THIÊN CƠ
Về Ngày Giờ - Cung Hoàng Đạo - Thời Gian - Âm Dương Sinh Cát Hung
[ Chuyên đề trích đoạn trong Văn Thù Bồ Tát Pháp Kinh - PDF ]
Kinh rất dài - Lọc tìm nội dung theo thuật ngữ:
+ Đã xong "Tú diệu; Tinh tú; Tinh diệu; Ác tinh; Nhóm tinh tú; Tứ đại; Bốn đại; Các Đại; Âm dương; Các hành; Khởi tâm; Chòm sao; Hành tinh; Các hành; ngày tốt;
+ Còn phải tìm làm: ... ( Xong ghi lên dòng trên)
IV- NGÀY GIỜ SINH CÁT HUNG THEO TINH TÚ - TINH DIỆU TỐT TRỰC NHẬT ... CHỌN NGÀY LÀNH THÁNG TỐT
+ Chọn ngày giờ lành - Tháng tốt cát tường làm đại lễ:
_Bấy giờ, Diệu Cát Tường Đồng Tử nhân vào đấy tuyên nói. Phàm dựng lập Mạn Noa La (Maṇḍala: Đàn Trường) nên ở ba Trường Nguyệt (tháng 5, tháng 9, tháng Giêng), bên trong tháng này cần được kỳ Bạch Nguyệt (Śukla-pakṣa: 15 ngày đầu của tháng) đừng dùng kỳ Hắc Nguyệt (Kṛṣṇa-pakṣa: 15 ngày sau của tháng). Ở trong kỳ Bạch Nguyệt (Nửa đầu tháng) hoặc ngày mồng một, hoặc ngày 15, lại nên chọn lựa ngày tốt có Tinh Diệu cát tường thì mới được khởi Đàn. [ Trang 300 ]
PHÀM PHU LẬP ĐÀN TRÀNG - CẦU PHƯỚC BÁU - GIẢI BỆNH NẠN ... ĐƯỢC CÁT TƯỜNG NHƯ Ý
_Như vậy, hoặc nam hoặc nữ. Nếu có việc mong cầu riêng thì ở ngã tư đường, hoặc bên trong Tịnh Xá (Brahma-sthala), hoặc dưới cây có quả trái (Saphale-vṛkṣa), hoặc dưới cây có chất nhựa như sữa màu trắng (Bạch Nhũ Thụ: Kṣīra-vṛkṣa), hoặc trong ruộng lúa (Śāli-dhānya-paka-kedāra), hoặc dưới cây trong rừng hoang vắng, nơi không có ngăn ngại… đều có thể dựng Đàn chia vẽ.
Hoặc có mọi loại bệnh khổ, hoặc bệnh do người nữ gây ra, hoặc bệnh nặng do các nhóm Quỷ Thần ác gây ra… đều làm ủng hộ.
Nếu muốn dựng Đàn (Xem trong Kinh), nên chọn ngày tốt cát tường; hoặc ở nửa đêm (giờ Tý) hoặc giữa ngày (giờ Ngọ) cũng được, còn giờ khác thì chẳng thể làm.
Ở trong Đàn ấy, hiến hoa Át Già với việc của nhóm Phát Khiển đều nên niệm Nhất Tự Chân Ngôn. Như tất cả việc mong cầu lúc trước, chỉ uống nước của Hiền Bình (Bình làm bằng Vàng, chưa dùng vào việc gì là tốt nhất) trong Mạn Noa La thì tất cả đều được cát tường, tất cả bệnh khổ đều được giải thoát.
Nếu cầu địa vị tối thượng liền được địa vị trong nước. Nếu không có con cái thì khiến cho có con cái, Nghiệp ác thanh tịnh, người nghèo được giàu có.
Hoặc nam hoặc nữ cho đến đối với Mạn Noa La, trong khoảng tùy vui thì mọi loại việc mong cầu, không có gì chẳng thành tựu. [ Trang 314 ]
_ Lại chọn lựa ngày có tinh tú cát tường trong kỳ Bạch Nguyệt (15 ngày đầu tháng), lại cần màu trời trong sáng không có u ám, gió mưa thì mới có thể làm Pháp [Văn Thù BT Pháp Kinh-Trang 315];
_Ngày lành/ Tinh tú cát tường, làm tranh tượng ( Tr 317 );
_ Tinh diều đảo ngược: Nếu sinh ở Ma Kiệt Cung ...... Nếu hoặc Tinh Diệu đảo ngược thì hết thảy việc ắt có sai lầm; Nếu người sinh ở Bảo Bình Cung ..... Nếu Tinh Diệu như vậy đảo ngược, chiếu đến thì người này bị nghèo túng, bệnh tật, khổ não. [ Trang 379 ]
_Này Tinh Tú Thiên! Trước kia Ta đã nói Thời Tiết khi tất cả chúng sinh được sinh ra với ngày tốt kia tùy theo Nghiệp đã chiêu cảm hợp với tinh tú cát tường. Lại thấy mọi loại tướng của loài Phi Cầm. Lại nghe tiếng vị diệu của ngữ ngôn với ở trong mộng được tướng cát tường. Điềm lành, nhân duyên, hành tướng như vậy. [ Trang 374 ]
_Nếu ngày 15 với ngày cuối cùng của tháng, hoặc đi qua xứ khác thì chỗ làm chẳng thành, cũng chẳng được làm. Tất cả Chân Ngôn, Mạn Noa La Nghi Quỹ đều chẳng được thành tựu. Ngày này đối với Chân Ngôn ắt có Ma nạn.
Nếu ngày mồng một, ngày mồng ba, ngày mồng năm, ngày 13, ngày 17 của tháng, kết Đàn thì tốt. Nếu làm Hộ Ma cầu Pháp thành tựu, nếu được ngày tốt, sao tốt thì sẽ được thành tựu.
Nếu được Mộc Tinh (Vṛhaspati), Kim Tinh (Śukra), Nguyệt Tinh (Soma), Thủy Tinh (Budha) là tốt. Hợp với nhóm sao tốt này nên làm tất cả việc. Thường thì ngày mồng bốn chiếu đến Thế Gian, hết thảy Đại Địa thì nơi làm Pháp thành tựu, chướng nạn chẳng thành, giải thoát các ác, chuyển ác thành thiện. [ Trang 382 ]
+ MỘNG THẤY THEO ÂM - DƯƠNG (Nguồn: Văn Thù BT Pháp Kinh - Trang 364):
Nếu ở phần đầu của đêm mà được mộng thì nên biết là chỗ được của Âm.
Ở phần thứ hai mà được mộng thì đây là chỗ được của Dương.
Ở phần thứ ba mà được mộng là chỗ được của Phong... đều chẳng phải là cát tường
Nếu là phần thứ tư mà được mộng, thì đây là chân thật.
_Từ Âm mà đạt được mộng. Như vậy thấy nhóm của Ma Ni, thủy tinh, trân châu, Anh Lạc. Hoặc thấy biển lớn, sông lớn, nơi nơi tràn đầy nước rồi lại phân chia dòng chảy trôi nổi ở thân của mình. Hoặc thấy nạn nước, nước không có bờ mé, cỡi căn nhà để vượt qua. Hoặc thấy núi tuyết, núi ngọc, núi thủy tinh với thấy mưa lớn. Lại thấy dù lọng trắng, mọi màu trắng trang nghiêm với lưới trân châu, lọng trân châu với nhóm voi trắng, ngựa trắng. Mộng này là từ Âm mà hiện ra. Lại nữa, thấy người màu trắng, áo trắng, cây phất trắng với tơ Đổ La (Tūla), lụa, vải, bạc trắng với muối… Hoặc lại thấy đường cát, đậu xanh, loại dầu mè… vật như trên hoặc tiếp chạm hoặc nhận lấy. Lại nữa, hoặc mộng ăn bánh, ăn cháo với bơ, sữa, dầu, mật, mọi loại vật ăn được… vật như trên hoặc tiếp chạm hoặc nhận lấy. Lại nữa, thấy cái yên ngựa rồi cỡi lên, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc tiếp chạm, hoặc cỡi. Mọi loại mộng như trên với loại tương tự đều là chỗ biến từ Âm, chẳng phải là chỗ ứng của cát tường chân thật. (Tr 364)
_Khi ở phần thứ hai của đêm. Nếu mộng thấy lửa với lửa lớn rực sáng chiếu bốn phương với thấy ánh sáng Thiểm Điện (sấm chớp) chiếu tất cả. Đây là chỗ biến của Dương.
Lại nữa, thấy báu Bát Nạp Ma La Nga (Padma-rāga) với thấy mọi loại báu đều như màu lửa. Lại mộng ở gần lửa với lại thân tiếp chạm dẫn đến nhiệt não. Lại mộng ăn mọi loại thức ăn màu vàng. Lại thấy màu trời hôn ám chẳng thấy ánh sáng mặt trời.
Lại thấy hư không kèm với Đại Địa cho đến núi, đá thảy đều màu vàng. Lại thấy cỡi ngựa, đi xe kèm với voi lớn… tất cả trang nghiêm đều là màu vàng ròng, hoặc ngồi, hoặc nằm với dùng bàn tay tiếp chạm… đều là chỗ từ Dương mà có được Lại nữa, thấy vòng hoa, quần áo với dây quấn nách ấy, cho đến thân của mình thày đều màu vàng ròng, có ánh sáng có mùi thơm. Như vậy cho đến mộng thấy mọi loại tướng khác đều là màu vàng. Điều này đều là chỗ từ Dương mà có được.
_Khi ở phần thứ ba của đêm, mộng thấy ánh sáng chiếu ở hư không, khắp cả bốn phương. Lại mộng thấy Đại Địa rộng rãi, luôn bước đi khắp cả. Lại mộng leo lên cây với leo lên cây có gai… cũng là từ Phong (gió) mà có được. Lại mộng ăn vật đắng với tất cả vật cay nồng. Hoặc lại ăn quả trái, hoặc sống hoặc chín cũng đều cay nồng. Lại nữa, mộng thấy người có tính nóng nảy, cùng nhau nói năng gây gỗ. Hoặc thấy tất cả Bộ Đa múa, hoặc thấy tự thân múa, cho đến thấy mọi loại tướng ác, mọi loại loạn ngôn. Điều này đều là chỗ biến từ Phong.
+ PHÁP ÂM - DƯƠNG - PHONG TƯƠNG ỨNG VỚI THAM - SÂN - SI [ TRANG .... ]
Lại có ba loại Pháp hợp với ba loại Âm, Dương, Phong ấy là ba loại Tham (Rāga), Sân (Dveṣa), Si (Moha). Tham là Âm, Sân là Dương, Si là Phong với tướng tạp loạn, cực tạp loạn.
Nếu ưa thích Thế Pháp (Pháp của đời), tướng của người nữ là chỗ sinh của Âm.
Thỏa thích trong sự giận dữ, phần lớn ưa đấu tranh là chỗ sinh của Dương.
Si là đen tối, quên mất, ưa thích nhiều tạp loạn là chỗ sinh của Phong. Như vậy các cảnh mộng là chỗ sinh của ba Pháp.
PHẬT NÓI TƯỚNG MẠO NGƯỜI VỚI TÍNH TÌNH ( Trang 366)
Phàm thức ăn uống được phát ra từ Âm thì tất cả thường chẳng được ăn.
Lại tùy thuận Dương nói hành tướng ấy.
Tướng thường giận dữ (Dveṣa: sân) phần lớn đen gầy, thích làm việc ác, phần nhiều làm Tà Hạnh. Song, có dũng mãnh tinh tiến, lại có Trí Lực, phần lớn ưa thích bạn bè, có nhiều học vấn, nói năng khéo léo, có Tâm Đạo, học Nghiệp chẳng lùi, ý có nhiều niệm oán, yêu nói việc giận dữ, biết nhiều Thế Pháp, có Ngã Kiến, đối với cái khổ thì không có sợ, tu Chân Ngôn Hạnh tinh tiến chẳng lùi, ắt được thành tựu. Hết thảy việc mong cầu, tùy theo Nghiệp được thành, làm Pháp Giáng Phục mau được thành tựu, tất cả người tụng đều đến phụng trọng. Hết thảy đối với chúng sinh khác, hoặc giết, hoặc hại, hoặc xâm lấn, hoặc cướp đoạt, hoặc vì mình hoặc vì người khác. Song đối với Pháp được thành Phật thì chẳng phải là chỗ hứa.
Người có tướng sân, nhan sắc phần lớn là màu đen, hoặc màu tím, hoặc tạp sắc, hoặc màu đen xanh, hoặc màu đỏ vàng, xa lìa màu vàng ròng tối thượng. Người này nếu sinh ở Hiết Cung (Vṛścika: cung bò cạp) là Đại Diệu (Maha-grahā) A Thất Lệ Sử Tinh (Āśleṣā) hoặc sinh ở Mộc Tinh (Vṛhaspati) thì thức ăn thích hợp luôn luôn có vị chua cay, thọ mệnh lâu dài, được Túc Mệnh Trí.
_Lại nữa, tùy thuận Phong nói hành tướng của chúng sinh. Người thuận Phong thì thân chi thô ráp xấu xí, chẳng quá mập gầy, tính chẳng thông minh, chí chẳng quyết định, phần lớn có quên mất, chẳng ở yên một chỗ, có nhiều đàm rãi, tùy tiện khạc nhổ mọi nơi. Lại tham ăn, nhiều bệnh, Tâm ưa ganh ghét, đối với các hữu tình có nhiều hiềm oán, hoặc được làm vua thì phần lớn gây tổn hại Phật Pháp, sinh ở Âm Tinh khó biết chân thật. Người này nếu thường trì tụng, làm Giáng Phục, Kính Ái cầu Pháp ắt thành. Nếu có chúng sinh, Tâm phát phong cuồng mê đảo thì người này trì tụng ngăn cấm liền lui. Nếu làm sự nghiệp Thiện khác thì khó được thành tựu.
_Lúc trước đã nói cảnh mộng đã được của ba loại Âm, Dương, Phong. Lại hợp với thân sắc đã thọ nhận của ba Pháp Tham Sân Si, nơi tâm tính ưa thích, có thể tu, có thể làm các sự nghiệp… Nếu lại khi ở phần thứ tư của đêm thì được cảnh mộng chân thật, tất cả chân thật, đối với các sự nghiệp đều được thành tựu. (Trang 366)
* TƯỚNG MẠO người hiền thiện: Nay Ta lại nói tướng mạo của người hiền thiện, trì tụng tu hành nơi Chân Ngôn Hạnh được thành tựu Nghĩa, Pháp của Phẩm Thượng Trung Hạ.
Nếu lại có người thuộc dòng tộc cao quý, chủng tính thanh tịnh, thân tướng khác lạ hiếm có, sắc như vàng ròng, đầu như dù lọng, tóc màu xanh biếc, mặt như trăng đầy, tướng trán rộng rãi bằng phẳng, lông mày chẳng tạp loạn, mắt dài mà hồng, lông mi chẳng giao tạp, mũi thẳng như ống trúc, màu môi đỏ đẹp, lưỡi như cánh sen, răng đều trắng đẹp, tướng râu xanh kín, cằm tròn, vòm miệng sâu, tóc trên đỉnh đầu xoay theo bên phải, tướng tai rũ xuống bên dưới, có tinh thần, lại dũng mãnh, lời nói đáng yêu (ái ngữ) không có giận dữ, ít tham lìa dục, thường ưa thanh tịnh, thích mặc áo đẹp, ưa ăn vị ngon. Tịnh Hạnh tự xem xét bản thân, nói lời chân thật, quy trọng Tam Bảo, cúng dường Hiền Thánh, hiếu thuận với cha mẹ, thương xót hữu tình, Trí Tuệ sâu sắc, lại được sống lâu, tu hành quyết chí tinh tiến chẳng lui, ưa cầu địa vị của Bồ Tát Ma Ha Tát cho đến địa vị Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác. Người thuộc nhóm này quyết định thành tựu Pháp của Thượng Phẩm, ắt hay hiểu thấu nghĩa thâm sâu của tất cả Nghi Quỹ. .... Còn dài (Trang 368)
CÁC CUNG HOÀNG ĐẠO - TÙY NGHIỆP TÁI SANH (Trang 366)
Lại nữa, có nhiều loại việc của Cung. Ấy là Dương Cung (Meṣa), Ngưu Cung (Vṛṣabha), Nam Nữ Cung (Mithuna), Giải Cung (Karkaṭaka), Sư Tử Cung (Siṃha), Xứng Cung (Tula), Đồng Nữ Cung (Kanya), Hiết Cung (Vṛścika), Nhân Mã Cung (Dhanu), Ma Kiệt Cung (Makara), Bảo Bình Cung (Kumbha), Ngư Cung (Mīna), Thiên Nhân Cung (Naraka-vidyādhara), A Tu La Cung (Asura), cung của hàng Càn Thát Bà (Gandharva), Dạ Xoa (Yakṣa)… cho đến cung của hàng Thánh Nhân. Mọi loại cung xứ, mọi loại hữu tình mà ứng thọ sinh, bẩm thọ mọi loại hình tướng, có mọi loại nghĩa nghiệp mà Đức Như Lai đã nói. (Trang 366)
[ Trang 369]
Lại nữa, có tinh tú cát tường, thời phần cát tường, ở một sát na, một cái nháy mắt, một hơi thở… luân chuyển ven Trời soi xét (lâm cố) Thế Gian. Hết thảy chúng sinh khi sinh ra mà gặp thời phần này thì có đại cát tường, được Phước Đức lớn, tu các Đại Pháp quyết định thành tựu.
Nếu có chúng sinh không có căn lành của đời trước, nhiều nghiệp ác, cho nên ngay lúc sinh ra, gặp tinh tú ác, quyết định không có Phước, các Căn thiếu hụt chẳng đủ tướng người, chỗ tu Đại Pháp quyết định chẳng thể được thành tựu.
Nếu lại khi sinh ra ngay lúc sáng sớm, gặp nhóm Quỷ Tú (Puṣya), Khuê Tú (Revati), Trương Tú (Pūrva-phalguni), Tinh Tú (Maghā), Kháng Tú (Svāti), Phòng Tú (Anūrādhā), Giác Tú (Citrā), Tất Tú (Rohiṇi), Mão Tú (Kṛtikā)… với mặt trời mới mọc, đồng thời soi xét thì chỗ làm, chỗ tu của người này đều được thành tựu.
Lại vào lúc sáng sớm với lúc giữa ngày (giờ Ngọ) kèm tại kỳ Bạch Nguyệt (Nửa đầu tháng), gặp Kim Tinh (Śukra), Mộc Tinh (Vṛhaspati), Thủy Tinh (Budha). Nhóm Tú Diệu này có thế lực lớn soi xét tất cả chúng sinh trong Thế Gian. Nếu người sinh vào lúc này thì chỗ tu Nghiệp thiện với tu hành trì tụng Đại Minh Đà La Ni, tất cả sự nghiệp quyết định thành tựu
Lại nữa, Kim Tinh, Mộc Tinh, Thủy Tinh này tùy có một ngôi sao cũng với mặt trời (Āditya), cùng với mặt trăng (Candra) đồng cư phương sở soi sét người sinh ra.
Sau khi người này sinh ra ắt đại phú quý, thọ mệnh lâu dài, được đại tự tại, tất cả nhìn thấy tôn trọng
Lại nữa, có người sinh ra sau giữa ngày (sau giờ Ngọ), lúc mặt trời lặn...mà người sinh ra ấy ở thời phần này gặp Ác Tinh soi xét phương sở. Ác Tinh là Thổ Tinh (Śanaiścara), Hoả Tinh (Aṅgāraka), La Hầu Tinh (Rāhu), Kế Đô Tinh (Ketu), Đa La Tinh (Tārā) với ngôi sao của nhóm Hắc Ám Lý Sắt Tra (Kṛṣṇāriṣṭa). Nhóm tinh tú như vậy cũng chẳng phải là thật ác. Nếu là người Thượng Thượng Phẩm có sức căn lành của đời trước, đầy đủ Phước Tuệ, khi sinh ra mà gặp giờ ấy thì đối với Phước Đức lớn, chuyển tăng uy thế. Nếu là Trung Phẩm thì đối với việc thiện ác đều giảm đi một nửa. Nếu là Hạ Phẩm thì căn lành bị kém đi, với có nghiệp của đời trước. Người như vậy khi sinh ra mà gặp giờ ấy thì không có Phước Đức kèm không có Trí Tuệ, chẳng tu nghiệp Thiện, nhiều tham sân si.
Lại ở giờ này, gặp trời tối tăm mù mịt, gió mưa bạo ác, ánh chớp sáng lòe, sấm sét chấn động lớn, tuôn mưa đá xuống dưới, màu ở trong mây hoặc biến thành đỏ hồng… đây đều là điềm rất xấu
Nếu vào giờ sinh, gặp hiện tượng này thì người ấy bị thiếu hụt các Căn, dung mạo xấu xí, thân bị cong gù, ghẻ chóc đầy dẫy, không có chủ, không có chỗ nương cậy, nghèo túng hèn mọn. Hoặc thọ nhận Giới Luật thì vi phạm chẳng giữ được, Thánh Hiền thương xót cho sự rơi đọa ấy.
Người như vậy, đối với điều ác thì tăng thêm, đối với điều thiện thì chuyển lùi, tất cả cát tường hoàn toàn không có chút phần, đối với Hành Nghiệp tu tập Chân Ngôn thì như người mù điếc chẳng thấy chẳng nghe. Giả sử được nghe thấy cũng chẳng thể sinh niềm tin. Việc như vậy, nói chẳng thể hết.
Lại nữa, chúng sinh như vậy do ít Phước cho nên hoặc bị tất cả Bộ Đa (Bhūta) với hàng Ma Đa La (Mātara), các Quỷ Thần ác trụ ở trong thân mà gây não loạn. ...
PHÁP ÂM - DƯƠNG - PHONG TƯƠNG ỨNG VỚI THAM - SÂN - SI
Lại lúc trước nói ba loại giới Âm, Dương, Phong hợp với ba loại Pháp Tham, Sân, Si. Do Pháp của Tham Sân Si chẳng ngưng diệt cho nên Âm, Dương, Phong mà có tăng thịnh. Lại hợp với Địa (Pṛthivi: đất) làm bốn Đại. Đất cùng với nước hợp, Lửa cùng với gió hợp. Lại có Hư không làm Đại thứ năm. Số bên trên là nơi mà con người luôn biết.
Như vậy thiện ác tùy theo Nhân (Hetu) mà được Quả (Phala), mọi loại khổ não đều tự Nghiệp (Karma) làm. Người Hạ Phẩm này không có Phước, không có chỗ nương dựa, các loài Phi Nhân liền được dịp thuận tiện gây hại. Nếu là người của Thượng Phẩm thì sức Thiện thù thắng, sinh ra hợp với sao tốt, chỉ có ứng với điềm lành kỳ đặc, các loài Phi Nhân với các việc ác thảy đều xa lìa, luôn khéo vắng lặng được an vui lớn .... [ Trang 370]
TỨ ĐẠI SINH: Như vậy Nhân Duyên cùng trợ nhau hòa hợp, thích hợp sinh bốn Đại, bốn Đại sinh Uẩn (Skandha) hướng đến vô biên Hành, Hành hướng đến cõi giới khác... ( Trang 373)
+ ÂM DƯƠNG THIỆN ÁC TƯƠNG ỨNG _PHẨM THỨ 18 [ TRANG 376 - 381]
Này các Tú Diệu Thiên! Nay Giáo Sắc với các Nghi Quỹ của Diệu Cát Tường Đại Nghi Quỹ Vương này. Các Ông nên trụ, cũng nên y theo thực hành”
Khi ấy, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật vì lợi ích tất cả chúng sinh, nói Tú Diệu ấy vận hành hợp với thiện ác. Trì Tụng Hành Nhân kia đối với nghĩa của Chân Ngôn với Nhất Thiết Trí, cầu thành tựu, hoặc được việc thành tựu với chẳng thành tựu
_Này Tinh Tú Thiên! Nếu Dương Cung (Meṣa) kia có Khuê Tú (Revati), Lâu Tú (Aśvini), Vị Tú (Bharaṇi), ba Tú (Nakṣatra) này trực, lại hợp với Hỏa Tinh (Aṅgāraka) trực nhật thì người trì tụng kia đối với việc của ba Phẩm Thượng Trung Hạ , tất cả chỗ mong cầu đều chẳng thành tựu. Tại sao thế? Vì duyên với chỗ chướng ngại của Ác Tinh ấy.
Nếu lại Mão Tú (Kṛtikā), Tất Tú (Rohiṇi), Chủy Tú (Mṛgaśirā), Sâm Tú (Ārdrā), Tỉnh Tú (Punarvasū), Quỷ Tú (Puṣya), Liễu Tú (Āśleṣā), Tinh Tú (Maghā), Trương Tú (Pūrva-phalguni), Dực Tú (Uttara-phalguni), Chẩn Tú (Hastā), Giác Tú (Citrā), Kháng Tú (Svāti), Đê Tú (Viśākha), Phòng Tú (Anūrādhā), Tâm Tú (Jeṣṭhā), Vĩ Tú (Mūla), Cơ Tú (Pūrva-Āṣādhā), Đẩu Tú (Uttara-Āṣādhā), Ngưu Tú (Abhijit), Nữ Tú (Śravaṇā). Mọi Tú như trên thảy đều tốt thiện, đối với người trì tụng thì có lợi ích.
Nếu Nguy Tú (Śatabhiṣak), Thất Tú (Pūrva-Bhādrapadā), Bích Tú (UttaraBhādrapadā) ba Tú này trực nhật, nếu làm việc ác sẽ được thành tựu.
Lại nữa, Khuê Tú (Revati) trực nhật, nếu người sinh vào lúc này, có đủ Phước Đức lớn, có đại dũng mãnh với nhiều hiểu biết.
Lại nữa, Hư Tú (Dhaniṣṭhā) trực nhật, thì Phước Đức, Chính Hạnh đều được thành tựu
..... Chúng Tinh như vậy, số nhiều đến 64 ngàn. Nhóm Tinh (ngôi sao) này ở thời Mạt Pháp thì chúng không có sức mạnh. [ Tr 376]
TIÊN THIÊN: HÌNH THÀNH TRÁI ĐẤT THỜI KỲ ĐẦU CỦA THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG [ Trang 377 ]
Nay Đại Nghi Quỹ Vương mà Ta (Đức Phật) đã nói, đang có sức mạnh lớn, lợi ích cho chúng sinh. Song, Thế Gian kia, lúc Kiếp Sơ (Kalpāgra) thành thời tất cả chúng sinh ở trong hư không, đi đứng tự tại. Rồi ở thời ấy không có già không có chết. Lai thời ấy không có Tú (Nakṣatra), không có mặt trời (Āditya), mặt trăng (Candra) cũng không có thời tiết, cũng không có Âm Dương, cũng không có hàng Trời, Người, A Tu La….
Lại, thời ấy tuy có chúng sinh nhưng chưa có Tộc Tính. Con người đều thanh tịnh, không có thiện không có ác, cũng không có cái để ăn, cũng không có người ăn, cũng không có trì Trai, cũng không có Chú Pháp. Phần lớn chúng sinh ấy chỉ có Tưởng của Thế Gian, do nghiệp quá khứ dẫn dắt Nhân (hetu) nên rơi xuống đất chẳng thể bay trên hư không. Lúc đó liền có cái để ăn, liền có tham lam keo kiệt, thân đã nặng trược nên Đại Lực liền bị mất. Khi ấy liền có mặt trời, mặt trăng, tinh tú… rồi phân chia ngày đêm, liền có thời tiết cùng với Âm Dương. Liền nói trên Trời, Nhân Gian hơn kém có khác… cho nên có Trời, Người, A Tu La. Ta ở thời ấy, thân là Bồ Tát nhìn thấy chúng sinh kia có việc như vậy xong, Tâm thương xót cho nên hiện thân khác. Ấy là: hiện làm thân Tiên Nhân, hoặc hiện thân Phạm Vương, thân Đại Tự Tại Thiên, thân Na La Diên, thân Ca Lâu La cho đến mọi loại thân của hàng Dạ Xoa, La Sát, Tỳ Xá Tả…Ở trong mỗi một đời vì tất cả chúng sinh luôn thường giải nói nghĩa của Bồ Đề Hạnh.
DỤNG PHÁP DỊCH - ÂM DƯƠNG - TOÁN SỐ ... PHỔ ĐỘ CHÚNG SINH [ Trang 377 ]
Lại nữa, khi Ta [ Đức Phật ] ở quá khứ làm Bồ Tát thời tất cả chúng sinh trong Thế Gian: ngu si, hắc ám, không có Trí, không có Tuệ. Ta vì nhóm này nói tất cả công xảo kỹ nghệ của Thế Gian, Âm Dương, toán số, Điển Tịch Vi Đà (Veda), Chính Pháp, Tà Pháp, Giới Luật, Bản Hạnh cho đến nhóm Thanh Minh Luận. Tuy Ta ở đời quá khứ như vậy, vì Thế Gian nói như việc này, nhưng Ta cũng không có sở đắc, sở tri mà chỉ vì Bồ Đề (Bodhi) với nhóm giải thoát (Mokṣa). Như vậy tuy đi trong luân hồi nhưng luân hồi ấy chẳng thể cột trói.
Lại nữa, quá khứ vì cầu Bồ Đề ....... Do Nghiệp Lực này chẳng thể giải thoát Nhân Quả thiện ác, nên Ta nói một Pháp Âm Dương, Tinh Tú phân chia nơi thiện ác với nói bốn nhóm hộ thế là đất, nước, lửa, gió với chỗ mà bốn Đại này hòa hợp tạo làm, phát sinh mọi loại Tập Nhân (nhân gom chứa) của chúng sinh rồi vì lúc ấy tu Chân Ngôn Hạnh khiến được thành tựu.
Này Diệu Cát Tường! Có Pháp của Âm Dương Tú Diệu, 28 Tú, 12 Cung Phần, mỗi mỗi đều phân biệt. Nhóm Tú Diệu ấy cùng với Cung tương hợp, tùy theo các hữu tình mỗi mỗi đều sinh ở vị trí của Cung Phần, nhóm Tú Diệu kia hoặc đi hoặc trụ, hoặc nghịch hoặc thuận… sinh quả thiện ác. [ Tr 377]
_ Nếu có chúng sinh sinh ở Dương Cung (Meṣa) hợp với Lâu Tú (Aśvini), Vị Tú (Bharaṇi). Các Tú của nhóm này có sức mạnh, rất thích hợp với việc mua bán, tài bảo phong phú.
Nếu khi sinh ra, hoặc gặp mặt lời lặn thì người ấy bị việc ác, phần lớn trải qua nạn nguy hiểm, thọ nhận thân gầy xấu, ưa thích Ỷ Ngữ (Saṃbhinna-pralāpa: tất cả ngôn từ bất chính hàm chứa ý dâm dật)
Nếu khi sinh ra, thấy mặt trời làm màu hồng, với Đại Địa trong khoảng sát na chớp mắt có màu hồng thì người ấy có Trọng Đức (người có Đức lớn)
Nếu lại, sinh ra vào lúc Tú Diệu không có ai nhìn thấy thì mọi loại chúng sinh ấy từ nơi Tạp Sinh do Tạp Hạnh sinh ra, cũng được từ Tạp Khoái Lạc mà giàu có thịnh vượng.
GIẢNG VỀ GIỜ SINH VÀ NƠI SINH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SANH MẠNG
Lại giờ (thời) với nơi sinh (sinh xứ) như vậy, nói 30 loại quả báo thiện ác.
Nếu Hỏa Tinh (Aṅgāraka) trực nhật là nơi sinh xấu, nhưng người ấy có cái bụng to, dung mạo sáng sủa, mắt dài, ái ngữ lại đủ Tâm Lực.
Nếu Mộc Tinh (Vṛhaspati) trực nhật, sinh vào giờ Mão với được mặt trời, mặt trăng, tinh tú ở vào phần của ngày đêm, hợp với Bản Vị ấy tức là nơi sinh của Hiền Thánh.
Nếu lại, khi sinh ra mà Tú Diệu đảo ngược thì Quả cảm ứng việc chẳng thật, phần lớn là Tà Ác
Nếu lại khi sinh ra mà được Chính Thuận ấy, ắt cảm được quả Thiện, ở đất sinh ra ấy mà được an trụ. Nếu lại thân tướng màu trắng là bậc Thượng Nhân
_ Nếu có chúng sinh sinh ở Ngưu Cung (Vṛṣa) hợp với Mão Tú (Kṛtikā), Tất Tú (Rohiṇi). Đây là Thượng Cung nơi được Cát Tinh (sao tốt) chiếu đến, khoảng phút chốc mà chúng sinh ấy sinh ra, được phú quá, cát tường, đầy đủ nhẫn nhục, sống lâu có nhiều con, tài bảo dư thừa, lại được làm Quân Chủ. Người sinh ở đây làm Pháp thành tựu, trong khoảng phút chốc biết rõ thiện ác.
Nếu gặp Sâm Tú (Ārdrā) thì có Pháp hiểu biết là nơi mà người thế gian ưa nhìn (ái kiến)
Nếu gặp Mão Tú (Kṛtikā) thì làm Chủ ở trong ba biển
Nếu khi sinh ra mà Tú Diệu rõ ràng thì được làm Chủ của một nước nhỏ.
Nếu khi sinh ra mà Tú Diệu đầy đủ, lớp lớp soi chiếu thì được làm Chủ của Đại Địa, hoặc năm năm hoặc mười năm ở địa vị lớn ấy
_Nếu sinh ở Âm Dương Cung (Mithuna) hợp với sao Bà Lý Nga Phộc () trực nhật, lại sinh ra cùng với Chủy Tú (Mṛgaśirā), Sâm Tú (Ārdrā), Tỉnh Tú (Punarvasū) hợp nhật thì người này si ngu, chẳng phân rõ thiện ác, ưa thích người nữ, lại nhiều Tà Nhiễm, thọ thân màu đen hoặc màu tía, nhưng chẳng keo kiệt, ưa đại xả tiền của.
Nếu Thổ Tinh (Śanaiścara) trực nhật mà sinh ở trong Cung này thì ở trong ngày ấy, hoặc trong ban đêm, tùy theo Thời Phần ấy cho đến phút chốc được gặp thẳng thì đại phú tự tại, có Tâm Lực lớn, ngoài ra việc thiện ác thì cân nhắc mà nói
_Nếu ở Giải Cung (Karkatāka) hợp với Quỷ Tú (Puṣya), Liễu Tú (Āśleṣā) mà sinh ra thì người sinh vào giờ này có sự tôn trọng, là nơi sinh bậc nhất. Nếu được sinh vào lúc nửa đêm là người Tối Thượng. Người này thọ thân màu vàng hoặc màu tía, thanh tịnh, cát tường, thù diệu… có sự khác lạ kèm có Đại Trí. Nếu y theo Pháp làm nhân (hetu) thì được thành tựu tất cả nghĩa, cho đến đại tài, đại vị đều đạt được chẳng khó
_Nếu ở Sư Tử Cung (Siṃha) hợp với Tinh Tú (Maghā), Trương Tú (Pūrvaphalguni) với được Thái Dương (Sūrya) trực nhật mà sinh ra thì người này có đại dũng mãnh, lại ham ăn thịt, cũng lại ở chỗ hiểm nạn trong núi sâu được làm vua chốn ấy cũng được tự tại. Nếu đủ việc như trên với ở chốn ấy làm vua thì đây quyết định là sinh ra vào lúc mặt trời mọc.
_Nếu sinh ở Song Nữ Cung (Mithuna) hợp với Dực Tú (Uttara-phalguni) với Chẩn Tú (Hastā) thì người này có dũng mãnh, tâm ưa thích trộm cắp, thường tán loạn, ưa hành Tà Nhiễm, cũng được làm vua, hoặc được làm Quân Chủ. Nếu y theo Cung này sinh ra, hoặc được Mộc Tinh (Vṛhaspati) hợp, với được Mộc (Vṛhaspati) làm Bản Mệnh thì đây là tối thượng, thường được hộ trì, gặp chuyện xấu đều thành việc tốt
_Nếu ở Xứng Cung (Tulā) hợp với Giác Tú (Citrā), Kháng Tú (Svāti), Đê Tú (Viśākha) sinh ra thì người này chuyên chú vào Nhân Nghĩa ngắn. Cung này chẳng Thiện, nếu được Nguyệt (Candra) chiếu với được Kim (Śukra), Thổ (Śanaiścara) đồng với phần của Tú này sinh ra, lại sinh vào phần đầu tiên của đêm thì hoặc được làm vua, hoặc có phú quý. Nếu giờ sinh của người này chẳng xác định được hoặc chẳng quý thì là tính Tam Ái, cũng nhiều sân nộ. Nếu đối với Cấm Chú, ưa nơi uống rượu đánh bạc thì cũng được Đại Nhân yêu thích, xem trọng.
_Nếu người sinh ở Hiết Cung (Vṛścika) hợp với Phòng Tú (Anūrādhā), Tâm Tú (Jeṣṭhā), Vĩ Tú (Mūla) sinh ra, lại được Hỏa Tinh (Aṅgāraka) làm Bản Mệnh thì người này chủ về Tâm Từ (Maitra-citta), học Nghiệp thành tựu, lại nhiều dũng mãnh, chẳng sợ nguy nan, hay nhẫn nại được sự lao khổ. Nếu được sinh vào lúc giữa ngày (giờ Ngọ) thì hoặc được làm vua, ở chiến trận lớn quyết định được thắng.
Nếu Hỏa Tinh (Aṅgāraka) như hình đồng tử, một khoảng sát na chiếu đến Cung này thì đất ấy thời ấy vẫn còn có Nhân Chủ nhưng chỉ khác con cái, cần phải hộ trì, ắt đủ Đại Trí, thông minh, ghi nhớ nhiều, hiếu thuận, có sức mạnh lại ưa thích bạn bè, thọ mệnh dài lâu. Nếu Hỏa Tinh đảo ngược thì việc liền sai khác.
_Nếu người sinh ở Nhân Mã Cung (Dhanu) hợp với Cơ Tú (Pūrva-Āṣādhā), Đẩu Tú (Uttara-Āṣādhā) sinh ra với được Mộc (Vṛhaspati) làm Bản Mệnh. Nếu người sinh ra sau giờ Ngọ với ban đêm thì hoặc cầu địa vị của vua ắt phá dòng tộc của mình, sau đó được thành. Ngay lúc Trung Niên thì được phú quý, tuy được phú quý thì cũng nên ở tại nơi nhỏ bé (tiểu xứ) ví như ngươi bước qua tuổi Trung Niên như mặt trời đi qua giờ Ngọ, mà ở địa vị lớn, tiền của nhiều thì chút ít cũng khó được. Nếu là Tú Diệu đảo ngược mà thấy người sinh ra thì việc cũng có mọi loại sai khác.
_Nếu sinh ở Ma Kiệt Cung (Makara) hợp với Ngưu Tú (Abhijit), Nữ Tú (Śravaṇā) với được Thổ (Śanaiścara) làm Bản Mệnh hoặc được sinh ra lúc đầu đêm, giữa đêm hoặc sáng sớm, lại riêng có Tinh Diệu đại cát đồng chiếu đến thì sẽ được địa vị của vua. Lại nơi người này sinh ra, chẳng chọn lựa tất cả dòng tộc sang hèn, bẩm tính nhu hòa. Pháp chủ về con mắt đỏ, thọ thân màu tía hoặc màu đen, có dũng mãnh, chẳng sợ hãi. Hoặc được địa vị của vua hợp với đất nước có nhiều nước thì làm Chủ nơi ấy, lại sống lâu, hay nhẫn được sự lao khổ. Nếu hoặc Tinh Diệu đảo ngược thì hết thảy việc ắt có sai lầm.
_Nếu người sinh ở Bảo Bình Cung (Kumbha) hợp với Hư Tú (Dhaniṣṭhā), Nguy Tú (Śatabhiṣak) sinh ra, lại được Thổ (Śanaiścara) làm Bản Mệnh. Nếu người này được sinh vào ban đêm với lúc sáng sớm, lại được Nguyệt (Candra) hoặc Kim Tinh (Śukra) chiếu đến thì người này được nhiệp ác thanh tịnh, có Đại Trí Tuệ, phú quý tự tại, thọ dụng khoái lạc. Nếu Tinh Diệu như vậy đảo ngược, chiếu đến thì người này bị nghèo túng, bệnh tật, khổ não. [ Trang 379 ]
_Nếu người sinh ở Song Ngư Cung (Mīna) hợp với Thất Tú (PūrvaBhādrapadā), Tất Tú (Rohiṇi), Khuê Tú (Revati) sinh ra, lại được Kim (Śukra) làm Bản Mệnh, lại sinh lúc nửa đêm với giữa ngày (giờ Ngọ), hoặc quá giữa ngày một chút thì sinh ra với được Kim Tinh (Śukra) với sao Diệu tốt khác đồng chiếu đến thì Pháp hợp với phạm Hạnh (Brahma-caryā) thanh tịnh, có Đại Trí Tuệ, đủ Tối Thượng Thiện, biết Pháp cát tường. Người sinh vào giờ này, thân màu trắng vàng, dung mạo thù diệu, bẩm tính nhân hiếu, quyến thuộc thuận hòa. Phàm việc đã làm thì tinh tiến bền chắc, sống lâu, có Phước lớn, tất cả vừa ý, hợp làm chủ của đất nước nhỏ ở phương Đông, đất ấy ít lạnh, với đất phần lớn là thấp, phần lớn ở trong nước là do Cung Phần chủ về việc này. Nếu được Thổ (Śanaiścara), Mộc (Vṛhaspati) chiếu đến thì đây là tối thượng, được làm Chủ của đất nước lớn. Nếu người như vậy, thì diều này liền quyết định biết giờ sinh của người ấy, trong Cung phần lớn có mọi loại Tinh Tú cát tường tối thượng. [380]
GIẢNG VỀ NGÀY GIỜ [380]
_Lại nữa, tiếp theo nói về năm, tháng, ngày, giờ, lượng của Thọ Mệnh. Bắt đầu từ ngày 01 đến ngày 15 là (Bạch Nguyệt (Śukla-pakṣa), ngày 16 đến ngày 30 là Hắc Nguyệt (Kṛṣṇa-pakṣa), hai cái nửa tháng thành một tháng, 12 tháng làm một năm. Ở một năm này chia làm 6 phần hoặc chia làm ba Thời. Thời Mạt Pháp (Saddharmavipralopa) thì Thọ mệnh chính của con người là 100 tuổi. Đối với số của thọ lượng này cũng có ngắn hoặc dài, Trung Thiên chẳng định. [ Trang 380 ]
GIẢNG NÓI VỀ ĐỘNG ĐẤT [ Trang 380 ]
Lại nữa, Nhân Gian phần lớn có Phi Nhân (Amanuṣya) xâm hại Thọ Mệnh, hành các việc ác làm cho sợ hãi. Lại hàng Thiên Nhân, A Tu La kia nếu hành chẳng thiện thì cùng nhau chiến đấu. Lúc này thời nhân gian hiện các tướng ác, ấy là động đất chẳng đúng thời, đột nhiên làm gió, mưa đá, sấm chớp khác thường, nơi nơi đều dấy lên lửa Trời, mây đen… là sao Kế Đô (Ketu) ấy làm Nhật Nguyệt Thực. Nếu có mọi loại các tướng ác như vậy hiện ra ở nước nào thì quyết định chúng sinh chiêu cảm có mọi lớp bệnh tật, đói khát, chết yểu, quốc vương bị chết, tất cả người dân đều rất lo sợ, các người xuất gia cũng rất sợ hãi.
_Lại nữa, phân biệt nói các loại động đất. Nếu lại Lâu Tú (Aśvini), Tỉnh Tú (Punarvasū), Tinh Tú (Maghā). Ngày của nhóm Tú này với đất của Cung Phần, nơi chốn (phương sở) bị động đất thì bên trong nước ấy: nơi nơi đều dấy lên trộm cướp, người ác làm việc xâm hại, quốc vương ở phương Nam ắt có tai vạ lớn
_Lại nữa, Vị Tú (Bharaṇi), Ngang (Kṛtikā), Tất Tú (Rohiṇi), Sâm Tú (Ārdrā). Ngày của nhóm Tú này với Cung Phần ấy có động đất thì người dân rất sợ với biên giới kia có tất cả người ác tranh nhau làm trộm cướp. Các quốc vương ở bốn cảnh bên ngoài đất nước trợ nhau xâm hại để làm Oan Gia, bệnh tật lưu hành, người chết chẳng thể đếm được. Lại chủ về quốc vương ở phương Tây bị chết.
_Lại nữa, Tuy Tú (Mṛgaśirā), Quỷ Tú (Puṣya), Liễu Tú (Āśleṣā), Trương Tú (Pūrva-phalguni) với Dực Tú (Uttara-phalguni). Ngày của nhóm Tú này với Cung Phần ấy nếu có động đất thì bên trong đất nước có loạn lớn, người dân chẳng yên, nhân vào sự đói khát ấy mà xâm đoạt lẫn nhau, trở lại bị cột trói, chịu khổ não lớn
_Lại nữa, Chẩn Tú (Hastā), Giác Tú (Citrā), Kháng Tú (Svāti), Đê Tú (Viśākha), Phòng Tú (Anūrādhā), Tâm Tú (Jeṣṭhā). Ngày của nhóm Tú này với phần của Tú ấy có động đất thì giáp vòng khắp núi Tuyết (Himālaya) có người ác, với tất cả Tiểu Vương ở bên trong, biên địa của nước Nễ Ba La (Nepal) quyết định trợ nhau xâm đoạt, giết chóc. [ Trang, 380]
_Lại nữa, Vĩ Tú (Mūlā), Cơ Tú (Pūrva-Āṣādhā). Ngày của nhóm Tú này với Cung Phần ấy có động đất thì phương Đông: nước Mãn Thành (), nước Ô Tra (), nước Ca Ma Lỗ (Kāma-rūpiṇa), nước Tông Nga La (Vaṅgala). Các nhóm quốc vương như vậy bị chết, chẳng nghi ngờ. Lại Chủ của nước Kiểu Noa (Ganḍā) xâm phạm nước khác, tự mình đến với bệnh ấy hoặc lại bị chết. Lại người trụ ở bờ biển với bờ sông Hằng, tất cả người dân bị trôi nổi với tất cả bệnh dịch
Nếu Đẩu Tú (Uttara-Āṣādhā), Ngưu Tú (Abhijit), Nữ Tú (Śravaṇā), Nguy Tú (Śatabhiṣak), Thất Tú (Pūrva-Bhādrapadā), Bích Tú (Uttara-Bhādrapadā), Khuê Tú (Revati). Ngày của nhóm Tú này với đất của Cung Phần. Nếu lúc giữa ngày (giờ ngọ) có động đất thì hết thảy mọi ngọn núi thuộc vùng đất tương ứng với các ngôi sao ấy, tất cả bị sạt lở. Người trụ ở bốn cảnh giáp vòng Bắc Ấn Độ, Tây Ấn Độ, Nam Ấn Độ... trợ nhau xâm đoạt, có tai vạ lớn dấy lên, nơi nơi đói khát đi đến phá đất nước.
_ Nếu sáng sớm có động thì tai vạ bên trong đất nước được ngưng dứt, người dân an vui. Nếu Thượng Thời (Thượng Tuần của tháng ba) có động đất ác thì các bậc Thượng Nhân bên trong bên ngoài của nước Ma Kiệt Đà (Magadha) đều chịu khổ, quốc vương có nạn.
Nếu qua sau giờ Ngọ, hoặc xế chiều mà có động thì bên trong đất nước, tất cả người xuất gia có bệnh tật dấy lên, hoặc việc khổ não của bệnh sốt rét, hoặc nổi ung nhọt. Sau bảy ngày đêm thì tai lệ (tai hại tự nhiên) liền lui.
Nếu khi mặt trời đi quá thời (?sập tối) mà động đất thì bậc thượng nhân tu hành thuộc bốn Tính chịu sự khổ não. Hoặc vua, hoặc Trọng Thần, người biếp Pháp có tai vạ. Lại hoặc Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Tỳ Xá, Thủ Đà cho đến người có công xảo tối thượng đối với Đệ Nhất Nghĩa (Paramārtha) khéo hay phân biệt, hiểu rõ với tu hành, cho đến bậc nghe nhiều nhớ nhiều… đều bị bệnh khổ.
Nếu sau lúc xế chiều, khi mặt trời lặn có động đất thì tạp loại súc sinh bị bệnh dịch chết.
Nếu khi đầu đêm có động đất với lúc trước và lúc sau của đầu đêm ấy có động kèm hiện điềm chẳng lành như có gió mưa lớn với tuôn mưa đá lớn… ắt có binh của nước khác xâm nhiễu, bức đoạt địa vị lớn.
Nếu phần thứ hai của ban đêm có động đất thì binh nước khác vào nước sẽ tự bị đau bụng với các bệnh của Dương Độc, Âm độc, các bệnh dịch… dẫn đến bị chết.
Người dân trong nước bỏ chạy sang nước khác.
Nếu khoảng giữa phần thứ hai của đêm có động đất với có gió lớn, thì lầu gác, đài tạ bên trong cung vua thảy đều nghiêng hoại, với cây cối ấy cũng đều bị vặn gẫy, cho
đến thành, tường, tự xá, điện đường cũng với trú xứ của loài bàng sinh trong núi thảy đều bị phá hoại.
Nếu lúc nửa đêm có động đất thì quốc chủ ở phương Đông có con bị nạn lớn kèm với.
Nếu sau hơn nửa đêm có động đất thì tai nạn của Đại Địa được ngưng dứt, tất cả an vui
Nếu phần sau nửa đêm có động đất thì vua của Trung Quốc bị bệnh đến chết, sau đó có việc ác, khổ não trợ nhau xâm hại.
Nếu khi phần thứ ba của đêm có động đất. Phàm đây là người hèn kém được khoái lạc. Chỉ có loài muỗi, ruồi, bươm bướm… tất cả đều chết, chỉ được Thời Thục (tới thời thì được mùa)
Nếu sáng sớm có động đất thì trong nước có tai vạ về lửa lớn. [ Trang 381 ]
Nếu tất cả Châu, khi mặt trời mọc mà có động đất thì tất cả xứ ở Trung Quốc dấy lên giặc cướp trợ nhau xâm đoạt, cho đến 7 ngày sau ở Trung Quốc có vị vua bị chết.
Nếu qua 7 ngày thì chẳng quyết định.
Nếu khi động đất hoặc kèm ánh sáng điện của sấp chớp có màu trắng thì cũng rất chẳng lành.
Nếu không có động đất, luôn thường có sét đánh, ánh chớp màu trắng là điềm tốt lành.
Nếu khi động đất, có ánh chớp màu đỏ, có lửa với khói đen thì nhà vua đang băng hà.
Nếu khi động đất, có sét đánh, điện chớp màu vàng với màu đỏ vàng pha lẫn thì có tai nạn lớn. [ Trang 382]
NGÀY GIỜ LÀNH DỮ DO TÚ DIỆU CÁT HUNG CHIẾU - LẬP PHÁP ĐÀN CÂUF CŨNG CHẲNG THÀNH. [ Trang 382 ]
Nếu người trì tụng đi trong nhân gian, gặp điềm lành với Tú Diệu thì nên dùng Pháp thành tựu để làm lợi ích.
Nếu người làm Pháp, nên cầu Tú Diệu cát thiện trực nhật thì mới có thể làm Pháp Tinh Tú cát thiện là: Lâu Tú (Aśvinī), Vị Tú (Bharaṇī), Quỷ Tú (Puṣya), Thất Tú (Pūrva-bhādrapadā), Bích Tú (Uttara-bhādrapadā), Khuê Tú (Revati), Phòng Tú (Anurādhā). Tú Diệu như trên trực nhật là cát thiện tối thượng. Nếu được ngày này, tu Pháp thành tựu có nghĩa thành tựu. Hoặc kết Đàn cũng được. Trong Tú Diệu này, ngôi sao màu trắng trực nhất là tốt lành tối thượng.
Nếu ngày 15 với ngày cuối cùng của tháng, hoặc đi qua xứ khác thì chỗ làm chẳng thành, cũng chẳng được làm. Tất cả Chân Ngôn, Mạn Noa La Nghi Quỹ đều chẳng được thành tựu. Ngày này đối với Chân Ngôn ắt có Ma nạn.
Nếu ngày mồng một, ngày mồng ba, ngày mồng năm, ngày 13, ngày 17 của tháng, kết Đàn thì tốt. Nếu làm Hộ Ma cầu Pháp thành tựu, nếu được ngày tốt, sao tốt thì sẽ được thành tựu.
Nếu được Mộc Tinh (Vṛhaspati), Kim Tinh (Śukra), Nguyệt Tinh (Soma), Thủy Tinh (Budha) là tốt. Hợp với nhóm sao tốt này nên làm tất cả việc. Thường thì ngày mồng bốn chiếu đến Thế Gian, hết thảy Đại Địa thì nơi làm Pháp thành tựu, chướng nạn chẳng thành, giải thoát các ác, chuyển ác thành thiện.
NGÀY THÁNG NĂM VÀ NGÀY LÀNH DỮ CỦA NHẬT - NGUYỆT THỰC [ Trang 383 ]
Lại một ban ngày một ban đêm gọi là một ngày, 15 ngày là nửa tháng (bán nguyệt), hai cái nửa tháng là một tháng. Âm Dương nên biết rõ, như vậy 6 tháng là La Hầu Chướng Thời, 12 tháng là một năm, 12 năm là một Đại Niên. Như vậy tất cả Tinh Diệu với A Tu La ở trong Đại Niên này, hoặc thuận hoặc nghịch, làm các thiện ác. [ Trang 383 ]
LÀM CÁI BÌNH BÁU BẰNG VÀNG [Trang 388]
_Hoặc cầu thành tựu cái bình báu (Bhadra-ghaṭa: Hiền Bình). Dùng vàng làm cái bình chứa đầy năm báu, năm loại lúa đậu, năm loại thuốc… Lấy lụa trắng che trùm miệnh bình. Vào ngày tốt của ba trường nguyệt,bắt đầu làm Pháp, ở tháng tiếp theo được thành tựu. Ở trong cái bình ấy, chỗ mong cầu đều thành tựu.
_Hoặc cầu thành tựu báu Như Ý (Cintāmaṇi-ratna). Nên dùng vàng làm viên ngọc (châu), hoặc dùng viên ngọc bằng Pha Chi Ca (Sphaṭika:Pha lê). Dùng lụa trắng che trùm, như Nghi, tụng trì được thành tựu thì nơi chỗ đã mong cầu đều được như nguyện. Như vậy được trụ trong Thiên Nhân.
THỨ TỰ HIẾN CÚNG DƯỜNG THỨC ĂN CÁC BẬC HIỀN THÁNH TRONG BUỔI LỄ [ Trang 404 ]
Thức ăn đã xin được, chia ra làm bốn phần. Một phần phụng hiến Tam Bảo (Ratna-traya), một phần phụng hiến Diệu Cát Tường Bồ Tát, một phần đem cho tất cả hữu tình, một phần tự ăn, đừng để cho thân tâm có chỗ khổ não. Phát ý của Như Lai, vì các chúng sinh chẳng khởi Tâm nhỏ bé chỉ riêng vì chính mình. Tác quán tưởng đấy, cầu nguyện viên mãn, niệm Chân Ngôn, hiến hương (Dhūpa:hương đốt), hoa (Puṣpa), đèn (Pradīpa), hương xoa bôi (Gandha)… cho đến nhóm thức ăn (Baliṃ) với tắm rửa các Thánh. Tắm rửa (Snāpana) thì dùng nước thơm tắm tửa tượng ảnh của các Thánh.
Sau đó, ở trước tượng Phật đem các nhóm hoa, hương, thức ăn luôn thường cúng hiến. Mỗi lần hiến thức ăn cúng dường, trước tiên hiến khắp Tam Bảo, sau đó hiến Từ Thị (Di Lặc Bồ Tát/ Maitreya), tiến đến Quán Tự Tại (Avalokiteśvara), tiếp đến Phổ Hiền (Samantabhadra) cho đến Hư Không Tạng (Ākāśa-garbha), Vô Tận Ý (Akṣaya-mati), Nguyệt Quang Đồng Tử (Candra-prabha-kumāra-bhūta), Trừ Cái Chướng (Sarva-nīvaraṇaviṣkaṃbhi), Thánh Kim Cương Thủ (Ārya-vajra-pāni), Thánh Đa La (Ārya-tārā), Đại Khổng Tước Minh Vương (Mahā-māyūra-vidya-rājñī), Thánh Vô Năng Thắng (Āryāparājita), Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajñā-pāramitā). Nhóm hương đốt, hoa, hương xoa bôi, thức ăn.. tất cả như vậy, trước tiên hiến xong, sau đó bố thí từ địa vị của lớn thứ nhất bên ngoài. [ Trang 404 ]
PHẬT GIẢNG NÓI PHÁP THẾ GIAN - PHÁP ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH - TINH TÚ ..... PHỔ ĐỘ CHÚNG SINH
Này Diệu Cát Tường! Tất cả công xảo kỹ năng, tướng của Hư Không Giới, mọi loại toán số, Pháp Nội Minh (Adhyātma-vidya), nhóm Nghi Quỹ (Kalpa), Pháp Âm Dương, điềm báo tốt xấu, ngôn ngữ của tất cả Bộ Đa (Bhūta), Tâm Hạnh (Cittacarya) thiện ác, tiêu xí (Cihna), Giới Xứ (Dhātur-āyatana) thuộc hết thảy Thế Gian (Laukika) với Xuất Thế Gian (Lokottara); cho đến Nhân Quả của tất cả chúng sinh với Điển Tịch Vi Đà (Veda), việc của nhóm ca múa, Hương Dược, phương thuật, mọi loại việc. Ta ở quá khứ, khi làm Bồ Tát, vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, thường nói việc như vậy để mà dạy Đạo. [ Trang 424 ]
BẢY BÁU VÀ NĂM LOẠI - NĂM HẠT GIỐNG LÚA ĐẬU [ Trang 447 ]
..... Tưởng như năm hạt giống với bảy báu, bốn thứ kim loại tạo thành:
Bảy báu (vàng, bạc, trân châu, thuỷ tinh, ngọc, lưu ly, hổ phách).
Bốn thứ kim loại là (vàng, bạc, đồng, thiếc).
Năm loại lúa đậu (lúa gié, gạo nếp, đại mạch, đậu xanh, mè).
(Nguồn: Văn Thủ Bồ Tát Pháp Kinh pdf )