All posts by Quản Trị Biên Tập

" Phụng sự mà biết mình đang phụng sự thì chưa phải phụng sự " Ghi trong Menu tổng: Người dùng, Menu con: Hồ sơ của bạn

Kỳ Công cung Cự Giải cùng giải thích Trực Giác là gì

The Lesson of the Labor
We have seen that the hind or doe, for which Hercules sought, was sacred to Artemis, the moon, but was also claimed by Diana, the huntress of the heavens, and by Apollo, the sun god. One of the things that is often forgotten by students of psychology and those who probe the unfolding consciousness [93] of man, is the fact that there are no sharp distinctions between the various aspects of man’s nature, but that all are phases of one reality. The words instinct, intellect and intuition, are but varying aspects of consciousness and of response to environment and to the world in which the human being finds himself. Man is an animal, and in company with the animal, he possesses the quality of instinct and of instinctual response to his environment. Instinct is the consciousness of the form and of the cell life, the mode of awareness of the form, and, therefore, Artemis, the moon, who rules over the form, claims the sacred hind. In its own place, animal instinct is as divine as those other qualities which we regard as more strictly spiritual.
Bài học của Kỳ Công Chúng ta đã thấy rằng con hươu cái mà Hercules tìm kiếm là thiêng liêng đối với Artemis, mặt trăng, nhưng Diana—nữ thợ săn của bầu trời—cũng tuyên bố của mình, và Apollo—thần mặt trời—cũng thế. Một trong những điều thường bị bỏ qua bởi các sinh viên tâm lý học và những người khám phá tâm thức đang khai mở [93] của con người, là sự kiện không có sự phân biệt rõ ràng giữa các khía cạnh khác nhau của bản chất con người, mà tất cả đều là các giai đoạn của một thực tại . Những từ bản năng, trí tuệtrực giác, chẳng qua chỉ là những khía cạnh khác nhau của tâm thức và của phản ứng với môi trường và với thế giớicon người tìm thấy chính mình trong đó. Con người là một con vật, và cùng với con vật, y sở hữu phẩm tính bản năng và phản ứng theo bản năng đối với môi trường của y. Bản năngtâm thức của hình tướng và của đời sống tế bào, phương thức nhận biết của hình tướng, và, do đó, Artemis, mặt trăng, người cai quả hình tướng, tuyên bố con hươu cái thiêng liêng là của mình. Ở nơi riêng của nó, bản năng động vật là thiêng liêng như những phẩm chất khác mà chúng ta coi là nghiêm ngặt tinh thần hơn.
But man is also a human being; he is rational; he can analyze, criticise, and he possesses that something which we call the mind, and that faculty of intellectual perception and response, which differentiates him from the animal, which opens
up to him a new field of awareness, but which is, nevertheless, simply an extension of his response apparatus and the development of the instinct into intellect. Through the one he becomes aware of the world of physical contacts and of emotional conditions; through the other he becomes aware of the world of thought and of ideas, and thus is a human being. When he has reached that stage of intelligent and instinctual awareness, then “Eurystheus” indicates to him that there is another world of which he can become equally aware, but which has its own method of contact and its own response apparatus.
Nhưng con người cũng là một con người; y có lí trí; y có thể phân tích, chỉ trích, và sở hữu cái mà chúng ta gọi là thể trí, và khả năng tri thức và nhận thức trí tuệ, giúp y phân biệt với con vật, mở ra cho y một lĩnh vực mới của nhận thức, nhưng đó chỉ đơn giản là một phần mở rộng của bộ máy phản ứng của y và sự phát triển của bản năng vào trí tuệ. Thông qua bản năng y trở nên nhận thức được thế giới của tiếp xúc vật lý và các điều kiện xúc cảm; qua trí tuệ y trở nên nhận biết được về thế giới của tư tưởng và ý tưởng, và do đó là một con người. Khi y đạt tới giai đoạn nhận thức bản năngthông minh đó thì “Eurystheus” chỉ cho y rằng có một thế giới khác mà y cũng có thể trở nên nhận biết tương tự như thế, nhưng nó có phương thức tiếp xúc riêng và bộ máy phản ứng riêng của nó.
Diana, the huntress, claimed the doe, because to her the doe is the intellect and man is the great seeker, the great hunter before the Lord. But the doe had another and more elusive form, and for this Hercules, the aspirant, sought. For a life cycle, we are told, he hunted. It was not the doe, the instinct, for which he looked; it was not the doe, the intellect, that was the object of his search. It was something else, and for this he spent a life cycle hunting. Finally, we read, he captured it and carried it into the temple, where it was claimed by the sun god [94] who in the doe recognized the spiritual intuition, that extension of consciousness, that highly developed sense of awareness, which gives to the disciple a vision of new fields of contact and opens up for him a new world of being. We are told that the battle is still going on between Apollo, the sun god, who knew that the doe was the intuition, Diana, huntress of the heavens, who knew it was intellect, and Artemis, the moon, who thought that it was only instinct. Both goddess claimants have a point and the problem of all disciples is to use the instinct correctly, in its right place, and in its proper way. He must learn to use the intellect under the influence of Diana, the huntress, daughter of the sun, and through it become en rapport with the world of human ideas and research. He must learn to carry that capacity of his into the temple of the Lord and there to see it transmuted into intuition, and
through the intuition become aware of the things of spirit and of those spiritual realities which neither instinct nor intellect can reveal to him. (And again and again the sons of men, who are also sons of God, must recapture these spiritual realities, upon the endless Way.) [95]
Diana, nữ thợ săn, tuyên bố con hươu cái của mình, bởi vì với nàng con hươu cái là trí tuệcon người là người tìm kiếm vĩ đại, người thợ săn vĩ đại trước Chúa. Nhưng con hươu cái có một hình thể khó nắm bắt hơn, và Hercules, người chí nguyện, phải tìm kiếm nó. Chúng ta được cho biết chúng ta phải tìm bắt nó trong cả kiếp sống. Nó không phải là con hươu cái bản năng, mà y tìm kiếm; nó cũng không phải là con hươu cái trí tuệ là đối tượng tìm kiếm của y. Đó là một cái gì đó khác, và vì điều này, y đã dành cuộc săn đuổi cả kiếp sống. Cuối cùng, chúng ta đọc thấy y bắt được nó và mang nó vào đền thờ, nơi nó được thần mặt trời tuyên bố sở hữu, người nhận ra trực giác tâm linh, phần mở rộng tâm thức đó, nhận thức phát triển cao, vốn ban cho các đệ tử một tầm nhìn vào các lĩnh vực tiếp xúc mới và mở ra cho y một thế giới mới của hiện hữu. Chúng ta được biết rằng trận chiến vẫn tiếp diễn ra giữa Apollo, thần mặt trời, người biết rằng con hươu cái là trực giác, Diana, nữ thợ săn của các bầu trời, người biết đó là trí tuệ, và Artemis, mặt trăng, người đã nghĩ rằng đó là chỉ bản năng. Cả hai nữ thần đều có lý và vấn đề của tất cả các đệ tử là sử dụng bản năng một cách đúng đắn, đúng chỗ của nó, và theo đúng cách của nó. Y phải học cách sử dụng trí tuệ dưới ảnh hưởng của Diana, nữ thợ săn, con gái của mặt trời, và thông qua nó trở nên hoà nhập với thế giới của những ý tưởng và nghiên cứu của con người. Y phải học cách mang năng lực của mình vào đền thờ của Chúa và ở đó thấy nó biến thành trực giác, và qua trực giác trở nên nhận biết được về những điều tinh thần và của những thực tại tinh thầnbản năng hay trí tuệ không thể tiết lộ cho y. (Và lần nữa và lần nữa, các người con của nhân loại mà cũng là những người con của Thượng đế, phải tìm bắt những thực tại tinh thần trên Con Đường vô tận.) [95] Trích dẫn từ Glamour, A World Problem
I. Definition of the Intuition
The intuition is not a welling1 forth of love to people and, therefore, an understanding of them. Much that is called the intuition is recognition of similarities and the possession of a clear analytical mind. Intelligent people who
1 phun ra; vọt ra; tuôn ra
have lived in the world for some time and who have experienced much and who have contacted many other people can usually sum up with facility the problems and dispositions of others, provided they are interested. This they must not, however, confound with the intuition.
I.− ĐỊNH NGHĨA TRỰC GIÁC
Trực giác không phải là việc tuôn đổ tình thương cho con người, và do đó, không phải là sự am hiểu về con người. Đa số những gì mà người ta gọi là trực giác chỉ là sự nhận biết về các chỗ tương đồng và có được một thể trí biết phân tích rõ ràng. Người nào thông minh, đã sống qua nhiều giai đoạn, trải qua nhiều kinh nghiệm, có dịp tiếp xúc với nhiều người khác, thường đều có thể thấu hiểu một cách dễ dàng các khó khăn và các khuynh hướng của kẻ khác, miễn là họ chịu khó để ý. Tuy nhiên, những người ấy đừng nên nhầm lẫn điều này với trực giác.
The intuition has no relation to psychism, either higher or lower; the seeing of a vision, the hearing of the Voice of the Silence, a pleased reaction to teaching of any kind does not infer the functioning of the intuition. It is not only the seeing of symbols, for that is a special sort of perception and the capacity to tune in on the Universal Mind upon that layer of Its activity which produces the patternforms on which all etheric bodies are based. It is not intelligent psychology, and a loving desire to help. That emanates from the interplay of a personality, governed by a strong soul orientation, and the group-conscious soul.
Trực giác không có liên quan gì với khả năng thông linh—dù cao hay thấp. Việc thấy được linh ảnh, nghe được Tiếng Nói Vô Thinh, phản ứng thuận lợi với giáo huấn thuộc bất cứ loại nào đều không có nghĩa là do tác động của trực giác. Đó không phải chỉ là nhìn thấy các biểu tượng, vì đó là một loại nhận thức đặc biệt và khả năng để điều hợp vào Toàn Linh Trí (Universal Mind) trên lớp hoạt động của Thiên Trí đó vốn tạo ra các nguyên hình làm nền móng cho mọi thể dĩ thái. Trực giác không phải là môn tâm lý học sáng suốt, và ước vọng để giúp đời bằng tình thương. Điều đó xuất phát từ sự tương tác của phàm ngã được điều khiển bằng sự định hướng mạnh mẽ của linh hồnlinh hồný thức tập thể.
Intuition is the synthetic understanding which is the prerogative of the soul and it only becomes possible when the soul, on its own level, is reaching in two directions: towards [3] the Monad, and towards the integrated and, perhaps (even if only temporarily) coordinated and at-oned personality. It is the first indication of a deeply subjective unification which will find its consummation at the third initiation.
Trực giác là sự hiểu biết tổng hợp vốn là đặc quyền của linh hồn và chỉ có thể có trực giác khi linh hồn, trên cảnh giới riêng của nó, đang hướng đến hai hướng: hướng về Chân Thần và hướng về phàm ngã tích hợp, và có thể (cho dù là chỉ tạm thời) là phàm ngã phối kết và nhất quán. Đó là chỉ dẫn đầu tiên về sự hợp nhất nội tại sâu xa vốn sẽ lên đến tột đỉnh ở lần điểm đạo thứ ba.
Intuition is a comprehensive grip of the principle of universality, and when it is functioning there is, momentarily at least, a complete loss of the sense of separateness. At its highest point, it is known as that Universal Love which has no relation to sentiment or to the affectional reaction but is, predominantly, in the nature of an identification with all beings. Then is true compassion known; then does criticism become impossible; then, only, is the divine germ seen as latent in all forms.
Trực giác là sự hiểu biết toàn diện về nguyên lý đại đồng, và khi trực giác tác động, ít nhất là tạm thời, sẽ có sự mất hẳn ý thức chia rẽ. Ở điểm cao nhất của nó, nó được nhận biết như là Tình Thương Đại Đồng (Universal Love) vốn không có sự liên quan gì với tình cảm hoặc với phản ứng lân cảm, mà chủ yếu có bản chất đồng hoá với muôn loài. Bấy giờ, lòng từ bi thực sự mới được biết tới; bấy giờ sự chỉ trích không còn nữa; và chỉ bấy giờ cái mầm mống thiêng liêng ẩn tàng trong mọi hình hài mới được nhận thấy.
Intuition is light itself, and when it is functioning, the world is seen as light and the light bodies of all forms become gradually apparent. This brings with it the ability to contact the light center in all forms, and thus again an essential relationship is established and the sense of superiority and separateness recedes into the background.
Trực giác chính là ánh sáng; khi trực giác tác động, thế giới được nhận thấy dưới hình thức là ánh sáng và các thể ánh sáng (light bodies) của mọi hình hài mới dần dần hiển lộ. Việc này đưa tới khả năng tiếp xúc với trung tâm ánh sáng trong mọi hình hài và như vậy một lần nữa mối liên hệ bản thể được thiết lập và ý thức về sự tự cao và sự chia rẽ lùi vào hậu trường.
Intuition, therefore, brings with its appearance three qualities:
Illumination. By illumination I do not mean the light in the head. That is incidental and phenomenal, and many truly intuitive people are entirely unaware of this light. The light to which I refer is that which irradiates the Way. It is “the light of the intellect,” which really means that which illumines the mind and which can reflect itself in that mental apparatus which is held
“steady in the light.” This is the “Light of the World,” a Reality which is eternally existent, but which can be discovered only when the individual interior light is recognized as such. This is the “Light of the Ages,” which shineth ever more until the Day be with us. The intuition is therefore the recognition in [4] oneself, not theoretically but as a fact in one’s experience, of one’s complete identification with the Universal Mind, of one’s constituting a part of the great World Life, and of one’s participation in the eternal persisting Existence.

Do đó, khi xuất hiện, trực giác mang theo với nó ba tính chất sau : Khai ngộ (Illumination). Khi dùng chữ khai ngộ, tôi không có ý nói ánh sáng trong đầu. Ánh sáng đó ngẫu nhiên và mang tính hiện tượng. Nhiều người có trực giác thật sự đều hoàn toàn không biết đến ánh sáng này. Ánh sáng mà tôi đề cập đến là ánh sáng tỏa chiếu Con Đường. Đó là “ánh sáng trí tuệ” vốn thực sự có nghĩa là những gì soi sáng trí tuệ và những gì có thể tự phản chiếu trong bộ máy trí tuệ đang được giữ “ổn định trong ánh sáng”. Đây là “Ánh sáng của Thế Gian”, một Thực Tại luôn luôn hiện hữu, nhưng chỉ có thể khám phá ra được khi ánh sáng nội tâm của cá nhân được nhận biết với tính cách như thế. Đây là “Ánh sáng Muôn Đời”, sẽ tỏa chiếu mãi mãi cho đến Ngày Hợp Nhất Với Chúng Ta (Day Be With Us). Do đó, trực giác là sự nhận biết trong chính mình, không phải bằng lý thuyết suông mà là như một thực tại trong kinh nghiệm của con người, với sự đồng hoá hoàn toàn với Toàn Linh Trí, với việc tạo thành một phần của Sự Sống Vĩ Đại Thế Gian và với việc tham dự của con người vào Sự Sống hiện tồn vĩnh cửu.

Understanding. This must be appreciated in its literal sense as that which “stands under” the totality of forms. It connotes the power of recession or the capacity to withdraw from one’s agelong identification with form life. I would like to point out that this withdrawal is comparatively easy for those who have much of the first ray quality in them. The problem is to withdraw in the esoteric sense, but to avoid at the same time the sense of separateness, of isolation and of superiority. It is easy for first ray people to resist the tendency to identify themselves with others. To have true understanding involves an increased ability to love all beings and yet, at the same time, to preserve personality detachment. This detachment can be so easily founded on an inability to love, in a selfish concern for one’s own comfort—physical, mental or spiritual, and above all, emotional. First ray people dread emotion and despise it, but sometimes they have to swing into an emotional condition before they can use emotional sensitivity in the right manner. Understanding involves contact with life as an integrated personality, plus egoic reaction to the group purposes and plans. It connotes personality-soul unification, wide experience, and a rapid activity of the indwelling Christ
principle. Intuitional understanding is always spontaneous. Where the reasoning to an understanding enters, it is not the activity of the intuition.

Sự Thấu Hiểu (Understanding).

Chữ này phải được hiểu theo nghĩa đen của nó là những gì đang “nằm phía dưới” (“stand under”) toàn thể các hình tướng. Nó hàm ý là khả năng rút lui hay là năng lực để rút ra khỏi sự đồng hóa lâu đời của con người với sự sống sắc tướng. Tôi xin nêu ra rằng sự triệt thoái này tương đối dễ với những kẻ có nhiều tính chất thuộc cung một. Vấn đề là triệt thoái theo ý nghĩa huyền linh, nhưng đồng thời phải tránh ý thức chia rẽ, ý thức cô lập và tự tôn. Đối với người thuộc cung một thì thật là dễ dàng khi chống lại khuynh hướng tự đồng hóa mình với những người khác. Việc có được sự cảm thông thực sự bao hàm khả năng ngày càng yêu thương mọi tạo vật tuy vậy đồng thời cũng duy trì được sự tách biệt với phàm ngã. Sự tách biệt này có thể được tạo ra một cách dễ dàng dựa vào việc thiếu khả năng yêu thương, chỉ quan tâm một cách ích kỷ đến tiện nghi riêng của chính mình – về vật chất, trí tuệ hoặc tâm linh, nhất là về mặt tình cảm. Người thuộc cung một, e sợ tình cảm và coi thường tình cảm, nhưng đôi khi họ phải chế ngự trạng thái tình cảm trước khi họ có thể dùng sự bén nhạy tình cảm theo đúng cách. Sự hiểu biết bao hàm việc tiếp xúc với sự sống với tư cách phàm ngã tích hợp, cộng với phản ứng của chơn ngã đối với các mục tiêu và kế hoạch của nhóm. Sự hiểu biết này bao hàm sự hợp nhất phàm ngãlinh hồn, kinh nghiệm rộng rãi và hoạt động nhanh chóng của nguyên khí Christ nội tại. Sự hiểu biết trực giác luôn luôn có tính cách tự phát. Khi nào lý luận chen vào sự hiểu biết, thì đó không phải là hoạt động của trực giác.

Love. As earlier said, this is not affectionate sentiment, or the possession of a loving disposition; these two later aspects are incidental and sequential. When the intuition is developed, both affection and the possession of a spirit [5] of loving outgo will, necessarily, in their pure form, be demonstrated, but that which produces these is something much more deep and comprehensive. It is that synthetic, inclusive grasp of the life and needs of all beings (I have chosen these two words with intent!) which it is the high prerogative of a divine Son of God to operate. It negates all that builds barriers, makes criticism, and produces separation. It sees no distinction, even when it appreciates need, and it produces in one who loves as a soul immediate identification with that which is loved.
These three words sum up the three qualities or aspects of the intuition and can be covered by the word, universality, or the sense of universal Oneness.

Tình thương (Love). Như trước đã nói đây không phải là tình cảm luyến ái hay việc sở hữu tính yêu thương; hai khía cạnh đó đều ngẫu nhiên và xảy ra tuần tự. Khi trực giác phát triển thì cả tình lân cảm lẫn việc sở hữu tinh thần yêu thương hướng ngoại, tất nhiên là trong hình thức thuần khiết của chúng, sẽ được thể hiện, nhưng những gì tạo ra hai điều này đều sâu xa và dễ hiểu hơn nhiều. Chính sự hiểu biết tổng hợp toàn thể về Sự Sống và nhu cầu của mọi sinh linh (tôi cố ý chọn hai từ này) là đặc quyền cao cả mà Người Con Thiêng Liêng Của Thượng Đế phải thực hiện. Sự hiểu biết đó gạt bỏ tất cả những gì tạo ra các cản trở, tạo ra sự chỉ trích và tạo ra sự chia rẽ. Tình thương không có sự phân biệt, thậm chí khi nó được nhận là cần thiết và nó tạo ra trong kẻ yêu thương sự đồng hóa tức khắc của linh hồn với những gì được yêu thương.
Ba từ này tóm tắt ba tính chất hay khía cạnh của trực giác và có thể được bao gồm bằng từ ngữ, tính phổ quát hay là ý thức về Tính Duy Nhất trong vũ trụ.

Dự thảo Báo cáo năm GQ1: Hồ sơ nội môn Tưởng Giới Thạch

GQ1.7   Hướng dẫn viết luận văn DHY: hồ sơ nội môn của một nhân vật nổi tiếng

BÀI LUẬN VĂN CẦN VIẾT TRONG “NỬA TỐI CỦA NĂM” (DHY)

Nhiệm vụ của bạn là viết một bài luận văn – một hồ sơ tâm lý học nội môn về một người nổi tiếng mà bạn chọn. Cơ bản, bài viết của bạn phải bao gồm có năm phần sau, nhưng vui lòng bao gồm thêm các phần bổ sung nếu bạn thấy cần thiết. Hãy làm cho bài viết của bạn đầy màu sắc, sử dụng các hình ảnh, các liên kết video, sơ đồ, v.v… Hãy yêu cầu trợ giúp từ mentor của bạn nếu bạn không chắc chắn làm thế nào để chèn hình ảnh hoặc liên kết video. Hãy làm cho bài viết của bạn gọn gàng, sử dụng các tiêu đề rõ ràng để độc giả cảm thấy dễ dàng khi đọc luận án của bạn. Tất cả các bài văn được chấp nhận được post lên cho mọi người đọc. Điều này có nghĩa rằng bạn không nên bao gồm trong bài văn của bạn nguyên văn của bất kỳ một trong các hướng dẫn dưới đây.

Hãy sử dụng năm tiêu đề dưới đây trong bài viết của bạn.

Các gợi ý được thực hiện để giúp bạn hình thành bài viết của bạn. Đây chỉ là những gợi ý.

CÁC KIẾN THỨC CẦN CÓ ĐỂ LÀM BÀI

(Các kiến thức Một người bình thường hay người tiến hóa chưa bước vào đường Đạo:: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạo con người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần)

BÀI LÀM

” TƯỞNG GIỚI THẠCH LÀ NHÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA
(CÁC NGUYÊN THỦ QUỐC GIA LUÔN LÀ NGƯỜI CÓ PHÀM NGÃ HỢP NHẤT)

I- Tiểu sử (Biography): TƯỞNG GIỚI THẠCH – Đài Loan – Trung Quốc (Tóm tắt tiều sử của nhân vật (ít nhất một trang giấy), bao gồm những chi tiết khiến nhân vật đó nổi tiếng. Thêm một hình ảnh của nhân vật)

Tưởng Trung Chính còn gọi là Tưởng Giới Thạch, là nhà chính trị và nhà quân sự nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cận đại. Ông sinh vào giờ Ngọ ngày 15 tháng 9 năm Quang Tự thứ 39 (tức ngày 31 tháng 10 năm 1887) tại hiệu muối Ngọc Thái, trấn Khê Khẩu, huyện Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang, mất tại Đài Bắc, đảo Đài Loan.

Tuổi thơ đã sớm thể hiện sự thông minh, thích hoạt động bạo lựcnăng khiếu lãnh đạo. Biểu hiện là thích múa nghịch dao gậy, gọi con nhà hàng xóm đến chơi trò chiến đấu, tự phong mình làm đại tướng chỉ huy, lên bục kể chuyện xưa, lấy đó làm niềm vui.

Thiếu thời: Tưởng Giới Thạch là người ham học, học rộng, hiểu nhiều. Lúc được 5 tuổi ( năm 1892 ) ông đã đi học trường tư. Ông còn đọc các sách giành cho người thành niên như “Đại Học“, “Trung Dung“, “Luận ngữ“, “Mạnh Tử“, “Lễ ký“. Từ năm 1896 ( 9 tuổi ), lần lượt đọc “Hiếu Kinh“, “Xuân Thu“, “Tả truyện“, “Thi kinh“, “Thượng thư“, “Dịch Kinh“. Thời kỳ thanh niên và trung niên, Tưởng Giới Thạch học tập giáo lý Trung Quốc, việc tiếp nhận tri thức hiện đại là rất ít. Sớm biểu lộ lòng yêu nước và sớm phát khởi lòng yêu nước bằng con đường vũ trang, đấu tranh giải phóng quần chúng khỏi lầm than. Năm 1906, ông đã có ham muốn được học tập quân sự tại Nhật Bản, nhưng phải đến năm 1908, ông mới chính thức được sang Nhật Bản học tập quân sự tại trường Shinbu Tokyo. Ngoài ra, ông cũng luôn học về quân sự khi có điều kiện. Do học giáo dục quân sự khiến cho Tưởng Giới Thạch có tư duy quân sự hóa cao.

Tham gia quân đội năm 22 tuổi (1909), Tưởng Giới Thạch lần đầu gặp Tôn Trung Sơn, đàm luận quốc sự. Đây là sự kiện lớn đánh dấu sự khởi đầu binh nghiệp trai trẻ rất hợp thời vận của ông, giúp ông phát huy được năng lực, sở trường với ý chí mạnh mẽ là cần phải làm Cách mạng chống lại áp bức trong nước của chính quyền đang trên đà mục nát, và sự xâm lược của Nhật Bản, Anh, Pháp. Liên tục gặp quá trình khủng hoảng quốc gia, dẫn thới các thành bại niên tiếp trong binh nghiệp của ông, có vài lần phải trốn tránh lánh nạn bắt bớ vì xa cơ lỡ vận.

Tham gia chính trị và nổi tiếng do có sự dũng cảm và lòng trung thành với Tôn Trung Sơn, người đứng đầu Quốc Dân Đảng, một đảng mạnh mẽ của Trung Quốc lúc bấy giờ. Năm 1922 ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Đông Lộ Thảo Tặc Quân. Các năm tiếp tuy theo liên tiếp được thăng chức, nhưng cũng lắm hiểm nguy và sáo trộn mạnh mẽ do nội bộ đảng mất đoàn kết, thậm trí làm phản, lại thêm sự kiện năm 1925 nhà lãnh đạo Tôn Trung Sơn từ trần tại Bắc Kinh, càng làm nội bộ rối ren, chia rẽ, chinh phạt lẫn nhau. Cũng năm 2025, Tưởng Giới Thạch đắc cử làm ủy viên thường vụ Ban chấp hành trung ương đảng khóa II – Quốc Dân Đảng.

Ông lãnh đạo quân đội Quốc Dân Đảng Bắc phạt, dù lãnh đạo và chiến đấu liên tục, nhưng do nội bộ đảng chia rẽ, binh lực của Quốc Dân Đảng phân tán, mất đoàn kết và chia rẽ mạnh mẽ, nên cuộc chinh phạt bị thất bại, ông tuyên bố từ chức để giảm chia giẽ và giữ đoàn kết nội bộ, ông về quê nghỉ dưỡng.

Tưởng Giới Thạch đã trải qua nhiều đời vợ. Ông lấy vợ từ rất sớm, nhưng chỉ có người vợ đầu là danh chính ngôn thuận, được dòng tộc tín nhiệm cao và bảo vệ mỗi khi bà bị Tưởng Giới Thạch bạc đãi, nhất là khi ông đòi ly hôn không có lý do chính đáng, mục đích là để hợp thức hóa vợ khác hoặc lấy vợ mới. Tưởng Giới Thạch còn ít nhất 2 bà vợ khác (Theo truyện Bí mật cuộc đời Tưởng Giới Thạch), đều là lấy theo cảm hứng và có phần thúc đẩy vì nhu cầu nhục dục thấp kém, vì sắc đẹp, trong đó có một người vợ là kỹ nữ lầu xanh xinh đẹp nổi tiếng. Người cuối cùng ông lấy làm vợ vào tháng 12/1927, là Tống Mỹ Linh, kết hôn tại Thượng Hải. sau khi vượt qua được sự cấm cản, kịch liệt phản đối của Mẹ Tống Mỹ Linh, vì Tưởng Giới Thạch đã chứng minh được rằng ông đã ly hôn và hứa rằng, sau này ông sẽ chuyển từ Đạo Phật qua Kitô Giáo của bà Tống Mỹ Linh và gia đình (Nguồn). Theo sử sách thì đây cũng là đám cưới mang mục đích chính trị rõ rệt, nhưng rõ dàng là có lợi cho chính ông và cho chính trường Trung Quốc bấy giờ, bởi sự giầu có và uy tín tầm cỡ quốc gia của gia đình, dòng tộc bà Tống Mỹ Linh. Điều này được chứng minh rất rõ theo sử sách ghi lại, đây là một khởi đầu xây dựng lại uy tín chính trị của Tưởng Giới Thạch, phần lớn dựa vào phía nhà vợ, là tài chính của nhà vợ và những cuộc “vận động hành lang” thành công giúp Tưởng Giới Thạch đứng vào hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thời bấy giờ.

Cuộc hôn nhân với Tống Khánh Linh ban đầu mang đậm mầu sắc chính trị, nhưng sử sách cũng chứng minh rằng bà Tống Mỹ Linh cũng thể hiện tố chất chính trị mạnh mẽ, thông minh tuyệt vời, xứng tầm là Đệ nhất phu nhân, đã cùng dòng tộc giúp sức cho Tưởng Giới Thạch rất nhiều trên con đường chính trị. Ngoài ra, do trung ương Quốc Dân Đảng còn tín nhiệm cao đối với ông, lên đã bầu ông là ủy viên trung ương, mời ông tiếp tục tham gia lãnh đạo cách mạng, tiếp tục giữ nhiều chức vụ lãnh đạo cao cấp trong quân đội, chiến đấu bắc phạt thành công, thống nhất quốc gia. Tháng 10/1928, Tưởng Giới Thạch nhậm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc Dân.

Thời bình của Quốc Dân Đảng chẳng được bao lâu, việc kiến thiết và giải trừ Đảng Cộng Sản Trung Quốc được tiến hành. Do nội bộ tiếp tục mất đoàn kết, một lần nữa ông lại vì thúc đẩy đoàn kết trong đảng, Tưởng Giới Thạch đã chủ động từ chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân, dời Nam Kinh về quê. Tuy nhiên, việc từ chức chẳng mang lại đoàn kết trong đảng như Tưởng Giới Thạch mong muốn. Năm 1932, do vẫn có uy tín trong đảng, ông lại giữ chức ủy viên trưởng Ủy ban Quân sự Chính phủ Quốc dân kiêm Tổng tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu của Quốc Dân Đảng, rồi sử lý bình ổn xung đột nội bộ, đồng thời chỉ đạo cùng lúc ứng đối thù trong giặc ngoài để loại trừ phe Đảng Cộng Sản và kháng Nhật xâm lược.

Năm 1936, Tưởng Giới Thạch bị buộc phải chấp nhận đình chỉ nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất trí chủ trương kháng Nhật, bắt đầu Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhì. Thời kỳ này cũng vẫn tồn tại nội chiến và chiến tranh với Nhật bùng phát.

Năm 1939, Tưởng Giới Thạch được Quốc Dân Đảng bầu làm ủy viên trưởng, thống nhất chỉ huy chính phủ – quân đội.

Năm 1943, Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Lâm Sâm từ trần, Tưởng Giới Thạch được bầu kế nhiệm. Cùng năm, bốn quốc gia là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô tại Moskva ký kết tuyên bố chung, mặt trận phản xâm lược ngày càng được củng cố.

Năm 1945, Tưởng Giới Thạch thay mặt Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Liên Xô ký kết Điều ước Đồng minh Hữu hảo Trung-Xô. Tháng 12/1945, Tưởng Giới Thạch buộc phái ký kết “Hiệp nghị về biện pháp đình chỉ xung đột quan sự quốc nội ( Với Đảng Cộng Sản). Thời bình chẳng được lâu, tháng 7/1947, Tưởng Giới Thạch ban bố lệnh bình cộng dẹp loạn, nội chiến tiếp tục.

Tháng 5/1948, Tưởng Giới Thạch nhận chức Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc khóa 1. Ông tiếp tục duy trì cuộc chiến chống Cộng, tuy nhiên tình thế lại đảo ngược, Đảng Cộng Sản giành ưu thế mạnh mẽ, dù đã lỗ lực kháng cộng mạnh mẽ, nhưng tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch và Chính Phủ Quốc Dân chuyển đại bản doanh về Đài Bắc, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước.

Tại Đài Loan, Chính Phủ Tưởng Giới Thạch lại thành công trong bình ổn chính trị, ngoại giao và phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đến năm 1971, do uy tín trên trường quốc tế giảm sút, do tình hình quốc tế bất lợi. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Hoa Dân Quốc bị buộc rời khỏi Liên Hiệp Quốc, thay vào đó là Chính Phủ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đài Loan không còn là quốc gia độc lập nữa.

Ngày 5/04/1975, trên cương vị Tổng Thống nhiều khóa của Đài Loan, Tưởng Giới Thạch đột ngột phát bệnh Tim, nên từ trần.

( Xin trích từ bài báo đáng tin cậy: Bởi thông tin được trích từ quyền nhật ký do Tưởng Giới Thạch trực tiếp ghi chép, được chính gia đình Tưởng Giới Thạch chuyển giao cho Viện Hoover công bố tại Mỹ, giới học thuật mới bắt đầu thay đổi ấn tượng đã ăn sâu về Tưởng Giới Thạch lâu nay. Họ sững sờ phát hiện ra “kẻ độc tài” mà chính phủ Trung Quốc rêu rao bao năm qua thực ra là một vĩ nhân, thẳng thắn, cương trực, đường hoàng, đạo đức.

Jay Taylor là một nhà ngoại giao lâu năm, từng 2 lần đảm nhiệm chức vụ đại sứ Mỹ tại cả Trung Quốc và Đài Loan. Sau khi xem xong cuốn “Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ông mới hiểu được họ Tưởng đã cống hiến biết bao mồ hôi, tâm huyết cho đất nước, dân tộc. Từ đó ông trở thành một học giả phương Tây kêu gọi “bình phản” (lấy lại công bằng) một cách toàn diện cho Tưởng Giới Thạch.

Trong bài báo có nói, giới học giả nhận xét “So với Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch chính là một chính nhân quân tử có nhân cách vô cùng cao thượng “ Xem nguồn ” )

+ Tóm lược công và tội: Tuy có ý kiến trái chiều, nhưng sử sách đã ghi, vào tháng 12 năm 1971, Mao Trạch Đông (Đảng Cộng Sản đối lập với Quốc Dân Đảng) khi đàm thoại nội bộ có nói “Tưởng Giới Thạch có một số ưu điểm là sự thực lịch sử khách quan, chúng ta giảng sử cần phải lưu tâm, một là Bắc phạt thống nhất Trung Quốc, hai là Chiến tranh kháng Nhật, ba là thu hồi Đài Loan-Bành Hồ, bốn là mở mang biên cương trên biển. Đó dù sao cũng là thành tích của một lãnh tụ quốc gia mới có thể làm được. Ông xứng đáng là anh hùng của dân tộc Đài Loan (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia về Tưởng Giới Thạch, mục Đánh giá)

Nguồn tham khảo thêm: Xem tại đây

II- Bạn đặt nhân vật đó ở vị trí nào trên Đường Đạo: (Xin nêu bằng chứng về chọn lựa của bạn, những gì mà bạn đã thấy hay đã đọc về người đó);

+ Tưởng Giới Thạch là người tiến hóa cao chưa bước vào đường đạo: Với người mà Tâm thức chưa phát triển trên đường đạo thì bị thể hạ trí dù phát triển nhưng vẫn mang nặng tính tranh đua và chia rẽ, luôn vì cái Tôi nhỏ mọn, rộng hơn thì chỉ vì gia đình, dòng tộc của mình ngự trị trong tâm, thì không thể làm việc lớn trong tổ chức lớn hay quốc gia đại sự. Theo tôi, Tưởng Giới Thạch có Phàm ngã hợp nhất các thể thấp đã phát triển, theo đó thượng trí cũng phát triển nên ông mới có Tâm thức rộng mở, sẵn lòng vì dân vì nước theo lý tưởng cách mạng của mình. Ngay thời trẻ, năm 22 tuổi ông đã chủ động tìm gặp Tôn Trung Sơn – Lãnh đạo của Quốc Dân Đảng, người đứng đầu một đội quân chiến đấu mạnh mẽ, có tổ chức chặt chẽ để bàn truyện quốc gia đại sự, để tham gia đảng phái để có sức mạnh tổng hợp vì mục đích cứu nguy, phải phóng dân tộc đem lại tự do, hòa bình, ấm lo cho nhân dân.

Suốt thời kỳ trung niên, ông tuy đã ở vị trí lãnh đạo cấp cao, hàng đầu trong đảng phái của mình, nhưng vẫn sẵn sàng từ chức để giữ đoàn kết nội bộ. Đây cũng là biểu hiện của người có Tâm thức tiến hóa cao, sẵn sàng vì mục tiêu chung của quốc gia đại sự đã hiện diện trong ông, không phải một lần mà có vài lần từ chức vì mục tiêu chung như vậy.

Người tiến hóa cao thường có ý chí mạnh mẽ, thực tế ngay thời kỳ trung niên ông cũng trải qua thật nhiều biến cố thăng trầm liên tiếp, liên tiếp sảy ra, kèm theo gian khổ, thất bại, trốn chạy, tù đầy nhưng không làm ông nao núng tinh thần, bất chấp hiểm nguy đến tính mạng, luôn vì dân vì nước. Đây chính là biểu hiện ý chí mạnh mẽ, kiên cường, kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chảy xuyết suốt trong ông cho đến cuối đời.

Ông cũng được đánh giá là nhà lãnh đạo bảo hộ, luôn đề cao và quan tâm sâu sắc đến nền giáo dục quốc gia, cũng như bảo tồn, phát huy văn hóa tâm linh, biểu hiện dù chiến tranh loạn lạc, đói kém thế nào, các trường thuộc tất cả các cấp học đều được duy trì hoạt động tốt nhất có thể có được, thời buổi chiến tranh rộng khắp nhưng ông có chính sách giáo viên và sinh viên đại học không phải đi lính, ông không khuyến khích và thậm trí còn cấm giáo viên và sinh viên xung phong đi lính. Chính sách của ông trái ngược với chế độ Mao Trạch Đông là phá bỏ chùa chiền, cấm dân chúng sinh hoạt và tu tập tâm linh, dù họ là tôn giáo nào đi nữa. Ở các vùng địa chính trị do ông quản lý, hoạt động ở đó, các công trình tâm linh luôn được bảo vệ, tu bổ và khuyến khích dân chúng tu tập tâm linh.

+ Ông đã là một đệ tử dự bị: Ở thời điểm tuổi ngoài 60, ông là một phàm ngã tiến hóa thăng thượng, xứng đáng là một đệ tử dự bị. Xét

thời điểm Mỹ có lời đề nghị muốn giúp ông dùng Bom nguyên tử để phản công đại lục để thống nhất Trung quốc. Ông đang đương kim lãnh đạo Quốc Dân Đảng, đứng đầu một quốc gia (Quốc đảo), là người thống lĩnh lực lượng vũ trang quốc gia, hiển nhiên ông có vai trò rất lớn, thậm trí quyết định trong việc nhận sự giúp đỡ hay từ bỏ cơ hội sử dụng bom nguyên tử mà Mỹ muốn được giúp đỡ này. Ta thấy ông có ý chí thép khi quyết định rứt khoát từ chối sự giúp đỡ của Mỹ ”Dùng bom nguyên tử phản công đại lục để thống nhất đất nước Trung Hoa” tới 3 lần. Nếu ông có Phàm ngã chưa được Linh hồn soi sáng, hoặc ông theo hướng tiến hóa giáng hạ, ông sẽ tận dụng này triệt để cơ hội này, vì khả năng chiến thắng phe đảng cộng sản, thống nhất Trung Quốc hoàn toàn trong tầm tay, gần như chắc chắn, dĩ nhiên theo đó, ông sẽ là nhà lãnh đạo đứng đầu của Trung Quốc thống nhất, một quốc gia rộng lớn hàng đầu thế giới, một hào quang sáng chói mà không mấy phàm ngã phát triển có thể lựa chọn sáng suốt như vậy. Chỉ có phàm ngã đang trên con đường tiến hóa thăng thượng, đã được linh hồn soi sáng mới giúp ông nhất quyết từ chối với ý chí và chí phân biện sâu sắc, là do ông quyết không dùng sinh mạng của người dân để đổi lấy việc đạt mục tiêu cá nhân hay đảng phái của mình. (Xin trích đoạn của Chân Sư DK: Vận mệnh của mỗi quốc gia nằm trong tay các vị lãnh đạo quốc gia đó)

+ Tôi loại bỏ khả năng ông đã là một điểm đạo đồ: Một điểm đạo đồ phải là người đã được Linh Hồn dẫn dắt, theo đó Cung 2 tình thương đại từ đại bi, đã giúp phàm ngã xóa bỏ vô minh, hiểu rõ luật Nhân Quả, cuộc sống luôn hướng vào công việc phụng sự thế gian bằng Bác Ái – Minh Triết, với lòng phụng sự vô kỷ, không hề phân biệt bạn, thù, đảng phái kể cả giữa các dân tộc, quốc gia, bởi Tâm thức Linh hồn là bao gồm, do đó không cho phép người đó chủ động sử dụng các hành động chiến đấu vũ trang, cho dù là để giải phóng nhân dân, dân tộc khỏi áp bức, bóc lột ….., mà thực chất vẫn là đấu tranh đảng phái, nội chiến tàn sát lẫn nhau. Thực tế, tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch khi thua cuộc, đã phải rút binh lực ra đảo Đài Loan, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước. Do đó, Tưởng Giới Thạch không phải là một Điểm Đạo Đồ.

Tóm lại: Ngay giai đoạn trung niên ông đã chứng tỏ mình là người có ý chí mạnh mẽ, phàm ngã hợp nhất của người đã tiến hóa cao trước thềm vào đường đạo, nhưng chưa được năng lượng Linh hồn soi sáng và dẫn dắt đáng kể, bằng chứng là suốt đời ông luôn lựa chọn và trung thành với khẩu hiệu đấu tranh võ trang để thống nhất đất nước, tức duy trì nội chiến để giành tự do, ấm lo cho nhân dân, cho dân tộc theo đường lối ý chí của phe mình. Rõ ràng đây không phải là tố chất của Linh HồnLinh Hồn luôn thấu hiểu luật Nhân Quả, do đó không bao giờ chọn đấu tranh võ trang mạnh mẽ, đây lại là nội chiến để tìm kiếm hòa bình, thịnh vượng cho phe mình. Tuy nhiên, chúng ta xem hành động Ông không chấp nhận lời đề nghị của Hòa Kỳ nêu trên. Ở đây rõ ràng biểu hiện của của Phàm ngã tiến hóa cao, đã được Linh hồn soi sáng ít nhiều, dấu hiệu của Linh Hồn cung 2 – Minh Triết đã hiển hiện trong ông, khi ông đã ở tầm tuổi 60, tuổi mà kinh nghiệm học hỏi việc đời đã đủ chín để Phàm ngã tiến hóa tìm kiếm an vui rộng lớn hơn, ông xứng đáng là Đệ tử dự bị hoặc Đệ tử bắt đầu vào cửa Đạo.

III- Hồ sơ các cung của nhân vật Đối với mỗi cung, hãy cung cấp các bằng chứng cho sự lựa chọn của bạn. Sẽ tốt hơn nếu bạn có thể cung cấp hình ảnh, hoặc các link video để giải thích cho sự lựa chọn của bạn ).

Biểu Đồ CungBản Đồ Cung

1- Cung thể xác – dĩ thái: Tưởng Giới Thạch có thể xác:  Thể Xác Cung 7

Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch chụp ảnh sau lễ khai giảng Trường quân sự Hoàng Phố năm 1924. Tưởng Giới Thạch mặc lễ phục quân trang toàn thân, 1940. Tưởng Giới Thạch – Lý Tông Nhân trong lễ nhậm chức Tổng thống, Phó Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, ngày 20/ 5/ 1948

Ông có thể xác Cung 7 lên có dáng người nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, thích hợp bị gò bó bởi kỷ luật, kỷ cương, các đặc điểm này gắn liền với ông từ nhỏ. Cuộc đời binh nghiệp thì hiển nhiên là nơi kỷ luật thép được thực thi, tức với giờ giấc và trình tự, nghi lễ, ông luôn phải là tấm gương, mới có thể phù hợp với những người lãnh đạo trong quân đội, và thực tế ông luôn là người lãnh đạo hàng đầu trong mọi thời kỳ, các điều này  chứng minh rằng ông có thể xác cung 7 là phù hợp.

2- Cung thể cảm dục: Ba loại Thể Cảm Dục Cung 2 – Thể Cảm Dục Cung 4 – Thể Cảm Dục Cung 6

+ Xét với Thể cảm dục Cung 2:  Bạn có thể xem xét sự từ chối một cách vô ngã hơn (2)? Nếu bạn bị phản bội bởi người mà bạn yêu thương và tin tưởng: có phải bạn bị thất vọng và tổn thương sâu sắc, nhưng mặt khác bạn lại lặng lẽ không có phản ứng (2); Có phải bạn đã đang cố gắng để thay đổi hành vi của bạn vì những phản ứng hung hăng và sự giận dữ của bạn đã đưa bạn vào rắc rối trong quá khứ, và bây giờ bạn được thanh thản hơn và có khả năng dốc hết lửa của bạn vào sự khát vọng hay sự cống hiến cho điều tốt cao cả hơn?

– Về đời sống tình cảm, vào lúc 40 tuổi, ông cưới vợ thứ 4 là Tống Mỹ Linh, Tưởng Giới Thạch cùng ngày cưới phát biểu trên báo rằng “hôm nay được kết hôn với Mỹ Linh hết sức kính ái, là một ngày quang vinh nhất, hân hoan nhất từ khi sinh ra tới nay”; ông tin sâu sắc rằng đời người nếu không có nhân duyên mĩ mãn, tất cả đều vô ý vị, do đó cách mạng bắt đầu từ gia đình. Đây cũng chứng tỏ, dù là thể cảm dục cung 2, nhưng tính bao gồm trong ông vẫn hạn chế, vẫn đề cao cuộc sống tìm cảm, nhục dục.

+ Xét với Thể cảm dục Cung : (Bạn có cho là sự việc mang tính cá nhân nếu có ai đó từ chối một cái gì đó quan trọng đối với bạn; Là người luôn có những khao khát sâu đậm, đam mê một cách rất mãnh liệt, phản ứng và hung hăng, tức giận và ghen tuông, luôn đề cao và chăm lo quyền lợi cá nhân).

– Điều này không phù hợp, thậm trí trái ngược với Tưởng Giới Thạch, bởi nếu người mang năng lượng cung 6 thì sự tham đắm đời sống hữu tình, đặc biệt với tuổi trẻ sẽ không thể là người, mà từ thời niên thiếu, dù không bị áp lực nào, ông đã chủ động khởi nuôi ý chí lớn, vì dân vì nước, chọn tham gia quân đội, học quân sự để về tham gia chiến đấu, với mục tiêu mong muốn đóng góp sức mình, kể cả hy sinh tính mạng để giúp dân, giúp nước, để sớm kết thúc nội chiến, thống nhất đất nước.

3- Cung Thể trí tuệ (Cách bạn suy nghĩ, hoạch định, phân tích, tạo hình tư tưởng và truyền đạt tư tưởng của bạn): Thể Trí Cung 1Thể Trí Cung 4Thể Trí Cung 5 và Bảng (Bảng CTTuệ 1-4-5)

+ Xét với Thể trí Cung 1: Như trên đã nói, ông thuộc dạng người tiến hóa, đương nhiên là người có thể Trí đã phát triển, tất nhiên thể cảm dục được thể trí phát triển dẫn dắt. Ông là người thông minh, từ bé đã thích các trò chơi mà bản thân luôn thích ở vị trí lãnh đạo người khác, lại kết hợp với thể cảm dục cung 2 – Minh triết. Theo mô tả “Một thể trí kiên quyết trong tư tưởng, thể trí quả quyết, nhất tâm, thực tế”, điều này hoàn toàn đúng với ông, bởi ở cái tuổi còn rất trẻ (1906, mới 19 tuổi), ông được mô tả “Tưởng Giới Thạch quyết chí tham gia cách mạng, tự cắt đuôi sam, nhờ bạn báo tin cho gia đình để thể hiện quyết tâm này”, do ông đã có cái nhìn về sự suy tàn của chế độ nhà Thanh, trong nước nội chiến liên miên khiến ông quyết trí học quân sự để giúp thống nhất đất nước, chứng tỏ cung 1 hiện diện trong ông. Ông là người có ý chí mạnh mẽ, vì dân vì nướcbiểu hiện năng lực trí tuệ, quả cảm từ rất sớm (22 tuổi) đã gặp Tôn Trung Sơn, đang lãnh đạo đội một quân lớn chiến đấu, để bàn bạc phương cách đấu tranh, thống nhất đất nước. Ngoài ra, ta nhận thấy sự thăng trầm trong chiến đấu, với chiến thắng đan xen thất bại liên miên, liên tiếp nhưng ông rất bền bỉ, quyết chí chiến đấu đến cùng để thống nhất đất nước, cũng là một đặc điểm của cung 1 hiện diện trong ông >>> Tưởng Giới Thạch có Thể trí Cung 1, Cung 1 Ý chí, quyền lực;

+ Tôi thử xem xét người có Thể trí Cung 4, cung 4 – Hài hòa qua xung đột: Đặc điểm Thể trí cung 4 là người do dự, nước đôi, hay là người “không chia rẽ, làm cầu nối, liên kết, làm trung gian, hòa giải, phân giải”, hai điều này chắc chắn không hợp với người chiến binh, lại ở vị trí tổng chỉ huy chiến đấu biết bao trận chiến, chiến thắn cả quân Nhật xâm lược, thống lãnh Trung Quốc hơn 20 năm. Hay là trong trường hợp ông không có khả năng thuyết phục, dung hòa nội bộ giữa các lãnh đạo cấp cao trong đảng Quốc dân của ông, lên ông có ba lần từ bỏ chức vụ cao của mình về quê nghỉ ngơi để nhường chức vị cao nhất cho người khác, vì mục đích giữ đoàn kết nội bộ trong đảng (Đây cũng chứng tỏ cung 2 – Minh triết hiện diện trong ông). Do vậy, tôi cũng loại trừ thể trí cung 4 trong ông.

+ Tôi thử xem xét ông có Thể trí Cung 5: Cung 5 có điểm nổi bật mà người thể trí cung 5 thường không thể có là ”Thiếu trí tưởng tượng và thiếu trực giác theo đúng nghĩa”, cũng vì do có tính khoa học cao, đòi hỏi sự chính xác tỷ mỷ đến từng chi tiết, cho lên thường không thể tin vào tâm linh (PhậtBồ Tát, chùa chiền). Thể trí cung năm “Nó bất kính, hoài nghi đối với nhà Thần bí và người tu hành”, trong khi Tưởng Giới Thạch sinh ra trong gia đình có truyền thống theo đạo Phật, bản thân ông cũng là một Phật tử từ nhỏ, kể cả đến khi lấy vợ, do áp lực phải từ bỏ đạo Phật để theo Cơ Đốc Giáo mới được gia đình nhà gái chấp thuận cưới (bà Tống Mỹ Linh – 1927), ông cũng không rễ ràng từ bỏ đạo Phật.

– Chúng ta xem đoạn văn mô tả về sự tín ngưỡng của ông: ” Vào tháng 1 năm 1049, quân giải phóng đang trên đà thắng lợi, vương triều họ Tưởng sắp sửa bị tiêu diệt …., ông vào trong đại điện, nới thờ Bồ Tát, tự mình thắp hương, trong tâm yên lặng cầu nguyện, rồi rút một thẻ trong cốc, tìm Sư trụ trì chùa giảng nghĩa, kết quả không hay, lính thị vệ nói: Loại sự việc như thế này không tin tưởng được, Tưởng Giới Thạch nghiêm giọng nói: KHÔNG ĐƯỢC PHÉP NÓI BỪA, BỒ TÁT Ở MIẾU VŨ SƠN RẤT LINH ĐÓ, và kết quả quả thực linh ứng. Do đó, tôi loại trừ Tưởng Giới Thạch có thể trí cung 5 (Xem sách: Bí mật cuộc đời và gia thế Tưởng GiớiThạch_Tr 57-58)

4- Cung phàm ngã ( Gồm: Phàm Ngã Cung 1 – Phàm Ngã Cung 2 – Phàm Ngã Cung 3 – Phàm Ngã Cung 4 – Phàm Ngã Cung 5 – Phàm Ngã Cung 6 – Phàm Ngã Cung 7)

Căn cứ vào các chỉ dẫn chủ yếu trong GQ1, gồm: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạo con người qua thể xác, thể tríthể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần.

Cách mà bạn khẳng định uy quyền của bạn, cố gắng kiểm soát người khác, các cungthấp là cung phụ của Cung Phàm ngã. Khi cung Phàm ngã hiện hữu, nó nhuộm màu các cung thấp……..Chúng ta thường xác định cung Phàm ngã là cung mang lại sự cân bằng, thống nhất các thể qua thể trí tiến bộ, hoạt động mạnh mẽ_Theo thiết lập biểu đồ cung GQ1.

Tâm thức phàm ngã là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạoTrạng thái này tác động trong vật chấtchất liệu để tạo ra các hình tướng mà qua đó phẩm tính có thể tự biểu lộ, và nhờ thế thể hiện bản chất thiêng liêng trên cõi hiện tượng (Xem: Tâm thức – Tâm thức Phàm ngã – Linh hồn – Chân thần GQ1).

– Các Phàm ngã tách biệt và chia rẽ: và đây là định nghĩa thông dụng nhất cho “phàm ngã”. Định nghĩa này xem mỗi con người như là một nhân vật. Nhưng thực ra, nhiều người chỉ là những con vật với các xung lực cao còn mơ hồ; trong khi những người khác là những người trung bình, bị ảnh hưởng bởi bản chất ham muốn của họ hoặc bởi những ý tưởng vốn không phải là của riêng họ.

– Các Phàm ngã là những người được phối kết và được tích hợp. Họ khỏe mạnh về thể chất, có sự kiểm soát cảm xúc, phát triển về trí tuệ, và đã hoàn chỉnh công cụ tuyến (glandular). Các tính chất thể xác, tình cảm và trí tuệ được hợp nhất và hoạt động như là một, tạo ra một bộ máy lệ thuộc vào ý chí của phàm ngã. Chính ở giai đoạn này xảy ra một khuynh hướng thiên về chính đạo hoặc thiên về tả đạo.

– Phàm ngã là những người của vận mệnh: họ có đủ sức mạnh ý chí để rèn luyện bản chất thấp sao cho họ có thể thực hiện một vận mệnh mà họ nhận thức một cách vô thức. Họ được chia thành hai nhóm: Những người không có sự tiếp xúc với linh hồn: họ bị thôi thúc tiến đến vận mệnh của họ bởi một ý thức về quyền lực, tự ái, tham vọng cao quý, một phức hợp tự tôn, và sự quyết tâm đạt đến đỉnh cao nhất của ngành nghề cụ thể của họ. Những người tiếp xúc với linh hồn ở mức độ nhỏ, mà phương pháp và động cơ của họ là một hỗn hợp của tính ích kỷ và tầm nhìn tâm linh.
Xem nguồn GQ 1: Mục tiêu tinh thầnCon người, TâmThức – Tâm Thức AryaCon người Thông minh

– Phàm ngã có thể dần dần cảm thấy được vận mệnh của mình. Những người có Phàm ngã phát triển cao đều có năng lực ý chí đủ mạnh để khuất phục phàm tính của mình theo giới luật, để chúng có thể hoàn thành vận mệnh đưa chúng đến đỉnh cao thành đạt của phàm ngã.

Thế giới ngày nay có vô số nhân vật. Chúng ta thấy những người nam và nữ đã thống nhất và phối hợp trong tâm tính, nhưng họ vẫn chưa ở dưới ảnh hưởng linh hồn của mình. Ý chí cá nhân và tình thương vị kỷ là yếu tố mạnh mẽ trong đời họ, và họ bắt đầu ảnh hưởng đến môi trường sống của mình để mang lại những thành tựu có ý nghĩa. Họ chịu sự thôi thúc tiến tới hướng về vận mệnh của mình bởi ý thức về quyền lực, ước muốn những điều cao thượng, sự tự tin không hề lay chuyển, và quyết tâm đạt đến đỉnh cao thành công trong cố gắng của mình.

Linh hồn kêu gọi phàm ngã. ‘Tiếng nói của linh hồn’ không những được Phàm ngã nghe như tiếng nói, mà nó còn biểu hiện thành những sự hấp dẫn và quan tâm đặc biệt, cũng như những hoàn cảnh và cơ hội đặc biệt được mang đến cho ý thức của phàm ngã. Tuy nhiên, cũng có thể Phàm ngã không nghe, thấy hay nhận thức được sự thôi thúc thiêng liêng này. Những mối bận tâm của Phàm ngã khiến cho ‘sự can thiệp thiêng liêng’ của linh hồn… bị lệch hướng. Vì đã tự cho mình là trung tâm của ý thức, nên Phàm ngã không muốn từ bỏ vị thế đó.” Xem nguồn Tâm thức – Các cõi: Tâm thức Phàm ngã

Như trên ta đã xác định ông có: Thể Xác Cung 3 và đã loại trừ Thể xác Cung 7Thể cảm dục Cung 2 và đã loại trừ Thể Cảm dục Cung 6Thể Trí Cung 1 và đã loại trừ Thể Trí Cung 4Thể Trí Cung 5 >>> Cung Phàm Ngã theo nguyên tắc là CUNG QUÂN BÌNH của các Cungthấp. Ta xét tuần tự theo nguyên tắc loại trừ như sau:

+ Ta xét với Phàm ngã cung 1: “Mục tiêu của tôi là sử dụng quyền năng đang tăng trưởng và khả năng quản lý và lãnh đạo của tôi – thông qua chính quyền, chính trị hoặc pháp luật; để khuyến khích và giải phóng những người khác”. Điều này không thể với ông, vì như trên, ta nhận thấy ông có thể Trí Cung 1, nếu lại có Phàm ngã Cung 1, thì với người chưa được linh hồn soi sáng, sẽ là hủy diệt người dân để thỏa mãn dục vọng và mang đến vinh quang tột đỉnh cho bản thân nếu có cơ hội, vì tính ích kỷ vốn có của các bản chất thấp của con người, điều này rõ ràng không phù hợp, nếu chỉ xét về việc, ông từ chối thẳng thừng việc Hoa Kỳ đề xuất giúp ông dùng Bom Nguyên Tử để chiến thắng phía đảng Cộng Sản đang thắng thế, thì cũng đủ khẳng định ông không phải là người liều lĩnh, tàn bạo bất chấp tất cả. Nên khẳng định Cung 1 không phù hợp với tính cách của Tưởng Giới Thạch.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 2: “Mục tiêu của tôi là phát triển một sự hiểu biết – đầy yêu thương có tính sâu sắc và trực giác về con người, để tôi có thể giúp đỡ họ; hoặc trở nên toàn diện và thông thái để tôi có thể giảng dạy và soi sáng cho những người khác”. Cung 2 gồm 2 khía cạnh Bác Ái và Minh Triết.

– Ông có câu nói nổi tiếng: Nước bị diệt vong còn có thể phục hưng, nhưng văn hóa bị tiêu hủy thì tất cả đều bị hủy và, khi là lãnh tụ của đảo Đài Loan, ông đã phát động: Phục hưng văn hóa truyền thống Á Đông” Xem nguồn’. Một bằng chứng rất có giá trị Tâm linh là: Năm 1942, ông khởi sướng đại lễ quốc gia, ông mời được Hòa thượng đắc đạo Hư Vân Thiền Sư đến chủ trì lễ, và được Giúp TưởngGiới Thạch tiên đoán kết cục chiến tranh thế giới thứ 2. Cũng theo sử sách, Hòa Thượng Hư Vân, vào giữa mùa hè nóng lực, dân chúng dịch bệnh, người chết tràn lan, ông đề sướng và chủ trì tổ chức làm một đại lễ: CẦU ĐẢO ĐẠI TUYẾT, giúp trừ dịch bệnh, vào buổi chiều ngày thứ bảy của đại lễ, bầu trời đại tuyết tung bay, Lão Phật Gia Từ Hy Thái hậu thân chinh đến tận nơi đại lễ, Bà quỳ xuống nền tuyết cúi gập đầu hướng về phía vị cao tăng Hư Vân Hòa Thượng đang ngồi đọcThần Chú_Xem nguồn:.  Từ nhỏ ông theo Đạo Phậtnăng lượng cung 2 luôn hiện diện mạnh mẽ suốt đời trong con người Tưởng Giới Thạch. Trong sự nghiệp của ông, nhiều lần ông tham gia thành lập hay quyết định việc thành lập các trường đại học của quốc gia, từng làm Hiệu trưởng nhiều trường đặc biệt quan trọng hàng đầuquốc gia này. Trong chiến tranh, ông không cho phép sinh viên ra chiến trường, dù trong cả giai đoạn thua trận, hiếm người chiến đấu trên chiến trường. Điều này khẳng định trong ông luôn đề cao giao dục quốc dân là quốc sách hàng đầu, ngay cả đến cuối cuộc đời vẫn vậy. Trong giai đoạn trung niên, ở cương vị lãnh đạo cao cấp, những khi ông nhận thấy, nội bộ đảng phái của mình mất đoàn kết, họ có tranh quyền đoạt lợi với ông, giành giật tranh giữ vị trí chủ chốt trong đảng. Những khi đó, vì sự đoàn kết nội bộ, ông có ba lần chủ động từ quan rút lui khỏi chính trường, về ở ẩn chờ thời nhằm bảo vệ đoàn kết nội bộ, tránh bị chia rẽ trong đảng của ông (Khoảng năm 1925 khi đang là ủy viên thường vụ Quốc Dân Đảng, lãnh đạo quân đội chiến đấu chống phe cộng sản không thành công, do nội bộ mất đoàn kết và lựclượng phân tán; Lần 2 ông từ chức Chủ Tịch chính phủ Quốc Dân, về ở ẩn tại quê nhà, nhưng do vẫn có uy tín trong đảng, ông lại được mời tham gia và được bầu vào các vị trí lãnh đạo trong Đảng Quốc Dân). Tất cả các điều này nói lên ông có thể cảm dục Cung 2 Bác Ái – Minh Triếtthể hiện bởi tình thương sâu rộng trong phe phái mình, tạo ra sự khát khao cống hiến hết mình, đồng thời cũng thể hiện sự phân biệnminh triết sâu sắc, lên ông có sự kiên nhẫn, chịu đựng đặc thù của Cung 2, cho lên ông mới vì đoàn kết chung trong Đảng Quốc Dân, rễ ràng từ bỏ chức vụ cao để bảo vệ đảng của mình, mà với người thể cảm dục Cung 6 thường không thể làm được.

– Như vậy, năng lượng cung 2 đã hiện diện trong ông, nhưng nếu là Phàm ngã cung 2 – Bác Ái phát triển mạnh mẽ, thì ông sẽ không hăng hái lựa chọn đường nối đấu tranh võ trang để đạt mục đích, năng lượng cung 2 Bác Ái đầy yêu thương, cho lên trong chiến tranh, bên nào chịu đau đớn, chết chóc cũng đi ngược lại năng lượng cung 2. Nhưng thực tế, ngay từ thiếu thời cho đến cuối đời, đấu tranh võ trang luôn là ý chí của ông.

– Nếu xét về Cung 2 Minh triết, vì có hiểu biết với Tâm thức sáng tạo, lại có sức khỏe, thì người đó luôn có kỷ luật nhất định, hơn nữa, môi trường của ông là quân đội, cũng củng cố cho ông về tính kỷ luật kỷ cương, một dạng năng lượng cung 7, rất cần thiết với người lãnh đạo, tướng lĩnh.

Cho lên, ông có Phàm ngã cung 2, nhưng chắc chắn chỉ có khía cạnh Minh Triết của Cung 2 phát triển mạnh.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 3: “Mục tiêu của tôi là sáng tạo thông qua năng lực suy tư sâu sắc và lập luận cẩn thận, một hệ thống tư tưởng triết học toàn diện và hợp lý; hoặc áp dụng trí năng cực kỳ tháo vát và linh hoạt cho một số doanh nghiệp đầy thử thách về mặt trí tuệ. Sử dụng quyền năng của tôi để nói lên tiếng nói của lý trí và sự thông tuệ, và để đến giao tiếp với con người bất kể họ có thể hoạt động ở bất cứ trình độ nào, ý kiến chuyên môn bẩm sinh của tôi trong giới kinh doanh hay kinh tế – để phụng sự Thiên Cơ nhằm mang lại những điều thiện hảo lớn lao nhất”

– Theo mô tả, Phàm ngã cung 3 quan tâm đến hoạt động nghiên cứu cá nhân và nhóm của mình để phục vụ, cho dù là nhân loại rộng lớn, nhưng rõ ràng, trước tiên là cung 3 chỉ quan tâm đến chi tiết và lý luận, chỉ phù hợp với vị trí tham mưu, không phải tố chất lãnh đạo, nên không thểphát triển khả năng lãnh đạo, thống lãnh quân đội, cũng không yêu thích đấu tranh võ trang. Nếu đi với Cung 4 – Cung thích tranh đấu, thì cũng là tranh đấu cho cái ngã nhỏ lẻ, tính bao gồm chỉ ở lãnh đại đơn vị nhỏ. Nếu đi với thể trí Cung 1, thì kết hợp thành phàm ngã quyết đoán và liều lĩnh, nhưng chỉ vì bản ngã của mình, với tính bao gồm cũng của nhóm nhỏ mà thôi. Vậy cũng không phù hợp với ông, người từ thời trẻ đã giám đấu tranh vì tự do dân tộc bằng võ trang, suốt đời làm lãnh đạo > Phàm ngã Cung 3 không phải là của Ông.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 4: [rất hiếm] để giúp đỡ người khác hòa hợp và giải quyết sự xung đột trong cuộc sống của họ, để làm đẹp lên những gì xấu xí, để biểu lộ kịch tính của sự sống xinh đẹp một cách sắc sảo nhưng đầy đau khổ trong tất cả sự rung động của nó.

– Theo mô tả, chắc chắn trong ông không có năng lượng của cung 4, bởi đấu tranh võ trang luôn là cách ông chọn để “giải phóng áp bức, làm đẹp cho đời”, không phải là năng lượng biểu diễn đẹp đẽ sắc sảo, mà là đầy xung đột và đơn đau thể xác của muôn người, trái ngược với năng lượng cung 4, chỉ nhằm cần bằng một phạm vi, lĩnh vực nào đó trong con người hay nhân loại.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 5: Mục tiêu của tôi là sử dụng chuyên môn khoa học và các sức mạnh trí tuệ của tôi giống như tia laser để khám phá ra chân lý khoa học mới nhằm đưa ra sự thật và loại bỏ sai lầm; sử dụng khả năng đang phát triển của tôi để lãnh đạo và điều khiển những người khác, để mang lại điều tốt đẹp nhất trên Trái Đất (5 chuyển sang 1).

– Năng khiếu của một nhà nghiên cứu, khoa học với ông là không thể hiện rõ nét. Nếu xét trong trường hợp cung 5 đang chuyển hóa sang cung 1 – Lãnh đạo người khác, thì sự lãnh đạo này cũng chỉ là tổ chức của đơn vị, bộ phận nghiên cứu phát triển, tức không phù hợp với một đơn vị chiến đấu hay chính trị, bởi người cung năm thường tự cô lập mình, kể cả kết hợp cung 1 thì sự cố lập này càng mạnh thêm mà thôi, ở địa vị tự tách mình ra khỏi tổ chức thì không phù hợp với lãnh đạo chính trị hay đơn vị chiến đấu. Nếu cung 5 kết hợp với cung 2, tạo ra con người minh triết, nhà hiền triết, do đó cũng không phù hợp với ông. Nếu kết hợp với cung 6 hay cung 7, thì năng lượng phàm ngã cung 5 cũng chỉ làm cho tính tự cao tự đại tăng tiến (Cung 6), luôn tỏ ra khắt khe, xem thường người khác, nhưng bản thân thì lôi thôi, không có giờ giấc. Vậy cũng loại trừ ông có Phàm ngã cung 5

+ Ta xét với Phàm ngã cung 6: Mục tiêu của tôi là sử dụng lòng bác ái và minh triết đang phát triển của tôi, năng lực của tôi để kêu gọi những cuộc vận động cho điều tốt đẹp cao cả hơn, để truyền cảm hứng cho con người mưu tìm những lý tưởng cao cả nhất của họ, sự quan tâm sâu sắc của tôi về tôn giáo; để cứu giúp người nghèo và đau khổ (6 chuyển sang 2). Không có gì phải bàn ở đây, người có Phàm ngã cung 6 không thể chủ động lựa chọn con đường bạo lực làm sự nghiệp cho mình, mà Tương Giới Thạch thi từ thiếu thời cho đến cuối đời đều lãnh đạo chiến đấu không ngừng nghỉ, mà ông cũng không có dấu hiệu hòa hoãn thật sự, để tránh chiến tranhvà đổ máu mà năng lượng Cung 6 phát triển sẽ chuyển sang cung 2.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 7: Mục tiêu của tôi là sử dụng các kỹ năng của tôi trong việc xây dựng những người và nhóm đặc biệt, khả năng dễ dàng của tôi để biểu thị các mục tiêu, năng lực của tôi thông qua nghi lễ và nghi thức, năng lực của tôi để dàn xếp các kết quả có lợi, năng lực của tôi để lên kế hoạch cùng với tổ chức và lãnh đạo – để giúp những người khác tổ chức cuộc sống của họ một cách toàn diện đến nỗi các ước mơ cao nhất của họ biểu hiện, để biểu lộ một trật tự thế giới mới và có tính tinh thần hơn, để kêu gọi các năng lượng thiêng liêng liên kết tinh thần với vật chất theo thiên cơ.

– Ông là người xuất thân trong gia đình theo Đạo Phật, bản thân cũng gắn bó với đạo Phậtquãng nửa cuộc đời, sau chuyển sang Cơ Đốc Giáo là vì phải đáp ứng yêu cầu của nhà gái, là nếu muốn cưới bà Tống Mỹ Linh, thì phải chuyển sang Cơ Đốc Giáo. Nhưng năng lượng cung 2 – Minh triết trong ông vẫn rất mạnh mẽ, bằng chứng là dù chiến tranh vào những thời điểm thua trận, thiếu người, ông vẫn yêu cầu sinh viên các trường đại học không được tòng quân, đường lối lãnh đạo của ông luôn coi trọng giáo dục dù là thời bình hay thời chiến. Ông có câu nói nổi tiếng, đại để “Mất nước còn lấy lại được, mất bản sắc văn hóa thì là mất tất cả”.

Tuy ông cũng trọng lễ, đời ông được Hòa Thượng nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ tiếp đón nói truyện. Cũng Vị Hòa thượng này, sau này đã rứt khoát không gặp Mao Trạch Đông, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc, dù bị mời đích danh. Ông là người đã đắc đạo, đức cao vọng trọng, thời bấy giờ đã chủ trì làm đại lễ cầu Trời khấn Phật để có băng tuyết bao trùm cả vùng rộng lớn, để dập dịch bệnh làm chết rất nhiều người vào mùa hạ khô hạn, nóng bức. Việc làm này làm Thái hậu vương chiều lúc bấy giờ, được mô tả là cả đời không phải quỳ lậy ai, nhưng bà đã quỳ lạy Đức Hòa Thượng này, trong lúc tuyết rơi, ngay tại đại lễ.

Do các đánh giá trên, rất có thể ông có Phàm ngã cung 7. Nhưng, Phàm ngã Cung 7 và thể tríCung 1 thì không có năng lượng Minh triết mạnh mẽ trong ông như thực tế, đặc biệt xét về việc tổ chức các trường đào tạo cấp cao trong suốt cuộc đời ông, ông luôn luôn theo đuổi. Cho lên, kết luận ông không có Phàm ngã Cung 7 là hợp lý.

5- Cung linh hồn (nếu người đó đang trên Đường đạo theo ý kiến của bạn): Việc tìm Cung Linh hồn được thực hiện dễ dàng hơn nếu các cungcủa các thể thấp được xác định trước, và “bóc tách ngược lại” để tiết lộ năng lượng tinh tế của linh hồn ở phía sau chúng. Hãy tuân theo hướng dẫn đề xuất này. Hãy nghiên cứu các đặc điểm của mỗi thể, cố gắng nhận dạng cung nào đang kiểm soát nó:

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.
– Gồm: Linh hồn Cung 1 – Linh hồn Cung 2 – Linh hồn Cung 3 – Linh hồn Cung 4 – Linh hồn Cung 5 – Linh hồn Cung 6 – Linh hồn Cung 7

+ Tôi xác định Tưởng Giới Thạch chưa là người đang đi trên đường Đạo, tuy nhiên, năng lượng Linh hồn chắc chắn đã có tác động lên Phàm ngã của ông bởi các lý do: Với người mà kiếp trước chưa bước vào đường đạo, thì nếu kiếp này có bước vào đường Đạo, Cung linh hồn cũng chỉ tác động đến phàm ngã vào giai đoạn sau của cuộc đời (Ngoài 28 tuổi, tuổi mà năng lượng mặt Trăng – Bản năng đã hoạt động đầy đủ), và nếu người đó đi đúng đường Đạo, thì càng cuối đời sẽ càng hiển linh bản chất của Linh Hồn với cuộc sống và môi trường, mà bản chất năng lượng của Linh hồn là không còn bản ngã cá nhân, vì dân tộc, vì nhân loại và luôn tránh xung đột vũ trang, nhưng với Tưởng Giới Thạch, ở tuổi ngoài 60, với cương vị đứng đầu Đảng và nhà nước Đài Loan lúc bấy giờ, lại trên thế của người bại trận, ông vẫn tuyên bố phải chiến đấu giành lại bằng được đại lục, tức tương đương với việc hàng ngàn người sẽ phải chiến đấu, hy sinh. Cho lên tôi cho rằng, dù trong ông có năng lượng của Từ BiBác Ái của Cung 2, nhưng năng lượng này chưa làm chủ được Phàm ngã, vẫn là vì cái Tôi, vì Đảng của mình, vì dân của mình, đó là năng lượng của Phàm ngã tiến hóa, tuy đã bao gồm hơn, nhưng vẫn là hạn hẹp, không phải năng lượng Linh hồn thật sự, vì nếu là năng lượng Linh hồn thật sự thì tất cả là một, không phân biệt dân tộc, mầu da, đảng phái, bao gồm cả cây cỏ và thế giới vô hình …, tất cả chỉ vì một mục tiêu duy nhất là xóa bỏ vô minh, hiểu thấu luật Nhân Quả, nhân loại đại đồng, sống trong an lành hạnh phúc.  Do đó, tôi kết luận; Tưởng Giới Thạch có CUNG LINH HỒN chưa hoạt động rõ dàng, chưa làm chủ được Phàm ngã cao siêu.

IV- Luân xa hay nhóm các luân xa tích cực

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần, các Luân xa và chuyển di năng lượng giữa các Luân xa sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cungcủa nhân vật và làm được bài luận này.

1- Bạn được bảo rằng “tâm thức phát triển thông qua các luân xa”. Xin vui lòng nhận định luân xa hay tập hợp các luân xa nào mà bạn nghĩ Tưởng Giới Thạch đang tập trung nhiều nhất? (Xem lại ba sự chuyển di năng lượng).

Trả lời: Theo lý thuyết, tiến trình khai mở các luân xa của con người có 5 đợt thức tỉnh. Tưởng Giới Thạch đã ở gia đoạn khởi đầu của người tiến hóa, ở giai đoạn sau 50 tuổi, tôi cho rằng ông đã bước chân vào con đường của người chí nguyện. Như vậy, tất cả các Luân xa dưới cơ hoành gồm: Luân xa đáy cột sống, luân xa sương cùng, luân xa Tùng Thái Dương của ông đều đã hoạt động mạnh mẽ và hoàn thiện, trong đó luân xa Tùng Thái Dương là luân xa hoạt động mạnh mẽ nhất. Theo đó, các luân xa [cổ họng và Ajna] thụ cảm với tác động và dòng chảy vào của sự sống. Chúng phù hợp với tiến trình khai mở luân xa đợt 3 với “Sự thức tỉnh của luân xa cổ họng và sự di chuyển của nhiều năng lượng thấp vào hoạt động cổ họng. Luân xa Ajna bắt đầu trở nên hoạt động, tạo ra các phàm ngã tích hợp và sáng tạo”. Tất nhiên, Tưởng Giới Thạch có Phàm Ngã tích hợp, cho nên đã xuất hiện cung Phàm ngã, được xác định là cung quân bình của các thể thấp, như trên đã xác định là cung 2 – Minh Triết.

2- Những bằng chứng nào cho sự chọn lựa của bạn? Điều này nên phù hợp với điểm 2 ở trên, bạn đặt người đó ở vị trí nào trên đường đạo): Từ thiếu thời, ông đã tổ chức các trò chơi cùng các trẻ nhỏ, và luôn là người đứng đầu,lãnh đạo trong chúng, ông cũng là người ham học, đọc nhiều kinh điển nổi tiếng trong nước và chứng tỏ khả năng tiếp thu nhanh. Sau khi rời ghế nhà trường trung học, ông đã quyết tâm dời xa gia đình, nhập trường quân sự, sống tư lập, và suốt giai đoạn trung niên cũng vậy, khi mới ngoài 20 tuổi, đã có tư tưởng lớn, tham gia chiến đấu ở trong một tổ chức chính trị lớn thời bấy giờ là Quốc Dân Đảng, là tổ chức lãnh đạo nhân dân có uy tín đương thời, do Tôn Trung Sơn là lãnh tụ, với mục đích là tham chiến đấu để thống nhất đất nước đang bị chia rẽbè phái, nhân dân lầm than. Do quá trình công tác, ông đã chứng tỏ sự trung thành với tổ chức, lên sớm có uy tín cao với lãnh tụ đảng là Tôn Trung Sơn, do đó từng bước rất nhanh đã trở thành là nhà lãnh đạo cấp cao của Quốc Dân Đảng. Chứng tỏ ông là người tiến hóa, rất thông minh và dũng cảm. Tức là thể Hạ trí đã hoạt động mạnh mẽ, lấn ướt thể cảm dục. Ngay từ thời trung niên, Cung Phàm ngã đã hình thành bởi thể trí đã hoạt động, theo quy luật thì sau 28 tuổi, ông sẽ có thể trí hoạt động mạnh mẽ, khi đó, Luân xa Tùng Thái Dương sẽ có sự chuyển di năng lượng lên Luân xa cổ họng, phát huy tố chất thông minh, củng cố những tư tưởng lớn của ông, với quy mô mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, và sự thật đã chứng tỏ ông là người có tư tưởng và tầm ảnh hưởng vượt gia khỏi quốc gia, mang tầm quốc tế thời bấy giờ.

3- Cung hay các cung nào chảy qua (các) luân xa đó? 

Các Cung chi phối thể xác, thể cảm dục và thể trí đã hoạt động mạnh mẽ. Dĩ nhiên, như trên đã xác định, năng lượng cung 7 chảy qua luân xa xương cùng của thể xác, năng lượng cung 6 của thể cảm dục chảy qua luân xa Tùng Thái Dươngnăng lượng cung 1 của thể trí chảy qua luân xa cổ họng. Ngoài ra, với Phàm ngã cung 2 – Minh Triết, ông cũng có năng lượng Cung 2 chảy qua luân xa cổ họng, chuyển di lên Luân xa Ajna, để phát triển tâm thức sáng tạo.

4- Các cung này có trong bản đồ cung của Tưởng Giới Thạch không? Nếu có, nó sẽ tăng cường sức mạnh của luân xa hay của thể liên quan. (Cho ví dụ nếu sự chuyển di năng lượng là từ luân xa tùng thái dương đến luân xa tim, cung 6 và cung 2, và nhân vật của bạn có thể cảm xúc cung 6, điều này sẽ khiến cho bản chất cảm xúc rất mạnh. Hơn nữa, có những cao điểm và thấp điểm của cảm xúc khi năng lượng dao động giữa luân xa cao và thấp cho đến khi đạt được sự cân bằng. Những dao động và cường độ củanăng lượng sẽ ảnh hưởng đến nhân vật của bạn.)

Trả lời: Tôi xét với 3 sự chuyển di năng lượng giữa (i)- Luân xa xương cùng lên luân xa cổ họng; (ii)- Luân xa Tùng Thái Dương chuyển di lên Luân xa cổ họng và luân xa Tim; (iii)- Luân xa cổ họng kết hợp với luân xa Ajna

i) Với sự chuyển di năng lượng từ luân xa xương cùng của thể xác (Cung 7), lên luân xa cổ họng của thể trí (Cung 1), trong đó Cung 7 là cùng nhóm cung cứng, và là cung con của cung 1năng lượng tương đồng, không xung khắc, giúp trợ giúp và củng cố cho thể trí cũng như thể xác. Bởi cung 1 thể trí của người vừa mới vượt qua tâm thức Atlantic, nó vẫn mang đậm tính ích kỷ, kiêu mạn, chia rẽ, chỉ lo cho mình thì năng lượng cung 7– Trật tự, nghi lễ được kết hợp với năng lượng cung 1 – Quyền lực với người ở giai đoạn thức tỉnh lờ mờ, rất nguy hiểm, thì sự kết hợp này thật mang lại sự tốt đẹp hơn cho ông, chí ít cũng là quyền lực có dựa vào tập thể, làm giảm tính quyết đoán liều lĩnh của bản chất của người vẫn mang tâm thức bậc thấp, chưa thức tỉnh rõ ràng.

ii) Với sự chuyển di năng lượng giữa Luân xa Tùng Thái Dương lên luân xa cổ họng và luân xaTim: Như chúng ta đã biết, bản chất luân xa Tùng Thái Dương với người bình thường, đã hoạt động đầy đủ hoặc rất mạnh, nếu thể trí chậm phát triển, có thể gây nguy cơ xấu bởi đặc tính của tâm thức thấp của người chưa tiến hóa. Tương ứng với sự thức tỉnh luân xa của giai đoạn 2 “Các luân xa dưới cơ hoành trở nên hoàn toàn hoạt động, với sự chú trọng chủ yếu vào luân xa tùng thái dương (vốn) trở thành kho tiếp nhận và phân phối lớn cho tất cả các mãnh lực thấp, và đánh dấu giai đoạn chuyển đổi vào một thể cao hơn, là thể cảm dục … đặc trưng của sự phát triển chủng tộc Atlantis”. Điều đó đã sảy ra với ông, tuy nhiên năng lượng cung 6 – Thể cảm dục, dù không chủ đạo chuyển di nên luân xa cổ họng như năng lượng cung 7 của luân xa xương cùng giúp phát triển thể trí, hoạt động sáng tạo, nhưng nếu chỉ gặp năng lượng của Cung 1 – Quyền lực của thể trí thì, nó sẽ làm tăng mức tâm thức hắc đạo của người bình thường. Tuy nhiên, với ông, cung thể trí đã được năng lượng của cung 2 – Minh triết của Cung phàm ngã làm quân bình, giúp cho năng lượng cung 1 Thể trí Quyền lực tiến đến con đường Minh triết thay vì theo con đường Hắc đạo, cho lên năng lượng của cung 6 – Thể cảm dục là cung phụ của cung 2 Minh triết, nên cũng không tạo thành năng lượng xấu trong ông, do đó nó cũng củng cố thể cảm dục trong ông. Bằng chứng là cả nửa sau của cuộc đời, lịch sử không thấy ghi lại các tai tiếng về thể tình cảm ông, điều này khác hẳn nửa đầu của cuộc đời đầy tai tiếng về cung tình duyên, gắn với dục tình thấp kém của bản chất thấp trong mỗi con người chưa tiến hóa.

iii) Với sự họat động của cung phàm ngã mang năng lượng của cung 2 – Minh Triết, kết hợp với năng lượng cung 1 của thể trí – Quyền lực, có sự gắn kết với sự tương tác của năng lượng cung 7 – Thể xác, thành một người có Phàm ngã hợp nhất với Quyền lực + Minh Triết + Trật tự và ghi lễ, qủa thực trong ông hội tụ đầy đủ điều kiện của một lãnh tụ chính trị, nó tương ứng với lời dạy của Chân Sư trong quyển Dưới Chân Thầy ” ý chí chỉ đạo minh triết “, điều này giúp ông làm giảm thiểu tính ích kỷ, bè phái, tham quyền, độc đoán, được sử sách đã ghi nhận như trên đã nêu, và cũng chính điều này đã giúp ông từ chối dùng bom nguyên tử, tức từ chối chiến thắng đối phương để đổi lấy hàng vạn sinh mạng người dân vô tội của dân tộc. Việc chuyển di năng lượng liên quan đến 2 luân xa cao mang đến nhiều thuận lợi trong phát triển Tâm thức, Tinh thần hơn là làm hại, bởi chúng bổ trợ cho nhau, khắc phục điểm yếu, củng cố điểm mạnh là các đặc điểm năng lượng của các cung 2 và 1. Tiếc rằng Phàm ngã cung 2 chưa thấy dấu hiệu được cung Linh hồn soi sáng, vì nếu có sự tác động của năng lượng cung Linh hồn, với năng lượng Bác Ái và Minh Triết là chủ đạo, với Tâm thức rộng mở, tinh thần phụng sự nhân dân vô kỷ, không phân biệt đảng phái, dân tộc, tính ngưỡng thì rất có thể, đất nước Trung Quốc đã được thống nhất sớm hơn, bởi hai phía đối địch đã có nhiều lần có thỏa thuận hòa hoãn, rồi lại tranh đấu không ngừng, không bên nào tận dụng được cơ hội để người dân không phải trải qua nhiều năm nội chiến, máu chảy đầu rơi.

5- Bạn nghĩ điều này sẽ ảnh hưởng đến Tưởng Giới Thạch như thế nào? Về mặt tinh thần? Tâm lý? Họat động trần gian? Sức khỏePhụng sự?

Trả lời: Từ Biểu Đồ Cung và nhận định về các Cung năng lượng tương ứng các thể thuộc Phàm ngã, và phân tích sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa nhằm phát triển tâm thức trên đây, các năng lượng của các cung trong con người Tưởng Giới Thạch tác động đến đời sống của ông như sau:

+ Về mặt tinh thần: Đọc tiểu sử của Tưởng Giới Thạch từ thời niên thiếu, ông đã chứng tỏ là người thống minh hiếu học, có khả năng tiếp thu kinh điển, đặc biệt các kinh điển khô khan, mang tính Đạo đức do các Đại đức như Mạnh tử, Không Tử …. viết, trước 15 tuổi, theo sử sách, ông đã đọc và tiếp thu kết nhiều kinh điển nổi tiếng này, được các thầy dạy đánh giá là ngườithông minh. Nên khẳng định Tưởng Giới Thạch là người có Tâm thức của người tiến hóa, đã có thể trí phát triển và Phàm ngã tích hợp.

+ Về Tâm lý: Thể cảm dục cung 6 và thể trí cung 1, giai đoạn đầu đời, cuộc sống bản năng chi phối, nhưng ông đã có ý trí mạnh mẽ, tự lập, bằng chứng là sắn sàng xa nhà, từ bỏ bao bọc gia đình, người thân để dấn thân trong học tập từ lúc chưa đầy 10 tuổi, cho đến dưới 20 tuổi. Tuy thể cảm dục cung 6, nhưng do ý trí mạnh mẽ với kiến thức kinh điển đã tiếp thu được, giúp ông nhận thức được thời cuộc, cho lên ông không màng cuộc sống gia đình, tuy ông phải lấy vợ sớm để chiều lòng sự sắp đặt của cha mẹ, nhưng sau khi cưới không lâu, ông đã chủ động tìm đường đi học trong các trường quân sự trong và ngoài nước, để có kiến thức về giúp dân giúp nước.

+ Về hoạt động trần gian: Theo nguyên lý phát triển, con người sau 28 tuổi mới thật sự sống với phàm ngã của mình. Tưởng Giới Thạch từ nhỏ đến trước 30 tuổi, thể cảm dục cung 6 phát huy tác dụng mạnh mẽ, lên ông có nhiều đời vợ, trong đó có ít nhất 2 người ông lấy làm vợ vì trí tuệ đang đồng hóa với bản chất thấp, lấy vợ vì dục tình thấp kém, không để ý đến sự đau khổcủa gia đình và người vợ chính thức đầu tiên, được cả gia tộc nhà chồng quý mến và bảo vệ suốt đời, kể cả khi ông đã dùng quyền lực và trí tuệ thấp hèn để quyết tâm ly dị bằng được người vợ đầu để lấy người không xứng đáng, bị cả gia tộc phản đối. Với thể trí cung 1 – Ông đã phát huy ngay từ thời niên thiếu, thoát ly gia đình dòng tộc, tự lập để quyết tâm vào trường quân sự, kể cả du học, mục đích để về tham gia hoạt động vũ trang, thống nhất đất nước, tức vì dân tộc theo cách hiểu của ông. Đây chính là con đường phụng sự nhân dân mà ông đã chọn, con đường này không nay chuyển trong suốt cuộc đời của ông, và ông đã gặt hái được thành công trong vô vàn khổ ải, trốn tránh, thất bại, suốt đời chiến đấu sống chết cận kề. Chức vụ cuối cùng của ông là Tổng Thống Quốc Đảo Đài Loan.

+ Sức khỏe: Sự phối hợp giữa các cung năng lượng giữa các thể của Phàm ngã không gây ra sáo trộn, cản trở hay đối kháng lớn, hơn nữa lại có sự chuyển di năng lượng của các luân xadưới cơ hoành nên các luân xa cao, tránh sự tắc nghẽn, phát triển thể trí và tâm thức sáng tạo, cho lên ông có sức khỏe tốt, cuộc đời ít bệnh nặng.

Phụng sự: Thời trẻ và nửa đầu của cuộc đời, ông đã chứng tỏ là người sẵn sàng hy sinh vì dân vì nước, tấm gương phụng sự khi thấy nước nhà suy đồi dưới thời nhà Thanh sắp suy tàn, trong nước chia rẽ nhiều đảng phái, nhưng ông đã chủ động chọn con đường binh nghiệp nhằm tư tưởng lớn, giúp dân giúp nước. Vào nửa sau của cuộc đời, ông có Phàm ngã cung 2 – Minh Triết, với thể trí Cung 1 – Quyền lực hoạt động phối hợp, tạo lên nhà lãnh tụ tầm cỡ thế giới thời bấy giờ. Như ta đã biết, trên cương vị người đứng đầu Quốc Dân Đảng, khi rơi vào thời kỳ thua cuộc trong chính trường, chính quyền của ông buộc phải chuyển ra đảo Đài Loan để tồn tại vì đất đại lục đã rơi vào tay Đảng Cộng Sản chiếm giữ, khi đó chính quyền Hoa Kỳ đã gợi ý sẵn sàng giúp ông, dùng bom nguyên tử để phản công, tuy nhiên, ông là lãnh tụ quyền lực có Minh Triết cung 2 hoạt động, lên ông đã từ chối để bảo toàn tính mạng người dân của mình. Đây chỉ có thể là Tâm thức của người chí nguyện, có trí tuệ phân biện đúng nghĩa mới có thể hy sinh bản ngã cá nhân, vì tính mạng muôn người chứ không vì chức vụ tối cao mà ông sẽ đạt được, nếu ông quyết dùng bom nguyên tử để phản công, khi đó phần thắng chắc chắn thuộc về ông.

6- Bạn có nghĩ rằng luân xa cao đạt được sự thắng thế trong cuộc sống của Tưởng Giới Thạch không? Nếu có, bạn thấy gì trong cuộc đời phụng sựcủa Tưởng Giới Thạch chứng minh cho sự lựa chọn của bạn? Nếu không, tại sao bạn nghĩ thế?

Trả lời: Ông là người rất thông minh, điều đó chỉ có thể là người tiến hóa rất cao so với bình quân nhân loại tại thời điểm, tức luân xa cổ họng thắng thế trong cuộc đời ông. Bằng chứng là sự thành công trong vũ đài chính trị ngay từ thời trẻ cho đến cuối đời, sự nghiệp chính trị của Tưởng Giới Thạch đã đạt được thành tựu nổi bật, mấy chục năm luôn có uy tính và giữ cương vị lãnh đạo cấp cao trong Quốc Dân Đảng, cũng như suốt hơn chục năm cuối đời, ông giữ chức vụ Tổng Thống của quốc đảo Đài Loan, được người dân Quốc đảo tín nhiệm, đánh giá cao.

V- Tóm tắt

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được bản đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.

1- Tôi giả thiết rằng vị trí của X là (một người tiến hóangười chí nguyện/đệ tử / điểm đạo đồ):

Trả lời: Tưởng Giới Thạch là người có thể trí phát triển, đã làm chủ đượcphàm ngã, là người tiến hóa, cuối đời ông đã đặt chân vào con đường của người chí nguyện.

2- Tôi giả thiết rằng các cung thuộc bản đồ cung của Tưởng Giới Thạch là:

Trả lời: Ông có Thể xác cung 7Thể cảm dục cung 6Thể trí cung 1Thể phàm ngã cung 2Linh hồn chưa xác định, do chưa thể hiện mạnh sự đối kháng, cản trở cung Phàm ngã.

Cung mà Ông / Bà có thể thể hiện nhất là cung thể trí: Cung 1 – CungQuyền lựcCung Phàm ngã là cung 2

3- Cung Mặt trời là xxxxxxx. Những điểm tiêu cực mà Ông/Bà cần vượt qua là xxxxxxxx. Ông thể hiện những đặc điểm này khi ông xxxxxxxxx. Những điểm tích cực cần phải phát triển là xxxxxxxxxx. Ông thể hiện những điểm này khi xxxxxxxxxxxxxxx.

3.1- Lá số Chiêm tinh của Tưởng Giới Thạch: Ông sinh vào giờ Ngọ, ngày 31 tháng 10 năm 1887 tại tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Căn cứ vào phần mềm lấy lá số Tại đây, thì Lá số chiêm tinh của Tưởng Giới Thạch là:

Bình giải tự động: Xem chi tiết bình giải Lá số chiêm tinh Tưởng Giới Thạch tại đây

a) Cung Mặt Trời:

4- (Đoạn văn kết luận, kết nối tất cả lại với nhau, bao gồm cả kinh nghiệm của bạn khi viết bài văn và những gì mà bạn gặt hái được )

Nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo:

+ Xem: Tóm tắt tổng thể về cuộc đời và sự nghiệp của ông Tưởng GiớiThạch

+

SÁCH BÍ MẬT CUỘC ĐỜI VÀ GIA THẾ TƯỞNG GIỚI THẠCH

Mục 6 phần thứ nhất: Chì sao gia đình họ Tưởng theo Đạo Phật