SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

THÔNG BÁO
CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN TRẮC HỌC

Nhân Trắc Học chúng tôi đang trong quá trình chuẩn bị để mời quí vị quan tâm đến Câu Lạc Bộ Thực Hành Cải Mệnh để cùng trao đổi, học hỏi cách cải mệnh bền vững lâu dài.

Địa chỉ: Tại Tầng 2 - Tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thanh Ngọc - Phường Đông Ngàn - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0964 759 686.

Thời gian bắt đầu tiếp đón: Xin được thông báo sau, xin cảm ơn!

THIÊN CƠ VÀ DỰ ĐOÁN

CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THIÊN CƠ DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH THEO GIỜ - NGÀY - THÁNG - NĂM SINH

A - Năng lượng vũ trụ tương tác với Thái dương hệ, các Hành tinh và Địa cầu và nhân loại và từng người:

I. Dẫn nhập: Các phương pháp dự đoán số mệnh nói chung, Chiêm tinh học nói riêng về mặt bản thể là cách trình bày thuần khiết nhất của chân lý huyền môn trên thế gian vào lúc này, bởi vì nó là khoa học có bàn đến các năng lượng và các lực đang chi phối và cai quản, chúng tác động qua và vào trong toàn thể lĩnh vực không gian và tất cả những gì nằm trong lĩnh vực đó.

- Các mối liên hệ giữa các thực thể cá nhân, hành tinh, thái dương hệ và vũ trụ sẽ được hiểu rõ và lúc bấy giờ chúng ta sẽ bắt đầu sống một cách khoa học. Chính cách sống hợp khoa học này mà mục tiêu trước mắt của khoa chiêm tinh học cần phải mang lại. - Nhờ Chiêm tinh học y có thể tìm ra vận mệnh của mình và biết những gì y lên làm.  (Trích lời dậy của Chân Sư DK trong Chiêm tinh học nội môn, trang 11) " Một danh sách – không hoàn chỉnh nhưng cũng đầy đủ cho các mục tiêu của chúng ta – trong số các ảnh hưởng chính, các ảnh hưởng này đang tìm kiếm con đường của chúng từ Các Cội Nguồn xa xăm, đi vào sự sống hành tinh chúng ta và tạo ra các hiệu quả nhất định lên trên con người cá biệt và nhân loại nói chung.(CTHNM, 22)

CHÍN (9) NĂNG LƯỢNG VŨ TRỤ CHỦ YẾU CÓ ẢNH HƯỞNG MẠNH MẼ TÁC ĐỘNG LÊN CON NGƯỜI VÀ HÀNH TINH CHÚNG TA

Nhóm STT TÊN GỌI Ghi chú
I 1    1. Tinh tòa Đại Hùng                    (Great Bear,                 Gấu Lớn).   
2    2. Thất Tỉ Muội                            (Seven Sisters) của       tinh tòa Pleiades.   
3    3. Sirus,                                         the Dog Star               (Sao Thiên Cẩu).  
II 4           1. Bảy thái dương hệ mà thái dương hệ chúng ta là một  
5           2. Bảy hành tinh thánh thiện trong đó hành tinh chúng ta không phải là một.  
6           3. Năm hành tinh không thánh thiện hay các hành tinh “ẩn tàng”.  
III 7    1. Bảy trung tâm hành tinh.  
8    2. Bảy trung tâm lực trong thể dĩ thái con người.  
IV 9           1. Mười hai chòm sao của hoàng đạo.  
    * Lên nhớ: Còn ảnh hưởng bức xạ trực tiếp đến với chúng ta từ hành tinh mà chúng ta sống, tức Địa Cầu. Lúc bấy giờ, và chỉ lúc bấy giờ, bạn có thể có một phân tích và hình ảnh tạm đầy đủ về các năng lượng mà thể dĩ thái của con người (đang chi phối xác thân vốn nổi bật về tính chất máy móc và tiêu cực trong các phản ứng của nó) phải và nhất định là bao giờ cũng đáp ứng.(CTHNM, 23)  
    * Nguồn năng lượng ít ảnh hưởng: Cần thêm các luồng năng lượng khác vào các dòng năng lượng này, chúng có tác động rõ rệt và ảnh hưởng lên sự sống hành tinh chúng ta, như là các dòng năng lượng đến từ đại tinh tú Betelgeuse, hoặc là từ Antares và các mặt trời vĩ đại khác, cũng như các thái dương hệ vốn có liên kết với các chòm sao của hoàng đạo và thần lực của chúng đến chúng ta qua các chòm sao này chứ không đến trực tiếp. (CTHNM, 23)  
…….........  ............... ………………………………………………........................................................................................................... …………

 

B- CÁC LOẠI HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH THEO NGÀY GIỜ SINH VÀ NƠI SINH(GQ1.6)

I- CÁC LOẠI HÌNH DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH

1- Dự đoán số mệnh theo Công truyền/ Thông thường với người tiến hóa trung bình: 

Là khoa học về Con Người (Phàm Nhân/ Phàm ngã), của đa số nhân loại hiện nay, bàn về các đặc điểm và tính chất của phàm ngã và của những khía cạnh hình tướng, và cũng với các sự kiện, các diễn biến, các hoàn cảnh và môi trường qui định vốn xuất hiện trong lá số chiêm tinh cá nhân, biểu thị sự kiểm soát của các hành tinh chứ không phải sự kiểm soát của mặt trời. (EA 145 ). Nói cách khác, nó đúng với những Người sống với xu hướng thuần vật chất, hướng ra ngoài.

2- Dự đoán số mệnh theo bí truyền (Hiện không phổ biến, nhân loại rất ít người biết):

+ Đối tượng áp dụng: Chỉ áp dụng Chiêm tinh học bí truyền để dự đoán cho lá số của những người có mức tiến hóa mà Phàm ngã qua thể Trí phát triển cao, bước đầu tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của năng lượng Linh hồn. Tất cả người nam và nữ đang trụ ở một trong những trình độ này, nhưng dưới lực thôi thúc của quá trình tiến hóa, sẽ đạt đến trình độ tinh thần trong kiếp này hay một kiếp tương lai. Giáo lý Minh triết Phương Đông dạy chúng ta rằng việc đạt được sự hợp nhất hoặc sự thống nhất trong tâm thức, với Sự Sống Tinh Thần hay Sự Sống Phổ Quát là Thiên Cơ thiêng liêng tối hậu dành cho con người. Hình thức này hiện không phổ biến, nó chỉ áp dụng với một 1 % nhân loại - Người tiến hóa sắp bước vào đường đạo cho đến Đệ tử. Là khoa học về Tâm thức/ Linh HồnLinh hồn tượng trưng cho trạng thái bác ái và minh triết của Thượng Đế và luôn luôn được hướng tới điều tốt đẹp cao cả hơn. Chiêm tinh học bí truyền tiết lộ công việc phải được thực hiện trong tâm thức, để cho điều tốt đẹp cao cả này được tiết lộ, và nơi mà nó có thể được hướng đến trong cuộc sống để mang lợi ích đến cộng đồng rộng lớn hơn.
Chiêm tinh học bí truyền quan tâm chủ yếu đến sự khai mở tâm thức, đến những tác động vốn đánh thức nó với “sự ban tặng” đặc biệt của bất kỳ khả năng của cung hoàng đạo (sign) và cung đặc biệt (Ray) nào đó, và đến phản ứng của con người và sự phong phú tương ứng của y thông qua phản ứng của y đối với ảnh hưởng của một cung hoàng đạohoạt động thông qua các hành tinh bí truyền từ góc độ nhận thức liên quan đến con người, từ góc độ đệ tử và điểm đạo. (EA 145-6)

II- CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH

1- Dự đoán số mệnh theo Lá số Tứ trụ

2- Dự đoán số mệnh theo Lá số Tử vi

3- Dự đoán số mệnh theo Lá số Chiêm tinh

a/ Chiêm tinh học công truyền

b/ Chiêm tinh học bí truyền

4- Các phương pháp dự đoán khác

C - THÁI ĐỘ VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA CÁC THẦY

I- VỚI CÁC CHIÊM TINH GIA HUYỀN BÍ CẦN BIẾT

+ Về cung thái dương, cung mệnh và ảnh hưởng của hình tư tưởng liên quan với mặt trăng, lập trường của chiêm tinh học huyền bí như sau:  Đó là các ảnh hưởng hành tinh cho thấy khuynh hướng của các hoàn cảnh sống bên ngoài. Đối với người thường và người kém tiến hóa, khi được lý giải đúng, các ảnh hưởng đó có thể và chắc chắn báo hiệu số phận và định mệnh của phàm ngã; các ảnh hưởng đó nhất định chi phối và hoàn toàn kiểm soát người nào vốn không có kinh nghiệm rõ rệt về linh hồn. Thời điểm mà một người bắt đầu biết được về linh hồn của chính mình và đang nỗ lực để kiểm soát “con đường trong sự sống” của chính mình, thì ảnh hưởng của các hành tinh, tự nó, yếu đi một cách rõ rệt và ngày càng kém hẳn; biểu đồ phàm ngã của y dường như không đi đến kết quả cụ thể nào và thường không còn chính xác chút nào.

+ Các năng lượng của hoàng đạo, của thái dương hệ và của hành tinh, tác động hoặc gây cản trở, hoặc lực kích động tùy theo loại vận thể hay thể mà chúng tác động vào; bản chất của các vận thể (vehicles) này và năng lực của chúng để thu hút, để đáp ứng, để loại bỏ, để tiếp nhận và để chuyển hóa đều hoàn toàn tùy thuộc vào mức tiến hóa đã đạt được và cũng tùy thuộc vào tình hình chung của hành tinh và tâm lý đang có trong gia đình nhân loại ở bất cứ thời kỳ đã chọn nào.

+ Trong Chiêm Tinh Học Bí Truyền, ba Cung tối quan trọng khi đánh giá tâm thức:

1. Cung thái dương: Cung Mặt Trời (Sun Sign) tượng trưng cho mức độ có ý thức, tự nhận thức. Trong lá số, Mặt Trời tượng trưng cho “phàm ngã” và những nỗ lực của chúng ta để phát triển một cái bản ngã (ego) sinh động và mạnh mẽ. Hầu hết mọi người chưa phải là phàm ngã. Một định nghĩa bí truyền của phàm ngã là: Một phàm ngã là một người hoạt động với sự phối hợp, nhờ vào khả năng của y và sự ổn định tương đối của bản chất tình cảm của y, và hệ thống tuyến hoàn chỉnh và phát triển đầy đủ của y. Điều này được hỗ trợ bởi sự ham muốn mạnh mẽ của y đối với năng lực và các điều kiện môi trường thích hợp.(EP II, 264) Hầu hết mọi người đã chưa trở nên ổn định hoặc chưa phối kết các khía cạnh khác nhau trong bản chất của họ và do đó là “đang phát triển phàm ngã”. Sự phát triển này phải diễn ra trước khi bất kỳ hoạt động tâm linh cao cả nào có thể xảy ra.
- Cung Thái Dương (Sun sign) chỉ ra / báo hiệu (indicate) bản chất của con người, về vật chất, trí tuệ và tâm linh. Nó nắm giữ cái bí ẩn của cung phàm ngã và của sự đáp ứng của con người, hoặc là thiếu sự đáp ứng đối với Linh Hồn, tức con người thực sự (real man, chân nhân).

- Cung này báo hiệu vấn đề/ khó khăn (problem) hiện tại của con người; nó thiết lập nhịp độ phát triển hay là nhịp sinh hoạt của sự sống phàm ngã của con người; nó được liên kết với đặc tính, tính tình và các khuynh hướng sự sống vốn đang tìm cách biểu lộ trong lần luân hồi đặc biệt này, và nó làm liên tưởng đến khía cạnh hoạt động của con người bẩm sinh. Về mặt căn bản, các mãnh lực được tìm thấy nơi đây đều biểu lộ cho đường lối ít đối kháng nhất.

2. Cung Mọc/ Cung mệnh (ascendant or rising sign) - Cung mệnh chỉ ra sự sống có dự kiến hay là mục tiêu trước mắt của linh hồn cho lần luân hồi này. Nó nắm giữ cái bí ẩn của tương lai và đưa ra thần lực mà, khi được vận hành đúng, sẽ đưa con người tới thành công. Nó trình bày khía cạnh hài hòa (sattvic or harmony aspect) của sự sống và có thể tạo ra mối liên hệ đúng giữa linh hồn với phàm ngã trong bất luận một cuộc luân hồi nào. Như thế, nó vạch ra phương hướng đưa đến việc thừa nhận mãnh lực của linh hồn.

- Cung mệnh (rising sign) chỉ ra các năng lực cao xa hơn, cùng với mục tiêu tinh thần và mục đích của việc lâm phàm liền đó và của các lần lâm phàm kế tiếp sát nách. Chính cung này có liên quan với sự phấn đấu của con người tâm linh “để xúc tiến” (“to carry on”) từ mức độ đã đạt được ..........

* Cung Mọc (Ascendant): Mục đích của Linh hồn với phàm ngã cho kiếp sống hiện tại.
Tượng trưng cho mức độ siêu thức hay linh hồn. Về mặt chuyên môn, Cung Mọc (Ascendant) là góc độ (degree) của hoàng đạo (zodiac) đang lên trên chân trời phía đông vào lúc sinh – lúc bình minh, lúc ánh sáng đang lên, ở đâu đó trên thế giới. Điều này làm cho thời điểm đó rất linh thiêng, vì bình minh và việc đi lên của ánh sáng báo hiệu sự đến gần vinh quang của thần thánh. Nói một cách tượng trưng, ​​tiếp cận với Cung Mọc là đến gần những cánh cổng của Ngôi Đền của các Bí Nhiệm Cao Siêu. Cung Mọc (Ascendant hay Rising Sign) cho thấy cuộc sống được dự định hay mục đích trước mắt của linh hồn cho kiếp này. Nó chứa bí mật của tương lai và trình bày các mãnh lực mà, nếu được sử dụng đúng, sẽ dẫn con người đến thành công. Nó tượng trưng cho khía cạnh hòa thanh (sattvic) hay hài hòa của sự sống và có thể tạo mối quan hệ đúng đắn giữa linh hồn và phàm ngã trong bất kỳ một kiếp nào. Do đó nó chỉ cách để nhận ra mãnh lực của linh hồn. (EA, 18, 19) Cung Mọc là ‘ trái tim ‘ của lá số chiêm tinh đối với những người có ý thức về các thực tại tâm linh cao cả – trong khi Cung Mặt Trời là trái tim của lá số đối với những người không phải như trên. Một phần mục đích của linh hồn là chuyển di năng lực điều khiển năng lượng ra khỏi phàm ngã (Mặt Trời), đến cho linh hồn (xuyên qua Cung Mọc). Trên thực tế, điều này có nghĩa là đồng nhất hóa hơn với những tính chất của Cung Mọc so với các tính chất của Cung Mặt Trời. (Trích lời dậy của Chân Sư DK trong Chiêm tinh học nội môn, trang 24-27)
+ Tham khảo: Tổng quan về vũ trụ và con người

3. Cung Mặt trăng. Loại thần lực này (đến từ một số hành tinh chứ không đến từ mặt trăng) báo hiệu rằng lực đó thuộc về quá khứ (past). Do đó, nó tổng kết giới hạn và các bất lợi hiện tại. Nó chi phối xác thân và cho thấy nơi mà nhà tù của linh hồn phải được tìm ra.

+ Cung Mặt Trăng (Moon Sign) tượng trưng cho mức độ vô thức. Trong bí truyền, Mặt Trăng được gọi là Mẹ của tất cả mọi Hình Tướng (EA, 321), và tượng trưng cho chất liệu vật chất của vũ trụ. Các cá nhân sử dụng cùng một nhóm chất liệu để xây dựng cơ thể của họ – hết kiếp này sang kiếp khác. Các thói quen vốn được thể hiện trong mỗi kiếp, để lại một dấu ấn hay “mô hình phản ứng” trên chất này. Mô hình này chuyển sang kiếp sau, làm tăng thêm cường độ của nó. Điều này có nghĩa rằng trong một kiếp mới, chúng ta đến với những thói quen và những phản ứng theo khuôn mẫu có trước, vốn có nguồn gốc của chúng trong quá khứ. Cung Mặt Trăng tượng trưng cho những “thói quen” này. Nhiệm vụ quan trọng nhất trong mỗi kiếp theo quan điểm tinh thần là để thanh luyện, cải tiến và sau đó phá vỡ mô hình ‘nhà tù của linh hồn” này.

II- VỚI DỰ ĐOÁN THEO TỨ TRỤ/ BÁT TỰ Yêu cầu:

1- Hình thành Lá số sinh mệnh: Một người khi cất tiếng khóc chào đời chính là thời khắc bẩm thụ khí trời đất, mà “thước đo” chính là Năm -Tháng – Ngày – Giờ sinh tại địa điểm sinh cụ thể. Mà Năm, Tháng, Ngày, Giờ được thể hiện bằng 4 trụ được tạo bởi các cặp Thiên Can – Địa Chi. Mà các cặp Thiên Can – Địa chi có tổng số 60 cặp (Bắt đầu từ Giáp Tý …… Ất Sửu) tuần hoàn. Chỉ với 60 cặp Can chi này mà hàng ngàn năm nay, con người tìm tòi để ứng dụng trong các môn dự đoán vạn sự trên đời, đã phần nào nắm bắt được quy luật Vận hành của trời đất tác động nên địa cầu và nhân loại, để ứng dụng vào đời sống xã hội loài người, có được những kết quả mong muốn, đáng tin cậy nói chung, nhiều việc đáng kinh ngạc nữa.

Dự đoán theo Lá số Tứ trụ gồm Trụ năm -Trụ tháng – Trụ ngày – Trụ giờ => Phản ảnh sinh mệnh/ Nghiệp quả, có thể hiểu là mục tiêu kiếp sống (Luân hồi) hiện tại để nhận các nghiệp quả xấu hay nghiệp tốt gì, ĐÂY ĐƯỢC GỌI LÀ NHÂN.  Khi kết hợp cùng các thông tin THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM qua phản ánh của Đại Vận, Lưu niên và môi trường sống, ĐÂY GỌI LÀ DUYÊN. KẾT HỢP NHÂN - DUYÊN để phân tích, đánh giá Tứ trụ của một người, người ta dùng quy luật của Âm Dương – Ngũ Hành cùng vị trí của Mặt Trăng và Mặt Trời, các hành tinh truyền chuyển năng lượng vũ trụ qua Lá số sinh của người đó để làm căn cứ suy đoán tương đối chính xác xu hướng các sự việc sảy đến với cuộc đời mỗi người, mỗi nhà. Theo đó cũng biết được điểm mạnh và điểm yếu của mỗi người từ lúc Sinh đến khi kết thúc sự sống (Chết) của một vòng đời, mà nếu biết phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu thì cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn là điều chắc chắn.

Như vậy, chữ Thời (Thời gian/ Thời điểm) rất quan trọng trong mọi phép đoán Thiên Cơ nói chung, Vận Mạng nói riêng. Nó là “thước đo” của Thịnh suy của Ngũ Hành Âm Dương, cũng phản ánh mức độ mạnh yếu của sự tương tác Nghiệp Quả khi NHÂN - DUYÊN hội đủ, từ đây có thể dự đoán mức/ Cấp độ mạnh yếu của sự Cát Hung Họa Phúc có thể sảy ra.

Theo đó, ứng với năm, tháng, ngày, giờ mà mỗi người, mỗi nhà …. và với mỗi quốc gia hay với Trái đất này sẽ có trạng thái Cát Hung riêng biệt, nó phản ánh sự phát triển của mình trong một giai đoạn phát triển, tuân theo quy luật Sinh - Bệnh - Tử của vũ trụ. Cũng tức là tuân theo các Định Luật Vũ Trụ, ví như vài luật đặc biệt quan trong như Luật Tuần Hoàn - Luật Chu Kỳ - Luật Nhịp Điệu - Luật Tái Sinh ... Như thế, với mỗi thời điểm thì lấy gì để biết được nó hoạt động ra sao, đặc trưng của nó là gì, cát hung thế nào, ứng nghiệm vào ai ..v..v.. >>> Chúng ta vẫn thường dùng Âm Dương - Ngũ Hành - Bát Quái và Thời gian để luận đoán.

Theo lý thuyết ngàn đời, các con số có trước, phản ánh sự hình thành vũ trụ và Thái Dương Hệ. Quy luật Âm Dương – Ngũ hành - Bát Quái là các khái niệm quan trọng trong Dịch học, nó bao quát vạn sự vật, hiện tượng dù nhỏ nhất đều được Quy nạp vào. Ví như Trong - ngoài, Trên - dưới, Đất – Nước …. Như với con người Nam, Nữ; Cao- thấp, Béo gầy, …., trong cơ thể là Tim, Phổi; hay hình thể Đầu-Thân mình, chân, tay …cũng như Giầu -nghèo, Sang-Hèn, Thọ yểu, Vợ chồng, Con cái, Tình yêu, hôn nhân ….. Vậy mỗi vấn đề đã quy nạp vào Âm dương - Ngũ hành trên với con người mà nói, khi nào thì phát sinh, ứng nghiệm vào ai, việc gì, bộ phận nào trên cơ thể ..v.v.. Chỉ có thể dùng Thời vận để đo lường sự Sinh - Khắc; Vượng suy của Âm dương - Ngũ hành …. để xét đoán.

2. Thời Vận: Thời là thời gian, quy luật thời gian người ta thường lấy theo Mặt Trời hay Mặt Trăng. Theo Đông Phương thì phân theo quy luật Dương lịch hay âm lịch, Âm lịch được thể nghiệm thông qua Can - Chi chủ quản mỗi năm mà ta đã biết, như năm 2011 là Tân Mão (Còn gọi là Thái tuế). Vận là Quy luật đo lường khác cũng dùng Can Chi, song song tồn taị khách quan với thời gian, Vận này tồn tại riêng biệt của từng người. Con Người đã bẩm thụ khí của Trời Đất, cho lên cũng không thoát khỏi quy luật vận động của Trời đất (Thông qua Âm dương-Ngũ hành).

Mỗi người sinh ra đều có Tứ trụ: Năm Tháng Ngày Giờ gọi là nguyên Mệnh, có tứ trụ tức là đã biết được Khí Âm dương, sinh vượng, trong đục, thông qua quy luật Sinh khắc, chế hoá ..v.v.. để biết được Mệnh Giầu-nghèo; Sang-Hèn; Thọ-Yểu; Bệnh tật; Tai hoạ; Tình yêu; Hôn nhân; hoàn cảnh gia đình; thăng quan tiến chức; Tiền tài danh vọng ..v.v.. Thông qua Thời Vận để biết được khi nào thì phát sinh tốt xấu, ứng vào ai trong gia đình hay bộ phận nào trên cơ thể; Hay khi nào nên kết hôn, hôn sự thế nào, khi nào nên đầu tư kinh doanh, kinh doanh nghành nghề nào; Đi về phương nào kinh doanh thì có lợi được giầu sang phú quí, phương nào thì bất lợi, thậm trí phá sản ..v.v.. cũng là tuỳ Người, tuỳ Thời Vận mà xét đoán >>> Đó cũng là mục đích nghiên cứu các môn Dịch học nói chung, Dự đoán tứ trụ nói riêng.

Bộ môn Dự đoán Số Mệnh đã tồn tại hàng ngàn năm mà vẫn có chỗ đứng của nó, chứng tỏ sự đáng tin cậy của pháp môn. Đặc biệt như chúng ta đang ở thời kỳ sức sống của Dịch học đang được Thời.

Nói tóm lại, Dự đoán Tứ trụ là để biết rước lành - Tránh dữ cho phù hợp với quy luật vận hành của Trời đất, là quy tắc chung của mọi môn phái là ”Thuận Trời thì sống, chống lại thì chết”.

Nhưng dự đoán số mệnh mà không lo cải sửa Tâm Tính để thay đổi Vận Mệnh thì chẳng ích gì, mà phần nhiều lại dước họa vào thân, là vì sao vậy? Vì Lo và Sợ, lo sợ chính là nguồn gốc của lắm thứ bệnh hiểm nghèo ngày nay, có khi dẫn đến chết non - Chết chưa hết số cũng chỉ vì lo sợ thái quá mà thôi. Vậy rất nên CÂN NHẮC TẬT KỸ trước khi đi xem số, và dù KẾT QUẢ XẤU TỐT THẾ NÀO CŨNG MỈM CƯỜI THÌ HÃY ĐI XEM => BẰNG KHÔNG THÌ ĐỪNG ĐI LÀ HƠN. THAY VÀO ĐÓ CỨ TU SỬA TÂM TÍNH CHẮC CHẮN VẬN MỆNH SẼ THAY ĐỔI TỐT LÊN, TUỔI THỌ SẼ GIA TĂNG.

D- PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THEO TÂM LÝ HỌC NỘI MÔN - BIỂU ĐỒ CUNG CỦA NHÂN VẬT

I- Tâm Thức với năng lượng Hành tinh hay chòm sao: 

1- Ảnh hưởng của các hành tinh ở cấp thứ nhất, là phàm ngã: Hầu hết mọi người vẫn còn ở mức này và đang bận tâm với lợi ích vật chất. Đây là nét đặc trưng phân biệt. Trong các lá số này, mãnh lực hành tinh được gọi là “công truyền”. Lực công truyền này phát triển các năng lực của phàm ngã, tăng cường các đặc điểm tham của ích kỷ, sao cho một phàm ngã hoàn toàn có ý thức và mạnh mẽ xuất hiện.

2- Ảnh hưởng của các hành tinh, chòm sao ở cấp thứ hai, là linh hồn: Một số lượng lớn con người hiện nay đang khao khát một cái gì đó cao cả hơn và tốt đẹp hơn lợi ích vật chất, và đang nhanh chóng chuyển đến cấp độ thứ hai này. Trong các lá số này, mãnh lực hành tinh được gọi là “bí truyền”. Bí truyền có nghĩa là ‘cái được giấu khỏi tầm nhìn thông thường’, là các năng lượng và các mãnh lực mà các hình tướng bên ngoài che giấu. Trong Chiêm Tinh Học Bí Truyền, lực ẩn giấu này ám chỉ đến ảnh hưởng và quyền năng của linh hồnChiêm Tinh Học Bí Truyền là khoa học về linh hồn, và nhiệm vụ của lực bí truyền là thúc đẩy tâm thức linh hồn – một tâm thức được phân biệt bằng bác ái và minh triết. Đối với những người ở cấp độ này, lá số sẽ được giải thích ở cả cấp độ công truyền và bí truyền. Cấp độ công truyền cho thấy mặt phàm ngã ích kỷ và tham của trong bản chất, và mức độ bí truyền cho thấy những tính chất của linh hồn vốn đang nỗ lực để sản sinh ra thông qua tâm và loại bỏ sự ích kỷ của phàm ngã. Về bản chất, các hành tinh và các chòm sao chỉ đơn giản là các tác nhân phân phối năng lượng vũ trụ, và con người sẽ điều hợp vào một trong ba dòng ảnh hưởng năng lượng này, tùy vào trình độ phát triển nội tâm của y.

E- DỰ ĐOÁN THEO CHU DỊCH - QUẺ DỊCH

I- CHUẨN BỊ VÀ KIÊNG KỊ KHI XEM

* Kết quả tạo Quẻ và dự đoán phụ thuộc rất lớn vào Tâm của người hỏi. Bởi vậy tuy nói là hữu ích nhưng thật khó ứng dụng, bởi Tâm mỗi người đầy dãy lo toan, thật khó chú tâm.

1- Cầu khấn: Xưng họ tên, cư trú, tập chung ý niệm vào 1 việc độc lập, tránh 2 việc cùng lo.

2- Ý nghĩa: Xem Thiên thời biết mưa nắng, gió bão; Địa lợi biết mùa màng bội thu; Thời vận vượng hay suy; Bệnh biết sống chết; Tài tụ hay tán. Biết Hoạ hay Phúc để phòng tránh ..v.v..

3- Thứ tự: Xem việc hệ trọng, gần trước, cả đời sau > ứng nghiệm sẽ chuẩn xác.

4- Bí quyết: Quẻ không rõ, việc gấp, nghỉ một lúc xem lại, không quản sớm tối, không cần hương khói, nhưng chỉ xem một việc đấy, không lên nghĩ đến 2,3 việc một lúc sẽ không linh nghiệm. Nếu việc liên quan đến nhiều người cùng hoạ phúc, mỗi người xem một quẻ, và nếu được một quẻ rõ cát hung thì theo quẻ đó, không cần xem tiếp, nếu Quẻ không rõ, tổng hợp lại phấn đoán.

5- Mật pháp: Hoạ phúc của mình, kín đáo gieo quẻ, tự suy đoán. Cát hung tự biết, việc qua đối chiếu, cần mới hỏi chuyên gia.

 

II- DỤNG THẦN: Vị trí Dụng thần có được đặt đúng chỗ hay không? Có ảnh hưởng rất lớn đến xem quẻ.

1- Xem cho mình về những viêc có liên quan đến người khác: Hào Thế là mình, Ứng là người và Dụng là chọn Lục thân quy nạp mà nó đại diện cho phù hợp với việc cần xem.

2- Xem cho mình hoặc người khác tự xem về vụ việc: Mình/ Người xem=Hào Thế; Dụng chọn trong Lục thân quy nạp mà nó đại diện cho phù hợp với việc cần xem. VD: Cầu tài=Tài là Dụng; Phòng tai họa: Tử là Dụng; Cầu Quan=Quan là Dụng; Cầu Danh: Quan, ấn là Dụng; Sinh đẻ=Tử là Dụng ..v.v..

3- Xem cho người thân: Chọn Dụng trong Lục thân cho phù hợp với vai vế trong gia đình. VD: Con xem cho cha mẹ=Phụ là Dụng; Anh em xem cho nhau: Huynh đệ là Dụng; Bố mẹ xem về con cái: Tử là Dụng; Vợ xem cho Chồng: Quan là Dụng ..v.v..

+ Căn cứ vào sự việc cần xem mà tìm xem Cát-Hung của Dụng mà đoán khi tương tác với Lục thân quy nạp mà nó đại diện. VD: Phụ mẫu là văn thư, là con dấu, là học vấn, là xe, là quàn áo vải vóc ..v.v...

 

III- Phương pháp Gieo quẻ:(Công dụng 6 Thân Q.biến căn cứ vào việc cần đoán xác định)

1- Thời gian: Căn cứ (1) Vào thời điểm phát sinh sự việc (2)Nhận được thông tin; Cách lập: Số N+T+N= Quẻ thượng; Thêm giờ= Quẻ Hạ; Tổng / 6= Hào động

2- Thời gian và gia số: Tổng N/T/N=Quẻ thượng; Quẻ Hạ: Cộng thêm giờ và số chữ của tên/ số CM thư/ Số ĐT..; Tổng/ 6 tìm H.động >>> Cùng h > Mỗi người có 1 quẻ khác nhau.

3- Theo Phương người đến đoán: Người(Quy nạp bát qoái Càn=người già...)= Quẻ thượng, phương đến=Quẻ hạ; Lấy số (Quẻ trên+Dưới+giờ)/6 tìm H.động

4- Theo Họ tên: Lấy Họ = Quẻ thượng, tên=Hạ; lấy cả Họ tên/6 làm H.động

* Dự đoán theo 8 quái: Xem Quẻ Thể-Dụng vượng suy sinh khắc và Hào từ để đoán. Có tượng=Có lý trong đó, lý rất quan trọng; Không có Lục thân.

* Dự đoán theo 6 Hào: Xem Hào Thế-Ứng/ Dụng thần vượng suy sinh khắc hội hợp hình xung...  Lục thân; Vẫn lấy  PP 8 quái là chủ tượng Cát-Hung.

+ Năm=Thái Tuế, to nhất; Tháng, Ngày, Giờ bé dần >>> Lục thân, Lục thú gắn với N/T/N/G đều luận Cát-Hung theo sự to nhỏ, lớn bé đó.

 

IV- XEM QUẺ DỊCH THEO 6 HÀO: Chọn đúng Dụng thần rất quan trọng

 

- Khi xét việc, phân tích thời điểm được quẻ để biêt Cát-Hung > Kết luận. Nếu việc hỏi hậu quả tiếp theo sau nay, thì căn cứ vào kết quả tại thời điểm đã kết luận, xét nếu Dụng biến Tiến > về sau sẽ giảm hung/ Cát dần; Nếu biến thoái thì về sau Hung tăng, cát giảm( VD: Quỷ khắc dụng, dụng biến thoái sau 3 năm (hào biến) > ứng điềm hung, tức không xét Quỷ nữa.

- Cần xét kỹ Hào Dụng với Nhật, Nguyệt và Hào động sinh khắc ..v.v.. >>> Cái nào vượng hơn là Cát, là thắng thế (cho dù 6 hợp, 6 xung, nhị hợp) = Xét nặng nhẹ ở đó, được mất ở đó.

+ Thần hé lộ Thiên cơ ở Hào động-Rất quan trọng >>> Đã động thì người, việc vẫn phải sảy ra <=> Vẫn ứng nghiệm. Xem vượng suy là để đoán biết mức độ nặng nhẹ, trư không thể coi là không có gì sảy ra. VD: Ngày Tý, tháng Hợi Cha xem về cat-Hung của con, Hào Thế Ngọ hỏa động, biến suy (Sửu), không có Hào động sinh, lại bị Nhật Tý xung khắc >>Ngọ suy tuyệt, bị nhật phá mà động >>> Vẫn khắc con là Tử Tôn Thân Kim không động >> Cha vẫn đánh con (vẫn khắc Tử), chỉ có điều vì Ngọ hỏa suy, tuyệt, bị phá nên muốn đánh nhưng vẫn bị cản trở lên không đánh được, hoặc đánh nhưng không đau ..v... >>> THẦN HÉ LỘ THIÊN CƠ Ở HÀO ĐỘNG LÀ VẬY, RÂT QUAN TRỌNG CẦN NHỚ KỸ.

 

+ KẾT LUẬN KẾT QUẢ KHI XEM QUẺ: 

- Dụng vượng/ Cát/ ..v.v..Việc thành/ Có kết quả/ Cát tường/ Đạt mong muốn/ Có phúc ..v.v.;

- Ngược lại là Việc không thành, không được tiền, không có tiền, việc trắc trở, Hung, bị hại, bị phá tài, bị cản trở....

+ Về Quẻ biến hồi đầu khắc (Chỉ là Quẻ thuần mới xét Hồi đầu khắc; các quẻ khác xem là Phản, Phục ngâm): 

- Xem việc Cát-Hung, nếu gặp Quẻ biến hồi đầu khắc Quẻ chủ (Dù Quẻ biến bị suy tuyệt ở lệnh tháng)>> Tượng Hung > Đại hung, không cần xét Dụng thân vượng suy. Xem việc gì cũng xấu= Không thành, có hại; Việc sống chết càng ứng nghiệm.

- Kể cả quẻ 6 xung biến lục xung, xem việc hung thường là cát lợi, nhưng nếu bị hồi đầu khắc thì vẫn là tai họa.

=> Cát-Hung xem Quẻ chủ ở mùa vượng/ suy tuyệt để đoán thời gian ứng nhanh chậm. Vượng thì đến mùa suy tuyệt sẽ ứng nghiệm. Ứng nghiệm như thần, bất kể việc lớn nhỏ(Dã Hạc). Xem việc nhỏ lại ứng Hung lớn là vậy.

 

1- TỰ XEM VIỆC MÌNH LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI:

 

+ Dụng thần: Tùy theo việc cần xem, chọn Dụng cho đúng

+ Hào Thế - Ứng: Quan hệ giữa Ta và Người

 

2- TỰ XEM VIỆC CÁT HUNG RIÊNG MÌNH VỚI SỰ, VẬT:

 

a- Xem về Thuốc tốt: Tử tôn cần vượng tướng/ động biến hồi đầu sinh/ hợp ..v..=Thuốc tốt. Ngược lại =Không tốt; Thầy thuốc là Hào ứng.

b- Xem uống thuốc có khỏi không: Chọn Tử Tôn=Dụng thần. Nếu Thuốc tốt, nhưng Hào động/ Nhật, Nguyệt hoặc bản thân mình khắc hại Tử Tôn >>> Thuốc giảm/ Không có tác dụng với mình.

c- Xem về cầu tài: Hào tài làm Dụng, xét Tài với Nhật, Nguyệt, hào động ..v.v.. >> Vượng/ suy, sau đó xét Tài với Thế >>> Tài vượng, có nguồn = Tốt; Thế vượng càng tốt.

d- Xem về tai họa: Quỷ Dụng Thần, xét Quỷ với Nhật, Nguyệt, Hào động ..v.v..>> Vươngj, suy, sau đó xét Quỷ với Thế >>> Quỷ vượng <=> Họa lớn, Khắc, Hình Thế=Đại họa; Sinh, hợp=Bình an.

* Nguyên tắc chung xét Dụng Thần: Xét Dụng với Nhật, Nguyệt, Hào động và Hào động hồi đầu sinh/ khắc, xung, Hợp > Cát-Hung. Các Hào động/ Hào biến có tham sinh, hợp vong hình/ Tham Hợp vong sinh/ Khắc ...v.v..không, sau đó tổng hợp lại là Dụng thần Vượng/ Nhược. >>> Xét 2 trường hợp:

1- Hào Thế = Dụng Thần: Thế Vượng và không bị Kị Thần khắc, phá, xung ..v.v..hoặc bị nhưng lực kị thần đó yếu= Cát nhiều hung ít. Thế vượng=Cát lợi; Sinh nhiều không có khắc hại= Đại cát

2- Thế là mình, Lục thân = Dụng Thần: Như xem về cầu tài, phòng tránh tai họa, xem về thuốc thang, mất của, đầu cơ ..v.v...Xem Dụng thần là chính (Tài/ Tử ..v.v..), nếu Tài Tử vượng, động trong Quẻ, được nhạt, Nguyệt sinh, Hào động sinh, Hào động sinh, hợp lại Hồi đầu sinh/ Hợp hào động đó >>> Chỉ có Cát lợi; Ngược lại là Kị thần vượng=Hung; Còn bản thân mình được vượng cũng chỉ là phù trợ.

Ví dụ:

Xem về uống thuốc: Nếu Phụ vượng, được Nhật, Nguyệt, hào động sinh ..v.v..> mà Tử Tôn suy tuyệt, không gốc, hồi đầu khắc, bị Nhật, Nguyệt xung phá ..v.v..>>> Khó chữa. Phụ trì thế vượng=Hết cách.

- Xem về cầu Tài: Hào Tài không hiện/ suy tuyệt, chân không, không gốc rễ ..v.v.. thì Hào Thế có vượng tướng đến mấy (Huynh/ Phụ/ quan-Trừ động liên hoàn tương sinh Tử tôn/ Tài) ..v..v..cũng không có của mà cầu.

- Xem gặp Người quyền quý: Quan quỷ làm Dụng thần. Quỷ trì thế=Gặp được; nếu hồi đầu khắc, chờ xung Hào biến khắc=gặp được

  • Phong thủy

6

Cột chính, nóc; Tường vách

Tổ tiên

Trời/Về hưu

 

5

Đường đi; N.khẩu-Người

Cha

LĐ N.Nước

 

4

Cửa(Phòng) chính;     Cổng

Mẹ

Bộ-Tỉnh

 

3

Cửa;  Giường

Huynh

Cục-Huyện

 

2

Không Gian chính;     Bếp

Vợ

Xã,T.thức/Dân

 

1

Nền nhà ; Giếng nước

Con, Hầu

Dân/V.vật

 

 

Ngôi: T-Đ-N; T-T-Hạ; Âm-D; Sang-H; H5-Tôn quí; H 1&4; 2-5; 3-6=Tương ứng; H 2&4 đồng công, khác ngôi >> 2-Gần=Vinh và 4-Xa= sợ hãi; 3-nhiều Hung; 5 nhiều công >> H Sang-Hèn

 và: Hào trên cùng +/- > Cương/Nhu thắng; Hào - dưới, + trên > Nhu phục tùng=Tốt; Ngược lại=Giả dối; 5 nhu+1 cương=Dân theo Vua; 5 cương ủng hộ 1 Nhu = Vua theo T.nhân-(1 trong 4 H.ở giữa)

* Bảng trường sinh