SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Điểm đạo – Chương 12: Hai sự Khải Thị

CHƯƠNG XII – HAI SỰ KHẢI THỊ

THE TWO REVELATIONS

Trong bài này, đức DK trình bày cho ta hai giai đoạn đầu của tiến trình điểm đạo gồm năm giai đoạn. Ngài cũng lưu ý chúng ta rằng tuy chia ra 5 giai đoạn khác nhau, nhưng kỳ thực mỗi giai đoạn cũng chính là một quá trình hoàn chỉnh, và có thể phân chia ra làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn. Các gai đoạn này được sắp xếp theo một trật tự nhằm đưa người điểm đạo đồ đi từ “sự khải thị này đến khải thị khác, cho đến giai đoạn kết thúc, khi y được truyền một trong các bí nhiệm và một trong năm quyền lực từ để mở ra cho y các cảnh giới khác nhau, với tất cả những trường tiến hoá trong đó”. Các điểm cần lưu ý:

  1. Giai đoạn đầu là giai đoạn khải thị (revealation) của đấng mà đức DK gọi là “Presence”, dịch giả Trân Châu dịch là “Bản tính Thiêng liêng”. Có thể hiểu đó “Đấng Hiện Tồn,” “Bổn Lai Diện Mục” của Thiền Tông. Đây chính là đấng Thái Dương Thiên Thần (The Solar Angel) đã theo ta từ khi biệt lập ngã tính (individualisation), ban cho ta “tia trí tuệ” (spark of mind), giúp cho ta có được ngã thức (self-consciousness).
  2. Đức DK diễn giải cho ta thấy sự tương đồng trong quá trình tiến hoá giữa một đứa bé từ khi sinh ra và một cá nhân trên con đường tiến hoá của mình. Trong những tháng đầu đời, đứa bé nhận biết được thế giới xung quanh trước tiên qua âm thanh, kế đến qua xúc chạm, và cuối cùng qua nhìn thấy. Đây là ba giác quan trọng yếu của con người, giúp đứa bé trở thành một cá thể gắn kết. Con đường phát triển tâm linh nội tại của một cá nhân cũng thế. Đầu tiên ta nghe tiếng nói của lương tâm, nhắc nhở những điều thiện nên làm và những điều ác nên tránh. Tiếp đến là tiếp xúc trong những khoảnh khắc những rung động từ những thực thể bên ngoài cao cả hơn ta, “tiếp xúc” với Chân sư, với rung động của chân nhân và với tập thể.” Đây là giai đoạn Con Đường Đệ Tử. Cuối cùng là y thấy được trực tiếp Bản Tính Thiêng Liêng của Chính Mình.
  3. Việc nhận thấy trực diện “Bản Tính Thiêng Liêng” là bước đầu tiên quan trọng mà điểm đạo đồ phải trải qua. Sau đó mới có thể đi đến các bước kế tiếp. Việc trực diện Chân Ngã này được đức DK mô tả như “nhìn thấy một người khác đối diện với mình trên cõi trần (face to face)”.
  4. Trong các cuộc điểm đạo 1, 2, 3, người điểm đạo đồ lần lược thấy được các phương diện khác nhau của đấng Thái dương Thiên Thần. Trong cuộc điểm đạo 1 là phương diện Thông Tuệ; tại cuộc điểm đạo 2 là phương diện Bác Ái Minh Triết; và tại cuộc điểm đạo 3 là phương diện Ý Chí. Các khải thị này hiển lộ trước người điểm đạo đồ theo ba cách:

Như một vị thiên thần sáng ngời. Nội nhãn thấy được vị này với tầm nhìn và phán đoán chính xác như khi hành giả đối diện với một người khác trong nhân loại

Như một khối cầu lửa chói rạng, được nối kết với điểm đạo đồ đứng trước nó bởi sợi dây từ lực bằng lửa, xuyên suốt tất cả các thể của y và tận cùng ở trung tâm của não bộ hồng trần.

Như một Hoa sen chín cánh đa sắc. Các cánh hoa sen này được xếp thành ba vòng quanh một bộ ba cánh hoa khép kín ở trung tâm, che chở cho “Viên Ngọc quí trong Hoa sen” như tên gọi trong các kinh sách Đông phương.

  1. Tại cuộc điểm đạo thứ tư thì “điểm đạo đồ được đối diện với sự Hiện hữu của trạng thái nơi chính y, gọi là “Cha ở trên Trời.” Y được đối diện với Chân thần của chính mình, là tinh hoa thuần khiết của tinh thần trên cảnh giới cao siêu thứ nhì, đối với Chân nhân hay chân ngã cũng giống như Chân nhân đối với phàm nhân hay phàm ngã vậy.”

Cũng tại cuộc điểm đạo này, thể Nguyên Nhân (Nhân thể–Causal Body), hay thể Linh hồn bị phá huỷ, đấng Thái Dương Thiên Thần đã hoàn thành sứ mệnh của mình đối với người điểm đạo đồ, Ngài trở về trú xứ của mình. Con người đã trở thành bậc La Hán và được giải thoát khỏi tam giới. Đây là một huyền nhiệm nữa chưa từng được tiết lộ ở bất kỳ đâu, và nay đức DK tiết lộ cho chúng ta:

Phàm ngã đã phục vụ xong các mục đích của Chân nhân, và đã bị loại bỏ; Chân nhân cũng đã phục vụ xong các mục đích của Chân thần và không còn cần thiết; nay điểm đạo đồ trở nên tự do đối với cả hai và hoàn toàn giải thoát, có thể tiếp xúc với Chân thần, như trước kia y đã học cách tiếp xúc với Chân nhân vậy. Thời gian còn lại để hiện diện trong tam giới, y chỉ chịu sự chi phối của ý chí hay mục đích tự đề xuất, tạo ra thể biểu hiện của y để tự quyết định thời cơ hoạt động của chính mình (trong các giới hạn nghiệp quả). Nghiệp quả đề cập ở đây là nghiệp quả hành tinh, chứ không phải nghiệp quả cá nhân

Đoạn trên đức DK chỉ rõ rằng một vị điểm đạo đồ bậc 4 không còn bị bó buộc phải tái sinh trên cõi trần, mà hoàn toàn tuỳ thuộc ý muốn của y mà thôi. Ý muốn này là để thực hiện công việc phụng sự thiên cơ, chứ y không còn bị ràng buộc bởi nghiệp quả cá nhân nữa, chỉ còn nghiệp quả của hành tinh. Ngoài ra, một vị La Hán có thể tạo ra thể biểu hiện của mình trên cõi trần (gọi là mayavi rupa) bằng quyền năng ý chí, chứ không nhất thiết phải tái sinh như người thường.

  1. Sự khải thị đầu tiên này có tác động sâu sắc lên người điểm đạo đồ vì:

Tín ngưỡng đã được chứng minh, niềm tin và hy vọng hoà hợp thành một sự thực được khẳng định. Đức tin được thay thế bằng thị kiến, và điều chưa thấy thì nay được thấy và biết.

Tình huynh đệ không còn là thuyết mà là một sự kiện khoa học được chứng minh; không còn điều gì phải bàn cãi hơn là tính chia rẽ của con người ở cõi trần.

Y được cho thấy và chứng minh tính bất tử của linh hồn và thực tại của các thế giới vô hình. Trong khi, trước cuộc điểm đạo, niềm tin này chỉ căn cứ trên tầm nhìn ngắn ngủi, thoáng qua và các tin tưởng mạnh mẽ ở nội tâm (là kết quả của suy luận hợp lý và trực giác phát triển tăng dần), thì nay nó được căn cứ trên mắt thấy và sự nhận biết bản tính bất tử của chính y, không cách nào phủ nhận được.

Y nhận thức được ý nghĩa và nguồn cội của năng lượng, và có thể bắt đầu vận dụng quyền lực với sự lèo lái chính xác khoa học.

  1. Khải thị thứ hai cho người điểm đạo đồ thấy Quá khứ, Hiện tại, và Tương của chính y, nhóm của y, và của Nhóm lớn hơn nữa.

********************

 

Giờ đây, chúng ta có thể xét đến các giai đoạn của cuộc lễ điểm đạo, tất cả có năm giai đoạn như sau:-

  1. Sự khải thị “Bản tính Thiêng liêng.”
  2. Thấy được “Linh ảnh.”
  3. Việc áp dụng Thần trượng, ảnh hưởng đến:-
    1. Các thể.
    2. Các luân xa.
    3. Thể nguyên nhân.
  4. Sự tuyên thệ.
  5. Truyền thụ “Bí nhiệm” và Linh từ.

We can now consider the stages of the initiation ceremony, which are five in number, as follows:

  1. The “Presence” revealed.
  2. The “Vision” seen.
  3. The application of the Rod, affecting:
    1. The bodies.
    2. The centers.
    3. The causal vehicle.
  4. The administration of the oath.
  5. The giving of the “Secret” and the Word.

Các điểm này được đưa ra theo đúng thứ tự, và chúng ta nên nhớ rằng thứ tự này không phải được sắp xếp không mục đích, mà nhằm đưa điểm đạo đồ tiến tới từ sự khải thị này đến khải thị khác, cho đến giai đoạn kết thúc, khi y được truyền một trong các bí nhiệm và một trong năm quyền lực từ để mở ra cho y các cảnh giới khác nhau, với tất cả những trường tiến hoá trong đó. Những gì trình bày ở đây đều nhằm nêu lên năm phần chính mà lễ điểm đạo tự nhiên phân chia, và người môn sinh cần ghi nhớ rằng chính mỗi giai đoạn trong năm giai đoạn này là một cuộc lễ toàn vẹn, có thể phân chia chi tiết hơn.

Giờ đây chúng ta hãy xét đến các điểm khác nhau này, vắn tắt bàn qua mỗi điểm, và nhớ rằng ngôn từ chỉ làm cho thực nghĩa bị giới hạn.  [113]

These points are given in due order, and it must be remembered that this order is not idly arranged, but carries the initiate on from revelation to revelation until the culminating stage wherein is committed to him one of the secrets and one of the five words of power which open to him the various planes, with all their evolutions. All that is aimed at here is to indicate the five main divisions into which the initiation ceremony naturally divides itself, and the student must bear in mind that each of these five stages is in itself a complete ceremony, and capable of detailed division.

Let us now take up the various points, dwelling briefly upon each, and remembering that words but limit and confine the true meaning. [113]

Sự hiển lộ “Bản tính Thiêng liêng.”The Revelation of the “Presence”

Qua các giai đoạn sau của chu kỳ luân hồi, khi hành giả dao động với các cặp đối cực, và nhờ phân biện, trở nên ý thức được điều chân, lẽ giả, trong trí y có sự nhận thức ngày càng tăng, rằng y chính là Sự Sống bất tử, một vị Thượng Đế vĩnh cửu, và là một phần của Nguồn Sống Vô Cùng. Mối liên kết con người ở cõi trần và vị Chúa tể nội tâm ngày càng sáng tỏ hơn cho đến khi sự hiển lộ quan trọng xảy ra. Rồi đến một lúc nào đó trong cuộc sống, hành giả hữu thức đối diện với Đại Ngã thực sự của y và biết y chính thực là Đại Ngã đó chứ không chỉ trong lý thuyết; y trở nên ý thức được Thượng Đế nội tâm, không qua thính giác, hoặc nhờ chú ý vào sự điều khiển và hướng dẫn của tiếng nói nội tâm, gọi là “tiếng nói của lương tâm.” Lần này, y nhận biết bằng thị giác và trực kiến. Nay, y không chỉ đáp ứng với những gì nghe được, mà còn đáp ứng với những gì y thấy được.

Right through the later periods of the cycle of incarnation wherein the man is juggling with the pairs of opposites, and through discrimination is becoming aware of reality and unreality, there is growing up in his mind a realization that he himself is an immortal Existence, an eternal God, and a portion of Infinity. Ever the link between the man on the physical plane and this inner Ruler becomes clearer until the great revelation is made. Then comes a moment in his existence when the man stands consciously face to face with his real Self and knows himself to be that Self in reality and not just theoretically; he becomes aware of the God within, not through the sense of hearing, or through attention to the inner voice directing and controlling, and called the “voice of conscience.” This time the recognition is through sight and direct vision. He now responds not only to that which is heard, but also to that which he sees.

Chúng ta biết rằng các giác quan đầu tiên được phát triển nơi đứa trẻ là thính giác, xúc giác, và thị giác; đứa bé sơ sinh nhận biết âm thanh và quay đầu về hướng đó, nó cảm giác và sờ soạng; cuối cùng nó nhìn thấy một cách ý thức, và phàm ngã được phối kết trong ba giác quan này. Đây là ba giác quan thiết yếu. Vị giác và khứu giác phát triển sau, nhưng chúng ta có thể sống mà không có hai giác quan này, và nếu thiếu chúng, con người vẫn thực sự không bị trở ngại trong các giao tiếp ở cõi trần. Trên đường phát triển nội tâm, trình tự cũng giống như vậy.

It is known that the first senses developed in a child are hearing, touch, and sight; the infant becomes aware of sound and turns his head; he feels and touches; finally, he consciously sees, and in these three senses the personality is co-ordinated. These are the three vital senses. Taste and smell follow later, but life can be lived without them, and should they be absent, the man remains practically unhandicapped in his contacts on the physical plane. On the path of inner, or subjective development, the sequence is the same.

Thính giácđáp ứng với tiếng nói của lương tâm, khi nó hướng dẫn, điều khiển và chế ngự. Điều này bao gồm thời kỳ tiến hoá hoàn toàn bình thường.

Xúc giácđáp ứng với các hướng dẫn hay rung động, và nhận [114] biết được những gì ở bên ngoài cá nhân trên cảnh giới hồng trần. Điều này bao gồm thời kỳ tuần tự khai mở tinh thần, Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử, thẳng lên đến cửa điểm đạo. Hành giả tiếp xúc từng lúc với những gì cao siêu hơn chính y; y dần dần ý thức được “sự tiếp xúc” với Chân sư, với rung động của chân nhân và với tập thể, và qua xúc giác huyền bí này y làm quen với những điều nội tại và tinh tế. Y vươn lên tìm kiếm những gì liên quan đến chân ngã, và nhờ tiếp xúc với những điều chưa thấy được, y trở nên quen thuộc với chúng.

Hearing — response to the voice of conscience, as it guides, directs, and controls. This covers the period of strictly normal evolution.

Touch — response to control or vibration, and the recognition of that which lies outside of the separated human [114] unit on the physical plane. This covers the period of gradual spiritual unfoldment, the Paths of Probation and of Discipleship right up to the door of initiation. The man touches at intervals that which is higher than himself; he becomes aware of the “touch” of the Master, of the egoic vibration and of group vibration, and through this occult sense of touch he accustoms himself to that which is inner and subtle. He reaches out after that which concerns the higher self, and through touching unseen things, habituates himself to them.

Cuối cùng là Thị giácnội nhãn thông tạo được qua tiến trình điểm đạo, tuy nhiên đó vẫn chỉ là việc nhận ra một quan năng luôn luôn hiện hữu nhưng chưa được biết. Như đứa trẻ từ lúc mới sinh đã có đôi mắt hoàn toàn tốt và trong sáng, nhưng phải đến một ngày nào đó lần đầu tiên nó mới hữu ý nhận thức, ghi nhận được những điều nó thấy, thì con người trải qua cuộc phát triển tinh thần cũng vậy. Cơ quan của nội nhãn vẫn luôn luôn hiện hữu, và những điều có thể thấy vẫn luôn luôn có sẵn, nhưng phần đông người ta vẫn chưa nhận ra được.

Finally, Sight — that inner vision which is produced through the initiation process, yet which is withal[1] but the recognition of faculty, always present yet unknown. Just as an infant has eyes which are perfectly good and clear from birth, yet there comes a day wherein the conscious recognition of that which is seen is first to be noted, so with the human unit undergoing spiritual unfoldment. The medium of the inner sight has ever existed, and that which can be seen is always present, but the recognition of the majority as yet exists not.

Sự “nhận thức” này của điểm đạo đồ là bước quan trọng đầu tiên trong cuộc lễ điểm đạo, và tất cả các giai đoạn khác đều phải đợi cho đến khi đã qua được bước này. Trong các cuộc điểm đạo khác nhau, cái được nhận thức cũng khác nhau, và có thể tóm tắt khái quát như sau:- ­

Chân nhân, phản ánh của Chân thần, chính nó là một tam nguyên như vạn hữu trong thiên nhiên, và phản ánh ba trạng thái thiêng liêng, cũng như trên cõi cao Chân thần phản ánh ba trạng thái—ý chí, bác ái-minh triết, và thông tuệ linh hoạt—của Thượng Đế. Thế nên:

This “recognition” by the initiate is the first great step in the initiation ceremony, and until it has transpired all the other stages must wait. That which is recognized differs at the different initiations, and might be roughly summarized as follows:

The Ego, the reflection of the Monad, is in itself a triplicity, as is all else in nature, and reflects the three aspects of divinity, just as the Monad reflects on a higher plane the three aspects — will, love-wisdom, and active intelligence — of the Deity. Therefore:

Vào cuộc điểm đạo thứ nhất, điểm đạo đồ ý thức được trạng thái thứ ba, thông tuệ linh hoạt, là trạng thái thấp nhất của Chân nhân. Y được đối diện với sự biểu hiện đó của thần thái dương [115] cao cả (là Từ phụ) là chân ngã, là chính y. Nay không còn là mơ hồ lẫn lộn, y biết rằng sự biểu hiện thông tuệ đó là Thực thể vĩnh cửu, qua bao thời đại đã và đang biểu dương các quyền năng ở cõi trần, trong các kiếp sống liên tiếp của y.

At the first initiation the initiate becomes aware of the third, or lowest, aspect of the Ego, that of active intelligence. He is brought face to face with that manifestation of the great solar angel (Pitri) who is himself, the real self. He [115] knows now past all disturbance that the manifestation of intelligence is that eternal Entity who has for ages past been demonstrating its powers on the physical plane through his successive incarnations.

Vào cuộc điểm đạo thứ hai, y thấy Bản tính Thiêng liêng cao cả này là lưỡng nguyên, và một trạng thái khác chói rạng trước y. Y ý thức được rằng Sự Sống quang huy này, vốn đồng nhất với chính y, không chỉ là thông tuệ đang tác động mà còn có nguồn gốc bác ái-minh triết. Y hoà hợp tâm thức với Sự Sống này và hợp nhất với Nó đến mức, ở cõi trần, thông qua phàm ngã, chúng ta thấy Sự Sống này là bác ái thông tuệ tự biểu lộ.

At the second initiation this great Presence is seen as a duality, and another aspect shines forth before him. He becomes aware that this radiant Life, who is identified with himself, is not only intelligence in action but also is love wisdom in origin. He merges his consciousness with this Life, and becomes one with it so that on the physical plane, through the medium of that personal self, that Life is seen as intelligent love expressing itself.

Vào cuộc điểm đạo thứ ba, Chân nhân hiện ra trước điểm đạo đồ như một tam nguyên hoàn thiện. Không những y biết được Đại Ngã là bác ái thông tuệ, linh hoạt mà Nó cũng được hiển lộ như là ý chí hay chủ đích nền tảng; y lập tức tự đồng nhất với ý chí này và biết rằng trong tương lai tam giới đối với y không còn gì khác hơn là một trường phụng sự tích cực, thực hiện trong tình thương, hướng đến hoàn thành một chủ đích đã ẩn tàng trong tâm của Đại Ngã qua nhiều thời đại. Nay, chủ đích này được hiển lộ để y có thể cộng tác một cách thông minh và hoàn thành.

At the third initiation the Ego stands before the initiate as a perfected triplicity. Not only is the Self known to be intelligent, active love, but it is revealed also as a fundamental will or purpose, with which the man immediately identifies himself, and knows that the three worlds hold for him in the future naught, but only serve as a sphere for active service, wrought out in love towards the accomplishment of a purpose which has been hid during the ages in the heart of the Self. That purpose, being now revealed, can be intelligently co-operated with, and thus matured.

Những khải thị thâm sâu này chói rạng trước điểm đạo đồ theo ba cách:

Như một vị thiên thần sáng ngời. Nội nhãn thấy được vị này với tầm nhìn và phán đoán chính xác như khi hành giả đối diện với một người khác trong nhân loại. Vị Thần thái dương cao cả, hiện thân của Chân nhân và là biểu lộ của Chân nhân trên cảnh giới thượng trí, thực sự là tổ phụ thiêng liêng của y, “Vị trông nom,” qua các chu kỳ luân hồi lâu dài, đã hy sinh ban bố sự sống của chính Ngài, để phàm nhân có thể HIỆN TỒN. [116]

These profound revelations shine forth before the initiate in a triple manner:

As a radiant angelic existence. This is seen by the inner eye with the same accuracy of vision and judgment as when a man stands face to face with another member of the human family. The great solar Angel, who embodies the real man and is his expression on the plane of higher mind, is literally his divine ancestor, the “Watcher” who, through long cycles of incarnation, has poured himself out in sacrifice in order that man might BE. [116]

Như một khối cầu lửa chói rạng, được nối kết với điểm đạo đồ đứng trước nó bởi sợi dây từ lực bằng lửa, xuyên suốt tất cả các thể của y và tận cùng ở trung tâm của não bộ hồng trần. Sợi “chỉ bạc” này (như được gọi phần nào thiếu chính xác trong Kinh Thánh,khi mô tả nó tách rời thể xác và sau đó rút khỏi thể này) phát ra từ luân xa tim của Thần thái dương, để liên kết tâm hồn và trí não,—là lưỡng nguyên vĩ đại, bác ái và thông tuệ, biểu hiện trong thái dương hệ này. Khối cầu lửa này cũng được liên kết với nhiều khối cầu khác thuộc cùng nhóm và cung, và do thế nói rằng trên cảnh giới cao chúng ta là một, là một sự kiện thực tế. Sự sống duy nhất nhịp nhàng lưu chuyển qua tất cả, xuyên qua những đường dây bằng lửa. Đây là một phần của sự khải thị cho người trụ vào “Bản tính Thiêng liêng” với tầm mắt khai mở một cách huyền bí.

As a sphere of radiant fire, linked with the initiate standing before it by that magnetic thread of fire which passes through all his bodies and terminates within the center of the physical brain. This “silver thread” (as it is rather inaccurately called in the Bible, where the description of its loosing of the physical body and subsequent withdrawal is found) emanates from the heart center of the solar Angel, linking thus heart and brain, — that great duality manifesting in this solar system, love and intelligence. This fiery sphere is linked likewise with many others belonging to the same group and ray, and thus it is a literal fact in demonstration that on the higher planes we are all one. One life pulsates and circulates through all, via the fiery strands. This is part of the revelation which comes to a man who stands in the “Presence” with his eyes occultly opened.

Như một Hoa sen chín cánh đa sắc. Các cánh hoa sen này được xếp thành ba vòng quanh một bộ ba cánh hoa khép kín ở trung tâm, che chở cho “Viên Ngọc quí trong Hoa sen” như tên gọi trong các kinh sách Đông phương. Hoa sen này cực kỳ xinh đẹp, với sự sống rung động nhịp nhàng và chói rạng tất cả các màu sắc của cầu vồng; trong ba cuộc điểm đạo đầu tiên, ba vòng này được hiển lộ theo thứ tự, cho đến cuộc điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ đứng trước một sự hiển lộ còn lớn lao hơn nữa, và học được điều bí ẩn trong nụ hoa ở trung tâm. Về phương diện này, cuộc điểm đạo thứ ba hơi khác với hai cuộc điểm đạo trước, vì nhờ quyền năng của một Đấng Điểm Đạo còn cao cấp hơn Đức Bồ-tát mà lần đầu tiên điểm đạo đồ tiếp xúc được với lửa điện của Tinh thần thuần khiết ẩn trong Hoa sen.

As a many tinted Lotus of nine petals. These petals are arranged in three circles around a central set of three closely folded petals, which shield what is called in the eastern books “The jewel in the Lotus.” This Lotus is a thing of rare beauty, pulsating with life and radiant with all the colors of the rainbow, and at the first three initiations the three circles are revealed in order, until at the fourth initiation the initiate stands before a still greater revelation, and learns the secret of that which lies within the central bud. In this connection the third initiation differs somewhat from the other two, inasmuch as through the power of a still more exalted Hierophant than the Bodhisattva, the electrical fire of pure Spirit, latent in the heart of the Lotus, is first contacted.

Tất cả các từ này, “thần thái dương,” “khối cầu lửa,” và “hoa sen,” che giấu một phương diện của bí nhiệm trọng tâm của sự sống con người, nhưng chỉ tỏ rõ đối với những ai có mắt thấy được. Ý nghĩa huyền nhiệm của các nhóm từ hình tượng này sẽ chỉ là cái bẩy hay là cơ sở khiến người ta không còn tin tưởng [117] khi tìm cách cụ thể hoá chúng quá đáng. Trong các thuật ngữ này có ẩn ý tưởng về một sự hiện tồn bất tử, một Thực thể thiêng liêng, một đại trung tâm hỏa năng, và sự bừng nở toàn vẹn của cuộc tiến hoá, và ta phải xem xét chúng theo ý nghĩa đó.

In all these words, “solar angel,” “sphere of fire,” and “lotus,” lies hid some aspect of the central mystery of human life, but it will only be apparent to those who have eyes to see. The mystic significance of these pictorial phrases will prove only a snare or a basis for incredulity to the man who [117] seeks to materialize them unduly. The thought of an immortal existence, of a divine Entity, of a great center of fiery energy, and of the full flower of evolution, lies hidden in these terms, and they must be thus considered.

Vào cuộc điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ được đối diện với sự Hiện hữu của trạng thái nơi chính y, gọi là “Cha ở trên Trời.” Y được đối diện với Chân thần của chính mình, là tinh hoa thuần khiết của tinh thần trên cảnh giới cao siêu thứ nhì, đối với Chân nhân hay chân ngã cũng giống như Chân nhân đối với phàm nhân hay phàm ngã vậy.

At the fourth initiation, the initiate is brought into the Presence of that aspect of Himself which is called “His Father in Heaven.” He is brought face to face with his own Monad, that pure spiritual essence on the highest plane but one, which is to his Ego or higher self what that Ego is to the personality or lower self.

Chân thần đã tự biểu hiện trên cõi trí qua ba trạng thái của Chân nhân, nhưng tất cả những trạng thái của trí tuệ, như chúng ta biết, nay không còn nữa. Vị Thần thái dương từ trước đến giờ y tiếp xúc, nay đã triệt thoái, và hình thể vị này dùng để hoạt động (thể của chân nhân hay thể nguyên nhân) nay đã tiêu tan, chẳng có gì còn lại ngoại trừ bác ái-minh triết và ý chí mãnh liệt vốn là đặc trưng chủ yếu của Tinh thần. Phàm ngã đã phục vụ xong các mục đích của Chân nhân, và đã bị loại bỏ; Chân nhân cũng đã phục vụ xong các mục đích của Chân thần và không còn cần thiết; nay điểm đạo đồ trở nên tự do đối với cả hai và hoàn toàn giải thoát, có thể tiếp xúc với Chân thần, như trước kia y đã học cách tiếp xúc với Chân nhân vậy. Thời gian còn lại để hiện diện trong tam giới, y chỉ chịu sự chi phối của ý chí hay mục đích tự đề xuất, tạo ra thể biểu hiện của y để tự quyết định thời cơ hoạt động của chính mình (trong các giới hạn nghiệp quả). Nghiệp quả đề cập ở đây là nghiệp quả hành tinh, chứ không phải nghiệp quả cá nhân.

This Monad has expressed itself on the mental plane through the Ego in a triple fashion, but now all aspects of the mind, as we understand it, are lacking. The solar angel hitherto contacted has withdrawn himself, and the form through which he functioned (the egoic or causal body) has gone, and naught is left but love-wisdom and that dynamic will which is the prime characteristic of Spirit. The lower self has served the purposes of the Ego, and has been discarded; the Ego likewise has served the purposes of the Monad, and is no longer required, and the initiate stands free of both, fully liberated and able to contact the Monad, as earlier he learned to contact the Ego. For the remainder of his appearances in the three worlds he is governed only by will and purpose, self-initiated, and creates his body of manifestation, and thus controls (within karmic limits) his own times and seasons. The karma here referred to is planetary karma, and not personal.

Vào cuộc điểm đạo thứ tư này, y tiếp xúc với trạng thái bác ái của Chân thần, và với trạng thái ý chí vào cuộc điểm đạo thứ năm; do thế y hoàn tất các giao tiếp, ứng đáp được tất cả các rung động cần thiết, và là chủ nhân trên năm cảnh giới tiến hoá của nhân loại.

Ngoài ra, ngay trong các cuộc điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, y cũng trở nên ý thức được “Đấng Hằng Hữu” bao gồm ngay cả Thực thể tinh thần, là Chân thần của Chính y. Y thấy [118] Chân thần của mình hợp nhất với Đức Hành Tinh Thượng Đế. Qua vận hà của Chân thần, y thấy cũng cùng những trạng thái (mà Chân thần thể hiện) nhưng trên một qui mô rộng lớn hơn, và Đức Hành Tinh Thượng Đế, Đấng phú linh cho tất cả các Chân thần trong cung Ngài, được hiển lộ cho y theo cách đó. Chân lý này hầu như không thể phát biểu bằng lời, và chỉ về mối liên hệ của điểm lửa điện, tức là Chân thần, với ngôi sao năm cánh, giúp cho điểm đạo đồ thấy được sự Hiện hữu của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Đây là điều thực sự không thể hiểu được đối với người độc giả bình thường, là đối tượng của sách này.

At this fourth initiation he contacts the love aspect of the Monad, and at the fifth the will aspect, and thus completes his contacts, responds to all necessary vibrations, and is master on the five planes of human evolution.

Further, it is at the third, the fourth, and the fifth initiations that he becomes aware also of that “Presence” which enfolds even that spiritual Entity, his own Monad. [118] He sees his Monad as one with the Planetary Logos. Through the channel of his own Monad he sees the selfsame [2] aspects (which that Monad embodies) on a wider scale, and the Planetary Logos, who ensouls all the Monads on his ray, is thus revealed. This truth is well-nigh impossible to express in words, and concerns the relation of the electrical point of fire, which is the Monad, to the fivepointed star, which reveals the Presence of the Planetary Logos to the initiate. This is practically incomprehensible to the average man for whom this book is written.

Vào cuộc điểm đạo thứ sáu, hoạt động hữu thức như là trạng thái bác ái của Chân thần, điểm đạo đồ (thông qua “Từ phụ” của y) được đưa vào một sự nhận thức còn rộng lớn hơn nữa, và biết được ngôi sao bao trùm ngôi sao hành tinh của y, cũng như trước đây y đã thấy ngôi sao hành tinh bao trùm “Điểm Linh Quang” nhỏ bé của y. Bằng cách này y hữu thức tiếp xúc với Đức Thái Dương Thượng Đế, và ở nội tâm nhận thức được tính Duy nhất của toàn cuộc sống và cuộc biểu hiện.

At the sixth initiation, the initiate, functioning consciously as the love-aspect of the Monad, is brought (via his “Father”) into a still vaster recognition, and becomes aware of that Star which encloses his planetary star, just as that star has earlier been seen as enclosing his own tiny “Spark.” He thus makes his conscious contact with the solar Logos, and realizes within himself the Oneness of all life and manifestation.

Sự nhận thức này được mở rộng vào cuộc điểm đạo thứ bảy, khiến cho hai trạng thái của Sự Sống Duy Nhất trở thành hiện thực đối với vị Phật đã giải thoát.

Thế là, nhờ một loạt các bước tiến tăng dần, điểm đạo đồ được trực kiến Chân lý và Sự Sống Hằng Hữu. Các môn sinh suy gẫm sâu xa sẽ hiểu rõ được tại sao sự hiển lộ này của Bản tính Thiêng liêng phải có trước tất cả các cuộc hiển lộ khác, giúp cho trí tuệ điểm đạo đồ nhận thức được những điều cơ bản sau đây:-

This recognition is extended at the seventh initiation, so that two aspects of the One life become realities to the emancipated Buddha.

Thus by a graded series of steps is the initiate brought face to face with Truth and Existence. It will be apparent to thoughtful students why this revealing of the Presence has to precede all other revelations. It produces within the mind of the initiate the following basic realizations:

Tín ngưỡng của y qua nhiều thời đại nay đã được chứng minh, niềm tin và hy vọng hoà hợp thành một thực kiện tự khẳng định. Đức tin được thay thế bằng thị kiến, và điều chưa thấy thì nay được thấy và biết. Y không còn có thể nghi ngờ điều gì, và thay vào đó, nhờ tự nỗ lực, y trở thành một thức giả.

Y được chứng tỏ cho thấy là một với các huynh đệ, và nhận biết được mối liên hệ bất diệt ràng buộc y với đồng bào của mình ở khắp nơi. Tình huynh đệ không còn là lý thuyết mà là một sự [119] kiện khoa học được chứng minh; không còn điều gì phải bàn cãi hơn là tính chia rẽ của con người ở cõi trần.

His faith for ages is justified, and hope and belief merge themselves in self-ascertained fact. Faith is lost in sight, and things unseen are seen and known. No more can he doubt, but he has become instead, through his own effort, a knower.

His oneness with his brothers is proven, and he realizes the indissoluble link which binds him to his fellow-men everywhere. Brotherhood is no longer a theory but a proven [119] scientific fact, no more to be disputed than the separateness of men on the physical plane is to be disputed.

Y được xác định và chứng minh cho thấy tính bất tử của linh hồn và thực tại của các thế giới vô hình. Trong khi, trước cuộc điểm đạo, niềm tin này chỉ căn cứ trên tầm nhìn ngắn ngủi, thoáng qua và các tin tưởng mạnh mẽ ở nội tâm (là kết quả của suy luận hợp lý và trực giác phát triển tăng dần), thì nay nó được căn cứ trên mắt thấy và sự nhận biết bản tính bất tử của chính y, không cách nào phủ nhận được.

Y nhận thức được ý nghĩa và nguồn cội của năng lượng, và có thể bắt đầu vận dụng quyền lực với sự lèo lái chính xác khoa học. Nay y biết rút năng lượng từ đâu, và thoáng thấy những tài nguyên năng lượng khả dụng. Trước kia, y đã biết rằng năng lượng vốn hiện hữu, và sử dụng nó một cách mù quáng và đôi khi thiếu khôn ngoan; nay y thấy nó theo sự hướng dẫn “của trí tuệ rộng mở” và có thể cộng tác một cách thông minh với các mãnh lực của thiên nhiên.

Thế là, theo nhiều lối, sự hiển lộ Bản tính Thiêng liêng tạo nên các kết quả rõ rệt nơi điểm đạo đồ, và do đó được ĐĐCG xem là phần mở đầu cần thiết cho tất cả các cuộc hiển lộ về sau.

The immortality of the soul and the reality of the unseen worlds is for him proven and ascertained. Whereas, before initiation, this belief was based on brief and fleeting vision and strong inner convictions (the result of logical reasoning and of a gradually developing intuition) now it is based on sight and on a recognition past all disproving, of his own immortal nature.

He realizes the meaning and source of energy, and can begin to wield power with scientific accuracy and direction. He knows now whence he draws it, and has had a glimpse of the resources of energy which are available. Before, he knew that the energy existed, and used it blindly and sometimes unwisely; now he sees it under the direction of the “open mind,” and can co-operate intelligently with the forces of nature.

Thus, in many ways, does the revelation of the Presence produce definite results in the initiate, and thus it is judged by the Hierarchy to be the necessary preamble to all later revelations.

 

Sự hiển lộ Linh thị The Revelation of the Vision

Sau khi đã đưa điểm đạo đồ đối diện với Đấng Duy Nhất mà từ vô số thời đại y đã có liên hệ, và sau khi đã khơi dậy nơi y một sự nhận thức không thể lay chuyển về tính duy nhất của sự sống nền tảng khi nó biểu hiện qua tất cả những đời sống nhỏ bé hơn, thì kế tiếp là sự hiển lộ quan trọng về Linh thị. Sự hiển lộ thứ nhất liên quan đến cái không thể định nghĩa, không thể giới hạn, và là vô hạn (đối với trí tuệ hữu hạn) vì có tính trừu tượng và tuyệt đối. Sự khải thị thứ nhì liên quan đến thời gian và không gian, và bao gồm nhận thức của điểm đạo đồ—qua thị giác huyền [120] bí mới được khai mở—về phần việc của y đã làm và đang phải làm trong Thiên Cơ, và về sau thì nhận thức được chính Thiên Cơ, trong liên hệ với:-

  1. Chân nhân của y.
  2. Nhóm Chân nhân của y.
  3. Nhóm thuộc cung của y.
  4. Đức Hành Tinh Thượng Đế của y.

Having brought the initiate face to face with the One with whom for countless ages he has had to do, and having awakened in him an unshakable realization of the oneness of the fundamental life as it manifests through all lesser lives, the next momentous revelation is that of the Vision. The first revelation has concerned that which is undefinable, illimitable, and (to the finite mind), infinite in its abstractness and absoluteness. The second revelation concerns time and space, and involves the recognition by the initiate — through the newly aroused sense of occult sight — of [120] the part he has played and has to play in the plan, and later of the plan itself in so far as it concerns:

  1. His Ego.
  2. His egoic group.
  3. His ray group.
  4. His Planetary Logos.

Bốn mức thấu hiểu này cho thấy sự nhận thức tăng dần của điểm đạo đồ trong quá trình bốn cuộc điểm đạo, đưa đến sự giải thoát cuối cùng.

Vào cuộc điểm đạo thứ nhất, y trở nên ý thức đến mức nào đó về phần việc, tương đối chưa rõ ràng, mà y phải thi hành trong đời sống cá nhân y, trong khoảng thời gian sau đó, từ lúc được khải thị cho đến cuộc điểm đạo thứ nhì. Điều này có thể cần thêm một hay nhiều kiếp sống. Y biết được chiều hướng mà các kiếp sống này nên theo, phần nào nhận thức được phận sự của mình trong việc phụng sự nhân loại; y thấy Thiên Cơ là toàn thể, trong đó y là một miếng khảm nhỏ bé bên trong mô hình tổng quát; y ý thức được làm cách nào với loại trí tuệ của mình, với khả năng, trí năng và những kiến thức khác, y có thể phục vụ, và phải hoàn tất những gì trước khi y có thể lại an trụ vào Bản tính Thiêng liêng và nhận được một sự khải thị rộng lớn hơn.

In this fourfold apprehension you have portrayed the gradual realization that is his during the process of the four initiations preceding final liberation.

At the first initiation he becomes aware definitely of the part, relatively inconspicuous, that he has to play in his personal life during the period ensuing between the moment of revelation and the taking of the second initiation. This may involve one more life or several. He knows the trend they should take, he realizes somewhat his share in the service of the race; he sees the plan as a whole where he himself is concerned, a tiny mosaic within the general pattern; he becomes conscious of how he — with his particular type of mind, aggregate of gifts, mental and otherwise, and his varying capacities — can serve, and what must be accomplished by him before he can again stand in the Presence, and receive an extended revelation.

Vào cuộc điểm đạo lần thứ hai, y được cho thấy phần hành mà nhóm chân ngã của y thực hiện trong đại cuộc. Y ngày càng hiểu biết nhiều hơn về các thành viên của nhóm mà y đương nhiên liên kết; y nhận biết cá nhân họ là ai, nếu họ đang lâm phàm, và phần nào thấy được những liên hệ nghiệp quả giữa các nhóm, các thành viên và chính y; y được thấu hiểu mục đích cụ thể của nhóm, và mối liên hệ của nhóm với các nhóm khác. Giờ đây, y có thể làm việc một cách tự tin hơn, và có quan hệ vững chắc hơn với mọi người ở cõi trần; y có thể vừa giúp họ và chính mình điều chỉnh nghiệp quả, và do thế giúp họ tiến nhanh hơn [121] đến mức giải thoát cuối cùng. Các liên hệ tập thể được củng cố, các kế hoạch và mục đích có thể được tiến hành một cách thông minh hơn. Khi các quan hệ tập thể này thêm củng cố, chúng tạo nên hành động hợp tác ở cõi trần và sự hợp nhất minh triết trong mục đích, giúp thực hiện các lý tưởng cao siêu, thích dụng những mãnh lực để khôn ngoan đẩy nhanh các mục tiêu tiến hoá. Khi điều này đã đạt đến một giai đoạn nhất định, những thành viên hợp thành các nhóm đã học được cách làm việc với nhau, và do đó đã khích lệ lẫn nhau, thì giờ đây họ có thể tiến đến mức mở mang kiến thức rộng lớn hơn, tạo thêm nhiều khả năng trợ giúp.

At the second initiation the part his egoic group plays in the general scheme is shown to him. He becomes more aware of the different group units with whom he is intrinsically associated; he realizes who they are in their personalities, if in incarnation, and he sees somewhat what are the karmic relations between groups, units and himself; he is given an insight into the specific group purpose, and its relation to other groups. He can now work with added assurance, and his intercourse with people on the physical plane becomes more certain; he can both aid them and himself in the adjusting of karma, and therefore bring about a more [121] rapid approach to the final liberation. Group relations are consolidated, and the plans and purposes can be furthered more intelligently. As this consolidation of group relations proceeds, it produces on the physical plane that concerted action and that wise unity in purpose which results in the materialization of the higher ideals, and the adaptation of force in the wise furthering of the ends of evolution. When this has reached a certain stage, the units forming the groups have learned to work together, and have thus stimulated each other; they can now proceed to a further expansion of knowledge, resulting in a further capacity to help.

Vào cuộc điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ được tiết lộ mục đích của cung phụ của cung y, tức là cung của Chân nhân. Mọi Chân nhân đều ở một cung phụ nào đó của cung Chân thần. Hiểu biết này được ban bố cho điểm đạo đồ để giúp y rốt cuộc có thể tự tìm thấy cung Chân thần của mình (theo con đường ít trở ngại nhất). Cung phụ này mang trong dòng năng lượng của nó nhiều nhóm Chân nhân, và do đó điểm đạo đồ được ý thức không những nhóm Chân nhân của y và mục đích sáng suốt của nhóm, mà còn biết được nhiều nhóm khác có thành phần tương tự. Năng lượng hợp nhất của họ đang hoạt động hướng đến một mục đích đã xác định rõ ràng.

At the third initiation there is revealed to the initiate the purpose of the subray of the ray to which he belongs, that upon which his Ego finds itself. All egoic units are upon some subray of the monadic ray. This knowledge is conferred upon the initiate so as to enable him eventually to find for himself (along the line of least resistance) the ray of his Monad. This subray bears upon its stream of energy many groups of Egos, and the initiate is therefore made aware not only of his egoic group and its intelligent purpose, but of many other groups, similarly composed. Their united energy is working towards a clearly defined goal.

Sau khi đã học được phần nào các mối liên giao của nhóm, và đã phát triển khả năng làm việc với các thành viên trong hình thức tập thể, giờ đây điểm đạo đồ học đến bí quyết để cả nhóm phục vụ cho lợi ích của toàn thể các nhóm. Điều này sẽ biểu thị ở cõi trần thành một khả năng làm việc khôn ngoan, thông minh và hoà hợp với nhiều mẫu người khác nhau, có thể cộng tác trong các kế hoạch lớn và vận dụng ảnh hưởng rộng rãi.

Having learned somewhat group relations, and having developed the ability to work with units in group formation, the initiate now learns the secret of group subordination to the good of the aggregate of groups. This will demonstrate on the physical plane as an ability to work wisely, intelligently and harmoniously with many diverse types, and to co-operate in large plans and wield wide influence.

Một phần các kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế được tiết [122] lộ cho y, và linh thị này bao gồm sự hiển lộ Thiên Cơ và Thiên Ý dành cho hành tinh này, dù rằng cho đến nay linh thị về các kế hoạch đó vẫn còn ẩn tàng trong quan hệ hành tinh.

Điều này đưa điểm đạo đồ qua một loạt các nhận thức tăng dần đến cửa điểm đạo thứ tư. Khi điểm đạo đồ hoàn toàn giải thoát khỏi mọi chướng ngại trong tam giới và đoạn lìa các xiềng xích giới hạn nghiệp quả thì lúc này tầm mắt của y được mở mang rộng lớn, và có thể nói rằng lần đầu tiên y ý thức được tầm mức của Thiên Ý hành tinh và nghiệp quả bên trong hệ thống. Nghiệp quả không quan trọng của riêng cá nhân y nay đang được điều chỉnh, y có thể chú ý đến việc thanh toán nghiệp quả hành tinh và các kế hoạch rộng lớn của Đấng Cao Cả bao gồm mọi sự sống nhỏ bé trong Ngài. Y không chỉ nhận thức đầy đủ về các mục đích và kế hoạch dành cho tất cả những trường tiến hoá trong hệ thống hành tinh của chính y, là địa cầu, mà còn có khả năng hiểu được hệ thống hành tinh bổ túc hay là đối cực của địa cầu chúng ta. Y nhận thức được mối tương quan tồn tại giữa hai hệ thống, và Thiên Ý lưỡng phân rộng lớn được tiết lộ cho y. Y cũng được thấy làm thế nào Thiên Ý lưỡng phân này phải trở thành một Thiên Cơ hợp nhất, và từ đó về sau y dồn hết năng lượng vào cuộc hợp tác hành tinh khi nó được xúc tiến bằng công việc thực hiện với vàqua hai trường tiến hoá lớn trên hành tinh chúng ta, là nhân loại và giới thiên thần. Việc làm này liên quan đến các điều chỉnh, và dần dần áp dụng năng lượng để kích thích các giới khác nhau trong thiên nhiên, để nhờ sự kết hợp tất cả các mãnh lực trong thiên nhiên mà tương tác năng lượng giữa hai hệ thống thêm nhanh chóng. Theo cách này, các kế hoạch của Đức Thái Dương Thượng Đế, đang được hai vị Hành Tinh Thượng Đế thực hiện, có thể thành tựu. Do đó, nay y có được đặc quyền vận dụng năng lượng thái dương trên qui mô nhỏ, và không những y được nhận vào các hội đồng của ĐĐCG, mà cũng được phép tham dự khi các sứ giả từ những hệ hành tinh khác đến hội nghị với Đức [123] Chúa Tể Hoàn Cầu và hai Đấng Cao Cả trưởng ngành.

A part of the plans of the Planetary Logos becomes revealed to him, and the vision includes the revelation of the plan and purpose as it concerns the planet, though as yet the [122] vision is obscured in connection with those plans in their planetary relationship.

This brings the initiate through a series of graded realizations to the portals of the fourth initiation. Through the entire loosing of the initiate from all trammels in the three worlds and the breaking of all bonds of limiting karma, the vision this time is greatly extended, and it might be said that for the first time he becomes aware of the extent of planetary purpose and karma within the scheme. His own personal unimportant karma being now adjusted, he can give his attention to the working off of planetary karma, and the far reaching plans of that great Life who includes all the lesser lives. He not only is brought to a full recognition of the purposes and plans for all the evolutions upon his own planetary scheme, the earth, but also there swings into the radius of his apprehension that planetary scheme which is our earth’s complement or polar opposite. He realizes the inter-relation existing between the two schemes and the vast dual purpose is revealed to him. It is shown to him how this dual purpose must become one united plan, and henceforth he bends all his energies towards planetary co-operation as it is furthered by work with and through the two great evolutions, human and deva, upon our planet. This concerns the making of adjustments, and the gradual application of energy in stimulation of the various kingdoms in nature, so that through the blending of all of nature’s forces the interplay of energy between the two schemes may be quickened. In this way the plans of the solar Logos, as they are being worked out through two Planetary Logoi, may be consummated. The handling, therefore, of solar energy on a tiny scale, is now his privilege, and he is admitted not only into the council chambers of his own Hierarchy, but is permitted entrance also when agents from other planetary schemes are in [123] conference with the Lord of the World and the two great departmental heads.

Vào cuộc điểm đạo thứ năm, linh thị giúp điểm đạo đồ có được một tầm nhìn còn rộng lớn hơn nữa và thấy được một hệ hành tinh thứ ba, hợp với hai hệ hành tinh kia thành một trong những tam giác lực cần thiết để thực hiện cuộc tiến hoá thái dương. Giống như toàn cuộc biểu hiện tiến triển qua lưỡng nguyên và tam nguyên cho đến mức tổng hợp chung cuộc, thì các hệ thống này, vốn chỉ là các trung tâm lực trong cơ thể của Đức Thái Dương Thượng Đế, trước hết cùng hoạt động như những đơn vị riêng rẽ tự sống cuộc sống hoàn toàn của chính mình, sau đó hoạt động như những lưỡng nguyên, qua tương tác mãnh lực giữa hai hệ thống, để trợ giúp, kích thích và bổ túc lẫn nhau, và cuối cùng hoạt động như một tam giác thái dương, luân chuyển mãnh lực từ điểm này đến điểm khác, từ trung tâm này đến trung tâm khác cho đến khi năng lượng được hoà hợp, tổng hợp và cả ba hệ thống cùng hoạt động hợp nhất.

At the fifth Initiation the vision brings to him a still more extended outlook and a third planetary scheme is seen, forming with the other two schemes one of those triangles of force which are necessitated in the working out of solar evolution. Just as all manifestation proceeds through duality and triplicity back to eventual synthesis so, these schemes, which are but centers of force in the body of a solar Logos, work first as separated units living their own integral life, then as dualities, through the interplay of force through any two schemes, thus aiding. stimulating and complementing each other, and finally as a solar triangle, circulating force from point to point and center to center until the energy is merged and synthesized and the three work together in unity.

Khi vị Chân sư được điểm đạo lần thứ năm có thể làm việc phù hợp với các kế hoạch của ba vị Hành Tinh Thượng Đế liên hệ, cộng tác cùng các Đấng này với khả năng ngày càng lớn lao theo thời gian, thì Ngài trở nên sẵn sàng để được điểm đạo lần thứ sáu, được nhận vào các hội đồng còn cao cấp hơn nữa, và được tham dự vào các mục đích của thái dương hệ chứ không chỉ các mục đích hành tinh.

Vào cuộc điểm đạo thứ sáu, Ngài có được linh thị kỳ diệu nhất trong tất cả các linh thị. Ngài thấy thái dương hệ là một đơn vị, và ngạc nhiên hiểu ra sự tiết lộ ngắn ngủi về mục đích cơ bản của Đức Thái Dương Thượng Đế; lần đầu tiên Ngài thấy toàn bộ các kế hoạch và tất cả các chi tiết.

When the adept of the fifth initiation can work in line with the plans of the three Logoi involved, co-operating with them with ever greater ability, as time elapses, he becomes ready for the sixth Initiation, which admits him to still higher conclaves. He becomes a participant in solar and not merely planetary purposes.

At this sixth Initiation the most marvelous vision of the entire series is his. He sees the solar system as a unit, and gets a brief revealing which opens to his amazed understanding the fundamental purpose of the solar Logos

; for the first time he sees the plans as a whole in all their ramifications.

Vào cuộc điểm đạo thứ bảy, tầm mắt của Ngài vượt xa hơn vòng hạn định thái dương, và Ngài thấy được điều mà từ lâu Ngài đã nhận thức là sự kiện lý thuyết cơ bản, rằng Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta được bao gồm trong các kế hoạch và mục đích của một Đấng còn vĩ đại hơn nữa, và thái [124] dương hệ chỉ là một trong nhiều trung tâm lực mà qua đó một Thực thể vũ trụ cao siêu vĩ đại hơn Đức Thái Dương Thượng Đế của chúng ta, đang tự phát biểu. Trong tất cả các viễn ảnh này có ẩn một mục đích vĩ đại duy nhất,—sự hiển lộ tính đồng nhất cốt yếu và phô bày các mối quan hệ nội tại, mà khi biết được, điểm đạo đồ sẽ ngày càng hoàn toàn xả thân phụng sự, và làm việc hướng đến sự tổng hợp, hướng đến sự điều hòa, và hướng đến sự hợp nhất cơ bản.

At the seventh Initiation his vision penetrates beyond the solar ring-pass-not, and he sees that which he has long realized as a basic theoretical fact, that our solar Logos is involved in the plans and purposes of a still greater Existence, and that the solar system is but one of many centers of force through which a cosmic Entity vastly greater than [124] our own solar Logos is expressing himself. In these visions one great purpose underlies them all, — the revelation of essential unity and the unveiling of those inner relationships, which, when known, will tend ever more fully to swing the initiate into the line of self-abnegating service, and which will make of him one who works towards synthesis, towards harmony, and towards a basic unity.

Trong lễ điểm đạo, việc khai mở linh thị để điểm đạo đồ có thể thấy và hiểu, tự chia thành ba phần, nhưng vẫn thuộc về một tiến trình duy nhất:

1. Quá khứ diễn ra trước mắt điểm đạo đồ, y thấy mình giữ nhiều phận sự, và hiểu rằng tất cả chỉ nhằm từ từ đưa các mãnh lực và năng lực của y đến mức có thể phục vụ cho nhóm và với nhóm. Tùy theo từng cuộc điểm đạo, y thấy được và tự đồng nhất với

Chính y trong nhiều kiếp trước.

Nhóm của y trong các kiếp trước.

Cung Chân nhân của y khi nó biểu lộ qua nhiều chu kỳ thời gian.

Đức Hành Tinh Thượng Đế của y khi Ngài hoạt động trong quá khứ qua nhiều trường tiến hoá và giới tiến hoá trong toàn hệ thống,

và cứ thế cho đến khi y tự đồng nhất với quá khứ của sự sống duy nhất lưu chuyển qua tất cả các hành tinh hệ và các trường tiến hoá trong thái dương hệ. Điều này khiến y quyết tâm trả sạch nghiệp quả, và (nhờ thấy được các nguyên nhân quá khứ) y biết cách phải thanh toán thế nào.

During the Initiation ceremony, the opening of the eyes of the Initiate to see and realize, divides itself into three parts, which are nevertheless parts of one process:

1.The past sweeps before him, and he sees himself playing many parts, all of which are realized to be but the gradual bringing of his forces and capacities to the point where he can be of service to and with his group. He sees and identifies himself — according to the particular initiation — with

Himself in many earlier lives.

His group in earlier groups of lives.

His egoic ray as it pours down through many cycles of time.

His Planetary Logos as he functions in the past through many evolutions and kingdoms in the entire scheme,

and so on until he has identified himself with the past of the one life flowing through all planetary schemes and evolutions in the solar system. This produces in him the resolve to work off karma, and the knowledge (from the seeing of past causes) of how it must be accomplished.

2. Hiện tại. Y được tiết lộ cho biết công tác cụ thể cần phải thực hiện trong suốt chu kỳ ngắn hạn mà y đang sống. Điều này có nghĩa là y không chỉ thấy được những gì liên quan đến mình [125] trong một kiếp sống, mà y cũng biết đâu là phần việc ngay trước mắt trong Thiên Cơ—có lẽ bao gồm nhiều chu kỳ ngắn ngủi gọi là những kiếp sống của y—mà Đức Hành Tinh Thượng Đế muốn thấy được hoàn tất. Bấy giờ có thể nói là điểm đạo đồ đã hoàn toàn biết được công tác của mình, có thể chú tâm làm nhiệm vụ, và biết rõ lý do, phương cách và thời cơ hành động.

2.The present.It is revealed to him what is the specific work to be done during the lesser cycle in which he is immediately involved. This means that he sees not only that which concerns him in any one life, but he knows what is to [125] be the immediate bit of the plan — involving maybe several of his tiny cycles called lives — which the Planetary Logos seeks to see consummated. He then may be said to know his work past all gainsaying, and can apply himself to his task with a clear knowledge as to the why, the how, and the when.

3. Tương lai. Rồi y được khích lệ bằng cách cho thấy hình ảnh sự thành tựu chung cuộc của một nguồn vinh quang khôn tả, với một số điểm nổi bật, chỉ rõ các bước chính yếu để đi đến đó. Trong phút giây ngắn ngủi, y thấy được nguồn vinh quang tiền định, và con đường mỹ lệ quang huy càng thêm chói rạng cho đến ngày hoàn mãn. Trong các giai đoạn đầu, y thấy được sự vinh quang của nhóm Chân nhân hoàn thiện; về sau là nguồn quang huy của cung bao gồm những người con hoàn thiện của nhân loại thuộc một kiểu mẫu hay màu sắc riêng biệt; sau nữa, y thoáng thấy sự hoàn thiện của Đấng Cao Cả là Đức Hành Tinh Thượng Đế của y, cho đến cuối cùng y được thấy sự hoàn thiện với tất cả vẻ mỹ lệ, quang huy bao gồm tất cả các cung ánh sáng khác—mặt trời chói sáng rực rỡ, mục đích của Đức Thái Dương Thượng Đế đã đến mức hoàn thành viên mãn. [126]

3. The future.Then, for his encouragement, there is granted to him a picture of a final consummation of a glory past all description, with a few outstanding points indicative of the major steps thereto. He sees for one brief second the glory as it shall be, and that path of radiant beauty which shineth ever more and more unto the perfect day. In the earlier stages he sees the glory of his perfected egoic group; later the radiance which pours forth from the ray which carries on its bosom the perfected sons of men of one particular color and type; later again he gets a glimpse of the perfection of that great Being who is his own Planetary Logos, until finally the perfection of all beauty and the radiance which includes all other rays of light is revealed, — the sun shining in his strength, the solar Logos at the moment of consummated purpose. [126]

1915 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay
Tiếng nói của lương tâm (The voice of conscience): Tiếng nói của lương tâm là tiếng nói thầm lặng (whisper) của linh hồn. (GDTKNM, 78)...
Xem Chi tiết
Tiếng nói của lương tâm (The voice of conscience): Tiếng nói của lương tâm là tiếng nói thầm lặng (whisper) của linh hồn. (GDTKNM, 78)...
Xem Chi tiết
- Cõi cảm dục là nơi mà các cặp đối hợp tác động và tương tác, nơi mà sức lôi kéo của các nhị nguyên quan trọng được nhận thấy mạnh mẽ nhất. Trước tiên, là sự tương tác giữa linh hồn với hiện thể của nó, vật chất. Nhưng có nhiều nhị nguyên kém quan trọng cũng có vai trò của chúng và người thường cũn...
Xem Chi tiết
+ Mục đích hay mục tiêu của Chân Nhân/ Con Người/ Tiến hóa: Xét về con người trên cõi hồng trần, mục đích của tiến hóa là trở thành con người hoàn toàn quân bình, có đủ các nam tính như ý chí và minh triết cùng các nữ tính như trực giác và tình thương. (VLH,  144) + Mục đích của Con Người - Tiểu vũ ...
Xem Chi tiết
  Ở cuộc điểm đạo I, sự kiềm chế của Chân Ngã đối với thể xác phải đạt được mức độ thành tựu cao. Tội lỗi của nhục thân” theo cách nói của người Cơ đốc, phải bị khống chế, tính tham ăn, tham uống (rượu), cách sống bừa bãi không còn chế ngự nữa. Giữa cuộc điểm đạo I và II có nhiều kiếp sốn...
Xem Chi tiết
+ Chân thần thức (monadic consciousness) là tâm thức của Ngôi Một của thánh linh, vốn biểu hiện cho mục tiêu và ý định của sự sống thiêng liêng, nó dùng linh hồn để qua linh hồn đó, cho thấy mục tiêu cố hữu của Thượng Đế. (TLHNM–II, 4) 3. Tâm thức chân thần là tâm thức của trạng thái thiêng liêng th...
Xem Chi tiết
Thái Dương Thiên Thần (Solar Angels): Các Đấng phú cho con người Chân Ngã hữu thức bất tử là các “Thái Dương Thiên Thần” – dù là xét về mặt ẩn dụ (metaphorically) hay theo nghĩa đen (literally).(GLBN III, 97)...
Xem Chi tiết
Cuộc điểm đạo thứ nhì (second initiation, the Baptisme, Điểm đạo Rửa Tội): Ở cuộc điểm đạo này, việc  kiềm chế thể cảm dục phải được chứng tỏ. Tinh linh cảm dục bị kiềm chế, thể cảm dục trở nên tinh khiết và trong sáng, bản chất thấp tàn tạ nhanh chóng. Vào lúc này, Chân Ngã lại chế ngự hai hạ th...
Xem Chi tiết
Một vị Chohan được 7 lần điểm đạo vận dụng định luật trong Thái Dương Hệ.   (ĐĐNLVTD, 90)...
Xem Chi tiết
+ Nghiệp quả hành tinh (Planetary karma): Nghiệp quả riêng của một Hành Tinh Thượng Đế, nó cũng khác với nghiệp quả của vị Hành Tinh Thượng Đế khác, cũng như nghiệp quả của các thành viên khác nhau của gia đình nhân loại....
Xem Chi tiết
Ở cuộc điểm đạo thứ ba, toàn thể Phàm ngã tràn ngập với ánh sáng từ trên đưa xuống. Chỉ sau cuộc điểm đạo này, Chân Thần mới dứt khoát dẫn dắt Chân Ngã, ngày càng tuôn đổ sự sống thiêng của Ngài vào vận hà đã được chuẩn bị và thanh tẩy. (ĐĐNLVTD, 86)...
Xem Chi tiết
+ Phẩm tính Cung 3: Thông tuệ linh hoạt -   Ưu điểm: Tầm nhìn rộng về tất cả những vấn đề trừu tượng, trí tuệ sáng tỏ, năng lực tập trung nghiên cứu triết học, kiên nhẫn, thận trọng, khả năng truyền đạt khái niệm, trí sáng tạo. -   Nhược điểm: Tự cao về trí tuệ, lạnh lùng, cô lập, thiếu chính xác ...
Xem Chi tiết
Hành tinh hệ (Scheme, Planetary scheme, Hệ thống hành tinh): -  Bảy chu kỳ dãy hành tinh (chain periods) hợp thành một hành tinh hệ. Mười hành tinh hệ hợp thành một thái dương hệ (solar system).  (LVLCK, 63) -  Thể biểu lộ (body of manifestation) của một Hành Tinh Thượng Đế (Heavenly Man) tức là m...
Xem Chi tiết
Thiên tính (Divinity, tính thiêng liêng, thánh linh): Thiên tính là sự biểu lộ của ý chí hay mục tiêu của Đấng mà ta sống, hoạt động và hiện tồn bên trong Ngài.(CVĐĐ, 204) Thiên tính được nhận biết như là sự sống, nơi mà Chân Thần (Monad) và biểu hiện của nó, tức Tam Thượng Thể Tinh thần (Sp...
Xem Chi tiết
+ Trạng thái bác ái (Love aspect): Linh hồn tức là trạng thái bác ái. (LVHLT, 382)...
Xem Chi tiết
Đấng Chưởng quản Địa Cầu (Lord of the World): Đấng Chưởng Quản Địa Cầu, tức Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, trong Thánh Kinh, Ngài được gọi là Đấng Vô Lượng Thọ (“The Ancient Of Days”), trong kinh sách Ấn Độ, Ngài được gọi là Đệ Nhất Kumara, tức Sanat Kumara. Từ chỗ ngự của Ngài ở sa mạc Gobi, Ngài chủ t...
Xem Chi tiết
– Khi người thú (animal–man) đã đến trình độ thích hợp, khi thể xác của y được phối kết đầy đủ, khi y đã có một bản chất xúc cảm hay dục vọng đủ mạnh để tạo một nền tảng cho sự tồn tại và để hướng dẫn nó nhờ vào bản năng, và khi mầm mống của trí tuệ được gieo rắc đầy đủ để phú cho y ký ức theo bản n...
Xem Chi tiết
– Khi người thú (animal–man) đã đến trình độ thích hợp, khi thể xác của y được phối kết đầy đủ, khi y đã có một bản chất xúc cảm hay dục vọng đủ mạnh để tạo một nền tảng cho sự tồn tại và để hướng dẫn nó nhờ vào bản năng, và khi mầm mống của trí tuệ được gieo rắc đầy đủ để phú cho y ký ức theo bản n...
Xem Chi tiết
Shiva: Shiva là một trong các danh xưng để chỉ Thượng Đế Ngôi Một vĩ đại, và dưới danh xưng đó có ẩn nhiều ý nghĩa huyền bí. Shiva thay cho: Trạng thái Ý chí (Will Aspect). Trạng thái Tinh thần (Spirit Aspect). Cha trên Trời. Mục tiêu hướng dẫn. Năng lượng hữu thức. Định ý tích cực. (LVLCK, ...
Xem Chi tiết
    Đã từ lâu, trong Huyền linh học, người ta đã nhận biết quyền năng Ý chí dưới hình thức năng lượng tinh thần (spiritual energy) trong con người, nó cùng loại với năng lượng đang sinh ra, nâng đỡ và tổ chức trong các thế giới – mà hiện nay thế giới bên ngoài đang dò dẫm tìm kiếm và...
Xem Chi tiết
Hành tinh hệ (Scheme, Planetary scheme, Hệ thống hành tinh): -  Bảy chu kỳ dãy hành tinh (chain periods) hợp thành một hành tinh hệ. Mười hành tinh hệ hợp thành một thái dương hệ (solar system).  (LVLCK, 63) -  Thể biểu lộ (body of manifestation) của một Hành Tinh Thượng Đế (Heavenly Man) tức là m...
Xem Chi tiết
- Theo quan điểm cõi trần, thể này không phải là một thể, dù là nội tâm hay ngoại cảnh. Tuy nhiên, đó là trung tâm của Chân Ngã thức (egoic consciousness) và được tạo thành bằng sự kết hợp của tuệ giác thể (buddhi) và thượng trí (manas). Thể này tương đối trường cửu và kéo dài suốt chu kỳ dài của cá...
Xem Chi tiết
Hạng thường nhân (the average man): Nơi kẻ thường nhân, thể hạ trí tăng gia kích thước nhiều hơn, nó cho thấy một số lượng chất có tổ chức và chứa một tỷ lệ khá lớn chất liệu (matter) lấy từ các cõi phụ thứ 6, 5 và 4 của cõi trí (nguyên bản là “cõi phụ thứ 2, 3 và 4”, vì bà A. Besant đánh số cõi ...
Xem Chi tiết
+ Nghiệp quả hành tinh (Planetary karma): Nghiệp quả riêng của một Hành Tinh Thượng Đế, nó cũng khác với nghiệp quả của vị Hành Tinh Thượng Đế khác, cũng như nghiệp quả của các thành viên khác nhau của gia đình nhân loại....
Xem Chi tiết
Cõi hồng trần (Physical plane/objective plane – CTNM, 1, cảnh giới hồng trần): Gồm bảy phân cảnh (cõi phụ) từ thấp (thứ bảy) lên cao (thứ nhất): 1/ Phân cảnh một … Phân cảnh vi tử (Atomic subplane) … Vật chất vi tử (Atomic matter). 2/ Phân cảnh 2 … Phân cảnh á vi tử (sub–atomic) … Chất ether I...
Xem Chi tiết
Chính con mắt của nội nhãn thông, và kẻ nào mở được nó thì có thể điều khiển và kiềm chế năng lượng của vật chất, thấy được mọi vật trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, do đó, giao tiếp với nguyên nhân nhiều hơn với hậu quả, đọc được trên tiên thiên ký ảnh và thấy được một cách tỏ tường. Như thế, kẻ sở hữu được...
Xem Chi tiết
+ Phân biện (Viveka, discrimination): Tư ngữ Bắc Phạn Viveka là phân biện. Chính bước đầu tiên trên con đường huyền linh học ... là sự phân biện giữa thực với hư, giữa bản thể với hiện tượng, giữa Ngã với Phi Ngã, giữa tinh thần với vật chất. (ĐĐTNLVTD, 225) + Phân biện: thể trí học cách chọn lựa đ...
Xem Chi tiết
+ Chỉ có vị đệ tử được điểm đạo lần ba mới biết chắc chắn được cung Chân Thần của mình. (LVHLT, 573)...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
+ Thái dương hệ (TDH) chúng ta là 1 hệ thống ở cấp thứ 4; vị trí của nó trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ 4 (Từ trên xuống), cõi 4 này là nơi gặp gỡ cho quá khứ và tương lai và chính là hiện tại. (LVLCK, 152) + Mỗi TDH là 1 biểu lộ của đấng Vũ Trụ Vĩ Đại, gọi là Thái Dương Thượng Đế (TDTĐ). TDTĐ ngài lâm...
Xem Chi tiết
Ngân quang tuyến (Sutratma; life thread, silver cord, silver thread, thread soul, sinh mệnh tuyến): Là mối liên hệ từ lực (magnetic link) mà Thánh kinh Cơ Đốc giáo nói đến như là “sợi dây bạc” (silver cord”), sợi chỉ ánh sáng sinh động (thread of living light) này nối liền Chân Thần tức Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Các cuộc điểm đạo (Theo GQ1-Cấu tạo con người): - Đầu Tiên - "Sự Sinh ra ở Bethlehem": sự kiểm soát của Ego hay Linh Hồn đối với thể xác đã phải đạt đến một mức độ thành tựu cao. "Tội lỗi của xác thịt," phải được thống trị; tính háu ăn, thói nghiện rượu, và sự đa dục phải không còn thống trị. Nhu...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
Ba cõi thấp tức là cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí (the physical, emotional and mental planes). (TVTTHL, 5)...
Xem Chi tiết
+ Thái dương hệ (TDH) chúng ta là 1 hệ thống ở cấp thứ 4; vị trí của nó trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ 4 (Từ trên xuống), cõi 4 này là nơi gặp gỡ cho quá khứ và tương lai và chính là hiện tại. (LVLCK, 152) + Mỗi TDH là 1 biểu lộ của đấng Vũ Trụ Vĩ Đại, gọi là Thái Dương Thượng Đế (TDTĐ). TDTĐ ngài lâm...
Xem Chi tiết
– Thần chú (mantra) hay là quyền lực từ.    (ASCLH, 196) – Thuốc và các quyền lực từ hay là thần chú (mantric incantations) là các khí cụ của hắc thuật và có liên quan đến các quyền năng thấp. Các Chân Sư và đệ tử của các Ngài sử dụng quyền lực từ để giao tiếp với các thực thể phi nhân loại, để k...
Xem Chi tiết
+ Cõi trí là cõi phản chiếu Toàn Linh Trí trong Thiên Nhiên, trong hệ thống nhỏ bé của chúng ta, cõi trí tương ứng với cõi của Đại Trí trong Đại Vũ Trụ. (MTNX, 123) - Cấu tạo cõi trí: Có 3 cõi phụ vô sắc tướng và 4 cõi phụ hữu sắc tướng. (LVLCK, 923) *  Trên cõi trí không có thời gian. (LVHLT, 480...
Xem Chi tiết
Chính con mắt của nội nhãn thông, và kẻ nào mở được nó thì có thể điều khiển và kiềm chế năng lượng của vật chất, thấy được mọi vật trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, do đó, giao tiếp với nguyên nhân nhiều hơn với hậu quả, đọc được trên tiên thiên ký ảnh và thấy được một cách tỏ tường. Như thế, kẻ sở hữu được...
Xem Chi tiết
Hành tinh hệ (Scheme, Planetary scheme, Hệ thống hành tinh): -  Bảy chu kỳ dãy hành tinh (chain periods) hợp thành một hành tinh hệ. Mười hành tinh hệ hợp thành một thái dương hệ (solar system).  (LVLCK, 63) -  Thể biểu lộ (body of manifestation) của một Hành Tinh Thượng Đế (Heavenly Man) tức là m...
Xem Chi tiết
+ Các Điểm đạo đồ (EP II 207): Những linh hồn được kết nạp vào những bí pháp của Thiên Giới ... vốn không chỉ ý thức về phàm ngã tích hợp ... ... về bản thân họ là linh hồn, mà còn biết vượt qua mọi tranh cãi, rằng không có việc như là "linh hồn của tôi và linh hồn của anh", mà chỉ là "Đại Hồn". Họ ...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Chỉ có vị đệ tử được điểm đạo lần ba mới biết chắc chắn được cung Chân Thần của mình. (LVHLT, 573)...
Xem Chi tiết
+ Trạng thái bác ái (Love aspect): Linh hồn tức là trạng thái bác ái. (LVHLT, 382)...
Xem Chi tiết
Lâm phàm (Incarnation): Với nghĩa gốc của nó, từ ngữ “lâm phàm” truyền đạt chân lý căn bản có liên quan đến việc khoác lấy một thể xác trọng trược, còn về mặt chuyên môn, chỉ nên áp dụng cho giai đoạn biểu lộ có liên quan đến ba cõi phụ thấp của: a/ Cõi hồng trần vũ trụ, liên quan đến một Thái ...
Xem Chi tiết
– Việc gia tăng số người có năng lực sử dụng mắt thứ ba đã được hoạt động trở lại sẽ chứng minh được sự bất tử vì họ sẽ thấy được một cách dễ dàng người nào đã vứt bỏ thể dĩ thái cũng như thể xác của mình. (CTNM, 412–413) – Trong Kinh Vishnu Purana, q. II, chương VIII có nói: “Bất t...
Xem Chi tiết
Thượng ngã (Higher Self): - Atma tức là Thượng Ngã.    (CKMTTL, 104) Là linh hồn, Chân Ngã, Biệt ngã (Individuality), Thái Dương Thiên thần. (LVLCK, 48 –ĐĐNLVTD, 207) Thượng ngã hay Đại Hồn (Soul) là toàn thể ý thức của Chân Thần trong thời gian và không gian. (GDTKNM, 18) Thượng Ngã v...
Xem Chi tiết
+  Chướng ngại khi Tu: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, hợp lại gọi là ác kiến, 6 phiền não căn bản là ...
Xem Chi tiết
- Theo quan điểm cõi trần, thể này không phải là một thể, dù là nội tâm hay ngoại cảnh. Tuy nhiên, đó là trung tâm của Chân Ngã thức (egoic consciousness) và được tạo thành bằng sự kết hợp của tuệ giác thể (buddhi) và thượng trí (manas). Thể này tương đối trường cửu và kéo dài suốt chu kỳ dài của cá...
Xem Chi tiết
+ Nghĩa đen, là Vị mà tâm thức trở thành thông tuệ hay có tuệ giác. Các Ngài chỉ cần thêm một lần lâm phàm nữa là trở thành Đức Phật hoàn thiện. Như được dùng trong các sách này, Bồ Tát là danh xưng chỉ chức vụ mà hiện nay Đức Di Lạc đang giữ. Ở Phương Tây, Ngài được biết như là Đức Chirst. Chức vụ ...
Xem Chi tiết
+ Kẻ thường nhân (Average man): Kẻ chưa tiến hóa tức là kẻ thường nhân. (CTNM, 500) + Thường nhân hay kẻ thường nhân là những người thuộc đủ mọi trình độ. Sơ đồ sau đây cho thấy vị thế của kẻ thường nhân: Quả vị Chân Sư trở lên | Bốn bậc đệ tử được điểm đạo | Các thứ bậc đệ tử khác | Người ở trên đ...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Tam nguyên/ Tam phân: - Tam nguyên: Là tinh thần, linh hồn và thân thể. (TLHNM II, 391) * Tam nguyên tinh thần của con người. - Sự sống, ý thức và hình hài. (LVHLT, 21) - Tam nguyên - Ba Thập Giá của vòng Hoàng đạo phản ánh Tam Nguyên được tất cả các tôn giáo công nhận, và thể hiện ba giai đo...
Xem Chi tiết
+ Thượng trí: 1. Cảnh giới của các ý tưởng thiêng liêng, các nguyên lý, tư duy trừu tượng, nguyên mẫu, bản thiết kế 2. Khả năng tạo ra mô hình mà theo đó các hình tướng được tạo dựng ra 3. Lý trí thuần khiết, không bị cản trở bởi những những giới hạn của các cấp độ hạ trí 4. Tổng hợp và không ch...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn bạo ...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Thần, Thiên thần (Devas): Devas là các thực thể tiến hóa (progressing entities) của một chu kỳ hành tinh trước. (GLBN III, 235) + Thần chất (Deva substance, chất liệu của thiên thần): - Tinh chất kiến tạo (building essence) tức là thần chất. - Vật chất được các Agnishvatta làm linh hoạt (vitali...
Xem Chi tiết
+ Tam nguyên/ Tam phân: - Tam nguyên: Là tinh thần, linh hồn và thân thể. (TLHNM II, 391) * Tam nguyên tinh thần của con người. - Sự sống, ý thức và hình hài. (LVHLT, 21) - Tam nguyên - Ba Thập Giá của vòng Hoàng đạo phản ánh Tam Nguyên được tất cả các tôn giáo công nhận, và thể hiện ba giai đo...
Xem Chi tiết
Phản chiếu (Reflection): Nói chung, thuật ngữ “phản chiếu” được dùng khi một mãnh lực (force) biểu lộ trên một cõi cao, tự hiện lại (show itself again) trên một cõi thấp và bị chi phối bởi một loại vật chất thô hơn trong biểu lộ thấp đó, cho nên một ít hiệu năng (effective energy) của mãnh lực đó...
Xem Chi tiết
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: - Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi sutratma, life thread hay silver cord (ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này.(GDTKNM, 143) - Chúng ta dùng để chỉ hơi ...
Xem Chi tiết
Nhãn thông (Clairvoyance): Đây là năng lực thấy trên cõi cảm dục và là một trong các “siddhis” thấp hay quyền năng tâm thông thấp. Năng lực này được đạt tới nhờ sự nhạy cảm ở bề mặt của toàn bộ “thể cảm giác” (body of feeling”), lớp vỏ tình cảm và là nhận thức của giác quan được đem lên tình trạn...
Xem Chi tiết
+ Nhân quả/ Nghiệp quả (Karma): Tác động ở cõi trần. Về mặt siêu hình là Luật Báo Phục; Luật Nhân Quả, hay gây hậu quả về mặt đạo đức. Có nghiệp quả do công và nghiệp quả do tội. Đó là quyền lực kiềm chế vạn vật. Kết quả của hành động đạo đức hay là hậu quả về mặt đạo đức của một việc làm được thực ...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
+ Giải thoát: Đối với nhân loại, cái huyền nhiệm của sự giải thoát nằm trong việc làm cân bằng các mãnh lực và làm quân bình các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà người tìm đạo phải tìm ra và bước lên, không rẽ sang phải, cũng không sang trái. (LVHLT, 225) + Phật n...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua Đây là những vấn đề sinh lý và tâm lý xảy ra khi bản thể bị kích thích quá mức bởi năng lượng đang đổ vào mãnh liệt, phá vỡ các nhịp điệu sống ...
Xem Chi tiết
Cuộc sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Gặp nhau là bởi chữ duyên sống và yêu nhau là bởi chữ nợ. Vậy nên mới có nhân quả luân hồi hay số kiếp. Phật dậy: 1. Phong thủy ứng dụng và tâm linh đều cho rằng, những ng...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Chướng ngại không thấy Đạo: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là 6 ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, 6 phiền não căn bản là chướng ngại lớn...
Xem Chi tiết
+ Đấng Điểm Đạo (Initiator, Hierophant): Hierophant (Vị Chủ Lễ) tức Đấng Điểm Đạo. (CVĐĐ, 56)...
Xem Chi tiết
+ Giải thoát: Đối với nhân loại, cái huyền nhiệm của sự giải thoát nằm trong việc làm cân bằng các mãnh lực và làm quân bình các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà người tìm đạo phải tìm ra và bước lên, không rẽ sang phải, cũng không sang trái. (LVHLT, 225) + Phật n...
Xem Chi tiết
Lương tâm (conscience): - Trong địa hạt đạo đức, ý chí thường được mệnh danh là lương tâm. (MTNX,   237) Nhờ việc ứng dụng ý thức phân biện, lương tâm được phát triển khi thể trí ngày càng đảm trách việc kềm chế – một nhận thức và sau cùng một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy. Trong tr...
Xem Chi tiết
Sắc tướng (Appearance): Tôi sẽ dùng từ ngữ sắc tướng để diễn tả cái mà ta gọi là vật chất (matter) hay hình hài (form) hay biểu lộ ngoại cảnh (objective expression); chính cái sắc tướng hữu hình giả tạm chỉ có bề ngoài đó được sức sống làm cho linh hoạt. Đây là trạng thái thứ ba, Mẹ, được ứng lin...
Xem Chi tiết
Trực giác (intuition): X. thêm mục “Nguyên khí Bồ Đề”. – Trực giác là sự pha trộn của hai đặc tính thiêng liêng, của tuệ giác–trí tuệ (buddhi–manas) hay là sự hiểu biết tâm linh bằng trực giác (bao hàm sự giải thích và đồng nhất hóa), và thượng trí trừu tượng (higher abstract mind), cốt yếu đó là...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593. + Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức + Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn bạo ...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần là vật chất ở mức biểu hiện cao nhất. (CTNM, 589) + Tinh thần: Tức Chân Thần (Monad) hay Cha trên Trời.  (ASCLH, 39) - Từ ngữ “tinh thần” không ám chỉ các vấn đề tôn giáo như thường gọi. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới hình thức phát triển nào đó – về thể chất, tình cảm, trí ...
Xem Chi tiết
Sự ràng buộc vào hình hài hay là sự thu hút của hình hài đối với Tinh thần là sức thôi thúc to tát của tiến hóa giáng hạ. (ASCLH, 139) Ham muốn cuộc sống hữu tình một cách mãnh liệt chính là sự ràng buộc. Nó có sẵn trong mọi hình hài, nó tự tồn tại (self–perpetuating), và thậm chí người rất ...
Xem Chi tiết
+ Phân biện (Viveka, discrimination): Tư ngữ Bắc Phạn Viveka là phân biện. Chính bước đầu tiên trên con đường huyền linh học ... là sự phân biện giữa thực với hư, giữa bản thể với hiện tượng, giữa Ngã với Phi Ngã, giữa tinh thần với vật chất. (ĐĐTNLVTD, 225) + Phân biện: thể trí học cách chọn lựa đ...
Xem Chi tiết
Phán đoán (Judge): Khi càng hiểu biết nhiều, người ta càng ít phán đoán (as one knows more, one judges less). Dè dặt khi đưa ra ý kiến là đường lối tốt nhất cho kẻ bàng quan khôn ngoan, vì y chưa có được nội nhãn thông để thấy sắc thái (colour), cũng như chưa có được nhĩ thông (occult hearing)...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Cõi Người - Nhân loại được thiết lập trên nền tảng của ham muốn và dục vọng khám phá, hưởng thụ. Đây là nơi mà hạnh phúc và khổ đau xen lẫn nhau một cách hoàn hảo đủ để thôi thúc con người hướng đến hành trình tâm linh. Nhân để sinh vào cõi Người là sự trì giữ năm giới (không sát sinh, không uống ...
Xem Chi tiết
Lương tâm (conscience): - Trong địa hạt đạo đức, ý chí thường được mệnh danh là lương tâm. (MTNX,   237) Nhờ việc ứng dụng ý thức phân biện, lương tâm được phát triển khi thể trí ngày càng đảm trách việc kềm chế – một nhận thức và sau cùng một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy. Trong tr...
Xem Chi tiết
Tri thức: - Tri thức là minh triết cổ chân chính.(ASCLH, 140) - Tri thức là sản phẩm của Phòng Học Tập, dùng để chỉ toàn thể những tìm kiếm và kinh nghiệm của con người, qua 5 giác quan và có thể được liên kết, giải đoán và định nghĩa bằng cách dùng trí năng con người. Đó là những điều mà ta cảm th...
Xem Chi tiết
+ Vòng giới hạn kiếp sống: Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế. Mỗi kiếp sống, Chân nhân cần đạt được một mục tiêu rõ rệt, có thể là hoạch đắc đức hạnh bằng cách trả giá cho tật xấu. VD: Kinh doanh thành thạo; Mở mang tính nhạy cảm = thấy điều độc ...
Xem Chi tiết
Trực giác (intuition): X. thêm mục “Nguyên khí Bồ Đề”. – Trực giác là sự pha trộn của hai đặc tính thiêng liêng, của tuệ giác–trí tuệ (buddhi–manas) hay là sự hiểu biết tâm linh bằng trực giác (bao hàm sự giải thích và đồng nhất hóa), và thượng trí trừu tượng (higher abstract mind), cốt yếu đó là...
Xem Chi tiết
+ Có 12 Hành tinh (7 H.Tinh thánh thiện và 5 không thánh thiện) có liên quan với sự sống bên ngoài, môi trường và các hoàn cảnh của cá nhân. Các mãnh lực biểu hiện trạng thái thiêng liêng thứ 3 - Ý muốn hiểu biết; (CTHNM, 38) - 12 HT chi phối 12 Cung HĐ, chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ lên khía cạnh Phà...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)+ Giác quan (sense): Các giác quan là n...
Xem Chi tiết
Khi một thành viên (member) của Thánh Đoàn dùng chữ “essential”, Ngài không muốn nói (như bạn thường làm) những gì cần thiết hay thiết yếu mà là đề cập tới bản chất sâu kín nhất (inmost essence) đang nằm ở tâm của tất cả mọi vật, cả tốt lẫn xấu. (CVĐĐ, 727)...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâ...
Xem Chi tiết
+ Chân Thần (CT): Tự phản chiếu/ Phản ảnh/ Phân Thân). Có 3 nhóm chính (H.Giai S.Tạo 4), tức trạng thái 3 Ngôi của Thượng Đế (LVLCK, 153): 1. Các CT Ý chí / Quyền năng .. Chúa Cha 2. Các CT Bác ái/ Minh Triết..... Chúa Con 3. Các CT Trí tuệ / Hoạt động.....Chúa Thánh Thần. + Ý TRÍ VÀ QUYỀN LỰC. ...
Xem Chi tiết
+ Chân Nhân: Là hồn tinh thần (spiritual soul). (CTNM, 346) + Chân Nhân (Man), là Chân Thần đang sinh hoạt, là thực tại bị che khuất, và là cái mà Thiên thần của Đấng Hằng Hữu che giấu. Y là sự biểu lộ tổng hợp của Thiên Ý, được tượng trưng qua phẩm tính thiêng liêng được mặc khải và được biểu lộ t...
Xem Chi tiết
Là định thức (formulation) của con người về một khái niệm (concept), do con người tạo ra và lồng vào (embodying) cho con người chân lý khi y gặp thấy và hiểu được chân lý ấy. Biểu tượng bao giờ cũng có các hàm ý quan trọng hơn là biểu trưng.(VMCQG, 119)...
Xem Chi tiết
Định trí (Attention, concentration, dharana):- Từ ngữ “concentration” xuất phát từ tiếng La tinh “con” là “cùng nhau” (“together”) và “centrare” nghĩa là “tập trung” (“to centre”). Nó có nghĩa là “đem lại cùng nhau hay là đưa đến một trung tâm chung, hay là điểm tập trung”. Nó ngụ ý là gom chung lại...
Xem Chi tiết
+ Chướng ngại không thấy Đạo: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là 6 ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, 6 phiền não căn bản là chướng ngại lớn...
Xem Chi tiết
Âm thanh (sound, âm)  Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh... Xin bạn luôn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc. (TVTTHL, 205)  Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
A- LUÂN HỒI (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  I- LUÂN HỒI THEO MINH TRIẾT MỚI+ Trong 1 kiếp sống: (i) - Con người lại có được một thể xác tiến hoá hơn,(ii)- có tính chất ứng đáp nhiều hơn, (iii)- được điều hợp với một khoá cao hơn, với sự tinh vi và thích hợp hơn, rung động ...
Xem Chi tiết
+ Trí tuệ/ Trí năng tức là THỂ TRÍ. (ASCLH, 254; + Trí tuệ = Thông tuệ_CTNM, 588) + Nguyên khí trí tuệ: Cái phân biệt con người với con thú đơn thuần. Đó là nguyên khí biệt lập ngã tính; Giúp con người nhận biết sự tồn tại, cảm nhận và tri thức. Thường chia 2 phần, thượng trí hay trí trừu tượng và...
Xem Chi tiết
Thị giác (Vision): Có nhiều thứ thị giác, và có thể được liệt kê như sau: Thị giác hồng trần (physical vision). Dĩ thái nhãn thông (etheric vision). Nhãn thông (clairvoyance). Nhãn thông biểu tượng (symbolic vision). Nhãn thông thuần túy (Pure vision). Nhãn thông tinh thần hay...
Xem Chi tiết
CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINHĐức Phật dậy: A Nan! Thế nào gọi là thế giới chúng sinh? - Thế có nghĩa là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu. - Giới là không gian, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phươn...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
Giác quan thứ 6 (sixth sense, the mind): Giác quan thứ sáu tức thể trí, là tác nhân diễn dịch và là tác nhân tổng hợp (interpreter and synthesizer) cho 5 giác quan kia. (ASCLH, 351) Theo Kinh Gita (V, 7), thể trí là giác quan thứ sáu bị che lấp trong vật chất (the mind is the sixth sense,...
Xem Chi tiết
– Là Tinh Thần, là Chân Thần, là Linh Ngã. (ASCLH, 8) – Bản Lai Diện Mục là mãnh lực thúc đẩy đàng sau mọi thiên khải và thực ra đó là Thượng Đế Nội Tại (God Immanent), bao giờ cũng cố gắng để được thừa nhận và ngoài ra chính Ngài bị thôi thúc bởi sự kiện về Thượng Đế siêu việt (God Transcendent)....
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
Ngã tính (Egoism, duy ngã): Ngã tính liên quan tới năng lực tạo “Ngã” (“I” making faculty), nó chủ yếu là phân biệt con người và như thế, đưa vào giác quan thứ sáu, tức thể trí (mind) như là tác nhân diễn dịch và tổng hợp 5 giác quan kia. Đó là khả năng của con người để nói “Tôi thấy”, “Tôi ngửi”...
Xem Chi tiết
Ngã thức (I.ness hay self–consciousness): Ngã thức cho phép đơn vị tinh thần ở trung tâm (của hoa sen Chân Ngã –ND) (nhờ vào nó) để thu được tri thức, hiểu biết và sự tự nhận thức (self–realisation). (LVLCK, 762) – Ngã thức tức là ý thức con người (human consciousness). (LVHLT, 38)...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
+ Mãnh lực: Đôi khi đức DK dùng hai từ năng lượng và mãnh lực lẫn lộn và có thể hoán chuyển cho nhau, nhưng thường thì Ngài phân biệt năng lượng khác với mãnh lực. Câu nói: “All is energy” là hoàn toàn chính xác, nhưng energy xuất phát từ thực thể cao (ở con người bình thường là linh hồn”) thì được ...
Xem Chi tiết
+ Vật chất (matter hay material): + Vật chất là tinh thần (spirit) ở mức độ biểu hiện (point of expression) thấp nhất. (CTNM, 589) + Nói về mặt nội môn, từ ngữ “vật chất” được dành để chỉ mọi hình tướng (forms) trong ba cõi thấp. (CVVTDT, 189) + Nên nhớ rằng, đối với nhà huyền linh học (occultist), ...
Xem Chi tiết
+ Lửa trong Đại Thiên Địa - Lửa điện, hay là Lửa Thiêng của Thượng Đế. Lửa này là dấu hiệu phân biệt của Thượng Đế chúng ta và chính lửa này làm cho Ngài khác với tất cả các Thượng Đế khác; đó là đặc điểm nổi bật của Ngài, và là dấu hiệu của vị trí của Ngài trong cơ tiến hoá vũ trụ.(LVLCK, 51) Xem:...
Xem Chi tiết
Khắp thế gian, đâu đâu cũng có sự khao khát đang thôi thúc con người tìm kiếm một kẻ nào đó mà đối với y là biểu hiện một lý tưởng. Ngay đến những người không chấp nhận sự hiện hữu của các Chân Sư cũng đang tìm kiếm một lý tưởng nào đó, rồi hình dung ra lý tưởng đó được thể hiện dưới hình thức nào đ...
Xem Chi tiết
Lâm phàm (Incarnation): Với nghĩa gốc của nó, từ ngữ “lâm phàm” truyền đạt chân lý căn bản có liên quan đến việc khoác lấy một thể xác trọng trược, còn về mặt chuyên môn, chỉ nên áp dụng cho giai đoạn biểu lộ có liên quan đến ba cõi phụ thấp của: a/ Cõi hồng trần vũ trụ, liên quan đến một Thái ...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
A- LUÂN HỒI (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  I- LUÂN HỒI THEO MINH TRIẾT MỚI+ Trong 1 kiếp sống: (i) - Con người lại có được một thể xác tiến hoá hơn,(ii)- có tính chất ứng đáp nhiều hơn, (iii)- được điều hợp với một khoá cao hơn, với sự tinh vi và thích hợp hơn, rung động ...
Xem Chi tiết
Linh thị (Vision): Thực ra, linh thị thực sự (true vision) là hình ảnh cảm dục (astral reflection) của Thiên Cơ, được phản chiếu vào các phân cảnh cao của cảm dục thức (astral consciousness) của hành tinh và ở đó được tiếp xúc và nhận thức được bởi những người mà mức tập trung của họ trong đời số...
Xem Chi tiết
+ Linh hồn - Phật giáo gọi là Thức/ Nghiệp Thức:  Thức - Đi đầu thai, gồm có 9 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và 7 là: Mạt na Thức; 8 là: A Lại Gia Thức là năng lượng, là sức mạnh gọi là nghiệp lực; 9 là Thanh Tịnh Thức/ Như Lai Tạng Thức ... là Thức thanh tịnh, ...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua + Một trong những điều đầu tiên xảy ra khi một người đã thành công trong việc hàn gắn hoặc khắc phục những Sự Chia Rẻ nhất định là việc nhận ra...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
Thiên tính (Divinity, tính thiêng liêng, thánh linh): Thiên tính là sự biểu lộ của ý chí hay mục tiêu của Đấng mà ta sống, hoạt động và hiện tồn bên trong Ngài.(CVĐĐ, 204) Thiên tính được nhận biết như là sự sống, nơi mà Chân Thần (Monad) và biểu hiện của nó, tức Tam Thượng Thể Tinh thần (Sp...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
+ Giới tức là một thế giới riêng biệt cho căn, trần và sắc: - Thí dụ nói về cái thấy chúng ta có 3 giới là: 1. Căn là Nhãn giới - Căn mắt2. Trần là Sắc giới - Là các vật, đối tượng như nhà cửa, xe cộ3. Thức là Nhãn thức giới - Là cái biết của sự thấy. => Mà Con người có- 6 giới của căn: Nhãn giới...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy về loài Người bị luân hồi là nguyên do: Trong Tánh của mỗi con người có đến 16 thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.- Tánh Phật: Trong mỗi con người có 5 cái tánh Phật làm nhân cho sự sống:1- Ý là chủ 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói, Biết....
Xem Chi tiết
+ Trái đất (và Thổ tinh) truyền dẫn Cung 3, nó tự quay ngược chiều kim đồng hồ (Các hành tinh trong hệ mặt trời cũng quay xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ). Nguồn: (GQ1- Cấu tạo con người) + Venus: Hành tinh thánh thiện Venus - Kim tinh so với Địa cầu giống như Chân ngã so với Phàm ...
Xem Chi tiết
Hiện thể (Vehicle): a/ Buddhi là hiện thể đối với Atma. b/ Manas là hiện thể đối với Buddhi. c/ Kama–rupa là hiện thể đối với Manas. d/ Thể dĩ thái (etheric body) là hiện thể đối với prana. (LVLCK, 265) – Các thể (sheaths) và các hiện thể chỉ là các thể (bodies) biểu lộ trên các cõ...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn bạo ...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
Ngôn từ (speech): Một trong những vận cụ quan trọng nhất cho việc phát triển một cách thực tiễn nằm trong tay con người, tìm thường hay quan trọng, là ngôn từ. Kẻ nào biết giữ gìn cách ăn nói của mình, kẻ nào chỉ nói với mục đích vị tha, ngõ hầu truyền chuyển năng lượng Bác ái qua trung gian ngôn...
Xem Chi tiết
+ Mầu Sắc:- Màu sắc chỉ là phương tiện biểu lộ ra bên ngoài để nhờ đó mà mãnh lực bên trong tự truyền chuyển (TVTTHL, 211) - Nên nhớ, màu sắc chính là cách nhận thức về mức rung động mà mắt người tiếp nhận được, là người đang sử dụng thể xác của căn chủng thứ 5, trong cuộc tuần hoàn thứ 4 trên dãy h...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
+ Thần chú (hay Linh từ): -   Là những đoạn rút từ kinh Vedas. Theo nghĩa công truyền thì thần chú (hay khả năng tâm thông hoặc quyền năng để truyền đạt nhận thức hoặc tư tưởng) là phần cổ xưa của kinh Vedas, phần thứ nhì g...
Xem Chi tiết
+ Các Giới (Kingdom) của Thiên Nhiên và các Hành Tinh trong chu kỳ này: 1. Giới Khoáng chất – Pluto và Vulcan (Diêm Vương Tinh và Vulcan). 2. Giới thực vật – Venus và Jupiter (Kim tinh và Mộc tinh). 3. Giới động vật – Mặt Trăng và Hoả tinh (Mars). 4. Giới nhân loại – Thuỷ Tinh và Thổ tinh (Mercury v...
Xem Chi tiết
Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đauHỎI: Tôi muốn biết mục tiêu của đời sống là gì và ngài có tin tưởng vào định mệnh hay không? Nếu có, thế thì vai trò của định mệnh trong đời sống là gì?ĐÁP: Theo quan điểm của Phật giáo (mặc dù quan điểm của riêng tôi thì khác), đôi mắt, ...
Xem Chi tiết
Hoa sen (Lotus): X. Bí huyệt, Thần kinh lực....
Xem Chi tiết
+ Cõi trí là cõi phản chiếu Toàn Linh Trí trong Thiên Nhiên, trong hệ thống nhỏ bé của chúng ta, cõi trí tương ứng với cõi của Đại Trí trong Đại Vũ Trụ. (MTNX, 123) - Cấu tạo cõi trí: Có 3 cõi phụ vô sắc tướng và 4 cõi phụ hữu sắc tướng. (LVLCK, 923) *  Trên cõi trí không có thời gian. (LVHLT, 480...
Xem Chi tiết
+ Phẩm tính Cung 3: Thông tuệ linh hoạt -   Ưu điểm: Tầm nhìn rộng về tất cả những vấn đề trừu tượng, trí tuệ sáng tỏ, năng lực tập trung nghiên cứu triết học, kiên nhẫn, thận trọng, khả năng truyền đạt khái niệm, trí sáng tạo. -   Nhược điểm: Tự cao về trí tuệ, lạnh lùng, cô lập, thiếu chính xác ...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua + Chia rẽ: Phân chia trong bản chất, tranh đấu lẫn nhau; Ở đây chúng ta gặp phải vấn đề chia rẽ trong bản chất giữa thể linh hồn, thể trí, thể tì...
Xem Chi tiết
TRUNG TÂM LỰC - LUÂN XA (Centers - Bí Huyệt) + Các chòm sao là các luân xa (chakras) của Vũ trụ. Các hành tinh là luân xa của các Thái dương hệ, có quan hệ với các trung tâm lực/ luân xa con người(GQ1-C.Tạo con người) Sự tiến hóa qua các Luân xa Dĩ Thái (EP I, 301) 1. L.Xa đầu  _ Chân Thần_ Sự sống ...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16) + Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69) + Tiểu vũ trụ, Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80) - Tiểu vũ trụ ...
Xem Chi tiết
Linh thị (Vision): Thực ra, linh thị thực sự (true vision) là hình ảnh cảm dục (astral reflection) của Thiên Cơ, được phản chiếu vào các phân cảnh cao của cảm dục thức (astral consciousness) của hành tinh và ở đó được tiếp xúc và nhận thức được bởi những người mà mức tập trung của họ trong đời số...
Xem Chi tiết
+ Từ lực hay là prana, sinh lực, sinh khí. (TVTTHL, 245) * Phân biệt Bức xạ từ thể dĩ thái - Bức xạ của prana với từ điển: Prana là một sự phóng phát từ một thể tinh anh (VD: thể cảm dục) và từ điển (Giải thích lửa bức xạ). Sự phân biệt này rất quan trọng và phải được nhận ra một cách cẩn thận (LVL...
Xem Chi tiết
Xuất thần (ecstasy, trance): -   Trong thần bí học (mysticism), chúng ta được biết rằng sự xuất thần (ecstasy) về mặt xác thân là sự mê mẩn (trance). Đó là tình trạng đờ đẫn (rapture), và có thể hoặc tốt hoặc xấu.(TTTĐTG, 167) -   Xuất thần chỉ là trạng thái hôn thụy (sleep-state) được gây ra một ...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần là vật chất ở mức biểu hiện cao nhất. (CTNM, 589) + Tinh thần: Tức Chân Thần (Monad) hay Cha trên Trời.  (ASCLH, 39) - Từ ngữ “tinh thần” không ám chỉ các vấn đề tôn giáo như thường gọi. Mọi hoạt động thúc đẩy con người tiến tới hình thức phát triển nào đó – về thể chất, tình cảm, trí ...
Xem Chi tiết
Hành tinh hệ (Scheme, Planetary scheme, Hệ thống hành tinh): -  Bảy chu kỳ dãy hành tinh (chain periods) hợp thành một hành tinh hệ. Mười hành tinh hệ hợp thành một thái dương hệ (solar system).  (LVLCK, 63) -  Thể biểu lộ (body of manifestation) của một Hành Tinh Thượng Đế (Heavenly Man) tức là m...
Xem Chi tiết
Sattva : X. Thuộc tính....
Xem Chi tiết
+ Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy mình có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy mình ở trên cõi trí. Đa số con người đều thấy mình ở cõi...
Xem Chi tiết
Quốc gia: (Nation) Nên nhớ rằng việc ra đời trong một quốc gia nào cũng đều mang ý nghĩa là nhận lãnh một số trách nhiệm đối với quốc gia đó. Quốc gia là các Thực Thể thiêng liêng (spiritual Entities), và khi con trở thành một thành phần của thực thể hợp nhất đó – một tế bào torng cơ thể nó – con...
Xem Chi tiết
Sát–na (moment): Cũng như một nguyên tử là một chất liệu trong đó sự tế vi đạt tới mức giới hạn của nó, cũng vậy, một sát–na là một tế phân của thời gian trong đó sự tế vi đạt tới giới hạn của nó. Cũng thế, một sát–na chẳng qua chỉ là thời gian mà một nguyên tử cần có để rời bỏ vị trí trong không...
Xem Chi tiết
Đồng tử (Medium, Người ngồi đồng): Nên nhớ rằng đồng tử là một người có các nguyên khí được nối kết một cách lỏng lẻo và có thể bị mượn (borrowed) bởi các thực thể (beings) khác hay bởi các nguyên khí trôi dật dờ (floating principles), nhờ có được một sức hút đối với một số trong chúng hay một ...
Xem Chi tiết
La hán (Arhat), một cách viết khác:  Arhan.   (GLTNVT,  244)    Tức là vị đệ tử được điểm đạo ở cấp thứ tư.   (LVHLT, 263) La sát : X. Rakshara....
Xem Chi tiết
Thiên đường (Heaven): Trạng thái ý thức trên cõi cảm dục, đó là sự cô đọng của khát khao và ham muốn của người tìm đạo, muốn an nghỉ, yên bình và hạnh phúc. Nó dựa vào các “hình thức hoan lạc” (“forms of joy”). Đó là một tình trạng hưởng thụ bằng cảm giác và được mỗi cá nhân tạo ra cho chính mình...
Xem Chi tiết
Thần lực (Forces, Shaktis): Có sáu thần lực của Thiên nhiên. Sáu thần lực này là gì? a/ Chúng là các loại (types) năng lượng. b/ Chúng là tính chất hay đặc tính năng động của một Hành Tinh Thượng Đế. c/ Chúng là sinh lực của một Hành Tinh Thượng Đế được định hướng vào một hướng nào đó....
Xem Chi tiết
+ Thực Thể Thông Linh (Entity): Sự Sống, Đấng (Being). (TLHNM I, 430) + Thực Thể Thông Linh kết hợp (LVLCK, 30): Ba trạng thái này của Thượng Đế, tức Thái Dương hệ tam phân này được mô tả bằng có 3 trạng thái, hay là (theo như Thần học Cơ Đốc giáo) là 3 Ngôi, gồm: - LỬA ĐIỆN hay TINH THẦN: Ngôi 1...
Xem Chi tiết
+ Cơ thể con người: Chất liệu của 2 phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói th...
Xem Chi tiết
+ 108. CÁC PHÁP THÍNgười tinh tấn thí người không tinh tấnThí đúng pháp được tâm hoan hỷVì tin có nghiệp và quả báoLoại thí này thí chủ thanh tịnh.Không tinh tấn thí người tinh tấnKhông đúng pháp, không tâm hoan hỷVì không tin nghiệp và quả báoLoại thí này người nhận thanh tịnh.Người giải đãi thí kh...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
Hoạch đắc kiến thức thiêng liêng bằng các cố gắng và công lao cá nhân. (GLBN I, 43)...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Hợp nhất (unity): Hợp nhất có thể được xem như là sự thích nghi hữu thức của vị đệ tử được điểm đạo vào tổng thể lớn hơn, vì sự thu hút của vị đệ tử vào nhóm nhờ việc tuân thủ vào các định luật của linh hồn và với tư cách chi phối thái độ của y đối với những gì mà vị này đang sống, hoạt động và h...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
Điều này chủ yếu có liên quan tới việc sử dụng lời nói và các cơ quan phát âm, và có liên quan tới sự “chân thật tận thâm tâm” (“truth in the inmost part”) sao cho sự chân thật biểu lộ ra bên ngoài. (ASCLH, 185)...
Xem Chi tiết
Thượng Trí (causal body) chính là Cái Tôi đối với đệ tử . (GLASTTĐ 214)...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)+ Giác quan (sense): Các giác quan là n...
Xem Chi tiết
  – Một cuộc tuần hoàn là đoạn đường đi (passage) của một Chân Thần từ bầu “A” đến bầu “Z” (from globe “A” to globe “Z”) (hay bầu “G").      (GLBN I, 221) – Đại chu kỳ (great cycle) tức cuộc tuần hoàn.   (ĐĐTDVNL, 34) - Bảy chu kỳ thế giới (world periods) hợp thành một cuộc tuần hoàn. ...
Xem Chi tiết
Quyền năng (power, siddhis, huyền công, thần thông):...
Xem Chi tiết
Từ ngữ “cánh hoa” chỉ diễn đạt được hình thức tượng trưng một biểu hiện của lực và tác dụng hiển nhiên của nó trong vật chất. (LVHLT, 199) – Cánh hoa tức là đơn vị của lực (unit of force).(CTNM, 149) Cánh hoa bác ái (Love petals) : Các cánh hoa bác ái tức là trạng thái bác ái–minh triết (...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Đơn nguyên (Monad): -  Đơn nguyên hay đơn tử là một thuật ngữ có thể dùng để chỉ Thái Dương Hệ bao la, cũng như chỉ nguyên tử cực nhỏ.   (GLBN  I,  86). – Đơn nguyên (của Laibnitz) theo một quan điểm có thể được gọi là thần lực (force), theo một quan điểm khác là vật chất (matter). Đối với huy...
Xem Chi tiết
Hoa sen (Lotus): X. Bí huyệt, Thần kinh lực....
Xem Chi tiết
Theo Huyền Linh Học cũng như theo kinh Kabalah, có ba loại ánh sáng: 1.- Ánh Sáng Trừu Tượng và Tuyệt Đối, đó là Bóng Tối (Darkness) 2.- Ánh Sáng của Đấng Biểu Lộ – Vô Hiện (the Manifested- Unmanifested) mà một số người gọi là Logos; 3.- Ánh Sáng loại sau phản chiếu nơi các Dhyn Choha...
Xem Chi tiết
+ Nhân quả/ Nghiệp quả (Karma): Tác động ở cõi trần. Về mặt siêu hình là Luật Báo Phục; Luật Nhân Quả, hay gây hậu quả về mặt đạo đức. Có nghiệp quả do công và nghiệp quả do tội. Đó là quyền lực kiềm chế vạn vật. Kết quả của hành động đạo đức hay là hậu quả về mặt đạo đức của một việc làm được thực ...
Xem Chi tiết
Phán đoán (Judge): Khi càng hiểu biết nhiều, người ta càng ít phán đoán (as one knows more, one judges less). Dè dặt khi đưa ra ý kiến là đường lối tốt nhất cho kẻ bàng quan khôn ngoan, vì y chưa có được nội nhãn thông để thấy sắc thái (colour), cũng như chưa có được nhĩ thông (occult hearing)...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
+ Đức tin (Faith): Sức mạnh của đức tin có thể làm khởi động (set in motion) các năng lượng cao siêu (superior energies), các năng lượng này có thể vô hiệu hóa (negate) hay làm cản trở (retard) bệnh tật. Toàn thể chủ đề về đứ...
Xem Chi tiết
Một biến cố là một biểu lộ nhìn thấy rõ (focussed expression) của loại lực này hoặc lực khác. (SHLCTĐ 347)...
Xem Chi tiết
+ Dĩ Thái: Dĩ thái là dạng thô trược nhất của Tiên Thiên Khí (Akasha). (GLBN I, 78) + Chất dĩ thái sẽ hoàn toàn thấy được đối với nhiều người vào cuối thế kỷ (XX-ND) này (LVHLT, 374) + Dĩ thái: Trong và qua Dĩ thái của không gian, các năng lượng từ nhiều Cội Nguồn xuất phát đang nắm giữ/ vận dụng ...
Xem Chi tiết
+ Trái đất (và Thổ tinh) truyền dẫn Cung 3, nó tự quay ngược chiều kim đồng hồ (Các hành tinh trong hệ mặt trời cũng quay xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ). Nguồn: (GQ1- Cấu tạo con người) + Venus: Hành tinh thánh thiện Venus - Kim tinh so với Địa cầu giống như Chân ngã so với Phàm ...
Xem Chi tiết
Bodhi cũng là tên gọi của một trạng thái xuất thần đặc biệt được gọi là Đại định (samadhi), trong đó chủ thể (subject) đạt đến tột đỉnh của tri thức tinh thần. (GLBN I, 43)...
Xem Chi tiết
+ Điện (Electricity): “Mọi hiện tượng trong thiên nhiên có liên quan đến từ lực hoặc điện lực – vì, nơi nào có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng thì nơi đó có từ lực và Bản Sao của nó (theo thiển ý)– điện sẽ luôn luôn hiện ra, như là nguyên nhân hoặc hậu quả, đúng hơn là cả hai nếu chúng ta thấu ...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Tật xấu (vice): - Tật xấu là việc chiếm ưu thế của tính chất giáng hạ tiến hóa (involution) của cùng một mãnh lực mà vào giai đoạn sau sẽ hiện ra như là một đức tính (virtue). (TVTTHL, 233) - Tật xấu là năng lượng của các thể thấp riêng rẻ hay kết hợp lại trong Phàm ngã khi nó kiểm soát các hoạt đ...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Trong các thủ bút cổ xưa nhất của văn học Ấn Độ, Vị Thượng Đế Trừu Tượng Huyền vi (Unrevealed Abstract Deity) không có danh hiệu. Ngài thường được gọi là “Cái Đó” (tiếng Bắc Phạn là Tad) và tất cả mọi danh xưng đang có, đã có và sẽ có, hay bất cứ tên gọi nào mà trí người có thể nghĩ đến. (GLBN I, ...
Xem Chi tiết
Hữu sắc tướng (Rupa, with form or body): Nói chung, thuật ngữ hữu sắc tướng được dùng để chỉ mọi hình hài (form) trong ba cõi thấp.(LVLCK, 616)...
Xem Chi tiết
Giống dân (Race, chủng tộc): – Cách phân loại các Giống dân và sự tiến hóa của nhân loại được nói đến trong sách này đã được trình bày một cách rõ ràng, khúc chiết trong quyển Phật Giáo Nội Môn...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Từ lực đạo (Nadi): Là những tuyến năng lượng (thread of energy) vô cùng nhỏ hay là các vi lực tuyến (force fibres) tỏa ra khắp nơi của mạng lưới dĩ thái và nằm bên dưới mọi phần của hệ thần kinh tam phân. Chúng có đến hàng triệu và tạo ra bộ máy đáp ứng bén nhạy, nhờ đó chúng ta hoạt động và bộ...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
Ý niệm (idea, ý tưởng): Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238) Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54) Ý niệm...
Xem Chi tiết
+ Lửa (Fire): Lửa là một biến phân của vũ trụ năng trên cõi trí. (LVLCK, 43) A- Lửa Đại Thiên Địa: Có 3 phần, khi biểu lộ ra 5 phần - Năm lửa gồm: 4 nhị nguyên (Cho tứ hạ thể): Tiềm nhiệt, Hoạt nhiệt, Lửa Trí tuệ, Hành khí + Nguyên khí thứ 5 Thượng Đế - Thể trí vũ trụ (LVLCK, 38 - 45) 1. Cung 3 -...
Xem Chi tiết
Amen là sự sửa đổi sai lạc ở Tây Phương (western corruption) của A.U.M. Việc dùng Amen trong nghi lễ của Giáo hội Thiên Chúa sau rốt sẽ bị ngăn cản (discouraged), bởi vì về căn bản, đó là một xác nhận có tính duy vật, thường được người ngoan đạo bình thường xem như là dấu ấn của việc chuẩn nhận thiê...
Xem Chi tiết
– Cõi nguyên hình, cõi biểu lộ thiêng liêng, cõi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cõi Tối Đại Niết Bàn. – Cõi của Thượng Đế. (LVLCK, 79, 656)...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
- Chiến tranh chỉ là một khía cạnh của biến dịch (change), cội nguồn của nó nằm sâu trong vật chất. (SHLCTĐ, 277) – Chiến tranh không phải giết người như những kẻ nhân hậu nghĩ; đó là cách hủy diệt hình hài với chủ đích tốt lành (nếu người ta có thể hiểu được Thiên Ý) của Hành Tinh Thượng Đế. Tuy ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Sat (Thực hữu, Tối hữu, Bản thể): Chúa Cha, Shiva, Thượng Đế Ngôi Một, Vô Hiện (Unmanifest), Bản thể (Existence). (LVLCK, 94) – Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), hiện tại vĩnh cửu, cái bất biến (changeless) và là Cội Nguồn vĩnh hằng, từ đó và qua đó, vạn vật diễn tiến.             ...
Xem Chi tiết
+ Cung (ray): Một dòng thần lực (Chuyên hóa) hay 01 phân thân. Thái Dương Thượng Đế hay là Đại thiên địa, biểu lộ qua 3 cung chính yếu và 4 cung thứ yếu. Chân Thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua 3 cung như trên (LVLCK, 90) + Định nghĩa Ray - Cung năng lượng: Để chỉ một thần lực hay loại năng l...
Xem Chi tiết
NTH: Người soạn thảo bài viết của Nhân Trắc Học...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
+ Lửa (Fire): Lửa là một biến phân của vũ trụ năng trên cõi trí. (LVLCK, 43) A- Lửa Đại Thiên Địa: Có 3 phần, khi biểu lộ ra 5 phần - Năm lửa gồm: 4 nhị nguyên (Cho tứ hạ thể): Tiềm nhiệt, Hoạt nhiệt, Lửa Trí tuệ, Hành khí + Nguyên khí thứ 5 Thượng Đế - Thể trí vũ trụ (LVLCK, 38 - 45) 1. Cung 3 -...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
Tả hỏa kỳ kinh (Ida, Âm hỏa kỳ kinh): Mãnh lực âm của cơ thể tự biểu hiện qua đường dây thần kinh Ida.   (LVHLT, 95)...
Xem Chi tiết
+ Hai Quan Điểm Triết Lý Tôn Giáo khác biệt:- Tôn Giáo Hữu Thần: Có Thượng Đế - Mọi thứ là do Thượng đế tạo nên- Tôn Giáo Vô Thần: Không Có Thượng Đế. Ví dụ như Kỳ Na giáo, Phật giáo, và Ấn giáo, một con người có nhiều kiếp sống. Họ tin rằng một số kinh nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của nhữn...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
Tối Đại Niết Bàn (Adi): Cõi thứ nhất; cõi nguyên thủy; cõi nguyên tử của Thái Dương Hệ; cõi cao nhất trong 7 cõi. (ĐĐNLVTD, 215)...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết