SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

A.A. Bailey

TIỂU SỬ TÁC GIẢ

  Bailey ALICE ANN BAILEY nhũ danh là ALICE Latrobe Boteman, sinh ngày 16-6-1880 tại Manchester Anh Quốc, con một kỹ nghệ gia, chủ nhân một trong những xí nghiệp to lớn nhất tại Anh, thuộc dòng quí phái có tước vị của triều đình Anh. Bà sinh trưởng trong một gia đình Thiên-chúa giáo với những quan niệm chính thống, cổ hủ, hẹp hòi. Gặp gỡ Chân Sư – Một biến chuyển quan trọng xảy đến trong đời bà vào ngày 30-6-1895 khi bà mới 15 tuổi. Đó là việc tiếp xúc với Chân Sư K.H., một kinh nghiệm độc đáo mà bà không bao giờ quên. Bà đang bị băn khoăn, thắc mắc về những mâu thuẫn của tôn giáo, một đàng là sự cao quý của nghi thức lễ bái trong giáo đường, một đàng là các tín điều chật hẹp gò bó của Gia Tô giáo. Theo quan niệm thời ấy, thế gian chia làm hai thành phần: Những người nào tin rằng Chúa Jesus chịu pháp nạn trên Thành giá đã lấy máu mình để cứu chuộc tội lỗi của thế gian và những người chịu phép phép rửa tội vào đạo sẽ lên Thiên đàng, còn những người ngoại đạo không tin tưởng sẽ phải xuống hỏa ngục đời đời, kiếp kiếp. Một đàng là người Gia Tô giáo cố gắng cứu rỗi linh hồn của kẻ khác và một đàng là những người ngoại đạo tôn thờ hình tượng bằng gỗ đá. Họ không hề nhận thấy rằng Đức Phật cũng được tôn thờ bằng hình tượng, và các tượng Phật cũng chẳng khác gì những hình tượng Chúa Jesus trong các nhà thờ. Bà hoang mang, thắc mắc vô cùng, chẳng khác nào đi trong đám mây mù, không biết đâu là ánh sáng. Trong cơn khủng hoảng tâm linh đó, một trong các chân Sư minh triết đã xuất hiện trước bà. Đây là lời bà thuật lại trong quyển “Tự thuật” (An unfinished Autobiography): “Một buổi sáng chúa nhật, cả nhà đều đi lễ nhà thờ, chỉ có một mình tôi ở nhà. Tôi đang ngồi đọc sách trong phòng khách, thình lình cánh cửa mở và một người lạ mặt bước vào. Đó là một người Đông Phương, tầm vóc cao lớn, mặc bộ Âu phục cắt rất khéo, đúng thời trang và có bịt khăn trên đầu. Người ấy ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên vì không biết người là ai và đâm ra sợ sệt đến nổi tôi không thốt lên được một lời nào, hoặc hỏi người đến có việc gì. Kế đó, người ấy bắt đầu nói chuyện. Người ấy nói với tôi rằng: Có một công việc do Thiên cơ dự định mà tôi có thể làm cho thế gian, nhưng tôi cần thay đổi tâm tình tính chất của tôi rất nhiều trước khi bắt tay vào việc. Tôi phải tập lấy đức tự chủ đến một mức độ nào đó để có thể trở nên hữu dụng cho Ngài và cho thế giới trong tương lai. Nếu được như vậy, tôi sẽ được giao phó một sứ mạng với sự tin cậy của Ngài và sẽ đi du lịch khắp nơi trên thế giới để làm công việc của Ngài … Kể từ đó về sau, những lời này luôn luôn văng vẳng bên tai tôi. Ngài nhấn mạnh rằng vấn đề này tùy nơi tôi được tự do quyết định và nói thêm rằng Ngài sẽ tiếp xúc với tôi từng kỳ hạn cách khoảng độ vài năm một lần … Cuộc gặp gỡ đó rất ngắn. Tôi không biết nói gì mà chỉ ngồi nghe Ngài với một giọng rất cả quyết và dõng dạc, khi đã nói xong những điều cần thiết, Ngài đứng dậy bước ra, đi tới ngưỡng cửa còn quay đầu lại nhìn tôi trong một phút với một cái nhìn linh động mà đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng. Lúc ấy, bà còn hoang mang và không hiểu gì cả, với thời gian qua, bà nhận thấy rằng, cứ cách khoảng 7 năm một lần, bà lại có chứng nghiệm về sự săn sóc và che chở của Ngài. Năm 1915 khi được 35 tuổi, bà mới khám phá ra Ngài là ai và thấy rằng có nhiều người khác cũng được biết Ngài. Kể từ đó về sau, sự liên hệ của bà với Chân Sư trở nên ngày càng mật thiết hơn và sau cùng có thể tiếp xúc với Ngài bất cứ lúc nào tùy ý. Sự tiếp xúc này là một ân huệ đặc biệt mà Chân Sư chỉ ban cho người đệ tử khi người này đừng lạm dụng cơ hội để quấy rầy Ngài vì những việc lặt vặt và có tính cách ích kỷ cá nhân, trừ phi trong những trường hợp khẩn thiết để phụng sự nhân loại. Bà được biết Ngài là Chân Sư K.H. một vị Chân Sư hợp tác rất chặt chẽ và thân cận với Đức Chưởng Giáo, thuộc về cung Minh Triết và Bác Ái, chăm lo về việc giáo hóa, dạy dỗ nhân loại trên địa hạt Tôn giáoGiáo dục. Bà đã bắt đầu phụng sự Ngài từ lúc bà 15 tuổi và về sau bà trở nên một đệ tử cao cấp trong nhóm đệ tử của Ngài. Trên thế gian này có rất nhiều đệ tử huyền môn, ngày nay đã đến lúc mà các vị đệ tử không cần phải che dấu địa vị của mình như trước nữa, mà phải xuất đầu lộ diện để chứng minh sự hiện diện của các Chân Sư cùng công việc của các Ngài để giúp đỡ sự tiến hóa của nhân loại. Đó là một sự chứng minh chánh đáng bằng đời sống gương mẫu của các vị đệ tử huyền môn. GIAI ĐOẠN TRƯỞNG THÀNH – Năm 22 tuổi, nhờ có sự huấn luyện đầy đủ về giáo Gia tô ở nhà trường từ nhỏ, bà ra làm việc xã hội trong Hiệp hội Phụ nữ Công giáo Anh Quốc (YVVCA). Bà làm công việc thuyết giảng giáo , cố gắng cứu rỗi những linh hồn lạc lõng và đem họ vào Tôn Giáo. Tuy nhiên bà vẫn cảm thấy một sự xung đột trong nội tâm vì những tín điều gò bó chật hẹp của Tôn Giáo, điều này không làm cho bà được thỏa mãn trí và tâm linh. Bà vẫn luôn luôn đặt những câu hỏi về địa hạt thần bí, siêu hình mà chưa ai có thể giải đáp thỏa đáng. Giai đoạn kế đó, bà nhận lãnh chức vụ Nữ trợ tá Xã hội và Tuyên Úy trong quân đội. Ở Anh Quốc, Cơ quan Tuyên Úy do tư nhân đảm trách, dưới sự bảo trợ của Chánh Phủ. Đó là một Cơ quan cư xá của binh sĩ do một nhà từ thiện là bà Elise Sandes sáng lập, dùng toàn nữ nhân viên trợ giúp. Bà Sandes đã dành trọn cuộc đời vào công tác xã hội này để cải thiện đời sống binh sĩ. Bà quản trị những cư xá này theo đường lối khác hẳn với những cơ quan Tuyên úy trong quân đội. Cơ quan Tuyên úy của bà có nhiều chi nhánh ở IRLANDE và ở Ấn Độ. Trước hết, bà Alice Latrobe Boteman làm việc tại cư xá Belfast. Công việc của một nữ Tuyên úy là tiếp xúc với các binh sĩ lưu trú tại cư xá. Trong những giờ nghỉ ngơi, tiêu khiển sau bữa cơm chiều, các binh sĩ thường tụ họp ở các phòng công cộng để viết thư về nhà, đọc báo chí sách vở, hoặc đánh cờ và chơi các trò giải trí. Các nữ Tuyên úy có nhiệm vụ hỏi han săn sóc họ nếu họ cảm thấy cô đơn, chán nản hoặc nhớ nhà. Thường thì có hai nữ Tuyên úy giúp việc trong mỗi cư xá và các cô đều có nơi trú ngụ riêng biệt. Trong cư xá có một phòng giảng kinh Phúc âm, có dương cầm, Thánh kinh, các nữ Tuyên úy thay phiên nhau giảng Thánh kinh Phúc âm để cứu rỗi linh hồn các binh sĩ. Ngoài việc giảng kinh các cô còn có một phận sự làm quen với các binh sĩ, nói chuyện, đánh cờ với họ, hoặc viết thư cho các binh sĩ với một thái độ cởi mở, vô tư đối với mọi người, và đồng thời gây cho họ cái cảm giác là mình săn sóc, lưu tâm và muốn giúp đỡ họ để nâng đỡ tinh thần binh sĩ cho khỏi cô đơn, lạc lõng khi sống xa gia đình. Một ngày nọ, bà Elise Sandes, Giám đốc Cơ quan Tuyên úy nhận được một bức thư cho hay vị Trưởng chi nhánh cơ quan Tuyên úy ở Ấn Độ là bà Theodora bị đau yếu cần phải về xứ để dưỡng bệnh. Bà đang lo âu vì không tìm được người thay thế. Rốt cuộc, bà Giám đốc mới nói với Alice: “Lúc này cơ quan đang thiếu hụt phương tiện tài chính, chớ nếu đủ tiền tôi sẽ gởi em sang Ấn Độ”. Hồi đó tiền tàu sang Ấn Độ rất mắc, vã lại bà Giám đốc còn phải trả tiền tàu cho bà Theodora về xứ. Với phản ứng tự nhiên, bà Alice nói: “Nếu Thượng Đế muốn cho em qua đó thì Ngài sẽ gởi tiền”. Vài ngày sau trong giờ ăn điểm tâm, bà Giám đốc mở một bức thư mới nhận được, bà thốt lên một tiếng kêu ngạc nhiên và đưa cho bà Alice xem. Trong thư chỉ có một ngân phiếu 500 Anh kim với dòng chữ: “ĐỂ LÀM VIỆC BÊN ẤN ĐỘ”, ngoài ra không có thư từ gì cả, cũng không có đề tên người gởi ở ngoài bao thư. Cả hai bà đều không biết số tiền đó do đâu gửi đến và phải chấp nhận nó như một ân huệ trực tiếp của Thượng Đế. Bà Alice tự hỏi, phải chăng đó là tiền của Chân Sư gửi cho bà. Vì bà cần phải sang Ấn Độ để thâu thập ít nhiều kinh nghiệm và xây dựng nền tảng cho công việc mà Chân Sư đã nói với bà trước đó nhiều năm rằng bà có thể làm cho Thiên Cơ và cho Ngài. Tuy nghĩ như vậy, nhưng về sau bà cũng không hề hỏi Chân Sư về việc đó nữa, vì bà cho rằng đó không phải là điều quan trọng. Sau 4 năm làm nữ Tuyên úy Công giáo tại Ấn Độ, vì khí hậu nóng nực, vì công việc bề bộn, và trách nhiệm quá nặng nề, sức khỏe bà suy kém, bà đau nặng phải vào nằm bệnh viện. Ngoài ra bà còn bị sự căng thẳng thần kinh và xúc động tâm dày vò. Đây là lời bà thuật lại: “Một đêm nọ tại LUCKINOW khí trời oi bức, tôi không sao ngủ được. Tôi đi tới lui trong phòng, nhưng không thấy mát hơn, lại còn bị đàn muỗi quấy rầy. Tôi trở vào phòng và đứng trước tủ kiếng một phút. Thình lình trong phòng có hào quang sáng rực và tôi nghe giọng nói của vị Chân Sư đã đến với tôi hồi tôi 15 tuổi. Lần này tôi không nhìn thấy Ngài, tôi chỉ đứng ngay giữa phòng và nghe giọng nói của Ngài. Ngài trấn an tinh thần tôi và khuyên tôi đừng quá lo âu thắc mắc. Ngài nói rằng tôi đang được đặt dưới sự săn sóc che chở của Ngài và tôi đang làm những gì Ngài muốn. Ngài nói với tôi rằng mọi việc đang được trù liệu và công việc mà Ngài định giao phó cho tôi trước đây cũng sắp bắt đầu nhưng theo một đường lối mà tôi sẽ không nhận ra. Ngài dặn tôi hãy chuẩn bị để thi hành sứ mạng …” GIAI ĐOẠN THÀNH HÔN: 27 đến 35 tuổilàm việc quá sức, bà bị thần kinh suy nhược phải về xứ dưỡng bệnh. Kế đó là giai đoạn thành hôn khi bà 27 tuổi. Chồng bà là ông Walter Evan, một vị mục sư Tin Lành, nhưng cuộc hôn nhân này bị thất bại một cách bi đát sau khi bà sanh được ba đứa con gái. Chồng bà lúc đầu vẫn bình thường nhưng về sau đâm ra nóng nảy, vũ phu, cộc cằn. Gia đình đã xảy ra nhiều cơn sóng gió với những sự bất đồng xung đột ý kiến. Trong một cơn nóng giận, chồng bà xô bà té xuống thang lầu khi bà đang có thai đứa con gái út, làm động đến cái thai. Bà sinh non tháng, đứa bé rất èo uột khó nuôi, tưởng là non yểu, nhưng nhờ trời, rốt cuộc nó vẫn sống và mạnh khỏe lần lần. Kết quả là cuộc ly di xảy ra vào năm 1918 sau thế chiến thứ I chấm dứt. Nhưng trên thực tế, bà đã sống ly thân từ năm 1915 khi bà được 35 tuổi. GIAI ĐOẠN NGHÈO TÚNG PHẢI ĐI LÀM CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG Sau khi ly thân với chồng, bà phải sống tự túc và tìm việc làm để nuôi con. Bà xin được việc làm tại một xưởng làm cá hộp. Bà chịu trả nửa tháng lương của bà cho một người láng giềng để nhờ họ săn sóc và chăm nom giùm ba đứa con gái còn ấu thơ trong những giờ bà đi tìm việc. Mỗi ngày bà vô hộp trung bình 10.000 con cá mòi, tính ra đến hàng trăm hộp cá mỗi ngày. Một người phụ nữ ở giai cấp quý phái mà ngày nay phải làm một việc lao động chân tay, dầu mỡ lấm lem như vậy, kể như cuộc đời bà đã xuống dốc. Khách đến viếng xưởng cá hộp của bà đã thốt ra lời bình phẩm: – Một người đàn bà như vậy sao lại lọt vào đây. – Bà ta có vẻ quá cao sang để làm công việc này, nhưng không biết cao sang thật không? – Cái ngữ này chắc là có làm chuyện gì không hay ở ngoài đời, sống hết nổi với thiên hạ rồi mới lọt vào đây chớ gì. – Đừng thấy hình dáng bề ngoài mà lầm. Coi chừng mắc phải quả trứng thối. Những lời bình phẩm có tính cách thóa mạ đó làm cho bà run lên vì tức giận. Nhưng một người cai xưởng đứng gần bên nghe rõ đầu đuôi, khi thấy đã đi xa, bước tới gần để an ủi bà: – Bà đừng buồn hởi bà Evans, ở đây chúng tôi đều gọi bà là một viên ngọc quý rớt xuống vũng bùn. Lời nói đầy thiện cảm này đã bù lại rất nhiều sự thóa mạ của những người kia. Nó tỏ cho bà thấy rằng tựu trung bản tánh nhân loại vẫn tốt lành như bà vẫn thường tin tưởng với một niềm tin vững chắc tuyệt đối. TIẾP XÚC VỚI GIÁO HUYỀN MÔN Ở gần nhà có hai phụ nữ người Anh, cùng ở giai cấp quý phái như bà. Hai bà này có tổ chức tại nhà họ một cuộc hội họp phòng khách hằng tuần để nghe giảng về một môn học huyền bí gọi là Giáo Huyền Môn. Do sự giới thiệu của một người bạn, bà có dịp tiếp xúc với giới này và bắt đầu học hỏi Giáo Huyền Môn từ đó. Hai bà bạn mới sẵn lòng chỉ dẫn cho bà những giáo căn bản và cho bà mượn sách, vở, tài liệu đem về nhà. Chuỗi ngày của bà từ đó trở nên rất bận rộn và rất dài: 4 giờ sáng thức dậy, quét nhà, dọn bữa ăn sáng cho ba đứa con vào lúc 6 giờ. Lúc 6g30 giao con cho người láng giềng coi sóc, rồi đi làm tại xưởng cá hộp. Ăn trưa và nghỉ trưa tại xưởng hết 1 giờ. Xong lại làm việc đến 4 giờ chiều mới về nhà. Những buổi chiều mùa đông mưa gió, tuyết lạnh, bà ở nhà chơi với con. Mùa hè nóng nực, bà đưa chúng ra bờ bể. Đến 7 giờ mới về nhà, ăn cơm tối xong cho chúng đi ngủ. Bà giặt giũ quần áo, lên giường chong đèn ngồi đọc sách đến nửa đêm mới ngủ. Do bản chất tự nhiên, bà chỉ cần ngủ rất ít, bác sĩ nói mỗi đêm, bà chỉ ngủ có 4 giờ và bà cảm thấy rất đúng. Nhịp độ sinh hoạt hàng ngày của bà vẫn tiếp diễn y như trên, nhờ đó bà có thể làm việc rất nhiều. Giai đoạn kế đó, bà gia nhập Hội Thông Thiên Học và hoạt động giúp Hội rất đắc lực trong các công việc quản trị và truyền bá giáo . Bà cũng làm những công tác điều khiển các buổi học Giáo Huyền Môn và thuyết pháp trên diễn đàn công cộng v.v… GẶP GỠ ÔNG FOSTER BAILEY VÀ TIẾP XÚC VỚI CHÂN SƯ TÂY TẠNG (DJWAL KUL) Năm 1919, bà gặp ông Foster Bailey tại Krotona, trụ sở hội T.T.H tại California. Ông Bailey hành nghề luật sư có nhiều thân chủ và sự nghiệp rất phát đạt. Trong trận thế chiến 1914-1918, ông tòng chinh ở mặt trận Tây Âu với chức vụ huấn luyện phi công trinh sát. Lúc chiến tranh sắp kết liễu, ông bị tai nạn phi cơ, bị thương nặng và giải ngũ. Sau một thời gian dưỡng bệnhphục hồi sức khỏe, ông định tiếp tục ở lại hành nghề luật sư. Nhưng từ khi gặp bà và nhận thức sứ mạng cao cả của bà đối với Thiên Cơ, ông liền từ bỏ mọi việc để cùng bà hợp tác trong công việc phụng sự. Kế đó, ông bà đính hôn với nhau một thời gian trước khi làm hôn lễ chính thức. Cuộc hôn nhân này rất tương đắc, kéo dài đến 26 năm cho đến khi bà mất. Tháng 11-1919, bà tiếp xúc lần đầu tiên với Đức DJWAL KUL trong một dịp khá ly kỳ. Bà tường thuật cuộc tiếp xúc đó như sau: Sáng hôm đó bà đưa con đi học, xong xuôi có vài phút rảnh rang bà mới đi lên ngọn đồi ở cạnh nhà để suy tư trong giây lát. Thình lình và giựt mình và nghe dường như có một âm thanh kỳ diệu như tiếng nhạc vang lên trong không gian, xuyên qua ngọn đồi và xuyên qua người bà. Kế đó bà nghe từ trên không một giọng nói với bà rằng: Có vài quyển sách mà chúng tôi thấy cần được viết ra cho người thế gian. Bà có thể làm được việc này. Bà có chịu nhận làm công việc đó không? Bà không chút do dự, nói ngay: “Chắc là không. Tôi không phải là đồng cốt và tôi không muốn dính líu gì với việc đó.” Bà cũng giựt mình mà thấy mình bỗng nhiên nói lớn tiếng. Giọng nói kia tiếp theo rằng người khôn ngoan không bao giờ xét đoán vội vàng, rằng do bản chất tự nhiên, bà có khả năng lạ lùng về môn thần giao cách cảm thuộc loại siêu đẳng, công việc mà bà được giao phó không có chút gì thuộc về chuyện đồng cốt, quàng xiên. Bà trả lời rằng bà không cần, vì bà không thích làm việc gì có tính cách Thần Linh. Người khuất mặt khi đó mới nói rằng bà cần có thời giờ suy nghĩ trước khi quyết định, và người không chấp nhận sự trả lời của bà hôm đó. Người sẽ gặp lại bà sau ba tuần lễhy vọng bà sẽ đổi ý. Bà trở về nhà và hoàn toàn quên hẳn việc đó, cũng không nói cho ông Bailey nghe câu chuyện xảy ra. Sau 3 tuần lễ, giọng nói ấy lại trở lại khi bà đang ngồi nơi phòng khách vào lúc chiều tối sau khi mấy đứa con bà đã đi ngủ. Giọng nói ấy nhắc lại việc hôm trước. Lần này bà có ý tò mò tuy rằng không bị thuyết phục. Bà định làm việc ấy trong vài tuần hay một tháng thử xem, rồi mới quyết định. Chính trong vài tuần này mà bà viết những Chương đầu của quyển “ĐIỂM ĐẠO HUYỀN MÔN” (Initiation: Human and Solar) qua sự tiếp xúc với Chân Sư bằng Thần giao cách cảm. Sau khi viết sách gần một tháng cho Chân Sư Tây Tạng, bà đâm hoảng sợ và ngưng mọi công việc. Bà thưa với Chân Sư (bằng Thần giao cách cảm) rằng: bà còn phải nuôi ba đứa con gái, nếu vì làm công việc này bà bị đau yếu hay phát điên (như nhiều người đồng cốt đã bị) thì con bà không ai nuôi dưỡng, nên bà không dám mạo hiểm tiếp tục công việc. Chân Sư D.K. chấp nhận quyết định này nhưng yêu cầu bà hãy tiếp xúc với Sư Phụ bà là Chân Sư K.H. và trình bày mọi việc với Ngà. Sau khi suy nghĩ cẩn thận độ một tuần lễ, bà mới quyết định tiếp xúc với Chân Sư K.H. bằng một phương pháp riêng mà Ngài đã dạy bà trước đây. Trong cuộc tiếp xúc đó, Ngài dạy rằng công việc bà đang làm không có gì nguy hiểm về thể chất hay tinh thần, và đó là một cơ hội phụng sự rất quý báu. Ngài cũng cho biết rằng chính Ngài cũng đề nghị với Chân Sư D.K hãy đến tìm bà để nhờ bà trợ giúp trong công việc này. Khi đó bà mới tuân lệnh Sư Phụ và trở về tiếp tục công việc viết sách cho Chân Sư D.K. Việc viết sách này được thực hiện bằng hai phương pháp. Trong giai đoạn đầu bà ngồi viết vào những giờ nhất định và nghe giọng nói của Chân Sư đọc cho bà viết từng chữ, từng câu rõ ràng như viết ám tả. Phương pháp đó có thể coi như phương pháp dùng thần nhĩ (clair-audience) do âm thanh vang dội trong lỗ tai. Về sau khi đã có sự hòa hợp tâm linh giữa Chân Sư với bà, thì phương pháp trên không cần thiết nữa. Bà chỉ cần tập trung tư tưởng và bắt được dòng tư tưởng của Chân Sư do Ngài gieo vào tâm trí bà bằng đường lối thần giao cách cảm (Telepathy). Nội dung các quyển sách này gồm tất cả phần giáo đều là lời dạy của Đức D.K. Còn bà Alice chỉ là người ghi chép lại và sửa đổi vài chỗ về phần hình thức, về văn phạm và bút pháp cho hợp với các trình bày mới mẽ tân tiến thôi. Còn về phần ý nghĩa, nội dung thì bà hoàn toàn không hề thêm bớt hay sửa đổi một chữ nào dầu rằng có nhiều đoạn bà không đồng ý, hoặc không hiểu rõ. Như thế, tuy bà đứng tên là tác giả quyển sách này, nhưng thật ra thì tác giả chính là Đức DJWAL KUL. Kể từ đó về sau, suốt 27 năm bà tiếp tục làm công việc này và viết thêm nhiều quyển khác nữa như: “ĐƯỜNG ĐẠO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI”, “LUẬN VỀ LỬA TIÊN THIÊN” (Treatise on Cosmic Fire) … Những sách mà Đức D.K. đọc cho bà viết gồm những chân mới mà nhân loại cần biết trong thời đại tân tiến ngày nay. Những giáo mới, cùng với đường lối công phu Tu luyện và chuẩn bị cho thí sinh trở thành đệ tử cũng được trình bày cho nhân loại trong kỷ nguyên mới. GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP TRƯỜNG NỘI MÔN BÍ GIÁO (Arcane School) Trong những ngày đầu tiên không ai ngờ rằng công việc phổ biến và truyền bá đạo mà hai ông bà Bailey theo đuổi với tinh thần hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, sẽ có thể bánh trướng đến mức đại qui mô, với nhiều chi nhánh trên thế giới được thừa nhận và ảnh hưởng sâu xa đến cuộc đời của nhiều trăm ngàn người. Công việc ban đầu chỉ có 2 ông bà Bailey với bạn hữu đứng ra tổ chức. Tài chánh không có và tương lai rất mịt mờ. Hai ông bà chỉ có lúc khởi công. Lúc đó nhằm cuối tháng, tiền nhà chưa trả, tiền đèn nước còn thiếu, hóa đơn thực phẩm chưa trả tiền từ tháng trước. Trong lúc quẩn bách, thiếu thốn mọi phương tiện, một đêm nọ bà cầu nguyện ơn trên trợ giúp. Sáng hôm sau, khi bước ra cửa, bà thấy trên ngưỡng cửa có 1 gói bạc đựng đủ số tiền mà bà đang cần dùng, và vài ngày sau ông Foster Bailey nhận được một bức thư của ông Ernest Suffern mời ông nhận chức Thư ký Chi bộ TTH tại NEW YORK với số lương 300$ một tháng, có nhà ở. Do đó, hai ông bà dọn nhà về ở thành phố này và bắt đầu công việc đưa đến việc thành lập TRƯỜNG NỘI MÔN BÍ GIÁO. Trong khi đó bà vẫn tiếp tục viết những bộ sách HUYỀN MÔN dưới sự chỉ đạo của Đức D.K. và đã xuất bản được ba quyển. Do kết quả việc xuất bản những bộ sách này mà công chúng gửi thư về tới tấp về học hỏi đạo mầu. Nhu cầu mở những lớp học bộ sách Giáo Bí truyền của bà Blavataky cùng những lời kêu gọi giúp đỡ về đời sống tâm linh của công chúng đòi hỏi một sự giải quyết thỏa đáng. Chính vì do đó mà vào tháng tư 1923, bà tổ chức việc thành lập trường NỘI MÔN BÍ GIÁO, dạy đạo cho công chúng bằng cách hàm thụ. Bà chỉ bắt đầu với sự thiện chí, mong ước mãnh liệt được giúp đỡ, phụng sự người khác và một vốn liếng tinh thần là 3 quyển sách Đạo vừa mới xuất bản. Vậy mà kể từ đó về sau đã có trên 30.000 người nhập học. Công việc của trường NỘI MÔN BÍ GIÁO được phát triển trên quy mô quốc tế và được hầu hết các nước trên thế giới công nhận. Trong công việc vĩ đại này, bà được sự trợ giúp và hợp tác vô cùng quý báu của chồng bà, ông Foster Bailey, mà bà nói rằng, nếu không có ông, bà không thành công được. Thật không phải là một việc dễ dàng mà điều khiển một cơ quan Nội Giáo Bí Truyền với bao nhiêu sinh hoạt phức tạp và trách nhiệm nặng nề. Bà nói, nếu không nhờ có sự trợ giúp và óc khôn ngoan sáng suốt của ông Bailey, thì có thể rằng bà đã vấp bao nhiêu lỗi lầm về mặt quản trị, tổ chức nội bộ cơ quan, cùng những sự xét đoán sai lầm về mặt nhan sự, giao tế và đối ngoài và có thể bà đã bị kẹt nặng nhiều về phương diện pháp . Nhờ sự thông suốt về luật pháp, sự hành động sáng suốt vô tư và thái độ bình tĩnh điềm đạm của ông Bailey, không bao giờ rối loạn trước nghịch cảnh hay biến cố bất thường, nên bà luôn luôn được gỡ rối và giải quyết mọi việc được trôi chảy êm đẹp. Về mặt truyền bá đạo , trách nhiệm của bà thật nặng nề, không phải chuyện dễ dàng mà hướng dẫn các học viên về công phu thiền định. Đó là một con đường nguy hiểm, chật hẹp và bén nhọn như lưỡi dao cạo, nếu hành giả tu luyện sái phép và đi lầm đường. Ngoài ra còn phải đảm đương trách nhiệm về sự sinh hoạt tâm linh của học viên, khi họ tình nguyện giao phó đời sống tinh thần của họ trong tay bà để được bà hướng dẫn, huấn luyện và bà phải đáp ứng thỏa đáng mọi nhu cầu tâm linh đó cho đúng với nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo tinh thần. Trong công việc vĩ đại đó, bà được sự trợ giúp quý báu của những nhân viên cộng tác tại trụ sở chánh Cơ quan và của các cộng tác viên ở hải ngoại. Năm 1947, ngoài trụ sở chánh ở New York với một số đông nhân viên thường trực, còn có một số chi nhánh cơ quan ở Anh, Hòa Lan, Ý và Thụy Sĩ với một nhóm gồm 140 thư ký và học viên cao cấp để hướng dẫn các học viên mới. Những vị thư ký này rải rác khắp nơi trên thế giới, và nhờ có tinh thần phụng sự vị tha vô kỷ, làm việc không lương trong nhiều năm liên tiếp mà công việc mới tiếp tục trôi chảy đến ngày nay. Ngày nay, Cơ quan đã bành trướng rộng rãi thêm với một chi nhánh ở Nam Mỹ, Thổ Nhỉ Kỳ và Tây Phi và với những học viên rải rác ở nhiều nơi trên thế giới. Trường Nội Môn Bí Giáo (Arcane School) vẫn tiếp tục phát triển không ngừng và trong tâm linh bà nhận thức được rằng, bà đang làm sứ mạng mà Chân Sư K.H. đã nói với bà năm 1895 khi bà mới 15 tuổi. Chương trình học của trường mỗi lúc càng mở rộng thêm lần lần. Bà vẫn giữ cho công việc được linh động, uyển chuyển để đáp ứng với những nhu cầu của thời đại mới, của trào lưu tiến hóa. Trường Nội Môn Bí Giáo nay đã có Cơ sở rất vững vàng gồm thêm 1 Công ty ấn loát để phổ biến các bộ sách mới về giáo Huyền Môn. Bắt đầu với một nhóm nhỏ vài ba người học viên thân tín, nay cơ quan của bà Alice Bailey sáng lập đã phát triển mạnh và còn dự định một kế hoạch về sinh hoạt tinh thần để phụng sự nhân loại trong tương lai. (Nguyễn Hữu Kiệt biên soạn theo tài liệu “AN UNFINISHED AUTOBIOGRAPHY” của ALICE A. BAILEY)
4122 — Tổng số lần đọc 6 — Hôm nay
– Bất cứ cuộc điểm đạo nào mà không được lý giải trong cách sống hằng ngày thì không giúp ích được bao nhiêu và về căn bản là thiếu xác thực. Chính sự thiếu xác thực của cách trình bày về điểm đạo đã đưa tới việc Hội Thông Thiên Học không còn được xem như là tác nhân của Thánh Đoàn vào lúc này. Trướ...
Xem Chi tiết
+ Viễn cảm - Thần giao cách cảm: - Viễn cảm hay là sự hiểu biết tức khắc, biết được các biến cố, nhận thức được các sự việc và đồng nhất hóa với các phản ứng của Phàm ngã. Tất cả đều liên quan đến hoạt động của bí huyệt nhật tùng của Phàm ngã và điều này - khi bản chất bác ái hay trạng thái thứ hai ...
Xem Chi tiết
+ Người Có trí tuệ - Đức Phật dậy: 14- Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững chắc vượt qua biển...
Xem Chi tiết
Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993 TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ[37] Chương IIITương Ưng Nữ Nhân + Tổng Hợp nhiều lời Phật dậy về người Phụ nữ. 1. Khả Ý Và Không Khả Ý với Đàn ông: Này các Tỷ-kheo, đầy đủ năm đức tánh, người...
Xem Chi tiết
+ Trách nhiệm: Khi nào không có ngã thức (self- consciousness) thì không có trách nhiệm. Do đó, loài vật (animals) không bị lôi cuốn vào trách nhiệm, và mặc dù chúng chịu đau khổ trên cõi trần và trong thể xác, chúng lại thoát khỏi nghiệp quả trên các cõi tinh anh (subtler planes) vì chúng không có ...
Xem Chi tiết
+ Đệ tử là người đang chuyển tâm thức ra khỏi phạm vi phàm ngã vào lĩnh vực cao siêu hơn. Dù ngày càng hòa hợp với linh hồn, y có thể vẫn còn đồng hóa đến mức nào đó với hình thể của mình, tức là phàm ngã. Y nhận thấy sự vô ích của những thái độ mà y đã có và những cách nhìn về cuộc sống và người kh...
Xem Chi tiết
Chân Sư Koot Humi rất nổi tiếng ở phương Tây và có nhiều đệ tử ở khắp nơi. Ngài gốc ở Kashmir, mặc dù thoạt đầu gia đình Ngài từ Ấn Độ đến. Ngài cũng là điểm đạo đồ cao cấp thuộc cung hai, Cung Bác ái– Minh triết. Ngài có dáng vẻ quý phái, cao, mặc dù hơi mảnh khảnh hơn Chân Sư M.. Ngài có nước da đ...
Xem Chi tiết
+ Tượng Phật đầu tiên: Vua Ưu Đà Diên, trị vì nước Câu Diệm Di, truyền lệnh cho một người thợ bí ẩn, dùng gỗ thơm Chiên đàn đỏ, tạo ra hình tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đàu tiên trên thế giới. Nguyên do: Sau gần 49 năm thuyết pháp độ sanh, Đức Phật lên cung trời Đao Lợi nói kinh, giáo hóa chư Thiê...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Ngủ Rất Ít: Năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, ban đêm ngủ ít, thức nhiều: 1. Người đàn bà, này các Tỷ-kheo, thao thức đến đàn ông, ban đêm ngủ ít thức nhiều. 2. Người đàn ông, này các Tỷ-kheo, thao thức đến đàn bà, ban đêm ngủ ít thức nhiều. 3. Người ăn trộm, này các Tỷ-kheo, thao thức đến...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Chướng ngại không thấy Đạo: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là 6 ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, 6 phiền não căn bản là chướng ngại lớn...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
I- DỰ ĐOÁN THEO LÁ SỐ+ Dự đoán về Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành theo Phật giáo: - Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện", và- Căn cứ vào Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, và- Căn cứ Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán ...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593. + Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức + Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Thiện chí (goodwill): X. Ý chí hành thiện. Là cố gắng đầu tiên của con người để biểu hiện tình thương của Thượng Đế. (VĐCNL, 7)...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
+ Cõi Người - Nhân loại được thiết lập trên nền tảng của ham muốn và dục vọng khám phá, hưởng thụ. Đây là nơi mà hạnh phúc và khổ đau xen lẫn nhau một cách hoàn hảo đủ để thôi thúc con người hướng đến hành trình tâm linh. Nhân để sinh vào cõi Người là sự trì giữ năm giới (không sát sinh, không uống ...
Xem Chi tiết
Nghi thức (Rites): Các hỏa tinh linh (fire elementals), thủy tinh linh (water sprites) và các tinh linh hạ đẳng, tất cả đều có thể được khiển dụng (harnessed) bằng các nghi thức. Có ba loại nghi thức: Nghi thức bảo vệ, có liên quan đến việc hộ thân của bạn. Nghi thức triệu dẫn (appeal), ...
Xem Chi tiết
Hào quang (Aura): Hào quang của con người có hình dáng bên ngoài là một lùm mây sáng có hình trứng (egg-shaped luminous cloud), ở giữa đám mây là nhục thân (dense physical body). Do cái hình dáng bên ngoài đó mà hào quang thường được nói đến như là không có gì khác hơn là một đám mây. Những gì th...
Xem Chi tiết
+ Huyền Môn:  Chữ huyền môn (occult) có nghĩa là bị che dấu, ẩn tàng, và tham thiền huyền môn là dạng tham thiền sử dụng những năng lượng vô hình mạnh mẽ này (Về tham thiền-MQ-MF) + Nghiên cứu kiến thức huyền môn, các bạn cần nhớ 2 điều: 1- Các bạn phải kiểm soát (Chế ngự) các sức mạnh tinh linh: ...
Xem Chi tiết
Đức Morya là một trong các Chân Sư Đông phương nổi tiếng nhất, trong các môn đồ của Ngài có một số lớn người Âu Châu và Mỹ Châu. Ngài là một ông Hoàng thuộc tộc Rajput, trong nhiều thập niên đã giữ một địa vị có thẩm quyền trong quốc sự Ấn Độ. Ngài hoạt động bằng sự hợp tác chặt chẽ với Đức Bàn C...
Xem Chi tiết
+ Nội môn - Bí Truyền - Bí Giáo - Huyền Môn: Chỉ tất cả những gì không liên quan đến cuộc sống sắc tướng bình thường hay là tâm thức thông thường của con người trong 3 cõi thấp. (CTNM, 683); - Nội môn bí giáo tức là huyền linh học. (TLHNM, 451) - Liên quan với các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (CTHNM, 80);...
Xem Chi tiết
Đồng cốt (mediumship, đồng bóng): Trạng thái đồng cốt thường diễn ra khi tiến trình hoàn toàn bị giới hạn vào các phân cảnh cảm dục... Trạng thái đồng cốt nguy hại vì thể hạ trí không can dự vào và vì thế, linh hồn không có kiểm soát. Đồng tử là một khí cụ vô ngã thức (unconscious), không phải ...
Xem Chi tiết
Âm thanh (sound, âm)  Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh... Xin bạn luôn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc. (TVTTHL, 205)  Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này...
Xem Chi tiết
Xúc cảm  (Emotion, xúc động):Xúc cảm - Xảy ra do các rung động của chất liệu thuộc cõi cảm dục (astral matter). (CKDCLH, 19) - Xúc cảm chỉ là dục vọng được biểu lộ thuộc loại này hay loại khác.(TLHNM II, 418) - Xúc động hay xúc cảm sơ khai, là phản ánh của tình thương trên cõi trần.(TTCNT, 81)...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
– Là danh xưng dành cho tiếng kêu thỉnh nguyện (invocative appeal) của nhân loại và sự đáp ứng trở lại của Sự sống vĩ đại (greater Life) với tiếng kêu cầu (cry) đó. (CVĐĐ, 520) – Các chân lý tâm linh chính đại của tôn giáo có thể được tóm lược như sau: Có một Bản Thể đích thực, vô hạn, vĩnh ...
Xem Chi tiết
Tsong–kha–pa (Tây Tạng): Còn được viết là Son–kha–pa. Một nhà cải cách nổi tiếng ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 14, Ngài đã đưa vào quê hương của Ngài một hệ thống Phật giáo đã được thanh lọc. Vốn là một Đại Đạo Đồ (great Adept), vì không thể chứng kiến thêm nữa sự mạo phạm triết lý Phật giáo của các ...
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tiến hóa (Tiến hóa thăng thượng - THTT): Như là “khai mở năng lực đáp ứng luôn luôn tăng tiến” hoặc như là “sự phát triển theo chu kỳ” hoặc như là thay đổi có sắp xếp và không ngừng biến đổi. (TTCNT, 20, 22, 23) - THTT để diễn tả sự phát triển từ từ trong thời gian và không gian của kh...
Xem Chi tiết
CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINHĐức Phật dậy: A Nan! Thế nào gọi là thế giới chúng sinh? - Thế có nghĩa là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu. - Giới là không gian, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phươn...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
+ “Sức khỏe không phải chỉ là không có bệnh tật, hay khuyết tật mà là một sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội”(WHO) + Tương ứng với Fohat ở tiểu vũ trụ là các dòng sinh lực qua thể dĩ thái để giữ cho xác thân được sống động và có từ lực. Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít a...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
Phục hồi (Work of Restitution): Tác động phục hồi có nghĩa là việc hoàn trả hình hài sắc tướng về nguồn chứa căn bản của vật chất; còn đối với linh hồn thì năng lượng tinh thần thiêng liêng trở về cội nguồn của nó – hoặc là trên các phân cảnh linh hồn, hoặc là trên các phân cảnh Chân Thần, tùy th...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
Gồm các nhà số 4, 5 và 6, cho thấy chúng ta sẽ làm gì để tạo ra sản phẩm mang lại an ninh cho bản thân và gia đình chúng ta. Nó mô tả các phương tiện mà qua đó chúng ta có được nhiều cơ sở vững chắc hơn và thiết lập mối quan hệ với gia đình và xã hội. Góc phần tư này là nhà và nơi làm việc, những nơ...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
+ Linh hồn - Phật giáo gọi là Thức/ Nghiệp Thức:  Thức - Đi đầu thai, gồm có 9 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và 7 là: Mạt na Thức; 8 là: A Lại Gia Thức là năng lượng, là sức mạnh gọi là nghiệp lực; 9 là Thanh Tịnh Thức/ Như Lai Tạng Thức ... là Thức thanh tịnh, ...
Xem Chi tiết
Hôn nhân (Mariage relation): Nhiều vị điểm đạo đồ đã đạt được mục tiêu khi tham dự vào quan hệ hôn nhân một cách khôn ngoan và thích đáng. Vị điểm đạo đồ vun bồi cách hành xử đặc biệt của trí tuệ, nhận thức rằng mọi hình thức biểu lộ đều thiêng liêng, và cõi trần cũng là một hình thức biểu lộ thi...
Xem Chi tiết
Giáo dục (Education): Giáo dục là việc luyện tập được đưa ra một cách sáng suốt, nhờ đó cho phép thanh niên trên thế giới tiếp xúc với môi trường của họ một cách sáng suốt và lành mạnh, tự thích nghi với các hoàn cảnh hiện có. (GDTKNM, 80–81) Giáo dục phải là tiến trình mà nhờ đó thanh niên ...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy về loài Người bị luân hồi là nguyên do: Trong Tánh của mỗi con người có đến 16 thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.- Tánh Phật: Trong mỗi con người có 5 cái tánh Phật làm nhân cho sự sống:1- Ý là chủ 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói, Biết....
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Nội môn - Bí Truyền - Bí Giáo - Huyền Môn: Chỉ tất cả những gì không liên quan đến cuộc sống sắc tướng bình thường hay là tâm thức thông thường của con người trong 3 cõi thấp. (CTNM, 683); - Nội môn bí giáo tức là huyền linh học. (TLHNM, 451) - Liên quan với các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (CTHNM, 80);...
Xem Chi tiết
+ Các dạng lời nói tạo khẩu nghiệpI- Kinh Thập thiện, khẩu nghiệp gồm:1. Nói Dối trá: Tức nói không Chân thật/ Thật Thà - Nói Thêu dệt hay Nói Thêm Bớt - Nói A dua nịnh hót2. Nói Độc Ác - Ác khẩu - Nói Quát tháo - Nói Hung Ác - Nói Nhục mạ, Phỉ báng3. Nói Hai Lưỡi - Đôi Chiều - Đòn Sóc 2 đầu4. Nói L...
Xem Chi tiết
Hòa hợp (coalesce): Các Chân Ngã ở cùng một cung thì sẵn sàng hòa hợp và hòa nhịp với nhau hơn là các Chân Ngã ở trên các cung khác nhau, và chỉ khi nào trạng thái thứ hai hay trạng thái minh triết được phát triển thì mới có được sự tổng hợp.  (TVTTHL, 38)...
Xem Chi tiết
Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đauHỎI: Tôi muốn biết mục tiêu của đời sống là gì và ngài có tin tưởng vào định mệnh hay không? Nếu có, thế thì vai trò của định mệnh trong đời sống là gì?ĐÁP: Theo quan điểm của Phật giáo (mặc dù quan điểm của riêng tôi thì khác), đôi mắt, ...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
+ Phát Biểu theo Đời sống nhân sinh:- Ý kiến phát biểu: Khi nhận xét, đánh giá về một sự vật, một con người, hay một hành động thì đó được gọi là “ý kiến”. Thí dụ: Nhận xét về mootjngwowif hay vật, các ý kiến khác nhau không dễ chứng minh được là đúng hoặc sai.- Nói Theo Sự kiện: Là khái niệm về một...
Xem Chi tiết
Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan ...
Xem Chi tiết
Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993 TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ[37] Chương IIITương Ưng Nữ Nhân + Tổng Hợp nhiều lời Phật dậy về người Phụ nữ. 1. Khả Ý Và Không Khả Ý với Đàn ông: Này các Tỷ-kheo, đầy đủ năm đức tánh, người...
Xem Chi tiết
+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết B...
Xem Chi tiết
* Lễ Bái - Lễ Lậy - Lễ Lạy: Ðức Phật dạy Lế 6 phương: 1. Phương đông - Cha mẹ, con làm 5 việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng. Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác...
Xem Chi tiết
Hãy dọn mình hứng chịu cô đơn. Đó là định luật. Khi một người tự tách rời khỏi những gì liên quan đến thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí của mình và an trụ vào Chân Ngã thì việc đó tạo ra một chia cách tạm thời. Phải cố gắng chịu đựng và vượt qua tình trạng này, sau này, nó sẽ đưa đến một mối liên h...
Xem Chi tiết
Plato (Platon, Pháp ngữ): – Plato là đệ tử được điểm đạo.         (GLBN III, 268) – Giống như Khổng Tử, Plato thuộc giai tầng tiến hóa cao về trí tuệ, tâm linh và tinh thần. Dầu đang ở trong cuộc tuần hoàn 4, ông có trình độ tiến hóa cực cao của cuộc tuần hoàn 5.                           (GLB...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Điên, điên rồ: (Madness) Điên rồ tức là bộ óc (brain) không có khả năng đáp ứng một cách điều hòa với các rung động, điên rồ thực sự có thể là do thiếu hoặc ngưng sự phát triển, thiếu hoặc ngưng việc tổ chức của bộ óc (brain organisation).   (KCVTT,   173)...
Xem Chi tiết
+ Tiền Tài: Chỉ có kẻ nào không ham muốn gì hết cho riêng mình mới có thể trở thành kẻ thu nhận nguồn tài chính phong phú và là kẻ phân phối tài nguyên của vũ trụ. Trường hợp khác, khi tài sản gia tăng, chúng không đem lại điều gì ngoại trừ phiền não, lo lắng, không vừa lòng và lạm dụng.(ĐĐNLVTD, 78...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12) Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Lệnh (order or command, mệnh lệnh): Lệnh và mệnh lệnh là các giải thích thiếu sinh động (feeble) mà con người đưa ra đối với những gì mà họ hiểu được theo định luật. Trong thời gian và không gian, vào bất cứ thời điểm đã định nào vào ở bất cứ vị trí nào, các mệnh lệnh này được đưa ra bởi những kẻ...
Xem Chi tiết
+ Lưỡi Nếm - Thiệt Căn:- Do hai thứ lạt và vị xâm lấn lẫn nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là nếm. Cái nếm phản ánh ra gọi là vị. Cơ quan nhận thức vị được gọi là thiệt căn. => Thiệt căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành hình dáng trông như nửa vành trăng. (N...
Xem Chi tiết
May mắn (Luck): Về các hành tố (elements, hợp tố) góp phần vào việc tạo ra cơ thể con người, hành tố này hay hành tố khác vượt trội hơn (predominating) tùy theo bản chất từng người, mà mỗi người có các liên hệ với các tinh linh thiên nhiên (elementals) một cách khác nhau. Một Tinh linh ngũ hành s...
Xem Chi tiết
+ Lửa (Fire): Lửa là một biến phân của vũ trụ năng trên cõi trí. (LVLCK, 43) A- Lửa Đại Thiên Địa: Có 3 phần, khi biểu lộ ra 5 phần - Năm lửa gồm: 4 nhị nguyên (Cho tứ hạ thể): Tiềm nhiệt, Hoạt nhiệt, Lửa Trí tuệ, Hành khí + Nguyên khí thứ 5 Thượng Đế - Thể trí vũ trụ (LVLCK, 38 - 45) 1. Cung 3 -...
Xem Chi tiết
+ Không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. ... Con người không trị được bệnh,...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Parjanya : tức là mưa (rain).                                                           (LVLCK, 1083) Pavaka : X. Vaidyuta....
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết