SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Kiến thức Chu Dịch

Phần 1
CƠ SỞ CỦA KINH DỊCH

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH DỊCH

I.1. Định nghĩa chữ Dịch

Kinh là quyển sách. Dịch là sự chuyển dịch, là sự biến đổi. Nói một cách nôm na và cho dễ hiểu thì Kinh Dịch là một quyển sách nói về các sự biến đổi trong toàn bộ thế giới quanh ta.
Chữ Dịch gồm có 3 nghĩa: Bất Dịch, Giao Dịch và Biến Dịch.
- Bất Dịch: chẳng có gì thay đổi cả, âm dương trai gái gặp nhau mà không giao nhau thì chẳng có kết quả gì xảy ra. Càn vẫn là Càn, Khôn vẫn là Khôn
- Giao Dịch: là sự trao đổi, thảo luận giữa các sự vật và hiện tượng:
    Càn giao Khôn thì ra Tốn, Ly, Đoài
    Khôn giao Càn thì ra Chấn, Khảm, Cấn
- Biến Dịch: là kết quả của giao dịch. Khi đã có sự giao dịch, giống như sự mua bán. Khi mua nhà, nếu người mua không muốn mua, người bán không muốn bán thì nhà vẫn của người bán, tiền vẫn của người mua, chẳng có gì xảy ra cả. Khi hai ý định bán mua gặp nhau thì có giao dịch, đó là sự mặc cả. Cuộc giao dịch xong là đã gây nên sự biến dịch, đó là kết quả của sự bất dịch mới, người mua trở thành chủ sở hữu ngôi nhà, còn người bán trở thành chủ sở hữu của một món tiền tương ứng.

Do đó chữ Dịch bao gồm cả ba nghĩa, trong đó biến dịch là quan trọng nhất như trong triết học vẫn thường nói, vận động chính là phương thức của tồn tại. Ngoài ra còn có nhiều cách giải thích khác nhau như con thằn lằn thay đổi mầu sắc 12 lần trong một ngày, hoặc như sự dịch chuyển của mặt trời và mặt trăng.

I.2. Nguồn gốc Kinh Dịch:

Khởi thủy là Phục Hy ( 4477-4363 TCN ) còn gọi là Đào Hy, Thái Cao hay Thái Hạo tìm ra Hà Đồ khi trông thấy con long mã nổi lên trên sông Hoàng Hà, nhà vua ghi lại những chấm trên lưng con long mã giống như một bức đồ họa của sông Hoàng Hà, trên cơ sở đó, sau này Văn Vương đã xây dựng nên Hậu Thiên Bát Quái.

Khoảng hơn 2000 năm sau, Vua Hạ Vũ ( 2205-1766 TCN ) khi đi trị thủy trên sông Lạc tìm thấy trên lưng con rùa cũng có một bức đồ hình đặc biệt gọi là Lạc Thư. Từ đó ông tìm ra nhiều ứng dụng, một trong ứng dụng quan trọng nhất là cửu trù hồng phạm. Hơn 1000 năm sau, Chu Văn Vương, vào khoảng ( 1144 năm TCN ) trong khi nằm ở ngục Dữu Lý đã xếp lại quẻ Dịch của Phục Hy và viết thoán từ cho quẻ.

Sau đó Chu Công Đán là con của Chu Văn Vương đã đặt lời cho từng vạch một hay còn gọi là hào từ gồm có 384 hào của 64 quẻ. Ông gán cho mỗi hào một ý nghĩa ngắn gọn mang tính triết lý hoặc sự lành dữ, tốt xấu. Chu Văn Vương có tới 100 người con, người con đầu là Bá Ấp Khảo, người con thứ hai là Chu Võ Vương, người mà sau này tiêu diệt nhà Thương-Ân và lập nên vương triều nhà Chu, người con thứ tư là Chu Công Đán hay còn gọi là Chu Công, người viết tiếp Kinh Dịch của cha và người con thứ 100 của Chu Văn Vương là Lôi Chấn Tử. Người con này, trên đường về kinh, Văn Vương nhặt được, ông nhận nuôi và đặt tên là Lôi Chấn Tử nghĩa là đứa trẻ được sinh ra sau tiếng sấm nổ.

Vì các thoán từ vµ hào từ của Văn Vương và Chu Công quá vắn tắt và nhiều câu lơ lửng, khó hiểu nên Khổng Tử ( 551-479 TCN ) viết Thập Dực (mười cánh ) nhằm giải thích ý nghĩa thoán từ và những câu lơ lửng khó hiểu trong Kinh Dịch. Vì vậy tiên nho mới ví thập dực giống như mười cánh chim bay bổng, có ý nói Kinh Dịch đến đây là đã hoàn tất và có thể phát huy được hết ý nghĩa của nó.

THẬP DỰC GỒM

1. Thoán Thượng Truyện 6. HÖ Từ Hạ Truyện
2. Thoán Hạ Truyện 7. Văn Ngôn Truyện
3. Tượng Thượng Truyện 8. Thuyết Quái Truyện
4. Tượng Hạ Truyện 9. Tự Quái Truyện
5. Hệ Từ Thượng Truyện 10. Tạp Quái Truyện

Sau đó Khổng Tử chia làm hai thiên: Chu Dịch Thượng Kinh gồm 30 quẻ và Chu Dịch Hạ Kinh gồm 34 quẻ. Vì vậy Kinh Dịch do 5 người xây dựng nên, đó là:

1. Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hy
2. Lạc Thư và Cửu trù hồng phạm của Hạ vũ.
3. Thoán từ và HTBQ của Văn Vương.
4. Hào từ của Chu Công Đán.
5. Thập dực gồm 10 thiên truyện của Khổng Tử.

Ngoài ra các sách viết về Kinh Dịch rất nhiều, có tới 150 bộ gồm 1761 quyển của 158 tác giả nhưng tất cả đều xoay quanh nội dung của các tác giả nêu trên. Mặc dù như vậy, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều giả thuyết khác nữa về nguồn gốc của Kinh Dịch.

I.3. Các loại Kinh Dịch:

1. Liên Sơn Dịch: là sách Dịch nhà Hạ có từ thời Phục Hy.
2. Qui Tàng Dịch: là sách Dịch nhà Thương có từ thời vua Thần Nông, nông nghiệp phát triển nên lấy quẻ Khôn làm chủ.
3. Chu Dịch: là sách Dịch nhà Chu, đó là thời Chu Văn Vương, Chu Võ Vương khởi nghiệp, lúc này trình độ khoa học đã phát triển nên lấy quẻ Càn và Khôn làm chủ.

Trong Tứ Khố Toàn Thư Liên minh Mục Lục có 4 bộ: Kinh, Tử, Tập, Sử thì Kinh Dịch được xếp vào bộ Kinh. Ngày nay trong các Y văn không còn nhắc tới Liên Sơn Dịch và Qui Tàng Dịch nữa mà tất cả các sách về Dịch chỉ nói về Chu Dịch mà thôi

I.4. Bố cục của Kinh Dịch:

1. Bố cục theo cổ truyền:
- Chính kinh gồm Chu Dịch Thượng Kinh từ quẻ Càn tới quẻ Ly ( 30 quẻ ) và Chu Dịch Hạ Kinh từ quẻ Hàm tới quẻ Vị Tế ( 34 quẻ )
- Phần Dực Truyện có 6 truyện của Khổng Tử.
2. Bố cục theo lẽ thiên, nhân, địa:
- Giai đoạn Càn Khôn: là hai quẻ tượng trưng cho trời đất, là cha mẹ muôn loài, đó là giai đoạn tiên thiên
- Giai đoạn Hàm Hằng: là giai đoạn hậu thiên thuộc về con người mà tiêu biểu là mối quan hệ nam nữ, vợ chồng. Nhờ Hàm mà thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, nhờ Hằng mà tứ thời biến hóa nhi năng cửu thành.
-Giai đoạn ký tế và vị tế: ký tế là việc đã xong, đã sang sông, đã giúp nhau. Vị tế là chưa xong, chưa sang sông, chưa giúp nhau và vì vậy mới nối tiếp một vòng Dịch mới, tuần hoàn như năm tháng, như đời người giống như một chiếc vòng ngọc không có điểm nối ( chu nhi phục thỉ, như hoàn vô đoan ).

II. QUAN ĐIỂM CỦA NHO GIA VỀ KINH DỊCH

Theo Trình Di, gọi là Dịch mới có lý, nếu như xếp đặt nhất định thì có cái lý gì? Cuộc biến đổi của trời đất âm dương cũng như hai thớt cối xay, lên xuống đầy vơi, cứng mềm chưa từng dừng nghỉ. Dương thường hữu dư, âm thường bất túc cho nên mới không đều nhau. Ví như cối xay đã quay, răng của nó phải không bằng nhau, đã không bằng nhau thì sẽ sinh ra hàng vạn sự biến đổi.

Trong Kinh Dịch chỉ nói về lẽ tráo trở, đi lại, lên xuống. Làm Kinh Dịch từ trời đất, tối sáng cho đến cây cỏ, sâu bọ nhỏ nhặt, không có cái nào mà không thích hợp. Lý luận là vô hình, cho nên người ta mượn tượng để tỏ rõ lý, lý hiện ở lời thì có thể do lời mà biết tượng. Vì vậy nói rằng “ Hiểu được ý nghĩa của nó thì số sẽ ở bên trong ”.

Xem Kinh Dịch phải biết thời. Tất cả sáu hào ai ai cũng có thể dùng, ông thánh có chỗ dùng của ông thánh, ông hiền có chỗ dùng của ông hiền, người thường có chỗ dùng của người thường, kẻ có học có chỗ dùng của kẻ có học, vua có chỗ dùng của vua, tôi có chỗ dùng của tôi, không đâu là không thông suốt.

Chu Hy nói rằng: lúc đầu thánh nhân làm ra Dịch chỉ là ngửa xem cúi xét thấy rằng, đầy khoảng trời đất không có cái gì không phải là lẽ một âm, một dương, có lẽ ấy thì có tượng ấy, có tượng ấy thì số của nó tự ở bên trong. Chẳng những Hà Đồ, Lạc Thư như thế mà cái gọi là “ số ” kia cũng chỉ là những chỗ chia hạn, chừng mực ở mức độ nhất định. Được dương thì lẻ, được âm thì chẵn, càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ, các vật đều thế. Hà Đồ, Lạc Thư là thứ khéo hơn, rõ hơn mà thôi. Thánh nhân lúc đầu vạch quẻ chỉ vạch một vạch lẻ để hình dung khí dương, vạch một vạch chẵn để hình dung khí âm. Nhưng hễ có hai thì liền có bốn, hễ có bốn thì liền có tám và cứ thế lần lượt các hào vạch xuất hiện tới 64 quẻ với 384 hào. Trong khoảng trời đất này còn có cái gì khác nữa mà chỉ là hai chữ âm dương mà thôi. Bất kỳ việc gì đều không thể nào lìa được hai chữ âm dương. Hãy coi trọng thân thể mình, hễ mở mắt ra, chẳng là âm thì là dương, chẳng là nhân thì là nghĩa, chẳng cứng thì mềm. Tự mình muốn làm thẳng lên thì là dương, hễ mà thu lại, lùi lại thì là âm. Cùng bạn học thủa xưa, người học tiếp thì thành thầy, người học ít hơn thì làm thợ mà sự có học khác với sự không có học ở chỗ: người có học thì được người ít học nuôi và được lãnh đạo người ít học, người ít học hoặc không có học thì phải nuôi người có học và bị người có học sai khiến. Lẽ âm dương là vậy, nhưng nếu chỉ một âm một dương thì chưa đủ cai quản mọi lẽ, vì vậy thánh nhân mới xoay xoả âm dương thành 64 quẻ với 384 hào.

Dịch chỉ là âm dương giao đổi. Trong Dịch, các bậc tiên nho đều mượn chuyện hư không đặt ra. Nếu quẻ mà nói thẳng ra thì chỉ được một việc. Chỉ có cách nói bằng tượng thì lúc chiêm nghiệm mới có nhiều việc ứng được vào đó. Kinh Dịch là sách vì người quân tử mà làm ra hay còn gọi là sách của người quân tử. Kẻ tiểu nhân lấy bụng tiểu nhân mà xét đoán thì không làm sao hiểu được.

Tiên nho ( các bậc tiền bối về nho học ) nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính cho người quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”. Lời nói ấy thật chính xác. Ngày nay học Dịch, ta nên chia làm 3 bậc mà coi. Bậc một là Dịch của Phục Hy chỉ cốt dùng vào việc bói toán, khi vạch quẻ, Phục Hy chỉ có hào dương, hào âm, vạch liền, vạch đứt, chứ đâu có nhiều văn tự ngôn ngữ. Chỉ có quẻ ấy thì có tượng ấy như quẻ Càn có tượng là trời, quẻ Khôn có tượng là đất. Bậc hai là Dịch của Văn Vương và Chu Công Đán đã chia thành 64 quẻ và chú thích lời quẻ, lời hào nhưng vẫn mang màu sắc bói toán. Bậc ba là Dịch của Khổng Tử, đó chính là Thập Dực, Khổng Tử viết truyện để chú giải về lời thoán, về tượng số,… và chú trọng về tu thân xử thế trong đạo làm người quân tử.

Ngày nay nhiều người khi nói về Kinh Dịch, có khi họ chưa hiểu được tượng của Càn Khôn mà đã nói về cái lý của Càn Khôn.

Khi coi Dịch, cần chú ý khi chưa vạch quẻ, các hào dương, hào âm vẫn im lặng, không động, mừng giận, buồn vui chưa phát tiết, nó chỉ là cái rất rỗng, rất tĩnh . Đến khi vạch quẻ, khi tượng số hiện ra mới nói lên rất nhiều đạo lý về sự lành dữ. Cho nên Kinh Lễ chép rằng: “ khiết tĩnh tinh vi là giáo hoá của Kinh Dịch ”.

Kinh Dịch là thứ sách từ sự hư không mà làm ra. Kinh Thi thật có nhân tình mới làm ra các vần thơ bất hủ. Kinh Thư thật có chính sự mưu mô mới làm ra sách ấy. Kinh Xuân Thu chỉ chép lại các sự kiện lịch sử của thời Hậu Chu. Còn Kinh Dịch thì không có các sự kiện đã qua mà chỉ do từ sự hư không làm ra theo lý lẽ của âm dương trời đất. Trước khi có hào vạch, ở Kinh Dịch chỉ là một thứ hồn nhiên, ở con người ta là một tấm lòng yên lặng như tờ, đến khi có hào vạch người ta mới thấy hào vạch ấy có ý nghĩa như thế nào nhưng mà vẫn theo cái nghĩa rất mơ hồ nhưng cũng rất gần gũi giống như khi ta đến một vùng đất mới, lúc đến thì chưa có ấn tượng gì nhưng khi xa nó, chia tay nó, thì vùng quê ấy, vùng đất ấy trở nên một phần của cuộc đời ta.

Kinh Dịch khó xem không giống như sách khác, Kinh Dịch nói về vật nào không phải thật là vật ấy như nói rồng mà chẳng ai thấy rồng đâu hoặc trong ngành Y học cổ truyền nói thận mà chẳng phải là thận. Các sách khác thường nói thế nào thì thật là thế ấy, hiếu là hiếu, nhân là nhân. Trong Kinh Dịch có nhiều chỗ không sao hiểu được. Kinh Dịch khó xem, không ngôn ngữ nào có thể hình dung ra được. Bởi lời hào
chỉ là nói bóng tượng, mà ở trong đó không gì là không có.

Học Kinh Dịch có thể làm cho người học biết được quy luật của trời đất, biết sợ hãi, tu tỉnh mà theo đường chính. Học Dịch không phải khi gặp việc mới xem, mới biết run sợ mà phải đọc Dịch luôn luôn, trong lúc rỗi, ngẫm những đạo lý trong lời kinh so với địa vị của mình hiện tại thì nên sống ra sao?

Dịch có 4 điều thuộc về đạo của thánh nhân:

- Để nói thì chuộng lời
- Để hành động thì chuộng sự biến đổi
- Để chế đồ đạc thì chuộng hình tượng
- Để bói toán thì chuộng lời chiêm đoán của nó

Cái lẽ lành dữ, tiêu trưởng, cái đạo tiến lui, còn mất có đủ ở lời. Suy lời xét quẻ có thể biết được sự biến đổi. Người quân tử khi ở yên thì coi hình tượng mà ngẫm về lời lẽ của tượng, khi hành động thì coi sự biến đổi mà suy đoán, hiểu lời mà không đạt được ý thì có chứ chưa có ai không hiểu lời mà thông suốt được ý của nó bao giờ. Đó cũng là cái lẽ của người xưa dùng tĩnh chế động theo lý: “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Trong Kinh Dịch, tiên nho cho rằng, hào dương là quân tử hay đàn ông, hào âm là tiểu nhân hay đàn bà. Hào dương ở ngôi lẻ là quân tử được ngôi. Hào dương ở ngôi chẵn là quân tử không ngôi. Hào âm ở ngôi chẵn là tiểu nhân biết điều. Hào âm ở ngôi lẻ là tiểu nhân làm bậy.

Từ xưa tới nay ai cũng tin rằng Kinh Dịch là một bộ sách khó hiểu và đúng như vậy. Cái khó hiểu của Kinh Dịch không phải là ý tứ sâu xa mà tại lời văn chủng chẳng, rã rời, ngớ ngẩn như lời bọn đồng cốt, không đầu đuôi, không mạch lạc, có chỗ còn không đúng văn pháp. Có câu có thể hiểu theo mấy nghĩa mà chẳng thể bảo nghĩa nào là đúng, là sai. Tinh thần của Kinh Dịch là ở chỗ đó và khi đã hiểu được Dịch rồi thì có
sách nào mà không thể học nổi.

Kinh Dịch nên đọc những lúc trong lòng yên tĩnh mới tìm được ý nghĩa của nó và không nên giữ ý kiến riêng của mình, nếu là người từng trải thì càng lĩnh hội được nhiều ý tứ sâu xa của những lời kinh vu vơ trong Kinh Dịch.

( lược khảo Ngô Tất Tố và Phan Bội Châu );

+ Ngôi quẻ Càn:
-Ngôi 1: sơ cửu tương ứng với thứ dân
-Ngôi 2: cửu nhị tương ứng với các bậc trung phu, tư mục
-Ngôi 3: cửu tam tương ứng với các bậc quan khanh, đại phu
-Ngôi 4: cửu tứ tương ứng với các vị đại thần
-Ngôi 5: cửu ngũ tương ứng với ngôi vua
-Ngôi thượng: thượng cửu: tương ứng với trời, các bậc nguyên lão.

Nguồn: Trích từ sách KINH DỊCH DIỄN GIẢNG của THS. BS KIỀU XUÂN DŨNG

 

III. BÁT QUÁI VÀ TƯỢNG LOẠI CỦA VẠN VẬT

 

Tượng quẻ bao gồm ý nghĩa cả hai mặt: một là một vật cụ thể; hai là tượng vật khái quát trừu tượng. Vật cụ thể như càn là trời, là cha; khôn là đất, là mẹ; chấn là trưởng nam, tốn là trưởng nữ v.v… Vật khái quát trừu tượng thuộc loại cấp cao hơn tức âm và dương. Căn cứ sự giải thích của “Dịch truyện”, càn, khảm, cấn, chấn là quẻ dương; tốn, ly, khôn, đoài là quẻ âm. Hai quẻ hợp với nhau sẽ sản sinh ra sự đối kháng nhau giữa hai lực lượng âm , dương.

Dưới đây lần lượt giới thiệu tượng vật của tám quẻ và tượng vật khái quát, tức tượng loại của 64 quẻ.

1. TƯỢNG VẬT TÁM QUẺ

Tượng vật là lấy tượng quẻ của 8 quẻ kinh là cơ sở để phân biệt 8 loại sự vật lớn:

           

Bảng tượng tám quẻ gốc

 

            Trong bát quái Văn Vương,

            “Chấn” tượng trưng cho mùa xuân, phương đông. Mặt trời mọc từ phương đông chiếu lên vạn vật, chúa tạo ra vạn vật bắt đầu từ quẻ chấn.

            “Tốn” tượng trưng cho ranh giới giữa mùa xuân và hạ, phương đông nam. Quẻ tốn làm cho vạn vật sinh trưởng đầy đủ, làm cho vạn vật phân biệt rõ ràng.

            “Ly” tượng trưng cho mùa hạ, đại biểu phương nam. Chứng tỏ ngày đang ban trưa, phương nam chiếu rọi làm cho vạn vật hiện rõ.

            “Khôn” tượng trưng cho mùa cuối hạ sang thu, đại biểu phương tây nam. Nó tượng trưng cho quả đất nuôi dưỡng vạn vật.

            “Đoài” tượng trưng cho mùa thu, đại biểu cho phương tây, khiến cho vạn vật ra hoa, kết quả, vui mừng.

            “Càn” tượng trưng ranh giới giữa thu và đông, đại biểu cho Tây bắc. Vì sự cạnh tranh xen nhau giữa sáng và tối, âm và dương mà có hiện tượng đấu tranh.

            “Khảm” tượng trưng cho mùa đông, đại biểu cho phương bắc và nước. Lấy hình tượng nước chảy không ngừng để biểu hiện sự lao khổ, vất vả. Mặt trời lúc đó cũng chìm ẩn, mặt đất u ám, vạn vật mệt nhọc, nên nghỉ ngơi.

            “Cấn” tượng trưng ranh giới mùa đông và mùa xuân, đại biểu cho quẻ cấn xuất hiện phương đông bắc, mặt trời vừa ló rạng, u ám sắp qua, ánh sáng sắp đến, vạn vật sinh thành, kết thúc một vòng, đồng thời vòng mới sắp bắt đầu. Cho nên nói, quẻ cấn kết thúc tất cả. Đúng như thuyết quái của Dịch nói: “Quẻ cấn ở đông bắc, vạn vật kết thúc và cũng là bắt đầu”.

            Các tượng của bát quái, căn cứ đặc tính cơ bản của chúng lại có thể phân thành vật thuộc tượng đó.

            Quẻ càn/ 3 hào dương tạo thành, nên tính tượng thuần dương, chất cứng, lại vì càn là trời nên ngôi tượng ở cao, cho nên bất kể là sự vật trong tự nhiên hay xã hội, phàm thuộc dương tính và chất cứng và những vật ở cao đều thuộc quẻ càn.

            Quẻ khôn/ 3 hào âm, tính thuần âm, chất nhu, khôn là đất, ngôi tượng ở dưới. Phàm những vật thuộc tính âm, chất mềm, ở dưới thì đều thuộc tượng của quẻ khôn. Vì vậy hai quẻ càn, khôn là hình tượng tổng quát về dương âm, cương nhu.

            Quẻ chấn là sấm, thuộc dương, chất cương tính động, cho nên tượng quẻ chấn là những vật tính động, tính dương và cứng.

            Quẻ tốn là gió, thuộc quẻ âm, chất mềm, tính động. Do đó phàm những vật âm, mềm, trong mềm có cứng, trong tĩnh có động thì đều thuộc tượng quẻ tốn.

            Quẻ khảm là nước, thuộc quẻ dương, dương cứng. Phàm  nước mưa, mây, dân chúng đều thuộc tượng nước. Quẻ khảm còn là quẻ hiểm, gọi là gồ ghề hiểm trở, đó là vì nước sông to tạo nên hiểm trở.

            Quẻ ly là lửa, là quẻ âm, quẻ nhu, tượng sáng, đức sáng, vì “Ly là mặt trời”, ý là đức chiếu sáng, là trong dương có âm, trong nhu có cương.

            Quẻ cấn là núi, quẻ dương, vật chất cứng, tượng ở trên cao, cao quý, cao đức. Cấn còn có nghĩa là “Ngừng”, nên còn có nghĩa là vững như núi, như bàn thạch.

            Quẻ đoài là sông hồ, quẻ âm, chất mềm yếu, chỉ những vật ở phía dưới âm, nhu.

            Nội dung tượng vật bát quái rộng, phức tạp mà bí ảo, trong đó cái cơ bản nhất là tượng của bát quái. Không rõ tượng bát quái thì không hiểu được học thuyết bát quái. Cho nên nói làm rõ và nhớ được tượng loại của bát quái là phần cơ bản nhất để học cách dự đoán theo bát quái.

            “Tượng” đại biểu cho những sự vật có công năng giống nhau chứ không phải là những vật chất có các yếu tố giống nhau. Căn cứ sự phân chia của tượng bát quái quy thế giới thành tám loại lớn.

             Tượng càn

            Càn là trời, là vua, là cha, là thiên tử, là đế vương, tiên vương, là đại quân, quốc quân, đại tộc nhân, thánh nhân, thiện nhân, quân tử, võ nhân, hành nhân, kim phu, cao tôn, tổ khảo, là thần, là người, là tôn, tộc là rồng, ngựa, ngựa tốt, là vật, là vạn vật, là vàng, ngọc, là băng hàn, là cái đấu, áo, ngoại vi, là dã ngoại, là cửa, là đỉnh, là đầu, là suôn, là thẳng, là mạnh, là dễ, là kính nể, là sợ, là uy, là nghiêm, là cứng rắn, là đạo, là đức, là đức thịnh, là tốt, là hiền, là sinh động, là điều tốt, là khánh chúc, là vui mừng, là vinh dự, là phúc, là lộc, là trước, là bắt đầu, là lớn, là được, là đầy, là trị yên, là cao, là già, là xa, là mưu lớn, là không nghỉ, là trinh, là nguyên, là xoáy tròn, là hoang sơ, là bao tay.

            Tượng khôn

            Khôn là đất, là sau, là thần, là vợ, là dân, là bầy đàn, là số đông, là tiểu nhân, là thị dân, là bọn trộm cướp, là mẹ, là phụ nữ, là dì, là thành trì, là ruộng, là một bang, là nhà cửa, là gia trạch, là trên bộ, là bùn, là bế quan, là bò, là ngựa con, là xe lớn, là hông, là bình đựng, là đức dày, là ngọt, là béo, là thân thể, là cái cung, là mình, là tự mình, là vương (vua nước chư hầu), là yên, là trinh, là lợi, là giàu, là tích tụ, là đến, là dùng, là quy về, là nội dung, là kinh doanh, là dối lận, là mê, là muốn, là cú, là hại, là chết, là tang, là loạn, là chiều tối, là mười năm, là bạn, là tiền tài hàng hoá, là vuông vức, là quang minh chính đại, là thuận theo, là được về sau, là có kết thúc, là vô biên cương, là sự nghiệp.

            Tượng chấn

            Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả, là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hươu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâm vào, là trống, là ra, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là dơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh, là lời cáo, là vui, là kế giữ,xuất chinh.

            Tượng tốn

            Tốn là gió, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung, là người đi buôn, là trường mộc, là cỏ tranh, là thuốc, là gà, là cá, là súc vải, là giường, là cày cuốc, là dây, là liên hệ, là bắp đùi, là cánh tay, là tay, là nhìn xuống, là múa, là hát, là giải thoát, là trắng, là cao, là nhập vào, là phục ẩn, là tiến thoái, là không quyết, là mệnh, là hành sự,hiệu lệnh, là phong tục, là nhìn thấy, là của cải.

            Tượng khảm

            Khảm là nước, là mặt trăng, là mương rãnh, là hồng hà, là sông lớn là khe sâu, là giếng, là suối lạch, là mây, là mưa, là thánh, là trung nam, là khách, là giặc phỉ, là kẻ cướp, là kẻ trộm, là ba tuổi, là ba trăm, là hưng thịnh, là ngựa, là lợn, là cô độc, là gỗ tạp, là cung đàn, là ách cày, là hình cung, là phép tắc, là luật, là hình phạt, là cái tai, là thuận theo, là mông đít, là chết, là máu, là lao khổ, là tâm, là ý chí, là cảnh giác, là lo buồn, là hối hận, là nghi ngờ, là lo lắng, là bệnh tim, là hiểm trở, là ẩn phục, là hung sự, là ham muốn, là độc, là học tập, là tụ lại, là quy về, là nhộn nhịp, là thường thường, là đến, là nhuận ướt, là điện, là gian khó, là rượu chè ăn uống, là kem.

Tượng ly

            Ly là hoả, là mặt trời, là điện, là đại nhân, là trung nữ, là mẹ, là phụ nữ, là em gái, là chủ nhân, là người ác, là bụng trên, là tháng, là cửa, là hộ gia đình, là quỷ, là góc, là hình phạt, là lao ngục, là vó lưới, là bình lọ, là bếp núc, là dao, là rìu, là mũi tên, là bay, là gia cầm chim chóc, là con bò, là văn chương, là màu vàng, là nhìn thấy, là đi lại, là trí khôn, là đại cát, là lông vũ, là thiêu cháy, là chói sáng, là lỗ mũi, là đắng.

Tượng cấn

            Cấn là núi, là đá, là cát, là miếu thờ, là môn đình, là cung thất, là thành trì, là nhà trọ, là ngõ hẻm, là đường tắt, là huyệt, là gò đồi, là thung lũng, là khô, là thiếu nam, là quân tử, là hiền nhân, là người thâm trầm, là đệ tử, là tiểu nhân, là cô đơn, là trẻ thơ ngây, là chúa, là lỗ mũi, là tay, là ngón tay, là lưng, là ngày cuối tháng, là đêm, là đuôi, là da, là hổ, là báo, là chuột, là ngôi sao nhỏ, là ngày kết thúc, là gỗ nhỏ, là quả to, là ngô, là hoa lệ, là ngừng, là thận trọng, là tiết lễ, là chấp chính, là dẫn dắt, là chọn lấy, là cầu tìm, là đưa dắt, là nạp vào, là nắm lấy, là nhiều, là dày, là trung thành, thật thà, là tích đức,biết nhiều, là tin, là nhớ đến, là nhỏ, là xấu hổ, là nghỉ, là nhàn, là ở, là thôi, là đề phòng, là ngôi thứ,.

Tượng đoài

            Đoài là sông hồ, là thiếu nữ, là em dâu, là em gái, là vợ, là thiếp, là bạn, là cãi vã,nói năng, là miệng, là nhìn thấy, là giảng dạy, là dạy dỗ, là người tù, là chuốc lấy, là hưởng thụ, là hổ, là dê, là gia súc, là bên phải, là phía tây, là phía dưới, là nó, là mỹ dung, là vàng, là vóc.

 

TIÊN THIÊN - HẬU THIÊN BÁT QUÁI

VÀ TỔNG HỢP TƯỢNG LOẠI VẠN VẬT THEO TÁM QUẺ THUẦN

KHẨU QUYẾT TIÊN THIÊN BÁT QUÁI (QUAY NGHỊCH)

VÀ SỰ THÀNH CỦA HẬU THIÊN BÁT QUÁI (QUAY THUẬN CHIỀU)

+ Khẩu quyết Tiên Thiên Bát Quái: 

- Khẩu quyết: Thiên Địa định vị; Sơn Trạch thông khí; Chấn Phong tương bạc; Thủy Hỏa bất tương xạ

- Bốn phương - Số: 1-6/ Thủy/ Phương Bắc; 2-7/ Hỏa/ Phương Nam; 3-8/ Mộc/ Phương Đông; 4-9/ Kim/ Phương Tây; 5-10/Thổ/ Trung ương

+ Số Sinh - Thành của Quẻ Tiên thiên Bát quái (Dưới đây lấy theo Thiệu Khang Tiết - Trung Quốc): 

- Đạo Trời/ Dương/ Số sinh / Quay trái: Từ phía trên, Nam/ Đông Nam/ Đông/ Đông Bắc <=> Càn 1 / Đoài 2 / Ly 3 / Chấn 4

- Đạo Đất/ Âm/ Số thành/ Quay phải: Từ phía trên Tây Nam/ Tây/ Tây Bắc/ Bắc <=> Tốn 5 / Khảm 6 / Cấn 7 / Khôn 8  

Tiên Thiên bát quái

(Chiều Nghịch)

NAM - Hỏa
2 và 7

Đông Nam

ĐÔNG - Mộc
3 và 8

Đông Bắc

BẮC - Thủy
1 và 6

Tây Bắc

TÂY - Kim
4 và 9

Tây Nam

 Tên Quẻ

CÀN - 1

Đoài - 2

LY - 3

Chấn - 4

KHÔN - 8

Cấn - 7

KHẢM - 6

Tốn - 5

Hậu thiên
Bát Quái

(Chiều thuận)

CÀN - 6

KHẢM - 1

CẤN - 8

CHẤN - 3

 TỐN - 4

LY - 9

KHÔN - 2

ĐOÀI - 7

 4 Phương

Đông Bắc

Phương Bắc

Đông Bắc

Phương Đông

Đông Nam

Phương Nam

Tây Nam

Phương Tây

Tên khác

CÀN / Thiên

ĐOÀI / Trạch

LY / Hỏa

CHẤN / Lôi

KHÔN / Địa

CẤN/ Sơn

KHẢM / Thủy

TỐN / Phong

 

Tổng hợp - Ghi gộp Số Tiên Thiên và Hậu thiên theo Quẻ Hậu Thiên

Tiên/ Hậu

CÀN 1 / 6

KHẢM 6 / 1

CẤN 7 / 8

CHẤN 4 / 3

TỐN 5 / 4

LY 3 / 9

KHÔN 8 / 2

ĐOÀI 2 / 7

 

 

TỔNG HỢP CÁC TƯƠNG ỨNG 8 QUẺ THUẦN CỦA HẬU THIÊN BÁT QUÁI

 

Hậu Thiên

CÀN ( 6 )

KHẢM ( 1 )

CẤN ( 8 )

CHẤN ( 3 )

TỐN ( 4 )

LY ( 9 )

KHÔN ( 2 )

ĐOÀI ( 7 )

 

Ngũ hành

Kim

Thuỷ

Thổ

Mộc

Mộc

Hoả

Thổ

Kim

 

Hệ thống

Thiên long cẩu,

Thiên sơn độn,

Thiên địa phủ,

Phong địa quan,

Sơn địa bóc,

Hoả địa tấn,

Hoả thiên đại hữu.

Thuỷ trạch tiết,

Thuỷ lôi truân,

Thuỷ hoả ký tế,

Trạch hoả cách,

Lôi hoả phong,

Địa hỏa minh di,

Địa thủy sư.

Sơn hỏa bôn,

Sơn thiên đại súc,

Sơn trạch ổn,

Hỏa trạch khuê,

Thiên trạch lý,

Phong trạch trung phù,

Phong sơn tiệm

Lôi địa dự,

Lôi thuỷ giải,

Lôi phong hằng,

Địa phong thăng,

Thuỷ phong tỉnh,

Trạch phong đại quá,

Trạch lôi tuỳ.

Phong thiên tiểu súc,

Phong hoả gia nhân,

Phong lôi ích,

Thiên lôi vô vọng,

Hoả lôi phệ hạp,

Sơn lôi di,

Sơn phong cổ.

Hỏa sơn lữ,

Hỏa phong đỉnh,

Thủy hỏa vị tế,

Sơn thủy mông,

Phong thủy hoán,

Thiên thủy tụng,

Thiên hỏa đồng nhân

Địa lôi phục,

Địa trạch lâm,

Địa thiên thái,

Địa thiên đại tráng,

Trạch thiên phù,

Thuỷ thiên nhu

Thuỷ địa tỉ.

Trạch thủy khốn,

Trạch địa tụy,

Trạch sơn hàm,

Thủy sơn kiểm,

Địa sơn khiêm,

Lôi sơn tiểu quá,

Lôi trạch qui muội.

 

Tượng trưng

Trời

Nước

Núi

Sấm

Gió

Lửa

Đất

Ao đầm

 

Thời tiết

Băng, đá, ráng mây, mặt trời

Mưa, trăng, tuyết, sương mù mù

Mây, mù

Sấm

Gió

Mặt trời, điện, ráng đỏ, cầu vồng

Mây, âm, u, sương mù

Mưa, lầy, ao, trăng non

 

Địa lý

Phương tây bắc.

Kinh đô.

Quận lớn.

Danh lam thắng địa.

Nơi cao ráo.

Phương bắc.

Sông hồ.

Khe suối.

Giếng sâu.

Nơi ẩm ướt.

Phương đông bắc.

Đường tắt qua núi.

Cạnh núi đồi.

Lăng mộ.

Phương đông.

Cây cối.

Chợ búa.

Xa cuộc đi xa.

Tre pheo, lau cỏ.

Chỗ rậm rạp.

Vùng đông nam.

Nơi cây cỏ rậm rạp.

Vườn cây ăn quả.

 

Phương nam.

Chỗ khô ráo.

Chỗ lò luyện.

Chỗ khô cứng.

Chỗ nắng ráo.

Phương tây nam.

Ngoài đồng ruộng.

Nông thôn.

Bình địa.

Phương tây.

Ao đầm.

Chỗ nước nhiều.

Chỗ trũng.

Chỗ giếng cũ, hào rãnh.

 

Nhân vật

Vua, cha, đại nhân, người già, bậc trưởng giả, danh nhân, người nhà nước.

Trung nam

Người giang hồ; thuyền nhân.

Bọn trộm cướp.

Thiếu nam

Người nhàn rỗi

Người ở trong núi.

Trưởng nam

Trưởng nữ

Tu sĩ

Quản phụ

Người ẩn giật trên núi

 

Trung nữ

Văn nhân

Người bụng to, mắt có tật

Cụ già, mẹ kế, vợ, người thôn quê, nhiều người, người bụng to bệ vệ.

Thiếu nũ, tì thiếp, ca kỹ nữ, thầy bói.

 

Nhân sự

Cứng; khỏe; võ; thông; quả quyết, động nhiều; tĩnh ít; cao, trên.

Rơi vào chỗ thấp kém; yếu đuối bề ngoài; trôi dạt bất định; nước chảy bèo trôi.

Cách trở; khoanh tay ngồi chờ; tiến thoái chần chừ; quay lưng; ngừng lại; không gặp.

Khởi động; giận; lo vô cớ; nhảy cẫng; hay động.

Nhu hoà; không nhất định; cổ vũ; tiến thoái ngập ngừng.

Có sở trường về văn học; thông minh học giỏi; khiêm tốn; việc sách vở.

Tiếc; nhu; thuận; nhu nhược; nhiều người.

Vui mừng; Miệng lưỡi; dèm pha; nói phỉ báng người khác; ăn uống.

 

Thân thể

Đầu, xương phổi

Tai, máu, thận.

Tay, xương, lỗ mũi, lưng.

Chân, gan, tóc, thanh âm.

Cánh tay, đùi, khí, bệnh phong.

Mắt, tim, thượng tiêu.

Bụng, lá lách, dạ dày, thịt.

Lưỡi, miệng, phổi, đờm dãi.

 

Thời gian

Mùa thu, giao thời giữa tháng 9 và tháng 10, năm tháng ngày giờ tuất hợi, năm tháng ngày giờ ngũ kim.

Tháng 11 mùa đông; năm tháng ngày giờ tý, tháng ngày 1, 6.

Tháng 12 của đông xuân, năm tháng ngày giờ sửu dần; tháng ngày 5,7,10

Tháng 3, mùa xuân; năm tháng ngày giờ mão; tháng 3, 4; tháng ngày 8.

Giao thời giữa xuân và hạ; tháng ngày giờ 3, 5, 8; tháng 3, tháng 4, năm tháng ngày giờ thìn tỵ.

Tháng 5 mùa hạ; năm tháng ngày giờ ngọ hoả, ngày 2, 3, 7

Tháng thìn tuất sửu mùi, năm tháng ngày giờ mùi thân, tháng ngày 5, 8, 10.

Tháng 8 mùa thu; năm tháng ngày giờ ngũ kim; tháng ngày 2, 4, 9.

 

Động vật

Ngựa, thiên nga, sư tử, voi.

Cá, các con vật trong nước.

Hổ, chó, cầm thú.

Rồng, rắn.

Gà, cầm thú, sâu bọ trong rừng sâu.

Chim trĩ, rùa, ốc, cua.

Trâu, cầm thú, ngựa con.

Dê, các con vật trong đầm lầy.

 

Tính vật

Vàng ngọc, vật quý, vòng chuỗi, vật cứng, vòng kính.

Quả có nước, quả có hạt, vật hình cung, bình đựng rượu, bình đựng nước.

Đất, đá, quả dưa, vật màu vàng, vật vùi trong lòng đất

Tre nứa, nhạc cụ bằng gỗ, vật loại cây cỏ tươi.

Mộc hương, dây thừng, vật bằng tre gỗ dài, các vật dụng bằng đồ gỗ chạm khắc.

Sách, tài liệu, ảo học, vật khô héo, vật màu đỏ.

Vật vương, vật mềm, vải vóc, tơ gấm, lúa gạo, đồm sứ, búa rìu.

Nhẫn vàng, vật bằng vàng, nhạc khí, vật phế thải.

 

Nhà cửa

Công sở, nhà lầu, cao ốc, nhà ở hướng tây bắc.

Gần nước, lầu trên nước, quán trà, tửu lầu, chỗ ẩm ướt trong nhà, nhà hướng bắc.

Nhà trong núi đá, nhà gần đường đi, nhà hướng đông bắc.

Chỗ trong rừng sâu, nhà gác.

Chùa, lầu quan sát, nhà trong rừng, nhà hướng đông nam.

Nhà ỏ chỗ sáng sủa, cửa sổ lấy ánh sáng, nhà hướng nam.

Thôn xóm, nhà thấp bé nhà ở phía tây nam.

Nhà gần ao đầm, nhà tường vách đổ nát, nhà rách nát, nhà hướng tây.

 

Gia trạch

Được nhà vào mùa thu thì hưng thịnh, được nhà mùa hạ thì không tốt, được vào mùa đông nhà cô vắng, được mùa xuân thì tốt.

Không yên ổn, ám muội, đề phòng trộm cắp.

Ở yên ổn, công việc hay trắc trở người nhà không hoà thuận, được nhà vào mùa xuân không yên ổn.

Ở trong nhà có lúc kinh sợ; được nhà vào mùa xuân, đông thì tốt, được nhà vào mùa thu thì không lợi.

Yên ổn, lợi, được nhà mùa xuân tốt, mùa thu không tốt.

Yên ổn, được nhà vào mùa đông phải đề phòng hoả hoạn.

Yên ổn, nhiều âm khí, được nhà ở mùa xuân ở không yên ổn.

Không yên ổn, đề phòng cãi nhau, được nhà vào mùa thu thì vui mừng, mùa hạ dễ có tai vạ.

 

Hôn nhân

Nhà quan quý, nhà có thanh danh.

Không thành, lợi cho trưởng nữ.

 

Nhà khá giả, có danh tiếng, trưởng nam thì hôn nhân có lợi.

Lợi cho trưởng nam, lợi về phương bắc, không được kết hôn các tháng thìn tuất sửu mùi.

Trắc trở khó thành, thành thì đã muộn; lợi cho con trai út.

Gia đình đó có đóng thuế, gia đình nông thôn, nhà quả phụ.

Không lợi, giận dỗi hại cho thai, sinh con gái.

 

Ăn uống

Thịt ngựa, thức ăn quý, nhiều xương, gan phổi, thịt khô, hoa quả, đầu các con vật, vật hình tròn, vật cay.

Thịt lợn, đồ lạnh, hải sản, canh chua cá, lẫn huyết, các loại rau muối, vật có hạt, có nhân.

Vật vùi trong đất, thịt các loài thú, trúc măng ở cồn bãi

Thịt ở bàn chân, đồ nướng thịt rừng, thịt tươi, quả chua, rau.

Thịt gà, thịt loài vật ở rừng, rau, thức ăn chua.

Thịt gà, thức ăn quạt nướng, thịt khô.

Thịt dê, vật sống trong đất, vị ngọt, thức ăn dân dã, ngũ cốc, vật ở vùng bụng.

Thịt dê, thịt các vật trong đầm, có vị cay.

 

Sinh đẻ

Dễ sinh, ngồi nên ngoảnh phía tây bắc, mùa thu dễ sinh quý tử, mùa hạ dễ tổn thương.

Khó đẻ nguy hiểm, nên là con thứ, sinh vào các tháng thìn tuất sửu mùi thì không lợi.

Khó sinh, có nguy hiểm, nên ngồi hướng đông bắc

Hay kinh sợ, thai động không yên thai, có thai lần đầu thường là con trai, nên ngồi hướng đông

Thai lần đầu sinh con gái, gieo quẻ vào mùa thu hại thai, nên ngồi hướng đông nam.

Dễ sinh, đẻ con gái thứ, nên ngồi hướng nam.

Mùa xuân khó đẻ hoặc không lợi cho mẹ, dễ ngồi, nên ngồi theo hướng tây nam

E là thai có bị tổn hại, hoặc sinh con gái,

 

Cầu danh

Có danh, dễ nhậm chức toà án, nắm quyền quan võ, hợp hướng tây bắc, quan trạch mã (liên lạc), quan thiên sứ.

Gian nan, dễ rơi vào tai vạ, dễ nhậm chức phía bắc, dễ làm nghề quản lý cá, muối…

Trắc trở, không có danh, nhậm chức ở phía bắc, đông bắc, chức quản lý công nghiệp, chức vùng núi.

Hợp với nhậm chức ở phương đông, chức ra mệnh lệnh, chức cai ngục, chức thu thuế hàng lâm nghiệp.

Hợp với nhậm chức phương đông nam, chức văn thư, chức thu thuế các hành tre và gỗ.

Dễ nhậm chức phía nam, chức quan văn, chức lò luyện, hầm hào.

Có danh, hợp hướng tây nam, dễ làm chức dạy học, chức trông coi đất đai.

Khó thành, vì danh mà bị tổn thất, dễ là quan toà, võ chức, người phiên dịch

 

Mưu lợi

Có thành, lợi cho việc công, thu được tiền, của trong hoạt động, mùa hè đoán quẻ thì không lợi, mùa đông đoán quẻ thì  nhiều mưu nhưng thành đạt ít.

Không nên cầu mưu, thành công thì không có lợi, mùa thu, đông cầu mưu có hy vọng.

Cách trở khó thành, tiến thoái chần chừ.

Nên hy vọng, nên cầu lợi, mưu meo linh hoạt.

Có mưu lợi, có được của, có thể thành.

Có thể mưu lợi, nên làm chức văn thư.

Nên cầu lợi ở nông thôn, trong tĩnh thu được lợi, hoặc được lợi ở phụ nữ.

Khó thành, khi cầu mưu bị tổn thất, mùa thu xem quẻ thì có tin mừng, mùa hạ không toại nguyện.

 

Giao dịch

Thích hợp với giao dịch về vàng ngọc châu báu, dễ thành, mùa hạ chiếm có lợi.

Sợ sa lầy, nên giao dịch ở nơi gần nước hoặc người ở gần nước.

Khó thành, có sự giao dịch về núi rừng ruộng vườn.

Lợi về giao dịch, động có thể thành, lợi về các hàng lâm thổ sản.

Có thể thành, tiến thoái bất nhất, lợi trong giao dịch, lợi về hàng lâm nghiệp như gỗ, tre, nứa, chè.

Có sự giao dịch về văn thư.

Thích hợp với giao dịch về điền thổ, dễ có lợi về ngũ cốc.

Khó thu lợi đề phòng cãi vã, có cạnh tranh.

 

Xuất hành

Lợi về xuất hành, nên vào kinh đô, đi phía đông bắc có lợi, quẻ mùa hè không lợi

Không nên đi xa, nên đi thuyền, nên đi phía bắc, đề phòng cướp, có thể gặp việc nguy hiểm.

Không nên đi xa, có trở ngại, nên đi bộ, đi gần.

Lợi về phương đông, lợi với người miền núi.

Có cả lợi cả hại, nên đi hướng đông nam.

Nên đi về hướng nam, đi vì việc văn thư, không nên đi thuyền.

Có thể đi, nên đi phía tây nam, đi về nông thôn, đi bộ, quẻ mùa xuân không nên đi.

Không nên đi xa, đề phòng cãi vã, nên đi phía tây, quẻ mùa thu nên đi, có lợi.

 

Mong gặp

Dễ gặp đại nhân, người có đức hạnh sẽ gặp được người giàu sang.

Khó gặp, dễ gặp người gianh hồ hoặc người họ tên có chữ thuỷ bên cạnh.

Không gặp được có trở ngại, gặp người miền núi.

Dễ gặp người miền núi, dễ gặp người có danh tiếng.

Dễ gặp người miền núi, dễ gặp văn nhân, tài sĩ.

Dễ gặp người phương nam, quẻ mùa đông không thuận, mùa thu gặp người văn nhân, tài sĩ.

Có thể gặp, dễ gặp người nông thôn, bạn quen, người đã mất, mùa xuân không nên gặp.

Đi gặp người ở phía tây, có chửi rủa nhau.

 

Bệnh tật

Bệnh ở đầu, mặt, bệnh về phổi, gân, xương, ở thượng tiêu.

Đau tai, đau tim, cảm hàn, bệnh thận, dạ dày lạnh đi ngoài.

Bệnh ở ngón tay, dạ dày.

Bệnh ở chân, ở gan,, lo sợ vu vơ.

Bệnh tê, phong thấp, ở cánh tay, bắp đùi, trúng phong, cảm hàn.

Bệnh đau mắt, đau tim, bệnh ở thượng tiêu, bệnh nhiệt, bệnh dịch.

Bệnh về bụng, dạ dày do ăn uống ngưng trễ; bệnh ăn không tiêu.

Bệnh ở cổ họng, miệng, nôn ngược, ăn uống không điều hoà

 

Phương hướng

Tây bắc

Bắc

Đông bắc

Đông

Đông nam

Nam

Tây nam

Tây

 

Màu sắc

Màu đỏ, màu hồng huyển

Đen

Vàng

Xanh da trời, mùa lục, ngọc bích.

Xanh lục ngọc bích sáng.

Đỏ, tím

Vàng đen

Trắng

 

Họ tên

Có chữ kim bên cạnh, hàng 1, 4, 9.

Hàng thứ 1, 6.

Tên họ có chữ thổ bên cạnh, hàng thứ 5, 7.

Tên họ có chữ mộc, hàng 4, 8, 3.

Tên họ có chữ mộc, hàng thứ 5, 3, 8.

Trong tên họ có chữ thứ hoặc chữ nhân đứng, hàng thứ 3, 2, 7.

Âm thổ bên cạnh, hàng thứ 8, 5, 10.

Tên họ có chữ khẩn, chữ kim, chữ hệ bên cạnh, hàng thứ 4, 2, 9.

 

Chữ số

1, 4, 9

1, 6

5, 7

4, 8, 3

5, 3 8

3, 2, 7

8, 5, 10

4, 2, 9

 

 

CÀN

KHẢM

CẤN

CHẤN

TỐN

LY

KHÔN

ĐOÀI

 

 

Tiên/ Hậu

CÀN 1 / 6

KHẢM 6 / 1

CẤN 7 / 8

CHẤN 4 / 3

ĐOÀI 2 / 7

KHÔN 8 / 2

LY 3 / 9

TỐN 5 / 4

 

 

 

Tượng đoài

                Đoài là sông hồ, là thiếu nữ, là em dâu, là em gái, là vợ, là thiếp, là bạn, là cãi vã, là nói năng, là miệng, là nhìn thấy, là giảng dạy, là dạy dỗ, là người tù, là chuốc lấy, là hưởng thụ, là hổ, là dê, là gia súc, là bên phải, là phía tây, là phía dưới, là nó, là mỹ dung, là vàng, là vóc.

 

 

Tượng càn

                Càn là trời, là vua, là cha, là thiên tử, là đế vương, tiên vương, là đại quân, quốc quân, đại tộc nhân, thánh nhân, thiện nhân, quân tử, võ nhân, hành nhân, kim phu, cao tôn, tổ khảo, là thần, là người, là tôn, tộc là rồng, ngựa, ngựa tốt, là vật, là vạn vật, là vàng, ngọc, là băng hàn, là cái đấu, áo, ngoại vi, là dã ngoại, là cửa, là đỉnh, là đầu, là suôn, là thẳng, là mạnh, là dễ, là kính nể, là sợ, là uy, là nghiêm, là cứng rắn, là đạo, là đức, là đức thịnh, là tốt, là hiền, là sinh động, là điều tốt, là khánh chúc, là vui mừng, là vinh dự, là phúc, là lộc, là trước, là bắt đầu, là lớn, là được, là đầy, là trị yên, là cao, là già, là xa, là mưu lớn, là không nghỉ, là trinh, là nguyên, là xoáy tròn, là hoang sơ, là bao tay

Tượng khảm

                Khảm là nước, là mặt trăng, là mương rãnh, là hồng hà, là sông lớn là khe sâu, là giếng, là suối lạch, là mây, là mưa, là thánh, là trung nam, là khách, là giặc phỉ, là kẻ cướp, là kẻ trộm, là ba tuổi, là ba trăm, là hưng thịnh, là ngựa, là lợn, là cô độc, là gỗ tạp, là cung đàn, là ách cày, là hình cung, là phép tắc, là luật, là hình phạt, là cái tai, là thuận theo, là mông đít, là chết, là máu, là lao khổ, là tâm, là ý chí, là cảnh giác, là lo buồn, là hối hận, là nghi ngờ, là lo lắng, là bệnh tim, là hiểm trở, là ẩn phục, là hung sự, là ham muốn, là độc, là học tập, là tụ lại, là quy về, là nhộn nhịp, là thường thường, là đến, là nhuận ướt, là điện, là gian khó, là rượu chè ăn uống, là kem.

Tượng khôn

                Khôn là đất, là sau, là thần, là vợ, là dân, là bầy đàn, là số đông, là tiểu nhân, là thị dân, là bọn trộm cướp, là mẹ, là phụ nữ, là dì, là thành trì, là ruộng, là một bang, là nhà cửa, là gia trạch, là trên bộ, là bùn, là bế quan, là bò, là ngựa con, là xe lớn, là hông, là bình đựng, là đức dày, là ngọt, là béo, là thân thể, là cái cung, là mình, là tự mình, là vương (vua nước chư hầu), là yên, là trinh, là lợi, là giàu, là tích tụ, là đến, là dùng, là quy về, là nội dung, là kinh doanh, là dối lận, là mê, là muốn, là cú, là hại, là chết, là tang, là loạn, là chiều tối, là mười năm, là bạn, là tiền tài hàng hoá, là vuông vức, là quang minh chính đại, là thuận theo, là được về sau, là có kết thúc, là vô biên cương, là sự nghiệp.

 

 

Tượng cấn

                Cấn là núi, là đá, là cát, là miếu thờ, là môn đình, là cung thất, là thành trì, là nhà trọ, là ngõ hẻm, là đường tắt, là huyệt, là gò đồi, là thung lũng, là khô, là thiếu nam, là quân tử, là hiền nhân, là người thâm trầm, là đệ tử, là tiểu nhân, là cô đơn, là trẻ thơ ngây, là chúa, là lỗ mũi, là tay, là ngón tay, là lưng, là ngày cuối tháng, là đêm, là đuôi, là da, là hổ, là báo, là chuột, là ngôi sao nhỏ, là ngày kết thúc, là gỗ nhỏ, là quả to, là ngô, là hoa lệ, là ngừng, là thận trọng, là tiết lễ, là chấp chính, là dẫn dắt, là chọn lấy, là cầu tìm, là đưa dắt, là nạp vào, là nắm lấy, là nhiều, là dày, là trung thành, thật thà, là tích đức, là biết nhiều, là tin, là nhớ đến, là nhỏ, là xấu hổ, là nghỉ, là nhàn, là ở, là thôi, là đề phòng, là ngôi thứ,.

Tượng ly

                Ly là hoả, là mặt trời, là điện, là đại nhân, là trung nữ, là mẹ, là phụ nữ, là em gái, là chủ nhân, là người ác, là bụng trên, là tháng, là cửa, là hộ gia đình, là quỷ, là góc, là hình phạt, là lao ngục, là vó lưới, là bình lọ, là bếp núc, là dao, là rìu, là mũi tên, là bay, là gia cầm chim chóc, là con bò, là văn chương, là màu vàng, là nhìn thấy, là đi lại, là trí khôn, là đại cát, là lông vũ, là thiêu cháy, là chói sáng, là lỗ mũi, là đắng.

 

Tượng tốn

                Tốn là gió, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung, là người đi buôn, là trường mộc, là cỏ tranh, là thuốc, là gà, là cá, là súc vải, là giường, là cày cuốc, là dây, là liên hệ, là bắp đùi, là cánh tay, là tay, là nhìn xuống, là múa, là hát, là giải thoát, là trắng, là cao, là nhập vào, là phục ẩn, là tiến thoái, là không quyết, là mệnh, là hành sự, là hiệu lệnh, là phong tục, là nhìn thấy, là của cải.

 

Tượng chấn

                Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả, là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hươu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâm vào, là trống, là ra, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là dơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh, là lời cáo, là vui, là kế giữ, là xuất chinh.

...........................................................

.......................................................

....................................................