SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Các giai đoạn trên đường đạo Phần V – Giai đoạn đệ tử trên Đường dây

Trong bài này chúng ta học tiếp về giai đoạn thứ tư trên Con Đường Đệ Tử, giai đoạn có tên gọi “Disciple on the Thread”— “Đệ tử trên Đường Dây”. Như những bài trước, chúng tôi vẫn sử dụng bản dịch của dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt, bổ sung những đoạn Ông không dịch, và hiệu chỉnh đôi chỗ cho sát với nguyên tác. Sau đây là những điểm cần lưu ý:

  1. Trong giai đoạn này, người đệ tử được truyền dạy phương pháp giao tiếp trực tiếp với Chân Sư khi cần thiết. Nó liên hệ với quyền năng thông linh bậc cao, khác hẳn với quyền năng thông linh bậc thấp như nhãn thôngnhĩ thông cõi trung giới.
  2. Trong phần mở đầu, Ngài nói qua về tính chất của của hai loại quyền năng thông linh cao và thấp. Chúng tôi nghĩ đây là dịp để chúng ta ôn lại và nhận thức sâu sắc sự khác biệt giữa hai loại quyền năng. Do ảnh hưởng của những quyển sách best-seller như “Tây Tạng Huyền Bí”, nhiều người cứ lầm tưởng rằng “thần nhãn” (nhãn thông) là quyền năng thần thông siêu đẳng. Có lẽ những ngộ nhận và ảo tưởng như thế phải được gạt bỏ, và người học đạo phải hiểu rằng đó là những quyền năng thông linh bậc thấp, thuộc dạng “không đáng mong cầu”. Chúng tôi thấy có một số bạn học đạo sau một thời gian phát triển những dạng quyền năng như thế, và họ chưa hay không ý thức được sự nguy hiểm đi kèm với sự khai mở quyền năng bậc thấp đó. Đây là lời của Chân sư DK:

Những Đạo sinh sơ cơ cần phải được cảnh giác nghiêm nhặt về vấn đề này. Vấn đề càng khó khăn hơn vì những ai có năng khiếu thông linh bậc thấp lại không dễ gì tiếp xúc được để cảnh cáo họ, và họ luôn luôn cho rằng những quyền năng nhãn thôngnhĩ thông của họ là dấu hiệu của sự tiến bộ tâm linh thượng đẳng. Tâm trí của họ khép chặt đối với mọi sự cảnh cáo và họ thường hành động đằng sau bức rào tự mãn, tự tôn. Họ quên rằng tất cả những giống người bán khai và loài thú đều có năng khiếu thông linh và tiếp nhận các cảm giác mà những loại người mở trí không tiếp nhận được. Những giống người đó đều có năng khiếu giao tiếp với cõi trung giới trong những hoạt động, cách diễn đạt, các hiện tượng và thái độ của họ. Bởi vậy, cần phải tăng gia sự cảnh cáo và thức tỉnh những kẻ có năng khiếu thông linh trung bình về tính chất bất hảo của hiện tượng này.

Chúng tôi nghĩ không gì xác đáng hơn những cảnh cáo của Chân sư DK. Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta bài bác hoàn toàn những quyền năng đó, chúng có giá trị của chúng nhưng chúng ta phải đặt chúng vào đúng vị trí của chúng. Sau đây cũng là lời dạy của đức DK:

Tuy nhiên, người đệ tử không loại trừ khía cạnh biểu lộ thiêng liêng nào ra ngoài vùng kinh nghiệm của họ. Họ biết rằng năng khiếu thông linh trong những giai đoạn thấp kém nhất cũng là một khía cạnh biểu lộ thiêng liêng, có tính chất cao hơn những tiến trình thuần vật chất của thể xác. Người đệ tử không thể nói rằng bởi vì y đã là đệ tử, y sẽ không còn phải trải qua loại kinh nghiệm này hay loại kinh nghiệm khác. Y phải sẵn sàng trải qua mọi thứ kinh nghiệm và đối diện với sự kiện rằng rốt cuộc tất cả các đệ tử đều phải trở nên thông linh, kể cả loại cao lẫn loại thấp như Đức Christ ngày xưa. Cái bí quyết an toàn duy nhất mà y cố gắng đạt tới là ngăn chận sự khai mở những huyền năng loại thấp cho đến khi nào những khả năng thông linh thượng đẳng đã thức động. Chừng đó thì loại năng khiếu hạ đẳng được kiểm soát, chế ngự và được sử dụng do sự điều khiển từ mức độ tâm thức cao siêu.

Vâng, Ngài dạy cái bí quyết để sử dụng an toàn những quyền năng thấp đó là khai mở những quyền năng bậc cao trước đã, vì cái cao lúc nào cũng bao hàm cái thấp hơn.

  1. Giai đoạn đệ tử trên đường dây chỉ đến với những ai đã là đệ tử chính thức ít nhất là một kiếp.
  2. Một từ đặc biệt mà dịch giả Nguyễn Hữu Kiệt đã dịch ý rất hay là “point of tension”—trụ điểm. Nếu dịch nghĩa đen đúng từng chữ thì point of tensionnghĩa là điểm căng thẳng, điểm tập trung. Trụ điểm là thuật ngữ đặc biệt mà các bạn nên làm quen vì Chân sư DK sử dụng rất thường trong giáo huấn của Ngài.
  3. Trong đoạn cuối cùng, đức DK giải thích về cách thức liên hệ giữa Chân sưĐệ tử trên Đường dây. Đoạn này có đôi chỗ khá khó hiểu, chúng tôi xin diễn giải thêm cho rõ.

Những “đệ tử trên đường dây” dùng một kỹ thuật lạ kỳ tùy theo cung của họ. Họ luôn luôn hoạt động xuyên qua luân xa đỉnh đầu. Qua luân xa này, họ phát ra lời thỉnh nguyện (vô âm thinh đối với thính giác phàm trần) rung động dọc theo sợi dây và đến với Đức Thầy. Tuy nhiên kỹ thuật này được truyền dạy trực tiếp cho người đệ tử khi sư phụ xét thấy y có quyền được ban đặc ân đó. Tôi không thể chỉ bí thuật đó cho chư môn đệ. Khi nào “đi trên đường dây” chư môn đệ sẽ được truyền thụ bí pháp đó.

Sợi dây này không phải là đường antahkarana, mà là một sợi dây kết nối bằng ánh sáng sống động. Chân sư phóng ra sợi dây này khi người đệ tử thỉnh cầu một sự đáp ứng từ Ngài. Khi người đệ tử xây dựng đường antahkarana nối phàm ngãTam Nguyên tinh thần thì sự đáp ứng này sẽ gia tăng sức mạnh. Cuối cùng thì người đệ tử trên đường dây có được sợi dây sự sống (sinh mệnh tuyến)—một khía cạnh của đường antahkarana—nối liền với sợi dây Đạo viện, và do đó thiết lập sự kiểm soát của Chân thần lên cá nhân, giống như sự kiểm soát của Shamballa với Thánh Đoàn trên bình diện tập thể. Ta phải luôn ghi nhớ mối liên hệ giữa cái lớn và cái nhỏ.

Đối với người đạo sinh trung bình, ý nghĩa của giai đoạn này trên Con Đường đệ tử chỉ có giá trị từ góc độ nhấn mạnh những gì chưa đạt được. Do đó, những hàm ý hoàn toàn tiêu cực. Đối với người đệ tử thực thụ mà thái độ là tích cực và thông minh, đây là những gì thường đáng mong cầu. Định Luật của các Mối Quan Hệ giữa Dương và Âm nằm sau tất cả những giai đoạn này. Ban đầu thì cái cao hơn luôn là âm đối với cái thấp; kế đến có sự thay đổi, cái cao hơn trở thành dương với cái thấp hơn, và do đó dẫn đến sự thăng tiến đều đặn của của Con Đường của Sự Sống (Sinh Lộ—the Way of Life) và Nấc Thang Thăng tiến Tinh thần.

Ngài nói định luật về mối quan hệ giữa Dương và Âm nằm đằng sau tất cả giai đoạn trên Con Đường Đệ tử. Giống như trong một nguyên tử, hạt nhân ở trong là dương đối với electron xoay quanh bên ngoài, thu hút hạt electron xoay quanh nó. Chân sư là hạt nhân dương của Ashram (Đạo viện của Ngài), thu hút các đệ tử tiến gần đến Ngài. Nhưng lúc đầu do người đệ tử chưa đáp ứng được với sức hút của Chân sư, Ngài vẫn là âm đối với người đệ tử–là cái thấp hơn trong mối liên hệ này.

  1. Từ những gì Ngài dạy trong bài này, ta có thể suy diễn giai đoạn này nằm trong cuộc điểm đạo thứ hai và thứ ba. Giai đoạn đệ tử chính thức nằm giữa cuộc điểm đạo thứ nhất và thứ hai.

*********************

Giai đoạn IV – Người đệ tử trên đường dây – Stage IV. The Chela on the Thread.

Với những lưu ý sơ khởi này, giờ chúng ta hãy đi qua một giai đoạn khác của Các Giai đoạn trên đường đạo. Giai đoạn thứ tư này được diễn tả như sau:

“Trong giai đoạn này, người đệ tử được truyền dạy phương pháp kêu gọi đến sự chú ý của Chân Sư trong những trường hợp khẩn cấp. Nó có cái tên kỳ lạ là ‘Người đệ tử trên đường dây’”.

Giai đoạn này có liên quan đến toàn bộ vấn đề nhạy cảm thông linh loại cao. Những tác phẩm của tôi đã có nói rõ ràng và dứt khoát về tính cách không đáng mong cầu của những kinh nghiệm thông linh bậc thấp. Những Đạo sinh sơ cơ cần phải được cảnh giác nghiêm nhặt về vấn đề này. Vấn đề càng khó khăn hơn vì những ai có năng khiếu thông linh bậc thấp lại không dễ gì tiếp xúc được để cảnh cáo họ, và họ luôn luôn cho rằng những quyền năng nhãn thông và nhĩ thông của họ là dấu hiệu của sự tiến bộ tâm linh thượng đẳng. Tâm trí của họ khép chặt đối với mọi sự cảnh cáo và họ thường hành động đằng sau bức rào tự mãn, tự tôn. Họ quên rằng tất cả những giống người bán khai và loài thú đều có năng khiếu thông linh và tiếp nhận các cảm giác mà những loại người mở trí không tiếp nhận được. Những giống người đó đều có năng khiếu giao tiếp với cõi trung giới trong những hoạt động, cách diễn đạt, các hiện tượng và thái độ của họ. Bởi vậy, cần phải tăng gia sự cảnh cáo và thức tỉnh những kẻ có năng khiếu thông linh trung bình về tính chất bất hảo của hiện tượng này.

With these preliminary remarks, let us pass on to another of the Stages on the Path of Discipleship. The fourth stage is described as follows:

“The stage wherein the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention. This has the peculiar name of the Chela on the Thread.”

The whole question of psychic sensitivity of the higher kind is involved at this stage. I have taught in my writings most clearly and definitely the undesirability of the lower psychic experiences. This has been done as the need to warn aspirants anent this matter is great. The difficulty is enhanced by the fact that lower psychics are not easily reached and warned as they are ever determined that their clairvoyant and clairaudient powers are indicative of the advanced type of high spiritual unfoldment. Their minds are closed to all warnings and they function often behind a barrier of smug self-satisfaction. They forget that the aboriginal races and animals are all psychic and register that which the more mental types fail to record. The rank and file of the people are inherently astral in their activities, their interpretations of phenomena and their attitudes and focus. It is necessary, then, to enforce the warnings and awaken the average psychic to the undesirability of his astral life.

Tuy nhiên, người đệ tử không loại trừ khía cạnh biểu lộ thiêng liêng nào ra ngoài vùng kinh nghiệm của họ. Họ biết rằng năng khiếu thông linh trong những giai đoạn thấp kém nhất cũng là một khía cạnh biểu lộ thiêng liêng, có tính chất cao hơn những tiến trình thuần vật chất của thể xác. Người đệ tử không thể nói rằng bởi vì y đã là đệ tử, y sẽ không còn phải trải qua loại kinh nghiệm này hay loại kinh nghiệm khác. Y phải sẵn sàng trải qua mọi thứ kinh nghiệm và đối diện với sự kiện rằng rốt cuộc tất cả các đệ tử đều phải trở nên thông linh, kể cả loại cao lẫn loại thấp như Đức Christ ngày xưa. Cái bí quyết an toàn duy nhất mà y cố gắng đạt tới là ngăn chận sự khai mở những huyền năng loại thấp cho đến khi nào những khả năng thông linh thượng đẳng đã thức động. Chừng đó thì loại năng khiếu hạ đẳng được kiểm soát, chế ngự và được sử dụng do sự điều khiển từ mức độ tâm thức cao siêu. Theo sự hiểu biết của người đệ tử, chỉ có sự sống và hình thể, và y đang tập điều khiển những phương thức của sự sống qua trung gian của hình thể để tạo nên sự biểu lộ thiêng liêng.

Disciples, however, put no aspect of the divine manifestation outside their range of experience. They know that psychism in its lowest phases is a part of the divine expression and is of an essentially higher nature than the purely physical processes of living in the body. A disciple cannot say that now because he is a disciple, he will not be subject to this, that or the other experience. He has to be prepared for all experiences [742] and to face the fact that eventually all disciples have to become psychics, both higher and lower, as was the Christ. The only safeguard for which he works is to prevent the lower powers demonstrating until the higher psychic faculties are functioning; then the lower are controlled and operated (if I might so express it) from the level of the higher consciousness. There is, to the mind of the disciple, only life and form and he is learning to handle the life processes through the medium of the form so as to produce a divine manifestation.

Ngày nay, thế giới đang bước vào một giai đoạn cực kỳ nhạy cảm. Các đệ tử phải tự luyện mình để chuẩn bị giúp đỡ. Sự dịch chuyển tâm thức của những cá nhân bình thường sẽ diễn ra trên cõi trung giớibức màn ngăn cách giữa thế giới hữu hình với cõi vô hình sẽ biến mất một cách mau chóng. Làm sao các đệ tửthể phụng sự, giúp đỡ trong thời kỳ khó khăn đó nếu họ không có kinh nghiệm diễn đạt những khía cạnh khác nhau của mọi hiện tượng thông linh? Làm sao họ có thể cứu giúp và bảo vệ những kẻ khác nếu họ e ngại không dám bước vào những cõi giới ngự trị bởi những hiện tượng thông linh thấp kém? Tôi không bảo chư môn đệ phải luyện tập các phép thần thông mà bảo chư môn đệ hãy giữ mình trong tư thế sẵn sàng để thấy và nghe trên tất cả mọi giai tầng phụng sự, hiểu biết những gì mình nghe thấy và nghe để có sự diễn đạt đúng đắn, không bị mù quáng bởi thành kiến và sợ sệt. Đường Đạo của người đệ tử không phải dễ dàng êm ái, nhưng nó được bù trừ xứng đáng. Sự nhạy cảm thông linh là điều cần thiết để hiểu rõ giai đoạn này trên đường Đạo.

The world today is entering a phase of extreme sensitivity. Disciples must train themselves to help. The shift of the consciousness of ordinary and mediocre individuals will be on to levels of conscious astralism and the veil between the seen and the unseen will rapidly disappear. How can disciples be of service in that difficult period if they have no experience in the distinction and interpretation which must exist between aspects of phenomena? How can they rescue and safeguard others if they fear to enter into realms of life where the lower psychism rules? I am not asking you to cultivate psychic powers, but I do ask you to hold yourselves in guarded readiness to see and hear on all levels of service, and to know what you see and hear, interpreting it correctly, unblinded by prejudice and fear. The Path of Discipleship is not an easy one but its compensations are adequate. Psychic sensitivity is involved in the understanding of this phase of discipleship.

Tất yếu phải có một mối liên hệ giữa đệ tử, Đạo viện và vị Chân sư trong tư tưởng của bạn khi bạn cố gắng thật ngắn ngủi để nghiên cứu giai đoạn này. Mối tương quan và sự phát triển của liên hệ tam giác này được tạo ra thông qua việc tạo ra một trụ điểm. Đã có nhiều điều được giảng dạy về đề tài sợi dây, sutratmaantahkarana. Sợ chỉ này xuất phát từ Thánh đoàn, từ một trụ điểm (point of tension) trong đó (giống như Chân sưtrụ điểm ở trung tâm của bất kỳ ashram nào), tới những nơi xa xôi, tới nhiều cảnh giới và đi vào nhiều trái tim. Sợi dây này khiến người đệ tử—nếu y đã được phép học cách sử dụng nó—quay trở lại ngay lập tức tới trung tâm của công việc và gặp “Đức Thầy của đời y” vào bất kỳ thời điểm nào mà y muốn. Mối quan hệ tam giác này có thể được diễn tả như sau:

In your thoughts as you endeavour very briefly to study this stage, there must exist a correlation between the chela, the Ashram in which he is working and the Master. This correlation and the growth of this triangular relationship is always brought about through a realisation of tension. There has been much given to students upon the theme of the thread, the sutratma and the antahkarana. This thread leads from the Hierarchy and a point of tension in that Hierarchy (such as the Master at the centre of any Ashram) to distant places, to many planes and into many hearts. This thread enables the disciple (if he has been permitted to learn how to use it) to return instantaneously to his centre of work and to reach at any desired moment the “Master of his life.” This triangular relation might be depicted thus: [743]

 

3

Một mở rộng của ý tưởng bày ẩn phía sau nhiều điều mà tôi đã dạy liên quan đến lễ Wesak và bạn cần ghi nhớ khi bạn chuẩn bị tham dự lễ đó

An extension of this idea lies behind much that I have taught anent the Wesak Festival and should be in your minds when you prepare to participate in it.

 

4

Toàn bộ chủ đề đệ tử trên đường dây và các kỹ thuật có liên quan trong trạng thái tâm thức này tất cả đều liên hệ đến khả năng của con người, dưới sự kiểm soát của linh hồn, trở nên từ tính và “phát ra lời kêu gọi rung động có thể thâm nhập vào tai của Đấng đang giữ sợi dây”. Câu này trích trong một bản viết tay rất cổ trong Lưu Trữ Văn Kiện của Thánh đoàn đề cập đến giai đoạn này trên con đường đệ tử. Đây là lần đầu tiên tôi trình bày—dưới hình thức ẩn ý, ngắn ngủi, và bất toàn này—cho chư môn đệ đang tụ họp lại theo tiếng gọi của Thánh đoàn trong chu kỳ này. Chỉ những ai đang ở trong giai đoạn này của Con đường Đệ tử mới thật sự hiểu được những gì tôi nói và hưởng được lợi ích của những lời ẩn dụ.

The entire subject of the chela on the thread and the techniques involved in this state of consciousness are all related to the capacity of the human being, under soul control, to be magnetic and to “emit the vibratory call which can penetrate to the ear of the One Who holds the thread.” This is quoted from a very ancient manuscript in the Archives of the Hierarchy, dealing with this stage of discipleship. I am for the first time making this information available in a brief and necessarily veiled and inadequate form to the disciples, assembling this cycle at the call of the Hierarchy. Only those who are at this stage of discipleship will really comprehend what I say and profit by the hints.

Giai đoạn thứ tư này chỉ có thể đến với người nào đã từng là đệ tử chính thức trên một kiếpđã chứng tỏ khả năng phụng sự với tinh thần vô kỷ và trung kiên. Những điều kiện được kể ra dưới đây:

This fourth stage is only possible to a disciple who has been an accepted disciple for more than one life and who has demonstrated his ability to work with selflessness and pertinacity. The requirements can be stated as follows:

1) Người đệ tử đã thành công trong việc tách khỏi bản ngã và không còn bận rộn quá đáng với cái tôi bé nhỏ của mình. Y không còn bận tâm với bản chất xúc cảm của mình, và sự chú trọng quá đáng đến cá nhân mình—vốn là điều thường thấy nơi một số đông người—không còn chế ngự tư tưởngnguyện vọng của y.

The disciple has succeeded in decentralising himself and is no longer the point of dramatic interest on his own little stage. He is no longer preoccupied with his feeling [744] nature and the excessive self-interest, evidenced by so many, no longer controls his thoughts and aspiration.

2) Người đệ tử đã có thể làm việc một cách vô tư bất luận rằng tính chất cá nhân của y có thể phản ứng cách nào. Điều này có nghĩa là những xúc cảm, tư tưởng, yêu ghétdục vọng riêng tư không còn là những yếu tố quyết định trong đời sống của y nữa, mà y bị chi phối trong những hoạt động thường ngày và trong các mối quan hệ chỉ bởi những hoạt động hữu ích và ý tưởng tốt lành vì lợi ích chung cho cả nhóm. Y sẽ không hy sinh một cá nhân nào vì lợi ích tập thể cho đến khi nào y đã cố gắng trợ giúp người ấy hiểu biết vấn đề và chứng minh một mối tương quan đúng đắn, nhưng y sẽ không do dự mà hành động quyết liệt khi cần và khi có dịp.

The disciple can now work with impersonality, no matter how his own personal nature may be reacting. This means that his own feelings, thoughts, likes, dislikes and desires are no longer the controlling factors; he is conditioned in his daily activities and relationships only by those intentions and activities which are for the good of the group. He will not sacrifice any individual to the group good until after due effort to help that individual understand and demonstrate right relationship; but he will not hesitate to take firm action as need and opportunity arise.

3) Người đệ tử đã có một ý thức tỷ lệ về công việc, về giá trị tương đối của sự đóng góp của y vào công việc của Sư phụ và đời sống của Đạo Viện. Y say mê với công việc và cơ hội phụng sự chớ không bận tâm nghĩ đến Chân sư và vị thế cá nhân của y trong tư tưởng của Chân Sư. Phần nhiều đệ tử trong các giai đoạn đầu của thời kỳ sơ cơ không bao giờ quên rằng họ là những đệ tử. Đó là điều mà ĐỨC THẦY MORYA, gọi là sự “tự mãn của cái trí bám bíu lấy phàm ngã”. Đó là một hình thức che đậy của thói kiêu căng mà những kẻ sơ cơ khó tránh khỏi. Họ không bao giờ quên, dù chỉ một phút, cái địa vị đệ tử của họ và sự kiện họ được gần Sư phụ, dù cho họ bận rộn bao nhiêu đến công việc. Tuy nhiên, nếu họ thật sự hoạt động từ một trụ điểm tâm linh, họ sẽ quên đi thậm chí cả sự hiện diện của Ngài trong công việc cần phải làm để phụng sự nhân loại.

The disciple has developed a sense of proportion as to the work and the relative value of his contribution to the Master’s work and the Ashram life. He is engrossed in the task and the opportunity and not with the Master and with his individual position in the Master’s thoughts. Most disciples in the early stages of their novitiate never forget that they are disciples. This is what the Master Morya has called the “smug recollection of the self-engrossed mind.” It is a form of veiled pride which beginners find it difficult to avoid. Never for a minute do they forget the fact of their discipleship and the fact of the Master, no matter how active their service; yet—if they were truly working from a point of tension—they would forget His very existence in the work to be done for their fellowmen.

4) Người đệ tử đã đạt tới điểm vốn là tương ứng cao của cái được gọi là “đa nhân cách”. Nói cách khác, đó là trạng thái tâm thức mà sự rối loạn đa nhân cách chỉ là cái bóng và một phản ảnh méo mó, xiêu vẹo. Người đệ tửý thức đồng loạt về hai trạng thái hay hai điểm hoạt động tập trung.

The chela on the thread has reached a point where the higher correspondence to the so-called “split personality” is to be found, or (to word it otherwise) where that state of consciousness, of which the split personality is the shadow and the distortion, makes its appearance. The disciple is conscious simultaneously of two states of awareness or two points of concentrated activity:

a) Trụ điểm tâm linh, nơi mà y tập trung tinh thần và cố giữ cho được thường xuyên và bất khả xâm phạm.

b) Khu vực hoạt động tập trung trong 3 cõi giới, xuyên qua đó y thực hiện việc phụng sự với tư cách đệ tử.

Hai điểm liên đới nầy thật ra không phải là hoạt động riêng biệt trừ phi chúng xuất hiện trong tâm thức của người đệ tử trên cõi hồng trần, và biểu lộ đời sống ngoại tại và nội tâm của y. Sở dĩ như vậy là vì y phải hoạt động trong thời giankhông gian qua tác động của bộ óc vật chất. Điểm tập trung thứ nhì thật ra phải là một sự xuất lộ ngoại tại của điểm trụ tâm linh nội tại. Trong những dòng chữ trên, chư môn đệ sẽ tìm thấy chìa khoá của khoa học về Con đường Đệ tử, và của mối tương quan đang phát triển giữa nhân loại và Thánh đoan.  Nó cũng liên hệ đến công việc của ĐỨC PHẬT và Christ, vì các Ngài là tiêu biểu cho những trụ điểm của SHAMBALLA và trong Thánh đoàn

a. The point of spiritual tension wherein he is focussed and which he endeavours to preserve inviolate and constant. [745]

b. The focussed sphere of activity in the three worlds, through the medium of which he carries out his work and service as a disciple.

These two related points are not in reality two separated activities, except as they emerge in the consciousness of the disciple upon the physical plane and express his objective and his subjective life. They are incident to his having to work in time and space and through the medium of a physical brain. The second point of focus should be in reality an externalisation of the inner point of tension. In these words, you have the key to the true science of discipleship, to the developing relation of the human centre and the hierarchical. It concerns also the work of the Buddha and the Christ, as They represent the point of tension at Shamballa and in the Hierarchy.

Đa số đệ tử không hoạt động từ một trụ điểm tâm linh, mà từ một điểm tập trung của phàm ngã. Đây tuy thật ra đã là một bước tiến bộ hơn so với người thường thiếu tư duy, nhưng họ bám víu vào đó quá lâu. Bao giờ người đệ tử còn tập trung vào phàm ngã thì trụ điểm tâm linh sẽ còn cách biệt với y. Y sẽ bị thúc đẩy bởi nguyện vọng của phàm ngã, chứ không phải do thần lực của Đạo Viện, và sự tập trung vào hình thể sẽ đưa đến mọi nỗi khó khăn, trắc trở cho y và cho cả nhóm. Trụ điểm tâm linh, kết quả của sự hiến dâng trọn vẹn của phàm ngã cho công việc phụng sự nhân loại, có tác dụng khích động và tăng cường quyền năng chớ không khêu gọi sự sống thấp kém của phàm ngã.

Đó là những nhu cầu bắt buộc mà người đệ tử phải ứng đáp trước khi y được truyền thụ bí quyết giao tiếp với Chân Sư tùy ý muốn trong những trường hợp khẩn cấp.

Most disciples are not working from a point of spiritual tension, but from a point of personality focus—a step forward indeed from that of the average unthinking person but one to which they cling unduly long. As long as a man is focussed in his personality, the point of spiritual tension will evade him. He will be driven by personality aspiration and not by ashramic force and this focus in form will lead to trouble both to the individual aspirant and to his group. Spiritual tension, as a result of complete dedication of the personality to the service of humanity, stimulates and empowers but does not evoke the lower life of the personal self.

These are the requirements which the disciple must meet before he is taught to reach the Master at will and when an emergency arises.

Đến đây, tôi muốn chư môn đệ lưu ý về thái độ của Sư phụ ở giai đoạn này của người đệ tử. Như tên gọi hàm ý, trong giai đoạn này người đệ tử được phép kêu gọi đến sự chú ý của Sư Phụ, nhưng chỉ khi nào y được tin cậy rằng y sẽ sử dụng cái đặc ân này vào những mục đích phụng sự tập thể chứ không bao giờ dùng vào lợi ích cá nhân. Điều này có nghĩangười đệ tử sẽ tự giải quyết lấy những khó khăn trong đời tư của mình, chứ không để cho những sự việc cá nhân xen vào đời sống của Đạo Viện. Điều ấy cũng ngụ ý rằng người đệ tử đã có được sự thành tín và vô tư đến mức làm cho Đạo Viện xét thấy không cần phải tự bảo vệ chống lại những rung động từ điển của y. Sư phụ biết rằng nếu người đệ tử kêu gọi đến Ngài, Ngài sẽ không bị lãng phí thì giờ để ứng đáp, bởi vì sự kêu gọi đó luôn được phát ra vì nhu cầu tập thể và vì lợi ích của toàn nhóm.

I would like here to call your attention to the attitude of the Master at this stage of His chela’s progress. As the name implies, the disciple at this point is permitted to call the attention of the Master; this is permissible only when the chela can be trusted to use the privilege solely for purposes of group service and never for himself or his own benefiting. This signifies that the disciple is capable of handling his life and problems himself and is not likely, therefore, to intrude his personal crises into the life of the Ashram. It implies also a chela of such devotion and essential basic selflessness that the Ashram needs no protection from his vibratory activity; he [746] never exacts from the Master any of the potency which rebuffs, as it is esoterically called. The Master knows that if a call comes from the chela on the thread, it will not be a waste of His time to respond, because the call will always be launched on behalf of group need and for the establishing of group purpose.

Dầu Sư phụ đang bận việc gì, Ngài cũng phải ứng đáp lời kêu gọi đó vì người đệ tử tin cẩn đã được ban cho cái quyền kêu gọi đến Ngài trong tình trạng khẩn cấp. Chư môn đệthể hỏi làm cách nào mà người đệ tử biết được rằng y có thể “liên thông” với Chân sư. Tôi có thể đảm bảo với chư môn đệ rằng một sự ngăn cản triệt để sẽ tác động lên người đệ tử khi lời kêu gọi không nên phát ra—sự ngăn cản xuất phát từ phía người đệ tử chứ không do sư phụ áp đặt—và y không muốn cũng không cố gắng để kêu gọi sư phụ khi có một câu hỏi trong trí của y. Đó là một vấn đề của sự nhận thức trực giác trong suốt, việc nhận ra một kênh liên lạc không trở ngại và một tác động của ý chí. Đó thật ra là một tiến trình kêu gọi và đáp ứng. Toàn bộ ý niệm của Người đệ tử trên đường dây ẩn tàng phía sau giáo méo mó về đặc quyền và đặc ân của giới tu sĩ, của mối liên hệ giữa Giáo Hoàng—lấy ví dụ—và Chúa, hay của những “người ưu tú” và Thượng Đế. Cái tưởng ẩn tàng và chưa thực hiện được là mối quan hệ của người đệ tử trên đường dây và Chân sư và Đạo viện của Ngài, được giải thích bằng thuật ngữ của Nhà thờ. Khi tôn giáo tương lai được xây dựng xung quanh công việc và hoạt động của các đệ tử và các thức giả (knowers) thế gian, khi đó ta sẽ thấy các biểu tượng này, được gọi là “đặc quyền và đặc ân của tu sĩ”, sẽ được giải thích và diễn tả một cách đúng đắn. Ta cũng thấy những suy dẫn biểu tượng tương tự trong giai cấp Bà La Môn ở Ấn độ.

No matter what the Master is doing or what His preoccupation, He must respond to that call, for it is the endowed right of the trusted disciple to send it out when emergency demands it. You might ask how the chela knows that he can “get through” to the Master, using here a colloquialism. I can assure you that a complete inhibition rests upon him when the call may not be sounded—an inhibition, arising on his side of the relationship and not imposed by the Master—and he neither wants nor attempts to sound the call when there is a question in his mind. It is a matter of clear intuitive perception, the recognition of an unimpeded channel and an act of spiritual will. It is in reality a process of invocation and evocation. This whole concept of the chela on the thread lies behind the distorted teaching about the prerogatives and privileges of the priesthood and the relation of the Pope, for instance, to God or of the “elect” to the Deity. This latent and unfulfilled ideal is that of the chela on the thread and the Master and His Ashram, interpreted by the ecclesiastical consciousness as the Church. When the coming world religion is built around the work and the activity of the world disciples and knowers, then we shall see these symbols, called the “rights and prerogatives of the priesthood,” correctly interpreted and truly expressed. The same symbolic inferences are also to be seen in the Brahmin caste in India.

Sự liên hệ hỗ tương đó chỉ có thể đạt được sau một thời kỳ hoạt động lâu dài của người đệ tử chính thức ở bên ngoài và sau cùng là ở bên trong Đạo Viện. Nó không phải do kết quả của sự cố gắng nào để đạt tới cái địa vị uy quyền và thế lực trong việc phụng sự. Nó chỉ là cái kết quả im lặng và hầu như đạt được một cách vô ý thức của người đệ tử biết phụng sự trong âm thầm lặng lẽ, tự quên bản ngã của mình chỉ lo thực hiện Thiên Cơ bằng cách tận dụng khả năng của mình đến mức tối đa. Đó là phần thưởng, nếu tôi có thể diễn tả như thế, của người đệ tử nào biết rằng mình đầu thai kiếp này để làm gì và cố gắng làm việc đó với tinh thần hiến dâng trọn vẹn. Động cơ thúc đẩy của cuộc đời y là nhu cầu của nhân loại và sự nhận thức rằng y phải làm gì để thực hiện bước tiến bộ tâm linh tiếp cận trong tương lai.

This responsive relationship and interplay is only attained after a long cycle of the outer relation of the accepted disciple upon the periphery and finally within the Ashram. It does not come about as the result of any effort to fit oneself for this position of power and of influence in service. It is simply the silent and almost unconsciously achieved result of that self-effacement and self-forgetfulness which distinguishes the accepted disciple; he is decentralised and engrossed in the fulfilment of the divine Plan to the best of his ability. It is the reward, if I might so express it, of the worker who knows what [747] he has come into incarnation to do and who is endeavouring with dedication to do it. The driving urge of his life is the need of humanity and his expanding awareness of the immediate next step that man must take.

Nhiệm vụ chính của một ĐỨC THẦY khi một đệ tử bước vào Đạo Viện của Ngài là giúp y suy gẫm theo đường lối tách rời bản ngã. Điều này làm cho người đệ tử tập quên bản ngã cá nhân để trụ tâm thức vào việc phải làm và tập giải đáp những câu hỏi sau:

1) Đệ tử có thật biết rõ mình phải làm việc gì trong kiếp sống hiện tại chăng?

2) Đệ tử có thử cố gắng thực hiện việc đó trong đời sống chăng?

3) Mục tiêu chính của người đệ tử phải chăng là lập hạnh và tinh luyện? Nếu vậy, đệ tử có nghĩ rằng mình còn đang đi trên đường dự bị chăng thay vì tự dối mình với ý nghĩa rằng mình đang theo con đường chính thức?

4) Đệ tử có nghĩ đến nhu cầu của nhân loại chăng, hay là bận tâm lo nghĩ về địa vị của mình về những vấn đề khó khăn tâm linh của mình và về những chuyện rắc rối thuộc về đời sống cá nhân của mình?

The major tasks of the Master when a disciple first enters His Ashram is to make him think along the lines of decentralisation. This involves the shift of the disciple’s consciousness from himself to the work to be done and, incidentally, the answering of the questions:

  1. Do you, in reality, know what your life task is?
  2. Have you tried to carry this out in your current life processes?
  3. Is your main objective the building of character and the development of purity? If this is so, do you not think that you should be on the Path of Probation and not deluding yourself with the idea that you are on the Path of Discipleship?
  4. Are you preoccupied with human need or are you engrossed with your own position as a disciple, with your own spiritual problems, and with the delusion of the terrific difficulties in your personal life?

Bao giờ mà chư môn đệ còn cho rằng đời mình là một cuộc đời đầy thích thú và cũng là một cuộc đời rất nhiều nỗi khó khăn, vất vả thì chư môn đệ vẫn chưa dứt bỏ những thói quen tư tưởng cũ kỹ. Những câu hỏi này rốt cuộc phải được giải đáp trước khi người đệ tử có triển vọng tiến xa hơn.

Hãy nhớ rằng Đạo Viện chỉ được xuất lộ ra bên ngoài để làm một trụ điểm tâm linh. Từ Đạo Viện ấy, người đệ tử xuất phát để làm công việc ngoài thế gian. Nhóm đệ tử ngoại môn hoạt động nhập thế, tức Đạo Viện ngoại tại, được xuất lộ bằng cách phản chiếu diệu quang của Đạo Viện nội tại và thiết lập một từ trường của năng lực tâm linh. Điều này được thực hiện khi nào những đệ tử ngoại môn liên kết với Đạo Viện nội tại và phản ứng với cái diệu âm và đặc tính của nhóm đệ tử nội môn quy tụ quanh Sư phụ.

As long as you believe that your life is one of all engrossing interest and also one of exceeding hard places, you are only in the very early stages of accepted discipleship and have not yet cast off ancient habits of thought. These questions have eventually to be answered before the student has what I might call “the full freedom of the Ashram.”

The Ashram, you must remember, is externalised only in so far as it provides a point of spiritual tension. From that Ashram, disciples go out to work in the world. The outer group, working in the world, or the exoteric Ashram, is externalised by reflecting the radiance of the inner Ashram and by establishing a magnetic field of spiritual power. This is done just in so far as the members of the Ashram who are found on its outer periphery relate themselves to the inner Ashram and therefore react to the note and quality of the inner group, gathered around the Master.

Một Đạo Viện không phải là một nhóm người đi tìm sự thể hiện tâm linh. Đó là một trung tâm hoạt động tập thể, có thần lực hỗ trợ để giúp cho nhóm đệ tử thi hành kế hoạch của Sư phụ và ứng đáp nhu cầu của nhân loại. Chư môn đệ có lẽ sẽ tự hỏi tại sao tôi cứ luôn luôn nhắc đi nhắc lại mãi đến nhu cầu này. Đó là vì nhu cầu ấy là nguyên tắc chính đại và khẩn cấp của sự thỉnh cầu. Nó có thể kêu gọi đến sự ứng đáp của Thánh đoàn và như thế sẽ làm cho hai trung tâm nhân loạiThánh đoàn liên đới nhau. Nó tương xứng trên quy mô tập thể với sự kêu gọi của phàm ngã đối với linh hồn. Bởi vậy một nhóm hay Đạo Viện của Chân Sư là một trung tâm thỉnh nguyện và khi người Đạo sinh trở thành một “Đệ tử trên đường dây”, thì đó cũng như là phần thưởng cho những công quả phụng sựngười đệ tử đã làm với một tinh thần vô tư và hy sinh tuyệt đối. Chừng đó thì Đạo Viện mới có thể là một trung tâm tiềm lực độc nhất của thế gian.

An Ashram is not a group of people seeking spiritual realisation. It is a centre of group activity, swept by energies which (when given full and proper sway) enable the group to carry out the Master’s plan and meet human need. You may wonder perhaps why I so constantly emphasise this need. I do it because that need is the main and urgent principle of invocation; it can and will evoke hierarchical response and thus put two centres—that of Humanity and the Hierarchy—en rapport. This is a group correspondence to the invocation of the soul by the personality and its subsequent evocation upon the plane of every day living, thus leading to a consequent fusion. An Ashram or Master’s group is, therefore, a centre of invocation and when the individual disciple becomes a chela on the thread, it is as the reward of selfless service—carried forward at any personal cost. Then the Ashram can be a centre of unique world potency.

Những “đệ tử trên đường dây” dùng một kỹ thuật lạ kỳ tùy theo cung của họ. Họ luôn luôn hoạt động xuyên qua luân xa đỉnh đầu. Qua luân xa này, họ phát ra lời thỉnh nguyện (vô âm thinh đối với thính giác phàm trần) rung động dọc theo sợi dây và đến với Đức Thầy. Tuy nhiên kỹ thuật này được truyền dạy trực tiếp cho người đệ tử khi sư phụ xét thấy y có quyền được ban đặc ân đó. Tôi không thể chỉ bí thuật đó cho chư môn đệ. Khi nào “đi trên đường dây” chư môn đệ sẽ được truyền thụ bí pháp đó.

Chelas on the thread employ a peculiar technique, according to their ray; they work always through the head centre. By means of this centre, they sound out the call (an inaudible call, from the physical plane angle) which (vibrating along the thread) reaches the Master. These techniques are, however, taught directly to the disciple by the Master when He recognises His chela’s right to the privilege. I cannot give these techniques direct to you. When you are “on the thread,” you will inevitably have the information given to you.

Sợi dây này không phải là đường antahkarana, mà là một sợi dây kết nối bằng ánh sáng sống động. Chân sư phóng ra sợi dây này khi người đệ tử thỉnh cầu một sự đáp ứng từ Ngài. Khi người đệ tử xây dựng đường antahkarana nối phàm ngãTam Nguyên tinh thần thì sự đáp ứng này sẽ gia tăng sức mạnh. Cuối cùng thì người đệ tử trên đường dây có được sợi dây sự sống (sinh mệnh tuyến)—một khía cạnh của đường antahkarana—nối liền với sợi dây Đạo viện, và do đó thiết lập sự kiểm soát của Chân thần lên cá nhân, giống như sự kiểm soát của Shamballa với Thánh Đoàn trên bình diện tập thể. Ta phải luôn ghi nhớ mối liên hệ giữa cái lớn và cái nhỏ.

This thread is not the antahkarana but a linking thread of living light. This the Master projects as the disciple’s service evokes a response from Him. This evocation, however, increases its potency as the disciple builds the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. The chela on the thread eventually has the life thread (one aspect of the antahkarana) connected with this ashramic thread and hence the establishment of monadic control of the individual which (in its group form) signifies the control of the Hierarchy by Shamballa. The lesser and the greater relationship must ever be borne in mind.

Đối với người đạo sinh trung bình, ý nghĩa của giai đoạn này trên Con Đường đệ tử chỉ có giá trị từ góc độ nhấn mạnh những gì chưa đạt được. Do đó, những hàm ý hoàn toàn tiêu cực. Đối với người đệ tử thực thụ mà thái độ là tích cực và thông minh, đây là những gì thường đáng mong cầu. Định Luật của các Mối Quan Hệ giữa Dương và Âm nằm sau tất cả những giai đoạn này. Ban đầu thì cái cao hơn luôn là âm đối với cái thấp; kế đến có sự thay đổi, cái cao hơn trở thành dương với cái thấp hơn, và do đó dẫn đến sự thăng tiến đều đặn của của Con Đường của Sự Sống (Sinh Lộ–the Way of Life) và Thang Thăng tiến Tinh thần.

To the average aspirant, the implications of this stage of discipleship are valuable from the angle of emphasising what has not been achieved. The implications are, therefore, negative. This is frequently desirable where accepted disciples are concerned whose attitude should be positive and intelligent. [749] The Law of Positive and Negative Relationships underlies all these stages. That which is higher is, at first, always negative to that which is lower; then interim changes take place which make the higher positive to the lower and lead, therefore, to the steady ascending of the Way of Life and the Ladder of Spiritual Ascent.

 

 

3535 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay
Thỉnh nguyện và đáp ứng (Invocation and evocation): Toàn bộ tiến trình thỉnh nguyện và đáp ứng được nối kết chặt chẽ với ý tưởng. Trạng thái thấp bao giờ cũng là yếu tố thỉnh nguyện, và điều này cấu thành một định luật không thể thay đổi nằm sau toàn bộ diễn trình tiến hóa. Tất nhiên đó là một ti...
Xem Chi tiết
  Ở cuộc điểm đạo I, sự kiềm chế của Chân Ngã đối với thể xác phải đạt được mức độ thành tựu cao. Tội lỗi của nhục thân” theo cách nói của người Cơ đốc, phải bị khống chế, tính tham ăn, tham uống (rượu), cách sống bừa bãi không còn chế ngự nữa. Giữa cuộc điểm đạo I và II có nhiều kiếp sốn...
Xem Chi tiết
1. Cõi hồng trần … Bhu … Thế giới trần tục  – Hồng trần thức 2. Cõi cảm dục … Antariksa … Thế giới xúc cảm – Cảm dục thức 3. Cõi trí … Mahendra …Thế giới của trí tuệ và linh hồn – Trí tuệ thức 4. Cõi Bồ Đề …Mahar Prajapatya …Thế giới Christ - Trực giác thức hay Tâm thức Christ–Tập thể thức 5. Cõi Ni...
Xem Chi tiết
  Trong thực tế, con đường dự bị là toàn thể kinh nghiệm sống (life experience), trước khi bước lên con đường đệ tử (discipleship). (CTHNM, 279)...
Xem Chi tiết
+ Đệ tử nhập môn: Thuật ngữ đệ tử nhập môn bao hàm giai đoạn điểm đạo thứ nhất và thứ hai; khi được điểm đạo lần ba, vị này không còn là đệ tử nhập môn theo nghĩa chuyên môn nữa nhưng vẫn ở trong nhóm của Chân Sư cho tới khi điểm đạo lần 4. (ĐĐTKNM–I, 728) + Giai đoạn đệ tử nhập môn: Tùy theo nhu c...
Xem Chi tiết
+ Là Atma–Buddhi–Manas hay là Ý chí Tinh thần, Bác ái. Tinh thần và Thượng Trí.(CTHNM, 354) + Tức là Ý chí tinh thần, trực giác và Thượng trí.(LVLCK, 261) + Cách tạo ra Atma-Buddhi-Manas: Chân Thần khiến cho vật chất vi tử của cõi Niết Bàn, cõi Bồ Đề và Cõi Trí – đang bao quanh Chân Thần giống nh...
Xem Chi tiết
Ngân quang tuyến (Sutratma; life thread, silver cord, silver thread, thread soul, sinh mệnh tuyến): Là mối liên hệ từ lực (magnetic link) mà Thánh kinh Cơ Đốc giáo nói đến như là “sợi dây bạc” (silver cord”), sợi chỉ ánh sáng sinh động (thread of living light) này nối liền Chân Thần tức Tinh th...
Xem Chi tiết
Wesak Festival (Lễ Wesak): Mỗi năm một lần, vào lễ Wesak, được sự chuẩn nhận của Đấng Chưởng Quản Thế gian, Đức Phật mang lại cho tập thể nhân loại một luồng thần lực nhị phân xuất phát từ Đấng Quán Tịnh (Silent Watcher), được bổ sung bằng năng lượng tập trung hơn của Đấng Chưởng Quản Thế gian (L...
Xem Chi tiết
Cõi hồng trần (Physical plane/objective plane – CTNM, 1, cảnh giới hồng trần): Gồm bảy phân cảnh (cõi phụ) từ thấp (thứ bảy) lên cao (thứ nhất): 1/ Phân cảnh một … Phân cảnh vi tử (Atomic subplane) … Vật chất vi tử (Atomic matter). 2/ Phân cảnh 2 … Phân cảnh á vi tử (sub–atomic) … Chất ether I...
Xem Chi tiết
+ Cõi cảm dục (Cõi Trung giới; Cõi Dục giới): – Tất cả các bạn đều đang hoạt động ở một mức độ nào đó trên cõi ảo tưởng và ảo cảm, và đối với các bạn, thế giới ảo tưởng có thật và cõi cảm dục đối với bạn là có thật. Nhưng tôi có thể nói: đối với các thành viên đã được điểm đạo của Đại Bạch Giai thì ...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Các cuộc điểm đạo (Theo GQ1-Cấu tạo con người): - Đầu Tiên - "Sự Sinh ra ở Bethlehem": sự kiểm soát của Ego hay Linh Hồn đối với thể xác đã phải đạt đến một mức độ thành tựu cao. "Tội lỗi của xác thịt," phải được thống trị; tính háu ăn, thói nghiện rượu, và sự đa dục phải không còn thống trị. Nhu...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
+ Đa nhân cách - Tâm thần phân liệt: Ở đây tôi không thể bàn rộng về vấn đề nhập xác (obsession) do sự triệt thoái của trạng thái ngã thức của chủ thể trong thể xác (tức linh hồn –ND). Tiến trình tách ra này chỉ để lại một cái vỏ sinh động (living shell), một cái nhà trống rổng. Có quá nhiều điều ph...
Xem Chi tiết
Ba cõi thấp tức là cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí (the physical, emotional and mental planes). (TVTTHL, 5)...
Xem Chi tiết
+ Đệ tử là người đang chuyển tâm thức ra khỏi phạm vi phàm ngã vào lĩnh vực cao siêu hơn. Dù ngày càng hòa hợp với linh hồn, y có thể vẫn còn đồng hóa đến mức nào đó với hình thể của mình, tức là phàm ngã. Y nhận thấy sự vô ích của những thái độ mà y đã có và những cách nhìn về cuộc sống và người kh...
Xem Chi tiết
+ Người chí nguyện (Con đường dự bị): Là người có nguyện vọng thực hiện một điều cao thượng hay tốt đẹp. Nguyện vọng này mang lại cuộc sống, sự suy tưởng và đức hạnh chân chính đến mức nào đó. Điều đó được gọi là đức hạnh. Lập hạnh là một trong những thành tựu quan trọng nhất đối với người chí nguyệ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Đệ tử là người đang chuyển tâm thức ra khỏi phạm vi phàm ngã vào lĩnh vực cao siêu hơn. Dù ngày càng hòa hợp với linh hồn, y có thể vẫn còn đồng hóa đến mức nào đó với hình thể của mình, tức là phàm ngã. Y nhận thấy sự vô ích của những thái độ mà y đã có và những cách nhìn về cuộc sống và người kh...
Xem Chi tiết
Ngân quang tuyến (Sutratma; life thread, silver cord, silver thread, thread soul, sinh mệnh tuyến): Là mối liên hệ từ lực (magnetic link) mà Thánh kinh Cơ Đốc giáo nói đến như là “sợi dây bạc” (silver cord”), sợi chỉ ánh sáng sinh động (thread of living light) này nối liền Chân Thần tức Tinh th...
Xem Chi tiết
Lâm phàm (Incarnation): Với nghĩa gốc của nó, từ ngữ “lâm phàm” truyền đạt chân lý căn bản có liên quan đến việc khoác lấy một thể xác trọng trược, còn về mặt chuyên môn, chỉ nên áp dụng cho giai đoạn biểu lộ có liên quan đến ba cõi phụ thấp của: a/ Cõi hồng trần vũ trụ, liên quan đến một Thái ...
Xem Chi tiết
Người có nhãn thông (Clairvoyant): Nơi nhà tâm thông (psychics) và trong trường hợp các đồng tử và người có nhãn thông thấp, mạng lưới ở bí huyệt nhật tùng thường bị rách từ thuở nhỏ và do đó họ dễ xuất ra hay nhập vào thể xác, đi vào trạng thái xuất thần (trance) như thường được gọi và hoạt động...
Xem Chi tiết
+  Antahkarana: X. Giác tuyến + Chân Sư DK trong Thư của Ngài (Có ở đầu các quyển sách của Ngài), có dạy rằng, sách chỉ dẫn về việc " lập cầu Antahkarana để nối liền khoảng cách giữa Chân thần và phàm nhân" là sách của Ngài viết qua Bà A.A.B...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ 636. THẦN THÔNGTôn giả Đại Mục-kiền-liên đáp rằng: Tôn giả Xá-lê Tử, nếu có Tỳ-kheo nào có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, được tự tại vô lượng như ý túc, thực hành vô lượng như ý túc, có thể biến một thành nhiều, hợp nhiều làm thành một, một thì trụ trên một, đượ...
Xem Chi tiết
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng. * Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thàn...
Xem Chi tiết
Jerusalem : Tân Jerusalem (new Jerusalem), Thánh Đoàn.(VMCQG, 23) - Jerusalem (nghĩa đen là “chốn yên bình”) không phải là thủ đô của một nước nhỏ gọi là Palestine hay là Thánh Địa. Từ này tượng trưng cho một thế giới thái bình - một thế giới mà nhờ các nỗ lực tự lực của riêng nó, đã đạt được một y...
Xem Chi tiết
Đức Chưởng Giáo (The World Teacher, The Christ): Đức Chưởng Giáo là vị chủ quản nhóm 2. Ngài là Đấng Cao Cả mà tín đồ Cơ Đốc Giáo gọi là Christ. Ở phương Đông, Ngài cũng được biết dưới danh xưng Đức Bồ Tát (the Bodhisattva), Đức Di Lặc (the Lord Maitreya), và là Đấng mà người sùng tín Hồi giáo mo...
Xem Chi tiết
+ Tam nguyên/ Tam phân: - Tam nguyên: Là tinh thần, linh hồn và thân thể. (TLHNM II, 391) * Tam nguyên tinh thần của con người. - Sự sống, ý thức và hình hài. (LVHLT, 21) - Tam nguyên - Ba Thập Giá của vòng Hoàng đạo phản ánh Tam Nguyên được tất cả các tôn giáo công nhận, và thể hiện ba giai đo...
Xem Chi tiết
Phản chiếu (Reflection): Nói chung, thuật ngữ “phản chiếu” được dùng khi một mãnh lực (force) biểu lộ trên một cõi cao, tự hiện lại (show itself again) trên một cõi thấp và bị chi phối bởi một loại vật chất thô hơn trong biểu lộ thấp đó, cho nên một ít hiệu năng (effective energy) của mãnh lực đó...
Xem Chi tiết
+ Tài năng hay năng khiếu (talents or gifts): Các tài năng hay các năng khiếu đều được xem như có được trong một kiếp sống trước.(TNVT, 95) + Năng Khiếu các Cung Năng Lượng - Cung Hoàng Đạo Và các Nhà và Các Hành Tinh: Xem tại đây: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạo và hành Tinh...
Xem Chi tiết
Nhãn thông (Clairvoyance): Đây là năng lực thấy trên cõi cảm dục và là một trong các “siddhis” thấp hay quyền năng tâm thông thấp. Năng lực này được đạt tới nhờ sự nhạy cảm ở bề mặt của toàn bộ “thể cảm giác” (body of feeling”), lớp vỏ tình cảm và là nhận thức của giác quan được đem lên tình trạn...
Xem Chi tiết
Phật bảo: "Trên đời có 4 hạng người (Thập Thiện Nghiệp - HT. Thích Giác Thiện): - NGƯỜI TỪ TỐI ĐI VÀO TỐI?: Nghĩa là người này sanh ra đời chịu nhiều sự khổ, thế mà lại chẳng lo tu thiện để chuyển nghiệp xấu, lại làm việc ác, chẳng khác nào từ chỗ tối đi vào chỗ tối tăm, khổ sở hơn. - NGƯỜI TỪ CHỖ T...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Hiện tượng (Phenomenon): Theo cách gọi của các Nhà Duy Tâm (Idealists) đương đại thì sự kết hợp của Chủ thể (Subject) và Khách thể (Object) tạo ra đối tượng của giác quan (sense–object) tức là hiện tượng.  (GLBN II, 42)...
Xem Chi tiết
Giáo Hoàng (Popes): Một vài vị Giáo Hoàng thuở đầu là các Đạo Đồ (Initiates, Đệ tử được điểm đạo) nhưng các mảnh vụn kiến thức cuối cùng của các vị này hiện nay đã rơi vào tay của dòng Jesuits (dòng Chúa Cứu Thế–ND), họ đã chuyển đổi (turned) các mảnh kiến thức đó thành một hệ thống phù thủy (sys...
Xem Chi tiết
Chân Sư Koot Humi rất nổi tiếng ở phương Tây và có nhiều đệ tử ở khắp nơi. Ngài gốc ở Kashmir, mặc dù thoạt đầu gia đình Ngài từ Ấn Độ đến. Ngài cũng là điểm đạo đồ cao cấp thuộc cung hai, Cung Bác ái– Minh triết. Ngài có dáng vẻ quý phái, cao, mặc dù hơi mảnh khảnh hơn Chân Sư M.. Ngài có nước da đ...
Xem Chi tiết
Đức Djwhal Khul hay là Đức D.K. như Ngài thường được gọi, là một Chân Sư thuộc Cung 2, Cung Bác ái–Minh Triết. Ngài là vị Chân Sư được điểm đạo gần đây nhất, Ngài được điểm đạo lần 5 vào năm 1875, và do đó đang ngự trong chính thể xác lúc Ngài được điểm đạo. Đa số các Chân Sư khác được điểm đạo lần ...
Xem Chi tiết
+ Bốn loại biểu tượnga) Biểu tượng của các vật bên ngoài ... các vật ở cõi trần. b) Biểu tượng về bản chất tình cảm ... các sự vật ở cõi cảm dục, các tranh ảnh. c) Biểu tượng học về số ............. Hạ trí. Con người dùng chính mình để tính. d) Biểu tượng học hình học ... biểu tượng học trừu tượng, ...
Xem Chi tiết
Đạo tâm (aspiration, hoài bảo) : Từ ngữ “đạo tâm” xuất phát từ tiếng La tinh “ad”: hướng đến (“to”) và “spirare”: hít, thở (“to breathe, to breathe towards”) như tự điển Webster đã ghi. Từ ngữ “spirit” (tinh thần) cũng có cùng nguồn gốc. Đạo tâm phải đi trước cảm hứng (inspiration). Phải có hơi...
Xem Chi tiết
Sắc tướng (Appearance): Tôi sẽ dùng từ ngữ sắc tướng để diễn tả cái mà ta gọi là vật chất (matter) hay hình hài (form) hay biểu lộ ngoại cảnh (objective expression); chính cái sắc tướng hữu hình giả tạm chỉ có bề ngoài đó được sức sống làm cho linh hoạt. Đây là trạng thái thứ ba, Mẹ, được ứng lin...
Xem Chi tiết
+ Định luật: Là sự áp đặt của ý chí và mục tiêu của những gì vô cùng vĩ đại. Do đó, nó vượt ngoài tìm hiểu biết của con người. Một ngày nào đó, con người phải nhận biết rằng tất cả các định luật trong thiên nhiên đều có các đối phần tâm linh cao siêu của chúng…(CTNM, 30) + Định luật: Là ý chí của ...
Xem Chi tiết
QUI LUẬT CỦA ĐƯỜNG ĐẠO: Các Qui luật này là những điều hướng dẫn giúp chúng ta trở về Nguồn cội tinh thần của mình (MQ-Tâm thức) Đoạn 1. Mỗi người tiến trên Đường đạo trong ánh sáng thanh thiên bạch nhật, tỏa chiếu trên Đường bởi những Vị hướng đạo hiểu biết. Bấy giờ hành giả không thể che giấu đ...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
I- DỰ ĐOÁN THEO LÁ SỐ+ Dự đoán về Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành theo Phật giáo: - Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện", và- Căn cứ vào Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, và- Căn cứ Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán ...
Xem Chi tiết
Trực giác (intuition): X. thêm mục “Nguyên khí Bồ Đề”. – Trực giác là sự pha trộn của hai đặc tính thiêng liêng, của tuệ giác–trí tuệ (buddhi–manas) hay là sự hiểu biết tâm linh bằng trực giác (bao hàm sự giải thích và đồng nhất hóa), và thượng trí trừu tượng (higher abstract mind), cốt yếu đó là...
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm th...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Thần nhãn (Clairvoyance): X. Nhãn thông....
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm th...
Xem Chi tiết
Shamballa (Bach Ngọc Cung): Shamballa hay Shangri–Lha là nơi tập trung Thiên chí (Will of God) và phát ra các mục tiêu thiêng liêng (divine purpose) của Thượng Đế (God). Các phong trào chính trị lớn, vận mệnh các chủng tộc (races), các quốc gia và các tiến bộ của chúng đều được định đoạt nơi đâ...
Xem Chi tiết
– Các lớp vỏ (sheaths) và các hiện thể (vehicles) chỉ là các thể biểu lộ (bodies of manifestation) của vị đệ tử trên các cõi (planes) khác nhau của Thái Dương Hệ, và các lớp vỏ này phải thể hiện (express) cho cái nguyên khí vốn là đặc điểm hay tính chất nằm dưới mỗi cõi. Thí dụ 7 nguyên khí có liên ...
Xem Chi tiết
Nhĩ thông (Clairaudience): Là nhận biết được tiếng nói của đại ảo tưởng (great illusion) và mang lại cho con người khả năng nghe được trên cõi cảm dục. Khi ở đúng chỗ và khi được kiểm soát từ bên trên nhờ sự hiểu biết, nhĩ thông giúp nghe được một vài trạng thái của biểu hiện thiêng liêng tr...
Xem Chi tiết
+ Giới Nhân loại thật sự: Ở hai trong số ba cõi thấp - tức cảm dục và hồng trần – thì 5 cõi phụ của nỗ lực con người là 5 cõi phụ cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, tức cõi phụ 6 và 7 là cõi mà chúng ta có thể diễn tả như là “thấp lè tè” và liên hệ với các hình thức sự sống thấp dưới toàn thể nhân loạ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Ngoai môn (Exoteric, công truyền): Tất cả những gì có thể thu thập được nhờ bản năng và nhờ việc dùng trí cụ thể hoạt động xuyên qua não bộ hồng trần đều có thể được xem như có liên quan tới cái mà chúng ta gọi là ngoại môn. (LVLCK, 287) + Khoa học Ngoại Môn và Khoa học Nội Môn: - Ngoại môn hiệ...
Xem Chi tiết
+ Vòng giới hạn kiếp sống: Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế. Mỗi kiếp sống, Chân nhân cần đạt được một mục tiêu rõ rệt, có thể là hoạch đắc đức hạnh bằng cách trả giá cho tật xấu. VD: Kinh doanh thành thạo; Mở mang tính nhạy cảm = thấy điều độc ...
Xem Chi tiết
Lẽ trời (Intention): X. Thiên lý....
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
Khi một thành viên (member) của Thánh Đoàn dùng chữ “essential”, Ngài không muốn nói (như bạn thường làm) những gì cần thiết hay thiết yếu mà là đề cập tới bản chất sâu kín nhất (inmost essence) đang nằm ở tâm của tất cả mọi vật, cả tốt lẫn xấu. (CVĐĐ, 727)...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâ...
Xem Chi tiết
+ Chân Thần (CT): Tự phản chiếu/ Phản ảnh/ Phân Thân). Có 3 nhóm chính (H.Giai S.Tạo 4), tức trạng thái 3 Ngôi của Thượng Đế (LVLCK, 153): 1. Các CT Ý chí / Quyền năng .. Chúa Cha 2. Các CT Bác ái/ Minh Triết..... Chúa Con 3. Các CT Trí tuệ / Hoạt động.....Chúa Thánh Thần. + Ý TRÍ VÀ QUYỀN LỰC. ...
Xem Chi tiết
Định trí (Attention, concentration, dharana):- Từ ngữ “concentration” xuất phát từ tiếng La tinh “con” là “cùng nhau” (“together”) và “centrare” nghĩa là “tập trung” (“to centre”). Nó có nghĩa là “đem lại cùng nhau hay là đưa đến một trung tâm chung, hay là điểm tập trung”. Nó ngụ ý là gom chung lại...
Xem Chi tiết
Ảo tưởng (Delusion, illusion, huyễn tưởng): - Là tiến trình đồng nhất hóa sai lầm, trong đó, Bản ngã tự lừa dối và nói “Ta là hình hài”. (I am the form). (ASCLH, 194) - Ảo tưởng có ảnh hưởng đến cõi trí nhiều hơn. Nó liên quan đến các quan niệm sống của chúng ta và cuộc sống tư tưởng vốn dĩ nhiều ...
Xem Chi tiết
A- LUÂN HỒI (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  I- LUÂN HỒI THEO MINH TRIẾT MỚI+ Trong 1 kiếp sống: (i) - Con người lại có được một thể xác tiến hoá hơn,(ii)- có tính chất ứng đáp nhiều hơn, (iii)- được điều hợp với một khoá cao hơn, với sự tinh vi và thích hợp hơn, rung động ...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
+ Chướng ngại không thấy Đạo: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là 6 ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, 6 phiền não căn bản là chướng ngại lớn...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
+ Vật chất (matter hay material): + Vật chất là tinh thần (spirit) ở mức độ biểu hiện (point of expression) thấp nhất. (CTNM, 589) + Nói về mặt nội môn, từ ngữ “vật chất” được dành để chỉ mọi hình tướng (forms) trong ba cõi thấp. (CVVTDT, 189) + Nên nhớ rằng, đối với nhà huyền linh học (occultist), ...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
– Là danh xưng dành cho tiếng kêu thỉnh nguyện (invocative appeal) của nhân loại và sự đáp ứng trở lại của Sự sống vĩ đại (greater Life) với tiếng kêu cầu (cry) đó. (CVĐĐ, 520) – Các chân lý tâm linh chính đại của tôn giáo có thể được tóm lược như sau: Có một Bản Thể đích thực, vô hạn, vĩnh ...
Xem Chi tiết
Tsong–kha–pa (Tây Tạng): Còn được viết là Son–kha–pa. Một nhà cải cách nổi tiếng ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 14, Ngài đã đưa vào quê hương của Ngài một hệ thống Phật giáo đã được thanh lọc. Vốn là một Đại Đạo Đồ (great Adept), vì không thể chứng kiến thêm nữa sự mạo phạm triết lý Phật giáo của các ...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
+ Trụ điểm (point of tension) là yếu tố quan trọng trong phép thở và tham thiền. - Point of tension có thể ví dụ đơn giản như người lực sĩ gồng mình trước khi sử dụng sức mạnh cơ bắp để thực hiện điều gì....
Xem Chi tiết
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng. * Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thàn...
Xem Chi tiết
CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINHĐức Phật dậy: A Nan! Thế nào gọi là thế giới chúng sinh? - Thế có nghĩa là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu. - Giới là không gian, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phươn...
Xem Chi tiết
+ Thần lực (Forces, Shaktis): Có sáu thần lực của Thiên nhiên. Sáu thần lực này là gì? a/ Chúng là các loại (types) năng lượng. b/ Chúng là tính chất hay đặc tính năng động của một Hành Tinh Thượng Đế. c/ Chúng là sinh lực của một Hành Tinh Thượng Đế được định hướng vào một hướng nào đó. + Thần ...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
Giác quan thứ 6 (sixth sense, the mind): Giác quan thứ sáu tức thể trí, là tác nhân diễn dịch và là tác nhân tổng hợp (interpreter and synthesizer) cho 5 giác quan kia. (ASCLH, 351) Theo Kinh Gita (V, 7), thể trí là giác quan thứ sáu bị che lấp trong vật chất (the mind is the sixth sense,...
Xem Chi tiết
Ngân quang tuyến (Sutratma; life thread, silver cord, silver thread, thread soul, sinh mệnh tuyến): Là mối liên hệ từ lực (magnetic link) mà Thánh kinh Cơ Đốc giáo nói đến như là “sợi dây bạc” (silver cord”), sợi chỉ ánh sáng sinh động (thread of living light) này nối liền Chân Thần tức Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
– Là danh xưng dành cho tiếng kêu thỉnh nguyện (invocative appeal) của nhân loại và sự đáp ứng trở lại của Sự sống vĩ đại (greater Life) với tiếng kêu cầu (cry) đó. (CVĐĐ, 520) – Các chân lý tâm linh chính đại của tôn giáo có thể được tóm lược như sau: Có một Bản Thể đích thực, vô hạn, vĩnh ...
Xem Chi tiết
Tâm thông thuật (Psychism): Có thể được chia thành 2 nhóm như sau: Tâm thông bậc cao (Higher psychism): Thiêng liêng. Có kiểm soát. Tích cực. Áp dụng một cách sáng suốt. Trạng thái trung gian. Tâm thông bậc thấp (Lower psychism): Động vật. Không được k...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
Trực giác thông thường (Ordinary, intuition): - Thức của trực giác tức là nhận. -Trực giác thông thường chỉ đơn thuần là việc nhận biết (recognition) một sự kiện (fact) quen thuộc trong một tiền kiếp (a past life) mặc dù mới trải qua lần đầu trong hiện kiếp (the present life).                 ...
Xem Chi tiết
Wesak Festival (Lễ Wesak): Mỗi năm một lần, vào lễ Wesak, được sự chuẩn nhận của Đấng Chưởng Quản Thế gian, Đức Phật mang lại cho tập thể nhân loại một luồng thần lực nhị phân xuất phát từ Đấng Quán Tịnh (Silent Watcher), được bổ sung bằng năng lượng tập trung hơn của Đấng Chưởng Quản Thế gian (L...
Xem Chi tiết
Khắp thế gian, đâu đâu cũng có sự khao khát đang thôi thúc con người tìm kiếm một kẻ nào đó mà đối với y là biểu hiện một lý tưởng. Ngay đến những người không chấp nhận sự hiện hữu của các Chân Sư cũng đang tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung ra lý tưởng đó được thể hiện dưới hình thức nào đ...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
+ Linh hồn - Phật giáo gọi là Thức/ Nghiệp Thức:  Thức - Đi đầu thai, gồm có 9 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và 7 là: Mạt na Thức; 8 là: A Lại Gia Thức là năng lượng, là sức mạnh gọi là nghiệp lực; 9 là Thanh Tịnh Thức/ Như Lai Tạng Thức ... là Thức thanh tịnh, ...
Xem Chi tiết
+ Huyền bí (Occult). Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự hiện tồn và các lực này xuất phát từ hành vi vốn tạo ra biểu lộ ngoại cảnh. Từ ngữ “hành vi” (“conduct”) ở đây được dùng một cách có cân nhắc, vì tất cả mọi biểu lộ trong mọi giới của thiên nhiên, đều là biểu hiện của sự sống, m...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
Tận tụy (Devotion): - Lòng tận tụy nảy sinh từ và là kết quả của tình trạng không hài lòng (dissatisfaction) cộng với việc sử dụng khả năng chọn lựa (choice). Tùy theo độ sâu đậm của nỗi bất mãn (discontent) của con người và năng lực xét đoán thấu suốt của mình, người này vượt qua từ mức độ hài l...
Xem Chi tiết
+ Đời sống ở cõi giới xám sau khi chết là do sự vướng mắc của thể tình cảm và thể sinh lực. Nhiều người không có đức tin rõ rệt nào vào sự sống bên kia cửa tử, tuy thế họ lại khao khát muốn tiếp tục sự sống. Họ thường nói một cách mơ hồ với bạn rằng họ tin có trạng thái hậu tử (an after–state), nhưn...
Xem Chi tiết
+ Người tìm đạo là người sẵn sàng, hoặc đã bước lên con đường đệ tử dự bị. (CTNM, 34) + Lỗ lực trước tiên - DUY TRÌ THIỀN ĐỊNH: Qua Đoàn Người Phụng Sự Thế Gian đang trong tiến trình thành lập, Thánh Đoàn đang tìm cách tự hiển lộ, và khôi phục lại những bí pháp cho nhân loại mà chúng vốn thực sự th...
Xem Chi tiết
Xúc cảm  (Emotion, xúc động):Xúc cảm - Xảy ra do các rung động của chất liệu thuộc cõi cảm dục (astral matter). (CKDCLH, 19) - Xúc cảm chỉ là dục vọng được biểu lộ thuộc loại này hay loại khác.(TLHNM II, 418) - Xúc động hay xúc cảm sơ khai, là phản ánh của tình thương trên cõi trần.(TTCNT, 81)...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ 126. NHẤT TÂMTỳ-kheo như vậy hoặc tản bộ, hoặc ra vào, hoặc quay nhìn hai bên, co duỗi, cúi ngước, cầm y bát, tiếp nhận ẩm thực, hoặc tả hữu tiện lợi, hoặc ngủ hoặc thức, hoặc ngồi hoặc đứng, nói năng hay im lặng, vào bất cứ lúc nào, thường niệm nhất tâm, không mất oai nghi. Đó là nhất tâm. Cũng n...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
+ Phẩm tính/ Tính chất/ Phẩm đức (Quality): - Tôi sẽ dùng từ ngữ Phẩm tính để diễn tả Ngôi Hai, Con của Thượng Đế, Christ vũ trụ lâm phàm trong hình hài – một hình hài được sinh ra do mối liên hệ của tinh thần và vật chất. (TLHNM I, 18) - Ba phẩm tính của Thượng Đế: Thông tuệ, bác ái–minh triết và...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Nội môn - Bí Truyền - Bí Giáo - Huyền Môn: Chỉ tất cả những gì không liên quan đến cuộc sống sắc tướng bình thường hay là tâm thức thông thường của con người trong 3 cõi thấp. (CTNM, 683); - Nội môn bí giáo tức là huyền linh học. (TLHNM, 451) - Liên quan với các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (CTHNM, 80);...
Xem Chi tiết
+ Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến gần đến cổng của con đường điểm đạo. Vào lúc...
Xem Chi tiết
Diệu Âm (Sound) là diễn đạt độc nhất của Húy Danh (Ineffable Name), tên gọi huyền bí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn, và là Đấng được biết đối với Đại Bạch Giai qua danh xưng này. Luôn luôn nhớ rằng danh xưng và sắc tướng, đó là các thuật ngữ đồng nghĩa trong giáo huấn hu...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
Ý niệm (idea, ý tưởng): Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238) Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54) Ý niệm...
Xem Chi tiết
X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố … Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lý học đều bận tâm đến các sự sống như thế. (LVLCK, 1062)...
Xem Chi tiết
Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan ...
Xem Chi tiết
– Là dấu hiệu (sign) thấy được và lộ ra bên ngoài của một thực tại tâm linh bên trong, được thể hiện trên cõi trần bằng mãnh lực của sự sống chứa đựng bên trong. (VMCQG, 119) – “Trong một biểu tượng có ẩn tàng sự che giấu hoặc sự mặc khải” – Carlyle. 1./ Các biểu tượng đều nhắm vào : a)...
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm th...
Xem Chi tiết
+ Đam Mê - Ham Mê - Say Mê: Ðức Phật dạy: 6 đam mê, dẫn đến tham luyến, làm cho người đời vướng vào khổ đau, gây nhiều tổn hại, đánh mất chính mình: 1. Mắt mê hình sắc, 2. Tai mê âm thanh 3. Mũi mê các mùi 4. Lưỡi mê các vị 5. Thân mê xúc chạm 6. Ý mê ý niệm quá khứ, tương lai.  KINH PHÂN B...
Xem Chi tiết
Tinh khiết (purity, trong sạch): Cần nhận thức rằng sự tinh khiết của tất cả các hiện thể (vehicles) là quan trọng hàng đầu. Nếu một Huynh đệ hắc đạo chiếm được sự kềm chế nơi bất cứ người nào, thì điều đó chẳng qua cho thấy rằng người đó có một nhược điểm nào đó trong cuộc sống của mình. Cửa đi ...
Xem Chi tiết
+ Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy mình có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy mình ở trên cõi trí. Đa số con người đều thấy mình ở cõi...
Xem Chi tiết
+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết B...
Xem Chi tiết
Quốc gia: (Nation) Nên nhớ rằng việc ra đời trong một quốc gia nào cũng đều mang ý nghĩa là nhận lãnh một số trách nhiệm đối với quốc gia đó. Quốc gia là các Thực Thể thiêng liêng (spiritual Entities), và khi con trở thành một thành phần của thực thể hợp nhất đó – một tế bào torng cơ thể nó – con...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
Sát–na (moment): Cũng như một nguyên tử là một chất liệu trong đó sự tế vi đạt tới mức giới hạn của nó, cũng vậy, một sát–na là một tế phân của thời gian trong đó sự tế vi đạt tới giới hạn của nó. Cũng thế, một sát–na chẳng qua chỉ là thời gian mà một nguyên tử cần có để rời bỏ vị trí trong không...
Xem Chi tiết
Đồng tử (Medium, Người ngồi đồng): Nên nhớ rằng đồng tử là một người có các nguyên khí được nối kết một cách lỏng lẻo và có thể bị mượn (borrowed) bởi các thực thể (beings) khác hay bởi các nguyên khí trôi dật dờ (floating principles), nhờ có được một sức hút đối với một số trong chúng hay một ...
Xem Chi tiết
+ Vật chất (matter hay material): + Vật chất là tinh thần (spirit) ở mức độ biểu hiện (point of expression) thấp nhất. (CTNM, 589) + Nói về mặt nội môn, từ ngữ “vật chất” được dành để chỉ mọi hình tướng (forms) trong ba cõi thấp. (CVVTDT, 189) + Nên nhớ rằng, đối với nhà huyền linh học (occultist), ...
Xem Chi tiết
Có thể được xem như là tiến trình hội nhập tâm linh của cá nhân – với ý thức khơi hoạt đầy đủ – có liên quan tới ba trạng thái thiêng liêng trong con người. (LV7C, 265)...
Xem Chi tiết
Dứt bỏ (Virga): X. Xả ly....
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
+ Định luật Chu Kỳ (Law of Cycles): Định luật Chu Kỳ định đoạt thủy triều, kiểm soát các biến cố trên thế gian và cũng sẽ chi phối cá nhân và như thế thiết lập các thói quen của cuộc sống có tiết điệu – một trong các động cơ chính yếu được định trước để có được sức khỏe tráng kiện. (CTNM, 89) + Chu...
Xem Chi tiết
+ Christ: Nguyên Khí, cần phân biệt rõ, vốn là một trạng thái tinh thần cao siêu. Danh hiệu Christ chỉ về một nhân vật cao cấp đại diện cho nguyên khí đó, dù lịch sử có ghi vị giáng sinh ở Nazareth hay trong trường hợp khác (ASCLH, 11) 1. Christ vũ trụ: Tự biểu hiện qua một Thái Dương Hệ. (ASCLH, 28...
Xem Chi tiết
Hoạch đắc kiến thức thiêng liêng bằng các cố gắng và công lao cá nhân. (GLBN I, 43)...
Xem Chi tiết
Đạo viện (Ashram) : X. Huyền viện....
Xem Chi tiết
Động vật (Animal, con vật, loài vật): Động vật có một thể phách (astral body– vào thời Theosophy, từ Astral có nghĩa là “phách”–ND), thể này tồn tại thêm một thời gian ngắn sau khi thể xác chết. Tuy nhiên, Chân Thần (động vật) của con thú không tái sinh trong cùng loài mà tái sinh vào loài specie...
Xem Chi tiết
Plato (Platon, Pháp ngữ): – Plato là đệ tử được điểm đạo.         (GLBN III, 268) – Giống như Khổng Tử, Plato thuộc giai tầng tiến hóa cao về trí tuệ, tâm linh và tinh thần. Dầu đang ở trong cuộc tuần hoàn 4, ông có trình độ tiến hóa cực cao của cuộc tuần hoàn 5.                           (GLB...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Wesak (Lễ Đức Phật hiện): Một lễ xảy ra ở Himalaya vào kỳ trăng tròn tháng 5 dương lịch. Người ta nói rằng, trong lễ này, mọi thành viên của Thánh Đoàn đều hiện diện, trong một lúc ngắn, Đức Phật đổi mới sự tiếp xúc và liên kết của Ngài với công việc của hành tinh chúng ta.(ĐĐNLVTD, 225)...
Xem Chi tiết
Hợp nhất (unity): Hợp nhất có thể được xem như là sự thích nghi hữu thức của vị đệ tử được điểm đạo vào tổng thể lớn hơn, vì sự thu hút của vị đệ tử vào nhóm nhờ việc tuân thủ vào các định luật của linh hồn và với tư cách chi phối thái độ của y đối với những gì mà vị này đang sống, hoạt động và h...
Xem Chi tiết
+ Những năng lượng bên trong con người thực hiện sự tiếp xúc thông qua trung gian thể sinh lực hoặc thể dĩ thái, vốn gồm các dòng năng lượng, hoạt động thông qua 7 điểm tập trung hoặc các trung tâm lực trong thể dĩ thái, được tìm thấy ở gần, hoặc có liên quan đến, bảy tập hợp tuyến chính [Trang 413]...
Xem Chi tiết
Tam bộ (Triad, bộ tam, tam hạ thể): Tam bộ tức là các nguyên tử thường tồn hồng trần, cảm dục và nguyên tử thường tồn hạ trí. (KCVTT, 101)...
Xem Chi tiết
Thượng Trí (causal body) chính là Cái Tôi đối với đệ tử . (GLASTTĐ 214)...
Xem Chi tiết
Ta bà : Saha (B.Phạn)...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)+ Giác quan (sense): Các giác quan là n...
Xem Chi tiết
Qui luật (Rules, qui tắc): Qui luật là kết quả của kinh nghiệm đã trải qua thử thách và là kết quả của công việc được đảm trách lâu dài và – không khoác hình thức của định luật (laws), cũng không chịu các giới hạn của một huấn lệnh (command) – chúng được nhận biết bởi những ai cần đến chúng và do...
Xem Chi tiết
  – Một cuộc tuần hoàn là đoạn đường đi (passage) của một Chân Thần từ bầu “A” đến bầu “Z” (from globe “A” to globe “Z”) (hay bầu “G").      (GLBN I, 221) – Đại chu kỳ (great cycle) tức cuộc tuần hoàn.   (ĐĐTDVNL, 34) - Bảy chu kỳ thế giới (world periods) hợp thành một cuộc tuần hoàn. ...
Xem Chi tiết
Quyền năng (power, siddhis, huyền công, thần thông):...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Đơn nguyên (Monad): -  Đơn nguyên hay đơn tử là một thuật ngữ có thể dùng để chỉ Thái Dương Hệ bao la, cũng như chỉ nguyên tử cực nhỏ.   (GLBN  I,  86). – Đơn nguyên (của Laibnitz) theo một quan điểm có thể được gọi là thần lực (force), theo một quan điểm khác là vật chất (matter). Đối với huy...
Xem Chi tiết
Theo Huyền Linh Học cũng như theo kinh Kabalah, có ba loại ánh sáng: 1.- Ánh Sáng Trừu Tượng và Tuyệt Đối, đó là Bóng Tối (Darkness) 2.- Ánh Sáng của Đấng Biểu Lộ – Vô Hiện (the Manifested- Unmanifested) mà một số người gọi là Logos; 3.- Ánh Sáng loại sau phản chiếu nơi các Dhyn Choha...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
Một biến cố là một biểu lộ nhìn thấy rõ (focussed expression) của loại lực này hoặc lực khác. (SHLCTĐ 347)...
Xem Chi tiết
Vi hòa thức (minuteness, anima): Đây là khả năng mà nhà yogi có được để trở thành nhỏ như một nguyên tử, nhờ đó, tự đồng hóa với phần nhỏ nhất của vũ trụ, biết được cái ngã (the self) trong nguyên tử đó là một với chính mình. Điều này do bởi sự kiện là linh hồn thế giới được trải rộng khắp cá...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Tật xấu (vice): - Tật xấu là việc chiếm ưu thế của tính chất giáng hạ tiến hóa (involution) của cùng một mãnh lực mà vào giai đoạn sau sẽ hiện ra như là một đức tính (virtue). (TVTTHL, 233) - Tật xấu là năng lượng của các thể thấp riêng rẻ hay kết hợp lại trong Phàm ngã khi nó kiểm soát các hoạt đ...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Trong các thủ bút cổ xưa nhất của văn học Ấn Độ, Vị Thượng Đế Trừu Tượng Huyền vi (Unrevealed Abstract Deity) không có danh hiệu. Ngài thường được gọi là “Cái Đó” (tiếng Bắc Phạn là Tad) và tất cả mọi danh xưng đang có, đã có và sẽ có, hay bất cứ tên gọi nào mà trí người có thể nghĩ đến. (GLBN I, ...
Xem Chi tiết
Giống dân (Race, chủng tộc): – Cách phân loại các Giống dân và sự tiến hóa của nhân loại được nói đến trong sách này đã được trình bày một cách rõ ràng, khúc chiết trong quyển Phật Giáo Nội Môn...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Từ lực đạo (Nadi): Là những tuyến năng lượng (thread of energy) vô cùng nhỏ hay là các vi lực tuyến (force fibres) tỏa ra khắp nơi của mạng lưới dĩ thái và nằm bên dưới mọi phần của hệ thần kinh tam phân. Chúng có đến hàng triệu và tạo ra bộ máy đáp ứng bén nhạy, nhờ đó chúng ta hoạt động và bộ...
Xem Chi tiết
Đức Bàn Cổ (Manu): Đức Bàn Cổ chủ trì nhóm thứ nhất. Ngài được gọi là Đức Bàn Cổ Vaivasvata và là Bàn Cổ của căn chủng 5. Ngài là mẫu người hay tư tưởng gia lý tưởng và tạo mẫu cho giống dân Aryan của chúng ta, đã chủ trì vận mệnh của giống dân này từ khi nó bắt đầu có gần 100.000 năm nay. Các vị...
Xem Chi tiết
Ý niệm (idea, ý tưởng): Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238) Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54) Ý niệm...
Xem Chi tiết
“Tôi hiện hữu” (“I am”): “Tôi hiện hữu” ám chỉ Phàm ngã thức (personality consciousness) trên ba cõi thấp, hay ám chỉ những gì được xem như thấp kém hơn linh hồn thể. Nó liên quan đến nhận thức của con người về vị trí của mình trên bầu hành tinh trong một dãy hành tinh....
Xem Chi tiết
Ghét (hate): Là có ác cảm (aversion) với bất cứ đối tượng nào của các giác quan.    (ASCLH, 136)...
Xem Chi tiết
Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan ...
Xem Chi tiết
Năng lượng của linh thể (Atma). Mãnh lực của ý chí thiêng liêng. Hiện thân của mục tiêu thiêng liêng. Năng lượng này tự tập trung trong “các cánh hoa hy sinh của hoa sen Chân Ngã”. Hình ảnh của nó được tìm thấy trong bản chất thể trí của phàm ngã....
Xem Chi tiết
– Cõi nguyên hình, cõi biểu lộ thiêng liêng, cõi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cõi Tối Đại Niết Bàn. – Cõi của Thượng Đế. (LVLCK, 79, 656)...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
- Chiến tranh chỉ là một khía cạnh của biến dịch (change), cội nguồn của nó nằm sâu trong vật chất. (SHLCTĐ, 277) – Chiến tranh không phải giết người như những kẻ nhân hậu nghĩ; đó là cách hủy diệt hình hài với chủ đích tốt lành (nếu người ta có thể hiểu được Thiên Ý) của Hành Tinh Thượng Đế. Tuy ...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Sat (Thực hữu, Tối hữu, Bản thể): Chúa Cha, Shiva, Thượng Đế Ngôi Một, Vô Hiện (Unmanifest), Bản thể (Existence). (LVLCK, 94) – Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), hiện tại vĩnh cửu, cái bất biến (changeless) và là Cội Nguồn vĩnh hằng, từ đó và qua đó, vạn vật diễn tiến.             ...
Xem Chi tiết
+ Cung (ray): Một dòng thần lực (Chuyên hóa) hay 01 phân thân. Thái Dương Thượng Đế hay là Đại thiên địa, biểu lộ qua 3 cung chính yếu và 4 cung thứ yếu. Chân Thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua 3 cung như trên (LVLCK, 90) + Định nghĩa Ray - Cung năng lượng: Để chỉ một thần lực hay loại năng l...
Xem Chi tiết
NTH: Người soạn thảo bài viết của Nhân Trắc Học...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
  + Định luật vũ trụ: Có 3 định luật lớn, là các định luật căn bản của vũ trụ, thuộc về hệ thống vĩ đại hơn (đã được tất cả các nhà thiên văn học nhận biết), mà chúng ta là một phần trong đó, và 7 định luật có sẵn trong Thái Dương Hệ. Bảy Định luật này có thể xem như là phụ, mặc dù theo quan điểm n...
Xem Chi tiết
+ Hai Quan Điểm Triết Lý Tôn Giáo khác biệt:- Tôn Giáo Hữu Thần: Có Thượng Đế - Mọi thứ là do Thượng đế tạo nên- Tôn Giáo Vô Thần: Không Có Thượng Đế. Ví dụ như Kỳ Na giáo, Phật giáo, và Ấn giáo, một con người có nhiều kiếp sống. Họ tin rằng một số kinh nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của nhữn...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Nguyên tử nguyên thủy (Primordial atom). (GLBN I, 204)...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
Tối Đại Niết Bàn (Adi): Cõi thứ nhất; cõi nguyên thủy; cõi nguyên tử của Thái Dương Hệ; cõi cao nhất trong 7 cõi. (ĐĐNLVTD, 215)...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết