SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Các Luật Siêu Nhiên Và Tự Nhiên

CÁC LUẬT SIÊU NHIÊN VÀ LUẬT TỰ NHIÊN

+ Có bảy năng lượng gốc vũ trụ, tạo ra vô vàn Sự sống và Thái dương hệ mà Thái dương hệ của chúng ta là 1. Chúng chịu sự chi phối của các Luật vũ trụ - Luật này có nguồn gốc từ các phẩm tính của 7 loại năng lượng vũ trụ này. Luật là sự mô tả các phẩm tính của năng lượng mà nó hoạt động đặc trưng, quy luật cho năng lượng đó trong vũ trụ, và sự tương tác của chúng với các năng lượng khác;

A- THEO ĐỨC PHẬT DẠY

1- Về Tứ Đại: Đất - Nước - Gió - Lửa

B- THEO MINH TRIẾT MỚI

 I- Ba định luật: Hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ này, vốn tách biệt với mọi hình hài, có lẽ có thể được hiểu một cách thực tế hơn nếu chúng ta khảo cứu nó dưới hình thức diễn đạt của bốn định luật, đến lượt xét mỗi định luật đó một cách vắn tắt:

1. ĐỊNH LUẬT MỞ RỘNG (Law of Expansion)
(Trích LVLCK, 1040 - 1046)

Định luật này với sự mở rộng từ từ do tiến hóa của tâm thức nằm bên trong mọi hình hài là nguyên nhân của dạng gần hình cầu (spheroidal form) của mọi sự sống trong toàn thể thái dương hệ. Đó là một sự kiện trong thiên nhiên cho thấy rằng tất cả những gì hiện hữu đều trụ trong một hình cầu. (1) Nguyên tử hóa học gần hình cầu; con người ở trong 1 Nguyên tử. GLBN I, 113, 566. Chính là dựa trên bản chất hão huyền của vật chất và tính chất có thể phân chia vô hạn của nguyên tử mà toàn bộ Khoa Học Huyền Linh được tạo thành.

1. Mọi sự vật đều thuộc nguyên tử - Thượng Đế, Monads, các nguyên tử.
a/ Phạm vi của biểu lộ thái dương ........................ Thượng Đế. Vũ trụ noãn. Hào quang noãn Thượng Đế ..... Đại Thiên Địa.
b/ Phạm vi của biểu lộ Chân Thần ....................... Monads. Hào quang noãn của Chân Thần ..................... Tiểu Thiên Địa. c/ Phạm vi của cực nguyên tử hồng trần ............. Nguyên tử.
2. Thái dương hệ là một nguyên tử vũ trụ.
3. Mỗi cõi là một nguyên tử hay là khối cầu hoàn hảo.
4. Mỗi hành tinh là một nguyên tử. một hình cầu, giống như Hành Tinh Thượng Đế và Thái Dương Thượng Đế vậy, hình cầu này vốn là hình hài mà vật chất chiếm lấy khi hoạt động bên trong của chính nó và hoạt động của hình hài tác động hợp nhất. Cần có đến hai loại lực – lực quay và lực xoắn ốc theo chu kỳ – mới tạo được điều này. Các nhà khoa học đang bắt đầu nhận ra điều này ít
nhiều, và bắt đầu hiểu rằng chính Định Luật Tương Đối, hay là liên hệ giữa tất cả mọi nguyên tử vốn tạo ra những gì được gọi là Ánh Sáng, và, trong hiện tượng tập hợp của nó, nó hợp thành khối cầu hỗn hợp, một thái dương hệ. Chuyển động của các chòm sao từ bên ngoài đối với khối cầu thái dương, chịu trách nhiệm cho dạng thức của nó kết hợp với chuyển động quay của chính nó trong không gian. Khi các độ dài sóng (wave lengths) của ánh sáng từ các chòm sao, và liên hệ của chúng đối với mặt trời được hiểu rõ hơn, và khi hiệu ứng của các độ dài sóng này hay các rung động của ánh sáng (vốn hoặc là có tính chất hút, hoặc đẩy, đối với mặt trời) được hiểu rõ, nhiều điều sẽ được tiết lộ. Cho đến nay, chỉ có ít điều được hiểu biết đối với hiệu quả mà các chòm sao này trong bầu trời (vốn đối kháng với thái dương hệ) đặt vào mặt trời, và các độ dài sóng của chúng mà mặt trời sẽ không truyền đi, các tia sáng của nó không xuyên qua (nếu điều đó có thể được diễn tả bằng một lối kém khoa học như thế) ngoại biên mặt trời.

Trong GLBN, chúng ta được dạy rằng “bảy Tia mặt trời mở rộng ra thành bảy mặt trời và mồi lửa cho toàn thể vũ trụ” (GLBN II, 72). Chính điều này tạo ra sự cháy cuối cùng báo trước chu kỳ đại qui nguyên (great pralaya) và đưa tới việc kết thúc cuộc lâm phàm của Thượng Đế. Việc đó được tạo ra theo Định Luật Mở Rộng, và tạo ra sự hoà nhập sau rốt và sự phối trộn của bảy hệ hành tinh thánh thiện, chúng đánh dấu cho việc đạt được mục đích và sự hoàn thiện cuối cùng của chúng.
Trong văn liệu huyền linh học, danh xưng “Định Luật Mở Rộng” được giới hạn vào sự bàn bạc về bảy Cung và vào các cuộc điểm đạo của hành tinh. Khi bàn đến các mở rộng về tâm thức của con người và các cuộc điểm đạo của con người, chúng ta tập hợp chúng dưới “Định Luật Hồi Qui Chân Thần” thứ hai.

Ở đây các nhà nghiên cứu nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các mở rộng về tâm thức của một Hành Tinh Thượng Đế qua phương tiện của:
a. Các dãy hành tinh.
b. Các cuộc tuần hoàn.
c. Các giới của thiên nhiên.
d. Các căn chủng (root races).
Cần nên nhớ rằng tâm thức mà Ngài đang ở trong tiến trình phát triển là tâm thức của ý chí tuyệt đối và mục tiêu tuyệt đối của Thái Dương Thượng Đế, vì đó là biểu hiện của ý muốn (desire) của Vũ Trụ Thượng Đế. (1) Do đó, các mở rộng có thể được tập hợp như sau:

1. Thái Dương Thượng Đế mở rộng tâm thức của Ngài để bao gồm ước muốn (desire) của Vũ Trụ Thượng Đế.
2. Hành Tinh Thượng Đế mở rộng tâm thức của Ngài để thích hợp với ý chí và mục tiêu của Thái Dương Thượng Đế.
3. Các Đấng Chủ Quản (Lords) của các Dãy Hành Tinh đang hoạt động với tâm thức ước muốn (bản chất bác ái) của Hành Tinh Thượng Đế.
4. Các Đấng làm linh hoạt của bầu hành tinh trong Dãy đang hoạt động với tâm thức sáng suốt của Hành Tinh Thượng Đế.
Điều này có thể được thể hiện liên quan với một bầu trong một dãy (như là dãy Địa Cầu của chúng ta) theo cách sau đây.
Đấng Chủ Quản của thế giới, Đức Hành Tinh Thượng Đế, trong cuộc lâm phàm hồng trần, giải quyết khó khăn riêng biệt của Ngài, thể hiện (vào biểu lộ hồng trần trên hành tinh) mục tiêu hoặc ý chí của Thái Dương Thượng Đế trong bất luận hành tinh hệ đặc biệt nào. Ngài làm điều này qua việc thiền định.
Toàn thể các Dhyan Chohans của giới thứ năm hay giới tinh thần đều bận tâm đến việc thể hiện thành biểu lộ linh hoạt của ý chí và mục tiêu của Hành Tinh Thượng Đế.
Gia đình nhân loại, hay là giới thứ tư, đang tìm cách biểu lộ ý muốn, hay bản chất bác ái của Hành Tinh Thượng Đế. Ba giới dưới nhân loại có mục tiêu là biểu lộ bản chất thông tuệ của Hành Tinh Thượng Đế.

Mọi điều này được làm dưới Định Luật Mở Rộng, bằng phương pháp phát triển xoắn ốc, tăng trưởng theo chu kỳ, lặp lại chuyển động quay và tóm tắt mỗi vòng xoắn ốc là sự mở rộng của tâm thức thành tâm thức của khối cầu vốn chứa đựng hình trứng nhỏ hơn và sự vượt thoát của sự sống bị giam nhốt trong khối cầu. Nó được hòa nhập trong tổng thể vĩ đại hơn của nó. Khi các ngọn lửa của khối cầu liên hệ lóe sáng, “lửa do ma sát” tạo ra chuyển động quay, còn “lửa thái dương”, vốn là nền tảng của hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ, hòa lẫn và phối hợp. Vòng giới hạn của tấm vách giam nhốt hình cầu bị chối bỏ và kết quả là sự rực cháy.
Cổ Luận diễn tả điều này như sau liên quan đến các hành tinh và điều đó cũng đúng, dù là tương đối, đối với nguyên tử của vật chất, hoặc nguyên tử thái dương:

1. “Sự sống đập nhịp, và cực (pole, thái cực) hoàn thành chức năng của nó. Khối cầu xoay trong nhiều chu kỳ. Khi nó quay, nó cảm nhận các khối cầu khác, và tìm cách biết cái bí ẩn của các khối cầu này.
2. Chúng gặp gỡ nhau. Chúng tìm kiếm sự gần gũi lớn hơn, hoặc cự tuyệt với ác cảm bất cứ sự đến gần nào nữa. Một số khối cầu tách ra; những cái khác quay lại và phối hợp. Chúng biết rõ nhau. Chúng chuyển động theo hình xoắn ốc xuyên qua các diễn trình liên quan chặt chẽ. Nhờ sự hợp nhất, các loại lửa lóe sáng, hai trở thành một, và sống lại trong Con của chúng, vốn là Cái Thứ Ba”.
Qua việc nghiên cứu các lời có ý nghĩa này, các đạo sinh có thể học được phần nào “sự thu hút của cực” có liên hệ tức “Sự Phối Ngẫu trong các Cõi Trời”, sự chuyển di các mầm của sự sống từ hành tinh thu hút dương tính (male attractive planet) đến hành tinh tiếp nhận âm tính, và sau cùng, ở một chu kỳ muộn hơn, sự thu hút sự sống của hai hành tinh bởi hành tinh thứ ba, mà được gọi theo huyền linh học là “Con”. Điều này liên quan đến hành tinh tổng hợp đang tạo thành đỉnh của tam giác thái dương.
Tóm tắt hiệu quả của sự hợp nhất của chuyển động quay của nguyên tử cá biệt và hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ của mọi nhóm nguyên tử, do đó, cần nêu ra rằng, các đơn vị sau đây đều bị tác động.
Nguyên tử cá biệt thiết yếu. Tiến trình tiến hóa của nó hướng về sự tự quyết (self-determination) được tạo ra bằng hiệu quả của hoạt động tập thể của nó, hoặc là chuyển động của hình hài điều chỉnh tác động cố hữu của riêng nó.

Dạng thức nguyên tử, cũng như một đơn vị nguyên tử, quay trên trục riêng của nó, chịu ảnh hưởng và dồn về phía trung tâm lực của một đại thiên địa cao siêu hơn bằng hoạt động của giới chứa đựng nó.
Nguyên tử con người, độc lập và cá biệt, tuy dần dần bị dồn tới trước do ảnh hưởng của nhóm của nó, hoặc là hoạt động mạnh mẽ của Hành Tinh Thượng Đế mà trong cơ thể Ngài đó là tế bào.
Nguyên tử hành tinh, cũng độc lập, một hỗn hợp gồm tất cả các nhóm hành tinh, quay trên trục riêng của nó, tuy vẫn theo đúng hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ, được gây ra bằng hoạt động của khối cầu lớn hơn mà nó tìm thấy vị trí của nó trong đó.

Nguyên tử thái dương, cũng là một Sự Sống được biệt ngã hóa, Con đang lâm phàm, nhờ phương tiện Thái Dương, theo đuổi chu kỳ vốn có của chính nó, tuy vẫn theo đường xoắn ốc dưới dạng chu kỳ xuyên qua các cõi trời, và do đó, tiến triển qua hiệu quả của các Sự Sống linh hoạt ngoại vũ trụ, các Sự Sống này hoặc là hút hoặc là đẩy nó.
Đây là các tập hợp chính của các nhóm nguyên tử, nhưng có nhiều hình thức trung gian mà cho đến nay không thể đề cập đến. Vạn vật trong thiên nhiên tác động đến những gì mà nó tiếp xúc, và các ảnh hưởng này tác động hoặc là như:

a. Các xung lực hút hoặc đẩy.
b. Các xung lực làm chậm hoặc gia tốc.
c. Các xung lực hủy diệt hoặc kiến tạo.
d. Các xung lực làm mất sinh lực hoặc kích hoạt.
e. Các xung lực cung cấp năng lượng hoặc làm tan rã. Tuy nhiên, tất cả đều có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ chỉ thần lực dương hoặc âm, biểu hiện thành hoạt động xoay hoặc xoắn ốc. Theo một số góc nhìn, chu kỳ thứ yếu có thể được xem như thuộc về hoạt động quay của một số dạng nguyên tử, và các chu kỳ lớn hơn vốn rất khó hơn nhiều để cho con người theo dõi, vì liên quan tới tác động xoắn ốc của Sự Sống đang bao bọc của khối cầu lớn hơn. Mỗi nguyên tử là thành phần của một tổng thể lớn hơn, ngay cả nguyên tử thái dương cũng không phải là Sự Sống tách rời mà là một phần của một vô cùng tận Sự Sống vượt ngoài tầm hiểu biết của con người, và Sự Sống đó chỉ được nhận biết một cách lờ mờ bởi vị Dhyan Chohan tiến hóa nhất.

2. ĐỊNH LUẬT HOÀN NGUYÊN CỦA CHÂN THẦN
(Trích LVLCK, 1046 - 1054)

Ở đây có thể nghiên cứu Chân Thần theo quan điểm chu kỳ và quan điểm năng lượng, và tạm thời tách rời thể trí chúng ta ra khỏi khía cạnh biểu lộ mà chúng ta gọi là nhân loại hoặc con người.
Khi xét “Kẻ Hành Hương Thiêng Liêng”, chúng ta có thể nghiên cứu y dưới hình thức biểu lộ của:

a. Ba điểm tập trung năng lượng hay lực.
b. Ba loại lửa, mỗi loại tạo ra một hiệu quả nhất định, và đến phiên nó, mỗi loại lại tạo ra các hiệu quả lên nhau.
Liên quan tới một thái dương hệ, ba loại lửa này trên các cõi vũ trụ được gọi là : (1)

1. Mặt Trời tinh thần trung ương (chủ yếu).
2. Mặt trời (nội tâm, subjective), được gọi là “tâm của mặt trời”.
3. Mặt trời vật chất (biểu lộ ngoại cảnh, objective) và cùng tư tưởng có thể được đưa ra qua biểu lộ Chân Thần.

Ba trung tâm thuộc Chân Thần được phân biệt bằng các loại năng lượng khác nhau:
1. Năng lượng Chân Thần – năng lượng năng động ..... xung lực điện ........ lửa tinh khiết.
2. Năng lượng Chân Ngã – năng lượng từ lực ............... xung lực phát xạ ........ lửa thái dương.
3. Năng lượng phàm ngã – năng lượng cá nhân ........... xung lực quay ........ lửa do ma sát.
Năng lượng thứ nhất tạo ra ánh sáng, năng lượng thứ hai tạo ra nhiệt, và năng lượng thứ ba tạo ra sự ẩm ướt (moisture) hay là sự cố kết.
Do sự tương tác của ba loại lực, mà ba trạng thái của Chân Thần được tạo ra, một nhịp nhàng được thiết lập đưa đến kết quả trong việc tạo thành:

a/ Một vòng-giới-hạn, hay phạm vi hình trứng, mà kẻ hành hương bị giam nhốt trong đó, và nó chứa trong chính nó ba trung tâm lực chính, tương ứng với a/ Ba trung tâm chính của Thượng Đế khi khía cạnh nội
tâm hay khía cạnh thần lực của cuộc sống được xem xét.
b/ Ba nguyên tử thường tồn nếu khía cạnh thuần túy ngoại cảnh được bàn đến.
Một nhịp đập theo chu kỳ (cyclic pulsation), nguyên là cái nhân của mọi thôi thúc tiến hóa. Các xung lực tiến hóa này có thể xem như gồm có ba đối với một thái dương hệ hoặc đối với một Monad:
Có xung lực dồn mọi nguyên tử đến tự quyết và là cái bí mật của hiện tượng được gọi là biệt ngã hóa (individuali sation, tiến vào giới nhân loại). Phần lớn đó là lực được gọi là Brahma.
Có loại xung lực bắt ép nguyên tử cá biệt hướng về việc xác định nhóm, và là bí ẩn của hiện tượng được gọi là “Điểm Đạo” (“Initiation”) hay là tiến trình vượt qua khỏi giới nhân loại hay là Sự Sống biệt ngã hóa tự quyết đi vào giới cao hơn. Đó là toàn thể thần lực Vishnu, Ngôi Hai, và tạo ra các trạng thái tâm thức cao.

Sau cùng có loại xung lực thúc đẩy các nhóm hành tinh, toàn bộ mọi nguyên tử và hình hài, đưa đến một nhận thức có hiểu biết về bản chất của nhóm chứa đựng tất cả, tức nguyên tử thái dương.
Chịu tác động bởi Hành Tinh Thượng Đế, Monad tạo thành vòng-hạn-định của mình một cách sáng suốt. Nơi đó công việc của Chân Thần ngưng lại theo quan điểm thuần túy của Chân Thần; sự sống có sẵn của chất nguyên tử được cấu tạo như thế tạo ra hiện tượng sau này. Sự sống quay tròn của các nguyên tử và sự tương tác của chúng, bị biến đổi bởi Sự Sống của nhóm hành tinh, hay là Hành Tinh Thượng Đế, được theo đuổi qua các thiên kỷ dài, tạo nên hiện tượng có các giai đoạn tiến hóa giáng hạ khác nhau lên đến điểm mà một số nguyên tử đã tiến hóa đến tâm thức của người-thú. Nhờ giai đoạn không thể hình dung được này (nghĩa là liên quan với trái đất chúng ta) toàn bộ nhiều tỉ các sự sống nguyên tử đã tiếp tục tiến trình của chúng, được cấp năng lượng bằng Sự Sống của Chân Thần, khi Chân Thần rung động nhờ phương tiện tâm Chân Thần trên cõi tâm linh; và chúng đáp ứng với nhịp điệu rộng lớn hơn của Hành Tinh Thượng Đế. Chính điều này đã tạo ra sự cố kết có phân cấp, và đã đưa người-thú đến giai đoạn mà sự kéo lên của chính
Chân Thần bắt đầu được cảm nhận. Đồng thời, Monad ở trên cõi riêng của nó bắt đầu đáp ứng với năng lượng tự sinh (self-engendered energy) của hình thể thấp, hai nhịp điệu được tiếp xúc, hiện tượng biệt ngã hóa xảy ra và kẻ hành hương biểu lộ trong bản chất đích thực của mình.

Kế đó – xét về mặt Monad – sự sống tiến hóa hướng về phía trước bắt đầu. Thực sự nó theo chu kỳ, lặp lại và theo đường xoắn ốc. Trước tiên, tác động hay sự tương tác giữa dạng thức quay của nguyên tử hạ đẳng với ảnh hưởng của Monad, thì lờ đờ, chậm chạp và nặng nề, và hình thức đó làm trì chậm tác động của Chân Thần, và rung động nặng nề của nó có khuynh hướng hóa giải rung động cao. Dần dần, khi các vòng xoắn trải rộng đóng vai trò của chúng, rung động cao siêu làm cho chính nó được cảm nhận, và hoạt động, hay chuyển động trở nên quân bình hơn, nhưng nhẹ nhàng hơn. Thế là các chu kỳ diễn ra cho đến khi nhịp điệu hay rung động cao hơn chiếm ưu thế đến đỗi ảnh hưởng của hình hài bị làm tiêu tán và đưa đến việc loại bỏ cuối cùng của nó. Cùng lúc với việc loại bỏ này, nhịp điệu cao nhất của mọi vật giúp cho chính nó được cảm nhận, đưa đến hoạt động gia tăng trên các cõi cao nhất, và vào đúng lúc, tạo ra việc chối bỏ sự sống của lớp vỏ ngoài (sheath life) của Ego. Như Cổ Luận lần nữa đã viết:

“Các giọt hơi ẩm trở nên nặng hơn. Chúng ập tới như mưa trên cõi thấp. Chúng chìm đắm vào trong đất sét và làm cho nó phát triển. Thế là nước phủ mặt đất và khắp các chu kỳ.
Các mục tiêu của các giọt nước sáng tạo là hai, và mỗi mục tiêu được đạt đến trong các chu kỳ riêng biệt rất lớn; một mục tiêu là chìm và tự mất hút trong đất tối tăm của địa cầu; mục tiêu kia là vươn lên và tự hòa nhập trong không khí trong lành của cõi trời.

Giữa hai giai đoạn rộng lớn, sức nóng chắc chắn góp phần của nó. Nhưng khi sức nóng trở nên mãnh liệt, các lửa bên trong địa cầu và bên dưới các lớp nước thiêu nóng và tuôn chảy, bản chất của nhiều giọt được nhìn thấy trải qua sự thay đổi. Chúng tan biến trong hơi nước. Thế là sức nóng hoàn thành vai trò của nó.
Sau này, lại lửa điện lóe lên, và đổi hơi nước thành những gì sẽ để cho nó đi qua không khí”.

Bây giờ chúng ta sẽ tổng kết vắn tắt các xung lực rung động khác nhau, các xung lực này có ảnh hưởng rõ rệt trên Monad, và chúng phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét bước tiến hóa của Kẻ Hành Hương Thiêng Liêng. Mục đích của Bộ Luận này không phải để quãng diễn mỗi xung lực riêng biệt. Nó chỉ tìm cách khơi ra vấn đề, chừa lại cho các nhà nghiên cứu cá biệt sau này việc mở rộng các ý tưởng được truyền đạt.

1. Ba xung lực này có sẵn trong ba hiện thể xuất hiện theo chu kỳ, theo cách gọi của H.P.B., đó là ba trung tâm năng lượng chính yếu mà Chân Ngã biểu lộ qua đó:

a/ Năng lượng của vòng-hạn-định Chân Thần, xét nó như một đơn vị.
b/ Năng lượng của thể nguyên nhân, trong chu vi Chân Thần.
c/ Năng lượng của xác thân, tổng hợp trên cõi trần của mãnh lực đang tuôn đổ vào biểu lộ qua ba vi tử thường tồn.

2. Hoạt động được thiết lập trong bảy trung tâm lực dĩ thái, kết quả sự hoạt động của bảy nguyên khí:

a/ Trung tâm lực đầu – bảy trung tâm bên trong với ba trung tâm bên ngoài.
b/ Trung tâm lực cổ họng.
c/ Trung tâm lực ở tim – ba trung tâm bên trong và bảy trung tâm bên ngoài.
d/ Bí huyệt đan điền (solar plexus, mạng lưới thần kinh ở bụng) ba bên trong và bốn bên ngoài.
e/ Các cơ quan sinh sản – hai ở bên trong.
f/ Đáy xương sống – cái đơn nhất bên trong.

3. Hoạt động có sẵn của mỗi nguyên tử trong mỗi lớp vỏ (sheath, thể thấp) vốn tạo ra sự nhịp nhàng của thể thấp đó.
4. Hoạt động hợp nhất của mọi thể thấp hoặc hình tướng (form) mà Kẻ Hành Hương Thiêng Liêng sử dụng.
5. Hoạt động linh hoạt hợp nhất được tạo ra bởi sự thống nhất của ba hiện thể, bảy lớp vỏ, các trung tâm lực và vật chất nguyên tử.
6. Hiệu quả được tạo ra bởi tác động của các nhóm được liên kết bằng nghiệp quả với Kẻ Hành Hương. Chúng là:

a/ Rung động do Cung của y, nhóm Chân Thần của y.
b/ Rung động do cung phụ của y, hay là rung động của nhóm Chân Ngã.
c/ Các liên kết do phàm ngã của y, như là năng lượng thuộc gia tộc, chủng tộc, và quốc gia của y. Tất cả các yếu tố này khích động các nguyên tử nhạy cảm trong các thể khác nhau và tạo ra các hiệu quả đặc biệt.

7. Hoạt động hay chuyển động được khai thông và kích hoạt bởi sự sống của bất luận giới nào trong ba giới thấp trong thiên nhiên, - tất cả đều tạo ra các kết quả rõ rệt.
8. Rung động của hành tinh đặc biệt mà dựa vào đó Monad được phép tìm cách biểu hiện và trải nghiệm.

9. Ảnh hưởng được tạo ra trong vật chất của các thể thấp bởi ảnh hưởng hoặc các rung động của các hành tinh khác nhau. Hiểu theo mặt huyền bí, đây là ảnh hưởng của mặt này hoặc mặt kia của các trung tâm thái dương, giống như các thần lực phát ra từ chúng kích động lên các trung tâm hành tinh và bằng cách đó tác động lên các đơn vị Chân Thần có liên quan. Điều này được ẩn giấu trong karma của Hành Tinh Thượng Đế, và khi chiêm tinh học huyền bí chân chính xuất hiện, bấy giờ thêm nhiều điều liên quan đến việc này sẽ được đưa ra. Chiêm tinh học như chúng ta nghiên cứu và giảng dạy, sai lạc nhiều hơn là giúp ích, và những nhà nghiên cứu chiêm tinh học, cho đến nay đang học hỏi chỉ có phần a-b-c của môn học kỳ diệu này, và đang bận tâm đến các mép bờ bên ngoài của bức màn vĩ đại đó vốn dĩ đã được khôn khéo tung ra trên mọi kiến thức hành tinh.

10. Một hình thức năng lượng khác mà bao giờ cũng phải được xem xét là năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế, khi Ngài tuôn đổ thần lực của Ngài qua một dãy hành tinh nào đó hoặc bầu hành tinh nào đó dựa vào các nhóm đơn vị nhân loại tiến hóa. Theo cái nhìn của nhân loại, cho đến nay điều này không thể tính được, vì nó dựa vào việc “chuyển sự chú ý” huyền linh của Hành Tinh Thượng Đế vào sự thiền định nơi bất cứ trung tâm nào trong thể hợp nhất của Ngài. Dĩ nhiên, tất cả đều theo luật vũ trụ nhưng ngoài sự nhận thức của con người. Nó liên quan đến nhận thức về mục tiêu cá biệt của hành tinh, vốn không được tiết lộ cho đến các cuộc điểm đạo sau này.

11. Năng lượng cố hữu của chính nguyên tử thái dương cũng có một ảnh hưởng nhịp nhàng trên Monad cá biệt và mặc dù nó chỉ đạt đến Monad xuyên qua các trung tâm Hiện Tồn vĩ đại hơn, tuy vậy nó có hiệu quả của nó trên một và tất cả. Đây là yếu tố khác không được nhận biết đầy đủ.

12. Sau cùng, năng lượng của sự sống vĩ đại hơn (mà thái dương hệ của chúng ta chỉ hợp thành một phần trong đó) phải được xét đến, và các xung lực phát ra từ Vũ Trụ Thượng Đế (cosmic Logos), tức là Đấng Bất Khả Tư Nghị (One About Whom Naught May Be Said), đi đến các sự sống Chân Thần và tạo ra sự phấn khích hoặc trì trệ tùy theo bản chất của thiên ý hồng nguyên (cosmic ideation, tư tưởng thiêng liêng, tư duy vũ trụ). Các sự sống này tất nhiên hoàn toàn ở ngoài phạm vi hiểu biết của con người thông thường và được đề cập đến chỉ vì không có bảng liệt kê nào được đầy đủ mà không có chúng.

13. Cũng được khai sinh trong trí sự tác động của năng lượng vốn phát ra từ bất cứ cung nào trong số “Mười Hai Cung của Hoàng Đạo” mà chiêm tinh học tự có liên kết với chúng. Kiểu thần lực này trước tiên có liên quan đến sự kích hoạt của hành tinh, với các Hành Tinh Thượng Đế, và được ẩn giấu trong karma thuộc chu kỳ của Các Ngài, - một karma mà dĩ nhiên sẽ tình cờ có liên quan đến các Chân Thần và các devas vốn hợp thành các thể và các trung tâm lực của các Ngài.

14. Chúng ta đừng nên không đếm xỉa ba làn sóng năng lượng vĩ đại, mà theo chu kỳ, chúng lan qua toàn bộ thái dương hệ từ:

a/ Bảy ngôi của chòm sao Đại Hùng (Gấu Lớn). Độ mạnh của các rung động này tùy vào sự gần gũi của sự liên quan và độ phù hợp của sự chỉnh hợp giữa bất cứ vị Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt nào và Nguyên Mẫu (Prototype) của Ngài. Cái bí ẩn ở đây rất sâu xa; nó có liên quan với giai đoạn trong sự tiến hóa của “các vị thần bất toàn” (the “imperfect gods”) và mục tiêu của các Hành Tinh Thượng Đế (planetary deities).

b/ Bảy Tỉ Muội, hay là chòm sao Pleiades, và theo đó Đấng đặc biệt được đặt tên theo huyền bí học là “hiền thê” (“the wife”) của vị Hành Tinh Thượng Đế mà hành tinh hệ của Ngài sau rốt sẽ nhận được các mầm sự sống từ hành tinh chúng ta, vốn không được xem như một hành tinh thánh thiện, như trước kia đã được nói tới.

c/ Mặt Trời Sirius.
Có các luồng thần lực kích hoạt khác vốn có ảnh hưởng lên Kẻ Hành Hương ở khắp nơi, nhưng bảng liệt kê trên cũng đủ để chứng minh sự phức tạp của vấn đề và cái bao la của hệ thống tiến hóa. Tất cả các phóng phát rung động này đi qua bầu hành tinh theo chu kỳ; chúng đến rồi đi, và tùy theo sự có mặt hoặc sự không có mặt của chúng, và tùy theo giai đoạn tiến hóa của Đấng phát ra thần lực, mà tính chất hiện tượng của mọi sự sống sẽ tùy thuộc vào, tùy vào bản chất của bất cứ giai đoạn đặc biệt nào và tính chất của các Chân Thần đang biểu lộ. Chính sự xuất hiện hoặc sự tan biến của các luồng sóng chứa sinh lực này (về mặt hành tinh, liên hành tinh, thái dương hệ, vũ trụ và liên vũ trụ) đang lôi cuốn vào luân hồi những kẻ hành hương (tức Chân Thần. ND) và mang lại biểu lộ theo chu kỳ của các Đấng Cao Cả như là “Đức Tịnh Quán” (“Silent Watcher”) và “Đấng Đại Hy Sinh”; chính việc này cũng gây ra sự tan rã của một hành tinh hệ và sự tái hiện của nó, và chịu trách nhiệm cho sự chuyển di các mầm sự sống từ hành tinh hệ này sang hành tinh hệ khác, hoặc từ thái dương hệ này đến thái dương hệ khác.

Các Chân Thần được cuốn theo trong trào lưu thần lực vĩ đại này, toàn thể các Chân Thần này được gọi là “lực tiến hóa”, còn sự sống và sự tồn tại của Thực Thể khởi xướng ấn định hạn kỳ cho kỳ gian của Chân Thần. Con người chỉ là nạn nhân của các mãnh lực, chúng buộc chặt lấy y và điều khiển y, giống như nguyên tử, trong cơ thể con người chỉ là người giúp việc phục tùng theo hướng đặt để của con người; tuy nhiên bên trong các giới hạn đó, con người lại là kẻ kiểm soát vận mệnh của mình; bên trong các giới hạn đó, y vận dụng các sức mạnh và năng lượng, y điều khiển các sự sống kém cỏi hơn và kiểm soát các trung tâm năng lượng nhỏ hơn, và
theo thời gian trôi qua, phạm vi kiểm soát của y trở nên ngày càng mở rộng.

Nguyên tử kiểm soát sự sống trung ương của chính nó; con người có thể kiểm soát các tập hợp sự sống vốn tạo thành ba thể của y; điểm đạo đồ và vị adept đang kiểm soát các năng lượng thuộc nhiều loại trong ba cõi thấp, trong khi vị Chohan kiểm soát trên năm cõi tiến hóa. Như vậy kế hoạch được tiến hành cho đến khi Đạo Binh Âm Thanh trở thành Máy Thu các Linh Từ (Sounder of the Words), và các Máy Thu Linh Từ trở thành chính Linh Từ.
Do đó, hiển nhiên là “Định Luật Hoàn Hương của Chân Thần” mà chúng ta vừa xem xét là toàn thể các ảnh hưởng vốn có liên quan trực tiếp với các nguyên tử Chân Thần, tác động đến sự tiến bộ theo chu kỳ của nó và kích hoạt nó hoặc làm trì hoãn hoạt động của nó tùy theo sức mạnh của sự sống khởi đầu. Chỉ sau khi có sự khai mở, thì nguyên tử nhân loại mới đạt đến một giai đoạn trong mức phát triển của nó khi mà các thần lực và các ảnh hưởng bắt đầu được nhận biết. Khi các phương pháp được quán triệt, nhờ đó sự hiệu chỉnh được tạo ra một cách sáng suốt đối với các luồng thần lực từ bên ngoài, sự đề kháng đối với các mãnh lực trì trệ được khai mở một cách sáng suốt và với độ chính xác hợp với khoa học, và con người tự đặt mình theo đúng với các mãnh lực vốn sẽ làm cho y phân vân suốt dọc theo con đường hoàn hương (path of return). Trong tư tưởng này không có một tí nào cái phức tạp quá mức hoặc nguyên nhân cho sự nản chí, vì luôn luôn sức mạnh tiềm tàng của điện năng sẽ hóa giải rung động lờ đờ hơn của Lửa thái dương, và bản thân lửa thái dương, chẳng chóng thì chầy sẽ vô hiệu hóa các ảnh hưởng của “Lửa do ma sát”.

3. ĐỊNH LUẬT TIẾN HÓA THÁI DƯƠNG (Law of Solar Evolution).
(Trích LVLCK, 1054 - 1060)

Thật là một lẽ đương nhiên khi trình bày rằng Định Luật Tiến Hóa Thái Dương là toàn thể tất cả các hoạt động thứ yếu. Chúng ta có thể xét điểm này liên quan đến nguyên tử hành tinh và nguyên tử thái dương.
Giống như mọi nguyên tử khác trong thiên nhiên, nguyên tử hành tinh (planetary atom) có ba hoạt động chính:

Thứ nhất. Nó xoay trên chính trục của nó, quay vòng theo chu kỳ bên trong vòng-giới-hạn của chính nó, và như thế lộ ra năng lượng có sẵn của riêng nó. Câu này có ý nghĩa như thế nào? Chắc chắn rằng hàng tỉ nguyên tử vốn tạo thành thể hành tinh (dù là trọng trược hoặc tinh anh) vẫn theo đuổi một quỹ đạo chung quanh đơn vị năng lượng dương trung ương. Trung tâm mãnh lực năng động này phải được xem như đương nhiên tồn tại ở hai vị trí (nếu một thuật ngữ không thích hợp như thế có thể được chấp nhận) tùy theo giai đoạn, cách dùng và kiểu mẫu đặc biệt của thực thể hành tinh tồn tại bên trong.
a/ Trong những gì tương ứng với bí huyệt đầu nơi con người, nếu Hành Tinh Thượng Đế có trình độ phát triển rất cao.
b/ Trong sự tương ứng hành tinh với bí huyệt tim.
Dĩ nhiên bí huyệt cổ họng luôn luôn rung động theo tất cả các vị Thượng Đế, vì tất cả đều là các Đấng Sáng Tạo hoàn toàn sáng suốt, đã hoàn thiện năng lực này trong một thái dương hệ trước đây.
Ở đây, các nhà nghiên cứu nên nhớ rằng các trung tâm lực này được tìm thấy có phác họa trong các Tam Giác nằm giữa trong biểu đồ ở trang 373, mặc dù không hề có chỉ dẫn nào được tìm thấy nhờ nghiên cứu các tam giác như thế đối với việc thành đạt tương đối của Hành Tinh Thượng Đế. Bên trong các dãy, cũng sẽ tìm thấy các trung tâm năng lượng tương ứng, và cũng bên trong thể vật chất trọng trược của Thượng Đế của bất luận hành tinh hệ nào, tức hành tinh vật chất.
Một trung tâm như thế được tìm thấy ở Bắc Cực, và hai trung tâm nữa nằm bên trong bầu hành tinh, và thường thường sự chảy vào của thần lực hoặc năng lượng đến các trung tâm bên trong này (xuyên qua trung tâm ở cực) tạo ra hậu quả trong các tai họa mà chúng ta gọi là các địa chấn và các phún xuất hỏa sơn.

Như chúng ta biết, có một sự di chuyển theo chu kỳ của sự nghiêng của cực do sự đáp ứng ngày càng tăng thêm của Hành Tinh Thượng Đế đối với Nguyên Hình cõi trời của Ngài, dựa theo đó các ảnh hưởng từ Đại Hùng Tinh lôi cuốn, hay theo huyền linh học là “thu hút” sự chú tâm của Thượng Đế và làm cho Ngài hòa hợp hơn nữa với một Ý Chí thôi thúc vĩ đại hơn. Sự chuyển di này tạo nên sự gián đoạn trong biểu lộ thấp của Ngài, vốn là một điều kiện trên Con Đường Điểm Đạo Vũ Trụ, tương tự với con đường mà một đệ tử trải qua.
Nguyên tử hành tinh quay trên trục của nó và theo chu kỳ mà tiến vào dưới các ảnh hưởng vốn tạo ra các hiệu quả nhất định. Trong bao điều khác, các ảnh hưởng này là ảnh hưởng của mặt trăng và của hai hành tinh nằm gần nhất với nó trên khía cạnh khác – gần hơn và xa hơn so với Mặt Trời. Ảnh hưởng của mặt trăng thì cực kỳ mạnh và có một tương đồng kỳ lạ (xét về mặt hành tinh vật chất) với “Kẻ Chận Ngõ” vốn có một hiệu quả quen thuộc và mạnh mẽ trên nguyên tử nhân loại. Sự tương đồng đừng nên để vượt ngoài giới hạn, vì cần nên nhớ rằng mặt trăng không có ảnh hưởng lên chính Hành Tinh Thượng Đế, vì giai đoạn tiến hóa của Ngài làm tiêu tán một việc như thế, nhưng vì ảnh hưởng đó được cảm nhận bởi Thực Thể hành tinh – toàn bộ các bản thể tinh hoa chất của hành tinh. Các nhà nghiên cứu khoa học huyền linh sẽ học được nhiều điều liên quan đến hành tinh hệ khi họ nghiên cứu ảnh hưởng của lực hút do nghiệp quả của mặt trăng trên địa cầu, kết hợp với ảnh hưởng của hai hành tinh lân cận, hiểu theo huyền linh học.

Nguyên tử hành tinh cũng quay theo quỹ đạo chung quanh trung tâm thái dương của nó. Đây là diễn đạt của nó về tác động quay xoắn ốc theo chu kỳ và sự thừa nhận của nó về sức thu hút thiêng liêng ở trung tâm. Điều này đưa nó đến dưới ấn tượng thường xuyên của các hành tinh hệ khác, mỗi một trong các hành tinh hệ đó đều tạo ra các hiệu ứng trên hành tinh. Nó cũng đưa nguyên tử hành tinh đến dưới các dòng năng lượng đang chảy vào từ những gì được gọi là các chòm sao hoàng đạo, các tinh tòa này đạt đến hành tinh hệ xuyên qua trung tâm lớn, tức Thái Dương. Hiển nhiên là đối với bất cứ nhà nghiên cứu nào cho dù phát triển sơ sài năng lực hình dung, và có đôi chút nhận thức về các dòng thần lực của thái dương hệ, thì tất cả có thể được xem như thủy triều xoáy vòng của các luồng pha trộn nhau, với nhiều điểm tập trung năng lượng hiện ra đây đó, tuy nhiên không có mặt nào tĩnh tại về vị trí.

Hoạt động thứ ba của nguyên tử hành tinh là hoạt động vốn đưa nó vượt qua không gian cùng với toàn bộ thái dương hệ, và vốn biểu hiện cho “sự trôi giạt” của nó hay là khuynh hướng tiến về phía quỹ đạo thái dương hệ trong các bầu trời.
Nguyên tử thái dương (solar atom) phải được xem như đang theo đuổi các đường lối hoạt động tương tự và giống như là đi song song trên một giai tầng rộng lớn so với tiến hóa của nguyên tử hành tinh. Toàn bộ hình cầu thái dương, tức vòng-hạn-định của Thượng Đế, quay trên trục của nó và như thế tất cả những gì được bao hàm bên trong hình cầu đó được tiến hành theo lối vòng tròn qua các Bầu Trời (Heavens). Các con số chính xác về chu kỳ vốn bao hàm sự xoay vòng (rotation) rộng lớn mà cho đến nay vẫn còn là bí ẩn, nhưng có thể nói được rằng nó xấp xỉ 100 000 năm, như có thể bị ngộ nhận, nó được kiềm chế bằng năng lượng của Ngôi Một, và do đó thuộc Cung Một. Chính điều này đủ để giải thích cho các ảnh hưởng hay thay đổi và đa dạng, vốn có thể được dò tìm qua các thời kỳ rộng lớn bởi những người có “con mắt dẫn đường” (the “seeing eye”) vì nó gây nên một chỗ ngoặt của các phần hay thay đổi của hình cầu đối với các chòm sao hoàng đạo khác nhau. Ảnh hưởng này (có liên quan với các hành tinh) ngày càng tăng hoặc là giảm bớt tùy theo vị trí của các hành tinh trên các quỹ đạo khác nhau của chúng. Đó là cái phức tạp bao la của vấn đề và sự bất lực đối với nhà nghiên cứu chiêm tinh học và thiên văn học thông thường khi muốn tạo ra các phép tính chính xác hoặc muốn lấy lá số tử vi đúng. Trong Phòng Minh Triết, có một bộ môn (department) mà các cơ cấu chiêm tinh học khác nhau hiện nay chỉ là các hình ảnh mơ hồ và không đích xác của bộ môn đó. Các Chân Sư liên kết với phòng đó không phải hoạt động với nhân loại mà chính Các Ngài quan tâm đặc biệt tới “việc lấy số tử vi” (như vậy xác định bản chất của công việc phải làm trước mắt) của các Đấng cao cả khác nhau, các Đấng này làm linh hoạt các bầu hành tinh và các giới của thiên nhiên, với việc xác định bản chất của các ảnh hưởng nghiệp quả đang hiện ra, trong biểu lộ của ba vị Hành Tinh Thượng Đế :

1. Hành Tinh Thượng Đế của chính chúng ta.
2. Hành Tinh Thượng Đế của đối cực chúng ta (our polar opposite).
3. Hành Tinh Thượng Đế của hệ thống vốn tạo với hai hệ thống đã nói trên một tam giác hành tinh.

Các Ngài không thể vượt ra ngoài việc đó. Các Ngài chấm các lá số tử vi khác nhau cho chu kỳ sắp tới đã nói, các ghi nhận của các Ngài đều có tầm quan trọng sâu xa và rất có ý nghĩa. Ở đây tôi khẩn thiết yêu cầu các nhà nghiên cứu không nên thử (trong những năm sắp tới) tạo ra các phép tính theo chu kỳ thuộc bất cứ loại nào, vì cho đến nay nhiều tinh tòa chỉ tồn tại trong vật chất hồng trần với một bản chất dĩ thái không ai biết và không hề thấy. Tuy nhiên chúng có ảnh hưởng rất mạnh và cho tới khi nhãn thông dĩ thái được phát triển, thì tất cả các phép tính sẽ đầy dẫy sai lầm. Cho đến nay, con người chỉ đủ chế ngự chính dharma (thiên trách) của mình thôi, để hoàn thành karma tập thể, và để chế ngự những gì được gọi là “vận mệnh của mình” (“his stars”).

Giống như nguyên tử hành tinh, nguyên tử thái dương chẳng những quay trên trục của nó, mà cũng xoay theo hình xoắn ốc với dạng thức chu kỳ qua các Bầu Trời. Đây là một hoạt động khác nữa đối với việc cuốn đi hay là chuyển động lũy tiến năng động qua các Bầu Trời. Nó liên quan đến sự xoay của Mặt Trời chúng ta chung quanh một điểm trung ương và với sự liên hệ của nó với ba tinh tòa rất thường được nhắc tới trong Bộ Luận này:

- Chòm sao Đại Hùng (Great Bear).
- Chòm sao Rua (Pleiades).
- Mặt Trời Sirius (Thiên Lang).

Ba nhóm thể thái dương (solar bodies) này đều có ảnh hưởng tối cao xét về hoạt động xoắn ốc có chu kỳ của thái 1059 dương hệ chúng ta. Giống như trong nguyên tử con người, hoạt động xoắn ốc có chu kỳ thuộc về Chân Ngã và được kiểm soát từ thể Chân Ngã, thế nên liên quan với thái dương hệ, ba nhóm này có liên kết với Tam Thượng Thể Tinh Thần của Thượng Đế, atma-buddhi-manas, và ảnh hưởng của chúng có ưu thế liên quan với sự hóa nhập thái dương, với sự tiến hóa thái dương và với tiến bộ thái dương.

Hơn nữa, nên thêm rằng loại chuyển động thứ ba mà thái dương hệ chúng ta lệ thuộc vào, tức chuyển động lũy tiến, là kết quả của hoạt động hợp nhất của bảy chòm sao (thái dương hệ chúng ta hợp thành một trong bảy chòm đó) vốn hợp thành bảy trung tâm lực của Vũ Trụ Thượng Đế. Hoạt động hợp nhất này tạo ra một đồng nhất và từ từ thúc đẩy (nếu có thể diễn tả như thế) hướng về một điểm trong các bầu trời, cho đến nay còn xa lạ ngay cả đối với các Hành Tinh Thượng Đế.

Các hạn chế của chính các Bầu Trời là vô biên và hoàn toàn không biết được. Không có gì cả ngoại trừ sự suy đoán hoang tưởng nhất là có thể có đối với các thể trí nhỏ bé hữu hạn của con người, và sẽ không lợi ích gì cho chúng ta khi nghiên cứu vấn đề. Hãy đi ra ngoài trời vào một đêm trong sáng đầy sao và tìm cách nhận thức rằng trong nhiều ngàn mặt trời và chùm sao thấy được đối với mắt trần của con người, và trong số mười triệu mà kính viễn vọng hiện nay khám phá ra được, người ta thấy biểu lộ hồng trần của biết bao triệu sự sống thông tuệ, điều này đưa đến kết luận rằng những gì hữu hình chỉ là các sự sống đang lâm phàm. Nhưng chỉ một phần bảy của các hiện tượng (appearances) có thể xảy ra đang lâm phàm (incarnating). Sáu phần bảy đang ở ngoài sự lâm phàm, chờ đến phiên họ biểu lộ, và do dự lâm phàm cho đến khi, đến chỗ ngoặt của cuộc đại tuần hoàn (great wheel), các tình trạng thích hợp và hoàn hảo hơn có thể xảy ra.

Nhận thức xa hơn cho thấy rằng các thể của tất cả các Hành Tinh Thượng Đế, các Thái Dương Thượng Đế, các Vũ Trụ Thượng Đế thông tuệ hữu cảm thức này đều được cấu tạo bằng các bản thể hữu cảm thức linh hoạt (living sentient beings) và bộ óc bị choáng váng (reels), còn thể trí lùi lại trong sự mất tinh thần trước một ý tưởng gây sửng sốt như thế. Tuy nhiên hẳn phải như vậy thôi, và thế là tất cả đều tiến tới đến một mục đích cuối cùng không thể dò được và tuyệt diệu vốn sẽ chỉ phần nào bắt đầu được hình dung bởi chúng ta khi tâm thức chúng ta mở rộng vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ và vượt ngoài cõi cảm dục vũ trụ cho đến khi nó có thể “nhận thức và suy tư” trên cõi trí vũ trụ. Điều đó đòi hỏi một nhận thức vượt quá nhận thức của Đức Phật, Đấng có được tâm thức của cõi hồng trần vũ trụ, và vượt quá tâm thức của các Hành Tinh Thượng Đế. Đó là tâm thức và hiểu biết của một Thái Dương Thượng Đế.

Đối với đạo sinh huyền linh học, tức là kẻ đã phát triển được khả năng nội nhãn thông (inner vision), nhờ đó vòm trời có thể được nhìn thấy như là một ngọn lửa chói sáng với ánh sáng, còn các tinh tú như là các điểm tập trung lửa, từ đó tỏa ra các luồng năng lượng mạnh mẽ. Bóng tối là ánh sáng đối với Nhà Linh Thị giác ngộ (illumined Seer) và cái bí ẩn của các Bầu Trời có thể được đọc và được diễn tả bằng các thuật ngữ chỉ các luồng thần lực, các trung tâm năng lượng và các vùng ngoại vi thái dương hệ năng động nóng bỏng.

4. ĐỊNH LUẬT PHÁT XẠ (Law of Radiation).
(Trích LVLCK, 1060 - 1082)

Người ta thấy rằng nhiều thời gian sẽ được dành cho cách diễn tả hoạt động thiêng liêng này hơn là hoạt động nào khác trong tiết này, vì đó là hoạt động hữu ích thực tế nhất. Định Luật Phát Xạ là định luật bắt đầu được các nhà khoa học nhận biết từ khi họ chấp nhận hoạt động phóng xạ của một vài chất, và khi họ sẵn sàng đạt gần được quan niệm huyền linh về phóng xạ, hay là tình trạng phóng xuất, của mọi vật chất ở một điểm đặc biệt trong mức tiến hóa, bấy giờ họ sẽ tiến tới Thực Tại một cách rất dứt khoát.

Phát xạ là hiệu ứng bên ngoài được tạo ra bởi mọi hình hài trong mọi giới khi hoạt động bên trong đạt đến một giai đoạn hoạt động rung động mạnh đến nỗi các vách giam nhốt của hình hài không còn tạo ra ngục tù nữa, mà để cho thoát ra tinh chất bên trong. Nó đánh dấu một mức độ thành đạt đặc biệt trong diễn trình tiến hóa, và điều này cũng đúng đối với nguyên tử vật chất mà nhà hóa học và nhà vật lý đang bận tâm đến, khi đang tác động đến các yếu tố, vì nó thuộc về hình hài trong giới thực vật, các hình hài trong giới động vật, trong giới 1061 nhân loại và cũng trong giới thiêng liêng nữa.
Theo một số góc nhìn, có thể được xem như “hình hài đích thực” (mà về mặt huyền linh, phải được hiểu như là hình thức năng lượng bằng dĩ thái) giúp cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận sao cho nó trở nên rõ rệt ngay cả với nhà khoa học.

Ở đây, các nhà nghiên cứu nên nhớ hai điều:

- Thứ nhất, trong mọi kết luận huyền linh học, chính là thể năng lượng mới được bàn đến, và sự sống nội tại đàng sau của hình hài mới được nhận biết như là vô cùng quan trọng.
Thứ hai, chính biểu lộ ngoại cảnh trọng trược, như đã thường được nhắc đi nhắc lại, không được xem như một nguyên khí chút nào; nhà huyền linh học chỉ bàn đến các nguyên khí mà thôi.
Ở đây, có thể là có ích mà nhắc nhở đạo sinh rằng ngoài ra, có ba điều phải được nhận biết trong mọi biểu lộ:
Thứ nhất, chính cái bên ngoài biểu lộ hữu hình, thụ động, có tính tiếp nhận và vô tổ chức về mặt huyền linh, là không có hình hài và tính cách hữu ích nếu không có kèm theo năng lượng bên trong.
- Thứ hai, chính “hình hài thực sự” hay là thần lực – hiện thể (force-vehicle) mới kích hoạt và tạo ra sự cố kết của những gì không được tổ chức.
- Thứ ba, chính “tinh hoa không ổn định” (“volatile essence”) hay là Sự Sống cốt yếu của tinh thần (spiritual essential Life), tự tập trung trong một điểm nào đó bên trong “hình hài đích thực” (1) .Khi nghiên cứu vấn đề hoạt động phóng xạ, chúng ta đang bàn đến hiệu quả được tạo ra bởi tinh hoa bên trong khi nó làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận qua hình hài, khi hình hài đã được đưa tới một giai đoạn có sự tinh luyện đến nỗi nó trở thành hiện hữu.

Khi nhận thức này được áp dụng cho mọi hình hài trong tất cả các giới, người ta có thể khắc phục các lỗ hổng hiện có giữa các hình thức sự sống khác nhau với “các yếu tố” (“elements”) trong mọi giới, và các trung tâm phát xạ hợp nhất này sẽ được tìm ra. Thuật ngữ “element” cho đến nay được giới hạn vào các vật chất căn bản trong những gì được gọi là vật chất thiết yếu (essential matter), và nhà hóa học lẫn nhà vật lý đều bận tâm đến các sự sống như thế; nhưng sự tương ứng của chúng (theo ý nghĩa huyền môn của thuật ngữ) được tìm thấy trong mọi giới ở thiên nhiên, và có các hình thức sự sống trong giới thực vật mà về mặt huyền linh học, được xem như “phóng xạ” (“radioactive”), cây khuynh diệp (eucalyptus, bạch đàn) vốn là một hình thức đó. Có các hình thức của sự sống động vật cũng ở vào một giai đoạn tương tự và đơn vị nhân loại (khi đơn vị này tiến tới “sự giải thoát” – liberation) cho thấy một hiện tượng tương tự.

Với tư cách một hành tinh hệ gần đến sự thành toàn của nó, lần nữa nó trở thành “phóng xạ”, và nhờ sự phóng xạ (radiation) chuyển di tinh hoa của nó cho một “Hành Tinh hấp thụ” (“absorbent planet”) hoặc các hành tinh khác, như là trường hợp cùng một thái dương hệ. Tinh hoa của nó, hay là Sự Sống đích thực của nó, được hấp thụ bởi một chòm sao tiếp nhận, và “trường hợp” bên ngoài quay về với tình trạng chưa tổ chức ban đầu của nó.
1063 Khi xem xét về định luật phóng xạ, trước hết chúng ta đề cập đến chủ đề nguyên nhân của phóng xạ.

a/ Nguyên nhân của phóng xạ. Nhà nghiên cứu sẽ chỉ có thể có được một cái nhìn đích thực về vấn đề này nếu y xem xét chủ đề theo một cách thức rộng lớn. Đương nhiên hai khía cạnh của vấn đề hiện ra trước tầm nhìn bằng trí của y, cả hai phải được bàn đến nếu bất cứ ý niệm thích hợp nào về vấn đề này cần được đạt đến, - một đề tài đã thu hút các triết gia, các nhà khoa học và các nhà luyện đan từ hàng trăm năm một cách vô tình hoặc hữu ý. Do đó, chúng ta phải xét:
a/ Những gì phát ra phóng xạ.
b/ Những gì là nguyên nhân bên trong của sự phóng xạ.

Có thể nêu ra một cách rất vắn tắt rằng khi bất luận hình hài nào trở nên phóng xạ, thì một số điều kiện đã được hoàn thành và một vài kết quả được mang lại, những điều kiện và các kết quả này có thể được tổng kết như sau:
Hình thức phóng xạ là hình thức tóm tắt lại các chu kỳ đã định của nó, qua vòng sự sống của nó, lớn hoặc nhỏ, nó đã chuyển hướng với tần số thích hợp, sao cho tinh hoa sự sống không ổn định sẵn sàng thoát ra khỏi hình hài đó và hòa nhập chính nó vào trong hình hài lớn hơn mà cái nhỏ chỉ là một phần của hình hài lớn đó. Cần nhớ rằng trong mối quan hệ này mà sự phóng xạ xảy ra khi hình hài dĩ thái hay hình hài đích thực trở nên đáp ứng với một số loại thần lực. Như được hiểu về mặt huyền linh học, sự phóng xạ tự nó không liên quan với việc thoát ra khỏi hình tướng vật chất hoặc trọng trược, mà liên quan đến giai đoạn trong sự sống của bất cứ thực thể sống động (thuộc nguyên tử, con người hoặc thiêng liêng) trong đó thể dĩ thái hay thể sinh lực ở vào một tình trạng đến nỗi nó không còn giới hạn hay ràng buộc sự sống nội tại nữa.

Sự phóng xạ xảy ra khi sự sống độc lập bên trong của bất cứ nguyên tử nào bị hóa giải bởi một thôi thúc mạnh mẽ, hoặc sự lôi kéo, xuất phát từ sự sống vĩ đại hơn đang bao bọc của cơ thể mà nó có thể hợp thành một phần. Tuy thế, điều này chỉ đúng khi nó được tạo nên bởi sự lôi cuốn dựa vào sự sống chủ yếu bởi sự sống cơ bản của hình hài vĩ đại hơn; nó không do mãnh lực thu hút của khía cạnh hình hài của sự sống vĩ đại hơn đó. Một sự phân biệt rất rõ rệt cần được tạo ra ở đây. Chính việc không nhận ra điều này đã đưa rất nhiều nhà nghiên cứu hóa học và nhà khảo cứu khoa học mất phương hướng và thế là đảo ngược/ làm tiêu tán các kết luận của nhiều năm nghiên cứu. Họ lẫn lộn sự thôi thúc của nguyên tử khi đáp ứng với lực hút do rung động từ điển của hình hài mạnh mẽ và có khả năng lĩnh hội hơn với sức lôi cuốn huyền bí đích thực mà một mình nó tạo ra “bức xạ huyền linh” (“occult radiation”), - bức xạ của sự sống cốt yếu ở trung tâm của hình hài mà yếu tố ở dưới sự xem xét có thể có vị trí trong đó. Minh giải việc này ngay từ lúc đầu là điều rất cần. Có lẽ toàn bộ vấn đề có thể trở nên sáng tỏ hơn nếu chúng ta nghiên cứu việc đó theo cách sau đây.

Trong một hình hài (form), nguyên tử xoay trên chính trục của nó, tuân theo động tác xoay riêng của nó, và sống theo cuộc sống bên trong của riêng nó. Điều này liên quan với nhận thức (awareness) ban đầu của nó. Theo thời gian trôi qua, nó trở nên biết được, bằng từ điển, bản chất thu hút của những gì đang bao bọc nó ở mọi phía và trở nên biết được hình hài đang bao bọc nó. Đây là tri thức thứ nhì của nó, nhưng điều đó vẫn còn liên quan tới những gì mà chúng ta có thể, vì thiếu một danh xưng thích hợp hơn, gọi là vật chất (matter). Do đó, nguyên tử này có một tương tác với các nguyên tử khác.

Về sau, nguyên tử trong một hình hài trở nên biết được rằng không những nó chỉ xoay quanh trên trục của nó, mà nó cũng còn tuân theo một quỹ đạo chung quanh một trung tâm lực lớn hơn bên trong một hình hài vĩ đại hơn. Đây là tri thức thứ ba và được tạo nên bởi lực hút từ điển của trung tâm lớn hơn được cảm nhận, như vậy tạo nên một thôi thúc bên trong nguyên tử đang đẩy nó hoạt động bên trong một vài chu kỳ đặc biệt. Hiểu về mặt huyền bí, tri thức này tự nó có liên quan với vật chất hoặc với hình hài đích thực bên trong hình hài lộ ra bên ngoài.

Sau cùng, lực hút của trung tâm lớn hơn trở nên mạnh đến nỗi sự sống tích cực bên trong nguyên tử (bất kể đó có thể là loại nguyên tử nào và thuộc bất cứ giới nào) cảm nhận được lực của năng lượng trung ương đang nắm giữ nó, cùng với các nguyên tử khác kết hợp đầy đủ chức năng của chúng. Năng lượng nhập vào qua vòng-giới-hạn, không gợi ra sự đáp ứng nào từ những gì có thể được gọi là các sự sống điện tử hoặc sự sống tiêu cực bên trong chu vi nguyên tử, nhưng rõ rệt khơi hoạt một đáp ứng từ cái nhân dương thiết yếu của nguyên tử. Điều này do bởi sự kiện rằng sự sống thiết yếu của bất luận nguyên tử nào, tức là khía cạnh tích cực/dương tính cao siêu nhất của nó, bao giờ cũng có bản chất như bản chất của sự sống vĩ đại hơn đang đưa sự sống đó về chính nó. Khi điều này được cảm nhận đủ mạnh, chu kỳ nguyên tử được hoàn tất, hình hài trọng trược bị xua đi, hình hài đích
thực bị tiêu tan, và sự sống trung ương thoát ra để tìm điểm tập trung từ lực lớn hơn của nó.

Qua tiến trình này (vốn được thấy khắp thái dương hệ trong tất cả các bộ môn của nó) mọi nguyên tử đến lượt trở thành một điện tử. Vào thời điểm thích hợp của cơ tiến hóa, sự sống dương của bất cứ nguyên tử nào cũng trở thành sự sống âm đối với sự sống vĩ đại hơn hướng về những gì mà nó bị thúc đẩy hoặc lôi cuốn, và thế là diễn trình tiến hóa đưa mọi sự sống lúc nào cũng xuyên qua bốn giai đoạn liệt kê ở trên. Bên trong ba giới thấp của thiên nhiên, diễn trình được trải qua một cách không chủ ý, theo hàm nghĩa của con người về thuật ngữ đó; điều đó được trải qua một cách có chủ tâm khắp trong giới nhân loại, và trong các lĩnh vực hiện tồn cao hơn, với một tâm thức đang bao bọc mà chỉ có thể được ám chỉ bằng thuật ngữ mơ hồ “nhận thức hữu ngã thức của tập thể”.

Chính các nhà luyện đan thời cổ bận tâm đến tiến trình chuyển hóa này, nhưng ít khi họ đạt đến giai đoạn mà trong đó họ có thể liên hệ chính họ với sự đáp ứng của hai loại năng lượng dương với nhau, và với sự vượt thoát sau đó của mãnh lực dương nhỏ hơn so với trung tâm thu hút lớn hơn của nó. Khi họ đã làm (với một vài ngoại lệ), họ phải đối mặt với một bức tường chết (dead wall), vì mặc dù họ đã thành công trong việc xác định vị trí nguyên tắc phát xạ (radiating principle) trong vật chất, hoặc là trong hình hài đích thực, và đã đạt được kết quả đi xuyên qua (hoặc là vô hiệu hóa) cả thể
1066 xác trọng trược lẫn dĩ thái hình, tuy nhiên họ đã không có nhận thức nào về bản chất của trung tâm lực vốn đang thu hút sự sống mà họ đã quan tâm tới ra khỏi lĩnh vực hợp lý bên ngoài đi vào lĩnh vực hoạt động mới. Một ít người có được tri thức này, nhưng (nhờ nhận thức về mối nguy hiểm của các kết thúc của chúng) đã từ chối khi viết ra kết quả do các khảo cứu của họ.

Nếu các nhà nghiên cứu muốn khảo sát các định luật về chuyển hóa, (1) như đã được hiểu rõ, và nhất là như được kết hợp trong các tác phẩm của Hermes Trismegistus, hãy ghi nhớ điều này một số kết quả lý thú có thể được mang lại. Hãy để cho họ nhớ rằng những gì “tìm kiếm tự do” là tia lửa điện ở giữa; tự do này được đạt đến trước tiên qua các kết quả được mang lại bởi hoạt động của “lửa ma sát” vốn đẩy nhanh rung động bên trong của nó; kế đó bởi công việc dựa vào nguyên tử, hay là vật chất của Lửa thái dương, nó tạo ra:

a. Sự phát triển trên quỹ đạo,
b. Rung động do kích thích,
c. Đáp ứng bên trong được khơi hoạt,
cho đến khi sau cùng lửa điện được tiếp xúc. Điều này đúng với mọi nguyên tử:

a/. Nguyên tử của vật chất,

b/. Nguyên tử của bất cứ hình tướng nào,

c/. Nguyên tử của một giới trong thiên nhiên,

d/. Nguyên tử của một hành tinh,

e/. Nguyên tử của một thái dương hệ.

Trong mọi trường hợp, ba lửa hoặc loại năng lượng đều góp phần của chúng; trong mọi trường hợp bốn giai đoạn được vượt qua, trong mọi trường hợp sự chuyển hóa, chuyển đổi hoặc phát xạ xảy ra, và kết quả của sự đào thoát của năng lượng dương ở trung tâm được đạt tới, và sự thu hút của nó vào một hình hài lớn hơn, được giữ ở chỗ thích hợp trong một chu kỳ đặc biệt bằng một năng lượng mạnh hơn.
Như chúng ta thấy, tiến trình tạo ra phóng xạ tất cả các yếu tố đã làm bận tâm các nhà nghiên cứu qua các thời đại. Các nhà luyện đan của thời Trung Cổ bắt đầu với các yếu tố đơn giản hơn và bắt đầu với giới khoáng chất, đã tìm ra cái bí ẩn của tiến trình giải thoát, biết được phương pháp giải phóng và hiểu được các định luật chuyển hóa. Trong đa số trường hợp, họ không thành công vì dù đã xác định được tinh chất, họ lại không có ý tưởng làm thế nào để xử lý nó khi được phóng ra, lại cũng không (như chúng ta đã thấy) có bất cứ ý niệm nào về từ lực vốn đang kéo tinh hoa đã được giải thoát vào chính nó.

Để hiểu được thiên luật và nhờ đó có thể hoạt động hoàn hảo với thiên luật, nhà nghiên cứu đang thử nghiệm phải có khả năng giải thoát tinh hoa ra khỏi hình hài của nó. Y phải thông hiểu các thần chú và các linh từ, vốn sẽ điều khiển nó đến điểm tập trung đặc biệt đó trong giới khoáng chất, vốn thay thế trong cùng mối liên hệ tương ứng với Chân Thần khoáng chất giống như Ego trên cõi riêng của nó thay thế cho con người mà người này đã thải bỏ các hình hài vật chất và đích thực của mình qua cái chết. Điều này liên quan đến tri thức chỉ được cam kết dành cho đệ tử hữu thệ; nếu các đạo sinh tình cờ vấp vào luật, và biết được tiến trình về mặt lý thuyết, họ thường cẩn trọng không tiến hành thêm nữa cho đến khi họ đã học được cách làm thế nào để bảo vệ chính mình khỏi sự tương tác của các lực. Như chúng ta biết rõ, những người làm việc với chất radium và những người thực nghiệm trong các phòng thí nghiệm trên thế giới, thường chịu đau khổ do mất tay chân hoặc sự sống; đây là do sự thiếu hiểu biết của họ về các lực mà họ đang có dính dáng tới. Các tinh hoa được giải thoát trở thành các tác nhân dẫn truyền (conductors) thần lực lớn lao vốn là trung tâm từ lực của chúng, bởi vì các tinh hoa đó đáp ứng với trung tâm từ lực và chính lực này tạo ra các tình trạng gây tai họa đôi khi hiện diện liên quan với các chất phóng xạ. Qua khả năng dẫn truyền này, mọi nguyên tử phóng xạ đều trở thành một tác nhân phóng rải (releasing agent); và tất nhiên chúng gây nên điều mà chúng ta gọi là cháy bỏng (burns). Các cháy bỏng này là kết quả của tiến trình giải phóng sự sống cốt tử của nguyên tử của vật chất hồng trần đang được bàn tới.

Ở đây có hiện tượng kỳ lạ nên được chú ý, trong giới nhân loại, vốn được gọi một cách sai lầm là kéo dài sự sống (prolongation of life); đúng thực hơn nên được gọi là lưu truyền hình hài (perpetuation of the form). Y khoa ngày nay đang dốc hết mọi nỗ lực để giữ lại sự sống trong các hình hài bệnh hoạn và không còn thích hợp nữa; nếu để mặc cho Thiên Nhiên, thì không bao lâu nữa Thiên Nhiên sẽ vứt bỏ các hình hài này. Như vậy, các hình hài chỉ giam nhốt sự sống, và đè nén tinh hoa sự sống lần này lần khác vào trong thể thấp thay vì để cho giải thoát. Cuối cùng và với tri thức ngày càng tăng, y khoa chân chính sẽ trở nên hoàn toàn có tính chất phòng ngừa. Y khoa đó sẽ tập trung năng lực của nó vào việc duy trì sự sống nguyên tử của nguyên tử nhân loại và khi xúc tiến các tiến trình bảo vệ và phòng ngừa, và việc làm trơn tru theo chức năng của sự sống có chuyển động quay của nguyên tử, như vậy dẫn đến việc noi theo chính xác của quỹ đạo con người. Nhưng việc tiến xa hơn thế sẽ không diễn ra, và khi tiến trình của thiên nhiên diễn ra, khi bánh xe của sự sống ngưng hoạt động, khi giờ giải thoát đã điểm, khi thời cơ đã đến cho việc hoàn lại cái tinh hoa cho trung tâm của nó, lúc bấy giờ công việc sẽ được nhận biết như là hoàn tất, và hình hài được tách ra. Tuy thế, điều này sẽ không thể xảy ra cho đến khi gia đình nhân loại đã đạt đến một giai đoạn mà qua cách sống trong sạch và tư duy trong sáng, các hư hoại hiện có sẽ bị loại trừ. Bấy giờ, con người sẽ hoạt động đến tận tuổi già, hay là cho đến khi Ego, do nhận thức được công việc đặc biệt cần được hoàn thành trong bất cứ một kiếp sống nào, đã được tiến hành đúng lúc, kêu gọi đến tia sáng thấp bé của sự sống và triệt thoái điểm lửa trung ương. Đương nhiên, việc này đòi hỏi sự hiểu biết và các năng lực mà hiện nay hãy còn thiếu.
Tất cả các ý tưởng này đều có thể được mở rộng để bao gồm toàn bộ các giới của thiên nhiên, các bầu của một dãy hành tinh, chính các dãy, một hành tinh hệ hoặc một thái dương hệ.

Mặt trăng là một thí dụ lý thú của tiến trình chuyển hóa hay là tiến trình giải phóng được hoàn tất thực sự trong một bầu: sự sống chính yếu của giới nhân loại đã triệt thoái và đã tìm thấy một lĩnh vực biểu lộ mới. Mọi sự sống động vật cũng được hấp thụ bởi một trung tâm vĩ đại hơn trong một dãy khác. Một cách thực tế, cùng một sự việc cũng có thể được nói về giới thực vật trên mặt trăng mặc dù có một vài các hình thức thấp kém của sự sống thực vật (thuộc một loại mà chúng ta không thể nhận biết được) vẫn còn được tìm thấy ở đó. Trong khi giới khoáng chất bị phóng xạ và tinh hoa của mọi hình hài khoáng chất đang nhanh chóng thoát ra.
Liên quan với các giới của thiên nhiên, cần phải nhớ rằng sự tăng trưởng của chúng và sự phát xạ sau rốt tùy thuộc vào mục tiêu chu kỳ của Hành Tinh Thượng Đế, và tùy vào các luồng thần lực đang tác động vào thể hành tinh của Ngài, và phát ra từ các hệ hành tinh khác.

Mọi nguyên tử đều trở nên phóng xạ như là kết quả của một đáp ứng với một trung tâm từ lực mạnh hơn, đáp ứng này được mang lại qua việc phát triển tiến hóa từ từ của tâm thức thuộc loại này hoặc loại khác. Điều này được biết là hiện thực ở một cấp độ nhỏ có liên quan với giới khoáng chất mặc dù các nhà khoa học chưa thừa nhận rằng sự phóng xạ được tạo ra như thế. Sau này họ sẽ thừa nhận, nhưng chỉ khi nào lý thuyết chung này được đưa ra nơi đây có liên quan với mọi nguyên tử được họ thừa nhận là một lý thuyết đáng tin. Lúc đó mục tiêu nỗ lực của họ sẽ được thay đổi phần nào; họ sẽ tìm cách tìm hiểu chắc chắn qua việc suy tưởng sáng suốt và một nghiên cứu về sự tương đồng phức tạp những gì mà các điểm tập trung của năng lượng có sức thu hút có thể được xem như hiện hữu, và làm thế nào mà chúng tác động đến các nguyên tử ở môi trường chung quanh chúng. Ở đây chỉ có thể đưa ra một gợi ý mà thôi. Ánh sáng dựa vào các vấn đề tối tăm này sẽ đến theo hai hướng.

Thứ nhất, ánh sáng sẽ đến qua việc nghiên cứu vị trí của thái dương hệ trong tổng thể vũ trụ và hiệu quả mà một vài tinh tòa đang có dựa trên ánh sáng đó; thứ hai, ánh sáng sẽ đến nhờ một nghiên cứu chặt chẽ về ảnh hưởng của một hành tinh hệ này trên hành tinh hệ khác và vị trí của mặt trăng trong sự sống hành tinh của chính chúng ta. Điều này sẽ dẫn đến một tìm kiếm chặt chẽ về các tình trạng cực của địa cầu, của các luồng từ lực hành tinh, và của sự giao tiếp về điện giữa Địa Cầu chúng ta với các hành tinh hệ Venus và Mars. Khi điều này đã được hoàn thành, môn thiên văn học và chiêm tinh học huyền bí sẽ được cách mạng hóa, và bản chất của năng lượng mặt trời dưới hình thức một biểu lộ của một Thực Thể thuộc đẳng cấp thứ tư sẽ được đánh giá cao. Điều này sẽ xảy đến vào cuối thế kỷ này sau một khám phá khoa học thậm chí có tầm quan trọng rất lớn cho giới khoa học còn hơn là khám phá về bản chất của nguyên tử. Cho đến lúc đó, sẽ càng khó mà diễn tả ý niệm vật hoạt luận (hylozoistic conception) bằng các thuật ngữ của khoa học chính xác, như thuật ngữ đó được dành cho tổ tiên hồi thế kỷ mười sáu của nhân loại hiện nay, khi hình dung nguyên tử như đơn giản chỉ là một trạng thái của lực, chớ không phải là biểu lộ ngoại cảnh và cụ thể hữu hình. Do đó việc giải thích xa hơn sẽ chỉ làm mơ hồ mà thôi.
Khi xem xét vấn đề phóng xạ rộng lớn này, vốn là kết quả của chuyển động tiệm tiến theo hình xoắn ốc, có thể là lý thú nếu ở đây tôi nêu ra rằng trong mọi giới của thiên nhiên đều có một số điểm tập trung năng lượng mà theo các thiên kỷ dần dần trôi qua, đem vật chất nguyên tử mà tất cả các hình hài trong mọi giới được tạo thành từ đó đến điểm mà chúng trở thành phóng xạ và được giải thoát. (Thuật ngữ “liberation” – giải thoát – thực ra có hàm ý năng lực của bất cứ nguyên tử hữu thức nào khi ra khỏi một lĩnh vực có ảnh hưởng về năng lượng vào một lĩnh vực khác có rung động cao hơn, có phạm vi nhận thức của tâm thức rộng lớn hơn).
- Nói chung, có thể cho rằng:

Giới khoáng chất đáp ứng với loại năng lượng vốn là trạng thái thấp nhất của lửa, của các lò lửa nội tại, chúng phát huy ảnh hưởng trên các yếu tố trong thế giới khoáng chất và chúng phân giải các sự sống nguyên tử này thành một loạt dần dần gồm các loại năng lượng khoáng chất bao giờ cũng cao hơn. Thí dụ, loại năng lượng vốn tác động vào mỏ sắt, hoặc năng lượng tạo ra thiếc, được phát ra từ một trung tâm khác trong cơ thể của Thực Thể đang làm linh hoạt giới khoáng chất thành những gì vốn chuyển đổi các yếu tố này thành các đá quý kỳ diệu, như kim cương, sapphire, bích ngọc (emerald) hoặc hồng ngọc (ruby). Năng lượng của trung tâm đặc biệt có liên quan cũng đáp ứng với mãnh lực bắt nguồn trong trung tâm trong cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế - trung tâm nào tùy thuộc vào giới cần được làm cho linh hoạt. Do đó, khi bàn đến các giới này, các liên hệ có thể được nêu ra vắn tắt như sau:

Giới Trung Tâm Hành Tinh
a. Nhân loại ......................... Bí huyệt tim
b. Động vật ......................... Bí huyệt cổ họng
c. Thực vật ......................... Bí huyệt đan điền
d. Khoáng vật ...................... Lá lách

Dĩ nhiên, trung tâm Chân Ngã hành tinh là tác nhân truyền đạt đến mọi trung tâm khác, và liên quan đến điều này, cần nên nhớ rằng mỗi trung tâm đều truyền ba loại thần lực, ngoại trừ lá lách có nhiệm vụ chuyển các lửa thái dương, sinh lực (pranic force), thuần khiết và đơn giản. Sau rốt, các đạo sinh sẽ xác định cách nào để tập hợp các loại khác nhau trong các giới khác nhau tùy theo loại năng lượng mà chúng biểu lộ ở mức độ đầy đủ nhất, nên nhớ rằng chỉ trong giới thứ tư, giới nhân loại, loại cao nhất trong ba loại (loại vốn tạo ra ngã thức) mới đang biểu lộ; trong các giới khác nó còn tiềm tàng. Điều này sẽ trở nên lộ rõ nếu phương pháp biệt ngã hóa ở nguyệt cầu (lunar individualisation) được nghiên cứu.

Giới thực vật đáp ứng với loại năng lượng đặc biệt vốn tạo ra hiện tượng nước hay ẩm ướt. Nhờ hiệu quả của nước, mọi loại sự sống thực vật cao cấp mới tiến hóa, và nhờ sự phối hợp của nhiệt và nước, các kết quả được mang lại, tạo ra các kiểu mẫu mới. Nhà thảo học (chuyên về cỏ), kẻ đang tạo ra các loài mới, thực sự bận tâm với ảnh hưởng của năng lượng tính dục trong giới thứ hai của thiên nhiên; y sẽ thành công khi xử lý với mọi sự sống cây cỏ, như các điểm năng lượng đáp ứng với các trung tâm năng lượng khác to tát hơn. Nhiều điều sẽ được học hỏi theo đường lối này khi điện lực và các ánh sáng màu được dùng thoải mái hơn trong các trạm thí nghiệm. Trong giới khoáng chất, phái tính (sex) tức là ái lực hóa học (chemical affinity: khuynh hướng của một số chất muốn phối hợp với các chất khác – T. Đ. OXFORD 1994) bộc lộ (display, phơi bày) trong giới đó loại thứ nhì của từ lực; trong giới thực vật, cùng một sự việc có thể được nghiên cứu trong sự sống hạt giống, và trong các tiến trình thụ phấn của mọi cây cỏ. Neptune (Hải Vương Tinh), Vị Thần của Nước, có một mối liên hệ lạ lùng với Hành Tinh Thượng Đế chúng ta, và cũng với Thực Thể (Entity), Đấng đang là sự sống làm linh hoạt của giới thứ hai.

Giới động vật đáp ứng với một loại năng lượng vốn không là lửa, cũng không phải là nước, mà là kết hợp của cả hai. Chúng cũng là giới đầu tiên trong các giới trên cõi trần đáp ứng với âm thanh (sound), hay với năng lượng phát ra từ những gì mà chúng ta gọi là tiếng động (noise). Đây là một sự kiện huyền linh đáng quan tâm chặt chẽ. Năng lượng tỏa ra từ Thực Thể Thông Linh, Đấng đang là Sự Sống làm linh hoạt của giới thứ ba trong thiên nhiên, có năm vận hà tiếp cận, đó là năm trung tâm lực. Để làm sinh động giới thứ tư, có bảy trung tâm lực, vì thể trí và trực giác được thêm vào. Trong giới thứ hai có ba trung tâm lực, nhưng biểu lộ của chúng còn lờ mờ đến độ dường như thực sự không hiện hữu đối với trí người.

Trong giới thứ nhất tức giới khoáng chất, con đường tiếp cận bị giới hạn vào một trung tâm lực. Do đó, điều sẽ được quan sát là sự kích thích của năng lượng từ lực tiến hành từ những gì có thể được xem như các bước nhảy, 1 – 3 – 5 – 7. Mỗi giới bắt đầu với một trang bị đặc biệt và trong diễn trình tiến hóa của giới, trang bị đó được thêm vào cho nên sự sống giải thoát tiến vào giới kế tiếp với trang bị cũ của nó cộng thêm một.

Giới nhân loại cũng đáp ứng với năng lượng. Lần này chính năng lượng của lửa ở biểu lộ cao nhất của nó trong ba cõi thấp. Cần phải nhớ rằng chúng ta đang đề cập tới năng lượng của Tổng Thể vĩ đại khi nó tác động đến các điểm năng lượng dương. Chúng ta không đề cập đến năng lượng của hình hài.

Nguyên tử trở nên đáp ứng với năng lượng hình hài hoặc với những gì đang bao quanh nó. Nó trở nên có ý thức và kế đó trở nên đáp ứng với mãnh lực của giới mà nó là một phần trong đó. Nó từ từ trở nên đáp ứng với các ảnh hưởng mạnh hơn hoặc với mãnh lực phát ra từ Thực Thể Thông Linh, Đấng vốn là sự sống của giới đó.

Sau cùng, nguyên tử trở nên có ý thức về năng lượng hành tinh, hay đáp ứng với Chính Hành Tinh Thượng Đế.
Lúc đó, nó vượt qua giới mà trong đó nó đã sống và được nâng lên đi vào một giới khác mà chu kỳ được lặp trở lại.

Mọi điều này có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ về tâm thức, nhưng trong tiết này, chúng ta sẽ giới hạn tư tưởng chỉ vào ý tưởng về năng lượng mà thôi. Để tóm tắt, có thể nói rằng:

1. Hành Tinh Thượng Đế có bảy trung tâm lực, giống như con người.
2. Sự Sống làm linh hoạt của giới động vật có năm trung tâm lực, và giới động vật có năm nguyên mẫu trên cõi nguyên hình, trong lúc con người có bảy nguyên mẫu (prototypes).
3. Đấng làm linh hoạt của giới thực vật có ba trung tâm lực trên cõi riêng của Ngài, do đó chỉ có ba kiểu sự sống thực vật căn bản. Tất cả những gì mà chúng ta biết chỉ là các biến phân của ba kiểu này.
4. Đấng làm linh hoạt của giới khoáng chất hoạt động qua một trung tâm lực.

b/ Phóng xạ trong năm giới. Chúng ta đã thấy rằng nguyên nhân của sự phóng xạ (radiation) là sự đáp ứng của sự sống dương (positive, tích cực) trong bất cứ nguyên tử nào đối với lực hút của sự sống tích cực trong một nguyên tử vĩ đại hơn. Nói cách khác, chúng ta có thể bảo rằng sự sống thiên thần của bất luận hình hài nguyên tử nào tiếp tục với sự tiến hóa của nó, và bằng một loạt các “tháo gỡ” (“releases”) chuyển chính nó trong các chu kỳ khai nguyên ra khỏi một giới này vào trong một giới khác cho đến khi mọi nguyên tử đạt được tự quyết (self-determination), và như thế mục đích của Hành Tinh Thượng Đế trong bất cứ đại chu kỳ khai nguyên đặc biệt nào được hoàn thành một cách thỏa đáng. Do đó, như có thể mong đợi, khi vấn đề được xét dưới hình thức một tổng thể chứ không theo quan điểm của bất cứ một giới nào, trong diễn trình tiến hóa, có năm sự nhất-quán (at-one-ments) xảy ra.
1. Nhất-quán với giới khoáng chất.
2. Nhất-quán của Chân Thần khoáng chất với giới thực vật.
3. Nhất-quán của Chân Thần thực vật với giới động vật.
Sự sống lũy tiến giờ đây đã tạo được ba nhất-quán hay là mở rộng nhận thức của nó ba lần.
4. Nhất-quán với giới nhân loại.
5. Nhất-quán với Hành Tinh Thượng Đế hoặc với sự sống hành tinh vĩ đại.

Cùng với năm giai đoạn này, một trong các nhất-quán đó được xem xét trong thái dương hệ này trở thành quan trọng nhất, đó là sự nhất-quán với giới nhân loại. Đối với chu kỳ lớn đặc biệt này, mục tiêu của tiến hóa là con người; khi đạt được sự biệt ngã hóa và sự tự quyết được khơi dậy, Monad hay là Người Hành Hương Thiêng Liêng (Divine Pilgrim) đã đạt đến những gì biểu lộ thiên-ý hoàn hảo nhất. Các giai đoạn sau chỉ đặt vương miện lên kẻ chiến thắng và sự nhấtquán cuối cùng với Linh Ngã (divine Self) chỉ là sự hoàn tất của giai đoạn thứ tư. Các nhà nghiên cứu sẽ thấy lý thú khi giải đáp được sự tương ứng giữa năm cuộc điểm đạo với năm sự hợp nhất (unifications, nhất quán) này. Có một liên hệ chặt chẽ giữa cả hai. Bằng cách hiểu được các định luật của các giới khác nhau, nhiều điều có thể học được liên quan đến các tình trạng đang chi phối năm cuộc điểm đạo. Người ta thấy rằng các cuộc điểm đạo đánh dấu các giai đoạn trong sự đáp ứng để tiếp xúc và để nhận thức vốn có các mầm mống lý thú của chúng trong năm giới.

Ở đây có thể nêu ra với sự thích đáng rằng phóng xạ là kết quả của sự chuyển hóa; việc chuyển hóa đánh dấu sự hoàn thành một chu kỳ của hoạt động quay xoắn ốc. Không một nguyên tử nào trở nên phóng xạ cho tới khi nhịp điệu bên trong của chính nó đã được kích hoạt đến một điểm mà sự sống tích cực ở trung tâm trở nên sẵn sàng cho việc áp đặt một hoạt động cao hơn, và khi các sự sống tiêu cực trong vòng chu vi nguyên tử bị đẩy lui bằng sức mạnh của rung động của nó và không còn bị thu hút bởi các tính chất lôi cuốn của nó nữa. Điều này do bởi việc tiến gần và sự đáp ứng sau đó với rung động từ lực của một sự sống tích cực còn mạnh hơn nữa, sự sống này giải thoát tia sáng trung tâm bị giam nhốt và gây nên cái mà theo một số khía cạnh có thể được gọi là sự phân tán (dissipation) của nguyên tử. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, tiến trình này bao gồm một thời gian rộng lớn đến nỗi trí óc con người không thể theo dõi được diễn trình.

Đa số giai đoạn phóng xạ đều dài nhất trong giới khoáng chất, và ngắn nhất trong con người. Chúng ta không bận tâm đến phóng xạ trong giới tinh thần vào lúc kết thúc kỳ đại khai nguyên, thế nên không có lời bình nào sẽ được đưa ra ở đây.
Thật là lý thú mà ghi nhận rằng trong cuộc tuần hoàn này, do quyết định cấp hành tinh, tiến trình tạo ra phóng xạ con người hay là “giải thoát” (“release”) được kích hoạt nhân tạo qua phương pháp mà chúng ta gọi là điểm đạo và đường đi tắt (short cut) đến sự thanh luyện cao độ và sự kích hoạt được mở ra với tất cả những ai sẵn sàng vượt qua ngọn lửa luyện đan thiêng liêng. Cùng lúc, trong các giới khác của thiên nhiên, một tiến trình phần nào giống như vậy dù không ở cấp độ được thử nghiệm. Việc tận dụng quá mức các quặng mỏ, công việc khoa học của nhà hóa học, và sự nghiên cứu khoa học tương tự trong giới khoáng chất đối với các tiến trình thế giới vốn đang được sử dụng để giải thoát tia linh hỏa của con người. Thí dụ do sự hỗn độn và xáo trộn của Thế Chiến và ảnh hưởng của kim loại đang bị sự tan rã dữ dội, Chân Thần khoáng chất được biết đến như từ cuộc thử thách khởi đầu, không thể hiểu được vì điều này có vẻ như thế. Điều sẽ thành hiển nhiên là một hoạt động lớn lao cùng lúc đang đi đến chỗ tạo ra phóng xạ nhanh hơn nhiều trong mọi giới của thiên nhiên sao cho khi chu kỳ đang diễn ra, thì tiến trình của phóng xạ hành tinh có thể trở nên hoàn tất. Sự tu dưỡng mãnh liệt này không diễn ra trên mọi hành tinh mà chỉ trên rất ít hành tinh. Các hành tinh khác sẽ hoạt động theo chu kỳ dài hơn. Tiến trình vun trồng mở đầu vốn dự kiến kích hoạt phóng xạ từ lực hoặc chuyển hóa chỉ là một thực nghiệm. Tiến trình đó được thử lần đầu trên Kim Tinh (Venus) và nói chung tỏ ra thành công, đưa đến kết quả trong việc hoàn thành mục tiêu hành tinh trong năm cuộc tuần hoàn thay vì bảy. Đây là những gì đã được làm nếu có thể vận dụng năng lượng của Venus trên dãy Venus và bầu Venus của hành tinh hệ chúng ta, và như thế tạo nên hiện tượng biệt ngã hóa bắt buộc vào thời Lemuria. Đó là sự kích hoạt mạnh mẽ của giới thứ ba của thiên nhiên, trong căn chủng thứ ba vốn được hợp nhất một cách nhân tạo ba trạng thái. Tiến trình kích hoạt nhờ vào năng lượng Venus thật sự đã bắt đầu trong cuộc tuần hoàn thứ ba khi tam giác lực được hoàn tất và sẵn sàng hoạt động. Chính yếu tố này mà về mặt huyền linh làm cho cuộc điểm đạo thứ ba có tầm quan trọng phi thường như thế. Trong đó tam giác con người được nối liền, Monad, Ego, và phàm ngã, hay là Venus, Mặt Trời và Địa Cầu được liên kết về biểu tượng.

Ở đây cũng đủ để mang lại cho nhà nghiên cứu cơ hội để suy nghiệm, dù một thuật ngữ liên quan đến việc này có thể được thêm vào. Trong các đặc tính phóng xạ có thể có của bốn giới trong thiên nhiên mà chúng ta quan tâm nhất, có một tương ứng lý thú với các chức năng của bốn hệ thống hành tinh vốn (trong toàn thể của chúng) hợp thành tứ nguyên của Thượng Đế. Điều này cũng áp dụng ở một mức độ thấp hơn cho bốn dãy vốn hợp thành tứ nguyên hành tinh. Tất cả phải trở nên phóng xạ và tất cả các nguyên khí của chúng phải được chuyển hóa và dạng thức mà vì đó chúng chịu trách nhiệm được siêu việt.

Khi vấn đề phóng xạ được hiểu đầy đủ hơn, người ta sẽ thấy rằng nó giải thích thêm trường hợp nữa về sự hợp nhất của mọi sự sống, và cung cấp thêm sự chỉ dẫn xác minh về bản chất tổng hợp của toàn bộ diễn trình tiến hóa. Trong mỗi trường hợp, những gì tỏa ra từ mỗi giới của thiên nhiên đều là một và như nhau. Con người phóng xạ thì như nhau trong thiên nhiên (chỉ khác ở mức độ và trong sự đáp ứng có ý thức) giống như khoáng chất phóng xạ; trong mọi trường hợp chính là sự sống tích cực trung tâm, tức tia lửa điện hay cái vốn là sự tương ứng của nó, mới phát xạ. Do đó có bảy tương ứng trong mối liên hệ này trong thái dương hệ, bảy kiểu mẫu vốn phát xạ, hay là bảy hạng thực thể vốn biểu lộ năng lực để vượt qua hoạt động bình thường của chúng và để chuyển đổi chính chúng thành một lĩnh vực nào đó lớn hơn trong đường tiến hóa. Đó là:

1. Chân Thần khoáng thạch của giới khoáng chất hay là hạt nhân dương ở giữa trong mọi nguyên tử và các yếu tố.
2. Chân Thần trong giới thực vật, hay là sự sống tích cực ở giữa của mọi cây cối và sự tăng trưởng thực vật.
3. Chân Thần trong giới động vật hay là sự sống tích cực của mỗi loại (type).
4. Các Chân Thần nhân loại trong hàng tỉ nhóm của chúng. 5. Chân Thần của bất cứ kiểu mẫu đặc biệt nào, hay hình hài.
6. Chân Thần hành tinh, tổng cộng của mọi sự sống trong một hành tinh hệ.
7. Chân Thần thái dương hay là toàn thể mọi sự sống trong thái dương hệ.

Mỗi một trong các Chân Thần này trước tiên đều quay tròn trong hoạt động của nó, hay cho mình là trung tâm (selfcentred, trụ vào cái ngã); đồng thời sau đó mỗi Chân Thần với chuyển động ban đầu của nó biểu lộ hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ. Do đó, nó trở nên “biết được” hình tướng, và sau cùng trở nên phóng xạ. Trong giai đoạn sau cùng này, nó vượt qua hình tướng và thoát ra khỏi đó, như thế trở nên biết đến và có thể tham dự vào hoạt động của tổng thể bao bọc còn lớn hơn.

c. Phóng xạ và Định Luật Chu Kỳ. Rải rác khắp Bộ Luận này là nhiều chỉ dẫn về bản chất chu kỳ của hiện tượng này, và nhà nghiên cứu nên nhớ rằng trong tất cả những gì liên quan đến sự phóng xạ, giống như trong mọi hiện tượng khác, sẽ có những giai đoạn yên tĩnh và các giai đoạn hoạt động mãnh liệt. Điều này sẽ được biết rất rõ ràng liên quan với giới thứ tư của thiên nhiên. Một giai đoạn hoạt động phóng xạ được bắt đầu hiện giờ trong đó nam lẫn nữ sẽ đạt được một nhận thức rộng lớn hơn; họ sẽ bắt đầu vượt qua các giới hạn nhân loại của họ và tiến vào giới thứ năm từng người một và từng đơn vị một. Ở mức độ liên quan tới chu kỳ lớn hơn, giai đoạn này đã bắt đầu khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra vào thời Atlantis, nhưng nhiều chu kỳ nhỏ hơn đã xảy ra, vì dòng lưu nhập trong giới thứ năm cũng bị chi phối bởi định luật chu kỳ, bởi sự dao động lên xuống theo chu kỳ. Vào cuối căn chủng thứ tư, có một giai đoạn hoạt động phóng xạ riêng biệt, hàng trăm người vượt ra ngoài Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (tức Huyền Giai của các Chân Thần nhân loại – xem qua trang 1099. ND) – đi vào một Huyền Giai khác, cao hơn. Từ trước đến giờ nhiều nhiệm vụ được Các Đấng Cao Cả của Venus nắm giữ được bỏ trống để nhân loại chúng ta có thể giữ các vị trí đó, và một sự phóng xạ bao la giữa các dãy hành tinh bắt đầu hoạt động khi nhiều vị Kumaras và một số sự sống thấp hơn rời dãy địa cầu chúng ta và bắt đầu công việc tinh anh hơn và tiến bộ hơn. Kế đó hoạt động từ từ suy giảm cho đến khi một chu kỳ tái diễn mang lại các ảnh hưởng vốn tạo ra một sự phóng xạ mới, mặc dù không mạnh mẽ bằng trong chu kỳ trước.

Một giai đoạn phóng xạ khác xảy ra trong thời Đức Phật và nhiều quả vị La Hán được đạt đến trong thời này. Thời kỳ đó là điểm cao nhất của những gì mà về mặt huyền linh được gọi là “một chu kỳ cấp ba”, và một cấp hoạt động phóng xạ tương tự đã không được đạt đến từ thời đó. Phóng xạ con người có bản chất rất yếu được cảm nhận vào thời Đức Christ, nhưng nó chỉ kéo dài trong hai trăm năm, và dầu cho các cá nhân đây đó đã đạt được mục tiêu từ đó, tuy nhiên không có được một số lớn đã trải qua một cách thành công các lửa chuyển hóa, và như thế vượt qua giới thứ tư. Lần nữa chu kỳ ở trên vòng đi lên; vào thế kỷ XIV, giới nhân loại bắt đầu có phóng xạ dễ nhận thấy, và chúng ta đang ở trên đường hoàn thành “một chu kỳ thuộc đẳng cấp thứ hai” hay là của một giai đoạn siêu việt với một hoạt động còn lớn hơn là trong thời của Đức Phật. Việc đó sẽ trở nên vĩ đại một cách có thể minh chứng được khi một số điều kiện đã được hoàn thành.

Thứ nhất, khi sự hỗn độn của thế giới hiện tại đã giảm bớt. Kế tiếp, khi thế hệ hiện tại đã hoàn thành công việc tái kiến thiết của nó. Thứ ba, khi Đấng Cao Cả sắp đến bắt đầu nhiệm vụ của Ngài trên địa cầu, nhờ đó tăng thêm mức rung động trong mọi giới của thiên nhiên, nhưng đặc biệt trong giới thứ hai và thứ tư.
Thứ tư, khi hoạt động, được khai mở vào cuối mỗi thế kỷ của Thánh Đoàn Xuyên Hy Mã Lạp Sơn được triển khai, và các Egos tâm lý – khoa học (psycho-scientific) vốn là các bàn tay thừa hành của Thánh Đoàn đã làm cho sự hiện hữu của họ được cảm nhận.

Sau cùng, khi một phong trào được Thánh Đoàn thành lập, hoạt động liên quan đến căn chủng thứ tư; phong trào đó cũng sẽ là một phần của tiến trình kích hoạt và sẽ tạo ra kết quả trong việc làm cho phóng xạ một số tư tưởng gia hàng đầu của căn chủng đó. Đó sẽ là thời cơ của họ, và tầm quan trọng gắn liền với việc đó lớn đến nỗi một thành viên của Thánh Đoàn (Lodge), Đức Khổng Tử (Confucius), như Ngài đã được gọi trong quá khứ, sẽ lâm phàm để trông nom công việc. Các giai đoạn mở đầu đang được chọn hiện nay, và các Egos đang tiến nhập, họ sẽ nỗ lực để điều khiển năng lượng của căn chủng này vào đúng đường lối mặc dù đỉnh điểm của chu kỳ kích hoạt sẽ không xảy ra cho đến giữa thế kỷ tới. Tôi không cần nêu ra rằng tất cả các phong trào như thế được cảm nhận trước tiên như là gây xáo trộn, và chỉ khi nào bụi bặm của xáo trộn, và tiếng ồn của các lực va chạm đã tàn tạ thì mục tiêu sẽ được thấy xuất hiện. Điều này rất rõ rệt ở nước Nga (Russia) hiện nay.

Một yếu tố lớn lao và là yếu tố khó giải thích để cho kẻ suy tưởng bậc trung có thể hiểu, đó là việc tiến nhập theo chu kỳ của các Egos vốn đang ở mức tiến hóa nơi mà họ sẵn sàng cho cuộc sống phóng xạ đầu tiên của họ. Trong một đại bộ phận của nỗ lực của Huyền Giai, mọi Egos đều được chia thành hai nhóm, tùy theo chu kỳ của họ và tùy theo kiểu mẫu năng lượng của họ nữa. Đến lượt, các cấp độ này được chia nhỏ tùy theo tính chất và hiệu quả rung động được gợi ra nơi bất luận một giới nào của thiên nhiên bởi sự luân hồi, kết hợp hoặc đơn độc, của họ. Điều này có thể được minh họa bằng cách nêu ra rằng do sự tiến nhập từ từ của con người vốn là những người ăn chay bởi khuynh hướng tự nhiên và do sự xuất hiện của các Egos vốn chú ý đặc biệt vào việc chăm sóc và bảo dưỡng các động vật (như trong trường hợp rất đáng chú ý hiện nay) chúng ta có sự xuất hiện theo chu kỳ của một toàn bộ nhóm các đơn vị nhân loại, họ có một liên hệ nghiệp quả rõ rệt với giới thứ ba. Mối liên hệ này thuộc về một loại khác ở chi tiết đặc biệt khác với các nhóm ăn thịt và thường tàn bạo (inhuman), của năm trăm năm về trước.

Có thể là hữu ích và đáng chú ý nếu ở đây chúng ta liệt kê một số thuật ngữ huyền linh học, được áp dụng cho một số các nhóm khác nhau này, nhớ rằng chúng ta chỉ đề cập tới một vài trong số rất nhiều nhóm và chỉ gọi tên các nhóm mà cách đặt tên cho chúng gợi ra kiến thức và lợi ích về giáo dục cho người nghiên cứu:

1. Các đơn vị trì trệ (units of inertia),
2. Các nguyên tử có sự tập trung nhịp nhàng,
3. Các đơn vị phóng xạ sơ cấp,
4. Các con có nhịp điệu nặng nề,
5. Các điểm vượt trội bốc lửa (một tên gọi thường dành để chỉ các kiểu mẫu từ lực tiến hóa cao),
6. Các điểm cấp ba của lửa cấp hai,
7. Các ngọn lửa từ lực (dành để chỉ các đệ tử và các điểm đạo đồ ở vài cấp độ),
8. Các con tích cực của điện,
9. Các đơn vị quay của đẳng cấp thứ bảy,
10. Các điểm ánh sáng của lũy tiến thứ tư (fourth progression),
11. Các tia lửa điện (electric sparks),
12. Các đơn vị đề kháng tiêu cực,
13. Các nguyên tử được làm cho thăng bằng,

Nhiều tên gọi nữa có thể được đưa ra, nhưng các tên gọi này cũng đủ để chỉ ra bản chất tổng quát của các tập hợp năng lượng này, theo đó, mọi thành viên của gia đình nhân loại được tập hợp lại và xếp đặt tùy theo:

a/ Nhịp điệu của chúng, b/ Tính chất của chúng, c/ Sức nóng của chúng, d/ Ánh sáng của chúng, e/ Ảnh hưởng từ lực của chúng, f/ Phóng xạ của chúng, g/ Hoạt động của chúng.
Bảng liệt kê này chỉ là một mở rộng của bảng liệt kê chính, bảng này tập hợp mọi Chân Ngã dưới các phân chia về màu sắc, âm thanh và rung động. Một liệt kê tương tự cũng đã tập hợp các nguyên tử trong các giới khác của thiên nhiên, và ngay cả các Dhyan Chohans ở cấp cao nhất cũng thấy vị trí của các Ngài trong các ký ảnh của Thánh Đoàn của bộ môn thứ năm (hoặc thứ ba) này.
Một bảng liệt kê theo chu kỳ cũng đáng chú ý, nhưng có bản chất hoàn toàn khác, đem đến cho kẻ tìm kiếm được điểm hóa và có trực giác nhiều gợi ý về giá trị phát triển và lịch sử. Lại nữa chúng ta có thể thêm vào một tóm lược vắn tắt về một vài trong các diễn đạt được dùng, và của một số trong các tên gọi mà con người được tập hợp dưới các danh xưng đó trong các ký ảnh của bộ môn thứ bảy:

1. Các đơn vị của giai đoạn sương mù-lửa (fire-mist),
2. Các mức độ của nguồn gốc nguyệt cầu (lunar origin),
3. Các con của mặt trời,
4. Các devas cấp thứ tư,
5. Các ngọn lửa từ các khối cầu liên hành tinh,
6. Các nguyên tử từ bầu đỏ thắm – một tham khảo đối với một số Egos đến với địa cầu từ hệ hành tinh mà nốt của nó màu đỏ,
7. Các Vyasians thành công,
8. Các điểm trong cánh hoa hành tinh thứ ba, và các nhóm của các hành tinh khác có liên quan với các hoa sen hành tinh có 12 cánh,
9. Những người yêu thích rung động thấp,
10. Những kẻ không nhận hành tinh hệ thứ tám,
11. Các điểm đối kháng ba mặt,
12. Những người đi theo vị Arhat,
13. Các con của hòa bình theo chu kỳ,
14. Các con tái diễn của chiến tranh,
15. Các đốm nhỏ bên trong con mắt hành tinh,
16. Các điểm được nhận biết bên trong các luân xa. Các điểm này tồn tại tự nhiên trong mười nhóm.
Mỗi danh xưng đều truyền đạt cho trí óc của điểm đạo đồ một số tri thức về vị trí trong sự tiến hóa của Monad có liên hệ, bản chất của các cuộc lâm phàm của nó và vị trí của nó trong cơ tiến hóa theo chu kỳ.

C- THEO KINH ĐIỂN ĐÔNG PHƯƠNG

I- Khẩu quyết và Tiên thiên - Hậu thiên

1- Khẩu quyết 1: Thiên Địa Định Vị - Sơn Trạch Thông Khí - Tốn Phong Tương Bạc - Thủy Hỏa Bất Tương Xạ

2- Khẩu quyết 2:

II- Các Luật

1- Âm Dương

2- Ngũ Hành

3- Bát Quái