này từ các cung có quan hệ gần gũi của chúng.....
Qua hoạt động của các lực này, mà ở giai đoạn này các lực đó tác động qua Thập Giá Khả Biến, con người được dẫn tới một Chuyển Biến lớn về Sự Phân Hóa và tới một mức độ thay đổi cơ bản mà đối với thay đổi đó mọi thay đổi trước kia và nhiều thay đổi nữa đã chuẩn bị cho y....
Ngày nay, những con người ở hàng đầu của thời đại – đệ tử, người tìm đạo và giới trí thức (intelligentsia) – đều được thử thách dưới kinh nghiệm của Scorpio, trong khi quần chúng đều ở trong Scales; sức nặng của dục vọng của quần chúng (mass desire) sẽ chuyển đổi họ, hoặc là hướng lên quyết định tâm linh, hoặc là hướng xuống các mục tiêu vật chất và ích kỷ...........
Cùng một cách thức căn bản để xem xét ba Thập Giá có thể được tiến hành với Gemini, Taurus, Aries hoặc là đảo lại:
Aries, Taurus và Gemini, luôn luôn nhớ rằng Thập Giá Khả Biến chi phối vòng tuần hoàn (the wheel) trong tiến trình thông thường, còn Thập Giá Cố Định chi phối vòng tuần hoàn đó trên tiến trình đảo ngược trong giai đoạn đệ tử. Trong thực tế, Thập Giá Cơ Bản chi phối cả hai tiến trình, nhưng việc này chỉ được hiểu khi cuộc điểm đạo xảy ra. .....
Một luận đề có thể được viết ra dựa vào đề tài về sự liên hệ của các đối nghịch (opposites) trong vòng hoàng đạo, vì chúng thể hiện tinh thần và vật chất và mối liên hệ hỗ tương của chúng, cộng với sự tác động của các năng lượng định tính; đồng thời chúng làm chứng cứ cho sự kiện rằng hai đối nghịch đó là một, và chỉ là biểu hiện của Người chưa tiến hóa. Người tiến hóa cái dễ thay đổi lớn lao, tuy vậy là các Sự Sống tinh thần cố định và được khai mở. (Chiêm THNM)
+ Xem đầy đủ: Chỉ dẫn Xem Chiêm tinh học Nội - Ngoại môn
+ Nhân loại thời tiền sử đến xuất hiện mặt Trời và Trăng Sao: Nay Đại Nghi Quỹ Vương mà Ta (Đức Phật) đã nói, đang có sức mạnh lớn, lợi ích cho chúng sinh. Song, Thế Gian kia, lúc Kiếp Sơ (Kalpāgra) thành thời tất cả chúng sinh ở trong hư không, đi đứng tự tại. Rồi ở thời ấy không có già không có chết. Lai thời ấy không có Tú (Nakṣatra), không có mặt trời (Āditya), mặt trăng (Candra) cũng không có thời tiết, cũng không có Âm Dương, cũng không có hàng Trời, Người, A Tu La….
Lại, thời ấy tuy có chúng sinh nhưng chưa có Tộc Tính. Con người đều thanh tịnh, không có thiện không có ác, cũng không có cái để ăn, cũng không có người ăn, cũng không có trì Trai, cũng không có Chú Pháp. Phần lớn chúng sinh ấy chỉ có Tưởng của Thế Gian, do nghiệp quá khứ dẫn dắt Nhân (hetu) nên rơi xuống đất chẳng thể bay trên hư không. Lúc đó liền có cái để ăn, liền có tham lam keo kiệt, thân đã nặng trược nên Đại Lực liền bị mất. Khi ấy liền có mặt trời, mặt trăng, tinh tú… rồi phân chia ngày đêm, liền có thời tiết cùng với Âm Dương. Liền nói trên Trời, Nhân Gian hơn kém có khác… cho nên có Trời, Người, A Tu La. Ta ở thời ấy, thân là Bồ Tát nhìn thấy chúng sinh kia có việc như vậy xong, Tâm thương xót cho nên hiện thân khác. Ấy là: hiện làm thân Tiên Nhân, hoặc hiện thân Phạm Vương, thân Đại Tự Tại Thiên, thân Na La Diên, thân Ca Lâu La cho đến mọi loại thân của hàng Dạ Xoa, La Sát, Tỳ Xá Tả…Ở trong mỗi một đời vì tất cả chúng sinh luôn thường giải nói nghĩa của Bồ Đề Hạnh.
Lại nữa, khi Ta [ Đức Phật ] ở quá khứ làm Bồ Tát thời tất cả chúng sinh trong Thế Gian: ngu si, hắc ám, không có Trí, không có Tuệ. Ta vì nhóm này nói tất cả công xảo kỹ nghệ của Thế Gian, Âm Dương, toán số, Điển Tịch Vi Đà (Veda), Chính Pháp, Tà Pháp, Giới Luật, Bản Hạnh cho đến nhóm Thanh Minh Luận. Tuy Ta ở đời quá khứ như vậy, vì Thế Gian nói như việc này, nhưng Ta cũng không có sở đắc, sở tri mà chỉ vì Bồ Đề (Bodhi) với nhóm giải thoát (Mokṣa). Như vậy tuy đi trong luân hồi nhưng luân hồi ấy chẳng thể cột trói.......
Do Nghiệp Lực này chẳng thể giải thoát Nhân Quả thiện ác, nên Ta nói một Pháp Âm Dương, Tinh Tú phân chia nơi thiện ác với nói bốn nhóm hộ thế là đất, nước, lửa, gió với chỗ mà bốn Đại này hòa hợp tạo làm, phát sinh mọi loại Tập Nhân (nhân gom chứa) của chúng sinh rồi vì lúc ấy tu Chân Ngôn Hạnh khiến được thành tựu....... [Nguồn: Văn Thủ Bồ Tát Pháp Kinh pdf -Tr 377]
+ Con người tiến hóa: Toàn bộ tầm quan trọng của cả quá trình tiến hóa, xét cho cùng, được đặt trên sự phát triển của tâm thức: ý thức thông minh làm sinh động các hình tướng, ở mọi trình độ khác nhau. ....Tác động 1 của linh hồn, vào lúc Biệt Ngã Hóa:
- Biệt ngã hóa, điểm đạo và đồng nhất hóa, gồm toàn bộ quá trình sự nghiệp của con người, từ lúc y xuất hiện vào trong giới nhân loại cho đến khi y chuyển ra khỏi nó ở cuộc điểm đạo thứ ba, và hoạt động tự do trong giới thứ năm, giới Thần Thánh (God). Tác động của linh hồn mang lại sự tiến hóa này. (Trích TLHNM)
I. Con Người tiến hóa qua Thập Giá: Nhờ Nghiên Cứu các Thập Giá, Chiêm Tinh Gia biết ai đó đang ở đâu trên đường tiến hóa. Mỗi Thập giá đều có ý nghĩa ngoại môn của nó (Là các biến phân ba mặt của sự sống duy nhất). Chân Sư DK (CTHNM, 379, 380)
1- Thập Giá Cơ Bản ‒ Aries, Cancer, Libra, Capricorn
a. Về con người thông thường, cá biệt.
b. Về các cội nguồn tập thể.
c. Về ý nghĩa của cuộc điểm đạo thứ 1.
2- Thập Giá Cố Định ‒ Taurus, Leo, Scorpio và Aquarius ‒ y sẽ đi đến lý giải chính xác về các sự sống:
a/ Của các điểm đạo đồ.
b/ Của sự thu hút tập thể thành tổng hợp.
c/ Của ý nghĩa về cuộc điểm đạo thứ 3.
3- Thập Giá Khả Biến ‒ Gemini, Virgo, Sagittarius và Pisces ‒ Y có thể đi đến ý nghĩa:
a/ Của các đệ tử.
b/ Của hoạt động tập thể.
c/ Ý nghĩa của cuộc điểm đạo thứ 2.
II. Tiến hóa qua Cung Hoàng Đạo: Chia làm 3 nhóm theo trình tự phát triển - Tiến hóa CHIỀU ĐẢO NGHỊCH:
1. Chuẩn Bị: Một trí tuệ được kiểm soát, một năng lực để ghi nhận sự khai ngộ, một khả năng để tiếp xúc với khía cạnh bất tử và nhận ra một cách trực giác giới tinh thần, giờ y sẵn sàng việc lớn lao hơn.
- Bạch Dương linh hồn khoác lấy lớp vỏ trí tuệ - Linh hồn biết tư duy.
- Kim Ngưu thế giới dục vọng và phương tiện của cảm xúc phát triển - Linh hồn hữu thức
- Song Tử, một thể năng lượng được kiến tạo, một linh hồn sống động, thể dĩ thái được tạo ra.
- Trong Cự Giải công việc giáng sinh bắt đầu, bản chất tứ phân được biểu lộ.
2. Đấu Tranh cho Thành Tựu: Từ trận chiến vĩ đại mà thông qua đó cá nhân tự ý thức xuất hiện từ đám đông trong Cự Giải. Đây là 4 Cung của khủng hoảng và của sự nỗ lực lớn lao, tất cả sự khai ngộ, trực giác và năng lực linh hồn đều cần đến.
- Biết mình là cá thể, Linh hồn đạt được cá tính trong Sư Tử.
- Là đấng Christ tiềm năng, trở thành người nuôi dưỡng các ý tưởng và năng lực tiềm tàng trong Xử Nữ.
- Nỗ lực cân bằng các cặp đối nghịch, chao đảo dữ dội từ cực đoan này đến cực đoan khác trong Thiên Bình.
- Phải chịu sự tác động, kỷ luật của thế giới ảo tưởng và hình tướng, trở thành người chiến thắng ảo tưởng trong Hổ Cáp.
* 5 Kỳ Công đầu: “Chúng ta có thể xem 5 kỳ công đầu tiên (Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, Cự Giải, và Sư Tử) là Con Đường Dự bị, và việc giết chết con Sư Tử Nemea là đỉnh điểm của hành trình gian khó đó. Bây giờ y sẵn sàng bước vào Con đường Đệ tử, trên đó đấng Christ nội tại đang dần tiết lộ, vật chất đang dần phục vụ cho linh hồn sử dụng, và phương diện hình sắc chỉ đơn giản được xem là “mẹ của đấng Christ Hài đồng”
3. Thành Tựu: Những thành quả đạt được và các quyền năng đã được phát triển. Người chí nguyện đã thoát ra khỏi thế giới của huyễn cảm và sắc tướng, và tâm thức của y bây giờ không chịu những hạn chế của chúng:
– Y có thể là cung thủ trong Nhân Mã, đi thẳng đến mục tiêu.
– Y có thể là con dê trong Ma Kết, leo lên ngọn núi Điểm đạo.
– Y có thể là người làm việc thế gian trong Bảo Bình
– Và là Đấng Cứu Thế trong Song Ngư
Vì thế, y có thể tóm tắt trong mình tất cả những gì đạt được trong giai đoạn chuẩn bị và trong những trận chiến quyết liệt trong 4 cung của hoạt động nỗ lực; (Nguồn: Các Kỳ Công)
+ Ba cách tiến hóa (Thuận chiều và Nghịch chiều)_Chân Sư DK (CTHNM, 295):
1. Giai đoạn 1: Quá khứ xa xăm đã qua - Không xét: Sự tiến bộ của nhân loại từ Aries đến Pisces, qua Taurus.
2. Giai đoạn 2: Ý nghĩa thuận chiều Vật chất - Tiến Hóa Công Truyền (Ngoại Môn = Hiện Tại): Tiến bộ của con người cá biệt diễn ra ngược lại với tiến bộ của tập thể; ở giai đoạn này, cá nhân tiến theo chiều kim đồng hồ từ Aries đến Taurus, xuyên qua Pisces. Sự sống của y lúc đó và về lâu về dài hầu hết là ngược với xã hội (anti-social) theo ý nghĩa tâm linh; y trở nên ích kỷ (selfish) và duy ngã (self-centred, trụ vào bản ngã). Các cố gắng của y đều dành cho chính y, cho sự thỏa mãn của y, riêng y và các hoạt động của phàm ngã trở nên ngày càng mạnh. Đây là tình trạng hiện tại đối với quần chúng.
3. Giai đoạn 3: Ý nghĩa Nghịch chiều/ Đảo Ngược - Tiến Hóa Bí Truyền (Nội Môn = Tương Lai): Cùng chiều với "Giai đoạn 1". Tiến bộ của con người được tái định-hướng từ Aries đến Pisces, xuyên qua Taurus. Trong giai đoạn cuối cùng này, y quay trở lại cùng phương pháp được hướng dẫn, tức nhịp điệu và chừng mực của hoạt động quần chúng trước kia nhưng lần này với các thái độ được thay đổi và đang thay đổi của việc phụng sự không ích kỷ, một phàm ngã được hiến dâng cho việc phụng sự nhân loại và với một sự tái định hướng tự ý của các năng lực của y sao cho chúng được hướng đến việc tạo ra sự tổng hợp và cảm thông. Việc này sẽ là tình huống trong tương lai đối với quần chúng.
* Nhà chiêm tinh học của tương lai sẽ phải ghi nhớ cẩn thận ba cách tiến hóa này. Đó là Thiên Cơ như hiện tại chúng ta có thể nhận biết được nó.
* Ví dụ với Cung Xử Nữ: Là cung thứ 6 xét theo cách này của Hoàng đạo (chiều Nghịch/ Đảo ngược) - Là Cung thứ 7 nếu người ta không xét vòng đảo ngược (Chân Sư DK_CTHNM, 285)
+ Nhân loại tiến hóa siêu vượt: Cuối chu kỳ quy nguyên Thái dương hệ chúng ta ..... Một phần của giới động vật sẽ tạm thời tiến vào thời kỳ qui ẩn tạm, như vậy để thoát ra năng lượng sử dụng cho tỷ lệ còn lại và tạo ra các kết quả như đã đề cập đến bởi nhà tiên tri của Do Thái (Thánh Kinh, Isaiah 11:6) khi vị này nói đến “muông sói sẽ ở với chiên con”; lời bình luận của tiên tri đó “một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi” là việc bàn rộng về sự kiện huyền linh rằng 3/ 5 nhân loại sẽ bước lên Thánh đạo, “con trẻ” là tên gọi dùng cho đệ tử dự bị và đệ tử chính thức. Trong giới thực vật và khoáng chất, sự biểu lộ tương tự sẽ xảy ra, nhưng với bản chất thật quá khó hiểu cho chúng ta. (Nguồn: LVLCK, Tr 494)
* Các Thập giá: Cần phân biệt tính chất nội môn và ngoại môn. Chân sư viết chủ yếu về nội môn, rất ít ngoại môn.
+ Thập giá cố định (Fixed Cross): Chi phối 5 cõi tiến hóa con người và có ảnh hưởng tới kinh nghiệm các đệ tử. Như thế, trong khi ở trên thập giá này, nhờ giới luật và các kinh nghiệm đạt được, vị đệ tử vượt qua được hết từ bỏ này đến từ bỏ khác cho đến khi đạt được tự do và giải thoát hoàn toàn.
- Các từ khoá là mong muốn, dục vọng, sự ổn định, duy trì và độ bền.(Chống lại sự thay đổi. Chuyên tâm trong việc theo đuổi. Không dễ bị ảnh hưởng. Cố gắng uốn nắn môi trường theo ý chí của mình). Gồm: Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình. (Xem Chiêm THNM 17)
+ Nhờ nghiên cúu về Thập Giá Cố Định ‒ Taurus, Leo, Scorpio và Aquarius ‒ Ta sẽ đi đến lý giải chính xác về các sự sống (CTHNM, 379):
a/ Của các điểm đạo đồ.
b/ Của sự thu hút tập thể thành tổng hợp.
c/ Của ý nghĩa về cuộc điểm đạo thứ ba.
+ Trên Thập Giá Cố Định, đó là “tâm của Mặt Trời” vốn được khơi hoạt và tuôn đổ các năng lượng của nó qua Neptune vào con người. Các năng lượng này kích hoạt và tác động đến tim, cổ họng và bí huyệt ấn đường (CTHNM, 335)
+ Thập Giá Cố Định ‒ theo trình tự, mang lại cho các thay đổi bên trong này một vài điểm chuyển biến lớn không thể tránh khỏi và cơ hội rõ rệt hiện tại. Saturn có tác dụng vượt trội trong việc tạo ra sự kiện này (CTHNM, 396)
Xem thêm: Tổng hợp về Ba Thập Giá
+ Thập Giá Khả biến / Chung/ Khả Chuyển: Các từ khoá là hoạt động, khả năng thích ứng, linh hoạt và thay đổi. (Có thể thay đổi và linh hoạt. Có tinh thần thám hiểm. Nhấn mạnh vào hoạt động trí tuệ. Thích nghi với môi trường); Gồm: Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã và Song Ngư.(Xem Chiêm THNM 17)
- Thập giá khả chuyển: Chi phối 3 cõi thấp, đặc biệt là cõi cảm dục. Kẻ thường nhân “chịu thập giá hình trên thập giá này mãi đến khi nào y đạt được kinh nghiệm cần thiết và tự tái định hướng một cách hữu thức sang một giai đoạn tiến hóa khác. (CVĐĐ, 693–694)
+ Nhờ nghiên cúu về Thập Giá Khả Biến ‒ Gemini, Virgo, Sagittarius và Pisces ‒ Chiêm tinh gia có hiểu biết rõ ràng hơn (CTHNM, 379):
a/ Của các đệ tử.
b/ Của hoạt động tập thể.
c/ Của cuộc điểm đạo thứ hai.
+ Trên Thập Giá Khả Biến, đó là Mặt Trời Vật chất và các ảnh hưởng của nó tác động vào con người, kích thích các tế bào xác thân và bảo dưỡng bản chất hình hài, tác động vào các trung tâm lực dưới cách mô (CTHNM, 335)
+ Thập Giá Khả Biến ‒ đưa đến các tình huống vốn dĩ sẽ tạo ra các chu kỳ thay đổi lớn trong sự sống của hành tinh, của một giới trong thiên nhiên hoặc của một con người. Mercury đóng một vai trò trong việc này.(CTHNM, 396)
Xem thêm: Tổng hợp về Ba Thập Giá
+ Bí nhiệm sống khỏe: Đối với con người, bí nhiệm của sự giải thoát nằm trong việc làm cân bằng các mãnh lực và làm quân bình các cặp đối hợp. (LVHLT, 225)
+ Hình Hài của Phàm-Ngã: Hiện thể đó bằng chất hồng trần, chất cảm dục và chất trí, vốn cung cấp phương tiện tiếp xúc trong ba cõi thấp. Nó được tạo ra trong mỗi kiếp sống, chủ âm (key) rung động được thiết lập trong kiếp sống trước kiếp sống hiện tại [Hình hài kiếp này y nguyên như Thể xác ở kiếp trước tại thời điểm chết]. Hình hài đó tỏ ra thích hợp đối với người trung bình và phục vụ y cho đến khi chết. Người đang bước vào trên con đường huyền bí bắt đầu với hiện thể được cung cấp, nhưng trong khi lâm phàm, luôn kiến tạo cho y một hiện thể mới hơn và tốt đẹp hơn, và càng tiến hóa thì y càng hành động một cách có ý thức hơn. Điều đó dẫn đến sự rối loạn liên tục và sức khỏe thường không tốt ở người sơ cơ (beginner) trong đời sống huyền linh. Y cảm nhận được thiên-luật, y nhận thức sự cần thiết của việc nâng cao chủ âm (key) của y, và thường thì y bắt đầu với những sai lầm. Y bắt đầu kiến tạo thể xác của mình một lần nữa bằng chế độ ăn kiêng và giới luật, thay vì hoạt động từ trong ra ngoài. Bằng giới luật cẩn thận của tâm trí, bằng việc vận dụng chất liệu tư tưởng, và bằng sự chuyển hóa cảm xúc, đi đến việc thể hiện ra trên cõi trần. Thêm vào hai điều trên, sự thanh khiết ở cõi trần đối với thực phẩm và cách sống, và trong thời gian bảy năm, người ấy đã xây đắp cho chính mình ba thể mới xung quanh các nguyên-tử thường tồn. (LVHLT, 263)
* Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâm thức, và các thể với tư cách là các trung tâm của kinh nghiệm.
* Các Thể và các Đại/ Nguyên tố: Như chúng ta biết, thể xác con người gồm có 5 nguyên tố hồng trần: Địa, Thủy, Phong, Hỏa, và dĩ thái xuyên suốt tất cả. Các thể thanh của con người, tức là thể cảm dục hay tình cảm, thể trí và thể bồ đề hay còn gọi là thể tinh thần, thì cũng gồm các trạng thái tinh vi hơn của ngũ đại vừa kể, với những mức độ khác nhau. Ví dụ như thể cảm dục thì có liên quan đến nguyên tố Thủy, thể trí liên quan đến Phong, và dĩ thái và thể bồ đề liên quan đến Hỏa.
- Trong lá số tử vi của mỗi cá nhân, một nguyên tố thường nổi bật lên các nguyên tố kia, nhưng mục tiêu tối hậu của con người là đạt được sự hiểu biết tự thức và kiểm soát được lần lượt mỗi nguyên tố trên con đường hướng thượng của mình đi vào ánh Sáng. Để đạt mục đích của tham thiền, hầu như không thể được giữa các giòng tư tưởng xung đột trong những thành phố, tôi thường sống ẩn dật ở một nơi hoang vắng trên bờ biển. Ở đó, khí địa, Phong và Thủy giao hòa, thì một số vị Thánh Sư đã có thể dùng quan năng thần thông để tạo ấn tượng cho tôi về nhiều vấn đề đang có trong thời đại hiện nay. (Nguồn: Ngũ hành và các vị Thánh Sư)
+ Sinh hồn (Animal soul): Sinh hồn làm linh hoạt và đem sinh khí cho hình hài và tạo ra sự sống tạm thời của hình hài. Trong trạng thái vô thức (unconsciousness ), sinh hồn biết được đau đớn, khổ sở, những người trông nuôi bệnh nhân đều biết rõ điều này, nhưng không có cái đau đích thực (real pain) hay khổ đích thực (true distress) bởi vì Chân nhân, tức hồn tinh thần, đã xuất ra hoặc là bởi sự đau cực độ (như trong trạng thái vô thức thực sự), hay là bởi thuốc mê (narcotics). (CTNM, 346)
+ Sinh hồn tức là ý thức động vật (animal consciousness).
+ Thần Lực và Tâm thông: Có 2 loại lực ở trên (các lực ẩn tàng của sự hiện tồn và các lực này xuất phát từ hành vi vốn tạo ra biểu lộ ngoại cảnh đang biểu lộ ở mức độ có liên quan tới con người, và các loại lực này cần được hiểu rõ:
- Thứ nhất: Có loại thần lực làm sinh động các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, − năng lượng phú cho sự sống (ensouling energy), được kết hợp với năng lượng của vật chất và bản ngã, tạo ra mọi hình tướng. Hiệu quả của sự kết hợp này là đưa thêm vào sự thông minh còn phôi thai của chính vật chất một khả năng cảm thụ tiềm tàng (latent sentiency), và sự đáp ứng vốn tạo ra một điều gì đó thuộc nội tâm mà chúng ta gọi là sinh hồn (animal soul). Điều này tồn tại theo 4 mức độ hay trạng thái hiểu biết do cảm thức (sentient awaness):
a/ Tâm thức của giới khoáng vật.
b/ Tâm thức của giới thực vật.
c/ Tâm thức của giới động vật.
d/ Tâm thức của hình hài động vật (animal form) mà qua đó con người tâm linh (spiritual man) hoạt động, và sau rốt tất cả chỉ là một bộ phận của nhóm trước dưới hình thức cao nhất của nó. (LVHLT, 10)
- Thứ hai là có loại lực tâm thông (psychic force) vốn là kết quả của sự hợp nhất của tinh thần với vật chất có khả năng cảm thụ (sentient matter) trong giới nhân loại, và vốn tạo ra một trung tâm thông linh (psychic centre) mà chúng ta gọi là linh hồn con người. Trung tâm thông linh này là một trung tâm lực (force centre), và lực mà trung tâm này gìn giữ (the custodian) hay biểu hiện, phát huy một sự đáp ứng và một sự hiểu biết vốn là sự hiểu biết của linh hồn của sự sống hành tinh, một tâm thức tập thể vốn mang theo với nó các khả năng và kiến thức của một phẩm cấp khác hơn phẩm cấp trong sinh hồn (animal soul). Sau rốt các điều này thay thế cho các năng lực của sinh hồn vốn hạn chế, gây lệch lạc, và trói buộc, và cung cấp cho con người một phạm vi các sự tiếp xúc và một hiểu biết vốn không thể sai lầm, tránh khỏi sự sai sót, và chấp nhận y vào “đặc quyền của các cõi trời”. Hiệu quả của hoạt động tự do của linh hồn con người dùng để chứng minh tính có thể sai lầm và sự vô ích tương đối của các năng lực của sinh hồn. .... (LVHLT, 13)
+ Sinh hồn là phiên bản của "Linh hồn" đầu thai, nơi đời sống Phàm ngã hoạt động chủ yếu qua bí huyệt Đan điền/ luân xa Tùng thái dương, mà đời sống thường bị chế ngự và sự quản lý được thực hiện. (Bí huyệt đan điền - Nơi đất và nước gặp nhau. Đất là biểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài. Nước là biểu tượng của bản chất tình cảm). [Tooltip Phong đại/ Hành khí]
+ Thần lực (Forces, Shaktis): Có sáu thần lực của Thiên nhiên.
a/ Chúng là các loại (types) năng lượng.
b/ Chúng là tính chất hay đặc tính năng động của một Hành Tinh Thượng Đế.
c/ Chúng là sinh lực của một Hành Tinh Thượng Đế được định hướng vào một hướng nào đó.
+ Thần Lực và Tâm thông: Có 2 loại lực ở trên (các lực ẩn tàng của sự hiện tồn và các lực này xuất phát từ hành vi vốn tạo ra biểu lộ ngoại cảnh đang biểu lộ ở mức độ có liên quan tới con người, và các loại lực này cần được hiểu rõ:
- Thứ nhất: Có loại thần lực làm sinh động các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, − năng lượng phú cho sự sống (ensouling energy), được kết hợp với năng lượng của vật chất và bản ngã, tạo ra mọi hình tướng. Hiệu quả của sự kết hợp này là đưa thêm vào sự thông minh còn phôi thai của chính vật chất một khả năng cảm thụ tiềm tàng (latent sentiency), và sự đáp ứng vốn tạo ra một điều gì đó thuộc nội tâm mà chúng ta gọi là sinh hồn (animal soul). Điều này tồn tại theo 4 mức độ hay trạng thái hiểu biết do cảm thức (sentient awaness):
a/ Tâm thức của giới khoáng vật.
b/ Tâm thức của giới thực vật.
c/ Tâm thức của giới động vật.
d/ Tâm thức của hình hài động vật (animal form) mà qua đó con người tâm linh (spiritual man) hoạt động, và sau rốt tất cả chỉ là một bộ phận của nhóm trước dưới hình thức cao nhất của nó. (LVHLT, 10)
- Thứ hai là có loại lực tâm thông (psychic force) vốn là kết quả của sự hợp nhất của tinh thần với vật chất có khả năng cảm thụ (sentient matter) trong giới nhân loại, và vốn tạo ra một trung tâm thông linh (psychic centre) mà chúng ta gọi là linh hồn con người. Trung tâm thông linh này là một trung tâm lực (force centre), và lực mà trung tâm này gìn giữ (the custodian) hay biểu hiện, phát huy một sự đáp ứng và một sự hiểu biết vốn là sự hiểu biết của linh hồn của sự sống hành tinh, một tâm thức tập thể vốn mang theo với nó các khả năng và kiến thức của một phẩm cấp khác hơn phẩm cấp trong sinh hồn (animal soul). Sau rốt các điều này thay thế cho các năng lực của sinh hồn vốn hạn chế, gây lệch lạc, và trói buộc, và cung cấp cho con người một phạm vi các sự tiếp xúc và một hiểu biết vốn không thể sai lầm, tránh khỏi sự sai sót, và chấp nhận y vào “đặc quyền của các cõi trời”. Hiệu quả của hoạt động tự do của linh hồn con người dùng để chứng minh tính có thể sai lầm và sự vô ích tương đối của các năng lực của sinh hồn. Tất cả những gì mà Tôi muốn làm ở đây là cho thấy hai nghĩa mà trong đó thuật ngữ “tâm thông” được dùng. Sau này, chúng ta sẽ đề cập đến sự tăng trưởng và phát triển của bản chất tâm thông thấp, hay là linh hồn của các vận thể (vehicles) mà nhờ đó con người hoạt động trong ba cõi thấp, và kế đó sẽ tìm cách làm sáng tỏ bản chất thực sự của linh hồn con người và bản chất của các năng lực có thể được đưa vào hoạt động, một khi một người có thể tiếp xúc với trung tâm tâm linh (spiritual centre), tức linh hồn, của chính mình và sinh hoạt trong linh hồn thức đó. (LVHLT, 13)
+ Xem thêm: Thần lực và các quyền năng
+ THƯỢNG ĐẾ
Cha – Tinh Thần …….. Mẹ – Vật Chất
tạo ra
Đấng Con hay Thái Dương Thượng Đế, Chân ngã
Thượng Đế hữu thức đang tiến hoá qua Mặt Trời và 7 hành tinh thánh thiện, mỗi hành tinh biểu hiện một Nguyên khí vũ trụ, trong 6 biến phân bằng phương pháp:
a. Mở rộng, kích thích rung động, tương tác từ điện hay định luật hút và đẩy.
b. Luỹ tiến theo chu kỳ, lặp lại sự quay, nối kết với sự tiến lên theo hình xoắn ốc, và đang phát triển :
- Đặc tính bác ái – minh triết, qua việc sử dụng hình hài bằng trí tuệ linh hoạt.
- Ngã thức đầy đủ,
- Một Thái dương hệ hoàn hảo, hay hình hài, thích ứng cho các nhu cầu của tinh thần nội tại.
Nơi đây một bảng biểu tương đồng có thể được thực hiện, để chứng minh sự tương đồng của diễn trình, trong trường hợp của một Hành Tinh Thượng Đế và một con người. Nếu chúng ta hỏi tại sao 10 hệ thống và trong 10 hành tinh được thực hiện (gồm 7 thánh thiện và 3 ẩn tàng) bởi vì 7 hành tinh thánh thiện sau rốt nhập thành 3 và sau cùng 3 thành 1.
Tương tự, cũng như 7 Cung năng lượng đang biểu lộ, gồm 4 cung thứ yếu và 3 cung chính yếu. ba cung chính yếu thuộc về Cung III, một trong ba cung năng lượng gốc (LVLCK, 236)
+ Đấng Cao Cả này mà chúng ta gọi là Thái Dương Thượng Đế, không mang ý nghĩa như Thượng Đế nhân hình (personal God) của Cơ Đốc giáo, vị Thượng Đế sau này chính là con người không hơn không kém, đã phát triển thành một Đấng có huyền năng khủng khiếp, và lệ thuộc vào các đức tính cùng là tật xấu của chính con người. Thái Dương Thượng Đế vượt lên trên con người, vì Ngài là toàn thể mọi cuộc tiến hoá trong toàn bộ Thái dương hệ, kể cả con người, đó là một cuộc tiến hoá nằm ở điểm giữa có liên quan với các cuộc tiến hoá khác. Về một phương diện, Ngài được sắp vào số các Đấng vượt trên con người, và trong thiên kiếp (kalpa) vừa qua, Ngài đã đạt được và vượt quá trình độ của con người hiện giờ; (LVLCK, 241)
+ Thái Dương Thượng Đế - Một Đấng Vũ Trụ Vĩ Đại, Ngài lâm phàm hay biểu lộ qua trung gian là một Thái Dương Hệ. Tức Thái dương hệ là biểu lộ của năng lượng và sự sống của Thái Dương Thượng Đế (LVLCK, 29).
- Thái Dương Thượng Đế tức là Đại vũ trụ. (LVLCK, 69)
- Một Thái Dương Thượng Đế có hiện thể là bảy hệ thống hành tinh, có không gian là ba cõi vũ trụ. (LVLCK, 293)
+ Đấng Cao Cả này mà chúng ta gọi là Thái Dương Thượng Đế, không mang ý nghĩa như Thượng Đế nhân hình (personal God) của Cơ Đốc giáo, vị Thượng Đế sau này chính là con người không hơn không kém, đã phát triển thành một Đấng có huyền năng khủng khiếp, và lệ thuộc vào các đức tính cùng là tật xấu của chính con người. Thái Dương Thượng Đế vượt lên trên con người, vì Ngài là toàn thể mọi cuộc tiến hoá trong toàn bộ Thái dương hệ, kể cả con người, đó là một cuộc tiến hoá nằm ở điểm giữa có liên quan với các cuộc tiến hoá khác. Về một phương diện, Ngài được sắp vào số các Đấng vượt trên con người, và trong thiên kiếp (kalpa) vừa qua, Ngài đã đạt được và vượt quá trình độ của con người hiện giờ; (LVLCK, 241)
+ I. Đức Thái dương Thượng đế (The Solar Logos)
Đấng chủ quản thái dưong hệ của chúng ta là đức Thái dương Thượng đế (Solar Logos), đấng cao cả nhất mà con người trong thái dưong hệ này có thể hình dung được. Ngài là đấng bao gồm tất cả các thiên thần, nhân loại và mọi giới loài trong vòng biểu lộ giới hạn của Ngài. Tất cả sống, hiện hữu, và chuyển động trong Ngài như câu thuật ngữ huyền linh học hay dùng là “In Him we live, move, and have our being”. Đức DK gọi Ngài là the Grand Heavenly Man hay The Grand Man of the Heaven, đấng Thiên Nhân vĩ đại. Sau đây là đoạn trích dịch trong A Treatise on Cosmic Fire nói về Ngài:
[1] Đức Thái Dương Thượng Đế, đấng Thiên Nhân Vĩ đại, cũng có hình thể hình cầu.
[1] Vòng giới hạn của Ngài bao gồm toàn thể chu vi của Thái dương hệ và tất cả trong phạm vi ảnh hưởng của Mặt Trời.
[2] Mặt Trời giữ một vị trí tương tự như hạt nhân của sự sống ở tâm nguyên tử. Hình cầu này bao gồm trong chu vi của nó 7 dãy hành tinh cùng với 3 dãy tổng hợp, tạo thành số 10 của sự hiển lộ của Thượng Đế.
[3] Mặt Trời là thể hồng trần của Thái Dương Thượng Đế, là thể biểu lộ của Ngài, và sự sống của Ngài quét qua 7 hệ thống tiến hoá theo chu kỳ trong cùng ý nghĩa như sự sống của một Hành Tinh Thượng Đế quét 7 lần xung quanh hệ thống 7 dãy hành tinh của Ngài. (Trong quyển Cosmic Fire, Ngài / Đức D.K xem mặt trời tương ứng với luân xa đáy cột sống trong con người).
[4] Mỗi dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu trong một dãy hành tinh. Các bạn hãy lưu ý vẻ đẹp trong sự tương đồng này, tuy nhiên vẫn thiếu sự tương đồng trong chi tiết. [5] (GLBN I, 136).
Thêm vào đó, nếu đức DK nói rằng sự sống của một Hành Tinh Thượng Đế quét 7 lần xung quanh hệ thống 7 dãy hành tinh của Ngài thì điều đó hàm ý rằng bảy dãy hành tinh của một hệ hành tinh tồn tại đồng thời nhau, chứ không phải nối tiếp nhau trong thời gian như Thông Thiên Học giảng dạy.
[5] Ngài nói rằng giữa dãy hành tinh, hệ hành tinh, thái dương hệ … có một sự tương đồng. Điều này tạo nên vẻ đẹp của toàn thể. Câu cách ngôn huyền bí thường được nhắc đến là “As above, so below”, “trên sao, dưới vậy” … và đó là cách mà con người có thể học hỏi về những gì nằm ngoài tầm hiểu biết của mình. Tuy nhiên Ngài cũng lưu ý tuy có sự tương đồng, nhưng đó là sự tương đồng trong những nết chính yếu, chứ chúng ta không nên tìm kiếm sự tương đồng trong toàn bộ các chi tiết. (Nguồn: Thái dương hệ - Phần 8 - Thông Thiên Học)
Một Thái Dương Thượng Đế chứa đựng trong chính Ngài tất cả các nhóm của mỗi loài, từ hồn nhóm giáng hạ tiến hoá, đến các nhóm Chân ngã trên cõi trí như là các nguyên tử trong thể biểu lộ của Ngài. [6] Ngài có 7 nhóm chính yếu hay 7 Thiên Nhân (Heavenly Men) như là các trung tâm lực của cơ thể Ngài. [7] Các vị này toả ảnh hưởng đến khắp nơi thuộc phạm vi Thượng Đế và các Ngài biểu hiện trong chính các Ngài tất cả các sự sống nhỏ bé hơn, các nhóm thứ yếu, con người và thiên thần, các tế bào, các nguyên tử và phân tử. [8]
Nhìn từ cõi vũ trụ, phạm vi của Thượng Đế có thể được hình dung như một quả cầu lửa đang rung động với ánh sáng huy hoàng, chứa bên trong vòng ảnh hưởng của nó các bầu hành tinh cũng rung động giống như các quả cầu lửa [9]. Đấng Đại Thiên Nhân rung động tới một mức độ ngày càng tăng đều đặn, toàn thể Thái dương hệ nhuốm một màu sắc nào đó, màu của sự sống của Thượng Đế, tức là Cung Thiêng Liêng Duy Nhất; [10] và Thái dương hệ xoay tròn theo một mức độ nào đó vốn là chìa khoá của đại kiếp (great kalpa) hay chu kỳ thái dương (solar cycle), và xoay vòng chung quanh cực thái dương trung ương của nó. [11] Đức DK cho rằng thái dưong hệ quay tròn quanh trục trung ương của nó (central pole). Từ thiên văn học chúng ta biết rằng:
– Mặt trời quay quanh trục của nó một vòng mất 27 ngày
– Toàn thể thái dưong hệ quay quanh trục của nó mất 100.000 năm.
Đức DK nói rằng thái dương hệ của chúng ta hợp cùng với sáu thái dương hệ khác tạo thành một hệ thống lớn hơn, là biểu lộ của đấng cao cả hơn nữa mà Ngài gọi là đấng Thượng Đế Vũ Trụ (Cosmic Logos). Mỗi vị Thái dương Thượng đế lại là một Trung tâm lực trong cơ thể của đức Thượng Đế Vũ Trụ này. (Nguồn: Thái dương hệ - Phần 9 - Thông Thiên Học)
+ Tham dục [Tham ái và Dục vọng] - Ngũ dục [Thế gian gọi là Thất tình]: ... Thứ nhất là tham dục. [Khi nói] Tham thì đại đa số là nói về thuận cảnh. Con người gặp lúc vừa lòng xứng ý, chẳng cần biết là hoàn cảnh tinh thần hay hoàn cảnh vật chất, cứ hễ cái gì thuận theo ý mình bèn khởi tâm tham ái. Dục là dục vọng; nhà Phật gọi là Ngũ Dục, thế gian gọi là Thất Tình. Thất Tình Ngũ Dục người đời có ai chẳng tham ái hay chăng? Bởi tham ái Thất Tình Ngũ Dục nên chẳng thể thoát khỏi luân hồi, học Phật cũng chẳng thể thành tựu, học Thiền cũng chẳng thể “đắc Định”, niệm Phật thì hãy khoan nói đến “nhất tâm bất loạn”, dù chỉ “công phu thành phiến” cũng vẫn chẳng thể thành công, học Giáo chẳng thể “khai ngộ”, nguyên nhân chỉ vì chẳng thể buông Ngũ Dục Thất Tình xuống được. (Nguồn: Phật thuyết thanh tinh tâm kinh-PS Tịnh Không giảng)
+ Ngũ tình - Phiền lão chướng gồm Oán - hận - não - lộ - phiền:
- Oán: Lòng oán ghét, chẳng muốn nhìn hay truyện, luôn nghĩ xấu về họ, luồn tìm lỗi lầm, sãn sàng trách móc họ khi có cơ hội.
- Hận: Lòng tức giận, thù hằn - Như ngọn lửa cháy phừng phừng trong lòng.
- Não: Rầu rĩ ỷ ôi, tự dằn vặt, trách móc, đau khổ với lòng mình => Suy nghĩ, nói năng đầy dẫy tiêu cực, âm khí, không ai muốn gần gũi.
- Nộ: Lòng giận giữ hiện ra ngoài mặt như ngọn lửa cháy hừng hực, không có gì có thể dập tắt.
- Phiền: Lòng đầy phiền toái, nóng bức thúc dục, không yên ổn, cứ muốn làm điều ác - nghịch với thiên lý.
* Tu cải mệnh để phát trí phúc: Cần phải buôn xả tâm tham dục, tình chấp càng phải xả, rồi tu giữ ngũ giới hành thập thiện ... mới mong thành tựu các pháp tu. [Theo HT Tuyên Hóa giảng pháp]
+ Người nữ nhiều tánh xấu ác: Phẫn nộ - Hiềm nghi - Ghét hận ......
- Phẫn nộ - Ác nghiệp thứ nhất là thường hay phẫn nộ, thích sanh lòng căm phẫn. Chữ "phẫn" này là một trong hai mươi thứ phiền não; còn "nộ" là phát cáu, nổi giận.
Người nữ đa số dễ nổi nóng, dễ giận hờn. Tuy rằng không phải người nữ nào cũng như vậy, nhưng phần đông thì đều là dễ nổi giận; họ có thể vì một cây kim hay một sợi chỉ mà sanh ra giận dữ, tức tối. Nổi giận, nổi nóng là đặc tính của người nữ.
- Ác nghiệp thứ hai là trong lòng thường chất chứa một mối hiềm nghi và ghét hận. Người nữ thường có tánh đa nghi, cái gì cũng hoài nghi cả; lại còn có thêm lòng phẫn hận nữa. Họ "hận người," cho rằng ai cũng có lỗi, cũng đắc tội với mình, cũng đáng cho mình thù ghét cả.
Người nữ nhân thường kết tập rất nhiều tính xấu ác....... (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P6- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Thất-tình: Hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục - mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham dục; được giới thiệu một cách giản dị như sau:
1. Hỷ: Không nên mừng vui quá độ, mừng thì tình sẽ động; Quá độ cười như phát cuồng
2. Nộ: Không nên giận, giận thì tình sẽ động; Bách bệnh phát sinh, khắp mình gân cốt đau đớn, vì lửa sân đã thiêu đốt cây bồ đề/ Thân thể cháy sạch
3. Ai: Không nên bi ai, bi ai cũng động tình; Cần tiết chế, không để quá độ.
4. Cụ: Không nên sợ hãi, sợ hãi cũng động tình; Tâm sợ hãi tất không được chánh đáng.
5. Ái: Không nên sanh tâm tham ái, bởi tham ái làm cho tình động; Ái: Thấy sắc đẹp thì tham đắm, thấy đồ đẹp của kẻ khác thì muốn chiếm làm của mình.
6. Ố/ Ác: Không nên có lòng chán ghét, chán ghét làm cho tình động; Ác với Ái ngược nhau: Sự dính mắc muốn chiếm và sự chán ghét muốn xả bỏ.
7. Dục: Không nên có dục niệm, dục niệm sẽ làm cho tình động; Tất cả dục niệm đều không tương ưng với Đạo.
>>> Hành giả sẽ bị hoàn cảnh chi phối, lay chuyển được mình, thì định lực sẽ bị tiêu ma, ta sẽ bị làn gió của các loại hoàn cảnh làm cho phiêu bạt, tâm bị lay động, không còn làm chủ được nữa và, khi không có chủ tức thành điên đảo. Tu hành không còn thất tình thì tâm an tịnh thường ở trong Định, đi đứng nằm ngồi dều đang dụng công => Lúc này nhận ra bộ mặt thật của chính mình. (Nguồn: Xem HT Tuyên Hóa giảng); (Sách Nhân Sinh Yếu Nghĩa, Tr136 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Ngũ Dục: Chữ “dục” này là ngũ dục:
1- Tài dục: Ham muốn tiền bạc của cải, vàng ngọc, tài sản vật chất.
2- Sắc dục: Đắm say đam mê sắc đẹp mỹ miều, gồm 6 trần:
- Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt.
- Thính dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt….
- Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào….
- Vị dục: Ham muốn đồ ăn thức uống ngon ngọt…
- Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm êm ái, dễ chịu, sung sướng …
- Pháp: Hình ảnh, âm thanh, mầu sắc .... lưu lại ở 5 Trần ở trên
3- Danh dục: Tham muốn địa vị, quyền cao chức trọng, danh thơm tiếng tốt.
4- Thực dục: Tham muốn ăn uống cao lương mỹ vị ngon nhiều.
5- Thùy dục: Tham muốn ngủ nghỉ nhiều (Nguồn)
+ Ngũ dục: Đây là 5 cái gốc của địa ngục - Tâm chúng ta có những thứ này thì tâm này sẽ có bệnh, có độc, nhất định phải hết lòng niệm câu A Di Đà Phật hồi phục lại tâm thanh tịnh của chúng ta (Nguồn).
+ Tại sao con người không nên có Thất tình Lục dục: Vì người sống nặng về tình cảm thường ích kỷ, rế rời xa đường đạo. Mời xem HT Tuyên Hóa khai thị tại: Gậy Kim Cang Hét 1
+ Bỏ ác tu thiền - Làm lành lánh dữ - Xa lìa ái dục - Ái dục nặng:
Chú giải của Niệm Lão, đoạn bên phải khuyên dụ người đời, xả ác tu thiện, đây là tông chỉ được nói trong hai hàng kinh văn này. “Ái dục”, chỉ cho tình ái và tham dục, hiện nay gọi là tình chấp, cái này rất khó dứt. “Ái bất trọng bất đọa Ta bà”, đây là điều mà Cổ đức nói, “niệm bất nhất bất sanh tịnh độ”. Người đời đa phần đều chìm đắm trong ái dục, câu nói này hiện nay, có thể nói là sự miêu tả toàn xã hội trên thế giới, đây không phải là một vùng, mà toàn thế giới đang đắm chìm trong ái dục. Tình ái, dục vọng, trong cái tình này đúng là có thương yêu không? Là giả không phải là thật. Phật pháp nói vĩnh hằng bất biến mới là thật, có mới nới cũ là giả. Hiện nay trong cái xã hội này, thật có tình yêu chăng? Nếu đúng là có tình yêu thì còn thể lượng thứ, nhưng đều là hư tình giả ý, mọi người lừa gạt lẫn nhau, một chút chân thành cũng không có, xã hội ngày nay không giống như nhân gian, có người nói là địa ngục trần gian, câu nói này chúng ta càng nghĩ càng thấy có lý. Địa ngục nằm ở đâu? Hiện nay nhân gian là địa ngục, quan niệm đạo đức cơ bản của nhân luận đều mất hết rồi, hoàn toàn mất hết. Chúng ta nói ngũ thường, đúng là ngày nay bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, vô tín. Trung Quốc trước đây ngũ thường trong xã hội là điều cơ bản, bất cứ ai cũng đều phải có, không có quý vị làm sao đứng vững trong xã hội? Không thể không coi trọng 5 chữ này. Nhân là nghĩ đến mình đến người, nghĩ đến mình phải nghĩ đến người khác, bắt đầu từ đâu? Trước hết nghĩ đến cha mẹ, sau đó nghĩ đến vợ con cái, sau đó nghĩ đến huynh đệ tỷ muội, mở rộng theo từng tầng từng tầng. Phải dốc hết bổn phận của mình, phải yêu quý những người này, phải quan tâm những người này, phải chăm sóc những người này, phải giúp đỡ những người này. Bây giờ không còn gì nữa, người bây giờ chỉ nghĩ đến bản thân, ngoài bản thân ra không để tâm đến ai. Để trong tâm những gì? Dục vọng, tình dục. Giữa vợ chồng yêu đương kết hôn, quý vị nếu hỏi hai người kết hôn này, giữa hai người liệu có thật sự tin tưởng lẫn nhau không? Họ sẽ lắc đầu: đến đâu hay đó thôi! Cái thái độ này là thật không phải là giả, thờ ơ, không thể trường tồn. Mấy ngày chia tay cũng có, mấy tháng chia tay cũng có, một hai năm chia tay cũng rất nhiều rất nhiều, đều là tạo nghiệp. Thế gây oán cho ai? Nếu như họ đã có con rồi, thì gây oán cho đứa trẻ này, quý vị bất hòa, chúng phải chịu tội, nỗi oán hận của chúng kiếp này đời này rửa không sạch, kiếp sau đời sau vô tình hay hữu ý gặp được không báo thù hay sao?
Chúng ta xem câu này của Niệm Lão: “tình ái và tham dục, thực sự là gốc của sanh tử”. Đây là lời cổ nhân dạy: “ái bất trọng bất đọa sa bà”, người trong thế gian này hoàn toàn chìm đắm vào trong đó, đây nói về lục đạo luân hồi. Chết đây sanh kia, lưu chuyển không ngừng. Lục đạo từ đâu mà có? Là từ đây mà ra, là tham sân si mà Phật pháp nói. Tuy quyến thuộc đầy nhà, giữa bờ sanh tử, lúc sanh đến một mình, khi chết độc thân đi, không ai đi theo, không ai thay thế, nên nói độc sanh độc tử, độc đến độc đi, khổ vui tự chịu, không ai chịu thay. Lại nói đến quả báo khổ vui, đều do tự làm tự chịu, cũng không ai có thể thay thế. Quý vị kiếp này gặp được thiện duyên hành thiện tích đức, thì nơi quý vị đến tốt đẹp, tốt cũng chỉ là hai cõi nhân thiên. Nếu như tâm hành bất thiện, thì nơi quý vị đến không tốt đẹp, nơi không tốt này chính là ba đường ác, khổ vui tự chịu, tự làm tự chịu. Cảnh Hưng nói: “tự đương”, tức là tự thọ. “Thiện ác biến hoá”, Thiện biến hoá, tức là thiện đạo. “Tức thiện thú báo”, quả báo của ba đường lành. “Ác biến hoá tức ác thú báo”, người biến hoá thành súc sanh, biến thành ác quỷ, biến thành địa ngục, biến hoá. Hội Sơ nói: “đời này tuy là thiện quả, nhưng tạo nghiệp nhân ác, thì đời sau sẽ biến thành ương quá”. Quá là lỗi lầm. Thiên tai nhân họa đều là do tự bản thân mình gây ra nhân nghiệp bất thiện mà có. Hiện nay mặc dù chúng ta có ác báo rất khổ, nhưng việc thiện mình làm, khi đến kiếp sau nó sẽ biến thành phước báo. Thiên biến vạn hoá, không thể nói hết. Sự biến hóa này đều có thể lý giải, đều có thể nói được, nó cũng là chân tướng sự thật. Tóm lại, thiện nhân thiện quả, ác nhân ác báo, là chân lý, là sự thật, không thể không biết, không thể không suy xét thận trọng.... PS Tịnh Không giảng: Đời sống vô thường - Chết đi về đâu
+ Thiên Lang (Sirius): Trong 9 cuộc điểm đạo xét về nhân loại. Có: 5 cuộc điểm đạo hành tinh; 3 cuộc điểm đạo thuộc thái dương hệ mà Đức Christ đang có 2; 01 cuộc điểm đạo cấp vũ trụ vốn liên kết một người với sao Thiên Lang (Sirius) (CTHNM, 298)
+ Đại Hùng Tinh Thiên Lang Thất Tỷ Muội: Thiên văn học hiện đại, nhóm sao này là một mảng sao gồm 7 ngôi, là bảy ngôi sáng nhất nằm trong ranh giới của chòm sao Đại Hùng (Ursa Major) tại thiên cầu bắc. Chòm Đại Hùng Tinh ngoài 7 ngôi còn nhiều ngôi sao khác.
Tên Hán-Việt: Bắc Đẩu Thất Tinh gồm Tham Lang/ Cự Môn/ Lộc Tồn/ Văn Khúc/ Liêm Trinh/ Vũ Khúc/ Phá quân Chòn sao cán gáo Bắc Đẩu có 2 chòm lớn nhỏ cần phân biệt tương ứng tên gọi của chòm sao Đại hùng tinh và Tiểu hùng tinh, cụ thể:
-Chòm Bắc đẩu lớn gồm một nhóm sao thuộc Chòm sao Đại hùng tinh
-Chòm Bắc đẩu nhỏ hay còn gọi là Sao Bắc cực, là tên gọi cho ngôi sao nằm gần thiên cực trên thiên cầu bắc. Ngôi sao phù hợp nhất hiện nay là sao Polaris trong chòm sao Tiểu Hùng. (Nguồn: Xem wikipedia):
+ Các cung này (7 Cung năng lượng) có một liên hệ chặt chẽ với bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh (lại luôn luôn là bốn và ba như một biến phân thứ hai) và với Thất Tỉ Muội (seven Sisters), Chòm Sao Rua (Pleiades/ Tỷ muội Tinh đẩu). Chòm sao thứ nhất là tác nhân của thần lực dương đối với Hành Tinh Thượng Đế, còn chòm sao kia là tác nhân tiếp vận (relayer) của trạng thái âm. Do đó có một trao đổi trực tiếp các năng lượng giữa các sự sống của bảy Hành Tinh Thượng Đế với Các Đấng Cao Cả (Lives) vĩ đại và khôn dò tức là Các Đấng đang làm linh hoạt (inform) các chòm sao này. (CTHNM, 41)
+ Bảy Đấng Thánh của Đại Hùng Tinh
Các nguyên mẫu (prototypes) của bảy Hành Tinh Thượng Đế (ASCLH, 82)
+ Bắc Đẩu Thất Tinh: (北斗七星) Bảy sao Bắc đẩu. Chỉ bảy ngôi sao ở phương bắc tụ thành hình cái môi. Gọi tắt là Bắc đẩu. Tức bảy ngôi sao cách bắc cực khoảng 30 độ: Thiên xu, Thiên toàn, Thiên cơ, Thiên quyền, Ngọc hành, Khai dương và Dao quang. Thiên văn học gọi là Đại hùng tinh. Tục gọi là sao Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc và Phá quân. Trong quan niệm đời xưa về tinh tú, sao Thiên xu được coi là sao chính trong bảy sao, chủ về đức dương; sao Thiên toàn là sao pháp, chủ về hình âm; sao Thiên cơ là sao lệnh chủ về phạt hại; sao Thiên quyền là sao phạt, chủ về lẽ trời; sao Ngọc hành là sao sát, chủ về bốn phương và trung ương; sao Khai dương là sao nguy, chủ về thiên thực, ngũ cốc; sao Dao quang là sao bộ, chủ về binh. Trong Tôn tinh vương pháp, Bắc đẩu pháp, Bắc đẩu hộ ma pháp v.v... của Mật giáo đều cầu khấn bảy sao này. Ngoài ra, trong Thiền lâm có câu Bắc đẩu lí tàng thân, là chỉ cho thần thông diệu dụng của Thiền tăng, cũng như nói: giấu mình trong sao Bắc đẩu, linh dương giấu sừng không lộ dấu vết. Vân môn khuông châu thiền sư quảng lục (Đại 47, 546 thượng) chép: ‘Hỏi:Thế nào là cầu thấu suốt pháp thân?’ Sư (Vân môn) đáp: ‘Giấu mình trong Bắc đẩu’. [X. kinh Bắc đẩu thất tinh diên mệnh; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12 Ba tiêu Tuệ thanh chương; Pháp uyển châu lâm Q.4] (Nguồn: Từ điền Phật giáo)
Xem thêm: Tổng hợp về 7 Cung đến Thái Dương hệ - Địa cầu và Nhân loại
+ Chúng A Tu La: Dục giới là nơi có năm loài chúng sanh ở lẫn lộn gọi là ngũ thú tạp cư địa. Năm loài này gồm Trời, Người, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục. Ở đây chỉ nói đến năm loài thôi mà không nói đến loài A tu la vì loài này có thể hiện thân là bất cứ loài nào trong năm loài trên. A tu la là một loài rất sân và ác độc; nếu ở trên trời thì là một vị ác thần; nếu là người thì là một ác nhân như những tên sát nhân, những tướng cướp hung dữ, những cường hào ác bá, những lãnh chúa độc tài; nếu ở trong loài súc sanh thì là loài ác thú như loài lang sói, hổ báo; nếu ở loài ma quỷ hay địa ngục thì là loài quỷ dữ chuyên quấy phá và não hại loài khác. (Nguồn: A Lại Da Thức - Duy Thức Học)
+ Xem thêm: Người đại ác - Kẻ vô đạo ...:
+ Xem thêm: Các loài A Tu La
+ Xem thêm: Tâm thiện ác và tu xa lìa
+ Các Thần Kim Cang:
Ô-sô-sắc-ma đến trước Phật, chắp hai tay đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng, “Con thường nhớ trước đây, trong nhiều kiếp xa xưa, tánh con nhiều dâm dục. Có Đức Phật ra đời, hiệu là Không Vương, nói rằng người đa dâm giống như đống lửa dữ, ngài dạy con quán khắp hơi nóng lạnh trên khắp trăm vóc tứ chi. ”
Giảng giải:
Ô-sô-sắc-ma là một vị thần Kim cang hộ pháp. Ngài là một trong những vị mà trong kinh nầy thường gọi là Kim cang Mật tích (Còn gọi là Hỏa đầu Kim cang) 密迹金, có nghĩa là vị Hộ pháp. Lịch sử của các vị Hộ pháp nầy như sau: Vô lượng kiếp trong quá khứ, có một vị Chuyển luân thánh vương mà người vợ đầu của ông sinh được 1000 người con. Vị Chuyển luân thánh vương nầy là người thấm nhuần Phật pháp. Ông bắt các con của mình rút thăm; và chúng phải tu hành thành Phật theo thứ tự số thăm mà họ đã rút được. Một ngàn vị Phật của kiếp nầy, tức Hiền kiếp, chính là những con trai của Chuyển luân thánh vương ấy.
Đức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni (Kanakamuni Buddha) thành vị Phật đầu tiên, và Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là vị Phật thứ tư của Tinh tú kiếp. Có tên gọi như vậy là vì đó là lúc mà chư Phật và Hiền thánh xuất hiện ở thế gian.
Người vợ khác của Chuyển luân thánh vương có hai người con trai. Người anh phát nguyện rằng khi 1000 người anh của mình đã thành Phật hết rồi, sẽ đi đến quốc độ của họ để cúng dường. Người em phát nguyện khi 1000 người anh của mình đã thành Phật, sẽ đến để hộ trì cho họ – người nầy chính là Kim cang Lực sĩ.
Tại sao ở đây lại nói đến trước Phật chứ không nói từ chỗ ngồi đứng dậy? Là vì Kim cang Lực sĩ là thần Hộ pháp, và thần Hộ pháp thì không thể ngồi khi có sự hiện hữu của chư Phật. Họ phải đứng. Họ không được phép ngồi trong chúng hội của chư Phật. Như loài ma, không những họ không được phép ngồi mà thậm chí còn không được phép đứng. Họ phải quỳ. Các vị Hộ pháp phải quỳ khi nghe giảng pháp. Trong các pháp hội giảng kinh, có rất nhiều loài ma quỷ đang quỳ quanh đây để nghe giảng kinh. Nếu quý vị không thể thấy được chúng, đó là do quý vị không học được cách nói như tôi dành cho chúng. Quý vị có thể hỏi những vị đệ tử của tôi đã được khai ngũ nhãn. Họ sẽ nói cho quý vị nghe....
Con quán sát tính lửa trong thân con, sau một thời gian, con ghê tởm nó và được báo động về nó. Con không còn thích những niệm tưởng dâm dục nữa, con dần dần xa lìa được chúng. Khi nó đã không còn nữa, thì con Được giác tánh sáng suốt ngưng lặng bên trong.” Ô-sô-sắc-ma phát ra tánh sáng suốt từ bên trong, tâm đa dâm hoá thành lửa trí huệ. Có sự chuyển hoá xảy ra từ tâm niệm ám ảnh bới dâm dục; nó đã chuyển thành lửa trí huệ. Từ đó, mỗi khi chư Phật triệu mời con, thường gọi là Hoả đầu. Chư Phật thường gọi Ô-sô-sắc-ma là Hoả đầu Kim cang.
Con dùng sức hoả quang tam-muội mà thành A-la-hán. Tâm phát nguyện lớn rằng khi chư Phật thành đạo, con sẽ làm vị lực sĩ/ Kim cang Đại lực sĩ/ Đại Hộ pháp thân cận chư Phật, hàng phục ma oán. (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tu Tâm tán loạn - Pháp tu quán tướng chót mũi trắng - Quán hơi thở mầu trắng - Quán thấy hơi thở phát sáng.
Tôn-đà-la Nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Lúc con mới xuất gia, theo Phật nhập đạo, tuy giữ đúng giới luật, nhưng trong pháp tam-ma-đề, tâm thường tán loạn, nên chưa đạt được quả vị vô lậu. Thế tôn dạy con cùng với Câu-si-la quán tướng đầu chót mũi trắng.”
Giảng giải:
Nan-đà, A-nan-đà và Tôn-đà-la Nan-đà là ba anh em họ của Phật. Tôn-đà-la là gọi theo tên người vợ của ông là Sundari, có nghĩa là đẹp. Cô ta rất quyến rũ. Nan-đà, phần sau trong tên gọi ấy có nghĩa là ‘thiện.’ Vì có nhiều đệ tử cùng tên, nên Nan-đà được đặt riêng như vậy, có nghĩa là là Nan-đà của Tôn-đà-la.
Tôn-đà-la Nan-đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng, “Lúc con mới xuất gia, theo Phật nhập đạo, tuy giữ đúng giới luật, nhưng trong pháp tam-ma-đề, tâm thường tán loạn, nên chưa đạt được quả vị vô lậu.
Con theo Phật tu đạo, tuy giữ giới luật nghiêm túc nhưng định lực chưa tròn đầy. Tâm con luôn luôn dao động. Con chưa thành tựu được quả vị vô lậu.
Thế tôn dạy con cùng với Câu-si-la quán tướng đầu chót mũi trắng. Vì tâm con quá tán loạn, Đức Phật dạy con và Ma-ha Câu-hi-la, cậu của Xá-lợi-phất, hãy quán sát tướng chót mũi, và hãy quán tưởng điểm màu trắng trên chóp mũi trong khi cả hai mắt đều chăm nhìn vào đó.”
Kinh văn:
Ban đầu con tu quán, trải qua hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở ra vào qua mũi như làn khói trắng, thân tâm bên trong sáng suốt viên mãn đồng như thế giới. Khắp nơi thanh tịnh như ngọc lưu ly. Tướng khói dần dần tiêu mất. Hơi thở trong mũi trở nên màu trắng.
Giảng giải:
Tôn-đà-la Nan-đà tiếp tục trình bày: Khi con hành trì theo phương pháp nầy, Ban đầu con con tu quán, trải qua hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở ra vào qua mũi như làn khói trắng. Con tập trung sức chú ý vào chóp mũi. Sau hai mươi mốt ngày, hơi thở giống như khói, thân tâm bên trong sáng suốt viên mãn đồng như thế giới. Bên trong như có ánh sáng và con thấy rõ những gì đang diễn ra trong các cõi giới, đến mức thấy khắp nơi thanh tịnh như ngọc lưu ly. Thân tâm của con và thế giới trở thành rỗng không và thuần một thể thanh tịnh. Tất cả đều rõ ràng rỗng suốt như ngọc lưu ly. Hơi thở nơi mũi con biến thành màu trắng, nhưng nó dần dần giảm đi. Tướng khói dần dần tiêu mất. Hơi thở trong mũi trở nên màu trắng. Từ sự quán tưởng hằng ngày như vậy, hơi thở con trở nên trắng như điểm sáng trắng trên chót mũi của con.
Kinh văn:
Tâm được khai ngộ, các lậu hết sạch, hơi thở ra vào hoá thành hào quang chiếu khắp mười phương thế giới. Con chứng quả A-la-hán. Thế tôn thọ ký cho con sẽ thành tựu quả vị bồ-đề.
Giảng giải:
Tâm được khai ngộ, các lậu hết sạch. Khi hơi thở của con trở nên màu trắng, tâm con bỗng nhiên được giác ngộ, sạch hết mọi lậu hoặc. Mỗi hơi thở ra vào hoá thành hào quang chiếu khắp mười phương thế giới. Con chứng quả A-la-hán. Ban đầu hơi thở của con giống như khói, rồi nó trở thành màu trắng như điểm sáng trắng trên chót mũi, và cuối cùng nói biến thành hào quang! Ánh sáng chiếu khắp pháp giới trong mười phương. Thế tôn thọ ký cho con sẽ thành tựu quả vị bồ-đề. Đức Phật bảo rằng trong tương lai, con chắc chắn sẽ thành Phật.
Kinh văn:
Đức Phật hỏi về viên thông, con dùng phép nhiếp niệm vào hơi thở, dừng lặng lâu ngày nên phát ra sáng suốt. Sự sáng suốt viên mãn, trừ sạch các lậu hoặc, đó là phương pháp hay nhất.
Giảng giải:
Tôn-đà-la Nan-đà trình bày rằng pháp tu tị thức là thù thắng hơn cả. Đối với ông ta, đó là phương pháp hay nhất. (Nguồn: Kinh Lăng Nghiêm - Q5 - HT Tuyên Hóa giảng)
488. NÔNG NỔI, KHÔNG SÁNG SUỐT, NGU SI, DỐT NÁT
Một người Phạm chí có người vợ trẻ, vừa mới mang thai, người vợ cả đã có một đứa con trai. Trong thời gian ấy, Phạm chí kia bỗng nhiên mạng chung.
Sau khi mạng chung, con của bà vợ cả nói với bà mẹ kế như thế này: ‘Tiểu mẫu nên biết, nay của cải trong gia đình này hoàn toàn phải thuộc về tôi, không ai được dự phần vào’. Bà mẹ kế đáp: ‘Ta nay đang có thai, nếu sanh con trai thì nó phải được phần. Nếu sanh con gái thì của cải ấy mới hoàn toàn của cậu’. Con của bà vợ cả nói với bà mẹ kế ba lần như thế này: Tiểu mẫu nên biết, nay của cải trong gia đình này hoàn toàn thuộc về tôi, không ai được dự phần vào’. Bà mẹ kế cũng trả lời ba lần như thế này: ‘Nay ta đang có thai, nếu sanh con trai thì phải được chia phần. Nếu sanh con gái thì của cải ấy mới hoàn toàn thuộc về cậu’.
Bấy giờ bà mẹ kế ngu si, không thông suốt, không hiểu rõ ràng, không có trí tuệ, muốn bảo toàn sự sống mà trở lại hại mình. Bà vào trong phòng lấy dao bén mổ bụng xem là trai hay gái. Bà ấy ngu si, không thông suốt, không hiểu rõ, không có trí tuệ, muốn bảo vệ sự sống mà lại tự hại mình và đứa con trong bụng.
Này vua Bệ-tứ, nhà vua cũng lại như vậy, ngu si không thông suốt, không hiểu rõ ràng, không có trí tuệ, muốn bảo tồn sự sống mà lại nghĩ như thế này: ‘Này Ca-diếp, nếu biết tôi, biết người thân thích của tôi có diệu hạnh, tinh tấn, tinh cần, không biếng nhác, không ganh ghét, không bỏn sẻn, tham lam, có đại lượng, có thi ân, cởi mở, phóng xả, chu cấp cho người cô độc, kẻ bần cùng, khiến họ được an lạc, bố thí, không đắm trước của cải. Do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời, thì tôi, ngay bây giờ, sau khi thực hành bố thí, tu các thiện nghiệp, phụng trì trai giới, tôi dùng dao tự sát, hoặc uống thuốc độc, hoặc nhảy xuống giếng, hoặc thắt cổ mà chết. (Trung A Hàm, Kinh Bệ Tứ, Phẩm 6, số 71)
+ Tu nhất tâm bấn loạn - Trạng thái nhất tâm
Chúng nhơn đều đảnh lễ đáp rằng: "Nếu thấy cõi ấy, thì cần gì phải nguyện sanh! Xin Hòa Thượng từ bi hiện cõi Tây phương cho mọi người được thấy."
Sư nói: "Đại chúng! Người ở thế gian, sắc thân của mình là cái thành; con mắt, lỗ tai, cái mũi, cái lưỡi là các cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là cõi, tánh là vua. Vua ở tại cõi tâm. Tánh ở thì vua ở, tánh đi thì vua mất. Tánh ở thì thân tâm tồn tại, tánh đi thì thân tâm hoại hư. Muốn thấy Phật, phải ngó vào trong tánh mình mà tìm, đừng ngó ra ngoài thân mà kiếm.
Tánh mình mê tức là chúng sanh, tánh mình giác tức là Phật. Lòng từ bi tức là Quán Âm, lòng hỷ xả tức là Thế Chí, lòng năng tịnh (thường trong sạch) tức là Thích Ca, lòng bình trực (bình đẳng chánh trực) tức là Di Đà.
Lòng nhơn ngã là núi Tu Di, lòng tà vạy là nước biển, lòng phiền não là sóng trào, lòng độc hại là rồng dữ, lòng dối giả là quỷ thần, lòng trần lao là rùa, trạnh, lòng tham sân là địa ngục, lòng ngu si là súc sanh.
Chư Thiện tri thức! Thường làm mười điều thiện thì Thiên đường liền đến. Dứt lòng nhơn ngã thì núi Tu Di sập ngay, bỏ lòng tà vạy thì nước biển khô cạn, trừ lòng phiền não thì sóng lặng êm, quên lòng độc hại thì rồng dữ ắt tuyệt. Tâm địa mình chính là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài soi sáu cửa trong sạch, có thể phá được các cõi trời Lục dục. Trong soi tánh mình, làm cho ba độc liền dứt, cả thảy các tội địa ngục đồng tiêu diệt một lần. Trong ngoài sáng thấu, chẳng khác gì cõi Tây phương. Nếu chẳng chịu tu như thế, thì làm sao đến cõi kia được!" (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tu niệm Phật Nhất Tâm Bấn Loạn - Niệm Phật vãng sanh:
(34) Theo danh hiệu vị Phật ở thế giới đó: Đây là Pháp trì danh hiệu Phật để được nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn cũng được gọi là Nhất hạnh Tam muội. Kinh Văn Thù Sư Lợi nói Bát Nhã dạy rằng: Muốn được Nhất hạnh Tam muội thì tùy đức Phật ở phương nào, nên ngồi xoay mặt về phương ấy mà xưng niệm danh hiệu của Ngài không cho gián đoạn, tức có thể được nhất tâm bất loạn, khi được nhất tâm rồi, có thể tùy nguyện vãng sinh về thế giới của đức Phật ấy. (Nguồn: Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo)
+ Pháp niệm Phật vãng sanh: Thứ sử lại hỏi: "Đệ tử thường thấy quý Thầy và người tục, niệm Phật A Di Đà, nguyện vãng sanh về Tây phương, xin giải rõ cho biết các người ấy được vãng sanh về Tây phương chăng? Xin Ngài phá chỗ nghi nầy."
Sư nói: "Sử quân hãy nghe cho kỷ, Huệ Năng giải cho. Đức Thế Tôn lúc ở thành Xá Vệ, nói kinh về chỗ tiếp dẫn vào cõi Tây phương, rõ ràng cõi ấy cách đây chẳng xa. Nếu luận về hình tướng và số dặm, thì có mười muôn tám ngàn, tức là chỉ mười điều ác và tám điều tà trong thân. Thế mới nói là xa. Nói xa là vì người hạ căn, nói gần là vì người thượng trí.
Người có hai hạng, pháp không có hai thứ. Tánh ngộ mê có khác nhau, chỗ kiến giải có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu vãng sanh về cõi Tây phương, người ngộ tự tịnh tâm mình. Sở dĩ Phật nói: "Tâm mình tịnh, tức là cõi Phật tịnh."
Sử quân, người Đông phương mà tâm tịnh, thì không có tội. Còn tuy là người Tây phương mà tâm chẳng tịnh, thì cũng có tội. Người Đông phương tạo tội, niệm Phật cầu vãng sanh về Tây phương. Còn người Tây phương tạo tội, niệm Phật cầu vãng sanh về xứ nào?
Người phàm mê muội, chẳng tỏ tánh mình, không biết cõi Tịnh độ trong thân, nên mới phát nguyện Đông nguyện Tây. Còn người giác ngộ dầu ở chỗ nào, tâm địa cũng một mực thanh tịnh tự nhiên. Cho nên Phật nói: Vô luận ở đâu tâm hằng an lạc.
Sử quân, nếu tâm địa mình trọn lành, thì cõi Tây phương cách đây chẳng xa. Bằng mình cưu mang cái tâm chẳng lành mà niệm Phật cầu vãng sanh, thì ắt khó đến cõi ấy.
Nay khuyên các Thiện tri thức, trước trừ mười điều ác, tức là đi tới mười muôn, sau dứt tám điều tà, ấy là qua khỏi tám ngàn. Niệm niệm thấy tánh, thường làm việc công bình, thì đến cõi ấy mau như khảy móng tay, liền thấy Phật Di Đà......
Sư nói: "Đại chúng! Người ở thế gian, sắc thân của mình là cái thành; con mắt, lỗ tai, cái mũi, cái lưỡi là các cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là cõi, tánh là vua. Vua ở tại cõi tâm. Tánh ở thì vua ở, tánh đi thì vua mất. Tánh ở thì thân tâm tồn tại, tánh đi thì thân tâm hoại hư. Muốn thấy Phật, phải ngó vào trong tánh mình mà tìm, đừng ngó ra ngoài thân mà kiếm.
Tánh mình mê tức là chúng sanh, tánh mình giác tức là Phật. Lòng từ bi tức là Quán Âm, lòng hỷ xả tức là Thế Chí, lòng năng tịnh (thường trong sạch) tức là Thích Ca, lòng bình trực (bình đẳng chánh trực) tức là Di Đà.
Lòng nhơn ngã là núi Tu Di, lòng tà vạy là nước biển, lòng phiền não là sóng trào, lòng độc hại là rồng dữ, lòng dối giả là quỷ thần, lòng trần lao là rùa, trạnh, lòng tham sân là địa ngục, lòng ngu si là súc sanh......
Chư Thiện tri thức! Thường làm mười điều thiện thì Thiên đường liền đến. Dứt lòng nhơn ngã thì núi Tu Di sập ngay, bỏ lòng tà vạy thì nước biển khô cạn, trừ lòng phiền não thì sóng lặng êm, quên lòng độc hại thì rồng dữ ắt tuyệt. Tâm địa mình chính là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài soi sáu cửa trong sạch, có thể phá được các cõi trời Lục dục. Trong soi tánh mình, làm cho ba độc liền dứt, cả thảy các tội địa ngục đồng tiêu diệt một lần. Trong ngoài sáng thấu, chẳng khác gì cõi Tây phương. Nếu chẳng chịu tu như thế, thì làm sao đến cõi kia được!" (Nguồn: Lục Tổ Đàn Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Niệm Phật thành Phật: 20- Tu học Phật pháp nhất định phải theo thứ lớp, không được vượt cấp.... Học từ đoạn phiền não, từ tìm hiểu thấu rõ được chân tướng của vũ trụ nhân sanh. ... thân tâm thế giới của họ không có việc gì, dục vọng vật chất đã ngăn bỏ sạch sẽ. Một lòng một dạ chỉ muốn vãng sanh, chỉ nghĩ A Di Đà Phật, đây là đai trí tuệ......
Phật nói trong Kinh Đại Thừa: Một niệm sân khởi lên thì cả triệu cánh cửa chướng ngại mở ra… Dù hoàn cảnh không như ý cũng không khởi lên tâm sân giận, cần hiểu rõ nhân quả, lý sự bên trong đó. Khởi tâm sân giận, không làm chướng ngại người khác mà thật ra chỉ chướng ngại tự mình…
19- Ở Singapore buôn bán ma túy, án duy nhất là tử hình, là hình phạt treo cổ. Số người buôn bán ma túy rất nhiều, hơn nữa đều rất trẻ tuổi. .... Cư sĩ Lý Mộc Nguyên của Cư Sĩ Lâm Phật giáo, vào trại giam khuyên họ niệm “Kinh Vô Lượng Thọ”, niệm “A Di Đà Phật” cầu sanh Tịnh độ. Đại đa số tội phạm đều tiếp nhận, trong ngục tù giống như Phật thất tinh tấn của một niệm Phật đường. Vì họ đều biết ngày nào sẽ vãng sanh, do đó buông xuống tất cả thế giới bên ngoài của thân tâm, chân chân thật thật ở đó niệm Phật. ... Người niệm Phật không cần người dìu đỡ, tự mình bước lên một cách tự nhiên, một tí sợ hãi cũng không có. Sau khi bị treo cổ chết đi, mặt mày bình thường, bất khả tư nghì! Sau khi hỏa táng, nhặt được viên cứng rắn (kiên cố tử), xá lợi tử, đó là trong một đời của tôi chưa từng thấy qua. Màu sắc đẹp, lại to, rắn chắc, khi rơi xuống đất phát ra âm thanh như kim loại, bất khả tư nghì! Một người phải lên hành hình treo cổ, toàn bộ phạm nhân trong ngục đều niệm Phật để tiễn đưa họ. Chứng minh như trong kinh nói: Niệm Phật từ một ngày đến bảy ngày, chân thật sám hối, nhất tâm niệm Phật cầu vãng sanh, là có thể thật sự thành công.... (Nguồn: Niệm Phật thành Phật - PS Tịnh Không)
+ Thân thể bất hoại của Người chứng sơ quả Tu Đà Hoàn (Theo Tooltip: Tu hành Giải Thoát Khổ đau - Thoát khỏi khổ đau - Thoát khổ được vui là Pháp Tu giải thoát Luân hồi sinh tử):
Chết, ai ai cũng đều không thích chết. Vì sao ? Vì quan hệ đến khổ đau. Lại có khổ vì thương nhau mà xa lìa, ghét nhau mà thường gặp, cầu mà không được như ý, năm ấm luôn thay đổi hẩy hừng. Những loại khổ này đều gọi là khổ. Nay chúng ta tu hành nên phải dẹp trừ ba khổ, tám khổ, vô lượng khổ, nên gọi là độ thoát tất cả khổ ách.
"Độ qua khổ ải xuất luân hồi, (vượt qua biển khổ xuất luân hồi)".
Mọi khổ đều nằm trong biển khổ. Nếu chư vị vượt qua hết tất cả khổ ách thì chắc chắn sẽ thoát khỏi sáu nẻo luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, người, trời.
"Vũ tễ thanh tịnh nguyệt chánh huy, (mưa tạnh trời trong trăng sáng hiện)".
Khi ấy mưa tạnh tức là không còn hạt mưa nào hết. Bầu trời trong sáng. Trăng sáng hiển hiện. Mặt trăng trong không trung chiếu sáng. Năm ấm đều không. Không còn năm ấm giống như không còn mây, mưa. Bầu trời trong sáng, thanh tịnh. Trăng treo lơ lững, muôn dặm không áng mây. Cảnh giới này khiến chư vị phát sanh trí huệ chân chánh, chiếu sáng khắp cả, nhờ đó mà độ thoát qua hết tất cả khổ ách.
"Càn nguyên đạo thể nhân trung thánh, (Càn nguyên đạo thể thánh giữa người)".
Khi chứng sơ quả A La Hán, thân thể chư vị tràn ngập khí dương. Càn là số dương trong kinh dịch, nên gọi là càn nguyên. Đạo thể là thể chất của việc tu đạo. Trung nhân thánh là thánh nhân trong loài người.
"Bất hoại kim khu thế thượng hy, (vàng chẳng hoại diệt thế gian hiếm)".
Khi chứng sơ quả Tu Đà Hoàn, chư vị cắt đứt được tám mươi tám phần kiến hoặc. Thân thể chư vị bất hoại như vàng ròng, trên thế gian rất hiếm có.
"Thoát sanh hà thuận thiên niên dược, (thoát sanh tử cần chi thuốc tiên)".
Xưa, vua Thái Thủy (221-207 BC) đến đảo Bồng Lai tìm thuốc trẻ mãi không già, giải thoát sanh tử. Chư vị không cần thiết phải đi tìm thuốc trẻ mãi không già, chỉ nên độ thoát hết tất cả khổ ách. Khi đó muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Chết sống do tự chính mình. Vua Diêm La không thể cai quản được, giống như tổ Bồ Đề Đạt Ma.
"Chứng diệt khải thị vạn kiếp kỳ, (chứng diệt đợi chi muôn kỳ kiếp)".
Pháp bốn diệu đế : Khổ, tập, diệt đạo. Khi chứng đắc diệt đế thì thành đạo, đắc vô dư Niết Bàn, không đợi trải qua tám muôn bốn ngàn kiếp, mà mau chứng đắc vô dư Niết Bàn.
"Nhị tử vĩnh vong ngũ trụ tận, (hai chết mất hẳn năm trụ diệt)".
Chư vị chứng đến độ thoát tất cả khổ ách, vượt khỏi vòng luân hồi, đắc được thân kim cang bất hoại. Khi ấy nhị tử mãi không mất. Sao gọi là nhị tử ? Có phải là chết hai lần không ? Không phải là chết hai lần mà là hai lần chết. Một lần là phần đoạn sanh tử. Một lần là biến dịch sanh tử. Gọi là hai lần chết.
Khi chứng quả A La Hán thì cắt đứt phần đoạn sanh tử.
Khi chứng quả vị Bồ Tát mới cắt đứt biến dịch sanh tử.
Nay, Bồ Tát Quán Thế Âm đã cắt đứt được biến dịch sanh tử. Chữ vong (mất), đây không phải là tử vong (chết mất). Trong sách đại học nói :" Nhi kim vong hỷ (như nay mất rồi)". Chữ 'vong' đọc là không. Chúng ta có thể đọc là vong, hay không cũng được, không cần giảng giải.
Hai loại chết này đều không.
"Ngũ trụ tận (tận hết năm trụ)". Nghĩa là năm trụ phiền não. Chúng là gì ?
Thứ nhất, kiến trụ phiền não, là trụ ái kiến.
Thứ hai, trụ ái dục.
Thứ ba, trụ sắc ái.
Thứ tư, trụ vô sắc ái.
Thứ năm, trụ vô minh ái.
Vì năm trụ ái này mà chúng ta sanh chấp trước, biến thành năm loại phiền não.
Bồ Tát Quán Thế Âm dẹp trừ hết năm loại phiền não này.
"Tiêu diêu pháp giới nhậm đông tây, (dạo chơi pháp giới khắp đông tây)".
Tiêu diêu có nghĩa là tự tại. Tự tại cũng là tiêu diêu. Tiêu diêu cũng là tự do. Tự do, nghĩa là an lạc, sung suớng. Sao an lạc sung sướng ? Vì có thể tùy tiện đi nơi này nơi nọ. "Nhậm đông tây", nghĩa là nếu chư vị muốn qua cõi tây phương cực lạc thì tùy ý mà đi. Muốn qua cõi đông phương Tịnh Lưu Ly Phật thì cũng có thể đi. Muốn đến cõi Ta Bà thì không thành vấn đề, cũng không cần hộ chiếu do tòa lãnh sự sứ quán cấp. Không có những thủ tục rườm rà. Nếu muốn đi thì cứ đi, nên gọi là tiêu diêu pháp giới. Pháp giới không phải chỉ trong vòng, đông tây, nam, bắc, mà cả trên dưới, mười phương. Chư vị muốn đi đến đâu thì đều được hoan nghinh khi đến những nơi đó. Không phải nói là muốn đi đến nơi kia, nơi kia không hoan nghinh tiếp đón chư vị, không cho nhập cảnh. Muốn đến nơi nào cũng được hết. Tiêu diêu pháp giới nhậm đông tây. Chư vị thấy cảnh giới này có an lạc lắm không, tự do lắm không ! Tiêu diêu, tự do, đó là tánh pháp giới chân chánh bình đẳng. Khi hai lần chết và năm trụ đều tận diệt thì đắc được tự do. Đó là tự do chân thật, an lạc chân thật, bình đẳng chân thật, và tiêu diêu chân thật. (Nguồn: Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh -1- HT Tuyên Hóa giảng)
+ Tu Tăng thượng tâm - 20. KINH AN TRÚ TẦM (Vtakkasanthàna Sutta).
Như vầy tôi nghe.... Thế Tôn thuyết giảng như sau: Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng.
Ở đây, Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác; chư Tỷ-kheo, cũng vậy, khi một Tỷ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: "Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo". Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy nhờ quán sát... nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi không ức niệm, không tác ý... được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục... được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: "Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại". Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: "Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại". Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: "Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống". Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: "Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống". Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy tác ý đến... (như trên)... được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ... đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục... liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong... được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh.
Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Chư Tỷ kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Tỷ-kheo ấy, nhờ quán sát sự nguy hiểm các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Tỷ-kheo ấy, nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Tỷ-kheo ấy tác ý hành tướng các tầm và an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Nguồn: 20.Kinh An Trú Tầm)
+ Tóm lược Sách: Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn - Externalisation of the Hierarchy (SHLCTĐ/ EXH)
+ Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn Xem: Sơ đồ Huyền giai Thái dượng - Hành tinh - Tinh thần/ Thánh đoàn
+ Tùy duyên: Đức Phật nói rằng: “Duyên đến nên quý, duyên hết nên buông. Hoa nở là hữu tình, hoa rơi là vô ý. Người đến là duyên khởi, người đi là duyên tàn. Duyên sâu thì hợp, duyên mỏng thì tan. Vạn pháp do duyên, vạn sự tùy duyên”. Người nên đến thì sẽ đến, người muốn đi thì đừng nên níu kéo. Đừng ép người, đừng ép mình, đừng bận tâm, đau lòng chỉ vì một chuyện, sống trên đời nên học cách "tùy duyên".(Nguồn: Nhân duyên - N.T. Bích Vân)
+ Duyên nợ: Đức Phật có câu: “Bất luận bạn gặp ai, người đó là người cần xuất hiện trong cuộc đời của bạn, tuyệt đối chẳng phải ngẫu nhiên, người đó sẽ dạy cho bạn một điều gì đó”. Đây đều là “nhân duyên” quyết định..... Mỗi người đến với thế gian đều có một số phận, một sứ mệnh khác nhau, có người mang đến cho ta niềm vui, niềm hạnh phúc, có người lại mang đến sự buồn phiền, khổ đau, sự oán trách, dằn vặt.
Phật dạy rằng, kiếp trước 500 lần ngoái đầu nhìn lại mới đổi được kiếp này một lần gặp thoáng qua. Cuộc đời ai cũng sẽ gặp một người mà ta yêu thương thật lòng, một người mà suốt đời này ta muốn gắn bó và ở cạnh bên nhưng đôi khi lại chẳng thể đến được với nhau. Đó là những người có duyên nhưng không có phận. Quả thực, duyên phận là điều gì đó rất kỳ lạ, không một ai có thể hiểu rõ và lý giải hết được. Những người “hữu duyên” vô tình quen biết nhưng lại thấu hiểu, yêu mến nhau. Có người dù xa lạ, dù chưa hề biết nhau nhưng vừa gặp mặt đã cảm thấy vô cùng thân thiết, quen thuộc như đã từng gặp nhau ở đâu rồi. Ngược lại, có những người vừa mới gặp đã thấy ác cảm, muốn tránh xa. Cũng có nhiều người có thể hài hòa với nhau, cảm mến nhau nhưng lại chẳng thể nào gần được nhau.
Đức Phật nói rằng: “Kiếp sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Con người gặp nhau là bởi chữ “duyên”, sống và yêu nhau là bởi chữ “nợ”. Có người lập gia đình nhưng cuộc sống của họ lại giống như một cơn ác mộng, họ sống trong khổ đau, trong muộn phiền, trong nước mắt. Họ ước giá như mình chưa từng bước vào cuộc hôn nhân bất hạnh này, họ đấu tranh, vẫy vùng để cố thoát ra nhưng cũng không tài nào dứt ra được. Tất cả là do nợ, vì chữ nợ mà dù muốn trốn tránh cũng không được, buông bỏ cũng không xong. Và rồi cho đến một thời điểm nào đó, hết nợ thì duyên cũng hết, họ rời xa nhau, đường ai nấy đi, thậm chí không còn bất cứ mối liên hệ với nhau hoặc nếu có gặp lại cũng vui vẻ, chứ không còn gây đau khổ cho nhau nữa. Rồi cũng có những người được hưởng hạnh phúc trọn vẹn từ cuộc hôn nhân của chính mình, họ được yêu thương, được chiều chuộng, được chở che. Với họ, gia đình là một tổ ấm thật sự, cuộc sống của họ tràn ngập tiếng cười, niềm vui và dường như chỉ có một gam màu hồng của hạnh phúc. Chứng tỏ phước đức của họ từ kiếp trước là vô biên. (Nguồn: Chữ Nhân - duyên - Nợ)
+ Nhân Duyên Tình Yêu nảy nở qua luân hồi: Ví dụ về Ngài A Nan - Đệ tử gần gữi của Đức Phật Thích Ca mâu Ni. Trích đoạn HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm: ... Trong 500 đời trước, A-nan và con gái của Ma-đăng-già đã là vợ chồng của nhau. Thế nên khi cô ta thấy A-nan, liền phải lòng – cô ta đã gặp lại chồng mình trong những đời trước. Tình yêu của cô ta đối với A-nan là không thể nào tránh khỏi được. Thực vậy, có lẽ họ đã có lời thề nguyền trong những kiếp trước. Trong kiếp sống sau cùng gần nhất, cô ta có lẽ đã nói với A-nan, “Trong tương lai, chúng ta sẽ làm vợ chồng nhau mãi mãi. Đừng bao giờ xa nhau.” Đó là lý do tại sao tình yêu giữa hai người quá mạnh đến mức họ yêu nhau ngay khi vừa thấy nhau. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương III)
+ Nợ nhau - Nhân Duyên trong đời quá khứ. Đức Phật nói 4 loại:
1) Loại thứ nhất là báo ân: Trong đời quá khứ, 2 bên có ân huệ với nhau, nếu chúng nó lại thấy quý vị, bèn đầu thai vào nhà quý vị, sẽ trở thành con hiếu, cháu hiền, đến để báo ân tình xưa.
2) Loại thứ hai là báo oán: Trong đời quá khứ, quý vị kết cừu hận với họ. Gặp gỡ lần này, họ đến làm con cái quý vị, mai sau lớn lên sẽ thành đứa con khiến cho gia đình suy bại, khiến cho quý vị nhà tan, người chết, nó đến để báo th quý vị..! Vì thế, chớ nên kết oán cừu với kẻ khác. Kẻ oán cừu bên ngoài có thể đề phòng, chứ họ đến đầu thai trong nhà quý vị, làm cách nào đây? Quý vị hại người đó hay hại chết kẻ đó, thần thức kẻ ấy sẽ đến làm con cháu trong nhà quý vị. Đó gọi là “con cháu ngỗ nghịch”
3) Loại thứ ba là đòi nợ: Trong đời quá khứ, cha mẹ thiếu nợ chúng nó, chúng nó đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai, ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, nó bèn ra đi.
4) Loại thứ tư là trả nợ: Con cái thiếu nợ cha mẹ quá khứ (hay đời quá khứ) hiện tai hay đời này gặp gỡ, nó phải trả nợ. Nó phải nỗ lực làm lụng để nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu nợ cha mẹ rất nhiều, nó cung phụng cha mẹ vật chất rất trọng hậu. Nếu thiếu nợ rất ít, nó lo cho cuộc sống của cha mẹ rất tệ bạc, miễn sao quý vị chẳng chết đói là được rồi - Hạng người này tuy có thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng thiếu lòng cung kính, chẳng có tâm hiếu thuận. Báo ân bèn có tâm hiếu thuận, chứ trả nợ chẳng có tâm hiếu thuận. Thậm chí trong lòng chúng nó còn ghét bỏ, chán ngán cha mẹ, nhưng vẫn cho quý vị tiền để sống, nhiều hay ít là do xưa kia quý vị thiếu chúng nó nhiều hay ít. (Nguồn: Bốn nhân duyên con cái đầu thai)
+ Sự trầm tĩnh hoàn toàn là dấu hiệu của việc kềm chế thể cảm dục một cách trọn vẹn, sao cho các xáo trộn tình cảm được khắc phục, hoặc là ít nhất được hạ giãm đến mức tối thiểu trong kiếp sống của vị đệ tử. Trên vòng xoắn ốc cao hơn, nó cũng là dấu hiệu của một năng lực hành động một cách tự do trên các phân cảnh Bồ Đề, nhờ bởi việc hoàn toàn thoát khỏi (và do hậu quả của sự quân bình) mọi ảnh hưởng và mọi xung lực vốn được thúc đẩy từ ba cõi thấp. Mẫu mực hay tính chất quân bình này hàm ý – nếu bạn suy nghĩ kỹ – một trạng thái trừu xuất của thể trí; không gì được xem như bất toàn (nonperfection) có thể tạo ra xáo trộn. Bạn có thể nhận biết một cách chắc chắn rằng nếu bạn hoàn toàn thoát khỏi mọi phản ứng tình cảm thì trí óc bạn sẽ sáng suốt và năng lực suy tư sáng suốt của bạn sẽ tăng lên một cách phi thường với tất cả những gì mà nó có liên quan tới. Dĩ nhiên, sự trầm tĩnh hoàn toàn của một đệ tử được điểm đạo thì khác với sự trầm tĩnh của một Chân Sư được điểm đạo, vì một bên liên quan đến tác dụng của ba cõi thấp hay là phi tác dụng của chúng, còn bên kia thì liên quan đến khả năng thích nghi với tiết điệu của Tam Thượng Thể Tinh thần. Tuy nhiên, kiểu quân bình trước phải đi trước cái thành quả sau, đó là chỗ nghiên cứu vấn đề của tôi. Sự trầm tĩnh hoàn toàn này (vốn là điều có thể đạt được đối với bạn) được đạt đến bằng việc chế ngự các lực kéo, các thôi thúc, các xung lực và các thu hút của bản chất cảm dục, và cũng bằng việc thực hành điều mà trước đây tôi có nhắc đến: Sự điềm nhiên thiêng liêng. (CTNM, 672–673)
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19)
| Vấn đề | Nhóm bí truyền | Cung | Các đặc tính cung |
| Lo lắng | Sự kích thích – sự giác ngộ | 4 | Các đặc tính cao/thấp |
| Bệnh tự kỷ | Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ? | ||
| Tính lưỡng cực (tính khí hay thay đổi) | Sự kích thích – sự giác ngộ | 4 | Các đặc tính cao/thấp |
| Ảo giác | Sự kích thích – Ảo cảm | 6, 2 | Thu hút sự tập trung vào trong/lên trên |
| Sự trầm cảm | Sự kích thích – sự giác ngộ | 4 | Các đặc tính cao/thấp |
| Mất sinh lực | Các vấn đề của nhà thần bí/đệ tử | 6, 2 | Thu hút sự tập trung vào trong/lên trên |
| Những rối loạn phân ly – Tâm thần phân liệt | Sự Chia Rẻ | 4 | Sự phân cực |
| Rối loạn nhận thức | Sự kích thích – Ảo cảm | 6 | Năng lượng liên quan đến cõi cảm dục |
| Cuồng tín | Sự tích hợp | 6 | |
| Ảo tưởng | Sự kích thích – Ảo tưởng | 5 | Năng lượng liên quan đến trí cụ thể |
| Hoang tưởng tự đại | Sự kích thích | 1, 5, 7 | Lực mạnh mẽ, ý chí trí tuệ |
| Định kiến | Sự kích thích – Sự hướng nội về trí tuệ. Sự kích thích – Ảo tưởng | 5 | Năng lượng liên quan đến trí cụ thể và cõi trí |
| Sự xúc động trí tuệ | Sự kích thích – sự giác ngộ | ||
| Tính tự yêu mình | Sự tích hợp – Tính cực ích kỷ | 1, 7 | |
| Rối loạn xung lực ám ảnh | Sự kích thích – Sự hướng nội về trí tuệ | 7 | Có khuynh hướng ám ảnh mang lại trật tự |
| Tâm linh, thần bí | Các vấn đề của các nhà thần bí, đệ tử | 6,2 | Thu hút sự tập trung vào trong/lên trên, khuynh hướng quá đa cảm |
| Chứng tâm thần phân liệt | Sự kích thích – sự giác ngộ | 4, 6 | Các đặc tính cao/thấp, và 6 thì quá đa cảm |
| Chứng tâm thần phân lập | Sự Chia Rẻ | 4 | Sự phân cực |
+ Các giấc mơ liên quan với kế hoạch thế gian, kế hoạch thái dương và hệ thống vũ trụ: Các giấc mơ này có thể phân loại hoàn toàn từ bộ óc điên loạn và các kinh nghiệm ghi nhận được của người bất bình thường về tâm thần đến giáo huấn minh triết và chín chắn của các Thức giả trên thế gian. Giáo huấn này được truyền đạt cho các đệ tử trên thế gian và có thể được họ xem như hoặc là một diễn đạt do linh hứng, hoặc là một giấc mơ có ý nghĩa sâu xa. Cần nên nhớ rằng trong cả hai trường hợp (bất bình thường về tâm thần và vị đệ tử có luyện tập) đều có tình trạng giống nhau; có một con đường trực tiếp từ linh hồn đến bộ óc. Điều này đúng cho cả hai loại. Các giấc mơ hay các giáo huấn được ghi nhận này cho thấy một trình độ tiến hóa cao. (TLHNM–II, 499–510)
+ Định luật về Bất Toàn (Law of Imperfection): Định luật Bất toàn tồn tại vì các Đại Thực tại (có trong mọi thế giới hiện tượng) cũng đang ở trong tiến trình phát triển và khai mở tiến hóa. Do đó, chỉ khi nào các Ngài, các Đấng Tinh thần, đã mở được “Sự kềm chế cao cả” (“Sublime control”) – như thường được gọi – chất liệu của các sắc tướng cõi hiện tượng của các Ngài, các hình tướng này mới đạt tới mức hoàn thiện thiêng liêng. Bệnh tật chỉ là một hình thức bất toàn tạm thời, còn sự chết chỉ là một phương pháp để tái tập trung năng lượng, trước khi có một hoạt động thôi thúc tiến tới, đưa đến việc cải thiện ổn định mãi mãi. (CTNM, 297)
+ Tâm Ta là Oan gia: Phật nói: .... Nếu có Hiền giả sống ở gia đình mà hành đạo, nhàm chán tất cả sự vật nơi thế gian, biết rằng tất cả đều khổ, không, vô ngã nên muốn xuất gia. Vì đạo mà từ bỏ vợ con, nhà cửa, tìm minh sư để thọ trì pháp phục. Gần ngày ra đi, vợ con quyến luyến, than khóc, buồn thương ai oán. Thấy sự biệt ly đau khổ này, Hiền giả buồn bã liền thay đổi ý chí. Vì bị vợ con làm mê hoặc, nên không còn ý chí xuất gia. Giống như con voi bị sợi tóc quấn chân, không thể cử động được, do đó luôn đau khổ. Phật nói:
– Tất cả sức mạnh không gì bằng tâm. Tâm là oan gia, nó luôn lừa gạt người. Tâm dẫn vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trời, người, hình tướng ra sao đều do tâm làm ra. Nếu chiến thắng được tâm để hành đạo thì sức mạnh ấy rất lớn. Ta chiến đấu với tâm phải trải qua vô số kiếp, nay mới được thành Phật. Một mình đi trong ba cõi đều do tâm dẫn lối....
Cha con, vợ chồng, anh em trong nhà, bạn bè, đầy tớ đều có năm nhân duyên: Oan gia - Mắc nợ - Đền trả - Nguyện cũ - Thân thiết.
– Sao gọi là oan gia? Như cha con, vợ chồng, anh em, dòng họ, bạn bè, đầy tớ sống gần gũi bên nhau nhưng giết hại nhau. Đó là oan gia.
– Sao gọi là mắc nợ? Như cha mẹ gom góp tài sản, bị con tiêu dùng phung phí. Đó là mắc nợ.
– Sao gọi là đền trả? Như con cái gom góp tài sản đem cung cấp cho cha mẹ. Đó là đền trả.
– Sao gọi là nguyện cũ? Đời trước phát nguyện muốn làm cho gia đình có tâm thiện, hoan hỷ, cung kính hòa thuận nhau. Đó là nguyện cũ.
– Sao gọi là thân thiết? Đời trước lấy đạo pháp làm nhân duyên, thờ kính lẫn nhau, sau này cùng nhau ở trong pháp sáng suốt, tinh tấn, ý chí hòa thuận. Đó là thân thiết. (Nguồn: Kinh Ngũ Khổ Chương Cú)
+ Oan gia nghiệp báo oán nương gá vào súc sanh hay Vật dụng: ... Có những chúng sanh oán thù không thể phá hoại trực tiếp, chúng sẽ nương gá vào những con thú cưng, hoặc những vật mà mình luyến ái để quấy nhiễu mình. Vì vậy người tu đạo phải buông xả, không nên luyến ái bất kỳ thứ gì. Tuy nhiên buông xả không phải là vô tình vô nghĩa, mà là để giữ tâm không bị lay động, mới đạt được Tam muội bất động.
- Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy rằng oan gia trái chủ có thể nhập vào súc sinh, thân nhân, hoặc thậm chí đệ tử của mình để gây chướng ngại. (Bình Anson, dịch, 2018)
=> Luyến ái (Attachment) trở thành cửa ngõ: Khi ta khởi tâm sở hữu, chấp trước, hoặc coi con thú cưng như mạng sống của mình, sẽ tạo duyên cho những chúng sanh này mượn để chi phối ta. Đây cũng là cách ái thủ hữu (愛取有) trong 12 nhân duyên vận hành. (Tuyên Hóa Thượng Nhân Pháp Ngữ, tập 2, Vạn Phật Thánh Thành)
+ Tình yêu: Nhà tâm lý học người Mỹ Robert Sternberg phân loại tình yêu, với 3 thành phần: Cảm xúc yêu thương, đam mê và sự gắn bó.
1. Say mê/ Điên cuồng: Đây là khoảng thời gian mà mọi người hầu như không biết nhau, nhưng lại cảm thấy một sự hấp dẫn lẫn nhau. Họ không chắc có điểm chung nào, nhưng họ vẫn ở bên nhau. Sự mê đắm này có thể biến đổi thành một cái gì đó hoàn chỉnh hơn theo thời gian, thường ít sảy ra.
2. Thích nhau: Bạn luôn có thể là chính mình. Trong loại tình yêu này, mọi người thường được thống nhất bởi những sở thích chung, quan điểm về cuộc sống và cảm giác được hiểu. Sự thân mật như vậy mà không có niềm đam mê và cam kết sẽ có nhiều khả năng dẫn đến tình bạn hơn là tình yêu chính thức.
3. Tình yêu trống rỗng: Các cặp vợ chồng trải qua loại tình yêu này chỉ có cam kết mà không có sự thân mật và đam mê. Đôi khi loại mối quan hệ này xuất hiện sau một tình yêu lớn, nhiệt tình, và đôi khi ngược lại: những người trải nghiệm tình yêu trống rỗng có thể thay đổi, điều đó làm tăng thêm niềm đam mê với cảm xúc của họ.
4. Tình yêu lớn/ Ngốc nghếch: Loại tình yêu này bao gồm cam kết và niềm đam mê và quen thuộc với nhiều cặp vợ chồng. Đây là loại tình yêu tồn tại khi 2 người thực sự thu hút lẫn nhau và sẵn sàng theo một số truyền thống như đám cưới xa hoa, trao đổi lời thề, và chia sẻ trách nhiệm gia đình, nhưng không có sự thân mật thực sự. Các cặp vợ chồng như vậy có thể sống cùng nhau trong một thời gian dài, nhưng hạnh phúc của họ là tương đối. Trong thực tế, họ không cảm nhận được bạn đời của mình như một người bạn.
5. Tình yêu lãng mạn: Loại tình yêu này bao gồm niềm đam mê và sự thân mật. Những người trong các cặp vợ chồng như vậy được thu hút với nhau và cảm thấy thoải mái bên cạnh nhau, nhưng họ không sẵn sàng để thực hiện các cam kết nghiêm trọng. Thường không đạt đến mức sống chung hay hôn nhân.
6. Đồng hành: Tình yêu đồng hành bao gồm cam kết và thân mật. Các mối quan hệ như vậy mạnh hơn nhiều so với tình bạn bình thường, và có một sự gắn kết thực sự giữa các đối tác. Tuy nhiên, đây là một thỏa thuận khá trinh tiết bởi vì loại tình yêu này thiếu niềm đam mê. Thường có thể phát sinh sau nhiều năm của một người quen hay hôn nhân.
7. Tình yêu trọn vẹn/ Tuyệt vời: Tình yêu này bao gồm tất cả 3 thành phần: niềm đam mê, sự thân mật tình cảm và cam kết. Tất nhiên, mức độ của họ không phải lúc nào cũng bằng nhau, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là tất cả họ đều ở đây. Bạn hiếm khi có thể thấy loại mối quan hệ này, nếu có thì thật tốt.
+ Các nhà tâm lý học chắc chắn rằng một người trải nghiệm nhiều loại tình yêu khác nhau trong cuộc đời của họ. (Xem: Bảy loại Tình Chí)
+ Bản chất tình yêu: Khi tình yêu lên đến cực điểm, thì nó trở lại chỗ đối nghịch với nó, đó là ghét. Tại sao cái ghét phát sinh?. Vì có yêu. Vì sao có yêu? Vì có ghét. Và điều gì tiếp tục xảy ra giữa những cặp vợ chồng, cha mẹ và con cái là chuyện của những nhân trong quá khứ đã kết thành quả trong đời hiện tại. Một số vợ chồng ‘tương kính như tân – xem trọng nhau như khách.’ Họ rất tôn trọng lẫn nhau. Phụ nữ Trung Hoa mỗi khi mang thức ăn cho chồng đều dùng hai tay nâng lên ngang lông mày của mình, trong phong thái rất kính trọng. Người chồng cũng rất tôn trọng người vợ mình, họ giống như những người bạn thân thiết. Không có tình cảm thấp hèn nơi họ. Thế nên nếu những cặp vợ chồng vốn đã có quan hệ thân thiết từ nhiều đời trước, thì đời nay họ sẽ rất hợp nhau. Người chồng không được làm điều gì xúc phạm đền người vợ và người vợ cũng không được làm điều gì tổn thương đến người chồng. Khi một cặp vợ chồng có sự thân thiết, hai người đều giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Nếu người vợ bị bệnh, người chồng phải nhanh chóng tìm bác sĩ để chữa trị. Nếu người chồng mệt nhọc, người vợ phải tìm cách để chồng mình được nghỉ ngơi. Có nhiều cặp vợ chồng đến với nhau với những nguyên nhân không thuận. Cũng vậy, đó là do những nhân oán hận nhau trong đời trước, đời nầy họ tìm đến với nhau, bất luận người chồng nói điều gì, người vợ cũng cãi lại. Bất luận người vợ suy nghĩ điều gì, người chồng cũng bác bỏ. Đời sống gia đình trở nên hoàn toàn rối rắm và luôn luôn có sự tranh cãi nhau từ sáng đến tối. Chồng đánh vợ, vợ trả đũa bằng cánh đánh vào đầu chồng, nên người chồng rất ngượng ngùng khi ra ngoài công chúng. Như vậy có phải khổ không? Bắt đầu với tình yêu và chấm dứt bằng sự oán hận. Thế nên người ta nói tình yêu là đồng nhất với đau khổ.
Suốt ngày người ta nói yêu, yêu, yêu. Yêu cái gì? Yêu ngày này qua ngày khác, Yêu cho đến chết. Nhưng nói thử xem, quý vị yêu ai? Nếu hiểu được đạo lý nầy, hai thứ khổ yêu và ghét sẽ không còn nữa. Nếu quý vị không hiểu đạo lý này, thì cả hai thứ khổ ắt vẫn xung khắc nhau. Do vậy, chúng ta tu tập để giác ngộ, để hiểu rõ, để chúng ta không bị xoay chuyển bởi cảnh khổ nầy. Nên đừng yêu và ghét gì cả. Đó chính là Trung đạo.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương III)
+ Tình yêu bền vững: Truyện hòn Đá hỏi Đức Phật về Tình yêu. Đức Phật cười cười nói: ...."Sau khi tình yêu đã đến một mức độ nhất định, nó sẽ biến thành tình thân. Lúc này, con sẽ coi cô ấy là một phần không thể thiếu trong cuộc đời con, như vậy con cũng càng thêm lòng bao dung và thấu hiểu đối phương. Chỉ có tình thân mới là thứ ông trời sắp đặt sẵn khi con mới chào đời...... "Tình yêu bắt đầu từ sự tán thưởng lẫn nhau, vì rung động mà yêu nhau, vì không thể tách rời mới quyết định đi đến hôn nhân. Nhưng muốn bên nhau trọn đời quan trọng nhất cần có sự bao dung và thấu hiểu lẫn nhau, chấp nhận khuyết điểm của nhau". (Nguồn: Câu chuyện về Đức Phật và hòn đá)
+ Tùy duyên: Đức Phật nói rằng: “Duyên đến nên quý, duyên hết nên buông. Hoa nở là hữu tình, hoa rơi là vô ý. Người đến là duyên khởi, người đi là duyên tàn. Duyên sâu thì hợp, duyên mỏng thì tan. Vạn pháp do duyên, vạn sự tùy duyên”. Người nên đến thì sẽ đến, người muốn đi thì đừng nên níu kéo. Đừng ép người, đừng ép mình, đừng bận tâm, đau lòng chỉ vì một chuyện, sống trên đời nên học cách "tùy duyên".(Nguồn: Nhân duyên - N.T. Bích Vân)
+ Ngộ chữ Ý trong Thân Khẩu Ý thuộc Thập thiện - Trí phân biện hay Trí tuệ phân biện hay Trí huệ
Bèn xin mẹ đi học đạo. Bà bằng lòng. Hiền Nhân đi, ròng rã tìm được bực minh sư xin làm Sa môn, vào núi tu hành. Chẳng bao lâu, Hiền Nhân tự ngộ được ý:
1. Thương xót chúng sanh như mẹ thương con.
2. Muốn độ thoát cho thế gian khốn khó.
3. Dứt trừ được tâm niệm ngu si.
4. Gặp vui không mừng mà gặp khổ cũng không lo ngại.
5. Hiểu được ý đạo, tâm thường vui vẻ.
6. Giữ gìn không phạm một tội lỗi nào.
7. Dứt trừ được tham, dâm.
8. Dứt trừ được sự giận dữ.
Người lại còn trừ được năm món dục lạc. Mắt không còn tham đắm hình sắc trần gian. Tai không còn tham đắm âm thanh vi diệu. Mũi không nhiễm mùi hương ngây ngất. Lưỡi không ưa thích vị ngon và thân không còn ưa lụa là và cảm giác êm dịu. (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Chữ Ý trong Tâm Ý: Tâm con người như con ngựa hoang, Ý như con khỉ. Tâm viên ý mã: Tâm như vượn leo trèo, ý như ngựa chạy rong. Nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho vọng tâm của người ta luôn luôn biến động bất định, gần giống với ý nghĩa của từ ngữ Tam tâm nhị ý. (Trích "Từ Điển Phật Quang")
+ Tâm Ý: Tâm con người như con ngựa hoang, Ý như con khỉ. Nếu không bắt kéo lại thì nó (Tâm) luôn lôn chạy khắp nơi, tinh thần phân tán làm hao phí nguồn lực quí báu của tự tính. Làm sao để khiến cho con khỉ (Ý) lão lão thực thực, khiến con ngựa hoang (Tâm) không thể không giữ quy cụ, phải bắt giữ tâm viên ý mã lại. Bắt thế nào, phải dùng "vòng kim cô" trói lại, và niệm chú "Khẩn Cô" như trong Tây Du Ký, Đường Tăng niệm Chú Khẩn Cô cho Tôn Ngộ Không khiến con khỉ mới lão thực.
+ Tâm viên ý mã (心猿意馬): Tâm như vượn leo trèo, ý như ngựa chạy rong. Nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho vọng tâm của người ta luôn luôn biến động bất định, gần giống với ý nghĩa của từ ngữ Tam tâm nhị ý. (Trích "Từ Điển Phật Quang")
+ Sức tâm: Tất cả sức mạnh không gì bằng tâm. Tâm là oan gia, nó luôn lừa gạt người. Tâm dẫn vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trời, người, hình tướng ra sao đều do tâm làm ra. Nếu chiến thắng được tâm để hành đạo thì sức mạnh ấy rất lớn. Ta chiến đấu với tâm phải trải qua vô số kiếp, nay mới được thành Phật. Một mình đi trong ba cõi đều do tâm dẫn lối....
Cha con, vợ chồng, anh em trong nhà, bạn bè, đầy tớ đều có năm nhân duyên: Oan gia [Giết hại nhau] - Mắc nợ - Đền trả - Nguyện cũ - Thân thiết.
– Sao gọi là oan gia? Như cha con, vợ chồng, anh em, dòng họ, bạn bè, đầy tớ sống gần gũi bên nhau nhưng giết hại nhau. Đó là oan gia.
– Sao gọi là mắc nợ? Như cha mẹ gom góp tài sản, bị con tiêu dùng phung phí. Đó là mắc nợ.
– Sao gọi là đền trả? Như con cái gom góp tài sản đem cung cấp cho cha mẹ. Đó là đền trả.
– Sao gọi là nguyện cũ? Đời trước phát nguyện muốn làm cho gia đình có tâm thiện, hoan hỷ, cung kính hòa thuận nhau. Đó là nguyện cũ.
– Sao gọi là thân thiết? Đời trước lấy đạo pháp làm nhân duyên, thờ kính lẫn nhau, sau này cùng nhau ở trong pháp sáng suốt, tinh tấn, ý chí hòa thuận. Đó là thân thiết. (Nguồn: Kinh Ngũ Khổ Chương Cú)
+ Hôn nhân (Mariage relation) với Vị Thầy Đắc Đạo: Nhiều vị điểm đạo đồ đã đạt được mục tiêu khi tham dự vào quan hệ hôn nhân một cách khôn ngoan và thích đáng. Vị điểm đạo đồ vun bồi cách hành xử đặc biệt của trí tuệ, nhận thức rằng mọi hình thức biểu lộ đều thiêng liêng, và cõi trần cũng là một hình thức biểu lộ thiêng liêng như bất cứ cõi cao nào. Vị điểm đạo đồ hiểu rằng biểu hiện thấp nhất của thiên tính phải ở dưới sự kềm chế hữu thức của thiên tính nội tại đó, mọi loại hành vi nên được điều hòa bằng việc cố gắng làm tròn mọi bổn phận và nghĩa vụ, kềm chế mọi hành động, dùng thể xác để giúp ích cho sự tiến bộ tinh thần của tập thể và hoàn thành định luật. ...
Trong nhiều trường hợp, các đệ tử điểm đạo và các Chân Sư vẫn lập gia đình và hoàn thành bổn phận một cách bình thường với tư cách người chồng, người vợ, hoặc gia trưởng, nhưng mọi việc đều được kềm chế và điều chỉnh theo Thiên Ý (purpose) và Thiên Lý (intention) và không một chút gì bị lôi cuốn bởi đam mê hay dục vọng. (ĐĐNLVTD, 204–205)
+ Lẽ trời (Intention): X. Thiên lý.
+ Thiên Ý (Purpose or the Will of God, Divine Purpose): – Thiên Ý thì thường tồn (permanent), viễn lự (farsighted), bất biến (unalterable) và dùng làm Ý Niệm Vĩnh Cửu. (CVĐĐ, 50)
+ Thiên Ý hiển lộ qua Thiên Cơ (Plan). (CVĐĐ, 703)
+ Ðức Phật dạy: Kẻ đại ác, đại khái có 15 tội nặng - Tội của kẻ phàm ngu:
1. Một là sát sanh;
2. Hai là trộm cắp;
3. Ba là quen thói dâm ô;
4. Bốn là dối trá;
5. Năm là nịnh hót;
6. Sáu là chuốt ngót;
7. Bảy là gièm pha;
8. Tám là khinh bực hiền sĩ;
9. Chín là tham sự ô trược;
10. Mười là buông lung;
11. Mười một là say sưa;
12. Mười hai là ganh ghét kẻ hiền;
13. Mười ba là hủy báng đạo đức;
14. Mười bốn là sát hại thánh nhân;
15. Mười lăm là không kể tội lỗi.
- Trong kinh có câu: "Gian ngược, tham lam, oán người lương thiện, làm việc bất chính, thì khi chết, đọa vào ác đạo." (Nguồn: Kinh Hiền Nhân)
+ Kẻ đáng sợ - Ác nhân theo Thiền sư dậy:
- Những kẻ mặt mũi đẹp đẽ, ăn mặt sang trọng, nói năng ngọt ngào nhưng trong lòng chứa đầy âm mưu thủ đoạn lường gạt hại người, kẻ đó mới đáng sợ.
- Những kẻ hành tà đạo, tôn thờ thần linh, ma quỷ nhưng nói ra toàn chuyện đạo đức giả hình, biến người nghe thành những con cừu non khờ dại, kẻ đó mới đáng sợ.
- Những kẻ quản trị những công ty lớn, miệng nói trung thành, tín nhiệm nhưng gian tham, lường gạt khách hàng khiến cả trăm ngàn người tán gia bại sản, kẻ đó mới đáng sợ.
- Những kẻ âm mưu thống trị nhân loại nhưng nói ra toàn chuyện nhân nghĩa, đạo đức để lừa mị, kẻ đó mới đáng sợ.
- Những kẻ đứng sau lưng những thế lực đen tối, buôn bán nô lệ, đàn bà, trẻ em, đứng đầu những tổ chức trùm ma túy kết thành bè đảng Mafia, không chuyện tàn ác nào mà không dám làm, những kẻ đó mới đáng sợ.
- Những kẻ dùng ngòi bút, diễn đàn như gươm súng để đàn áp người cô thế, đầu độc dư luận, bóp méo sự thật, phỉ báng, vu oan giá họa người lương thiện như thế mới đáng sợ.
Còn như ông (Người có tướng mạo hung ác) thì chẳng có gì đáng sợ cả. (Nguồn: xem mục Chỉ rõ chỗ hư vọng của sáu căn)
+ Thế nào là người ác? Ðó là người không biết đạo lý, chuyên làm việc giết người, đốt nhà. Lý lẽ của họ là: "Của anh là của tôi, của tôi cũng là của tôi. Tiền của anh là của tôi, tiền của tôi lại là của tôi." Quý vị xem việc đó có đúng đạo lý không? Những người ác đó có cường quyền mà không có công lý. Họ chỉ dùng thế lực để hiếp đáp người khác mà không kể đến công lý là gì. Quý vị chạy đi đâu, họ cũng theo quý vị đến đó, luôn luôn canh chừng quý vị. Giả sử quý vị bị những người ác như thế rượt đuổi, nhơn một lúc sơ hở không cẩn thận, không chú ý, quý vị bị rơi vào vực sâu muôn trượng của núi kim cương.
Oán tặc: Phía trước đềụ cập đến người ác là những người còn có chút kiêng dè, không phải là hại người công khai. Oán tặc nói ở đây chính là kẻ ngang nhiên đánh cướp của cải, giết người đốt nhà, không việc ác nào chẳng làm. Những gì chúng ta gặp phải đều có quan hệ nhân quả đời trước. "Oán tặc" chính là những người có oán hận với ta, hoặc là đời trước ta từng trộm cắp đồ vật của họ, hoặc giết hại họ, hoặc có điều không phải với họ, cho nên đời này mới gặp nhau liền biến thành oán tặc. Ấy gọi là: "Giết người phải thường mạng, thiếu nợ phải trả tiền." Quý vị giết người ta, người ta cũng sẽ giết lại quý vị; quý vị cướp của người, thì phải trả tiền lại cho họ. Tất cả mọi thứ đều có sự quan hệ liên đới. (Nguồn: Kinh Pháp Hoa - Phẩm Phổ Môn)
+ Người ác: Tất cả vua của quỷ thần đều có oai đức lớn. Họ có thể chém yêu quái, trừ tai họa và chế phục bọn ngoại đạo. Họ dùng pháp Chiết Phục để hàng phục tất cả bàng môn tả đạo, ma mị yêu tinh, ngưu quỷ, xà thần. Phàm là những phần tử xấu, tà tri tà kiến, tà thuật tà pháp, họ đều có khả năng hàng phục hết. Họ có thể sanh thiện, diệt ác, trừ tà, phá ma.
Ác ma là ví cho những kẻ không màng chi đến đạo lý. Phàm những kẻ ngang ngược không màng đến lý lẽ thì rất quái gở và hống hách, họ đều là từ bọn ác ma chuyển thế mà thành. Quý vị có đối xử tốt với chúng bao nhiêu, chúng cũng không biết là quý vị tốt. Cho đến quý vị đem cả máu thịt mình mà hy sinh cho chúng, chúng vẫn không biết đủ, mà cũng chẳng cám ơn vì chúng có lòng tham không đáy. Tại sao vậy? Bởi chúng đã trải qua nhiều kiếp huân tập thói ác, cho nên các ác tập đó đã trở nên thâm căn cố đế, và tánh xấu được hình thành từ sự u tối gàn dở mà chúng lại không chịu sửa đổi. (Nguồn: HT Tuyên Hóa Khai thị 6)
+ Ác Tâm - Tâm Ác và Đối trị ác tâm - Đối trị tâm ác
Hiện tiền đại chúng, cần phát tâm lớn, tinh tiến sám trừ, tội căn nhỏ nhiệm, cố tu định huệ, mong cầu cho được, cáí tâm sáng suốt. Bởi vì lòng người, vốn là huyễn hoặc, tội khó định luận, vả lại thiện ác, chia thành hai đường, thuận nghịch khác nhau. Nếu tạo tội ác, nghịch với Niết Bàn, thuận với sinh tử. Muốn rõ thuận nghịch, lược kể mười tâm:
1. Một là vô minh, điên đảo mờ mịt, phiền não mê hoặc, xúc cảnh sinh tâm, gây nên tội ác, chịu mọi khổ não;
2. Hai là gặp gỡ, những bạn xấu xa, bắt chước lẫn nhau, tâm ác càng mạnh, tạo nên tội nghiệp, phải đọa địa ngục, chịu mọi khổ não.
3. Ba là tự mình, trói buộc tâm mình, tự hủy thiện tâm, ác nghiệp sâu nặng, thiện nghiệp mỏng manh, cho nên làm ác, chịu mọi khổ não.
4. Bốn là trong ngoài đều đủ, tự chẳng tu thiện, còn phá người khác, đối với việc thiện, lòng không vui mừng, vì thế gây tội, chịu mọi khổ não.
5. Năm là khinh khi người hiền, tự khen đức mình, sinh tâm kiêu ngạo, không lòng cung kính, vì thế tạo tội, chịu mọi khổ não.
6. Sáu là ỷ mình giầu có, quyền thế cao sang, phóng túng dông dỡ, tha hồ làm càn, vì thế gây tội, chịu mọi khổ não.
7. Bảy là không nhận khuyết điểm, che dấu lỗi lầm, bề trong độc ác, ngoài hiện hiền lành, bởi thế gây tội, chịu mọi khổ não.
8. Tám là thân hình khỏe mạnh, bảo mình không chết, vọng tưởng tham cầu, không sợ nẻo ác, vì thế tạo tội, chịu mọi khổ não.
9. Chín là ngoan cố hung hãn, càn dỡ thô bạo, không có liêm sỉ, bởi thế gây tội, chịu mọi khổ não.
10. Mười là bác luật nhân quả, không tin thiện ác, dứt mọi căn lành, thành kẻ bất tín, bởi thế tạo tội, chịu mọi khổ não.
Mười tâm như thế, đều do ba độc, tạo nên kết nghiệp, không ngày giải thoát, hết mê đến mê, từ ám tới ám, mãi đọa địa ngục, không ngày thoát ly. Duy có chư Phật, thương xót chúng sinh, như lũ con đỏ, dùng mọi phương tiện, mở cửa giải thoát, lập ra sám pháp, dựng đạo tràng này, để cho mọi người, giãi bầy sám hối, đổi các lỗi lầm, bỏ ác làm lành.
Có mười tâm thiện, đối trị tâm ác, như dã kể trên, hiện tiền đại chúng, nên phải dốc lòng, chí thành tưởng niệm.
Một là tin luật nhân quả, không hề ngờ vực, làm thiện được phúc, lám ác chịu báo, nhân quả rõ ràng, nghiệp báo không mất. Lòng tin là gốc, người khôn nên nghĩ, tin chắc như tế, mới có ích lợi, tại đạo tràng này.
Hai là phương pháp diệt tội, hổ thẹn là gôc, sám hối là cần, những người hành đạo, một lòng chuyên chú, siêng tu thập thiện, đó là con đường, lợi ích thứ nhất, có thể tiêu trừ, tội ác sâu nặng. Có lòng hổ thẹn, ăn năn lỗi lầm, diệt trừ điên đảo, làm được như thế mới có ích lợi trong đạo tràng này.
Ba là sợ hãi vô thường, thân mệnh người ta, như sương buổi sớm, một mai chết đi, khó lại được nữa. Nếu biết sinh lòng, sợ hãi như thế, không dám tạo ác, cắt đứt nghiệp duyên, hiểu được như vậy, mới có lợi ích, trong đạo tràng này.
Bốn là chí thành giãi bầy, khẩn cầu sám hối, các tội đã gây, từ trước đến nay, thề không làm nữa, không dám dấu diếm. Tỏ bầy như vậy, mới có lợi lộc, trong đạo tràng này.
Năm là dứt hết tâm ác, không cho tiếp tục, không cho nẩy mầm, quyết tâm mạnh mẽ, chính niệm bền bỉ, diệt trừ ác nghiệp, có được như thế, mới là sám hối, tại đạo tràng này.
Sáu là mở lòng Bồ Đề, nguyện cứu hết thảy, cùng vượt bến mê, để sang bờ giác. Tâm nguyện rộng lớn, bao trùm tất cả. Phát tâm như thế, mới có ích lợi, trong đạo tràng này.
Bảy là sửa công lập đức, trong tu trí tuệ là công, ngoài hành tinh tiến là đức; hăng hái chăm chỉ, diệt tâm lười biếng, như thế mới có ích lợi, trong đạo tràng này.
Tám là ủng hộ Chính Pháp, không theo tà sư, cầu cho Phật pháp, tồn tại lâu dài, để làm bè Từ, giữa nơi bể khổ, cứu vớt chúng sinh. Diệt lòng tà kiến, sinh tâm chính tín, mới có lợi lộc, trong đạo tràng này.
Chín là xin mười phương Phật, từ bi gia hộ, giúp đỡ đại chúng, đạo phẩm cao thêm, trí tuệ sáng suốt, thường nhớ ân đức, lập chí báo đền, thường phát từ tâm, cứu giúp hết thảy. Nếu được như thế, mới có lợi ích, tại đạo tràng này.
Mười là quan sát tội tính, vốn nó là không, tội từ tâm sinh, cũng từ tâm diệt, tội phúc không chủ, đều không thể được, không trong, không ngoài, chẳng ở quãng giữa, không phải là thường, cũng không phải đoạn, không có, không không, là pháp vô tác, như như tự tại. Nhưng vì chấp trước, mới gọi tội phúc, xét đến ngọn nguồn, tâm cảnh đều không, vắng lặng bất động. Đó là phá trù cái tâm vô minh chấp trước. Vô minh diệt rồi, sống chết cũng hết. Mười hai nhân duyên, là gốc luân hồi, cũng là khổ tập, gốc của sinh tử. Nhân quả đều mất, Thánh phàm không khác, trí tuệ bình đẳng, sáng suốt tròn đầy, chiếu khắp mười phương. Vì thế nên biết, chư Phật, Bồ Tát, không ngoài tự tính. Trên báo ân Phật, dưới độ chúng sinh, lập nên Đại Đạo, gọi là Như Lai. ...(Nguồn: Kinh Mục Liên Sám Pháp)
+ Chúng A Tu La - Tâm ác độc: Dục giới là nơi có năm loài chúng sanh ở lẫn lộn gọi là ngũ thú tạp cư địa. Năm loài này gồm Trời, Người, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục. Ở đây chỉ nói đến năm loài thôi mà không nói đến loài A tu la vì loài này có thể hiện thân là bất cứ loài nào trong năm loài trên. A tu la là một loài rất sân và ác độc; nếu ở trên trời thì là một vị ác thần; nếu là người thì là một ác nhân như những tên sát nhân, những tướng cướp hung dữ, những cường hào ác bá, những lãnh chúa độc tài; nếu ở trong loài súc sanh thì là loài ác thú như loài lang sói, hổ báo; nếu ở loài ma quỷ hay địa ngục thì là loài quỷ dữ chuyên quấy phá và não hại loài khác.(Nguồn: A Lại Da Thức - Duy Thức Học)
+ Chúng sanh cõi Trời - Người Phát thiện tâm thì ít, trong chốc lát - Phát ác tâm thì nhiều, lại kiên cố
Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mà bảo rằng: “Này Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn. Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàncủa ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được.
Này Địa Tạng! Địa Tạng! Ông hãy nhớ hôm nay Ta, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, cùng Thiên Long Bát Bộ, một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời, người, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam Giới, mà giao phó cho ông.
Ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A-tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi!
Này Địa Tạng! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này chí tánh không định, kẻ quen theo thói ác thì nhiều.”
Lược giảng:
Lúc đó, Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát mà bảo rằng...”
Trong Phật Giáo, xoa đảnh là một cử chỉ biểu lộ lòng từ bi ái hộ. Ở phẩm trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã xoa đảnh Bồ Tát Địa Tạng rồi, bây giờ Đức Phật lại đặc biệt xoa đảnh vị Đại Bồ Tát này thêm một lần nữa, rồi nói rằng: “Này Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông khó thể nghĩ bàn.” Thần thông của ông, năng lực của ông, thật không có vị Bồ Tát nào có thể sánh bằng! Sức thần thông này vốn chẳng thể suy lường, chẳng thể luận bàn—có thể nói rằng trội hơn tất cả và là một sự đặc biệt trong những sự đặc biệt—thần lực của Bồ Tát Địa Tạng thật chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được!
“Đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn.” Lòng từ bi của Bồ Tát Địa Tạng đối với chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được. Ngài từng phát nguyện rằng:
“Địa ngục chưa trống không, tôi thề chưa thành Phật,
Chúng sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Đề.”
Tâm lượng đại từ đại bi bao la như thế rất hiếm có. Các vị Bồ Tát khác, không có vị nào phát đại nguyện lực lớn lao dường ấy, chỉ có Bồ Tát Địa Tạng mới có nguyện lực đại từ đại bi như vậy.
“Trí huệ của ông không thể nghĩ bàn.” Trí huệ rộng lớn của Bồ Tát Địa Tạng cũng rất ít Bồ Tát có thể sánh kịp—cho đến đại trí đại huệ của Ngài cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được.
“Biện tài của ông không thể nghĩ bàn.” Có bốn loại biện tài vô ngại là Từ vô ngại biện, Nghĩa vô ngại biện, Nhạo thuyết vô ngại biện, và Pháp vô ngại biện. Tài biện luận không hề bị trở ngại của Bồ Tát Địa Tạng cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn được.
“Dầu cho chư Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự không nghĩ bàncủa ông, trong ngàn vạn kiếp cũng chẳng nói hết được!” Giả sử có thỉnh mời chư Phật trong khắp mười phương ngợi khen những kỳ tích bất khả tư nghị cũng như những sự vi diệu về thần lực, đức từ bi, trí huệ, cùng biện tài của Bồ Tát Địa Tạng, thì cho dù trải qua một ngàn đại kiếp, một vạn đại kiếp cũng không thể nào kể cho xiết, nói cho cùng được!
“Này Địa Tạng! Địa Tạng! Ông hãy nhớ hôm nay Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, trong cung trời Đao Lợi, nơi đại hội có trăm ngàn vạn ức không thể nói hết, không thể nói hết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, cùng Thiên Long Bát Bộ—trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, cùng nhân và phi nhân, một lần nữa đem các chúng sanh trong cõi trời, người—những chúng sanh ở cõi người và những chúng sanh trên cõi trời, những kẻ còn ở trong nhà lửa, chưa ra khỏi Tam Giới—Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, mà giao phó cho ông. Ta nay phó thác, gởi gắm những chúng sanh này cho ông!”
Vậy, “ông đừng để cho các chúng sanh đó bị đọa vào đường ác dù là một ngày một đêm, huống là để cho họ phải đọa lạc vào địa ngục Ngũ Vô Gián cùng địa ngục A-tỳ, trải đến ngàn vạn ức kiếp không lúc nào ra khỏi! Ông cần phải bảo hộ tất cả những chúng sanh đó, làm cho họ không bị đọa lạc vào ác đạo.”
“A-tỳ” cũng gọi là “vô gián”; địa ngục Đại A-Tỳ chính là địa ngục Đại Vô Gián.
Quý vị nên biết, một ngày một đêm ở cõi trời Tứ Thiên Vương dài bằng năm mươi năm ở cõi nhân gian của chúng ta; còn một ngày một đêm ở cõi nhân gian chúng ta thì dài bằng năm trăm năm ở chốn địa ngục. Tại sao như vậy? Bởi vì đời sống ở cõi trời vô cùng vui sướng, mà khi vui vẻ sung sướng thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất nhanh! Ở cõi nhân gian vì có khổ não, cho nên năm mươi năm của chúng ta là một thời gian rất dài, song đó chẳng qua chỉ bằng một ngày một đêm trên cõi trời mà thôi.
Lại nữa, một ngày một đêm ở cõi nhân gian của chúng ta thì tương đương với năm trăm năm ở chốn địa ngục. Nếu so với cõi nhân gian thì ở địa ngục còn thống khổ hơn nhiều, mà khi phải chịu thống khổ thì người ta cảm thấy thời giờ trôi qua rất chậm chạp. Như khi chúng ta phải làm một việc gì đó chẳng hạn, nếu trong lòng cứ đắn đo, phiền muộn, thì sẽ thấy ngày dài lê thê; còn nếu tâm trí thơ thới, vui vẻ, thì lại thấy thời giờ trôi qua vùn vụt, hết một ngày lúc nào không hay!
Sau khi căn dặn Bồ Tát Địa Tạng chớ để cho các chúng sanh đó bị đọa vào địa ngục Vô Gián dù chỉ trong một ngày một đêm, huống hồ là vĩnh viễn không có ngày được thoát ra, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: “Này Địa Tạng! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề này chí tánh không định, kẻ quen theo thói ác thì nhiều.”
Chí khí và tâm tánh của tất cả chúng sanh ở thế giới “kham nhẫn,” tức cõi Ta Bà ở Nam Thiệm Bộ Châu, đều không được an định, có lúc họ tin có lúc họ lại không tin, cứ luôn thay đổi. Đã thế, đa số lại tiêm nhiễm nhiều thói ác. Ví dụ có nhiều người, nếu quý vị mời họ đến nghe kinh, thì họ lại có vẻ không thích, không hăng hái lắm; đặc biệt là họ còn lo sợ rằng nghe kinh rồi thì bao nhiêu tội ác của họ sẽ biến mất hết!!! Vì sao ư? Đó là vì họ đã quen làm điều ác, lại còn tìm cách che đậy tội lỗi của mình, không muốn sửa đổi, chẳng chịu hối cải.
Ví dụ trò cờ bạc, nhiều người chẳng cần phải có ai bày vẽ cho cả, chỉ đến sòng bài nhìn lướt qua một lượt là tự nhiên biết cách bấm máy, thắng hay thua, được hay mất, thì từ từ tự rút kinh nghiệm. Những người thường đến các sòng bài ở Reno, Las Vegas, đều rất thông minh—họ chỉ nhìn thoáng qua là biết cách chơi ngay, chẳng cần ai chỉ dẫn mà vẫn rất thành thạo. Tuy nhiên, nếu quý vị bảo họ học điều hay lẽ phải, thì dù có tận tâm dạy dỗ đến thế nào đi nữa, họ cũng không lãnh hội được; cho nên nói “kẻ theo thói ác thì nhiều.”
Đức Phật đã sớm biết rõ mọi thói hư tật xấu của chúng sanh chúng ta; nhìn chúng sanh chúng ta, Ngài thấu rõ được đến tận xương tủy, biết được những gì đang tiềm ẩn trong tận cùng tâm tánh của chúng ta!
Kinh văn:
“Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thối thất; nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng. Vì thế cho nên, Ta phải phân thân này ra làm trăm ngàn ức để hóa độ, tùy theo căn tánh mà độ thoát cho họ.”
Lược giảng:
“Dầu phát thiện tâm nhưng chốc lát liền thối thất.” “Chốc lát” là khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi—chỉ trong một thoáng là liền thối thất thiện tâm, không còn gì cả.
Có nhiều người phát tâm làm việc thiện nhưng chẳng được bao lâu lại hối tiếc: “Ôi! Tôi bố thí nhiều như vậy, chẳng biết có được đền bù cái gì không?” Như vua Lương Võ Đế cũng đã từng thắc mắc: “Tôi cất biết bao nhiêu là cảnh chùa, giúp độ được biết bao nhiêu là Tăng sĩ, lại từng bố thí cúng dường nhiều vô số kể; vậy chẳng hay công đức của tôi to lớn đến cỡ nào? Chẳng hay tôi có được công đức hay chăng?” Và sau đó thì nhà vua lại sanh lòng thối chuyển.
“Nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng.” “Ác duyên” tức là duyên bất tịnh, mà duyên bất tịnh lại chính là nhân duyên đọa lạc! Phàm quý vị gây ra những nhân duyên đọa lạc thì đều được xem như là gây tạo ác duyên, chẳng hạn như làm những việc ngu xuẩn, khởi lòng sân hận, hoặc sanh lòng tham vậy. Nếu quý vị có tâm tham dục thì sẽ tham tài, tham sắc; có tâm sân hận thì sẽ muốn giết người, đốt nhà; có tâm ngu si thì sẽ muốn đạt được những điều không thể đạt được. Đó đều là những ác duyên. Một khi gặp phải ác duyên thì thói ác mỗi niệm mỗi tăng trưởng—cái niệm xấu ác, cái tâm xấu ác mỗi lúc mỗi lớn mạnh hơn.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Vì thế cho nên, Ta phải phân thân này ra làm trăm ngàn ức để hóa độ. Bởi chúng sanh khó độ như vậy, dầu họ có phát thiện tâm đi nữa thì cũng chỉ trong khoảnh khắc là liền thối thất, nếu lại gặp ác duyên thì tâm ác càng lúc càng tăng trưởng; cho nên Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, phải phân chia thân hình của Ta, dùng trăm ngàn vạn ức pháp môn phương tiện để giáo hóa chúng sanh, tùy theo căn tánh mà độ thoát cho họ, khiến cho tất cả đều được ly khổ đắc lạc.” (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P13 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ A Tu La: Các tinh linh có hình người, về sau thành người.(LVLCK, 615)
+ A Tu La: Thiên chúng ở các cõi trời trên đây (ngoại trừ ở 5 cõi Bất-hoàn), đều là người phàm phu được hưởng thọ phước báo; khi hưởng phước hết rồi thì trở lại luân hồi. Riêng các vị thiên vương của các cõi trời kia thì đều là Bồ-tát, luôn trụ trong chánh định, dần dà tiến lên trên đường tu tập hướng tới Phật đạo. Tất cả thiên chúng đó đều do không rõ biết tánh giác sáng suốt nhiệm mầu vốn có nơi mình, cho nên vọng niệm tích tụ, rồi vọng sinh ba cõi; trong đó, các loài hữu tình, mỗi mỗi lại tùy theo vọng nghiệp mà chìm đắm trong 7 nẻo (Địa- ngục, Ngạ-quỉ, Súc-sinh, Người, Tiên, A-tu-la, và Trời), thọ báo theo loại của mình. Trong 3 cõi ấy còn có 4 loài A-tu-la: Có loài nguyên từ loài Quỉ, do phước lực hộ trì Phật pháp mà có được thần thông, nhập vào hư không; loài A-tu-la này sinh ra từ trứng, thuộc về loài Quỉ. Có loài nguyên từ loài Trời, vì kém phước đức mà bị đọa lạc, ở gần mặt trời mặt trăng; loài A-tu-la này sinh ra từ bào thai, thuộc về loài Người. Có A-tu-la vương nắm giữ thế giới, sức mạnh suốt khắp chư thiên, không hề sợ ai, hay tranh quyền mà gây chiến với các trời Phạm Vương, Đế Thích và Tứ Thiên Vương; loại A-tu-la này do biến hóa mà sinh ra, thuộc về loài Trời. Lại có loài A-tu-la thấp kém, sinh trong lòng biển cả, lặn dưới vực sâu, ban ngày dạo đi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; loại A-tu-la này do thấp khí sinh ra, thuộc về loài Súc-sinh. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng)
+ Chúng A Tu La: Dục giới là nơi có năm loài chúng sanh ở lẫn lộn gọi là ngũ thú tạp cư địa. Năm loài này gồm Trời, Người, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục. Ở đây chỉ nói đến năm loài thôi mà không nói đến loài A tu la vì loài này có thể hiện thân là bất cứ loài nào trong năm loài trên. A tu la là một loài rất sân và ác độc; nếu ở trên trời thì là một vị ác thần; nếu là người thì là một ác nhân như những tên sát nhân, những tướng cướp hung dữ, những cường hào ác bá, những lãnh chúa độc tài; nếu ở trong loài súc sanh thì là loài ác thú như loài lang sói, hổ báo; nếu ở loài ma quỷ hay địa ngục thì là loài quỷ dữ chuyên quấy phá và não hại loài khác.(Nguồn: A Lại Da Thức - Duy Thức Học)
+ Cõi Atula có đặc điểm là tâm đố kỵ dày vò, vì vậy, chúng sinh ở cõi này luôn tranh đấu nhưng luôn bị thua cuộc. Hình ảnh minh họa thú vị là cây Như ý (cây Đời sống) mọc lên ở cõi Atula nhưng lại trổ quả Trường thọ ở cõi Trời, điều đó khiến loài Atula ganh ghét, luôn gây chiến với chư Thiên. Nhân dẫn đến tái sinh ở cõi Atula là sự tạo tác các thiện nghiệp nhưng vẫn còn tâm ganh đua, đố kỵ. (Nguồn: Luân hồi - Mười pháp giới)
+ Đức Phật Dược Sư (tiếng Phạn भैषज्यगुरु, Bhaiṣajyaguru), danh hiệu đầy đủ là: Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, là giáo chủ của Thế Giới Tịnh Lưu Ly o phương Đông. Trong Kinh Hoa Nghiêm có đặc biệt đề cập đến: "Một niệm sân hận nổi lên, thì ngàn vạn cửa chướng ngại mở ra”, cần có tâm không sân hận thì lúc đối diện nghịch cảnh mới không khởi tâm gây hại.
Đức Phật A Súc Bệ từ buổi sơ khai trong quá trình tu tập ở nhân địa đã lập lời nguyện là cho dù có đối mặt với bất cứ vấn đề gì, Ngài đều sẽ không bao giờ sanh lòng sân hận hay thù ghét ai cả. Và kết quả là Ngài đã tạo dựng được cõi Tịnh Độ này và không bao giờ thối chuyển.
Thân của Phật A Súc Bệ có sắc xanh, Ngài ngự ở phương Đông và ngồi trên một cái đài làm bằng tám con voi chúa lớn (bát đại tượng vương). Đức Phật này có thể trừ khử được sân độc - độc tố của sự tức giận - và có thể chuyển hóa thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí. Trong Ngũ Bộ của Chú Lăng Nghiêm, thì ở phía Đông là Kim Cang Bộ. Chú Kim Cang Vương là sử dụng chiết phục pháp, tức là dùng phương pháp thuần hóa và chế ngự. Việc ưu tiên hàng đầu và tối quan trọng của những người tu hành là hàng phục và kiềm chế được phiền não hiện hành của chính mình, chứ không phải đi chiết phục người khác.
Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật . Ngài làm thế nào để tiêu tai tăng thọ ? Chúng ta niệm Ngài thì cuối cùng chúng ta sẽ được tiêu tai tăng thọ hay Phật Dược Sư tiêu tai tăng thọ ? Ðây chứng minh là chúng ta niệm thì chúng ta sẽ được tiêu tai tăng thọ, vậy là chúng ta niệm để muốn tiêu tai tăng thọ, thì đó là một thứ tâm tham, lại có một thứ tâm mong cầu cho mình, lại chấp trước tướng, phàm có hình tướng thì đều là hư vọng, phải hiển xuất tướng ở bên trong. Vậy chúng ta niệm Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, hy vọng chính mình tiêu tai tăng thọ, đây tức là tâm tham và tâm ích kỷ. Quý vị thấy nói như vậy có đúng không ? Vậy tiêu tai tăng thọ này là ai ? Cũng không phải Phật Dược Sư tiêu tai tăng thọ, cũng không phải chính chúng ta tiêu tai tăng thọ. Chính chúng ta không có tai nan, thi tiêu tai gì ? Tăng thọ gì ? Cũng chẳng phải nói, tôi không niệm Phật Dược Sư, thì bây giờ tôi sẽ chết, cần phải tăng thọ, cần phải tiêu tai, đây thật là mê tín. Vậy chúng ta tiêu tai tăng thọ cho ai ? Cho tất cả chúng sanh có tai nạn, thậm chí cho những chúng sanh sắp mạng chung. Chúng ta niệm tiêu tai tăng thọ Dược Sư Phật để hồi hướng cho họ. Ðây chính là nghĩa rộng, không phải là nghĩa hẹp. Quý vị nghĩ xem có phải không? Cho nên chúng ta niệm Phật, nhất cử nhất động tu hành, đều phải hiểu được lý luận chân chánh, đừng mù quáng chay theo như thế, người ta nói thi nói theo, họ nói như thế này, thì tôi cũng nói như thế này, họ nói như thế kia, thi tôi cũng nói như thế kia, giống như ngọn cỏ, gió thổi hướng nào thì ngả theo hướng đó. Chúng ta học Phật phải có trí huệ chân chánh, trí huệ chân chánh không phải la chỉ nói và cũng không phải là nhìn thấy mọi người không đúng, phải chú trọng lý luận, nghiên cứu lý luận rõ ràng. Chúng ta niệm Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật là vì tất cả chúng sanh có tai nạn, vi mạng sống chúng sanh gần kết thúc để niệm, đó mới là lợi ích chúng sanh, mới là hành Bồ Tát Đạo. (Nguồn: Ngũ phương Phật - Vạn Phật Thánh Thành)
+ Phật phương Đông: Vị Phật thứ hai ở phương Đông là A Súc Bệ Phật, cũng còn gọi là Bất Động Phật, Vô Sân Khuể Phật, Vô Nộ Phật, hoặc Bất Động Như Lai. Trong Kinh Hoa Nghiêm có đặc biệt đề cập rằng:
“Nhất niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai.”
(Khi một niệm tức giận dấy lên,
thì trăm vạn cửa chướng ngại sẽ mở ra.)
Chỉ với cái tâm không sân hận thì người ta mới có thể không khởi lên ý niệm ám hại người khác khi phải đối đầu với nghịch cảnh.
Đức Phật A Súc Bệ từ buổi sơ khai trong quá trình tu tập ở nhân địa đã lập lời nguyện rằng: Cho dù có đối mặt với bất cứ vấn đề gì, Ngài đều sẽ không bao giờ sanh lòng sân hận hay thù ghét ai cả. Và kết quả là Ngài đã tạo dựng được cõi tịnh độ này và không bao giờ thối chuyển.
Thân của Phật A Súc Bệ có sắc xanh, Ngài ngự ở phương Đông và ngồi trên một cái đài làm bằng tám con voi chúa lớn (bát đại tượng vương). Đức Phật này có thể trừ khử được sân độc–độc tố của sự tức giận–và có thể chuyển hóa thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí. Cư sĩ Duy Ma Cật vốn đến từ thế giới Diệu Hỷ ở phương Đông. Trong Ngũ Bộ của Chú Lăng Nghiêm, thì ở phía Đông là Kim Cang Bộ. Kim Cang Vương Chú là sử dụng chiết phục pháp, tức là dùng phương pháp thuần hóa và chế ngự. Việc ưu tiên hàng đầu và tối quan trọng của những người tu hành là hàng phục và kiềm chế được phiền não hiện hành của chính mình, chứ không phải đi chiết phục người khác. (Nguồn: Phật Dược Sư - HT Tuyên Hóa)
598. SỰ XUẤT LY KHỎI SÂN HẬN - XA LÌA SÂN GIẬN
Đa văn Thánh đệ tử quán sát sân nhuế cực kỳ mãnh liệt. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế nên tâm không hướng theo sân nhuế, không vui say trong sân nhuế, không gần gũi với sân nhuế, không quyết tâm nơi sân nhuế. Khi tâm sân nhuế vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô héo, co rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở rộng ra, bị vứt bỏ di. Vị ấy không trụ nơi sân nhuế, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự sân nhuế. Giống như lông và gân của con gà bị đem quăng vào trong lửa, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô rút lại, bị cuốn tròn lại chứ không được nở.
Đa văn Thánh đệ tử cũng vậy, cực kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế. Vị ấy do cực kỳ mãnh liệt quán sát sân nhuế nên tâm không hướng theo nhuế, không vui say nhuế, không quyết định nơi nhuế. Tâm nhuế vừa sanh, tức khắc bị cháy tiêu, bị khô rút, bị cuốn tròn chứ không nở rộng ra được, bị vứt bỏ đi, vị ấy không an trụ nơi nhuế, chán ghét, nhàm tởm, chế ngự nhuế.
Vị ấy quán sát vô nhuế, tâm hướng về vô nhuế, không vui say vô nhuế, gần gũi vô nhuế, quyết định nơi vô nhuế, tâm không bị chướng ngại, không ô trược, tâm được an lạc, rất an lạc, viễn ly dục nhuế, viễn ly các lậu và các thứ phiền nhọc, ưu sầu do nhuế mà có, thoát chúng, giải chúng và lại giải thoát khỏi chúng. Vị ấy không còn nhận lãnh cảm thọ này nữa, tức cảm thọ sanh ra bởi nhuế. Như vậy, đó là sự xuất ly khỏi nhuế. (Trung A Hàm, Kinh Thuyết Xứ, Phẩm 7, số 86)
384. LOẠI TRỪ NIỆM DỤC
Khi sanh niệm dục, Ta không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ; sanh niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy rằng, nhân nơi đó mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện.
Ví như vào tháng cuối xuân, vì đã trồng lúa nên đất thả bò không được rộng. Người chăn bò thả bò nơi đầm ruộng, bò vào đất người, nó liền cầm roi đến ngăn lại. Vì sao vậy? Vì người chăn bò biết rằng nhân nơi đó mà có lỗi lầm là sẽ bị chửi, bị đánh, bị trói. Do đó, chăn bò cầm roi đến ngăn lại. Ta cũng như vậy, sanh niệm dục, không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ. Sanh niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy nhân nơi đó mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện. (Trung A Hàm, Kinh Niệm, Phẩm 9, số 102)
+ Tham tài - Tham tiền tài trong Tham Sân Si là Tâm cấu nhiễm
+ Mời xem: Phật dậy về Tam độc Tham Sân Si
+ Mời xem: PS Tịnh Không Giảng Tham - Sân - Si Và Ái dục)
+ Xem thêm: HT Tuyên Hóa khai thị về Ái Dục
+ Xem tổng hợp về Ái dục_Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay
+ Thể và Dụng của các Đại: Ví dụ về Thể/ Tánh và Dụng của Nước: Nước hiện hữu khắp nơi - tận hư không, khắp Pháp Giới, đâu đâu cũng có nước cả. Tuy nhiên, cũng có những nơi chúng ta không thấy có sự hiện diện của nước, là vì những nơi đó chỉ có "Tánh" của nước chứ không có "Thể" của nước. Ðiều này cũng tương tự như việc mọi người đều có Phật tánh, nhưng chúng ta không thấy được Phật tánh mà chỉ thấy được hình thể con người thôi vậy. Tánh của nước là ẩm ướt; hầu như mọi nơi đều có khí ẩm, do vậy có thể nói rằng mọi nơi đều có nước. Ðồng thời, mọi nơi đều có lửa.
Tánh nước và tánh lửa vốn hỗ tương hợp tác, chứ không xung khắc lẫn nhau; vậy thì tại sao nước không tràn ngập khắp mọi nơi? Bởi giữa trời, đất và nước có sự tương quan, gắn bó mật thiết với nhau. Vả lại, Tứ Ðại Thiên Vương còn có viên ngọc "trị nước" (tỵ thủy châu); nếu không nhờ viên ngọc này thì khắp cả thế giới sẽ toàn là nước, tất cả đều bị chìm trong biển nước mênh mông. Cho nên, không phải khắp nơi đều có sự hiện hữu rõ rệt của nước. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng)
+ Thể tánh các đại: Trong NHƯ LAI TẠNG - Các đại không ngăn ngại nhau
...... Ngài Phú Lâu Na Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả các thứ: 5 ấm, 12 xứ, 18 giới và 7 đại trong thế gian đều là hiện tượng biểu hiện xuất phát từ tánh thanh tịnh bản nhiên của Như Lai Tạng, vậy thì tại sao Như Lai Tạng bỗng nhiên lại sanh các tướng hữu vi vô thường vận động thay đổi trước sau, vô cùng vô cực như thế?
Bạch Thế Tôn! Như Lai cũng đã từng nói : Địa, thủy, hỏa, phong 4 đại bản tánh viên dung, khắp cùng khắp giới, vắng lặng thường trú. Bạch Thế Tôn! Nếu địa đại cùng khắp thì làm sao dung được thủy đại? Nếu thủy đại cùng khắp thì làm sao hỏa đại có điều kiện phát sinh? Làm sao có thể hiểu biết được rằng: Thủy đại và hỏa đại đều cùng khắp pháp giới mà không đối kháng hủy diệt nhau? Bạch Thế Tôn! Tánh địa đại thì ngăn ngại, tánh hư không là rỗng suốt, làm sao có sự kiện hai đại đồng khắp cùng trong một bầu pháp giới? Con không biết nghĩa ấy là thế nào. Xin Phật rủ lòng từ, vén mây mê lầm cho con và đại chúng. Có 2 câu hỏi ở đây:
1) Tại sao trong Như Lai Tạng tánh vốn thanh tịnh bản nhiên bỗng dưng lại chuyển biến sinh ra những hiện tượng hữu vi như như núi, sông, đất, liền…?
2) Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến và thức thì trong 7 đại này tánh chất có đối kháng nhau. Thí dụ nước kỵ lửa, gió kỵ đất… Nếu thế, tại sao chúng có thể dung hợp được với nhau trong Như Lai Tạng mà không tương tàn, tương diệt? Phật dạy rằng:
- "Tánh sắc chơn không” nghĩa là Tánh của sắc là không mà hư không thì bao trùm bao la vô cùng vô tận.
- "Tánh không chơn sắc” nghĩa là trong hư không đã có đủ tất cả tánh chất của sắc hay nói chung của địa, thủy, hỏa, phong…,
=> Nhưng từ cái thể tánh thanh tịnh của hư không khi hội tụ đủ nhân duyên sẽ biến hiện thành ra sắc (Dụng của các đại).
- Tuy thủy đại [Tánh Thủy] đầy khắp hư không pháp giới tức là nơi nào trong không gian vô tận cũng đều chứa nước mà nước đâu có dập tắt lửa và nước cũng không làm ngập chìm cả thế gian nên Phật nói rằng: ”Tánh thủy chơn không”. Trong hư không tức là pháp giới không đại, vốn không phải nước vậy mà trong không đại khắp đầy thủy đại [Tánh Thủy]. Do đó Phật mới dạy rằng : ”Tánh không chơn thủy”.
- Hỏa đại cũng thế, lửa thì đầy khắp hư không mà không làm cháy nhà cửa, xe cộ, núi rừng hay vạn hữu thế gian. Vì vậy Phật mới nói : ”Tánh hỏa chơn không”. Trong hư không vốn không có lửa, nhưng khi chúng sinh cần thì lửa sẽ có trong hư không, cho nên Phật dạy rằng : ”Tánh không chơn hỏa”.
=> Nói tóm lại, Tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau vì thế tuy trong hư không có đầy đủ các đại [Tánh các đại] mà chúng không tương tàn, tương diệt vì các đại cùng chung một thể tánh. Đó là chơn không (bất biến).
=> Vì trong không gian vô cùng vô tận có chứa đầy đủ địa đại. thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại [Đây là nói Tánh thể các đại chứ không phải Dụng của các đại khi đủ duyên biểu lộ thành đất nước gió lửa tương tác sinh diệt nhau ] nên từ đó con người, sinh vật và vạn pháp mới được cấu tạo, hình thành một cách mầu nhiệm........... (Nguồn: Kinh Thủ LN - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Phẩm tính các Hành: Các yếu tố tượng trưng cho bốn trạng thái vật chất: Lửa - năng lượng ion hóa rực rỡ; Đất - rắn; Khí - Gió/ Phong khí/ Chất hơi; Nước - chất lỏng.
Mọi thứ chúng ta nhận biết và kinh nghiệm đều bao gồm các yếu tố. Bất cứ thứ gì được kích động, năng động, hoặc bùng phát trào phản ánh yếu tố của lửa (Hành hỏa). Tính ổn định hoặc cấu trúc phản ánh yếu tố đất (Hành thổ). Hài hước, không thực tế hoặc định hướng về mối quan hệ phản ánh yếu tố khí (Hành khí). Bất cứ điều gì nhạy cảm hoặc hấp thụ phản ánh yếu tố nước (Hành thủy). (Nguồn: Ôn lại về Hành)
* Cụ thể: Xem Tooltip từng đại, từng hành
+ Lễ 6 phương - Đức Phật dạy:
1. Phương đông - Cha mẹ, con:
- Con làm 5 việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng.
- Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai là dạy con làm việc lành. Ba là hướng dẫn nghề nghiệp. Bốn là tác thành gia thất. Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp. Đây là đạo nghĩa cha mẹ con cái.
2. Phương nam - Thầy Trò
- Học trò làm 5 việc: Một là giữ lòng kính trọng. Hai là quan tâm săn sóc. Ba là chăm chỉ học hành. Bốn là đáp ứng khi cần. Năm là hấp thụ những gì được truyền dạy.
- Thầy làm 5 việc: Một là dạy trò những chuyên môn của mình. Hai là dùng phương pháp dễ hiểu. Ba là không giấu nghề. Bốn là giới thiệu tiến thân. Năm là bố trí an toàn cho trò. Ðó là đạo nghĩa thầy trò.
3. Phương tây - Hôn phối:
- Chồng làm 5 việc: Một là đối xử hoà ái. Hai là không bạc đãi khinh khi. Ba là một dạ thủy chung. Bốn là giao quyền nội chính. Năm là tùy khả năng mua sắm tư trang cho vợ.
- Vợ làm 5 việc: Một là quán xuyến công việc gia đình. Hai là cư xử với hai họ một cách đồng đều. Ba là một lòng tiết hạnh. Bốn là gìn giữ tài sản. Năm là cần mẫn trong bổn phận. Ðó là cách lễ bái phương tây tức đạo nghĩa vợ chồng.
4. Phương bắc - Bạn bè:
- Mình làm 5 việc: Một là rộng rãi. Hai là nhã nhặn. Ba là quan tâm lợi ích của bạn. Bốn là đồng cam cộng khổ. Năm là thành thật.
- Bạn tốt làm 5 việc: Một là cảnh giác bạn trước những cám dỗ. Hai là giữ hộ tài sản khi bạn sa ngã. Ba là làm nơi nương tựa cho bạn lúc sa cơ. Bốn là không bỏ bạn lúc nguy biến. Năm là cư xử tốt với người thân của bạn. Ðó là đạo nghĩa bạn bè.
5. Phương dưới - Giúp việc:
- Chủ làm 5 việc: Một là không giao việc quá sức. Hai là trả thù lao tương xứng. Ba là chăm sóc khi đau yếu. Bốn là chia sớt món ngon vật lạ. Năm là không bắt làm việc quá giờ.
- Người giúp việc làm 5 việc: Một là thức trước chủ. Hai là ngủ sau chủ. Ba là không lấy những thứ không cho. Bốn là siêng năng làm việc. Năm là giữ tiếng tốt cho chủ. Ðó là đạo nghĩa chủ tớ.
6. Phương trên - Sa môn, cư sĩ:
- Cư sỹ làm 5 việc: Một là cử chỉ thân thiện. Hai là lời nói thân thiện. Ba là tư tưởng thân thiện. Bốn là luôn mở rộng cửa đón tiếp. Năm là cúng dường tứ sự.
- Với cư sĩ, sa môn làm 5 việc: Một là hướng dẫn cư sĩ xa điều ác. Hai là hướng dẫn cư sĩ làm việc lành. Ba là luôn cư xử với tâm từ ái. Bốn là giảng giải đạo lý tường tận. Năm là chỉ đường an vui đời sau. Ðó là đạo nghĩa tăng tục.
+ Sin Ga La bày tỏ niềm hoan hỷ: Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn .... (Nguồn: Kinh Đảnh Lễ Sáu Phương)
+ Lễ các phương - Giữ Đạo nghĩa theo Dịch học / Phật giáo:
1- Phương đông: Gia đình - Sức khẻo [Cha mẹ]
2- Phương đông nam: Phú quý
3- Phương nam: Địa vị - Danh tiếng [Thày trò]
4- Phương tây nam: Hôn nhân
5- Phương tây: Con cái [Hôn phối]
6- Phương tây bắc: Quý nhân
7- Phương bắc: Sự nghiệp [Bạn bè]
8- Phương đông bắc: Tri thức
+ Xem thêm: Đạo nghĩa trong ngũ thường Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín
+ Cha mẹ là gốc rễ: Học Phật phải tu pháp môn căn bản, tức là tài bồi căn lành, bồi nguyên cố bổn. Bồi nguyên tức là bồi dưỡng nguyên khí. Cố bổn tức là khiến cho gốc rễ kiên cố. Nguyên là nguyên khí. Gốc tức là gốc rễ, tức là cha mẹ. Cha mẹ sinh chúng ta ra, chúng ta phải hiếu thuận. Hiếu thuận cha mẹ mới là người chân chánh tin Phật, không hiếu thuận cha mẹ, chẳng phải là người tin Phật. ..
Nếu người hiếu thuận cha mẹ, thì chánh khí trời đất tồn tại, không hiếu thuân cha mẹ, thì trong trời đất tràn ngập tà khí. Hiếu thuận cha mẹ phải thành tâm thành ý, tất cung tất kính. Ðối với cha mẹ phải cung cung kính kính, cha mẹ tức là Phật sống hiện tiền. .. Hiếu thuận cha mẹ phải dưỡng chí. Dưỡng chí tức là việc mà cha mẹ hoan hỷ thì làm nhiều một chút, việc mà cha mẹ không hoan hỷ thì làm ít một chút. Ðừng làm cha mẹ buồn phiền đau khổ, luôn luôn làm cho tâm của cha mẹ vui vẻ. .. Không biết hiếu thuận cha mẹ là quên mất gốc rễ. .. hiếu thuận cha mẹ so với cuối đầu lạy sư phụ còn tốt hơn nhiều. (Nguồn: Google Drive - HT Tuyên Hóa Giảng Chú Lăng Nghiêm)
+ Bổn phận của Cha mẹ - Con cái, đức Phật đã dạy:
- Con làm 5 việc với Cha Mẹ: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng.
- Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai là dạy con làm việc lành. Ba là hướng dẫn nghề nghiệp. Bốn là tác thành gia thất. Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp. Đây là đạo nghĩa cha mẹ con cái.
* Ðức Phật dạy về 6 phương:
- Phương đông là cha mẹ. - Phương nam là thầy tổ. - Phương tây là người hôn phối. - Phương bắc là bạn bè. - Phương dưới là người giúp việc. - Phương trên là sa môn (Nguồn: Kinh Đảnh Lễ Sáu Phương)
+ Muốn đi về Các Phương: Lễ bái Phật khi Xuất hành đi về các phương đều được bình an, vạn sự cát tường như ý
Phật bảo Diện Thiện Duyệt:
- Hãy lắng nghe kỹ, lãnh thọ kỹ, khéo ghi nhớ và hành trì, Ta sẽ vì ông thuyết pháp ủng hộ.
Khi ấy đồng tử thơ ấu họ Thích vâng theo lời dạy và lắng nghe. Phật bảo:
- Phương Đông, cách đây hơn tám ngàn vạn ức na-thuật cõi Phật, có thế giới tên là Bạt Chúng Trần Lao, đức Phật cõi đó hiệu là Đẳng Hành Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Đông, trước tiên nên cúi đầu quy y cúng dường Phật ở phương Đông, thì sẽ không còn sợ hãi và chẳng ai còn dám xâm phạm, nhiễu hại. Có ưa thích đi và có sự khởi hành thì chắc chắn sẽ được như nguyện, tâm chí chưa từng rối loạn và như tâm chí đã nghĩ liền được thành tựu.
- Phương Nam, cách đây hơn mười ức trăm ngàn cõi Phật có thế giới tên là Tiêu Minh Đẳng Yếu Thoát, đức Phật cõi đó hiệu là Sơ Phát Tâm Niệm Ly Khủng Úy Quy Siêu Thủ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác, hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Nam, nên từ xa cúi đầu quy mạng đức Phật kia rồi mới khởi sự ra đi, một lòng nhớ nghĩ, ý không lìa Phật thì không còn sợ hãi, không gặp hoạn nạn.
- Phương Tây, cách đây hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Thiện Tuyển Trạch, đức Phật đó hiệu là Kim Cang Bộ Tích Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Tây, trước tiên nên giảng thuyết và tư duy về pháp Bổn tịnh, hoàn toàn không còn sở kiến, không khởi, không diệt, thanh tịnh, vắng lặng và trước hết nên cúi đầu đảnh lễ đức Phật cõi đó, nhất tâm quy y rồi mới khởi sự ra đi, thì chắc chắn không còn sợ hãi, không gặp hoạn nạn.
- Phương Bắc, cách đây hơn hai vạn cõi Phật có thế giới tên là Giác Biện, Phật hiệu là Bảo Trí Thủ, Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào muốn đi đến phương Bắc, bắt đầu ngay nơi nhà, cúi đầu đảnh lễ quy y đức Phật kia rồi mới khởi sự ra đi thì chắc chắn không còn sợ hãi và không gặp hoạn nạn.
- Phương Đông-bắc, cách đây hơn trăm vạn ức cõi Phật có thế giới tên Trì Sở Niệm, đức Phật cõi đó hiệu là Hoại Ma Mạn Độc Bộ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Lại Như Lai kia đi đến dưới gốc cây Bồ-đề, vừa mới ngồi, nhất tâm, liền khuyến hóa các ma quyến thuộc và các thiên ma ở thế giới tam thiên đại thiên, đều an lập họ nơi Bất thối chuyển, sẽ thành đạo Chánh chơn Vô thượng. Đây là khi Như Lai đến dưới gốc cây Bồ-đề cảm hóa được. Người nào đi đến phương Đông-bắc, nên từ xa cúi đầu quy y đức Phật kia rồi sau mới đi, thì ngay nơi chỗ ở đạt được an ổn, chắc chắn không còn sự sợ hãi.
- Phương Đông-nam, cách đây hơn hai hằng hà sa các cõi Phật, có thế giới tên là Thường Chiếu Diệu, đức Phật đó hiệu là Sơ Phát Tâm Bất Thối chuyển Luân Thành Thủ Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Như Lai đó khi còn làm Bồ-tát thường chỉ dạy mọi người thực hành nghĩa “Bất thối chuyển luân” là: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định bất lọan, thành tựu trí tuệ. Đây là do Như Lai khi còn làm Bồ-tát cảm hóa được. Người nào đi về phương Đông-nam, trước hết nên cúi đầu, năm vóc gieo sát đất, nhất tâm quy mạng rồi sau mới đi thì không còn sợ hãi .
- Phương Tây-nam, cách đây hơn tám vạn cõi Phật có thế giới tên là Phú Bạch Giao Lộ, đức Phật đó hiệu là Bảo Cái Chiếu Không Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào đi về phương Tây-nam, trước hết nên cúi đầu đảnh lễ đức Như Lai kia, từ xa đem hoa rải dâng, niệm nơi tướng không, rồi sau mới đi thì không còn sợ hãi .
- Phương Tây-bắc, cách đây hơn sáu hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Trụ Thanh Tịnh, đức Phật đó hiệu là Khai Hóa Bồ-tát Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Quốc độ của đức Phật đó thanh tịnh trong sạch, cũng không có ái dục, không có người nữ, xa lìa năm món dục. Người nào đi đến phương Tây-bắc, trước hết nên đảnh lễ đức Phật kia, tự quay về sám hối lỗi lầm, tịnh tu phạm hạnh rồi sau mới ra đi thì không còn sợ hãi.
- Phương dưới, cách đây hơn chín mươi hai cai cõi Phật, có thế giới tên là Niệm Vô Đảo, đức Phật đó hiệu là Niệm Sơ Phát Ý Đoạn Nghi Bạt Dục, Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào khi muốn ngồi, hoặc ban đêm khi nằm, niệm Như Lai kia, cúi đầu quy y, thường dùng niệm từ khắp cứu giúp chúng sanh rồi sau mới ngồi hay nằm thì không còn sợ hãi, nguyện cầu điều gì chắc chắn được kết quả.
- Phương trên, cách đây hơn sáu mươi hằng hà sa các cõi Phật, có thế giới tên Ly Chư Khủng Cụ Vô Hữu Xứ Sở, đức Phật đó hiệu là Tịnh Minh Đẳng Siêu Vương Như Lai, Chí Chơn Đẳng Chánh Giác hiện đang thuyết pháp. Người nào từ chỗ ngồi đứng dậy thường hay đảnh lễ đức Phật kia, quy y cúng dường, thường ôm ấp lòng từ, thương xót chúng sanh rồi sau mới đứng dậy đi thì không còn sợ hãi, tại chỗ đi đến được an lành vui vẻ. Do niệm như vậy nên thường được ủng hộ.
- Ông nên lãnh thọ kỹ danh hiệu chư Phật này và phụng trì, tư duy, nhớ mãi trong lòng thì chỗ muốn đi đến chắc chắn không gặp nguy khó.
Phật bảo đồng tử: Kinh này tên là “Diệt trừ tối tăm trong mười phương” ....
- Giả sử có người lãnh thọ kinh điển này rồi, hành trì đọc tụng và giảng thuyết cho người khác đầy đủ hoàn toàn không thiếu sót thì sẽ mau được thành tựu sở nguyện. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thọ trì kinh này và đọc tụng thì hoàn toàn không còn sợ hãi. Nếu đến chỗ quan huyện không bị xâm tổn. Nếu đi giữa giặc giã oán thù không bị nguy hại. Nếu đi trong lửa dữ, lửa dữ liền diệt. Nếu đi trong nước, hoàn toàn không bị chết chìm. Trời, rồng, quỷ thần, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chơn-đà-la, Ma-hưu-lặc, ác thần, ác ma và các chúng quỷ thần, nhơn, phi nhơn khác không dám xúc phạm. Các loài sư tử, hổ lang, mãnh thú, hùng bi không dám đến gần. Ngạ quỷ Võng lượng và quỷ Phản túc, các quỷ Hổn biên không thể nhiễu hại, cũng không có sự sợ hãi. Nếu một mình ở chỗ vắng vẻ, đồng trống, dưới gốc cây, chỗ đất trống, tức là nơi Như Lai tạo lập và đang ủng hộ.
Nếu tộc tánh tử, tộc tánh nữ (Thiện nam, Tín nữ) nào lãnh thọ kinh điển này rồi thọ trì đọc tụng, biên chép quyển kinh thì đã từng cúng dường chư Phật quá khứ, trồng các cội công đức và các công đức đã làm sắp hoàn thành.(Nguồn: Diệt trừ tối tăm trong mười phương)
+ Thi ân sáu phương: Phật dậy, Ngươi phải thi ân bố thí mới có thể tránh được nạn nghèo. Ngươi không hiểu ý nghĩa của sự vái lạy 6 hướng, để ta giải cho ngươi nghe, nghảnh mặt về hướng nào thì nhớ đối tượng thi ân:
- Hướng Đông: Cha mẹ
- Hướng Tây: Vợ con
- Hướng Bắc: Bằng hữu, thân thuộc.
- Hướng Nam: Tình Sư - đệ.
- Hướng trên/ Nhìn Trời: Các nhà Sư đã dạy dỗ ngươi về Đạo-đức.
- Hướng dưới/ Cúi mặt xuống đất: Nhớ tới bạn bè, tôi tớ, đã giúp ngươi trong công việc làm ăn. (Nguồn: Kinh Thiện Sinh)
+ Bốn phương trời: Nhị thập bát tú
- Phương Đông chùm sao Thanh Long có 7 sao: Giác, Đê, Cang, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.
- Phương Bắc chùm sao Huyền Vũ có 7 sao: Đẩu, Nữ, Ngưu, Hư, Nguy, Thất, Bích.
- Phương Tây chùm sao Bạch Hổ có 7 sao: Khuê, Vị, Lâu, Mão, Tất, Chủy, Sâm.
- Phương Nam chùm sao Chu Tước có 7 sao: Tỉnh, Qủy, Liễu, Tinh, Dực, Trương, Chẩn.
* Bốn hay sáu phương cũng có sự tương ứng là Tứ tượng trong phong thủy. Lục thú trong Dịch học - 12 Cung Hoàng đạo/ Chòm sao Hoàng đạo .....: Xem Nhị Thập Bát Tú
* Xem thêm: 12 cung Hoàng đạo theo Chiêm tinh phương Tây: Xem 12 cung Hoàng đạo
Tổng hợp kiến thức tương ứng với Phương giữa - Bốn mùa - Mậu kỷ - Hành thổ
+ Hành THỔ: Chính giữa là Phật bộ, thuộc về thổ (đất). Ðất sanh ra vạn vật, đất thịnh vượng cả bốn mùa. Một năm chỉ có bốn mùa, nhưng lại có 5 ngũ hành, thì sắp xếp như thế nào ? Vì thổ là ở chính giữa, kim mộc thủy hỏa là bốn bên, cho nên xuân hạ thu đông là bốn mùa. Mùa xuân thì mộc thịnh vượng, mùa hạ thì hỏa thịnh vượng, mùa thu thì kim thịnh vượng, mùa đông thì thủy thịnh vượng / Mùa ẩm ướt.
Nếu Thổ không có trong bốn mùa thì như thế nào ? Thổ thịnh vượng trong cả bốn mùa, mùa xuân ba tháng, trong ba tháng có chín mươi ngày, có thổ thì có thể sanh sôi nảy nở. Mùa hạ, mùa thu, mùa đông, đều có thổ. Cho nên ở chính giữa là Mậu Kỷ thuộc thổ, phương đông là Giáp Ất thuộc mộc, phương nam là Bính Ðinh thuộc hỏa, phương tây là Canh Tân thuộc kim, phương bắc là Nhâm Quý thuộc thủy. Ðây là ngũ hành tương sanh tương khắc. [Ngài là diệt trừ si độc của chúng sanh - Một trong năm thứ độc - và có thể chuyển thức A-đà-na (Adana – Thức thứ 8) thành Pháp Giới Thể Tánh Trí_Nguồn: Ngũ phương Phật]. (Nguồn: Tỳ Lô Giá Na Phật - HT Tuyên Hóa) ()
+ Tôn Giả Xá Lợi Phất nói về đức hạnh của Tứ đại: ... "Bạch Thế Tôn, giống như những người vất lên mặt đất những thứ trong sạch và những thứ không trong sạch, như phân, nước tiểu, nước bọt, mủ và máu, tuy nhiên, mặt đất đón nhận mọi thứ mà không chán ghét, nôn mửa, hay thù hận; quả tim con cũng như đại địa ... (Nguồn: Đức hạnh ngài Xá Lợi Phất)
+ Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Phạn: वैरोचन, Vairochana, hoặc Maha-Vairochana), Tỳ Lô Giá Na có nghĩa là "tỏa sáng", là ánh sáng chiếu rực rỡ khắp mọi nơi (quang minh biến chiếu). Ngài là Đức Phật ở trung tâm, một trong những vị Phật của Ngũ Phương (Năm Phương). Màu của thân Ngài là màu trắng. Ngài ngồi chính giữa trên một đài sen do tám con sư tử lớn hợp thành. Ngài có thể diệt trừ si độc của ngũ độc, si độc của chúng sanh và có thể chuyển thức A Đà Na ( thức "duy trì") thành Pháp Giới Thể Tánh Trí. Trong năm bộ của Chú Lăng Nghiêm thì Ngài thuộc Phật Bộ Trung Ương.
Phật bộ Tỳ Lô tại trung tâm
Dòng tộc Như Lai dạy chúng sanh
Tu khắp vạn hạnh Ba La Mật
Các pháp vô ngã chứng viên thông.
Giảng giải: Đa tha dà đa dịch là "Như Lai", cũng chính là Phật Bộ. Chú Lăng Nghiêm có năm bộ, chia ra năm hướng. Chính giữa là Phât Bộ, có Đức Phật Tỳ Lô Giá Na là giáo chủ. Phương tây là Liên Hoa Bộ, có Phật A Di Ðà là giáo chủ. Phương đông là Kim Cang Bộ, có Phật A Súc là giáo chủ, tức là Phật Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư. Phương nam là Bảo Sanh Bộ, Phật Bảo Sanh là giáo chủ. Phương bắc là Yết Ma Bộ, Phật Thành Tựu là giáo chủ. Cộng lại là năm bộ. Thế gian này là do giáo chủ của năm bộ quản lý và trấn áp năm đại ma quân thì năm đại ma quân mới tuân theo quy củ, tuy dù tuân theo quy củ nhưng chúng cứ nghĩ đến việc làm cho thế giới này từ từ rối loạn hư hỏng. Thế giới này sanh ra đủ thứ tai nạn là do thiên ma ngoại đạo làm ra. Thiên ma ngoại đạo chỉ sợ là thiên hạ không có loạn, chỉ sợ thế gian này không hư hoại nhanh chóng, nhưng do có năm phương Phật này trấn áp tại đây nên chúng lén lút phá hoại, không dám ngang ngược làm ác. Trên thế gian thì ma và Phật đối lập với nhau. Phật thì giáo hóa chúng sanh sớm thành Phật đạo, ma thì giáo hóa chúng sanh sớm thành ma đạo. Nhưng Phật là nhờ ma giúp Ngài tu thành tựu, do đó ma chính là thiện trí thức của người tu đạo Phật. Người tu đạo khi cảnh nghịch đến thì thuận theo thọ nhận, nên nhin phía mặt trái để biết được chỗ tốt. Chúng ta cần nên cung kính Phật, nhưng cũng không phản đối ma vương, xem kẻ oán người thân đều bình đẳng, Phật ma đều như một, cần phải như thế thì không ghét cũng không thương, không thiện cũng không ác. Cảnh giới như thế không khác biệt nhiều. Năm Bộ chú Lăng Nghiêm này sau sẽ giảng lại đầy đủ.
Câu Ra Gia là chủng tộc của Phật, là chủng tánh của Như Lai, tức là đệ tử Phật giáo tin Phật.
‘’Phật bộ Tỳ Lô tại trung tâm’’ Chính giữa là Phật bộ, thuộc về thổ (đất). Ðất sanh ra vạn vật, đất thịnh vượng cả bốn mùa, một năm bốn mùa đất đều thịnh vượng, Xuân hạ thu đông. Mùa xuân thì mộc thịnh vượng, mùa hạ thì hỏa thịnh vượng, mùa thu thì kim thịnh vượng, mùa đông thì thủy thịnh vượng. Một năm chỉ có bốn mùa, nhưng lại có 5 ngũ hành, thì sắp xếp như thế nào ? Vì thổ là ở chính giữa, kim mộc thủy hỏa là bốn bên, cho nên xuân hạ thu đông là bốn mùa. Mùa xuân thì mộc thịnh vượng, mùa hạ thì hỏa thịnh vượng, mùa thu thì kim thịnh vượng, mùa đông thì thủy thịnh vượng. Quý vị xem, mùa đông nơi đây thì ẩm ướt, không chỉ là một chút xíu, người Quảng Đông gọi là “Hồi Nam” có nghĩa là mùa ẩm ướt.
Nếu Thổ không có trong bốn mùa thì như thế nào ? Thổ thịnh vượng trong cả bốn mùa, mùa xuân ba tháng, trong ba tháng có chín mươi ngày, có thổ thì có thể sanh sôi nảy nở. Mùa hạ, mùa thu, mùa đông, đều có thổ. Cho nên ở chính giữa là Mậu Kỷ thuộc thổ, phương đông là Giáp Ất thuộc mộc, phương nam là Bính Ðinh thuộc hỏa, phương tây là Canh Tân thuộc kim, phương bắc là Nhâm Quý thuộc thủy. Ðây là ngũ hành tương sanh tương khắc.
“Phật bộ Tỳ Lô tại trung tâm” Tỳ Lô là Tỳ Lô Giá Na là tiếng Phạn, dịch là "biến nhất thiết xứ".
“Dòng tộc Như Lai dạy chúng sanh’’. Chính giữa là Phật Bộ. Chủng tộc của Phật đến giáo hóa tất cả chúng sanh.
‘Tu khắp vạn hạnh Ba La Mật’’. Tu khắp vạn hạnh, lục độ vạn hạnh, thập độ vạn hạnh, tu pháp Ba La Mật đến bờ bên kia.
‘’Các pháp vô ngã chứng viên thông’’. Đắc được các pháp vô ngã, các pháp vô thường, chứng được diệu lý viên thông, tất cả đều viên thông, thông dung vô ngại. (Nguồn: Tỳ Lô Giá Na Phật - HT Tuyên Hóa)
+ Phật Tỳ Lô Giá Na: Đức Phật đầu tiên trong Ngũ Phương Phật là Đức Phật Tỳ Lô Giá Na ở trung ương, và được dịch là “Phật Lô Xá Na” hoặc “Đại Nhật Như Lai,” bởi theo tiếng Phạn, từ ngữ này có nghĩa là “quang minh biến chiếu, phổ châu Pháp Giới vô ngại” (ánh sáng soi chiếu khắp nơi, bao trùm cả Pháp giới, không bị ngăn ngại.) Thân của vị Phật này có sắc trắng; Ngài ngồi chính giữa trên một đài sen do tám con sư tử lớn hợp thành. Năng lực của Ngài là diệt trừ si độc của chúng sanh–một trong năm thứ độc—và có thể chuyển thức A-đà-na (3) (Adana – thức thứ 8) thành Pháp Giới Thể Tánh Trí. Trong năm bộ của Chú Lăng Nghiêm, thì đó chính là Phật Bộ ở phương trung ương. (Nguồn: Về Ngũ phương Phật - HT Tuyên Hóa)
- Lại có vô lượng Chủ Thần Phương Hướng. Đó là : Chủ Thần Phương Hướng Biến Trụ Nhất Thiết. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Hiện Quang Minh. Chủ Thần Phương Hướng Quang Hành Trang Nghiêm. Chủ Thần Phương Hướng Chu Hành Bất Ngại. Chủ Thần Phương Hướng Vĩnh Đoạn Mê Hoặc. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Du Tịnh Không. Chủ Thần Phương Hướng Đại Vân Tràng Âm. Chủ Thần Phương Hướng Kế Mục Vô Loạn. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Quán Thế Nghiệp. Chủ Thần Phương Hướng Chu Biến Du Lãm.
Giảng giải: Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Phương Hướng. Chủ Thần Phương Hướng tức là thần quảng lý về phương hướng. Phương có mười phương, trong mười phương lại có thể phân ra làm trăm ngàn vạn phương. Nhưng có năm phương chủ yếu tức là: Đông, tây, nam, bắc và giữa. Năm phương nầy thuộc về ngũ hành. Phương đông thuộc mộc, phương nam thuộc hỏa, phương tây thuộc kim, phương bắc thuộc thủy, chính giữa thuộc thổ. Một năm bốn mùa thịnh vượng ở năm phương và ngũ hành. Mùa xuân thuộc mộc, thịnh vượng hướng đông, mùa hạ thuộc hỏa, thịnh vượng hướng nam, mùa thu thuộc kim, thịnh vượng hướng tây, mùa đông thuộc thủy, thịnh vượng hướng bắc, thổ thịnh vượng chính giữa, chính giữa là tứ thông bát đạt, cho nên thịnh vượng suốt bốn mùa.
Phương đông Giáp ất mộc, thuộc về màu xanh, thần quảng lý phương đông gọi là Thanh đế. Phương nam Bính đinh hỏa thuộc màu đỏ, thần quảng lý phương nam gọi là Xích đế. Phương tây Canh tân kim thuộc màu trắng, thần quảng lý phương tây gọi là Bạch đế. Phương bắc Nhâm quý thủy, thuộc màu đen, thần quảng lý phương bắc gọi là Hắc đế. Chính giữa Mậu kỷ thổ thuộc màu vàng, thần quảng lý chính giữa gọi là Huỳnh đế. Những vị thần năm phương nầy mỗi vị đều có chức vụ riêng. (Nguồn: Giảng Kinh Hoa Nghiêm - Tập 1)
+ Góc Mùa Thu: Gồm nhà thứ 7, 8 và 9, an ninh được tìm kiếm và thành lập ở góc phần tư thứ hai được mở rộng để bao gồm bạn tình hoặc bạn đời của chúng ta và những người mà chúng ta hợp tác. Trong góc phần tư mùa thu này hạt giống của sự hoàn thành thông qua sự tìm kiếm sự bổ sung phù hợp với tài năng, nguồn lực và ham muốn của chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh thần. Đây là phần tư của các mối quan hệ, liên minh, và sự mở rộng cá nhân vào những trải nghiệm mới, nơi những chân trời cá nhân được mở rộng và đối đầu những thách thức mới.
Sao Hỏa giống phần tư đầu tiên nhất (Mùa Xuân), Mặt trăng giống phần tư thứ hai (Mùa Đông), sao Kim giống phần tư thứ ba (Mùa Thu), và sao Thổ giống phần tư thứ tư (Mùa Hạ). Đây là bốn mùa của cuộc đời, trong đó cây trồng được trồng, vun xới, thu hoạch và sử dụng. (Nguồn: Chiêm tinh học)
+ Nguyên nhân của mùa thu (Cause of Autumn): X. Hoạt động quy nguyên của hành tinh.(Từ điển minh triết)
Mười thần của ngũ hành Thổ
Mười thần của ngũ hành Kim
Mười thần của ngũ hành Mộc
Mười thần của ngũ hành Hỏa
Mười thần của ngũ hành Thủy
+ Mười ác nghiệp làm ốm đau bệnh tật (HT. Tuyên Hóa): Lại có mười nguyên nhân khiến cho thân thể mang nhiều bệnh tật;
1. Thích đánh đập mọi loài chúng sanh. Bất luận là chúng sanh nào, hễ trông thấy là đều muốn đánh đập đây là nguyên nhân đầu tiên của quả báo thân thể phải mắc nhiều bệnh khổ.
2. Xúi giục hoặc sai bảo người khác đánh đập chúng sanh chó, mèo, chuột..., thậm chí cả trẻ em.
3. Khen ngợi việc đánh nhau. Khen ngợi cái gì? Trầm trồ, khen ngợi cách đánh đập, hành hạ chúng sanh. Do vì tán thưởng cách đánh đập của người khác, nên chính bản thân mình phải chịu quả báo nhiều bệnh tật.
4. Thấy sự đánh đập mà vui mừng. Có những kẻ thấy người khác đánh đập chúng sanh thì trong lòng lại vui mừng hớn hở, cho là chuyện thú vị: "Hay thật! Ðáng đời! Ðánh thật là đẹp mắt!"; xem ra còn thú vị hơn cả coi xi-nê nữa!
5. Thấy chúng sanh bệnh tật đau đớn rên siết, thì trong lòng lại hân hoan vui sướng. Có nhiều người hễ thấy kẻ khác bị ốm đau bệnh hoạn, thì trong lòng lại mừng rỡ, thích thú: "Có chúng sanh bị đau ốm rồi. Ồ! Hay quá! Có thế chứ, hắn bệnh rồi đấy!" Họ không cảm thông thương xót đã đành, lại còn vui cười mừng rỡ nữa.
6. Thấy người bệnh được bình phục thì trong lòng cảm thấy không vui. Có những kẻ thấy người khác mắc bệnh song sau đó được thuyên giảm hoặc khỏi hẳn thì họ không vui, chính vì thế cho nên kiếp sau chính bản thân họ phải chịu quả báo nhiều bệnh tật, hay đau ốm.
7. Cho chúng sanh uống thứ thuốc không đúng bệnh. Có những người đem thuốc cho chúng sanh bị bệnh, họ cho thứ thuốc gì? Họ cho thứ thuốc không phải trị đúng chứng bệnh mà chúng sanh đó đương mắc phải. Ví dụ, như người bệnh đau đầu thì họ lại cho thuốc đau bụng, chẳng những thế, họ còn huênh hoang: "Quý vị xem, tôi cho bệnh nhân uống thuốc rồi đó."
8. Thấy người bệnh được thầy thuốc tận tâm chữa trị cho, thì sanh lòng đố kỵ, ghen ghét, nói rằng: "Ôi! Ông bác sĩ đó tốt nhất là chết sớm đi, khỏi cần phải trị bệnh cho hắn nữa! Thấy mà gai mắt!"
9. Thấy người khác ốm đau bệnh hoạn thì lại vui thích, còn mong sao người đó cứ luôn luôn ốm đau, mãi mãi bị bệnh tật hành hạ.
10. Thích ăn vặt, ăn luôn miệng. Mới vừa ăn xong chưa kịp tiêu hóa hết thì lại ăn nữa, miệng lúc nào cũng thấy thèm ăn, muốn ăn luôn miệng, không ngừng nghỉ. (Nguồn: Kinh Địa Tạng - P8 - HT Tuyên Hóa giảng)
+ Nguyên nhân Bệnh nạn:
- Lòng thù hằn, thì sẽ có con quỷ mặt đỏ - Hại Tim
- Lòng oán ghét - quỷ mặt vàng - Hại Tỳ
- Lòng áo não - quỷ mặt trắng - Hại Phổi
- Lòng sân nộ - quỷ mặt xanh - Hại Gan
- Lòng phiền toái/ Muội - quỷ mặt đen - Hại Thận (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN-Q4 )
+ 267. Hay bị bệnh: Đức Phật: Nếu có kẻ nam hay người nữ nhiễu hại chúng sanh ... khi sanh lại vào nhân gian, chịu nhiều tật bệnh. Nguồn: 267- (Trung A Hàm, Kinh Anh Vũ, Phẩm 13, số 170)
+ Bệnh tật phát sinh là từ chữ THÔNG (Không Thông - Tắc Nghẽn - Thông Đạt - Lưu Thông): ... sanh ra chướng ngại, đều là do không thông. Thông thì có thể giải quyết vấn đề, ... không thông có thể bị bệnh. ... máu huyết lưu thông, bạn liền hồi phục khỏe mạnh. Uống thuốc chỉ là phương pháp bất đắc dĩ.... Khi bị bệnh, Phật dạy bạn niệm chú, chú vừa niệm thì bệnh liền khỏi... dùng âm nhạc để chấn động, đả thông (Kinh Thập thiện- Tập 31 - PS Tịnh Không giảng)
+ Cuộc sống cần chánh xá những nguyên nhân mang tới sự sợ hãi, khiếp đảm. (Nguồn: Trích đoạn Kinh Sợ hãi - Khiếp đảm)
+ Quỷ Vô thường - Quỷ ngũ hành gây bệnh hoạn
“Quỷ vô thường” không phải chỉ vỏn vẹn có một loại, mà có ít nhất đến năm loại là: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen (Thanh, Hoàng, Hồng, Bạch, Hắc). Căn cứ theo lý luận đông y: ngũ hành phối hợp với ngũ tạng trong thân thể con người và cũng tương ứng với ngũ sắc năm màu, ngũ quý năm mùa và ngũ phương năm hướng. Dưới đây là phần sơ lược, nếu giảng giải tỉ mỉ về lý lẽ của nó thì vô cùng vô tận.
1) - Can - mộc - đông - xuân - thanh.
2) - Tâm - hỏa - nam - hạ - xích.
3) - Phế - kim - tây - thu - bạch.
4) - Tỳ - thổ - trung - trường hạ - hoàng.
5) - Thận - thủy - bắc - đông - hắc.
Ngũ hành có cái lý lẽ là “tương sanh tương khắc.” Mà năm loại quỷ vô thường cũng dựa theo cái lý ngũ hành tương khắc, và có thể làm cho ngũ tạng của chúng ta phát sanh nhiều thứ tật bệnh liên quan với nhau.
1) - Hắc Quỷ vô thường - Ví như người có bệnh thận. Và thận thuộc thủy có sắc đen. Bởi thủy khắc hỏa cho nên nó ảnh hưởng cả tim cũng sanh bệnh.
2) - Hoàng Quỷ vô thường - Tỳ thuộc thổ, sắc vàng. Tỳ có bệnh do thổ khắc thủy, do đó nó lần lượt ảnh hưởng đến thận.
3) - Thanh Quỷ vô thường - Can (gan) thuộc mộc, sắc xanh. Gan có bệnh do mộc khắc thổ, tiếp đến là nó sẽ làm ảnh hưởng khiến cho tỳ cũng bị bệnh.
4) - Bạch Quỷ vô thường - Phế (phổi) thuộc kim, sắc trắng. Kim khắc mộc nên phổi bị bệnh, khiến ảnh hưởng đến gan cũng có bệnh.
5) - Hồng Quỷ vô thường - Tim thuộc hỏa, sắc đỏ. Tim có bệnh do hỏa khắc kim. Cho nên khi tim có bệnh, nó cũng có thể ảnh hưởng đến công năng của phổi.
Như vậy, ngũ hành tương khắc, mà các chứng bệnh của ngũ tạng cũng là tùy theo ác tánh tuần hoàn của quy luật nhất định mà sanh ra.
... Nghiên cứu về căn nguyên, tất cả các thứ bệnh tật quỷ quái, cho đến cả sanh tử cũng đều là từ “vô minh” mà ra.
Nếu phá trừ được vô minh, thời tất cả các bệnh, tất cả các quỷ vô thường cũng sẽ không còn. Vô minh chính là cội gốc của tất cả tội ác, phiền não, bệnh khổ cho đến cả sanh tử. Con người nên học cách mở mang trí huệ. Khi có trí huệ rồi, chúng ta sẽ vận chuyển được ngũ hành, đem các đạo lý “tương khắc” biến thành “tương sanh,” như có thể làm cho: kim sanh thủy, thủy sanh mộc, mộc sanh hỏa, hỏa sanh thổ, thổ sanh kim. “Tương sanh” tức là cùng giúp đỡ dẫn dắt lẫn nhau, có thể biến hóa dao mác thành ra ngọc lụa.
Bệnh hoạn là do nghiệp chướng và quỷ thần đang tác quái. Chúng ta cũng không thể dùng con mắt nhục nhãn để quan sát các hiện tượng bệnh tật một cách đơn giản như thế. Do bởi bản thân của bệnh nhân có nghiệp chướng, cho nên mới có nhiều loài quỷ quái đi theo đòi nợ và gây rắc rối cho người bệnh. Do đó, tùy theo tình hình của chứng bệnh, nếu đơn thuần chỉ trông cậy vào thuốc men để trị liệu thì chưa đủ đâu. Mà người bệnh còn phải hiểu rõ về cái nhân duyên nghiệp chướng của bản thân mình. Thêm vào những bài linh chú Phật Pháp, như vậy trị bệnh sẽ được hiệu quả hơn, cho nên “thuốc đến là bệnh trừ,” có linh nghiệm liền. Bởi vậy, thời xưa có những vị thầy thuốc được danh dự là “thần y” như Hoa Đà đời Đông Hán, Tôn Tư Mạc đời Đường. Về đức độ trị bệnh của họ thì không thể nghĩ bàn. Những vị đó đều tin Phật, chẳng qua trên y án trị liệu không có ghi chép lại mà thôi.
Có số bệnh nhân được bác sĩ trị liệu có kết quả. Song, cũng có bệnh nhân được bác sĩ chữa lành bệnh nầy rồi, nhưng bệnh khác lại phát ra. Vừa trị hết bệnh nầy thì lại xuất hiện bệnh mới khác. Có khi họ liên tiếp bị hai ba thứ bệnh như vậy, cũng bởi vì nghiệp chướng cứ mãi quấy rầy ở phía sau. Như Bác sĩ đã đánh lui được con quỷ gây bệnh, nhưng con quỷ nầy sẽ đi tìm con quỷ khác đến giúp đỡ, rồi chúng trở lại tấn công vào hang huyệt khác của người bệnh. Bọn quỷ cũng thường có hành động tập thể theo từng đoàn, từng đám với nhau.
Khi tôi vừa mới xuất gia, tôi vẫn thường hay trị bệnh cho người ta. Nhưng tôi không có viết toa thuốc cho bệnh nhân, tôi cũng không có dùng thủ thuật mổ xẻ hoặc châm cứu gì cả. Tôi chỉ dựa vào tấm lòng chân thành của tôi để niệm những bài linh chú Phật giáo mà thôi. Tâm chí chân thành đó là cứu người. Lúc bấy giờ, tôi đã không biết gì đến chuyện phải cứu quỷ, cứu ma. Trong tâm tôi chỉ có tư tưởng cứu người, vì thế tôi đã làm bọn quỷ không vui lòng. Bởi vì khi quý vị chữa bệnh cho người, bọn ma quỷ nghĩ rằng quý vị muốn chống đối chúng, thế là chúng giận lây đến người chữa trị..., dùng Thần Chú chữa bệnh rất nên cẩn thận, lượng sức mình ... (Nguồn: HT Tuyên Hóa khai thị)
+ Nguyên nhân gây bệnh: Phàm các ác bệnh nan y, độc địa như sốt rét, ung thư... đều do quỷ từ phía sau chi phối, khiến cho ngũ tạng trong thân con người bị xáo trộn vị trí, và tứ đại không điều hòa. .... Quỷ thần rất cần ứng sử "kính trọng mà lánh xa" như Khổng Tử dạy, đặc biệt người tu thiền không đúng chánh pháp, rễ thành ma đạo. (Nguồn: Bệnh tật cùng nghiệp chướng - HT Tuyên Hóa)
+ Các nguyên nhân gây bệnh: Nhiều kinh điển Phật giáo khác nhau mô tả nguyên nhân của bệnh cũng tương tự như nhau. Ví dụ, Kinh Phật Chuẩn Đoán nói rằng có 10 nguyên nhân và tình trạng của bệnh tật. Những lý do này là: ... (Xem: Tổng hợp các nguyên nhân_Tooltip)
+ Người ta bị bệnh vì họ "Không thể" tu hành:
-Ổn định tâm an lạc; Kiểm soát cơn giận dữ; Giải tỏa mối hận thù; Điềm tĩnh tim sợ hãi; Xóa tan buồn lo lắng
-Chấm dứt lời tranh cãi; Ngưng đọng cuộc đấu tranh; Khiêm nhường và khoan dung; Yên lặng khi thích đáng; Quân bằng sinh lực khỏe
-Chịu đựng đời gian nan; Theo cuộc sống đơn giản; Thực hành nghi thức đúng; Dứt sợ hãi tử vong; Chỉnh ý thức sai lầm
Tất cả các loại bệnh này gây ra do tập tính quá chấp thủ của chúng ta - tới ý tưởng, niềm tin, con người, ngoại hình, sở hữu, cảm xúc, địa vị, hoặc kinh nghiệm - với bất cứ một điều gì. Cần hiểu được ý nghĩa thực sự của sự buông xả và bản chất chân thực của tánh không, và điều trị lấy tất cả các căn bệnh bằng tri thức này, lúc đó chúng ta sẽ có y dược toàn hảo và nhiệm mầu để loại bỏ bao gốc rễ của bệnh tật. Cả hai phần thân và tâm cần được chăm sóc, và y dược của Phật giáo là biện pháp khắc phục lý tưởng. Sử dụng chánh Pháp để trị lành tâm thức, và con đường tiến tới sức khỏe thực sự sẽ mở rộng ra cho bạn. (Nguồn: Phật giáo với sức khỏe - Y học)
+ Xem trang tổng hợp các nguyên nhân gây bệnh - Nguồn gốc bệnh: Xem tại đây
+ Quỷ Vô thường - Quỷ ngũ hành gây bệnh hoạn
“Quỷ vô thường” không phải chỉ vỏn vẹn có một loại, mà có ít nhất đến năm loại là: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen (Thanh, Hoàng, Hồng, Bạch, Hắc). Căn cứ theo lý luận đông y: ngũ hành phối hợp với ngũ tạng trong thân thể con người và cũng tương ứng với ngũ sắc năm màu, ngũ quý năm mùa và ngũ phương năm hướng. Dưới đây là phần sơ lược, nếu giảng giải tỉ mỉ về lý lẽ của nó thì vô cùng vô tận.
1) - Can - mộc - đông - xuân - thanh.
2) - Tâm - hỏa - nam - hạ - xích.
3) - Phế - kim - tây - thu - bạch.
4) - Tỳ - thổ - trung - trường hạ - hoàng.
5) - Thận - thủy - bắc - đông - hắc.
Ngũ hành có cái lý lẽ là “tương sanh tương khắc.” Mà năm loại quỷ vô thường cũng dựa theo cái lý ngũ hành tương khắc, và có thể làm cho ngũ tạng của chúng ta phát sanh nhiều thứ tật bệnh liên quan với nhau.
1) - Hắc Quỷ vô thường - Ví như người có bệnh thận. Và thận thuộc thủy có sắc đen. Bởi thủy khắc hỏa cho nên nó ảnh hưởng cả tim cũng sanh bệnh.
2) - Hoàng Quỷ vô thường - Tỳ thuộc thổ, sắc vàng. Tỳ có bệnh do thổ khắc thủy, do đó nó lần lượt ảnh hưởng đến thận.
3) - Thanh Quỷ vô thường - Can (gan) thuộc mộc, sắc xanh. Gan có bệnh do mộc khắc thổ, tiếp đến là nó sẽ làm ảnh hưởng khiến cho tỳ cũng bị bệnh.
4) - Bạch Quỷ vô thường - Phế (phổi) thuộc kim, sắc trắng. Kim khắc mộc nên phổi bị bệnh, khiến ảnh hưởng đến gan cũng có bệnh.
5) - Hồng Quỷ vô thường - Tim thuộc hỏa, sắc đỏ. Tim có bệnh do hỏa khắc kim. Cho nên khi tim có bệnh, nó cũng có thể ảnh hưởng đến công năng của phổi.
Như vậy, ngũ hành tương khắc, mà các chứng bệnh của ngũ tạng cũng là tùy theo ác tánh tuần hoàn của quy luật nhất định mà sanh ra.
... Nghiên cứu về căn nguyên, tất cả các thứ bệnh tật quỷ quái, cho đến cả sanh tử cũng đều là từ “vô minh” mà ra.
Nếu phá trừ được vô minh, thời tất cả các bệnh, tất cả các quỷ vô thường cũng sẽ không còn. Vô minh chính là cội gốc của tất cả tội ác, phiền não, bệnh khổ cho đến cả sanh tử. Con người nên học cách mở mang trí huệ. Khi có trí huệ rồi, chúng ta sẽ vận chuyển được ngũ hành, đem các đạo lý “tương khắc” biến thành “tương sanh,” như có thể làm cho: kim sanh thủy, thủy sanh mộc, mộc sanh hỏa, hỏa sanh thổ, thổ sanh kim. “Tương sanh” tức là cùng giúp đỡ dẫn dắt lẫn nhau, có thể biến hóa dao mác thành ra ngọc lụa.
Bệnh hoạn là do nghiệp chướng và quỷ thần đang tác quái. Chúng ta cũng không thể dùng con mắt nhục nhãn để quan sát các hiện tượng bệnh tật một cách đơn giản như thế. Do bởi bản thân của bệnh nhân có nghiệp chướng, cho nên mới có nhiều loài quỷ quái đi theo đòi nợ và gây rắc rối cho người bệnh. Do đó, tùy theo tình hình của chứng bệnh, nếu đơn thuần chỉ trông cậy vào thuốc men để trị liệu thì chưa đủ đâu. Mà người bệnh còn phải hiểu rõ về cái nhân duyên nghiệp chướng của bản thân mình. Thêm vào những bài linh chú Phật Pháp, như vậy trị bệnh sẽ được hiệu quả hơn, cho nên “thuốc đến là bệnh trừ,” có linh nghiệm liền. Bởi vậy, thời xưa có những vị thầy thuốc được danh dự là “thần y” như Hoa Đà đời Đông Hán, Tôn Tư Mạc đời Đường. Về đức độ trị bệnh của họ thì không thể nghĩ bàn. Những vị đó đều tin Phật, chẳng qua trên y án trị liệu không có ghi chép lại mà thôi.
Có số bệnh nhân được bác sĩ trị liệu có kết quả. Song, cũng có bệnh nhân được bác sĩ chữa lành bệnh nầy rồi, nhưng bệnh khác lại phát ra. Vừa trị hết bệnh nầy thì lại xuất hiện bệnh mới khác. Có khi họ liên tiếp bị hai ba thứ bệnh như vậy, cũng bởi vì nghiệp chướng cứ mãi quấy rầy ở phía sau. Như Bác sĩ đã đánh lui được con quỷ gây bệnh, nhưng con quỷ nầy sẽ đi tìm con quỷ khác đến giúp đỡ, rồi chúng trở lại tấn công vào hang huyệt khác của người bệnh. Bọn quỷ cũng thường có hành động tập thể theo từng đoàn, từng đám với nhau.
Khi tôi vừa mới xuất gia, tôi vẫn thường hay trị bệnh cho người ta. Nhưng tôi không có viết toa thuốc cho bệnh nhân, tôi cũng không có dùng thủ thuật mổ xẻ ho