ẢO CẢM (4) - TỔNG QUAN VỀ BA KỸ THUẬT XUA TAN ẢO CẢM
Thầy Kiệt dịch

1 | P a g e Giới thiệu: trong webinar số 3 (khá dài, gần 2 giờ), thầy Hiệu Trưởng bình giảng một đoạn trong quyển sách Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới trình bày tổng quát về 3 kỹ thuật xua tan ảo cảm. Phần sau của webinar lượt qua các ảo cảm của cung 3. Chỉ một đoạn văn rất ngắn nhưng để hiểu đầy đủ sẽ cần nhiều trang giấy giảng giải. Tạm thời, chúng ta chấp nhận hiểu trong chừng mực mà thầy Hiệu Trưởng giảng giải, các bài về sau sẽ đào sâu hơn về đề tài này.

Thật ra, điều quan trọng nhất trong việc học về đề tài này là nhận ra các ảo cảm trong chúng ta và làm tiêu tan chúng. Nhận diện ảo cảm là điều khó vì ảo cảm đã tồn tại cùng chúng ta qua bao nhiêu kiếp sống (theo Chân sư DK từ thời Atlantid), và con người thường sự kiêu hãnh nhất định, rất khó để chấp nhận rằng mình cũng có nhiều ảo cảm. Thầy Hiệu Trưởng đôi khi cũng hài hước nói, khi đọc lại quyển sách và suy ngẫm lại mình, Thầy giật mình, ái chà mình cũng có ảo cảm! ????

Nếu loạt bài này giúp ích được các bạn trong việc nhận diện ảo cảm của mình, thì đó là thành công lớn và chứng tỏ rằng nó hữu ích. Một lưu ý về cách trình bày: Phần bình giảng của Thầy Hiệu Trưởng sẽ có màu xanh nhạt, phần dịch sẽ có màu đen nền vàng, phần giải thích của người dịch có màu xanh lá. Việc Vương Quốc Anh tách ra khỏi Liên Minh Châu Âu Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, và hôm qua Vương quốc Anh đã bỏ phiếu rời khỏi Liên minh châu Âu. Đó là một sự thay đổi thật to lớn trong các mối quan hệ, không chỉ ở châu Âu mà còn trên toàn cầu, và có thể dẫn đến sự chia rẽ hơn nữa, có thể phá huỷ một số các nỗ lực nhằm tạo ra một Liên minh Châu Âu dưới sự trông nom của đấng Avatar Tổng hợp và Chân sư R. vốn là vị nhiếp chính của Châu Âu và cũng của Hoa Kỳ. Vương quốc Anh có Phàm ngã Cung 1 và Linh hồn Cung 2, và trong trường hợp cụ thể này, Phàm ngã Cung 1 dường như đã chiến thắng trận chiến, và tôi nghĩ rằng các lực lượng cản trở đang cùng nhau chống lại sự hợp tác và tìm cách chia rẽ. Vì vậy, chúng ta những người chí nguyện và đệ tử của Minh Triết Muôn Đời, đang làm việc hướng tới sự hợp nhất đúng đắn. Tất nhiên, có thể có những sự hợp nhất được tiến hành dưới sự độc đoán và áp bức, nhưng đó không phải là những gì chúng ta hướng tới. Chúng ta làm việc vì sự đa dạng trong sự thống nhất để tất cả các Cung Linh hồn của các quốc gia có thể được tăng cường và xuất hiện, nhưng một sự thống nhất, và thậm chí cuối cùng là một sự tổng hợp, có thể thắng thế. Vì vậy, Đấng Hoá Thân Vĩ đại, đấng Avatar Tổng Hợp đang ứng linh Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tại thời điểm này, hoạt động hướng tới các sự thống nhất phải thắng thế trong thời đại Bảo Bình, và cũng sẽ có những thất bại và điều chỉnh. Tôi không nói rằng mọi thứ đều hoàn hảo với Liên minh Châu Âu, nhưng toàn bộ ý tưởng về sự thống nhất là một trong những mục tiêu chính của chúng ta. Vì vậy, khi chúng ta làm công việc nhằm phá tan ảo cảm này, nó thường xử lý sự chia rẻ. Nhưng, như Chân sư DK ĐÃ nói, điều đại mê tín về chia rẻ là một sự dị đoan và bóp méo lớn về tư tưởng, và tất nhiên dựa trên sự đồng hoá sai lầm của chúng ta với những gì mà chúng ta nghĩ chúng ta là, nghĩa là phàm ngã cô lập. Sau đó, chúng ta có các cộng đồng cô lập, các quốc gia cô lập như là kết quả của sự phóng chiếu bản sắc cô lập của chúng ta lên các cấu trúc lớn hơn. Vì vậy, chúng ta phải làm việc cho sự thống nhất đúng đắn dựa trên Thiện Chí, Tình Thương trong Hành Động, Tư Duy Rõ Ràng và sẵn sàng làm những gì tốt đẹp cho số đông lớn nhất. Về quyển sách Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới Do vậy, những gì chúng ta sẽ làm việc ở đây là nghiên cứu quyển sách này một cách cẩn thận. Nó bao gồm các bài tiểu luận được viết trong một khoảng thời gian, vì lợi ích của nhóm Hạt Giống Chín người (nhóm số 2, các Nhà Quan Sát Lão Luyện) mà Chân sư Tây Tạng đang huấn luyện.

Quyển sách bao gồm những điều rất sâu sắc, và mỗi khi chúng ta gặp nhau trên webinar này, chúng ta sẽ thảo luận các chủ đề đó của quyển sách. Chúng ta sẽ thảo luận về các chủ đề này, ý nghĩa của chúng đối với chúng ta, nhưng các chủ đề được chọn sẽ không theo thứ tự trong quyển sách. Trong mỗi webinar, chúng ta cũng sẽ có một buổi thiền ngắn để làm tiêu tan ảo cảm cá nhân. Rõ ràng, chúng ta phải liên tục nhìn vào những vấn đề của chính mình và xử lý chúng, nếu chúng ta muốn hữu ích trong ý nghĩa lớn hơn. Khi chúng ta đã xử lý được các vấn đề cá nhân của chúng ta, chúng ta có thể bắt đầu công việc trong nỗ lực làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Ba Kỹ thuật để xua tan ảo cảm Sáng nay, chúng ta sẽ xem xét tổng quát ba kỹ thuật sẽ sử dụng khi chúng ta ngày càng thành thạo hơn với những gì được cung cấp trong quyển sách này. Dù chúng ta tập trung vào ảo cảm, nhưng việc nghiên cứu của chúng ta trong nhiều năm sẽ không chỉ tiếp tục với ảo cảm mà còn về ảo tưởng (illusion) nữa, và ở một mức độ nào đó với Maya (ảo lực). Tất cả ba loại này đều có thể được gọi là Maya, cũng có thể được gọi là ảo cảm, và cũng có thể được gọi là ảo tưởng.

Có rất nhiều cách sử dụng từ ngữ không chính xác, nhưng Chân sư DK đã phân biệt chúng. Ảo tưởng liên quan đến cõi trí; Ảo cảm liên quan đến cõi cảm xúc, và cho đến hiện tại là mạnh nhất, khó khăn nhất; và cuối cùng là Maya liên quan đến cấp độ vật lý – dĩ thái. Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu tất cả những điều này một cách cẩn thận tại thời điểm này khi sự can thiệp huyền bí bên trong là rất cần thiết trên thế giới. Công việc này có thể không dành cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta có thể tự rèn luyện để trở thành một phần của Nhóm những Nhà Quan sát Lão luyện, nhóm hạt giống số hai. Chúng ta có thể rèn luyện bản thân để nhìn rõ hơn, hành động tốt hơn trong mối quan hệ với Thiên Cơ, và giúp người khác nhìn rõ hơn. Tất cả chúng ta ở đây được liên kết với nhau với mục đích tìm hiểu cách thức để soi sáng tâm thức, để thoát khỏi những ảo cảm cổ xưa, như Chân sư DK đã nói với chúng ta, đã ở với chúng ta từ rất lâu. Thật khó để nhận diện chúng vì chúng đã ở cùng chúng ta từ thời Atlantid, và giờ đây chúng ta đang tự thoát ra khỏi sự ràng buộc của những ảo cảm và đồng hoá sai lạc đó. Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc, và chúng ta cũng làm việc trong đời sống hàng ngày của chúng ta để xác định những xu hướng nào đang kìm hãm chúng ta khỏi những hoạt động tâm linh đầy đủ. Có những xu hướng ảo cảm và mỗi chúng ta phải nhận diện những ảo cảm này trong cuộc sống của chúng ta. Trước tiên chúng ta sẽ làm việc với ảo cảm cá nhân, và Chân sư DK nói rằng tên của ảo cảm là vô số, và chúng là riêng biệt cho mỗi người. Nhưng Ngài đã cho chúng ta một cách suy nghĩ về chúng bằng cách nêu ra một số ảo cảm chính. Vì vậy, chúng ta cùng nhau làm việc từ cõi trí càng nhiều càng tốt, đáp ứng với linh hồn, bởi vì từ cõi trí chúng ta mới có thể có tầm nhìn tổng thể, để có thể nhìn mọi thứ từ một quan điểm tinh thần rõ ràng. Cần rất nhiều cung 5 trong công việc này, và Trung tâm lực Ajna, Trung tâm lực Cung 5, được sử dụng như nguồn phát ra chùm tia sáng làm tiêu tan Ảo cảm. Dù chúng ta sẽ làm việc rất nhiều với Kỹ thuật của Ánh sáng, nhưng hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu tổng quát về ba kỹ thuật và ý nghĩa của chúng. Tôi không cho mình biết mọi thứ trong cuốn sách này. Tôi đã từng nghĩ rằng tôi biết khoảng ba phần trăm (3%) những gì mà Chân sư Tây Tạng đã viết, nhưng bây giờ tôi giảm xuống còn khoảng 0,5% ????. Đó là lượng tri thức khổng lồ xuất phát từ Thánh Đoàn, do đó cần nghiên cứu học tập suốt đời và đi sâu hơn vào mọi lúc.

  1. The Technique of the Presence. By means of this technique, the soul assumes control of the integrated personality and of its relations, horizontal and vertical. This technique involves the unfolding of the flower of the intuition, dispelling 4 | P a g e illusion, revealing the Angel, indicating the Presence, and opening up to the disciple the world of ideas and the door of the higher initiations. Through the disciple's grasp and application of these divine ideas or seed thoughts, he becomes initiate and the third initiation becomes possible as an immediate goal. The intuition is the applied power of transfiguration. This technique is related to the little known yoga called Agni Yoga or the yoga of fire.

Trong đoạn này chúng ta sẽ bàn đến các kỹ thuật và chúng có thể được tóm tắt như sau:

1. Kỹ thuật của đấng Hằng Hữu. Theo kỹ thuật này, linh hồn đảm nhận việc kiềm chế phàm ngã tích hợp và các liên hệ hàng ngang và hàng dọc của nó. Kỹ thuật này bao gồm việc khai mở đóa hoa trực giác, xua đuổi ảo tưởng, tiết lộ đấng Thiên Thần, chỉ ra đấng Hằng Hữu, mở ra cho đệ tử trên thế giới của các ý tưởng và cánh cửa của các cuộc điểm đạo cao siêu. Nhờ sự hiểu biết và áp dụng các ý tưởng thiêng liêng hay các tư tưởng hạt giống này, người đệ tử trở nên điểm đạo đồ và mục tiêu trước mắt là cuộc điểm đạo thứ ba có thể xảy ra. Trực giác là năng lực biến hình được áp dụng. Kỹ thuật này có liên quan đến môn yoga ít được biết đến là Agni Yoga hay môn yoga của lửa.

2. The Technique of Light. By means of this technique, the illumined mind assumes control over the astral or emotional body and dissipates glamour. When light pours in, glamour fades out. Illumination dominates and the vision [Page 172] of reality can be seen. This technique is related to Raja Yoga and its goal is the second initiation; it produces ability to tread the Path of Discipleship, and enables the man to "live a life, enlightened by divinity." Illumination is the applied power of transformation.

2. Kỹ thuật của Ánh Sáng. Nhờ kỹ thuật này mà thể trí được soi sáng sẽ đảm trách việc kiềm chế thể cảm dục hay thể tình cảm và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tràn vào, ảo cảm sẽ tan đi. Sự giác ngộ sẽ thống trị và linh thị về thực tại có thể được nhận thấy. Kỹ thuật này có liên quan đến Raja Yoga và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó tạo ra khả năng để bước vào Con Đường Đệ Tử và cho phép con người “sống một cuộc sống được soi sáng bởi Thiên Tính”. Sự giác ngộ là khả năng chuyển hoá được áp dụng.

3. The Technique of Indifference. By means of this technique, maya is ended; for the control of the purified astral vehicle is consciously and technically brought into activity, producing the freeing of the energies of the etheric body from the control of matter or force-substance, and bringing men in large numbers on to the Probationary Path. Where there is "divine indifference" to the call or pull of matter, then inspiration becomes possible. This technique is related to Karma Yoga in its most practical form and the use of matter with complete impersonality. The goal of this technique is the first initiation, which enables man to "live a life, inspired by God." Inspiration is the applied power of transmission.

3. Kỹ thuật Điềm nhiên. Nhờ kỹ thuật này mà maya chấm dứt; vì sự kiềm chế thể cảm dục đã thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và đúng phương pháp, tạo ra sự giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kềm chế vật chất hay chất liệu của mãnh lực, và đưa một số lớn người bước vào Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “sự điềm nhiên thiêng liêng” đối với tiếng gọi hay sự lôi cuốn của vật chất, thì nơi đó mới có thể có được nguồn cảm hứng. Kỹ thuật này liên quan đến Karma Yoga dưới hình thức thực tiễn nhất của nó, và liên quan đến việc sử dụng vật chất với sự vô ngã hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là đạt điểm đạo lần thứ nhất, cuộc điểm đạo cho phép con người “sống một cuộc sống được truyền cảm hứng bởi Thượng Đế”. Cảm hứng là năng lực truyền chuyển được áp dụng.

Kỹ Thuật của đấng Hằng Hữu

1. Kỹ thuật của đấng Hằng Hữu. Theo kỹ thuật này, linh hồn đảm nhận việc kiềm chế phàm ngã tích hợp và các liên hệ hàng ngang và hàng dọc của nó. Kỹ thuật này bao gồm việc khai mở đóa hoa trực giác, xua đuổi ảo tưởng, tiết lộ đấng Thiên Thần, chỉ ra đấng Hằng Hữu, mở ra cho đệ tử trên thế giới của các ý tưởng và cánh cửa của các cuộc điểm đạo cao siêu. [Kỹ Thuật của đấng Hằng Hữu, nguyên văn tiếng Anh là The Technique of The Presence. The Presence là Sự Hiện Diện, một sự hiện diện luôn tồn tại trong ta dù ta có ý thức điều đó hay không. Dịch giả Trần Văn Khá dịch là Bổn Lai Diện Mục— khuôn mặt từ xưa đến nay, sử dụng một thuật ngữ của Thiền Tông Phật Giáo. Bổn Lai Diện Mục là từ rất hay của Thiền Tông, nhưng tôi không rõ trong Thiền Tông thuật ngữ đó được sử dụng để chỉ Chân Thần hay Chân Ngã của chúng ta. Do đó, tốt nhất là không sử dụng các thuật ngữ của một hệ thống triết lý khác để dịch các từ của Chân sư DK sử dụng. Ngài có hệ thống thuật ngữ riêng, được định nghĩa riêng biệt, và ta không nên lẫn lộn với các hệ thống khác.

Bình giảng về Đấng Hằng Hữu và Thiên Thần của Đấng Hằng Hữu, Thầy Hiệu Trưởng nói như sau:] Thiên thần của đấng Hằng Hữu. Đó là Thái dương Thiên Thần và một phần của Thái dương Thiên Thần nằm trong Hoa sen Chân ngã của chúng ta, bởi vì đó là một thực thể độc lập biểu thị về đấng Hằng Hữu. Đấng Hằng Hữu chính là bạn với tư cách là một Đơn vị hiện hữu, là bạn như là Tinh thần, là bạn như là một Chân thần. Đó là phần cao nhất trong bản chất của bạn. Vì vậy, khi bạn nghĩ về Sự Hiện diện hay đấng Hằng Hữu, bạn có thể nghĩ đến Sự hiện diện của Thượng đế, nhưng đó thực sự giống như phần Chân thần trong bản chất của bạn. Thiên thần của đấng Hằng Hữu. Có 7 đoạn thơ tuyệt vời nói về Thiên thần của đấng Hằng Hữu trong quyển Tâm Lý Học Nội Môn II, được Chân sư DK dịch từ Thiên Cổ Luận (the Old Commentary), và chúng ta sẽ xem xét một đoạn trong đó. Bảy đoạn thơ này của Thiên Cổ Luận nói về những gì mà Thiên thần của đấng Hằng Hữu làm để giới thiệu với bạn phần cao hơn của bản thể, là Sự Hiện Diện hay đấng Hằng Hữu, và một trong những đoạn thơ đẹp đẽ nhất của Thiên Cổ Luận nói về linh hồn cung năm một khi đã đạt được một mức độ tiến hóa cao, do đó kết nối được với Thiên Thần của Đấng Hằng Hữu, và làm thế nào thiên thần đó mở ra cánh cửa cho đấng Hằng Hữu thực sự đến với anh ta. Theo tôi, đây không phải là một chủ đề dễ dàng, nhưng đối với tôi Thiên thần của đấng Hằng Hữu cũng giống như những gì nhiều nhất mà Thái dương Thiên Thần có thể truyền vào Hoa Sen Chân Ngã, như trí thông tuệ, như một sự hiện diện. Thái dương Thiên Thần là một Thực Thể vĩ đại, một điểm đạo đồ của tất cả các cấp bậc, một thực thể đã đạt đến giải thoát trong một kỳ Đại Khai Nguyên trước, và là thành viên trong Hội Đồng của Thái dương Thượng đế. Do đó, nhiệm vụ của Ngài không thể chỉ gói gọn trong việc ban cho một cá nhân cái trí tuệ và linh hồn. Điều đó không phù hợp. Chính một phần của Ngài chuẩn bị cho chúng ta con đường của các công việc cao hơn. Thiên thần của đấng Hằng Hữu là người thực sự gần gũi với chúng ta, dẫn chúng ta đến với Chân thần của chúng ta. Sau đây là một trích đoạn trong Tâm Lý Học Nội Môn quyển II nói về các Blessed Ones, các Đấng Cao Cả (đấng Thế Tôn), cũng chính thực là Chân thần. Đoạn thơ được trích nói về Linh hồn cung 5:

Ray Five "The Blessed One came forth in ignorance. He wandered in a darkness deep of spirit. He saw no reason for this way of life. He sought among the many threads that weave the [Page 38] outer garment of the Lord, and found the many ways 7 | P a g e there be, leading to the centre of the web eternal. The forms that weave that web hide the divine reality. He lost himself. Fear entered in. He asked himself: 'Another pattern must be woven; another garment formed. What shall I do? Shew me another way to weave.'

Cung Năm "Đấng Cao Cả xuất hiện trong sự vô minh. Ngài lang thang trong bóng tối sâu thẳm của tinh thần. Ngài không thấy lý do nào cho lối sống này. Ngài tìm kiếm trong nhiều sợi chỉ dệt chiếc áo ngoài của Chúa và tìm thấy có nhiều cách, dẫn đến trung tâm của mạng lưới vĩnh cửu. Các hình tướng dệt nên mạng lưới đó che giấu thực tại thiêng liêng. Ngài đã đánh mất chính ngại. Sự sợ hãi bước vào. Ngài tự hỏi: 'Một mẫu khác phải được dệt; một chiếc áo khác được hình thành. Tôi sẽ làm gì? Hãy chỉ cho tôi một cách khác để dệt.'

The Word for him came forth in triple form. His mind responded to the vision clear evoked:—'The truth lies hidden in the unknown Way. The Angel of the Presence guards that Way. The mind reveals the Angel and the door. Stand in that Presence. Lift up thine eyes. Enter through that golden door. Thus will the Angel, who is the shadow of the Blessed One, reveal the open door. That Angel too must disappear. The Blessed One remains and passes through that door into the light sublime.'"

Lời đáp cho Ngài xuất hiện dưới dạng tam phân. Trí Ngài đáp lại linh ảnh được gợi lên rõ ràng:— 'Chân lý ẩn giấu trong Con đường vô định. Thiên Thần của Đấng Hằng Hữu bảo vệ con đường đó. Cái trí tiết lộ Thiên thần và cánh cửa. Hãy đứng trong sự Hiện Diện đó. Ngước mắt lên. Đi qua cánh cửa màu vàng kim đó. Khi đó, Thiên thần, là hình bóng của đấng Cao Cả, sẽ tiết lộ cánh cửa mở. Thiên thần đó cũng phải biến mất. Đấng Cao Cả vẫn còn và đi qua cánh cửa đó vào ánh sáng siêu việt. '" Tôi đã bình luận về các Stanza này trong các video mà có thể tìm thấy trên trang web makara.us. Thật thú vị khi Chân sư DK đã gói gọn vào quyển Tâm Lý Học Nội Môn II (khoảng 700 trang) những gì có thể dẫn dắt chúng ta rất xa trên con đường điểm đạo, có thể đến lần điểm đạo 3. Đoạn trích ở trên chỉ để các bạn làm quen với ý tưởng tuyệt đẹp về Angel of The Presence. Kỹ thuật này bao gồm việc khai mở đóa hoa trực giác: Trực giác đến từ đâu? Từ những cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã, và từ cõi Bồ đề và cũng có thể từ một trong những cánh hoa hy sinh của Hoa sen Chân ngã. Vì vậy, trực giác thực sự được tìm thấy ở cấp độ của Tam nguyên tinh thần, trên cõi Bồ đề. Thế giới Ý Tưởng là lãnh vực của Tam nguyên tinh thần. Các bạn hãy nhìn vào hình sau đây: Thế giới ý tưởng xảy ra trên phân cảnh giới thứ tư của cõi vật lý vũ trụ. Nó bắt đầu từ cõi trực giác (cõi Bồ đề), và tiếp tục đi lên. Ý tưởng là nguyên lý tổ chức vĩ đại của vũ trụ của chúng ta, và theo một cách nào đó, mỗi người chúng ta là một ý tưởng. Ý tưởng thực sự là các thực thể. Vì vậy, ý tưởng không phải là tư tưởng. Ý tưởng được thể hiện bằng các tư tưởng mà chúng ta có thể hình thành, nhưng thường thì tư tưởng của chúng ta không nắm bắt được cái vô hình sắcnày nếu không có một hình thể bình thường. Chính thực thể vô hình sắc này là cái mà chúng ta gọi là một ý tưởng. Nhờ sự hiểu biết và áp dụng các ý tưởng thiêng liêng hay các tư tưởng hạt giống này, người đệ tử trở nên điểm đạo đồ và mục tiêu trước mắt là cuộc điểm đạo thứ ba có thể xảy ra. Trực giác là năng lực biến hình được áp dụng. Kỹ thuật này có liên quan đến môn yoga ít được biết đến là Agni Yoga hay môn yoga của lửa.

Thật thú vị khi đức DK gọi Ý Tưởng và những tư tưởng hạt giống là giống nhau. Vì vậy, Kỹ thuật của đấng Hằng Hữu nếu được sử dụng đúng sẽ dẫn đến cuộc điểm đạo thứ ba. Nhiều người trong chúng ta sẽ được điểm đạo lần hai, một trong những cuộc điểm đạo khó nhất nếu bạn thuộc Cung hai, bốn hoặc sáu. Sau đó, với kỹ thuật này, con người có mục tiêu trở thành một điểm đạo đồ bậc ba. Một điều khác cũng rất thú vị: trực giác được gọi là năng lực Biến hình được áp dụng, nó sẽ mang bạn lên trên các hình tướng và hình thể thông thường, vào một thế giới mới của các hình tướng và các mối quan hệ tinh vi hơn. Thế giới Biến hình bắt đầu trên cõi thượng trí và vượt xa hơn thế nữa. Agni Yoga là Pháp môn Yoga của Cung 1, được Chân sư Morya truyền dạy thông qua bà Helena Roerich. Tuy nhiên, các quyển sách về Agni Yoga có phong cách rất khác biệt so với các sách của Chân sư Tây Tạng. Kỹ Thuật của Ánh sáng—The Technique Of Light 2. Kỹ thuật của Ánh Sáng. Nhờ kỹ thuật này mà thể trí được soi sáng sẽ đảm trách việc kiềm chế thể cảm dục hay thể tình cảm và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tràn vào, ảo cảm sẽ tan đi. Sự giác ngộ sẽ thống trị và linh thị về thực tại có thể được nhận thấy. Kỹ thuật này có liên quan đến Raja Yoga và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó tạo ra khả năng để bước vào Con Đường Đệ Tử và cho phép con người “sống một cuộc sống được soi sáng bởi Thiên Tính”. Sự giác ngộ là khả năng chuyển hoá được áp dụng. Các bạn lưu ý, năng lượng Hổ Cáp không chỉ liên quan đến thể cảm xúc mà còn liên quan đến sức mạnh của trí tuệ, và sao Thủy có thể mang lại sự xua tan ảo cảm.

Trong năm kỹ thuật thiền định của Raja Yoga, giai đoạn Định trí liên quan đến cung Sư Tử, Tham thiền là Xử Nữ, Chiêm ngưỡng là Thiên Bình, và khi bạn đến với Hổ Cáp thì đó là sự giác ngộ, và đó là những gì chúng ta đang nói ở đây. Cuộc chiến lớn chống lại ảo cảm được thực hiện thông qua sự giác ngộ, và điều này có nội dung mạnh mẽ của Hổ Cáp. Vì vậy, chúng ta sẽ kiểm soát thể cảm xúc thông qua cung năm, qua Sao Thủy, và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tràn vào, ảo cảm tan dần, và trên một viễn cảnh lớn hơn, khi ánh sáng tuôn vào thì ảnh hưởng của Tà đạo sẽ giảm dần đối với hành tinh của chúng ta, điều mà hiện nay gần như không xảy ra. Linh thị về thực tại có thể được nhận thấy. Thực tại là gì? Đối với chúng ta có nhiều cấp độ của thực tại. Một thực tại là linh hồn, và một thực tại khác còn cao hơn nữa là Tam nguyên tinh thần. Kỹ thuật này có liên quan đến Raja Yoga và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai. Bà Alice A. Bailey với sự giúp đỡ của đức DK đã viết quyển sách về Raja Yoga (quyển Ánh Sáng Của Linh Hồn). Các bạn chú ý Raja Yoga và Kỹ thuật của Ánh sáng đưa đến cuộc điểm đạo thứ 2, còn Agni Yoga và Kỹ Thuật của đấng Hằng Hữu có mục tiêu là cuộc điểm đạo thứ 3.

Ở đây, bạn có thể trí được soi sáng và thông tuệ tinh thần là hai phẩm chất của cuộc điểm đạo thứ hai, trong khi bản năng trực giác là phẩm chất của cuộc điểm đạo thứ ba và bản năng tinh thần là phẩm chất của cuộc điểm đạo thứ nhất. Vì vậy, kỹ thuật này tạo ra khả năng bước vào con đường đệ tử, cho phép con người ' sống một cuộc sống được soi sáng bởi Thiên Tính'. Sau đó, Ngài tóm tắt rằng "Sự giác ngộ là khả năng chuyển hoá được áp dụng". giác ngộ là sức mạnh ứng dụng của biến đổi. Bạn nên lưu ý Biến hình liên quan đến tâm trí, biến đổi liên quan đến cơ thể cảm xúc đặc biệt phải được chinh phục ở mức độ thứ hai, và sau đó chuyển đổi đề cập đến bản chất vật lý etheric. Kỹ Thuật Điềm Nhiên 3. Kỹ thuật Điềm nhiên. Nhờ kỹ thuật này mà maya chấm dứt; vì sự kiềm chế thể cảm dục đã thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và đúng phương pháp, tạo ra sự giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kềm chế vật chất hay chất liệu của mãnh lực, và đưa một số lớn người bước vào Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “sự điềm nhiên thiêng liêng” đối với tiếng gọi hay sự lôi cuốn của vật chất, thì nơi đó mới có thể có được nguồn cảm hứng. Kỹ thuật này liên quan đến Karma Yoga dưới hình thức thực tiễn nhất của nó, và liên quan đến việc sử dụng vật chất với sự vô ngã hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là đạt điểm đạo lần thứ nhất, cuộc điểm đạo cho phép con người “sống một cuộc sống được truyền cảm hứng bởi Thượng Đế”. Cảm hứng là năng lực truyền chuyển được áp dụng. Kỹ thuật Điềm Nhiên hay Thản Nhiên Thiêng Liêng giúp chấm dứt Maya.

Đức DK nói chúng ta phải đạt đến sự Điềm Nhiên Thiêng Liêng nhất định với những gì diễn ra trong phàm ngã của chúng ta, để bất kỳ điều gì phát sinh trong thể cảm xúc không tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào. Thực hiện được điều này là một chặng đường dài phía trước, nhưng Ngài thực sự mong đợi điều đó ở chúng ta. Không có gì phát sinh ở phàm ngã có thể tạo ra một sự khác biệt nhỏ nhất trong hoạt động của chúng ta, và khi đó chúng tôi đạt được sự điềm nhiên thiêng liêng, một sự buông xả thực tế chứ không chỉ là lý thuyết. Chân sư DK có một định nghĩa khá hài hước về Maya. Ngài gọi đó là sự hỗn độn cảm xúc thiếu suy nghĩ (unthinking emotional mess).

Khi năng lượng được kiểm soát, giải phóng thể dĩ thái khỏi những xung động bản năng vật chất, thì con người bước vào Con Đường Dự Bị. Đức DK cũng dùng một từ khác để nói về điều này là "don't care'— đừng để ý, rằng một thái độ không quan tâm nhất định sẽ đi xa trong việc giải phóng chúng ta khỏi sự chấp trước. Ngài yêu cầu chúng ta rèn luyện điều này. Pháp môn Yoga Hành động trên cõi trần có liên quan đến Karma Yoga ở hình thức thực tiển nhất, và việc sử dụng vật chất với sự vô kỷ hoàn toàn có nghĩa là chúng ta không ham muốn nó cho bản thân mình, chúng ta sử dụng nó cho mục đích cao cả hơn, cho Thiên Cơ thiêng liêng. Cảm hứng là năng lực truyền chuyển được áp dụng. Thường thì Ngài sử dụng từ “chuyển hoá” (transmutation), nhưng trong trường hợp này Ngài sử dụng một từ cũng bắt đầu bằng chữ T khác, Transmission, năng lượng cao được truyền dẫn qua thể dĩ thái một cách đúng đắn và không bị trở ngại hay sai lạc bởi tất cả những xung động đến với chúng ta từ bản năng vật lý.

NHẬN DIỆN VÀ XUA TAN ẢO CẢM (1)

Giới thiệu:Trong các webinarthuộc chương trìnhA.S.Kmà Thầy Hiệu TrưởngvàcôTuijathực hiện hàng tuần có webinar Dissipation of Glamour Initiative Eventsdo trực tiếp thầy Hiệu Trưởnggiảng giải và dẫnthiền. Đây có thểxem là một công việc phụng sựtiếp nối công việc của mà Chân sư DK đã đềxuất cho nhóm Trained Observersởđầu thếkỷ20. Khi Chân sư DK bắt đầu huấn luyện cácđệtử, Ngài chia các đệtửthành 10 nhóm khác nhau, mỗi nhóm 9 người chuyên một nhiệm vụcụthể. Các nhóm này được gọi Seed Group of Nine(Nhóm Hạt Giống Chín người). Nói chín ngườinhưng có nhóm chỉcó vài người dotổngsốđệtửđược huấn luyện lúc đó chỉkhoảng 50 người. Nhóm Trained Observers—các Nhà Quan Sát Lão Luyện—tương đối đầy đủnhất, có lẽvì các đệtửdễbịảo cảm nhất ????!

Đây làlời giới thiệu của Thầy Hiệu Trưởng vềSeed Group of Trained Observers:

This is not easy work. The individual must work on his or her own Individual Glamours before he or she can be trusted and trained to work harmlessly in a wider field with group and World Glamours. Individual Glamour work is a preparation and requirement for group service work in helping to dissipate World Glamour. It must be remembered that some in Master DK’s Group of Nine which was eventually to work widely in the field of world glamour became subject to glamours in their own lives as a result of their intensive participation in this Seed Group. So watchfulness is ever necessary and real self-understanding. Then one can become, eventually, a true member of the Trained Observers – the Name of the Second Seed Group.
In our earlier webinars, we have discussed glamour in general and have used Master DK’s Formula for the Dissipation of Individual Glamour. We need to begin with ourselves as Individuals. If you will go to the book Glamour: A World Problem, pages 120-123, you will see a list of common Individual Glamours, according to Ray.

Đây không phải là công việc dễdàng. Mỗi cá nhân phải làm việc với các Ảo cảm của riêng mình trước khi có thểđược tin tưởng và huấn luyện đểlàm việc một cách vô hại trong lĩnh vực rộng lớn hơn làẢo cảm Tập thểvà Ảo cảm ThếGian. Làmviệc với Ảo cảm cá nhân là một chuẩn bịvà yêu cầu cho việc phụng sự nhóm trong công cuộcgiúp làm tiêu tan Ảo cảm ThếGiới. Cần phải nhớrằng một sốđệtửtrong Nhóm Chín Người của Chân sư DK hoạt động rộng rãi trong lĩnh vực Phá Tan Ảo cảm thếgiới cuối cùng lại bịảo cảm trong chính cuộc sống của họdo sựtham gia mạnh mẽcủa họvào Nhóm Hạt giống này. Vì vậy, sựcảnh giác là cần thiết và cần thấu hiểu bản thân thực sự. Khiđó, người ta có thểtrởthành một thành viên thực sựcủa Nhóm Những nhà Quan Sát Lão Luyện—Tên của Nhóm Hạt giống thứ hai.

Trong các webinartrước đây của chúng tôi, chúng tôi đã thảo luận vềsảo cảm nói chung và đã sửdụng Công thức của Chân sư DK đểlàm tiêu tan ảo cảm cá nhân. Chúng ta cần bắt đầu với chính chúng ta như là những Cá nhân. Nếu bạn mởquyển sách Glamour: A World Problem, trang 120-123, bạn sẽthấy một danh sách các Ảo cảm cá nhân phổbiến, sắp xếp theo Cung.
Học hỏi vềẢo cảm là việc khó khăn, và Chân sư DK đã viết riêng quyển sách Glamours: A WorldProblem đểcho các đệtửhọc hỏi, đặc biệt là các thành viên của nhóm Trained Observers. Qua các webinar (hiện nay con sốđã trên 100), thầy Hiệu Trưởng giảng giải rất sâu vềẢo cảm, bình giảng toàn bộquyển sách, và dẫn bài thiền xua tan ảo cảm thếgian cho những ai tham dự. Công việc xua tan ảo cảm thếgian vốn đang tràn lan là việc phụng sựlớn,rất lớn,nhưng cũng tiềm ẩn nguy hiểm vì nó đụng chạm đến những thếlực đen tối, và bản thân Thầy Hiệu Trưởng cũng đã trảmột giá khá đắt cho công việc phụng sựnày. Do đó có lời nhắc nhởcủa Thầy: chúng ta phải làm việc với các ảo cảm của bản thân chúng ta trước khicó thểđược tin tưởng huấn luyện trong công việc chung này.

Một đặc điểm khác của ảo cảm là tính lây lan như dịch bệnh của nó, vài thành viên của Nhóm các Nhà Quan Sát Lão Luyệnkhi làm việc với ảo cảm thếgiới lại bịchính ảo cảm khuấtphụctrong đời sống của họ, do đó cần cảnh giác và thấu hiểu bản thânthật sự. Các bạn nhớđệtửL.T.S.K thuộc nhóm Trained Observers bịảo cảm nặng, và Chân sư DK phải yêu cầu người đệtửnày ra khỏi Nhóm đệtửcủa Ngài, tuy rằng hai năm sau LTSK được khôi phục trởlại vào Nhóm Đệtửvà trởthành ĐệtửChính thức sau khi đã chiến thắng ảo cảm của mình.

Là đềtài tương đối khó, nên các bạn học viên chỉhọc trong năm 1 của Khoá học Quest Universal, học sâu hơn trong QU2 và qua năm 3 học vềIllusion. Một sốcác bạn học viên của Great Quest và các bạn khoá QU có hứng thú tìm hiểuvềảo cảm có thểxemloạt bài này đểtham khảo, và ứng dụngvào việc xua tan ảo cảm của bản thân.

Phần tiếp theo là đoạn trích từquyển Ảo Cảm Một Vấn đềThếGiới nói vềđặc điểm ảo cảm của các cung. Ví dụmột người Cung 6, nghĩa là cung Linh hồn, cung Phàm ngã, cung thểtrí, hoặc cung cảm dục là cung 6, rất dễbịảo cảm, trong khi những người cung 5 hay 1 lại dễkhắc phục ảo cảm hơn. Các bạn sẽđọc phần mởđầu này mà Thầy Hiệu Trưởng đã giảng giải trongwebinar số2trước, và chúng ta sẽđi sâu vào các ảo cảm.

Đối với tôi, những webinar bình giảng này là vô giá, và không chỉcác học viên của Trường thấy hữu ích, mà các giảng viêncủa trường cũng thấy có rất nhiều điều đểhọc hỏi từ đó.

********************************************

Công việc tập thể xua tan ảo cảm thế gian phải được xử lý bởi những người đang hoạt động để xua tan ảo cảm trong đời sống riêng của họ và đã học được cách dùng công thức đã được nêu, như bạn sẽ thấy. Đa phần những người đang hoạt động như thế đều là người chí nguyện cung 6—tức là những người có phàm ngã hay linh hồn thuộc cung 6, cộng với những người thuộc mọi cung nhưng có thể cảm dục cung 6 rất mạnh. Đây là những người hoạt động hiệu quả nhất trong nhóm, nhưng lại gặp một khó khăn chủ yếu. Mặc dầu có khát vọng và thiện ý, họ ít khi biết được các ảo cảm đang chi phối họ. Thật cực kỳ khó khăn khi thuyết phục một người chí nguyện cung 6 chấp nhận rằng họ bị ảo cảm chi phối, nhất là khi ảo cảm mang ý nghĩa tâm linh và ở cấp độ rất cao. Trong trường hợp của họ, ảo cảm này càng mạnh hơn do năng lượng của lòng sùng tín làm cho nó chai cứng lại và làm cho nó có tính chất rất khó thâm nhập vào. Lòng tự tin quá vững chắc của họ lại là một trở ngại lớn cho việc nhìn thấy rõ ràng bởi vì tất cả những điều đó phải được thực hiện trước khi việc xua tan ảo cảm có thể tiến hành thành công. Người cung 1 có thể vượt qua ảo cảm tương đối dễ dàng một khi họ đã nhận biết được ảo cảm như một hạn chế của phàm ngã. Người thuộc cung 3 dễ bị ảnh hưởng của ảo cảm như người cung 6, cái trí quanh co, vặn vẹo, tính toán của họ cùng sự nhanh nhẹn mà nó có thể phỉnh gạt chính họ (và thường tìm cách phỉnh gạt những kẻ khác) cản trở lớn lao việc xua tan ảo cảm của họ. Khuynh hướng dễ trở thành nạn nhân ảo cảm của những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung 3 được chứng minh ở chỗ họ không có khả năng diễn đạt điều mình muốn nói một cách rõ ràng bằng ngôn từ. Trong nhiều kiếp sống, họ đã tự bảo vệ bằng việc hình thành lươn lẹo các tư tưởng, ý tưởng, và ít khi truyền đạt những gì muốn nói một cách rõ ràng. Điều này giải thích tại sao những người thuộc cung 3 và cung 6 gần như thiếu khả năng giảng dạy. Do đó, cả hai nhóm này phải học cách sử dụng công thức này và họ sẽ tăng tốc tiến trình xua tan ảo cảm nếu họ buộc bản thân nói hay viết những ý tưởng của mình một cách rõ ràng, nếu họ không bao giờ mơ hồ hay diễn tả nửa vời, nói bóng gió hay gợi ra một ý kiến. Họ nên diễn đạt một cách rõ ràng các ý tưởng mà họ có thể bàn đến.

Group work in dissipating world glamor must be handled (as will be obvious to you) by those who are working at the dissipation of glamor in their own lives and have learnt to use the formula just given. The majority of those so working are sixth ray aspirants—those who have sixth ray personalities or whose soul ray is the sixth, plus those on all rays who have powerful sixth ray astral vehicles. These make the most effective workers in the group but are subject to one major difficulty. In spite of aspiration and good intention, they are seldom aware of the glamors which control them. It is exceedingly hard to induce the sixth ray aspirant to admit that he is held [222] by a glamor, particularly when it is glamor of spiritual connotation and of a very high order. In their case, the glamor is enhanced by the energy of devotion which stiffens it and brings in a quality which makes it most difficult to penetrate. Their complete assurance proves a serious obstacle to clear-sighted work because that has all to go before the work of dissipation can be carried forward successfully. First ray people can overcome glamor with relative ease once they become aware of it as a personality limitation. Third ray people are as susceptible to it as are those of the sixth ray and their devious, twisting, planning minds and the rapidity with which they can deceive themselves (and seek often to deceive others) greatly hinders their work of clearing away glamor. Their pronounced tendency to be the victims of glamor is evidenced by the inability of the third ray aspirant and disciple to convey his meaning clearly by speech. He has guarded himself for many lives by devious formulations of thought and of ideas and can seldom convey his meaning clearly. This is why sixth ray people and third ray people almost inevitably prove themselves unable to teach. Both
these groups must, therefore, learn to use this formula and they would greatly hasten the process of dissipation if they would force themselves to speak or write their thoughts clearly, if they would never be ambiguous or deal in half thoughts, innuendo or suggestion. They should clearly enunciate the ideas with which they may be dealing.

Người thuộc cung bảy gặp phải khó khăn là có thể tạo ra những hình tư tưởng rất sắc nét, và do đó các ảo cảm kềm chế y đều chính xác, rõ ràng, và đối với y, tất cả đều có tính hấp dẫn, không cưỡng lại được. Tuy nhiên, chúng đều kết tinh lại nhanh chóng và tự huỷ diệt. Người chí nguyện cung 2 thường ý thức đầy đủ về bất kỳ loại ảo cảm nào vốn có thể tìm cách kiểm soát họ vì họ có khả năng bẩm sinh nhận biết rõ ràng. Khó khăn của họ là phải diệt hết trong chính họ sự đáp ứng nhanh chóng của họ đối với sức thu hút của cõi cảm dục và nhiều ảo cảm lan tràn của cõi này. Họ không thường đáp ứng với một ảo cảm giống như đáp ứng với mọi ảo cảm khác theo một cách thức tương đối tạm bợ, trừ ảo cảm làm trì trệ quá mức sự tiến hóa của họ. Do tầm nhìn sáng suốt của họ, họ thêm vào sự nhạy cảm này với ảo cảm một năng lực chịu đựng ảo cảm và ghi nhận sự đáp ứng của họ dưới hình thức một tội lỗi và thất bại, như thế làm trì hoãn việc thoát ra khỏi ảo cảm của họ bằng một thái độ tiêu cực với sự tự ti và buồn chán. Họ sẽ hưởng lợi rất nhiều từ việc sử dụng thường xuyên công thức này cho đến lúc họ biết được một hay nhiều ảo cảm mà không bị chúng tác động đến. Người thuộc cung 5 ít chịu đau khổ vì ảo cảm nhưng lại là nạn nhân trước tiên của ảo tưởng, và đối với họ, Technique of the Presence vô cùng quan trọng, vì công thức này mang lại một nhân tố mà người cung 5 đích thực thường bài xích và không chấp nhận, đó là sự thật về Chân Ngã. Họ cảm thấy tự mãn. Họ đáp ứng một cách rất dễ dàng và thỏa đáng với quyền năng của tư tưởng; tự hào về năng lực trí tuệ của họ là tội lỗi đeo đẳng của họ, do đó, họ bắt đầu các mục tiêu của họ và mê mải với thế giới cụ thể và thế giới trí tuệ. Vào lúc mà Đấng Thiên Thần của Hằng Hữu trở thành thực tại đối với họ, thì sự đáp ứng của họ với ảo tưởng yếu đi và biến mất. Vấn đề chính của họ không phải phủ nhận thể cảm dục, vì họ thường coi thường ảnh hưởng của thể này, nhưng họ có một khó khăn lớn khi nhận ra rằng những gì mà thể trí được dự định để tiết lộ—tức Chân Ngã thiêng liệng. Hạ trí của họ tự ý chen vào giữa họ với linh thị.

The seventh ray person is faced with the difficulty of being able to create exceedingly clear-cut thought-forms and the glamors, therefore, which control him are precise and definite and, to him, all compelling. They rapidly crystallize, however, and die their own death. Second ray aspirants are usually fully aware of any glamor which may be seeking to hold them because they have an innate faculty [223] of clear perception. Their problem is to kill out in themselves their rapid response to the magnetic pull of the astral plane and its many and widespread glamors. They are not so frequently responsive to a glamor as to all glamors in a relatively temporary manner but one which is nevertheless exceedingly delaying to their progress. Because of their clear-sightedness, they add to this sensitivity to glamor an ability to suffer about it and to register their responsiveness as a sin and failure and thus delay their liberation from it by a negative attitude of inferiority and distress. They will profit enormously from a constant use of the formula until the time comes when they are aware of the glamor or glamors but are not touched by them. Fifth ray people suffer the least from glamor but are primarily the victims of illusion, and for them the Technique of the Presence is all-important because it brings in a factor which the true fifth ray person is apt to negate and refuse to admit, the fact of the Higher Self. He feels self-sufficient. They respond so easily and with such satisfaction to the power of thought; pride in their mental competence is their besetting sin and they are, therefore, set in their purposes and preoccupied with the world of the concrete and the intellectual. The moment that the Angel of the Presence is a reality to them, their response to illusion weakens and disappears. Their major problem is not so much the negation of the astral body, for they are apt to despise its hold, but they have a major difficulty in recognizing that which the mind is intended to reveal—the divine spiritual Self. Their lower concrete mind interposes itself between them and the vision.

Người thuộc cung bốn đặc biệt có khuynh hướng rơi vào ảo cảm và như vậy tạo ra một tình trạng cực kỳ khó khăn. Tôi có thể định nghĩa vấn đề của họ bằng cách nói rằng họ có khuynh hướng đưa các ảo tưởng của họ xuống cõi cảm dục và bao phủ các ảo tưởng này bằng ảo cảm, và hậu quả là sự khó khăn tăng gấp đôi; họ đối phó với sự kết hợp của ảo cảm và ảo tưởng. Tuy nhiên, họ là nhóm các linh hồn mà sau rốt sẽ khai mở bản chất đích thực của trực giác và đây sẽ là kết quả của trận chiến ảo tưởng − ảo cảm của họ trong thế giới sắc tướng.

Fourth ray people are peculiarly prone to fall into glamor and thus to produce a condition which is one of extreme difficulty. I might define their problem by saying that they tend to bring their illusions down to the astral plane and there clothe them with glamor and have [224] consequently a double problem upon their hands; they are faced with a unification of glamor and illusion. They are, however, the group of souls which will eventually reveal the true nature of the intuition and this will be the result of their illusory glamorous fight in the world of appearances.

NHẬN DIỆN VÀ XUA TAN ẢO CẢM (2)

 

Trong bài 2 này, Thầy Hiệu Trưởng bình giảng vềảo cảmcụthểcủa các cung được liệt kê trên các trang 120-125. Trên các trangnày, đức DK chỉliệt kê tên của các ảo cảm, rất vắn tắt và không giải thích chi tiết nào. Đôi khi các tên rất bí hiểm và không thểhiểu đượcnếu không được giải thích cụthể. Chẳng hạn như Ảo Cảm Con Nhện ỞTrung Tâm, hoặc Ảo cảm VịThần trong cỗmáy. Từbài này trởđi chúng tôi sẽdịch tóm tắt các bình giảngcủa Thầy Hiệu Trưởng vềảo cảm củacác Cung.

Như đã nói trong bài 1, các Cung được nêu ra ởđây có thểlà cung Linh hồn, Cung Phàm ngã, Cung Thểtrí và Cung cảm dục. Các bạn có thểthắc mắc tại sao linh hồn lại cóảo cảm? Thựctếảo cảm là ảo cảm của phàm ngã, nhưng phàm ngã có thểtiếp nhận ảnh hưởng của cung Linh hồn,làm biến dạng nóvà gây ra ảo cảm.

Qua phần học vềảo cảm của các Cung, khi các bạn nhận diện được ảo cảm của mìnhthuộc cung nào thì các bạn có thểsuy diễn cấu trúc cung của bạn, hoặc ngược lại, khi các bạn đã biết cấu trúc cungcủa mình thì có thểkhảo sát mình dễmắcnhững ảo cảm nào.

Trong nhóm đệtửthuộc Nhóm Trained Observers, có hai đệtửchịu ảo cảm nặng, do có chút khảnăng thông linh nêntiếp xúc với hình tư tưởng của Chân sư DK trên cõi trung giới,tin tưởng theo “vịThầy giảmạo”đó trong nhiều năm. Hai đệtửđó là I.B.S và L.T.S.K., và Chân sư DK đã phải tốn nhiều công sức đểmởcon mắt của hai đệtửnày.Đây là lời Chân sư DK nói vềđiều này:

Secondly, that I am much occupied with world work and, with the exception of the time of the Full Moon Approaches I cannot and do not occupy myself with any of you, as individuals. I am not seeking to get in touch with you, except once a month and then only with the group as a whole. I am not engaged ever in speaking words of wisdom and of cheer to any of you, except in one or two cases of dire need and difficulty, such as have not arisen in connection with any of you lately. Thirdly, that there is a potent thoughtform of me upon the astral plane, built by the thousands who have read my many words, and whose thoughts [Page 568] at such times are turned towards me in gratitude or criticism, in devotion or dislike. Thoughts, brother of mine, are things; they are creative, creating and created entities, and every time anyone
sees this thoughtform of me and responds to it, he increases its strength and power. From its magnetic aura, my disciples and followers must free themselves, for it is but man's thought of me, and not I myself. It can side-track and delude you; it can speak good words of mediocre cheer and encouragement, but they are not my words, and this I would have you bear in mind. Your sixth ray personality and your first ray astral body make you prone to this beautiful yet deceptive force, flowing from an illusory form.

Thứ hai, tôi rất bận rộn với công việc thếgiới và, ngoại trừthời gian Trăng Tròn, tôi không thểvà không bận tâmvới bất kỳai trong sốcác bạn, với tư cách các cá nhân. Tôi không tìm cách liên lạc với các bạn, ngoại trừmỗi tháng một lần và khiđó chỉvới toàn thểnhóm. Tôi không bao giờ tham gia vào việc nói những lời khôn ngoan và khen ngợi cho bất kỳ ai trong số các bạn, ngoại trừ một hoặc hai trường hợp rất cần thiết và gặp khó khăn khủng khiếp, chẳng hạn gần đây không phát sinh liên quan đến bất kỳai trong sốcác bạn. Thứba, có một hình tư tưởng mạnh mẽ của tôi trên cõi trung giới do hằng ngàn người đã đọc sách của tôi đã tạo ra, và những tư tưởng của họ vào những lúc đó hướng về tôi với lòng biết ơn hoặc phê phán, với lòng dâng hiến sùng tín hay là sự ghét bỏ. Hỡicác huynh đệcủa tôi, tư tưởng là hình thể, là các thực thểsáng tạo, được tạo ra và có thểgây ra hiệu quả(*),và mỗi khi ai đó thấy các hình thểnầy, đáp ứng với nó, y lại gia tăng sức mạnh và mãnh lực của hình tư tưởng đó. Các đệ tử của tôi và những người học theo tôi phải giải thoát mình khỏi hình tư tưởng đó, bởi vì đó chỉ là hình tư tưởng của người khác về tôi, không phải chính tôi. Nó có thể làm lạc hướng và đánh lừa bạn. Nó có thể ban phát những lời khích lệ, những lời khen ngợi vô thưởng vô phạt, nhưng đó không phải là lời nói của tôi, và bạn cần phải nhớ điều nầy. Cung phàm ngã của bạn là cung sáu và Cung thểtình cảm của bạn là cung Một khiến bạn dễbịảnh hưởng của các mãnh lực lường gạt nầy phát xuất từmột hình thểảo tưởng.

Thầy Hiệu Trưởng hài hước khi liên tưởng đến những vị Chân sư DK giả tràn lan trên internet, nói những lời “khen ngợi tầm thường”cho những ai tin tưởng. Thầy nói Chân sư DK có nhiều phẩm tính của cung 1, và Ngài rất nghiêm khắc với các sai sót của các đệtử. Nhiều lần bà Bailey phải xin Ngài giảm nhẹ sự nghiêm khắc trong thư gởi các đệtử, thế làm sao có thể có những lời khen ngợi, tán dương tầm thường mà ta thấy của các vị tự xưng là Chân sư DK!

Thầy Hiệu Trưởng cũng nhắc đến một chi tiết thú vịtrong bài trước. Đức DK nói người cung 3 và cung 6 không thểlà người giảng dạy được vì bản chất thiếu rõ ràng và dễbịảo cảm của họ, và Thầygiật mình vì Thầy cũng có cung 3 trong cấu trúc cung của mình????!

********************************************************

Chúng ta thường xuyên sống trong ảo cảm bởi vì chúng ta không nhìn thẳng, không nhìn thấy rõ, và thường là do phàm ngã của chúng ta đang cản trở chúng ta. Như đức DK nói, một trong những điều thực sự quan trọng là rời mắt của bạn ra khỏi phàm ngã, ra khỏi lãnh vực hoạt động của nó. Đó là một lời khuyên tuyệt vời bởi vì khi mắt của bạn tập trung vào phàm ngã, nó có xu hướng bóp méo thực tế xung quanh. Điều này không có nghĩa là bạn không thể kiểm tra bản thân vào những thời điểm thích hợp và đánh giá những gì đang diễn ra, nhưng một số người luôn nhìn vào phàm ngã của họ như thể đó đó là con người thật của họ, và đây chính là nguyên do của ảo cảm.

RAY I. <Pages 120,121>

The glamour of physical strength. [Because it calls attention to the lower self, and emphasizes the part over the whole. Something relatively non-essential is exaggerated in importance.

Ảo cảm của sức mạnh thể chất. Nó kêu gọi sự chú ý đến phàm ngã, và nhấn mạnh vào thành phần hơn là tổng thể. Ta phóng đại quá mức về sự quan trọng của cái không thiết yếu.

Đó là sự kêu gọi chú ý đến phàm ngã và nhấn mạnh vào một thành phần hơn là vào tổng thể. Đây là một vấn đề lớn khi bạn nhấn mạnh vào một phần của tổng thể và biến nó thành quan trọng hơn toàn bộ. Tất cả chúng ta có xu hướng làm như thế: phóng đại một cái gì đó tương đối không thiết yếu. Tôi thường cố gắng giải thích ảo cảm theo một cách đơn giản: nó làm cho mọi thứ trở nên quá lớn hoặc quá nhỏ bé, và điều thường xảy ra là những điều thực sự lớn, thực sự quan trọng của cuộc sống bị biến thành quá nhỏ bé, không quan trọng. Bạn phóng đại hoặc bạn giảm thiểu mọi thứ. Bạn biến một ngọn đồi nhỏ thành một quả núi to, hay bạn loại bỏ những điều thực sự quan trọng và khiến chúng trở nên không đáng kể. Vì vậy, có một ý thức chính xác về tỉ lệ của dấu hiệu Thiên Bình là quan trọng. Bạn phải có một sự cân bằng hoàn hảo, một quan điểm trọn vẹn và sự hiểu biết thiêng liêng. Nếu bạn có ba phẩm chất này của Thiên Bình thì rất có thể bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi ảo cảm. Sự thăng bằng hoàn hảo, một quan điểm hoàn chỉnh và sự hiểu biết thiêng liêng là ba yêu cầu đầu tiên của Tính không Gây Tổn Hại.

Định Luật IX của Trị Liệu Huyền môn:

Sự hoàn thiện đẩy sự bất toàn lên trên mặt. Luôn luôn cái thiện xua cái ác ra khỏi hình hài con người theo thời gian và không gian. Phương pháp được Đấng Hoàn Thiện sử dụng và những gì được Điều Thiện vận dụng là tính vô tổn hại. Đây không phải là tính tiêu cực, mà là sự cân bằng hoàn hảo, một quan điểm hoàn hảo và sự hiểu biết thánh thiện.

Rõ ràng, đó là điều khá tồi tệ và nó đã gây ra các cuộc chiến tranh thế giới và các tình huống khủng khiếp trong nhân loại. Mọi người tin rằng một cái gì đó sai và họ sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất để biến những điều sai lầm này xảy ra. Vì vậy, chúng ta phải có những phẩm chất này của Dấu hiệu Thiên Bình: cân bằng hoàn hảo, một quan điểm hoàn chỉnh có nghĩa là nhìn thấy bức tranh lớn và đừng đặt mình vào trung tâm mọi lúc, và sự hiểu biết thiêng liêng. Sự hiểu biết thiêng liêng đến từ đâu? Sự hiểu biết thiêng liêng đến từ một trạng thái tâm thức cao hơn bình thường của chúng ta. Vì vậy, nó giống như thể trí được linh hồn soi chiếu, có thể nhìn thấy như linh hồn thấy, hoặc một ngày đó thậm chí có thể nhìn thấy như Chân thần thấy bởi vì đó thực sự là bản thể thật của chúng ta.

The glamour of personal magnetism. [Calling attention to the "one at the center". This exalts the little, lower self. There is a self-centralization which, ultimately means the welfare of the whole is not seen or ignored.

Ảo cảm về từ tính cá nhân. [Kêu gọi sự chú ý đến "nhân vật ở trung tâm". Điều này đề cao phàm ngã. Có sự tập trung vào bản thân, có nghĩa là không nhìn thấy hoặc bỏ qua quyền lợi và hạnh phúc của toàn thể.

The glamour of self-centredness and personal potency. [This naturally deflects from soul guidance. There is a sensitivity to potency of course, but it should not be the potency of the personality. One exaggerates one's own importance in the larger field.

Ảo cảm của sự tập trung vào phàm ngã và tiềm năng cá nhân: khi bạn mắc ảo cảm này, bạn không lắng nghe linh hồn mà bạn chỉ lắng nghe chính mình. Đó là vấn đề với nhiều người cung 1. Họ nói tôi có thể xử lý nó. Vâng, bạn nhạy cảm với tiềm năng nhưng đó không nên là tiềm năng của phàm ngã tách rời của riêng bạn. Bạn phóng đại tầm quan trọng của riêng bạn, nhưng linh hồn nhìn thấy mọi thứ trong quan điểm rộng lớn. Thái độ “tôi có thể xử lý nó” không phải luôn luôn hoạt động.

The glamour of "the one at the centre."

Ảo cảm "nhân vật ở trung tâm." [Điều này nghịch lại tính bao gồm và tính thống nhất. Nó ngăn ta hiểu cái toàn thể lớn hơn. Đôi mắt của bạn luôn hướng về trung tâm của bạn và quên mất bức tranh tổng thể lớn hơn.

The glamour of selfish personal ambition.

Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ: bạn bị mù quáng bởi tham vọng của chính mình và bạn không thấy được vai trò quan trọng mà những người khác trong việc cải thiện toàn thể. Mọi người đều có một chút ý chí của Thượng đế, nhưng tôi là người duy nhất quan trọng và tôi sẽ áp ý chí của tôi lên ý chí của bạn, sau đó tôi sẽ ngăn cản ý chí của Chúa được thực hiện dù bạn có một phần ý chí đó, bạn không thể hiện được nó bởi vì tôi đang thống trị bạn. Do vậy, điều này sẽ chống lại phúc lợi của toàn thể.

The glamour of rulership, of dictatorship and of wide control.

Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài và của kiểm soát rộng rãi. [Một lần nữa quá quá coi trọng TRUNG TÂM. Kiến thức về cái Toàn thể là tối thiểu. Ngưỡng mộ bản thân, nghĩ rằng chỉ có bản thân mới có thể định hướng. Lấy đi sự tự định hướng của người khác. Khi "nhân vật ở trung tâm" trở nên quá lớn, nó sẽ lấy đi tiềm năng của người khác. Ảo cảm này thực sự là một hình thức đánh cắp sinh lực của người khác.

Tôi ở trung tâm, tôi là người duy nhất quan trọng. Thực sự bạn đang cướp đi của người khác sức sống, phần của họ, và mục đích thiêng liêng. Một lần nữa, bạn chỉ nghĩ về bản thân, vào khả năng của chính bạn. Đó là một sự biến dạng rất lớn bởi vì đó không phải là sự thật. Thật thú vị khi quân Vua trên bàn cờ hầu như bất lực trừ khi được bảo vệ bởi một số quân cờ khác như Hậu, Tượng, Mã… nên khi mắt bạn chỉ nhìn vào bản thân và bạn muốn kiểm soát mọi người khác, đó là ảo cảm lớn.

The glamour of the Messiah complex in the field of politics.

Ảo cảm về phức cảm Đấng Cứu Thế trong lãnh vực chính trị.

[Một lần nữa, chỉ MỘT NGƯỜI DUY NHẤT có thể giải quyết các vấn đề chính trị. Đây là ảo cảm rằng tôi là người duy nhất có thể giải quyết vấn đề của bạn. Điều này không đúng. Đó là phản dân chủ, là chế độ quân chủ. Bạn không thể áp đặt ý chí của bạn lên ý chí của tất cả những người khác, và không thể bỏ qua giá trị của những ý tưởng của người khác, bản chất của họ.

The glamour of selfish destiny, of the divine right of kings personally exacted.

Ảo cảm của vận mệnh ích kỷ, quyền thiêng liêng của các vị vua được đòi hỏi một cách cá nhân .

[Nhân vật ở Trung tâm là người quan trọng duy nhất. Không có hình ảnh lớn hơn. Nhân vật trung tâm là Nhà Vua và những người khác phải tuân theo vị Vua cá nhân. Tuy nhiên, Nhà vua không tuân theo ai khác ngoài chính bản thân mình. Do đó, có một sự tắc nghẽn năng lượng vì tầm quan trọng bản thân được phóng đại quá mức. Lĩnh vực tâm thức chỉ có nhưng một hình bóng lờ mờ hiện ra quá lớn—chính bản thân họ.

The glamour of destruction.

Ảo cảm của sự hủy diệt. [Thích thú với sự hủy diệt vì nó lại cảm giác của quyền lực, chứ không phải vì tính hữu dụng của nó đối với Thiên Cơ. 'Tôi hiện hữu vì tôi phá hủy.' Thế còn mục đích của sự huỷ diệt thì sao? Có thể không có một mục đích tốt đẹp nào, phá huỷ chỉ nhằm chứng tỏ quyền lực!

The glamour of isolation, of aloneness, of aloofness.

Ảo cảm về sự cô lập, cô đơn, tách biệt.

Tôi có quyền lực của mình. Tôi không muốn chạm vào người khác vì họ có thể nắm lấy quyền lực của tôi. Tôi cũng không muốn để họ chạm vào tôi vì họ có thể nắm quyền lực của tôi. Vì vậy, bạn hài lòng với sức mạnh của chính bạn và quên đi những người còn lại. Bạn bỏ qua toàn thể và bạn không sẵn sàng chia sẻ quyền lực của mình.

The glamour of the superimposed will—upon others and upon groups.

Ảo cảm của việc áp đặt Ý Chí lên những người khác và các Nhóm. [Nó làm cho con người cảm thấy mạnh mẽ hơn, đảm bảo tầm quan trọng của một người, việc không thể thay thế được. Tuy nhiên, nó tước đoạt từ con người ý chí của chính họ và do đó ngăn cản Mục Đích lớn hơn được hiện thực hóa..