TỔNG HỢP SƠ LƯỢC
CẤU TẠO CỦA TÂM THỨC - TÂM Ý THỨC
I- Tâm Thức theo Phật giáo
+ Chữ "TÂM" - Pháp Trần: ... đức Phật bảo, A Nan các pháp trần nầy tức do tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?
HT Tuyên Hóa giảng:
"Có phải ông cho rằng các pháp do tâm sở duyên là phát sinh ra ngay từ trong tâm (ý căn)? Các pháp trần nầy tức do tâm sinh ra, hay là rời tâm có chỗ riêng biệt?" "Tâm" ở đây có nghĩa là thức thứ 6.
A-nan, nếu tức nơi tâm, thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa, thế nên nó không phải là sở duyên của tâm, làm sao thành một xứ được?
Giảng:
"A-nan, nếu tức nơi tâm–nếu ông đơn giản cho rằng các pháp phát sinh từ tâm, rằng nó phát sinh từ thức thứ 6 – Thì pháp trần không phải là trần cảnh nữa. Các pháp trần mà do tâm sở duyên sinh khởi không còn là trần cảnh (đối tượng của ý thức) nữa."
Nếu rời tâm mà riêng có một chỗ riêng biệt, thì tự tính của pháp trần là biết hay không biết?
Nếu có biết thì gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần cảnh thì cũng như tâm của người khác. Còn nếu nó tức là ông và cũng là tâm, thì làm sao cái tâm nơi ông lại thành hai được?
Lại nếu như không có biết, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó sẽ ở chỗ nào?
Nay nơi sắc không, chẳng thể nào chỉ nó ra được. Không lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không? Chẳng có cảnh sở duyên, thì ý căn do đâu mà lập thành một xứ được?
Vì vậy nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở; tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật; vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên.
Giảng:
" Vì vậy A-nan, vì đạo lý nầy – "nên biết pháp trần cùng ý căn đều không có xứ sở". Cả hai cái nầy đều không tìm thấy được nơi chốn. "Tức ý căn cùng với pháp trần, hai xứ đều là hư vọng, không thật." Theo đạo lý về các pháp do tâm sở duyên, cả hai đều là hư giả, luống dối. "Vốn không phải tính nhân duyên, cũng chẳng phải tính tự nhiên." Cả hai đều chỉ là danh tướng hư vọng, như hoa đốm giữa hư không, hoàn toàn không có thực thể, chỉ là sự biểu hiện từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng. (Nguồn: Kinh Thủ LN- Q.3)
+ Chữ Thức: ... Vì bạn có phân biệt, chấp trước nên nhất chân mới chuyển biến thành những hoàn cảnh rất phức tạp, biến thành thập pháp giới, biến thành lục đạo, biến thành tam đồ. Biến như thế nào? là do thức sở biến. Cái gì gọi là thức? trong Kinh Hoa Nghiêm giảng về thức rất cụ thể: vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chính là thức. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều có đủ 3 thứ này. Hiện nay, chúng ta đều có đủ, có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. vì vậy đã biến nhất chân pháp giới thành lục đạo luân hồi, đã biến thành lục đạo. (Nguồn: Sám hối nghiệp chướng - PS Tịnh Không)
+ Tâm thức chân thật hay Tâm bản nguyên - Chân Tâm: Phật nói với chúng ta: “Tận hư không khắp pháp giới, tất cả chúng sanh là một pháp thân”. Cho nên, kinh điển thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới”, đạo lý là ở chỗ này. Tâm lượng chúng ta nhất định phải lớn, bao trùm hưu không pháp giới (Nguồn: Tập 17 - Thập Thiện Nghiệp_PS Tịnh Không)
+ "Thức" tâm: được định nghĩa như là tạo nên sự phân biệt, Căn (các giác quan) được xem là nơi các chức năng tri giác ấy phát xuất, nó có gốc là thân thể của chúng ta. Trần (cảnh, đối tượng) được định nghĩa như vậy là do phẩm tính của nó là nhiễm ô. Nó không thanh tịnh, nên nó làm nhiễm ô bản tính của sáu căn. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì các thức sinh khởi...
- Mười Tám Giới: ... Lại nữa, A-nan, như ông thường biết được rằng, như ông đã rõ, ông đã được nghe giáo lý quyền thừa trước đây. Giáo lý quyền thừa đề cập đến năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Ông đã hiểu được toàn bộ giáo lý nầy. Nhưng, giáo lý về mười tám giới chỉ được diễn bày như là một pháp môn phương tiện cho hàng Nhị thừa và ngoại đạo để dẫn dắt họ. Nay Như Lai sẽ giảng giải giáo lý ấy thật chi tiết. Đừng trở nên chấp trước với những pháp trần nầy. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 5)
+ Các trạng thái Tâm thức:
Phàm ngã: gồm Tâm thức vị ngã cần chuyển hóa thành tâm thức vị tha
Linh Hồn: Tâm thức Vô ngã
Chân Thần: Tâm thức bất nhị (Nguồn: Thầy Hằng Trường giảng)
II- Ý Thức - Tâm ý thức
1- Ý THỨC: A-nan, như ông đã rõ, ý căn và pháp trần làm duyên, sinh ra ý thức.
Thức nầy lại nhân ý căn sinh ra, lấy ý căn làm giới; hay nhân pháp trần sinh ra, lấy pháp trần làm giới?
A-nan, nếu nhân ý căn sinh ra, thì trong ý ông, chắc phải có chỗ suy nghĩ mới phát ra được ý ông. Nếu không có các pháp trần, thì ý căn không sinh ra cái gì cả. Rời các pháp trần, ý căn sẽ không có hình tướng, lấy ý thức dùng vào việc gì?
Giảng:
".... Nếu không có các pháp trần– 'pháp trần' ở đây có nghĩa là các niệm tưởng hiện tiền của ông. Nếu ông không suy nghĩ, nếu ông không khởi một niệm tưởng nào, thì ý căn không sinh ra cái gì cả. Trong ý căn của ông, sẽ không có pháp trần–không có những niệm tưởng. Không có pháp sinh khởi. "Rời các pháp trần, ý căn sẽ không có hình tướng." vì pháp trần do duyên với ý căn mà có.
Lại nữa, thức tâm của ông với các thứ suy nghĩ, cùng tánh rõ biết phân biệt, là đồng hay khác? Nếu đồng với ý căn thì nó tức là ý căn. Sao lại do ý căn sinh ra? Nếu khác, không đồng như ý căn, thì lẽ ra sẽ không biết gì. Nếu không biết gì, thì làm sao mà do ý căn sinh ra? Còn nếu có biết, thì làm sao lại phân ra ý thức và ý căn? Chỉ hai tính đồng và khác mà không thành, thì làm sao lập giới?
Nếu nhân pháp trần sinh ra, thì các pháp trong thế gian, không ngoài năm trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc, có tướng trạng rõ ràng đối với năm căn, đều không thuộc về phần thu nhiếp của ý căn.
Nếu ý thức của ông thực là nương nơi pháp trần mà sinh ra, thì nay ông xét kỹ từng pháp xem nó có hình trạng như thế nào.
Nếu rời hẳn các tướng sắc không, động tĩnh, thông tắc, hợp ly, sinh diệt thì rốt ráo không có một pháp nào cả.
Nếu sinh thì các pháp sắc không cũng đều sinh ra, nếu diệt thì các pháp sắc không cũng đều diệt. Các nguyên nhân đã không thành thì cái thức do nó sinh ra sẽ có hình tướng gì? Tướng trạng đã không có thì giới do đâu mà sinh?
Vậy nên biết rằng ý căn, pháp trần làm duyên, sinh ra giới ý thức. Cả ba chỗ đều không. Cả ba giới của ý căn, pháp trần, và ý thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng không phải tính tự nhiên.
Giảng: Thế thì chúng là gì? Ý căn, pháp trần, và ý thức được sinh ra khi ý căn và pháp trần tiếp xúc nhau đều là lưu xuất từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu hay năng lượng biểu lộ ra bên ngoài; nó nằm dưới mọi hình hài, dù cho đó là hình hài của đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là một nguyên tử, hay là hình hài của con người, một hành tinh hay một Thượng Đế. Đây là Tự Định Thuyết (LVHLT, 8–10).
+ Tâm thức và ngã thức: Chính ở trên cõi trần mà tâm thức, trước tiên phải tiến hóa thành Ngã thức. (KCVTT, 93)
+ Ý thức/ tâm thức: nghĩa đen là “những gì giúp cho chúng ta biết”. (TTCNT, 99)
+ Ba cung hoàng đạo (với tâm thức) có liên quan chặt chẽ nhưng lại tách biệt và khác nhau nhiều về hiệu quả (CTHNM, 352).
1. Cancer - Ý thức quần chúng- hiểu biết bản năng
2. Leo - Ý thức tự tri - hiểu biết do sáng suốt
3. Aquarius - Ý thức tập thể - hiểu biết do trực giác
+ Phật giáo dạy ta 3 mức độ của sự hiểu biết:
- Hểu biết qua sách vở, danh từ
- Hiểu biết qua sự suy nghĩ, luận giải
- Hiểu biết nhờ sự thâm nhập thấu đạt thực trạng của sự vật. Trí tuệ trực giác nầy chỉ có được khi tâm đã được gột rửa mọi bợn nhơ, lậu hoặc (Nguồn)
+ Ý thức (Thức thứ sáu) và độc đầu ý thức "Tu thiền định - Trong định đạt được Cảnh giới “thanh thản lặng lẽ” bên trong ấy chỉ là hoạt dụng của thức thứ sáu (ý thức) và tâm thức. Chữ pháp ở trong chánh văn có nghĩa là đối tượng của tâm ý thức. Đến đây thì năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) biến mất. Cái nghe và cái thấy không còn hướng ra bên ngoài nữa, tánh ngửi và tánh nếm không còn tác động đến quý vị nữa và thân xác không còn bị ảnh hưởng bởi sự xúc chạm nữa. Thức thứ sáu (ý thức) lúc này được gọi là “độc đầu ý thức.” Nó chỉ hoạt động khi năm thức trước ngưng hoạt động.) là cái dễ dàng dẫn quý vị đến con đường tẻ và sự sai lầm".
Độc đầu ý thức có bốn loại/ Trạng thái:
Tán vị độc đầu: Tâm tán loạn hàng ngày thường sinh khởi niệm phân biệt.
Cuồng loạn độc đầu: Khi có người phát điên và nói năng cuồng loạn. Thức thứ sáu (ý thức) của họ lúc ấy ở trong sự cuồng loạn, họ không điều khiển ý thức được nữa.
Mộng trung độc đầu: Khi trong mơ, quý vị thấy mọi thứ với đầy đủ sắc màu và những vật kỳ dị là độc đầu ý thức đang tác yêu tác quái.
Định trung độc đầu: Đó là trạng thái “thanh thản lặng lẽ” mà Kinh văn đang nói đến (Trong định đạt được). Trong đó cái thấy, nghe, hiểu, biết hoàn toàn vắng bặt, nhưng định trung độc đầu ý thức vẫn đang còn hoạt dụng. (Nguồn: mục 95 HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)
Xem: TH về Tâm Thức và trình độ khác nhau
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
III- Thức Tánh của Tâm thức
+ Thức Tâm - Thức tánh
Theo nghiệp mà biến hiện ra các cảnh giới hiện hữu. Thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên. Tất cả đều là do thức tâm phân biệt suy lường. Chỉ là lời nói, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Giảng:
"Theo nghiệp mà biến hiện ra các cảnh giới hiện hữu. " Theo nghiệp cảm của mỗi chúng sinh, mà các hoạt dụng của tánh thấy sẽ ứng hiện ra. "Thế gian không biết–là hàng phàm phu, những người theo giáo lý quyền thừa, những người theo ngoại đạo–lầm cho là nhân duyên, hoặc họ mê lầm gán cho đó là tánh tự nhiên. Lối suy nghĩ nầy đều sinh khởi từ "Thức tâm phân biệt suy lường. Chỉ là lời nói, hoàn toàn không có nghĩa chân thật. Đạo lý mà họ suy luận ra là không chân thực, nó không căn cứ từ Đệ nhất nghĩa đế, cũng chẳng phải là Thật tướng mà Như Lai đã giảng trước đây.''(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)
+ Ông vốn không biết, trong Như Lai tạng tánh của thức là rõ biết sáng suốt, tính giác ngộ sáng suốt chính là chơn thức. Bản giác trong sáng nhiệm mầu, vắng lặng cùng khắp pháp giới.
Bao gồm và hiển bày trong khắp mười phương hư không, đâu có phương hướng xứ sở?(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Quyển 3)
IV- Tâm thức nhị nguyên - Tâm phan duyên
+ Tâm Thức nhị nguyên: Con người thường dùng với Tâm thức nhị nguyên - Tâm phan duyên chứ không phải Chân Tâm, cần phân biệt Chân Tâm và Tâm nhị nguyên mà đa số nhân loại đang sống băng tâm nhị nguyên này. Loài Người Có Căn Tánh - Bản Tánh - Tánh Người - Tâm Tánh và cả Tánh Phật trong Con Người. Xin trích đoạn ngài A Nan hỏi Đức Phật Tâm trụ ở đâu: ... Đức Phật: Con người đều do không biết hai món căn bản, nên tu tập sai lầm.
HT Tuyên Hóa giảng: ... Và do vì họ không hiểu được nên họ bị sai lầm trong khi tu tập. Kết quả thành ra mê mờ. Họ không biết làm sao hành trì cho đúng pháp chân chính. Ví dụ như ở Ấn Độ có một phái ngoại đạo chuyên thực hành pháp tu khổ hạnh bằng cách ngủ trên giường đinh. Họ cho rằng người ta sẽ được công đức nhờ dám tu tập hạnh khổ nhọc như vậy. Có công đức gì trong việc làm ấy? Dù quý vị có ngủ trên dao đi nữa, cũng vô ích mà thôi. Có một số người khác cố làm cho được những thói quen của loài bò và loài chó. Họ bắt chước y hệt cử chỉ của các loài vật này. Tại sao vậy? Đó cũng như là tình trạng nhầm lẫn mê mờ phương pháp tu hành chân chính. Họ thực hành lối tu khổ hạnh vô ích chẳng đạt được kết quả gì cả, dù họ có tu hành khổ nhọc đến đâu đi nữa.
Bây giờ Đức Phật mới đưa ra một ví dụ. Họ cũng như người nấu cát mà mong muốn thành cơm. Dù có trải qua nhiều kiếp như vi trần nhưng rốt ráo vẫn không thể đạt được những gì mong muốn.
Cát hoàn toàn chỉ biến thành cát, cát không thể biến thành thức ăn được. Những người này không hiểu được hai món căn bản nên mê mờ, nhầm lẫn trong công phu tu tập. Chung quy sẽ dẫn đến những việc tương tự như vậy. Những gì là hai món căn bản?
Một là căn bản sinh tử, từ vô thỉ, chính là tâm phan duyên mà hiện nay ông và toàn thể chúng sinh nhận làm tự tánh.
HT Tuyên Hóa giảng: "Nhận lấy tâm phan duyên này, quý vị lầm cho rằng đó chính là tự tánh. Quý vị nhận lầm tâm phàm phu làm bản tâm của mình, vậy nên làm sao mà chẳng bị luân hồi trong sinh tử?
Quý vị không nhận ra được bản tâm là gì, thay vì vậy, quý vị nhận giặc làm con, trong tương lai nó sẽ lấy sạch châu báu trong nhà cửa của quý vị. Đó chẳng gì khác hơn là vọng tưởng, nó khiến cho quý vị nghĩ rằng mình có chút thành tựu bởi đã dùng tâm phan duyên. Đây chính là sai lầm mà A-nan đã mắc phải."
Thứ hai là nguyên thể thanh tịnh của bồ-đề niết-bàn từ vô thỉ. Đó chính là cái thức tinh nguyên minh của ông. Hiện nay hay sinh khởi các duyên bị ông quên mất.
HT Tuyên Hóa giảng: Thứ hai là nguyên thể thanh tịnh của bồ-đề niết-bàn từ vô thỉ.
Chẳng có khởi đầu nên Đức Phật gọi là “vô thỉ”; ngay cả những gì xảy ra trước lúc khởi đầu.
Bồ-đề là tiếng Phạn (bodhi), dịch nghĩa là giác ngộ được đạo lý. Có ba nghĩa:
1. Chơn tánh bồ-đề: tức là Phật tánh mà mọi chúng sanh đều vốn có sẵn. Thông thường mọi chúng sanh đều có chơn tánh bồ-đề này.
2. Thật trí bồ-đề: tức là trí tuệ chân chính chẳng phải là tà tuệ.
3. Phương tiện bồ-đề: Tức là phương tiện của những người sau khi đã chứng đạo, họ quán sát căn cơ, nghiệp lực của chúng sinh mà có phương cách thích hợp để giáo hóa.
Ba dạng bồ-đề này có thể xem là một, phân ra gọi là ba, thực ra chỉ là một. Cả ba chính là chân tánh bồ-đề và do nơi chân tánh bồ-đề mà có được Thật trí bồ-đề và phương tiện bồ-đề.
Rốt ráo, bồ-đề do đâu mà có? Bồ-đề chẳng từ đâu mà có mà cũng chẳng đi về đâu. Mỗi người chúng ta xưa nay vốn đã từng có sẵn tánh bồ-đề trong mình rồi. Chẳng người nào có tánh bồ-đề ít hơn hay nhiều hơn người kia. Tánh bồ-đề ấy không tăng thêm không giảm bớt; không sinh ra, không mất đi chẳng thanh tịnh, chẳng dơ uế.
Có một số người học Phật có cái nhìn chưa rõ ràng, cho rằng niết-bàn chính là chết nhưng niết-bàn là còn nhấn mạnh đến cái không phải chết. Những ai vướng mắc vào quan điểm này chưa phải là người thông hiểu Phật pháp.
Giảng về: Đó chính là thức tinh nguyên minh của ông.
Chữ “nguyên” có nghĩa là cội gốc của bản thể thanh tịnh. Nghĩa là cái mà chẳng phải nhiễm ơ, chẳng phải thanh tịnh, không thêm, không bớt. Ánh sáng của nó vốn thường soi chiếu khắp nơi. Chữ “thức” ở đây không phải là tám thức, chẳng phải mạt-na hay a-lại-da thức. Nó chẳng liên quan gì đến tám thức ấy cả. Nó chính là cái tối tinh, tối diệu của thức, thể tánh của nó bản nguyên thanh tịnh, nó chỉ là tên gọi khác của bồ-đề niết-bàn. Cụm từ được dùng ở đây là nhờ vào lối văn chương bóng bẩy tránh sự lặp lại. Nó chính là khía cạnh rất tinh vi và mầu nhiệm của thức, của Phật tánh bản hữu của chân tâm thường trụ, tánh tịnh minh thể.
Giảng về: Hiện nay hay sinh khởi các duyên mà bị ông quên mất.
Vì những nhân duyên này sinh khởi, nên quý vị phải bị đẩy đi xa, xa mãi nơi quý vị muốn trở thành, cũng giống như người càng chạy càng xa mãi nơi mình đứng. Tôi đã từng nói trước rằng A-nan càng trả lời những vấn nạn của Đức Phật thì càng đi xa dần mục tiêu cần nhắm đến đó sao?
Tất cả các duyên này đều lưu xuất từ thức tinh nguyên minh mà có, nhưng sau một thời gian dài chấp giữ các duyên này, nên dường như bỏ quên mất thức tinh nguyên minh.
Cái gì bị bỏ quên?
Chẳng cái gì cả. Thực vậy. Thức tinh nguyên minh dường như bị bỏ quên nhưng không phải như vậy. Bản thể bổn nguyên vốn thanh tịnh. Bồ-đề niết-bàn là của báu chân thực trong nhà quý vị. Cơ bản là nó ở ngay bên cạnh quý vị nhưng quý vị không biết cách sử dụng nó để làm lợi ích cho mình. Bởi vì quý vị không biết cách sử dụng của báu ấy nên nó dường như bị bỏ quên. Như thể quý vị có một viên ngọc quý vô giá mà quý vị đem cất giấu vào nơi rất kín đến nỗi sau một thời gian dài quý vị không còn nhớ mình cất giấu viên ngọc ở đâu nữa. Khi quý vị đã quên không biết nó ở đâu thì không thể biết cách sử dụng nó cho có lợi ích. Mặc dù quý vị bị khốn quẫn nhưng không thể nào sử dụng được viên ngọc và hưởng được lợi ích từ viên ngọc quý ấy. Cũng giống như thể viên ngọc không có ở trong nhà quý vị vậy. Nên quý vị phải dùng thứ gì để thay thế? Quý vị dùng vọng tưởng của quý vị, dùng tâm phan duyên của mình để thay thế. Trong khi quý vị quên mất chơn tâm của mình và một khi chơn tâm đã bị bỏ quên thì nó cũng hoàn toàn giống như bị mất. Đây chính là lý do tại sao quý vị không thể thành Phật, thay vì vậy lại bị trói buộc trong vòng sinh tử, do vì quý vị không nhận ra chơn tâm.
"Do các chúng sinh bỏ quên tánh bản minh này, tuy trọn ngày mình sử dụng nó mà chẳng tự biết, nên bị trôi lăn oan uổng trong các cõi".
HT Tuyên Hóa giảng: Chúng sinh sống trong thể tánh thanh tịnh, trong chân tâm thường trú hằng ngày. Bởi vì vọng tưởng vốn xuất phát từ chơn tâm, đó chính là tâm phan duyên lưu xuất từ một niệm sinh khởi từ vô thỉ. Tất cả mọi hiện tượng đều chỉ là sự biểu hiện từ chân tâm và niệm khởi này theo sát quý vị từ sáng đến tối, nhưng quý vị không thể nào nhận biết được niệm ấy. Quý vị chỉ biết làm thế nào để vận dụng tâm vọng tưởng của mình mà thôi.
Chơn tâm - Phật Tánh được biểu hiện qua tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh biết (Xúc chạm), Nhạy bén linh lợi.
Đó là cách thế tự nhiên như khi tay mình cầm đồ vật. Tất cả những điều này đều là biểu hiện sự vi tế, bất khả tư nghì của chân tâm. Nhưng không ai biết được điều này. Bây giờ A-nan vẫn còn mê mờ, thế nên Đức Phật dùng rất nhiều cách ví dụ để giảng giải cho A-nan.
"Nên bị trôi lăn oan uổng trong các cõi".
HT Tuyên Hóa giảng: Vì chúng sinh mãi chấp cứng vào tâm phan duyên nên phải trôi lăn vào trong các cõi mà chẳng biết những nghiệp mình tạo ra hằng ngày. Nơi thọ sanh là nơi mà quý vị mong mỏi nhắm đến. Quý vị đi thẳng một mạch đến đó. Rồi quý vị sẽ kết thúc đời mình ở nơi đâu? ở trong các cõi. Đó là trong sáu nẻo luân hồi. Có ba cảnh giới lành là: cõi trời, a-tu-la và cõi người. Có ba cảnh giới không lành là súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Bất kỳ quý vị tạo ra nghiệp gì, thì quý vị phải nhận chịu quả báo của việc ấy. Do không nhận ra được chân tâm bổn tánh, nên chấm dứt đời mình trong sáu nẻo luân hồi, dù không muốn vào đó mà cũng vẫn phải vào.(Nguồn: mục 77- HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
V- Tương ứng về Tâm thức và Các cõi
+ Các Cõi và Tâm Thức
1. Cõi hồng trần … Bhu … Thế giới trần tục – Hồng trần thức
2. Cõi cảm dục … Antariksa … Thế giới xúc cảm – Cảm dục thức
3. Cõi trí … Mahendra …Thế giới của trí tuệ và linh hồn – Trí tuệ thức
4. Cõi Bồ Đề …Mahar Prajapatya …Thế giới Christ - Trực giác thức hay Tâm thức Christ–Tập thể thức
5. Cõi Niết bàn … Jana … Thế giới tinh thần – Hành Tinh thức –Thế giới của Ngôi Ba
6. Cõi Chân Thần … Tapas … Thế giới thiêng liêng –Thiên thức –Thế giới của Ngôi Hai
7. Cõi Thượng Đế … Tatya … Thế giới của nguyên nhân phát sinh –Tuyệt đối thức–Thế giới của Ngôi Một (ASCLH, 298)
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
+ Các Cõi và Ý thức
1. Thượng đế ....Ý thức T.Đế/ Trời ... Thượng Đế
2. Chân Thần ... Ý thức Chân Thần .... Chirist
3. Atma .... Ý thức Tinh thần .... Chân Sư
4. Bồ Đề ......... Ý thức trực giác .... La Hán
5.1 Thượng trí ...Ý thức Linh hồn...N. Thông minh
5.2. Hạ trí ...... Arya/ trí sinh động ... Người tiến bộ
6. Cảm dục .... Atlantis/ Tình cảm ... Tình cảm
7. Hồng trần...Lemuria/ Bản năng vật chất ... Chưa T.Hóa
Theo GQ1 - Cấu tạo con người
Xem: Các trình độ Tâm Thức khác nhau
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
+ Thuật ngữ Tinh Thần:
+ Từ ngữ “tinh thần” không ám chỉ các vấn đề tôn giáo như thường gọi. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới hình thức phát triển nào đó – về thể chất, tình cảm, trí tuệ, trực giác, xã hội – nếu có đều có bản chất tinh thần và cho thấy sức sống của thực thể thiêng liêng bên trong. (GDTKNM, 1)
+ a. Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm thức và mọi hình hài, là tập hợp của sự sống và những gì được biểu lộ tích cực của sự sống đó, là ngã và phi ngã, là lực và tất cả những gì mà lực đó là động cơ thúc đẩy (motivates), thực ra, người ta đang lảng tránh vấn đề, cố làm những điều không thể làm được, và che giấu sự thật đằng sau một hình thức các ngôn từ. (LVHLT, 32)
+ b. Sử dụng thuật ngữ Tinh Thần đúng: Bảy Cõi Giới Hệ Thống và việc sử dụng thuật ngữ “Tinh Thần”— The Seven Systemic Planes and use of term “Spiritual” (DINA II 420-1)
Đừng quên rằng trong thái dương hệ này, tất cả những gì chúng ta biết - thậm chí cả những phương diện rất cao nhất - Là vẫn còn mang tính vật chất, bởi vì bảy cõi giới của chúng ta (nếu tôi có thể nhắc lại điều cơ bản này) là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ - Một sự thật thường hay bị quên lãng khi sử dụng không chặt chẽ từ “tinh thần.”
+ Tinh thần là vật chất ở mức biểu hiện cao nhất. (CTNM, 589)
+ Tinh thần: Tức Chân Thần (Monad) hay Cha trên Trời. (ASCLH, 39)
+ Tinh thần là Chân Thần, là Linh Ngã. (LVLCK, 48)
+ Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.
+ Tinh thần (Spirit) và tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
* Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức
+ Siêu thức (super–consciousness), trạng thái Atma (atmic aspect) tức là Tinh thần. (LVLCK, 644)
+ Tinh thần ở trong vật chất chính là Sự Sống. (Thư của Ch. S. 315)
+ “Sự sống” (“life” tức là Tinh thần. (LVLCK, 876)
+ Tinh thần tức là điểm Linh Quang (Divine spark). (ASCLH, 10)
+ Tinh thần được bọc trong linh hồn thể (causal body) là linh hồn.(MTNX, 213)
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
+ Christ: Nguyên Khí, cần phân biệt rõ, vốn là một trạng thái tinh thần cao siêu. Danh hiệu Christ chỉ về một nhân vật cao cấp đại diện cho nguyên khí đó, dù lịch sử có ghi vị giáng sinh ở Nazareth hay trong trường hợp khác (ASCLH, 11)
1. Christ vũ trụ: Tự biểu hiện qua một Thái Dương Hệ. (ASCLH, 28); Ishvara, Ngôi Hai. Con của Thượng Đế Vishnu. Toàn Ngã. Linh hồn của mọi vật. Ta là Cái Đó. AUM. Ngôi Lời. Gurudeva. Anh sáng của trần gian. (ASCLH, 28, 51)
2. Christ Cá Nhân (individual christ): Đấng cứu rỗi tiềm tàng trong mỗi người. (ASCLH, 28)
3. Tâm thức Christ: X. Trực giác thức, Tập thể thức, Ý thức Christ.
4. Ý thức Christ (Christ–consciousness, tâm thức Christ):
- Là ý thức về trách nhiệm và phụng sự (responsibility and service). (CVĐĐ, 571)
- Ý thức Christ tức là trực giác thức (Intuitional consciousness). (ASCLH, 298)
- Tập thể thức. (ASCLH, 298)
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
B- Thuật ngữ Tâm thức theo Minh triết mới
+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54)
+ Đơn vị Tâm thức: X. Chân Thần. Cấu tạo và đặc tính (Nguồn)
+ Tinh thần (Spirit) và tâm thức (consciousness) là các tên gọi đồng nghĩa. (LVLCK, 278)
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. (SD I, 43, 125, 349, 593.)
* Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức
+ Tâm thức và ngã thức: Chính ở trên cõi trần mà tâm thức, trước tiên phải tiến hóa thành Ngã thức. (KCVTT, 93)
+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)
+ Định đề 2 - Tâm Thức: Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3, đó là TÂM THỨC - Sự hợp nhất của 2 cực Tinh Thần - Vật Chất, là Linh hồn của vạn vật, thấm nhuần mọi chất liệu hay năng lượng khách quan, nó nằm dưới mọi hình hài, dù đó là đơn vị nguyên tử hay 1 con người, 1 hành tinh hoặc 1 Thái dương hệ. Đây là Lý Thuyết Quyền Tự Quyết (LVHLT, 21)
+ TÂM THỨC theo sát nghĩa là phản ứng của trí thông tuệ sinh động đối với mô hình. Ngày nay, cứ như thể chúng ta đang đáp ứng một cách hữu thức, và với một mục đích ngày càng thông minh đối với thiết kế được Đấng Kiến Tạo Bậc Thầy đặt ra trên bản vẽ. Cho đến nay, chúng ta không và không thể nhập vào Thể Trí Vũ trụ đó và rung động trong sự hòa hợp hữu thức với Ý Tưởng thiêng liêng, cũng không hiểu được Thiên Cơ như nó được cảm nhận và được nhìn thấy bởi Đấng Tư Tưởng vũ trụ. Chúng ta phải làm việc với bản thiết kế, với mô hình, và với Thiên Cơ (Tài liệu Trích TLHNM-GQ-MF)
+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương (nguồn)
+ Tâm thức (Ý thức): Tâm thức là Tâm hay là Linh hồn, đang tạo ra sự sống tâm thông, là nhận thức: Dưới nhân loại/ nhân loại và thiêng liêng (TLHNM–II, 232)
+ Tâm Thức: Sát nghĩa là phản ứng của trí thông tuệ sinh động đối với mô hình (Tâm LH, Mô hình-Quy định)
+ Cấp độ Tâm Thức: Phàm ngã, Linh hồn, Chân Thần. Đây là ba cấp độ rộng lớn của tâm thức, vốn phản ánh ba trạng thái thiêng liêng của Thượng Đế.(Trích Topic 1- GQ1- Các trích dẫn TLHNM)
1. Tâm thức phàm ngã: Là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạo.
2. Tâm thức chân ngã là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ hai, tức tâm thức của linh hồn, tự thể hiện chính nó như là phẩm tính và như là “sắc thái” thể hiện bên trong của những vẻ ngoài.
3. Tâm thức chân thần là tâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ nhất, cái vốn tiêu biểu cho sự sống thiêng liêng – mục đích và ý định, và dùng linh hồn để thể hiện Thiên Ý cố hữu qua linh hồn. Chính điều này mới xác định phẩm tính.
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
+ Hình thành Tâm thức: Sự phối hợp năng lượng sự sống và năng lượng của thể trí trong con người tạo ra tâm thức – trước tiên là ngã thức và sau rốt là tập thể thức (TLHNM–II, 67)
+ Chiêm Tinh Học Bí Truyền: (Trích GQ1.6-Làm quen CTH)
- Có 3 trình độ nơi con người: Phàm ngã/ Linh Hồn/ Tinh Thần - Ảnh hưởng của cung hoàng đạo và hành tinh hoạt động ở 3 cấp độ này.
- Ba Cung tối quan trọng: Mặt Trăng - Mặt Trời - Cung Mọc để ước định công việc sẽ được thực hiện trong tâm thức mỗi kiếp sống.
- Tâm thức qua Chiêm TH: Năng lượng dẫn truyền qua các Cung Hoàng và Hành tinh và chức năng tiến hóa Tâm Thức của các Cung Hoàng Đạo với Người thường/ Chí nguyện (Đệ Tử) / Điểm Đạo Đồ, với sự chỉ dẫn của các Kỳ Công, ta có thể dự đoán....
- Các Cung Hoàng Đạo ở 3 Cấp Độ Tâm Thức (Chiêm THNM, 332)
+ Các trạng thái nối tiếp của Tâm thức:
1. Thực ra, Vũ trụ chỉ là một tập hợp bao la của các trạng thái tâm thức. SD II, 633; I, 70, 626.
2. Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593.
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức. SD I, 105.
* Sáu loại tâm thức được biểu hiện trong Giới Thiên Nhiên trên 5 cõi tiến hóa của nhân loại. SD I, 123; II, 678.
+ Trình độ T.Thức - Bảng kê: Người chưa tiến hóa - Người bình thường, Người Chí nguyện - Đệ tử, Điểm đạo đồ, Chân Sư và cao hơn nữ.
+ Chất liệu và Tâm thức— Substance and Consciousness: Toàn bộ tiến trình này liên quan đến sự thâm nhập của bảy cung kết hợp thông qua tất cả những trạng thái của tâm thức như được chỉ ra bởi bảy cõi vật chất. Khái niệm “cõi giới” liên hệ với ý tưởng về vật chất hay chất liệu gần như là không thể thay đổi được. Điều này về cơ bản là đúng, nhưng sự nhấn mạnh phải dựa trên phương diện tâm thức bởi vì chính tâm thức thông tin cho vật chất. Hiệu ứng xâm nhập mà chúng ta đang làm việc với nó là dựa trên nhiều dạng tâm thức khác nhau biểu đạt bản thân chúng thông qua bảy dạng vật chất. Những năng lượng kết hợp thông qua trung gian giai đoạn ý thức hữu thức này sang giai đoạn ý thức hữu thức khác; dù vậy, chúng chỉ tác động đến những hình thể của sự sống phản ứng một cách bản năng với tác động của chúng. (NĐTTKNM/ DINA II 427)
+ Sự tuôn trào và những nguyên tử và tâm thức— Outpourings and atoms and consciousness:
- Sự tuôn đổ vĩ đại đầu tiên từ Thượng Đế đã làm sinh động chất liệu vũ trụ và khiến cho mỗi nguyên tử vật chất bên trong “vòng-không-được-vượt-qua” của hệ thống của Ngài rung động theo bảy phương thức rung động khác nhau.
- Sự tuôn đổ thứ hai đã tạo nên những sự kết hợp của các phân tử, vì thế tạo nên sáu cõi phụ bên dưới cõi nguyên tử của mỗi cõi chính, và tạo nên dạng hình tướng. Chính là vào thời điểm tuôn đổ thứ hai mà mỗi trung tâm của những trung tâm tâm thức thiêng liêng đưa ra một sợi bản thể vào trong mọt nguyên tử của các cõi phụ cao nhất của các cõi giới atma, bồ đề, và cõi trí,— những nguyên tử có định mệnh là hạt nhân của những thể tương lai, mỗi cái ở trong từng cõi giới tương ứng của nó, ba cái tạo nên tam nguyên thượng mà ta thường nghe nhắc đến.(TLHNM/ EP II 167-8)
Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức
Xem: Các trình độ Tâm Thức)
Xem: Phàm ngã: Hình thành – Tính chất – Trình độ Tâm thức theo các Cung Năng lượng