ĐỐI TRỊ NĂM TRIỀN CÁI TRONG THIỀN ĐỊNH Thích Giác Chinh

Đầu tiên, thiền sinh bước vào giai đoạn hành thiền là tạm thời đè nén chúng để đắc thiền-na và phát Tuệ minh sát, là 2 yếu tố then chốt cho việc đoạn trừ Năm triền cái, bước tiếp theo thiền sinh dần dần chế ngự chúng một cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Đạo.

Triền Cái tức là ngăn che. Năm chướng ngại ngăn che làm cho hành giả thực hành thiền không thấy được tâm an tịnh, xả ly và giải thoát. Theo kinh nghiệm của Đức Thế Tôn thông qua bài KinhTứ Niệm Xứ, toàn bộ pháp hành đưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗ lực để vượt qua năm chướng ngại này. Năm chướng ngại đó là:

1.  Tham dục (Kamachanda),

2.  Sân hận (Vyapada),

3.  Hôn trầm (Thiramiddha),

4.  Trạo cử (Udhaccakukucca),

5.  Nghi ngờ (Vicikiccha).

Khi tâm không được tu tập nghiêm túc và không an tịnh thì thường bị Năm triền cái này chi phối, và không thể tiến bộ trong công phu thiền quán. Hành thiền là tu tập đoạn trừ Năm triền cái và thay thế bằng Năm thiền chi (Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm).

+ Nhờ Tầm (duy trì tỉnh thức nơi đối tượng) đối trị được Hôn trầm – Thụy miên;

+ Nhờ Tứ (an trú vững chắc nơi đối tượng) đối trị được Nghi;

+ Nhờ Hỷ (hân hoan, vui mừng) đối trị được Sân;

+ Nhờ Lạc (an lạc) đối trị được Trạo cử

+ Nhờ Nhất tâm (an định) đối trị được Tham dục.

Vì vậy, trọng việc thực hành Thiền định, đoạn trừ Năm triền cái tức là đã chặn đứng một cách vĩnh viễn chướng ngại chính cản trở sự thành tựu Thiền-na và phát triển Tuệ giác. Lộ trình tu tập giải thoát là sự trải qua của những quá trình thấy rõ các khía cạnh vô thường của Năm chướng ngại, chúng nguy hiểm, khổ đau và không có tự ngã.

2.  Đối tượng của tu thiền là loại bỏ năm triền cái

2.1.Tham dục

Đối tượng thứ nhất của hành thiền là Tham dục, là sự tham muốn các tham ưu ở đời. Tu tập đoạn trừ Tham dục là đi ra khỏi các tham ưu ở đời. Dục(kāmanày gồm có năm loại:

(i)- Sắc dục, tức là tham đắm về nét đẹp liên hệ đến thân vật lý hoặc cảnh trần; (ii)- Thanh dục: Tham đắm âm thanh như du dương trầm bổng hoặc tiếng vừa ý liên hệ đến nhĩ căn; (iii)- Hương dục: Tham đắm về mùi liên hệ đến tỷ căn; (iv)- Vị dục: Tham đắm về vị ngọt liên hệ đến thiệt căn; (v)- Xúc dục: Tham đắm về xúc chạm liên hệ đến thân căn.

Theo Kinh Ví Dụ Con Rắn (số 22) trongTrung Bộ Kinh, Đức Thế Tôn đã khẳng định các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn” và đưa ra 10 ảnh dụ về sự nguy hiểm của dục:

“... (i) ví như khúc xương; (ii) ví như một miếng thịt; (iii) ví như bó đuốc cỏ khô; (iv) ví như hố than hừng; (v) ví như cơn mộng (vi) ví như vật dụng cho mượn; (vii) ví như trái cây (viii) ví như lò thịt; (ix) ví như gậy nhọn; (x) ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn“.

Những ức chế, lòng ham muốn, sự sinh ra những cảm giác mong ước tìm kiếm khoái lạc trong những hoạt động sắc dục hoặc và bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giác khó chịu, đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu; sự nảy sinh theo sau dục khởi này là lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái. Trong một quá trình nảy sinh và biến thiên của các hoạt động tâm tiêu cực như thế, những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, hành giả nhiệt tâm, tinh cần, tỉnh giác trong hơi thởthở ra, thở vào biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thườngcủa chúng, hành giả vượt ra các tham ưu ở đời.

Vì sao thiền sinh không nếm được hỷ, lạc của thiền vị? Vì các dục khởi lên bên trong các hoạt động của tâm và quấy nhiễu làm cho tâm và thân xao động, cuốn theo các cảm thọ. Vì vậy trong khi hành thiền là hành giả đang đối diện với tâm của mình. Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (các hoạt động của Tâm sở), để chặn đứng các tâm hành; ở đây là những tâm hành Tham dục.

Khi thực tập, định sẽ có mặt do quán hơi thở, khi được tu tập, được làm cho sung mãn tức là an tịnh. Sự tỉnh giác trong hơi thởthở ra, thở vào, cũng như tỉnh giác trong bốn oai nghi của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi. Thiền sinh trú chánh niệm, tỉnh giác. Thiền sinh khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Thiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cách buông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của năm giác quanbiết rõ sự nguy hiểm của dục. Đến đây thiền sinh nên khéo léo phát khởi ý niệm về hạnh phúc, an lạc của Thiền định và sự cần thiết của một căn bản Thiền định để đi sâu vào tuệ giác; chính trạng thái tâm hành tích cực này là niềm phấn khởi hân hoan đi vào Thiền định, dễ dàng buông thả dục lạc rơi lại phía sau.

Như vậy, trong một quá trình kiểm soát thân-tâm có mặt của thiền lực và chánh niệm thiền sinh nếm được hỷ-lạc nhờ có tỉnh giác. Đến đây, thiền sinh vui hưởng hạnh phúc hỷ lạc của Thiền-na (jhana)nhờ biết xả ly các quan tâm về thân và năm giác quan của nó. Sự nảy sinh tuệ giác theo sau pháp vị Thiền-na. Vì vậy, trong bài Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Thế Tôn nói tu tập đoạn trừ Tham dục là đi ra khỏi các tham ưu ở đời, nghĩa là “ly dục, ly ác pháp bất thiện pháp”.

2.2.Sân hận

Chức năng của việc đem tâm an trú vào các tầng thiền-na (jhana), một chi phần Chánh Định của Bát Chánh Đạo là để đoạn tận tất cả năm Triền cái để giúp triển khai tuệ giác của thiền lực trong quá trình thực hành. Nhưng vì định lực và thiền lực không mạnh mẽ và đầy đủ nên tâm hướng theo các hoạt động hướng ngoại, gây nên sự tham ưu và thù oán hoặc nảy sinh ý niệm tự ngã, làm cho sân phiền não xâm chiếm tâm.

Đến đây, thiền sinh đối mặt với Sân hận triền cái, là bức màn của sân nhuế ngăn che thiền hỷ dẫn đến sự phát khởi sự tham ưu ở đời. Chỉ cho trạng thái mong muốn và khao khát báo thù, gây khổ hoặc thù ghét một người hoặc một hoàn cảnh nào đó, ở mức vi tế của nó là đề cao bản thân, lòng tự ngã, tự ti hoặc mặc cảm của mình. Thiền sinh liền bị vướng vào vòng xoáy của nóng giận, bứt rứt và khó chịu, các cảm thọ này tiêu diệt sự an tịnh và mát mẻ của thân tâm. Một biểu hiện tâm sân hận thứ hai, song song hoặc tìm ẩn với trạng thái trên trong khi hành thiền chính là tâm hành chối bỏ, sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán; vì sân nhuế chế ngự tâm tạo ra một năng lực mãnh liệt, mê hoặc và hấp dẫn tâm hành giả lang thang qua các nơi khác hoặc bỏ rơi sự chú tâm của ta vào đề mục chính.

Chính lúc hành thiền chưa đủ thiền lực hoặc trong các hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi hàng ngày chưa dồi dào chánh niệm làm phát sinh một loạt tâm lý vội vã, nôn nóng, nóng giận và ghét bỏ, v.v… Hãy cẩn thận, khéo léo định tâm vào hơi thởhơi thở vào, hơi thở ra một cách điều hòa, an tịnh, từ từ sân nhuế được nhìn thấy rõ ràng hơn và hành giả nhận thấy được sự nguy hiểm của sân phiền não, hành giải phát khởi tâm từ và chánh niệm quán chiếu tham ưu của các tướng trạng tâm lý chúng vô ngã, vô thường. Tiếp theo, thiền sinh chú tâm vào hơi thở có tầm có tứ thì thiền hỷ sẽ phát sinh. Như thế, khi có sân hận trỗi dậy, sự quán chiếu bi mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình, khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học được bài học đó rồi buông xả chúng. Sự từ bỏ đến ngay sau khi thấy rõ sự nguy hiểm của những gì đang ràng buộc chúng ta, đang trói buộc tâm thức chúng ta. Chính lúc thiền sinh luôn luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trên ý niệm của hiện tại lại chính là thiền lực để nuôi dưỡng niềm vui hỷ thiền nhằm đối trị sân nhuế phiền não.

Nghệ thuật của sự chế ngự cơn giận để có an bình, tự do và hạnh phúc đích thực chính là sự nhận diện, chuyển hóa, buông xả và phát khởi tình thương. Sự nảy sinh tuệ giác theo sau pháp vị bi mẫn trong thiền vị, đi ra khỏi các tham ưu ở đời.

2.3. Hôn trầm

Hành Thiền, nếu bạn không giữ được chánh niệm, tỉnh giác thì bạn sẽ rơi vào một trong ba trạng thái tâm trạo cử, hôn trầm và vô ký. Trạng thái tâm lý mệt mỏi, uể oải, lười biếng, buồn ngủ khi ngồi Thiền gọi là trạng thái hôn trầm thụy miên, trong một vài trường hợp thiền sinh ngủ hẳn đi một lát. Ở giai đoạn này, khi Thiền sinh theo dõi một đối tượng trong khoảng thời gian khá lâu, sự theo dõi có thể lơi dần, yếu dần, rồi mất dần luôn sự kiểm soát. Khi ấy, tâm lý của hành giả chìm vào hôn trầm. Trạng thái tâm lý này sẽ ngăn trở bước tiến thực hành Thiền định, vì tuệ tri và tuệ giác không có mặt, lâu dần bào mòn sự an tịnh của thân tâm. Vượt qua đối tượng này, thiền sinh cần nỗ lực đi ra khỏi hôn trầm.

Cần một chút tỉnh giác và tinh tấn để nhận diện ra được cơn hôn trầm đang diễn ra. Trong khi hành thiền, nó làm cho ta chỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưa đến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết. Khi biết mình đang bị hôn trầm, thiền sinh liền thức tỉnh tìm cách đi ra. Đừng lo lắng hoặc chán nản, hãy theo dõi và quán niệm hơi thở, thiền lực sẽ dần có mặt nhờ sự theo dõi chú tâm và chánh niệm; để sự chú ý ngay trên đỉnh đầu một lát cho đủ tỉnh táo, rồi tự đánh thức mình ngay, khởi niệm nỗ lực ngay, trở về theo dõi chuyên sâu vào hơi thở vào ra một cách đều đặn.

Trong quá trình hành thiền và phát triển tuệ giác, các thiền sinh không chỉ cố mà hành thiền là sẽ hiệu quả, kinh nghiệm cho thấy cần một số tham khảo từ các bậc thầy Thiền sư hoặc các bài kinh liên quan đến thiền định mà Đức Phật đã giảng dạy, đó là con đường thiền định mà Thế Tôn đã đi qua. Ở đây, Một số phương pháp đối trị hôn trầm mà Thế Tôn đã dạy cho Tôn giả Mục-kiền-liên trong Tăng Chi 3A, tr 85-86, bản dịch của HT. Minh Châu, 1981, có thể tham khảo và vận dụng như sau:

i.  Khi hành thiền đang ở tưởng nào mà thụy miên kéo đến thì rời khỏi tưởng ấy, đừng tác ý đến tưởng ấythụy miên sẽ tan đi.

ii. Nếu rời khỏi tưởng ấy mà thụy miên vẫn còn, thì tư duy các giáo lý đã nghe, đã học thuộcThụy miên sẽ bị loại trừ.

iii. Nếu tư duy như thế mà thụy miên vẫn không tan, thì đọc tụng Pháp như đã nghe, đã học thuộc. Thụy miên sẽ bị loại trừ.

iv. Nếu thực hiện như vậy mà thụy miên vẫn chưa tiêu, thì sẽ kéo mạnh hai lỗ tai và lấy hai tay xoa bóp tay, chân cho tỉnh.

v. Nếu làm như thế mà thụy miên vẫn tồn tại, thì sẽ rời khỏi chỗ ngồi Thiền, ra ngoài lấy nước mát rửa mặt, nhìn về phía phương trời xa xăm sáng sủa, hay nhìn lên các vì sao (nếu về đêm), thụy miên sẽ tan mất.

vi. Nhưng nếu các biện pháp trên không có kết quả, thì hãy tác ý tưởng đến ánh sáng, tưởng ban ngày. Như thế, với tâm mở rộng, không hạn chế, tu tập tâm chói sáng, sẽ là tiêu tan hôn trầm.

vii. Nếu tưởng ánh sáng… không có kết quả, thì hãy đi kinh hành, tác tưởng trước mặt và sau lưng, để tâm hướng nội, thụy miên sẽ bị loại trừ.

viii. Nếu các biện pháp đối trị khi ngồi, khi đứng, khi đi không có hiệu quả, thì hãy nằm theo dáng nằm của sư tử, nghiêng về hông phải, đôi chân gác lên nhau, giữ chánh niệm các tưởng thức dậy thật maukhông khởi niệm ham thích nằm ngủ, an trú như vậy, thụy miên sẽ tiêu tán.

Một đoạn tóm lược ngắn kinh nghiệm đối trị hôn trầm mà Đức Thế Tôn đã dạy cho Tôn giả Mục-kiền-liên hầu hết được các trường thiền ứng dụng, với mỗi hành giả độc lập cũng có thể ứng dụng phương pháp này.

Đó là một quá trình nhận diện, chuyển hóa và thoát ra khỏi cơn hôn trầm của một thiền sinh thiện xảo. Khi đang theo dõi một đối tượng, nhưng đối tượng không được liên tục bỗng lững quên đi một chốc, đánh mất sự kiểm soát của thân và tâm, không nhận diện được đề mục là lúc hành giả bị rơi vào hôn trầm. Chỉ cần tỉnh giác, định tâm vào hơi thởHơi thở chạm xúc vào lỗ mũi hay môi trên là nơi dễ theo dõi nhất. Ở đây, chúng ta chỉ quán niệm vào hơi thởhơi thở có chạm xúc, mà không quán vào sự chạm xúc. Quán niệm hơi thở nầy đưa thiền sinh đến chánh niệm vững mạnh và có tuệ giác tri, liền đi ra khỏi hôn trầm ấy ngay.

Mặt khác, trong khi hành thiền sự vi tế của các trạng thái tâm cũng có thể đưa hành giả đến trạng thái vô ký. Nó là một trạng thái tâm lý không phải là tỉnh giác, không phải trạo cử, cũng không phải là hôn trầm mà chỉ hơi ngã về hôn trầm gọi là trạng thái vô ký. Không khéo tỉnh thức và chú ý đến niệm lực thì trạng thái tâm lý khờ khờ mà tâm không có khả năng ghi nhận vì có thể ngỡ là đang tỉnh táo, thiền sinh cần quán niệm tỉnh giác đánh thức mình đi ra khỏi trạng thái ấy ngay, đừng lầm lẫn nó với trạng thái tâm lý lắng đứng, an tỉnh. Vì Vô ký là biểu hiện của si tâm, tướng biểu hiện bên ngoài của hành giả là tướng trơ lặng hay thân tướng lắc lưChỉ cần tỉnh giác theo dõi hơi thở vào ra thì tâm lý vô ký lặn mất ngay.

Theo kinh nghiệm của Đức Thế Tôn dựa trên bài Kinh Tứ Niệm Xứ, hành giả cần nhận thức rằng: Với ai khi trú, quán thân trên thân mà hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán hướng ngoại, đó là vị ấy không biết nơi trú, không biết quán thân trên thân, đưa đến kết quả tệ hại; do vậy, vị ấy cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan (trong Tứ Niệm Xứ Kinh ghi nhận đó là: Thắng hỷ: pàmujjam) sinh ra. Người có lòng hân hoan, hỷ sinh ra. Người có lòng hỷ, thân được khinh an. Người có lòng khinh an, lạc thụ sinh. Người có lòng lạc thụ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (patisamharàmi) khỏi đối tượng tịnh tín”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chính niệm, ta được an lạc”.

Nghệ thuật nhận diện sự an tịnh của cái thấy và cái biết trong khi hành thiền để làm cho cái tâm trở nên tinh nhuệ chính là sự nhận diện được tác nhân và biết được đối tượng của chúng một cách rõ ràng, tu tập chánh niệm tỉnh giác nhiếp phục tham ưu ở đời.

2.4. Trạo cử (Giao động)

Nếu trong khi hành thiền, thiền sinh không thể dừng tâm vào một đối tượng đã chọn như ý muốn, tâm cứ chạy dài từ đối tượng này qua đối tượng khác, thì đấy là trạng thái tâm lý dao động, hay gọi là trạo cử. Cũng cần biết thêm ở đây là có khi thiền sinh không thể nhận rõ được năm thiền chi (ở đây là thiền chi Lạc, vì nhờ Lạc đối trị được Trạo cử), là vì lúc đó, thiền sinh vẫn còn bị các triền cái (nivarana) ngăn che trong giai đoạn này đó là trạo cử. Trạo cử là một tâm , gây trở ngại, ngăn cách với Thiền định. Nó là một tâm hành tiêu tốn nhiều năng lượng, vì nó diễn ra bên trong các hoạt động của tâm lẫn sự khuấy động của thân, thiền sinh cần nỗ lực vượt qua trạng thái tâm lý này.

Khi vừa nhận ra mình đang trạo cử, liền dừng suy tư, để sự chú ý theo dõi hơi thở vào ra một cách chuyên chú cho đến khi cảm thấy vừa ổn và nhận biết hơi thở một cách rõ ràng, tâm ghi nhận các hoạt động của hiện tại có mặt thiền sinh nhận diện sự có mặt của trạo cử; đến đây, thiền sinh có thể tiếp tục theo dõi hơi thở, Thiền chỉ hay trở ngại tư duy nếu thấy cần thiết. Lúc này, niệm lực của chánh niệm đã trở về lại, làm cho hành giả ý thức, ghi nhận được sự lay động của thân tâm. Với những ai bị dao động nhiều bởi tư duy lúng túng của mình, thì chỉ nên theo dõi hơi thở hay hành Thiền chỉ trong một thời gian khá lâu trước khi có thể đi vào Thiền quán, hay chỉ quán song tu.

Đến đây, niệm lực và tâm ghi nhận vẫn chưa mạnh mẽ, dẫn đến sự xuất hiện của tâm hành vi tế trạo cử bên trong dòng tâm thức. Khi kiểm soát được sự trạo cử thô bên ngoài hành giả trở về đề mục thiền định, những lo nghĩ, ưu tư của khởi lên tìm cách đi ra khỏi các kiết sử (thân, kiến, nghi, giới cấm thủ, dục, sân, hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử, vô minh) là một hình thức trạo cử vi tế bên trong tâm hành. Theo như Kinh Đại Niệm Xứ thì trạng thái tâm lý trạo cử nào dù thô hay tế cũng chướng đạo, cũng ngăn che giải thoát cả, hành giả cần nhiếp tâm chánh niệm, tỉnh giác để đi ra. Theo dõi một cách chuyên chú vào hơi thở vào ra, đình chỉ các ý niệm lao xao và chánh niệm tỉnh giác là biện pháp đối trị trạo cử một cách hữu hiệu.

Một lối sống thiểu dục, tri túc và biết ơn trong đời sống hàng ngày giúp ích nhiều cho việc hành thiền và cắt đứt trạo hối. Sự trạo cử do lương tâm cắn rứt là vì hành nghiệp của lối sống không giới đức, các thiền sinh tập sống tử tế, khôn ngoan và dịu dàng sẽ làm cho thực lực của hỷlạc nhanh chóng có mặt trong lúc hành thiền. Một người không có đạo đức hoặc sống buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc trong khi hành thiền.

Nuôi dưỡng và biết trân quý giây phút hiện tại chính là nghệ thuật của sự biết ơn. Lòng biết đủ và biết quý trong lúc này giúp cho thiền sinh nhận diện được thiền chi Lạc thiền, là thiền lực trong giai đoạn tiếp theo cho mỗi hành giả đoạn trừ sự lang thang trôi nổi.

2.5. Nghi ngờ

Vì sao thiền sinh hành thiền lúc thì biết rằng thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát; nhưng có lúc cũng nghĩ rằng không biết tu tập sẽ được gì, đó chính là sự xuất hiện của Nghi triền cái. Sự nghi ngờ ngăn che và vây phủ tuệ tri của thiền giả. Vì không nhận ra được mục tiêu và con đường của hành thiền nên hành giả không thể nào có sự tập trung tư tưởng. Một câu hỏi được đặt ra: Lý do tại sao nghi ngờ triền cái có mặt? Vì trong quá trình học Pháp, nghe Pháp và hành Pháp thiếu vắng sự tư duy chân chánh và Chánh kiến về Pháp; chỉ khi nào có Chánh kiến và nếm được Pháp vị thắng hỷ, tức là tịnh tín, hân hoan (đã được Đức Phật đề cập trong Tứ Niệm Xứ Kinh), lưới nghi sẽ được tháo bỏ.

Khi hành giả nhận diện được nghi ngờ triền cái đó chính là lúc sự từ bỏ đến ngay sau khi thấy rõ sự nguy hiểm của những gì đang trói buộc tâm thức chúng ta. Sự phát triển tư duy chân chánh và Chánh kiến có mặt cao lớn hơn lại đến ngay sau sự từ bỏ các ý niệm và hiện tại đang là. Trong lúc này, thiền sinh an trú tâm vào đối tượng và đi sâu, suy xét kỹ đối tượng, nhờ đó không còn nghi hoặc. Tâm cần quán sát và ghi nhận rằng sự tư duy được kéo dài ra hay tư duy được duy trì tức là sự có mặt của thiền chi Tứ; nhờ sự duy trì liên tục lên đối tượng, trú trên đối tượng nên niệm lực được rõ ràng và dứt trừ lưới nghi.

Trong khi hành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức có đối tượng để ghi nhận, tin tưởng vào sự vắng lặng là không còn gây rối loạn với các đối thoại, tạp niệm bên trong. Kinh nghiệm của tuệ tri chỉ ra rằng những gì hiện hành ra bên ngoài hoặc trong tâm thức chính là kết quả của sự thấy sâu sắc cái nguy hiểm của cảnh giới vừa đi ra. Nghi ngờ cũng có tướng trạng của một quá trình của các khía cạnh vô thường, quan trọng là sự ghi nhận sự biểu hiện của các tâm hành trong giây phút hiện tại. Hành giả không mệt mỏi, bước đi những bước đi đầy tỉnh giác, hứng khởi, an tịnh và giải thoát trên con đường thiền định.

Ở giai đoạn này, hành giả cần có sự học Pháp một cách sâu sắc, bằng cách học và thực tập hai chi phần quan trọng trong Bát chánh đạo, đó là Chánh kiến và Chánh tư duy để nhận ra được sự an tịnh và giải thoát. Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Đạo, Đức Phật định nghĩa Chánh tri kiến và Chánh tư duy như sau: “Thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy”.

Ứng dụng hai chi phần này trong lúc hành thiền tức là thiền sinh cần ổn định dứt khoát rằng pháp Niệm hơi thở vào hơi thở ra tự nó đã là pháp đối trị với các thứ vọng động, loạn tưởng (theo như kinh nghiệm của Đức Thế Tôn trong bài Kinh Tứ Niệm Xứ); đó chính là chánh niệm, pháp tu ấy dẫn đến định, có nghĩa là đi ra khỏi mọi thứ loạn động, loạn tưởng.

Nghệ thuật của sự an lạc và hạnh phúc chính là sự ghi nhận và buông xả. Nói cách khác, buông xả là buông xả tham ái và chấp trước mọi pháp được tác thành, được làm ra. Không còn nghi ngờ gì nữa hành giả đang bước đi trên con đường đạo, con đường đó là sự tự do đích thực.

3. Kết quả và lợi ích

Thực tập thiền định bằng phương pháp Quán niệm hơi thở là phương pháp đi thẳng vào tâm thức bằng nghị lực và ý chí của chính mình. Đó là con đường của sự nhận diện các tâm hành trong giây phút hiện tại, nó rất thiết thực và rất hiện tại. Khi tham dục và chấp thủ được buông xảđịnh lực và tuệ giác tự có mặt. Một khi từ bỏ năm triền cái và duy trì được sự an định này trong khoảng thời gian đủ dài thì thiền sinh sẽ vào Cận định (upacāra); và sẽ vào An chỉ định (appanā) khi đã làm cho sung mãn (phát triển dồi dào) năm thiền chi:

+ Tầm (duy trì tỉnh thức nơi đối tượng),

+ Tứ (an trú vững chắc nơi đối tượng),

Hỷ (hân hoan, vui mừng),

+ Lạc (an lạc)

+ Nhất tâm (an định). 

Thiền sinh không thể nhận rõ được năm thiền chi trên, là vì lúc đó thiền sinh vẫn còn bị các triền cái (nivarana) ngăn che. Thiền sinh phải xét duyệt từng triền cái một, để xem chúng còn vương vấn trong tâm trong lúc hành thiền hay không. Chúng cần phải được loại bỏ thì việc đắc thiền mới thành tựu.

Chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm tu tập đối tượng của thiền một bài học vô vàn quý giá rằng: nếu hành giả luôn luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trên ý nghĩa như thật của các đối tượng; chúng có tướng trạng, chúng vô thường và tướng trạng đó luôn luôn không có tự ngã, chúng tập nghiệp khổ đau, hành giả sẽ vượt nhanh qua được các ngăn cản trong Thiền định, sẽ hoàn toàn đoạn trừ được các cảm thọlạc, khổ và các tưởng đi đến các cảm thọ lạc, khổ, sẽ hoàn toàn được tịnh chỉ.

Một kết quả thiết thực trong việc đối trị năm triền cái đó là việc tu tập nằm ở chỗ an trú trong chánh niệm về Khổ, Vô thường, Vô ngã của các pháp để xả ly tham ái và chấp thủ. Nghệ thuật của hạnh phúc là sự giải thoát khổ đau có mặt ngay trong sự buông xả.

(Bài pháp học và pháp hành ứng dụng trong Thiền định được học và ứng dụng tại Pháp Thuận Thiền Viện – Dharma Meditation Temple, Valley Center, San Diego County, California, USA).

Trân trọng, An vui với Lòng từ, Khất sĩ Thích Giác Chinh. Xem nguồn: Đối trị năm triền cái (trướng ngại; Ngăn che) trong Thiền định
BÁT CHÁNH ĐẠO (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 463) 1. Chánh tín (Chánh kiến/ Phân Biện): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp. 2. Chánh tư duy: Chánh tư duy là suy n...
Xem Chi tiết
127. CHÁNH NIỆM CHÁNH TRÍNếu Tỳ-kheo nào không thường hay lãng quên, có chánh trí thì thường xuyên có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ gìn các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu đã giải thoát ...
Xem Chi tiết
+ Tình thương (Love, là Bác ái, Thuật ngữ bác Khá):+ Trạng thái Bác ái: Linh hồn tức là trạng thái Bác ái (LVHLT, 382) + Định luật Bác Ái: Thực ra chỉ là định luật của Thái Dương Hệ đang biểu hiện trên tất cả các cõi. + Ý chí Bác ái (ý muốn thương yêu): Ý chí bác ái tự biểu lộ bằng năng lực hấp thu ...
Xem Chi tiết
+ Hướng ngoại, hướng nội: Về mặt huyền bí, linh hồn có thể được xem như là những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của kinh nghiệm” và do đó hướng về phía biểu hiện vật chất, và những kẻ “tìm kiếm ánh sáng hiểu biết” và do đó rút khỏi lĩnh vực nhân tình thế sự để trui rèn con đường hướng nội của mình thành ý th...
Xem Chi tiết
+  Chướng ngại khi Tu: Chỉ cần Bạn có 1 trong 6 thứ sau thì bạn chẳng thể thấy đạo, đừng nói là chứng đạo, thấy cũng thấy không được: ‘Tham, sân, si, mạn, nghi’, sau đó là ‘ác kiến’, tức là ‘thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến’, hợp lại gọi là ác kiến, 6 phiền não căn bản là ...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Quán tưởng: “Con người là một tạo vật của sự quán tưởng, trong kiếp này, con người quán tưởng như thế nào thì kiếp sau, con người trở nên như thế ấy”(Kinh Chhandogyopanishad, IV, xiv, 1). (MTNX, 277) + Quán tưởng diệt trừ tâm dục - Tình dục (nguồn) - 7 quán Bất tịnh quán (Không trong sạch) khi: Cấ...
Xem Chi tiết
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: - Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi sutratma, life thread hay silver cord (ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này.(GDTKNM, 143) - Chúng ta dùng để chỉ hơi ...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Giải thoát: Đối với nhân loại, cái huyền nhiệm của sự giải thoát nằm trong việc làm cân bằng các mãnh lực và làm quân bình các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà người tìm đạo phải tìm ra và bước lên, không rẽ sang phải, cũng không sang trái. (LVHLT, 225) + Phật n...
Xem Chi tiết
+ Chấp trước: Giữ chắc sự việc không thể buông xả. Ôm chặt. Nghĩ về điều gì và không thể quên được nó; Dính mắc vào tư tưởng cho rằng vạn hữu là thực (dính chắc vào sự vật mà không rời lìa. Mỗi pháp đều có nhiều nghĩa tương đối, nếu chấp chặt vào một nghĩa, chẳng biết dung hòa, chẳng biết tùy nghi, ...
Xem Chi tiết
+ Chánh niệm là nhớ đúng nghĩ đúng, là giai đoạn thứ 7 trong Bát Thánh đạo. - Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức. - Chánh niệm có nghĩa là lìa mọi phân biệt mà niệm thực tính của chư pháp. - Theo Bát Chánh Đạo, chánh niệm là “Nhất Tâm.- Nơi thân tỉnh thức bằng cách thực tập tập trung v...
Xem Chi tiết
+ KINH CHÁNH KIẾN: Tôi đã được nghe, có tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên đến thăm, sau khi đảnh lễ dưới chân Đức Phật, tôn giả ngồi xuống một bên và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn. Cúi xin Người giảng giải ý nghĩa của từ Chánh kiến, Phật bảo: - Người đời thường nghiêng về 2 khuynh hướng nhận thức, một là c...
Xem Chi tiết
+ Chuyển Hóa: Là phương pháp mà nhờ đó cái thấp được thu hút bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hóa thành năng lượng, nhờ đó, năng lượng của 3 trung tâm thấp được chuyển lên 3 trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng), sau đó cho phép vị đệ tử điểm đạo tập trung tất cả năng lượng vào trong 3 trung t...
Xem Chi tiết
Định trí (Attention, concentration, dharana):- Từ ngữ “concentration” xuất phát từ tiếng La tinh “con” là “cùng nhau” (“together”) và “centrare” nghĩa là “tập trung” (“to centre”). Nó có nghĩa là “đem lại cùng nhau hay là đưa đến một trung tâm chung, hay là điểm tập trung”. Nó ngụ ý là gom chung lại...
Xem Chi tiết
Tâm thức tỉnh thức (waking–consciousness): + Tâm thức tỉnh thức tức là tâm thức đang tác động trong bộ óc hồng trần (consciousness working in the physical brain). (KCVTT, 115) + Tâm thức tỉnh thức là tâm thức đang hoạt động trên cõi trí và trên cõi cảm dục bằng cách dùng chất trí và chất cảm dục làm...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Lưỡi Nếm - Thiệt Căn:- Do hai thứ lạt và vị xâm lấn lẫn nhau, tánh giác nhiệm mầu tác dụng vào bản thể trạm nhiên phát ra cái gọi là nếm. Cái nếm phản ánh ra gọi là vị. Cơ quan nhận thức vị được gọi là thiệt căn. => Thiệt căn do tứ đại thanh tịnh hợp thành hình dáng trông như nửa vành trăng. (N...
Xem Chi tiết
+ Tâm không ham muốn: ‘Khi các Tỳ-kheo đã vào trong, mong ta ngồi trên ghế cao hơn hết, được ngồi chỗ bậc nhất, được nước rửa bậc nhất, được thức ăn bậc nhất’, Tỳ kheo khác nhìn thấy mà không sanh tâm ác. Nếu người ấy không sanh tâm ác, không sanh tâm ham muốn thì cả hai đều là thiện. Nguồn: mục 342...
Xem Chi tiết
Sự ràng buộc vào hình hài hay là sự thu hút của hình hài đối với Tinh thần là sức thôi thúc to tát của tiến hóa giáng hạ. (ASCLH, 139) Ham muốn cuộc sống hữu tình một cách mãnh liệt chính là sự ràng buộc. Nó có sẵn trong mọi hình hài, nó tự tồn tại (self–perpetuating), và thậm chí người rất ...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
+ Nhiếp Tâm: Ðức Phật dạy: "Tỳ-kheo các ông! Nếu người nhiếp tâm thì tâm được định. Nhờ tâm được định, có thể biết được các tướng của pháp sanh diệt ở thế gian. Vậy nên các ông thường phải tinh tấn tu tập các phép định. Nếu người được định thì tâm chẳng tán loạn. Ví như người muốn giữ nước, phải khé...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
Lương tâm (conscience): - Trong địa hạt đạo đức, ý chí thường được mệnh danh là lương tâm. (MTNX,   237) Nhờ việc ứng dụng ý thức phân biện, lương tâm được phát triển khi thể trí ngày càng đảm trách việc kềm chế – một nhận thức và sau cùng một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy. Trong tr...
Xem Chi tiết
* Bản thân: Chân sư DK dạy tham thiền lập hạnh rất tốt cho bản thân (Nghĩ về đức tính tốt của bản thân, nó luôn ở quanh ta và phát huy tác dụng với ta và cả người xung quanh > Một người Tu cả nhà được hưởng- Người thường (Kém tiến hóa, trí tuệ chưa phát triển = Dục vọng nhiều): Tư tưởng tạo ra ch...
Xem Chi tiết
Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đauHỎI: Ngài nói rằng tiền bạc không ban cho hạnh phúc – Tôi đồng ý. Nhưng tôi tin rằng tiền bạc có thể mua những thứ để làm cho đời sống của ta thoải mái. Cho nên, theo tâm lý học Phật giáo, ngài có thể đề nghị một phương cách đưa đến sự câ...
Xem Chi tiết
Khai ngộ (Guidance, Hướng đạo): Có thể định nghĩa vấn đề khai ngộ như là vấn đề về phương pháp mà nhờ đó một người, bằng các tiến trình tự kỷ ám thị, tự đặt mình vào trạng thái thụ động và (trong khi ở trạng thái đó) trở nên biết được các khuynh hướng, các thôi thúc, các tiếng nói, các mệnh lệnh ...
Xem Chi tiết
+ Giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là quan năng của thể trí tác động qua cơ quan đó như là vận cụ của nó. Các cơ quan cảm giác bên ngoài là các phương tiện thông thường mà nhờ đó các chức năng như nghe, vv… được hoàn tất trên cõi trần. (LVLCK, 194)+ Giác quan (sense): Các giác quan là n...
Xem Chi tiết
Âm thanh (sound, âm)  Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh... Xin bạn luôn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc. (TVTTHL, 205)  Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
Tâm pháp (Heart doctrine, secret Heart): Tâm pháp chi phối sự phát triển huyền linh. Tâm pháp dựa vào bản chất đại đồng của linh hồn, Chân Thần, Đấng Duy nhất, chi phối và có dính líu đến thực tại. (CVĐĐ, 458) Tâm pháp là giáo lý bí truyền (Secret Heart is the esoteric doctrine).            ...
Xem Chi tiết
Buddhi là quan năng để nhận thức, vận hà (chanel) mà xuyên qua đó, tri thức thiêng liêng đi đến Chân Ngã, khả năng phân biệt thiện và ác, cũng là tâm thức thiêng liêng và Hồn Tinh thần (spiritual soul) vốn là hiện thể của Atma. (Xem thêm mục từ Tuệ giác). (GLBN I, 43)...
Xem Chi tiết
+ Tu Thiền: Phật dạy rằng: “A Nan, ông tu thiền, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trãi bao nhiêu kiếp cũng không thành được”.(Xem bài)+ Tham thiền: Giúp Phàm ngã hòa hợp với sự rung động của Linh hồn. Khi đã có sự giao tiếp, hành giả nhận được Ánh sáng của ...
Xem Chi tiết
+ Tinh tấn: Theo nghĩa đen là luôn luôn thực hành, lặp lại không ngừng và nỗ lực không ngưng nghỉ để đặt nhịp điệu mới lên trên nhịp điệu cũ, xóa bỏ những thói quen và các hoạt động đã ăn sâu bằng cách tạo nên ấn tượng của linh hồn. Tinh tấn là luôn luôn cố gắng để hạn chế các hoạt động của thể trí....
Xem Chi tiết
+ Thân Tâm hay Danh Sắc: Đức Phật dạy rằng con người là sự tập hợp của 2 thành phần chính gọi là danh và sắc. - Danh - Tâm: Là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. - Sắc - Thân xác: gồm có nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa. Xem nguồn...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
+ Quán tưởng: “Con người là một tạo vật của sự quán tưởng, trong kiếp này, con người quán tưởng như thế nào thì kiếp sau, con người trở nên như thế ấy”(Kinh Chhandogyopanishad, IV, xiv, 1). (MTNX, 277) + Quán tưởng diệt trừ tâm dục - Tình dục (nguồn) - 7 quán Bất tịnh quán (Không trong sạch) khi: Cấ...
Xem Chi tiết
+ 126. NHẤT TÂMTỳ-kheo như vậy hoặc tản bộ, hoặc ra vào, hoặc quay nhìn hai bên, co duỗi, cúi ngước, cầm y bát, tiếp nhận ẩm thực, hoặc tả hữu tiện lợi, hoặc ngủ hoặc thức, hoặc ngồi hoặc đứng, nói năng hay im lặng, vào bất cứ lúc nào, thường niệm nhất tâm, không mất oai nghi. Đó là nhất tâm. Cũng n...
Xem Chi tiết
I. Dục vọng (desire):- Dục vọng là sức mạnh của phàm ngã (form nature). (CTHNM, 388)- Dục vọng xuất phát từ cõi cảm dục, tạo ra biểu lộ trên cõi trần. (LVLCK, 692)- Dục vọng là việc gắn bó (attachment) với các đối tượng vui thích (objects of pleasure).(ASCLH, 134)- Dục vọng vốn là ý chí trên cõi thấ...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
Yêu thích (desire, ưa thích, ham muốn, ham mê, dục vọng): Là gắn bó (attachment) với các đối tượng đem lại thích thú (pleasure).     (ASCLH, 135)...
Xem Chi tiết
+ Ngũ giới theo Phật dậy1. Không sát sinh2. Không trộm cướp3. Không tà dâm4. Không nói dối, sai sự thật5. Không uống diệu+ Ngũ giới - Minh Triết mới (ASCLH, 184):1. Vô tổn hại (harmlessness).2. Chân thật (truth).3. Không trộm...
Xem Chi tiết
Giác ngộ (Illumination): Sự giác ngộ và ánh sáng của tri thức có thể được xem như là các thuật ngữ đồng nghĩa.    (ACMVDCTG, 144) Sự giác ngộ và nhận thức chân lý cũng là các thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng trong trường hợp này, chân lý không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng ...
Xem Chi tiết
I- CÁC PHÁP TU CHO NGƯỜI MỚI TU1. Thực Hành Thập thiện nghiệp đạo+ Thân: Không sát sinh - Trộm cắp - Tà dâm+ Khẩu: Không nói dối - Hai Lưỡi - Đôi chiều - Truyện nhảm nhí+ Ý - Suy nghĩ: Không Tham - Sân Hận - Si Mê2. Đọc Kinh Phật Và Lễ lạy Phật đều đặn3. Học một trong các Thần chú Phật đã dậy:+ Thần...
Xem Chi tiết
+ Đạo Đức - Đạo của tự nhiên (Nguồn: Luân Lý Đạo Đức - PS Tịnh Không)- Đạo/ Ngũ Luân: Cái gì là đạo? Vợ chồng là đạo, cha con là đạo, anh em là đạo, bè bạn là đạo, vua tôi là đạo, (vua là người lãnh đạo, tôi là người bị lãnh đạo), đây là “ngũ luân”. Hỏi bạn năm thứ này do ai đặc ra? Là ai phát minh?...
Xem Chi tiết
1. Theo Phật Giáo: + Kinh Vô Minh (Si Mê - Tương ứng Cõi Súc Sinh): Tôn Giả Xá-Lợi-Phất đáp (nguồn); “Minh là biết; biết gọi là minh.” - Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo và nguyên lí Nghiệp. Vô minh khởi đầu của 12 nhân duyên, là nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi. Vô minh là ...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn bạo ...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
Tha thứ (Forgiveness): Là hy sinh và là từ bỏ bản ngã của mình, ngay cả từ bỏ chính sự sống của mình vì kẻ khác và vì lợi ích của toàn thể tập thể (the wholegroup).  (SHLCTĐ, 165)...
Xem Chi tiết
+ 2. SÂN HẬN - ĐỐI TRỊ = ĐỊNH TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ + “Sân” là cơn giận, lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận khi không vừa lòng, không được thỏa thích như ý muốn. Bất bình vì bị xúc phạm, nhân đó làm những chuyện sai trái. Sau cơn giận thời giữ lại lòng oán ghét tìm dịp mà trả thù. - Sở dĩ sân sinh khởi l...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ 110. CÁCH NẰM NHƯ SƯ TỬ CỦA TỲ KHEOBấy giờ Thế Tôn bảo rằng: Này A-nan, ngươi nên nằm như cách nằm của sư tử. Tôn giả A-nan bạch rằng: Bạch Thế Tôn, sư tử, chúa tể của loài thú, nằm theo cách nào?- Thế Tôn đáp: Này A-nan, sư tử, chúa tể của loài thú, ban ngày đi tìm ăn, xong rồi vào hang; khi muốn...
Xem Chi tiết
Pranayama (X. Điều khí): Tức là khoa học về hơi thở hay về năng lượng của prana. (ASCLH, 77) + Tương ứng với Fohat trong tiểu vũ trụ là các dòng sinh lực qua thể dĩ thái để giữ cho xác thân được sống động và có từ lực. Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít ai biết, và khi hiểu đúng người ta sẽ ...
Xem Chi tiết
+ Ngũ Dục: Chữ “dục” này là ngũ dục: 1- Tài dục: Ham muốn tiền bạc của cải, vàng ngọc, tài sản vật chất. 2- Sắc dục: Đắm say đam mê sắc đẹp mỹ miều, gồm 6 trần: - Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt. - Thính dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt…. - Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào…...
Xem Chi tiết
+ Cảm Dục/ Dục Vọng: 1. Sợ hãi – có ảnh hưởng tới hoạt động ngày nay; 2. Căm ghét (hate) – vốn là một yếu tố trong sự điều tiết các mối liên hệ;  3. Tham vọng – đang chi phối các mục tiêu (CTHNM, 231) ...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
Ý niệm (idea, ý tưởng): Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238) Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54) Ý niệm...
Xem Chi tiết
X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố … Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lý học đều bận tâm đến các sự sống như thế. (LVLCK, 1062)...
Xem Chi tiết
+ Một nhận xét trong khi nghiên cứu cung Hoàng đạo Leo - Sư Tử, rất thú vị của Chân Sư DK (CTHNM, 338): + Với Mercury - Thủy Tinh: Ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến tứ nguyên của con người – tinh thần, linh hồn, trí tuệ và bộ óc. ...
Xem Chi tiết
Thiên chức (Dharma, Thiên trách, nghĩa vụ): Theo nghĩa đen, thiên chức có nghĩa là thực thi một cách thích đáng các nghĩa vụ (obligations) (hay là nghiệp quả) của mình trong cương vị, hoàn cảnh và môi trường mà số phận đã đặt để. (ASCLH, 187) Thiên chức là công việc có tính cách bắt buộc (ob...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
+ Sư Tử - Hải Sư/ Leo: Hành Hỏa (Xem); Dẫn truyền(Cung 1 - Cung 5) (Xem) - Tự ý thức, sáng tạo, quan trọng, tự hào hoặc nhút nhát, thành thật, trung thành, cá nhân ;Xem nguồn - Chủ quản Nhà thứ 5, có đặc tính tương ứng: Tính sáng tạo, trò chơi, thể thao + Ngoại Môn: - Chủ tinh: Mặt Trời; Cung 2 ...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12) Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Ghét (hate): Là có ác cảm (aversion) với bất cứ đối tượng nào của các giác quan.    (ASCLH, 136)...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân ngh...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Chữ "Lý" là nội tâm, Nội Tâm gồm"- Ngũ Thường: Nhân lễ nghĩa trí tín, - Tứ Duy: Lễ nghĩa liêm sĩ- Bát Đức: Là lễ nghĩa liêm sĩ, là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. H...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết