TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

Nam moi 2022

VĂN PHÒNG TƯ VẤN NHÂN MỆNH THÔNG BÁO
TƯ VẤN DỰ ĐOÁN THIÊN CƠ TRONG ĐẦU TƯ KINH DOANH VÀ SỨC KHỎE - TUỔI THỌ

"Mưu sự tại nhân - Thành sự tại Thiên", câu này nói nên rằng mỗi chúng ta đều bị chi phối mạnh mẽ bởi quy luật Nhân quả - Nghiệp báo - Luân hồi - Tái sanh. Dường như có Số phận an bài vậy. Số phận là có "Gieo nhân gì - Phải gặt quả đó" mà không thể trốn tránh. Thế nhưng SỐ PHẬN KHÔNG PHẢI LÀ ĐỊNH MỆNH => HOÀN TOÀN CÓ THỂ THAY ĐỔI qua tu hành Cải mệnh. Thông qua quy luật thời gian ta có thể dự đoán khi nào Quả báo Cát - Hung đến để tìm ra cách Hóa giải - Tiêu trừ tương ứng, cũng tức là Pháp Y MỆNHBIẾT BỆNH - CHO THUỐC. Chúng tôi nhận Tư vấn Tu Cải mệnh miễn phí với các đối tượng là người tin sâu Nhân Quả nguyên nhân chính gây ra tâm trạng lo âu, sợ hãi, thất nghiệp, nợ lần, phá sản, chia ly, bệnh đau hành hạ ... dẫn đến cuộc sống thường buồn nản, khổ đau và bế tắc, rễ bị trầm cảm. Khi quý vị nhận thức ra "Thân người rất khó có được", thường phải qua cả ngàn năm với bao kiếp sống bị đọa lạc lưu đầy trong 3 cõi thấp tối tăm mịt mờ mới có lại được Thân người của kiếp này, cũng là kiếp sống bắt buộc phải tái sinh để trả nghiệp - Nhận lại quả báo do chính mình đã tạo tác ra từ kiếp này và các kiếp trước, cho lên chết không phải là hết, nhân duyên nợ lần chắc chắn phải trả là vậy. Thường thì tháng sinh kiếp này là tháng tử vong của tiền kiếp, là để tiếp nối Nghiệp quả an bài. Từ ngày giờ sinh ra đời cho chúng ta biết sơ bộ về "Kịch bản" mỗi người "phải Diễn" trên sân khấu cuộc đời ngay từ khi sinh ra - Nếu họ không tu. Tu hành tinh tấn là con đường duy nhất để Cải mệnh mạnh mẽ, nhiệm mầu nữa! Với hơn 25 năm nghiên cứu và thực nghiệm về Dịch học như xem Tứ trụ - Quẻ dịch - Chiêm tinh/ Tử vi - Phong Thủy ..., về Cấu tạo con người và Tâm thức, tu hành theo Phật Pháp nhiệm mầu. Chúng tôi hy vọng sẽ đồng hành giúp quí vị nắm bắt Thiên Cơ để GIẦU CÓ - SỐNG THỌ - TRÁNH CHẾT UỔNG (Sống chưa hết số trời định).

+ Thời gian Tư vấn: Vào sáng thứ bảy hàng tuần, xin liên hệ trước để tiện tiếp đón chu đáo. Mời đọcVPTV Số mệnh
+ Các quy định và tiện ích của chúng tôi giúp phục vụ quí khách tốt nhất, mời đọc: Các quy định và hướng dẫn

    Nhân Trắc Học kính chúc quí vị vạn sự như ý!

Ánh Sáng Của Linh Hồn

ÁNH SÁNG CỦA LINH HỒN

"Bà cũng đã cộng tác với tôi, viết một quyển sách, nhan đề là Ánh Sáng của Linh Hồn; trong sách này tôi dịch ra tiếng Anh các câu kinh Phạn ngữ của Patanjali, còn bà đóng góp phần luận giải, thỉnh thoảng bà cũng tham khảo ý kiến tôi để nắm chắc ý nghĩa. Nguồn: Bài viết của Chân Sư Tây Tạng"

Khoa học về Linh hồn và Ảnh hưởng của Linh hồn
Bản chuyển ngữ
YOGA ĐIỂN TẮC CỦA PATANJALI
ALICE A. BAILEY
bình giải

Trân Châu
Biên dịch
(Có tham khảo bản dịch của Trần Ngọc Lợi: Xem tại đây)

A- GIỚI THIỂU VỀ CHÂN SƯ D.K VÀ BẢN QUYỀN SÁCH: Mời xem tại đây

B- NHẬN XÉT DẪN NHẬP

Raja Yoga, còn gọi là “Khoa học Ưu việt về Linh hồn,” đã được nhân vật tiêu biểu của khoa này là Patanjali san định, và rốt cuộc sẽ trở nên thịnh hành ở Tây phương. Đó là vì − theo luật chu kỳcăn chủng thứ năm tất phải đạt đến tột đỉnh của mình (trong phân chủng thứ năm). Trong hệ thống tổ chức của các giống dân, mức thành tựu này tiêu biểu qua việc vận dụng trí tuệ đúng đắn, và linh hồn sử dụng trí tuệ để đạt các mục tiêu tập thể, cũng như phát triển ý thức tập thể trên cõi hồng trần.
Từ trước đến nay, trí tuệ đã bị lạm dụng cho những mục tiêu vật chất, hoặc đã được quá mức tôn sùng. Nhờ khoa Raja Yoga, chúng ta biết rằng trí tuệ là khí cụ của linh hồn, và là phương tiện để soi sáng não bộ của người tìm đạo, cũng như để hiểu biết những vấn đề liên quan đến lĩnh vực của linh hồn.
Cũng theo luật tiến hóa, vì trí tuệ vốn là nguyên khí thứ năm nên phải có liên quan mật thiết với căn chủng thứ năm, và càng liên hệ mật thiết với phân chủng thứ năm hơn bất cứ phân chủng nào khác. Các môn sinh cần lưu ý những điều tương ứng sau đây:

1. Căn chủng thứ năm ......................... Aryan.
[x] 2. Phân chủng thứ năm ....................... Anglo-Saxon.
3. Nguyên khí thứ năm........................ manas, hay trí tuệ.
4. Cảnh giới thứ năm ........................... cõi trí.
5. Cung năm ......................................... kiến thức cụ thể.

[ix] [xi]
Những khoa Yoga khác nhau đều đã góp phần vào sự khai mở của con người. Trong giống dân thuần thể chất đầu tiên gọi là dân Lemuria, khoa Yoga được áp dụng cho nhân loại ấu trĩ vào thời gian đó chính là Hatha Yoga, khoa Yoga rèn thân xác. Yoga này giúp hành giả hữu ý sử dụng và vận dụng những cơ quan, bắp thịt và các bộ phận khác nhau của thể xác. Vấn đề khó khăn của các huấn sư đương thời là dạy cho con người − bấy giờ chỉ tiến hóa hơn loài thú chút ít − về mục đích, ý nghĩa và cách sử dụng các loại cơ quan để họ có thể hữu thức kiểm soát được chúng, và về ý nghĩa của biểu tượng nhân hình. Thế nên, vào thời xa xưa ấy, nhờ thực hành Hatha Yoga mà con người tiến đến cánh cửa điểm đạo. Bấy giờ, cuộc điểm đạo thứ ba với kết quả chuyển hóa phàm nhân là cuộc điểm đạo cao nhất mà nhân loại có thể đạt.
Vào thời kỳ Atlantis, con người tiến bộ nhờ áp dụng hai khoa Yoga. Trước hết, khoa Yoga có tên Laya Yoga, chuyên về các luân xa. Yoga này làm ổn định thể dĩ thái và các luân xa trong mỗi người, cũng như phát triển thể cảm dục và tính chất tâm thông. Về sau, Bhakti Yoga, nảy sinh từ sự phát triển thể tình cảm hay cảm dục, được phối hợp với Laya Yoga và đặt nền tảng cho khoa thần bí và sùng tín, vốn đã là động cơ thúc đẩy chủ yếu trong căn chủng Aryan của chúng ta. mục tiêu lúc bấy giờ là cuộc điểm đạo thứ tư. Đề tài về các cuộc điểm đạo lớn này đã được bàn rộng hơn trong tác phẩm trước đây của tôi, “Điểm đạo trong Nhân loại và Thái dương hệ.”
Hiện nay, trong giống dân Aryan, việc thực hành Raja Yoga có thể điều phục thể trí cũng như kiểm soát trí tuệ. [xii] Và mục tiêu của nhân loại đang tiến hóa là cuộc điểm đạo thứ năm của vị Chân sư. Thế nên, tất cả các khoa Yoga mỗi mỗi đều có chỗ dùng và phục vụ một mục đích hữu ích. Hiển nhiên là bất cứ ai quay về với những lối thực hành Hatha Yoga, hoặc những cách thực tập để trực tiếp phát triển các luân xa, qua những phương pháp hành thiền và vận khí khác nhau đều là thoái hóa, xét theo một phương diện nào đó. Người ta nhận thấy rằng nhờ thực hành Raja Yoga và đạt đến mức hoàn toàn tự chủ khi hành giả tập trung ý thức vào linh hồn, các hình thức Yoga khác sẽ không còn cần thiết. Vì khoa Yoga cao cấp sẽ tự động bao hàm tất cả các khoa Yoga sơ cấp về mặt kết quả, dù không bao gồm phương diện thực hành.
Khi nghiên cứu những điều nói trên, chúng ta sẽ thấy rõ tại sao vận hội mới mẻ chỉ vừa xảy ra. Từ thời xa xưa, phương Đông đã bảo tồn các qui tắc tu tập cho chúng ta. Rải rác đó đây có những người Đông phương (cùng với một số ít cao đồ ở Tây phương) đã vận dụng được những qui tắc vừa kể và tuân hành giới luật của khoa học nghiêm nhặt này. Nhờ thế mà bảo tồn sự liên tục của Giáo lý Bí nhiệm, và minh triết Ngàn đời cho nhân loại. Nhờ thế mà qui tụ được các nhân viên của Đại đoàn Chưởng giáo hành tinh. Vào thời Đức Phật và qua sức kích thích của Ngài, rất nhiều vị La-hán đã nhóm họp lại. Đó là những vị được giải thoát nhờ tự lực tu tập. Thời kỳ này trong giống dân Aryan đánh dấu mức thành đạt tột đỉnh của phương Đông. Kể từ đó, triều sóng sinh hoạt tinh thần liên tục tuôn đổ sang phương Tây. Nay chúng ta có thể mong đợi một sự thành tựu tương ứng [x] [xi] [xiii] ở Tây phương, sẽ đạt đến đỉnh cao vào khoảng năm 1965 và 2025. Các vị cao đồ của Đông phương và Tây phương đều phối hợp hoạt động hướng đến mục tiêu này, vì bao giờ họ cũng tuân theo Thiên Luật.
Sức thôi thúc đang đến này (cũng như sự thúc đẩy vào thời Đức Phật) là một tác động của Cung hai, chứ không liên quan đến bất cứ hoạt động nào thuộc Cung một, như xung lực đã mang lại công trình của H. P. Blavatsky. Xung lực của Cung một xuất lộ vào phần tư đầu mỗi thế kỷ và lên đến tột đỉnh ở cõi trần trong phần tư cuối thế kỷ đó. Hiện nay có sự quan tâm đến Raja Yoga và việc nghiên cứu khoa này cùng với các qui tắc của nó để giúp con người khai mở. Đây là xu thế chung trong sức thúc đẩy đang xuất lộ nói trên của Cung hai. mối quan tâm này sẽ ngày càng trở nên rõ rệt. Vận hội mới đang đến.
Có ba quyển sách mà mọi môn sinh đều cần nghiên cứu. Đó là Chí Tôn Ca, Kinh Tân ước, và Yoga Điển tắc. Vì ba quyển này bao hàm bức tranh hoàn hảo về linh hồn và sự khai mở của linh hồn.
Mười tám chương trong Chí Tôn Ca mô tả linh hồn, tức là Đức Krishna, ngôi hai, với thực tính là Thượng Đế đang biểu hiện. Điều này đạt tột đỉnh huy hoàng trong chương tuyệt diệu có đoạn Ngài hiển lộ trước mắt người tìm đạo Arjuna, với tính cách linh hồn của vạn vật, và là điểm linh quang ẩn đằng sau bức màn che của mọi hình hài sắc tướng.
Kinh Tân ước miêu tả cuộc đời của Người Con Thượng Đế biểu hiện trọn vẹn. Trong đó linh hồn đã thoát khỏi mọi sự che khuất, phát lộ chân tính và đi khắp thế gian. Khi nghiên [xiv] cứu cuộc đời của Đức Christ, chúng ta thấy rõ thế nào là phát triển các quyền năng của linh hồn, đạt sự giải thoát, và trở thành một vị Thượng Đế giáng trần, đầy vinh diệu.
Yoga Điển tắc trình bày những định luật để thành đạt, những qui tắc, phương pháp, và phương tiện mà nếu theo đúng sẽ giúp hành giả trở nên “hoàn thiện thậm chí như Cha của mình ở trên Trời.” Từng bước, tác phẩm này cho thấy một hệ thống phát triển có nhiều cấp bậc, đưa hành giả đi từ giai đoạn của người lương hảo bình thường, qua giai đoạn người chí nguyện tìm đạo, điểm đạo đồ và Chân sư, mãi đến trình độ tiến hóa cao cả hiện nay của Đức Christ. Người đệ tử thân yêu của Ngài là Thánh John có nói “chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy được thực tính của Ngài.” Sự hiển lộ của linh hồn trong con người đang nhập thế bao giờ cũng tạo nên những biến đổi lớn lao. Chính Đức Christ đã bảo rằng “Các ngươi sẽ làm được những điều vĩ đại hơn ta làm hiện nay.” Ngài cho chúng ta thấy triển vọng về “thiên giới, quyền năng và sự vinh quang,” với điều kiện chúng ta có đủ đạo tâm và lòng kiên trì để theo đuổi con đường Thập tự giá đầy chông gai, và dấn bước “trên đường hướng thượng” đến Đỉnh núi Biến dung.
Làm thế nào mang lại sự thay đổi lớn lao này? Làm thế nào mà con người, vốn là nạn nhân của dục vọng và bản chất thấp hèn nơi mình, lại trở thành người chiến thắng, khuất phục được những sự mê hoặc, và cám dỗ trong đời? Điều đó xảy ra khi não bộ trong thân xác của con người ở cõi trần bắt đầu ý thức được chân ngã, tức là linh hồn. Chỉ khả dĩ ý thức một cách tỉnh táo như thế khi chân ngã có thể “tự phản ánh [xii] [xiii] [xv] trong thể trí.” Linh hồn vốn siêu thoát khỏi các đối tượng và bao giờ cũng ở trong trạng thái nhất như tự tại. Tuy nhiên, con người ở cõi hồng trần phải nhận biết được hai trạng thái sinh tồn này trong ý thức não bộ thể chất của mình. Y phải hữu ý tự giải thoát khỏi mọi đối tượng của dục vọng. Đồng thời y phải đứng vững với tư cách một toàn thể thống nhất, từ bỏ và thoát khỏi mọi bức màn che, và mọi hình hài sắc tướng trong tam giới (ba cõi thấp). Khi trạng thái sinh tồn tỉnh thức của con người tinh thần cũng trở thành tình trạng ý thức của phàm nhân trong cõi đời này, thì hành giả đạt được mục tiêu. Y không còn bị thân xác biến thành nạn nhân của thế gian, khi đồng hóa với thân xác. Y hoạt động tự do với nét mặt rạng ngời (I. Cor. 3) và ánh sáng từ dung mạo y tỏa chiếu cho tất cả những người y gặp. Những điều ham muốn không còn lôi kéo xác thân làm quấy, và y không còn bị thể cảm dục chi phối và lung lạc.
Hạnh vô dục và khả năng cân bằng các cặp đối cực giúp y thoát khỏi những tính khí thất thường, xúc cảm, khao khát, ham muốn, và phản ứng tình cảm vốn là đặc trưng của đời sống kẻ thường nhân. Y đã đến tâm thái bình an. Y đã thắng phục tật kiêu căng, do trí năng bị lạm dụng và nhận thức lệch lạc trong hạ trí. Y thoát khỏi những ràng buộc trong tam giới. Cuộc sống của y ở thế gian thấm nhuần bản tính của linh hồn. Bản tính này gồm các hạnh đức và hoạt động sẵn có trong tình thương của Người con Thượng Đế, cùng với minh triết phát sinh khi kết hợp bác ái và hoạt động (trạng thái thứ hai và thứ ba). Bấy giờ y có thể nói như ngày xưa Đức Christ đã nói, “Thế là xong.” [xvi]
Ngày sinh của Patanjali chưa được biết rõ, vì thế mà có nhiều tranh cãi về vấn đề này. Hầu hết những người có uy tín ở Tây phương cho rằng ông ra đời trong khoảng năm 820 đến 300 trước Công nguyên, trong khi vài người khác lại bảo rằng ông sinh ra sau Đức Christ. Tuy nhiên, chính những nhân vật uy tín trong Ấn Độ giáo, xem như có phần nào hiểu biết về vấn đề này, lại xác định ngày sinh của ông còn xa xưa hơn rất nhiều, thậm chí đến năm 10.000 trước Công nguyên. Patanjali là người biên soạn các giáo huấn mà mãi cho đến khi ông ra đời đã được khẩu truyền qua nhiều thế kỷ. Ông là người đầu tiên ghi chép giáo huấn này thành văn bản cho các môn sinh sử dụng. Vì thế ông được xem là người sáng lập Trường phái Raja Yoga. Thực ra, hệ thống này đã được sử dụng ngay từ thời gian đầu của giống dân Aryan. Yoga Điển tắc là giáo huấn căn bản của Trường phái Xuyên Hy-mã- lạp-sơn, bao gồm nhiều Chân sư minh triết. Nhiều môn sinh còn cho rằng trường phái Essenes cũng như các trường huấn luyện và tư duy thần bí khác, vốn liên quan mật thiết với vị sáng lập Thiên Chúa giáo và những người Thiên Chúa giáo ban sơ, đều dựa vào cùng hệ thống này. Họ cũng cho rằng các huấn sư của mình đã được đào tạo trong Trường phái chính đại Xuyên Hy-mã-lạp-sơn.
Ở đây xin nói rõ rằng các câu Kinh văn đã được Chân sư Tây Tạng đọc cho viết và chuyển ngữ. Còn phần luận giải các câu kinh này là do tôi viết, sau đó được Ngài nhận xét và sửa đổi. Cần lưu ý rằng bản dịch không theo sát từng chữ một, và không phải là định nghĩa chính xác của mỗi thuật ngữ Bắc Phạn trong nguyên văn. Đây là cố gắng nhằm [xiv] [xv] chuyển dịch ý nghĩa của bản văn càng chính xác càng hay sang Anh ngữ một cách minh bạch và dễ hiểu, bằng phương tiện của loại ngôn ngữ thiếu linh hoạt và kém bóng bẩy này. Khi nghiên cứu những câu kinh trong sách, người môn sinh nên đối chiếu phần luận giải ở đây với các bản dịch khác có thể kiếm được.
ALICE A. BAILEY
New York, Tháng Năm, 1927.

[xvii]
THƯ MỤC
các bản dịch và luận giải về
YOGA ĐIỂN TẮC CỦA PATANJALI
dùng để biên soạn sách này.
Yoga Điển tắc của Patanjali ..........................M. J. Dvivedi.
Trường phái Yoga.....................................Ganganatha Jha.
Yoga Điển tắc của Patanjali ...................Charles Johnston.
Châm ngôn Yoga của Patanjali....................... W. Q. Judge.
Yoga Điển tắc của Patanjali ....................... Rama Prasada.
Triết lý Yoga ..............................................Tookaram Tatya.
Trích yếu Triết lý Raja Yoga, ..............Rajaram Tookaram.
Raja Yoga........................................... Swami Vivekananda.
Hệ thống Yoga của Patanjali .......................... J. H. Woods.
[xvii]

PHÁC THẢO CHỦ ĐỀ
QUYỂN I. VẤN ĐỀ HỢP NHẤT. .............................................3
a. Bản tính cao siêu và phàm tính.
b. Những chướng ngại và cách giải trừ.
c. Tổng lược hệ thống Raja Yoga.
Chủ đề: Tính chất cái tâm thường thay đổi.
QUYỂN II. NHỮNG BƯỚC TIẾN ĐẾN HỢP NHẤT.........103
a. Năm chướng ngại và cách giải trừ.
b. Tám phương tiện.
Chủ đề: Những phương tiện thành đạt.
QUYỂN III. ĐẠT SỰ HỢP NHẤT VÀ CÁC KẾT QUẢ........215
a. Tham thiền, và các giai đoạn.
b. Hai mươi ba kết quả của tham thiền.
Chủ đề: Quyền năng của linh hồn.
QUYỂN IV. GIÁC NGỘ. ..........................................................339
a. Tâm thức và hình thể.
b. Hợp nhất hay nhất quán.
Chủ đề: Nhất như tự tại.

QUYỂN I.
VẤN ĐỀ HỢP NHẤT
a. Bản tính cao siêu và phàm tính.
b. Những chướng ngại và cách giải trừ.
c. Tổng lược hệ thống Raja Yoga.
Chủ đề: Tính chất cái tâm thường thay đổi.
[3]

QUYỂN I
VẤN ĐỀ HỢP NHẤT

1. AUM. Giáo huấn sau đây liên quan đến Khoa học Hợp nhất.
2. Đạt sự Hợp nhất (hay Yoga) này bằng cách khuất phục cái tâm và chế ngự chitta (cái trí).
3. Khi đã hoàn tất điều này, nhà Yogi biết được thực tính của chính mình.
4. Từ trước đến nay, con người nội tâm đã tự đồng hóa với các thể của mình và với những biến thái năng động của chúng.
5. Có năm trạng thái trí tuệ, chịu chi phối bởi sự hoan lạc hay đau khổ, đau khổ nhiều hoặc không đau khổ.
6. Các biến thái (hoạt động) này là sự hiểu biết đúng, hiểu biết không đúng, hoang tưởng, thụ động (ngủ yên) và trí nhớ.
7. Cơ sở của hiểu biết đúng là nhận thức đúng, suy diễn đúng và chứng cứ đúng (hay là bằng chứng chính xác).
8. Hiểu biết không đúng là do nhận thức về hình tướng, chứ không dựa vào sự sống bên trong.
9. Hoang tưởng vốn dựa vào những hình ảnh không có thực.
10. Thụ động (ngủ yên) là do tình trạng yên lặng của các vritti (tức là do sự không cảm nhận của các giác quan).
11. Trí nhớ là việc tiếp tục nắm giữ những gì đã biết.
12. Hành giả kiểm soát các biến thái này của cơ quan nội tại, tức là thể trí, qua cố gắng không mệt mỏi và bằng cách buông xả. [4]
13. Cố gắng không mệt mỏi là thường xuyên chuyên chú chế ngự các biến thái của thể trí.
14. Khi đánh giá đúng mục tiêu cần đạt, và kiên trì cố gắng thực hành không gián đoạn, hành giả sẽ định trí vững vàng (chế ngự các vritti).
15. Buông xả là không còn khao khát mọi đối tượng của ham muốn, dù thuộc về thế gian hay theo truyền thống, dù trong kiếp sống này hoặc kiếp sau.
16. Khi đã hoàn toàn buông xả, hành giả thoát khỏi các đặc tính của vật chất hay các gunahiểu biết chính xác về con người tinh thần.
17. Hành giả ý thức được đối tượng bằng cách chú tâm vào bốn khía cạnh của nó: hình thể, qua việc khảo sát; đặc tính (hay guna), qua việc tham cứu có phân biện; mục đích, qua nguồn hứng khởi (hay phúc lạc); và linh hồn qua sự đồng nhất.
18. Hành giả đạt được thêm một giai đoạn của samadhi khi nhờ chuyên tâm mà khiến cho hoạt động bên ngoài trở nên yên lặng. Trong giai đoạn này, chitta chỉ ứng đáp với các ấn tượng nội tại thâm sâu.
19. Trạng thái samadhi vừa mô tả vẫn chưa vượt khỏi phạm vi của thế giới hiện tượng. Trạng thái này chưa vượt qua giới Thiên thần và những gì liên quan đến thế giới cụ thể.
20. Những nhà yogi khác đạt được samadhiphân biệt được tinh thần thuần khiết qua sự tin tưởng, kế đến là nỗ lực, ghi nhớ, tham thiền và nhận thức đúng.
21. Những ai có ý chí mạnh mẽ và linh hoạt sẽ mau đạt được giai đoạn (tâm thức tinh thần) này.
22. Việc sử dụng ý chí cũng có nhiều mức độ khác nhau, có thể mãnh liệt, vừa phải hay nhẹ nhàng. Để đạt tâm thức tinh thần đích thực, hãy còn có một con đường khác nữa.
23. Hành giả biết được Ishvara khi hết lòng sùng kính Ishvara.
24. IshvaraLinh hồn, không hề bị giới hạn, siêu thoát khỏi nghiệp quảdục vọng.
25. Trong Ishvara, vị Thầy thiêng liêng, mầm mống của toàn tri mở ra vô hạn. [5]
26. Ishvara (vị Thầy thiêng liêng), không hề bị hạn định bởi thời gian, là huấn sư của các vị Chúa nguyên thủy.
27. Linh từ của Ishvara là AUM (hay Om). Đây là Pranava.
28. Bằng cách xướng lên Thánh ngữsuy ngẫm về ý nghĩa của Nó, hành giả tìm thấy Đường Đạo.
29. Cố gắng này giúp nhận thức được Chân ngã (Linh hồn) và loại trừ mọi chướng ngại.
30. Những trở ngại đối với nhận thức về linh hồnthể xác suy yếu, trí năng trì trệ, nghi vấn lệch lạc, thiếu chú tâm, lười biếng, thiếu hạnh vô dục, nhận thức sai lầm, không thể tập trung, không giữ được tâm thái thiền khi đã đạt.
31. Đau khổ, tuyệt vọng, hoạt động nhầm lẫn của xác thân, điều khiển (hay kiểm soát) sai các dòng sống, là hậu quả của những trở ngại này trong phàm tính.
32. Để khắc phục các trở ngại và hệ quả của chúng, cần mạnh mẽ áp dụng ý chí với chú tâm vào một chân lý (hay nguyên khí).
33. Có thể khiến cho chitta (hay trí tuệ chất) trở nên an tịnh bằng cách vun bồi lòng thiện cảm, nhân hậu, giữ vững mục đích, và hạnh vô dục đối với niềm vui, nỗi khổ, hoặc mọi hình thái của thiện hay ác.
34. Chitta cũng trở nên an tịnh nhờ điều hòa prana hay hơi thở của sự sống.
35. Có thể làm cho cái trí vững vàng ổn định bằng cách tập trung vào các nhận thức của giác quan.
36. Có thể biết được Tinh thần và đạt sự an tịnh bằng cách tham thiền về Ánh sáng và sự Phóng quang.
37. Cái trí trở nên ổn định và không ảo tưởng khi phàm tính được tinh luyện và không còn phóng túng.
38. Có thể đạt sự an tịnh (vững vàng ổn định của cái trí) bằng cách tham thiền về sự hiểu biết qua những giấc mơ.
39. Cũng có thể đạt sự an tịnh nhờ tập trung vào những gì mà lòng ta yêu mến nhất. [6]
40. Bằng cách đó, nhận thức của hành giả mở rộng từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, và y hiểu biết đầy đủ từ annu (hạt nguyên tử hay vi trần) đến atma (hay tinh thần).
41. Người đã hoàn toàn chế ngự các vritti (biến thái của chất liệu thể trí) rốt cuộc sẽ đi vào trạng thái đồng nhất với, và tương đồng với, những gì được y nhận thức. Người hiểu biết, sự hiểu biết và lĩnh vực hiểu biết trở thành một, giống như khối pha lê nhận màu sắc của những gì phản ánh trong nó.
42. Khi người nhận thức hòa hợp cả ngôn từ, ý tưởng (hay ý nghĩa) và đối tượng, thì đây là điều kiện của trí suy luận phán đoán.
43. Hành giả nhận thức mà không suy luận phán đoán khi không còn bị trí nhớ chi phối, khi đã vượt khỏi ngôn từ và đối tượng mà chỉ còn thấy ý tưởng.
44. Hai tiến trình tập trung nói trên, có hoạt động phán đoán của cái trí hoặc không, cũng có thể được áp dụng cho những điều tế vi.
45. Cái thô kệch dẫn đến cái tế vi, và qua các giai đoạn liên tiếp cái tế vi dẫn đến trạng thái sự sống tinh thần thuần khiết gọi là Pradhana.
46. Tất cả những điều nói trên là tham thiền hữu chủng.
47. Khi đến trạng thái nhập định siêu việt này, nhà Yogi hoạch đắc nhận thức tinh thần thuần túy qua sự thăng bằng yên lặng của Chitta (trí tuệ chất).
48. Nay hành giả nhận thức hoàn toàn chính xác, (hay là, trí y chỉ hiển lộ Sự thật).
49. Nhận thức nói trên có tính độc đáo và hiển lộ những điều mà cái trí suy đoán (qua bằng chứng, suy luận và diễn dịch) không thể thấu hiểu.
50. Nó khắc phục, hay thay thế toàn bộ các ấn tượng khác.
51. Khi chính trạng thái nhận thức này cũng được chế ngự (hay thay thế), hành giả đạt đến Samadhi thuần túy.
[7]

YOGA ĐIỂN TẮC CỦA PATANJALI

QUYỂN I
VẤN ĐỀ HỢP NHẤT

1. AUM. (OM) Giáo huấn sau đây liên quan đến Khoa học hợp nhất.
AUM. là Linh từ Vinh quang. Từ này có nghĩa là Ngôi Lời hiện thể, và là sự biểu hiện của trạng thái thứ hai của thiên tính trên cảnh giới vật chất. Những người chân chính trở nên chói rạng trước mắt thế gian qua việc thực hành đúng đắn các qui tắc ghi trong tác phẩm này. Khi tất cả những người con của nhân loại đã chứng tỏ rằng họ cũng là Con của Thượng Đế thì vị Thiên đế tử cấp vũ trụ cũng bừng sáng với nguồn vinh quang ngày càng tăng. Vị đại điểm đạo đồ, là Thánh Paul, có linh thị về vấn đề này khi ông nói “toàn thể tạo vật kêu than và quằn quại trong đau khổ . . . chờ sự biểu hiện của những người con Thượng Đế.” (Rom. VIII.)
Raja Yoga, hay khoa học Hợp nhất, trình bày các qui tắc và phương tiện để có thể:
1. Thực hiện sự giao tiếp hữu thức với linh hồn, trạng thái thứ hai, Đấng Christ ở nội tâm,
2. Biết được chân ngã và duy trì sự kiểm soát của chân ngã đối với cái phi-ngã, [8]
3. Cảm nhận quyền năng của chân ngã hay linh hồn trong sinh hoạt hằng ngày, và biểu lộ các quyền năng ấy,
4. Chế ngự các loại thần thông thấp, và biểu dương những quan năng thần thông cao,
5. Liên kết não bộ với linh hồn để nhận thông điệp từ linh hồn,
6. Tăng cường “ánh sáng bên trong đầu,” nhờ đó hành giả trở thành Ngọn lửa sinh động,
7. Tìm thấy Đường Đạo, và chính hành giả trở thành Đường Đạo.
Người môn sinh có thể hiểu giá trị của bảng liệt kê dưới đây, nhất là lưu ý rằng cột giữa có những thuật ngữ áp dụng cho linh hồn hoặc trạng thái thứ hai. Sự hợp nhất cần đạt là sự hợp nhất giữa trạng thái thứ ba và trạng thái thứ hai. Sự hợp nhất này hoàn thành viên mãn vào cuộc điểm đạo lần thứ ba (là sự Biến dung, nói theo thuật ngữ Thiên Chúa giáo). Về sau, còn có sự tổng hợp giữa các trạng thái thứ ba, thứ hai (đã kết hợp) và trạng thái thứ nhất:

Trạng thái thứ 1 Trạng thái thứ 2 Trạng thái thứ 3
Tinh thần Linh hồn Xác thân
Đức Chúa Cha Đức Chúa Con (Christ) Chúa Thánh thần
Chân thần Chân nhân Phàm nhân
Siêu ngã Chân ngã Phàm ngã
Sự sống Tâm thức Hình thể
Năng lượng mãnh lực Vật chất
Chân như Chân tâm Thường nhân
Cần phân biệt rõ giữa Nguyên khí Christ như đã nêu trên, vốn là một trạng thái tinh thần cao siêu mà mỗi người trong nhân loại đều phải đạt, với danh hiệu Christ chỉ về một nhân vật cao cấp đại diện cho Nguyên khí đó, dù là Vị [9] mà lịch sử có ghi đã giáng sinh ở Nazareth hay trong trường hợp khác.
2. Đạt sự hợp nhất (hay Yoga) này bằng cách khuất phục cái tâm và chế ngự chitta (cái trí).
Người tìm cách hợp nhất cần thực hiện hai điều.
1. Kiểm soát “tính cách thường thay đổi của cái tâm,”
2. Ngăn ngừa việc cái trí khoác lấy nhiều thể dạng theo thói quen của nó. Các dạng này thường được gọi là “những biến thái của nguyên khí tư duy.”
Hai điều nói trên là sự kiểm soát thể tình cảm, hay là kiểm soát dục vọng; và chế ngự thể trí, tức là hạ trí hay cái trí. Người môn sinh cần lưu ý rằng nếu không kiểm soát dục vọng và không điều ngự thể trí thì ánh sáng của linh hồn sẽ bị che án và tâm thức tinh thần bị ngăn chặn. Ngày nào những chướng ngại này còn tồn tại thì không thể có sự hợp nhất. Vì thế, khi bắt đầu giáo huấn, Chân sư hướng sự chú ý của người môn sinh vào những điều thực tế phải làm để khai phóng ánh sáng này. Nhờ đó nó có thể “chiếu sáng ở nơi tăm tối,” tức là ở cõi hồng trần. Cần lưu ý rằng, nói theo nghĩa huyền môn, khi phàm tính được kiểm soát, nó có thể biểu lộ chân tính cao siêu. Khi trạng thái thứ hai của phàm ngã, là thể tình cảm, được chế ngự và chuyển hóa, thì bấy giờ hành giả có thể thấy ánh sáng của Đấng Christ ở nội tâm (trạng thái thứ hai của chân ngã). Về sau, ánh sáng của Chân thần, Đấng Cha lành, Đấng Duy nhất, sẽ hiển lộ. [10] Tương tự như vậy, khi chế ngự trạng thái thứ nhất của phàm ngãthể trí, hành giả có thể biết trạng thái Ý chí của chân ngã, và nhận thức được mục đích của Thượng Đế qua hoạt động trí tuệ.
Trong cuộc sống tinh thần, có một số đường hướng ít trở ngại nhất để phóng rải một số mãnh lực hay năng lượng.
a. Tình cảm trực giác hay bồ-đề chân thần đến luân xa tim của người chí nguyện
b. Trí tuệ tinh thần hay atma
Thượng Đế đến luân xa đầu của người chí nguyện.
Do đó, người môn sinh được trao cho LINH TỪ chế ngự hay kiểm soát, dùng làm bí quyết cho mọi nỗ lực của mình.
Chittahạ trí, hay trí tuệ chất, thể trí, năng lực suy tư và tạo hình tư tưởng, là toàn bộ các tiến trình tư duy. Đó là chất liệu được chân ngã hay linh hồn chế ngự và dùng để tạo ra các hình tư tưởng.
“Tâm thái” là kama-manas (dục vọng-hạ trí), là thể tình cảm hay cảm dục, có nhuộm chút ít hạ trí. Nó là chất liệu bao bọc mọi ham muốnxúc cảm của mỗi người, giúp chúng phát biểu.
Hai loại chất liệu này có con đường tiến hóa riêng, và quen đi theo chiều hướng đó. Theo Thiên cơ, các điểm linh quang hay tinh thần bị chúng giam hãm, vì lúc đầu được hấp dẫn đến với chúng qua sự tương tác giữa tinh thần và vật chất. Bằng cách kiểm soát các chất liệu này và chế ngự những hoạt động theo bản năng của chúng, tinh thần thu thập kinh nghiệm và rốt cuộc được giải thoát. Đó là cách thực hiện sự hợp nhất với linh hồn. [11] Đó là sự hợp nhất mà hành giả biết và thể nghiệm trong thân xác trên cõi biểu hiện thô trược nhất, qua việc kiểm soát phàm tính một cách sáng suốt và hữu thức.
3. Khi đã hoàn tất điều này, nhà Yogi biết được thực tính của chính mình.
Có thể mô tả điều này như sau: người nào biết và thực hiện đầy đủ được những điều kiện đã nêu trong câu trước, thì
1. Thấy được chân ngã,
2. Nhận thức được thực tính của linh hồn,
3. Tự đồng nhất với Thực tại ở nội tâm, và không còn đồng hóa với các thể đang che án,
4. Trụ ở trung tâm và không còn ở ngoại vi,
5. Đạt tâm thức tinh thần,
6. Ý thức được vị Thượng Đế ở nội tâm.
Ba câu kinh trên đây mô tả phương pháp và mục tiêu với những thuật ngữ rõ ràng và đích xác, mở đường cho giáo huấn chi tiết hơn tiếp theo. Người tìm đạo đối diện với vấn đề của mình. Y được trao cho manh mối để giải quyết, và trước mắt y là phần thưởng cho cố gắng tìm chân lý − sự hợp nhất với linh hồn.
Câu kinh kế tiếp bàn vắn tắt về quá khứ.
4. Từ trước đến nay, con người nội tâm đã tự đồng hóa với các thể của mình và với những biến thái năng động của chúng.
Các thể này là những biến thái đã nêu trong các bản dịch khác nhau, trình bày sự thực tế vi về tính khả phân vô hạn của hạt nguyên tử. [12] Đây là những lớp vỏ che án và biến dạng nhanh chóng khiến cho bản tính của linh hồn không hiển lộ ra được. Đây là những dáng vẻ bên ngoài ngăn trở sự chói rạng của Thượng Đế nội tâm. Nói theo nghĩa huyền môn thì chúng “che bóng trước vầng thái dương.”
Cho đến nay, bản chất cố hữu của những sinh linh cấu thành các thể năng động và linh hoạt này đã tỏ ra quá mạnh đối với linh hồn (tức là Đấng Christ ở nội tâm, theo lối nói của người Thiên Chúa giáo). Vì thế, quyền năng của linh hồn bị cản trở, không thể phát huy trọn vẹn. Sức mạnh bản năng của “hồn thú”, tức là năng lực của tập hợp các sinh linh cấu thành những lớp vỏ bọc hay các thể, giam hãm con người thật (chân nhân) và hạn chế quyền năng của chân nhân. Các sinh linh này là những đơn vị sống thông minh trên đường tiến hóa giáng hạ, đang hoạt động để tự biểu lộ. Tuy nhiên, vì mục tiêu của chúng khác với mục tiêu của Con người Nội tâm, nên ngăn trở sự tiến bộ và tự thức của chân nhân. Thế là chân nhân bị “vướng mắc trong các hoạt động của chúng” và phải tự giải thoát để thừa hưởng cái di sản bao gồm những quyền năng, sự an vui và chân phúc của mình. Chân nhân không thể đạt “mức thành tựu viên mãn của Đức Christ” (Eph. 4:13) nếu còn cảm nhận các biến thái kể trên, nếu chưa chuyển hóa các thể, nếu chưa làm lắng dịu các hoạt động và tình trạng bất an của chúng.
Người môn sinh cần lưu ý tính chất của phương diện tiến hoá nói trên, đang xảy ra đồng thời với cuộc tiến hoá của chính y. [13] Khi hiểu đúng vấn đề này, y mới nhận thức được những điều cần thực hành, và dấn bước trên giai đoạn đầu của nhà yogi.
Các hạ thể liên tục hoạt động không ngừng, không nghỉ, cứ mãi khoác lấy hình dạng của các dục vọng bốc đồng hay những hình tư tưởng mạnh mẽ. Chỉ khi kiểm soát được thói quen “khoác lấy hình dạng” vừa kể và làm lắng dịu sự xao động của phàm tính, thì chân ngã ngự trị ở nội tâm mới thoát khỏi tình trạng nô lệ, và áp đặt sự rung động của mình lên các biến thái của hạ thể.
Linh hồn thực hiện điều này bằng cách định trí − tức là tập trung cố gắng liên tục giữ vị thế của người quan sát, hay là người nhận thức và người tri kiến. Khi hành giả có thể làm được điều đó thì “cảnh tượng” thấp kém gồm những hình tư tưởng biến đổi mau lẹ và dục vọng phù du sẽ phai mờ đi. Bấy giờ y có thể thấy và giao tiếp với lĩnh vực của linh hồn, là phạm vi hiểu biết đích thực của linh hồn.
5. Có năm trạng thái trí tuệ, chịu chi phối bởi sự hoan lạc hay đau khổ, đau khổ nhiều hoặc không đau khổ.
Trong nguyên văn không có từ ngữ “hoan lạc”. Ý tưởng được chuyển đạt có tính cách chuyên môn hơn, và thường được dịch là “không đau khổ.” Tuy nhiên, hàm ý cho thấy sở dĩ nhận thức bị trở ngại là do các cặp đối cực. Câu kinh này đang xét đến chitta, tức là trí tuệ chất, với những biến thái của nó, ngày nào nó còn bị khống chế bởi các yếu tố bất định và năng hoạt. Ở đây chúng ta đang bàn về bản chất tâm thông hạ đẳng. [14] Thuật ngữ nội môn này chỉ về các tiến trình của hạ trí cũng như những phản ứng cảm dục hay tình cảm. Mọi hoạt động trong phàm tính đều là kết quả của kama-manas, hay là hạ trí có nhuốm màu xúc cảm, tức là dục vọng-ý muốn của phàm nhân. mục tiêu của hệ thống Raja Yoga là nhằm thay thế những thôi thúc này bằng tác động thông tuệ có suy xét của linh hồn hay là con người tinh thần. Linh hồn có bản tính bác ái, với động cơ phát triển tập thể, và hành động minh triết (hiểu theo nghĩa huyền môn). Do đó, hành giả phải vượt cao hơn các phản ứng gọi là đau khổ cũng như các phản ứng gọi là hoan lạc. Vì cả hai đều là hậu quả của việc đồng hóa với hình hài sắc tướng. Phải thay thế chúng bằng hạnh buông xả.
Điều cần lưu ý là cơ quan nội tại, hay thể trí, có năm biến thái. Manas, hay trí tuệ, nguyên khí khởi hoạt chitta, hay trí tuệ chất, là nguyên khí thứ năm. Cũng như vạn hữu trong thiên nhiên, nó có biểu hiện nhị nguyên:
1. Hạ trí cụ thể, biểu lộ thành hoạt động của thể trí.
2. Trí trừu tượng, biểu hiện thành trạng thái thấp nhất của chân nhân. [15]
Trong tiểu vũ trụ (con người), nhị nguyên này trở thành biến thái tam phân trên cõi trí. Ba biến thái này là hình ảnh thu nhỏ của cuộc biểu hiện đại vũ trụ. Đó là:
1. Nguyên tử trường tồn thượng trí, phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, tức là của linh hồn,
2. Chân thân, thể nguyên nhân, còn gọi là karana sarira,
3. Thể trí, trạng thái cao nhất của phàm ngãnhân.
Chính thể trínăm biến thái hay hoạt động, và là phản ánh hay tương ứng của nguyên khí thứ năm, khi nguyên khí này biểu hiện trên cảnh giới thứ năm, cõi trí. Các biến thái này là hình bóng cấp thấp của manas (hay là trí tuệ trong biểu hiện của tiểu vũ trụ). Trí tuệ này là phản ánh của ma- hat (trí tuệ vũ trụ), hay là trí tuệ biểu hiện trong đại vũ trụ. Đây là một bí nhiệm lớn lao, nhưng sẽ tự khai thị cho những ai đã khắc phục được năm biến thái của hạ trí. Đó là những người đã tự đồng nhất với chân ngã, qua việc buông xả phàm ngã. Nhờ thế, họ giải được bí nhiệm về “makara” và bước lên con đường của các vị Kumara. Đây là một ẩn ngôn dành cho các môn sinh cấp cao trong khoa Yoga này, liên quan đến vấn đề nội môn về makara mà H. P. Blavatsky đã gợi ý trong “Giáo lý Bí nhiệm.”
6. Các biến thái (hoạt động) này là sự hiểu biết đúng, hiểu biết không đúng, hoang tưởng, thụ động (ngủ yên) và trí nhớ.
Có một lĩnh vực hiểu biết rộng lớn mà người tri kiến phải nhận thức vào lúc này hay lúc khác. Các nhà tâm lý học nội môn nói chung đều thừa nhận rằng có ba cách hiểu:
1. Nhận thức trực tiếp qua con đường của các giác quan.
Chúng ta sử dụng mỗi giác quan để tiếp xúc với một phạm vi rung động đặc biệt của các biểu hiện hình thể.
2. Diễn dịch hay suy luận, do người nhận thức sử dụng năng lực suy luận của cái trí để hiểu những gì không thể biết trực tiếp [16]. Với người môn sinh huyền bí, đây là cách sử dụng Luật Tương ứng hay Luật Tương đồng.
3. Nhận thức trực tiếp của nhà yogi hay người tri kiến, tập trung vào tâm thức của chân ngã, hay chân nhân trên cảnh giới của mình. Hành giả thực hiện điều này nhờ sử dụng đúng thể trí với tính cách một cơ quan thị kiến và truyền đạt. Patanjali nói:
“Người tri kiến là sự hiểu biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng được hiển lộ.” Quyển II, Câu 20.
Diễn dịch không phải là phương pháp chắc chắn để đạt sự hiểu biết. Các biến thái kia chính yếu là do vận dụng sai khả năng tạo hình ảnh (trí tưởng tượng), do tính thụ động mà cái trí tự gây ra, một tình trạng nửa mê nửa tỉnh, và do sử dụng khả năng ghi nhớ để giữ lại các hình tư tưởng bên trong hào quang của thể trí. Giờ đây, mỗi biến thái được Patanjali bàn đến trong một câu riêng.
7. Cơ sở của hiểu biết đúng là nhận thức đúng, suy diễn đúng và chứng cứ đúng (hay là bằng chứng chính xác).
Một trong những nhận thức có tính cách mạng nhất mà người môn sinh huyền bí phải thấu đáo, là nhận định rằng thể trí là một phương tiện để đạt sự hiểu biết. Ở phương Tây, hầu như người ta cho rằng thể trí là cái bộ phận sử dụng kiến thức trong cơ cấu của con người. “Tiến trình suy đi ngẫm lại trong trí” để cố gắng giải quyết các vấn đề qua nỗ lực khó [17] nhọc của trí tuệ, rốt cuộc chẳng có vai trò gì trong việc khai mở linh hồn. Đó chỉ là giai đoạn sơ khởi, và phải được thay thế bằng phương pháp khác.
Người môn sinh Raja Yoga phải biết rằng thể trí có nhiệm vụ là một cơ quan nhận thức. Biết như thế, y mới hiểu đúng khoa học này. Tiến trình phải theo để áp dụng cho thể trí, có thể được mô tả khái quát như sau:
1. Chế ngự đúng cách các biến thái (hay hoạt động) của nguyên khí tư duy.
2. Ổn định thể trí và sau đó linh hồn sử dụng nó như một cơ quan thị kiến, hay giác quan thứ sáu, và là tổng hợp năm giác quan kia.
Kết quả: Hiểu biết đúng.
3. Sử dụng đúng khả năng nhận thức để thấy được thực chất của lĩnh vực hiểu biết mới mà hành giả đang giao tiếp.
4. Những điều mà hành giả nhận thức được diễn giải đúng nhờ sự chuẩn nhận sau đó của trực giác và lý trí.
5. Truyền đạt đúng những gì đã nhận thức cho bộ não trong thân xác. Chứng cứ của giác quan thứ sáu được diễn giải đúng, và bằng chứng này được truyền đạt một cách chính xác về mặt huyền môn.
Kết quả: Bộ não trong thân xác phản ứng đúng với sự hiểu biết được truyền đạt.
Khi nghiên cứu và theo đúng tiến trình này, ở cõi trần hành giả sẽ ngày càng ý thức được những vấn đề của linh hồn, và các bí nhiệm trong lĩnh vực linh hồn − tức là “Thiên giới”. Điều này liên quan đến cả tập thể, và hành giả thấu hiểu [18] thực tính của tâm thức tập thể. Ngay cả hiện nay, các qui tắc này cũng đã phần nào được dùng làm tiền đề cốt yếu để xem xét mọi bằng chứng chính xác trong thời sự thế giới. Khi chính các qui tắc này được áp dụng cho hoạt động nội tâm (cả cấp thấp và cấp cao) thì tình trạng rối rắm hiện nay sẽ trở nên đơn giản. Trong một cổ thư viết cho một cấp bậc đệ tử, có những lời khuyên như sau. Chúng cũng hữu ích cho tất cả các đệ tử dự bị và đệ tử nhập môn. Ở đây chỉ dịch ý chứ không theo sát ngôn từ.
“Khi nhìn ra ngoại giới, hành giả hãy thận trọng để cửa sổ mà y nhìn xuyên qua đó truyền đạt được ánh nắng mặt trời. Nếu dùng nó vào lúc rạng đông (khi khởi đầu cố gắng của mình. A. B.), thì y nên nhớ rằng vầng thái dương hãy còn chưa xuất hiện. Y không thể thấy các đường nét minh bạch. Những hình bóng thấp thoáng, mập mờ, những khoảng không âm u, và những vùng tối tăm vẫn còn làm cho tầm mắt y nhầm lẫn.”
Ở cuối câu này có một biểu tượng kỳ lạ khiến người đệ tửý nghĩ “Hãy giữ im lặng và dè dặt khi đưa ra ý kiến của mình.”
8. Hiểu biết không đúng là do nhận thức về hình tướng, chứ không dựa vào sự sống bên trong.
Câu này hơi khó chuyển ngữ. Nó có nghĩa là: Sự hiểu biết, suy diễn và quyết định dựa theo dáng vẻ bên ngoài và dựa vào hình thể mà một sinh linh thuộc về một giới tiến hóa trong thiên nhiên đang tự biểu lộ xuyên qua đó, (đối với nhà huyền bí học) là hiểu biết sai lạc và không đúng thực. [19] Vào giai đoạn này trong diễn trình tiến hóa, không có bất cứ loại hình thể nào tương xứng với (hoặc phát biểu đầy đủ) sự sống ẩn ngự bên trong. Không ai thực sự là cao đồ mà lại xét đoán sự phát biểu của thiên tính qua trạng thái thứ ba. Raja Yoga huấn luyện hành giả hoạt động trong trạng thái thứ hai của thiên tính nơi mình. Và qua trạng thái thứ hai này, y liên giao với “chân tính” ẩn tàng trong mọi hình thể. Chính “sự sống thiêng liêng” mới là thực tại cốt yếu, và cả chúng sinh đều đang phấn đấu để phát biểu chân tính này. Vì thế, mọi hiểu biết có được nhờ những quan năng cấp thấp, và dựa vào khía cạnh hình hài sắc tướng đều là hiểu biết sai lạc.
Chỉ linh hồn mới nhận thức đúng. Chỉ linh hồn mới có khả năng giao tiếp với mầm sống hay nguyên khí Bồ-đề (là nguyên khí Christ, nói theo thuật ngữ Thiên Chúa giáo) ở trong tâm của mọi nguyên tử. Đó có thể là nguyên tử vật chất mà các nhà khoa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Đó có thể là nguyên tử con người trong lò luyện của kinh nghiệm hằng ngày. Hoặc đó là nguyên tử hành tinh, bao hàm mọi giới của thiên nhiên trong vòng hạn định của nó. Đó cũng có thể là nguyên tử thái dương, tức là Thượng Đế biểu hiện qua một thái dương hệ. Vì Đức Christ “biết rõ chân tính của con người” nên Ngài mới có thể là một vị Cứu thế.
9. Hoang tưởng vốn dựa vào những hình ảnh không có thực.
Những hình ảnh này không có thực vì chúng do chính con người gợi lên, và tạo ra trong hào quang hạ trí của mình. Chúng được ý muốn hay dục vọng của họ làm cho sinh động [20], và sẽ tiêu tan khi người ấy chú tâm đến điều khác.
“Năng lượng đi theo tư tưởng” là một nguyên lý cơ bản của hệ thống Raja Yoga. Nguyên lý này thậm chí vẫn đúng với các hình ảnh hoang tưởng nói trên, gồm ba nhóm chính mà người môn sinh cần xem xét.
1. Những hình tư tưởng do chính y tự tạo, có đời sống phù du và tùy thuộc vào tính chất của những điều y ham muốn. Vì thế, chúng chẳng có tự tính là tốt hay xấu, cao thượng hay thấp hèn. Những khuynh hướng tồi tệ hoặc các hoài bão lý tưởng, cùng với mọi giai đoạn trung gian giữa các thái cực đó, đều có thể làm cho chúng trở nên sinh động. Người chí nguyện phải cảnh giác để khỏi hiểu nhầm các hình tư tưởng này là thực tại. một ví dụ ở đây là người ta thường dễ cho rằng mình đã thấy một trong các Huynh trưởng (hay là Chân sư minh triết), trong khi đó tất cả những gì họ đã nhận biết chỉ là hình tư tưởng về một vị trong các Ngài. Vì ước muốn là cha đẻ của tư tưởng, nên họ trở thành nạn nhân của lối nhận thức sai lầm này, mà Patanjali gọi là hoang tưởng.
2. Những hình tư tưởng được tạo bởi các chủng tộc, quốc gia, tập thể hay tổ chức. mọi loại hình tư tưởng tập thể (từ hình tư tưởng của hành tinh, đến hình tư tưởng của các nhóm tư tưởng gia) tất cả hợp thành “đại ảo tưởng.” Đây là một ẩn ý dành cho người tìm đạo chân thành.
3. Hình tư tưởng mà mỗi người tạo ra kể từ lần đầu tiên y nhập thế trong xác phàm, gọi là “Kẻ chặn cửa.” Được tạo ra [21] do phàm ngã chứ không do linh hồn, nó có tính cách vô thường và chỉ cố kết nhờ năng lượng thấp kém của người đó. Khi hành giả bắt đầu hoạt động với tính cách linh hồn thì “hình ảnh” nói trên mà y đã tạo qua “hoang tưởng” hay phản ứng đối với ảo tưởng của mình, sẽ bị tiêu tan do ảnh hưởng cao siêu. Nó không thực sự tồn tại khi chẳng còn điều gì trong y nuôi dưỡng nó. Nhận thức được điều này, y mới có thể tự mình thoát khỏi sự ràng buộc của hình tư tưởng nói trên.
Dù bề ngoài có vẻ ngắn gọn và đơn giản, đây là một trong những câu kinh có ý nghĩa thâm thúy nhất. Đây là đề tài nghiên cứu của các điểm đạo đồ cao cấp đang học hỏi bản chất tiến trình sáng tạo của hành tinh, và quan tâm đến việc xóa tan ảo cảm của hành tinh.
10. Thụ động (ngủ yên) là do tình trạng yên lặng của các vritti (tức là do sự không cảm nhận của các giác quan).
Ở đây có lẽ cần giải thích đôi điều về tính chất của các vritti. Vritti là hoạt động của thể trí tạo quan hệ hữu thức giữa giác quan được dùng và những gì được cảm nhận. Nếu không có biến thái nhất định của tiến trình trong thể trí hoặc sự khẳng định của ý thức tôi-là-tôi, thì dù các giác quan có thể hoạt động nhưng con người ở nội tâm vẫn không biết gì về chúng cả. Người ấy cho rằng chính y thấy, nếm hoặc nghe, rồi bèn nói “Tôi thấy, tôi nếm, tôi nghe.” Thực ra, chính hoạt động của các vritti (hay là những nhận thức trong trí về các giác quan) giúp y có thể nhận biết sự việc. Khi tự rút khỏi cảm nhận của giác quan năng động, [22] khi không còn sử dụng ý thức “hướng ngoại”, và rút ý thức ấy từ ngoại vi vào trung tâm, y có thể tạo nên một tình trạng thụ động. Đây là tình trạng thiếu ý thức, không phải là sự nhập định của nhà yogi. Đây cũng không phải là đạt được sự nhất tâm như người môn sinh yoga nhắm đến, mà là một dạng xuất thần. Sự yên lặng tự áp đặt này không những có hại cho sự thành tựu khoa yoga cao siêu nhất mà còn hết sức nguy hiểm trong nhiều trường hợp.
Cần lưu ý rằng mục tiêu của yoga là vận dụng trí tuệ đúng đắn và để cho nó hoạt động đúng cách. Thế nên, trạng thái gọi là “cái trí trống không” và sự cảm nhận thụ động, với những liên hệ giác quan bị cắt đứt hay suy yếu, thì không phải là thành phần của tiến trình này. Sự ngủ yên nêu ở đây không phải là làm cho cơ thể ngủ say, mà là khiến cho các vritti yên lặng. Đó là vô hiệu hóa những tiếp xúc của các giác quan mà không có giác quan thứ sáu hay thể trí thay thế cho hoạt động của chúng. Người ở trong tình trạng hôn thụy này dễ bị ảo giác, ảo tưởng, những ấn tượng sai lạc, và những điều ám ảnh.
Sự ngủ yên có nhiều loại, và chỉ có thể trình bày ngắn gọn trong phần luận giải này.
1. Giấc ngủ thông thường của thể xác, trong đó bộ não không đáp ứng với bất cứ sự tiếp xúc nào của giác quan;
2. Sự yên ngủ của các vritti, là những biến thái của tiến trình tư duy. Tiến trình này liên hệ mỗi người với môi trường chung quanh mình, qua các giác quan và thể trí; [23]
3. Sự yên ngủ của linh hồn, nói về mặt huyền môn, bao gồm phần kinh nghiệm của mỗi người kể từ khi người đó nhập thế lần đầu cho đến khi y “biết” được Thiên cơ, và cố gắng chỉnh hợp phàm nhân với bản tính và ý chí của con người tinh thần ở nội tâm;
4. Sự hôn thụy của người đồng tử thông thường, trong đó thể dĩ thái bị trục xuất một phần ra khỏi thể xác, và cũng bị tách rời khỏi thể cảm dục theo cách tương tự, tạo nên một tình trạng thực sự rất nguy hiểm;
5. Nhập định (samadhi), tức là sự yên nghỉ của nhà yogi, khi chân nhân hữu thức ra khỏi ba hạ thể một cách khoa học, để hoạt động ở cấp cao, nhằm chuẩn bị cho công việc phụng sự trên các cảnh giới thấp;
6. Sự yên nghỉ của các vị Nirmanakaya (Ứng thân), một tình trạng tập trung tinh thần cao độ và trụ vào thể atma hay thể tinh thần. Tập trung đến mức tâm thức hướng ngoại được thu hồi, chẳng những ra khỏi ba cảnh giới tiến hoá của nhân loại mà còn ra khỏi hai biểu lộ cấp dưới của Tam nguyên tinh thần. Vì công tác đặc thù và chuyên biệt, vị Ứng thân “yên ngủ” đối với mọi trạng thái, chỉ trừ cảnh giới thứ ba, tức là cõi của atma.
11. Trí nhớ là việc tiếp tục nắm giữ những gì đã biết.
Trí nhớ này liên quan đến nhiều nhóm nhận thức, dù là đang hoạt động hay ẩn tàng. Nó bao gồm một số yếu tố đã biết, có thể kể ra như sau:
1. Các hình tư tưởng về những gì hữu hình và thuộc ngoại cảnh [24] mà mỗi người đã biết ở cõi trần.
2. Những hình ảnh trí-cảm (thuộc hạ trí-dục vọng) về những ham muốn đã qua và sự thỏa mãn chúng. “Khả năng tạo hình ảnh” của người bình thường, vốn dựa vào ước vọng của y và sự thỏa mãn ước vọng đó. Tức là những nguyện vọng cao thượng hoặc ham muốn thấp hèn, có tính cách nâng cao hay đồi trụy, nói theo ý nghĩa hạ thấp nhân cách. Ví dụ như điều này cũng đúng với trí nhớ của kẻ tham ăn uống, có ẩn chứa hình ảnh bữa dạ tiệc linh đình. Hoặc cũng đúng với trí nhớ của vị thánh trong chính thống giáo khi vị đó hình dung một cõi thiên đường phúc lạc.
3. Hoạt động của trí nhớ do việc rèn luyện trí tuệ, do tích lũy những sự kiện đã thu thập, hoặc do kết quả của việc đọc sách hay giảng dạy. Loại trí nhớ này không hoàn toàn dựa vào những điều ham muốn, mà là do sự quan tâm, hứng thú của trí năng.
4. Mọi loại giao tiếptrí nhớ ghi nhận là xuất phát từ cảm thức của năm giác quan cấp thấp.
5. Những hình ảnh của thể trí, tiềm ẩn trong năng lực tạo ký ức, là toàn bộ kiến thức đã thu thập, và những nhận thức có được khi sử dụng thể trí đúng đắn với tính cách giác quan thứ sáu.
Hành giả cần buông bỏ tất cả các dạng năng lực ký ức này và không còn bám chấp vào chúng. Y cần nhận biết chúng là biến thái của cái trí, của nguyên khí tư duy. Vì thế, chúng là thành phần của bản chất trí-cảm thường thay đổi mà nhà yogi cần phải chế ngự trước khi y có thể vượt qua giới hạn và thoát khỏi mọi hoạt động của hạ thể. Đây là mục tiêu của y. [25]
6. Sau cùng (vì không cần kể thêm những chi tiết tế phân phức tạp), trí nhớ cũng bao gồm các kinh nghiệm tích lũy mà linh hồn đã thu thập qua nhiều kiếp luân hồi. Chúng được lưu trữ trong tâm thức của chân nhân.
12. Hành giả kiểm soát các biến thái này của cơ quan nội tại, tức là thể trí, qua cố gắng không mệt mỏi và bằng cách buông xả.
Câu này thật là dễ hiểu, nên chỉ cần giải thích ngắn gọn. Về mặt trí thức, ý nghĩa của nó thật rõ ràng, nhưng việc thực hành không phải dễ.
1. Dĩ nhiên, cơ quan nội tại nói trên chính là thể trí. Các nhà tư tưởng Tây phương cần lưu ý rằng nhà huyền bí học Đông phương không xem các cơ quan là thuộc về thể chất. Bởi vì thể xác không được xem là một nguyên khí, mà chỉ là kết quả hữu hình do hoạt động của các nguyên khí thực sự. Về mặt huyền môn, các cơ quan này là những trung tâm hoạt động như thể trí, các hạt nguyên tử trường tồn, và các luân xa trong những thể khác nhau. Các trung tâm này đều có những “hình bóng” hay hệ quả bên ngoài, biểu lộ thành các cơ quan trong thể xác. Ví dụ như bộ não là “hình bóng” hay là cơ quan ngoại tại của thể trí. Nhà nghiên cứu sẽ thấy rằng những gì chứa trong khoang não đều tương ứng với những khía cạnh cơ cấu của con người trên cõi trí. Cần chú trọng đến chi tiết vừa nêu, vì đây là manh mối cho những ai có khả năng ích dụng.
2. Cố gắng không mệt mỏi có nghĩa đen là thực hành liên tục, lặp lại không ngừng và kiên trì nỗ lực để áp dụng nhịp điệu [25] mới thay cho nhịp điệu cũ. Cố gắng này nhằm xóa bỏ những thói quen và biến thái thâm căn cố đế, nhờ thấm nhuần ấn tượng của linh hồn. Nhà yogi hay vị Chủ nhân là thành quả của sự bền lòng nhẫn nại. Thành tựu này nhờ cố gắng thường xuyên, liên tục, sáng suốt đánh giá được công việc cần làm và mục tiêu cần đạt, chứ không do nhiệt hứng nhất thời.
3. Buông xả là cách duy nhất để rốt cuộc khiến cho mọi nhận thức giác quan được thực hiện đúng chức năng. Khi hành giả không còn bám chấp vào những dạng hiểu biết thông qua các giác quan, thì chúng sẽ ngày càng mất đi sự ràng buộc đối với y. Rồi đến lúc y được giải thoát, làm chủ các giác quan và mọi giao tiếp qua giác quan. Đây không có nghĩa là khiến chúng bị suy yếu và vô dụng, mà làm cho chúng trở nên hữu ích cho y bất cứ khi nào và trong bao lâu tùy ý muốn. Y dùng chúng để gia tăng sự hữu hiệu của mình trong công tác phụng sự tập thể và nỗ lực chung.
13. Cố gắng không mệt mỏi là thường xuyên chuyên chú chế ngự các biến thái của thể trí.
Đây là một trong những câu khó dịch nhất để có thể trình bày thực nghĩa. Ý tưởng chính là chân nhân liên tục cố gắng chế ngự các biến thái hay biến động của cái trí và kiểm soát bản chất thấp kém, thường thay đổi của cái tâm, để biểu lộ trọn vẹn bản tính tinh thần của mình. Bằng cách đó, và chỉ bằng cách đó, chân nhân mới có thể sống cuộc đời của linh hồn hằng ngày trên cảnh giới hồng trần. Trong bản dịch của ông, Charles Johnston cố gắng nêu rõ ý nghĩa này với câu “sử dụng ý chí đúng đắn là liên tục trụ vào sự sống tinh thần.”
Ý tưởng này có nghĩa là chế ngự thể trí (được xem là giác quan thứ sáu) giống như chế ngự năm giác quan cấp thấp: khiến chúng ngưng các hoạt động hướng ngoại và không đáp [28] ứng với sự thu hút hay hấp dẫn trong lĩnh vực hiểu biết riêng của mỗi giác quan.
14. Khi đánh giá đúng mục tiêu cần đạt, và kiên trì cố gắng thực hành không gián đoạn, hành giả sẽ định trí vững vàng (chế ngự các vritti).
Tất cả các môn sinh Raja Yoga đều trước hết phải là những người sùng tín. Chỉ có tình thương thiết tha hướng về linh hồn và khao khát hiểu biết về linh hồn mới giúp người chí nguyện kiên trì, liên tục tiến đến mục tiêu. Hành giả cần có năng lực mạnh mẽ chế ngự các biến thái của thể trí và từ đó chế ngự trọn cả phàm tính của mình. Để thực hiện, trước y phải đánh giá đúng mục tiêu này − sự hợp nhất với linh hồn, rồi với Đại hồn và với tất cả các linh hồn khác. Y cũng phải xét đoán đúng lý do của sự hợp nhất, và thiết tha mong muốn (hay yêu thích) những kết quả cần thành đạt. Khi đã đánh giá đúng thực, và có khả năng tiến hành thắng phục và kiểm soát một cách không gián đoạn, thì bấy giờ người môn sinh mới ngày càng thực sự biết rõ thế nào là chế ngự các biến thái nội tâm.
15. Buông xả là không còn khao khát mọi đối tượng của ham muốn, dù thuộc về thế gian hay theo truyền thống, dù trong kiếp sống này hoặc kiếp sau.
Buông xả cũng có nghĩa là không thèm khát. Đây là thuật ngữ nội môn dùng đúng nhất vì nó bao gồm hai ý tưởng về nước. Nước là biểu tượng của đời sống vật chất, và cũng là biểu tượng của dục vọng, đặc tính của cõi cảm dục. Thế nên, nếu nêu thêm ý tưởng về con người là “cá” thì thật đầy đủ. Cũng như tất cả các biểu tượng khác, biểu tượng này có bảy ý nghĩa; hai ý nghĩa được dùng ở đây: [29]
1. Cá là biểu tượng của trạng thái Vishnu, nguyên khí Christ, phương diện thứ hai trong thiên tính, Đấng Christ lâm phàm. Biểu tượng này có thể chỉ về Đấng Christ cấp vũ trụ (tự biểu lộ xuyên qua một thái dương hệ) hoặc Đấng Christnhân, là vị cứu độ tiềm ẩn trong mỗi người. Đây chính là “Đấng Christ trong bạn, nguồn hy vọng vinh quang.” (Col. I: 27). Nếu nghiên cứu thêm về Hóa thân cá của Vishnu, người môn sinh sẽ học được nhiều điều.
2. Con cá bơi lội trong những vùng nước vật chất. một sự mở rộng của ý tưởng nói trên, nhưng được diễn đạt cụ thể, hiển nhiên hơn trong thời gian hiện nay: chỉ về con người với tính cách phàm nhân.
Khi hành giả không còn khao khát bất cứ điều gì; khi y không còn ý muốn tái sinh (lúc nào cũng do mong muốn “biểu lộ qua hình hài sắc tướng” hay là biểu hiện vật chất) thì bấy giờ y mới thực sự không còn thèm khát. Người đã giải thoát nay thản nhiên đối với mọi hình thể trong ba cõi thấp, và thực sự trở thành một vị cứu độ.
Trong Chí Tôn Ca có những lời khai ngộ sau đây: -
“Người đã hoạch đắc minh triết, hợp nhất trong thị kiến của linh hồn, từ bỏ thành quả của những công trình đã thực hiện, thoát khỏi sự ràng buộc của vòng luân hồi sinh tử, về đến gia hương nơi không hề có đau khổ.
“Khi linh hồn vượt qua khu rừng ảo tưởng, hành giả sẽ không còn bận tâm đến những gì sẽ được giảng dạy hay đã được giảng dạy.
“Khi từ bỏ giáo huấn theo truyền thống, linh hồn sẽ trụ vững trong thị kiến tinh thần, và hành giả hợp nhất với Linh hồn.” (Chí Tôn Ca II, 51, 52 và 53.)
J. H. Woods giải rõ điều này qua bản dịch lời bình của Veda Vyasa, như sau:
[30]
“Không ham muốn là ý thức rằng mình là Chủ nhân, khi hành giả không còn khao khát những điều mà y trông thấy hay được tiết lộ.”
“Trí tuệ chất (chitta) sẽ có ý thức là Chủ nhân . . . , nếu không còn khao khát những đối tượng thấy được, như người khác phái, thức ăn, thức uống hay quyền lực; nếu không còn thèm khát những mục tiêu được tiết lộ (trong kinh Vệ-đà) như đạt đến cõi Thiên đường hay trạng thái thoát trần, hoặc phân giải thành vật chất nguyên thủy − hoặc thậm chí khi tiếp xúc với các đối tượng phi thường hay bình thường nhưng nhờ siêu hóa nên vẫn ý thức được sự khiếm khuyết của chúng.”
Từ “truyền thống” không chỉ về những gì thường được xem là đối tượng của nhận thức giác quan. Từ này có hàm ý thế giới của các dạng hình tư tưởng, “khu rừng ảo tưởng” gồm những ý niệm của con người về Thượng Đế, cõi thiên đường hay địa ngục. Sự thăng hóa tất cả những điều này và biểu hiệu cao nhất của chúng trong tam giới là tâm thái “devachan” (cực lạc) vốn là mục tiêu của rất nhiều người. Tuy nhiên, kinh nghiệm cực lạc rốt cuộc phải được chuyển đổi thành nhận thức Niết-bàn. Cần lưu ý rằng thiên đường, đối tượng của những ước mong, hoài bão, vốn được thêu dệt bởi các giáo huấn cổ truyền, và mọi lối trình bày tín ngưỡng theo giáo điều. Đối với nhà huyền bí học, nó có nhiều ý nghĩa, và những điều dưới đây có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn:
1. Thiên đường (Heaven), tâm thái trên cõi cảm dục, sự cụ thể hóa những ước vọng của người chí nguyện mong muốn được nghỉ ngơi, bình an và hạnh phúc. Tâm thái này dựa vào “những hình thức hỉ lạc.” Đây là một tình trạng cảm thụ giác quan do mỗi người tự tạo cho mình, nên biến đổi tùy theo số người tham gia vào đó. Hành giả không nên bám chấp vào tâm thái thiên đường. Đó là sự hưởng thụ của phàm ngã, và của người [29] chỉ mất thân xác, trước khi ra khỏi thể cảm dục để tiếp tục lên cõi trí.
2. Cực lạc (Devachan), tâm thái trên cõi trílinh hồn bước vào đó khi bỏ thể cảm dục và hoạt động trong thể trí, hay chịu sự giới hạn của thể trí. Tâm thái này cao cấp hơn thiên đường thông thường, và niềm phúc lạc hưởng thụ có tính cách trí tuệ hơn ý nghĩa bình thường của nó. Tuy nhiên, tâm thái này vẫn còn thuộc cõi giới sắc tướng thấp kém, và hành giả sẽ vượt qua khi thực hành buông xả.
3. Niết-bàn, mức thành đạt của bậc toàn thiện khi không còn bị các khuynh hướng nghiệp quả của mình “ràng buộc” vào ba cõi thấp. Vị này thể nghiệm Niết-bàn sau khi đã:
a. Trải qua những cuộc điểm đạo nhất định,
b. Tự giải thoát ra khỏi tam giới,
c. Tổ chức, kiến tạo thể Bồ-đề.
Nói đúng ra, những vị trọn lành đã hoàn toàn buông xả nhưng chọn việc tự hy sinh và ở lại với những người con nhân loại để phụng sự và trợ giúp họ, thì không thực sự nhập Niết- bàn. Đây là những vị Chúa Từ bi, đã nguyện “đồng cam cộng khổ” với mọi người. Các Ngài tự nguyện chịu chi phối bởi một số điều kiện tương tự như (dù không hoàn toàn giống với) các điều kiện đang chi phối những người vẫn còn bám víu vào thế giới hình hài sắc tướng.
16. Khi đã hoàn toàn buông xả, hành giả thoát khỏi các đặc tính của vật chất hay các gunahiểu biết chính xác về con người tinh thần.
Khi xem xét câu này, người môn sinh cần lưu ý rằng:
1. Con người tinh thần là chân thần,
2. Khi thành tựu viên mãn, diễn trình tiến hóa không những giúp linh hồn thoát khỏi các giới hạn của tam giới, mà [32] còn giải thoát con người tinh thần khỏi mọi hạn chế, ngay cả sự hạn chế của chính linh hồn. mục tiêu là sắc tướng hay là thoát khỏi cuộc biểu hiện hữu hình ở ngoại giới. Người môn sinh sẽ hiểu rõ thực nghĩa của điều vừa kể khi nhớ rằng tinh thần và vật chất vốn là một trong cuộc biểu hiện. Nói cách khác, bảy cảnh giới của chúng ta là bảy cõi phụ của cảnh giới thấp nhất cấp vũ trụ, cảnh giới hồng trần vũ trụ. Vì thế, chỉ khi một thái dương hệ đến “thời điểm cáo chung” hay tan rã, thì bấy giờ mới thực sự có tình trạng sắc tướng.
3. Các guna là ba đặc tính của vật chất. Ba hiệu ứng này phát sinh khi năng lượng của đại vũ trụ, là sự sống của Thượng Đế vốn tồn tại độc lập với việc khoác lấy hình thể, làm phát động hay truyền năng lượng cho vật chất nguyên thủy. Ba guna gồm có:
1. Sattva Năng lượng của Tinh thần. Đức Chúa Cha tiết điệu hay rung động hài hòa
Chân thần
2. Rajas Năng lượng của Linh hồn Đức Chúa Con hoạt động
Chân ngã
3. Tamas Năng lượng của Vật chất Chúa Thánh thần. quán tính.
Phàm ngã
Ba guna vừa kể tương ứng với đặc tính của mỗi một trong ba trạng thái biểu lộ Sự Sống duy nhất.
Trong thiên luận giải vắn gọn này, đương nhiên không thể nào bàn rộng về vấn đề nói trên đến mức khả quan. Thế nhưng, vẫn khả dĩ có được chút ý niệm về vấn đề khi áp dụng sự hoàn toàn buông xả vào đại vũ trụ hay tiểu vũ trụ. Chân thần (của Thượng Đế hay của con người) đã sử dụng cả ba guna; đã thu đạt đầy đủ kinh nghiệm qua việc sử dụng hình hài, sắc tướng; đã phát triển tâm thức, nhận thức hay ý thức qua sự gắn bó với một đối tượng hay hình [33] thể; đã dùng tất cả các nguồn lực, và nay không còn sử dụng hay còn cần đến chúng nữa. Vì thế, Ngài trở nên tự do đối với các guna. Ngài thoát khỏi tình trạng khoác lấy hình thể do bám chấp, và nhập vào một trạng thái tâm thức mới mẻ mà chúng ta chưa thể nào suy đoán.
17. Hành giả ý thức được đối tượng bằng cách chú tâm vào bốn khía cạnh của nó: hình thể, qua việc khảo sát; đặc tính (hay guna), qua việc tham cứu có phân biện; mục đích, qua nguồn hứng khởi (hay phúc lạc); và linh hồn qua sự đồng nhất.
Thế nên, chúng ta thấy rõ rằng câu cách ngôn “người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó” (Prov. 23: 7) vốn dựa vào sự kiện thực tế nội môn. mọi hình thể hay sắc tướng đều có một linh hồn. Linh hồn hay nguyên khí hữu thức ấy vốn đồng nhất với cái thức trong hình hài con người. Đây là đồng nhất trong bản tính, dù lại khác biệt về phạm vi hay mức độ phát triển. Điều này cũng đúng với các Chân linh cao cả hay những Đấng siêu nhân mà chúng ta “sống, di chuyển và hiện tồn” trong các Ngài (Acts 17: 28), và ngưỡng vọng trạng thái phát triển của các Ngài.
Khi người chí nguyện thận trọng chọn lựa “các đối tượng” để tham thiền, y tự tạo một cái thang để tiến lên qua các đối tượng đó, nhờ thế mà rốt cuộc đạt đến cái phi đối tượng. Bấy giờ thể trí của y ngày càng có tâm thái thiền của linh hồn. Tương tự, bộ não cũng trở nên ngày càng phục tùng thể trí giống như thể trí tuân phục linh hồn. Bằng cách này, phàm nhân dần dần đồng nhất với con người tinh thần, là chân thần toàn tri và vô sở bất tại. Hành giả đạt được tâm thái thiền nói trên qua tiến trình gồm bốn bước: —
1. Tham thiền về tính chất của một hình thể. Khi suy [35] ngẫm về hình thể đó, y nhận thấy rằng nó chỉ là biểu tượng của một thực tại ẩn bên trong. Toàn bộ thế giới khách quan, hữu hình của chúng ta là sự tích tập của hình hài, sắc tướng thuộc loại nào đó (con người, các loài hạ đẳng, và các siêu nhân), biểu lộ sự sống của vô số chúng sinh hữu tình.
2. Tham thiền về đặc tính của một hình thể, để đánh giá được năng lượng nội tại của nó. Cần lưu ý rằng năng lượng của một vật thể có thể được xem là màu sắc của nó. Vì thế, lời của Patanjali trong Quyển IV, Câu 17 có thể soi sáng và giải thích vấn đề trong điểm thứ hai này. Đây gọi là “sự tham cứu có phân biện”, và qua đó người môn sinh biết được năng lượng nào nơi chính mình là một với đối tượng mà y đang suy ngẫm.
3. Tham thiền về mục đích của một hình thể. Bước này xem xét cái ý niệm ẩn sau hoặc ẩn trong một thể biểu hiệnnăng lượng mà nó phát lộ. Nhận thức vừa kể giúp hành giả dần dần biết được phần nào trong Thiên cơ hay mục đích của Toàn thể là yếu tố thôi thúc hình thể ấy hoạt động. Bằng cách này, thông qua một thành phần, hành giả giao tiếp với Toàn thể, và mở rộng tâm thức, với niềm an lạc, hoan hỉ. Trạng thái phúc lạc bao giờ cũng kèm theo nhận thức về sự hợp nhất của một thành phần với Toàn thể. Khi suy ngẫm về tattva, tức là các năng lượng hay nguyên khí, hoặc suy ngẫm về tanmatra hay là các yếu tố cấu thành tinh thần-vật chất, rốt cuộc hành giả biết được mục đích của Thiên cơ dành cho cuộc biểu hiện tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Sự hiểu biết này kèm theo niềm an lạc.
Ba điều nói trên tương ứng với ba trạng thái, tinh thần, linh hồnthân xác, mang lại ánh sáng khai ngộ cho người môn sinh quan tâm nghiên cứu.
4. Tham thiền về linh hồn. Suy ngẫm về Sự Sống nội tại [36] sử dụng hình thể và cung cấp năng lượng cho hình thể đó đi vào hoạt động, và hành hóa đúng theo Thiên cơ. Linh hồn này là một với tất cả các linh hồn khác và là một với Đại hồn, cùng phụng sự Thiên cơ duy nhất và có ý thức tập thể.
Thế là, qua bốn giai đoạn tham thiền về một đối tượng, hành giả đạt được mục tiêu là biết được linh hồn và các quyền năng của linh hồn. Y đồng nhất một cách hữu thức với thực tại duy nhất, và điều này xảy ra trong bộ não thân xác của y. Y tìm thấy sự thực đó nơi chính mình và vốn là sự thực ẩn trong mọi hình thể và trong mọi giới tiến hóa của thiên nhiên. Khi đã biết được chính linh hồn, rốt cuộc y biết được Đại hồn và hợp nhất với Đại hồn.
18. Hành giả đạt được thêm một giai đoạn của samadhi khi nhờ chuyên tâm mà khiến cho hoạt động bên ngoài trở nên yên lặng. Trong giai đoạn này, chitta chỉ ứng đáp với các ấn tượng nội tại thâm sâu.
Từ “samadhi” (nhập định) được giải thích theo nhiều lối khác nhau, và áp dụng cho những giai đoạn thành tựu khác nhau của nhà yogi. Điều này khiến cho người môn sinh trình độ trung bình thấy phần nào khó khăn khi nghiên cứu những bản luận giải khác nhau. Có lẽ một trong những cách dễ nhất để nhận thức ý nghĩa của từ này là lưu ý rằng từ “sama” chỉ về khả năng của trí tuệ chất (hay chitta) có thể khoác lấy hình thể hay tự biến thái theo các ấn tượng từ bên ngoài. Các ấn tượng ngoại lai này đến với thể trí qua các giác quan. Khi người chí nguyện thực hành yoga có thể kiểm soát được các cơ quan dùng cho nhận thức giác quan của mình, để chúng không còn truyền đến thể trí các phản ứng của chúng đối với những gì cảm nhận được, thì có hai điều xảy ra:
a. Bộ não của thân xác trở nên yên lặng,
b. Trí tuệ chất hay thể trí, chitta, không còn khoác lấy những biến thái khác nhau và cũng trở nên yên lặng.
Đây là một trong những giai đoạn đầu của samadhi, nhưng không phải là trình độ samadhi của bậc hoàn thiện. Đây là một tình trạng hoạt động cường liệt ở bên trong thay vì bên ngoài. Đây là tâm thái tập trung, chuyên nhất. Tuy nhiên, hành giả ứng đáp với các ấn tượng từ những lĩnh vực tế vi hơn, và ứng đáp với các biến thái phát sinh từ những nhận thức còn thâm sâu hơn nữa. Y ý thức một lĩnh vực hiểu biết mới, dù vẫn chưa biết đó là gì. Y xác định rằng có một thế giới không thể biết được qua trung gian của năm giác quan, nhưng sẽ hiển lộ khi dùng trí tuệ đúng cách. Y hiểu thâm nghĩa khả dĩ có của một câu kinh sau này do Charles Johnston chuyển dịch, phát biểu ý tưởng nói trên qua ngôn từ đặc biệt rõ ràng:
“Người tri kiến chính là cái thấy thuần khiết . . . y nhìn ra xuyên qua lớp áo là cái trí.” (Quyển II. Câu 20.)
Câu kinh trước bàn về những gì có thể gọi là tham thiền hữu chủng hay là tham thiền về một đối tượng. Câu này nói lên giai đoạn kế tiếp, tham thiền vô chủng, tức là không có điều gì mà bộ não của thân xác có thể nhận biết như một đối tượng.
Ở đây nên kể ra sáu giai đoạn của tham thiền được Patanjali đề cập đến. Chúng cho ta manh mối của toàn bộ tiến trình khai mở được nói đến trong sách này:
1. Nguyện vọng tinh thần,
2. Tập trung,
3. Tham thiền,
4. Nhập định,
5. Khai ngộ,
6. Linh cảm.
Ở đây chúng ta thấy rằng người môn sinh bắt đầu với nguyện vọng hướng đến những gì ở ngoài phạm vi hiểu biết của mình và kết thúc khi được linh cảm bởi những gì y đã tìm biết. Tập trung (hay là chuyên tâm) dẫn đến tham thiền và tham thiền bừng nở trong trạng thái nhập định hay chiêm ngưỡng.
19. Trạng thái samadhi vừa mô tả vẫn chưa vượt khỏi phạm vi của thế giới hiện tượng. Trạng thái này chưa vượt qua giới Thiên thần và những gì liên quan đến thế giới cụ thể.
Cần lưu ý rằng những kết quả đạt được trong các tiến trình mà các câu mười bảy và mười tám đã bàn, chỉ đưa hành giả đến ranh giới lĩnh vực của linh hồn. Chúng chỉ đưa y đến phạm vi hiểu biết mới mà nay y đã ý thức được. Y vẫn còn bị giam hãm trong tam giới. Tất cả những gì y đã thực hiện thành công [35] là làm yên lặng các biến thái của thể trí. Nhờ đó mà lần đầu tiên (ở cõi trần và trong bộ não của thân xác) y nhận biết được những gì ở ngoài phạm vi của tam giới − là linh hồn, phạm vi thị kiến và hiểu biết của linh hồn. Y còn phải tăng cường mối liên kết với linh hồn (đề cập trong các câu từ hai mươi ba đến hai mươi tám). Và sau khi đã chuyển tâm thức vào lĩnh vực của chân thần, y phải bắt đầu làm việc từ vị thế hay trình độ đó.
Ý tưởng nói trên được một số dịch giả gọi là tình trạng mà hành giả ý thức được “đám mây mang những điều khả tri.” Đám mây này chưa ngưng tụ đúng mức để cho cơn mưa hiểu biết tuôn đổ từ những cảnh giới cao siêu xuống cõi trần, hoặc để bộ não của thân xác có thể biết được “những điều khả tri” vừa kể. Đám mây là kết quả của sự tập trung chuyên chú và làm cho các biến thái cấp thấp trở nên yên lặng. Thế nhưng, [39] nếu linh hồn hay vị Chủ nhân chưa hoàn toàn chế ngự thì sự hiểu biết của linh hồn chưa thể tuôn đổ vào não bộ trong thân xác qua thể trí, là giác quan thứ sáu.
Yoga là một khoa học thực sự. Chỉ khi người môn sinh tiếp cận khoa này theo những giai đoạn đúng với phương pháp khoa học, y mới đạt được sự nhận thức hay trạng thái samadhi đích thực.
20. Những nhà yogi khác đạt được samadhiphân biệt được tinh thần thuần khiết qua sự tin tưởng, kế đến là nỗ lực, ghi nhớ, tham thiền và nhận thức đúng.
Trong những nhóm nhà yogi mà trước đây chúng ta đã bàn, sự nhận thức chỉ giới hạn trong thế giới hiện tượng. Cần hiểu rằng đó chỉ là ba cảnh giới của nhận thức hạ trí, nhận thức cảm dục, và cảm nhận của các giác quan trong thể xác. Họ tiếp xúc và biết được những năng lượng mang lại sự cụ thể hóa và động lực của tư tưởng tạo nên những hiệu quả ở cõi trần. Tuy nhiên, ở đây nhà yogi bước vào những lĩnh vực có tính tinh thần tế vi hơn, và ý thức được những gì mà chính chân ngã hiểu biết và nhận thức. Y đi vào thế giới của các nguyên nhân. Có thể xem nhóm thứ nhất là gồm những người đang dấn bước trên đường đệ tử. Giai đoạn này bao gồm thời điểm họ bước vào Con đường Dự bị cho đến khi được Điểm đạo lần thứ hai. Nhóm thứ hai là các đệ tử trình độ cao hơn. Sau khi đã chế ngự và siêu hóa trọn cả phàm tính, họ có thể giao tiếp với chân thần, tinh thần hay là “Cha ở trên Trời” và biết được những điều chân thần nhận thức.
Loại nhận thức thứ nhất đến với những người đang trong tiến trình tổng hợp sáu luân xa thấp vào luân xa đầu. Họ thực hiện điều này bằng cách siêu hóa bốn luân xa thấp [40] vào ba luân xa cao hơn, và sau đó tổng hợp luân xa tim và luân xa cổ họng vào luân xa đầu. Nhờ hiểu biết định luật, nhóm thứ hai làm việc với tất cả các luân xa đã thanh luyện và siêu hóa. Họ biết cách đạt được samadhi thực sự hay là trạng thái trừu tượng hóa của nội môn, nhờ khả năng thu năng lượng vào hoa sen ngàn cánh ở đầu. Từ đó, họ rút tâm thức qua hai thể tinh vi hơn, cho đến khi hoàn toàn tập trung và chuyên chú trong thể nguyên nhân, là karana sarira, hay là hoa sen chân ngã. Patanjali cho biết hành giả đạt đến trình độ này qua năm giai đoạn dưới đây. Người môn sinh cần ghi nhớ rằng các giai đoạn này vốn liên quan đến hoạt động của linh hồn, đến nhận thức của chân ngã, chứ không hề liên quan đến các phản ứng của phàm nhân và của não bộ trong thân xác.
1. Tin tưởng. Trên cảnh giới của mình, linh hồn thực hiện một điều tương tự như việc người chí nguyện tin tưởng vào linh hồn hay tâm thức Christ. Chỉ duy trong trường hợp này mục tiêu là nhận thức được những gì mà tâm thức Christ hay linh hồn tìm cách hiển lộ, là tinh thần hay là Cha ở trên Trời. Trước hết, người đệ tử đến mức nhận thức được vị đại diện cho Chân như, Phật tính hay Thiên tính nơi mình. Vị đại diện này còn được gọi là thần thái dương, chân ngã hay linh hồn. Đây là thành tựu của nhóm trước. Về sau, hành giả giao tiếp với Chân như, là tinh thần thuần khiết, là đấng tuyệt đối, là Cha của Sự Sống. Nhóm điểm đạo đồ này đã biết rõ thế nào là chân ngã và phi-ngã. Giờ đây, hình ảnh của phi-ngã mờ dần, rồi tan biến, chỉ còn tinh thần ngự trị. Niềm tin bao giờ cũng là giai đoạn đầu. Bước đầu là học lý thuyết, sau đó là thực nghiệm, và cuối cùng là nhận thức chân lý.
2. Nỗ lực. Khi đã thấu đáo phần lý thuyết, khi đã nhận thức được mục tiêu, thì tiếp theo là nỗ lực − đó là hoạt động [41] đúng đắn với nỗ lực đúng cách để tiến đến gần mục tiêu hơn, và biến lý thuyết thành sự thực.
3. Ghi nhớ, hay chánh niệm. Đây là một yếu tố thú vị trong tiến trình vì nó bao gồm việc thải trừ tạp niệm, hay là loại khỏi tâm thức của chân ngã tất cả những hình thái mà từ trước đến nay đã che án Sự thực. Những hình thái này hoặc là do mỗi người tự chọn hay tự tạo. Bước này dẫn đến sự thấu hiểu đích thực hay là khả năng ghi nhận đúng những gì mà linh hồn đã nhận thức, và năng lực truyền đạt nhận thức đúng đắn này đến não bộ của phàm nhân. Đây là sự ghi nhớ những điều vừa kể. Đây không phải là hồi tưởng về những điều trong quá khứ. Nó bao gồm trình độ nhận thức và việc chuyển di sự nhận thức đó đến não bộ. Bấy giờ não có nhiệm vụ ghi nhận, và rốt cuộc hành giả có thể nhớ lại nhận thức đó tùy ý muốn.
4. Tham thiền. Hành giả cần suy ngẫm về những gì đã thấy và ghi nhận trong não bộ mà vốn đã phát xuất từ linh hồn. Bằng cách đó, y hòa nhập chúng vào trong đời sống. Chỉ nhờ cố gắng tham thiền này mà những nhận thức từ linh hồn mới trở thành sự thực đối với phàm nhân ở cõi trần. Thế nên, trình độ tham thiền này rất cao siêu, vì nó theo sau giai đoạn chiêm ngưỡng, và là sự tham thiền của linh hồn với mục tiêu soi sáng vận cụ của mình ở cõi trần.
5. Nhận thức đúng. Sự thể nghiệm của linh hồn, và hiểu biết của tinh thần hay Chân thần bắt đầu thâm nhập vào não bộ của bậc Trọn lành hay vị Chân sư. Ngài biết được Thiên cơ theo thực nghĩa ở cấp cao nhất và thấu đáo mô hình nguyên thủy của Thiên cơ. Có thể nói rằng chính những nhà yogi này đã đạt đến trình độ có thể thấu hiểu Thiên cơ hiện có trong trí tuệ của “Đấng Đại kiến tạo Vũ trụ.” Nay họ có thể hòa hợp với Ngài. Nhóm các nhà yogi nói trên chỉ đạt đến [42] trình độ có thể nghiên cứu các chi tiết của Thiên cơ vĩ đại và hợp tác một cách thông tuệ để xây dựng Ngôi đền của Chúa. Sự nhận thức được đề cập ở đây có tính cách cao siêu đến đỗi hầu như chỉ những đệ tử cấp cao mới hiểu được. Thế nhưng, nếu đánh giá được các giai đoạn và đẳng cấp này, người chí nguyện tìm đạo không những thấy được vấn đề khó khăn và vị trí của mình hiện nay, mà còn cảm nhận được sự mỹ lệ của Thiên cơ.
21. Những ai có ý chí mạnh mẽ và linh hoạt sẽ mau đạt được giai đoạn (tâm thức tinh thần) này.
Đây là điều đương nhiên. Vì khi ý chí, phản ánh trong thể trí, trở nên yếu tố nổi bật trong người đệ tử, thì bấy giờ y đã đánh thức được phương diện đó nơi chính mình. Nó vốn hòa hợp với trạng thái ý chí của Thượng Đế, là trạng thái thứ nhất của Đấng Cha lành. Sự liên giao đi theo đường hướng sau đây:
1. Chân thần hay là Cha ở trên Trời, trạng thái ý chí,
2. Atma hay ý chí tinh thần, trạng thái cao nhất của linh hồn,
3. Thể trí hay ý chí thông minh, trạng thái cao nhất của phàm ngã,
4. Luân xa đầu.
Đây là con đường của người thực hành Raja Yoga. Nhờ đó họ nhận thức được tinh thần và tiến đến trình độ của bậc hoàn thiện. Còn có một đường hướng khác nữa là:
1. Chân thần,
2. Trạng thái Chúa Con hay trạng thái Christ,
3. Trạng thái bác ái, hay trạng thái minh triết,
4. Bồ-đề hay tình thương tinh thần, trạng thái thứ hai của linh hồn, [43]
5. Thể tình cảm, trạng thái thứ hai của phàm ngã,
6. Luân xa tim.
Đây là con đường của người thực hành Bhakti Yoga, người sùng tín và vị thánh. Qua đó họ biết được linh hồn và đạt đến trình độ thánh thiện. Con đường thứ nhất giống dân Aryan đang theo đuổi. Trong khi đường hướng thứ hai là con đường thành đạt dành cho giống dân Atlantis.
Người môn sinh nghiên cứu kỹ bảng liệt kê nói trên sẽ nhận được nhiều ánh sáng. Khi học về con đường Điểm đạo, chúng ta sẽ thấy rõ rằng người ứng viên nhất thiết phải có ý chí mạnh mẽ và năng nổ. Chỉ ý chí đanh thép, sự bền lòng kiên định, cường mãnh, không hề lay chuyển, mới giúp người chí nguyện tiến lên trên con đường này và bước vào ánh sáng thanh thiên, bạch nhật.
22. Việc sử dụng ý chí cũng có nhiều mức độ khác nhau, có thể mãnh liệt, vừa phải hay nhẹ nhàng. Để đạt tâm thức tinh thần đích thực, hãy còn có một con đường khác nữa.
Ở đây nên giải rõ hai con đường giúp mọi người đạt đến mục tiêu, − hiểu biết sự sống tinh thần, và giải thoát. Đó là con đường Yoga mà Patanjali đã phác thảo. Trên con đường này, hành giả sử dụng ý chí, phân biện giữa chân ngã và phi-ngã, và thấu đạt đến tinh thần thuần khiết. Đây là con đường dành cho giống dân thứ năm hay là dân Aryan. Đây cũng là con đường dành cho những ai có chức năng phát triển nguyên khí thứ năm hay trí tuệ, và nhờ thế mà thực sự trở thành những người con của trí tuệ. Chính họ trở thành ngôi sao năm cánh, ngôi sao của bậc trọn lành, trong nguồn vinh quang viên mãn. Đi theo con đường này, hành giả chế ngự được năm cảnh giới tiến hóa của nhân loại và siêu nhân loại. [44] Bấy giờ, atma (hay là ý chí thiêng liêng, trạng thái thứ nhất) hiển lộ qua trung gian của bồ-đề (hay tâm thức Christ), dùng manas tức là thượng trí làm phương tiện.
Con đường kia là con đường hoàn toàn sùng tín. Với lòng sùng kính mạnh mẽ và hiến dâng trọn vẹn, người chí nguyện dần dần biết được thực tính của tinh thần. Đây là con đường ít trở ngại nhất dành cho phần đông nhân loại, và đã là phương pháp thành đạt dành cho giống dân có trước giống dân Aryan. Phương pháp này hầu như không kể đến nguyên khí thứ năm. Đó là sự thăng hoa của nhận thức giác quan, là con đường của xúc cảm mãnh liệt. Theo đúng phương pháp này, hành giả chế ngự được bốn cảnh giới và làm hiển lộ bồ-đề (hay tâm thức Christ). Người môn sinh cần phân biệt rõ giữa hai con đường này, và lưu ý rằng huyền bí gia của chánh đạo có khả năng hòa hợp cả hai. Nếu trong kiếp sống này y đi theo con đường Raja Yoga với lòng nhiệt thành và tình thương, thì đó là vì trong những kiếp khác y đã dấn bước trên con đường sùng tín, và đã tìm thấy Đấng Christ, tức là Bồ-đề tâm nơi chính mình. Trong kiếp sống này, y tóm lược lại kinh nghiệm đã có, đồng thời sử dụng ý chí mạnh mẽ và kiểm soát trí tuệ. Rốt cuộc, qua cố gắng đó y được khải thị về tinh thần thuần khiết hay là Cha ở trên Trời.
Các nhà luận giải câu kinh này nói rằng những người thực hành theo phương pháp Raja Yoga và sử dụng ý chí được chia thành ba nhóm chính. Các nhóm này còn được chia thành chín nhóm tương ứng. Có những người sử dụng ý chí mạnh mẽ đến mức họ đạt được kết quả hết sức nhanh chóng. Tuy nhiên, cố gắng như thế có kèm theo những nguy cơ và nguy hiểm. Đó là nguy cơ phát triển không đồng đều, và phủ nhận vai trò của cái tâm trong bản tính của hành giả, cùng [46] với một số hủy diệt mà về sau cần phải hàn gắn. Kế đến là những người chí nguyện tiến bước không mau lẹ như trên, và tiêu biểu cho trung đạo. Họ tiến hành đều đặn, liên tục với mức độ vừa phải. Họ được gọi là “chuyên gia có phân biện” vì không cho phép bất cứ sự thái quá nào. Người trong thời kỳ hiện nay nên áp dụng phương pháp của họ. Cũng có những linh hồn dịu dàng, với đặc trưng kiên trì, điềm tĩnh. Họ tiến tới đều đều, liên tục, không lệch hướng, và rốt cuộc đạt đến mục tiêu. Họ có đặc điểm rất kiên định, nhưng tiến độ chậm chạp. Họ là “con rùa” trên Đường Đạo, trong khi nhóm đầu được xem là “thỏ.”
Trong một số cổ thư có minh họa chi tiết về ba nhóm người tìm đạo nói trên theo ba biểu tượng dưới đây:
1. Nhóm có ý chí mạnh được gọi là dê. Những người chí nguyện loại này thường đầu thai dưới cung ma kết,
2. Nhóm có ý chí vừa phải được gọi là cá. Nhiều người trong họ ra đời dưới cung Song ngư,
3. Nhóm có ý chí yếu hay chậm chạp được gọi là cua. Họ thường chào đời dưới cung Cự giải.
Ba nhóm nói trên còn bao gồm những nhóm phụ khác nhau. Điều thú vị là trong văn khố của các Đấng Nghiệp quả Tinh quân có ghi đa số những người thuộc ba nhóm vừa kể đều đi vào cung Thiên xứng (hay là cái cân) khi gần đến cuối chu kỳ cố gắng của mình. Nhập thế dưới thiên tượng này, họ thận trọng cân bằng các cặp đối cực. Họ làm cho sự phát triển phiến diện của mình trở nên cân đối. Họ sửa đổi những gì không đồng đều trong cố gắng của mình từ trước đến nay, và bắt đầu “áp dụng một nhịp độ thăng bằng.” Thường thì sau đó họ đi vào thiên tượng Bảo bình và trở thành người mang bình nước, phải đội “trên đầu bình nước của sự sống.” Do đó, họ phải điều chỉnh tốc độ khi nhanh chóng leo lên đỉnh núi [47] điểm đạo, nếu không “nước sẽ bị sánh ra ngoài và bình sẽ bị vỡ.” mặt khác, cũng bởi nước này là nhằm giải khát cho đại chúng, nên họ phải tiến bước nhanh hơn vì nhu cầu quá lớn. Thế là, “người đi đầu trở thành người cuối, và người ở cuối lại tiến lên hàng đầu.” Thỏ và rùa cùng gặp nhau tại mục tiêu.
23. Hành giả biết được Ishvara khi hết lòng sùng kính Ishvara .
Ishvara là người con biểu hiện thông qua mặt trời. Đây là trạng thái đại vũ trụ. Ishvara là con của Thượng Đế, là Đấng Christ vũ trụ, chiếu sáng rực rỡ trong tâm của mỗi chúng ta. Từ “tâm” được dùng ở đây theo hàm nghĩa huyền môn. Những phần tương ứng sau đây có thể soi sáng vấn đề và cần nghiên cứu kỹ.
Trạng thái Đặc tính Luân xa Đại vũ trụ
Tinh thần. Đức Chúa Cha Chân thần Ý chí Đầu ... mặt trời tinh thần trung ương.
Linh hồn. Đức Chúa Con Chân ngã Bác ái. Tim Tâm của mặt trời.
Thân xác. Chúa Thánh Phàm ngã Thông tuệ Linh hoạt Cổ họng mặt trời vật chất.

Ishvaratrạng thái thứ hai. Vì thế, thực nghĩa của câu này là khi hành giả hết lòng sùng kính, và yêu thương Ishvara, Đấng Christ biểu hiện, thì y có thể giao tiếp hay biết được tâm thức Christ hay linh hồn. IshvaraThượng Đế ngự trong tâm của mỗi người con của Thượng Đế. Ngài ngự ở nơi sâu kín của luân xa tim. Hành giả chỉ tìm thấy Ngài qua tình thương thuần khiết và phụng sự hết lòng. Khi đến với Ngài, người sùng tín thấy Ngài ngự trên hoa sen mười hai [48] cánh của luân xa tim, tay Ngài cầm giữ “viên ngọc quí trong Hoa Sen.” Đó là cách người sùng tín tìm thấy Ishvara. Khi người sùng tín trở thành nhà raja-yogi thì Ishvara sẽ tiết lộ cho y biết bí mật của viên ngọc này. Khi người sùng tín biết được Đấng Christ là vị vua ngự trên ngôi của luân xa tim thì Ngài sẽ hiển lộ Đấng Cha lành cho người tôn sùng Ngài. Thế nhưng, người sùng tín phải dấn bước lên Con Đường Raja Yoga, và kết hợp sự hiểu biết của tri thức, sự chế ngự và giới luật thể trí, trước khi có thể thực sự được khải thị. Rốt cuộc, thần bí gia phải trở thành huyền bí gia: những phẩm tính của đầu và phẩm tính của tim phải được phát triển như nhau, vì cả hai đều thiêng liêng.
24. IshvaraLinh hồn, không hề bị giới hạn, siêu thoát khỏi nghiệp quảdục vọng.
Trên đây là mô tả thực tính của con người tinh thần, và mối liên hệ của người với tam giới. Đây là trạng thái của vị Chân sư hay một bậc toàn thông, của linh hồn đã phát huy các quyền bẩm sinh, và không còn bị chi phối bởi các mãnh lựcnăng lượng của phàm tính. Câu này và ba câu sau đưa ra hình ảnh của con người siêu thoát, đã thoát vòng luân hồi và đã tìm thấy chân ngã qua phấn đấu và kinh nghiệm. Ở đây nói lên bản tính của vị thần thái dương, người con của Thượng Đế, là chân nhân hay chân ngã. Chúng ta được biết rằng chân ngã
1. Không hề bị giới hạn. Chân ngã không còn “bị giam hãm, gò bó và hạn chế” bởi bốn hạ thể. Chân ngã không còn bị đóng đinh trên thập tự giá của vật chất. Bốn hạ thểthể xác, thể dĩ thái, thể tình cảm và thể trí − không còn là nhà tù của chân ngã. Nay chúng chỉ là những khí cụ mà chân ngã có thể tùy ý sử dụng hay từ bỏ. Chân ngã hoạt động tự do. Nếu [49] chân ngã lưu lại trong lĩnh vực của tam giới, thì đó là do chân ngã tự chọn, và chân ngã có thể chấm dứt sự tự giới hạn này tùy ý muốn. Chân ngã là chủ nhân trong tam giới. Chân ngã là con của Thượng Đế, chế ngự và kiểm soát các công trình sáng tạo trong ba cõi thấp này.
2. Siêu thoát khỏi Nghiệp quả. Vì hiểu biết định luật nên chân ngã đã điều chỉnh toàn bộ nghiệp quả của mình, đã thanh toán mọi khoản nợ, làm tròn mọi nghĩa vụ, và giải quyết mọi ân oán trong đời. Với nhận thức thâm sâu, chân ngã hữu ý đi vào thế giới của nguyên nhân, rời bỏ thế giới của hậu quả là tam giới. Thế là chân ngã không còn (do mù quáng và vô minh) tạo ra những tình trạng dẫn đến hậu quả xấu xa. Chân ngã bao giờ cũng hoạt động đúng theo định luật và mọi sự phát biểu năng lượng (qua lời nói và hành động tự phát) đều được thực hiện với đầy đủ hiểu biết về kết quả sẽ xảy ra. Vì thế, không sở hành nào của chân ngã sẽ mang lại kết quả xấu, và do đó mà không gây nghiệp quả. Kẻ thường nhân làm việc với các hậu quả, và mù quáng tìm đường đi qua các hậu quả đó. Vị Chân sư làm việc với các nguyên nhân, và không bị ràng buộc hay hạn chế bởi những hậu quả Ngài tạo ra do vận dụng định luật.
3. Siêu thoát khỏi dục vọng. Những sự vật của cảm nhận giác quan trong tam giới không còn hấp dẫn hay quyến rũ được Ngài. Tâm thức của Ngài nay hướng nội và hướng thượng, và không hề hướng ngoại hay hướng hạ. Ngài ngự ở tâm điểm và những gì ở ngoại vi không còn hấp dẫn được Ngài. Sự khát khao kinh nghiệm, sự thèm muốn đời sống ở cõi trần, và sự ham mê những loại hình hài, sắc tướng khác nhau không còn sức thu hút đối với Ngài. Ngài đã thể nghiệm và biết, đã đau khổ và bị buộc phải đầu thai do lòng khao khát cái phi-ngã.
Nay tất cả đều chấm dứt, và Ngài là linh hồn giải thoát. [50]
25. Trong Ishvara, vị Thầy thiêng liêng, mầm mống của toàn tri mở ra vô hạn.
Theo ý nghĩa đại vũ trụ, Thượng Đế là vị Thầy của tất cả. Ngài bao gồm sự toàn tri, và (dĩ nhiên) là tất cả các trạng thái tâm thức. Ngài là linh hồn của muôn loài vạn vật. Linh hồn của hạt nguyên tử vật chất cũng như linh hồn của mọi người đều là thành phần trong nhận thức vô hạn của Ngài. Linh hồn của con người cũng có tiềm năng đó, và khi tâm thức không tự đồng hóa với các vận cụ hay cơ quan của nó, thì mầm mống của toàn tri bắt đầu nảy nở. Có thể thấy “mầm mống toàn tri” trong những giai đoạn khai mở khác nhau, trong người đệ tử, vị cao đồ, vị Chân sư hay Thánh sư, trong Đức Christ, Đức Phật, và trong Đức Chúa tể Hoàn cầu, là vị có danh hiệu Đấng Thái cổ trong Kinh thánh. Tất cả đều có tâm thức của Thượng Đế, và họ vượt qua hết cuộc điểm đạo này đến cuộc điểm đạo khác. Khi hành giả thấu đáo được một giai đoạn, thì ngay trên trình độ đó bao giờ cũng thấy rõ một lĩnh vực mở mang tâm thức khác khả dĩ có. Tiến trình này luôn luôn là như thế, và có thể tóm lược như sau:
1. Một sức thôi thúc, hay quyết tâm đạt được kiến thức mới,
2. Giữ vững và sử dụng tâm thức đã khai mở, và từ trình độ đã đạt cố gắng tiến đến mức nhận thức rộng lớn hơn,
3. Vượt qua những khó khăn do sự hạn chế trong vận cụ của tâm thức và do nghiệp quả,
4. Những trắc nghiệm nội môn áp dụng cho người đạo sinh khi y tỏ ra có năng lực,
5. Người đạo sinh chiến thắng vẻ vang,
6. Đại đoàn Chưởng giáo, các vị hướng đạo của nhân loại công nhận sự chiến thắng và thành đạt của y,
7. Thấy được bước kế tiếp. [51]
Sự khai mở cứ tiếp diễn như thế, và trong mỗi chu kỳ cố gắng người con của Thượng Đế đang tiến hóa tìm thấy quyền năng bẩm sinh của mình với vị thế của một người hiểu biết. “Y đã nghe giáo huấn truyền thống, đã thấy sự tan rã của những gì mà y gìn giữ bấy lâu, đã thấy những điều ẩn giấu đối với kẻ chỉ biết theo truyền thống, thay thế giáo huấn ấy với những điều mới thấy được, trao tặng những điều đã hoạch đắc cho những ai kêu cầu với bàn tay không, và tiến vào phòng học tập ở bên trong.”
Khi nghiên cứu những câu có liên quan đến Ishvara này, người môn sinh cần lưu ý rằng các câu ấy đều nói về người con của Thượng Đế. Đó là ngôi thứ hai của Ba ngôi thiêng liêng khi Ngài biểu hiện qua trung gian của một thái dương hệ, với tính cách linh hồn đại vũ trụ. Cũng có ý nghĩa chỉ về người con của Thượng Đế, là trạng thái thứ hai của chân thần, khi chân thần biểu hiện qua trung gian của một con người. Đây là linh hồn tiểu vũ trụ. Sau đây là những từ đồng nghĩa của trạng thái Ishvara, cần nên nghiên cứu.
Đại vũ trụ
Ishvara, trạng thái thứ hai...... Phẩm tính bác ái.
Con của Thượng Đế ................. Hiển lộ Đức Chúa Cha.
Đấng Christ vũ trụ ................... Thượng Đế lâm phàm.
Vishnu....................................... Ngôi hai của Ba Ngôi trong Ấn giáo.
Linh hồn của vạn vật................ Nguyên tử và linh hồn là những từ đồng nghĩa.
Đại Ngã ..................................... Bao gồm các tiểu ngã.
Tôi là Đó .................................... Tâm thức tập thể.
AUM........................................... Linh từ Thiên khải.
Ngôi Lời .................................... Thượng Đế hiện thể.
[52]
Vị Thầy thiêng liêng................. Vị Thầy của tất cả.
Ánh sáng của thế gian.............. Chói rạng trong bóng tối.
Tiểu vũ trụ
Trạng thái thứ hai .................... Bác ái-minh triết.
Con của Đấng Cha lành ........... Làm hiển lộ Chân thần.
Đấng Christ............................... Đấng Christ trong bạn,
                                      nguồn hy vọng vinh quang.
Linh hồn .................................... Tâm thức.
Chân ngã ................................... Chúa của các thể.
Chân nhân................................. Thực thể tự nhận thức.
Ngôi Lời ..................................... Thượng Đế giáng trần.
AUM........................................... Linh từ mặc khải.
Chủ nhân................................... Chân ngã ngự trên ngôi.
Phóng quang của Chân nhân .. Ánh sáng nội tâm.
Con người tinh thần ................. Sử dụng phàm nhân.
26. Ishvara (vị Thầy thiêng liêng), không hề bị hạn định bởi thời gian, là huấn sư của các vị chúa nguyên thủy.
Kể từ khi điều kiện thời giankhông gian hiện hữu, đã có những người đạt được sự toàn tri. Đó là những người mà mầm mống hiểu biết đã được vun bồi thích hợp và phát triển, cho đến khi bừng nở thành nguồn vinh quang viên mãn của linh hồn giải thoát. Có thể thực hiện điều này theo những phương cách:
1. Sự đồng nhất mỗi linh hồnnhân với Đại hồn.
2. Lực hấp dẫn của Đại hồn, thu hút các linh hồn riêng rẽ của vạn vật dần dần về với Đại hồn. Đây chính là lực tiến hóa, tác nhân hấp dẫn vĩ đại kêu gọi các Sinh linh thiêng liêng, các đơn vị tâm thức hướng ngoại, quay về nguồn cội [53] của mình. Đây cũng là sự ứng đáp của linh hồnnhân với mãnh lực của linh hồn vũ trụ.
3. Cuộc huấn luyện chuyên sâu của Đại đoàn Chưởng giáo, nhờ đó mà các linh hồn nhận được sự kích thích và sinh động để họ tiến bước nhanh hơn hướng đến đỉnh cao.
Người môn sinh huyền bí học cần ghi nhớ rằng tiến trình này đã tiếp diễn trong những cuộc tuần hoànchu kỳ có trước Địa cầu chúng ta. Những vị Chúa, hay những vị Thánh triết nguyên thủy, là những bậc Trọn lành cao cả đã “nếm trải kinh nghiệm” theo Luật Tái sinh. Các ngài đã được khải thị các bí nhiệm bởi Đấng điểm đạo Duy nhất, là đại diện của Đại hồn trên hành tinh chúng ta. Rồi đến lượt các ngài trở thành huấn sư và đấng điểm đạo cho hậu thế đi vào các bí nhiệm nói trên.
Vị Thầy duy nhất bao giờ cũng có ở nội tâm. Đó là linh hồn, đấng ngự trị nội tại, là người suy tưởng trên cảnh giới của mình. Vị Thầy duy nhất này là phần hiện thể của cái Toàn thể, của Đại hồn. Khi một người mở mang tâm thức thì người đó trở thành vị Thầy đối với những người khác chưa trải qua sự triển khai tương tự. Đây là phương cách trở nên thành thạo trong giới nhân loại. Vì thế, tất cả đều là những vị Thầy và đồng thời cũng là đệ tử. Tất cả đều là học viên, và tất cả cũng là huấn sư, chỉ khác nhau ở trình độ nhận thức. Ví dụ như:
a. Người chí nguyện trên Đường Đạomôn sinh của những đệ tử cấp thấp,
b. Người đệ tử dự bị trên Đường Đạomôn sinh của những đệ tử cấp cao,
c. Các đệ tử chính thức là môn đệ của một cao đồ và của Chân sư,
d. một cao đồ là đệ tử của Chân sư, e. Chân sư là đệ tử của Thánh sư, [54]
e. Các Thánh sư là đệ tử của những điểm đạo đồ cao cấp hơn nữa,
f. Những vị này lại là đệ tử của Đức Christ hay là vị trưởng ngành giáo dục,
g. Vị trưởng ngành giáo dụcđệ tử của Đức Chúa tể Hoàn cầu,
h. Đức Chúa tể Hoàn cầu là đệ tử của một trong ba vị hành tinh Thượng Đế đại diện cho ba trạng thái chính,
i. Các vị này lại là đệ tử của Đức Thái dương Thượng Đế.
Vì thế, người môn sinh nghiên cứu kỹ sẽ thấy rõ rằng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau đến đâu, và bằng cách nào mà sự thành tựu của một đơn vị sẽ ảnh hưởng sâu xa đến toàn cơ thể. Con đường đệ tử có thể được xem là một từ chung bao gồm toàn bộ các trạng thái hay điều kiện sống trong giới thứ tư và giới thứ năm (giới nhân loại và giới tinh thần). Trong đó những cuộc mở mang tâm thức nhất định được thực hiện qua việc rèn luyện cụ thể.
27. Linh từ của Ishvara là AUM (hay OM). Đây là Pranava. (Xem Quyển I. Câu 1.)
Các môn sinh cần ghi nhớ rằng có ba Linh từ hay ba âm thanh căn bản trong cuộc biểu hiện. Điều này đúng với giới nhân loại. Đó là:
I. Linh từ, hay là nốt của Thiên nhiên. Đây là Linh từ hay là âm thanh của tất cả các hình thể hiện hữu trong vật chất cõi hồng trần. Như chúng ta thường biết, nó được ngân lên trên nốt “FA” cơ bản. Đây là nốt mà huyền bí gia của chánh đạo không sử dụng. Lý do là vì công tác của họ không liên quan đến việc làm gia tăng phương diện hữu hình, mà nhằm phát biểu khía cạnh nội tại hay vô hình. Đây là Linh từ của trạng thái thứ ba, của Brahma hay Chúa Thánh thần. [55]
II. Thánh ngữ. Đây là Linh từ Vinh quang, là AUM. Đây là Pranava, âm thanh của chính Sự Sống hữu thức khi Sự Sống được truyền vào tất cả các hình hài, sắc tướng. Khi được phát ra đúng cách, Linh từ của Thiên nhiên cung ứng các hình thể để nhằm hiển lộ linh hồn hay trạng thái thứ hai. Tương tự, khi được phát biểu đúng cách, Pranava cũng làm hiển lộ Đấng Cha lành hay Tinh thần qua trung gian của linh hồn. Đây là Linh từ của những người con lâm phàm của Thượng Đế. Trong phần luận giải ngắn ngủi này, không thể nào viết một thiên khảo luận về điều bí mật này của các bí mật, và bí nhiệm vĩ đại này qua các thời đại. Tất cả những gì có thể làm là đối chiếu một số sự kiện về Thánh ngữ AUM, và để cho người môn sinh triển khai ý niệm cũng như thấu hiểu ý nghĩa của những câu vắn tắt được đưa ra, tùy theo trình độ trực giác của y.
III. Linh từ Thất truyền. Ý tưởng về Linh từ Thất truyền đã được Hội Tam điểm giữ gìn cho chúng ta. Đây là Linh từ của trạng thái thứ nhất, trạng thái tinh thần. Chỉ những người được điểm đạo lần thứ ba mới có thể bắt đầu tìm kiếm linh từ này, vì chỉ linh hồn đã giải thoát mới có thể tìm thấy nó. Linh từ này liên quan đến các cuộc điểm đạo cao nhất, nên chúng ta có bàn thêm cũng chẳng ích chi.
Vì thế, có thể đưa ra những điều sau đây về Thánh ngữ để người môn sinh nghiên cứu kỹ:
1. AUM là Linh từ vinh quang, là Đấng Christ trong chúng ta, nguồn hy vọng vinh quang.
2. Khi được hiểu đúng, Linh từ này làm cho trạng thái Christ, trạng thái thứ hai của thiên tính bừng chiếu rạng ngời.
3. Đây là âm thanh giúp linh hồn lâm phàm (của đại vũ trụ hay tiểu vũ trụ), chân nhân, Đấng Christ đi vào cuộc [56] biểu hiện, và làm cho “phóng quang của Chân nhân” hiển lộ ở trần gian.
4. Đây là Linh từ khai phóng tâm thức và, khi được hiểu đúng và sử dụng đúng, sẽ giải thoát linh hồn ra khỏi sự hạn chế của hình hài, sắc tướng trong tam giới.
5. AUM là từ tổng hợp ba trạng thái, và vì thế chính yếu là Linh từ của giới nhân loại trong đó ba phương diện của sự sống thiêng liêng − tinh thần, linh hồnthân xác − phối hợp.
6. Theo một ý nghĩa đặc biệt, AUM cũng là Linh từ của giống dân thứ năm, giống dân Aryan. Nhiệm vụ của giống dân này là làm hiển lộ, theo cách mới mẻ hơn và đầy đủ hơn, bản tính của Đấng ngự trị ở nội tâm, là linh hồn bên trong hình thể, người con của trí tuệ, vị thần thái dương, nguyên khí thứ năm.
7. Hành giả chỉ hiểu rõ ý nghĩa của Linh từ này sau khi nhận thức được “ánh sáng nội tâm.” Khi được sử dụng, “tia sáng” trở thành ánh sáng chói rạng, ánh sáng trở thành ngọn lửa, và rốt cuộc ngọn lửa trở thành ngôi mặt trời. Khi được sử dụng, “ngôi mặt trời công chính xuất hiện” trong cuộc sống của mọi người.
8. Mỗi một trong ba mẫu tự này đều có liên quan đến ba trạng thái, và mỗi mẫu tự đều có thể áp dụng cho bất cứ bộ ba nào mà chúng ta đã biết.
9. Vị Thầy, hay Thượng Đế nội tâm, thực sự là Linh từ, là AUM. Đối với vị Thầy này (ngự ở tâm của cả chúng sinh) quả thực là “lúc khởi thủy đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời cùng với Thượng Đế (tạo thành lưỡng nguyên) và Ngôi Lời chính là Thượng Đế.” Khi sử dụng Linh từ, hành giả nhận thức được: [58]
a. Thiên tính chính yếu của mình,
b. mục đích của quá trình khoác lấy hình thể,
c. Sự cấu tạo và tính chất của các hình thể đó,
d. Thực tính của tâm thức, hay là mối liên hệ của chân ngã thiêng liêng hay tinh thần với hình thể, là đối cực của tinh thần.
Mối liên hệ này, trong diễn trình tiến hóa, được gọi là tâm thức, và đặc trưng của tâm thức là tình thương.
10. Vị Tôn sư hay Chân sư hướng dẫn đệ tử đến cửa điểm đạo, và trông nom y trong tất cả các cuộc trắc nghiệm và những tiến trình ban đầu và về sau, thì Ngài cũng tiêu biểu cho Linh từ. Khi sử dụng âm thanh vĩ đại này một cách khoa học, Ngài tạo ra sự kích thích và tăng cường nhất định trong các luân xa của người đệ tử, để khả dĩ có một số phát triển.
Không nên nói nhiều hơn về Thánh ngữ ở đây. Những điều đã nói trên là đủ cho người chí nguyện thấy được mục đích và mãnh lực của Thánh ngữ. Khi người môn sinh đã có những kết luận đúng đắn qua nghiên cứu và tự cố gắng, thì y sẽ được truyền đạt thêm thông tin theo những cách khác, và vào thời điểm khác. Có thể nói thêm rằng khi tham thiền về Linh từ vĩ đại này, hành giả sẽ tìm thấy manh mối thực nghĩa nội môn của những điều mà H. P. Blavatsky đã ghi trong Giáo lý Bí nhiệm:
“Sự Sống mà chúng ta cho là Dạng Hiện tồn Duy nhất, vốn biểu hiện trong cái gọi là Vật chất; hoặc trong cái mà, do tách biệt sai lầm, chúng ta gọi là Tinh thần, Linh hồnVật chất trong con người. Vật chất là phương tiện cho Linh hồn biểu hiện trên cõi đời này. Linh hồn là phương tiện trên cõi cao cho Tinh thần biểu hiện. Ba trạng thái này là Tam vị nhất thể được tổng hợp bởi Sự Sống vốn thấm
nhuần tất cả.” [59]
28. Bằng cách xướng lên Thánh ngữsuy ngẫm về ý nghĩa của nó, hành giả tìm thấy Đường Đạo.
Đây là câu nói rất tổng quát nhưng vẫn chuyển đạt được thâm nghĩa của các thuật ngữ tiếng Bắc Phạn được dùng. Trong số nhiều dịch giả, chỉ có Vivekananda chuyển dịch được ý nghĩa này như sau:
“Thường xuyên trì niệm Thánh ngữ OM và tham thiền về ý nghĩa của Nó (là Đường Đạo).”
Các dịch giả khác bỏ sót ba từ cuối, dù rằng rõ ràng có sự suy diễn này.
Không nên giải thích cụm từ “xướng lên Thánh ngữ” theo ý nghĩa quá cụ thể. Sự “xướng lên” về mặt nội môn dựa vào việc nghiên cứu Luật Rung động, và dần dần điều chỉnh rung động thấp độ của các thể hay các lớp áo của tâm thức. Nhờ thế mà chúng rung động đồng bộ với nốt hay âm thanh của chân nhân hữu thức ở nội tâm. Nói đúng ra, Thánh ngữ được linh hồn hay nhân ngã xướng lên trên cảnh giới của mình. Sau đó, rung động này sẽ ảnh hưởng đến các thể hoặc vận cụ khác nhau là nhà của linh hồn. Vì thế, đây là một tiến trình trí tuệ, chỉ có thể thực sự được tiến hành bởi những ai đã hữu thức hợp nhất với linh hồn − qua hành thiền, nghiêm trì giới luật, cùng với công tác phụng sự. Những người nào chí quyết hành trì điều kiện này thì phải sử dụng các yếu tố mạnh mẽ của trí tưởng tượng, hình dung, và bền lòng tham thiền để tiến đến giai đoạn đầu nói trên. Cần lưu ý rằng phải đạt được giai đoạn vừa kể, cho dù chỉ với mức độ tương đối nhỏ, trước khi người chí nguyện có thể trở thành đệ tử nhập môn.
Việc xướng lên Thánh ngữ là một tiến trình kép, như được nhấn mạnh ở đây. [60]
Trước hết là hành động của chân nhân, thần thái dương, chân ngã hay linh hồn, khi chân nhân xướng lên Thánh ngữ từ cảnh giới của mình, ở các cấp trừu tượng của cõi trí. Chân nhân hướng âm thanh này, qua sutratma và các lớp áo của tâm thức đến não bộ trong thân xác của con người ở cõi trần, là hình bóng hay phản ảnh của chân nhân. Sự “xướng lên” này phải được lặp lại liên tục. Sutratma là đường liên kết từ lực, mà trong Thánh kinh Thiên Chúa giáo gọi là “sợi dây bạc”. Nó là sinh quang tuyến, nối kết Chân thần, hay Tinh thần trong mỗi người với não bộ của xác thân.
Thứ đến là sự chuyên tâm suy ngẫm của hành giả trong não bộ của xác thân về âm thanh đó khi y nhận biết nó. Ở đây có gợi ý về hai cực của sự sống: linh hồnphàm nhân ở cõi trần. Giữa hai cực này là đường dẫn truyền rung động của Pranava (hay linh từ). Người môn sinh huyền bí cần phải nhận biết được kỹ thuật của các tiến trình đã phác thảo. Trong việc xướng lên Thánh ngữ chúng ta có các yếu tố sau đây:
1. Linh hồn xướng lên, hay thở ra Thánh ngữ,
2. Sutratma hay là đường liên kết, chuyển tải hay truyền tải các rung động của âm thanh này, [60]
3. Những lớp áo của tâm thức, là thể trí, thể tình cảm và thể dĩ thái rung động ứng đáp với sự rung động hay hơi thở nói trên, và do đó mà được kích thích,
4. Bộ não có thể được rèn luyện để nhận biết được âm thanh ấy và rung động hòa hợp với linh hồn,
5. Sau đó là tác động của hành giả trong tham thiền. Y nghe được âm thanh (đôi khi gọi là “Tiếng nói tế vi, an tĩnh,” hay là “Tiếng nói của Im lặng”). Y nhận thức được thực tính của tiếng nói này, và trong suy ngẫm sâu xa y đồng hóa kết quả hoạt động của linh hồn mình.
Về sau, người chí nguyện đi vào các bí nhiệm và học cách thống nhất linh hồnphàm nhân để cả hai hoạt động như một đơn vị phối hợp ở cõi trần. Bấy giờ hành giả học cách xướng lên Thánh ngữ ở cõi trần với mục đích khơi dậy những mãnh lực còn ẩn tàng nơi mình, và bằng cách đó thức động các luân xa. Nhờ thế, y ngày càng tham gia nhiều hơn vào công tác sáng tạo, huyền thuậttâm linh trong cuộc biểu hiện. mục tiêu của y bao giờ cũng nhằm mang lại lợi ích cho đồng bào của mình, và xúc tiến kế hoạch của Đại đoàn Chưởng giáo hành tinh.
29. Cố gắng này giúp nhận thức được chân ngã (Linh hồn) và loại trừ mọi chướng ngại.
Khi hành giả biết được vị Thầy ở nội tâm, y ngày càng cảm nhận sự triển khai năng lực của người, và y đặt trọn cả phàm tính dưới sự chế ngự của vị chủ nhân mới này.
Ở đây cần lưu ý rằng, rốt cuộc tất cả các chướng ngại hoàn toàn bị loại trừ sau khi có tia chớp đầu tiên của nhận thức. [61] Sự việc xảy ra theo trình tự sau đây:
1. Thiết tha muốn biết được linh hồn,
2. Nhận thức được các trở ngại, hay là hiểu được những điều ngăn trở sự hiểu biết đích thực,
3. Trong trí thấu hiểu tính chất của những chướng ngại nói trên,
4. Quyết tâm loại trừ chúng,
5. Trong chớp mắt bỗng nhiên thấy được Thực tính của linh hồn,
6. Nguyện vọng mới mẻ và quyết tâm mạnh mẽ muốn chuyển cái nhìn thoáng qua này thành thực tế thường xuyên trong kinh nghiệm ở cõi thấp,
7.  Cuộc chiến Kurukshetra, trong đó Krishna là linh hồn khuyến khích Arjuna, là người chí nguyện, giữ vững cố gắng bền bỉ và liên tục. Chính tư tưởng này cũng có trong kinh Cựu Ước, với câu chuyện của Joshua đứng trước thành Jericho.

Ở đây nên kết thúc phần luận giải này với các Câu 31, 32, 33 và 34, của Quyển IV:
31. Khi đã giải trừ chướng ngại và tinh luyện các thể, hành giả có toàn bộ hiểu biết, và không còn điều gì phải làm thêm.
32. Các biến thái của trí tuệ chất (hay đặc tính của vật chất), qua tính chất cố hữu của ba guna, nay chấm dứt, vì chúng đã phục vụ xong mục đích.
33. Thời gian, vốn là trình tự các biến thái của thể trí, cũng chấm dứt, nhường chỗ cho Hiện tại Vĩnh cửu.
34.  Có thể đạt đến trạng thái nhất như tự tại khi ba đặc tính của vật chất (là ba guna hay ba mãnh lực của thiên nhiên. A.B.) không còn cầm giữ Chân ngã. Tâm thức Tinh thần thuần khiết rút vào Đấng duy nhất. [62]

30. Những trở ngại đối với nhận thức về linh hồnthể xác suy yếu, trí năng trì trệ, nghi vấn lệch lạc, thiếu chú tâm, lười biếng, thiếu hạnh vô dục, nhận thức sai lầm, không thể tập trung, không giữ được tâm thái thiền khi đã đạt.
Trở ngại 1. Thể xác suy yếu.
Điều cần lưu ý là trở ngại đầu tiên có liên quan đến thể xác. Người chí nguyện nên ghi nhớ điều này và cố gắng điều chỉnh thân xác thế nào để nó đáp ứng được yêu cầu về sau. Những điều chỉnh này rất quan trọng và gồm có bốn phương diện:
1. Làm cho thân xác miễn nhiễm đối với những cơn bệnh và tình trạng đau yếu. Đây là một tiến trình gồm ba phần:
a. Loại trừ chứng bệnh hiện tại,
b. Tinh luyện và thanh lọc thân xác để rốt cuộc nó được tái xây dựng,
c. Bảo vệ thân xác khỏi bị nhiễm bệnh về sau, và dùng nó như một vận cụ của linh hồn.
2. Tăng cường và thanh lọc thể dĩ thái để cuối cùng nó được cải thiện. Nhờ đó, hành giả có thể thực hiện việc lèo lái mãnh lực một cách an toàn. Người đệ tử phải cho các mãnh lực dùng trong công tác đi qua cơ thể mình.
3. Khai mở và thức động các luân xa trong thể dĩ thái, tập trung các loại lửa trong cơ thể và cho chúng tiến lên theo cột sống để hợp nhất với lửa của linh hồn. [63]
4. Phối hợp hai thành phần nói trên của thể xác. Sau đó cho nó chỉnh hợp với linh hồn qua sutratma, tức là tuyến liên kết từ lực.
Chỉ có thể thực hiện việc điều chỉnh thứ ba nói trên một cách an toàn sau khi hành giả đã sử dụng và phát triển ba phương tiện đầu tiên của yoga. Đó là:
1. Năm điều răn, (Xem: Quyển II. Các Câu 28 đến 29.)
2. Năm qui tắc, (Xem: Quyển II. Các Câu 32 đến 46.)
3. Tư thế đúng. (Xem: Quyển II. Các Câu 46 đến 48.) Đây là điểm mà người chí nguyện tu tập yoga thường hay quên. Vì thế mà quá thường xảy ra tai biến và khó khăn trong số những người vội vàng tự ý đánh thức các luân xa và khơi dậy luồng hỏa xà. Chỉ khi nào toàn bộ các quan hệ của người chí nguyện với cuộc sống xã hội (như bàn trong các điều răn) đã trở nên tốt đẹp; chỉ khi nào y đã thực hiện được việc tinh luyện và điều hòa ba phương diện của phàm tính (như nêu trong các qui tắc); và chỉ khi nào đã có được tư thế đúng đắn, thì bấy giờ người chí nguyện thực hành Raja Yoga mới có thể an toàn xúc tiến công tác có tính cách nội mônhuyền môn hơn, liên quan đến các loại lửa trong hệ thống nhỏ bé của mình. Cần hết sức chú ý điểm này. Chỉ đến một giai đoạn rất cao trên con đường đệ tử, hành giả mới có thể hữu thức vận dụng các loại lửa sinh động và cho chúng đi lên qua cột sống một cách an toàn. [64] Vẫn còn ít người đã “nghiêm trì giới luật và tuân thủ các điều răn.”
Trở ngại II. Trí năng trì trệ.
Các trở ngại nói trên được đưa ra theo thứ tự, tùy mức độ ảnh hưởng tương đối của chúng đối với người bình thường. Vì thế mà trở ngại lớn kế tiếp là thiếu khả năng suy nghĩ rõ ràng về vấn đề cần thực hiện. Nếu không suy nghĩ rõ ràng trước khi hành động, hành giả sẽ thiếu động năng và không thể đánh giá được tầm mức lớn lao của vấn đề. Trí năng trì trệ là do tình trạng thờ ơ, chậm chạp trong “lớp áo của tâm thức” được gọi là thể trí, và do nhịp độ rung động nặng nề trong hầu hết mọi người. Đó là lý do tại sao mà Raja Yoga chỉ đương nhiên hấp dẫn nhiều đối với những mẫu người có trí năng hơn là những người chỉ thuần sùng tín. Thực tế cũng cho thấy rằng những ai có thể trí trang bị tốt và được sử dụng tích cực thì có thể rèn luyện nhanh hơn trong khoa học thánh triết này. Với đa số mọi người, trước họ cần thức động thể trí, phát triển sự quan tâm về tri thức, và kiểm soát qua trí năng thay vì để cho tình cảm chi phối. Về sau, họ mới có thể nhận thức được nhu cầu khai mở nguồn sống linh hồn. Hành giả phải vận dụng và sử dụng cái khí cụ này của tư tưởng trước khi y có thể sáng suốt nhận định được bản tính của chủ thể suy tưởng.
Với nhận thức nói trên, người ta mới đánh giá đúng hơn về sự góp phần của các trường phái tư tưởng lớn như Khoa [65] học Trí tuệ, Khoa học Thiên Chúa giáo, Tân Tư tưởng và những đoàn nhóm khác chú trọng vào các trạng thái trí tuệ. Chỉ đến nay gia đình nhân loại mới bắt đầu ý thức được “lớp áo của tâm thức” mà các môn sinh huyền bí gọi là thể trí.
Phần đông nhân loại còn phải kiến tạo lớp áo gọi là thể trí này. Những ai đang làm điều đó mới có thể thực sự là nhà raja yogi.
Trở ngại III. Nghi vấn lệch lạc.
Giai đoạn kế tiếp này cũng tùy theo trình độ phát triển trí tuệ. một số dịch giả gọi đây là sự ‘nghi ngờ.’ Nghi vấn lệch lạc là do nhận thức thấp kém, và do chân nhân tự đồng hóa với cái khí cụ dễ bị ảo tưởng của mình, là thể trí. Điều này khiến hành giả ngờ vực các chân lý vĩnh cửu, nghi ngờ sự hiện hữu của các thực tại nền tảng. Vì thế, y tìm cách giải quyết các vấn đề của mình bằng những điều phù du, nhất thời, và các sự vật của giác quan.
Có một cách hỏi đúng đắn và thích hợp. Đó là việc “đặt câu hỏi” mà Đức Christ đã nói đến trong câu “Người nào hỏi tất sẽ được.” Tất cả các Chân sư ở Đông phương đều thận trọng bồi dưỡng nơi đệ tử của mình năng lực tìm hiểu này. Các Ngài hướng dẫn họ tham vấn về những điều thực tế nội tại, rồi sau đó tìm thấy lời giải đáp cho chính mình bằng cách tìm đến nguồn cội của mọi hiểu biết ẩn tàng trong tâm của cả chúng sinh. Để đặt câu hỏi một cách thông minh và tìm thấy đáp án, trước hết họ phải tự mình thoát ra khỏi mọi thẩm quyền áp đặt từ bên ngoài, thoát khỏi mọi truyền thống, và thoát khỏi mọi giáo điều thần học, dù đó là thuộc về tôn giáo hay khoa học. [66] Chỉ bằng cách đó, họ mới có thể thấy được thực tại và chân lý.
“Khi linh hồn vượt qua khu rừng ảo tưởng, hành giả sẽ không còn bận tâm đến những gì sẽ được giảng dạy hay đã được giảng dạy.
“Khi từ bỏ giáo huấn theo truyền thống, linh hồn sẽ trụ vững trong thị kiến tinh thần, và hành giả hợp nhất với Linh hồn.” Chí Tôn Ca II.51.52.
Trở ngại IV. Thiếu chú tâm.
Thái độ này của thể trí được một số dịch giả gọi là “cái trí vẩn vơ.” Đây thực sự là thái độ của thể trí thường thay đổi, khiến khó có thể nhất tâm và chuyên chú. Đúng ra, đây là khuynh hướng tạo-hình-tư-tưởng của trí tuệ chất, cũng được mô tả là “khuynh hướng của cái trí bay nhảy từ đối tượng này sang đối tượng khác.” Xem Quyển III, Câu 11.
Trở ngại V. Lười biếng
Tất cả các nhà luận giải đều đồng ý về cách dịch này, và dùng những từ như chậm lụt, thờ ơ, lười biếng. Điều này không liên quan nhiều đến sự trì trệ của thể trí (vì có thể kèm theo nhận thức trí tuệ sắc sảo), mà chỉ về sự chậm lụt chung của phàm nhân khiến y không thích ứng được với nhận thức của trí năng và nguyện vọng nội tâm. Người chí nguyện đã biết được những gì cần phải làm. Y đã hiểu rõ “các phương tiện của yoga.” Y đã thoáng thấy lý tưởng hợp nhất và ý thức được các trở ngại. Về mặt lý thuyết, y biết đúng những bước cần thực hiện, nhưng sự hiểu biết của y không đi đôi với thực hành. Có một khoảng cách giữa nguyện vọng tinh thần của y và điều y thực hiện. Dù y khao khát muốn thành đạt và hiểu biết, nhưng làm tròn các điều kiện này thật quá khó khăn. [67] Ý chí của y chưa đủ mạnh để giúp y tiến tới. Y để cho thời gian trôi qua mà chẳng làm gì cả.
Trở ngại VI. Thiếu hạnh vô dục
Trở ngại này được một số người dịch rất hay là “bám chặt vào các đối tượng.” Đây tức là sự ham muốn những thứ vật chất và thuộc về giác quan. Đây chính là sự ưa thích các cảm nhận của giác quan và bị hấp dẫn bởi tất cả những gì hết lần này đến lần khác đưa con người vào vòng luân hồi, trở lại điều kiện sống ở cõi trần. Người đệ tử phải vun bồi “hạnh vô dục” hay là thái độ không bao giờ tự đồng hóa với bất cứ loại hình hài sắc tướng nào. Y luôn luôn từ bỏ, buông bỏ và thoát khỏi các hạn chế của những thứ mà y chiếm hữu và sở hữu. Điều này được đề cập đến trong nhiều câu kinh khác nhau, nên không cần bàn rộng ở đây.
Trở ngại VII. Nhận thức sai lầm.
Thiếu khả năng nhận thức đúng và thấy được thực tính của sự vật, là hậu quả đương nhiên của sáu trở ngại nói trên. Ngày nào chủ thể tư tưởng (người suy tưởng) còn tự đồng hóa với hình hài, sắc tướng; ngày nào những sinh linh thấp kém trong các hạ thể của tâm thức còn có thể cầm giữ y trong tình trạng nô lệ; và ngày nào y chưa chịu tách mình ra khỏi phương diện vật chất; thì ngày ấy các nhận thức của y vẫn còn sai lầm. Thị kiến có nhiều loại khác nhau, có thể kể ra như sau:
1. Thị giác của xác thân cho thấy tính chất của cõi trần. Cái thấy này có được qua trung gian của đôi mắt, thu hình ảnh các thể dạng hữu hình nhờ thấu kính trong mắt, rồi ghi lên cuộn phim tuyệt vời mà mọi người đều có sẵn. [68] Cái thấy này vốn hạn chế và giới hạn.
2. Nhãn quan dĩ thái. Đây là quan năng thị giác của con người đang phát triển nhanh chóng. Rốt cuộc nó sẽ cho thấy hào quang sức khỏe của tất cả các hình thể trong bốn trường tiến hoá của thiên nhiên. Nó sẽ giúp nhận biết những phát xạ sinh lực prana của các luân xa đang hoạt động, và thấy được tình trạng của các luân xa này.
3. Thông nhãn. Đây là quan năng thị giác trên cõi cảm dục, là một trong các “siddhi” hay thần thông loại thấp. Nhãn quan này có được nhờ sự nhạy cảm bề mặt của toàn bộ “thể xúc cảm”, hay thể tình cảm, và là cảm nhận của giác quan được tăng cường đến mức rất cao. Nếu thiếu tương ứng cấp cao của nó là nhận thức tinh thần, thì nhãn quan này dễ gây nhầm lẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho ảo ảnhảo tưởng phát sinh.
4. Nhãn quan biểu tượng. Đây là quan năng của thể trí. Nó là yếu tố giúp thấy được các màu sắc, các biểu tượng hình học, quang cảnh trong bề đo thứ tư, những giấc mơ và linh ảnh do kết quả hoạt động của thể trí, chứ không do cái thấy của cảm dục. Thường thì những điều thấy được có tính cách dự kiến.
Bốn loại nhãn quan nói trên là nguyên nhân gây ra nhận thức sai lầm. Chúng sẽ chỉ tạo nên ảo tưởng và nhầm lẫn, nếu chưa được thay thế bởi các nhãn quan cao hơn như nêu dưới đây. Những dạng nhãn quan cao cấp này cũng bao gồm các nhãn quan nói trên.
5. Nhãn quan thuần khiết. Patanjali nói về cái thấy này như sau:
“Người tri kiếncái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). [69] Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.” (Quyển II, Câu 20.)
Các từ “cái biết thuần túy” đã được chuyển dịch là “cái thấy thuần túy.” Cái thấy này là quan năng của linh hồn vốn là cái biết thuần túy. Cái thấy này rõ ràng, minh bạch khi linh hồn dùng thể trí làm phương tiện cho thị giác. Charles Johnston chuyển dịch Câu kinh nói trên như sau: “Người thị kiến là cái thấy thuần túy . . . Y nhìn ra ngoài qua lớp áo của thể trí.”
Chính nhờ tập trung và tham thiền, hành giả chế ngự được thể trí. Bấy giờ y biết rõ và hoàn toàn thấu đáo những vấn đề của linh hồn. Bấy giờ thể trí trở thành cửa sổ của linh hồn, và qua đó con người tinh thần có thể nhìn ra một lĩnh vực hiểu biết mới mẻ và cao siêu hơn. Đồng thời với sự phát triển loại nhãn quan này, tuyến tùng bắt đầu sinh động, và con mắt thứ ba (trong vật chất dĩ thái) cũng phát triển với hoạt động song hành.
6. Nhãn quan tinh thần hay nhận thức đúng thực. Loại nhãn quan này mở ra với thế giới trực giác hay cõi bồ-đề, giúp hành giả vượt khỏi cấp độ trừu tượng của cõi trí. Y nhận thức được những vấn đề của tinh thần thuần khiết, và mục đích cơ bản của toàn cuộc biểu hiện. Giống như cái thấy thuần túy đã giúp y tiếp xúc với nguồn minh triết thuần khiết. Khi nhãn quan này phát triển, trung tâm ở đầu cột sống trở nên linh hoạt, và hoa sen ngàn cánh khai mở.
7.  Nhãn quan vũ trụ. Con người chưa thể có ý niệm nào về nhãn quan này. Đây là nhận thức của những Đấng biểu hiện qua một hệ thống hành tinh trong một thái dương hệ, [70] giống như một người biểu hiện qua các thể của mình.
Khi nghiên cứu các loại quan năng nhận thức này, người môn sinh sẽ đánh giá đúng được những gì mình cần phải thực hiện. Y biết được vị trí của mình hiện nay, nhờ đó mà chuẩn bị một cách thông minh cho bước tiến kế tiếp.
Trở ngại VIII. Không thể tập trung.
Hai trở ngại sau cùng cho thấy cách “từ bỏ những thói quen xưa cũ” và hành giả trở thành con người mới, thừa hưởng di sản của mình. Phương pháp mà người đệ tử cần thực hiện không chỉ bao gồm kỹ luật tự giác hay là chế ngự các lớp áo hay các thể; không chỉ gồm việc phụng sự hay đồng nhất với tâm thức tập thể; mà cũng phải bao gồm hai giai đoạn tập trung, chú tâm hay kiểm soát thể trí, và tham thiền, là tiến trình suy ngẫm liên tục về những gì mà linh hồn đã giao tiếphiểu biết. Hai giai đoạn này sẽ được bàn sau, và không cần phải nói thêm ở đây.
Trở ngại IX. Không giữ được tâm thái thiền.
Vì thế, chúng ta thấy rõ rằng sáu trở ngại đầu nói về những tình trạng sai lầm, và ba trở ngại sau là kết quả của những sai lầm đó. Ở đây có ngụ ý về phương pháp giúp hành giả có thể thoát khỏi những tâm thái sai lầm. [71]
Câu kế tiếp rất hay vì bàn về ảnh hưởng đến mỗi một trong bốn hạ thể phàm nhân, nếu người ấy chưa vượt qua các trở ngại nói trên.

31. Đau khổ, tuyệt vọng, hoạt động nhầm lẫn của xác thân, điều khiển (hay kiểm soát) sai các dòng sống, là hậu quả của những trở ngại này trong phàm tính.
Mỗi một trong bốn hậu quả nói trên đều nói lên tình trạng của phàm nhân, là do việc đặt mình vào vị trí trung tâm hoặc đồng hóa một cách sai lầm.
1. Đau khổ là hậu quả của việc phân cực sai trong thể cảm dục hay tình cảm. Đau khổ là do không cân bằng được các cặp đối cực, tức là thiếu quân bình.
2. Tuyệt vọng là do sự hối tiếc trong thể trí, cũng có thể gọi là tình trạng “trí tuệ không được phục hồi.” Người chí nguyện ý thức được điều có thể thực hiện, dù đang bị chìm trong trở ngại. Y cứ mãi cảm thấy thất bại, khiến có tâm trạng hối tiếc, chán ghét, tuyệt vọng và buồn nản.
3. Hoạt động nhầm lẫn của xác thân. Tình trạng nội tâm biểu lộ thành hoạt động sôi nổi bên ngoài, sự ráo riết tìm kiếm giải pháp, cứ mãi rong ruổi đó đây để mong được bình an. Đó là đặc trưng chính yếu của giống dân Aryan thiên về trí năng hiện nay. Và đó là nguyên nhân tạo nên cố gắng năng nổ của mọi hoạt động trong đời sống. Các quá trình giáo dục đã góp phần rất nhiều vào cố gắng này (vì giúp trí năng phát triển nhanh). Đóng góp lớn lao của giáo dục (trong các trường học, cao đẳng, đại học và những hoạt động kết hợp khác) đã là sự kích thích thể trí của mọi người. [72] Toàn bộ cố gắng này là thành phần của kế hoạch vĩ đại, bao giờ cũng hướng đến mục tiêu duy nhất − là khai mở nguồn sống linh hồn.
4. Điều khiển sai các dòng sống. Đây là hậu quả trong thể dĩ thái do sự xáo trộn nội tâm. Đối với người môn sinh huyền bí học, các dòng sống này gồm hai loại:
a. Hơi thở của sự sống hay prana,
b. Mãnh lực của sự sống hay là các loại lửa trong cơ thể.
Chính việc sử dụng sai hơi thở của sự sống hay là vận dụng prana sai lầm là nguyên nhân của tám mươi phần trăm các bệnh thể chất hiện nay. Hai mươi phần trăm còn lại là do điều khiển sai mãnh lực của sự sống. Tình trạng này chủ yếu ảnh hưởng đến hai mươi phần trăm số người trong nhân loại có thể gọi là đã phân cực trí tuệ. Tuy nhiên, phương cách dành cho người môn sinh huyền bí mong muốn giải thoát không phải là luyện hơi thở hoặc vận dụng bảy luân xa trong cơ thể. Đó là sự chú tâm mạnh mẽ vào cuộc sống tiết điệu và thận trọng tổ chức đời sống. Khi y thực hiện điều này, một mặt phối hợp các thể thanh với thể xác, và mặt khác phối hợp chúng với linh hồn, thì sau đó các năng lượng prananăng lượng sống sẽ tự động được điều chỉnh.
32. Để khắc phục các trở ngại và hệ quả của chúng, cần mạnh mẽ áp dụng ý chí với chú tâm vào một chân lý (hay nguyên khí).
Ở đây người chí nguyện tu tập yoga cần lưu ý rằng [73] có bảy cách để đạt sự bình an, và nhờ đó mà tiến đến mục tiêu. Bảy cách này được trình bày dưới đây, và mỗi cách đều có liên quan rõ rệt đến một trong bảy trở ngại nói trên.
Trở ngại Cách khắc phục
1. Thể xác suy yếu .............. Lối sống đúng đắn, lành mạnh. (1.33.)
2. Trí năng trì trệ................ Kiểm soát mãnh lực sự sống. (1.34.)
3. Nghi vấn lệch lạc............ Tư tưởng chuyên chú. (1.35.)
4. Thiếu chú tâm ................ Tham thiền. (1.36.)
5. Lười biếng ....................... Kỷ luật tự giác. (1.37.)
6. Thiếu hạnh vô dục.......... Phân tích đúng. (1.38.)
7. Nhận thức sai lầm.......... Khai ngộ. (1.39.)
Những cách khắc phục các tình trạng sai lầm này có tầm quan trọng sâu xa trong các giai đoạn đầu của yoga, và do đó được chú trọng trong Quyển I.
Thế nhưng chỉ hiểu các trở ngại và cách khắc phục chúng về mặt lý thuyết thì cũng không mấy hữu ích, nếu chưa áp dụng ý chí một cách mạnh mẽ. Cần có nỗ lực thường xuyên, liên tục, bền bỉ của ý chí, tác động qua thể trí. Bấy giờ người chí nguyện mới đủ khả năng ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng, và từ sự chết đến sự bất tử.
Khi đã hiểu về nguyên khí thì người đệ tử có thể hành động một cách thông minh. Vì thế, cần hiểu rõ các nguyên khí hay phẩm tính, nhờ đó mà thấu đáo được chân lý về thực tại hay Thượng Đế.
Tất cả các hình hài sắc tướng đều hiện hữu để biểu lộ chân lý. Nhờ sự liên tục áp dụng Thiên ý trong cái Toàn thể, chân lý được hiển lộ qua trung gian của vật chất. Khi có sự thấu hiểu chân lý hay nguyên khí căn bản, tinh thần sẽ tự hiển lộ. [74] Người đệ tử cần nhận thức được cái nguyên khí mà mỗi hình tướng, mỗi lớp áo, hay mỗi thể khác nhau nhằm phát biểu. Bấy giờ y sẽ biết cách vận dụng ý chí của mình một cách chính xác để mang lại những điều kiện như mong muốn. Các lớp áo và vận cụ chỉ là các thể biểu hiện của y trên những cảnh giới khác nhau của thái dương hệ. Các thể ấy phải phát biểu cái nguyên khí vốn là đặc trưng hay phẩm tính ẩn trong mỗi cảnh giới. Ví dụ như, sau đây là bảy nguyên khí liên quan đến con người:

1. Prana năng lượng sống thể dĩ thái cõi hồng trần.
2. Kama dục vọng, cảm xúc thể cảm dục cõi cảm dục.
3. Hạ trí trí cụ thể thể trí cõi trí.
4. Thượng trí trí trừu tượng thể chân ngã cõi trí.
5. Bồ-đề trực giác thể bồ-đề cõi bồ-đề.
6. Atma ý chí tinh thần thể atma cõi niết-bàn.
nguyên khí thứ bảy tương ứng với cái “nguyên khí vô biên, bất di bất dịch” trong đại vũ trụ, là Chân thần (trên cảnh giới của mình). Có những cách khác để kể ra các nguyên khí. Về mặt nào đó thì Subba Rao là đúng khi ông nói rằng chỉ có năm nguyên khí. Hai cấp cao nhất, là atma và sự sống chân thần, hoàn toàn không phải là nguyên khí.
Nhờ hữu ý vận dụng ý chí trên mỗi cảnh giới, cái phương tiện ở cấp đó được điều hành liên tục để ngày càng phát biểu chân lý duy nhất một cách chính xác hơn. Đây là thực nghĩa của câu kinh đang bàn. Vì thế mà những cao đồ vẫn tiếp tục nghiên cứu thiên luận giải này về yoga. Các vị vẫn còn chưa hoàn toàn thấu đáo được chân lý trên tất cả các cảnh giới. [75] Những qui luật cơ bản vẫn luôn luôn nghiệm đúng, dù được ứng dụng theo những lối khác nhau. Các nguyên khí được áp dụng cho toàn bộ các biến phân và tất cả các trạng thái sinh tồn.
Hành giả cần nghiên cứu những lĩnh vực mà trong đó tâm thức của y đang hoạt động. Y cần hiểu được cái phương tiện mà y phải sử dụng trong một cảnh giới nào đó. Và y cũng cần biết được phẩm tính thiêng liêng rõ rệt mà thể đó nhằm phát biểu như một thành phần hoặc một khía cạnh của chân lý duy nhất hay thực tại duy nhất. Bấy giờ y mới biết mình hiện còn những điều gì thiếu sót, còn bị các chướng ngại nào ngăn trở, và những khó khăn nào còn phải vượt qua. Bấy giờ y mới vận dụng ý chí, tập trung vào cái nguyên khí, hay phẩm tính đang cần phát biểu. Bằng cách này, những biểu hiện cấp thấp trở nên hài hòa với biểu hiện cấp cao, bởi vì “người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó.”
33. Có thể khiến cho chitta (hay trí tuệ chất) trở nên an tịnh bằng cách vun bồi lòng thiện cảm, nhân hậu, giữ vững mục đích, và hạnh vô dục đối với niềm vui, nỗi khổ, hoặc mọi hình thái của thiện hay ác.
Trong câu này, chúng ta bàn về thể xác, đang trải qua các kinh nghiệm ở cõi trần và sử dụng ý thức não bộ. Thể này có khuynh hướng đến với tất cả các hình thể khác ở ngoại giới. Do bản chất cố hữu, nó thường dễ dàng chịu sự hấp dẫn của các đối tượng vật chất. [76] Tính chất của các đối tượng đó tùy theo trình độ tiến hóa của chân ngã đang trải nghiệm. Đây là điểm cần lưu ý khi nghiên cứu câu kinh này. Nếu không, phần cuối của nó có thể bị hiểu sai. Bao giờ cũng phải hành động có phân biện đối với mọi biểu hiện của mãnh lực thiện và ác, và phương diện này chịu sự chi phối của định luật. Thế nhưng, rốt cuộc hành giả thoát khỏi tất cả các hình hài, sắc tướng ở cõi trần mà năng lượng thiện và ác nói trên có thể biểu hiện, khi y thực hành hạnh vô dục đối với những hình tướng ở ngoại giới vừa kể. Cần lưu ý rằng lòng thiện cảm bàn ở đây tức là nói về mối quan hệ của chúng ta với tất cả những khách hành hương khác, hay là với giới thứ tư trong thiên nhiên. Lòng nhân hậu đề cập đến mối quan hệ của chúng ta với loài vật hay giới thứ ba. Giữ vững mục đích chỉ về mối quan hệ của chúng ta với Đại đoàn Chưởng giáo của hành tinh này. Và hạnh vô dục liên quan đến thái độ của chúng ta đối với tất cả các phản ứng của phàm ngã. Vì thế, câu kinh này có tính toàn diện rõ rệt và liên quan đến tất cả các rung động trong não bộ của người đệ tử.
Do đó, thể xác được xem là một phương tiện để:
a. Trợ giúp đồng bào của mình,
b. Trông nom trìu mến loài vật,
c. Phục vụ ở cõi trần trong cố gắng hợp tác với Đại đoàn Chưởng giáo,
d. Chế ngự các thèm khát ở cõi trần và không ham muốn tất cả những hình tướng khơi dậy sự thèm khát và hấp dẫn các giác quan, dù chúng có bị xem là tai hại hay không. Hành giả phải vượt lên tất cả các thứ này.
Bằng cách đó hành giả đạt được sự an tịnh, sự an tịnh của chitta hay trí tuệ chất, sự an tịnh của các phản ứng não bộ, và rốt cuộc là sự yên lặng và điềm tĩnh hoàn toàn. [77] Charles Johnston chuyển dịch ý tưởng của câu này rất hay với những lời “Tâm thái trở thành an lạc.” Hành giả biểu lộ sự lành mạnh, viên mãn và hoàn toàn sáng suốt trong tư tưởng và hành động. Thế là tình trạng thiếu năng lực của thân xác được khắc phục, với sự biểu hiện toàn vẹn của nó.
34. Chitta cũng trở nên an tịnh nhờ điều hòa prana hay hơi thở của sự sống.
Các môn sinh cần lưu ý rằng Patanjali kể ra Pranayama (khoa vận dụng hơi thở hay năng lượng prana) cùng với các phương pháp khác để đạt sự “an tịnh của chitta.” Tuy nhiên, ông không đặc biệt nhấn mạnh đến khoa này. Như đã nêu trước đây, pranayama là một thuật ngữ có thể dùng để bao gồm ba tiến trình, tất cả đều có liên quan và phối hợp với nhau.
1. Sống tiết độ, hay là điều hòa các hành động trong sinh hoạt hằng ngày qua cách tổ chức thời gian, và khôn ngoan sử dụng không gian. Bằng cách này, hành giả trở nên thông thạo, sáng tạo ở cõi trần. Y hợp tác với các kế hoạch của Đại đoàn Chưởng giáo, được thực thi trong cuộc tiến hóa theo chu kỳ.
2. Vận dụng hơi thở, hay là làm sinh động phàm nhân qua việc hít vào và thở ra. Hành giả hiểu rằng về mặt huyền môn mình là một “linh hồn hằng sống,” và sử dụng yếu tố hơi thở. Qua hơi thở y ý thức được tính duy nhất của cuộc sống và mối quan hệ hiện hữu giữa tất cả các hình thể ẩn chứa sự sống của Thượng Đế. [78] Y trở thành người huynh đệ của tất cả, thông thạo và hiểu biết rằng tình huynh đệ là một sự kiện có tính cách thực tế, chứ không phải là một lý thuyết xa vời.
3. Vận dụng các luân xa, hay là Laya yoga. Hành giả áp dụng định luật vào các mãnh lực của thiên nhiên và sử dụng các mãnh lực ấy một cách khoa học. Kỹ thuật này bao gồm việc cho một số năng lượng thất phân đi qua các luân xa dọc theo cột sống, vào luân xa đầu, theo những diễn tiến hình học nhất định và cụ thể. Thực hiện được điều này, hành giả trở nên một nhà thần thông bậc thầy, và khai mở một số quyền năng ẩn tàng nơi chính mình. Nhờ các quyền năng đã khai mở, y tiếp xúc với linh hồn của vạn vật và với phương diện nội tại của thiên nhiên.
Điều quan trọng cần lưu ý là phương thức đạt sự bình an này phải theo sau phương pháp sống lành mạnh và tốt đẹp, với kết quả mang lại một thể xác khang kiện. Ở phần sau, khi Patanjali đề cập lại việc điều hòa hơi thở và các dòng năng lượng, ông xếp nó vào phương tiện thứ tư của yoga. Ông nói rằng chỉ khi đã thực hiện được tư thế đúng (Phương tiện thứ ba) do kết quả hành trì các Giới luật và các Qui tắc (các Phương tiện một và hai), bấy giờ hành giả mới nên bắt đầu cố gắng điều hòa và vận dụng nói trên. Các môn sinh cần nghiên cứu kỹ những phương tiện này và hiểu lý do vì sao hành giả chỉ được phép quan tâm đến các luân xa sau khi y đã làm thăng bằng cuộc sống của mình và lọc sạch bản tính của mình đến mức mà những mối nguy không còn có thể xảy ra.
35. Có thể làm cho cái trí vững vàng ổn định bằng cách tập trung vào các nhận thức của giác quan.
Chúng ta đã bàn về một số thể thức khai mở và kiểm soát để rốt cuộc mang lại những gì được gọi là “an vui thanh tịnh.” [79] Chúng ta đã thấy rằng những mối liên giao đúng đắn với mọi người và cuộc sống có tiết điệu sẽ tạo điều kiện làm bình ổn các hạ thể, để phàm nhân có thể phản ánh đầy đủ sự sống của chân nhân tức là con người tinh thần. Giờ đây chúng ta bàn đến một số khía cạnh của triết lý Raja Yoga, và điểm then chốt để hiểu câu kinh này là từ buông xả. Khi vận dụng các giác quan và giao tiếp với thế giới hiện tượng qua trung gian của ngũ quan, người chí nguyện sẽ ngày càng giữ vị thế của người quan sát. Nhờ đó, tâm thức của y từ từ chuyển ra khỏi lĩnh vực của các vận cụ giác quan, trở thành tâm thức của “chân nhân trú ngụ trong cơ thể.”
Điều thú vị là trong Ấn giáo cũng có dạy về cách sử dụng cái lưỡi và trọn cả vùng mũi và vòm miệng. Giáo huấn Đông phương công truyền có những gợi ý như sau:
Phương pháp Giác quan Kết quả
1. Tập trung vào chót mũi khứu giác mùi hương.
2. Tập trung vào cuống lưỡi thính giác âm thanh.
3. Tập trung vào đầu lưỡi vị giác ngọn lửa.
4. Tập trung vào giữa lưỡi xúc giác rung động.
5. Tập trung vào vòm miệng thị giác hình ảnh, linh ảnh.
Người chí nguyện không nên hiểu những điều nói trên theo nghĩa đen, hoặc [80] cố gắng tham thiền một cách mù quáng, ví dụ như, vào đầu lưỡi. Theo luật tương đồng, bài học cần thấu đáo là cái lưỡi tiêu biểu cho quan năng sáng tạo, là phương diện thứ ba trong tính chất ngũ phân của quan năng này. Ý nghĩa sẽ trở nên sáng tỏ hơn khi xét đến mối liên hệ của năm giác quan (ở đây được tổng hợp trong vùng miệng) với sự tổng hợp của năm cung dưới sự điều hành của Đức Văn minh Đại đế (vị lãnh đạo của cung ba trên hành tinh chúng ta). Người môn sinh cần tìm hiểu sự tương đồng giữa năm cung nói trên và năm giác quan, và miệng với tính cách cơ quan của ngôn ngữ. Khi nghiên cứu thêm, y sẽ thấy rằng hai cơ quan khác trong thể xác, là tuyến yên và tuyến tùng, tương ứng với hai phương diện còn lại, là bác ái-minh triết và quyền lực tổ chức, ý chí hay mục đích. Bảy điểm này bên trong đầu (ở trong một vùng tương đối nhỏ) là tiêu biểu trong vật chất hồng trần của ba trạng thái lớn biểu hiện thành thất phân.
Vì thế, khi người chí nguyện giữ vị thế của người chủ các giác quan và là người phân tích tất cả các nhận thức giác quan của mình, y dần dần tập trung nhiều hơn vào cấp trí tuệ. Nếu cần, nhà yogi tiến hóa cao bất cứ lúc nào cũng có thể tự đồng nhất với năng lượng của một trong các cung mà không chú ý đến các cung khác.
Có lời khuyến cáo người môn sinh không nên lầm tưởng rằng có thể đạt được sự “an vui thanh tịnh” này qua việc tham thiền rõ rệt vào một giác quan nào đó. Khi hiểu được các định luật sáng tạođịnh luật âm thanh, khi xem xét bộ phận phát ra âm thanh trong miệng, và phương pháp tạo ra lời nói, bấy giờ hành giả có thể biết được các quá trình sáng tạo nên thế giới, và thấu hiểu những định luật sản sinh toàn thể các hình hài sắc tướng. [81] Cần lưu ý rằng giác quan của tất cả các nhà yogi đều đương nhiên trở nên bén nhạy một cách lạ thường.
36. Có thể biết được Tinh thần và đạt sự an tịnh bằng cách tham thiền về Ánh sáng và sự Phóng quang.
Người môn sinh cần lưu ý rằng mỗi phương pháp nêu trên đều liên quan đến một luân xa nhất định. Có bảy phương pháp thành đạt được đề cập. Vì thế, có thể suy diễn rằng các phương pháp ấy bao gồm bảy luân xa.
Phương pháp I. Câu 33. Luân xa tùng thái dương.
Có thể khiến cho chitta (hay trí tuệ chất) trở nên an tịnh bằng cách vun bồi lòng thiện cảm, nhân hậu, giữ vững mục đích, và hạnh vô dục đối với mọi niềm vui, nỗi khổ, hoặc mọi hình thái của thiện hay ác.
Phương pháp II. Câu 34. Luân xa chót xương sống. Chitta cũng trở nên an tịnh nhờ điều hòa prana.
Phương pháp III. Câu 35. Luân xa giữa hai chân mày.
Có thể làm cho cái trí vững vàng ổn định bằng cách tập trung vào các nhận thức của giác quan.
Phương pháp IV. Câu 36. Luân xa đầu.
Có thể biết được Tinh thần và đạt sự an tịnh bằng cách tham thiền về Ánh sáng và sự Phóng quang. [82]
Phương pháp V. Câu 37. Luân xa sinh dục.
Cái trí trở nên ổn định và không ảo tưởng khi phàm tính được tinh luyện và không còn phóng túng.
Phương pháp VI. Câu 38. Luân xa cổ họng.
Có thể đạt sự an tịnh (vững vàng ổn định của cái trí) bằng cách tham thiền về sự hiểu biết qua những giấc mơ.
Phương pháp VII. Câu 39. Luân xa tim.
Cũng có thể đạt sự an tịnh nhờ tập trung vào những gì mà lòng ta yêu mến nhất.
Cần xem xét kỹ những phương pháp nói trên, cho dù ở đây không thể đưa ra chi tiết về qui trình thực hiện. Người môn sinh chỉ có thể xem xét cái nguyên khíđịnh luật có liên quan. Cũng cần lưu ý rằng tất cả các luân xa nói trên đều có phần tương ứng trong vật chất dĩ thái ở vùng đầu. Và khi các trung tâm vừa kể ở vùng đầu được đánh thức thì các luân xa tương ứng của chúng cũng được đánh thức một cách an toàn. Bảy trung tâm này ở vùng đầu trong tiểu vũ trụ (con người) tương ứng với bảy vị Rhisis của chòm sao Đại hùng, là nguyên mẫu của bảy vị Thiên nhân. Trong khi đó bảy luân xa nói trên liên quan đến năng lượng của bảy vị Thiên nhân vừa kể.
Ở đây không cần phải quảng diễn về bảy luân xa nói trên, ngoài việc nêu lên một số chi tiết như sau:
1. Về mặt biểu tượng, người chí nguyện có thể xem mỗi luân xa như một hoa sen.
2. Hoa sen này được hình thành bởi các đơn vị năng lượng di chuyển hay rung động một cách đặc biệt. Các sóng rung động này có hình dạng gọi là những cánh hoa sen. [83]
3. Mỗi hoa sen gồm có:
a. Một số cánh nhất định.
b. Một vòng ngoài nâng đỡ hay đài hoa.
c. Phần trung tâm với ánh sáng trắng thuần khiết gọi là “viên ngọc.”
4. Mỗi luân xa tương ứng với một hành tinh thánh thiện, là cơ thể biểu hiện của một trong bảy vị Thiên nhân.
5. Mỗi luân xa phải được phát triển bằng cách sử dụng Thánh ngữ. Đây là thánh ngữ AUM, và rốt cuộc nó phải xuất hiện ở tâm rung động của luân xa. Khi phần trung tâm hoàn toàn chói rạng thì luân xa đã hoàn toàn linh hoạt.
6. Một số đặc tính của mặt trời cũng là đặc tính của các luân xa.
a. Đặc tính của luân xa tùng thái dương ấm.
b. Đặc tính của luân xa chót xương sống lửa kundalini.
c. Đặc tính của luân xa giữa hai chân mày ánh sáng quang huy.
d. Đặc tính của luân xa đầu ánh sáng lạnh.
e. Đặc tính của luân xa sinh dục hơi ẩm.
f. Đặc tính của luân xa cổ họng ánh sáng đỏ.
g. Đặc tính của luân xa tim ánh sáng bức xạ hay từ tính.
Trong câu này, có lời khuyên nên tham thiền về ánh sáng và sự phóng quang. Khi hiểu về ánh sáng và có khả năng sử dụng nó, hành giả có thể biết được tinh thần. Theo Kinh điển xưa, Brahma ở trung tâm của “luân xa tim” và Ngài tự hiển lộ trong ánh sáng. Vì thế, người chí nguyện cần ý thức được “điểm ánh sáng bên trong bánh xe có mười hai nan hoa này.” Khi y suy ngẫm kỹ về điểm ánh sáng đó, nó sẽ cho thấy con đường phải đi để đạt mục tiêu. Cần nhớ rằng điều được hiển lộ đầu tiên là bóng tối. Theo thuật ngữ của khoa thần bí Tây [84] phương, sự hiển lộ này mang lại “đêm tối của linh hồn.” Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bận tâm đến khía cạnh thần bí, mà cần kết luận càng gần với đường hướng huyền môn càng hay. Chân lý này, như được phát biểu trong phạm vi khoa thần bí Thiên Chúa giáo, vốn đã thường được bàn thảo một cách đầy đủ rồi.
37. Cái trí trở nên ổn định và không ảo tưởng khi phàm tính được tinh luyện và không còn phóng túng.
Cách chuyển dịch này đặc biệt phóng khoáng, vì việc diễn giải ngôn từ Bắc Phạn có phần nào khó khăn. Cái ý tưởng được truyền đạt là khi liên tục chế ngự các cơ quan nhận thức và những tiếp xúc của giác quan (tức là không còn tự đồng hóa với chúng), thì chân nhân “không còn si mê.” Dục vọng, hay lòng ham muốn tất cả các đối tượng khác đều được khắc phục. Điều này mang lại kết quả tương ứng là sự ổn định của thể trí và khả năng tập trung. Bởi vì cái trí không còn chịu ảnh hưởng của các biến thái do bất cứ phản ứng nào của giác quan, dù đó là những phản ứng được gọi là tốt hoặc những phản ứng bị cho là xấu.
Điều này đã được khuyến khích rất nhiều trong các hệ thống giáo huấn. một trong những phương pháp đề nghị là liên tục tham thiền về những đấng cao cả như Đức Krishna, Đức Phật và Đức Christ, là những Vị đã giải thoát khỏi các phản ứng giác quan. [85] Ý tưởng này được đưa ra trong một số bản dịch. Thế nhưng, dù được nêu lên theo quan điểm của dịch giả, dường như câu dịch không nói lên được ý chính của tác giả. Hành giả không còn bám chấp khi đã khắc phục được lửa dục vọng. Dù luân xa sinh dục được xem như có liên quan đặc biệt đến tính dục, thế nhưng dục tính ấy (khi tự biểu lộ ở cõi trần) chỉ là biểu tượng của sự bám chấp giữa linh hồn và bất cứ đối tượng nào của sự ham muốn, không phải là tinh thần.
38. Có thể đạt sự an tịnh (vững vàng ổn định của cái trí) bằng cách tham thiền về sự hiểu biết qua những giấc mơ.
Nhóm từ cần lưu ý trong Câu 38 là “sự hiểu biết qua những giấc mơ.” Về phương diện này, nên xem lại luận giải trong Câu 10. Người chí nguyện cần hiểu rõ rằng nhà huyền bí học Đông phương dùng từ “giấc mơ” theo ý nghĩa chuyên môn hơn cách dùng của người Tây phương. Với người Đông phương, tình trạng mộng ảo sâu xa nhất là khi chân nhân bị chìm vào đời sống ở cõi hồng trần. Điều này tương ứng với trạng thái mơ mộng mà chúng ta nhận biết là do sự rung động của các tế bào não bộ trong thân xác. Cơn mơ này có tính cách lộn xộn, không liên tục với những tình huống đầu Ngô mình Sở, và đương sự không thể nhớ lại đúng và chính xác khi thức dậy. [86] Đây là tình trạng mơ mộng ở cõi trần. Kế đến là tình trạng mơ mộng khi đương sự chìm đắm vào một cảm nhận nào đó của giác quan, hoặc là vui sướng hay đau khổ. Tình trạng này được trải nghiệm trong thể cảm dục hay thể tình cảm. Sự hiểu biết qua điều kiện mơ mộng ở cõi trần phần lớn thuộc về bản năng. Sự hiểu biết qua điều kiện mơ mộng cảm dục thì phần lớn thuộc về giác quan. một sự hiểu biết là nhận thức của chủng tộc và đoàn nhóm. Hiểu biết kia liên quan đến cái phi-ngã và mối liên hệ của đương sự với cái phi-ngã.
Rồi đến một trạng thái ý thức mơ mộng cao hơn. Trong đó, một loại quan năng khác gọi là trí tưởng tượng đi vào hoạt động, mang lại một dạng hiểu biết riêng. Trí tưởng tượng gồm một số trạng thái của cái trí như sau:
a. Ký ức về những sự việc mà đương sự đã biết, như những trạng thái ý thức,
b. Dự kiến về những sự việc có thể biết, hoặc về những trạng thái ý thức,
c. Hình dung những điều kiện tưởng tượng, rồi dùng hình ảnh đã gợi lên như một hình dạng để có thể tiếp xúc với một lĩnh vực nhận thức mới, khi người mơ mộng có thể tự đồng hóa với những gì y đã tưởng tượng.
Ba trạng thái mơ mộng nói trên là điều kiện của người suy tưởng trong tam giới, từ tình trạng dã man dốt nát đến trình độ của người có trí tuệ trung bình. Từ đó cứ tiếp tục phát triển cho đến trạng thái ý thức mơ mộng cao hơn nhiều.
Để thực sự sử dụng trí tưởng tượng, hành giả cần mức độ tự chủ và năng lực trí tuệ cao. Điều kiện này rốt cuộc đưa đến trạng thái gọi là “samadhi (hay nhập định).” [87] Samadhi là điều kiện mà vị cao đồ có thể khiến cho toàn bộ phàm nhân ngủ yên, và chính mình đi vào lĩnh vực biết được “những giấc mơ của Thượng Đế.” Trong lĩnh vực đó, y có thể tiếp xúc, thấy và biết “những linh ảnh” mà Thượng Đế đã sáng tạo. Thế là y có thể sáng suốt tham gia kế hoạch tiến hóa vĩ đại.
Cao hơn trạng thái samadhi nói trên còn có giấc mơ của các vị Nirmanakaya và các vị Phật. Cứ thế, hành giả tiến lên trên chiếc thang đẳng cấp của cuộc sống, cho đến khi y biết được Đấng cao cả với Giấc mơ Vĩ đại. Ngài là Đấng Duy nhất, vị Narayama duy nhất, Đức Chúa tể Hoàn cầu, Đấng Thái cổ, Đức Hành tinh Thượng Đế của chúng ta. Người môn sinh chỉ có thể hiểu được phần nào tính chất của các trạng thái giấc mơ nói trên, khi nghiên cứu ý tưởng đã truyền đạt ở trên. Kết quả là, đối với nhà huyền bí học, cuộc sống ở cõi trần này chỉ là một điều kiện của giấc mơ.
39. Cũng có thể đạt sự an tịnh nhờ tập trung vào những gì mà lòng ta yêu mến nhất.
Dù rất đơn giản, Câu 39 vẫn có hàm ý rất quan trọng. Hàm ý này bao gồm những giai đoạn hoạch đắc khác nhau − ham muốn, khao khát, tập trung quyết tâm chiếm hữu, chối từ tất cả những gì không đáp ứng yêu cầu đó, buông bỏ để rảnh tay chiếm hữu cái mới, rồi sở hữu được điều ham muốn, thỏa mãn, an vui. [88] Thế nhưng, với tất cả những gì liên quan đến các ham muốn thấp thỏi, sự an vui này chỉ có tính cách tạm thời. một điều ham muốn mới trỗi dậy, và những gì đã được ôm giữ một cách vui thích thì nay bị vứt bỏ. Chỉ những gì là thành quả của nhiều thời đại, chỉ những gì tái lập điều đã có từ xưa mới mang lại sự hài mãn. Vì thế, người môn sinh cần cứu xét và xác định xem điều mà lòng y yêu mến nhất thì có tính cách tạm thời, thoáng qua và phù du, hay đó là “kho báu trên cõi giới thiêng liêng,” như lời Chúa phán dạy.
Dưới đây là câu có tính toàn diện nhất trong sách: (40). Chúng ta có thể thấy rằng “bảy phương cách để đạt sự bình an nội tâm” nói trên liên quan đến bảy phương pháp của bảy cung trong việc chế ngự nội tâm. Đó là điều quan trọng cần lưu ý. Bảy phương cách này trực tiếp liên quan đến bốn cuộc điểm đạo ở ngưỡng cửa, bởi vì mỗi người con của Thượng Đế đều cần đạt một mức độ bình an nội tâm trước khi nhận một cuộc điểm đạo chính yếu. Người môn sinh nên xét bảy phương cách đạt sự bình an nói trên cùng với bảy cung để xem phương cách nào thích hợp với cung nào.
40. Bằng cách đó, nhận thức của hành giả mở rộng từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, và y hiểu biết đầy đủ từ annu (hạt nguyên tử hay vi trần) đến atma (hay tinh thần).
Cách dịch nói trên không sát với các thuật ngữ Bắc Phạn, nhưng lại chuyển đạt đúng ý nghĩa của nguyên bản. [89] Đó mới là điều thực sự quan trọng. Trong một cổ thư còn ẩn giấu có ghi đoạn sau đây, được dùng để minh giải ý tưởng của câu kinh này:
“Có thể thấy Thượng Đế trong hạt bụi li ti. Bên trong mỗi người. Ngài đang ngự trị. Bên trong Brahma cả hai an trú; thế nhưng tất cả là một. Vi tử như Thượng Đế, Thượng Đế như vi tử.”
Chân lý hiển nhiên của huyền môn cho thấy rằng, theo đại luật tương đồng, khi hành giả tự biết mình y sẽ biết được Thượng Đế. Sự hiểu biết này gồm năm phương diện chính:
1. Hình thể,
2. Cấu tạo của hình thể,
3. Các mãnh lực,
4. Các nhóm,
5. Năng lượng.
Hành giả phải hiểu tính chất của cơ thể và tất cả các lớp áo khác của mình. Đây là sự hiểu biết về hình thể. Y khám phá ra rằng các hình thể đều do những nguyên tử hay là “những điểm năng lượng” tạo thành. Đó là điều giống nhau của tất cả các hình hài sắc tướng. Đây là hiểu biết về sự cấu tạo của hình thể. Kế đến, y hiểu được toàn bộ năng lượng của những nguyên tử tạo thành các thể của mình. Nói cách khác, y hiểu được những loại mãnh lực khác nhau. Tính chất của các lực này tùy theo nhịp điệu, hoạt tính và phẩm tính của các nguyên tử hình thành một thể hay các thể nói trên. Đây là hiểu biết về các mãnh lực. Về sau, y khám phá ra những hình thể tương tự có sự rung động và cách phát lộ mãnh lực giống nhau. Đây là hiểu biết về các nhóm. Nhờ đó, y thấy được vị trí của mình và công việc mình cần phải làm. [90] Cuối cùng, y biết được cái liên hệ đến mọi hình thể, kiểm soát tất cả các mãnh lực, và là nguyên động lực của tất cả các nhóm. Đây là hiểu biết về năng lượng, liên quan đến bản tính của tinh thần. Khi nhận thức được năm điều nói trên, hành giả đạt được sự thông hiểu. Vì sự nhận thức cần một số yếu tố sau đây:
1. Nguyện vọng,
2. Nghiên cứu và khảo sát,
3. Thí nghiệm,
4. Đồng nhất,
5. Nhận thức
Bậc toàn thông có thể tự đồng nhất với, hoặc nhập vào tâm thức của, cái vô cùng nhỏ. Ngài có thể tự đồng nhất với tâm thức của hạt nguyên tử vật chất và biết những gì mà các nhà khoa học hiện nay còn chưa biết. Ngài cũng nhận thấy rằng giới nhân loại (gồm những nguyên tử người) đang ở vị trí hay trình độ trung gian trên thang tiến hóa. Vì thế, con người tương đối cách đều giữa cái vô cùng nhỏ và cái vô cùng lớn. Phải cố gắng rất nhiều để thấu hiểu tâm thức của cái cực vi trong toàn cuộc biểu hiện của Thượng Đế, cũng như để thấu hiểu cái (tương đối) cực đại, là một hệ mặt trời. Tuy nhiên, trong tất cả các phạm vi vừa kể của tâm thức, hành giả vẫn chỉ dùng một phương pháp để thấu suốt − tham thiền chuyên chú tập trung, nhờ đó mà có năng lực hoàn toàn chế ngự thể trí. Với cấu tạo đặc thù, thể trí vừa được dùng như một kính viễn vọng để quan sát đại vũ trụ, vừa là một kính hiển vi để quan sát cái cực vi. [91]
41. Người đã hoàn toàn chế ngự các vritti (biến thái của chất liệu thể trí) rốt cuộc sẽ đi vào trạng thái đồng nhất với, và tương đồng với, những gì được y nhận thức. người hiểu biết, sự hiểu biết và lĩnh vực hiểu biết trở thành một, giống như khối pha lê nhận màu sắc của những gì phản ánh trong nó.
Đương nhiên, câu kinh này là hệ quả của câu trước. Người tri kiến hoàn hảo bao gồm toàn bộ phạm vi hiểu biết trong tâm thức của mình, từ quan điểm của người quan sát hay là người nhận thức, và cũng từ quan điểm đồng nhất. Y hợp nhất với hạt nguyên tử vật chất; y có thể nhận biết vũ trụ tế vi nhất. Y hợp nhất với thái dương hệ, là vũ trụ rộng lớn nhất mà y được phép biết trong đại chu kỳ này. Y thấy linh hồn của mình đồng nhất với linh hồn của cả hai. Trong cái cực vi, y thấy tiềm năng. Trong cái cực đại, y thấy phẩm cấp siêu việt không thể hiểu theo quan điểm nhân loại, đưa đến sự hoàn thiện tối hậu. Hoạt lực giữ cho các điện tử xoay quanh trung tâm của chúng, có bản chất vốn đồng nhất với những gì giữ cho các hành tinh quay chung quanh mặt trời trên quỹ đạo của chúng. Và trong khoảng giữa hai sự biểu hiện thiêng liêng này, có vô số những hình thể khác nhau.
Người môn sinh huyền bí cần phải nhận thức rằng các hình hài sắc tướng đều rất đa dạng, và thiên hình vạn trạng, thế nhưng tất cả các linh hồn của chúng đều đồng nhất với Đại hồn. Khi hiểu rõ bản chất, phẩm tính, chủ âm và nốt của một linh hồn (dù đó là của một nguyên tử hóa học, một đóa hoa hồng, một viên ngọc, một con người hay một vị thần), hành giả sẽ thấu hiểu tất cả các linh hồn khác trên thang tiến hóa. Và tiến trình này là duy nhất cho tất cả: Nhận biết, dùng các giác quan, gồm cả giác quan thứ sáu, là thể trí, để [92] đánh giá hình thể và cấu tạo của nó; Tập trung, một tác động của ý chí dùng các giác quan để phủ định hình thể, và người tri thức thấu đáo những gì bên trong hình thể ấy rung động đồng nhịp với linh hồn của mình. Nhờ đó, y biết những gì mà hình thể (hay phạm vi hiểu biết ấy) đang phát biểu,—tức là linh hồn, chủ âm hay phẩm tính của nó.
Sau đó là Chiêm ngưỡng, người tri thức hợp nhất với những gì trong chính mình đồng nhất với linh hồn bên trong hình thể ấy. Bấy giờ cả hai trở thành một và sự nhận thức trở nên hoàn toàn. Có thể thực hành điều này giữa hai cá nhân. Trước hết phải có sự nhận biết tiếp xúc giữa hai người, họ có thể thấy, nghe và giao tiếp với nhau. Kết quả là sự nhận biết về hình thể hời hợt bề ngoài. Thế nhưng có thể tiến đến một giai đoạn khác, khi một người vượt qua cái hình thể bên ngoài và thấu hiểu phẩm tính bên trong người huynh đệ của mình. Y có thể chạm đến khía cạnh tâm thức trong người ấy vốn tương đồng với khía cạnh tâm thức nơi chính mình. Y biết được phẩm tính cuộc sống người huynh đệ của mình, biết được tính chất các kế hoạch, khát vọng, hy vọng, và mục đích của người đó. Y hiểu biết người huynh đệ, và càng tự biết mình và linh hồn của mình y càng thấu hiểu người ấy nhiều hơn. Cuối cùng, y có thể tự đồng nhất với người huynh đệ và trở nên giống như người ấy, hiểu biết và cảm nhận như linh hồn của người ấy hiểu biết và cảm nhận. Đây là ý nghĩa của ngôn từ huyền nhiệm trong Thư của Thánh John “Chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy được Chân tính của Ngài.” [93]
Ở đây tưởng cũng nên nhắc lại một số từ đồng nghĩa, nếu được lưu ý, sẽ làm sáng tỏ phần lớn giáo huấn trong các câu kinh. Nhờ đó, người môn sinh có thể áp dụng thực hành những ý tưởng này trong cuộc sống của mình.
Tinh thần Linh hồn Thân xác.
Chân thần Chân nhân Phàm nhân.
Siêu ngã Chân ngã Phàm ngã.
Người nhận thức Sự nhận thức Điều được nhận thức.
Người hiểu biết Sự hiểu biết Phạm vi hiểu biết.
Người suy tưởng Tư tưởng Cái trí (đây là khối pha lê, phản ánh tư tưởng của người suy tưởng).
Cũng cần ghi nhớ rằng:
1. Ở cõi trần, người nhận thức dùng năm giác quan để tiếp xúc với phạm vi hiểu biết.
2. Cả ba cảnh giới trong tam giới của chúng ta là thân xác thô đặc của Đấng “mà chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong Ngài.”
3. Ở cõi cảm dục hay cảnh giới tình cảm, các loại quyền năng cấp thấp là thông nhãn và thông nhĩ được người nhận thức sử dụng. Khi bị dùng sai, nó sẽ làm bộc lộ con rắn cám dỗ trong vườn Địa đàng.
4. Ở cõi trí, người nhận thức sử dụng khoa trắc tâm và khoa biểu tượng (gồm cả khoa số học và hình học) để thấu hiểu các cấp hạ trí.
5. Chỉ khi thấy rằng ba cõi này là cấp thấp và thuộc về phương diện sắc tướng, bấy giờ người nhận thức mới đủ điều kiện để có thể bắt đầu hiểu được bản tính của linh hồn và diệu nghĩa của các Câu 40 và 41. [95]
6. Khi đã đạt đến trình độ này, y bắt đầu phân biện và sử dụng thể trí như giác quan thứ sáu. Nhờ đó, y hiểu được phẩm tính nội tại tức là sự sống ẩn trong phạm vi hiểu biết (hay hình thể). Đây là bản tính của linh hồn ngự trong hình hài, sắc tướng, và thực sự là toàn tri và vô sở bất tại, dù còn trong tiềm năng.
7. Qua trung gian của linh hồn nơi chính mình, hành giả có thể giao tiếp với linh hồn trong mọi hình hài, sắc tướng. Y thấy rằng tất cả các linh hồn đều là một, và có thể dễ dàng nhập vào linh hồn của một hạt nguyên tử, hoặc một chú chim hút mật bé nhỏ. Y cũng có thể mở rộng nhận thức theo chiều hướng khác, biết mình là một với Thượng Đế và tất cả các bậc siêu nhân.
42. Khi người nhận thức hòa hợp cả ngôn từ, ý tưởng (hay ý nghĩa) và đối tượng, thì đây là điều kiện của trí suy luận phán đoán.
Trong câu này và câu sau, Patanjali bàn rộng về cách phô diễn chân lý đã nêu ở phần trước. (Xem Câu 7.) Ông nói rằng tham thiền có hai loại:
1. Tham thiền hữu chủng hay là thiền có đối tượng, và vì thế sử dụng trí suy luận phán đoán, thể trí với năng lực cụ thể hóa, và khả năng tạo hình tư tưởng,
2. Tham thiền vô chủng hay là thiền không đối tượng, và vì thế sử dụng một năng lực khác. Hành giả chỉ có được năng lực vừa kể khi đã hiểu rõ và sử dụng đúng cái trí cụ thể. [95] Sử dụng đúng bao gồm khả năng “làm cho các biến thái của thể trí trở nên yên lặng,” khiến “chitta” hay trí tuệ chất trở nên an tĩnh. Bấy giờ, thể trí có thể đón nhận những hiểu biết cao siêu, và phản ánh các thực tế cao siêu.
Người nhận thức có thể hiểu biết những điều vi diệu theo tiến trình sau đây. Trước hết là ý thức về hình thể bên ngoài. Sau đó, vượt qua ngoại hình để đến trạng thái ẩn bên trong hình thể, tức là một loại lực nào đó tạo nên ngoại hình, cho đến khi y thấu đáo được cái nguyên nhân của cả hai cái vừa kể. Trong câu này, cả ba được gọi là:
Ý tưởng ..........Nguyên nhân ẩn trong ngoại hình.
Ngôn từ..........Âm thanh tạo nên hình thể.
Đối tượng ........Hình thể được tạo bởi âm thanh để phát biểu ý tưởng.
Người môn sinh cần hiểu đây là bước đầu của tham thiền, và là phương pháp phân tách, vì trong tiến trình này hạ trí được sử dụng. Sự vật được chia tách thành các hợp phần. Y thấy chúng có ba phần − như tất cả những sự vật khác trong thiên nhiên. Khi thấu đáo điều này, y thấy rõ tầm quan trọng và ý nghĩa huyền môn của tham thiền. Phương pháp của huyền bí gia trở nên sáng tỏ. Bao giờ trong tiến trình tìm hiểu thiên nhiên, huyền bí gia cũng đi từ ngoại hình vào bên trong để khám phá ra âm thanh đã tạo nên hình thể ấy, hay tất cả các lực đã tạo ra ngoại hình vừa kể. mọi tập hợp các lực đều có âm thanh riêng, do sự tương tác của chúng. [96] Khi đã khám phá được điều này, y thâm nhập sâu hơn vào bên trong để chạm đến cái nguyên nhân, cái ý tưởng hay tư tưởng thiêng liêng (phát xuất từ Thượng Đế, của hành tinh hay thái dương hệ), vốn dĩ làm phát sinh âm thanh, để bằng cách đó mà tạo nên hình hài, sắc tướng.
Người thông thạo công tác sáng tạo thì bắt đầu từ bên trong. Biết rõ cái ý tưởng mà mình muốn thể hiện, y xướng lên một số linh từ để mang lại những mãnh lực nhằm tạo ra một loại hình thể (qua sự tương tác của các lực đó). Càng làm việc ở cấp cao, y càng tiếp xúc với những ý tưởng cao siêu hơn, và những âm thanh phát ra càng đơn giản hoặc có tính tổng hợp nhiều hơn.
Tuy nhiên, các môn sinh Raja Yoga cần hiểu rõ những điều cơ bản về mọi hình thể. Họ cũng cần quen thuộc với việc chia tách các bộ ba nói trên trong tham thiền. Nhờ thế, rốt cuộc họ có thể tiếp xúc với bất cứ khía cạnh thành phần nào trong đó tùy ý muốn. Theo cách này, họ có thể hiểu được tính chất của tâm thức. Người nhận thức (khi đã thành thạo về các biệt hóa kể trên) có thể nhập vào tâm thức của các nguyên tử cấu thành một ngoại thể hữu hình. Y có thể đi xa hơn và nhập vào ý thức của các năng lượng tạo nên ngoại thể vừa kể. Đây là thực nghĩa của cái gọi là “Đạo quân của Tiếng nói.” Rốt cuộc, y cũng có thể giao tiếp với tâm thức của Đấng Cao cả là vị xướng lên linh từ đầu tiên. Đây chỉ là những điểm chính, vì trong khoảng đó có nhiều đẳng cấp sinh linh liên quan đến các âm thanh trung gian mà y có thể tiếp xúc và hiểu biết. [97]
43. Hành giả nhận thức mà không suy luận phán đoán khi không còn bị trí nhớ chi phối, khi đã vượt khỏi ngôn từ và đối tượng mà chỉ còn thấy ý tưởng.
Đây là tâm thái “thiền vô chủng,” không còn sử dụng cái trí để suy luận và cụ thể hóa. Hành giả không còn xét đến đối tượng (vốn được đưa vào ý thức của cái trí bằng cách nhớ lại hay hồi tưởng). Y cũng không còn nghe những lời định danh nó và phát biểu năng lực của nó. Y chỉ nhận biết cái ý tưởng mà hai phương diện kia phát biểu, và đi vào lĩnh vực của ý tưởng và nguyên nhân. Đây là chiêm ngưỡng hay nhập định hoàn toàn, không còn vướng bận bởi hình tướngtư tưởng. Trong nhập định, người nhận thức lặng nhìn thế giới của các nguyên nhân. Y thấy rõ những sự thôi thúc thiêng liêng. Sau khi đã chiêm ngưỡng hoạt động nội tại của Thiên giới, y phản chiếu những gì đã thấy vào thể trí hay cái trí đang yên lặng. Và cái trí chuyển sự hiểu biết này vào não bộ của xác thân.
44. Hai tiến trình tập trung nói trên, có hoạt động phán đoán của cái trí hoặc không, cũng có thể được áp dụng cho những điều tế vi.
Câu này có ý nghĩa rõ ràng nên không cần giải thích nhiều. Từ “tế vi” có nhiều ý nghĩa, thế nhưng (theo quan điểm của Patanjali) rất thường được áp dụng cho những gì cốt yếu mà chúng ta ý thức được sau khi đã sử dụng ngũ quan. [98] Ví dụ như, hoa hồng là ngoại thể hữu hình; hương thơm của nó là “cái tế vi” ẩn trong hình thể. Cái tế vi này cho nhà huyền bí học thấy được phẩm tính của nó, và là kết quả của những thành tố tinh vi hơn giúp nó biểu hiện. Những yếu tố thô kệch hơn tạo thành ngoại thể. Tuy nhiên, bên trong hình thể thô kệch đó là những gì tinh vi hơn mà chúng ta chỉ có thể tiếp xúc qua ý thức sáng tỏ hay nhận thức bén nhạy. Phần luận giải sau đây trong bản dịch của Woods giúp chúng ta hiểu rõ. Nếu suy ngẫm những lời này trong tham thiền, người môn sinh trình độ cao sẽ tìm thấy diệu nghĩa huyền môn rất sâu xa:
“. . . nguyên tử của đất được tạo bởi năm yếu tố lửa, trong đó nổi bật là yếu tố lửa của mùi. Tương tự, nguyên tử của nước được tạo bởi bốn yếu tố lửa, trong đó nổi bật là yếu tố lửa của vị nếm. Tương tự, nguyên tử của lửa được tạo bởi ba yếu tố lửa, không bao gồm yếu tố lửa của mùi và vị, và trong đó nổi bật là yếu tố lửa của màu sắc. Tương tự, nguyên tử của gió được tạo bởi hai yếu tố lửa, bắt đầu là mùi, và trong đó nổi bật là yếu tố lửa của xúc chạm. Tương tự, nguyên tử của không khí chỉ được tạo bởi yếu tố lửa của âm thanh.”
Nếu ý tưởng này được mở rộng đến đại vũ trụ, chúng ta sẽ thấy mình có thể tham thiền về ngoại thể của Thượng Đế trong Thiên nhiên, vừa dùng hoạt động phán đoán của cái trí hoặc không. Bấy giờ, khi đã có kinh nghiệm hành thiền, và dùng tác động của ý chí, người môn sinh có thể thiền về bản tính tinh vi nội tại của Thượng Đế, được biểu hiện theo đại Luật Hấp dẫn. Người Thiên Chúa giáo đề cập đến Luật này trong câu “Thượng Đế là Bác ái.” [99] Bản tính của Thượng Đế, “nguồn bác ái” vĩ đại hay lực hấp dẫn là nguyên nhân của “những điều tế vi” ẩn dưới lớp màn che của ngoại hình.
45. Cái thô kệch dẫn đến cái tế vi, và qua các giai đoạn liên tiếp cái tế vi dẫn đến trạng thái sự sống tinh thần thuần khiết gọi là Pradhana.
Trong câu kinh này, người môn sinh cần lưu ý đến các cấp độ hay giai đoạn sau đây mà y phải đi qua để thấu đến trung tâm của những gì sâu kín nhất:
1. Cái thô kệch.........hình thể, các bhuta, những lớp áo hữu hình.
2. Cái tinh vi ............tính chất hay phẩm tính, các tanmatra, indrya, hay giác quan, cơ phận của giác quan hoặc những gì được cảm nhận.
Có thể áp dụng những điều vừa kể cho tất cả các cảnh giới trong tam giới liên quan đến con người. Chúng có liên quan mật thiết với các cặp đối cực mà y phải cân bằng trên cõi tình cảm. Ẩn trong tất cả những điều vừa kể là trạng thái thăng bằng, gọi là Pradhana, nguyên nhân của những gì được tiếp xúc về mặt thể chất và cảm nhận tế vi. Có thể gọi trạng thái thăng bằng này là chất liệu nguyên thủy không thể phân giải, là vật chất hợp nhất với tinh thần, chưa biệt hóa, chưa có hình dạng hay biểu hiệu rõ rệt. Ẩn trong ba cái kể trên là Nguyên khí Tuyệt đối. Thế nhưng, ba cái kể trên là tất cả những gì mà con người có thể biết khi đang ở trong cuộc biểu hiện. Trong luận giải của ông, Vivekananda nói như sau:
“Các đối tượng thô kệch hơn chỉ là những nguyên tố, và vạn vật được tạo ra từ những nguyên tố ấy. [100] Năm đối tượng bắt đầu với các Tanmatra hay là năm phần tử. Các cơ quan, cái trí (tổng hợp cả các giác quan), tính vị kỷ, trí tuệ chất (nguyên nhân của mọi sự biểu hiện), trạng thái quân bình của sattva, rajas và tamas (ba đặc tính của vật chất. A. B.), − gọi là Pradhana (Chủ thể), Prakriti (thiên nhiên) hoặc Avyakta (cái không biểu hiện) tất cả đều được bao gồm trong phạm trù năm đối tượng. Chỉ riêng Purusa (linh hồn) là ở ngoài định nghĩa này.).”
Ở đây, rõ ràng Vivekanada chuyển dịch purusa là linh hồn, nhưng từ này thường được dịch là tinh thần và chỉ về trạng thái thứ nhất.
46. Tất cả những điều nói trên là tham thiền hữu chủng.
Bốn câu kinh trên đây đã bàn về những hình thức tập trung xoay quanh một đối tượng. Đối tượng ấy có thể liên quan đến những gì tế vi và vô hình, nhìn theo quan điểm của cõi hồng trần. Thế nhưng, (theo quan điểm của chân nhân hay con người tinh thần) đối tượng ấy thực tế là phi- ngã. Hành giả quan tâm đến những gì (mà trong bất cứ khía cạnh nào của nó cũng) có thể đưa y vào các lĩnh vực không chính yếu là thuộc về tinh thần thuần khiết. Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần lưu ý rằng cả bốn giai đoạn nói trên đều cần thiết và phải đi trước bất cứ sự nhận thức nào có tính tinh thần nhiều hơn. Cái trí của mỗi người chính nó không được cấu tạo để hiểu được những gì thuộc về tinh thần. Khi đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác của tham thiền “hữu chủng”, bao giờ hành giả cũng ngày càng tiến gần hơn đến nguồn cội của mọi hiểu biết. Và rốt cuộc y sẽ giao tiếp với [101] điều mà y đang tham thiền. Bấy giờ y sẽ hiểu được bản tính của chính người suy tưởng là tinh thần thuần khiết. Bấy giờ y không còn bận tâm đến những bước, những giai đoạn, đối tượng, chủng tử, cơ quan, hình hài sắc tướng (dù tinh tế hay thô kệch) và chỉ biết có tinh thần. Y vượt cao hơn cả xúc cảm và trí năng và chỉ còn thấy chính Thượng Đế. Y không còn cảm nhận các rung động thấp kém. Y không còn thấy màu sắc, chỉ biết ánh sáng. Linh ảnh mờ đi, và y chỉ nghe âm thanh hoặc linh từ. Chỉ còn “con mắt của Shiva” và người tri kiến tự đồng nhất với cái thấy thiêng liêng này.
Bốn sự giải trừ kể trên là bốn giai đoạn nhận thức − những giai đoạn đưa hành giả ra khỏi thế giới sắc tướng, đi vào lĩnh vực sắc tướng. Điều thú vị là so sánh bốn giai đoạn diễn tiến của “tham thiền hữu chủng”, với bốn giai đoạn nói trên. Cũng có thể nói thêm rằng trong bất cứ lối thiền nào còn nhận biết tâm thức, thì tất có đối tượng. Trong một lối thiền mà người nhận thức còn biết cái được thấy, thì tất có tình trạng nhận thức về hình tướng. Chỉ khi nào toàn bộ hình tướng và chính phạm vi hiểu biết đều mờ đi, và người tri thức tự biết chân tính của mình (đắm chìm trong sự chiêm ngưỡng bản tính tinh thần thuần khiết của mình), bấy giờ y mới có thể đạt đến tâm thái thiền lý tưởng, sắc tướng, vô chủng, không đối tượng. Đến mức này, cả ngôn ngữ của huyền bí gia và thần bí gia đều không còn sử dụng được, vì ngôn ngữ chỉ bàn về cái khách quan ngoại tại và sự liên hệ của nó với tinh thần. Thế nên, tâm thái thiền cao siêu này tương tự như tình trạng ngủ yên hay xuất thần, nhưng tương phản với sự ngủ yên của thân xác hay sự xuất thần của người đồng tử. [102] Bởi vì trong đó con người tinh thần hoàn toàn tỉnh thức trên những cảnh giới bất khả tư nghị. Người ấy hoàn toàn trực thức Chân tính Tinh thần của mình.
47. Khi đến trạng thái nhập định cấp cao này, nhà Yogi hoạch đắc nhận thức tinh thần thuần túy qua sự thăng bằng yên lặng của chitta (trí tuệ chất).
Các từ ngữ Bắc Phạn dùng trong câu này chỉ có thể được chuyển dịch thành những thuật ngữ trong sáng, bằng cách dùng những cụm từ khiến cho phiên bản tiếng Anh trở nên sáng tỏ hơn. Có thể nêu nguyên nghĩa của câu này như sau “Có sự thanh tịnh và minh bạch khi chitta yên lặng.” Cần ghi nhớ cái ý tưởng ẩn tàng là sự thanh khiết đích thực, có nghĩa là “không còn bị hạn chế.” Vì thế mà có hàm ý nhận thức tinh thần thuần túy. Kết quả là sự giao tiếp của linh hồn với chân thần hay tinh thần. Sự hiểu biết qua giao tiếp này được truyền đến não bộ trong thân xác.
Điều này chỉ khả dĩ có vào một giai đoạn thực hành yoga rất cao, khi trí tuệ chất hoàn toàn yên lặng. Hành giả biết được Đức Chúa Cha ở trên Trời, như Ngài được Đức Chúa Con hiển lộ cho Đức mẹ. Chỉ còn sattva (hay tiết điệu) được biểu hiện. Trong khi đó, rajas (động) và tamas (tịnh) được chế ngự và kiểm soát. [103] Ở đây cần lưu ý rằng sattva chỉ về tiết điệu nhịp nhàng của các thể mà trong đó nhà yogi đang hoạt động. Và chỉ khi các thể này phát biểu đặc tính cao nhất trong ba guna (hay là các đặc tính của vật chất) nói trên, hành giả mới biết được cái cao siêu nhất hay là trạng thái tinh thần. Khi đặc tính rajas nổi bật, trạng thái thứ hai biểu lộ. Khi đặc tính tamas ngự trị, người ta chỉ còn biết đến trạng thái thấp nhất. Có sự tương đồng thú vị giữa trạng thái tịnh (hay tamas) của vật chất và tình trạng các thể của nhà yogi khi vị này ở trong trạng thái samadhi cao siêu nhất. Bấy giờ chuyển động sattva hay tiết điệu nhịp nhàng trở nên hoàn hảo đến đỗi theo cái thấy của người bình thường đó chỉ là tình trạng yên lặng. Thực ra, đó chính là sự thăng hoa của tình trạng tamas hay trì trệ của chất liệu thô trược nhất.
Những dòng sau đây trích từ phần luận giải trong bản dịch của Woods về các câu kinh sẽ rất hữu ích:
“Khi không còn bị che án bởi sự nhơ bợn, đặc tính sattva của chất liệu tư duy, cốt yếu là ánh sáng, lưu chuyển một cách sáng tỏ, liên tục, không còn bị tràn ngập bởi rajas và tamas. Đây là sự trong sáng. Khi sự trong sáng phát sinh trong trạng thái thăng bằng quán tưởng cao siêu, nhà yogi đạt (điều gọi là) sự bình an nội tâm không hề xao động, và thấy được tia chớp (sputa) thấu ngộ. Tia chớp này không liên tục xuyên qua trình tự của các diễn tiến kinh nghiệm thông thường. Thực tính của nó hàm chứa mục tiêu đã định . . . Sự nhơ bợn là rajas và tamas tích tụ. Đó cũng là sự thô trược với đặc trưng che án. Có sự trong sáng khi không còn tình trạng này.” (Tr. 93.)
Qua nghiêm trì giới luật, theo đúng các phương tiện của yoga, và bền lòng tham thiền, [104] hành giả đã thành công trong việc buông xả mọi hình tướng, và tự đồng nhất với cái sắc tướng.
Y đã đến tâm điểm sự sống của mình. Từ tâm điểm nhận thức tinh thần thuần khiết này, y có thể làm việc với khả năng ngày càng tăng mãi mãi về sau. Qua thực hành, y tăng cường nhận thức đó, và trọn cả đời sống, công việc và những tình huống đều được xem như các hoạt cảnh thoáng qua mà y chẳng bận tâm. Tuy nhiên, y có thể chiếu rọi chúng với ánh sáng tinh thần thuần khiết. Y là ánh sáng đó và biết mình là một thành phần trong “Ánh sáng của Thế giới,” và “trong ánh sáng đó y sẽ thấy được ánh sáng cao siêu hơn.” Y biết được thực tính của sự vật và nhận ra rằng tất cả những gì mà từ trước đến nay được xem là thực tế thì chỉ là ảo tưởng. Y đã nhìn xuyên qua đại Ảo ảnh, và thấy bên trong có cái ánh sáng vốn tạo ra nó, để từ đó về sau y không còn nhầm lẫn. Y có ý thức đúng về giá trị, và ý thức chính xác về sự cân đối tỉ lệ. Y không còn bị lừa gạt, hoàn toàn thoát khỏi những gì giả trá. Đến trình độ này, hành giả không còn bị ảnh hưởng bởi sự vui sướng và khổ đau. Y chìm trong chân phúc của sự Tự thức.
48. Nay hành giả nhận thức hoàn toàn chính xác, (hay là, trí y chỉ hiển lộ Sự thật).
Cả hai cách hiểu đều được đưa ra ở đây, vì chừng như cả hai bổ túc cho nhau để có ý tưởng đúng thực hơn là mỗi bản dịch riêng rẽ. Từ “chính xác” được dùng theo ý nghĩa huyền môn và chỉ về cách nhìn của Người nhận thức đối với tất cả các hiện tượng. [105] Cần “biết chính xác” thế giới ảo tưởng và thế giới của sắc tướng. Điều này thực sự có nghĩa là cần đánh giá đúng mối liên hệ của mọi hình tướng với tên gọi hay từ khởi thủy của nó. Khi diễn trình tiến hóa hoàn thành, mọi hình thể biểu hiện thiêng liêng phải ứng đáp chính xác với tên gọi của nó, hay là ứng đáp với linh từ làm phát khởi xung lực ban đầu, để giúp cho sự sống biểu hiện. Vì thế, bản dịch thứ nhất nhấn mạnh ý tưởng này và đề cập đến ba yếu tố.
1. Ý tưởng,
2. Linh từ,
3. Hình thể phát sinh.
Ba yếu tố này cũng đương nhiên mang theo một bộ ba khác,
1. Thời gian nối kết cả ba,
2. Không gian tạo nên ba yếu tố đó,
3. Cuộc tiến hóa, là diễn trình tạo thành.
Một kết quả của điều này là sự biểu dương định luật, và sự chính xác hoàn thành mục đích của Thượng Đế. Nhà yogi nhận biết điều này khi đã giải trừ thành công mọi hình tướng khỏi tâm thức của mình, và ý thức được cái ẩn trong mọi hình tướng. Cách hiểu thứ hai cho thấy y thực hiện như thế nào. Khi trí tuệ chất hoàn toàn yên lặng, và hành giả chú tâm vào yếu tố không phải là cái trí hay bất cứ hạ thể nào cả, thì nó có thể truyền đến não bộ trong thân xác một cách đúng đắn, chính xác, không nhầm lẫn, những gì được nhận thức trong Ánh sáng của Shekinah. Ánh sáng này tuôn rải từ Thánh điện Thiêng liêng mà hành giả đã bước vào đó. Y biết được sự thật và thấu hiểu cái nguyên nhân của mọi hình thể trong tất cả các giới tiến hóa của thiên nhiên. [106] Đây là sự khải thị huyền thuật chân chính và là điều then chốt của công tác huyền thuật mà tất cả các nhà yogi đích thực và những vị cao đồ đều tham gia.
49. Nhận thức nói trên có tính độc đáo và hiển lộ những điều mà cái trí suy đoán (qua bằng chứng, suy luận và diễn dịch) không thể thấu hiểu.
Ở đây có thể nói rằng với các khía cạnh và công dụng khác nhau của nó, cái trí của con người chỉ hiểu được những gì có tính khách quan, ngoại tại. Thế nhưng, chỉ khi đồng nhất với tinh thần, hành giả mới thấu đáo được bản tính và thế giới của tinh thần. “Chưa bao giờ có ai đã thấy được Thượng Đế; chỉ Người Con một của Ngài, đang ở trong lòng của Đấng Cha lành, là đã hiển lộ được Ngài.” Chỉ khi hành giả tự biết mình là một Người Con của Thượng Đế; chỉ khi Đấng Christ trong y thị hiện và sự sống Christ biểu lộ viên mãn; và chỉ khi y hợp nhất với thực tính tinh thần nội tại này tức là chân ngã của y, thì bấy giờ y mới thần, độc lập với vật chất hay hình thể). Bằng chứng qua bao thời đại cho thấy mãnh lực hay sự sống tinh thần trên thế giới. Từ kinh nghiệm sống của muôn triệu người có thể suy ra rằng tinh thần vốn hiện hữu. Khi xem xét thế gian này, tức là đại ảo ảnh, có thể hợp lý kết luận rằng hẳn phải có cái Nguyên nhân, vốn tự hữu và tự tồn, ẩn trong bức màn ảo ảnh đó. [107] Tuy nhiên, chỉ những ai có thể nhìn xuyên qua mọi hình hài sắc tướng và có thể vượt khỏi mọi hạn chế trong tam giới (cái trí, tình cảm và những sự vật của giác quan, hay là “những thứ cám dỗ trong đời”) mới có thể biết, không còn băn khoăn nghi ngờ gì nữa, rằng Thượng Đế đang hiện hữu, và biết mình chính là Thượng Đế. Bấy giờ, người ấy biết được sự thật, và chân lý này giúp y giải thoát, tự do.
Nhà yogi vượt cao hơn lĩnh vực hiểu biết, những phương tiện để hiểu biết và chính sự hiểu biết. Y nhận ra điều trọng đại là không có gì khác ngoài Thượng Đế. Y nhận ra rằng sự sống của Ngài là duy nhất, và có thể tìm thấy đang linh động trong hạt nguyên tử tế vi cũng như trong hạt nguyên tử đại vũ trụ. Y thấy mình đồng nhất với nguồn sống đó. Y thấy nó ở trung tâm đời sống của mình. Ở đó y có thể tự hòa mình vào nguồn sống của Thượng Đế, như có trong hạt vi tử nguyên thủy. Hoặc y cũng có thể mở rộng nhận thức cho đến khi tự biết mình là sự sống của thái dương hệ.
50. Nó khắc phục, hay thay thế toàn bộ các ấn tượng khác.
Trước khi có được nhận thức chân thực này, người quán tưởng đã tùy thuộc vào ba phương pháp khác để xác định chân lý, tất cả các phương pháp vừa kể đều có tính cách hạn chế và bất toàn. Đó là:
1. Nhận thức giác quan. Theo phương pháp này, con người ở trong cơ thể xác định tính chất của thế giới bên ngoài qua trung gian của năm giác quan. Y biết đến những gì có tính khách quan và hữu hình, và nghe, thấy, tiếp xúc, nếm và ngửi những sự vật của cõi hồng trần. Tuy nhiên, y chỉ làm việc với các hậu quả do sự sống nội tại tạo nên. Nhưng y không có manh mối nào về các nguyên nhân hay những năng lượng nội tại sản sinh ra chúng. [108] Do đó, y giải thích sai lầm về chúng, dẫn đến việc đồng hóa một cách nhầm lẫn với chúng, và các tiêu chuẩn giá trị sai lệch.
2. Nhận thức trí năng. Khi sử dụng thể trí, người quan sát ý thức được một cấp hiện tượng khác, và tiếp xúc với thế giới tư tưởng. Y tiếp xúc với loại chất liệu mà trong đó có ghi những xung lực tư tưởng của hành tinh chúng ta và cư dân trên hành tinh này. Y cũng tiếp xúc với những hình thể tạo bởi các xung rung động phát biểu một số ý tưởng và dục vọng, − hiện nay chính yếu là dục vọng. Do nhận thức sai lầm qua việc sử dụng các giác quan và diễn giải sai những điều cảm nhận được, các hình tư tưởng này chính là những biểu lộ méo mó của thực tại. Chúng chỉ phát biểu các xung lực và phản ứng thấp thỏi vốn phát ra từ các giới hạ đẳng trong thiên nhiên. Người môn sinh cần lưu ý rằng chỉ khi nào y thực sự bắt đầu sử dụng thể trí của mình (chứ không bị nó sử dụng) bấy giờ y mới giao tiếp được với những hình tư tưởng tạo bởi các vị hướng đạo nhân loại và nhận thức thật đúng những hình tư tưởng đó.
3. Trạng thái nhập định cấp cao. Trong trạng thái này, nhận thức thực sự chính xác, và các phương thức tri kiến nói trên được thấy đúng mức cân đối tỉ lệ. Người quan sát không còn cần dùng các giác quan, trừ khi sử dụng chúng cho công tác kiến tạo trên những cảnh giới mà chúng có liên quan.
Nay y có khả năng tránh được sai lầm, và ý thức chỉ hiển lộ cho y thấy thực tính của sự vật. Những điều kiện chi phối giai đoạn này có thể kể ra như sau: [109]
1. Hành giả trở nên linh hoạt trong bản tính tinh thần,
2. Y tự biết mình và hoạt động với tư cách linh hồn, Đấng Christ,
3. Chitta hay trí tuệ chất của y ở trạng thái yên lặng,
4. Sutratma hay sinh mệnh tuyến đang hoạt động đầy đủ và các hạ thể được chỉnh hợp trên tuyến này, tạo nên một đường truyền thông trực tiếp với não bộ trong thân xác,
5. Bộ não được huấn luyện để chỉ đóng vai trò chiếc máy thu các ấn tượng chân thực một cách bén nhạy,
6. Con mắt thứ ba đang trong tiến trình khai mở. Về sau, khi các luân xa được khơi hoạt với sự kiểm soát hữu thức, chúng giúp hành giả giao tiếp với các loại năng lượng thất phân khác nhau trong bảy cảnh giới của thái dương hệ. Nhờ khả năng nhận thức chân lý đã phát triển, hành giả có thể tránh khỏi sai lầm và những điều nguy hiểm.
Điều nói trên đã được Charles Johnston bàn rất rõ ràng, thỏa đáng trong phần luận giải của ông về câu này như sau:
“Có thể nói, mỗi trạng thái hay phạm vi của cái trí, mỗi lĩnh vực hiểu biết được đạt đến nhờ trí năng và tình cảm, đều là một trạng thái nội tâm. Giống như hình ảnh trong trí về một sân khấu trên đó có các diễn viên, là một trạng thái hay một phạm vi ở nội tâm. Khi tri kiến thuần khiết, như của thi sĩ, triết gia, vị thánh, . . . chan chứa trong phạm vi đó, thì tất cả những điều thấp kém hơn bị loại ra. Tâm thức cao siêu này thay thế toàn bộ tâm thức thấp thỏi. Thế nhưng, trong một ý nghĩa nào đó, điều được thấy như một thành phần, dù với nhãn quan của nhà hiền triết, vẫn còn có yếu tố ảo tưởng, một lớp màn mong manh ở nội tâm, dù là một bức màn thanh khiết và chói rạng đến đâu. Đó là trạng thái nội tâm sau cùng và cao nhất.” [110]
51. Khi chính trạng thái nhận thức này cũng được chế ngự (hay thay thế), hành giả đạt đến samadhi thuần túy.
Sau khi hướng dẫn chúng ta đi qua những giai đoạn khác nhau để mở mang tâm thức, từ tham thiền “hữu chủng” đến phương thức thiền mà trong đó các giác quan và cái trí đều được thay thế, vị huấn sư cao cả Patanjali đưa chúng ta vào một trạng tháingôn từ không cách nào diễn tả. Nhà yogi Đông phương dùng từ Samadhi để nói về trạng thái tâm thức khi hành giả tiếp xúc, thấy và biết thế giới mà trong đó con người tinh thần đang hoạt động và các cấp độ hay cảnh giới sắc tướng của thái dương hệ chúng ta. Người tri kiến có thể tùy ý tiếp xúc với phạm vi hiểu biết của tam giới, lĩnh vực của ảo ảnhảo tưởng, bằng cách sử dụng cái khí cụ mình có. Thế nhưng, một thế giới mới mở ra, trong đó y thấy tâm thức của mình là một với tất cả các năng lượng khác, hay là những biểu lộ hữu thức của sự sống thiêng liêng. Bức màn cuối cùng của ảo tưởng bị dẹp bỏ, y thấy thực chất của đại tà thuyết chia rẽ, và có thể nói theo lời của Đức Christ:
“Con cũng không chỉ cầu nguyện cho những người này, mà còn mong họ tỏ lời tin tưởng nơi con; để tất cả họ có thể là một; thưa Cha, như Ngài đang ở trong con, và con trong Ngài, để họ cũng có thể là một với chúng ta; để thế gian có thể tin rằng Ngài đã sai con đến đây. Và nguồn vinh quang Ngài đã ban cho con nay con trao cho họ; [111] để họ có thể là một, thậm chí như chúng ta đang là một: Con trong họ, và Ngài trong con, để họ có thể trở nên hoàn thiện trong hợp nhất; và để thế gian có thể biết rằng Ngài đã sai con, và đã yêu thương họ, như Ngài đã yêu thương con.” (John XVII. 20-23.)

QUYỂN II.
NHỮNG BƯỚC TIẾN ĐẾN HỢP NHẤT
a. Năm chướng ngại và cách giải trừ.
b. Định nghĩa tám phương tiện.
Chủ đề: Phương tiện thành đạt.
[115]

YOGA ĐIỂN TẮC CỦA PATANJALI
QUYỂN II
NHỮNG BƯỚC TIẾN ĐẾN HỢP NHẤT
1. Yoga hành động, đưa đến sự hợp nhất với linh hồn là nhiệt vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara.
2. mục tiêu của ba điều nói trên là mang lại tầm nhìn của linh hồn và giải trừ chướng ngại.
3. Sở dĩ có chướng ngại là do những nỗi khó khăn sau đây: vô minh (thiếu minh triết), ý thức phàm ngã, ham muốn, thù ghét và mê chấp.
4. Vô minh (thiếu minh triết) là nguyên nhân của tất cả các chướng ngại khác, dù chúng tiềm ẩn, đang được giải trừ, khắc phục, hay hoàn toàn chi phối.
5. Vô minh là nhầm lẫn cái thường tồn, thanh tịnh, chân phúc và Chân ngã, với những gì vô thường, bất tịnh, đau khổ và phi-ngã.
6. Sở dĩ có ý thức của phàm nhân là do người tri thức tự đồng hóa với cái khí cụ dùng để hiểu biết.
7. Ham muốnbám chấp vào các đối tượng của lạc thú.
8. Thù ghét là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan.
9. Mạnh mẽ ham muốn đời sống hữu tình là bám chấp. Điều này cố hữu trong mọi hình thể, có tính tự tồn, và ngay cả người rất khôn ngoan vẫn còn cảm biết nó.
10. Đây là năm chướng ngại mà, khi hiểu biết thấu đáo, hành giả có thể thắng phục với thái độ ngược lại trong trí tuệ. [116]
11. Hoạt động của chúng được loại trừ qua tiến trình tham thiền.
12. Chính nghiệp quả bắt rễ trong năm chướng ngại nói trên, và phải đơm hoa kết trái trong kiếp sống này hay một kiếp sau.
13. Ngày nào các căn (hay là samskara) vẫn còn tồn tại, thì quả của chúng sẽ là sự sinh ra, đời sống và các kinh nghiệm mang lại vui sướng hay đau khổ.
14. Các chủng tử (hoặc samskara) này tạo ra sự vui sướng hay đau khổ tùy theo nguyên nhân phát khởi của chúng là thiện hay ác.
15. Đối với người đã khai ngộ, toàn bộ cuộc sống (trong tam giới) bị xem là đau khổ do tác động của các guna. Những tác động này có ba loại, tạo nên hậu quả, sự âu lo và những ấn tượng trong tiềm thức.
16. Có thể tránh được sự đau khổ chưa đến.
17. Phải phòng tránh ảo tưởng cho rằng Người nhận thức và điều được nhận thức là một và như nhau. Đó vốn là nguyên nhân (của những hậu quả gây đau khổ).
18. Cái được nhận thức có ba đặc tính, sattva, rajas và tamas (tiết điệu, năng động và trì trệ). Nó bao gồm các nguyên tố và các giác quan. Việc sử dụng những thứ này mang lại kinh nghiệm và sự giải thoát chung cuộc.
19. Các guna (hay các đặc tính của vật chất) được chia làm bốn loại: cái cụ thể, cái không cụ thể, cái được chỉ thị và cái không thể tiếp xúc.
20. Người tri kiếncái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.
21. Cả vạn hữu là để dành cho linh hồn.
22. Đối với người đã thành đạt khoa yoga (hay hợp nhất) vũ trụ khách quan không còn nữa. Thế nhưng nó vẫn còn hiện hữu đối với những người chưa được tự do.
23. Kết hợp linh hồn với thể trí và từ đó kết hợp với những gì mà [117] thể trí nhận thức được, giúp hành giả thấu hiểu thực chất của điều được nhận thức cũng như bản tính của Người nhận thức.
24. Nguyên nhân của sự kết hợp nói trên là vô minh hay thiếu minh triết. Tình trạng này cần được khắc phục.
25. Khi hành giả xóa tan vô minh vì không còn gắn bó với những điều mà y nhận thức, thì đó là đại giải thoát.
26. Hành giả thoát khỏi tình trạng bị giam cầm, ràng buộc nhờ phân biện một cách thường xuyên và sáng suốt.
27. Sự hiểu biết (hay giác ngộ) đạt được gồm bảy phần, và tăng tiến dần.
28. Khi hành giả chuyên cần thực tập các phương tiện của Yoga, và đã xóa sạch những gì bất tịnh, y được khai ngộ và tiến đến trình độ hoàn toàn giác ngộ.
29. Tám phương tiện của yoga là: các Điều răn hay Yama, các Qui luật hay Nijama, tư thế hay Asana, kiểm soát sinh lực đúng cách hay Pranayama, trừu tượng hóa hay Pratyahara, chú tâm hay Dharana, tham thiền hay Dhyana, và chiêm ngưỡng hay Samadhi.
30. Không gây tổn hại, chân thật với cả chúng sinh, không trộm cắp, không buông lung tình dục và không tham vọng, là yama hay năm giới răn.
31. Yama (hay năm giới răn) là bổn phận chung của mọi người, dù họ thuộc giống dân nào, đang ở đâu, vào thời gian hay tình trạng khẩn trương thế nào.
32. Tinh luyện bên trong và bên ngoài, an vui, nguyện vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara là nijama (hay là năm qui luật).
33. Khi có những tư tưởng trái với việc thực hành yoga, thì cần vun bồi những tư tưởng ngược lại.
34. Những tư tưởng trái với yoga là ý muốn gây tổn hại, sự giả dối, trộm cắp, buông lung tình dục, và tham vọng. Dù là đích thân [118] vi phạm, sai khiến hay thuận cho người khác vi phạm. Dù là phát sinh từ tính tham lam, giận dữ hay ảo tưởng (vô minh). Dù vi phạm nhẹ, vừa phải hay nặng. Các vi phạm này bao giờ cũng gây nên vô vàn đau khổ và sự vô minh. Vì thế, cần phải vun bồi những tư tưởng ngược lại.
35. Với sự hiện diện của người đã thực hiện vẹn toàn hạnh vô tổn hại, mọi sự thù ghét đều ngưng dứt.
36. Khi hành giả hoàn toàn chân thật với cả chúng sinh, thì hiệu quả lời nói và hành động của y lập tức được thấy rõ.
37. Khi đã hoàn toàn không trộm cắp, nhà yogi có thể có bất cứ điều gì y muốn.
38. Không buông lung tình dục, hành giả sẽ có được năng lượng.
39. Khi hoàn toàn không tham vọng, hành giả thấu hiểu luật tái sinh.
40. Tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét hình hài, sắc tướng, cả hình thể của mình và mọi hình thể khác.
41. Nhờ tinh luyện mà tinh thần an tịnh, tập trung, chế ngự các cơ quan, và có khả năng thấy được Chân ngã.
42. Tâm an vui, hài mãn tựu thành chân phúc.
43. Với nhiệt vọng bừng cháy và qua việc loại trừ mọi điều bất tịnh, năng lực của cơ thể và các giác quan trở nên hoàn hảo.
44. Khả năng thấu hiểu tinh thần mang lại sự giao tiếp với linh hồn (hay là Chân ngã thiêng liêng).
45. Với lòng sùng kính Ishvara, hành giả đạt được mục tiêu của tham thiền (hay samadhi).
46. Tư thế phải vững vàng và thoải mái.
47. Có tư thế vững vàng và thoải mái nhờ cố gắng nhẹ nhàng nhưng kiên trì, và qua việc tập trung tâm trí vào cái vô cùng.
48. Khi hành giả đạt được điều này, các cặp đối cực không còn hạn chế.
49. Khi đã có tư thế đúng (asana), thì tiếp theo là kiểm soát prana đúng cách và hơi thở vào và ra được điều hòa.
50. Việc kiểm soát đúng prana (hay các dòng sinh lực) được thực hiện bên ngoài, bên trong hay bất động. Cố gắng này tùy theo địa điểm, thời giancon số, cũng như kéo dài hay ngắn ngủi.
51. Có giai đoạn thứ tư vượt cao hơn các giai đoạn kiểm soát bên trong và bên ngoài.
52. Qua cố gắng này, những gì che án ánh sáng dần dần bị loại bỏ.
53. Và cái trí nay sẵn sàng cho cố gắng tham thiền chuyên chú.
54. Trừu tượng hóa (hay Pratyahara) là việc sử dụng nguyên khí tư duy để chế ngự các giác quan, và rút các giác quan ra khỏi những gì mà từ trước đến nay đã là đối tượng của chúng.
55. Kết quả của sự thực hành các phương tiện nói trên là các giác quan được hoàn toàn chế ngự. [119] [120]

YOGA ĐIỂN TẮC CỦA
PATANJALI
QUYỂN II
NHỮNG BƯỚC TIẾN ĐẾN HỢP NHẤT
1. Yoga hành động, đưa đến sự hợp nhất với linh hồn là nhiệt vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara .
Đến đây, chúng ta đang bắt đầu quyển kinh có phần phác thảo thực hành của Yoga Điển tắc. Phần này đưa ra những qui tắc cần được theo đúng nếu người chí nguyện muốn thành tựu, và chỉ ra một số phương pháp sẽ mang lại sự nhận biết tâm thức tinh thần. Quyển I đã bàn đến mục tiêu. Khi kết thúc Quyển I, đương nhiên người chí nguyện sẽ hỏi “thật là tốt đẹp và đúng đắn, nhưng làm thế nào thực hiện điều này? Tôi phải làm gì? Tôi sẽ bắt đầu từ đâu?”
Ngay từ đầu và trong quyển hai này, Patanjali nêu rõ:
1. Những yêu cầu cơ bản đối với phàm nhân,
2. Những trở ngại mà sau đó người đệ tử nhiệt thành cần lưu ý,
3. Tám “phương tiện của yoga” hay là tám loại hoạt động sẽ mang lại các kết quả cần thiết.
Chính tính cách đơn giản của phần phác thảo này khiến nó trở nên hết sức giá trị. Không hề có sự nhầm lẫn, hay lý luận phức tạp, mà chỉ nói lên một cách minh bạch và giản dị những điều cần phải thực hành.
Ở đây, tưởng cũng nên bàn về các loại “yoga” khác nhau để cho người môn sinh cái khái niệm rõ ràng về những khác biệt và tăng thêm khả năng phân biện. Có ba loại yoga chính yếu, còn những loại khác được gọi là “yoga” thì thực ra là thuộc vào một trong ba nhóm đó:
1. Raja Yoga . . . yoga của trí tuệ hay ý chí,
2. Bhakti Yoga . . . yoga của cái tâm hay của người sùng tín,
3. Karma Yoga . . . yoga hành động.
Raja Yoga có tính cách tự viên mãn và là khoa yoga ưu việt nhất trong ba nhóm vừa kể. Nó là tổng kết của tất cả các yoga kia, và là tột đỉnh hoàn tất công cuộc phát triển trong giới nhân loại. Nó là khoa học của trí tuệ và ý chí có chủ đích. Nó giúp Chân ngã Ngự trị ở Nội tâm chế phục được cái trí, là thể cao nhất trong ba hạ thể của con người. Khoa yoga này điều hợp trọn cả phàm nhân với ba hạ thể, khiến phàm nhân chỉ còn là vận cụ của linh hồn, hay Thượng Đế nội tâm. Nó bao gồm các yoga khác và thu thập những thành tựu của các yoga khác. Nó tổng hợp cuộc tiến hóa và giúp con người lên ngôi chúa tể.
Bhakti Yoga là yoga của cái tâm. Nó giúp cho toàn bộ xúc cảm, ham muốn [121] và tình cảm phục tùng đấng mà hành giả yêu thương, thấy và biết ở trong tâm. Đó là sự thăng hoa của tất cả các loại tình thương thấp kém, và gom toàn bộ các thèm khát và ham muốn vào niềm khao khát duy nhất là muốn biết được Đấng Thượng Đế bác ái và nguồn bác ái của Thượng Đế.
Đó là khoa yoga “thù thắng” hay cao cả nhất của căn chủng trước, giống dân Atlantis. Cũng như Raja Yogakhoa yoga ưu việt cho nền văn minh của giống dân Aryan hiện nay. Người thực hành Bhakti Yoga có thể đạt đến quả vị la- hán hay cuộc điểm đạo thứ tư. Trong khi đó, hành giả Raja Yoga có thể trở thành một bậc trọn lành và được điểm đạo lần thứ năm. Cả hai khoa yoga này đều đưa đến giải thoát. Vị la-hán thoát khỏi vòng luân hồi, sinh tử. Hành giả Raja Yoga được giải thoát để phụng sự trọn vẹn và hoạt động với tư cách Nhà huyền thuật Chánh đạo. Bhakti Yoga là yoga của cái tâm, hay thể cảm dục.
Karma Yoga trực tiếp liên quan đến hoạt động ở cõi trần, và sự biểu hiện của tất cả những thôi thúc ở bên trong. Dưới hình thức cổ xưa và đơn giản nhất, đó là yoga của căn chủng thứ ba, giống dân Lemuria, với hai dạng được biết đến nhiều nhất là:
a. Hatha Yoga, và
b. Laya Yoga.
Hatha Yoga đặc biệt áp dụng cho thân xác, và hoạt động có ý thức (không thuộc tiềm thức và tự động) của thân xác. Những lối tập khác nhau của khoa này giúp hành giả kiểm soát được các cơ quan khác nhau và toàn cơ cấu của thân xác. Laya Yoga liên quan đến thể dĩ thái, đến các trung tâm lực hay luân xa [122] trong thể dĩ thái, sự phân bố các dòng sinh lực, và việc khơi dậy luồng hỏa xà.
Nếu chia thân người làm ba phần, thì có thể nói rằng:
1. Karma Yoga giúp khơi hoạt bốn luân xa bên dưới cơ hoành,
2. Bhakti Yoga giúp siêu hóa và chuyển chúng vào luân xa tim và luân xa cổ họng, bên trên cơ hoành nhưng vẫn còn ở trong thân mình.
3. Raja Yoga tổng hợp tất cả các mãnh lực của cơ thể bên trong luân xa đầu, và từ đó phân phối và kiểm soát chúng.
Raja Yoga, chính yếu đã được Patanjali san định, vốn bao gồm hiệu quả của tất cả các loại yoga kia. Chỉ có thể thực hành Raja Yoga khi hành giả đã rèn luyện qua các loại yoga kia. Thế nhưng, không nhất thiết là phải thực tập chúng trong kiếp sống này. Dòng tiến hóa đã đưa tất cả những người con của nhân loại (những người sẵn sàng trở thành môn đồ hay đệ tử) đi qua những giống dân khác nhau. Và khi còn ở trong giống dân Lemuria (hay trong một giống dân khác trên dãy hành tinh trước hoặc một chu kỳ tiến hóa xa xưa) tất cả họ đều đã là hatha yogilaya yogi. Kết quả là đã có sự phát triển và kiểm soát được thể hồng trần nhị phân, bao gồm thể xác và thể dĩ thái.
Trong thời kỳ giống dân Atlantis, thể dục vọng hay cảm dục đã phát triển và tinh hoa của giống dân đó là các bhakti yogi thuần thành và những người sùng tín đích thực. Hiện nay, thể cao nhất trong ba hạ thể phải được phát triển đến mức viên mãn. [123] Đây là điều mà Raja Yoga nhằm thực hiện, và đây là mục tiêu được đề ra trong tác phẩm của Patanjali. Giống dân Aryan sẽ đóng góp sự phát triển viên mãn này cho cuộc tiến hóa chung. Bấy giờ, toàn gia đình nhân loại (trừ một số phần trăm những người gia nhập giới nhân loại quá trễ nên linh hồn không thể bừng nở trọn vẹn) sẽ trở thành những người Con của Thượng Đế. Các quyền năng của Thượng Đế trong họ được khai mở và sử dụng hữu thức ở cõi trần và trong thể xác. Patanjali cho biết hành giả sẽ đạt đến trình độ này khi theo đúng một số phương pháp, qui tắc và ba điều sau đây:
1. Nhiệt vọng bừng cháy, tức là sự chế ngự con người ở cõi trần đến mức mọi nguyên tử trong cơ thể của y đều bừng cháy với lòng nhiệt thành và nỗ lực,
2. Thấu hiểu tinh thần, là khả năng của thể trí có thể nhìn xuyên qua một biểu tượng, hay thấu đến cái chủ thể ẩn trong đối tượng,
3. Sùng kính Ishvara, liên quan đến thể cảm dục hay thể tình cảm, có nghĩa là trọn cả tâm hồn trào dâng tình thương hướng về Thượng ĐếThượng Đế trong tâm của hành giả, Thượng Đế trong tâm người huynh đệ của y, và Thượng Đế mà y thấy trong mọi hình hài, sắc tướng.
Nhiệt vọng bừng cháy là sự thăng hoa của karma yoga. Sùng kính Ishvara là sự thăng hoa của bhakti yoga. Trong khi đó, thấu hiểu tinh thần là bước đầu trên con đường Raja Yoga.
“Sùng kính Ishvara” là thuật ngữ bao quát chỉ về mối liên hệ của phàm ngã với chân ngã, Ishvara hay nguyên khí Christ trong tâm. Thuật ngữ này cũng bao gồm mối liên hệ của Ishvaranhân với Ishvara đại đồng hay vũ trụ. [124] Đây là nhận thức của linh hồn trong mỗi người rằng mình là một thành phần của Đại hồn. Kết quả là tâm thức tập thể, vốn là mục tiêu của khoa yoga ưu việt này.
Lòng tôn sùng gồm có một số yếu tố mà người sùng tín cần nhận thức.
1. Khả năng không còn tập trung vào chính mình, đổi thái độ xem mình là trung tâm và vị kỷ thành thái độ hướng đến Đấng mà hành giả yêu thương. Y không màng đến bất cứ điều gì khác ngoài đối tượng mà y sùng kính.
2. Tuân phục Đấng yêu thương khi biết được Đấng ấy. một số bản dịch gọi điều này là “hoàn toàn tuân phục vị Chủ nhân (master).” Dịch như vậy là đúng và chính xác. Tuy nhiên, vì (đối với môn sinh huyền bí) từ master có hàm nghĩa là một trong những bậc trọn lành, nên chúng tôi chọn dịch từ này là “Ishvara,” Đấng Thượng Đế duy nhất trong tâm con người, vị Jiva thiêng liêng hay là “tâm điểm sự sống thiêng liêng” trong mỗi người. Sự sống thiêng liêng này như nhau dù ở trong người dã man hay một bậc trọn lành. Chỉ khác về mức độ biểu hiện và chế ngự. Khoa yoga đích thực không bao giờ dạy rằng chúng ta phải hoàn toàn phục tùng bất cứ vị tôn sư hay thánh sư nào, theo ý nghĩa tuân phục ý chí của vị đó. Nhưng khoa này lại giảng dạy rằng phàm nhân cần phải tuân phục ý chí của vị Thượng Đế nội tâm, và toàn bộ các phương pháp và qui tắc của yoga đều nhằm đạt mục đích đó. Đây là điều cần lưu ý. “Thấu hiểu tinh thần” là điều kiện sơ khởi và quan trọng nhất về mặt huyền môn để đạt mục đích kể trên.
Mọi hình thể đều là kết quả của tư tưởngâm thanh. mọi hình thể đều chứa đựng hay che giấu một ý tưởng hay ý niệm. Vì thế, mọi hình thể đều chỉ là biểu tượng hay cố gắng trình bày một ý tưởng. [125] Điều này luôn luôn đúng trên mọi cảnh giới của thái dương hệ chúng ta, ở bất cứ nơi nào có hình tướng dù được tạo nên bởi Thượng Đế, con người hay một vị thần.
Một trong những mục tiêu của người đệ tử đang thụ huấn là nhằm có khả năng xác định được những gì ẩn trong bất cứ hình hài, sắc tướng nào thuộc bất cứ trường tiến hóa nào trong thiên nhiên. Nhờ đó, y xác định được năng lượng tinh thần đã sản sinh ra hình thể vừa kể. Tính biểu tượng vũ trụ này hiển nhiên là rộng lớn đến đỗi ngay cả một người có khả năng suy tư hời hợt nhất cho đến người bắt đầu đi trên đường đệ tử đều phải học cách phân chia những hình thể khác nhau thành những nhóm riêng biệt tiêu biểu cho những ý tưởng cơ bản nhất định. Y phải diễn giải các ý tưởng ẩn trong các biểu tượng đặc thù, và phải tìm kiếm cái xung lực cá biệt ẩn trong mọi hình thể. Y có thể bắt đầu thực hành điều này trong môi trường sống và ở nơi y đang sống. Y có thể tìm hiểu cái ý tưởng đang ẩn chứa trong hình thể của người huynh đệ. Y có thể tìm kiếm Thượng Đế ẩn trong hình thể của mọi người và bất cứ người nào.
Thế nên, câu kinh này giúp người chí nguyện đi vào phần thực tiễn nhất trong đời sống. Nó giúp y đối diện với ba câu hỏi cơ bản sau đây, và khi cố gắng tìm kiếm câu đáp đúng tất nhiên y tự trang bị để có thêm điều kiện tiến bước trên đường Đạo:
1. Tất cả các khao khát và ước vọng trong tâm hồn tôi đang hướng đến mục tiêu nào, hướng đến Thượng Đế, hay những điều vật chất?
2. Có phải tôi đang đặt trọn cả phàm tính của mình dưới sự kiểm soát của Ishvara hay con người tinh thần đích thực?
3. Tôi có thấy Thượng Đế ẩn trong mọi hình thể và mọi trường hợp mà tôi tiếp xúc hằng ngày hay không? [126]
2. Mục tiêu của ba điều nói trên là mang lại tầm nhìn của linh hồn và giải trừ chướng ngại.
Ở đây cần lưu ý là các từ “tầm nhìn của linh hồn” được nói đến trước việc giải trừ các trở ngại hay chướng ngại. Điều đó cho thấy rằng những người chưa tự hoàn thiện vẫn khả dĩ có được tầm nhìn tinh thần. Hầu hết mọi người đều dễ có được tầm nhìn này trong những phút giây tâm hồn họ trào dâng nguyện vọng cao thượng. Tầm nhìn này cho họ sự khích lệ cần thiết khiến họ quyết tâm và kiên trì trong cố gắng giải trừ chướng ngại. Nhóm từ “giải trừ chướng ngại” hoặc đôi khi được dịch là “loại trừ trở ngại” là một lối nói bao quát. Các nhà luận giải Ấn giáo nêu rõ rằng nhóm từ này thậm chí còn có nghĩa là loại bỏ những mầm mống của các trở ngại nói trên và tận diệt chúng bằng lửa. Họ nói rằng cũng như hạt giống bị khô, cháy thì không thể nẩy mầm, sinh sản hay tăng trưởng, những mầm mống gây chướng ngại cho sự sống Tinh thần cũng bị vô hiệu hóa theo cách tương tự. Những mầm mống này gồm ba nhóm, mỗi nhóm gây nhiều trở ngại hay chướng ngại trên ba cảnh giới tiến hóa của nhân loại − những mầm mống tiềm ẩn trong thể xác; những mầm mống gây chướng ngại trong thể cảm dục; và những mầm mống ẩn tàng trong thể trí. Mỗi nhóm có ba loại, tức là tất cả có chín loại chủng tử:
1. Những chủng tử từ các tiền kiếp chuyển sang kiếp này,
2. Những chủng tử được gieo trồng trong kiếp này, [127]
3. Những chủng tử được đưa vào cuộc sống của một người từ gia đình hay chủng tộc mà y sinh ra trong đó.
Chính các chủng tử nói trên gây chướng ngại hay trở ngại cho tầm nhìn của linh hồn và sự tác động tự do của năng lượng tinh thần. Patanjali còn nói thêm rằng có năm loại chủng tử như thế và bàn cụ thể về chúng ở phần sau. Một số nhà luận giải dịch từ này là nhiễu loạn và cả ba thuật ngữ này đều đúng và đều có thể dùng. Có lẽ nên nêu rõ rằng:
1. Từ “trở ngại” đúng hơn về mặt kỹ thuật khi áp dụng cho cuộc sống ở cõi trần,
2. Từ “chướng ngại” tỏ rõ hơn khi áp dụng cho những điều, qua trung gian của thể cảm dục, ngăn trở tầm nhìn của linh hồn,
3. Từ “nhiễu loạn” đề cập cụ thể hơn về những khó khăn đối với người cố gắng làm cho cái trí yên lặng để có được tầm nhìn của linh hồn.
3. Sở dĩ có chướng ngại là do những nỗi khó khăn sau đây: vô minh (thiếu minh triết), ý thức phàm ngã, ham muốn, thù ghét và mê chấp.
Đây là năm ý tưởng hay ý niệm sai lầm, qua biết bao thời đại và xuyên suốt nhiều kiếp sống, đã khiến mọi người không nhận thức được rằng họ là con của Thượng Đế. Chính những ý niệm này đã khiến họ tự đồng hóa với những gì thấp kém và vật chất, mà quên mất những điều thực tế thiêng liêng. Chính những nhận thức sai lầm này khiến Chân thần thiêng liêng [128] trở thành người cùng tử, khiến y phải tha phương cầu thực với những thứ cặn bã trong vòng sinh tử, luân hồi. Cần phải giải trừ các nhận thức sai lầm này trước khi hành giả có thể “nâng cao tầm mắt”, phục hồi tri kiến về Đấng Cha lành và Nhà của Đấng Cha lành. Nhờ thế, y có thể tiến bước trên Con Đường phản bổn hoàn nguyên.
Có thể nói hai chướng ngại đầu, vô minh và ý thức phàm ngã, liên quan đến toàn cuộc sống của con người ở cõi trần; ham muốn liên quan đến thể cảm dục hay thể cảm xúc; và thù ghét và mê chấp là sản phẩm của ý thức vị kỷ (nguyên khí ahamkara) làm linh hoạt thể trí. Vì thế, ba hạ thể phàm nhân là nơi tác động của các chủng tử này. Trên mảnh đất của cuộc sống phàm nhân trong tam giới, chúng sinh sôi, nẩy nở và tăng trưởng đến mức gây chướng ngại và trở ngại cho chân nhân. Do đó, cần phải loại trừ các chủng tử kể trên, và khi loại trừ được sẽ mang lại ba điều sau đây:
1. Nghiệp quả được trả sạch,
2. Hành giả được giải thoát,
3. Tri kiến của linh hồn trở nên hoàn hảo.
4. Vô minh (thiếu minh triết) là nguyên nhân của tất cả các chướng ngại khác, dù chúng tiềm ẩn, đang được giải trừ, khắc phục, hay hoàn toàn chi phối.
Điều đầu tiên cần lưu ý là tính cách toàn diện của câu kinh này. Nó cho thấy nguyên nhân cội rễ của mọi điều tà vạy, dẫn đến những chướng ngại bao gồm mọi tình trạng khả [129] dĩ xảy ra khi những chướng ngại đó còn tồn tại. Câu này tóm lược tình trạng của mọi người, từ giai đoạn dã man qua các điều kiện trung gian cho đến trình độ của vị la-hán, là khi những xiềng xích cuối cùng của vô minh được trút bỏ. Câu này nêu rõ rằng sở dĩ những điều tà vạy vẫn còn tồn tại, sở dĩ tính ích kỷ và dục vọngnhân vẫn còn nhan nhãn, vì chúng phát sinh từ điều kiện chung và cơ bản là sự hạn chế của chính hình thể, sự vô minh hay thiếu minh triết.
Ngay từ bước đầu nghiên cứu các định luật khai mở tinh thần, người chí nguyện được nhắc nhở rằng y cần phải xem xét hai yếu tố vốn dựa vào chính cuộc biểu hiện:
1. Sự kiện thực tế về cái phi-ngã mà các điểm linh quang của sự sống tinh thần thiêng liêng được hấp dẫn đến, và thu hút các điểm linh quang ấy trong diễn trình tiến hóa,
2. Sự kiện thực tế về những hạn chế tất phải có khi sự sống khoác lấy hình thể.
Cần nhận thức rằng hai yếu tố nói trên là đúng với vị thái dương Thượng Đế, hành tinh Thượng Đế, một con người hay một hạt nguyên tử. mọi hình thể của sự sống thiêng liêng (từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn) đều hàm chứa hay có ẩn tàng một phần năng lượng tinh thần. Hậu quả tất yếu là điểm sống tinh thần ấy bị bưng bít, cô lập, và vây bọc. Vì thế, chỉ có những giao tiếp với chính đời sống và nỗ lực phấn đấu của đơn vị sống tinh thần bên trong hình thể mới mang lại sự giải thoát cuối cùng.
Trong thời gian hiện nay và trong tiến trình nhập thế, điểm sống tinh thần vẫn chưa biết được những gì bên ngoài nó, và cứ mãi chiến đấu để ngày càng được khai phóng, tự do. [130]
Trước hết, nó chỉ biết có phạm vi hình thể của mình, và vẫn chưa biết đến tất cả những gì bên ngoài nó. Do ham muốn mà có sự tiếp xúc, nhờ đó mà vô minh biến thành hiểu biết. (Dù các định luật cơ bản vẫn đúng cho mọi hình thể, ở đây chúng ta sẽ chỉ xem xét về con người). Bấy giờ, con người dần dần hiểu được chính mình, và ý thức về môi trường chung quanh. Vì môi trường này có ba phần (cõi trần, cõi cảm dụccõi trí) và vì y có ba hạ thể để nhờ đó mà tiếp xúc với tam giới vừa kể, nên giai đoạn khai mở ý thức này rất lâu dài. Cổ luận nói về giai đoạn này như sau:
“Trong Phòng Vô minh, con người biết đến ba hạ thể của mình. Sự sống thái dương tiếp xúc với mức độ thô trược nhất, và con người phát triển đủ đầy nhân tính.”
Sau đó y trở nên ý thức được một điều khác, là tập thể mà y thuộc vào đó. Y ý thức được nhờ tìm thấy thực tại tinh thần nội tâm ẩn tàng trong phàm nhân của mình. Y biết mình, nguyên tử con người, là thành phần của một tập thể hay trung tâm trong cơ thể của một vị Thiên nhân, một vị hành tinh Thượng Đế, và y phải phát triển ý thức về:
a. Sự rung động của tập thể của mình,
b. mục đích của tập thể của mình,
c. Trung tâm tập thể của mình.
Đây là giai đoạn của con đường dự bị hay Con đường Đệ tử cho đến cuộc điểm đạo thứ ba. Cổ luận nói tiếp:
“Trong Phòng Học tập, hành giả tiếp xúc với bí nhiệm trung tâm. Y thấy phương pháp giải thoát, hoàn toàn tuân thủ định luật, và đến gần trình độ toàn thông.” [131]
Cuối cùng, hành giả đi vào Phòng minh triết. Thỉnh thoảng y được phép vào đó (và ngày càng thường xuyên hơn) sau khi nhận cuộc điểm đạo lớn thứ nhất. Y biết vị trí của tập thể của mình trong kế hoạch hành tinh, và thoáng nhìn thấy một phần thiên cơ của vũ trụ. Vô minh (hiểu theo thuật ngữ thông thường) nay được giải tán. Thế nhưng, cần lưu ý rằng ngay đến một bậc gọi là toàn thông vẫn còn nhiều điều chưa biết. Chính Đức Christ, vị Huấn sư vĩ đại của Thế giới, vẫn chưa biết hết được những gì có trong ý thức của Đức Chúa tể Hoàn cầu. Tuy nhiên, bộ Yoga Điển tắc của Patanjali chỉ bàn đến việc giải tán chướng ngại vô minh vốn đang giam nhốt con người trong vòng luân hồi, khiến họ không thể khai mở được những quyền năng đích thực của linh hồn. Cổ luận nói về giai đoạn cuối này như sau:
“Bên trong Phòng minh triết, ánh sáng chói rạng trên đường của vị toàn thông. Người biết và thấy phần thứ bảy và tri kiến tất cả những gì còn lại. Người chính là sự sống thất phân, và từ Phòng này trở thành Thượng Đế.”
5. Vô minh là nhầm lẫn cái thường tồn, thanh tịnh, chân phúc và chân ngã, với những gì vô thường, bất tịnh, đau khổ và phi-ngã.
Sự vô minh, hay “tình trạng thiếu minh triết này” là đặc trưng của tất cả những người chưa phân biệt được giữa sự thực và điều giả trá, giữa sự chết và tính bất tử, giữa ánh sáng và bóng tối. [132] Vì thế, nó chi phối đời sống trong tam giới, do tình trạng thiếu minh triết của con người đang đầu thai ở cõi trần cũng có phần tương ứng trên các cảnh giới kia. Đó là sự hạn chế đối với chính Tinh thần, và là hệ quả tất yếu khi Tinh thần khoác lấy hình thể. Đơn vị sống tinh thần khi sinh ra vốn mù lòa và không cảm nhận được gì. Trong những thời kỳ đầu nhập vào hình thể và trong các chu kỳ đầu tái sinh, nó hoàn toàn không ý thức được điều gì. Nhưng nó phải làm thế nào để biết được những gì ở chung quanh mình. Để thực hiện điều này, trước hết nó phải phát triển các giác quan để có thể tiếp xúc và hiểu biết. Người ta đã biết rõ về phương pháp và quá trình mà con người phát triển ngũ quan tức là năm con đường tiếp cận cái phi-ngã. Bất cứ giáo trình chuẩn nào về tâm lý học cũng đều có thể cung cấp kiến thức cần thiết này. Ở đây, cần lưu ý ba yếu tố liên quan đến đơn vị sống tinh thần:
1. Các giác quan cần được phát triển,
2. Sau đó phải nhận biết và sử dụng chúng,
3. Kế đến là một thời kỳ mà con người tinh thần sử dụng các giác quan để đạt được những điều mình muốn. Và khi làm thế, y tự đồng hóa với cái khí cụ biểu hiện của mình.
Y bị mù lòa về hai phương diện, vì không những bị mù lòa và vô cảm khi sinh ra y cũng bị mù lòa về mặt trí năng. Y không thấy được thực tính của chính mình, hoặc thấy được thực chất của các sự vật. Y nhầm lẫn khi cho rằng mình là hình hài vật chất này, và cứ mãi nghĩ như thế qua nhiều kiếp sống. Y không hề có ý thức về giá trị hay tỉ lệ đúng. Dù vốn là thực tại tinh thần, y chỉ xem mình là phàm nhân (cả ba hạ thể của y) thuộc về vật chất, bất tịnh, có cuộc sống phù du và đang đau khổ. Y không thể tự tách khỏi các thể của mình. Các giác quan là một phần của các thể. [133] Chúng không phải là con người tinh thần, đang ẩn ngự trong các thể. Chúng là thành phần của cái phi-ngã, và là phương tiện để y tiếp xúc với cái phi-ngã của hành tinh.
Qua trí phân biện và hạnh vô dục, chân ngã − vốn thường tồn, thanh tịnh, và phúc lạc − rốt cuộc có thể tách mình ra khỏi cái phi-ngã, vốn vô thường, bất tịnh, và đầy đau khổ. Những ai chưa nhận thức được điều này thì vẫn còn trong tình trạng vô minh. Khi nhận thức này ngày càng viên mãn, hành giả càng đạt đến minh triết hay sự hiểu biết, trên bốn tầng cửa Đạo. Khi biết được chân tính của linh hồn, và thấy cái phi-ngã đúng ra chỉ là một lớp áo, một thể hay khí cụ, hành giả vượt cao hơn sự hiểu biết đó và trở nên tự tại. Đây là mục tiêu và chính là sự giải thoát.
6. Sở dĩ có ý thức của phàm nhân là do người tri thức tự đồng hóa với cái khí cụ dùng để hiểu biết.
Câu kinh này bổ sung cho câu trước. Người môn sinh cần lưu ý rằng người tri thức, là con người tinh thần, có những khí cụ khác nhau để giao tiếp với môi trường sống và nhờ đó mà ngày càng ý thức được:
1. Ba lớp áo hay ba hạ thể được dùng làm phương tiện cho y giao tiếp trong tam giới:
a. Thể xác,
b. Thể tình cảm hay cảm dục,
c. Thể trí.
2. Ở cõi trần y có năm giác quan, nghe, xúc chạm, thấy, nếm và ngửi. [134]
3. Thể trí, giác quan thứ sáu, rất quan trọng và có ba công dụng. Cho đến nay, đa số mọi người chỉ biết đến một công dụng của nó:
Công dụng đầu tiên và thông thường nhất của thể trí là gom chung các giao tiếp đã nhận thức được và chuyển các thông tin này đến chân nhân hay người tri kiến. Cách này tương tự như việc hệ thần kinh truyền đến não bộ những tiếp xúc của nó với bên ngoài. Chính công dụng này của cái trí chủ yếu mang lại ý thức của phàm nhân, sẽ bắt đầu phai mờ khi con người có thể sử dụng các công năng kia.
Công dụng thứ hai của thể trí là công năng mà năm phương tiện đầu của yoga mang lại − năng lực truyền đến não bộ các ý tưởng, ý muốn và ý chí của chân nhân hay linh hồn. Năng lực này giúp phàm ngã ở cõi trần nhận thức được thực tại, và ý hướng đồng hóa với cái phi-ngã ngày một giảm dần.
Công dụng thứ ba của thể trí là nó được linh hồn dùng làm cơ quan tri kiến để giao tiếp và biết được lĩnh vực của chính linh hồn. Ba phương tiện cuối của yoga mang lại điều này.
Đây là sự kiện quan trọng nhất cần lưu ý. Nếu người chí nguyện xem việc phát triển và sử dụng trọn vẹn giác quan thứ sáu là mục tiêu ngay trước mắt của mình, và ghi nhớ ba mục đích dành cho nó, thì y sẽ tiến bộ nhanh chóng. Bấy giờ, ý thức của phàm nhân sẽ mờ nhạt dần để nhường chỗ cho sự đồng nhất với linh hồn. Đây là một trong những xiềng xích nặng nề nhất giam nhốt những người con nhân loại. Đây chính là điểm phải giáng chiếc rìu vào để đánh bật cả gốc rễ của ý thức phàm nhân. [135]
7. Ham muốnbám chấp vào các đối tượng của lạc thú.
Ở đây hoàn toàn không dịch theo nghĩa đen, mà lại nêu cái ý tưởng cơ bản một cách hết sức rõ rệt. Vì thế, tốt nhất là nên dịch câu kinh này như trên.
Các đối tượng của lạc thú nói trên bao gồm tất cả những bám chấp của con người từ tình trạng dã man của nhân loại còn ấu trĩ cho đến những trình độ cao trên đường đạo. Chúng bao gồm sự ham muốn các đối tượng thô kệch nhất ở cõi trần, cũng như sự bám chấp vào những điều, những mối bận tâm và phản ứng mà các tình cảm hay những hoạt động trí tuệ mang lại. Chúng bao gồm toàn bộ các cung bậc hay phạm vi khác nhau của kinh nghiệm giác quan, từ sự đáp ứng của người dã man với hơi ấm và bữa ăn ngon đến trạng thái xuất thần ngây ngất của nhà thần bí. Ham muốnthuật ngữ chung bao gồm khuynh hướng của tinh thần hướng ngoại đến với cuộc sống hình thể. Nó cũng có thể là niềm vui thích của dân bộ lạc ăn thịt người đối với những gì mà họ ăn, tình thương của một người đối với gia đình mình, sự thán phục của họa sĩ đối với bức tranh đẹp, hoặc lòng sùng kính của người tôn thờ Đức Christ hoặc tôn sư của y. Tất cả đều là bám chấp với mức độ nào đó. Và sự tiến bộ của linh hồn dường như tùy theo việc rời bỏ hết đối tượng này của giác quan đến đối tượng khác, cho đến thời điểm y bị buộc phải tự nương tựa vào chính mình. Y đã kinh qua mọi đối tượng của bám chấp, và ngay cả sư phụ của y chừng như cũng đã rời bỏ y. Chỉ còn lại một điều thực tế cho thấy rằng y chính là sự sống tinh thần, và sự ước muốn của y bấy giờ mới quay vào bên trong. Nó không còn hướng ngoại vì y tìm thấy Thiên giới ở nội tâm. Nay y đã gột sạch mọi điều ham muốn. Y vẫn có những giao tiếp, tiếp tục biểu hiện và hoạt động trên những cảnh giới của ảo tưởng. [136] Thế nhưng, y làm việc từ trung tâm nơi mà chân ngã thiêng liêng của y an trú. Chân ngã này là tất cả những gì mà y ước vọng. Thế nên, không điều gì có thể cám dỗ y đi vào những đường quanh, ngõ tắt của lạc thú hay đau khổ.
8. Thù ghét là đố kỵ bất cứ đối tượng nào của giác quan.
Câu kinh này ngược lại với câu trước. Nhà yogi thực sự thì không hề cảm thấy thù ghét hay ham muốn. Y thăng bằng giữa các cặp đối cực. Thù ghét gây chia rẽ, trong khi tình thương làm hiển lộ tính duy nhất ẩn trong mọi hình thể. Thù ghét là kết quả của việc tập trung vào hình thể, và hoàn toàn quên mất cái mà mọi hình thể làm hiển lộ (ở mức độ nhiều hay ít). Thù ghétxúc cảm ghê tởm khiến người đó rút lui khỏi đối tượng bị thù ghét. Thù ghét là điều trái ngược với tình huynh đệ, và vì thế mà vi phạm một trong những định luật cơ bản của thái dương hệ. Thù ghét phủ nhận tính duy nhất, khiến dựng nên những rào cản và tạo ra các nguyên nhân dẫn đến sự đông cứng, hủy diệt và tử vong. Đó là năng lượng được dùng để bác bỏ thay vì tổng hợp, và vì thế chống lại luật tiến hóa.
Thù ghét thực sự là kết quả của ý thức phàm nhân, của vô minh và ý muốn bị áp dụng sai. Nó hầu như là kết thúc của ba cái kia. Chính ý thức phàm nhân này và sự vô minh cực độ cùng với ý muốn thu đạt cá nhân đã tạo nên nỗi thù ghét Abel trong lòng Cain và gây ra vụ sát nhân đầu tiên, hay là sự hủy diệt hình hài của một người anh em. Cần xem xét kỹ điều này, vì một mức độ thù ghét nào đó, một mức độ đố kỵ nào đó, hiện đang có trong tâm mỗi người. [137] Tuy nhiên, khi nó được tình thương và ý thức hợp nhất hoàn toàn thắng phục thì bấy giờ gia đình nhân loại sẽ không còn biết đến sự chết, nguy hiểm và sợ hãi.
9. Mạnh mẽ ham muốn đời sống hữu tình là bám chấp. Điều này cố hữu trong mọi hình thể, có tính tự tồn, và ngay cả người rất khôn ngoan vẫn còn cảm biết nó.
Dạng bám chấp này là nguyên nhân cơ bản của toàn cuộc biểu hiện. Nó vốn có trong mối quan hệ của hai đối cực chính đại, là tinh thần và vật chất. Nó là yếu tố chi phối trong cuộc biểu hiện của Thượng Đế. Và đây là lý do tại sao mà ngay cả “người rất khôn ngoan” vẫn còn bị nó ảnh hưởng. Dạng bám chấp này là một loại năng lực tự động, tự sinh, tự tồn. Vì thế, cần nên nhớ rằng việc thắng phục khuynh hướng này, dù khi được đưa đến giai đoạn cao nhất của bậc toàn thiện, vẫn chỉ là sự thắng phục tương đối mà thôi. Ngày nào Đức Thượng Đế của thái dương hệ chúng ta, hay là Tinh thần Tuyệt đối, còn lâm phàm qua trung gian của một thái dương hệ, thì khuynh hướng này vẫn có trong vị hành tinh Thượng Đế cao cả nhất và trạng thái hiện tồn tinh thần cao siêu nhất. Tất cả những gì có thể làm trong cố gắng thắng phục sự bám chấp, hay tiêu diệt sự ham muốn, là phát triển năng lực làm cân bằng các cặp đối cực trên bất cứ cảnh giới nào. Nhờ đó hành giả không còn bị các hình thể của cảnh giới ấy cầm giữ và có thể thoát ra khỏi chúng. Người môn sinh bình thường đưa ra những ý nghĩa rất thứ yếu cho các từ bám chấp, ham muốn, và việc trừ diệt chúng. Họ giải thích các thuật ngữ này theo mức tiến bộ nhỏ hẹp của mình. [138] Đây chỉ là những từ tiếng Anh còn rất thiếu sót, và chỉ tìm cách phát biểu một tác phẩm huyền môn theo lối biểu tượng. Người ta chỉ có thể thực sự hiểu được các thuật ngữ này theo Luật Hấp dẫn và Đối kháng, cũng như nhờ thấu đáo hệ thống các rung động huyền linh.
Ý chí sinh tồn hay ý muốn biểu hiện là thành phần trong sức thôi thúc của Sự Sống thiêng liêng. Thế nên, nó có tính đúng đắn. Ý chí sinh tồn hay biểu hiện trên một cảnh giới hoặc qua một nhóm hình thể nào đó không còn đúng nữa, khi Sự Sống thiêng liêng đã phát triển nhiều hơn phạm vi biểu hiện ấy, khi một số hình thể đặc thù đã phục vụ xong mục đích của chúng là làm phương tiện để giao tiếp-trải nghiệm, và không thể mang lại thêm bài học nào nữa. Bấy giờ điều tà vạy phát sinh. Bởi vì khuynh hướng tà vạy chẳng qua chỉ là cái khuynh hướng trở lại sử dụng những thể thức và cách thực hành mà Con người nội tâm đã vượt cao hơn trình độ đó. Vì lý do này, mà những tội lỗi mang thú tính thô bạo thường bị xem là điều ác vì mọi người đều thừa nhận chung rằng sự sống ngự trong hình hài con người đã tiến hóa cao hơn trình độ của giới thứ ba hay loài thú cầm.
Thế nên, bậc toàn thiện đã vượt khỏi sự bám chấp các hình hài, sắc tướng trong tam giới (cõi trần, cõi cảm dụchạ trí) và đã hoàn toàn giải tán mọi sự khao khát các hình thể trên những cảnh giới đó. Hiểu theo nghĩa huyền môn, hình thể chết đi khi bị sự sống Tinh thần từ bỏ. Khi tư tưởng của chân nhân hay chân ngã tập trung vào cảnh giới của chính mình, thì không còn năng lượng phóng ngoại hướng đến vật chất của tam giới. Vì thế mà không khả dĩ có việc tạo nên hình thể hay bám chấp vào hình thể ở đó. Điều này phù hợp với chân lý hiển nhiên của huyền môn: “năng lượng đi theo tư tưởng.” Điều này cũng phù hợp với giáo huấn nói rằng thể của nguyên khí Christ (thể bồ-đề), [139] chỉ bắt đầu phối kết khi các xung lực thấp kém đã phai tàn. Điều này cũng nhất quán với sự kiện thực tế về thể nguyên nhân, thể của chân ngã trên các cấp trừu tượng của cõi trí. Thể này trở nên đẹp đẽ, nở lớn và linh hoạt một cách nhanh chóng trong các giai đoạn của con đường đệ tử, hơn là khả dĩ có được trong toàn cả chu kỳ của những kiếp sống trước đó. Năng lượng của chân nhân không hoàn toàn hướng ngoại, mà đúng ra là nhằm tự phát triển cho chính mình. Bám chấp vào hình thể hay là sự hấp dẫn của hình thể đối với Tinh thần là sức thôi thúc tiến hóa giáng hạ rất mạnh. Trong khi đó, sự từ bỏ hình thể khiến nó tan rã là lực tiến hóa thăng thượng vĩ đại.
10. Đây là năm chướng ngại mà, khi hiểu biết thấu đáo, hành giả có thể thắng phục với thái độ ngược lại trong trí tuệ.
Từ “hiểu biết thấu đáo” có thể nói cách khác là “được con người nội tâm nhận thức.” Ý tưởng ẩn trong các từ này đã được Dvivedi lý giải trong phần Bình luận của ông như sau:
“Sau khi mô tả tính chất của ‘các nhiễu loạn’, tác giả chỉ cách chế phục chúng. Chúng được chia thành hai loại, tế vi và thô thiển. Loại thứ nhất hiện hữu trong tình trạng còn ngủ yên dưới dạng các ấn tượng. Trong khi loại thứ hai đang ảnh hưởng rõ rệt đến cái trí. Loại thứ nhất chỉ có thể được hoàn toàn chế ngự bằng cách chủ trị được trọn cả sức mạnh hỗ trợ cho chúng, tức là nguyên khí tư duy.” [140]
Đây là việc đầu tiên mà người chí nguyện thực hành yoga cần phải làm. Y phải nhận thức được tính chất của các trở ngại, rồi bắt đầu khắc phục chúng, làm điều này từ trên cõi trí. Y phải kiểm soát được cái khí cụ của tư tưởng. Rồi y phải học cách sử dụng nó. Khi đã biết cách sử dụng nó, y mới bắt đầu hóa giải các chướng ngại bằng những dòng tư tưởng ngược lại. Các chướng ngại này vốn là kết quả của những thói quen tư tưởng sai lầm và việc dùng sai cái nguyên khí tư duy. Khi chúng được thấu hiểu như những chủng tử tạo nên “các hình thể gây trở ngại”, thì có thể được loại bỏ trong các giai đoạn tiềm ẩn bằng thói quen suy nghĩ đúng. Kết quả là tạo phương tiện mang lại sự tự do.
Phải tẩy sạch vô minh (avidya) bằng minh triết hay sự hiểu biết đúng thực. Sự hiểu biết vừa kể được biết rõ trong giống dân thứ tư hiện nay trên bầu hành tinh thứ tư này, trong cuộc tuần hoàn thứ tư. Toàn bộ sự biểu biết nói trên gồm bốn điều minh triết, bốn chân lý vi diệu và bốn nguyên tố cơ bản.
Triết lý Ấn giáo có bốn điều minh triết sau đây:
1. Yajna vidya.− Cử hành các nghi thức tôn giáo để tạo ra một số kết quả. Huyền thuật nghi lễ. Có liên quan đến âm thanh, vì thế mà liên quan đến Akasa hay là chất dĩ thái của không gian. “Yajna” là vị thần vô hình thống ngự cả không gian.
2. Mahavidya.− Sự hiểu biết khoa huyền thuật chánh đại. Khoa này đã bị thoái hóa thành sự thờ phụng theo Vạn pháp kỳ môn. Làm việc với trạng thái nữ, hay là phương diện vật chất (mẹ). Vì thế mà trở thành cơ sở của hắc thuật. maha-yoga chân chính [141] làm việc với hình thể (phương diện thứ 2) và làm cho hình thể thích ứng với Tinh thần và các nhu cầu của Tinh thần.
3. Guhya vidya.− Khoa học về các chân ngôn. Kiến thức bí ẩn về những câu chú thần bí. mãnh lực huyền bí của âm thanh, của Linh từ.
4. Atman vidya.− minh triết tinh thần đích thực.
Bốn chân lý vi diệu đã được Đức Phật giảng dạy như sau:
“Bấy giờ Đức Thế tôn mới thuyết giảng với các đạo hữu:
‘Hỡi chư đạo hữu, vì không hiểu, vì không thấu đáo Bốn Chân lý của giống dân Aryan nên chúng ta, các ngươi và ta, đã giong ruổi và lang thang trong vòng luân hồi (tái sinh) dài dằng dặc này. Vậy bốn chân lý đó là gì?
Chân lý Aryan về Sự khổ: Chân lý Aryan về Phát sinh Sự khổ: Chân lý Aryan về Chấm dứt Sự khổ: Chân lý Aryan về Con Đường dẫn đến việc Chấm dứt Sự khổ.
Thế nhưng, hỡi chư đạo hữu, khi hiểu và thấu đáo Bốn Chân lý Aryan này, các ngươi bèn nhổ sạch gốc rễ của nỗi khao khát hiện tồn, cắt đứt manh mối dẫn đến tái sinh, và không còn trở lại cõi đời này.’
Đó là những điều Đức Thế tôn đã nói. Sau khi đã nói như thế, Đấng Phúc lạc, Đức Tôn sư lại nói thêm:
Không thấy được Bốn Chân lý Aryan về sự vật, Và không thấy được thực chất của chúng,
Người ấy tất phải qua bao kiếp luân hồi.
Thấy chân lý, manh mối sự sinh không còn nữa, Thôi sinh thành khi nhổ sạch cội rễ Khổ đau.”
Bốn nguyên tố được kể ra trong trích đoạn sau đây từ Giáo lý Bí nhiệm (I. 95):
“Quả trứng Vàng được bao bọc bởi bảy Nguyên tố thiên nhiên, bốn cái hiện hữu (dĩ thái, lửa, không khí, nước), ba cái kia còn bí mật.” [142]
11. Hoạt động của chúng được loại trừ qua tiến trình tham thiền.
“Thái độ ngược lại của trí tuệ” đã nêu trong câu trước đặc biệt nói về các chủng tử hay những khuynh hướng tiềm ẩn, tồn tại trong thể trí và thể cảm dục. Thái độ này của trí tuệ phải trở thành một tâm thái thiền tích cực và tư tưởng chuyên chú. Nhờ đó mà các hoạt động của thể xác cũng được chế ngự tương tự. Hầu hết những gì chúng ta làm đều có tính tự động và là kết quả của những thói quen tiếp diễn lâu dài của tình cảm và thể trí. Về phương diện bản năng, từ những tập quán xa xưa và chịu ảnh hưởng trong thế giới của các thể hữu hình, hoạt động của chúng ta ở cõi trần bị chi phối bởi năm chướng ngại nói trên. Cần khắc phục chúng đồng thời với việc giải trừ các chủng tử tiềm ẩn và điều hòa các hoạt động bên ngoài. một mặt, cần thường xuyên có thái độ ngược lại trong trí tuệ. mặt khác, cần tham thiền để tạo sự phối hợp giữa ba yếu tố: người suy tưởng, thể trínão bộ. Cần lưu ý điều này, nếu không thì lý thuyết sẽ không thể được thực hành một cách thông minh. Tiến trình tham thiền vừa kể sẽ được đề cập trong Quyển III, nên không cần bàn rộng ở đây.
12. Chính nghiệp quả bắt rễ trong năm chướng ngại nói trên, và phải đơm hoa kết trái trong kiếp sống này hay một kiếp sau.
Ngày nào con người ở cõi trần còn bị ảnh hưởng, hoặc chịu chi phối bởi các chướng ngại nói trên, ngày ấy y sẽ còn những hoạt động mang lại các hậu quả không thể tránh khỏi [143]. Và ngày ấy y vẫn bị trói buộc vào vòng tái sinh, và phải khoác lấy hình thể. Người môn sinh cần thận trọng lưu ý rằng năm chướng ngại nói trên là nguyên nhân của tất cả các hoạt động của phàm ngã hay phàm nhân. mọi điều người ấy làm đều dựa vào một trong các chướng ngại đó. Không hành động nào của một người bình thường trong tam giới này không là hậu quả của sự vô minh cùng với các đồng hóa và phản ứng sai lầm kèm theo.
Khi các chướng ngại được thắng phục, và sự vô minh, là mảnh đất sản sinh tất cả các chướng ngại ấy, được thay thế bởi minh triết thiêng liêng, thì ngày càng ít hậu quả biểu lộ ở cõi trần. Bấy giờ, các xiềng xích trói buộc hành giả vào bánh xe luân hồi trở lại thế gian dần dần bị cắt đứt. Các xiềng xích này có ba loại, giống như vô minh cũng gồm ba phương diện, trên ba cảnh giới của tâm thức, nơi con người đang tiến hóa. Khi trường vô minh trở thành trường kinh nghiệm hữu thức, và khi cảm thấy các xiềng xích này gây trở ngại và hạn chế, thì bấy giờ người đệ tử tương lai đã tiến một bước dài hướng về tiến trình giải thoát. Khi y có thể tiến hành phấn đấu hướng nội, vào những gì mà Ganganatha Jha gọi là “sự sống không biểu hiện”, mà chúng ta thường gọi là “các cảnh giới tế vi”, tức là y đi vào Phòng Học tập. Bấy giờ y chặt đứt những xiềng xích mà kama (hay dục vọng) và việc sử dụng thể trí sai lạc đã tạo nên. Về sau, y sẽ đi vào Phòng minh triết và được truyền dạy một số phương pháp nội mônhuyền môn để đẩy nhanh tiến trình giải thoát. [144]
13. Ngày nào các căn (hay là samkara) vẫn còn tồn tại, thì quả của chúng sẽ là sự sinh ra, đời sống và các kinh nghiệm mang lại vui sướng hay đau khổ.
Công việc chính yếu của người môn sinh huyền bí là vận dụng các lực, và đi vào thế giới mà trong đó các lực được khơi động, tạo ra những hiệu ứng về mặt hiện tượng. Y phải nghiên cứu và thực tế thấu hiểu một cách thông minh sự vận hành của luật Nhân Quả. Y không còn lo xử lý các hậu quả mà tập trung chú ý vào những nguyên nhân đã tạo ra chúng. Về bản thân, y bắt đầu ý thức rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng đời sống biểu hiện của y trong tam giới là chính chân ngã. Y cũng biết rằng nguyên nhân thứ yếu là toàn bộ các thôi thúc phát xuất từ chân ngã phát triển sự ứng đáp với các tiếp xúc của giác quan trong tam giới. Những sự thôi thúc vừa kể đã tạo ra các hiệu ứng (mà theo định luật) phải biểu hiện ở cõi trần. Vì thế, điều rất quan trọng là cần phải thiết lập sự liên giao trực tiếp với chân ngã, qua sinh mệnh tuyến hay sutratma. Vì chỉ bằng cách này, người chí nguyện mới có thể xác định được những nguyên nhân ẩn trong cuộc hiện tồn là kiếp sống của y hiện nay. Nhờ đó, y mới bắt đầu giải quyết các samkara hay những chủng tử mang lại các hoạt động của y trong tương lai. Những chủng tử này có tính chất kama-manas (hay là một phần thuộc về tình cảm và một phần của thể trí). Bởi dục vọng có những hiệu ứng rất mạnh mẽ và tạo ra thể hồng trần gồm hai phương diện.
a. Manas thấp, hạ trí, hay cái trí cụ thểyếu tố căn bản tạo nên thể dĩ thái. [145]
b. Kama, hay dục vọngyếu tố chính khiến thể xác chào đời.
Hai phương diện này mang lại cuộc sống biểu hiện. Người ta thường mô tả cội cây của đời sống có gốc rễ ở bên trên và lá cành hoa trái hướng xuống dưới. Cách trình bày biểu tượng này đúng với cội cây bé nhỏ của đời sống chân ngã. Gốc rễ của nó ở trên cõi trí. Nó đơm hoa, kết trái ra ngoại giới như được thấy ở cõi trần. Vì thế, người chí nguyện cần giáng lưỡi rìu vào gốc rễ của cây này. Nói cách khác, y cần giải quyết các tư tưởngdục vọng vốn tạo ra thể hồng trần. Y phải đi vào lĩnh vực nội tại, nếu muốn giải quyết những gì sẽ tiếp tục giam nhốt mình trong vòng luân hồi. Khi chủng tử bị loại bỏ, thì quả không thể sinh. Khi gốc rễ bị tách rời khỏi các nhánh nhóc của nó ở bên ngoài trong tam giới, thì năng lượng sống không còn tuôn xuống dưới. Ba từ ‘sự sinh ra, đời sống và kinh nghiệm’ tóm lược về cuộc sống của con người, mục tiêu, phương pháp và chủ đích của nó, tất cả đều không cần phải bàn. Câu kinh này đề cập đến toàn bộ vấn đề nghiệp quả (hay luật Nhân Quả). Vấn đề này quá rộng lớn nên không thể bàn rộng ở đây. Nói chung, theo quan điểm của Yoga Điển tắc, có ba loại nghiệp quả:
1. Nghiệp quả Tiềm ẩn. Các chủng tử và nguyên nhân còn chưa phát triển hay khởi hoạt và phải trở thành quả trong một giai đoạn của kiếp này hay kiếp sau.
2. Nghiệp quả đang Tác động. Những chủng tử hoặc nguyên nhân đang trong tiến trình tạo quả. [146] Kiếp sống hiện tại là mảnh đất cần thiết cho chúng đơm hoa kết trái.
3. Nghiệp quả Mới. Những chủng tử hoặc nguyên nhân được tạo ra trong kiếp sống này. Chúng tất sẽ chi phối các hoàn cảnh trong một kiếp tương lai.
Người mới nhập môn khoa yoga này có thể bắt đầu giải quyết nghiệp quả đang tác động của mình. Y hiểu rằng mỗi tình huống trong đời và mọi hoàn cảnh đều có những điều kiện mà y có thể dùng để giải tỏa một số hậu quả nhất định. Y có thể cố gắng trông chừng tư tưởng của mình để không gieo thêm những chủng tử mới. Vì thế sẽ không có nghiệp quả tương lai hình thành trong một kiếp về sau.
Các chủng tử của nghiệp quả tiềm ẩn thì khó giải quyết hơn đối với người tân môn sinh. Trong trường hợp này Chân sư có thể giúp y − vận dụng các hoàn cảnh của y và thu xếp cuộc sống chung quanh y trong tam giới. Nhờ thế mà loại nghiệp quả này có thể mau phát lộ và được giải trừ.
14. Các chủng tử (hoặc samskara) này tạo ra sự vui sướng hay đau khổ tùy theo nguyên nhân phát khởi của chúng là thiện hay ác.
Cần lưu ý rằng điều thiện liên quan đến cái nguyên khí duy nhất, là thực tại ẩn trong mọi hình thể. Nó liên quan đến Tinh thần của con người khi tinh thần ấy tự hiển lộ qua linh hồn. Tức là nó liên quan đến Đấng Cha lành khi Ngài biểu hiện qua Con của Ngài. [147] Trong khi đó điều ác liên quan đến hình thể, đến vận cụ và vật chất. Nó thực sự thuộc về mối liên hệ của Người Con với thể biểu hiện của mình. Nếu Người Con của Thượng Đế (ở cấp vũ trụ hay của con người) bị hình thể của mình giới hạn, giam nhốt và làm cho mù quáng, thì đó là quyền lực của điều ác đang chi phối y. Nếu y biết được chân ngã của chính mình, không hề bị các thể xiềng xích, và thoát khỏi ách nô lệ của vật chất, thì đó là quyền lực của điều thiện, hoàn toàn tự do đối với vật chất và mang lại chân phúc hay an lạc − niềm vui trong nhận thức. Điều ác gây đau khổ, vì chừng nào Đấng ngự trị ở Nội tâm còn bị hạn chế bởi thể biểu hiện của mình, thì chừng ấy y còn đau khổ.
15. Đối với người đã khai ngộ, toàn bộ cuộc sống (trong tam giới) bị xem là đau khổ do tác động của các guna. những tác động này có ba loại, tạo nên hậu quả, sự âu lo và những ấn tượng trong tiềm thức.
Ba “guna” chính là ba đặc tính của vật chất, sattva, rajas và tamas, hay là điều hòa, năng động và trì trệ. Chúng vốn có trong mọi hình hài sắc tướng. Cần lưu ý rằng mọi hình thể trên mọi cảnh giới đều có đặc trưng như thế. Điều này đúng với những hình thể cao cấp nhất cho đến loại thấp kém nhất. Sự biểu hiện của ba đặc tính nói trên chỉ khác biệt về mức độ.
Đối với người đang tiến đến trình độ hoàn thiện, y ngày càng thấy rõ bằng cách nào mà mọi thể được y, với tư cách con người tinh thần, dùng để biểu hiện, lại gây hạn chế và khó khăn. Thể hồng trần của một bậc trọn lành vốn được cấu tạo bằng loại chất liệu chính yếu có tính điều hòa, thăng bằng và tiết điệu. Dù vậy, nó vẫn hạn chế vị này trong hoạt động ở cõi trần và giới hạn các quyền năng của chân nhân. Có thể nói chung là: [148]
1. Thuộc tính trì trệ (hay tamas) là đặc trưng của phàm ngã thấp kém, và ba lớp áo của phàm nhân.
2. Thuộc tính năng động là đặc trưng chủ yếu của linh hồn. Chính đặc tính này giúp con người hoạt động tích cực và mãi mãi chịu khó nhọc trong khi tìm kiếm kinh nghiệm, và trong công cuộc phụng sự về sau.
3. Thuộc tính tiết điệu, hay thăng bằng, là đặc tính của tinh thần hay chân thần. Đó là khuynh hướng đạt sự hoàn thiện, vốn là nguyên nhân cuộc tiến hóa của con người trong thời giankhông gian. Đó cũng là yếu tố đưa sự sống đi qua tất cả các hình hài sắc tướng đến mức thành tựu viên mãn. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng ba đặc tính kể trên là những đặc tính của vật chất, qua đó tinh thần tam phân biểu hiện trong thái dương hệ này. Thực tính của chính tinh thần chúng ta vẫn còn chưa biết, vì chúng ta không thể suy nghĩ điều gì khác hơn ngoài phạm vi của hình tướng. Tuy nhiên, chúng ta có thể vượt cao hơn những hình tướng đó. Chỉ những linh hồn đã đạt cuộc điểm đạo cao nhất, và có thể vượt ra ngoài vòng hạn định của thái dương hệ chúng ta, mới biết được phần nào chân tính cốt yếu của sự sống mà chúng ta gọi là tinh thần.
Nói về sự biểu hiện thực tế của các guna trong tam giới (liên quan đến con người), có thể lưu ý rằng:
1. Thuộc tính thăng bằng hay tiết điệu là đặc điểm của thể trí. Khi thể trí được tổ chức và con người được trí tuệ của mình điều khiển, thì cuộc sống của người đó trở nên ổn định và có nề nếp. Các công việc của y cũng được điều hành một cách thăng bằng.
2. Đặc tính năng động hay cơ động là đặc trưng của thể tình cảm hay cảm dục. [149] Khi đặc tính này chế ngự, đời sống bị xáo trộn, náo loạn, đầy cảm tính và bị chi phối bởi những cơn bốc đồng và xúc cảm. Đây chủ yếu là đặc tính của cuộc sống theo dục vọng.
3. Trì trệ là đặc tính chế ngự thể xác. mục tiêu của chân nhân là phá vỡ tình trạng trì trệ đó và thúc đẩy thể thấp nhất của mình hoạt động để mang lại những gì mong muốn. Vì thế, trong các giai đoạn cố gắng ban đầu, cần có guna cơ động và tác động đầy đủ của tính xúc cảm hay ham muốn.
Đau khổ sản sinh từ những hoạt động nói trên của hình thể. Vì đau khổ là kết quả của sự khác biệt cố hữu giữa các cặp đối cực, tinh thần và vật chất. Cả hai yếu tố này đều cốt yếu là “bình ổn” cho đến khi được phối hợp lại với nhau. Bấy giờ, cả hai bèn đối kháng lẫn nhau, tạo nên sự ma sátđau khổ khi được kết hợp trong thời giankhông gian.
Patanjali nói rằng sự đau khổ này có tính toàn diện, bao gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
1. Các hậu quả. Đau khổ là do những hoạt động trong quá khứ, và là tác động của nghiệp quả khi nó được phát biểu để điều chỉnh điều lầm lỗi, và trả giá cho những gì sai quấy. Việc thanh toán những món nợ và trách vụ trong quá khứ bao giờ cũng là quá trình đau khổ. một số sự kiện trong quá khứ khiến có những tình trạng hiện nay cả về mặt di truyền, môi trường sống và trong thân xác. Vì thế, linh hồn bị giam hãm trong thân xác cảm thấy đau khổ do hình dạng của hiện thể này và các quan hệ với những người chung quanh.
2. Âu lo. Âu lo liên quan đến thời gian hiện tại và đôi khi được gọi là ưu phiền. Khi nghiên cứu thuật ngữ này, người môn sinh sẽ thấy rằng nó không chỉ bao gồm nỗi sợ hãi điều ác trong khi đau khổ, mà còn bao gồm nỗi sợ thất bại ở nội tâm trong khi phụng sự. [150] Những nỗi lo sợ này gây khó khăn và đau khổ, đồng thời cũng giúp chân nhân ý thức được và nhận thức được di sản của mình.
3. Những ấn tượng trong tiềm thức, có liên quan đến tương lai và những nỗi lo sợ về sự chết, đau khổ và nhu cầu, vốn chi phối quá nhiều người. Đây là những gì còn chưa biết và có khả năng xảy ra mà chúng ta lo sợ cả cho mình và những người khác, và chính điều này cũng lại gây đau khổ.
16. Có thể tránh được sự đau khổ chưa đến.
Những từ Bắc Phạn ở đây có hai ý nghĩa. Trước hết, chúng chỉ về một số loại “khốn khổ” sẽ đến (như một số bản đã dịch), có thể tránh được bằng cách điều chỉnh đúng các năng lượng của hành giả. Nhờ đó, khi y thay đổi thái độ trong trí, thì những phản ứng đau khổ không còn có thể xảy ra. Đồng thời, qua việc y siêu hóa dục vọng, “những nỗi đau khổ” xa xưa không thể tái diễn. Ý nghĩa thứ hai là trong kiếp sống hiện tại y sẽ sống thế nào để không phát động những nguyên nhân theo chiều hướng gây đau khổ. Hai ý nghĩa suy diễn nói trên sẽ khiến nhà yogi áp dụng hai loại giới luật, bao gồm quyết tâm thực hành hạnh buông xả, và liên tục chế ngự phàm tính. [151] Cố gắng này sẽ mang lại một hoạt động trong trí có tính cách sao cho những khuynh hướng, khao khát và ham muốn xưa cũ không còn hấp dẫn, và không hoạt động nào được dung dưỡng để tạo nghiệp, hay những kết quả về sau.
Những gì thuộc về quá khứ chỉ có thể được biểu lộ trong hiện tại. Và loại nghiệp quả có mang những nỗi đau khổ, buồn rầu và khốn khổ phải được để cho đi theo đúng con đường của nó. Nghiệp quả hiện tại, hay sự tuôn đổ những hậu quả mà chân nhân dự định giải tán trong kiếp sống này cũng phải có vai trò khai phóng linh hồn. Tuy nhiên, con người tinh thần khả dĩ chế ngự phàm nhân đến mức sự xảy ra của nghiệp quả (hay là những hậu quả biểu hiện trong ngoại giới ở cõi trần) có thể không gây đau khổ hay ưu phiền. Lý do là vì nhà yogi nhìn ngắm và đón nhận chúng với thái độ không bám chấp. Và cũng không có những nguyên nhân nào khác gây đau khổ sẽ được phép phát động.
17. Phải phòng tránh ảo tưởng cho rằng người nhận thức và điều được nhận thức là một và như nhau. Đó vốn là nguyên nhân (của những hậu quả gây đau khổ).
Câu này giúp chúng ta nhớ lại tính nhị nguyên cơ bản của cuộc biểu hiện, sự phối hợp của tinh thần và vật chất. Chính sự tương tác của hai yếu tố này mang lại toàn thể các biến thái hay hoạt động tạo nên hình thể trên những cảnh giới khác nhau. Và đó chính là nguyên nhân của những hạn chế mà tâm thức thuần khiết đã tự áp đặt cho chính mình. Trong một phần luận giải ngắn gọn như thế này, vấn đề vừa kể không thể được bàn đầy đủ hơn. Tất cả những gì có thể làm là nói về ảnh hưởng của vấn đề này đối với chính con người. Vì thế có thể tóm lược như sau: — Tất cả những nỗi đau thương và buồn khổ [152] là do con người tinh thần tự đồng hóa với các ngoại thể của mình trong tam giới, và đồng hóa với lĩnh vực hiện tượngcác thể nói trên hoạt động trong đó. Khi y có thể tách mình ra khỏi lĩnh vực của các giác quan và tự biết mình là “người không phải là điều mình thấy, tiếp xúc và nghe thấy”, bấy giờ y có thể thoát khỏi tất cả các hạn chế của hình thể và đứng riêng biệt với tư cách người nhận thức và người hành động thiêng liêng. Y sẽ sử dụng các thể theo ý muốn để đạt những mục tiêu đã định, nhưng không hề bị lừa gạt để xem chúng là chính mình. Người môn sinh cần học biết cách giữ tâm thức thế nào để trong tam giới (là tất cả những gì liên quan đến y trong giai đoạn này) y là yếu tố cao nhất trong những bộ ba dưới đây:
Người nhận thức ......... Sự nhận thức............ Điều được nhận thức,
Người suy tưởng.......... Tư tưởng ................... Hình tư tưởng,
Người tri thức.............. Sự hiểu biết .............. Phạm vi hiểu biết,
Người tri kiến.............. Sự thấy ..................... Điều được thấy,
Người quan sát............ Sự quan sát .............. Điều được quan sát,
Người quán xét............ Tầm nhìn .................. Cảnh tượng,
và nhiều bộ ba khác cũng thường được nói đến.
Mục tiêu chính đại của Raja Yoga là giúp người suy tưởng thoát khỏi các biến thái của nguyên khí tư duy. Do đó, y không còn hòa nhập vào thế giới rộng lớn của ảo tưởng do tư tưởng, hay tự đồng hóa với những gì hoàn toàn thuộc về hiện tượng. Y ung dung tự tại, buông xả, và sử dụng thế giới của các giác quan làm môi trường cho hoạt động thông minh của mình. Và nó không còn là trường thực nghiệm, cho những cố gắng thu thập kinh nghiệm của y. [153]
Cần nhớ rằng phương tiện nhận thức gồm có sáu giác quan: thính giác, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác và cái trí. Hành giả phải vượt cao hơn và biết thực chất của sáu giác quan này. Các phương tiện nhận thức làm hiển lộ thế giới rộng lớn của maya hay là ảo ảnh, ảo hóa. Thế giới này bao gồm mọi loại hình hài, sắc tướng có cấu tạo vật chất. Cần phải nghiên cứu vật chất về cấu trúc nguyên tử và phân tử, cũng như về các nguyên tố cơ bản khiến nó có những biệt hóa và tính chất đặc thù. Khi nghiên cứu, người môn sinh cần khảo sát tính chất của các yếu tố sau đây trong cái đối cực của tinh thần mà chúng ta gọi là vật chất:
1. Các nguyên tử,
2. Vật chất dưới dạng phân tử,
3. Các nguyên tố,
4. Ba guna hay đặc tính,
5. Các tattva hay là bảy dạng biệt hóa của lực.
Khi biết được tính chất và các đặc điểm của vật chất, y sẽ thấu hiểu thế giới của hình thể mà vốn đã giam giữ tinh thần của mình trong thời gian quá lâu. Patanjali nói lên điều này trong câu sau.
18. Cái được nhận thức có ba đặc tính, sattva, rajas và tamas (tiết điệu, năng động và trì trệ). nó bao gồm các nguyên tố và các giác quan. Việc sử dụng những thứ này mang lại kinh nghiệm và sự giải thoát chung cuộc.
Đây là một trong những câu kinh quan trọng nhất trong sách. Chỉ một số từ vắn gọn mà có thể tóm lược các đặc tính của vật chất, sự cấu tạo, mục đích và lý do của nó. [154] Có thể cần nhiều thời gian để cứu xét mỗi phần trong câu. Các từ “đặc tính,” “nguyên tố,” “giác quan,” “tiến hóa,” và “giải thoát” bao gồm toàn bộ các yếu tố liên quan đến cuộc phát triển của con người. Năm từ vừa kể là những gì được con người quan tâm nhiều nhất. Chúng bao gồm sự thăng tiến của con người kể từ khi y đầu thai lần đầu, xuyên suốt những chu kỳ sống lâu dài, cho đến khi y đi qua những cánh cửa điểm đạo khác nhau để bước vào cuộc sống rộng lớn hơn của vũ trụ.
Trước hết, y mang đặc tính trì trệ. Các thể của y quá nặng nề và thô kệch đến mức cần có nhiều lần tiếp xúc và va chạm dữ dội để y có thể ý thức được hoàn cảnh chung quanh, và về sau đánh giá được chúng một cách thông minh. Các đại nguyên tố gồm đất, nước, lửagió có vai trò kiến tạo các thể của y và được kết hợp vào đời sống của y. Các giác quan khác nhau của y trở nên năng động dần. Trước hết là năm giác quan. Về sau, khi đặc tính thứ hai là rajas hay cơ động đã vững vàng, ổn định, thì giác quan thứ sáu hay thể trí cũng bắt đầu phát triển. Sau đó, y bắt đầu nhận thức được trong tất cả những gì ở chung quanh y trong thế giới hiện tượng, cũng cùng những đặc tính và nguyên tố có nơi chính mình. Nhờ đó sự hiểu biết của y gia tăng nhanh chóng. Từ đây, y dần dần phân biệt được được giữa chính y là Người nhận thức và những gì y nhận thức là các thể của mình và thế giới sinh hoạt của chúng. Giác quan thứ sáu ngày càng nổi bật và rốt cuộc được chân nhân kiểm soát. Bấy giờ y chuyển sang trạng thái sattva, có sự hài hòa nơi chính mình, và nhờ đó mà hài hòa với cả cuộc sống chung quanh. Cuộc sống biểu hiện của y có tiết điệu và hòa hợp với cái toàn thể vĩ đại. Y [155] nhìn ngắm mọi sự và làm thế nào để các thể mà qua đó y tác động trong thế giới hiện tượng đều được kiểm soát thích hợp. Y cũng làm thế nào để tất cả các hoạt động của mình đều hài hòa với thiên cơ vĩ đại.
Bấy giờ, y là một thành phần của cái toàn thể, nhưng vẫn được tự do và giải thoát ra khỏi sự thúc phược của thế giới hình thể, của các nguyên tố và của các giác quan. Y sử dụng chúng, và chúng không còn sử dụng y.
19. Các guna (hay các đặc tính của vật chất) được chia làm bốn loại: cái cụ thể, cái không cụ thể, cái được chỉ thị và cái không thể tiếp xúc.
Ở đây cần lưu ý rằng các guna hay đặc tính (tất cả các thuộc tính hay khía cạnh của vật chất thái dương hệ chúng ta) có bốn loại. Cách phân chia này tương đồng với các thất phân có trong toàn cả vũ trụ biểu hiện. Trước hết, ta có ba khía cạnh chính của chất liệu tư tưởng:
1. Chất liệu sattva ...........tiết điệu, thăng bằng, điều hòa,
2. Chất liệu rajas...............cơ động, hoạt động,
3. Chất liệu tamas.............trì trệ, ổn định. Ba đặc tính vừa kể được chia thành:
1. Cái cụ thể .........................các nguyên tố biểu hiện, hình thể,
2. Cái không cụ thể ..........các giác quan, phản ứng với lực, các tanmatra,
3. Cái được chỉ thị.............chất liệu nguyên thủy... các tattva, vật chất nguyên tử,
4. Cái không thể tiếp xúc..Đấng cao cả là toàn thể của tất cả những gì vừa kể.
[156]
Câu kinh này bao gồm những thuật ngữ về phương diện hình thể của cuộc biểu hiện. Dù là chỉ về sự biểu hiện của một nguyên tử người, hay là của một vị thượng đế thái dương. Nó chỉ cho thấy tính tam phân, tính thất phân, và sự biến phân thiên hình vạn trạng tự nhiên của vật chất. Nó phát biểu tính chất, trạng thái của sự sống thiêng liêng được người Ấn giáo gọi là Brahma, và được người Thiên Chúa giáo gọi là Chúa Thánh Thần. Đây là trạng thái thứ ba của Trimurti hay Tam vị nhất thể. Đây là trạng thái của vật chất thông tuệ linh hoạt. Từ đó cơ thể của Vishnu hay của Đấng Christ vũ trụ sẽ được kiến tạo, để Shiva, Đấng Cha lành hay tinh thần khả dĩ có phương tiện để hiển lộ. Vì thế, sau khi nêu các từ đồng nghĩa của các guna nói trên, tưởng cũng nên kể ra tính chất bốn phân loại của ba guna.
Ba guna:
1. Các đặc tính của vật chất,
2. Những khía cạnh của chất liệu tư duy, hay của trí tuệ vũ trụ,
3. Các thuộc tính của vật chất-lực,
4. Ba mãnh lực.
Cần nghiên cứu kỹ các bộ ba vừa kể, vì qua đó khả dĩ có những mức độ khác nhau của tâm thức. Ở đây chúng ta đang bàn đến cái ảo tưởng lớn về các thểChân nhân tự đồng hóa với chúng khiến phải chịu đau thương, thống khổ trong suốt chu kỳ biểu hiện lâu dài, và rốt cuộc Chân nhân phải được giải thoát ra khỏi chúng. [157] Còn có một tư tưởng rộng lớn hơn nữa: sự sống của một Thượng Đế thái dương bị giam hãm trong hình thể của một thái dương hệ. Rồi sự sống của Ngài phát triển tiến hóa qua phương tiện của hình thể đó. Rốt cuộc, sự sống trở nên hoàn thiện và được giải thoát ra khỏi hình thể đó, vào lúc kết thúc một đại chu kỳ thái dương. Chu kỳ nhỏ hơn của con người được bao gồm trong chu kỳ lớn vừa kể. Vì thế sự thành đạt và tính cách giải thoát của y cũng chỉ tương đối so với chu kỳ rộng lớn nói trên.
1. Phân loại cụ thể của các guna.
Phân loại cụ thể hay riêng biệt này của các guna được chia thành mười sáu phần. Chúng chủ yếu liên quan đến phản ứng của con người đối với ngoại cảnh hữu hình.
a. Năm nguyên tố: dĩ thái, không khí, lửa, nước và đất. Những phần này bao gồm trực tiếp các hiệu quả của âm thanh hay linh từ nội tại hoặc không cụ thể.
b. Năm giác quan: tai, da, mắt, lưỡi và mũi. Đây là những cơ quan hay đường dẫn truyền trong thể xác mà qua đó mỗi người có thể tự đồng hoá với thế giới hữu hình.
c. Năm cơ quan hành động: tiếng nói, bàn tay, bàn chân, cơ quan bài tiết và cơ quan sinh sản.
d. Cái trí. Tức là giác quan thứ sáu. Giác quan này tổng hợp tất cả các giác quan hay cơ quan kia, và rốt cuộc sẽ khiến chúng trở nên không còn cần thiết.
Mười sáu phương tiện nói trên cho sự nhận thức và hoạt động trong thế giới hiện tượng là những đường dẫn truyền cho chân nhân đang tư duy. Chúng biểu lộ thực tính linh hoạt của chân nhân. [158] Chúng là toàn bộ các yếu tố thực tế trong thể chất liên quan đến mọi người con của Thượng Đế đang ở cõi trần. Tương tự, với hàm ý vũ trụ chúng là toàn bộ các yếu tố thực tế biểu lộ thực tính của một đấng lâm phàm ở cấp vũ trụ. Đây là “Ngôi Lời hiện thể” cả về phương diện cá nhân và theo ý nghĩa vũ trụ.
2. Phân loại không cụ thể của các guna.
Loại này có sáu phần liên quan đến những gì ẩn trong cái cụ thể. Chúng liên quan đến những gì nội tại và vô hình, và liên quan đến sự tác động của lực để tạo nên những hình thể đặc thù.
Những phần vừa kể được gọi với thuật ngữ tanmatra trong kinh sách Ấn giáo. Chúng liên quan đến tâm thức hơn là hình thể và là “các biến thái đặc biệt của bồ-đề hay tâm thức” (Ganganatha Jha). Đó là:
1. Yếu tố của thính giác, hay là những gì tạo thành tai nghe,− phần thô sơ của thính giác,
2. Yếu tố của xúc giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của xúc giác, như da, v.v.,− phần thô sơ của xúc giác,
3. Yếu tố của thị giác, hay là những gì tạo thành đôi mắt,
4. Yếu tố của vị giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của vị giác.
5. Yếu tố của khứu giác, hay là những gì tạo thành cơ chế của khứu giác.
Ẩn trong năm phần kể trên là tanmatra thứ sáu hoặc biến thái của nguyên khí tâm thức. Nó thường được gọi là “cảm nhận của phàm nhân,” ý thức “Tôi là Tôi,” hay nguyên khí ahamkara. [159] Chính nguyên khí này mang lại cảm nhận thực tế về cá nhân, và cảm thấy mình là một đơn vị tâm thức riêng biệt. Nó là cơ sở của “đại tà thuyết chia rẽ” và là nguyên nhân khiến chân ngã hay con người tinh thần bị cám dỗ đi vào đại ảo tưởng. Chính nguyên khí này khiến con người qua những thời kỳ lâu dài tự đồng hóa với những sự vật của các giác quan. Và cũng chính nguyên khí này rốt cuộc đưa y đến vị thế tìm kiếm sự giải thoát.
3. Cái được chỉ thị.
Ẩn trong mười sáu phần cụ thể hóa, và ẩn trong sáu cái không cụ thể hóa, có nguyên nhân của chúng. Nguyên nhân này được kinh sách Ấn giáo gọi là Buddhi (bồ-đề), hay lý trí thuần khiết, phần trí tuệ khác với hạ trí. Đôi khi, nguyên nhân này còn được gọi là trực giác, với phẩm tính bác ái-minh triết. Đây là sự sống hay nguyên khí Christ, đang trong tiến trình giáng trần hay khoác lấy hình thể, như chúng ta biết. Nguyên khí này biểu hiện với tính cụ thể và không cụ thể. Cho đến nay, với đa số mọi người, nguyên khí này chỉ mới “được nói cho biết.” Chúng ta chỉ phỏng đoán rằng có nguyên khí này. Thế nên, khoa Raja Yoga nhằm giúp hành giả hiểu biết đầy đủ về điều phỏng đoán mơ hồ vừa kể. Nhờ đó, lý thuyết trở thành hiện thực, và điều vốn ẩn tàng và đã được tin là hiện hữu thì nay hành giả có thể nhận biết và thấu hiểu thực tính của nó.
4. Cái không thể tiếp xúc.
Cuối cùng, chúng ta đến phân loại thứ tư của các guna hay các trạng thái. Đó là Đấng mà “chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong Ngài,” vị Thượng Đế vô danh hay là không thể tiếp xúc. Đây là dạng hiện tồn vĩ đại mà các thể nhỏ bé của chúng ta đang ở trong đó. Đây là toàn bộ chất liệu tư duy mà cái trí bé nhỏ của chúng ta là thành phần của nó. Đây là toàn cuộc biểu hiện của Thượng Đế qua trung gian của Đấng Christ vũ trụ, [160] mà mỗi Người Con bé nhỏ của Thượng Đế đều là thành phần trong đó. Cái trí của con người chưa thể nhận thức được cái vô danh và không thể tiếp xúc này.
20. Người tri kiếncái biết thuần khiết (tri thức tinh thần). Dù thuần khiết, y vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng xuất lộ.
Trước đây, đã có tham khảo cách dịch rất hay của Johnston cho câu kinh này như sau: “Người tri kiến là cái thấy thuần khiết. Dù thuần khiết, y vẫn nhìn ra ngoài qua lớp áo của thể trí.” Ganganatha Jha làm sáng tỏ thêm với câu “Người quán xét là sự nhận thức tuyệt đối, và dù thuần khiết, vẫn nhìn ngắm các ý tưởng qua trí tuệ.” Cái ý tưởng mà câu này truyền đạt là chân nhân, người quán xét, người nhận thức hay người suy tưởng là toàn bộ sự nhận thức, dù là nhận thức qua con đường của các giác quan hay hạ trí. Y chính là sự hiểu biết, cái thấy sáng tỏ hay nhận thức chân thực. Tất cả những gì trong tam giới sở dĩ có là vì y và để cho y. Y là nguyên nhân sự hiện tồn của chúng. Khi y không còn tìm kiếm chúng, hay cố gắng quán xét chúng, thì đối với y chúng không còn hiện hữu. Câu kinh này là một trong những câu then chốt trong sách. Nó là manh mối cho trọn cả khoa yoga. một số ý tưởng ẩn giấu trong cách diễn đạt câu này bao gồm toàn bộ nền tảng của yoga. Vì thế, người môn sinh cần suy ngẫm kỹ ý nghĩa sâu xa đó. Nó có tác dụng của một câu chân ngôn. Nếu người chí nguyện thường xuyên sử dụng và đọc lên một cách khẳng định, thì rốt cuộc y sẽ thấy được thực tính của câu nói “người nào suy nghĩ điều gì, thì trở thành điều đó.”
“Tôi là sự hiểu biết thuần khiết. [161] Dù thuần khiết, tôi vẫn dùng thể trí để quán xét các ý tưởng được hiển lộ.”
Ở đây chúng ta có:
1. Người tri kiến hay là người (từ quan điểm thiêng liêng của mình) nhìn ngắm và quán xét thế giới này, là thế giới của các hậu quả, của ảo hóa và ảo tưởng rộng lớn.
2. Ý tưởng được hiển lộ. Có nghĩa là mọi hình thể mà người quan sát thoáng thấy trong toàn cảnh rộng lớn của đời sống trong tam giới, đều vốn là “ý tưởng được hiển lộ.” Do đó, phải thấy rằng những ý tưởng được hiển lộ vừa kể có thực chất là những tư tưởng hiện thể. Nhà huyền bí học cần làm việc với cái mãnh lực ẩn trong mọi hình thể. Y không quá bận tâm đến cái hình thể vì nó chỉ là hậu quả của một nguyên nhân nào đó. Phương pháp làm việc này chỉ có thể được phát triển dần. Người quan sát từ từ đi qua các hình thể trong môi trường sống chung quanh cũng như trong thế giới nhỏ bé của mình, và hiểu thực nghĩa của chúng. Y đi qua những hình thể khác nhau khi du hành trong đời, cho đến khi thấy được thế giới của các nguyên nhân. Bấy giờ y hiểu rằng thế giới của các hậu quả chỉ là thứ yếu.
Trước hết, y nhận thức được các hình thể trong tam giới. Rồi y dần dần ý thức được những gì tạo nên chúng, và loại mãnh lực nào sản sinh ra chúng. Sau đó, y khám phá ra cái ý tưởng ẩn trong hình thể ấy. Cứ thế, y tiếp tục tìm về nguồn cội của chúng, giao tiếp với những sinh linh vĩ đại vốn là nguyên nhân giúp chúng biểu hiện. Bằng cách này, y vượt khỏi lĩnh vực khách quan, ra khỏi tam giới, tức là cõi trí, cõi tình cảm và cõi trần. Bấy giờ y đi vào lĩnh vực của linh hồn hay là cái nguyên nhân nội tại của ba phương diện biểu hiện vừa kể. Đây là thế giới của các ý tưởng, của hiểu biết thuần khiết, của lý trí thuần túy và trí tuệ thiêng liêng. [162] Về sau, đến một trình độ tiến hóa rất cao, y giao tiếp với Sự Sống duy nhất tổng hợp cả chúng sinh. Đó là mục đích duy nhất hòa hợp các ý tưởng vào thiên cơ đồng nhất.
3. Cái trí. Đây là khí cụ mà người tri kiến dùng để nhận thức các ý tưởng được hiển lộ hay những hình tư tưởng. Có thể nói rõ hơn, các ý tưởng được hiển lộ gồm năm nhóm hình tư tưởng:
a. Những hình thể hữu hình ở ngoại cảnh trong cuộc sống hằng ngày ở cõi trần. Y đã tự đồng hóa với những hình thể này trong thời gian lâu dài vào các giai đoạn đầu, còn dã man, của đời sống nhân loại.
b. Các tâm trạng, xúc cảmham muốn, tất cả đều có hình dạng trong cõi cảm dục hay cõi tình cảm.
c. Vô số các hình tư tưởng khác nhau trên cõi trí.
Qua “các ý tưởng được hiện lộ” này, y hiểu biết về cái phi-ngã.
d. Những hình tư tưởng mà y có thể tự tạo sau khi học cách kiểm soát khí cụ của mình là thể trí. Bấy giờ y có thể phân biệt giữa thế giới ảo tưởng gồm các ý tưởng hiện hữu và những thực tế trong thế giới của tinh thần.
Qua quá trình này, y tự biết mình. Xuyên suốt kinh nghiệm rộng lớn hiểu biết cái phi-ngã và tự biết mình, y sử dụng thể trí làm phương tiện tìm kiếm, giải thích và diễn giải. Bởi vì các giác quan và toàn bộ những lối giao tiếp [163] đều gửi các thông tin và phản ứng liên tục đến cái trí qua khí cụ ở cấp thấp là bộ não. Khi đã đến trình độ này, y có thể sử dụng thể trí theo cách ngược lại. Thay vì hướng sự chú ý của mình đến cái phi-ngã hay là thế giới ảo tưởng của các hậu quả, và thay vì nghiên cứu phàm tính của mình, nay nhờ đã đạt được sự kiểm soát trí tuệ, y có thể tiến đến trình độ thứ năm:
e. Các ý tưởng được hiển lộ trong thế giới của sự sống tinh thần, lĩnh vực hiểu biết tinh thần và Thiên giới, theo ý nghĩa chân thực nhất.
Qua đó, y hiểu được chân tính của Thượng Đế và thực tính của tinh thần. Bấy giờ thể trí phục vụ ba mục đích:
a. Qua thể trí, y quán xét lĩnh vực của các nguyên nhân, tức là lĩnh vực tinh thần.
b. Y sử dụng thể trí để diễn giải thế giới các nguyên nhân trong phạm vi trí tuệ.
c. Khi sử dụng thể trí đúng cách, y có thể truyền đến não bộ trong thể xác của phàm ngã (phản ánh của chân nhân, trong thế giới các hậu quả) những gì mà linh hồn thấy và biết. Bấy giờ, một tam giác được hình thành và bắt đầu tác động: Người tri kiến hay là con người tinh thần, thể trí, phương tiện y dùng để khảo cứu, hay là cửa sổ để y quán xét (về thế giới các các hậu quả, về chính mình, hay về thế giới các nguyên nhân), và não bộ. Não bộ là phương tiện tiếp nhận những ấn tượng về “sự hiểu biết thuần khiết” của người tri kiến, được y truyền đến qua thể trí với tính cách trung gian diễn giải và truyền đạt. [164]
21. Cả vạn hữu là để dành cho linh hồn.
Người có tính kiêu căng, ngã mạn không nên nắm lấy câu kinh này để giải thích rằng tất cả các tạo vật sở dĩ có là để cho y. Thực ra ý nghĩa của câu này sâu rộng hơn nhiều. Linh hồn được đề cập ở đây là linh hồn của Đấng Tối cao mà linh hồn của con người chỉ là một phần vô cùng nhỏ của Ngài. Thế giới nhỏ bé của con người, môi trường sống và phạm vi giao tiếp nhỏ hẹp của y, sở dĩ có là nhằm mang lại cho y kinh nghiệm để y đi đến sự giải thoát cuối cùng. Y là nguyên nhân cuộc biểu hiện của chúng, và chúng là kết quả của quyền năng tư tưởng của y. Thế nhưng, ở chung quanh y và xuyên qua y là cái toàn thể rộng lớn hơn mà y chỉ là thành phần trong đó. Toàn thể vũ trụ bao la, ở cấp hành tinh và thái dương, sở dĩ hiện hữu là cho Sự Sống rộng lớn mà trong cơ thể của Ngài y chỉ là một hạt nguyên tử. Toàn cả thế giới hình tướng là kết quả của hoạt động tư tưởng của một Đấng cao cả. Toàn bộ thế giới vật chất là trường kinh nghiệm của một Đấng thiêng liêng.
22. Đối với người đã thành đạt khoa yoga (hay hợp nhất) vũ trụ khách quan không còn nữa. Thế nhưng nó vẫn còn hiện hữu đối với những người chưa được tự do.
Câu kinh này có mầm mống của trọn cả khoa học về tư tưởng. Tiền đề của nó dựa vào nhận thức rằng tất cả những gì mà chúng ta thấy đều là các biến thái của chất liệu tư tưởng. Đó cũng là nhận thức rằng người suy tưởng tự tạo nên thế giới của riêng mình, dù đó là Thượng Đế hay con người. Chúng ta biết rằng yoga là khoa bàn về “sự chế ngự các hoạt động của nguyên khí tư duy” [165] hay là sự kiểm soát thể trí. Khi qua khoa này hành giả đã hoàn toàn làm chủ thể tríchất liệu trí tuệ hay vật chất tư tưởng, thì bấy giờ y thoát khỏi sự kiềm tỏa của các hình thể vốn đang giam giữ đa số mọi người trong tam giới.
Nay y đã hóa giải đại ảo tưởng. Các thể mà từ trước đến giờ đã ràng buộc y thì nay không còn thế nữa. Những dòng ý tưởng, tư tưởngdục vọng mạnh mẽ vốn bắt nguồn từ “các biến thái của nguyên khí tư duy” nơi những người đang bị lao tù trong tam giới, thì nay không còn chi phối hay ảnh hưởng được y. Hậu quả của chúng là vô số hình tư tưởng được tạo nên ở cõi trí, cõi cảm dục và cõi trần. Các hình tư tưởng ấy nay không còn che án tầm mắt của y trước những điều thực tế, thế giới chân thực của các nguyên nhân, và những phóng phát mãnh lực. Y không còn bị lừa gạt, và có thể phân biệt được điều thật và không thật, điều đúng và điều sai, giữa sự sống tinh thần và thế giới hiện tượng. Y bắt đầu chịu ảnh hưởng của những dòng tư tưởng, và thế giới các ý tưởng phát xuất từ các đấng tinh thần cao cả, và nguồn sống tinh thần. Thiên cơ vĩ đại của vị Kiến trúc sư Vũ trụ có thể phơi bày trước mắt y. Y được giải thoát, tự do, và chỉ còn theo các điều kiện sống mới trong đời của người đã thực hiện được sự hợp nhất trọng đại. Các luật trong tam giới không được thay thế mà y chỉ vượt cao hơn chúng. Lý do là vì cái lớn luôn luôn bao gồm cái nhỏ. Vì mục đích phụng sự, y có thể chọn việc tự giới hạn mình trong đời sống chừng như thuộc ba chiều không gian. Thế nhưng, bất cứ khi nào cần cho việc mở rộng Thiên giới, y vẫn thoải mái đi vào thế giới của các chiều cao siêu hơn. [166]
Mục tiêu của khoa yoga này là cho hành giả thấy phương cách để tự giải thoát và trở nên tự do. Vì thế, cho đến nay, khuynh hướng trong giáo huấn của Patanjali đã nhằm chỉ rõ vị trí của con người trong đại cuộc. Ông cho thấy nguyên nhân căn bản nào khiến con người cứ mãi băn khoăn, đau khổ, với sức thôi thúc hướng đến một loại hoạt động này hay hoạt động khác. Ông nêu rõ lý do vì sao mà có thế giới bao la của các hậu quả, và khuyến khích người môn sinh khảo cứu thế giới của các nguyên nhân. Bằng cách này, y thấy rằng cần phải khai mở nhiều hơn, và đâu là những chướng ngại đối với cố gắng khai mở đó. Bấy giờ, tất nhiên y sẽ hỏi: Nếu sự thể là như thế, thì có những phương tiện nào để có thể hợp nhất với thực tại, và giải tán cái ảo tưởng nặng nề kia? Quyển hai này trình bày tám phương tiện của yoga. Đây là bản phác thảo rõ ràng và vắn gọn về những bước chính xác cần theo đúng, để thực hiện điều thiết yếu là điều hòa cuộc sống thể chất, tâm lý và trí tuệ.
23. Kết hợp linh hồn với thể trí và từ đó kết hợp với những gì mà thể trí nhận thức được, giúp hành giả thấu hiểu thực chất của điều được nhận thức cũng như bản tính của người nhận thức.
Câu này hướng sự chú ý của người môn sinh đến đức tính chủ yếu mà y phải phát triển, là tính phân biện. Vì thế, ý nghĩa của nó thật rõ ràng. [167] Các cặp đối cực, tinh thần và vật chất, purusha và prakriti, được kết hợp chặt chẽ với nhau. Linh hồn, tức là cái tâm thức hiểu biết, phải thấu đáo sự phối hợp này. Qua tiến trình hòa hợp các lưỡng nguyên nói trên, linh hồn là người suy tưởng hiểu rõ thực tính của chính mình là bản tính tinh thần, và bản chất của thế giới hiện tượng mà y nhận thức, tiếp xúc và sử dụng. Cơ quan nhận thức là thể trí và năm giác quan. Theo quan điểm của linh hồn, chúng họp thành một khí cụ duy nhất. Trong kỳ gian lâu dài và qua nhiều kiếp luân hồi, linh hồn hay là người suy tưởng tự đồng hóa với cơ quan nhận thức này. Trong những giai đoạn đầu, thậm chí y còn tự đồng hóa với những gì y nhận thức được khi sử dụng cơ quan đó. Y cho rằng thể xác, cái thể tạm mà y sử dụng, là chính mình. Vì thế, y thường nói: “Tôi mệt,” hoặc “Tôi đói.” Y cũng tự đồng hóa với thể xúc cảm hay dục vọng của mình và nói “Tôi bực bội,” hay “Tôi muốn có tiền bạc.” Rồi y còn tự đồng hóa với thể trí và cho rằng mình chính là sự suy nghĩ, v.v. Chính việc tự đồng hóa này gây nên hậu quả là những khác biệt về thần học, và các đa dạng về giáo lý và tính bè phái ở khắp nơi. Và chính trong căn chủng thứ năm này, và đặc biệt là trong phân chủng thứ năm hiện nay, sự tự đồng hóa này đạt đến cực điểm. Đó là thời đại của phàm ngã, chứ không phải của Chân ngã tinh thần. Sự nhận thức này của phàm tính là một phần trong diễn trình tiến hóa vĩ đại. Thế nhưng, tiếp theo phải là nhận thức về đối cực của nó, là Chân ngã tinh thần. Điều này được linh hồn thực hiện khi bắt đầu thực hành khả năng phân biện. Lúc đầu chỉ có tính cách lý thuyết và tri thức. Đó là giá trị lớn của thời đại hiện nay [168] với những chỉ trích, bút chiến và tranh luận, vì nó là một phần trong tiến trình phân biện của hành tinh. Về sau sẽ đi vào thực nghiệm. Sự phân biện vừa kể rốt cuộc đưa đến ba điều:
1. Thấu đáo sự khác biệt giữa tinh thần và vật chất,
2. Nhờ đó mà hiểu bản tính của linh hồn vốn là sản phẩm của sự hợp nhất này. Linh hồn là đứa con sinh ra do sự phối hợp của cha-tinh thần và mẹ-vật chất,
3. Giai đoạn phát triển khi linh hồn bắt đầu tự đồng nhất với phương diện tinh thần, chứ không với thế giới hiện tượng gồm các hình thể. Giai đoạn này được trợ giúp rất nhiều và đẩy nhanh qua việc thực hành Raja Yoga. Vì thế mà Đại đoàn Chưởng giáo quyết định đưa khoa yoga này vào thế giới Tây phương là nơi có tính phân biệtchỉ trích. Cần lưu ý rằng linh hồn trải qua những giai đoạn quan trọng trong tiến trình thống nhất, và từ yoga bao gồm cuộc phát triển tiến hóa của Chân thần trong con người.
1. Linh hồn hợp nhất với hình thể và tự đồng hóa với phương diện vật chất,
2. Sự hợp nhất của người suy tưởng hay sự quán tưởng tự thức trong tam giới với con người tinh thần trên cảnh giới của mình,
3. Sự hợp nhất của con người tinh thần hay là người suy tưởng thiêng liêng với Cha của mình ở trên Trời, tức là Chân thần hay phương diện tinh thần. Giai đoạn I bao gồm thời kỳ từ khi nhập thế lần đầu đến khi tiến bước trên Con Đường Dự bị. [169] Giai đoạn II bao gồm thời gian từ Con Đường Dự bị đến cuộc điểm đạo thứ ba trên Con Đường Đệ tử. Giai đoạn III bao gồm những chặng cuối trên Con Đường Điểm đạo.
24. Nguyên nhân của sự kết hợp nói trên là vô minh hay thiếu minh triết. Tình trạng này cần được khắc phục.
Vì không hiểu thực tính của mình, vì khao khát muốn biết chân tính và các quyền năng của mình, linh hồn bèn tự đồng hóa với các cơ quan nhận thức, cũng như với những gì mà các cơ quan ấy nhận thức được hay là đưa vào tâm thức của linh hồn. Thế nhưng, qua sự vô minh và các hậu quả của nó, linh hồn không tìm thấy điều mình muốn tìm. Bấy giờ cố gắng tìm kiếm diễn tiến theo lối khác, và linh hồn tự tìm kiếm sự thực. Có thể mô tả cố gắng này như sau:
Đồng hóa với thế giới hiện tượng và sử dụng các cơ quan nhận thức hướng ngoại là tình trạng của chân nhân đang ở trong giai đoạn gọi là Phòng Vô minh. Nhàm chán, băn khoăn tìm hiểu về chân ngã hay linh hồn là giai đoạn ở trong Phòng Học tập. Nhận thức, mở mang tâm thức, và đồng nhất với con người tinh thần là giai đoạn ở trong Phòng minh triết. Ba giai đoạn nói trên được gọi là cuộc sống nhân loại, cuộc sống thần bí, và cuộc sống huyền môn.
25. Khi hành giả xóa tan vô minh vì không còn gắn bó với những điều mà y nhận thức, thì đó là đại giải thoát.
Trong tiến trình nhập thế, người tri kiến, tức là linh hồn, đắm chìm trong bức màn ảo ảnh hay ảo tưởng rộng lớn. [170] Y bị giam hãm bởi những hình tư tưởng của chính mình, các tạo tác của tư tưởng, cũng như những loại tư tưởng khác trong tam giới. Y cho rằng mình là một thành phần của thế giới hiện tượng. Về sau, qua kinh nghiệm và phân biện, y có thể thấy sự khác biệt giữa chính mình và những hình thể đó. Bấy giờ y có thể khởi đầu tiến trình giải thoát. Rốt cuộc tiến trình này đưa đến sự từ bỏ trọn vẹn, và hành giả hoàn toàn tự do thoát khỏi tam giới.
Tiến trình này có tính cách tiếp diễn, không thể thực hiện tất cả chỉ một lần, mà gồm hai giai đoạn:
1) Giai đoạn dự bị, hay là Con Đường Tinh luyện, theo lối nói của người Thiên Chúa giáo,
2) Con Đường Đệ tử gồm hai phần:
a. Con Đường Đệ tử chính thức hay là cuộc huấn luyện nghiêm nhặt và giới luật của linh hồn áp dụng cho phàm ngã, có sự chỉ dẫn của vị tôn sư hay chân sư,
b. Điểm đạo, hay là những đợt mở mang tâm thức ngày càng rộng lớn mà người đệ tử trải qua với sự hướng dẫn của chân sư.
Tiến trình kép này được mô tả bằng những từ sau đây:
a. Lập nguyện,
b. Giới luật,
c. Tinh luyện,
d. Thực hành các phương tiện của yoga hay hợp nhất, e. Điểm đạo,
e. Nhận thức,
f. Hợp nhất.
26. Hành giả thoát khỏi tình trạng bị giam cầm, ràng buộc nhờ phân biện một cách thường xuyên và sáng suốt.
Đề cập đến khả năng phân biện ở đây thật hữu ích, vì đó là bước đầu tiên và quan trọng nhất để được tự do hay giải thoát khỏi tam giới. [171] Trước hết, phân biện là một thái độ của trí tuệ và cần được vun bồi thận trọng. Phân biện vốn dựa vào sự nhận thức về tính nhị nguyên cốt yếu của thiên nhiên. Phân biện cho thấy rằng thiên nhiên là sự phối hợp của hai đối cực của Cái Toàn thể Tuyệt đối, tức là tinh thần và vật chất. Tiền đề về tính nhị nguyên được thừa nhận là cơ sở hợp lý để nghiên cứu sâu xa hơn. Lý thuyết này được trắc nghiệm trong cố gắng chứng minh sự thật. Bấy giờ, người chí nguyện bèn dứt khoát giữ thái độ của đối cực cao siêu (thái độ của tinh thần, biểu hiện với tính cách là linh hồn hay đấng ngự trị ở nội tâm). Trong các công việc thường ngày, y tìm cách phân biệt giữa hình thể và sự sống, giữa linh hồncơ thể. Y cũng phân biệt giữa toàn bộ các biểu hiện phàm tính (là phàm nhân với thể xác, thể tình cảm và thể trí) và chân ngã, vốn là nguyên nhân khiến cho phàm tính biểu hiện.
Trong đời sống hằng ngày, y cố gắng phát triển ý thức về sự thật và phủ nhận những gì giả trá. Y để cho ý thức này thấm nhuần tất cả các mối quan hệ và mọi công việc của mình. Nhờ thực hành kiên trì và liên tục, y quen phân biệt giữa chân ngã và cái phi-ngã. Y chú tâm vào những vấn đề tinh thần mà không vướng bận với những gì của thế giới ảo hóa rộng lớn gồm các hình hài, sắc tướng. Sự phân biệt này lúc đầu chỉ là lý thuyết, rồi trở thành sự phân biện của trí năng. Thế nhưng, về sau nó trở nên ngày càng đúng thực và hòa nhập vào các diễn biến ở cấp tình cảm và hồng trần. Cuối cùng, việc theo đúng phương pháp này giúp hành giả đi vào một lĩnh vực hoàn toàn mới. Nay y đồng nhất với sự sống trong một thế giới vượt cao hơn ba cõi sinh hoạt của con người. [172]
Ở trình độ này, y quen thuộc với môi trường sống mới đến mức không những y biết đến hình thể mà còn thấu hiểu được Thực tại ở nội tâm, vốn là nguyên nhân khiến cho các hình thể này hiện hữu.
Sau đó, y tiếp tục phát triển phẩm tính quan trọng kế tiếp là hạnh vô dục hay là không ham muốn. một người khả dĩ có thể phân biệt được điều thật và lẽ giả, giữa vật chất và Sự Sống làm linh hoạt nó, vậy mà vẫn còn muốn “đi ra ngoài” hướng về cuộc sống hình thể. Vì thế, cũng phải khắc phục ý muốn này trước khi y có thể được hoàn toàn giải thoát, khai phóng hay tự do. một thiên cổ luận trong văn khố của Đại đoàn các Chân sư, có ghi những dòng sau đây:
“Chỉ biết phương cách hay cảm thấy mãnh lực giúp sự sống thoát ra khỏi các hình thể ảo hóa, thì vẫn chưa đủ. Phải có phút giây trọng đại khi người đệ tử dùng Quyền lực từ để dứt khoát đoạn lìa sợi sutratma ảo tưởng đã buộc chặt y vào hình thể. Giống như con nhện thu hồi sợi tơ mà nó đã dùng để phiêu lưu vào những vùng xa lạ, người đệ tử cũng tách mình ra khỏi tất cả các hình thức sống trong tam giới, mà từ trước đến giờ đã quyến rũ y.”
Đoạn văn trên đây đáng cho chúng ta xem xét kỹ và có thể được liên kết với ý tưởng bao hàm trong câu phát biểu huyền môn: “Trước khi hành giả có thể dấn bước trên Đường Đạo, y phải tự trở thành con Đường Đạo.”
27. Sự hiểu biết (hay giác ngộ) đạt được gồm bảy phần, và tăng tiến dần.
Kinh sách Ấn giáo cho biết rằng ý thức của thể trí gồm bảy trạng thái. [173] Khi được sử dụng, giác quan thứ sáu này có bảy phương thức suy tưởng. Hoặc nói theo thuật ngữ thì nguyên khí tư duy có bảy biến thái chính sau đây:
The Hindu teaching holds that the states of mind-consciousness are seven in number. The [Page 173] sixth sense and its use bring about seven modes of thought, or—to put it more technically—there are seven major modifications of the thinking principle. These are:
1. Ý muốn hiểu biết. Chính ý muốn này thôi thúc người Cùng tử, tức là linh hồn, đi vào ba cõi giới của ảo tưởng. Khi đưa ẩn dụ này về nguồn xa xưa hơn nữa, có thể nói chính ý muốn này khiến Chân thần hay Tinh thần lâm phàm. Chính ý muốn căn bản này mang lại toàn bộ các kinh nghiệm.
1. Desire for knowledge. It is this which drives forth the Prodigal Son, the soul into the three worlds of illusion, or (to carry the metaphor further back still) it is this which sends forth the Monad or Spirit into incarnation. This basic desire is what causes all experience.
2. Ý muốn tự do. Vì thế, linh hồn tiến hành những trải nghiệm và khảo sát qua các chu kỳ sống biểu hiện của mình. Kết quả của cố gắng này là sự khao khát mạnh mẽ muốn có một điều kiện khác, và thiết tha muốn được tự do và giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
2. Desire for freedom. The result of experience and of the investigations which the soul carries on in its manifold life-cycles is to cause a great longing for a different condition and a great desire for liberation and for freedom from the wheel of rebirth.
3. Ý muốn hạnh phúc. Đây là một đặc tính căn bản của toàn nhân loại, dù nó biểu lộ theo nhiều lối khác nhau. Nó vốn dựa vào khả năng phân biện sẵn có. Nó cũng dựa vào năng lực sâu xa có thể so sánh nhà của “Đấng Cha lành” với tình trạng hiện tại của người Cùng tử. Chính năng lực cố hữu muốn tìm kiếm “chân phúc” hay hạnh phúc này khiến người ta cảm thấy băn khoăn và muốn thay đổi. Đó cũng chính là sức thôi thúc tiềm ẩn của cuộc tiến hóa. Đó là nguyên nhân của sự hoạt động và tiến bộ. Người ta bất mãn với tình trạng hiện tại do ký ức mơ hồ về một thời hài mãn và phúc lạc. Họ phải tìm lại được điều đó mới cảm thấy bình an.
3. Desire for happiness. This is a basic quality of all human beings, though it shows itself in many different ways. It is based upon an inherent faculty of discrimination and upon a deep seated capacity to contrast the "Father's" home and the Prodigal's present condition. It is this inherent capacity for "bliss" or happiness which produces that restlessness and urge to change which lies back of the evolutionary urge itself. It is the cause of activity and progress. Dissatisfaction with the present condition is based upon a dim memory of a time of satisfaction and of bliss. This has to be regained before peace can be known.
4. Ý muốn làm tròn bổn phận. Ba biến thái đầu tiên của nguyên khí tư duy rốt cuộc đưa nhân loại đang tiến hóa đến trình độ mà động cơ cuộc sống của họ chỉ còn là nhằm hoàn thành thiên chức của mình [174]. Sự khao khát được hiểu biết, được tự do và hạnh phúc đã đưa con người đến tình trạng hoàn toàn bất mãn. Không điều gì khiến y cảm thấy hân hoan hoặc bình an thực sự. Y đã làm đủ mọi cách để tìm kiếm niềm vui cho mình. Nhưng nay y bắt đầu mở rộng tầm nhìn và tìm nơi nào (trong cuộc sống tập thể và trong môi trường chung quanh) khả dĩ có điều mà y tìm kiếm. Trong y bừng lên ý thức trách nhiệm đối với người khác. Y bắt đầu tìm hạnh phúc trong việc hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với những người phụ thuộc, gia đình, bè bạn và tất cả những người mà y gặp gỡ. Khuynh hướng mới này là khởi đầu của cuộc sống phụng sự. Rốt cuộc nó giúp y nhận biết trọn vẹn ý nghĩa của tâm thức tập thể. H.P.B. nói rằng ý thức trách nhiệm là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự bừng tỉnh của chân nhân hay nguyên khí Christ.
4. Desire to do one's duty. The first three modifications of the thinking principle eventually bring evolving humanity to the state where the [Page 174] motive for life comes to be simply the fulfillment of one's dharma. The longing for knowledge, for freedom, and for happiness has brought the man to a state of utter dissatisfaction. Nothing brings him any true joy or peace. He has exhausted himself in the search for joy for himself. Now he begins to widen his horizon and to search where (in the group and in his environment), what he seeks may lie. He awakens to a sense of responsibility to others and begins to seek for happiness in the fulfillment of his obligations to his dependents, his family, friends and all whom he contacts. This new tendency is the beginning of the life of service which leads eventually to a full realization of the significance of group consciousness. H.P.B. has said that a sense of responsibility is the first indication of the awakening of the ego or the Christ principle.
5. Đau khổ. Người có các thể càng thanh khiết thì hệ thần kinh của họ càng nhạy cảm với những cặp đối cực, vui sướng và đau khổ. Khi một người càng thăng tiến trên thang tiến hóa trong gia đình nhân loại, thì y ngày càng có khả năng cảm nhận mạnh mẽ niềm vui hay nỗi khổ một cách rõ rệt. Điều này hết sức đúng trong trường hợp của người chí nguyện và người đệ tử. Ý thức về giá trị của y trở nên rất sắc bén và thể xác của y trở nên nhạy cảm đến đỗi y đau khổ nhiều hơn người thường. Sự nhạy cảm này giúp y tiến tới và hoạt động nhiều hơn trong cuộc tìm kiếm của mình. Y đáp ứng với các giao tiếp bên ngoài ngày càng mau lẹ, và ngày càng rất dễ bị đau đớn về thể chất và tình cảm [175]. Điều này thấy rõ trong giống dân thứ năm, và đặc biệt là trong phân chủng thứ năm với tần suất tự sát ngày càng tăng. Sở dĩ giống dân này dễ bị đau khổ là do thể xác của họ trở nên ngày càng thanh bai, tế nhị, và thể tình cảm hay xúc cảm của họ phát triển, tiến hóa nhiều hơn.
5. Sorrow. The greater the refinement of the human vehicle, the greater the response of the nervous system to the pairs of opposites, pain and pleasure. As a man progresses and rises on the ladder of evolution in the human family it becomes apparent that his capacity to appreciate sorrow or joy is greatly increased. This becomes terribly true in the case of an aspirant and of a disciple. His sense of values becomes so acute and his physical vehicle so sensitized that he suffers more than the average man. This serves to drive him forward with increasing activity in his search. His response to outer contacts is ever more rapid and his capacity for pain, physical and emotional, becomes greatly increased. [Page 175] This is apparent in the fifth race and particularly in the fifth subrace in the increasing frequency of suicide. The capacity of the race to suffer is due to the development and refinement of the physical vehicle and to the evolution of the body of feeling, the astral.
6. Sợ hãi. Khi thể trí phát triểnnguyên khí tư duy biến thái mau lẹ hơn, nỗi sợ hãi do nó sản sinh sẽ lộ rõ. Đây không phải là sự sợ hãi trong bản năng của loài vật và của các giống dân dã man. Vì nỗi sợ đó là do thân xác ứng đáp với những điều kiện của cõi trần. Trong trường hợp này, nỗi sợ hãi của thể trí vốn do ký ức, do sự tưởng tượng, dự kiến, và năng lực hình dung. Đây là tình trạng khó khắc phục, và chỉ có thể được chính chân nhân hay linh hồn chế ngự.
6. Fear. As the mental body develops and the modifications of the thinking principle become more rapid, fear and that which it produces begin to demonstrate. This is not the instinctual fear of animals and of the savage races, which is based upon the response of the physical body to physical plane conditions, but the fears of the mind, based upon memory, imagination and anticipation, and the power to visualize. These are difficult to overcome and can only be dominated by the ego or soul itself.
7. Nghi ngờ. Đây là một trong những biến thái kỳ lạ nhất, vì nó liên quan đến nguyên nhân hơn là hậu quả. Có thể nói người nghi ngờ không hề nghĩ rằng chính y là người quyết định vận mệnh của mình. Y ngờ vực lòng chân thành và phản ứng của người khác. Y nghi ngờ Thượng Đế, hay là nguyên nhân khởi thủy. Tình trạng này nhan nhãn trong các cuộc tranh cãi xoay quanh vấn đề tôn giáo và những người đại diện cho tôn giáo. Y cũng nghi vấn về chính thiên nhiên, khiến y miệt mài khảo cứu khoa học. Cuối cùng, y nghi ngờ đến chính cái trí. Khi y bắt đầu nghi vấn về khả năng diễn giải, lý giải và thấu hiểu của thể trí, thì bấy giờ y đã thực sự vắt cạn toàn bộ các nguồn lực của mình trong tam giới.
7. Doubt. This is one of the most interesting of the modifications for it concerns causes more than effects. The man who doubts can be described perhaps as doubting himself as an arbiter of his fate, his fellowmen as to their nature and reactions, God, or the first cause as witnessed by the controversies built up around religion and its exponents, nature itself, which doubt urges him on to constant scientific investigation and finally, the mind itself. When he begins to question the capacity of the mind to explain, interpret and comprehend, he has practically exhausted the sum total of his resources in the three worlds.
Bảy biến thái nói trên của cái trí sản sinh qua kinh nghiệm của con người trên Bánh xe Luân hồi. Chúng có [176] khuynh hướng đưa y đến mức cảm thấy rằng cuộc sống ở cõi trần, các quá trình xúc cảm và sinh hoạt trí não chẳng có mấy ý nghĩa, và hoàn toàn không làm cho y hài mãn. Y đến giai đoạn được Thánh Paul đề cập qua câu nói “Tôi thà mất tất cả để được Đấng Christ.”
The tendency of these seven states of mind, produced through the experience of the man upon the Wheel of Life is to bring him to the point [Page 176] where he feels that physical plane living, sentiency and mental processes have nothing to give and utterly fail to satisfy him. He reaches the stage which Paul refers to when he says "I count all things but loss that I may win Christ."
The seven stages of illumination have been described by a Hindu teacher as follows:
Một huấn sư Ấn giáo đã mô tả bảy giai đoạn giác ngộ như sau:
1. Giai đoạn mà người đệ tử nhận thấy rằng y đã trải qua mọi loại kinh nghiệm sống trong tam giới. Nay y có thể nói “Tôi đã biết tất cả những gì cần biết, và không còn phải tìm hiểu gì thêm.” Y tự thấy được vị trí của mình trên thang tiến hóa. Y biết những điều gì mình cần phải làm. Giai đoạn này liên quan đến biến thái thứ nhất của nguyên khí tư duy, tức là ý muốn hiểu biết.
2. Giai đoạn y tự thoát ra khỏi mọi sự hạn chế mà y đã biết. Y có thể nói “Tôi đã tự tháo gỡ những xiềng xích của mình.” Giai đoạn này mất nhiều thời gian, nhưng rốt cuộc y cũng được tự do. Nó liên quan đến biến thái thư hai đã bàn ở trên.
3. Giai đoạn tâm thức hoàn toàn thoát ra khỏi phàm tính, và trở thành tâm thức tinh thần đích thực, tập trung vào chân nhân, chân ngã hay linh hồn. Đây là tâm thức với chân tính Christ bao gồm bác ái, bình an và chân lý. Y có thể nói “Tôi đã đến đích. Trong tam giới không còn điều gì hấp dẫn tôi cả.” Ý muốn hạnh phúc đã thỏa mãn. Y vượt cao hơn biến thái thứ ba.
4. Giai đoạn y có thể thực sự nói “Tôi đã hoàn thành thiên chức của mình, và làm tròn nhiệm vụ.” Y đã trả sạch nghiệp quả, và theo đúng định luật. [177] Vì thế, y trở thành vị Chủ nhân và có thể vận dụng định luật. Giai đoạn này liên quan đến biến thái thứ tư.
5. Giai đoạn hành giả hoàn toàn kiểm soát được thể trí. Y có thể nói “Thể trí của tôi yên lặng.” Bấy giờ và chỉ bấy giờ, khi thể trí hoàn toàn yên lặng, y mới có thể biết trạng thái chiêm ngưỡng và samadhi thực sự ở trình độ cao nhất. Đau khổ, là biến thái thứ năm, bị giải tán bởi sự vinh quang của giác ngộ. Các cặp đối cực không còn xung đột.
6. Giai đoạn người đệ tử thấy mình không còn bị chi phối bởi vật chất hay hình thể. Bấy giờ y có thể nói “Các guna hay đặc tính của vật chất trong tam giới không còn hấp dẫn tôi. Chúng không gợi được sự ứng đáp nào nơi tôi cả.” Thế nên, nỗi sợ hãi tan biến vì không điều gì nơi người đệ tử có thể hấp dẫn sự ác, sự chết hay đau khổ đến với y. Thế là biến thái thứ sáu cũng được khắc phục. Y nhận thức được thiên tính thực sự và ở trong niềm chí phúc trọn vẹn.
7. Tự thức viên mãn là giai đoạn kế tiếp và cuối cùng. Giờ đây, người điểm đạo đồ có thể nói với sự hiểu biết đầy đủ và hữu thức “Tôi là Chân thần.” Y biết mình là một với Toàn Ngã. Sự nghi ngờ đã tiêu tan. Toàn cuộc sống của người tri kiến thấm nhuần ánh sáng giác ngộ thành tựu viên mãn.
Trên đây là bảy giai đoạn trên Đường Đạo, hay là bảy chặng trên con đường thánh giá, theo lối nói của người Thiên Chúa giáo. Đó là bảy cuộc điểm đạo lớn và là bảy lối tiến đến chân phúc. Nay “Con Đường của người công chính cứ mãi chói rạng cho đến ngày hoàn mãn.” [178]
TÁM PHƯƠNG TIỆN
28. Khi hành giả chuyên cần thực tập các phương tiện của Yoga, và đã xóa sạch những gì bất tịnh, y được khai ngộ và tiến đến trình độ hoàn toàn giác ngộ.
Giờ đây chúng ta đến phần thực hành của sách này. Hành giả được trao phương pháp để áp dụng, nếu y muốn thực hành khoa yoga, sự hợp nhất hay thống nhất đến mức thành tựu viên mãn. Có thể chia cố gắng này làm hai phần:
1. Thực hành các phương tiện đúng đắn để mang lại sự hợp nhất,
2. Nghiêm trì giới luật đối với phàm nhân và ba hạ thể, sao cho sự bất tịnh trong mỗi thể đều được xóa sạch.
Sự chuyên cần áp dụng hai phương diện cố gắng nói trên mang lại hai kết quả tương ứng. mỗi kết quả phụ thuộc vào nguyên nhân của nó:
1. Hành giả có khả năng phân biện. Việc thực hành các phương tiện khiến hành giả có thể thấu hiểu một cách khoa học sự khác biệt giữa chân ngã và phi-ngã, giữa tinh thần và vật chất. Sự hiểu biết này không còn là lý thuyết và là điều mà y ước vọng. Đó là sự kiện thực tế trong kinh nghiệm của người đệ tử, mà dựa vào đó y tiến hành các hoạt động về sau.
2. Hành giả có khả năng trực thức. Khi việc tinh luyện được tiến hành liên tục, các lớp áo hay các thể vốn che án thực tại nay trở nên trong trẻo dần. Chúng không còn là những lớp màn dày đặc, che giấu linh hồn, và thế giới mà trong đó linh hồn thường xuyên hoạt động. Người chí nguyện ngày càng ý thức được phần ẩn giấu nơi chính mình mà từ trước đến nay y chưa hề biết. [179] Y tiến đến gần trung tâm bí nhiệm nơi chính mình, và tiếp cận với “Đại diện của Chân như.” Điều này chỉ có thể thực sự xảy ra vào lúc điểm đạo. Y trực nhận được một yếu tố mới và một thế giới mới. Rồi bèn tìm cách hoạch đắc chúng trong kinh nghiệm hữu thức của mình ở cõi trần.
Ở đây cần lưu ý rằng hai nguyên nhân của sự khải thị, việc thực hành tám phương tiện của yoga và sự tinh luyện cuộc sống trong tam giới, vốn liên quan đến phàm nhân đang ở trong đó. Chúng mang lại (trong não bộ của hành giả) năng lực phân biện giữa điều chân, lẽ giả, và trực nhận được những gì về tinh thần. Chúng cũng tạo một số thay đổi điều kiện trong luân xa đầu. Chúng tái tổ chức các luồng sinh khí, và tác động trực tiếp đến tuyến tùng và tuyến yên. Khi bốn điều dưới đây:
1. Thực hành,
2. Tinh luyện,
3. Phân biện,
4. Trực thức,
xảy ra trong cuộc sống của phàm nhân ở cõi trần, thì con người tinh thần, tức là chân nhân hay người suy tưởng ở trên cảnh giới của mình cũng tham gia vào tiến trình giải thoát. Bấy giờ, hai giai đoạn cuối được thực hiện từ trên xuống. Tiến trình gồm sáu giai đoạn này là sự tương ứng trên Con Đường Đệ tử của quá trình biệt lập ngã tính. Thuở ấy, con người thú gồm có bốn hạ thể (thể xác, thể dĩ thái, thể cảm dục và hạ trí) nhận hai sự biểu lộ của tinh thần, tức là atma- buddhi, hay ý chí tinh thần và bác ái tinh thần. Cả hai giúp y đủ điều kiện để thành người thực sự. [180] Nay, hai giai đoạn phát triển mà chân nhân mang lại bên trong người chí nguyện thuần thành đã tinh luyện, là:
1. Khai ngộ. Ánh sáng bên trong đầu, khởi thủy chỉ là một tia sáng, thì nay được thổi bừng lên thành ngọn lửa. Nó soi sáng mọi sự và được liên tục nuôi dưỡng từ bên trên. Điều này tăng tiến liên tục (xem câu trước), và tùy theo mức thực hành, tham thiền chuyên cần, và phụng sự nhiệt thành đến đâu.
2. Giác ngộ. Năng lượng bừng cháy ngày càng tuôn đổ nhiều hơn, liên tục tăng cường “ánh sáng bên trong đầu”. Đó là sự chói rạng trong não bộ, ở gần tuyến tùng. Đối với phàm nhân tam phân trong cuộc biểu hiện ở cõi trần, ánh sáng này có vai trò giống như ngôi mặt trời vật chất đối với thái dương hệ. Rốt cuộc ánh sáng này bừng chiếu huy hoàng và hành giả trở thành một “người con của ánh sáng” hay là một “ngôi mặt trời công chính.” Đó là điều mà Đức Phật, Đức Christ và các Đấng Cao cả đã thành đạt.
29. Tám phương tiện của yoga là: các Điều răn hay Yama, các Qui luật hay nijama, tư thế hay asana, kiểm soát sinh lực đúng cách hay Pranayama, trừu tượng hóa hay Pratyahara, chú tâm hay Dharana, tham thiền hay Dhyana, và chiêm ngưỡng hay Samadhi.
Cần lưu ý rằng các phương tiện hay những cách thực hành nói trên đều có vẻ đơn giản. Thế nhưng điều nên nhớ là chúng không chỉ về bất cứ điều gì được hoàn tất trên một cảnh giới trong một thể nào đó, mà chỉ về sự hoạt động đồng thời và thực hành các phương pháp này trong cả ba thể cùng một lúc. Vì thế, trọn cả phàm nhân tam phân đều thực hành các phương tiện vì chúng áp dụng cả cho thể xác, thể cảm dục và thể trí. [181] Đây là điều người ta thường hay quên. Thế nên, khi nghiên cứu các phương tiện khác nhau nói trên để thành tựu khoa yoga hay sự hợp nhất, chúng ta phải xem như chúng áp dụng cho hành giả ở cõi trần, ở cấp tình cảm, và ở cấp trí tuệ. Ví dụ như, nhà yogi phải hiểu ý nghĩa của việc thở đúng hoặc tư thế đúng với tính cách chúng liên quan đến cả phàm nhân gồm ba thể đã phối hợp và chỉnh hợp. Y phải nhớ rằng chỉ khi nào phàm nhân trở thành một khí cụ có tiết điệu phối kết chặt chẽ thì bấy giờ chân nhân mới có thể soi sáng và giúp phàm nhân khai ngộ. Ví dụ như khi thực hành những bài tập hơi thở, hành giả thường tập trung vào cơ quan hô hấp của thân xác, mà không hề thực hành theo cách tương tự để kiểm soát tiết điệu sinh hoạt tình cảm.
Trước khi lần lượt xem xét từng phương tiện, thiết tưởng nên liệt kê chi tiết về các phương tiện, và đưa ra những từ đồng nghĩa, khi có thể:
Phương tiện I.
Các Giới răn. Yama. Sự tự chủ hay tự kiềm chế. Tự chế ngự. Chư ác mạc tác, đừng làm những điều dữ. Có năm giới răn, liên quan đến mối quan hệ của người đệ tử (hay là môn sinh) với tha nhân và ngoại giới.
Phương tiện II.
Các Qui luật. Nijama. Chúng thiện phụng hành, hãy làm những điều lành. Phương tiện này cũng gồm năm qui luật, và chúng thường được gọi là “nghiêm trì giới luật tôn giáo.” [182] Lý do là vì chúng liên quan đến đời sống nội tâm của người đệ tử, cũng như liên quan đến tuyến sutratma hay là đường liên kết y với Thượng Đế, tức là Cha của y ở trên Trời. Hai phương tiện nói trên, năm Giới và năm Qui luật là các giới luật trong Ấn giáo tương ứng với mười Điều răn trong Kinh Thánh. Chúng bao gồm cuộc sống thường ngày của người chí nguyện, khi cuộc sống ấy ảnh hưởng đến những người chung quanh y, và các phản ứng nội tâm của chính y.
Phương tiện III.
Tư thế. Asana. Sự thăng bằng đúng đắn. Thái độ đúng. Vị thế. Phương tiện thứ ba này liên quan đến thái độ thân xác của người đệ tử khi tham thiền. Nó chỉ về thái độ tình cảm của y đối với môi trường sống chung quanh hay là nhóm của mình. Nó cũng áp dụng cho thái độ trong trí của y đối
Phương tiện IV.
Kiểm soát sinh lực đúng cách. Pranayama. Chế ngự hơi thở. Điều hòa hơi thở. Phương tiện này nhằm kiểm soát, điều hòa và chế ngự các dòng sinh khí, hơi thở và các mãnh lực hay shakti trong cơ thể. Phương tiện này thực sự giúp tổ chức thể sinh lực hay thể dĩ thái. [183] Nhờ đó mà các dòng sinh lực hay mãnh lực, phóng phát từ chân ngã hay con người tinh thần trên cảnh giới của mình, có thể được truyền chuyển đúng đến phàm nhân đang biểu hiện ở ngoại giới.
Phương tiện V.
Trừu tượng hóa. Pratyahara. Rút ý thức đúng cách. Kiềm chế. Rút ý thức khỏi các giác quan. Với phương tiện này, chúng ta rút tâm thức ra khỏi thể xác và thể dĩ thái, vào thể tình cảm. Nó là cơ sở của các ham muốn, cảm nhận giác quan và những cảm xúc. Ở đây cần lưu ý phương pháp có trình tự trong khi thực hành khoa yoga hay hợp nhất. Cuộc sống ở cõi trần, gồm cấp ngoại tại và nội tại, được trông nom thận trọng. Hành giả có thái độ đúng về ba phương diện của cuộc sống này. Thể dĩ thái được tổ chức, kiểm soát, và thể cảm dục được tái định hướng. Khi bản chất dục vọng được chế ngự, chân nhân từ từ rút ý thức ra khỏi toàn bộ các giao tiếp giác quan. Hai phương tiện tiếp theo liên quan đến thể trí; và phương tiện cuối cùng liên quan đến chân nhân hay là người suy tưởng.
Phương tiện VI.
Chú tâm. Dharana. Tập trung. Định trí. Phương tiện này giúp Chân nhân, Người suy tưởng kiểm soát khí cụ của mình. Giác quan thứ sáu được điều hợp, hiểu rõ, tập trung và sử dụng.
Phương tiện VII.
Tham thiền. Dhyana. Năng lực của người suy tưởng sử dụng thể trí theo ý muốn và truyền đến não bộ những tư tưởng thanh cao, các ý tưởng trừu tượng, và những khái niệm lý tưởng. Phương tiện này liên quan đến thượng tríhạ trí. [184]
Phương tiện VIII.
Chiêm ngưỡng. Samadhi hay nhập định. Phương tiện này liên quan đến chân ngã hay con người thật, và lĩnh vực của linh hồn. Con người tinh thần chiêm ngưỡng, nghiên cứu hay tham thiền về thế giới của các nguyên nhân, và “những điều của Thượng Đế.” Sau đó, y sử dụng cái khí cụ của mình là thể trí (đã được chế ngự qua thực hành tập trung và tham thiền). Nó được dùng để truyền đến não bộ, qua sutratmatuyến sinh mệnh xuyên qua ba thể đến não bộ, những gì mà linh hồn thấy, biết và hiểu. Phương tiện này giúp hành giả được giác ngộ viên mãn.
PHƯƠNG TIỆN I. CÁC GIỚI RĂN
30. Không gây tổn hại, chân thật với cả chúng sinh, không trộm cắp, không buông lung tình dục và không tham lam, là yama hay năm giới răn.
Năm giới răn này có vẻ rõ ràng và đơn giản. Thế nhưng, nếu được thực hiện đúng, chúng sẽ giúp hành giả có những liên giao tốt đẹp với tha nhân, với các bậc siêu nhân và với các giới tiến hóa thấp kém hơn nhân loại. Chính giới răn thứ nhất là không gây tổn hại vốn thực tế bao gồm các giới răn kia. Các giới răn này thật là đầy đủ và gồm cả ba khía cạnh của phàm tính. Khi nghiên cứu tất cả các phương tiện này, chúng ta sẽ thấy chúng lần lượt liên quan đến một trong các thể biểu hiện ở hạ giới của chân nhân.
I. Đặc tính Thân xác.
1. Không gây tổn hại. Giới răn này bao gồm các hành động của con người ở cõi trần khi chúng liên quan đến tất cả những hình thể biểu hiện thiêng liêng. [185] Chúng đặc biệt liên quan đến bản chất mãnh lực hay năng lượng được y phát biểu qua những hoạt động của mình ở cõi trần. Y không hại ai, và không làm tổn thương bất cứ người nào hay vật nào.
2. Chân thật. Giới răn này chính yếu liên quan đến việc y dùng lời nói của mình và cơ quan phát ra âm thanh. Nó liên quan đến sự “chân thật trong tận thâm tâm” để y có thể sống chân thật ở bên ngoài. Đây là một chủ đề rộng lớn, trình bày niềm tin của mỗi người về Thượng Đế, con người, các sự vật và hình thể, qua trung gian của cái lưỡi và tiếng nói. Đây là hàm nghĩa của một câu châm ngôn trong Ánh sáng trên Đường Đạo. “Trước khi được nói trước Chân sư, lưỡi phải mất năng lực làm tổn thương kẻ khác.”
3. Không trộm cắp. Người đệ tử ứng xử minh bạch và chính xác trong tất cả các công việc của mình, và không chiếm dụng bất cứ sự vật gì không đúng là của mình. Đây là một khái niệm rộng lớn bao gồm nhiều hơn là việc thực tế chiếm dụng các sở hữu vật chất của người khác.
II. Đặc tính Cảm dục.
4. Không buông lung tình dục. Đây thực sự là hạnh vô dục và chi phối các khuynh hướng quay ra ngoài, đến với những gì không phải là chân ngã. Nó biểu lộ ở cõi trần thành mối liên hệ giữa các giới tính. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý rằng người môn sinh huyền bí xem sự biểu lộ này chỉ là một dạng của các thôi thúc hướng ngoại. [186] Đó là một dạng liên kết chặt chẽ con người với giới loài vật. Bất cứ sự thôi thúc nào liên quan đến các hình thể và chân nhân, và có khuynh hướng nối kết chân nhân với một hình thể và với cõi trần, đều được xem là một dạng buông lung tình dục. Có sự buông lung tình dục ở cõi trần mà lẽ ra người đệ tử đã từ bỏ điều này từ lâu. Thế nhưng cũng có nhiều khuynh hướng tìm kiếm lạc thú với hậu quả thỏa mãn bản chất dục vọng, mà người chí nguyện chân chính vẫn xem là buông lung tình dục.
III. Đặc tính Thể trí
5. Không tham lam. Đây là sự ham muốn mà thực chất là tội trộm cắp trên cõi trí. Sự tham lam vốn rất mạnh mẽ và có thể dẫn đến bất cứ tội lỗi nào ở cõi trần. Nó liên quan đến sức mạnh của trí năng, và là thuật ngữ gồm chung các khao khát mãnh liệt không chỉ bắt nguồn từ thể tình cảm hay dục vọng, mà còn có trong thể trí. Giới răn không tham lam này được Thánh Paul đề cập đến khi ông nói “Tôi đã học được cách hài mãn dù ở trong bất cứ tình trạng nào.” Phải đạt đến trạng thái vừa kể trước khi thể trí có thể yên lặng đến mức đón nhận được ảnh hưởng từ linh hồn.
31. Yama (hay năm giới răn) là bổn phận chung của mọi người, dù họ thuộc giống dân nào, đang ở đâu, vào thời gian hay tình trạng khẩn trương thế nào.
Câu kinh này nêu rõ tính phổ biến của một số yêu cầu. Năm giới răn này là cơ sở của điều mà người Phật tử gọi là “chánh hạnh.” [187] Người ta sẽ thấy chúng là cơ sở của tất cả các luật đúng thực, và vi phạm các giới răn này là phi pháp. Những từ như là bổn phận hay nghĩa vụ có thể được phát biểu thích hợp khi dùng thuật ngữ dharma đối với những người khác. Dharma có nghĩa đen là hoàn thành các nghĩa vụ (hay là nghiệp quả) của mình ở nơi chốn, trong hoàn cảnh và môi trường sống mà vận mệnh đã đặt để cho mình. Cần tuân thủ một số yếu tố chi phối cách hành xử và không được phóng túng trong các phương diện vừa kể. Điều này vẫn áp dụng dù một người có quốc tịch nào, đang ở địa phương nào, già hay trẻ, và ở trong tình trạng khẩn trương đến đâu. Đây là năm luật bất di bất dịch chi phối cách hành xử của con người. Khi chúng được mọi người theo đúng, thì chúng ta sẽ hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của câu “vạn vật thái bình.”
PHƯƠNG TIỆN II. CÁC QUI LUẬT
32. Tinh luyện bên trong và bên ngoài, an vui, nguyện vọng bừng cháy, thấu hiểu tinh thần và sùng kính Ishvara là Nijama (hay là năm qui luật).
Như đã nêu trên, năm qui luật này chi phối cuộc sống của phàm ngã và là cơ sở cho đức hạnh. Có những lối thực hành yoga được nhà tư tưởngngười tìm đạo Tây phương quan tâm. Chúng cám dỗ y vì có vẻ dễ thành công cùng với phần thưởng dồi dào (như sự khai mở thần thông). Tuy nhiên, vị tôn sư hay huấn sư chân chính không hề cho phép áp dụng những lối tập nói trên nếu người đệ tử chưa thực hành Yama hoặc Nijama đến mức chúng thành những yếu tố chi phối cuộc sống thường ngày của y. Trước hết, cần tuân hành các [188] giới răn và các qui luật. Chỉ khi, và chỉ đến khi cách hành xử của y ở bên ngoài đối với những người chung quanh, và giới luật đời sống nội tâm của y theo đúng các yêu cầu nói trên, thì bấy giờ y mới có thể an toàn tiến hành các thể thức và nghi thức thực hành yoga.
Chính vì không nhận thức được điều này, mà các môn sinh yoga ở phương Tây đã gặp phải quá nhiều nỗi khó khăn. Không cơ sở nào tốt cho việc thực hành huyền bí học Đông phương hơn là hoàn toàn theo đúng các yêu cầu được vị Sư phụ của các Chân sư đề ra trong Bài giảng trên Núi. Vì thế, người Thiên Chúa giáo tự nghiêm trì giới luật, nguyện sống cuộc đời thanh khiết và phụng sự vô kỷ, có thể bắt đầu thực hành yoga một cách an toàn rất nhiều hơn là một người anh em khác tuy có tri thức nhưng còn vị kỷ và sống trần tục hơn. Y sẽ không lâm vào các nguy cơ mà người anh em kia gặp phải, do thiếu chuẩn bị.
Nhóm từ “thanh khiết bên trong và bên ngoài” chỉ về ba hạ thể đang che án chân ngã, và phải được diễn giải theo hai ý nghĩa. Mỗi thể đều có dạng hữu hình và thô đặc nhất, và dạng này phải được giữ cho sạch sẽ. Vì có một ý nghĩa là các thể cảm dục và thể trí có thể được giữ cho sạch sẽ, tránh khỏi những gì không thanh khiết đến với chúng từ môi trường chung quanh. Điều này cũng giống như phải giữ cho thân xác khỏi bị vấy bẩn theo cách tương tự. Ngoài ra, cũng phải giữ cho những chất liệu tinh vi trong các thể nói trên được hoàn toàn trong sạch. Đây là cơ sở của việc nghiên cứu sự thanh khiết về từ điện, vốn là nguyên nhân khiến phải tuân thủ quá nhiều điều ở phương Đông mà chừng như người Tây phương không thể hiểu. Cái bóng của một người nước ngoài phủ lên trên thức ăn [189] cũng khiến thực phẩm đó trở nên bất tịnh. Đây là niềm tin cho rằng một số loại lực phát ra vốn gây nên tình trạng bất tịnh. Dù phương pháp hóa giải những tình trạng vừa kể có vẻ là loại nghi thức lỗi thời, thế nhưng cái ý tưởng khiến người ta thực hành phương pháp đó thì vẫn đúng thực. Hiện nay hãy còn quá ít kiến thức về các phóng phát mãnh lực từ con người, hoặc tác động lên cơ thể con người. Do đó, phương pháp được gọi là “thanh luyện một cách khoa học” vẫn còn trong giai đoạn phôi thai.
Sự an vui tạo điều kiện cho thể trí nghỉ ngơi, ổn định. Chúng ta thấy an vui khi nhận thức được các định luật chi phối cuộc sống, chính yếu là luật nghiệp quả. Đây là trạng thái của thể trí khi nó thấy rằng mọi điều kiện đều đúng đắn, mà trong đó người chí nguyện có thể giải quyết vấn đề của mình và đạt mục tiêu cho một kiếp sống. Điều này không hẳn là một sự trầm lắng và nhu thuận tạo nên tình trạng trì trệ. Đó là nhận thức được những lợi thế trong hiện tại và tận dụng các cơ hội sẵn có, dùng chúng làm nền tảng và cơ sở cho các bước tiến tương lai. Khi thực hiện đúng điều này, thì có thể dễ dàng áp dụng ba qui tắc còn lại.
Nguyện vọng bừng cháy sẽ được bàn đầy đủ hơn trong quyển sau. Thế nhưng, ở đây cũng nên nói rằng sự “tinh tấn” hướng đến lý tưởng, hoặc tự rèn luyện nhằm đạt mục tiêu phải thật sâu xa trong tâm người chí nguyện thực hành yoga đến mức không khó khăn, trở ngại nào có thể khiến y lùi bước. Chỉ khi phẩm tính này đã phát triển đến mức tốt đẹp, và khi hành giả đã tỏ ra rằng không vấn đề khó khăn nào, không sự tối tăm [190] hay thời gian lâu dài nào ngăn trở được y, thì bấy giờ y mới được phép trở thành đệ tử của một vị Chân sư. Sự cố gắng mãnh liệt, lòng thiết tha kiên định và liên tục, và sự trung thành không dời đổi đối với lý tưởng thấy được qua thị kiến tinh thần, là điều kiện thiết yếu của con đường đệ tử. Các đặc tính này phải có trong cả ba hạ thể, để thể xác luôn luôn nghiêm trì giới luật, thể tình cảm và thể trí thường xuyên có định hướng tinh thần. Vì thế, hành giả nhất tâm tiến đến mục tiêu “bằng mọi giá.”
Sự thấu hiểu tinh thần liên quan đến việc phát triển ý thức về các thực tại nội tâm. Nó được bồi dưỡng bằng cách học hỏi những vấn đề thông thường, và bằng cách thấu đáo các ý tưởng ẩn trong ngôn từ. Nó được phát triển bằng cách thận trọng xem xét các nguyên nhân ẩn trong mọi sự ham muốn, khát vọng, và xúc cảm. Vì thế, nó liên quan đến dục vọng hay cõi cảm dục. Nó cũng tìm cách thấu hiểu các biểu tượng hay dạng hình học có hàm chứa một ý tưởng hay tư tưởng. Vì thế, nó liên quan đến cõi trí. Điều này sẽ được bàn sau, trong Quyển III.
Có thể nói vắn gọn sự Sùng kính Ishvara là thái độ của phàm ngã và ba hạ thể nhằm phục vụ chân nhân, vị chủ nhân, là vị Thượng Đế hay Đấng Christ ở nội tâm. Sự sùng kính này gồm ba phương diện, khiến cuộc sống phàm nhân luôn tuân phục vị Thầy ở nội tâm. Rốt cuộc, nó đưa người chí nguyện đến với các bậc trọn lành hay các huấn sư tinh thần. Nó cũng giúp y hiến mình phụng sự Ishvara hay Chân ngã thiêng liêng ẩn trong tâm của mọi người, và mọi hình thể biểu hiện thiêng liêng. [191]
33. Khi có những tư tưởng trái với việc thực hành yoga, thì cần vun bồi những tư tưởng ngược lại.
Bản dịch của Johnston đưa ra cùng ý tưởng này với lời lẽ rất hay, trình bày đầy đủ phương pháp. Ông nói:
“Khi có những vi phạm gây trở ngại, thì trí tưởng tượng của hành giả cần theo chiều hướng ngược lại.”
Toàn bộ phương cách cân bằng các cặp đối cực được trình bày trong hai bản dịch này. Cả hai đều cần bổ sung lẫn nhau. Thường thì khó chuyển dịch các thuật ngữ Bắc Phạn cổ xưa chỉ bằng một từ hay một cụm từ. Lý do là vì trong cổ ngữ này một thuật ngữ hàm chứa trọn cả một ý tưởng. Vì thế, cần vài ba cụm từ mới chuyển đạt được thực nghĩa của nó bằng tiếng Anh vốn có tính hạn chế hơn.
Câu kinh này bao gồm một số khái niệm cơ bản, có thể nêu rõ như sau:
1. Người nào suy nghĩ điều gì thì trở thành điều đó. Những gì biểu hiện ra ngoại cảnh ở cõi trần bao giờ cũng bắt nguồn từ một tư tưởng. Tùy theo tư tưởng hay ý tưởng đó mà hình thể được tạo thành cùng với mục đích sống của nó sẽ thế nào.
2. Tư tưởng có hai loại. Những tư tưởng có khuynh hướng kiến tạo nên hình thể, có tính hạn chế và biểu lộ ở cõi trần. Những tư tưởng khác có khuynh hướng rời khỏi ba cõi thấp và vì thế mà rời khỏi phương diện hình thể như chúng ta biết trong tam giới. Chúng đưa đến sự hợp nhất (tức là yoga hay thống nhất) với linh hồn, hay trạng thái Christ. [192]
3. Khi thấy những tư tưởng mà mình thường nuôi dưỡng có khuynh hướng tạo nên các phản ứng và kết quả ở cõi cảm dụccõi hồng trần, thì hành giả biết rằng chúng trái với khoa yoga và gây trở ngại cho tiến trình hợp nhất.
4. Bấy giờ, cần bồi dưỡng những tư tưởng ngược lại với các tư tưởng nói trên. Cũng dễ xác định, vì chúng hoàn toàn ngược chiều với các các tư tưởng ức chế kể trên.
5. Việc bồi dưỡng các tư tưởng đúng hướng yoga và giúp hành giả biết được chân ngã của mình, rồi nhờ đó mà hợp nhất với chân ngã, là một tiến trình gồm ba phần:
a. Cần xác định và xem xét kỹ khái niệm về tư tưởng mới, được xác định rõ rệt, ngược lại với tư tưởng cũ.
b. Kế đến là dùng trí tưởng tượng để làm cho tư tưởng mới biểu hiện. Cố gắng này đưa nó vào lĩnh vực của ý muốn để ảnh hưởng đến thể cảm dục hay thể tình cảm.
c. Rồi hình dung rõ rệt hiệu quả của những gì đã được suy nghĩ và tưởng tượng, khi nó biểu lộ trong cuộc sống ở cõi trần.
Chúng ta sẽ thấy rằng tiến trình nói trên làm phát sinh năng lượng. Do đó, thể dĩ thái sẽ được sinh động và tăng cường do dòng tư tưởng mới. Cũng xảy ra một số biến đổi và tái tổ chức. Rốt cuộc chúng làm hoàn toàn thay đổi các hoạt động của phàm nhân ở cõi trần. Việc thường xuyên bồi dưỡng tư tưởng mới nói trên sẽ hoàn toàn chuyển hóa phàm nhân và ba hạ thể. Rốt cuộc, hành giả hiểu rõ thực nghĩa của câu nói trong Thiên Chúa giáo [193] “Chỉ còn nghe và thấy Đấng Christ.” Chỉ còn chân nhân hay là con người tinh thần tự biểu lộ qua trung gian của mình ở cõi trần, như Đức Christ đã làm qua Chúa Jesus, là phương tiện và là đệ tử của Ngài.
34. Những tư tưởng trái với yoga là ý muốn gây tổn hại, sự giả dối, trộm cắp, buông lung tình dục, và tham vọng. Dù là đích thân vi phạm, sai khiến hay thuận cho người khác vi phạm. Dù là phát sinh từ tính tham lam, giận dữ hay ảo tưởng (vô minh). Dù vi phạm nhẹ, vừa phải hay nặng. Các vi phạm này bao giờ cũng gây nên vô vàn đau khổ và sự vô minh. Vì thế, cần phải vun bồi những tư tưởng ngược lại.
Cần lưu ý rằng năm Giới răn nói trên cụ thể nhắm đến “những tư tưởng trái với yoga” hay sự hợp nhất. Vì thế, việc tuân hành các Giới răn này sẽ mang lại:
a. Tính không gây tổn hại thay vì gây hại,
b. Sự chân thật thay vì giả dối,
c. Cuộc sống lương thiện thay vì trộm cắp, d. Sự tự chủ thay vì buông lung tình dục,
e. Sự an vui, hài mãn thay vì tham lam hay thèm muốn. Người chí nguyện không còn tìm cách bào chữa cho mình.
Y ghi nhớ sự thật là mọi sai phạm các Giới răn đều mang lại hậu quả, dù vi phạm nhiều hay ít. một “tư tưởng sai trái” tất sẽ mang lại hậu quả, và hậu quả này có hai mặt: sự đau khổ, và vô minh hay ảo tưởng. Có ba từ mà người môn sinh huyền bí dùng để chỉ về tam giới: [194]
1. Maya hay ảo ảnh, chỉ về thế giới của hình tướngchân ngã đầu thai vào đó, và vì vô minh mà tự đồng hóa với thế giới này qua biết bao thời đại;
2. Ảo tưởng, tiến trình đồng hóa một cách sai lầm, trong đó cái ngã bị lừa gạt và nói “Tôi là hình thể;”
3. Vô minh hay thiếu minh triết, kết quả của sự đồng hóa sai lầm này và đồng thời cũng là nguyên nhân của nó.
Cái ngã bị bao bọc trong hình thể. Nó bị lừa gạt trong thế giới ảo tưởng. Tuy nhiên, mỗi lần “các tư tưởng trái với yoga” được vuốt ve, thỏa mãn, thì cái ngã chìm sâu hơn vào thế giới ảo tưởng, làm cho bức màn vô minh dày thêm. mỗi lần “sức mạnh của trí tưởng tượng” hướng về thực tính của chân ngã và không còn bận tâm đến thế giới của phi-ngã, thì ảo tưởng giảm dần. Hành giả ít khi bị lừa gạt, và sự vô minh dần dần được thay thế bằng hiểu biết.
35. Với sự hiện diện của người đã thực hiện vẹn toàn hạnh vô tổn hại, mọi sự thù ghét đều ngưng dứt.
Câu này nói lên sự tác động của một đại luật. Trong Quyển IV, Câu 17, Patanjali cho chúng ta biết rằng việc nhận thức được một đặc tính, một phẩm tính và một hình thể ở ngoại cảnh, là do trong người nhận thức có các đặc tính, phẩm tính và năng lực phóng ngoại tương tự. Sự tương đồng này là cơ sở của nhận thức. Cũng chính chân lý này có hàm ý trong [195] Bức thư thứ nhất của Thánh John với câu “Chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy được thực tính của Ngài.” Chỉ có thể tiếp xúc được với những gì đã hiện hữu hoặc đang hiện hữu một phần trong tâm thức của người nhận thức. Nếu người nhận thức thấy có thù ghét và oán hận, thì đó là vì trong y hiện có những hạt giống của thù ghét và oán hận. Khi các chủng tử đó không còn, y chỉ thấy có tính duy nhất và sự hòa hợp. Đây là giai đoạn đầu của tình bác ái đại đồng. Đây là cố gắng thực hành về phần người chí nguyện nhằm hợp nhất với cả chúng sinh. Y bắt đầu nơi chính mình, và thận trọng làm thế nào để xóa sạch các chủng tử gây tổn hại trong tâm tính của mình. Vì thế, y giải quyết cái nguyên nhân tạo nên sự thù ghét đối với y và người khác. Kết quả đương nhiên là lòng y vui tươi, thoải mái, và người khác cũng bày tỏ sự vui tươi, thoải mái đối với y. Khi y có mặt ở đâu, thậm chí các loài dã thú cũng trở nên hiền dịu. Đó là do trạng thái này trong tâm trí của người chí nguyện hay nhà yogi.
36. Khi hành giả hoàn toàn chân thật với cả chúng sinh, thì hiệu quả lời nói và hành động của y lập tức được thấy rõ.
Sự chân thật ở đây là một trong những vấn đề lớn mà người chí nguyện phải giải quyết. Và người nào cố gắng chỉ nói điều gì hoàn toàn chính xác, thì sẽ thấy mình gặp phải những sự khó khăn rõ rệt. Chân lý hoàn toàn có tính tương đối khi cuộc tiến hóa tiếp diễn, và ngày càng biểu hiện nhiều hơn. Có thể định nghĩa chân lý là sự biểu lộ của thực tại thiêng liêng ở cõi trần với mức độ tùy theo giai đoạn tiến hóa và phương tiện được dùng để biểu lộ. [196] Thế nên, chân lý cũng bao gồm khả năng của người nhận thức hay người tìm đạo, có thể thấy đúng được mức độ nào của thực tại thiêng liêng được bao hàm trong một hình thể (hữu hình, khách quan, hay hình thức ngôn từ). Do đó, nó bao gồm năng lực xuyên thấu đến chủ thể và tiếp xúc với cái mà mọi hình thể đang ẩn giấu. Nó cũng bao gồm khả năng của người chí nguyện có thể kiến tạo một thể thức (hữu hình, khách quan, hay của ngôn từ) để chuyển đạt thực tính của chân lý. Đây thực ra là hai giai đoạn đầu của một tiến trình sáng tạo vĩ đại:
1. Nhận thức đúng,
2. Kiến tạo chính xác,
và nó dẫn đến sự hoàn thành được đề cập trong câu kinh đang bàn ở đây − sự hiệu quả của tất cả các lời nói và hành động nhằm chuyển đạt thực tính của chân lý. Câu kinh này có nêu manh mối về công việc của nhà huyền thuật. Đó là cơ sở cho khoa học quan trọng về chân ngôn hay các quyền lực từ, vốn là lợi khí của các vị cao đồ.
Khi thấu hiểu được,
a. Luật rung động,
b. Khoa học về âm thanh,
c. mục đích của cuộc tiến hóa,
d. Giai đoạn của chu kỳ hiện tại, e. Tính chất của hình thể,
f. Cách vận dụng chất liệu nguyên tử,
vị cao đồ không những thấy được sự thật trong tất cả các sự vật, mà còn hiểu cách làm cho sự thật ấy hiển lộ. Nhờ đó, người trợ giúp diễn trình tiến hóa và “phóng chiếu các hình ảnh lên bức màn thời gian.” Điều này được thực hiện qua một số linh từ và hành động. Với người chí nguyện, [197] y phát triển năng lực nói trên nhờ thường xuyên cố gắng theo đúng các yêu cầu sau đây:
1. Hết sức chú ý đến cách phát biểu những ngôn từ được sử dụng,
2. Khôn ngoan dùng sự im lặng như một yếu tố phụng sự,
3. Thường xuyên nghiên cứu các nguyên nhân ẩn trong mọi hành động. Nhờ đó mà hiểu được lý do tại sao hành động có hiệu quả hoặc vô hiệu.
4. Liên tục cố gắng để thấy thực tính trong mọi hình thể. Cố gắng này thực sự bao gồm việc nghiên cứu luật nhân quả, hay nghiệp quả. Luật nghiệp quả có mục tiêu đưa đối cực của Tinh thần, là vật chất, đến mức hoàn toàn theo đúng các yêu cầu của tinh thần. Kết quả là vật chất và hình thể biểu lộ chân tính của tinh thần một cách hoàn hảo.
37. Khi đã hoàn toàn không trộm cắp, nhà yogi có thể có bất cứ điều gì y muốn.
Đây là manh mối của đại luật về cung và cầu. Khi người chí nguyện học cách “không ham muốn điều gì cho cái ngã riêng rẽ” thì bấy giờ y được giao phó những kho tàng phong phú của vũ trụ. Khi y không yêu cầu điều gì cho phàm tính, và không đòi hỏi điều gì cho phàm nhân tam phân, thì bấy giờ tất cả những điều gì y muốn đều đến với y mà không cần phải yêu cầu hay đòi hỏi. Trong một số bản dịch còn có ghi “tất cả ngọc ngà, châu báu đều là của y.”
Cần thận trọng lưu ý rằng sự trộm cắp bàn ở đây không chỉ nói về việc lấy cắp những thứ hữu hình và vật chất. Cũng cần tránh trộm cắp trên cõi tình cảm hay cõi trí. Người chí nguyện không lấy cắp bất cứ điều gì. [198] Y không yêu cầu và thu nhận bất cứ những lợi ích nào về tình cảm, như được yêu thương và ân huệ, những đố kỵ hay thù ghét, nếu chúng không thuộc về mình. Y cũng từ khước những lợi ích về trí tuệ, như đòi hỏi danh tiếng mà mình không xứng đáng, hoặc mạo nhận nhiệm vụ, ân huệ và sự được mến chuộng thuộc về người khác. Y chỉ hoàn toàn gắn bó với những gì của riêng mình. Lời huấn thị của Đông phương là “mỗi người hãy chú tâm vào thiên chức của chính mình” và làm tròn vai trò của mình. Câu ngạn ngữ Tây phương “Hãy lo công việc của chính bạn” cũng nhằm nói lên chân lý vừa kể. Nó truyền đạt huấn thị rằng mỗi người trong chúng ta không được ăn cắp của người khác khiến họ mất cơ hội làm điều phải, tự đảm đương trách nhiệm và thi hành nhiệm vụ của mình. Đây là thực sự không trộm cắp. Nó sẽ giúp hành giả hoàn thành nghĩa vụ, gánh vác trách nhiệm và làm tròn nhiệm vụ của mình. Nó sẽ khiến y không chiếm dụng bất cứ điều gì thuộc về người huynh đệ của mình trong ba cảnh giới hoạt động của nhân loại.
38. Không buông lung tình dục, hành giả sẽ có được năng lượng.
Buông lung tình dục thường được xem là phung phí sinh lực hay khả năng sinh dục của thú tính. Năng lực sáng tạo ở cõi trần và duy trì nòi giống là hành động cao nhất ở cõi trần mà con người có thể thực hiện. Việc phung phí sinh lực qua cuộc sống buông thả và phóng túng tình dục là một trọng tội chống lại thân xác [199]. Đó là vì người ta không nhận thức được tầm quan trọng của hành động sinh sản, không thể chống lại dục vọng và lạc thú thấp hèn, và mất khả năng tự chủ. Kết quả của sự thất bại này thấy rõ trong cả gia đình nhân loại vào thời gian hiện nay. Ở đâu cũng có tình trạng sức khỏe trung bình suy kém, bệnh viện quá tải, những người đàn ông, phụ nữ và trẻ con bệnh tật, yếu đuối và thiếu máu. Người ta ít khi chịu giữ gìn năng lực, và những trường hợp “suy yếu sinh lực” cũng như “những người bị suy nhược” đều là bài học cho họ.
Điều đầu tiên mà người đệ tử cần phải làm là học hỏi để biết thực chất của cuộc sáng tạo, và bảo tồn năng lượng của mình. Không bắt buộc phải sống độc thân. Thế nhưng, sự tự chủ thì cần phải có. Tuy nhiên, trong chu kỳ tương đối ngắn ngủi gồm một số kiếp sống mà trong đó người chí nguyện tự chuẩn bị cho thích hợp để tiến bước trên đường đạo, y có thể phải trải qua một hoặc vài ba kiếp sống dứt khoát tránh hẳn hành động sinh sản. Nhờ đó y học cách hoàn toàn tự chủ, và chứng tỏ rằng thực tế y đã hoàn toàn chế ngự được bản chất tình dục thấp hèn. Đặc trưng của mọi người tìm đạo chân chính là sử dụng đúng nguyên khí tính dục, cũng như hoàn toàn tuân hành luật pháp của đất nước mình.
Ngoài việc xem xét vấn đề này theo lối bảo toàn năng lượng, người chí nguyện còn khảo cứu vấn đề từ một góc độ khác. Đó là siêu hóa nguyên khí sống (biểu hiện qua thể xác) thành sự phát biểu mạnh mẽ qua cơ quan của âm thanh, hoặc sáng tạo, qua linh từ, tức là công tác của nhà huyền thuật chân chính. Như tất cả các môn sinh huyền bí học đều biết, có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan sinh sản và trung tâm lực chính yếu thứ ba, tức là luân xa cổ họng [200]. Điều này thấy rõ về mặt sinh lý khi các thiếu niên thay đổi tiếng nói ở tuổi dậy thì. Nhờ bảo tồn năng lượng và không buông lung tình dục, nhà yogi trở thành người sáng tạo trên cõi trí. Y sáng tạo bằng cách sử dụng linh từ và âm thanh. Và năng lượng có thể bị hao tán qua hoạt động của trung tâm lực ở cấp thấp thì nay được tập trung và siêu hóa thành công tác sáng tạo quan trọng của nhà huyền thuật. Công tác này được thực hiện qua sự chế ngự tình dục, đời sống trong sạchtư tưởng thanh khiết. Nó không qua bất cứ sự xuyên tạc nào về chân lý huyền môn như ma thuật tình dục và những tội ác dâm loạn của những môn phái khác nhau tự gọi mình là trường huyền bí học. Những lối thực hành đó đi theo hắc đạo, chứ không đưa đến cánh cửa điểm đạo.
39. Khi hoàn toàn không tham lam, hành giả thấu hiểu luật tái sinh.
Với những thuật ngữ rõ ràng, minh bạch, câu kinh này nói lên giáo huấn trọng đại rằng chính sự ham muốn một loại hình hài, sắc tướng nào đó khiến cho tinh thần phải đầu thai. Khi nhà yogi thực hành vẹn toàn hạnh vô dục, thì tam giới không còn cầm giữ được y. Chúng ta tự tạo nên xiềng xích cho chính mình trong lò lửa dục vọng, và lòng khao khát những sự vật, các kinh nghiệm khác nhau cũng như đời sống hình thể.
Khi hành giả vun bồi sự an vui, hài mãn, thì các xiềng xích kể trên từ từ tiêu tan, và y không tạo thêm những ràng buộc nào khác. Khi chúng ta tự vượt thoát ra khỏi thế giới ảo tưởng, thì tầm nhìn tinh thần của mình trở nên sáng tỏ. Bấy giờ chúng ta thấy rõ và dần dần thấu đáo các định luật của đời sống [201] và cuộc hiện tồn. Những ưu tư, thắc mắc về cuộc đời được giải đáp. Lý do tại sao chúng ta sống và phương cách sống trong cõi đời này, không còn là vấn đề khó hiểu. Nhà yogi biết được vì sao quá khứ của mình đã là như thế, và nay nó có đặc tính gì. Y thấu hiểu nguyên do của kiếp sống và kinh nghiệm hiện tại, cũng như có thể áp dụng thực hành định luật trong đời sống thường ngày. Y cũng biết rõ mình cần phải làm điều gì cho tương lai. Bằng cách vừa kể, y tự giải thoát, không còn ham muốn điều gì trong tam giới, và hướng về những điều kiện của cuộc sống tinh thần.
Việc thực hành năm Giới răn mang lại những phẩm tính nói trên.
40. Tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét hình hài, sắc tướng, cả hình thể của mình và mọi hình thể khác.
Câu 40 này không được chuyển ngữ theo cách dịch các thuật ngữ Bắc Phạn, vì e độc giả có thể hiểu lầm các từ ngữ được dùng. Theo nghĩa đen, thì câu này được dịch là “việc tinh luyện bên trong và bên ngoài khiến hành giả chán ghét cơ thể của mình và không muốn liên giao với các cơ thể khác.” Vì các môn sinh Tây phương có khuynh hướng giải thích theo nghĩa đen, nên họ cần sự chuyển dịch phần nào thoáng hơn. Trong khi đó, người môn sinh phương Đông, vốn thông thạo hơn về cách trình bày chân lý qua biểu tượng, thì không dễ bị nhầm lẫn như thế. Khi xem xét câu kinh này, chúng ta cần ghi nhớ rằng sự thanh khiết là một phẩm tính của tinh thần. [202]
Tất nhiên, có những lối tinh luyện khác nhau liên quan đến bốn hạ thể (gồm thể xác, thể dĩ thái, thể tình cảm, và thể trí) mà mỗi người sử dụng để giao tiếp khi hoạt động trong tam giới. Chúng có thể được phân biệt như sau:
a. Thanh khiết bên ngoài..thể xác ......... thể thô đặc,
b. Thanh khiết từ điện ......thể dĩ thái.... thanh khiết bên trong,
c. Thanh khiết của tâm..... thể cảm dục..thanh khiết tình cảm,
d. Thanh khiết của trí .......thể trí........... thanh khiết của trí cụ thể.
Cần lưu ý kỹ rằng sự thanh khiết này liên quan đến chất liệu được dùng để kiến tạo các thể nói trên. Chúng ta đạt được sự thanh khiết bằng ba cách:
1. Loại bỏ chất liệu không thanh khiết hay là các nguyên tử và phân tử vốn hạn chế sự phát biểu tự do của tinh thần. Chúng giam hãm tinh thần trong hình thể, khiến tinh thần không thể tự do ra, vào;
2. Hấp thu những nguyên tử và phân tử có khuynh hướng tạo nên một thể mà qua đó tinh thần có thể hoạt động như ý muốn;
3. Bảo vệ thể đã được tinh luyện khỏi bị ô nhiễm và suy biến.
Trên Con Đường Tinh luyện hay Dự bị, tiến trình loại trừ này khởi đầu. Trên Con Đường Đệ tử, hành giả học được các qui luật cho tiến trình kiến tạo hay hấp thu. Trên Con Đường Điểm đạo (sau cuộc điểm đạo thứ hai,) việc bảo vệ bắt đầu.
Ở Tây phương, các qui tắc về tinh luyện bên ngoài, về điều kiện sống lành mạnh và vệ sinh đều được biết rõ và thực hành rộng rãi. Trong khi đó, ở Đông phương [203] các qui luật tinh luyện từ điện được biết rõ hơn. Khi hai hệ thống này được tổng hợp và cùng được công nhận, thì hai phương diện của thể hồng trần rốt cuộc sẽ đạt mức tinh luyện cao hơn.
Tuy nhiên, trong chu kỳ hiện nay, sự quan tâm của Đại đoàn Chưởng giáo đang được tập trung phần lớn vào sự thanh khiết của cái tâm. Đây là lý do tại sao hiện có xu thế phát triển giáo huấn huyền môn. Giáo huấn này không liên quan đến điều thường được hiểu là phát triển thần thông. Giáo huấn này không chú trọng đến các loại thần thông thấp, mà tìm cách rèn luyện người chí nguyện theo các định luật của đời sống tinh thần. Cuộc rèn luyện này mang lại nhận thức về bản tính của cái tâm hay linh hồn, và khả năng chế ngự tính chất thấp hèn ở nội tâm. “Sức thúc đẩy” lớn lao trong cố gắng của Đại đoàn Chưởng giáo cho thế kỷ này, từ năm 1926 đến năm 2026, sẽ theo các đường hướng kể trên, kết hợp với việc phổ biến các định luật về tư tưởng. Vì thế mà cần phải trình bày giáo huấn trong Yoga Điển tắc. Giáo huấn này đưa ra các quy tắc để kiểm soát trí tuệ. Thế nhưng cũng bàn rộng về tính chất của các quan năng thần thông và sự phát triển tâm thức.
Trọn cả quyển ba bàn về các quyền năng vừa kể. Và chủ đề của tất cả các câu kinh có thể nói vắn gọn là phát triển khả năng chế ngự thể trí. Sự chế ngự này nhằm giao tiếp với linh hồn và nhờ đó mà kiểm soát các quan năng thần thông loại thấp. Những quan năng này khai mở song hành với những quyền năng bậc cao. Đây là điểm cần được nhấn mạnh. [204] Không còn ham thích hình thể hay là “hạnh vô dục,” là từ nói chung về điều kiện này của thể trí. Đây là sức thôi thúc mạnh mẽ để rốt cuộc hành giả hoàn toàn giải thoát khỏi hình thể.
Chính hình thể hay việc khoác lấy hình thể thì không có gì là tà vạy. Cả các hình hài, sắc tướng và tiến trình đầu thai đều đúng đắn và thích hợp trong vai trò của chúng. Ngày nào người ta không còn cần sử dụng chúng để thu thập thêm kinh nghiệm trong tam giới, vì đã học xong những bài học cần thiết trong trường đời, thì bấy giờ các hình thể và sự tái sinh mới trở thành điều không tốt, và phải được đặt vào vị trí ở bên ngoài cuộc sống của chân nhân. Thực tế là một người đã giải thoát có thể chọn tự giới hạn mình trong một hình hài vì những mục đích phụng sự cụ thể. Thế nhưng, y thực hiện điều này qua tác động của ý chí và sự tự quên mình. Y không bị thúc đẩy đến với hình hài đó do ham muốn, mà vì lòng yêu thương nhân loại. Điều này cũng vì y mong muốn ở lại với các huynh đệ của mình cho đến khi người con cuối cùng của Thượng Đế đã đến cánh cửa giải thoát.
41. Nhờ tinh luyện mà tinh thần an tịnh, tập trung, chế ngự các cơ quan, và có khả năng thấy được chân ngã.
Nên lưu ý rằng cả các Giới răn và các Qui luật (Yama và Niyama) đều áp dụng cho phàm ngã với bốn hạ thể. Phàm ngã hoạt động trong tam giới và thường được gọi là bộ tứ thấp. Câu kinh trước đã nói rằng việc tinh luyện gồm có bốn phần và liên quan đến bốn thể. Kết quả của sự thanh khiết này cũng có bốn phương diện, và cũng liên quan đến bốn thể. Các kết quả này được kể ra theo thứ tự của các thể, như sau: [205]
1. Chế ngự các cơ quan..............Thể xác,
2. Tinh thần an tịnh..................Thể tình cảm,
3. Tập trung...............................Hạ trí hay là thể trí,
4. Khả năng thấy Chân ngã .....Kết quả tổng hợp của ba điều kiện trong các thể nói trên.
Sự “chế ngự các cơ quan” đặc biệt chỉ về các giác quan và là kết quả của sự thanh khiết về từ điện, hay là sự tinh luyện thể dĩ thái. Về phương diện này, các môn sinh cần lưu ý rằng thể xác không phải là một nguyên khí. Nhưng nó được kiến tạo một cách chính xác đúng theo thể dĩ thái. Thể dĩ thái là thể từ lực ở cõi trần. Tùy theo tính chất và thành phần của nó, mà thể này thu hút các loại nguyên