Web hay cần dùng

DANH SÁCH TRANG WEB HAY VÀ DÙNG TƯ TƯỞNG ĐỂ SỬA MỆNH LÀ SỐ 01

  • Nội dung HAY cần lưu ý
  • SÁCH MẬT TÔNG PHẬT GIAO TINH HOA YÊU LƯỢC (ĐÃ GỘP QUYỂN THƯỢNG + HẠ)
  • NỘI DUNG KHÁC
  • Trang web hay về thiền Phật giáo Tây Tạng, Đại Thủ Ấn

Phật giáo Tây Tạng     ; Văn Phát Nguyện Sám Hối         ; Pháp Sư Tịnh Không Khai Thị: Sám Hối

Sám hối nghiệp trướng - Hay ;    Pháp Sư Tịnh Không    ; Đức là Gốc - Phước (Tiền tài) sau

Chứng minh khoa học về Luân hồi          Có người nào niệm Phật bảy ngày thành công hay không? Có!

Phật học vấn đáp- Pháp Sư Tịnh Không > Nhiều điều đáng nhớ

BẢY CUNG VÀ VÔ SỐ ĐIỂM LINH QUANG - Định luật thất bội

CHI TIẾT NỘI DUNG

  • Nội dung cần lưu ý
  • CÁCH XUA ĐUỔI MỘT TƯ-TƯỞNG XẤU < = > THỂ TRÍ

Từ ngàn xưa Tiên-Thánh chỉ cho đệ tử một phương pháp mà thôi, một phương-pháp duy nhất là đem tư-tưởng tốt đánh đổ tư-tưởng xấu đối lập. Nguyên tắc đó là: Trong Trí con người không thể chứa một lượt hai tư-tưởng đối lập được. Hễ cái nầy đi vô thì cái kia phải đi ra.

Thí dụ: Nóng-giận là một tánh không tốt, có thể gây ra nhiều hậu quả khốc hại, nếu ta không biết kềm chế nó. Chi nên, lúc vừa nổi nóng, ta nói :”Tôi không nóng giận, tôi không nóng giận. Ta nói nhiều lần như vậy: ta thấy ta không hết nóng giận mà trái lại ta còn mệt ngất nữa. Tại sao vậy? Bởi vì hai tiếng nóng giận nói lên thì tư-tưởng nóng giận vẫn còn đó thì làm sao hết nóng giận được bây giờ. Phải nói như vầy: “Tôi vẫn vui vẻ và ôn hòa”. Ta lập đi lập lại như vậy vài bận thì  thấy trong lòng ta mát mẻ lần lần, rồi sự nóng giận tiêu-tan hồi nào không hay. Đó là nhờ tư-tưởng vui vẻ ôn hòa hất tư tưởng nóng giận ra khỏi cái trí. Ta thành công mà không nhọc sức. Thế nên:

  1. Muốn trừ Nóng Giận thì dùng Vui vẻ và ôn hoà
  2. Muốn trừ tư-tưởng tham lam, hàm hồ thì dùng tư-tưởng thành thật, vô tư lợi;
  3. Muốn trừ tư-tưởng xảo trá, gian dối thì dùng tư-tưởng ngay thẳng, chơn thật,
  4. Muốn trừ tư-tưởng nịnh hót thì dùng tư-tưởng trung-tín.
  5. Muốn trừ tư-tưởng siêng năng đánh đổ tư-tưởng biếng nhác,
  6. Tư-tưởng yêu thương thắng phục tư-tưởng ghen ghét,
  7. Tư-tưởng hiền-lương đánh đuổi tư-tưởng hung-bạo,
  8. Tư-tưởng khiêm tốn chiến thắng tư-tưởng phách lối, kiêu căng,
  9. Tư-tưởng chơn lý trừ được tư-tưởng dị đoan

                                           vân…vân…

II - SÁCH MẬT TÔNG PHẬT GIAO TINH HOA YÊU LƯỢC

http://vutruhuyenbi.com/forum/download/MatTongPhatGiaoTinhHoaYeuLuoc.Ban2008.pdf

* 3 con đường: THÁNH ĐẠO – NHÂN ĐẠO – ÁC ĐẠO

  • LỤC ĐẠI (NGŨ HÀNH ???):

+ Mật Tông chủ trương Lục Đại là chơn thật thể của vũ trụ. Lục Đại là Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại, Không Đại và Thức Đại. Lục Đại là bản nguyên của các tánh năng sinh (sinh ra) năng lưu (lưu xuất ra). Trong Lục đại thì 5 Đại trước thuộc về vật, Đại cuối cùng thuộc về tâm (Thức đại). Sáu Đại này mỗi mỗi đều dụng thông, không ngăn ngại, thâu nhiếp lẫn nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà sanh ra các pháp.

+ Lục đại bao gồm 3 phương diện

  • Thể đại: tức là bản thể chung của vũ trụ.
  • Tướng đại: tức là hình tướng của sự vật và chúng sanh.
  • Dụng đại: tức là ngôn ngữ, động tác, công dụng của mỗi sự vật.
  • 3 phương diện do Trí lực chúng ta chia ra để quán sát, thực chất chúng không tách rời/ Tồn tại riêng lẻ được ≫≫≫ Do đó mới nói: XÉT 1 PHƯƠNG DIỆN THÌ RÕ ĐƯỢC 3 PHƯƠNG DIỆN
  • Như chúng ta thấy ở trên: Sáu Đại dụng thông, thâu nhiếp lẫn nhau và ba phương diện: Thể, Tướng, Dụng, cũng không thể rời nhau. Nên vũ trụ vạn hữu, mặc dù muôn hình vạn trạng, rộng lớn vô biên, vẫn có cái lý dung thông vô ngại, châu biến khắp tất cả. Cái đó gọi là lý tánh hay chơn như. Lý tánh hay chơn như là nồng cốt của Sự tướng. Nhưng nếu không có Sự tướng, thì chơn như hay lý tánh cũng không thể biểu dương được. Lý tánh và Sự tướng là hai khía cạnh tĩnh và động
  • BỐN MANDALA. Mandala có nghĩa là tròn trịa đầy đủ, rộng lớn không lường. Bốn pháp Mandala hay gọi tứ mạn tướng đại là bốn 80 tướng rộng lớn, đầy đủ của bản thể do sáu đại mà biến hiện ra. Bốn pháp Mandala là: a. Đại Mandala (Maha-Mandala). Nghĩa rộng là thân của các loài hữu tình trong mười phương pháp giới, là sắc tướng môn pháp trong mười phương vũ trụ, y theo lục đại mà hiện. Nghĩa hẹp là chỉ cái sắc tướng trang nghiêm của Phật, Bồ-tát… được thể hiện trong các pho tượng chạm trổ, tô vẻ v.v… b. Tam-muội-gia Mandala (Samaya Mandala). Nghĩa rộng là hết thảy cơ khí trong vũ trụ, những vật dụng thường ngày của chúng sanh hay rộng hơn nữa là cái đặc tánh riêng biệt của mỗi pháp. Núi, sông, cây, cỏ… Nghĩa hẹp là chỉ những vật mà Bồ-tát và Phật thường dùng như hoa sen, ngọc Bửu châu, cành dương liễu, chày Kim Cang… để tiêu biểu cho thệ nguyện hay các đặc tánh thù thắng riêng của quý ngài trong việc cứu độ chúng sanh. c. Pháp Mandala (Dharma Mandala). Nghĩa rộng là hết thảy các loại âm thanh, lời nói, hình ảnh, tên gọi, ký hiệu trong vũ trụ. Nghĩa hẹp là chỉ cho những chủng tử tự hay chơn ngôn của các đức Phật hay Bồ-tát. Chủng tử ở đây tức là chữ Cái, chữ tiêu biểu cho bản thể của Phật và Bồ- tát, như chủng tử của Đức Đại Nhật Như Lai chữ “A” ( ), chủng tử của Ngài Kim Cang Tát-đỏa là chữ “HUM” ( ). Còn chơn ngôn tức là Mật chú và danh hiệu của Phật và Bồ- tát cùng tất cả văn nghĩa trong kinh điển. d. Yết-ma Mandala (Karma Mandala): Yết-ma nghĩa là 81 cử động làm các sự nghiệp. Vậy nghĩa rộng của Yết-ma là chỉ cho hết thảy động tác của chúng sanh và muôn vật. Nghĩa hẹp là chỉ cho hết thảy oai nghi, động tác của chư Phật và Bồ-tát để làm các sự nghiệp độ sanh. Bốn Mandala trên đồng thời tồn tại, đã có một Mandala tức phải có 3 Mandala kia. Bốn Mạn này Phật, Bồ-tát, chúng sanh đều có. Bốn Mạn của Phật không lìa bốn Mạn của chúng sanh, 4 Mạn của chúng sanh không lìa 4 Mạn của Phật. Vì thế kinh thường gọi là 4 Mạn không lìa nhau.
  • TAM MẬT. Phương pháp tu hành trọng yếu của Mật Tông là Tam Mật. Tam Mật là phương pháp tu hành mầu nhiệm dựa trên thân, ngữ, ý. Tam mật gồm có: Thân mật, ngữ mật, và ý mật.

≫≫≫ Như trên đã nói 6 Đại và 4 Pháp: Chúng sanh và Đức Như Lai đều do sáu đại làm thể, bốn pháp Mandala làm tướng, không sai khác. Như Đức Đại Nhật có tam pháp giới là thân mật, hết thảy tiếng tăm là ngữ mật, cái thức lớn bao trùm tất cả là ý mật. Còn chúng sanh thì tay bắt ấn là thân mật, miệng niệm chơn ngôn là ngữ mật, tâm chuyên vào Tam-ma-địa (thiền định) là ý mật. Nhưng Phật và chúng sanh khác nhau ở tịnh và nhiễm, ngộ và mê, giải thoát và ràng buộc.

  • NGÀI ( Bất Không Thành Tựu Như Lai / BẤT KHÔNG ) CHUYỂN Ý NIỆM KHÔ KHAN CỦA 6 ĐẠI THÀNH NGUYÊN LÝ NĂNG ĐỘNG: Uẩn liên hệ với Ngài là Hành, có nghĩa là ý chí, hay sức mạnh tinh thần, phần sống động nhất của tâm hồn chuyển biến thành Thành Sở Tác Trí. Thành Sở Tác Trí nghĩa là trí tuệ biến thành tác dụng, chuyển nghiệp thành duyên, chuyển ý niệm lý tưởng thành sống động sáng tác, chuyển thiên thu thành chốc lát, chuyển khổ hạnh thành giải thoát. Thành Sở Tác Trí lại chuyển những ý niệm khô khan về Lục đại thành những nguyên lý năng động. Địa là tiềm năng (Einstein), Thủy là điện năng, Hỏa là quang năng, Phong là động năng, Không là thời năng (Kuzyref), Thức là tâm năng (Carljung). Thành Sở Tác Trí là hành động của pháp thuật nhiệm mầu của trí tuệ và giải thoát.
  • Trong Mandala, Ngài Bất Không là vị Như Lai ở phương Bắc của gió lạnh, với mặt trời nửa đêm, của thế giới tâm linh huyền bí, hào quang của Ngài màu lục, kết tinh của màu xanh pháp tánh, vũ trụ của Ngài Đại Nhật và màu vàng tình thương muôn loài của Ngài Bảo Sanh.

                                                

Trang 149 sách trên, chép lại đường dẫn http://vutruhuyenbi.com/forum/download/MatTongPhatGiaoTinhHoaYeuLuoc.Ban2008.pdf

CHƯƠNG VI: CHÚ ẤN PHÙ VÀ CÁC VÒNG PHÉP

cũng như MANDALA của Mật Tông Trung Hoa – Tây Tạng – Nhật Bản và Cao Miên

( CÁC BÀI CHÚ (TIẾNG VIỆT) SẼ ĐƯỢC AN LÀNH, HOÁ GIẢI TAI ÁCH BỆNH TẬT TAI HOẠ, ĐẶC BIỆT LÀ CỦA NGƯỜI KHÁC HẠI MÌNH )

CÁC THẦN CHÚ RẤT NHIỀU ........................................

Thần trú của Bồ Tát Quan Thế Âm (Trang 183) ......

Đức Phật bảo ngài A-nan: –Thần chú của Quán Thế Âm Bồ-tát nói ra đây, chân thật không dối. Nếu muốn thỉnh Bồ-tát đến, nên tụng chú vào hương chuyết-cụ-la 21 lần rồi đốt lên, Quán Thế Âm Bồ-tát liền đến (chuyết-cụ-la chính là An tức hương). Đức Phật lại bảo ngài A-Nan: –Quán Thế Âm Tự Tại Bồ-tát có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hành tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh. Đó cũng do tâm Đại bi của vị Đại sĩ ấy hóa hiện.

Đức Phật lại bảo ngài A-Nan:

Quán Thế Âm Tự Tại Bồ-tát có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hành tùy thuận các sự mong cầu của chúng sanh. Đó cũng do tâm Đại bi của vị Đại sĩ ấy hóa hiện. MỖI LOẠI CHÚ DƯỚI ĐÂY ĐỀU CÓ HÌNH ẢNH ĐI KÈM

  1. Nếu chúng sanh nào muốn được giàu lớn, có nhiều thứ châu báu, đồ dùng, nên cầu nơi tay cầm châu như ý(Có ảnh ). Chân ngôn rằng: Án, phạ nhựt ra, phạ đa ra, hồng phấn tra
  2. Nếu muốn trị các thứ bệnh trên thân, nên cầu nơi tay cầm cành dương liễu. Chân ngôn rằng: Án tô tất địa, ca rị phạ rị, đa nẫm đa, mục đa duệ, phạ nhựt ra, phạ nhựt ra bạn đà, hạ nẵng hạ nẵng, hồng phấn tra.
  3. Nếu muốn trị các chứng bệnh trong bụng, nên cầu nơi tay cầm cái bát báu. Chân ngôn rằng: Án, chỉ rị chỉ rị, phạ nhựt ra, hồng phấn tra.
  4. Nếu muốn trị bệnh mắt mờ không thấy ánh sáng, nên cầu nơi tay cầm châu nhựt tinh ma ni. Chân ngôn rằng: Án, độ tỉ, ca giả độ tỉ, bát ra phạ rị nảnh, tát phạ hạ.
  5. Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi tay cầm cây Bạt-chiết-la. Chân ngôn rằng: Án nễ bệ nễ bệ, nễ bà dã, ma ha thất rị duệ, tát phạ hạ.
  6. Nếu muốn hàng phục tất cả oán giặc, nên cầu nơi tay cầm chày Kim cang. Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, chỉ nảnh, bát ra nễ bát đa dã, tát phạ hạ.
  7. Nếu muốn trừ tánh ở tất cả chỗ sợ hãi không yên, nên cầu nơi tay thí vô úy. Chân ngôn rằng: Án, phạ nhựt ra, nẵng dã, hồng phấn tra.
  8. Nếu bị các việc khuấy rối, muốn được an ổn, nên cầu nơi tay cầm dây quyên sách. Chân ngôn rằng: Án chỉ rị lã ra, mô nại ra, hồng phấn tra.
  9. Nếu bị bệnh nhiệt độc, muốn được mát mẻ hết bệnh, nên cầu nơi tay cầm châu Nguyệt tinh ma-ni. Chân ngôn rằng: Án tô tất địa yết rị, tát phạ hạ.
  10. Nếu muốn được mau gặp các bạn lành, nên cầu nơi tay cầm tên báu. Chân ngôn rằng: Án ca mạ lã, tát phạ hạ.
  11. Nếu muốn hàng phục tất cả quỷ, thần, vọng, lượng, nên cầu nơi tay cầm gươm báu. Chân ngôn rằng: Án đế thế, đế nhá, đổ vĩ nảnh, đổ đề bà đà dã, hồng phấn tra.
  12. Nếu muốn trừ những chướng nạn ác bên thân, nên cầu nơi tay cầm cây phất trắng. Chân ngôn rằng: Án bát na di nảnh, bà nga phạ đế, mô hạ dã nhá, nga mô hạ nảnh, tát phạ hạ.
  13. Nếu muốn tất cả người trong quyến thuộc được hòa thuận nhau, nên cầu nơi tay cầm cái hồ bình. Chân ngôn rằng: Án yết lệ, thảm mãn diệm, tát phạ hạ.
  14. Nếu muốn xua đuổi loài hổ báo, sài lang và tất cả ác thú, nên cầu nơi tay cầm cái bàng bài. Chân ngôn rằng: Án dược các sam nẵng, na dã chiến nại ra, đạt nậu bá rị dã, bạt xá bạt xá, tát phạ hạ.
  15. Nếu muốn trong tất cả thời, tất cả chỗ, lìa nạn quan quân vời bắt, nên cầu nơi tay cầm cây phủ việt. Chân ngôn rằng: Án vị ra dã, vị ra dã, tát phạ hạ.
  16. Nếu muốn có tôi trai tớ gái để sai khiến, nên cầu nơi tay cầm chiếc vòng ngọc. Chân ngôn rằng: Án bát na hàm, vị ra dã, tát phạ hạ.
  17. Nếu muốn được các thứ công đức, nên cầu nơi tay cầm hoa sen trắng. Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, vị ra dã, tát phạ hạ.
  18. Nếu muốn được sanh về mười phương tịnh độ, nên cầu nơi tay cầm hoa sen xanh. Chân ngôn rằng: Án chỉ rị, phạ nhựt ra, bộ ra bạn đà, hồng phấn tra.
  19. Nếu muốn được trí tuệ lớn, nên cầu nơi tay cầm cái gương báu. Chân ngôn rằng: Án vĩ tát phổ ra, na ra các xoa, phạ nhựt ra, mạn trà lã, hồng phấn tra.
  20. Từ 20-28 không Copi
  21. Nếu muốn có được tất cả Phạm âm thanh tốt nhiệm mầu, nên cầu nơi tay cầm chiếc linh báu. Chân ngôn rằng: Nẵng mồ bát ra hàm bá noa duệ. Án a mật lật đảm, nghiễm bệ thất rị duệ, thất rị chiếm rị nảnh, tát phạ hạ.
  22. Nếu muốn được miệng nói biện luận hay khéo, nên cầu nơi tay cầm chiếc ấn báu. Chân ngôn rằng: Án phạ nhựt ra, nảnh đảm nhá duệ, tát phạ hạ.
  23. Nếu muốn được làm quan, lên chức, nên cầu nơi tay cầm cung báu. Chân ngôn rằng: Án a tả vĩ, lệ, tát phạ hạ.
  24. Nếu muốn được học rộng nghe nhiều, nên cầu nơi tay cầm quyển kinh báu. Chân ngôn rằng: Án a hạ ra, tát ra phạ ni, nễ dã đà ra, bố nễ đế, tát phạ hạ.

+ Nguyệt Quang Bồ-tát cũng vì hành nhơn mà nói Đà-ra-ni để ủng hộ rằng:

Thâm đê đế đồ tô tra. A nhã mật đế ô đô tra. Thâm kỳ tra. Ba lại đế. Gia di nhã tra ô đô tra. Câu la đế tra kỳ ma tra. Sá phạ hạ.

Nguyệt Quang Bồ-tát lại bạch Phật: –Bạch đức Thế Tôn! Tụng chú này năm biến, rồi lấy chỉ ngũ sắc se thành niệt, gia trì chú vào, buộc tréo nơi tay, chú này do bốn mươi hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói ra, nay tôi cũng nói để vì các hành nhơn mà làm duyên ủng hộ. Chú này có công năng trừ tất cả chướng nạn, tất cả bệnh ác, thành tựu tất cả pháp lành, xa lìa tất cả sự sợ hãi.

Đức Phật bảo ngài A-nan: –Ông nên dùng lòng trong sạch tin sâu mà thọ trì môn Đại Bi Tâm Đà-ra-ni này và lưu bố rộng ra trong cõi Diêm-phù-đề, chớ cho đoạn tuyệt. Đà-ra-ni này có thể làm lợi ích lớn cho chúng sanh trong ba cõi. Tất cả bệnh khổ ràng buộc nơi thân, nếu dùng Đà-ra-ni này mà trị thì không bệnh nào chẳng lành. Dùng đại thần chú này tụng vào cây khô, cây ấy còn được sanh cành lá, trổ bông trái, huống chi là chúng sanh có tình thức ư? Nếu thân bị đau bệnh, dùng chú này trị mà không lành, lẽ ấy không bao giờ có.

NHIỀU TRÚ NỮA

TIẾP THEO TRONG SÁCH TRÊN: CÁC PHÉP THUẬT HAY – TRANG 213

Lại phép nữa: nếu có hài nhi khóc dạ đề (khóc ban đêm) khiến đứa gái nhỏ bên mặt se chỉ, tụng chơn ngôn gia trì gút 21 gút, đeo nơi cổ trẻ hài nhi, tức không khóc dạ đề nữa.

VII. NGŨ BỘ CHÚ – TINH HOA CỦA MẬT TÔNG PHẬT GIÁO.      TRANG 219

*CHƠN NGÔN: ÚM LAM (hoặc riêng trì chữ Lam cũng được, Lam hoặc Lãm)

*VĂN-THÙ NHỨT TỰ CHƠN NGÔN: ÚM XỈ-LÂM.

Như Văn-thù Nhất Tự Đà-ra-ni Pháp nói: Đức Thế Tôn bảo các chư Thiên rằng: Nên biết Đà-ra-ni này là vua lớn trong các Chú, có đại Thần lực

Nếu phát vô thượng đại Bồ-đề tâm, tụng một biến có năng lực thủ hộ tự thân mình. Nếu tụng hai biến có 221 năng lực thủ hộ đồng bạn. Nếu tụng ba biến có năng lực thủ hộ người trong một nhà. Nếu tụng bốn biến có năng lực thủ hộ người trong một thành.........................................................

Nếu trong mỗi buổi sớm mai tụng một biến chú này trong nước rửa mặt hay khiến người thấy sanh lòng hoan hỷ,

*LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN

- Úm ma ni pát mê hum.

- Úm ma ni bát di hồng.

- Úm ma ni pết-nạp minh hồng.

Nếu người nào hay thường thọ trì chú Đại Minh này ở lúc trì tụng có chín mươi chín căn-già hà sa số Như Lai tập hội, lại có vi trần số Bồ-tát tập hội, lại có vô số Thiên Long Bát Bộ đến để hộ vệ người ấy.

VIII. LINH PHÙ – BẢO BỘ.

 NỘI DUNG KHÁC
TINH LUYỆN CÁI TRÍ: CHÂN SƯ DẠY PHẢI TẬP ĐỊNH TRÍ = TẬP CHUNG CAO ĐỘ VÀ KHÉO LÉO VÀO 1 VIỆC, TAY LÀM GÌ TẬP CHUNG VÀO VIỆC ĐÓ. MỚI ĐẦU ĐỪNG ĐỂ CÁI TRÍ TRỐNG KHÔNG, TRỐNG KHÔNG ≫≫≫ ĐỌC THẦN CHÚ/ CHÂN NGÔN NGAY. LƯU Ý: TẬP TỰ NHIÊN, THOẢI MÁI, THANH THẢN, HỒN NHIÊN > KHÔNG ĐỂ HOA MẮT, CHÓNG MẶT SAY SẨM, NẾU CÓ PHẢI NGỪNG NGHỈ 1 VÀI TUẦN RỒI TẬP LẠI, KHÔNG NÓNG VỘI
THỜI GIAN TẬP ĐỊNH TRÍ: TRÍ KHÔNG CHẠY LUNG TUNG 2 PHÚT, TỐI ĐA 15-20 PHÚT??

Đ- THAM THIỀN – NHẬP ĐẠI ĐỊNH > BƯỚC VÀO CỬA ĐẠO - Đó là điều mà những người tầm Đạo đều mong mỏi. Mà muốn bước vào cửa đạo thì phải ra công luyện tập cho có đủ những đức tánh kể trong mấy cuốn sau nầy ( Không có đủ phải chờ đợi, vì Thiên-Đình không hề có sự tư vị bao giờ.)

          Dưới Chơn Thầy.;                             Con đường của người đệ-tử.

          Ánh–Sáng trên đường Đạo.;              Tiếng Nói Vô-Thinh.

Đ- Từ ngàn xưa, muốn làm chủ Cái Trí thì phải tập Định Trí – Tham-Thiền và Lãnh-Đạm.

V- Có phương pháp nào khác nữa chăng? ≫≫≫ Không có.

Định-Trí và Tham-thiền là hai giai đoạn trong bốn giai đoạn mà Ấn giáo gọi chung bằng một danh từ “Sanmyana” – bốn giai đoạn nầy là:

      1-     Giai đoạn thứ nhứt là Pratyahara           : Kiểm soát hoàn toàn giác quan.

      2-     Giai đoạn thứ nhì là Dharana                 : Định-Trí.

      3-     Giai đoạn thứ ba là Dhyana                   : Tham-Thiền.

      4-     Giai đoạn thứ Tư là Samadhi                 : Đại-Định

  • Trong lúc NHẬP ĐỊNH – NẾU CÓ CẢM GIÁC NGOẠI NHẬP ≫ ĐUỔI RA LIỀN
  • ....Giáo lý chứa đựng trong bộ sách này có thể tóm tắt đại lược như sau:

http://www.thongthienhoc.com/bai%20vo%20venmanISISchapter01.htm#4mucluc

    “Con Người có một tính chất phức tạp, gồm cả hai phương diện cực đoan, một đàng là những thú tính thấp hèn, một đàng là tính chất thiêng liêng cao quý. Sự sống duy nhất chân thật và toàn mỹ, thoát ly khỏi mọi ảo giác, ngoài vòng tục lụy, khổ đau, bởi vì nơi đó không có sự Vô Minh, ấy là sự sinh hoạt tinh thần, tức của Chân Ngã.”

II - BẢNG KÊ TRANG WEB HAY

Trang dòng truyền thừa ĐẠI THỦ ẤN VIỆT NAM   http://www.drukpavietnam.org/index.php
T.Toạ Thích Viên Thành là người Việt đương đại được truyền thừa vào năm 1992 http://www.drukpavietnam.org/index.php/tin-viet-nam/gioi-thieu-drukpa-viet-nam/479-tiu-s-c-hoa-thng-thich-vien-thanh
Hành trì Mật Tông Tây Tạng tại Việt Nam (Có các câu Thần trú hay cần học và đọc hàng ngày) http://giacngo.vn/phathoc/mattong/2008/11/20/77401B/
Trang VŨ TRỤ HUYỀN BÍ : Có NHIỀU SÁCH CỦA CƯ SỸ Cư sĩ TRIỆU PHƯỚC PHÁP HIỆU ĐỨC QUÍ Read more:  MẬT TÔNG PHẬT GIÁO TINH HOA YẾU LƯỢC - Đạo Học - Thần Bí Học - Thần Thông Học | Vũ Trụ Huyền Bí | Vu Tru Huyen Bi | The Mystical Universe | Religous-Mysticism-Supernatural Studies http://vutruhuyenbi.com/mat-tong-phat-giao-tinh-hoa-yeu-luoc/1-dowload-kinh-vna40.html#ixzz3jS3y05Es http://vutruhuyenbi.com/mat-tong-phat-giao-tinh-hoa-yeu-luoc/1-dowload-kinh-vna40.html  
Nguồn Gốc Chú Đại Bi của Bồ Tát Quan Thế Âm (Giải thích hoàn cảnh, ý nghĩa và cách thực hành Tụng chú Đại Bi hiệu quả diệt trừ 15 Ác nghiệp và hưởng 15 Thiện nghiệp) https://www.youtube.com/watch?v=UeeqMnkzhNk
Tụng Chú Đại Bi Tiếng Việt (Có Chữ) https://www.youtube.com/watch?v=TbeBQjzVy9g
Hướng dẫn Thờ Phật tại Gia https://www.youtube.com/watch?v=MrMiWRGclyo
Hướng dẫn đem Phật về nhà https://www.youtube.com/watch?v=4uprSrJbY1Q
Cộng nghiệp và Phong thuỷ ( Phần 1-11) https://www.youtube.com/watch?v=EqXG5xA2peQ
Tổng hợp trí tuệ của Ngài Đại Lai Lạt Ma ( Phật giảng: Tâm thức không có khởi thuỷ, Tái sinh cũng vậy ≫> Tri thức và vật chất không là nguyên nhân của nhau, chỉ có tồn tại phụ thuộc vào Tri thức khác = Tiền kiếp) http://www.hoavouu.com/p23a27293/coi-ta-ba-song-chet-va-tai-sinh
THIỀN ĐỊNH – TINH LUYỆN CÁI TRÍ: Có 4 giai đoạn trong Thiền, mô tả chi tiết thực hành 4 giai đoạn này (Như trên đoạn đầu trang) http://www.thongthienhoc.com/bai%20vo%20MTTlgianyeu.htm
THIỀN NHÂN ĐIỆN: Tổ Sư của trường sinh học là Tiến sĩ Dasira Narada (1846 - 1924) người Sri-lanka: http://phatgiaovnn.com/upload1/bz/showthread.php?p=23169
Danh sách các Kinh Sách Mật Tông hay của  Chùa Đại Nhật Như Lai - Maha Vairocana Temple http://www.chuadainhatnhulai.org/DNNL_MatTong.html
Thiền Đại Thủ Ấn – Cách thở thổi lửa vào Luân xa (Đại Thủ Ấn và Kinh Mạch) http://www.chuadainhatnhulai.org/pdf_files/Mat/DaiThuAn_KinhMach.pdf
Văn Thù Chiêm Bốc Pháp:  Ðức Văn Thù Sư Lợi (Manjushri) là hoá thân của Trí Huệ. Trong các bậc Ðại Bồ Tát Phật Giáo, Ðức Quán Tự Tại Bồ Tát được tôn xưng là “Ðại Bi”, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát được tôn xưng là “Ðại Trí”. Ý nghĩa của chữ “Văn Thù Sư Lợi” là “Diệu Cát Tường” http://www.chuadainhatnhulai.org/pdf_files/Mat/VanThuChiemBocPhap.pdf