SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả Báo Ứng, chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ TỐT, DÙ SẤU , đó là lý do thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự phổ biến và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời vào thực tiễn đời sống, giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Phần 1: Giới Thiệu

Đây là bản dịch quyển sách The Chakras and The Human Energy Fields, của Bác sĩ Shafica Karagulla và bà Dora van Gelder Kunz, Nguyên Hội Trưởng Hội Thông Thiên Học Hoa Kỳ mà trước đây chúng tôi có giới thiệu qua. Đây là tài liệu được viết bởi hai người, một nhà khoa học, bác sĩ y khoa, và một nhà thông nhãn, có được huấn luyện và hiểu biết huyền linh. Các bạn học hỏi giáo lý của Chân sư DKthể dùng nó tham khảo cho sự học hỏi của mình. Đây là công trình phụng sự mà hai bạn trẻ học viên của Trường Morya Federation đã thực hiện: Quỳnh Anh Và Mai Oanh. Phần 1 do Quỳnh Anh dịch. Chúng tôi sẽ trích đang lần lượt từng chương của quyển sách.

******************

D:BoxBox SyncTheosophy_htmDora Kunzmediaimage1.jpeg

CÁC LUÂN XA

Và 

Các Trường Năng Lượng của Con người

Shafica Karagulla, M.D.

Dora van Gelder Kunz

A Quest Original. First Edition 1989

Mục Lục Sách

Lời nói đầu

Cám ơn

Giới Thiệu

1. Một cái nhìn mới về bản thể con người

I. Bình minh của một tâm thức mới

II. Phá vỡ rào cản của các giác quan

2. Các Trường và Luân xa

III. Ba trường của phàm ngã

IV. Cấu trúc và chức năng của thể dĩ thái

V. Vai trò của các luân xa

VI. Thể cảm dục và các cảm xúc

VII. Các bề đo tâm thức cao hơn

3. Nhãn thông như là một công cụ chẩn đoán

VIII. Cơ sở của nghiên cứu bằng thông nhãn

IX. Sử dụng thông nhãn trong nghiên cứu

4. Quan sát tiến trình bệnh tật

X. Các biến thể của trường dĩ thái

XI. Các luân xa và các tuyến nội tiết

XII. Các bệnh liên quan đến Tâm thức và Bộ não

XIII. Ảnh hưởng của thuốc và các chất bổ trợ khác lên các trường

XIV. Ảnh hưởng của phẫu thuật cắt bỏ cơ quan

5. Vai trò của tâm thức

XV. Ảnh hưởng của những thay đổi trong tâm thức

XVI. Động lực của việc chữa bệnh

XVII. Hướng tới tương lai

Phụ lục

Các trường hợp nghiên cứu thực tế

++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Lời nói đầu

Dora van Gelder Kunz

Sự hợp tác giữa tôi và bác sĩ Shafica Karagulla bắt đầu tại New York không lâu sau lần đầu chúng tôi gặp nhau vào những năm 1950s, và hầu hết những lần nghiên cứu bằng nhãn thông chúng tôi cùng thực hiện diễn ra trong vòng một thập niên sau đó, mặc dù công việc này có nhiều lúc gián đoạn sau khi Shafica chuyển tới California vào những năm 1960s. Bác sĩ Karagulla chủ yếu quan tâm đến việc nghiên cứu sự liên quan giữa tiến trình bệnh tật và các luân xa, và do vậy hầu hết các trường hợp nghiên cứu của chúng tôi đều theo xu hướng này.

Trong suốt hơn hai mươi năm chúng tôi làm việc cùng nhau, mối quan tâm chính của tôi là việc trị liệu, và mọi nỗ lực của tôi đều dành cho việc giúp đỡ những người bị bệnh nặng, phải chịu nhiều đau đớn. Sự thay đổi trong trọng tâm công việc này của tôi diễn ra từ từ mặc dù nó nhận được sự thúc đẩy lớn lao từ việc phát triển một phương pháp chữa bệnh gọi là “Đặt tay chữa lành” mà Dolores Krieger và tôi là những người khởi xướng, và phương pháp này đã được dạy cho hàng ngàn y tá.

Trong những năm tiếp theo, tôi đã chứng kiến hàng trăm bệnh nhân phải chịu đựng rất nhiều loại bệnh tật. Vì vậy, bản thân tôi đã học hỏi được khá nhiều về quá trình bệnh tật, nhiều hơn những gì tôi từng hiểu biết tại thời điểm làm công tác nghiên cứu cùng Bác sĩ Karagulla. Thực ra, chúng tôi chưa bao giờ hợp tác trên khía cạnh trị liệu trong các nghiên cứu của mình.

Tôi gặp Tiến sĩ Viola Petitt Neal, người vừa là người thầy và cũng là bạn thân nhất của Shafica Karagulla, nhưng bà không thực sự tham gia vào công việc mà chúng tôi làm tại New York. Sau này, khi chúng tôi cùng sống tại bang California, tôi mới biết đến bà nhiều hơn và trân trọng sự cống hiến sâu sắc của bà cho các nguyên lý tinh thần. Bà rất quan tâm đến dự án về cuốn sách này và đã đóng góp những phác thảo về ý tưởng cơ bản cho ba chương đầu.

Trong những chuyến tôi tới thăm California, Bác sĩ Karagulla nói với tôi về khả năng sắp xếp các tài liệu từ những gì chúng tôi đã nghiên cứu và viết ra nhằm xuất bản thành sách. Cho đến trước khi qua đời, Tiến sĩ Neal đã tham gia vào nhiều cuộc thảo luận như thế này. Cả ba luôn đồng ý rằng tôi sẽ là người xem lại bản thảo và sửa đổi bất cứ chi tiết nào cần thiết. Bác sĩ Karagulla cập nhật cho tôi tiến độ công việc của bà và gọi điện cho tôi thảo luận về nó chỉ một tuần trước khi bà qua đời một cách đột ngột và không mong đợi. Đây là một cú sốc lớn với tất cả chúng tôi.

Một vài tuần sau tai nạn chết người của bà, các tài liệu để viết cuốn sách được chuyển đến tay tôi, vì gia đình bà đồng ý rằng những tài liệu đó nên được trao lại cho tôi với toàn quyền sở hữu và sử dụng cho mục đích xuất bản cuốn sách. Tôi đã nghĩ rằng bản thảo gần như hoàn thành, nhưng ngạc nhiên khi thấy có nhiều chương mới chỉ là các ghi chú. Tôi quyết định cần làm nhiều việc hơn nữa trước khi đưa cuốn sách xuất bản, và do vậy tôi nhờ một người bạn tên là Emily Sellon, một người biên tập chuyên nghiệp thực hiện công việc này. Do vậy, bản thảo gốc của Bác sĩ Karagulla và Neal cần được chỉnh sửa rất nhiều và tôi sẽ đảm nhiệm công việc này. Ngay cả tiêu đề cuốn sách cũng đã được sửa đổi mặc dù điều này đã được nhất trí trước khi Bác sĩ Karagulla qua đời.

Với những hoàn cảnh khó khăn trên, cần hiểu rằng cuốn sách là một sự pha trộn các quan điểm và các đóng góp của nhiều người. Để có được sự thống nhất, các quan điểm và các đóng góp khác nhau, bà Sellon đã hoà trộn và hình thành nên phiên bản cuối cùng..

Shafica Karagulla là một người bạn đáng mến và một cá nhân hiếm có khi kết hợp chuyên môn y học và khoa học với một tư tưởng hoàn toàn phóng khoáng và nhiệt tâm háo hức với các lĩnh vực chưa được khám phá. Trong suốt tình bạn kéo dài của chúng tôi, tâm huyết của bà dành cho các khả năng có thể được tìm thấy từ các tìm hiểu của chúng tôi chưa bao giờ giảm sút. Cuốn sách này không thể hoàn thành nếu không có mối nhiệt tâm sâu sắc và bền vững của bà và nỗ lực của chúng tôi để cuốn sách được dễ đọc, dễ hiểu là một sự tưởng nhớ đến bà.

Lời cảm ơn

Chúng tôi gởi lời cảm ơn sâu sắc đến những người đã đóng góp tài chính cho việc nghiên cứu mà nhờ đó cuốn sách được hình thành: Quỹ Eliot D. Pratt đã trợ cấp ba năm đầu tiên, mà nếu không có thì các nghiên cứu trên sẽ không thể bắt đầu; Trudy Pratt và người chồng về sau của bà là Eliot, cho tinh thần tiên phong trong việc ủng hộ dự án. Xin gởi lời cám ơn tới tất cả những người đã đóng góp vào quỹ Eliot D. Pratt Foundation để hỗ trợ việc nghiên cứu tri giác siêu đẳng: Rebekah Harkkness và quỹ Harkness; Quỹ Lester Finkelstein Foundation, và Irene và Lester Finkelstein về sau.

Xin gởi lời cám ơn đến những người đã hỗ trợ Quỹ nghiên cứu tri giác siêu đẳng: Quỹ Boston, Annabelle Markson và Yoland Markson sau này; Lynn Charleson cho sự ủng hộ tiếp tục của ông; Ton và Gayle den Dass; Quỹ Midway; và quỹ John E. Fetzer.

Xin gởi lời cám ơn đến những người đã cống hiến thời gian miễn phí cho nghiên cứu về năng lực tự nhiên về tri giác cao của họ, đặc biệt là Frances Farrelly, khiếu hài hước và lương tri của ông đã thắp sáng công việc của những lần thí nghiệm lặp đi lặp lại.

Xin gởi lời cám ơn đến Eloise Doerfler, người đã cống hiến thời gian không công cho năm năm ghi lại dữ liệu và đảm bảo sự chính xác một cách đầy tin tưởng; không có sự kiên nhẫn và hỗ trợ của bà thì điều này trở thành nhiệm vụ không thể thực hiện.

Xin gởi lời cám ơn đến các thư ký ghi lại dữ liệu, một nhiệm vụ kéo dài nhiều năm: Evelyn Petersen, Helen English, và Maxine Friend.

Xin gởi lời cám ơn đến Irene Bagge đã đọc bản thảo và đưa ra những gợi ý hữu ích.

Xin gởi lời cám ơn đến Nhà xuất bản Thông Thiên Học đã cho phép sử dụng các hình ảnh và màu sắc từ cuốn Các Luân Xa của C.W. Leadbeater.

Cuối cùng, xin gởi lời cám ơn tới hai người thân của Shafica Karagulla, Basim Azzam và Fahmi Karagulla, vì những hộ trợ tài chính rộng rãi giúp việc tổ chức nghiên cứu trở nên khả thi và đảm bảo nhu cầu cá nhân được đáp ứng, nhờ đó mà bà được tự do cống hiến thời gian của mình cho việc biên soạn và viết lên lịch sử mỗi trường hợp nghiên cứu.

Giới thiệu

Shafica Karagulla

Lời thì thầm kéo dài, nhắc lại ngày và đêm:

Có điều ẩn dấu. Hãy đi và tìm.

Đi và tìm phía sau những điều Nhìn thấy.

Những thứ mất dấu phía sau những điều Nhìn thấy.

Mất tích và chờ đợi bạn tới.

Rudyard Kipling, người Khám Phá

Hơn năm mươi năm trước, người thầy, người bạn, người đồng nghiệp và cộng tác trong nghiên cứu của tôi, Viola Petitt Neal đã viết bài thơ trên trong quyển kỷ yếu thời cấp ba của tôi và những dòng này vẫn vang vọng trong thời gian hết lần này qua lần khác. Nhưng điều ẩn dấu mà tôi cần tìm là cái gì?

Là một bác sĩ điều trị, tôi bị thu hút vào sự hoạt động của tâm trí con người, về sự nhận thức của con người với vô vàn hình thái biểu lộ. Là một nhà tâm thần học về hệ thần kinh, tôi đã nghiên cứu những biểu hiện bất thường dưới các hình thức như ảo ảnh, ảo tưởng, ảo giác và việc mất ý thức về hành vi mà những điều này bao gồm nhiều hình thức bệnh tật trong não bộ gây ra viêm não, teo não hay ung thư.

Nghiên cứu của Bác sĩ Wilder Penfield về sự kích thích điện não ở những bệnh nhân động kinhý thức cho tôi một loạt hiểu biết khác. Tất cả những điều này là sự mở đầu cho nghiên cứu về những cấp độ cao hơn của sự nhận thức nằm trong khả năng tâm trí của con người. Việc tìm ra những cá nhân đã vượt qua rào cản của năm giác quan là thử thách tiếp theo khiến tôi phải “đi và tìm ở phía sau những hiện tồn.”

Làm thế nào để xác minh những khả năng tri giác cao hơn ở những người nói rằng họ sở hữu những khả năng đó? Công cuộc tìm kiếm nhằm phát hiện ra những gì “ẩn dấu” đưa tôi đến với bà Kunz và những con người tài năng khác, những người đã giúp tôi hiểu phần nào những bỉ ẩn của con người. Nghiên cứu mà cuốn sách này dựa vào ban đầu bắt nguồn từ một nỗ lực chỉ ra thông tin có được nhờ khả năng tri giác cao có nền tảng có thể xác minh được và có nghĩa. Sau này, tôi bắt đầu thoáng thấy được nguyên nhân thật sự của các bệnh tật mà đã góp phần kích thích những sự bất hoà về tâm thần và vật lý và khám phá ra những cách làm tan đi đau đớn và khôi phục sức khoẻ.

Từ những người có thông nhãn, chúng tôi biết rằng một phàm ngã bao gồm ba loại trường năng lượng—thể dĩ thái hay sinh lực, thể cảm dục hay thể tình cảm, và thể trí—các thể này bao quanh và thấm vào từng tế bào của thể xác vật lý. Sự tương tác giữa các trường này có thể giống như cái mà nhạc sĩ gọi là hợp âm chính, được tạo nên từ ba tần số. Những notenày kết hợp với bốn note khác hình thành nên một bát độ gồm bảy tần số. Một số người tin rằng mỗi con người phát ra một khuôn mẫu âm điệu độc nhất được tạo nên bởi các trường năng lượng của mỗi cá nhân đang trong sự hoà âm. Cung điệu này đôi khi được biết đến như là nốt (cung điệu) của phàm ngã. Một cung điệu hoàn hảo chỉ sự khoẻ mạnh, trong khi những xung đột giữa các trường năng lượngtrung tâm lực chính chỉ bệnh tật. Những vấn đề này sẽ được thảo luận trong những chương tiếp theo.

Cuốn sách này là một nỗ lực nhằm kết hợp y học với việc tìm hiểu những khía cạnh vô hình và năng lượng của phàm ngã con người, nhằm chỉ ra sự phụ thuộc chặt chẽ và phức tạp giữa chúng.

Mỗi cá nhân tham gia đóng góp vào việc chuẩn bị tài liều cho cuốn sách đều có lĩnh lực chuyên môn riêng của mình. Tiến sĩ Neal chịu trách nhiệm gợi ý những ý tưởng thảo luận về cấu tạo của con người, chủ yếu dựa trên các khác niệm minh triếthuyền môn; Bà Kunz chịu trách nhiệm quan sát bằng nhãn thông; Bản thân tôi chịu trách nhiệm chọn lọc và liên kết các dữ liệu được đưa ra và phân tích về mặt y học.

Tiến sĩ Viola Petitt Neal nghiên cứu vật lý, hoá học và tâm lý học thời đại học và có bằng PhD về triết học ở đại học London, trọng tâm nghiên cứu của bà là những tôn giáo bí mật ở Trung Đông. Sau đó, bà dạy môn mà được gọi một cách chung nhất là “Triết học ngàn đời” trong suốt hơn 35 năm, tại các trường đại học trụ sở tại California hay cho các cá nhân. Bà hợp tác với tôi khi viết cuốn sách “Đột phá trong sang tạo” mặc dù tên của bà không xuất hiện trên trang bìa. Vào năm 1978 bà xuất bản cuốn sách về các bài thơ của mình có tên là “Những mảnh kinh nghiệm: một hành trình tinh thần” và trong cuốn “Xuyên qua tấm rèm” (Neal và Karagulla, 1983) bà kiểm nghiệm khả năng nhận thức một số chiều kích của hiện thực và các giai đoạn của tâm thức. 2

Dora van Gelder Kunz sinh ra với khả năng nhãn thông đặc biệt trong một gia đình có mẹ và bà ngoại cũng có khả năng bẩm sinh này. Thời thơ ấu, năng lực khác thường của bà được phát triển nhờ làm việc với nhà nhãn thông người Anh, Charles W, Leadbeater, tác giả những nghiên cứu nổi tiếng như “Luân xa” và “Con người hữu hình và vô hình”. Khả năng nhận biết và nghiên cứu các tinh linh, thiên thần và các thực thể tự nhiên khác một cách chi tiết của bà đã cho ra thành quả ở hai tác phẩm chuyên khảo về thế giới thiên thần có tiêu đề “Lễ Giáng Sinh của Thiên Thần” và “Thế giới thực của thần tiên”, cuốn sách cho chúng ta một bức tranh không theo lối mòn và dịu dàng về thế giới của các thực thể tinh thần tự nhiên. Những tinh thần này là một phần của mỗi truyền thống văn hoá.

Bà Kunz là nhân vật có khả năng nhạy cảm được gọi là “Diana” và DVG” trong cuốn sách “Bước đột phá đến sự sáng tạo” của tôi. Bà được phú cho năng lực nhận biết không chỉ trường năng lượng dĩ thái hay sinh lực và các trung tâm lực chính (luân xa) mà còn cả trường năng lượng thể cảm dục (tình cảm) và trí tuệ với những trung tâm lực tương ứng của chúng. Năng lực tự nhiên này đã được phát triển tới mức độ chính xác nhờ nỗ lực kiên trì của bà trong việc quan sát cẩn thận và chi tiết, khả năng phân tích đã được huấn luyện, và mối liên quan đến lịch sử y tế của từng trường hợp. Bà đã làm việc với các bác sĩ điều trị khác trong việc chẩn đoán những trường hợp y học khó khăn và không rõ rệt, và những năm gần đây đã chuyên tâm vào việc giảng dạy và thực hành phương pháp trị liệu được biết tới với tên gọi “Cảm ứng điều trị”. Phương pháp này được bà phát triển cùng với cộng sự của mình là tiến sĩ Dolores Krieger.

Từ năm 1975 đến 1987, bà Kunz là Hội Trưởng hội Thông Thiên học Hoa kỳ và là chủ biên tạp chí “Người thông thiên học Mỹ” của hội; kể từ khi rời vị trí này, bà đã cống hiến hầu hết thời gian của mình cho công việc trị liệu. Bởi vì khả năng nhận biết cả nguyên nhân bệnh tật và lẫn khả năng thành công của tiến trình trị liệu, bà làm tăng thêm giá trị cho sự hiểu biết của chúng ta về cơ chế vận hành của sức khoẻ và bệnh tật.

Bản thân tôi là một bác sĩ, chuyên môn của tôi là thần kinh-tâm thần học. Sau khi được đào tạo về tâm thần học tại đại học Edinburgh dưới thời Ngài David K. Henderson, nghiên cứu tiếp theo của tôi đòi hỏi một sự tìm hiểu mở rộng về lich sử các trường hợp tâm trí có liên quan đên các loại ảo giác, như là nghe thấy giọng nói, nhìn thấy hình ảnh và trải qua nhửng cảm giác bất thường. Trong một số trường hợp, những hiện tường này chắc chắn có liên quan đến tổn thương não bộ, như là khuyết tật chung ở người mất trí, bệnh Alzheimer hay những trạng thái độc hại giống như nhiễm độc Brom.

Trong khi đó, công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Wilder Penfield ở Viện thần kinh học Montreal tại Canada đã thu hút sự chú ý của tôi. Cuốn sách của ông, Vỏ Não của Con Người, mô tả quá trình gây ảo giác và những kinh nghiệm bất thường ở những bệnh nhân động kinh đã trải qua phẫu thuật não ở trạng thái hoàn toàn có ý thức. Bị thu hút bởi công trình nghiên cứu của ông nhằm vạch ra các chức năng khác nhau trên vỏ não, tôi đã đến Canada và may mắn có cơ hội được làm việc chung với Tiến sĩ Penfield trong hơn ba năm rưỡi. Một vài trong số những nghiên cứu tôi đã thực hiện hồi đó được đăng trong một bài báo trên tạp chí y khoa Anh Quốc vào năm 1955, có tựa đề “Hiện tượng tâm linh trong bệnh động kinh thuỳ thái dương và những bệnh nhân tâm thần” (Karagulla và Robertson). Trong đó, chúng tôi chỉ ra sự tương đồng trong những kinh nghiệm ảo giác giữa hiện tượng tâm linh trong bệnh động kinh thuỳ thái dươngbệnh tâm thần phân liệt.

Không lâu sau đó, tôi được mời tới Mỹ để tiếp tục nghiên cứu của mình về bệnh tâm thần phân liệt, và được chỉ định làm giáo sư dự khuyết ngành tâm thần học tại Đại học New York. Vẫn đang trong quá trình tìm kiếm một giải pháp cho các loại các nhau của ảo giác ở các bệnh nhân tâm thần, tôi được thử thách bằng việc đọc một số quyển sách không chính thống về tâm trí con người và những tiềm năng của nó, những điều mà việc đào tạo ngành tâm thần thần kinh học của tôi đã không giảng dạy.

Như thế, trước khi mạo hiểm vào lĩnh vực mới, tôi đã trải qua hơn 12 năm nghiên cứu tâm trí con người, cả người bình thường và người mất trí, và việc được đào tạo về tâm thần-thần kinh học của tôi thuần tuý là một thể loại khoa học và học thuật thông thường. Tuy nhiên, những đam mê của tôi lại ít chính thống hơn. Mọi tư liệu tôi đọc lúc bấy giờ dường như gợi ý đến một cái nhìn phức tạp hơn về bản chất con người, vượt quá những giới hạn của não bộ vật lý và năm giác quan vật lý, và thách thức những khái niệm y khoa truyền thống.

Cho nên tôi bắt đầu tìm tòi khám phá cho chính bản thân mình. Một phần nghiên cứu tôi thực hiện thời đó trong lĩnh vực kỳ bí được xuất bản năm 1967 trong cuốn “Sự đột phá tới Sáng tạo”, trong đó trình bày các bằng chứng được ghi lại về những quãng cao hơn của tri giác của chúng ta. Điều cần thiết, như tôi nhận thấy, là khám phá và phân tích những cơ chế quản lý những chiều đo nhận thức cao hơn. Chúng hiện lên như thế nào và chức năng vận hành của chúng ra sao? Không có gì là “siêu nhiên” trong vũ trụ này; bất cứ hiện tượng nào xuất lộ với chúng ta đều là kết quả của sự thiếu hiểu biết của ta về các luật cai quản chúng.

Việc xuất bản cuốn sách này khơi ra nhiều lá thư đến từ các bác sĩ trị liệu, các nhà khoa học và những người có kinh nghiệm tương tự, và điều này đưa tôi đến việc nghiên cứu sâu rộng hơn với sự giúp đỡ từ những cá nhân có khả năng thiên bẩm như bà Kunz. Kết quả là tôi bắt đầu hiểu ra, ít nhất là một phần, về cơ chế hoạt động của những năng lực này.

Nghiên cứu này và những nghiên cứu khác chỉ ra một cách đầy nghĩa lý một sự thật là ngoài từ trường và điện trường bao quanh các sự kiện vật lý còn có những loại năng lượng và tần số khác mà hiện nay chưa thể tìm thấy bằng bất kì thiết bị dụng cụ nào đã được phát triển cho đến nay. Vì lý do này, những người có khả năng thiên bẩm là “công cụ” duy nhất có thể sử dụng hiện nay cho công việc nghiên cứu liên quan đến tri giác nhãn thông với những chuẩn đoán y khoa. Trong trường hợp của bà Kunz, tôi yêu cầu càng nhiều chi tiết càng tốt trong các lần quan sát của bà.

Trong công việc làm cùng nhau, tôi phục vụ như một nhà nghiên cứu và bà ấy là người quan sát. Phương pháp của chúng tôi bắt đầu bằng việc giới thiệu tới bà những người khoẻ mạnh và bình thường, để tôi có thể biết được cái bà nhìn thấy là cái gì và như thế nào. Sau một năm, tôi đã có thể phát triển một sơ đồ cho các tính chất khác nhau cần được tìm kiếm khi nghiên cứu tình trạng sức khoẻ hay bệnh tật; sau đó chúng tôi theo sát những hướng dẫn một cách thống nhất trong mọi trường hợp.

Chúng tôi nghiên cứu trước tiên những đặc tính chung của thể sinh lực hay thể dĩ thái, mối quan hệ của nó với những chốt xoáy năng lượng hay luân xa, nằm trong trường năng lượng, hiệu ứng của những năng lượng này lên tuyến nội tiết, và cách chúng có liên quan đến các trung tâm lực khác. Sau này, ở mức độ nào đó, chúng tôi quan sát trường năng lượng cảm dụcthể trí với các xoáy năng lượng tương ứng, nhưng cần có thêm nghiên cứu cho những khía cạnh trên của phức hợp con người.

Bệnh xá điều trị ngoại trú cho các bệnh về nội tiết, một trong những trung tâm y khoa có uy tín nhất của New York là một nguồn dữ liệu y tế chính của chúng tôi. Bà Kunz chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ bệnh nhân nào. Bà chỉ nhìn họ từ một khoảng cách một vài mét trong khi bà đang ngồi phía sau lưng bệnh nhân ở phòng chờ.

Điều đáng lưu ý là bà Kunz đã quen với việc nhìn thấy những người khoẻ mạnh ở thể vật lý hay những người bị phiền toái trong thể tình cảm; ở đây là lần đầu tiên bà quan sát có hệ thống trường năng lượng dĩ thái và các luân xa trong những bệnh nhân bị bệnh năng, một vài trong số họ đã cắt bỏ vài bộ phận trong thể hay các tuyến nội tiết. Chúng tôi nhận thấy rằng những bất thường quan sát được trong luân xa dĩ thái chính là một dấu hiệu chỉ ra xu hướng phát triển một căn bệnh, và khu vực mà trong đó sự bất thường xảy ra có thể được dự đoán có khi đến hàng năm trước khi những hiện tượng này bắt đầu biểu lộ.

Khi các nghiên cứu của chúng tôi tiến triển, chúng tôi biết thêm là có những thứ có vẻ như bắt nguồn từ một chiều đo, ví dụ như ở cấp độ dĩ thái, có thể thực sự phát sinh từ một cấp độ cao hơn như là thể cảm dục hay thể trí. Những bất thường và khối u ở tuyến giáp có vẻ như xuất phát từ luân xa dĩ thái cổ họng, nhưng một quan sát sâu hơn có thể chỉ ra rằng nguyên nhân nằm ở thể tình cảm, giống như những bệnh tật ở thể vật lý xuất phát từ thể dĩ thái.

Chúng tôi sẽ đưa ra lịch sử từng trường hợp để minh hoạ điểm này, và để chứng thực lý thuyết của chúng tôi rằng con người là một mạng lưới phức tạp của các quá trình liên hệ phụ thuộc lẫn nhau mà được tiếp tế bằng năng lượng đến từ ba hay nhiều hơn trường năng lượng của vũ trụ, tất cả đều đóng vai trò chính yếu trong sức khoẻ và bệnh tật.

Mục đích chính của Phần Một, Hai, Ba của cuốn sách là giới thiệu bối cảnh lịch sử của nghiên cứu bằng nhãn thông, cũng như một phác thảo ngắn gọn về cấu tạo con người trong truyền thống huyền linh học. Phần Bốn trình bày nghiên cứu các khía cạnh của con người phàm ngã, nơi mà quan sát nhãn thông nhận định khoẻ mạnh là tình trạng hài hoà và bệnh tật là tình trạng xung đột, liên hệ với các bằng chứng y khoa về thể trạng vật lý của chủ thể nghiên cứu, và Phần Năm xem xét tầm quan trọng của tâm thức như một yếu tố cho sức khoẻ và bệnh tật, cũng như trong sự phát triển và thay đổi của mỗi cá nhân, với một bản ghi chú cuối cùng về những lãnh vực nào mà những nghiên cứu tương tự có thể diễn ra trong tương lai.

 

1625 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay
– Bất cứ cuộc điểm đạo nào mà không được lý giải trong cách sống hằng ngày thì không giúp ích được bao nhiêu và về căn bản là thiếu xác thực. Chính sự thiếu xác thực của cách trình bày về điểm đạo đã đưa tới việc Hội Thông Thiên Học không còn được xem như là tác nhân của Thánh Đoàn vào lúc này. Trướ...
Xem Chi tiết
Đa nhân cách (Multiple personalities, tâm thần phân liệt): Ở đây tôi không thể bàn rộng về vấn đề nhập xác (obsession) do sự triệt thoái của trạng thái ngã thức của chủ thể trong thể xác (tức linh hồn –ND). Tiến trình tách ra này chỉ để lại một cái vỏ sinh động (living shell), một cái nhà trống r...
Xem Chi tiết
Tâm Thức Atlantis: Con người Tình cảm Vô ý thức 3. Bây giờ tiêu điểm chú ý của linh hồn – hoạt động xuyên qua con người đang tiến hóa từ từ, đang di chuyển vào thế giới của dục vọng. Các ham muốn không còn quá mơ hồ và phôi thai. Cho đến nay chúng vẫn quan tâm tới những thôi thúc hay khao khát cơ bả...
Xem Chi tiết
CẤU TẠO CON NGƯỜI (Theo Minh Triết Mới) + Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế(TTHM, thu 28.7.20) + Con người: Đức Phật dạy rằng con người là sự tập hợp của 2 thành phần chính gọi là danh và sắc. - Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là...
Xem Chi tiết
+ Tuyến nội tiết: Tuyến nội tiết hay hệ thống tuyến tác động dưới các thúc đẩy tiến vào thể xác xuyên qua bảy bí huyệt trong thể dĩ thái; đối với các bí huyệt này, hệ thống tuyến chỉ là sự thể hiện bên ngoài hay là đối phần của thể xác. Các tuyến nội tiết chi phối con người qua dòng máu, đến phiên c...
Xem Chi tiết
+  Nhà huyền linh thuật tức là nhà huyền linh học (occultist). (ASCLH, 222) + Nhà huyền linh thuật (White magician): -   Nhà huyền linh thuật là kẻ vận dụng mọi năng lực và kiến thức trong việc phụng sự nhân loại. (TVTTHL, 331) -   Nhà huyền linh thuật là kẻ đang tiếp xúc được với linh hồn của mì...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
Thể cảm dục (ASCLH, 186)/ (KCVTT, 253) + Thể cảm dục, đôi khi được gọi là thể tình cảm là kết quả của sự tương tác của dục vọng và của sự đáp ứng hữu cảm thức vào cái ngã ở trung tâm, và đưa đến kết quả – trong thể đó – là kinh nghiệm được tạo ra dưới hình thức cảm xúc như là đau khổ và vui sướng v...
Xem Chi tiết
+ Thể sinh lực tức là thể dĩ thái (LVHLT, 206) + Thể dĩ thái là một mạng lưới các dòng năng lượng, các tuyến lực và ánh sáng. Dọc theo các tuyến năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ tuôn chảy, giống như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch (Nguồn) + Thể dĩ thái: Thể xác con người có 2 phần: Nhục...
Xem Chi tiết
- Bậc Trí Giả: Tâu đại vương! Phàm là Trí giả nói chuyện với nhau, bao giờ cũng nói lời ngay thật, muốn trao đổi hiểu biết, soi sáng hiểu biết cho nhau. Trong câu chuyện, nếu có những lý lẽ đưa ra, dù đúng, dù sai, dù cao, dù thấp, dù phải, dù trái v.v... các bậc Trí giả không bao giờ vì thế mà phiề...
Xem Chi tiết
+ Hệ thần kinh: Hệ thần kinh được tạo ra để biểu lộ các quyền năng tâm linh trên cõi trần. + Hoạt động: Hệ thần kinh giao cảm có liên quan trực tiếp với trạng thái Ý Chí, dưới hình thức Dục vọng, còn hệ thần kinh não tủy có liên quan trực tiếp hơn với trạng thái Hiểu Biết và trạng thái Ý Chí thuần ...
Xem Chi tiết
+ Trách nhiệm: Khi nào không có ngã thức (self- consciousness) thì không có trách nhiệm. Do đó, loài vật (animals) không bị lôi cuốn vào trách nhiệm, và mặc dù chúng chịu đau khổ trên cõi trần và trong thể xác, chúng lại thoát khỏi nghiệp quả trên các cõi tinh anh (subtler planes) vì chúng không có ...
Xem Chi tiết
+ Thể sinh lực tức là thể dĩ thái (LVHLT, 206) + Thể dĩ thái là một mạng lưới các dòng năng lượng, các tuyến lực và ánh sáng. Dọc theo các tuyến năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ tuôn chảy, giống như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch (Nguồn) + Thể dĩ thái: Thể xác con người có 2 phần: Nhục...
Xem Chi tiết
Thể cảm dục (ASCLH, 186)/ (KCVTT, 253) + Thể cảm dục, đôi khi được gọi là thể tình cảm là kết quả của sự tương tác của dục vọng và của sự đáp ứng hữu cảm thức vào cái ngã ở trung tâm, và đưa đến kết quả – trong thể đó – là kinh nghiệm được tạo ra dưới hình thức cảm xúc như là đau khổ và vui sướng v...
Xem Chi tiết
Tâm lý học (Psychology): Tâm lý học đã chỉ ra rằng trong tâm thức của mỗi con người là một ý thức về nhị nguyên. Nó là môn học về sự hoạt động của con người, như là sinh vật sống động trong môi trường chung quanh, trong đó có chính y – môn học về sự tương tác giữa con người với môi trường chung quan...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Thần, Thiên thần (Devas): Devas là các thực thể tiến hóa (progressing entities) của một chu kỳ hành tinh trước. (GLBN III, 235) + Thần chất (Deva substance, chất liệu của thiên thần): - Tinh chất kiến tạo (building essence) tức là thần chất. - Vật chất được các Agnishvatta làm linh hoạt (vitali...
Xem Chi tiết
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: - Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi sutratma, life thread hay silver cord (ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này.(GDTKNM, 143) - Chúng ta dùng để chỉ hơi ...
Xem Chi tiết
Nhãn thông (Clairvoyance): Đây là năng lực thấy trên cõi cảm dục và là một trong các “siddhis” thấp hay quyền năng tâm thông thấp. Năng lực này được đạt tới nhờ sự nhạy cảm ở bề mặt của toàn bộ “thể cảm giác” (body of feeling”), lớp vỏ tình cảm và là nhận thức của giác quan được đem lên tình trạn...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua Đây là những vấn đề sinh lý và tâm lý xảy ra khi bản thể bị kích thích quá mức bởi năng lượng đang đổ vào mãnh liệt, phá vỡ các nhịp điệu sống ...
Xem Chi tiết
+ Huyền linh (Occult): Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự sống (being) và các động lực hướng dẫn này (springs of conduct) tạo ra biểu lộ ở ngoại cảnh. (LVHLT, 10) + Huyền linh học (Occultism): -   Nghiên cứu huyền linh học một cách chân chính là nghiên cứu về nguyên nhân và cách di...
Xem Chi tiết
Hiện tượng (Phenomenon): Theo cách gọi của các Nhà Duy Tâm (Idealists) đương đại thì sự kết hợp của Chủ thể (Subject) và Khách thể (Object) tạo ra đối tượng của giác quan (sense–object) tức là hiện tượng.  (GLBN II, 42)...
Xem Chi tiết
Đức Djwhal Khul hay là Đức D.K. như Ngài thường được gọi, là một Chân Sư thuộc Cung 2, Cung Bác ái–Minh Triết. Ngài là vị Chân Sư được điểm đạo gần đây nhất, Ngài được điểm đạo lần 5 vào năm 1875, và do đó đang ngự trong chính thể xác lúc Ngài được điểm đạo. Đa số các Chân Sư khác được điểm đạo lần ...
Xem Chi tiết
Động kinh (Epilepsy): Một vài hình thức của bệnh động kinh là do cái mà chúng ta có thể gọi là “sự tiếp nối lỏng lẻo” (“loose connection”), tuyến ý thức hay tuyến năng lượng đôi khi có thể bị triệt thối hay tách ra, điều này gây nên các triệu chứng động kinh quen thuộc và các tình trạng đau xót đ...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593. + Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức + Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức...
Xem Chi tiết
+ Tinh linh của các bản tố; các tạo vật có liên quan đến 4 lãnh vực, hay các bản tố: Địa (Earth), Phong (Air), Hỏa (Fire), và Thủy (Water). Ngoại trừ một số ít ở đẳng cấp cao và các vị cai quản, chúng là các mãnh lực của thiên nhiên hơn là những người nam và nữ tinh anh. (ĐĐTNLVTD, 217) – Tinh linh...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Lương tri (Common sense): Trí tiếp thu (receptive mind) tức là lương tri. (GDTKNM, 35) Lương tri chỉ có thể hoạt động trong các thể giống nhau (similar bodies) mà thôi. Lương tri sẽ cho các kết quả giống nhau khi tất cả mọi người đều hoạt động trong thể xác, tất cả đều hoạt động trong thể...
Xem Chi tiết
+ Huyền Môn:  Chữ huyền môn (occult) có nghĩa là bị che dấu, ẩn tàng, và tham thiền huyền môn là dạng tham thiền sử dụng những năng lượng vô hình mạnh mẽ này (Về tham thiền-MQ-MF) + Nghiên cứu kiến thức huyền môn, các bạn cần nhớ 2 điều: 1- Các bạn phải kiểm soát (Chế ngự) các sức mạnh tinh linh: ...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
 Giác quan (sense): Các giác quan có thể được định nghĩa là những cơ quan giúp cho con người biết được môi trường chung quanh. Trong con vật cũng có 5 giác quan, nhưng không có năng lực suy tư liên kết. Các giác quan này biểu hiện như một năng lực tập thể, tương tự với một bản năng nòi giống (racial...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm...
Xem Chi tiết
+ Trong trời đất, con người là quý, đầu đội trời, chân đạp đất, thân thể do cha mẹ để lại nên phải quý.(Hải Thượng Lãn Ông) 1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Ngủ từ 21h đến 3h sáng - Mùa đ&ocir...
Xem Chi tiết
Là định thức (formulation) của con người về một khái niệm (concept), do con người tạo ra và lồng vào (embodying) cho con người chân lý khi y gặp thấy và hiểu được chân lý ấy. Biểu tượng bao giờ cũng có các hàm ý quan trọng hơn là biểu trưng.(VMCQG, 119)...
Xem Chi tiết
Ảo tưởng (Delusion, illusion, huyễn tưởng): - Là tiến trình đồng nhất hóa sai lầm, trong đó, Bản ngã tự lừa dối và nói “Ta là hình hài”. (I am the form). (ASCLH, 194) - Ảo tưởng có ảnh hưởng đến cõi trí nhiều hơn. Nó liên quan đến các quan niệm sống của chúng ta và cuộc sống tư tưởng vốn dĩ nhiều ...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
– Là danh xưng dành cho tiếng kêu thỉnh nguyện (invocative appeal) của nhân loại và sự đáp ứng trở lại của Sự sống vĩ đại (greater Life) với tiếng kêu cầu (cry) đó. (CVĐĐ, 520) – Các chân lý tâm linh chính đại của tôn giáo có thể được tóm lược như sau: Có một Bản Thể đích thực, vô hạn, vĩnh ...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
+ Tài năng hay năng khiếu (talents or gifts): Các tài năng hay các năng khiếu đều được xem như có được trong một kiếp sống trước.(TNVT, 95) + Năng Khiếu các Cung Năng Lượng - Cung Hoàng Đạo Và các Nhà và Các Hành Tinh: Xem tại đây: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạo và hành Tinh...
Xem Chi tiết
Thần học (Theology): Dù cho các thuyết của khoa học có thể sai lầm, duy vật và đầy thiên kiến đi nữa, chúng cũng còn gần với chân lý cả ngàn lần hơn là các kỳ quặc (vagaries0 của thần học. Trừ kẻ tin mù quáng và kẻ cuồng tín cứng đầu nhất, còn đối với mọi người, thần học đang trong cơn dẫy chết (...
Xem Chi tiết
Sáng tạo (Creation): Từ ngữ sáng tạo phải được hiểu theo ý nghĩa huyền linh và có nghĩa là sự xuất hiện thành biểu lộ tích cực của một hình thức năng lượng nào đó. (LVLCK, 774) Sáng Tạo chỉ là Ý chí tác động lên Vật chất cõi hiện tượng (phenomenal Matter), làm phát lộ ra ngoài vật chất đó Anh sáng ...
Xem Chi tiết
Sinh lực (vital forces): Sinh lực thuộc nhiều loại, đều chỉ là chất dĩ thái của không gian, chuyển động thường xuyên, đi qua lớp vỏ bên ngoài (outer sheath). (LVHLT, 289) – Sinh lực (life force, prana, vitality) tức là từ lực (magnetism).  (TVTTHL, 245)...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
Kiên trì (Patience, endurance, persist): Hãy kiên trì. Kiên trì là một trong các đặc tính của Chân Ngã. Chân Ngã kiên trì (persist) vì biết mình bất tử. Phàm ngã hay nãn chí vì biết rằng thời gian ngắn ngủi.  (ĐĐTDVNL, 76)...
Xem Chi tiết
Ảo giác : (Hallucination) Một trạng thái đôi khi do các rối loạn sinh lý gây ra, đôi khi do các trạng thái đồng cốt (mediumship) và đôi khi do tình trạng say rượu. Nhưng nguyên nhân tạo ra các linh thị phải được tìm kiếm sâu xa hơn là sinh lý học. Mọi hiện tượng như thế, đặc biệt là khi được tạo ra ...
Xem Chi tiết
Ung thư (Cancer): - Ung thư là một phản ứng huyền bí và tinh tế đối với năng lượng của cung 1, ý chí sinh tồn (will-to-live), vốn là một trong các trạng thái của cung này. Do đó nó thể hiện bằng một sự quá hoạt động (overactivity) và sự tăng trưởng của các tế bào cơ thể mà ý chí sinh tồn của chún...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn b...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn b...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
Màu sắc chỉ là phương tiện biểu lộ ra bên ngoài để nhờ đó mà mãnh lực bên trong tự truyền chuyển (TVTTHL, 211) - Nên nhớ rằng, màu sắc chính là cách nhận thức về mức rung động mà mắt người tiếp nhận được, đây là người đang sử dụng thể xác của căn chủng thứ năm, trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy ...
Xem Chi tiết
May mắn (Luck): Về các hành tố (elements, hợp tố) góp phần vào việc tạo ra cơ thể con người, hành tố này hay hành tố khác vượt trội hơn (predominating) tùy theo bản chất từng người, mà mỗi người có các liên hệ với các tinh linh thiên nhiên (elementals) một cách khác nhau. Một Tinh linh ngũ hành s...
Xem Chi tiết
+ Các dạng lời nói tạo khẩu nghiệpI- Kinh Thập thiện, khẩu nghiệp gồm:1. Nói Dối trá: Tức nói không Chân thật/ Thật Thà - Nói Thêu dệt hay Nói Thêm Bớt - Nói A dua nịnh hót2. Nói Độc Ác - Ác khẩu - Nói Quát tháo - Nói Hung Ác - Nói Nhục mạ, Phỉ báng3. Nói Hai Lưỡi - Đôi Chiều - Đòn Sóc 2 đầu4. Nói L...
Xem Chi tiết
Lịch sử (History) : Chỉ là việc ghi nhận phản ứng tuần hoàn (xảy ra theo chu kỳ) của con người đối với một năng lượng thiêng liêng nào đó đang tuôn vào, một  Đấng Hóa thân hoặc một Vị Lãnh Đạo được truyền cảm hứng nào đó. (SHLCTĐ, 292)...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
+ Dĩ Thái: Dĩ thái là dạng thô trược nhất của Tiên Thiên Khí (Akasha). (GLBN I, 78) + Chất dĩ thái sẽ hoàn toàn thấy được đối với nhiều người vào cuối thế kỷ (XX-ND) này (LVHLT, 374) + Dĩ thái: Trong và qua Dĩ thái của không gian, các năng lượng từ nhiều Cội Nguồn xuất phát đang nắm giữ/ vận dụng ...
Xem Chi tiết
+ Cảm Dục/ Dục Vọng: 1. Sợ hãi – có ảnh hưởng tới hoạt động ngày nay; 2. Căm ghét (hate) – vốn là một yếu tố trong sự điều tiết các mối liên hệ; 3. Tham vọng – đang chi phối các mục tiêu (CTHNM, 231) + Tức dục vọng–hạ trí: Là chất trí cảm (dục vọng hạ trí), tức thể cảm dục được pha trộn với thể hạ ...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
Sat (Thực hữu, Tối hữu, Bản thể): Chúa Cha, Shiva, Thượng Đế Ngôi Một, Vô Hiện (Unmanifest), Bản thể (Existence). (LVLCK, 94) – Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), hiện tại vĩnh cửu, cái bất biến (changeless) và là Cội Nguồn vĩnh hằng, từ đó và qua đó, vạn vật diễn tiến.             ...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
ẢO ẢNH: Đây là hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảm và ảo tưởng được nhận thức trên các phân cảnh dĩ thái và cõi trần. Đó là “tình trạng hỗn độn của sinh lực, thiếu suy nghĩ, và cảm xúc” – mà kết quả là các loại người có hành vi lộn xộn, mà đa số người dường như luôn luôn sống trong đó. ...
Xem Chi tiết
+ Đam Mê - Ham Mê - Say Mê: Ðức Phật dạy: 6 đam mê, dẫn đến tham luyến, làm cho người đời vướng vào khổ đau, gây nhiều tổn hại, đánh mất chính mình: 1. Mắt mê hình sắc, 2. Tai mê âm thanh 3. Mũi mê các mùi 4. Lưỡi mê các vị 5. Thân mê xúc chạm 6. Ý mê ý niệm quá khứ, tương lai.  KINH PHÂN B...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố … Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lý học đều bận tâm đến các sự sống như thế. (LVLCK, 1062)...
Xem Chi tiết
+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16) + Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69) + Tiểu vũ trụ, Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80) - Tiểu vũ trụ ...
Xem Chi tiết
+ Cơ thể con người: Chất liệu của 2 phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói th...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
+ Những năng lượng bên trong con người thực hiện sự tiếp xúc thông qua trung gian thể sinh lực hoặc thể dĩ thái, vốn gồm các dòng năng lượng, hoạt động thông qua 7 điểm tập trung hoặc các trung tâm lực trong thể dĩ thái, được tìm thấy ở gần, hoặc có liên quan đến, bảy tập hợp tuyến chính [Trang 413]...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Điện (Electricity): “Mọi hiện tượng trong thiên nhiên có liên quan đến từ lực hoặc điện lực – vì, nơi nào có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng thì nơi đó có từ lực và Bản Sao của nó (theo thiển ý)– điện sẽ luôn luôn hiện ra, như là nguyên nhân hoặc hậu quả, đúng hơn là cả hai nếu chúng ta thấu ...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM,...
Xem Chi tiết
+ Không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. ... Con người không trị được bệnh,...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Xem: Nguồn ...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết