Thế giới

+ Thế Giới Chúng Sinh Với Không Gian - Thời Gian
- Phật dậy: A Nan! Thế giới chúng sinh tức là vũ trụ bao gồm 2 mặt không gian và thời gian
* Thế là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu - Luật Nhân quả báo ứng.
* Giới là không gian - Lý Nhân duyên sanh hợp, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phương hướng tả hữu, trước sau. Phương hướng mà người thế nhân nhận rõ là: Đông, Tây, Nam, Bắc 4 phương. Nhưng thật ra có tất cả 10 mười trong thế gian này. Đó là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới.
* Thời gian có 3 thời là: Quá khứ, hiện tại và vị lai.
=> Lấy không gian và thời gian nhân cho nhau: Bốn nhân ba hay ba nhân bốn thành con số 12. Vì có 10 phương hướng trong khi số lưu chuyển của thời gian là 3 nên nhân lên ba lần: (i) là 4 x 3= 12 => (ii) là 12 x 10= 120  => (iii) là 120 x 10= 1200. Số 1200 là con số tượng trưng biểu hiện cho công đức của 6 căn tương quan trong thế giới. Tuy nhiên, nếu xét riêng thì công năng của mỗi căn cao thấp khác nhau, chẳng đồng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương IV)
* Giải thích khác: Ngài Vân Thê giải thích: “Giới có 4, thế có 3, gắn bó với nhau, nên lấy ba nhân bốn, bốn nhân ba thành 12 là một lớp. Từ số 12 nầy, mỗi số biến thành 10, tức thành 120, là lớp thứ hai. Từ số 120 nầy, mỗi số đều biến thành 10, tức thành 1200, là lớp thứ ba.” (Kinh Thủ-lăng-nghiêm Trực chỉ- Thiền sư Đan Hà).
* Giải nghĩa thêm: Thế giới tức là vũ trụ bao gồm hai mặt không gian và thời gian.
- Thế là nói về thời gian cũng có nghĩa là nói về luật nhân quả báo ứng, sinh sinh diệt của hiện tượng vạn hữu.
- Giới là nói về không gian cũng còn có nghĩa là lý nhân duyên tức là tất cả mọi cấu tạo hình thành của vạn hữu trên thế gian này là do nhân duyên hòa hợp mà có.
* 10 phương: Khi nói về phương hướng, thông thường con người chỉ đề cập đến Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhưng thật ra có tất cả 10 mười trong thế gian này. Đó là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới. (Xem mục: (Nguồn: Xem mục Chỉ rõ sự ràng buộc và siêu thoát ...) (
Nguồn: Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác)

+ Thế Giới: Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 (Xem tại đây) thì:
- Thế nghĩa là đổi dời;
- Giới chỉ cho phương vị/ Phương hướng
Tức về mặt thời gian 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai dời đổi, về mặt không gian thì có định vị nơi chốn như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới 10 phương, cũng chính là chỉ cho nơi chốn nương ở của chúng sinh, như núi sông, cõi nước...

Như trên đã nói, thế giới vốn chỉ cho thế giới hữu vi trong 3 cõi; nhưng Phật giáo Đại thừa cũng chỉ cho thế giới Liên hoa tạng (cảnh giới Phật do tông Hoa nghiêm nói), Tịnh độ của Phật A di đà... Tức bao hàm thế giới tuyệt đối siêu việt thế giới tương đối, là thế giới vô vi.
Ấn độ đời xưa y cứ vào Thuyết núi Tu di để thành lập Vũ trụ luận, tức lấy núi Tu di làm trung tâm, 4 phía chung quanh có 9 núi 8 biển, 4 châu (4 thiên hạ) bao bọc và mặt trời, mặt trăng hợp lại làm một đơn vị, gọi là một thế giới. Hợp chung lại 1000 cái một thế giới làm một Tiểu thiên thế giới; hợp chung 1000 cái Tiểu thiên thế giới, gọi là Trung thiên thế giới; hợp 1000 cái Trung thiên thế giới thành một Đại thiên thế giới (Đại thiên giới, Đại thiên). Một Đại thiên thế giới bao gồm 3 thứ Tiểu, Trung, Đại thiên thế giới, cho nên Đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới (Tam thiên thế giới). Vũ trụ được cấu thành bởi vô số Tam thiên đại thiên thế giới, do đó có thể thấy thế giới rộng lớn vô biên. Phạm vi giáo hóa của một đức Phật (tức một cõi Phật) hoặc là một thế giới, hoặc là một Tam thiên đại thiên thế giới, hoặc một thế giới to rộng hơn nữa. Từ thế giới vốn đồng nghĩa với Thế gian, bao gồm Hữu tình thế gian và Khí thế gian, nhưng thông thường quen chỉ cho Khí thế gian. Chúng sinh hữu tình trụ trong một thế giới được phân loại làm 6 đường khác nhau là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh,A tu la, cõi người và cõi Trời. Trong đó, thế giới mà 5 đường trước an trú gọi là Dục giới; thế giới mà chư thiên có sắc chất an trú gọi là Sắc giới; thế giới mà chư thiên không có sắc chất cư trú gọi là Vô sắc giới. Nhưng theo các kinh luận Đại thừa thì còn có Tịnh độ của chư Phật tồn tại ngoài 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc nói trên. Như Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng, ngoài 6 đường còn lập Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi chung là Thập giới, trong Thập giới này mỗi giới đều có cõi nước an trụ. Lại như Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 y cứ theo thuyết trong kinh Hoa nghiêm mà nêu ra nơi an trụ cúa 10 cảnh giới Phật là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Nơi an trụ của tự thể Thập Phật, là y báo viên dung tự tại không thể nghĩ bàn. 2. Thế giới hải: Nơi 10 thân Xá na nhiếp hóa, lại được chia làm 3 loại: Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải. (Nguồn: Xem tại đây)

+ Thế giới khác với Hư Không: HT Tuyên Hóa giảng
Nổi lên thì thành thế giới, lắng đọng thì thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là dị. Cái không đồng không khác kia, chân thật là pháp hữu vi.
Phàn nầy giải thích tướng trạng thứ 6 của lục thô, đó là nghiệp hệ khổ tướng. Nổi lên thì thành thế giới. Khởi là lưu xuất ra–là chuyển dịch, là động. Lắng đọng thì thành hư không. Lắng đọng là tĩnh–không chuyển dịch. Hư không là đồng, thế giới là dị. Hư không giống như cái gì? Cơ bản hư không là giống với mọi thứ. Nó không khác với cái gì cả vì trong hư không chẳng có gì để phân biệt. Chỉ vì không có sự phân biệt mà được gọi là hư không. Nhưng với sự sinh khởi của thế giới thì có điểm khác nhau.

Thế giới khác với hư không vì trong thế giới có hình sắc và tướng mạo. Sự sinh khởi của núi sông đất liền đã làm nên thế giới. Điều nầy sẽ được giảng giải chi tiết trong đọan kinh tiếp theo.
"Cái không đồng không khác kia, chân thật là pháp hữu vi."
Vốn trong hư không chẳng có gì cả để có thể nói đồng hay dị, chẳng có sự sinh khởi của:
1. Nghiệp tướng,
2. Chuyển tướng, và
3. Hiện tướng
cùng với Lục thô
1. Trí tướng,
2. Tương tục tướng,
3. Chấp thủ tướng,
4. Kế danh tự tướng,
5. Khởi nghiệp tướng, và
6. Nghiệp hệ khổ tướng.
Chúng ta dùng từ đồng (giống) hay dị (khác) để diễn tả cho những tướng trạng vừa hiện hữu nầy.
(Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4)