SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả báo ứng, không thực hành sửa mệnh đúng cách, thì Nhân Trắc Học chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN, RẤT LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ LÀ NGHIỆP TỐT HAY XẤU, đó là bởi lý do, thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự đam mê nghiên cứu và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời, tích cực ứng dụng vào thực tiễn đời sống, để có thể giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Bát chánh Đạo - MQ

MQ-4: "HÃY DẮT TÔI TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG"

Mục Lục BÀI THAM THIỀN SỐ 4: TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3 Định Trí (Concentration) và Chánh Niệm (Right Mindfulness) 3 ĐỊNH TRÍ 4 Bát Chánh đạo 4 Ý thức về Nhận thức chơn chánh 6 Nhất tâm (concentrated One-Pointedness) 6 Tâm trí cần tập trung vào đâu. 7 Kẻ thù của Sự Tập trung 7 Chánh niệmChánh định song hành cùng nhau 8 Tư liệu 9 BÀI THAM THIỀN 4 10 XIN ĐƯA TÔI TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG 10 KỸ NĂNG HỌC TẬP - TẬP TRUNG QUA TƯ DUY CÓ TRÌNH TỰ 11 Ngữ giải 12 CHỦ ĐỀ THAM THIỀN – “XIN ĐƯA TÔI TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG” 13 Phúc trình Tham thiền #4 15 Ví dụ Mẫu Phúc trình Tham thiền dùng Bài #1 16 Bài tham thiền này giới thiệu bài chú nguyện cổ "Xin Dắt Tôi Từ Bóng Tối Đến Ánh Sáng", vốn là tiếng kêu của người sơ cơ đang phấn đấu đạt đến sự tự do và ánh sáng tâm tinh thần. Kỹ năng cần học – Sự Tập trung Phần nghiên cứu của tháng này tiếp tục với thể trí, lần này, chúng ta tập trung vào yêu cầu quan trọng của việc tập trung tâm trí. Đây là một yêu cầu rất cần thiết cho việc tham thiền thành công.

BÀI THAM THIỀN SỐ 4: TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Định Trí (Concentration) và Chánh Niệm (Right Mindfulness) ĐỊNH TRÍ Wesak, tác phẩm của Francis Donald Đức Phật đến và nói với đám đông, bảo cho họ biết nguồn gốc của những khổ đau bất hạnh của họ, và qua giáo Tứ Diệu Đế ban cho họ một tuyên bố ngắn gọn về tình trạng của nhân loại. Ngài khái quát về Bát Chánh Đạo, mà chính thật ra là những qui luậtcon người phải tuân theo trên Con Đường Đệ tử[1]. Bát Chánh đạo[2] Việc sử dụng trí tuệ đúng đắn là điều quan trọng. Các tín ngưỡng ở phương Đông đã nhận thức được điều này từ lâu, và các nền văn hóa phương Tây hiện nay cũng bắt đầu ý thức điều này. Các Phật tử thực hành Bát chánh đạo bao gồm tám yếu tố bắt đầu bằng Chánh kiếnChánh tư duy. Cả hai đều có liên hệ đến minh triết—một hình thức phân biện làm thức tỉnh trong ta quan năng hiểu biết, khiến cho chúng ta thấy được mọi vật đúng bản chất thật sự của chúng. Chánh kiến thúc đẩy ước vọng, thế nên chúng ta một cách có ý thức trở nên sống bớt ích kỷ, và điều này khiến chúng ta trao dồi hạnh kiểm đạo đức trong công việc hàng ngày như chánh ngữ, chánh nghiệpchánh mạng, và nhờ thế hạn chế các thiếu sót của phàm ngã chúng ta. Khi điều này xảy ra, chúng ta bắt đầu tập trung vào chánh tinh tấn, chánh niệm chánh định trong đời sống của mình. Nhưng điều này không phải là tất cả. Chúng ta phải tiếp tục thực hành chánh niệmchánh định để tiếp tục duy trì chánh kiến và các yếu tố khác. Như thế, thật ra các yếu tố của Bát chánh đạo thật sự có quan hệ với nhau, trau dồi yếu tố này hỗ trợ sự vun bồi tất cả các yếu tố khác. Một khi chúng ta đạt được các yếu tố đầu tiên thì các yếu tố liên quan đến sự định trí tư tưởng (chánh tinh tấn, chánh niệmchánh định) sẽ dễ duy trì, nhưng chúng vẫn cần được hoạch đắc. 1. Chính kiến (Right belief) là cách chúng ta nhìn cuộc đời, thiên nhiên, và thế giới chung quanh ta. Nếu được hiểu biết đúng đắn, nó sẽ giải thích lí do ẩn tàng đằng sau sự hiện hữu của con người, của đau khổ, bệnh tật, tuổi già, chết chóc, tham lam, thù hậnảo tưởng. Nó bắt đầu bằng sự hiểu biết về chính chúng ta và môi trường ngay xung quanh ta, và khi chúng ta phát triển và trở nên ý thức được linh hồn nhiều hơn, nó trở thành hiểu biết minh triết về vũ trụ mà chúng ta sống trong đó. 2. Chính tư duy (Right Intention) là việc tác động ý chí của chúng ta lên Phàm ngã, làm cho nó thay đổi trở thành tốt đẹp hơn. Chúng ta tinh luyện các thể thấp, tinh khiết hóa chúng để chúng trở nên thích hợp để thể hiện một cách có ý thức linh hồn chúng ta. Nói cách khác, chúng ta phải kiểm soát chúng ta và loại bỏ các tính xấu như ác ý, hung dữ, độc ác, tham lam, ích kỷ, và các tính chất tiêu cực khác. Thay vào đó, chúng ta theo đuổi con đường tinh thần của thiện chí và bất hại hướng về những người khác. 3. Chánh ngữ liên quan đến việc loại bỏ các từthể gây hại—như nói dối, phê phán chỉ trích, nhạo báng, lăng mạ, và ngay cả việc nói hành (nhiều chuyện). Chúng ta nói đúng lúc, đúng sự thật, dùng lời lẽ hợp , gói gọn, và hướng đến một kết quả tích cực trong tâm trí. Nếu điều này không thể, chúng ta không nói gì cả, cố gắng hết sức để ngay cả không nghĩ đến những tư tưởng tiêu cực vốn không nên nói ra thành lời. Right Action (or right conduct) involves practicing moral activities that will not bring harm to anyone else. One lives life scrupulously, mercifully and with compassion for the welfare of all living things. One avoids any misconduct. 4. Chính nghiệp liên quan đến việc thực hành các hành động đạo đức không gây hại cho bất kỳ ai. Chúng ta sống một đời sống cẩn trọng, tử tế, từ ái vì hạnh phúc của tất cả sinh linh. Chúng ta tránh bất kỳ hành vi vô đạo đức nào. 5. Chánh mạng (Right Living) đòi hỏi sống và làm việc một cách chân thật, tránh can dự vào những công việc kinh doanh làm hại người khác. 6. Chánh tinh tấn (Right Endeavor) kiên trì nỗ lực từ bỏ tất cả những tư tưởng, lời nói, hành động sai lầm và ác độc. Thay vào đó chúng ta sống vô kỷ, giúp đỡ người khác, dùng lời nóitư tưởng thân ái về người khác. 7. Chánh niệm (Right Mindfulness) là việc thường xuyên giữ tâm trí tỉnh táo với tất cả những sự việc có thể ảnh hưởng đến thể xác, thể cảm xúcthể trí. Nó là việc trao dồi sự tỉnh thức và chú tâm đến tất cả sự việc xung quanh ta, kèm theo ý định quyết tâm để tập trung, nhớ, tránh sự vô tâm và lãng trí. 8. Chánh định (Right Concentration) đòi hỏi sự chú tâm toàn diện về đối tượng mà chúng ta đang xem xét khi tham thiền. Nó được phát triển thông qua chánh niệm khi tham thiền và được dùng để dập tắt các xao lãng trong khi tham thiền. Thông qua chánh định bạn vun bồi Minh triết và Tri kiến, và có thể hoàn toàn khảo sát năng lực của bạn để phát triển chánh kiến, thấy được sự thực liên hệ đến các diễn biến và biến cố của đời sống.  Chánh Niệm  Ý thức về Nhận thức chơn chánh Những gì xuất phát từ linh hồn, đã được nhìn thấy và ghi nhận lại trong bộ não, phải được suy gẫm, tham thiền và do đó phải trở thành hiệu quả trong cuộc sống. Chính là thông qua thiền định mà các nhận thức linh hồn trở thành hiện thực đối với con người trên cõi hồng trần[3]. Đôi khi chúng ta nghĩ về nhận thức như chỉ liên quan đến thế giới hiện tượng (nhận thức tinh thần của chúng ta, nhận thức cảm xúc, hoặc giác quan vật ). Tuy nhiên, cũng có loại nhận thức cao hơn thúc đẩy tư duy của chúng ta và nằm bên dưới các quá trình cao và tinh tế hơn nữa. Chúng ta đang nói về những nguyên nhân thế giới bên trong định hình các tác động bên ngoài mà chúng ta thực sự quan sát được. Do đó, chúng ta phải nhận thức được rằng có nhiều điều xảy ra ở những cõi cao hơn, nhiều hơn là mức mà chúng ta nhận ra được và bắt đầu thử nghiệm với các khả năng đó. Chúng ta nghiên cứu năng lượng và tìm biết cách thức mà hành động đúng đắn—hay là việc áp dụng đúng cách năng lượng—chắc chắn sẽ dẫn đến kết quả nhất định. Chúng ta trở nên lưu tâm đến những nhận thức đúng mà chúng ta đang rèn luyện và bắt đầu loại bỏ một cách có hệ thống (hoặc cố tình bỏ qua) những tư tưởng mà trước đây giới hạn nhận thức của chúng ta. Chúng ta tìm đến những nguyên nhân bên trong, "linh hồn" của tất cả các hình thể chúng ta có thể gặp, để khám phá ra mục đích thực sự của các hình thể như vậy. Và nhờ vậy chúng ta huấn luyện tâm trí để ghi nhận một cách chính xác cái mà nó nhận thức được. Thiền là phương pháp mà chúng ta sử dụng để làm điều này. Thông qua tham thiền chúng ta ngày càng trở nên lưu tâm đến các đối tượng mà chúng ta đang tập trung vào, hiểu biết nó đầy đủ hơn. Chúng ta một cách có ý thức cố gắng nhớ lại những gì chúng ta đang xem xét để chúng ta có thể nhớ lại tuỳ ý những gì chúng ta đã học được trong khi tham thiền. Chánh niệm được vun trồng bằng phương tiện nhẹ nhàng, liên tục nhắc nhở bản thân phải tập trung. Nhất tâm (concentrated One-Pointedness) Định trí hay tập trung tư tưởng (gọi vắn tắt là sự tập trung) thường được gọi là sự tập trung tâm trí—Nhất tâm (one-pointedness of mind). Nó có thể định nghĩa như là một khả năng của tâm trí tập trung cao độ không gián đoạn vào một đề tài. Định trí tách tâm trí của bạn ra khỏi những sự việc khác để tập trung vào một sự việc duy nhất vào một thời điểm nào đó. Sự chú ý có vai trò nổi bật trong việc định trí. Ai đã phát triển quan năng chú ý sẽ tập trung tư tưởng dễ dàng. Một người còn tràn đầy dục vọng và những ham muốn ảo tưởng khó có thể tập trung vào một đề tài hay một sự vật nào, dù chỉ trong một giây. Tâm trí của họ sẽ di chuyển, nhảy nhót giống như một con khỉ. Những giai đoạn đầu tiên trong việc rèn luyện tâm trí đặc biệt tế nhị. Khi bắt đầu học tham thiền, một trong những việc đầu tiên bạn sẽ nhận ra là tâm trí cực kỳ năng động. Những ai đã học cách trừu xuất, tách các giác quan ra khỏi sự chú tâm của tâm trí sẽ dễ dàng tập trung tư tưởng. Tâm trí cần tập trung vào đâu. Ta không thể tập trung tư tưởng nếu không có đối tượng để tâm trí tập trung vào đó. Lúc ban đầu, tâm trí có thể tập trung vào những sự việc mà nó thích thú. Khi con người bắt đầu tham thiền họ rất khó tập trung tư tưởng vào một sự việc mà tâm trí không thích. Do đó, trong những bài tham thiền mà chúng tôi đề xuất, chúng nhấn mạnh vào phẩm tính hay thuật ngữ của linh hồn. Sự định trí thật sự sâu xa chỉ xảy ra dưới những điều kiện đặc biệt nào đó. Trước tiên, chúng ta cần tạo ra một không gian yên tỉnh không bị quấy rầy để học hỏi kỹ thuật này. Không có sự ồn ào, hoặc quấy rầy, ngắt quãng. Tuy nhiên, việc quan trọng không kém là chúng ta cũng cần tạo ra một không gian xúc cảm yên tĩnh. Sự phát triển của việc tập trung tư tưởng cũng bị trở ngại bởi những trạng thái tâm trí mà chúng ta gọi là “Năm Chướng Ngại”. Đó là ham muốn thú vui giác quan, thù ghét, thể trí lười biếng, bất ổn, và chao đảo. Kẻ thù của Sự Tập trung Một số trong những kẻ thù của kỹ năng định trí là những tác động đầu vào của cảm giác thường xuyên, của việc đa nhiệm, cố gắng làm nhiều việc cùng một lúc, của tiếng ồn lớn, và của ánh sáng nhấp nháy. Hệ thống thần kinh của con người là một công cụ kỳ diệu, nhưng nó không được xây dựng để hoạt động liên tục trong sự hiện diện của các rối loạn như vậy. Những hình thức thiếu tập trung phát sinh, ít nhất ở một mức độ nào đó, từ các hoạt động hoặc tình huống mà làm cho việc tập trung khó khăn cho đến mức không thể tập trung được. Sau đó, một thói quen không chú ý hoặc không có khả năng để tập trung sâu sắc được thiết lập và chúng ta sẽ khó để vượt qua. Sự định trí sâu xa phát sinh từ việc gia tăng hoặc điều khiển ý thức hoặc sự chú ý của bạn. Các bạn càng có nhiều loại năng lượng này thì càng tốt. Năng lượng phân tán không giúp ích gì cả. Nó phải là loại năng lượng tập trung, yên tĩnh. Con người cần phải học để có thể tập trung một cách an tĩnh và và an tĩnh một cách tập trung. Chánh niệmChánh định song hành cùng nhau Chánh địnhchánh niệm là hai chức năng khác nhau, nhưng chúng hoạt động chặt chẽ cùng nhau trong tham thiền[4]. Định trí là hoạt động được phát triển nhờ sức mạnh và ý chí. Ngược lại, chánh niệm thì mềm dẻo và tế vi hơn. Chánh niệm là một hình thức của nhận thức nhạy cảm trong khi sự định trí cung cấp sức mạnh. Sự định trí có tính loại trừ. Nó tập trung vào một sự việc và bỏ qua tất cả mọi thứ khác. Nhưng Chánh niệm thì lại có tính bao gồm; nó đứng đằng sau sự tập trung chú ý và quan sát với sự tập trung bao quát, nhanh chóng nhận thấy bất kỳ sự thay đổi nào đó xảy ra. Nếu bạn tập trung tâm trí vào một hòn đá, sự định trí sẽ chỉ nhìn thấy hòn đá. Nhưng Chánh niệm đứng lùi lại phía sau quá trình này, nó nhận thức được hòn đá, nhận thức được sự chú tâm tập trung vào hòn đá, nhận thức được mức độ của sự định trí và nhận thức ngay lập tức của việc chuyển đổi sự chú ý khi sự định trí bị phân tâm. Chính là chánh niệm nhận thấy sự phân tâm đã xảy ra, và chính là chánh niệm tái chuyển hướng sự chú ý vào hòn đá. Chánh niệm khó rèn luyện và trau dồi hơn là khả năng định trí, bởi vì nó là một chức năng sâu sắc hơn. Sự định trí chỉ đơn thuần là sự tập trung của tâm trí, gần như một tia laser. Nó có sức mạnh để đốt cháy tạo lối đi vào tâm trí và chiếu sáng những gì đang có ở đó, nhưng nó không hiểu những gì nó thấy. Chánh niệm trái lại, nói ví dụ, có thể khảo sát các cơ chế của sự ích kỷ và hiểu những gì nó thấy. Sự định trí dẫn đến thiền định. Chánh niệm dẫn dắt sự phát triển của bạn trong tham thiền bởi vì chánh niệm có khả năng nhận thức được của chính nó. Chính chánh niệm sẽ cung cấp cho bạn một cái nhìn về sự tham thiền của bạn. Chánh niệm sẽ tiết lộ quá trình và sự tiến bộ của bạn. Tư liệu Từ "tập trung" (concentration) bắt nguồn từ tiếng Latin "con" ("cùng nhau") và "centrare" ("đến trung tâm"). Nó có nghĩa là "tập hợp lại với nhau hoặc lôi kéo đến một trung tâm hoặc tiêu điểm chung." Nó có nghĩa tập hợp lại những suy nghĩ và ý tưởng lang thang của chúng ta, và giữ tâm trí tập trung hoặc định tâm một cách vững chắc và ổn định vào các đối tượng của sự chú ý trước mắt của chúng ta, không dao động hoặc mất tập trung. Nó liên quan đến việc loại bỏ tất cả những gì bên ngoài hoặc không liên quan đến các vấn đề được quan sát. Người Đạo sinh ngay từ lúc khởi đầu công việc tham thiền nên làm tốt việc học cách phân biệt các điểm cơ bản sau và trau dồi thói quen phân biệt này hàng ngày. Y phải phân biệt luôn luôn giữa:
  1. Người Suy Tưởng, hoặc Chân Ngã, hoặc Linh hồn.
  2. Cái trí, hoặc khí cụ mà Người Suy Tưởng tìm cách sử dụng.
  3. Quá trình suy nghĩ, hay công việc của Người Suy Tưởng khi y tạo ấn tượng lên cái trí (khi nó ở trong trạng thái cân bằng) những gì mà Chân Ngã suy nghĩ.
  4. Bộ não, đến lượt nó bị cái trí như là tác nhân của Chân Ngã tác động lên, nhằm truyền đạt các ấn tượng và thông tin mà nó tiếp nhận.
Do đó, định trí là khả năng tập trung tâm thức về một chủ đề nhất định và giữ nó ở đó trong thời gian mong muốn. Nó là phương pháp nhận thức chính xác và sức mạnh để hình dung một cách chính xác, là phẩm tính cho phép Người Suy Tưởng nhận thức và hiểu biết về lĩnh vực nhận thức. Một từ khác của sự định trí là sự chú ý, nghĩa là sự chú ý nhất tâm. Do đó mục tiêu của tất cả các nỗ lực của chúng ta là huấn luyện tâm trí để làm cho nó thành người phục vụ chứ không phải là chủ nhân của chúng ta, và trau dồi năng lực tập trung chuẩn bị cho công việc tham thiền thực sự. Do đó người Sinh viên nhiệt thành sẽ thực sự chú ý sâu sát đến những vấn đề của cuộc sống hàng ngày và nhờ đó sẽ học cách điều chỉnh tâm trí của mình như là một công cụ cho tư tưởng của mình[5].

BÀI THAM THIỀN 4

XIN ĐƯA TÔI TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG

KỸ NĂNG HỌC TẬP - TẬP TRUNG QUA TƯ DUY CÓ TRÌNH TỰ

Thể trí của người bình thường không ngớt bay nhảy từ vấn đề này sang vấn đề khác, nên người ấy khó tập trung (nhất là khi chủ đề đó bị cho là “nhàm chán”). Tập trung là năng lực chú tâm vào một vấn đề đã định và giữ ý thức ở đó trong thời gian cần thiết. Đây là phương pháp nhận thức chính xác. Tập trung còn được gọi là chú ý, tức là chú tâm chuyên nhất. Cách hay nhất để giữ cái trí tập trung là thực sự quan tâm và chú ý đến bất cứ điều gì mà chúng ta đang làm trong phút giây hiện tại. Điều này sẽ tự động khiến cho cái trí trở nên chuyên chú. Tháng này bạn được truyền đạt kỹ thuật tập trung cái trí gọi là “Phương pháp Tư duy có Trình tự”. Tư duy có Trình tự Bắt đầu bằng cách tập trung vào tư tưởng gốc. Rồi đưa cái trí của bạn đến tư tưởng kế tiếp đã phát sinh từ tư tưởng gốc, và tập trung vào đó. Kế đến, đưa cái trí đến tư tưởng tiếp theo, và tập trung vào đó. Cứ vận hành cái trí như thế một cách có trình tự, liên kết tư tưởng kế tiếp với tư tưởng trước nó. Làm thế tức là bạn đang tạo ra một chuỗi các tư tưởng, nối kết chặt chẽ với nhau. Hãy tỉnh thức khi bạn kết thúc một tư tưởng và trước khi nối kết với tư tưởng tiếp theo. Đây là lúc mà cái trí rất có thể trở lại thói quen suy nghĩ lan man bất định của nó. Có khả năng đi qua kẽ hở đó, từ tư tưởng này đến tư tưởng khác, mà không bị xao lãng, và đương nhiên là tư duy chỉ có Trình tự. Ví dụ dưới đây về tư duy có trình tự lấy từ quyển ‘Từ Trí tuệ đến Trực giác’ tr. 330 của Alice A. Bailey. Đoạn này bắt đầu với tư tưởng gốc “Thượng Đế trông nom tôi.” Thượng Đế trông nom tôi. Ngài là sự sống thiêng liêng trong tôi, là Linh hồn, là Đấng Christ ngự trong tâm. Đã từ lâu Ngài nhận biết và quán xét tôi. Nay lần đầu tiên tôi có thể thấy được Ngài. Đã từ lâu tôi không hề biết trong lòng mình có thực tại thiêng liêng. Nay có được mối liên giao trực tiếp. Dù liên giao này còn hàm ý nhị nguyên. Vì tôi và Ngài chỉ là một Sự Sống Thiêng liêng. Vì tôi là Ngài, và mãi mãi là Ngài từ vô thủy. Nên hằng được Ngài là Chân ngã trông nom. Tôi là Chân ngã, Chân ngã chính là tôi. Bạn có thể đọc suốt cả dòng tư tưởng này với sự chú tâm và ý thức 100% không? Nếu có, thì đó là tư duy có trình tự. Dùng bất cứ đề tài nào mà bạn thấy thú vị, để thực hành kỹ thuật này. Lúc đầu, có thể dễ dàng hơn khi bạn viết ra các tư tưởng của mình. Nếu giờ đây bạn dành thời gian của mình để luyện trí theo tiến trình tư duy có trình tự này, nó sẽ hết sức lợi ích cho việc hành thiền và phát triển cá nhân của bạn. Việc này không có tính cách nội môn, mà chỉ đơn thuần là luyện trí. Trong tài liệu nghiên cứu kèm theo đây, bạn sẽ học nhiều hơn về việc tập trung và cách Thực hành Chánh niệm. Ngữ giải Năm Chướng ngại Năm chướng ngại đối với việc tập trung đúng cách là ham muốn thú vui giác quan, thù ghét, thể trí lười biếng, bất ổn, và chao đảo. Bát Chánh Đạo Bát Chánh Đạo là tám yếu tố bắt đầu là Chánh kiếnChánh tư duy (tin tưởng chân chánh và ý định chân chánh). Cả hai yếu tố này bao gồm minh triết – một lối phân biện khơi dậy khả năng thấu hiểu để chúng ta có thể thấy được thực tính của sự vật. Chánh tín nuôi dưỡng nguyện vọng tinh thần, nhờ đó chúng ta hữu ý quyết tâm sống bớt ích kỷ. Nguyện vọng này cũng chúng ta vun trồng những hạnh đức trong đời sống hằng ngày như lời nói chân chánh, hành động chân chánh và lối sống chân chánh. Do đó, chúng ta có thể tránh được các khuyết điểm của phàm nhân. Khi có được điều này, chúng ta bắt đầu tập trung vào chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định trong cuộc sống của mình. Chánh Định Tập trung đúng đắn tức là hoàn toàn chú tâm vào đối tượng đang được xem xét trong tham thiền. Khả năng này được phát triển qua sự tỉnh thức trong tham thiền, và được dùng để tránh xao lãng trong tham thiền. Nhờ đó, bạn có thể khơi nguồn minh triếtthông hiểu, thấu đáo khả năng phát triển chánh kiến của mình và thấy được sự thực trong các sự kiện và những điều xảy ra trong đời. Một số tình trạng trong trí gọi là năm chướng ngại sẽ ngăn trở việc phát triển khả năng tập trung. Chánh Niệm Chánh niệm (hay tưởng nghĩ đúng) có nghĩa là liên tục giữ cho cái trí tỉnh thức đối với những điều có thể ảnh hưởng đến thân và tâm. Chánh niệm giúp hành giả ý thức và chú tâm vào những sự việc ở chung quanh, chủ ý thận trọng và tập trung để ghi nhớ và tránh tình trạng vô ý và dễ quên. Các kinh Vệ-đà và Upanishad Các kinh Vệ-đà có từ Ấn Độ cổ đại và là cơ sở của Ấn giáo. Được biên soạn bằng tiếng Bắc Phạn Vệ-đà, các kinh văn này là lớp cổ xưa nhất trong các kinh điển Bắc Phạn của Ấn giáo. Các kinh Upanishad bàn nhiều hơn về phương diện triết học của Ấn giáo. Đây là bộ sưu tập kinh văn hình thành căn bản thuyết của Ấn giáo. Advaita Vedanta là trường phái triết học Vệ-đà.

CHỦ ĐỀ THAM THIỀN – “XIN ĐƯA TÔI TỪ BÓNG TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG”

Đây là lời cầu nguyện lấy từ kinh Vệ-đà - Asatoma Ma Sadgamaya (Brhadaranyaka Upanishad — I.iii.28); trong đó hành giả cầu xin sự trợ giúp của Đấng Toàn năng. Đây là lời khẩn cầu để được khai ngộ và khai sáng tinh thần. Khai ngộ tức là sự khai sáng tinh thần trong cái trí, để tình thương và ánh sáng của linh hồn biểu lộ tự do qua phàm tính. Đây là mục tiêu của tất cả những người tìm kiếm chân tinh thần. Khai ngộ là lối vào thực tại, sự liên tục tâm thức, và mỹ lệ tinh thần đích thực. Đây cũng là mục tiêu của lời chú nguyện này. Chỉnh hợp 1. Thư giãn thể xác. 2. Điều hòa tình cảm. 3. Giữ thể trí yên lặng và tập trung; hướng trí bạn vào bên trong và hướng thượng đến nguồn tâm thức cao siêu gọi là “linh hồn”. 4. Chỉnh hợp với linh hồn của bạn; rồi hình dung ánh sáng và tình thương của linh hồn tuôn xuống vào thể xác, thể tình cảm, và thể trí của bạn. 5. Đọc Thánh ngữ OM 6. "Hướng” về Đấng Toàn năng khi bạn đọc bài chú nguyện Gayatri “từ trong tâm”:

Hỡi Đấng bảo dưỡng toàn vũ trụ. Đấng sinh thành vạn hữu; Đấng mà vạn hữu trở về, Xin hiển lộ cho chúng con hình ảnh Ngôi Mặt trời tinh thần chân thực, ẩn trong vầng ánh sáng chói vàng. Để chúng con hiểu biết chân và làm tròn nhiệm vụ, trên con đường đến dưới chân thánh thiện của Ngài. OM.

Tham thiền Phân tích tư tưởng gốc (dùng câu hỏi kèm theo, nếu có); xác định ý nghĩa chung của nó đối với bạn, với cá nhân bạn; rồi cuối cùng xét đến thâm nghĩa của nó, chân tinh thần ẩn trong đó. “Nâng” tâm hồn mình đến tầm mức Thiêng liêng, và cố gắng thấy/ giao tiếp/ hoặc cảm nhận sự thực đó. Cầu mong thực tính thấm nhuần mọi tư tưởng của tôi, và chân làm chủ cuộc đời tôi. Hỡi Ngài, xin đưa tôi từ bóng tối đến Ánh sáng, Từ sự giả đến Sự Thật, Từ sự chết đến Sự Bất tử, Từ xáo trộn đến Mỹ lệ. Tuần 1: Cầu mong thực tính thấm nhuần mọi tư tưởng của tôi, và chân làm chủ cuộc đời tôi.
  • Bạn định nghĩa thực tính thế nào?
  • Cuộc sống của bạn sẽ thế nào nếu thực tính hướng dẫn bạn và việc suy tưởng của bạn?
  • Bạn định nghĩa chân thế nào? Lời nói của bạn chân thật và chính xác đến đâu?
  • Cuộc sống của bạn sẽ thế nào nếu bạn chỉ nói sự thật - với lòng nhân từ?
Tuần 2: Hỡi Ngài, xin đưa tôi từ bóng tối đến Ánh sáng Bạn nghĩ cuộc đời của mọi người sẽ ra sao khi họ sống trong bóng tôi vô minh?
  • Ánh sáng liên quan đến sự giác ngộ như thế nào?
  • Bạn nghĩ năng lượng của linh hồn đang biểu lộ qua bạn đến mức nào?
Tuần 3: Từ sự giả đến Sự Thật, Từ sự chết đến Sự Bất tử
  • Thế nào là sự giả? Hãy so sánh nó với sự Thực?
  • Vị trí của bạn ở đâu giữa hai cảnh giới Thực và giả này?
  • Vui lòng giải thích câu “Từ sự chết đến Sự Bất tử”, câu này chỉ về điều gì?
Tuần 4: Từ xáo trộn đến Mỹ lệ.
  • Bạn đã khắc phục sự xáo trộn của cuộc sống phàm nhân đến mức nào?
  • Đâu là nguyên nhân của sự xáo trộn này trong đời sống cá nhân và trên toàn cầu?
  • Bạn khám phá sự Mỹ lệ nội tâm nhiều đến đâu bên trong bạn?
Sự Mỹ lệ nội tâm này là của bạn (với tư cách phàm nhân), hoặc của linh hồn, hoặc của Thượng Đế? Bạn nghĩ thế nào? Khoảng lặng thấp 1. Thận trọng kết thúc các cố gắng trên đây và tái tập trung: a. Vào thể trí của bạn, rồi b. Vào thể tình cảm của bạn, rồi c. Vào thể xác của bạn, để cho năng lượng phát sinh qua cố gắng tham thiền của mình mang lại hiệu quả tốt lành, chuyển hóa mỗi một trong ba thể này của phàm nhân hướng về tinh thần. 2. Xem xét lại bất cứ tư tưởng hoặc nhận thức nào đã phát sinh trong khi bạn phân tích tư tưởng gốc. Phóng rải Đọc Đại Thỉnh nguyện, phóng rải ánh sáng, bác ái và quyền năng tinh thần của Thượng Đế cho thế giới.

ĐẠI THỈNH NGUYỆN

Từ nguồn Ánh sáng trong Trí Thượng Đế Cầu xin Ánh sáng tuôn rải vào trí con người. Cầu xin Ánh sáng giáng xuống Trần gian.

Từ nguồn Tình thương trong Tâm Thượng Đế Cầu xin Tình thương tuôn rải vào tâm con người. Cầu mong Đức Chưởng giáo trở lại Trần gian.

Từ trung tâm biết được Ý chí Thượng Đế, Cầu xin Thiên ý hướng dẫn ý chí nhỏ bé của con người, Thiên ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự.

Từ trung tâm chúng ta gọi là nhân loại, Cầu xin Thiên cơ Tình thương và Ánh sáng thực thi, Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác.

Cầu xin Ánh sáng và Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian. OM ... OM ... OM

Cân nhắc Thận trọng mỗi ngày: Trong suốt ngày, xem xét những tư tưởng đã phát sinh trong khi bạn hành thiền, để giữ cho các ảnh hưởng chuyển hóa tiếp tục. Từ đây trở đi, hãy cố gắng luôn luôn tiến bước trong Ánh sáng, sự Mỹ lệ, và ý thức được Sự Thật. Tham gia Thiền Trăng Tròn mỗi Tháng: Có sự chỉnh hợp mạnh mẽ giữa Mặt trời, Mặt trăng, và Địa cầu trong những kỳ Trăng Non và Trăng Tròn. Vì thế, chúng tôi đề nghị có cuộc tham thiền đặc biệt mỗi tháng trong các trường hợp này. Bạn có thể tải các bài tham thiền xuống từ Meditation Quest homeroom, hoặc tham gia cùng với Michael và Tuija Robbins mỗi tháng khi hai ông hành Thiền Trăng Tròn trên Webinar và Phát sóng Phụng sự-Thiền Trăng Tròn Giờ Chính xác. Phúc trình Tham thiền #4 Vui lòng trả lời các câu hỏi sau đây trong Phúc trình Tham thiền của bạn (nên trả lời “ngắn gọn nhưng đầy đủ” và gửi cho Morya Federation trong vòng ba ngày sau ngày Trăng Tròn). 1. Tháng này bạn dùng Bài Tham thiền Số mấy và Chủ đề nào? 2. Bạn thấu hiểu điều gì trong tham thiền về Sự Thật, Ánh sáng và Mỹ lệ? 3. Thiền Trăng Tròn: bạn có tham thiền Trăng Tròn không? Nếu có, bạn có nhận thức hoặc tư tưởng nào để chia sẻ về kinh nghiệm thiền này không? 4. Tính chất chung việc tham thiền của bạn trong tháng này thế nào? Bạn có cố gắng tham thiền đều đặn không? Bạn có thấy điều gì khó khăn trong khi hành thiền không - nếu có, hãy giải thích? Bạn có điều gì thắc mắc không? Nghiên cứu Vui lòng trả lời ít nhất một câu hỏi dưới đây. Dĩ nhiên là bạn có thể trả lời nhiều câu hơn. 5. Bạn có thể mô tả chánh niệm thế nào? 6. Những gì gây trở ngại cho việc tập trung, và vì sao chúng gây trở ngại? 7. Mô tả vắn tắt về Bát Chánh Đạo và những phần trong đó. Ví dụ Mẫu Phúc trình Tham thiền dùng Bài #1 PHÚC TRÌNH THAM THIỀN MEDITATION QUEST #1 (VÍ DỤ) Họ & tên: Julie Smith Ngày: 30/02/2014 1. Chủ đề tham thiền của tháng này là gì? Thực hành thể thức thiền và Lời Cầu nguyện của Thánh Francis. 2. Bạn đã có những nhận thức nào trong các buổi tham thiền? Tôi thấy lời Cầu nguyện của Thánh Francis mang lại nhiều hứng khởi, nhất là khi tôi đang trải qua thời gian khó khăn (v.v.) ........... 3. Bạn đã thấy có những hạn chế và đức hạnh nào nổi rõ nơi cá nhân mình? Vui lòng giải thích. Vâng, tôi thấy sự tương phản giữa lòng thù ghéttình thương, vì (v.v.) ........... 4. Thiền Trăng Tròn: bạn có tham thiền Trăng Tròn không? Nếu có, bạn có nhận thức hoặc tư tưởng nào để chia sẻ về kinh nghiệm thiền này không? Vâng, tháng này tôi có tham gia Thiền Trăng Tròn và cảm thấy cố gắng tham thiền giúp tôi tiếp xúc với các năng lượng hoàng đạo có thể sử dụng. 5. Tính chất chung việc tham thiền của bạn trong tháng này thế nào? Bạn cố gắng tham thiền đều đặn không? Bạn thấy điều gì khó khăn trong khi hành thiền không - nếu có, hãy giải thích? Bạn có điều gì thắc mắc không? Giờ đây việc tập trung có vẻ dễ dàng hơn. Tôi kiểm soát thể trí của mình tốt hơn. Nghiên cứu 6. Vì sao việc chỉnh hợp lại quan trọng trong tham thiền, và những yếu tố nào được chỉnh hợp? Vì.. [và v.v., khi trả lời các câu hỏi nghiên cứu còn lại]
  1. Từ Bethlehem tới Calvary, Alice Bailey, trang 258
  2. Trích từ Từ Bethlehem Tới Calvary trang 15, Ánh Sáng Của Linh Hồn, trang 40, và Wikipedia mục Bát Chánh Đạo.
  3. Alice Bailey, Ánh sáng của Linh hồn, trang 41
  4. Mindfulness in Plain English, Thượng Toạ Henepola Gunaratana, Chương 14, Chánh niệmChánh định
  5. Alice Bailey, Từ Trí Tuệ đến Trực Giác, trang 105 -107
Thế giới hiện tượng (World of phenomena): Là ba cõi tiến hóa của nhân loại (three worlds of human evolution). (GDTKNM, 60)...
Xem Chi tiết
Tâm Thức Atlantis: Con người Tình cảm Vô ý thức 3. Bây giờ tiêu điểm chú ý của linh hồn – hoạt động xuyên qua con người đang tiến hóa từ từ, đang di chuyển vào thế giới của dục vọng. Các ham muốn không còn quá mơ hồ và phôi thai. Cho đến nay chúng vẫn quan tâm tới những thôi thúc hay khao khát cơ bả...
Xem Chi tiết
“Tôi là Chân Ngã” (“I am that”): Ám chỉ Chân Ngã thức (Egoic consciousness) và các cảnh giới của Tam Thượng Thể (Triad). Nó liên quan với nhận thức của một người về vị trí của mình trong dãy hành tinh và mối liên hệ của người đó với tập thể mà y hợp thành một phần trong đó....
Xem Chi tiết
Định trí (Attention, concentration, dharana):- Từ ngữ “concentration” xuất phát từ tiếng La tinh “con” là “cùng nhau” (“together”) và “centrare” nghĩa là “tập trung” (“to centre”). Nó có nghĩa là “đem lại cùng nhau hay là đưa đến một trung tâm chung, hay là điểm tập trung”. Nó ngụ ý là gom chung lại...
Xem Chi tiết
BÁT CHÁNH ĐẠO (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 463) 1. Chánh tín (Chánh kiến/ Phân Biện): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp. 2. Chánh tư duy: Chánh tư duy là suy n...
Xem Chi tiết
+ Thể cảm dục (ASCLH, 186)/ (KCVTT, 253) + Tình trạng Nước - Chất liệu tình cảm - Vật chất cõi cảm dục: Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y không chú ý xem xét tình trạng của nước, hay là trạng thái của chất liệu tình cảm (emotional substance) mà hình trí tuệ này phải đến, và như thế ...
Xem Chi tiết
127. CHÁNH NIỆM CHÁNH TRÍNếu Tỳ-kheo nào không thường hay lãng quên, có chánh trí thì thường xuyên có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ gìn các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu đã giải thoát ...
Xem Chi tiết
Tôi là Ngài (I am He, Bắc Phạn: A–ham–sa): Đối với người hiểu được ngôn ngữ của minh triết (language of wisdom) thì trong từ ngữ đơn thuần này có chứa đựng cái bí nhiệm phổ quát (universal mystery), đó là triết lý về sự đồng nhất (identity) của bản chất con người với bản chất Thượng Đế (god–es...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
+ Thể cảm dục (ASCLH, 186)/ (KCVTT, 253) + Tình trạng Nước - Chất liệu tình cảm - Vật chất cõi cảm dục: Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y không chú ý xem xét tình trạng của nước, hay là trạng thái của chất liệu tình cảm (emotional substance) mà hình trí tuệ này phải đến, và như thế ...
Xem Chi tiết
+  Chướng ngại khi Tu: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, hợp lại gọi là ác kiến, 6 phiền não căn bản là ...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
Tinh khiết (purity, trong sạch): Cần nhận thức rằng sự tinh khiết của tất cả các hiện thể (vehicles) là quan trọng hàng đầu. Nếu một Huynh đệ hắc đạo chiếm được sự kềm chế nơi bất cứ người nào, thì điều đó chẳng qua cho thấy rằng người đó có một nhược điểm nào đó trong cuộc sống của mình. Cửa đi ...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Phật dậy: Ngươi phải thi ân bố thí mới có thể tránh được nạn nghèo. Ngươi không hiểu ý nghĩa của sự vái lạy 6 hướng, để ta giải cho ngươi nghe:  - Ngoảnh mặt qua hướng Đông thì ngươi phải nhớ tới cha mẹ ngươi.  - Ngoảnh qua hướng Tây, ngươi phải nhớ tới vợ con ngươ...
Xem Chi tiết
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: - Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi sutratma, life thread hay silver cord (ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này.(GDTKNM, 143) - Chúng ta dùng để chỉ hơi ...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Hiện tượng (Phenomenon): Theo cách gọi của các Nhà Duy Tâm (Idealists) đương đại thì sự kết hợp của Chủ thể (Subject) và Khách thể (Object) tạo ra đối tượng của giác quan (sense–object) tức là hiện tượng.  (GLBN II, 42)...
Xem Chi tiết
Lòng trắc ẩn (Compassion, lòng từ bi, lòng thương xót):    Lòng trắc ẩn ngược lại với sự đam mê (passion). Đam mê hàm ý ích kỷ và tham lam (grasping). Nhờ có lòng từ bi, con người không còn bận tâm với các quyền lợi ích kỷ của riêng mình mà tiến nhập vào và hứng chịu đau khổ với huynh đệ của mình. Y...
Xem Chi tiết
+ 120. CHÁNH ĐỊNHThế nào là chánh định? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không n...
Xem Chi tiết
+ Chánh niệm là nhớ đúng nghĩ đúng, là giai đoạn thứ 7 trong Bát Thánh đạo. - Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức. - Chánh niệm có nghĩa là lìa mọi phân biệt mà niệm thực tính của chư pháp. - Theo Bát Chánh Đạo, chánh niệm là “Nhất Tâm.- Nơi thân tỉnh thức bằng cách thực tập tập trung v...
Xem Chi tiết
123. CHÁNH MẠNGThế nào là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ là khổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết-bàn là tịch tĩnh; hoặc khi bằng suy niệm không nhi...
Xem Chi tiết
+ KINH CHÁNH KIẾN: Tôi đã được nghe, có tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên đến thăm, sau khi đảnh lễ dưới chân Đức Phật, tôn giả ngồi xuống một bên và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn. Cúi xin Người giảng giải ý nghĩa của từ Chánh kiến, Phật bảo: - Người đời thường nghiêng về 2 khuynh hướng nhận thức, một là c...
Xem Chi tiết
+ Chuyển Hóa: Là phương pháp mà nhờ đó cái thấp được thu hút bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hóa thành năng lượng, nhờ đó, năng lượng của 3 trung tâm thấp được chuyển lên 3 trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng), sau đó cho phép vị đệ tử điểm đạo tập trung tất cả năng lượng vào trong 3 trung t...
Xem Chi tiết
Tâm thức tỉnh thức (waking–consciousness): + Tâm thức tỉnh thức tức là tâm thức đang tác động trong bộ óc hồng trần (consciousness working in the physical brain). (KCVTT, 115) + Tâm thức tỉnh thức là tâm thức đang hoạt động trên cõi trí và trên cõi cảm dục bằng cách dùng chất trí và chất cảm dục làm...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
I- DỰ ĐOÁN THEO LÁ SỐ+ Dự đoán về Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành theo Phật giáo: - Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện", và- Căn cứ vào Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, và- Căn cứ Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán ...
Xem Chi tiết
Trực giác (intuition): X. thêm mục “Nguyên khí Bồ Đề”. – Trực giác là sự pha trộn của hai đặc tính thiêng liêng, của tuệ giác–trí tuệ (buddhi–manas) hay là sự hiểu biết tâm linh bằng trực giác (bao hàm sự giải thích và đồng nhất hóa), và thượng trí trừu tượng (higher abstract mind), cốt yếu đó là...
Xem Chi tiết
Hoàn hư / Hườn hư / Trừu xuất (Pratyahara; abstraction): Hoàn / hườn : quay về. Hư : trống không. X. trừu xuất. Trừu xuất : rút ra....
Xem Chi tiết
+ Định nghĩa Tinh Thần: Nên nhớ không thể định nghĩa về Tinh Thần được, Thượng Đế cũng vậy. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn tả, không thể xác định, là năng lượng đang phát tỏa, là sự sống duy nhất và cội nguồn của hiện tồn, là toàn bộ mọi thần lực, mọi trạng thái tâm th...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Hai Quan Điểm Triết Lý Tôn Giáo khác biệt:- Tôn Giáo Hữu Thần: Có Thượng Đế - Mọi thứ là do Thượng đế tạo nên- Tôn Giáo Vô Thần: Không Có Thượng Đế. Ví dụ như Kỳ Na giáo, Phật giáo, và Ấn giáo, một con người có nhiều kiếp sống. Họ tin rằng một số kinh nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của nhữn...
Xem Chi tiết
Thánh Ngữ (Sacred Word, Linh từ): Đây là Linh Từ Vinh Quang (Word of Glory), thánh ngữ AUM. Đây là Pranava, diệu âm của chính Sự Sống hữu thức khi Sự Sống này được truyền (breathed) vào mọi hình hài. Đó là Linh từ của Ngôi Hai, cũng như Linh từ của Tạo Hóa (Nature) khi được phát ra đúng cách sẽ c...
Xem Chi tiết
Thiện chí (goodwill): X. Ý chí hành thiện. Là cố gắng đầu tiên của con người để biểu hiện tình thương của Thượng Đế. (VĐCNL, 7)...
Xem Chi tiết
+ Phẩm tính/ Tính chất/ Phẩm đức (Quality): - Tôi sẽ dùng từ ngữ Phẩm tính để diễn tả Ngôi Hai, Con của Thượng Đế, Christ vũ trụ lâm phàm trong hình hài – một hình hài được sinh ra do mối liên hệ của tinh thần và vật chất. (TLHNM I, 18) - Ba phẩm tính của Thượng Đế: Thông tuệ, bác ái–minh triết và...
Xem Chi tiết
+ Phân biện (Viveka, discrimination): Tư ngữ Bắc Phạn Viveka là phân biện. Chính bước đầu tiên trên con đường huyền linh học ... là sự phân biện giữa thực với hư, giữa bản thể với hiện tượng, giữa Ngã với Phi Ngã, giữa tinh thần với vật chất. (ĐĐTNLVTD, 225) + Phân biện: thể trí học cách chọn lựa đ...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ Giới Nhân loại thật sự: Ở hai trong số ba cõi thấp - tức cảm dục và hồng trần – thì 5 cõi phụ của nỗ lực con người là 5 cõi phụ cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, tức cõi phụ 6 và 7 là cõi mà chúng ta có thể diễn tả như là “thấp lè tè” và liên hệ với các hình thức sự sống thấp dưới toàn thể nhân loạ...
Xem Chi tiết
+ Nguyệt cầu (The Moon): Vệ tinh của chúng ta đang tuôn đổ vào bầu thấp nhất của dãy hành tinh chúng ta (bầu D, tức Địa cầu) tất cả các năng lượng và sức mạnh của nó; và đã dời chuyển chúng qua một trung tâm mới, hầu như trở thành một hành tinh chết, trong đó, từ lúc bầu hành tinh của chúng ta ra đờ...
Xem Chi tiết
+ Phật Giáo là Pháp chân thật, chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê đắm trong sanh tử lục đạo, Phật lay tỉnh chúng ta, dạy chúng ta phải giác ngộ. Chân Chánh Giác ngộ thì Ngã chẳng còn nữa, bạ...
Xem Chi tiết
Lẽ trời (Intention): X. Thiên lý....
Xem Chi tiết
Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đauHỎI: Ngài nói rằng tiền bạc không ban cho hạnh phúc – Tôi đồng ý. Nhưng tôi tin rằng tiền bạc có thể mua những thứ để làm cho đời sống của ta thoải mái. Cho nên, theo tâm lý học Phật giáo, ngài có thể đề nghị một phương cách đưa đến sự câ...
Xem Chi tiết
+ Hình dung/ Mường tượng/ Tưởng tượng (Visualisation): - Nhờ thực hành năng lực hình dung, mắt thứ ba được phát triển. - Trong lúc hình dung, các hình hài được hình dung, các ý tưởng và các trừu xuất, vốn được khoác lấy và được vận chuyển bằng chất trí, được phác họa cách con mắt thứ ba một vài in...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)+ Giác quan (sense): Các giác quan là n...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâ...
Xem Chi tiết
+ Chỉnh hợp trong Tiểu và Đại thiên địa: Mục đích tiến hóa của con người trong ba cõi thấp – cõi trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí – là sự chỉnh hợp của Phàm Ngã tam phân với Chân Ngã thể cho đến khi đạt tới đường thẳng duy nhất và con người trở thành Đấng Duy Nhất. Ở cuối mỗi kiếp sống, con người đượ...
Xem Chi tiết
+ Phát Biểu theo Đời sống nhân sinh:- Ý kiến phát biểu: Khi nhận xét, đánh giá về một sự vật, một con người, hay một hành động thì đó được gọi là “ý kiến”. Thí dụ: Nhận xét về mootjngwowif hay vật, các ý kiến khác nhau không dễ chứng minh được là đúng hoặc sai.- Nói Theo Sự kiện: Là khái niệm về một...
Xem Chi tiết
Bethlehem là “nhà chứa bánh mì” (“house of bread”), một thuật ngữ huyền linh, có nghĩa là kinh nghiệm ở cõi trần. (LVLCK, 569)...
Xem Chi tiết
Ảo tưởng (Delusion, illusion, huyễn tưởng): - Là tiến trình đồng nhất hóa sai lầm, trong đó, Bản ngã tự lừa dối và nói “Ta là hình hài”. (I am the form). (ASCLH, 194) - Ảo tưởng có ảnh hưởng đến cõi trí nhiều hơn. Nó liên quan đến các quan niệm sống của chúng ta và cuộc sống tư tưởng vốn dĩ nhiều ...
Xem Chi tiết
+ Lịch sử của ước vọng nằm trong 4 cung: Taurus, Libra, Scorpio, Pisces (CTHNM, 261), cụ thể: 1. Taurus – Kim Ngưu của Dục Vọng – Ham muốn vật chất chi phối. (Sự Sống) 2. Libra – Sự thăng bằng của dục vọng – Mục tiêu ngược với ước vọng là cái cân (scales) hay các thăng bằng (balances). (Sự thăng ...
Xem Chi tiết
Đức hạnh (virtue) : X. Tính tốt....
Xem Chi tiết
Định trí (Attention, concentration, dharana):- Từ ngữ “concentration” xuất phát từ tiếng La tinh “con” là “cùng nhau” (“together”) và “centrare” nghĩa là “tập trung” (“to centre”). Nó có nghĩa là “đem lại cùng nhau hay là đưa đến một trung tâm chung, hay là điểm tập trung”. Nó ngụ ý là gom chung lại...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
+ Người xấu - Đáng Ghét: Ðức Phật dạy: Có 5 cái đáng ghét: 1. Một là ác khẩu hại người; 2. Hai là gièm pha, siểm nịnh, và thúc giục sự đấu tranh; 3. Ba là rầy rà không thuận hòa; 4. Bốn là ganh ghét và trù rủa; 5. Năm là nói hai lưỡi gạt người . Kinh dạy rằng: "Làm cho kẻ khác mệt nhọc v...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng. * Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thàn...
Xem Chi tiết
+ Tinh tấn: Theo nghĩa đen là luôn luôn thực hành, lặp lại không ngừng và nỗ lực không ngưng nghỉ để đặt nhịp điệu mới lên trên nhịp điệu cũ, xóa bỏ những thói quen và các hoạt động đã ăn sâu bằng cách tạo nên ấn tượng của linh hồn. Tinh tấn là luôn luôn cố gắng để hạn chế các hoạt động của thể trí....
Xem Chi tiết
CHỈ RÕ SỰ RÀNG BUỘC VÀ SIÊU THOÁT CỦA THẾ GIỚI CHÚNG SINHĐức Phật dậy: A Nan! Thế nào gọi là thế giới chúng sinh? - Thế có nghĩa là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu. - Giới là không gian, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phươn...
Xem Chi tiết
Thiên Cơ (Plan): Thiên Cơ là sự biểu lộ của Thiên Ý (The Plan is the expression of the Purpose or the Will of God).      (CVĐĐ, 376)...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
Qui luật (Rules, qui tắc): Qui luật là kết quả của kinh nghiệm đã trải qua thử thách và là kết quả của công việc được đảm trách lâu dài và – không khoác hình thức của định luật (laws), cũng không chịu các giới hạn của một huấn lệnh (command) – chúng được nhận biết bởi những ai cần đến chúng và do...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
Phục hồi (Work of Restitution): Tác động phục hồi có nghĩa là việc hoàn trả hình hài sắc tướng về nguồn chứa căn bản của vật chất; còn đối với linh hồn thì năng lượng tinh thần thiêng liêng trở về cội nguồn của nó – hoặc là trên các phân cảnh linh hồn, hoặc là trên các phân cảnh Chân Thần, tùy th...
Xem Chi tiết
Việc chỉ trích có thể được dựa vào nhiều sự kiện, nhưng thường có nguồn gốc từ sự ganh ghét, tham vọng bị cản trở hay kiêu hãnh vì trí tuệ cá nhân. Nên nhớ rằng chỉ trích là một liều thuốc độc hại (virulent poison). Trong mọi trường hợp, cuối cùng, nó gây tổn thương cho kẻ chỉ trích – do việc địn...
Xem Chi tiết
+ Phàm Ngã- Thượng Ngã- Linh Ngã (LVLCK, 64) Cha ................... Con .................. Mẹ Tinh thần .......... Linh hồn ........... Xác thân Sự Sống ......... Tâm thứ............ Sắc tướng Chân Thần ..... Chân ngã ........... Phàm ngã Linh ngã ....... Thượng ngã ......... Phàm ngã Tinh th...
Xem Chi tiết
+ 126. NHẤT TÂMTỳ-kheo như vậy hoặc tản bộ, hoặc ra vào, hoặc quay nhìn hai bên, co duỗi, cúi ngước, cầm y bát, tiếp nhận ẩm thực, hoặc tả hữu tiện lợi, hoặc ngủ hoặc thức, hoặc ngồi hoặc đứng, nói năng hay im lặng, vào bất cứ lúc nào, thường niệm nhất tâm, không mất oai nghi. Đó là nhất tâm. Cũng n...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
+ Linh hồn - Phật giáo gọi là Thức/ Nghiệp Thức:  Thức - Đi đầu thai, gồm có 9 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và 7 là: Mạt na Thức; 8 là: A Lại Gia Thức là năng lượng, là sức mạnh gọi là nghiệp lực; 9 là Thanh Tịnh Thức/ Như Lai Tạng Thức ... là Thức thanh tịnh, ...
Xem Chi tiết
Kiên trì (Patience, endurance, persist): Hãy kiên trì. Kiên trì là một trong các đặc tính của Chân Ngã. Chân Ngã kiên trì (persist) vì biết mình bất tử. Phàm ngã hay nãn chí vì biết rằng thời gian ngắn ngủi.  (ĐĐTDVNL, 76)...
Xem Chi tiết
Khai ngộ (Guidance, Hướng đạo): Có thể định nghĩa vấn đề khai ngộ như là vấn đề về phương pháp mà nhờ đó một người, bằng các tiến trình tự kỷ ám thị, tự đặt mình vào trạng thái thụ động và (trong khi ở trạng thái đó) trở nên biết được các khuynh hướng, các thôi thúc, các tiếng nói, các mệnh lệnh ...
Xem Chi tiết
Karma–indriya / Karmendriya : Hành căn. Năm giác quan để hành động: Miệng ..................... Nói (Speaking) Tay ......................... Cầm (Grasping) Chân ....................... Đi (Walking) Hậu môn ................ Bài tiết (Excretion) Cơ quan sinh dục .... Sinh sản, sáng...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
Yêu thích (desire, ưa thích, ham muốn, ham mê, dục vọng): Là gắn bó (attachment) với các đối tượng đem lại thích thú (pleasure).     (ASCLH, 135)...
Xem Chi tiết
Giác ngộ (Illumination): Sự giác ngộ và ánh sáng của tri thức có thể được xem như là các thuật ngữ đồng nghĩa.    (ACMVDCTG, 144) Sự giác ngộ và nhận thức chân lý cũng là các thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng trong trường hợp này, chân lý không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng ...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Có 5 nhóm bệnh tật chính: 1/ Các bệnh do di truyền: a/ Có sẵn trong chính hành tinh và có hiệu quả nhất định trên nhân loại qua việc tiếp xúc với đất và nước. b/ Đã phát triển vào các thời kỳ xa xưa trong chính nhân loại và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. c/ Đặc trưng của gia đình đặc biệt n...
Xem Chi tiết
+ 7 hành Vi mang đến ĐẠI BẤT HẠNH- NGHÈO CHÁNH PHÁP1) Người có tham dục lại bần cùng là đại bất hạnh.2) Người có tham dục vay nợ tài vật của người khác là đại bất hạnh.3) Người có tham dục vay nợ tài vật của người khác mà khất mãi là đại bất hạnh.4) Người có tham dục bị chủ nợ đòi nợ là đại bất hạnh...
Xem Chi tiết
+ Đạo Đức - Đạo của tự nhiên (Nguồn: Luân Lý Đạo Đức - PS Tịnh Không)- Đạo/ Ngũ Luân: Cái gì là đạo? Vợ chồng là đạo, cha con là đạo, anh em là đạo, bè bạn là đạo, vua tôi là đạo, (vua là người lãnh đạo, tôi là người bị lãnh đạo), đây là “ngũ luân”. Hỏi bạn năm thứ này do ai đặc ra? Là ai phát minh?...
Xem Chi tiết
+ Đau khổ (pain) hay Đau buồn:- Đau khổ là hậu quả tạo ra khi thể cảm dục bị an trụ một cách sai lầm. Đau khổ là hậu quả của việc không thể làm cân bằng các cặp đối hợp một cách chính xác. Nó cho thấy sự thiếu quân bình. (ASCLH, 71)- Đau khổ chỉ bị tạo ra do sự đối kháng và là một giai đoạn cần thiế...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: Kẻ đại ác, đại khái có 15 tội nặng - Tội của kẻ phàm ngu: 1. Một là sát sanh; 2. Hai là trộm cắp; 3. Ba là quen thói dâm ô; 4. Bốn là dối trá; 5. Năm là nịnh hót; 6. Sáu là chuốt ngót; 7. Bảy là gièm pha; 8. Tám là khinh bực hiền sĩ; 9. Chín là tham sự ô trược; 10. Mười là buông lung...
Xem Chi tiết
Xúc cảm  (Emotion, xúc động):Xúc cảm - Xảy ra do các rung động của chất liệu thuộc cõi cảm dục (astral matter). (CKDCLH, 19) - Xúc cảm chỉ là dục vọng được biểu lộ thuộc loại này hay loại khác.(TLHNM II, 418) - Xúc động hay xúc cảm sơ khai, là phản ánh của tình thương trên cõi trần.(TTCNT, 81)...
Xem Chi tiết
Văn hóa (culture)      Về bản thể, văn hóa là một biểu hiện của các ý nghĩa cực kỳ thiên về tinh thần cũng như trí tuệ và trạng thái tâm thức của những người an trụ vào thể trí trong nhân loại, của giới trí thức, hoặc là của những ai tạo ra được khoen nối giữa thế giới bên trong của sự sống linh ...
Xem Chi tiết
1. Theo Phật Giáo: + Kinh Vô Minh (Si Mê - Tương ứng Cõi Súc Sinh): Tôn Giả Xá-Lợi-Phất đáp (nguồn); “Minh là biết; biết gọi là minh.” - Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo và nguyên lí Nghiệp. Vô minh khởi đầu của 12 nhân duyên, là nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi. Vô minh là ...
Xem Chi tiết
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng. * Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thàn...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dung và tưởng tượng. * Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thàn...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
Thiên Ý (Purpose or the Will of God, Divine Purpose): – Thiên Ý thì thường tồn (permanent), viễn lự (farsighted), bất biến (unalterable) và dùng làm Ý Niệm Vĩnh Cửu. (CVĐĐ, 50) – Thiên Ý hiển lộ qua Thiên Cơ (Plan).  (CVĐĐ, 703)...
Xem Chi tiết
+ Ba tiến trình chính của sự chết: 1. Hoàn trả: Nghĩa là việc hoàn lại hình hài vào kho chứa cơ bản của vật chất; hay là đối với linh hồn, năng lượng tinh thần thiêng liêng trở lại cội nguồn của nó - hoặc là trên các phân cảnh linh hồn, hoặc trên các phân cảnh Chân Thần, tùy theo mức độ tiến hóa. Hầ...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Nội môn - Bí Truyền - Bí Giáo - Huyền Môn: Chỉ tất cả những gì không liên quan đến cuộc sống sắc tướng bình thường hay là tâm thức thông thường của con người trong 3 cõi thấp. (CTNM, 683); - Nội môn bí giáo tức là huyền linh học. (TLHNM, 451) - Liên quan với các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (CTHNM, 80);...
Xem Chi tiết
+ Mười sanh pháp - Điều Nên Nói: 1. Nếu Tỳ-kheo tự mình đã có được tín tâm rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người có được tín tâm. 2. Tự mình đã trì giới rồi lại nói cho người khác, và cũng khen ngợi những người trì giới.3. Tự mình thiểu dục rồi lại nói cho người khác, và cũng kh...
Xem Chi tiết
+ Các dạng lời nói tạo khẩu nghiệpI- Kinh Thập thiện, khẩu nghiệp gồm:1. Nói Dối trá: Tức nói không Chân thật/ Thật Thà - Nói Thêu dệt hay Nói Thêm Bớt - Nói A dua nịnh hót2. Nói Độc Ác - Ác khẩu - Nói Quát tháo - Nói Hung Ác - Nói Nhục mạ, Phỉ báng3. Nói Hai Lưỡi - Đôi Chiều - Đòn Sóc 2 đầu4. Nói L...
Xem Chi tiết
+ Đau khổ (pain) hay Đau buồn:- Đau khổ là hậu quả tạo ra khi thể cảm dục bị an trụ một cách sai lầm. Đau khổ là hậu quả của việc không thể làm cân bằng các cặp đối hợp một cách chính xác. Nó cho thấy sự thiếu quân bình. (ASCLH, 71)- Đau khổ chỉ bị tạo ra do sự đối kháng và là một giai đoạn cần thiế...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Độc ác (Cruelty, tàn bạo): Sự độc ác thu hút vào thể cảm dục (astral body) các chất liệu (materials) thô trược nhất và các chất kết hợp (combinations) ghê tởm nhất của vật chất cõi cảm dục (astral matter). (MTNX, 104)...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố … Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lý học đều bận tâm đến các sự sống như thế. (LVLCK, 1062)...
Xem Chi tiết
+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16) + Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69) + Tiểu vũ trụ, Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80) - Tiểu vũ trụ ...
Xem Chi tiết
+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết B...
Xem Chi tiết
+ Christ: Nguyên Khí, cần phân biệt rõ, vốn là một trạng thái tinh thần cao siêu. Danh hiệu Christ chỉ về một nhân vật cao cấp đại diện cho nguyên khí đó, dù lịch sử có ghi vị giáng sinh ở Nazareth hay trong trường hợp khác (ASCLH, 11) 1. Christ vũ trụ: Tự biểu hiện qua một Thái Dương Hệ. (ASCLH, 28...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
Wesak (Lễ Đức Phật hiện): Một lễ xảy ra ở Himalaya vào kỳ trăng tròn tháng 5 dương lịch. Người ta nói rằng, trong lễ này, mọi thành viên của Thánh Đoàn đều hiện diện, trong một lúc ngắn, Đức Phật đổi mới sự tiếp xúc và liên kết của Ngài với công việc của hành tinh chúng ta.(ĐĐNLVTD, 225)...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
+ Tiền Tài: Chỉ có kẻ nào không ham muốn gì hết cho riêng mình mới có thể trở thành kẻ thu nhận nguồn tài chính phong phú và là kẻ phân phối tài nguyên của vũ trụ. Trường hợp khác, khi tài sản gia tăng, chúng không đem lại điều gì ngoại trừ phiền não, lo lắng, không vừa lòng và lạm dụng.(ĐĐNLVTD, 78...
Xem Chi tiết
Veda (Kinh Phệ Đà): Kinh Veda là thần phổ học (theogony) thực sự của giống dân Aryan.                                   (GLBN IV, 16)...
Xem Chi tiết
Trong các thủ bút cổ xưa nhất của văn học Ấn Độ, Vị Thượng Đế Trừu Tượng Huyền vi (Unrevealed Abstract Deity) không có danh hiệu. Ngài thường được gọi là “Cái Đó” (tiếng Bắc Phạn là Tad) và tất cả mọi danh xưng đang có, đã có và sẽ có, hay bất cứ tên gọi nào mà trí người có thể nghĩ đến. (GLBN I, ...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
+ Các guna là ba đặc tính của vật chất. Ba hiệu ứng này phát sinh khi năng lượng của đại vũ trụ, là sự sống của Thượng Đế vốn tồn tại độc lập với việc khoác lấy hình thể, làm phát động hay truyền năng lượng cho vật chất nguyên thủy. Ba guna gồm có: 1.   Sattva ....Năng lượng của Tinh thần(Chân thần...
Xem Chi tiết
Ghét (hate): Là có ác cảm (aversion) với bất cứ đối tượng nào của các giác quan.    (ASCLH, 136)...
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM, ...
Xem Chi tiết
+ Không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. ... Con người không trị được bệnh,...
Xem Chi tiết
Vi tử (Atom, nguyên tử): Một vi tử gồm có một hình cầu chứa trong chính nó hạt nhân sự sống. Một vi tử chứa trong chính nó các phân tử đã biến phân (differentiated molecules) mà toàn bộ hợp thành chính vi tử. Thí dụ chúng ta được dạy rằng vi tử vật chất chứa trong chu vi của nó 14 ngàn triệu...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Sat (Thực hữu, Tối hữu, Bản thể): Chúa Cha, Shiva, Thượng Đế Ngôi Một, Vô Hiện (Unmanifest), Bản thể (Existence). (LVLCK, 94) – Sat là cái bất di bất dịch (the immutable), hiện tại vĩnh cửu, cái bất biến (changeless) và là Cội Nguồn vĩnh hằng, từ đó và qua đó, vạn vật diễn tiến.             ...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết