SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Từ “Tiếng Nói Vô Thinh” đến “Thư về Tham Thiền Huyền Môn”

Từ “Tiếng Nói Vô Thinh” đến “Thư Về Tham Thiền Huyền Môn”

Quyển Tiếng Nói Vô Thinh (The Voice of the Silence)—hay “Tiếng Nói của Im Lặng”—được xem là một trong ba quyển sách quí nhất của Hội Thông Thiên Học: quyển Dưới Chân Thầy của Krishnamurti, quyển Tiếng Nói Vô Thinh của bà H.P. Blavatsky, và quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo (Light on the Path).

Bìa quyển Tiếng Nói Vô Thinh

Bìa quyển Tiếng Nói Vô Thinh

 

Bà Blavatsky viết quyển Tiếng Nói Vô Thinh năm 1889, hai năm trước khi bà mất. Đây có thể xem như là cẩm nang về tham thiền dành cho những người học đạo trong hội Thông Thiên Học vào thời đó. Các quyển sách khác của bà—như Giáo Bí Nhiệm (the Secret Doctrine), The Key to Theosophy, Isis Unveileled…—có thể xem là phần thuyết dạy về huyền linh học (vũ trụcon người), nhưng quyển Tiếng Nói Vô Thinh và các tài liệu bà viết riêng cho học viên của Bộ Phận Bí Giáo (Esoteric Section) là những giáo huấn thực tiển, dạy về thực hành (Practical Occultism). Quyển The Voice of The Silence là quyển sách gồm ba phần nhỏ: The Voice of The Silence, The Two Paths, The Seven Portals, là ba tài liệu trong số 90 tiểu luận nhỏ của bộ sách “The Golden Prcepts” (“Kim Huấn Thư”) được lưu giữ trong các chùa cổ ở Tây Tạng, và được bà dịch sang Anh Ngữ vào năm 1889. Đây là lời bà viết về quyển sách Tiếng Nói Vô Thinh:

“Những trang sau đây trích ở “Kim huấn thư”, một trong những sách phát cho các sinh viên Thần bí học ở phương Đông. Tất cả sinh viên đều phải học những giáo lý này, và nhiều nhà Thông Thiên Học đã chấp nhận những giáo huấn ấy. Vì tôi thuộc lòng rất nhiều giáo huấn đó, nên tôi phiên dịch dễ dàng.

Một điều mà ai cũng biết là ở Ấn Ðộ, những phương pháp để phát triển tâm linh của các vị Guru (đạo sư) đều khác nhau, chẳng những do các Ngài khác học phái – có tất cả sáu học phái khác nhau – mà còn vì mỗi Guru có một phương pháp riêng, nên thường thường người giữ rất kín. Tuy nhiên, ở phía bên kia Hy mã lạp sơn (1), phương pháp của các Trường Huyền bí học không thay đổi, ngoại trừ khi nào vị Guru chỉ là một Lạt ma thường không biết gì hơn những kẻ thọ giáo.

Quyển sách mà tôi do theo để dịch đây thuộc về một bộ sách, trong đó tôi cũng rút lấy những đoạn của “Kinh Dzyan” dùng làm căn bản để viết bộ “Giáo lý bí truyền”. “Kim huấn thư” cũng chung một nguồn gốc với quyển Paramartha, theo truyền kỳ thì quyển này vốn của các vị Nàga hay là “Rắn” (danh hiệu của các điểm đạo đồ thời xưa) truyền lại cho vị La Hán vĩ đại Nagarjuna (Long Thụ) … Kinh sách của riêng Ðức Aryasanga (Arya Asanga) để lại cũng rất nhiều (2).

Nguyên bản của “Kim Huấn Thư” khắc trong những hình chữ nhật, mỏng, còn những bản sao thường khắc trên những đĩa tròn. Thường người ta cất những đĩa hay là bản sao đó trên bàn thờ của những đền chùa trực thuộc những trung tâm có trường dạy “Thiền quán” của Tông phái Đại thừa Yogacharya (Du Già). Những bản đó viết theo nhiều cách khác nhau, đôi khi bằng chữ Tây Tạng, nhưng phần nhiều là bằng chữ tượng hình. Thứ tiếng của tăng lữ dùng (senzar) (3), ngoài bộ mẫu tự riêng của nó, có thể viết ra bằng nhiều lối chữ bí mật, và theo lối tượng hình văn tự hơn là theo lối phiên âm…

Kim huấn thư gồm có 90 quyển khái luận nhỏ và riêng biệt nhau, trong đó vài quyển đã có trước thời kỳ Phật giáo ra đời. Tôi học thuộc lòng 39 quyển từ nhiều năm qua. Muốn dịch mấy quyển kia tôi phải nhờ đến bút ký để rải rác trong vô số giấy tờ, và những bút ký thu thập chưa sắp xếp lại trong hai mươi năm chót, như thế công việc không phải dễ. Hơn nữa, không thể nào đem ra dịch hết cùng trao truyền tất cả cho một thế giới quá ích kỷ và quá mê trần, chưa chuẩn bị chút nào để xứng đáng thọ lãnh một luân lý cao siêu như thế. Bởi vì chỉ có người nào thành thật bền chí theo đuổi sự tự tri mới sẵn lòng để tai nghe những lời khuyên bảo có tính cách như thế.

Bởi thế chúng tôi nghĩ, chỉ nên lựa chọn thật kỹ lấy một ít bài thích hợp nhất, cho một số ít người thật có tâm hồn thần bí trong Hội Thông Thiên Học, và các bài này chắc chắn đúng với nhu cầu của họ. Chỉ những kẻ đó mới ưa thích những lời này của Krishna-Christos, cái “Ta cao siêu”.

Trong bản dịch nầy, tôi cố gắng để bảo tồn vẻ đẹp của câu văn đầy thi vị và bút pháp có nhiều gợi ý của nguyên văn. Ðộc giả sẽ phán đoán xem sự cố gắng này đã thành công được đến đâu.”

Trong đoạn giới thiệu trên, bà HPB nói đến Trường Huyền bí bên kia rặng Hi Mã lạp Sơn (1) (Trans-Himalaya) là Trường Nội Môn thuộc về các Chân sư K.H, Morya. Còn senzar là ngôn ngữ tượng hình của các điểm đạo đồ (3). Nó giống như chữ nho của Trung quốc, dù người  điểm đạo đồ thuộc quốc gia nào đi nữa đều có thể đọc hiểu được thứ tiếng đó. Bà nói quyển Kim Huấn Thư (the Book of Golden Precepts) bao gồm 90 quyển tiểu luận nhỏ, nhưng bà chỉ trích dịch ba trong số đó để dịch thành quyển Tiếng Nói Vô Thinh. Bà cũng nói thoáng qua là bộ Kim Huấn Thư được khắc trên gỗ (hay kim loại?) và để trên các bàn thờ trong các chùa thuộc trường phái Du Già (Yogacharya) của Tây tạng. Tông phái Yogacharya do đức Arya Asanga sáng lập, và theo bà thì Ngài đã để lại nhiều tác phẩm quí giá cho hậu thế (2). Ông C.W. Leadbeater trong quyển Giảng Tiếng Nói vô thinh cung cấp cho ta nhiều chi tiết hơn về quyển sách này:

Những đoạn tiểu sử khác nhau về Bà Blavatsky cho chúng ta biết rằng bà đã lưu trú ba năm tại Tây Tạng, và trong một lần khác bà đã cố gắng đi vào vùng cấm địa nầy nhưng không thành công. Trong một trong các cuộc du hành này, dường như bà đã lưu ngụ tại một đạo viện trên Dãy Hy Mã Lạp Sơn, mà vào lúc ấy do một vị Ðệ Tử của Chân Sư Morya cai quản. Theo tôi dường như vùng nầy ở Népal chớ không phải Tây Tạng, nhưng khó mà xác quyết điều này. Tại nơi đây Bà Blavatsky học tập rất chuyên cần và đạt được một sự phát triển tâm linh phi thường. Trong thời kỳ đó, bà học thuộc lòng được nhiều thiên khảo luận khác nhau mà bà đã đề cập đến trong lời tựa. Những sinh viên ở đạo viện đặc biệt nầy đều phải học như bà, và quyển kinh có những đoạn đã trích ấy được xem như vô cùng quý báu và thiêng liêng.

Ðạo viện nầy thật xưa cũ. Nó được lập vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa bởi nhà truyền giáo và canh tân vĩ đại của Ðạo Phật. Ngài thường được biết dưới danh hiệu Aryasanga. Người ta quả quyết rằng đạo viện ấy đã có từ hai đến ba thế kỷ trước Ngài. Dù sao đi nữa, lịch sử của đạo viện liên quan đến chúng ta bắt đầu từ khi Ðức Aryasanga tạm trú ở đó. Ngài là người có một năng lực phi thường, một kiến thức uyên bác và đã tiến xa trên Thánh Ðạo. Trong một kiếp trước, Ngài là Dharmajyoti, tức là một trong các tín đồ nhiệt thành của Ðức Phật, và sau đó, Ngài mang tên Kleinias, là một trong những vị cao đồ của Ðức Thầy Kouthoumi, trong một kiếp Ngài là Ðức Pythagore. Sau khi Ðức Pythagore bỏ xác, Kleinias sáng lập tại thành Athens một trường chuyên nghiên cứu triết của Thầy mình. Chắc chắn nhiều hội viên Thông Thiên Học hiện nay đã lợi dụng được cơ hội đó. Vài thế kỷ sau, Ngài tái sinh mang tên Vasubandhu Kanushika ở Peshawar, sau đó được gọi là Purushapura. Khi được nhận vào Giáo Hội Tăng Già, Ngài lấy tên là Vô Trước (Asanga) “người đã cởi bỏ các chướng ngại”. Khi Ngài đã cao niên, các môn đồ Ngài sùng mộ vị thủ lãnh của họ mới tôn xưng Ngài bằng danh hiệu dài hơn là Aryasanga — dưới biệt danh nầy Ngài thường được biết đến như một nhà trước tác và nhà truyền giáo. Người ta nói rằng Ngài đã đạt được một tuổi thọ thật cao, nếu truyền thuyết nầy đúng, Ngài đã sống gần đến một trăm năm mươi tuổi và từ trần ở Rajagriha.

Sách vở của Ngài để lại thật dồi dào; tác phẩm chánh trong số đó được nhắc đến là bộ Yogacharya Bhumishastra (Du Già Sư Ðịa Luận). Ðức Aryasanga đã sáng lập ra Tông phái Du Già Phật Giáo (Yogacharya school). Hình như Tông phái nầy bắt đầu bằng nỗ lực dung hợp Phật Giáo với hệ thống triết vĩ đại của Yoga, hoặc đúng hơn là chọn từ giáo Yoga những gì có thể sử dụng được  và giải thích theo Phật Giáo. Ngài đã từng hoằng giáo nhiều nơi và giữ một vai trò then chốt trong việc canh tân Phật Giáo. Tiếng tăm của Ngài lừng lẫy đến mức tên tuổi Ngài được kể chung với uy danh của Ðức Nagarjuna (Long Thọ) và Ðức Aryadeva (Ðại Thiên). Ba vị này nổi tiếng nầy là ba ngôi mặt trời của Phật Giáo, nhờ công nghiệp truyền bá ánh sáng và sự vinh quang của Ðạo Phật trên thế gian. Ðức Aryasanga sống khoảng một ngàn năm sau Ðức Phật. Các học giả Tây phương không đồng ý về điểm nầy nhưng không ai tin rằng Ngài sống vào thế kỷ thứ bảy sau Thiên Chúa. Ðối với chúng ta trong Hội Thông Thiên Học, Ngài được biết đến như vị huấn sư nhã nhặn, kiên nhẫn và nhân từ. Ðó là Chân Sư Djwal Koul. Ngài có một địa vị đặc biệt đối với chúng ta, vì ở thời kỳ vài người trong chúng ta hân hạnh được biết Ngài, nghĩa là cách đây bốn chục năm, Ngài còn chưa đạt được đến mục đích tiến hóa cuối cùng của nhân loại và được Ðiểm Ðạo ở cấp bậc Chân Sư. Như thế trong tất cả những Ðức Thầy của chúng ta, Ngài là người duy nhất trong kiếp nầy, mà chúng tôi được biết trước khi Ngài trở thành Chân Sư, vào lúc Ngài còn là cao đồ của Ðức Thầy Kouthoumi. Sự kiện Ngài đã du nhập Phật Giáo vào xứ Tây Tạng trong kiếp sống của Ngài là Aryasanga, có thể giải thích tại sao trong kiếp nầy Ngài chọn xác thân người Tây Tạng. Cũng có thể còn vài sự liên hệ hay sự trói buộc của Nhân Quả mà Ngài muốn chấm dứt trước khi nhận sự Ðiểm Ðạo sau cùng, tức quả vị Chân Sư.

Trong một cuộc du hành truyền pháp lớn lao của Ngài trong kiếp sống mang tên Aryasa­nga, Ngài đã đến đạo viện ấy ở Hy Mã Lạp Sơn và lưu ngụ tại đó. Ngài ở tại đây gần một năm, giáo hóa tăng sĩ, thành lập Giáo hội chung trong một phạm vi rộng lớn của xứ ấy và biến đạo viện thành một trung tâm đầu não của sự canh tân tín ngưỡng. Ngài đã lưu lại đây một ấn tượng và một truyền thống còn tồn tại đến ngày nay. Trong số thánh tích của Ngài, người ta còn giữ lại một quyển Kinh với một niềm tôn kính vô biên; đó chính là bản văn mà Bà Blavatsky gọi là Kim Huấn Thư. Dường như Ðức Aryasanga đã làm thành một loại sách tóm lược hay tập hợp những câu trích dẫn mà Ngài ghi lại trong đó tất cả những gì Ngài cho là hữu ích cho môn đồ Ngài, và Ngài bắt đầu với những thi đoạn của Kinh Dzyan — không phải bằng những biểu tượng như trong nguyên bản, nhưng bằng chữ viết. Ngài cũng trích nhiều câu khác, mà một đoạn rút trong tác phẩm của Ðức Long Thọ (Nagarjuna), như Bà Blavatsky đã cho biết. Sau khi Ngài ra đi, các môn đồ của Ngài thêm vào quyển sách ấy một loạt các bài tường trình (đúng hơn, được rút gọn) về những bài thuyết pháp của Ngài; đó là những ” tiểu luận ” mà Bà Blavatsky đã đề cập đến.

Trong kiếp trước, chính Alcyone đã soạn lại và thêm vào quyển Kim Huấn Thư những bản trần thuật về các bài thuyết pháp của Ðức Aryasanga mà ba bài hợp thành vấn đề chúng ta hiện đang nghiên cứu. Vậy nhờ Alcyone cẩn thận biên soạn chúng ta mới có tác phẩm nhỏ vô giá nầy, cũng như trong kiếp sống hiện tại chúng ta mang ơn người qua quyển sách nhỏ có nhan đề Dưới Chơn Thầy. Kiếp trước Alcyone bắt đầu từ năm 624 sau Thiên Chúa và trải qua tại vùng Bắc Ấn. Trong kiếp đó Alcyone được thu nhận vào Giáo Hội Tăng già Phật Giáo lúc còn rất trẻ. Cậu bé quyến luyến Aryasanga một cách nồng nhiệt và được Ngài dẫn đến đạo viện ở Népal, nơi đây Ngài để cậu trợ giúp và điều hành sự nghiên cứu của Giáo hội do cậu cải tổ và chăm sóc. Trong vòng hai năm, Alcyone đã hoàn tất các chức vụ trên trong sự thành đạt lớn lao nhất.

Chúng ta phải biết ơn Ông C.W. Leadbeater vì Ông đã cung cấp cho ta những chi tiết huyền bí về các Chân Sư thuộc trường phái Trans-Himalaya của Thánh đoàn. Đoạn văn trên rất rõ ràng, chỉ có một chi tiết thiếu chính xác. Ông nói Chân sư DK được điểm đạo sau năm 1875 (năm hội Thông Thiên Học được thành lập), nhưng bản thân Chân Sư DK trong quyển Điểm Đạo trong Nhân LoạiThái dương hệ nói rằng Ngài được điểm đạo lần thứ năm vào năm 1875. Như vậy, tác giả thật sự của quyển Tiếng Nói Vô Thinh chính là Chân Sư DK trong một kiếp trước, và ta có thể khẳng định chắc chắn điều này khi ta đi sâu vào nội dung của quyển “Tiếng Nói Vô Thinh”, nhiều điều bí hiểm trong đó được Ngài giải thích chi tiết trong các tác phẩm sau này của Ngài được đưa ra thế gian dưới tên của người đệ tử Alice A. Bailey. Ông Leadbeater cũng cho biết Ngài chính là Kleinias, học trò của đức Pythagore tại Hi Lạp trước Công Nguyên, và chi tiết này cũng được nhiều nhà huyền bí học như Douglas M. Baker, Henry T. Laurency xác nhận. Như vậy, chúng ta có thể thấy sợi dây liên hệ mật thiết giữa Ngài và Sư Phụ của Ngài là đức KH vô cùng mật thiết qua nhiều kiếp sống khác nhau.

Trong một bức thư của bà Blavatsky gởi cho Ông Sinnett, bà nói đức DK rất lưu loát tiếng Anh, thậm chí Ngài còn lưu loát hơn cả Chân Sư KH. Còn bà Alice A. Bailey thì nói rằng Ngài rất uyên bác, và khi ta đọc sách của Ngài ta cũng thấy điều bà nói là chính xác. Trong số các bức thư của Chân sư KH và M. gởi cho ông Sinnett có vài bức của đức DK tự tay viết cho ông Sinnett, nhờ đó người ta biết được bút tự và chữ ký của Ngài. Dưới đây là một trang mà Ngài viết cho Ông Sinnett.

Thư Chân sư DL viết cho Ông Sinnett

Thư Chân sư DL viết cho Ông Sinnett

Trở lại nội dung của quyển The Voice of The Silence, Phần I của quyển sách được đặt tên trùng với tên quyển sách–“Tiếng Nói Vô Thinh”, bao gồm 100 câu châm ngôn ngắn, và bà Blavatsky thỉnh thoảng chú thích những chỗ khó hiểu. Thật ra, toàn bộ bộ quyển sách là áng văn tuyệt tác như lời bà Annie Besant nói, nhưng để hiểu hết những gì trong đó không phải điều dễ dàng. Thí dụ ta thấy những câu sau đây trong sách kèm theo chú giải của bà Blavatsky:

Cái Trí là Kẻ Giết Chết Sự Thật. Ðệ Tử phải khử trừ kẻ phá hoại đó.

The Mind is the great Slayer of the Real. Let the Disciple slay the slayer.

Ðại Sư là danh từ mà các vị đệ tử Lanoos hoặc Chelas dùng để gọi “Cái Ta Cao Siêu” (Thượng Ngã, Chân Ngã) của chúng ta.

The “great Master” is the term used by chelas to indicate the Higher Self.

Hỡi đệ tử, trần gian nầy là phòng đau khổ; nơi đây dài theo con đường thử thách gian lao rải rác biết bao cạm bẩy để nhốt Chơn Nhơn của con vào vòng ảo ảnh gọi là “đại tín”.

This earth, disciple, is the hall of sorrow, wherein are set along the path of dire probations, traps to ensnare thy Ego by the delusion called “great heresy”.

Hỡi kẻ hành hương mệt mỏi, con phải trải qua ba gian phòng mới hết những nỗi khó nhọc. Hỡi kẻ chiến thắng Ma Vương, ba gian phòng sẽ dắt con qua ba trạng thái để đến trạng thái thứ tư và từ đó bước vào bảy cõi, là những cõi yên nghỉ đời đời.

Nếu con muốn biết tên ba gian phòng đó, con hãy nghe và nhớ.

Tên của các gian phòng thứ nhứt là phòng Vô Minh -Avidya.

Chính phòng đó là nơi con sinh ra đời, nơi con sống và con sẽ chết.

Tên phòng thứ nhì là phòng Học Tập. Nơi đó Hồn con sẽ thấy những bông hoa của cuộc đời, nhưng dưới mỗi đóa hoa đều có một con rắn nằm khoanh.

Tên của phòng thứ ba là Minh Triết; phía bên kia là nước biển Akshara không bờ bến, nguồn toàn tri vô tận.

Three halls, O weary pilgrim, lead to the end of toils. Three halls, O conqueror of Mara, will bring thee through three states into the fourth, and thence into the seven worlds, the worlds of rest eternal.

If thou would’st learn their names, then hearken, and remember.

The name of the first hall is Ignorance—Avidya. It is the hall in which thou saw’st the light, in which thou livest and shalt die.

The name of hall the second is the Hall of Learning. In it thy Soul will find the blossoms of life, but under every flower a serpent coiled.

The name of the third hall is Wisdom, beyond which stretch the shoreless waters of Akshara, the indestructible fount of omniscience.

Con không thể đi trên Ðường Ðạo, trước khi con trở thành chính con đường đó.

Thou canst not travel on the Path before thou hast become that Path itself.

Đậy là những “công án” mà quyển Tiếng Nói Vô Thinh đưa ra cho chúng ta–những người học đạo–nghiền ngẫm. Trong các bài trước đây, chúng tôi có giải thích một vài câu nói trên của quyển sách bằng các trích dẫn của đức DK. Ví dụ câu “Con không thể đi trên Ðường Ðạo, trước khi chính con trở nên con đường đó” nói về đường Ahtahkarana; hoặc tên các Phòng Vô Minh, Phòng Học Tập, Phòng Minh Triết; Chân Ngã là Vị Thầy đầu tiên của chúng ta; Trần gian nầy là phòng đau khổ; Đại tín của sự chia rẻ … Chúng tôi chỉ nhắc lại sơ lược để các bạn thấy sự kế tục của giáo của Thánh Đoàn đưa ra cho thế gian, và càng về sau, giáo càng rõ ràng và sâu rộng hơn nữa.

Sau hết, chỉ thêm một thông tin nhỏ mà có thể có một số bạn thắc mắc. Hình Chân Sư DK phổ biến rộng rãi trên internet xuất phát từ đâu, và chân sư DK nay có còn giữ xác phàm nữa không? Trong những năm cuối thế kỷ 20, trên trang web của www.netnews.org có hình Chân sư DK đen trắng, khổ rất nhỏ (khoảng 3×4), cùng với hình bà Alice A.Bailey.

DK small

Sau đó, trong sách của Douglas M. Baker có hình của Chân sư DK đen trắng khổ lớn, và gần đây nhất là hình màu. Chúng ta biết Douglas M. Baker là đệ tử thuộc Ashram của Chân sư Người Anh, nằm trong Asram của Chân sư DK. Cuối cùng là một bức hình màu khác xuất phát từ một trong các đệ tử của đức DK, là hiệu trưởng của trường The School for Esoteric Studies (SES). Trường SES do hai đệ tử của Chân sư DK có pháp danh là RSU và FCD (Regina Keller và Roberto Assagioli) thành lập sau khi tách ra khỏi trường Arcane. Hình do hoạ sĩ người Nam Phi  Annie Gowland vẽ vào năm 1931.

CHân sư DK do hoạ sĩ Nam Phi Annie Gowland vẽ vào năm 1931

Chân dung Chân sư DK do hoạ sĩ Nam Phi Annie Gowland vẽ vào năm 1931. Click lên hình để xem hình phân giải cao

Ngoài ra, nếu Chân Sư DK còn giữ xác phàm khi Ngài được điểm đạo lần thứ năm thì cho đến nay Ngài đã vào khoảng 170 – 180 tuổi, và điều này khó xảy ra. Theo Douglas M. Baker thì Chân sư DK đã bỏ xác thân cũ và đã khoác lấy một xác thân mới—có thể bằng quyền năng Kriya shakti Ngài tạo ra một mayavic rupa, như Ngài đã có lần giải thích—ở tuổi trung niên. Torkom Saraydarian cũng có nhắc đến chuyện đức DK bỏ xác thân cũ trong giữa thế kỷ 20 trong sách của Ông. Chúng tôi thấy Douglas M. baker và Torkom Saraydarian là hai nhà Huyền bí học uy tín và đáng tin cậy, nên các thông tin đó đáng cho chúng ta ghi nhận.

 

3195 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay
Tiếng nói vô thinh (The voice of the silence). Tiếng nói vô thinh đối với bất cứ người nào là tiếng nói đến từ phần thâm sâu (the part) của người ấy vốn cao hơn nơi mà tâm thức của người này có thể đạt đến, dĩ nhiên tiếng nói đó thay đổi theo mức tiến hóa của người này. Đối với những ai còn hoạt ...
Xem Chi tiết
Tham thiền huyền linh (occult meditation): Tức là tham thiền bằng trí (intellectual meditation). (TLHNM–II, 449) Xem Tham thiền - Nhập định và những nguy hiểm cần tránh và Tổng quan về Tham ThiềnXem: Tham thiền huyền môn theo Raja yoga (GQ-MF) Xem: TH về các P.Pháp và con đường Tham Thiền Xem: Tổng ...
Xem Chi tiết
– Bất cứ cuộc điểm đạo nào mà không được lý giải trong cách sống hằng ngày thì không giúp ích được bao nhiêu và về căn bản là thiếu xác thực. Chính sự thiếu xác thực của cách trình bày về điểm đạo đã đưa tới việc Hội Thông Thiên Học không còn được xem như là tác nhân của Thánh Đoàn vào lúc này. Trướ...
Xem Chi tiết
Tiếng nói vô thinh (The voice of the silence). Tiếng nói vô thinh đối với bất cứ người nào là tiếng nói đến từ phần thâm sâu (the part) của người ấy vốn cao hơn nơi mà tâm thức của người này có thể đạt đến, dĩ nhiên tiếng nói đó thay đổi theo mức tiến hóa của người này. Đối với những ai còn hoạt ...
Xem Chi tiết
Phòng Minh triết (Hall of Wisdom): - Sự nhận thức, sự mở rộng tâm thức và sự đồng nhất hóa với Chân Nhân bao gồm thời kỳ được trải qua trong Phòng Minh triết  (cõi Thượng Trí và cõi Bồ Đề). - Các thuật ngữ sự sống nhân loại (human life), sự sống thần bí (mystic life) và sự sống huyền linh (occult ...
Xem Chi tiết
Phòng Học Tập (Hall of Learning): Sự chán ngấy (satiety), sự bồn chồn (restlessness) và việc tìm kiếm tri thức về Chân Ngã hay linh hồn đặc trưng cho thời kỳ được trải qua trong Phòng Học Tập (cõi cảm dục và cõi hạ trí)....
Xem Chi tiết
+  Nhà huyền linh thuật tức là nhà huyền linh học (occultist). (ASCLH, 222) + Nhà huyền linh thuật (White magician): -   Nhà huyền linh thuật là kẻ vận dụng mọi năng lực và kiến thức trong việc phụng sự nhân loại. (TVTTHL, 331) -   Nhà huyền linh thuật là kẻ đang tiếp xúc được với linh hồn của mì...
Xem Chi tiết
+ Thái dương hệ (TDH) chúng ta là 1 hệ thống ở cấp thứ 4; vị trí của nó trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ 4 (Từ trên xuống), cõi 4 này là nơi gặp gỡ cho quá khứ và tương lai và chính là hiện tại. (LVLCK, 152) + Mỗi TDH là 1 biểu lộ của đấng Vũ Trụ Vĩ Đại, gọi là Thái Dương Thượng Đế (TDTĐ). TDTĐ ngài lâm...
Xem Chi tiết
Phòng Vô Minh (Hall of Ignorance): Việc đồng nhất hóa với hiện tượng giới và việc sử dụng các cơ quan tri giác hướng ngoại, bao gồm thời kỳ mà Chân Nhân trải qua trong cái gọi là Phòng Vô Minh (cõi hồng trần)....
Xem Chi tiết
Phòng Học Tập (Hall of Learning): Sự chán ngấy (satiety), sự bồn chồn (restlessness) và việc tìm kiếm tri thức về Chân Ngã hay linh hồn đặc trưng cho thời kỳ được trải qua trong Phòng Học Tập (cõi cảm dục và cõi hạ trí)....
Xem Chi tiết
+ Các Điểm đạo đồ (EP II 207): Những linh hồn được kết nạp vào những bí pháp của Thiên Giới ... vốn không chỉ ý thức về phàm ngã tích hợp ... ... về bản thân họ là linh hồn, mà còn biết vượt qua mọi tranh cãi, rằng không có việc như là "linh hồn của tôi và linh hồn của anh", mà chỉ là "Đại Hồn". Họ ...
Xem Chi tiết
Toàn tri (Omniscience): - Toàn tri tức là hiểu biết được thực tướng của sự vật (the knowledge of things–in–themselves).      (GLBN II, 43) Sự toàn hiện là một định luật trong thiên nhiên và dựa trên sự kiện rằng thể dĩ thái của mọi hình hài tạo thành thể dĩ thái thế giới khiến cho có thể có ...
Xem Chi tiết
+ Đệ tử là người đang chuyển tâm thức ra khỏi phạm vi phàm ngã vào lĩnh vực cao siêu hơn. Dù ngày càng hòa hợp với linh hồn, y có thể vẫn còn đồng hóa đến mức nào đó với hình thể của mình, tức là phàm ngã. Y nhận thấy sự vô ích của những thái độ mà y đã có và những cách nhìn về cuộc sống và người kh...
Xem Chi tiết
Thượng ngã (Higher Self): - Atma tức là Thượng Ngã.    (CKMTTL, 104) Là linh hồn, Chân Ngã, Biệt ngã (Individuality), Thái Dương Thiên thần. (LVLCK, 48 –ĐĐNLVTD, 207) Thượng ngã hay Đại Hồn (Soul) là toàn thể ý thức của Chân Thần trong thời gian và không gian. (GDTKNM, 18) Thượng Ngã v...
Xem Chi tiết
+  Chướng ngại khi Tu: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, hợp lại gọi là ác kiến, 6 phiền não căn bản là ...
Xem Chi tiết
Chân Sư Koot Humi rất nổi tiếng ở phương Tây và có nhiều đệ tử ở khắp nơi. Ngài gốc ở Kashmir, mặc dù thoạt đầu gia đình Ngài từ Ấn Độ đến. Ngài cũng là điểm đạo đồ cao cấp thuộc cung hai, Cung Bác ái– Minh triết. Ngài có dáng vẻ quý phái, cao, mặc dù hơi mảnh khảnh hơn Chân Sư M.. Ngài có nước da đ...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
Jerusalem : Tân Jerusalem (new Jerusalem), Thánh Đoàn.(VMCQG, 23) - Jerusalem (nghĩa đen là “chốn yên bình”) không phải là thủ đô của một nước nhỏ gọi là Palestine hay là Thánh Địa. Từ này tượng trưng cho một thế giới thái bình - một thế giới mà nhờ các nỗ lực tự lực của riêng nó, đã đạt được một y...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
Cuộc sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Gặp nhau là bởi chữ duyên sống và yêu nhau là bởi chữ nợ. Vậy nên mới có nhân quả luân hồi hay số kiếp. Phật dậy: 1. Phong thủy ứng dụng và tâm linh đều cho rằng, những ng...
Xem Chi tiết
54. CÔNG ĐỨC HÀNH HƯƠNG CÁC THÁNH TÍCHBấy giờ, A-nan trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, bạch Phật:Thế Tôn, hiện nay các Sa-môn khắp bốn phương, gồm những vị kỳ cựu đa văn, thấu hiểu kinh luật, đức hạnh thanh cao, thường đến bái yết Phật, nhân đó con được lễ kính và gần gũi hỏi han. Nhưng...
Xem Chi tiết
+ Huyền linh (Occult): Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự sống (being) và các động lực hướng dẫn này (springs of conduct) tạo ra biểu lộ ở ngoại cảnh. (LVHLT, 10) + Huyền linh học (Occultism): -   Nghiên cứu huyền linh học một cách chân chính là nghiên cứu về nguyên nhân và cách di...
Xem Chi tiết
Chân Sư Koot Humi rất nổi tiếng ở phương Tây và có nhiều đệ tử ở khắp nơi. Ngài gốc ở Kashmir, mặc dù thoạt đầu gia đình Ngài từ Ấn Độ đến. Ngài cũng là điểm đạo đồ cao cấp thuộc cung hai, Cung Bác ái– Minh triết. Ngài có dáng vẻ quý phái, cao, mặc dù hơi mảnh khảnh hơn Chân Sư M.. Ngài có nước da đ...
Xem Chi tiết
Đức Djwhal Khul hay là Đức D.K. như Ngài thường được gọi, là một Chân Sư thuộc Cung 2, Cung Bác ái–Minh Triết. Ngài là vị Chân Sư được điểm đạo gần đây nhất, Ngài được điểm đạo lần 5 vào năm 1875, và do đó đang ngự trong chính thể xác lúc Ngài được điểm đạo. Đa số các Chân Sư khác được điểm đạo lần ...
Xem Chi tiết
+ Bốn loại biểu tượnga) Biểu tượng của các vật bên ngoài ... các vật ở cõi trần. b) Biểu tượng về bản chất tình cảm ... các sự vật ở cõi cảm dục, các tranh ảnh. c) Biểu tượng học về số ............. Hạ trí. Con người dùng chính mình để tính. d) Biểu tượng học hình học ... biểu tượng học trừu tượng, ...
Xem Chi tiết
Sự ràng buộc vào hình hài hay là sự thu hút của hình hài đối với Tinh thần là sức thôi thúc to tát của tiến hóa giáng hạ. (ASCLH, 139) Ham muốn cuộc sống hữu tình một cách mãnh liệt chính là sự ràng buộc. Nó có sẵn trong mọi hình hài, nó tự tồn tại (self–perpetuating), và thậm chí người rất ...
Xem Chi tiết
1. Hai Quan Điểm Triết Lý Tôn Giáo khác biệt:- Tôn Giáo Hữu Thần: Có Thượng Đế - Mọi thứ là do Thượng đế tạo nên- Tôn Giáo Vô Thần: Không Có Thượng Đế. Ví dụ như Kỳ Na giáo, Phật giáo, và Ấn giáo, một con người có nhiều kiếp sống. Họ tin rằng một số kinh nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của nhữ...
Xem Chi tiết
+ Huyền linh (Occult): Thuật ngữ này liên quan đến các lực ẩn tàng của sự sống (being) và các động lực hướng dẫn này (springs of conduct) tạo ra biểu lộ ở ngoại cảnh. (LVHLT, 10) + Huyền linh học (Occultism): -   Nghiên cứu huyền linh học một cách chân chính là nghiên cứu về nguyên nhân và cách di...
Xem Chi tiết
+ Cõi Người - Nhân loại được thiết lập trên nền tảng của ham muốn và dục vọng khám phá, hưởng thụ. Đây là nơi mà hạnh phúc và khổ đau xen lẫn nhau một cách hoàn hảo đủ để thôi thúc con người hướng đến hành trình tâm linh. Nhân để sinh vào cõi Người là sự trì giữ năm giới (không sát sinh, không uống ...
Xem Chi tiết
+ Vòng giới hạn kiếp sống: Mỗi phàm nhân đối với Chân nhân cũng như thái dương hệ đối với Đức Thái Dương Thượng Đế. Mỗi kiếp sống, Chân nhân cần đạt được một mục tiêu rõ rệt, có thể là hoạch đắc đức hạnh bằng cách trả giá cho tật xấu. VD: Kinh doanh thành thạo; Mở mang tính nhạy cảm = thấy điều độc ...
Xem Chi tiết
+ Huyền Môn:  Chữ huyền môn (occult) có nghĩa là bị che dấu, ẩn tàng, và tham thiền huyền môn là dạng tham thiền sử dụng những năng lượng vô hình mạnh mẽ này (Về tham thiền-MQ-MF) + Nghiên cứu kiến thức huyền môn, các bạn cần nhớ 2 điều: 1- Các bạn phải kiểm soát (Chế ngự) các sức mạnh tinh linh: ...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâ...
Xem Chi tiết
Đức Morya là một trong các Chân Sư Đông phương nổi tiếng nhất, trong các môn đồ của Ngài có một số lớn người Âu Châu và Mỹ Châu. Ngài là một ông Hoàng thuộc tộc Rajput, trong nhiều thập niên đã giữ một địa vị có thẩm quyền trong quốc sự Ấn Độ. Ngài hoạt động bằng sự hợp tác chặt chẽ với Đức Bàn C...
Xem Chi tiết
BẢNG CHÂN NGÔN CỦA PHÀM NGÃ VÀ LINH HỒN Xem bản PHÓNG TO về BẢNG CHÂN NGÔN...
Xem Chi tiết
Aryasanga : (Đức Vô Trước) Đức Aryasanga là một vị Cao Đồ (Adept) thời Tiền Cơ Đốc Giáo và là nhà sáng lập trường phái nội môn Phật giáo, mặc dù không biết vì lý do nào mà ông Csoma De Koros cho là Ngài sống vào thế kỷ thứ 7 sau T.C. Có một vị Aryasanga khác sống ở thế kỷ đầu kỷ nguyên chúng ta, có ...
Xem Chi tiết
Đạo viện (Ashram) : X. Huyền viện....
Xem Chi tiết
+ Chướng ngại không thấy Đạo: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là 6 ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, 6 phiền não căn bản là chướng ngại lớn...
Xem Chi tiết
Yên nghỉ (sleep): Sự yên nghỉ thông thường của thể xác, trong đó, não bộ không đáp ứng với bất cứ sự tiếp xúc nào của giác quan. Sự yên nghỉ của ngũ quan thức (vrittis) tức là hoạt động của các tiến trình trí tuệ đang liên kết con người với môi trường quanh con người qua trung gian của các g...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
Tsong–kha–pa (Tây Tạng): Còn được viết là Son–kha–pa. Một nhà cải cách nổi tiếng ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 14, Ngài đã đưa vào quê hương của Ngài một hệ thống Phật giáo đã được thanh lọc. Vốn là một Đại Đạo Đồ (great Adept), vì không thể chứng kiến thêm nữa sự mạo phạm triết lý Phật giáo của các ...
Xem Chi tiết
A- LUÂN HỒI (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  I- LUÂN HỒI THEO MINH TRIẾT MỚI+ Trong 1 kiếp sống: (i) - Con người lại có được một thể xác tiến hoá hơn,(ii)- có tính chất ứng đáp nhiều hơn, (iii)- được điều hợp với một khoá cao hơn, với sự tinh vi và thích hợp hơn, rung động ...
Xem Chi tiết
+ Tuổi thọ: Xét cho cùng, tuổi thọ sẽ bị thu ngắn hay được kéo dài tùy ý bởi các linh hồn biết phụng sự một cách thực tâm (Như lý, như pháp theo đạo Phật) và biết dùng bộ máy xác thân làm dụng cụ để nhờ đó Thiên Cơ được phụng hành.(CTNM, 350)+ Tuổi thọ các Cõi - Theo Đạo Phật- Cõi người là then chốt...
Xem Chi tiết
Toàn tri (Omniscience): - Toàn tri tức là hiểu biết được thực tướng của sự vật (the knowledge of things–in–themselves).      (GLBN II, 43) Sự toàn hiện là một định luật trong thiên nhiên và dựa trên sự kiện rằng thể dĩ thái của mọi hình hài tạo thành thể dĩ thái thế giới khiến cho có thể có ...
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tiến hóa (Tiến hóa thăng thượng - THTT): Như là “khai mở năng lực đáp ứng luôn luôn tăng tiến” hoặc như là “sự phát triển theo chu kỳ” hoặc như là thay đổi có sắp xếp và không ngừng biến đổi. (TTCNT, 20, 22, 23) - THTT để diễn tả sự phát triển từ từ trong thời gian và không gian của kh...
Xem Chi tiết
Giác quan thứ 6 (sixth sense, the mind): Giác quan thứ sáu tức thể trí, là tác nhân diễn dịch và là tác nhân tổng hợp (interpreter and synthesizer) cho 5 giác quan kia. (ASCLH, 351) Theo Kinh Gita (V, 7), thể trí là giác quan thứ sáu bị che lấp trong vật chất (the mind is the sixth sense,...
Xem Chi tiết
Quốc gia: (Nation) Nên nhớ rằng việc ra đời trong một quốc gia nào cũng đều mang ý nghĩa là nhận lãnh một số trách nhiệm đối với quốc gia đó. Quốc gia là các Thực Thể thiêng liêng (spiritual Entities), và khi con trở thành một thành phần của thực thể hợp nhất đó – một tế bào torng cơ thể nó – con...
Xem Chi tiết
+ Nhân quả/ Nghiệp quả (Karma): Tác động ở cõi trần. Về mặt siêu hình là Luật Báo Phục; Luật Nhân Quả, hay gây hậu quả về mặt đạo đức. Có nghiệp quả do công và nghiệp quả do tội. Đó là quyền lực kiềm chế vạn vật. Kết quả của hành động đạo đức hay là hậu quả về mặt đạo đức của một việc làm được thực ...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Kim loại (Metal): Độ mỏi (fatigue) mà các kim loại phải chịu là một dấu hiệu (sign) khác cho thấy rằng kim loại là các vật sống (living things). (MTNX, 54)...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
Có thể được xem như là tiến trình hội nhập tâm linh của cá nhân – với ý thức khơi hoạt đầy đủ – có liên quan tới ba trạng thái thiêng liêng trong con người. (LV7C, 265)...
Xem Chi tiết
+ Môn Sinh: Đạo sinh vào trường dự bị (Của Trường Cao cấp) đã trả sạch các định nghiệp và không vướng bổn phận khác, trí tuệ trung bình. Tuổi phải > 21 và < 42 tuổi. Thể dĩ thái tốt. Thể xác không bệnh, dị tật (TTHM, 321) - Khi nói về các trường loại này, tự nhiên tôi muốn các bạn đừng nghĩ đ...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Đau khổ (pain) hay Đau buồn:- Đau khổ là hậu quả tạo ra khi thể cảm dục bị an trụ một cách sai lầm. Đau khổ là hậu quả của việc không thể làm cân bằng các cặp đối hợp một cách chính xác. Nó cho thấy sự thiếu quân bình. (ASCLH, 71)- Đau khổ chỉ bị tạo ra do sự đối kháng và là một giai đoạn cần thiế...
Xem Chi tiết
1. Theo Phật Giáo: + Kinh Vô Minh (Si Mê - Tương ứng Cõi Súc Sinh): Tôn Giả Xá-Lợi-Phất đáp (nguồn); “Minh là biết; biết gọi là minh.” - Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo và nguyên lí Nghiệp. Vô minh khởi đầu của 12 nhân duyên, là nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi. Vô minh là ...
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM, ...
Xem Chi tiết
Purusha: Bản ngã tâm linh (spiritual self). Bản ngã biểu hiện. Theo nghĩa đen, từ này là “Người cư trú trong thành phố” – nghĩa là trong thân thể. Nó có nguồn gốc tiếng Bắc Phạn, “pura” nghĩa là thành phố hay thân thể và “usha” dẫn xuất ở động từ “vas” là cư trú (dwell). (ĐĐTNLVTD, 223) Puru...
Xem Chi tiết
+ Nội môn - Bí Truyền - Bí Giáo - Huyền Môn: Chỉ tất cả những gì không liên quan đến cuộc sống sắc tướng bình thường hay là tâm thức thông thường của con người trong 3 cõi thấp. (CTNM, 683); - Nội môn bí giáo tức là huyền linh học. (TLHNM, 451) - Liên quan với các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (CTHNM, 80);...
Xem Chi tiết
Lịch sử (History) : Chỉ là việc ghi nhận phản ứng tuần hoàn (xảy ra theo chu kỳ) của con người đối với một năng lượng thiêng liêng nào đó đang tuôn vào, một  Đấng Hóa thân hoặc một Vị Lãnh Đạo được truyền cảm hứng nào đó. (SHLCTĐ, 292)...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
+ Bảy cõi/ Cảnh giới Vũ trụ gồm: Thượng Đế - Chân Thần - Atma - Bồ Đề - Trí Tuệ - Cảm Dục - Hồng Trần (Mỗi Cõi chia làm 7 Phân cảnh giới phụ); Tương ứng 7 Trạng thái: Thượng Đế - Đức Christ - Chân Sư - La Hán - Điểm Đạo Đồ/ Đẹ Tử/ Người chí nguyện - Tiến hóa không ngoan - Xúc Cảm trung bình - Người ...
Xem Chi tiết
Xem thêm: Tổng hợp về Ba Ngôi Thương đế...
Xem Chi tiết
ẢO ẢNH: Đây là hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảm và ảo tưởng được nhận thức trên các phân cảnh dĩ thái và cõi trần. Đó là “tình trạng hỗn độn của sinh lực, thiếu suy nghĩ, và cảm xúc” – mà kết quả là các loại người có hành vi lộn xộn, mà đa số người dường như luôn luôn sống trong đó. ...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16) + Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69) + Tiểu vũ trụ, Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80) - Tiểu vũ trụ ...
Xem Chi tiết
 Mê tín: Chưa tìm hiểu rõ ràng chân tướng sự thật bèn tin tưởng, vậy gọi là mê tín. - Chúng ta là những người học Phật, Chưa tìm hiểu rõ chân tướng sự thật bèn tin Phật Pháp, b&eg...
Xem Chi tiết
Thiên chức (Dharma, Thiên trách, nghĩa vụ): Theo nghĩa đen, thiên chức có nghĩa là thực thi một cách thích đáng các nghĩa vụ (obligations) (hay là nghiệp quả) của mình trong cương vị, hoàn cảnh và môi trường mà số phận đã đặt để. (ASCLH, 187) Thiên chức là công việc có tính cách bắt buộc (ob...
Xem Chi tiết
52. BẢY BẬC THIỆN NHÂN ĐẾN VÔ DƯ NIẾT BÀN1) Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì đoạn’. Sau khi đoạn, chứng đắc xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do t...
Xem Chi tiết
+ Christ: Nguyên Khí, cần phân biệt rõ, vốn là một trạng thái tinh thần cao siêu. Danh hiệu Christ chỉ về một nhân vật cao cấp đại diện cho nguyên khí đó, dù lịch sử có ghi vị giáng sinh ở Nazareth hay trong trường hợp khác (ASCLH, 11) 1. Christ vũ trụ: Tự biểu hiện qua một Thái Dương Hệ. (ASCLH, 28...
Xem Chi tiết
Đạo viện (Ashram) : X. Huyền viện....
Xem Chi tiết
Plato (Platon, Pháp ngữ): – Plato là đệ tử được điểm đạo.         (GLBN III, 268) – Giống như Khổng Tử, Plato thuộc giai tầng tiến hóa cao về trí tuệ, tâm linh và tinh thần. Dầu đang ở trong cuộc tuần hoàn 4, ông có trình độ tiến hóa cực cao của cuộc tuần hoàn 5.                           (GLB...
Xem Chi tiết
Minh triết cổ đại (Vidya): Bốn minh triết cổ đại của triết học Ấn Độ có thể được liệt kê như sau: 1. Yajna Vidya (Minh triết nghi lễ). Cách cử hành các nghi thức tôn giáo với mục đích tạo ra một số kết quả. Nghi lễ pháp thuật. Nó có liên quan tới âm thanh, do đó liên quan với tiên thiên khí hay là ...
Xem Chi tiết
Thượng Trí (causal body) chính là Cái Tôi đối với đệ tử . (GLASTTĐ 214)...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Theo Huyền Linh Học cũng như theo kinh Kabalah, có ba loại ánh sáng: 1.- Ánh Sáng Trừu Tượng và Tuyệt Đối, đó là Bóng Tối (Darkness) 2.- Ánh Sáng của Đấng Biểu Lộ – Vô Hiện (the Manifested- Unmanifested) mà một số người gọi là Logos; 3.- Ánh Sáng loại sau phản chiếu nơi các Dhyn Choha...
Xem Chi tiết
+ Trái đất (và Thổ tinh) truyền dẫn Cung 3, nó tự quay ngược chiều kim đồng hồ (Các hành tinh trong hệ mặt trời cũng quay xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ). Nguồn: (GQ1- Cấu tạo con người) + Venus: Hành tinh thánh thiện Venus - Kim tinh so với Địa cầu giống như Chân ngã so với Phàm ...
Xem Chi tiết
+ Khoa Yoga: Một trong 6 trường phái ở Ấn Độ, được cho là do Patanjali lập ra, với nguồn gốc xưa hơn nhiều. Cách thiền định - Phương tiện đưa tới giải thoát tâm linh.(ĐĐNLVTD, 225) + Yoga về tâm hoặc của người sùng tín. (ASCLH, 120) + Khoa học bàn về “cách trừ bỏ các hoạt động của nguyên khí suy t...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Trong các thủ bút cổ xưa nhất của văn học Ấn Độ, Vị Thượng Đế Trừu Tượng Huyền vi (Unrevealed Abstract Deity) không có danh hiệu. Ngài thường được gọi là “Cái Đó” (tiếng Bắc Phạn là Tad) và tất cả mọi danh xưng đang có, đã có và sẽ có, hay bất cứ tên gọi nào mà trí người có thể nghĩ đến. (GLBN I, ...
Xem Chi tiết
Hữu sắc tướng (Rupa, with form or body): Nói chung, thuật ngữ hữu sắc tướng được dùng để chỉ mọi hình hài (form) trong ba cõi thấp.(LVLCK, 616)...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12) Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM, ...
Xem Chi tiết
– Cõi nguyên hình, cõi biểu lộ thiêng liêng, cõi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cõi Tối Đại Niết Bàn. – Cõi của Thượng Đế. (LVLCK, 79, 656)...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
- Chiến tranh chỉ là một khía cạnh của biến dịch (change), cội nguồn của nó nằm sâu trong vật chất. (SHLCTĐ, 277) – Chiến tranh không phải giết người như những kẻ nhân hậu nghĩ; đó là cách hủy diệt hình hài với chủ đích tốt lành (nếu người ta có thể hiểu được Thiên Ý) của Hành Tinh Thượng Đế. Tuy ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
+ Cung (ray): Một dòng thần lực (Chuyên hóa) hay 01 phân thân. Thái Dương Thượng Đế hay là Đại thiên địa, biểu lộ qua 3 cung chính yếu và 4 cung thứ yếu. Chân Thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua 3 cung như trên (LVLCK, 90) + Định nghĩa Ray - Cung năng lượng: Để chỉ một thần lực hay loại năng l...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
Thế giới trần tục, tương ứng với cõi hồng trần. (ASCLH, 298)...
Xem Chi tiết
Nguyên tử nguyên thủy (Primordial atom). (GLBN I, 204)...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết