All posts by Quản Trị Biên Tập

" Phụng sự mà biết mình đang phụng sự thì chưa phải phụng sự " Ghi trong Menu tổng: Người dùng, Menu con: Hồ sơ của bạn

Kỳ Công cung Cự Giải cùng giải thích Trực Giác là gì

The Lesson of the Labor
We have seen that the hind or doe, for which Hercules sought, was sacred to Artemis, the moon, but was also claimed by Diana, the huntress of the heavens, and by Apollo, the sun god. One of the things that is often forgotten by students of psychology and those who probe the unfolding consciousness [93] of man, is the fact that there are no sharp distinctions between the various aspects of man’s nature, but that all are phases of one reality. The words instinct, intellect and intuition, are but varying aspects of consciousness and of response to environment and to the world in which the human being finds himself. Man is an animal, and in company with the animal, he possesses the quality of instinct and of instinctual response to his environment. Instinct is the consciousness of the form and of the cell life, the mode of awareness of the form, and, therefore, Artemis, the moon, who rules over the form, claims the sacred hind. In its own place, animal instinct is as divine as those other qualities which we regard as more strictly spiritual.
Bài học của Kỳ Công Chúng ta đã thấy rằng con hươu cái mà Hercules tìm kiếm là thiêng liêng đối với Artemis, mặt trăng, nhưng Diana—nữ thợ săn của bầu trời—cũng tuyên bố của mình, và Apollo—thần mặt trời—cũng thế. Một trong những điều thường bị bỏ qua bởi các sinh viên tâm lý học và những người khám phá tâm thức đang khai mở [93] của con người, là sự kiện không có sự phân biệt rõ ràng giữa các khía cạnh khác nhau của bản chất con người, mà tất cả đều là các giai đoạn của một thực tại . Những từ bản năng, trí tuệtrực giác, chẳng qua chỉ là những khía cạnh khác nhau của tâm thức và của phản ứng với môi trường và với thế giớicon người tìm thấy chính mình trong đó. Con người là một con vật, và cùng với con vật, y sở hữu phẩm tính bản năng và phản ứng theo bản năng đối với môi trường của y. Bản năngtâm thức của hình tướng và của đời sống tế bào, phương thức nhận biết của hình tướng, và, do đó, Artemis, mặt trăng, người cai quả hình tướng, tuyên bố con hươu cái thiêng liêng là của mình. Ở nơi riêng của nó, bản năng động vật là thiêng liêng như những phẩm chất khác mà chúng ta coi là nghiêm ngặt tinh thần hơn.
But man is also a human being; he is rational; he can analyze, criticise, and he possesses that something which we call the mind, and that faculty of intellectual perception and response, which differentiates him from the animal, which opens
up to him a new field of awareness, but which is, nevertheless, simply an extension of his response apparatus and the development of the instinct into intellect. Through the one he becomes aware of the world of physical contacts and of emotional conditions; through the other he becomes aware of the world of thought and of ideas, and thus is a human being. When he has reached that stage of intelligent and instinctual awareness, then “Eurystheus” indicates to him that there is another world of which he can become equally aware, but which has its own method of contact and its own response apparatus.
Nhưng con người cũng là một con người; y có lí trí; y có thể phân tích, chỉ trích, và sở hữu cái mà chúng ta gọi là thể trí, và khả năng tri thức và nhận thức trí tuệ, giúp y phân biệt với con vật, mở ra cho y một lĩnh vực mới của nhận thức, nhưng đó chỉ đơn giản là một phần mở rộng của bộ máy phản ứng của y và sự phát triển của bản năng vào trí tuệ. Thông qua bản năng y trở nên nhận thức được thế giới của tiếp xúc vật lý và các điều kiện xúc cảm; qua trí tuệ y trở nên nhận biết được về thế giới của tư tưởng và ý tưởng, và do đó là một con người. Khi y đạt tới giai đoạn nhận thức bản năngthông minh đó thì “Eurystheus” chỉ cho y rằng có một thế giới khác mà y cũng có thể trở nên nhận biết tương tự như thế, nhưng nó có phương thức tiếp xúc riêng và bộ máy phản ứng riêng của nó.
Diana, the huntress, claimed the doe, because to her the doe is the intellect and man is the great seeker, the great hunter before the Lord. But the doe had another and more elusive form, and for this Hercules, the aspirant, sought. For a life cycle, we are told, he hunted. It was not the doe, the instinct, for which he looked; it was not the doe, the intellect, that was the object of his search. It was something else, and for this he spent a life cycle hunting. Finally, we read, he captured it and carried it into the temple, where it was claimed by the sun god [94] who in the doe recognized the spiritual intuition, that extension of consciousness, that highly developed sense of awareness, which gives to the disciple a vision of new fields of contact and opens up for him a new world of being. We are told that the battle is still going on between Apollo, the sun god, who knew that the doe was the intuition, Diana, huntress of the heavens, who knew it was intellect, and Artemis, the moon, who thought that it was only instinct. Both goddess claimants have a point and the problem of all disciples is to use the instinct correctly, in its right place, and in its proper way. He must learn to use the intellect under the influence of Diana, the huntress, daughter of the sun, and through it become en rapport with the world of human ideas and research. He must learn to carry that capacity of his into the temple of the Lord and there to see it transmuted into intuition, and
through the intuition become aware of the things of spirit and of those spiritual realities which neither instinct nor intellect can reveal to him. (And again and again the sons of men, who are also sons of God, must recapture these spiritual realities, upon the endless Way.) [95]
Diana, nữ thợ săn, tuyên bố con hươu cái của mình, bởi vì với nàng con hươu cái là trí tuệcon người là người tìm kiếm vĩ đại, người thợ săn vĩ đại trước Chúa. Nhưng con hươu cái có một hình thể khó nắm bắt hơn, và Hercules, người chí nguyện, phải tìm kiếm nó. Chúng ta được cho biết chúng ta phải tìm bắt nó trong cả kiếp sống. Nó không phải là con hươu cái bản năng, mà y tìm kiếm; nó cũng không phải là con hươu cái trí tuệ là đối tượng tìm kiếm của y. Đó là một cái gì đó khác, và vì điều này, y đã dành cuộc săn đuổi cả kiếp sống. Cuối cùng, chúng ta đọc thấy y bắt được nó và mang nó vào đền thờ, nơi nó được thần mặt trời tuyên bố sở hữu, người nhận ra trực giác tâm linh, phần mở rộng tâm thức đó, nhận thức phát triển cao, vốn ban cho các đệ tử một tầm nhìn vào các lĩnh vực tiếp xúc mới và mở ra cho y một thế giới mới của hiện hữu. Chúng ta được biết rằng trận chiến vẫn tiếp diễn ra giữa Apollo, thần mặt trời, người biết rằng con hươu cái là trực giác, Diana, nữ thợ săn của các bầu trời, người biết đó là trí tuệ, và Artemis, mặt trăng, người đã nghĩ rằng đó là chỉ bản năng. Cả hai nữ thần đều có lý và vấn đề của tất cả các đệ tử là sử dụng bản năng một cách đúng đắn, đúng chỗ của nó, và theo đúng cách của nó. Y phải học cách sử dụng trí tuệ dưới ảnh hưởng của Diana, nữ thợ săn, con gái của mặt trời, và thông qua nó trở nên hoà nhập với thế giới của những ý tưởng và nghiên cứu của con người. Y phải học cách mang năng lực của mình vào đền thờ của Chúa và ở đó thấy nó biến thành trực giác, và qua trực giác trở nên nhận biết được về những điều tinh thần và của những thực tại tinh thầnbản năng hay trí tuệ không thể tiết lộ cho y. (Và lần nữa và lần nữa, các người con của nhân loại mà cũng là những người con của Thượng đế, phải tìm bắt những thực tại tinh thần trên Con Đường vô tận.) [95] Trích dẫn từ Glamour, A World Problem
I. Definition of the Intuition
The intuition is not a welling1 forth of love to people and, therefore, an understanding of them. Much that is called the intuition is recognition of similarities and the possession of a clear analytical mind. Intelligent people who
1 phun ra; vọt ra; tuôn ra
have lived in the world for some time and who have experienced much and who have contacted many other people can usually sum up with facility the problems and dispositions of others, provided they are interested. This they must not, however, confound with the intuition.
I.− ĐỊNH NGHĨA TRỰC GIÁC
Trực giác không phải là việc tuôn đổ tình thương cho con người, và do đó, không phải là sự am hiểu về con người. Đa số những gì mà người ta gọi là trực giác chỉ là sự nhận biết về các chỗ tương đồng và có được một thể trí biết phân tích rõ ràng. Người nào thông minh, đã sống qua nhiều giai đoạn, trải qua nhiều kinh nghiệm, có dịp tiếp xúc với nhiều người khác, thường đều có thể thấu hiểu một cách dễ dàng các khó khăn và các khuynh hướng của kẻ khác, miễn là họ chịu khó để ý. Tuy nhiên, những người ấy đừng nên nhầm lẫn điều này với trực giác.
The intuition has no relation to psychism, either higher or lower; the seeing of a vision, the hearing of the Voice of the Silence, a pleased reaction to teaching of any kind does not infer the functioning of the intuition. It is not only the seeing of symbols, for that is a special sort of perception and the capacity to tune in on the Universal Mind upon that layer of Its activity which produces the patternforms on which all etheric bodies are based. It is not intelligent psychology, and a loving desire to help. That emanates from the interplay of a personality, governed by a strong soul orientation, and the group-conscious soul.
Trực giác không có liên quan gì với khả năng thông linh—dù cao hay thấp. Việc thấy được linh ảnh, nghe được Tiếng Nói Vô Thinh, phản ứng thuận lợi với giáo huấn thuộc bất cứ loại nào đều không có nghĩa là do tác động của trực giác. Đó không phải chỉ là nhìn thấy các biểu tượng, vì đó là một loại nhận thức đặc biệt và khả năng để điều hợp vào Toàn Linh Trí (Universal Mind) trên lớp hoạt động của Thiên Trí đó vốn tạo ra các nguyên hình làm nền móng cho mọi thể dĩ thái. Trực giác không phải là môn tâm lý học sáng suốt, và ước vọng để giúp đời bằng tình thương. Điều đó xuất phát từ sự tương tác của phàm ngã được điều khiển bằng sự định hướng mạnh mẽ của linh hồnlinh hồný thức tập thể.
Intuition is the synthetic understanding which is the prerogative of the soul and it only becomes possible when the soul, on its own level, is reaching in two directions: towards [3] the Monad, and towards the integrated and, perhaps (even if only temporarily) coordinated and at-oned personality. It is the first indication of a deeply subjective unification which will find its consummation at the third initiation.
Trực giác là sự hiểu biết tổng hợp vốn là đặc quyền của linh hồn và chỉ có thểtrực giác khi linh hồn, trên cảnh giới riêng của nó, đang hướng đến hai hướng: hướng về Chân Thần và hướng về phàm ngã tích hợp, và có thể (cho dù là chỉ tạm thời) là phàm ngã phối kết và nhất quán. Đó là chỉ dẫn đầu tiên về sự hợp nhất nội tại sâu xa vốn sẽ lên đến tột đỉnh ở lần điểm đạo thứ ba.
Intuition is a comprehensive grip of the principle of universality, and when it is functioning there is, momentarily at least, a complete loss of the sense of separateness. At its highest point, it is known as that Universal Love which has no relation to sentiment or to the affectional reaction but is, predominantly, in the nature of an identification with all beings. Then is true compassion known; then does criticism become impossible; then, only, is the divine germ seen as latent in all forms.
Trực giác là sự hiểu biết toàn diện về nguyên lý đại đồng, và khi trực giác tác động, ít nhất là tạm thời, sẽ có sự mất hẳn ý thức chia rẽ. Ở điểm cao nhất của nó, nó được nhận biết như là Tình Thương Đại Đồng (Universal Love) vốn không có sự liên quan gì với tình cảm hoặc với phản ứng lân cảm, mà chủ yếu có bản chất đồng hoá với muôn loài. Bấy giờ, lòng từ bi thực sự mới được biết tới; bấy giờ sự chỉ trích không còn nữa; và chỉ bấy giờ cái mầm mống thiêng liêng ẩn tàng trong mọi hình hài mới được nhận thấy.
Intuition is light itself, and when it is functioning, the world is seen as light and the light bodies of all forms become gradually apparent. This brings with it the ability to contact the light center in all forms, and thus again an essential relationship is established and the sense of superiority and separateness recedes into the background.
Trực giác chính là ánh sáng; khi trực giác tác động, thế giới được nhận thấy dưới hình thức là ánh sáng và các thể ánh sáng (light bodies) của mọi hình hài mới dần dần hiển lộ. Việc này đưa tới khả năng tiếp xúc với trung tâm ánh sáng trong mọi hình hài và như vậy một lần nữa mối liên hệ bản thể được thiết lập và ý thức về sự tự cao và sự chia rẽ lùi vào hậu trường.
Intuition, therefore, brings with its appearance three qualities:
Illumination. By illumination I do not mean the light in the head. That is incidental and phenomenal, and many truly intuitive people are entirely unaware of this light. The light to which I refer is that which irradiates the Way. It is “the light of the intellect,” which really means that which illumines the mind and which can reflect itself in that mental apparatus which is held
“steady in the light.” This is the “Light of the World,” a Reality which is eternally existent, but which can be discovered only when the individual interior light is recognized as such. This is the “Light of the Ages,” which shineth ever more until the Day be with us. The intuition is therefore the recognition in [4] oneself, not theoretically but as a fact in one’s experience, of one’s complete identification with the Universal Mind, of one’s constituting a part of the great World Life, and of one’s participation in the eternal persisting Existence.

Do đó, khi xuất hiện, trực giác mang theo với nó ba tính chất sau : Khai ngộ (Illumination). Khi dùng chữ khai ngộ, tôi không có ý nói ánh sáng trong đầu. Ánh sáng đó ngẫu nhiên và mang tính hiện tượng. Nhiều người có trực giác thật sự đều hoàn toàn không biết đến ánh sáng này. Ánh sáng mà tôi đề cập đến là ánh sáng tỏa chiếu Con Đường. Đó là “ánh sáng trí tuệ” vốn thực sự có nghĩa là những gì soi sáng trí tuệ và những gì có thể tự phản chiếu trong bộ máy trí tuệ đang được giữ “ổn định trong ánh sáng”. Đây là “Ánh sáng của Thế Gian”, một Thực Tại luôn luôn hiện hữu, nhưng chỉ có thể khám phá ra được khi ánh sáng nội tâm của cá nhân được nhận biết với tính cách như thế. Đây là “Ánh sáng Muôn Đời”, sẽ tỏa chiếu mãi mãi cho đến Ngày Hợp Nhất Với Chúng Ta (Day Be With Us). Do đó, trực giác là sự nhận biết trong chính mình, không phải bằng lý thuyết suông mà là như một thực tại trong kinh nghiệm của con người, với sự đồng hoá hoàn toàn với Toàn Linh Trí, với việc tạo thành một phần của Sự Sống Vĩ Đại Thế Gian và với việc tham dự của con người vào Sự Sống hiện tồn vĩnh cửu.

Understanding. This must be appreciated in its literal sense as that which “stands under” the totality of forms. It connotes the power of recession or the capacity to withdraw from one’s agelong identification with form life. I would like to point out that this withdrawal is comparatively easy for those who have much of the first ray quality in them. The problem is to withdraw in the esoteric sense, but to avoid at the same time the sense of separateness, of isolation and of superiority. It is easy for first ray people to resist the tendency to identify themselves with others. To have true understanding involves an increased ability to love all beings and yet, at the same time, to preserve personality detachment. This detachment can be so easily founded on an inability to love, in a selfish concern for one’s own comfort—physical, mental or spiritual, and above all, emotional. First ray people dread emotion and despise it, but sometimes they have to swing into an emotional condition before they can use emotional sensitivity in the right manner. Understanding involves contact with life as an integrated personality, plus egoic reaction to the group purposes and plans. It connotes personality-soul unification, wide experience, and a rapid activity of the indwelling Christ
principle. Intuitional understanding is always spontaneous. Where the reasoning to an understanding enters, it is not the activity of the intuition.

Sự Thấu Hiểu (Understanding).

Chữ này phải được hiểu theo nghĩa đen của nó là những gì đang “nằm phía dưới” (“stand under”) toàn thể các hình tướng. Nó hàm ý là khả năng rút lui hay là năng lực để rút ra khỏi sự đồng hóa lâu đời của con người với sự sống sắc tướng. Tôi xin nêu ra rằng sự triệt thoái này tương đối dễ với những kẻ có nhiều tính chất thuộc cung một. Vấn đề là triệt thoái theo ý nghĩa huyền linh, nhưng đồng thời phải tránh ý thức chia rẽ, ý thức cô lập và tự tôn. Đối với người thuộc cung một thì thật là dễ dàng khi chống lại khuynh hướng tự đồng hóa mình với những người khác. Việc có được sự cảm thông thực sự bao hàm khả năng ngày càng yêu thương mọi tạo vật tuy vậy đồng thời cũng duy trì được sự tách biệt với phàm ngã. Sự tách biệt này có thể được tạo ra một cách dễ dàng dựa vào việc thiếu khả năng yêu thương, chỉ quan tâm một cách ích kỷ đến tiện nghi riêng của chính mình – về vật chất, trí tuệ hoặc tâm linh, nhất là về mặt tình cảm. Người thuộc cung một, e sợ tình cảm và coi thường tình cảm, nhưng đôi khi họ phải chế ngự trạng thái tình cảm trước khi họ có thể dùng sự bén nhạy tình cảm theo đúng cách. Sự hiểu biết bao hàm việc tiếp xúc với sự sống với tư cách phàm ngã tích hợp, cộng với phản ứng của chơn ngã đối với các mục tiêu và kế hoạch của nhóm. Sự hiểu biết này bao hàm sự hợp nhất phàm ngãlinh hồn, kinh nghiệm rộng rãi và hoạt động nhanh chóng của nguyên khí Christ nội tại. Sự hiểu biết trực giác luôn luôn có tính cách tự phát. Khi nào lý luận chen vào sự hiểu biết, thì đó không phải là hoạt động của trực giác.

Love. As earlier said, this is not affectionate sentiment, or the possession of a loving disposition; these two later aspects are incidental and sequential. When the intuition is developed, both affection and the possession of a spirit [5] of loving outgo will, necessarily, in their pure form, be demonstrated, but that which produces these is something much more deep and comprehensive. It is that synthetic, inclusive grasp of the life and needs of all beings (I have chosen these two words with intent!) which it is the high prerogative of a divine Son of God to operate. It negates all that builds barriers, makes criticism, and produces separation. It sees no distinction, even when it appreciates need, and it produces in one who loves as a soul immediate identification with that which is loved.
These three words sum up the three qualities or aspects of the intuition and can be covered by the word, universality, or the sense of universal Oneness.

Tình thương (Love). Như trước đã nói đây không phải là tình cảm luyến ái hay việc sở hữu tính yêu thương; hai khía cạnh đó đều ngẫu nhiên và xảy ra tuần tự. Khi trực giác phát triển thì cả tình lân cảm lẫn việc sở hữu tinh thần yêu thương hướng ngoại, tất nhiên là trong hình thức thuần khiết của chúng, sẽ được thể hiện, nhưng những gì tạo ra hai điều này đều sâu xa và dễ hiểu hơn nhiều. Chính sự hiểu biết tổng hợp toàn thể về Sự Sống và nhu cầu của mọi sinh linh (tôi cố ý chọn hai từ này) là đặc quyền cao cả mà Người Con Thiêng Liêng Của Thượng Đế phải thực hiện. Sự hiểu biết đó gạt bỏ tất cả những gì tạo ra các cản trở, tạo ra sự chỉ trích và tạo ra sự chia rẽ. Tình thương không có sự phân biệt, thậm chí khi nó được nhận là cần thiết và nó tạo ra trong kẻ yêu thương sự đồng hóa tức khắc của linh hồn với những gì được yêu thương.
Ba từ này tóm tắt ba tính chất hay khía cạnh của trực giác và có thể được bao gồm bằng từ ngữ, tính phổ quát hay là ý thức về Tính Duy Nhất trong vũ trụ.

Báo cáo GQ2.7-Cự Giải (Tham thiền chủ đề Phân biện)

THAM THIỀN 001.2-07 PHÂN BIỆN
Ngô Như Hương

  1. Chủ đề tham thiền Raja Yoga của tháng này là gì?   Phân biện
  2. Bạn đã nhận được những hiểu biết nào trong khi tham thiền Raja Yoga của tháng này?
    Trả lời:
  3. Bạn đã đạt được sự hiểu biết nhiều hơn về hạnh phân biện hoặc gia tăng khả năng phân biện như là kết quả của việc tham thiền của bạn? Bạn đã học được gì về bản thân?
  4. THAM THIỀN TRĂNG TRÒN: bạn nhận được những hiểu biết hoặc bất kỳ tư tưởng nào về buổi tham thiền này?
  5. Các loại khác: chất lượng chung của việc tham thiền của bạn trong tháng này như thế nào? Bạn có thiết lập được một mô hình tham thiền thường xuyên không? Bạn có gặp bất kỳ khó khăn nào trong việc tham thiền của bạn không? Nếu có, hãy giải thích.
  6. Bạn có câu hỏi nào không?

Báo cáo GQ2.6 – Song Tử – Nghiên cứu: Tự phân tích

BÁO CÁO GQ2.6 – SONG TỬ
CHỦ ĐỀ: NGHIÊN CỨU TỰ PHÂN TÍCH
Post phúc trình nghiên cứu của bạn lên diễn đàn trong vòng ba ngày của ngày Trăng Tròn.
Học viên: Ngô Như Hương

 

Tháng này chúng ta tiếp tục làm việc với các vấn đề về tâm lý, nhưng lần này bạn tự phân tích chính mình, sử dụng định dạng tháng trước. Bạn có thể chọn cách viết ở “ngôi thứ ba”, nhưng điều này phụ thuộc vào bạn.
1. Hãy viết một đoạn văn ngắn gọn về cuộc sống của bạn, lịch sử của bạn.
+ Ngô Như Hương, Nam giới. Sinh 15/09/1967 tại tỉnh Tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Người Dân tộc Kinh. Tôn giáo: Theo PhậtGiáo. Lấy vợ năm 2001 và cùng sống đến nay, có 2 con trai. Học vấn: Đại học (Hệ vừa học vừa làm). Ham thích công nghệ máy tính, tin học, duy trì trang web diễn đàn: nhantrachoc.vn chuyên về lý học đông phương (Phong thủy, tử vi, tứ trụ, chu dịch), giờ chủ đạo nghiên cứu về minh triết mới và Chiêm tinh học. Có năng khiếu về nghiên cứu pháp luật và quản trị nội bộ công ty.
+ Về sức khỏe tuy không bị bệnh nặng, nhưng bệnh về viêm răng miệng và tai mũi họng thì thường xuyên cho lên cũng phải dùng thuốc kháng sinh thường xuyên, kèm thêm bệnh mất ngủ thường xuyên hoặc ngủ không sâu, hay mơ mộng làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và làm việc. Không nghiện riệu bia; nghiện thuốc lá 30 năm (Bỏ từ ngày học MF).
+ Tôi sống khá tự do, thoải mái cá nhân. Về kinh tế có phá sản những năm 30 tuổi, áp lực này kéo dài đến tận bây giờ hơn. Chủ trì thành lập và tham gia làm quản lý doanh nghiệp từ năm 2000 đến nay, nhưng cũng không thành công về con đường kinh doanh.
+ Tâm linh: Ngay từ những năm tuổi ngoài 20 đã ham thích nghiên cứu khoa chiêm tinh phương đông. Yêu thích đi Chùa lễ Phật, từ những năm ngoài 45 tuổi thích đọc Phật pháp, từ năm 2014 (48 tuổi) bắt đầu biết về minh triết mới và chiêm tinh học phương tây, về các Chân Sư minh triết có sự hấp dẫn lạ thường với tôi, đọc sách của các Ngài làm tôi lãng quên Dịch học phương đông, đây cũng là nguồn cơ duyên khi tôi đọc được thư mời học tham thiềncủa trường MF trên trang minhtrietmoi.org, và đã đăng ký học đến nay. Nghiên cứu Phật pháp và tham gia học thiền MF cũng là động lực giúp tôi bỏ nghiện thuốc lá và phấn đấu ăn chay, đến nay cả 2 việc đều đã hoàn thành.

2. Làm việc với cùng những phạm trù mà chúng tôi đã đề cập trong khóa học (Chia rẽTích hợp, và các phần khác nhau của vấn đề Kích thích), bạn đã hoặc đang trải qua những thử thách tâm lý nào? (Nhớ rằng khi tất cả chúng ta đấu tranh hướng tới sự giác ngộ, tất cả những điều kiện và thách thức này đều là một phần tự nhiên và bình thường của kinh nghiệm linh hồnchúng ta. Chúng cungcấp những bài kiểm tra điểm đạo khác nhau mà chúng ta phải thực hiện). Chúng thể hiện và ảnh hưởng đến bạn, cuộc sống của bạn, mối quan hệ của bạn như thế nào? Nếu bạn đã trải nghiệm nhiều hơn một trong những vấn đề này, hãy chọn một vấn đề để làm việc.

Trả lời: Các vẫn đề tâm lý tôi đã gặp phải trong đời, bao gồm cả 3 vấn đề chia rẽ – Tích hợp – Kích thích. Tuy nhiên gần đây nhất, mang tính Tâm linh nhất là vấn đề Kích thích, nó sảy ra thời kỳ tôi chưa học MF, ở thời điểm tuổi 48 khi tôi bắt đầu đọc về Phật pháp và ứng dụng tham thiền theo Đức Phật dậy, chủ yếu tham thiền theo sự hướng dẫn của Clip Sự thật về Linh hồn, đặc biệt từ phút thứ 40 trở đi trong Clip, mô tả ngồi thiền xuất hồn đi “Du lịch” khắp vũ trụ làm tôi ngưỡng mộ vô cùng, nó cũng giúp tôi nhớ lại ở thời gian khoảng 35-40 tuổi, tôi có một giấc mơ duy nhất một lần, trong tỉnh thức hoàn toàn lên không thể quên, trong giấc mơ tôi cũng xuất hồn và có sợi giây bạc y trang như đoạn Clip dạy thiền trên, nó giống như chính tôi phác họa lại giấc mơ qua Clip đó vậy. Không những thế, qua thongthienhoc.com tôi lại biết được rằng, hàng năm vào kỳ Trăng trong tháng 4, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn hiện diện ở Trái đất của chúng ta để ban phước lành cho chúng sinh ở một địa điểm linh sơn trên dãy Hy mã Lạp Sơn (Xem lễWesak – Phật hiện), và những ai có thể ngồi thiền xuất hồn được thì có cơ hội được tham dự lễ Phật hiện tuyệt vời này. Điều này đã cuốn hút tôi hoàn toàn. Từ người chưa ngồi thiền bao giờ, tôi bắt đầu tập buông xả công việc, gia đình để giành thời giantham thiền ngày 3 thời (Sáng-Chưa-Chiều). Tham thiền quyết liệt và tốc độ “Mặc kệ, dù chân có đau tê dã dời” trong chưa đầy một năm, trong đầu tôi bắt đầu xuất hiện các điểm lóe sáng bất kể ngày hay đêm, mật độ nhiều dần, không hiểu từ đâu ra, nhưng nhận thức thì mỗi khi có một điểm lóe sáng bất chợt xuất hiện trong đầu, như tôi nhìn thấy rõ ngôi sao sáng trên bầu trời đêm vậy, tất nhiên là đầu óc có cẳng thẳng và trống rỗng, nhưng vì thiếu hiểu biết lên tôi vẫn duy trì đều đặn việc thiền định. Chỉ đến khi thì tôi đọc được bài “Những vấn đề cần tránh khi tham thiền của Chân Sư DK”, có đề cập đến đúng hiện tượng của tôi đang mắc phải, thật tuyệt vời, điều này đã làm tôi bừng tỉnh, và không giám tham thiền tiếp tục nữa, mục đích là để thực hiện theo lời dậy của Chân SưDK là cần chuẩn bị Thân và Tâm “Sạch”, đồng thời biết rằng tiến hóa tam linh rất chậm, không thể nhanh hay đốt cháy giai đoạn được. Tuy nhiên, rất tiếc cho đến nay, khi đã học tham thiền tại MF, đã ăn chay và sửa tâm tính để có thân tâm “Sạch bước đầu”, nhưng trong tham thiền hàng ngày, dù đã cố gắng cũng không thể có được những phút “nhập định” tuyệt vời của kỳ tham thiền quyết liệt đó. Tôi tự đánh giá mình là người “trung bình” đã bắt đầu tìm được định hướng nhìn về con đường Đạo của người Chí nguyệnĐệ tử được 2 năm nay, đến nay luôn vững vàng mục tiêu tiến nhập là một với Linh hồn, bởi tôi nhận thức được Vô Minh là nguồn gốc của Luân hồi khổ đau và do đó đã phấn đấu để xóa bỏ nó, và bước đầu đã thành công vì đã ăn chay trường được gần một năm, bởi động cơ thúc đẩy việc ăn chay trường là vì “Tình thươngchúng sinh đích thực, không có lý do gì biện minh cho việc ăn thịt chúng sinh mà vẫn thao thao nói về tình thương “Đại Từ Đại Bi”, nó không tương ứng như lời dạy của Đức Phật mà tôi đã nghe được ở đâu đó và nhớ mãi “Người ăn thịt chúng sinh không phải là Đệ tử của Ta”.

3. Bạn nghĩ gì về cung“vấn đề” đó – nghĩa là cungcó khả năng liên quan đến rối loạn này? Bạn có cung này trong cấu trúc cung của bạn không? Nếu có thì ở đâu? Nó góp phần cho vấn đề như thế nào?

Trả lời: Tôi có cung Mặt TrờiXử Nữ (Dẫn truyền Cung 2Cung 6) và Hành tinh chủ quản phàm ngãThủy tinh (dẫn truyền Cung 4). Cung Mặt TrăngBảo Bình (Dẫn truyền Cung 5) và Hành tinh chủ quản là Hải Vương Tinh truyền dẫn Cung 6. Tóm lại, trong tôi có Sao Thủy + Cung 5 của Bảo Bình + Hải Vương Tinh đều chủ về Trí tuệ và hay thay đổi, hai cung 6 nói lên sự sùng tín mạnh mẽ và có bốn Cung âm chủ về hướng nội, tất cả nói lên sự tập chung quá mức của Trí tuệ mà không có sự kiềm chế sẽ làm gia tăng căng thẳng, trong tham thiền khi năng lượng tuôn đổ mạnh mẽ vào phàm ngã chưa được chuẩn bị về mặt tâm linh là nguyên nhân của sự Kích thích mạnh mẽ của thể trí, gây ra bệnh sinh lý của tôi “Sự lóe sáng trong đầu” do năng lượng tuôn đổ quá mạnh trong thời gian ngắn. Ngoài ra, sự kích thíc cũng gây ra sự cuồng tín và ngồi đâu cũng nói truyện Chân SưMinh Triết mới cho dù có vẻ lạc lõng.

4. Trong các Cung MọcCung Mặt trờihoặc CungMặt trăng của bạn, cung nào có ảnh hưởng nhất trong việc góp phần vào vấn đề đó? Đặc biệt là những lực hay đặc điểm Chiêm tinh/ Cung nào của Cung Hoàng đạo đó?

Trả lời: Cung Mặt Trăng Bảo BìnhHải Vương tinh tạo lên sự Kích thích trí tuệ và sự cuồng tín là nguyên nhân chủ đạo gây ra các vấn đề tâm lý của tôi. Hành tinh Thủy tinh của Cung Mặt Trời Xử Nữ cũng góp phần quan trọng vào sự tập trung trí tuệ quá mức của tôi.

6. Bạn nghĩ các luân xa nào đã tham gia vào kinh nghiệm này? Đã có các rắc rối về sức khoẻ chưa?

+ Luân xa Ajna và luân xa đỉnh đầu (Vì khi đó tôi thường thiền nạp năng lượng vũ trụ) tạo lên rối loạn này. Tuy chưa tạo ra rắc rối về sức khỏe, nhưng sự căng thẳng đầu óc tồn tại nhiều ngày, nó cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự tìm tòi tại sao lại sảy ra sự căng thẳng mà từ xưa chưa bao giờ bị kiểu này, do tôi đã lĩnh hội được câu nói trong Thánh Kinh trước đó “Hãy gõ cửa thì cửa sẽ mở, hãy tìm thì ngươi sẽ gặp”, và tôi cũng hiểu Gõ cửa và Tìm là từ trong thâm tâm, do đó hàng ngày tôi luôn nung nấu ước tìm được tài liệu nói về vấn đề này, từ đó mà tìm được bài viết của Chân Sư DK nói về các vấn đề cần tránh khi tham thiền. Thật tuyệt vì tôi đã đủ duyên.

7. Phương pháp trị liệu nào được khuyến cáo cho thử thách này? Những đức tính nào sẽ cân bằng sự thái quá của Cung? Những huấn thị linh từlinh hồnnào được đưa ra trong chiêm tinh nội môn sẽ giúp cho tình trạng này? Bạn đã áp dụng bất kỳ kỹ thuật cân bằng nào – có ý thức hoặc vô ý thức, và nếu có, cái nào và kết quả ra sao?

Trả lời: Chân Sư DK dạy là phải dừng lại và nghỉ ngơi đến khi mọi vấn đề tâm lý trở về bình thường. Chân Sư cũng dạy, muốn đi xa phải đi từ từ, sự phát triển tâm linh là rất chậm, trải qua nhiều kiếp sống mới mong có thành quả. Cho lên tôi tạm thời không tập chung thiền kiểu đó nữa. Tôi làm theo Chân Sư dạy là cần phải cân bằng giữa tham thiền với chuẩn bị Xác thân “Sạch” và hoạt động phụng sự vô kỷ. Rất may là ngay thời điểm đó, tôi đọc thấy tiêu trí giảng dạy của Trường MF trên cơ sở giáo lý của các Chân Sư, tôi thấy mình đã chọn đúng “Thầy”, tôi đã đăng ký xin học MF kịp thời. Có lẽ, do chức năng tiến hóa của bản năng Bảo Bình là từ phàm ngã “mọi thứ cho mọi người”, lên thành: Tập thể thức có tính bao gồm của người đệ tử đã giúp tôi chọn đúng con đường đạo này.

8. Cuối cùng, với tư cách là một người bạn yêu quý có kinh nghiệm trong phân tích tâm lý bí truyền, bạn đã từng đưa ra lời khuyên nào cho chính mình trong quá khứ, để giúp bạn vượt qua thử thách? Có lời khuyên nào bạn muốn tự cho mình ngày hôm nay không?

+ Trong quá khứ, tôi đã tự nhắc nhở mình là không được đốt cháy giai đoạn, không được tìm kiếm sự tiến hóa giáng hạ, do đó phải tránh xa các Thần thông bậc thấp, không để nó cuốn hút, quyến dũ mà xa lìa đường Đạo. Giờ đây tôi nhận thức rằng, việc đầu tiên phải làm sâu sắc sự thấu hiểu về Vô minh, trên cơ sở có sự phân biện, hiểu rằng đời sống là khổ, luân hồi là vô ích. Từ đó hàng ngày thực hành Giới Luật với mục tiêu luân ở trên đường để tiến hóa thăng thượng.

9. Cuối cùng, hãy viết một đoạn về bản thân mình như một người chí nguyệnhay đệ tử, và những gì bạn nghĩ rằng khóa học này đã thêm vào nhiều kỹ năng của bạn, để hỗ trợ bạn trong công việc phụng sựtrong tương lai của bạn. Bạn nghĩ gì về công việc này?

+ Hàng ngày, tôi duy trì đều đặn tham thiền theo giao lý của MF, nghiên cứu minh triết mới cho tôi ánh sáng trí tuệ rộng mở,biết phải làm gì, như thế nào để vững bước trên đường Đạo. Hàng ngày tôi cũng , trước khi lễ Phật, tôi cũng có tham thiền để Phát quảng đại bồ đề tâm theo Bồ Tát Quan Thế Âm dạy gồm: Tâm Đại Từ Bi; Tâm Bình Đẳng; Tâm Vô Vi; Tâm Vô Niệm Trước; Tâm Quán Không; Tâm Cung Kính; Tâm Khiêm Tốn; Tâm Vô Tạp Loạn; Tâm Vô Khiến Thủ; Tâm Vô Thượng Bồ Đề. Tôi nghĩ chính những suy ngẫm từng câu để thấu hiểu về Quảng đại bồ đề tâm này hàng ngày, đã giúp tôi phát triển tâm thức bao gồm rất tốt và bền vững nữa. Học MF đã giúp tôi phụng sự hàng ngày bằng các bài Chú nguyện, kiến thức của MF giúp tôi hiểu bản thân mình, về con người tâm linh của mình. Trong sự hiểu biết tạm thời của mình, tôi luôn cố gắng phổ biến minh triết mới tới những người hữu duyên khi có cơ hội, để thực hiện lời dạy của Chân Sư DK: Kiến thức học được mà không cho đi, không ứng dụng vào cuộc sống, giống như ăn mà không tiêu hóa được. Tôi cũng hiểu rõ rằng, PHỤNG SỰ NHÂN LOẠI là trách nhiệm của những người muốn vào đường đạo thật sự.

Dự thảo Báo cáo năm GQ1: Hồ sơ nội môn Tưởng Giới Thạch

GQ1.7   Hướng dẫn viết luận văn DHY: hồ sơ nội môn của một nhân vật nổi tiếng

BÀI LUẬN VĂN CẦN VIẾT TRONG “NỬA TỐI CỦA NĂM” (DHY)

Nhiệm vụ của bạn là viết một bài luận văn – một hồ sơ tâm lý học nội mônvề một người nổi tiếng mà bạn chọn. Cơ bản, bài viết của bạn phải bao gồm có năm phần sau, nhưng vui lòng bao gồm thêm các phần bổ sung nếu bạn thấy cần thiết. Hãy làm cho bài viết của bạn đầy màu sắc, sử dụng các hình ảnh, các liên kết video, sơ đồ, v.v… Hãy yêu cầu trợ giúp từ mentor của bạn nếu bạn không chắc chắn làm thế nào để chèn hình ảnh hoặc liên kết video. Hãy làm cho bài viết của bạn gọn gàng, sử dụng các tiêu đề rõ ràng để độc giả cảm thấy dễ dàng khi đọc luận án của bạn. Tất cả các bài văn được chấp nhận được post lên cho mọi người đọc. Điều này có nghĩa rằng bạn không nên bao gồm trong bài văn của bạn nguyên văn của bất kỳ một trong các hướng dẫn dưới đây.

Hãy sử dụng năm tiêu đề dưới đây trong bài viết của bạn.

Các gợi ý được thực hiện để giúp bạn hình thành bài viết của bạn. Đây chỉ là những gợi ý.

” TƯỞNG GIỚI THẠCH LÀ ANH HÙNG

ĐÃ LÀ ANH HÙNG THÌ KHÔNG THỂ LÀ NGƯỜI ĐANG ĐI TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO “

I- Tiểu sử (Biography): TƯỞNG GIỚI THẠCH – Đài Loan – Trung Quốc (Tóm tắt tiều sử của nhân vật (ít nhất một trang giấy), bao gồm những chi tiết khiến nhân vật đó nổi tiếng. Thêm một hình ảnh của nhân vật)

Tưởng Trung Chính còn gọi là Tưởng Giới Thạch, là nhà chính trị và nhà quân sự nổi tiếng tronglịch sử Trung Quốc cận đại. Ông sinh vào giờ Ngọ ngày 15 tháng 9 năm Quang Tự thứ 39 (tức ngày 31 tháng 10 năm 1887) tại hiệu muối Ngọc Thái, trấn Khê Khẩu, huyện Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang, mất tại Đài Bắc, đảo Đài Loan.

Tuổi thơ đã sớm thể hiện sự thông minh, tinh nghịch, thích bạo lựcBiểu hiện là thích múa nghịch dao gậy, gọi con nhà hàng xóm đến chơi trò chiến đấu, tự mình làm đại tướng chỉ huy, lên bục kể chuyện xưa, lấy đó làm niềm vui.

Thiếu thời: Tưởng Giới Thạch là người ham học, học rộng, hiểu nhiều. Lúc được 5 tuổi ( năm 1892 ) ông đã đi học trường tư, đồng thời còn đọc “Đại Học“, “Trung Dung“, “Luận ngữ“, “Mạnh Tử“, “Lễ ký“. Từ năm 1896 ( 9 tuổi ), lần lượt đọc “Hiếu Kinh“, “Xuân Thu“, “Tả truyện“, “Thi kinh“, “Thượng thư“, “Dịch Kinh“. Thời kỳ thanh niên và trung niên, Tưởng Giới Thạch học tập giáo lý Trung Quốc học, việc tiếp nhận tri thứchiện đại là rất ít. Sớm biểu lộ lòng yêu nước và thích đấu tranh giải phóng quần chúng khỏi lầm than. Năm 1906, ông đã có ham muốn được học tập quân sự tại Nhật Bản, nhưng phải đến năm 1908, ông mới chính thức được sang Nhật Bản học tập quân sự tại trường Shinbu Tokyo. Ngoài ra, ông cũng luôn học về quân sự khi có điều kiện. Do học giáo dục quân sự khiến cho Tưởng Giới Thạch có tư duy quân sự hóa cao.

Tham gia quân đội năm 22 tuổi (1909), Tưởng Giới Thạch lần đầu gặp Tôn Trung Sơn, đàm luận quốc sự. Đây là sự kiện lớn đánh dấu sự khởi đầu binh nghiệp trai trẻ rất hợp thời vận của ông, giúp ông phát huy được nănglực, sở trường với ý chí mạnh mẽ được làm “ Cách mạng ”, chống lại áp bức trong nước và sự xâm lược của Nhật Bản, Anh, Pháp. Liên tục gặp quá trình khủng hoảng, với thành bại niên tiếp trong binh nghiệp của ông, có vài lần phải trốn tránh lánh nạn bắt bớ.

Tham gia chính trị và nổi tiếng do có sự dũng cảm và lòng trung thành với Tôn Trung Sơn, năm 1922 ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Đông lộ thảo tặc quân. Các năm tiếp tuy theo liên tiếp được thăng chức, nhưng cũng lắm hiểm nguy và sáo trộn do nội bộ mất đoàn kết, làm phản, lại thêm sự kiện năm 1925 Tôn Trung Sơn từ trần tại Bắc Kinh, càng làm nội bộ rối ren, chia rẽ, chinh phạt lẫn nhau. Cũng năm 2025, Tưởng GiớiThạch đắc cử làm ủy viên thường vụ Ban chấp hành trung ương đảng khóa II – Quốc Dân Đảng.

Ông lãnh đạo quân đội Quốc Dân Đảng Bắc phạt, dù lãnh đạo và chiến đấu liên tục, nhưng do nội bộ đảng chia rẽ, binh lực của Quốc Dân Đảng không tập chung nên bị thất bại, tuyên bố từ chức để giảm chia giẽ và giữ đoàn kết nội bộ, ông về quê nghỉ dưỡng.

Tưởng Giới Thạch trải qua nhiều đời vợ. Ông lấy vợ từ rất sớm, nhưng chỉ có người vợ đầu là danh chính ngôn thuận, được dòng tộc tín nhiệm cao và luôn được dòng tộc bảo vệ mỗi khi bà bị Tưởng Giới Thạch bạc đãi, nhất là khi ông đòi ly hôn không có lý do chính đáng, mục đích là để hợp thức hóa vợ khác hoặc lấy vợ mới. Tưởng Giới Thạch còn ít nhất 2 bà vợ khác (Theo truyện Bí mật cuộc đời Tưởng Giới Thạch), đều là lấy theo cảm hứng và có phần vì nhu cầu nhục dục thấp kém, vì sắc đẹp, trong đó có một người vợ là kỹ nữ lầu xanh xinh đẹp nổi tiếng. Người cuối cùng ông lấy làm vợ vào tháng 12/1927, là Tống Mỹ Linh, kết hôn tại Thượng Hải. sau khi vượt qua được sự cấm cản, kịch liệt phản đối của Mẹ Tống Mỹ Linh, vì Tưởng Giới Thạch đã chứng minh được rằng ông đã ly hôn và hứa rằng, sau này ông sẽ chuyển từ Đạo Phật qua Kitô Giáo của bà Tống Mỹ Linh và gia đình (Nguồn). Theo sử sách thì đây cũng là đám cưới mang mục đích chính trị rõ rệt, nhưng rõ dàng là có lợi cho chính trường Trung Quốc bấy giờ, bởi sự giầu có và uy tín tầm cỡ quốc gia của gia đình, dòng tộc bà Tống Mỹ Linh. Điều này được chứng minh rất rõ theo sử sách ghi lại, thì một khởi đầu xây dựng lại uy tín chính trị của Tưởng Giới Thạch, phần lớn dựa vào nhà vợ, là tài chính nhà vợ và những cuộc “vận động hành lang” giúp Tưởng Giới Thạch đứng vào hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thời bấy giờ.

Do được hậu thuẫn mạnh mẽ từ kết quả của cuộc hôn nhân với Tống Khánh Linh, cho dù ban đầu mang đậm mầu sắc chính trị, nhưng sử sách cũng chứng minh rằng bà Tống Mỹ Linh cũng có tố chất chính trị mạnh mẽ, thông minh tuyệt vời, xứng tầm là Đệ nhất phu nhân, đã cùng dòng tộc giúp sức cho Tưởng Giới Thạch rất nhiều trên con đường chính trị. Ngoài ra, cũng do trung ương Quốc Dân Đảng còn tín nhiệm cao đối với ông, lên đã bầu ông là ủy viên trung ương, mời ông tiếp tục tham gia lãnh đạo cách mạng, tiếp tục giữ nhiều chức vụ lãnh đạo cao cấp trong quân đội, chiến đấu bắc phạt thành công, thống nhất quốc gia. Tháng 10/1928, Tưởng GiớiThạch nhậm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc Dân.

Thời bình của Quốc Dân Đảng chẳng được bao lâu, việc kiến thiết và giải trừ Đảng Cộng Sản Trung Quốc được tiến hành. Do nội bộ tiếp tục mất đoàn kết. Nhằm thúc đẩy đoàn kết trong đảng, Tưởng Giới Thạch từ chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân, dời Nam Kinh về quê. Tuy nhiên, việc từ chức chẳng mang lại đoàn kết trong đảng như Tưởng Giới Thạch mong muốn. Năm 1932, do vẫn có uy tín trong đảng, ông lại giữ chức ủy viên trưởng Ủy ban Quân sự Chính phủ Quốc dân kiêm Tổng tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu của Quốc Dân Đảng, rồi sử lý bình ổn xung đột nội bộ, đồng thời chỉ đạo cùng lúc ứng đối thù trong giặc ngoài, loại trừ phe Đảng Cộng Sản và kháng Nhật xâm lược.

Năm 1936, Tưởng Giới Thạch bị buộc phải chấp nhận đình chỉ nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất trí chủ trương kháng Nhật, bắt đầu Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhì. Thời kỳ này cũng vẫn tồn tại nội chiến và chiến tranh với Nhật bùng phát.

Năm 1939, Tưởng Giới Thạch được Quốc Dân Đảng bầu làm ủy viên trưởng, thống nhất chỉ huy chính phủ – quân đội.

Năm 1943, Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Lâm Sâm từ trần, Tưởng GiớiThạch được bầu kế nhiệm. Cùng năm, bốn quốc gia là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô tại Moskva ký kết tuyên bố chung, mặt trận phản xâm lược ngày càng được củng cố.

Năm 1945, Tưởng Giới Thạch thay mặt Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Liên Xô ký kết Điều ước Đồng minh Hữu hảo Trung-Xô. Tháng 12/1945, Tưởng Giới Thạch buộc phái ký kết “Hiệp nghị về biện pháp đình chỉ xung đột quan sự quốc nội ( Với Đảng Cộng Sản). Thời bình chẳng được lâu, tháng 7/1947, Tưởng Giới Thạch lban bố lệnh bình cộng dẹp loạn, nội chiến tiếp tục.

Tháng 5/1948, Tưởng Giới Thạch nhận chức Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc khóa 1. Ông tiếp tục duy trì cuộc chiến chống Cộng, tuy nhiên tình thế lại đảo ngược, Đảng Cộng Sản giành ưu thế mạnh mẽ, dù đã lỗ lựckháng cộng mạnh mẽ, nhưng tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch và Chính Phủ Quốc Dân chuyển đại bản doanh về Đài Bắc, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước.

Tại Đài Loan, Chính Phủ Tưởng Giới Thạch lại thành công trong bình ổn chính trị, ngoại giao và phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đến năm 1971, do uy tín trên trường quốc tế giảm sút, do tình hình quốc tế bất lợi. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Hoa Dân Quốc bị buộc rời khỏi Liên Hiệp Quốc, thay vào đó là Chính Phủ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đài Loan không còn là quốc gia độc lập nữa.

Ngày 5/04/1975, trên cương vị Tổng Thống nhiều khóa của Đài Loan, Tưởng Giới Thạch đột ngột phát bệnh Tim, nên từ trần.

+ Về công và tội: Tuy có ý kiến trái chiều, nhưng sử sách đã ghi, vào tháng 12 năm 1971, Mao Trạch Đông (Đảng Cộng Sản đối lập với Quốc Dân Đảng) khi đàm thoại nội bộ có nói “Tưởng Giới Thạch có một số ưu điểm là sự thực lịch sử khách quan, chúng ta giảng sử cần phải lưu tâm, một là Bắc phạt thống nhất Trung Quốc, hai là Chiến tranh kháng Nhật, ba là thu hồi Đài Loan-Bành Hồ, bốn là mở mang biên cương trên biển. Đó dù sao cũng là thành tích của một lãnh tụ quốc gia mới có thể làm được. Ông xứng đáng là anh hùng của dân tộc Đài Loan (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia về Tưởng Giới Thạch, mục Đánh giá)

Nguồn tham khảo thêm: Xem tại đây

II- Bạn đặt nhân vật đó ở vị trí nào trên Đường Đạo: (Xin nêu bằng chứng về chọn lựa của bạn, những gì mà bạn đã thấy hay đã đọc về người đó);

1- Một người bình thường hay người tiến hóa chưa bước vào Đường Đạo:
* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.

a) Người bình thường: Căn cứ vào tài liệu ghi chép về tuổi thơ của ông, tố chất bản năng bẩm sinh là người thông minh, có trí thể hiện sự ham học, học rộng, hiểu nhiều. Thích và luôn làm tướng chỉ huy trong các trò chơi trẻ con. Chắc chắn Tưởng Giới Thạch là người người có tâm thức bản năngđã thể hiện là một Linh Hồn tiến hóa vượt bậc lên trên người bình thường.

a) Người tiến hóa chưa bước vào đường Đạo: Với bản năng bẩm sinh làngười thông minh, có trí thể hiện sự ham học, học rộng, hiểu nhiều. Ngay thời kỳ thanh niên và trung niên của ông sống trong cảnh loạn lạc, bần hàn, đất nước chia phe cánh sinh nội chiến, đã biểu lộ lòng yêu nước và thích đấu tranh với cái xấu, bảo vệ quần chúng. Do đó ông đã chọn con đường học tập các trường quân sự nổi tiếng trong và ngoài nước, mục đích là để tham gia quân đội, để được chiến đấu giải phóng dân tộc khỏi cảnh nội chiến, thống nhất đất nước.

Năm 22 tuổi đã gặp Tôn Trung Sơn, người đứng đầu một đội quân chiến đấu có tổ chức chặt chẽ để bàn truyện đại sự, tham gia đảng phái, mục đích cứu nguy dân tộc. Suốt thời kỳ trung niên, ông kinh qua đảm nhiệm nhiều chức vụ hàng đầu, có nhiều lúc đứng đầu một đảng phái chính trị chủ đạo của Trung Quốc. Thời kỳ này ông cũng trải qua thật nhiều sự biến cố thăng trầm liên tiếp, liên tiếp sảy ra, kèm theo thất bại, gian khổ, trốn chạy, tù đầy nhưng không làm ông nao núng tinh thần, bất chấp hiểm nguy đến tính mạng, vì nhân dân phục vụ. Đây chính là biểu hiện mạnh mẽ ý chí mạnh mẽ, kiên cường, kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chảy xuyết suốt trong ông cho đến cuối đời.

Tóm lại: Thủa trung niên, ông luôn lãnh đạo đội quân của mình lao vào các trận nội chiến tàn khốc, với quyết tâm không gì lay chuyển là chiến đấu để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Giai đoạn trung niên này đã chứng tỏ sự biểu hiện của Phàm ngã hợp nhất mạnh mẽ và mở rộng, nhưng có vẻ như chưa được Linh hồn sáng và dẫn dắt đáng kể, bằng chứng là suốt đời ông luôn lựa chọn và trung thành với khẩu hiệu chiến đấu, đấu tranh võ trang để dành lại ” Công bằng, dân chủ, văn minh ” cho nhân dân, cho dân tộc, nhưng rõ ràng đây không phải là tố chất của Linh HồnLinh Hồn luôn thấu hiểu luật Nhân Quả, vì vậy không bao giờ chọn đấu tranh võ trang để tìm kiếm hòa bình, thịnh vượng. Nên ông chắc chắn là người tiến hóa và xu hướng phát triển còn hơn thế nữa, vì trong ông còn có tiềm ẩn tiềm năng rất lớn đề phát triển đời sống tâm linh trong kiếp sống này. Chúng ta xem hành động ” Ông không chấp nhận lời đề nghị của Hòa Kỳ, dùng Bom Nguyên Tử phản công đối phương, để giành chiến thắng, thống nhất đất nước, và hiển nhiên là người đứng đầu đất nước “, đây chính là điểm dừng đúng đắn của Phàm ngã tiến hóa, dấu hiệu của Linh Hồn cung 2 – Minh Triết đã hiển hiện trong ông, khi ông đã ở tầm tuổi 60, tuổi mà kinh nghiệm học hỏi việc đời đã đủ chín để Phàm ngã tiến hóa tìm kiếm an vui rộng lớn hơn.

2- Một người chí nguyện (người tầm đạo) (ở giai đoạn đầu trên đường đạo – giai đoạn tinh luyện): Vào thời kỳ cuối đời, tôi cho rằng Tưởng GiớiThạch là một người chí nguyện, bởi suốt thời trung niên đến cuối đời, ông luôn biểu hiện rõ, nhiều tố chất mang năng lượng tâm linh cao, như:

Ông cũng biểu hiện mạnh mẽ lòng bác ái, vị tha, vì mục tiêu chung, vì tinthần tập thể, vì sự đoàn kết nội bộ, thể hiện qua mấy lần tự rút lui, không tham quyền cố vị, sẵn sàng chủ động cáo lão từ quan, tự nguyện từ bỏ chức vụ đang nắm giữ hay đề không nhận đề cử của tổ chức để ông nắm giữ chức vụ lãnh đạo hàng đầu, khi ông phát hiện thấy sự tranh giành chức quyền có nguy cơ sảy ra nội chiến trong nội bộ đảng phái của mình. Đây quả thực là năng lượng Cung 2 – Bác Ái – Minh Triết đã nảy nở trong ông, soi sáng tâm hồn ông.

Ông cũng được đánh giá là nhà lãnh đạo bảo hộ, đề cao và quan tâm sâu sắc đến nền giáo dục quốc gia cũng như bảo tồn,phát huy văn hóa tâm linh,biểu hiện dù chiến tranh loạn lạc, đói kém thế nào, các trường thuộc tất cả các cấp học đều được duy trì hoạt động tốt nhất có thể có được, thời buổichiến tranh rộng khắp nhưng ông có chính sách giáo viên và sinh viên đại học không phải đi lính, không khuyến khích và thậm trí còn bị cấm giáo viên và sinh viên xung phong đi lính. Đây cũng thể hiện rất rõ trong ông tố chất Cung 2 – Minh Triết được biểu hiện rõ, ông luôn nhìn xa trông rộng, đánh giá đúng về vị trí nền giáo dục trong phát triển quốc gia.

Chính sách của ông trái ngược với chế độ Mao Trạch Đông là phá bỏ chùa chiền, cấm dân chúng sinh hoạt và tu tập tâm linh, dù họ là tôn giáo nào đi nữa. Ở các vùng địa chính trị do ông quản lý, hoạt động ở đó, các công trình tâm linh luôn được bảo vệ, tu bổ và khuyến khích dân chúng tu tập tâm linh. Đây cũng thể hiện trong ông, Cung 2 – Bác Ái hiện diện không gì lay chuyển.

Tóm lại: Ông là người có Tâm thức rộng mở, luôn sống vì tự do tâm linh, phát triển dân trí, vì dân phục vụ. Ông chắc chắn là người đã tiến hóa và có tiềm năng rất lớn đề phát triển đời sống tâm linh trong kiếp sống này.

3- Một đệ tửthể hiện việc phụng sự tinh thần kiên định, nhưng vẫn còn phấn đấu để kiểm soát phàm ngã.

Qua bài báo: (Xem tại đây), ta thấy rằng, ông từ trong cuộc nội chiến mà thấy, ông đã trải qua biết bao trận chiến đấu cam go, ác liệt, mà cuối cùng phần thất bại thảm hại lại ở phía nơi ông. Nếu trong ông không có sự hiện diện mạnh mẽ của Cung 2 – Bác Ái và Minh Triết đã có sự chi phối phàm ngãđáng kể, thì khi ông nhận được đề nghị của Mỹ, dùng bom nguyên tử để giải quyết nhanh chóng cuộc nội chiến để giành phần thắng về phía bên ông, chắc chắn ông đã nhận lấy cơ hội chuyển bại thành thắng, có cơ ông thống nhất đất nước và trở thành nhà lãnh đạo quốc gia to lớn bậc nhất thếgiới. Nhưng ông không nhận lời, bởi ông đã chiến thắng phàm ngã, chiến thắng cái tôi, chấp nhận hy sinh cái tôi, vì chắc chắn ông hiểu thấu, nếu dùng bom nguyên tử sẽ có cơ đạt đỉnh cao danh vọng cá nhân và mục đích suốt cuộc đời ông theo đuổi, nhưng cái giá phải trả cho cái cơ hội của ông quá lớn, có thể hàng triệu người chết và hậu quả lâu dài thì không thể tính đếm.

( Xin trích từ bài báo đáng tin cậy: Bởi thông tin được trích từ quyền nhật ký do Tưởng Giới Thạch trực tiếp ghi chép, được chính gia đình TưởngGiới Thạch chuyển giao cho Viện Hoover công bố tại Mỹ, giới học thuật mới bắt đầu thay đổi ấn tượng đã ăn sâu về Tưởng Giới Thạch lâu nay. Họ sững sờ phát hiện ra “kẻ độc tài” mà chính phủ Trung Quốc rêu rao bao năm qua thực ra là một vĩ nhân, thẳng thắn, cương trực, đường hoàng, đạo đức.

Jay Taylor là một nhà ngoại giao lâu năm, từng 2 lần đảm nhiệm chức vụ đại sứ Mỹ tại cả Trung Quốc và Đài Loan. Sau khi xem xong cuốn “Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ông mới hiểu được họ Tưởng đã cống hiến biết bao mồ hôi, tâm huyết cho đất nước, dân tộc. Từ đó ông trở thành một học giả phương Tây kêu gọi “bình phản” (lấy lại công bằng) một cách toàn diện cho Tưởng Giới Thạch.

Trong bài báo có nói, giới học giả nhận xét ” So với Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch chính là một chính nhân quân tử có nhân cách vô cùng cao thượng “ Xem nguồn ” )

Từ đó ta thấy, cuối thời trung niên ông đang ở giai đoạn khởi đầu tốt đẹp của người đệ tử, thậm trí ở thời điểm tuổi ngoài 60, ông có thể xứng đáng là một đệ tử trung bình trở lên, bởi cuộc đời ông cũng đã biết điểm dừng và quyết dừng với ý chí và chí phân biện sâu sắc, lý do là ông quyết không dùng sinh mạng của người dân để đổi lấy việc đạt mục tiêu cá nhân hay đảng phái của mình, mà đó lại là mục tiêu ” Đứng đầu một quốc gia rộng lớn, đông dân hàng đầu thế giới “, nếu ông vẫn là một Phàm ngã mà Phàm ngã, qua thể trí đã có thể thống trị xác thân, nhưng chưa được Linh Hồn soi sáng đáng kể, thì đây sẽ là Phàm ngã ích kỷ, cục bộ, suốt đời chiến đấu, tranh giành để nuôi khát vọng thống nhất đất nước, thì đây rõ ràng là cơ hội, một thiên cơ hiếm có, thật khó có thể từ bỏ. Thật vậy, nếu thực hiện, ông vừa đạt được mục đích cuộc đời là ” Thống nhất đất nước ” và là người đứng đầu quốc gia to lớn hàng đầu thế giới. Đó chính thật là một “hào quang sáng chói”, siêu khủng, mà với Phàm ngã chưa được Linh Hồnsoi sáng, không thể và không bao giờ chịu từ bỏ cơ hội hiếm có đó, và do đó không thể có ý chí thép, quyết định rứt khoát từ chối sự giúp đỡ của Mỹ là ” Dùng bom nguyên tử phản công đại lục để thống nhất đất nước Trung Hoa”. Ở đây, xin chích câu nói của Chân Sư thật có ý nghĩa ” Vận mệnh của mỗi quốc gia nằm trong tay các vị lãnh đạo quốc gia đó “.

Thời điểm Mỹ có lời đề nghị muốn giúp ông dùng Bom nguyên tử để phản công đại lục, ông đang là người đương kim đứng đầu một đảng phái lớn, đứng đầu một quốc gia (Quốc đảo), lại thống lĩnh lực lượng vũ trang, hiển nhiên ông có vai trò rất lớn, thậm trí quyết định trong việc nhận hay từ bỏ cơ hội sử dụng bom nguyên tử mà Mỹ muốn được giúp đỡ này, và thực tế ông đã từ bỏ lời đề nghị đến ba lần. Phải nói, thời điểm năm 1949, ông đã  hơn 60 tuổi, ông là người chí nguyện, tức là ông đã trải qua thời giandài Phàm ngã đã được củng cố và phát triển đạt đỉnh cao của kiếp sống, do đó, đây chính là thời điểm năng lượng Linh Hồn có thể tuôn đổ, phát huy mạnh mẽ để biến đổi Phàm ngã người Chí nguyện tiến hóa theo hướng bao gồm hơn và minh triết hơn (Từ thời trẻ, ông là người rất chú trọng phát triển giáo dục quốc dân và gìn giữ văn hóa tâm linh quốc gia, chứng tỏMinh triết trong ông phát huy rất sớm, và thực tế cho đến cuối đời, Minh triết trong ông ngày càng phát huy đúng hướng), giúp ông có một Phàm ngã thống nhất, nhờ đó có sự chi phối đáng kể của năng lượng Linh Hồn, Bác Ái – Minh Triết hiện diện trong ông, ông có sự phân biện sâu sắc, ông không chấp nhận đánh đổi hàng trăm nghìn sinh mạng dân chúng phải chếttrong đau đơn, cộng với hậu quả kéo dài, và tất nhiên phần thắng hoàn toàn có hướng khả thi, nhanh chóng đạt được sự thống nhất đất nước, và hiển nhiên ông sẽ có vị trí xứng đáng hàng đầu, là nhà lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, một người đứng đầu quốc gia đông dân nhất thế giới, thật không rễ từ bỏ chút nào, nếu trong ông không có Bái Ái – Minh Triết hiện diện và tác động mạnh mẽ và quyết đoán. Vậy, chỉ duy nhất việc từ chối dùng Bom nguyên tử này thôi, chắc chắn trong ông đã sảy ra một trận chiến về lý trí mạnh mẽ, trận chiến vì sự sống của muôn người, và một bên là trên đỉnh quyền lực tột cùng mà biết bao người quyền chí thèm muốn, vậy mà ông đã chiến thắng, từ bỏ cái tôi để đổi lấy sự sống của muôn người, cho lên tôi suy luận, vào thời điểm đó, ông là người chí nguyện, đã bước một chân lên con đường Đệ tử.

4- Một điểm đạo đồ đã chiến thắng phàm ngã và tham gia vào việcphụng sự thế gian: Một điểm đạo đồ phải là người đã được Linh Hồn dẫn dắt, theo đó Cung 2 tình thương đại từ đại bi, đã giúp phàm ngã xóa bỏ vô minh, hiểu rõ luật Nhân Quả, cuộc sống luôn hướng vào công việc phụng sự thế gian bằng Bác Ái – Minh Triết, với lòng phụng sự vô kỷ, không hề phân biệt bạn, thù, đảng phái kể cả giữa các dân tộc, quốc gia, bởi Tâm thức Linh hồn là bao gồm, do đó không cho phép người đó chủ động sử dụng các hành động chiến đấu vũ trang, cho dù là để giải phóng nhân dân, dân tộc khỏi áp bức, bóc lột ….., mà thực chất vẫn là đấu tranh đảng phái, nội chiến tàn sát lẫn nhau. Thực tế, tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch đãrút ra đảo Đài Loan, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước. Do đó Tưởng Giới Thạch không phải là một Điểm Đạo Đồ.

III- Hồ sơ các cung của nhân vật Đối với mỗi cung, hãy cung cấp các bằng chứng cho sự lựa chọn của bạn. Sẽ tốt hơn nếu bạn có thể cung cấp hình ảnh, hoặc các link video để giải thích cho sự lựa chọn của bạn ).

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi làm được bài luận này.

1- Cung thể xác – dĩ thái: Tưởng Giới Thạch có thể xác Cung 7:

Tôn Trung Sơn và TưởngGiới Thạch chụp ảnh sau lễ khai giảng Trường quân sự Hoàng Phố năm 1924. Tưởng Giới Thạch mặc lễ phục quân trang toàn thân, 1940. Tưởng Giới Thạch – Lý Tông Nhân trong lễ nhậm chức Tổng thống, Phó Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, ngày 20/ 5/ 1948

Ông có thể xác Cung 7: Trước hết ta thử xét đặc điểm nổi bật của người có Thể xác Cung 3, là người có cơ thể cơ bắp, hoạt động mạnh mẽ nhưng khó chuẩn về thời gian, không thích hợp bị gò bó bởi kỷ luật, kỷ cương, các đặc điểm này không phù hợp với ông. Qua các hình ảnh và mô tả phẩm tính của ông, từ niên thiếu cho đến suốt đời, Tưởng Giới Thạch luôn là người lính, gắn bó với sự nghiệp của mình ở môi trường chiến binh, thì hiển nhiên là nơi kỷ luật thép được thực thi, tức với giờ giấc và trình tự, nghi lễ, ông luôn phải là tấm gương, mới có thể phù hợp với những người lãnh đạo trong quân đội, và thực tế ông luôn là người lãnh đạo hàng đầu trong mọi thời kỳ, các điều này chứng minh rằng ông có thể xác cung 7 là phù hợp.

2- Cung thể cảm dục: Tưởng Giới Thạch có thể cảm dục Cung 6

+ Xét với thể cảm dục cung 2:  Bạn có thể xem xét sự từ chối một cách vô ngã hơn (2)? Nếu bạn bị phản bội bởi người mà bạn yêu thương và tin tưởng: có phải bạn bị thất vọng và tổn thương sâu sắc, nhưng mặt khác bạn lại lặng lẽ không có phản ứng (2); Có phải bạn đã đang cố gắng để thay đổi hành vi của bạn vì những phản ứng hung hăng và sự giận dữ của bạn đã đưa bạn vào rắc rối trong quá khứ, và bây giờ bạn được thanh thản hơn và có khả năng dốc hết lửa của bạn vào sự khát vọng hay sự cống hiến cho điều tốt cao cả hơn?

– Về đời sống tình cảm, vào lúc 40 tuổi, ông cưới vợ thứ 4 là Tống Mỹ Linh, Tưởng Giới Thạch cùng ngày cưới phát biểu trên báo rằng “hôm nay được kết hôn với Mỹ Linh hết sức kính ái, là một ngày quang vinh nhất, hân hoan nhất từ khi sinh ra tới nay”; ông tin sâu sắc rằng đời người nếu không có nhân duyên mĩ mãn, tất cả đều vô ý vị, do đó cách mạng bắt đầu từ gia đình. Đây cũng chứng tỏ, dù là thể cảm dục cung 2, nhưng tính bao gồm trong ông vẫn hạn chế, vẫn đề cao cuộc sống tìm cảm, nhục dục.

+ Xét với thể cảm dục cung 6: (Bạn có cho là sự việc mang tính cá nhân nếu có ai đó từ chối một cái gì đó quan trọng đối với bạn; Là người luôn có những khao khát sâu đậm, đam mê một cách rất mãnh liệt, phản ứng và hung hăng, tức giận và ghen tuông, luôn đề cao và chăm lo quyền lợi cá nhân).

– Điều này không phù hợp, thậm trí trái ngược với Tưởng Giới Thạch, bởi nếu người mang năng lượng cung 6 thì sự tham đắm đời sống hữu tình, đặc biệt với tuổi trẻ sẽ không thể là người, mà từ thời niên thiếu, dù không bị áp lực nào, ông đã chủ động khởi nuôi ý chí lớn, vì dân vì nước, chọn tham gia quân đội, học quân sự để về tham gia chiến đấu, với mục tiêu mong muốn đóng góp sức mình, kể cả hy sinh tính mạng để giúp dân, giúp nước, để sớm kết thúc nội chiến, thống nhất đất nước.

3- Cung trí tuệ (Cách bạn suy nghĩ, hoạch định, phân tích, tạo hình tư tưởng và truyền đạt tư tưởng của bạn):

+ Xét với Thể trí Cung 1: Như trên đã nói, ông thuộc dạng người tiến hóa, đương nhiên là người có thể Trí đã phát triển, tất nhiên thể cảm dụcđược thể trí phát triển dẫn dắt. Ông là người thông minh, từ bé đã thích các trò chơi mà bản thân luôn thích ở vị trí lãnh đạo người khác, lại kết hợp vớithể cảm dục Cung 2 – Minh triết. Theo mô tả “Một thể trí kiên quyết trong tư tưởng, thể trí quả quyết, nhất tâm, thực tế”, điều này hoàn toàn đúng với ông, bởi ở cái tuổi còn rất trẻ (1906, mới 19 tuổi), ông được mô tả “TưởngGiới Thạch quyết chí tham gia cách mạng, tự cắt đuôi sam, nhờ bạn báo tin cho gia đình để thể hiện quyết tâm này”, do ông đã có cái nhìn về sự suy tàn của chế độ nhà Thanh, trong nước nội chiến liên miên khiến ông quyết trí học quân sự để giúp thống nhất đất nước, chứng tỏ cung 1 hiện diện trong ông. Ông là người có ý chí mạnh mẽ, vì dân vì nướcbiểu hiện nănglực trí tuệ, quả cảm từ rất sớm (22 tuổi) đã gặp Tôn Trung Sơn, đang lãnh đạo đội một quân lớn chiến đấu, để bàn bạc phương cách đấu tranh, thống nhất đất nước. Ngoài ra, ta nhận thấy sự thăng trầm trong chiến đấu, với chiến thắng đan xen thất bại liên miên, liên tiếp nhưng ông rất bền bỉ, quyết chí chiến đấu đến cùng để thống nhất đất nước, cũng là một đặc điểm của cung 1 hiện diện trong ông >>> Tưởng Giới Thạch có Thể tríCung 1 – Ý chí, quyền lực;

+ Tôi thử xem xét người có Thể trí Cung 4 – Hài hòa qua xung đột:Đặc điểm thể trí cung 4 là người do dự, nước đôi, hay là người “không chia rẽ, làm cầu nối, liên kết, làm trung gian, hòa giải, phân giải”, hai điều này chắc chắn không hợp với người chiến binh, lại ở vị trí tổng chỉ huy chiến đấu biết bao trận chiến, chiến thắn cả quân Nhật xâm lược, thống lãnh Trung Quốc hơn 20 năm. Hay là trong trường hợp ông không có khả năng thuyết phục, dung hòa nội bộ giữa các lãnh đạo cấp cao trong đảng Quốc dân của ông, lên ông có ba lần từ bỏ chức vụ cao của mình về quê nghỉ ngơi để nhường chức vị cao nhất cho người khác, vì mục đích giữ đoàn kết nội bộ trong đảng (Đây cũng chứng tỏ cung 2 – Minh triết hiện diện trong ông). Do vậy, tôi cũng loại trừ thể trí cung 4 trong ông.

+ Tôi thử xem xét ông có Thể trí Cung 5: Điểm nổi bật mà người thể trícung 5 thường không thể có là ” Thiếu trí tưởng tượng và thiếu trực giáctheo đúng nghĩa”, cũng vì do có tính khoa học cao, đòi hỏi sự chính xác tỷ mỷ đến từng chi tiết, cho lên thường không thể tin vào PhậtBồ Tát, như mô tả về thể trí cung năm “Nó bất kính, hoài nghi đối với nhà Thần bí và người tu hành”, trong khi Tưởng Giới Thạch sinh ra trong gia đình có truyền thống theo đạo Phật, bản thân ông cũng là một Phật tử từ nhỏ, kể cả đến khi lấy vợ, do áp lực phải từ bỏ đạo Phật để theo Cơ Đốc Giáo mới được gia đình nhà gái chấp thuận cưới (bà Tống Mỹ Linh – 1927), ông cũng không rễ ràng từ bỏ đạo Phật.

– Chúng ta xem đoạn văn mô tả về sự tín ngưỡng của ông: ” Vào tháng 1 năm 1049, quân giải phóng đang trên đà thắng lợi, vương triều họ Tưởng sắp sửa bị tiêu diệt …., ông vào trong đại điện, nới thờ Bồ Tát, tự mình thắp hương, trong tâm yên lặng cầu nguyện, rồi rút một thẻ trong cốc, tìm Sư trụ trì chùa giảng nghĩa, kết quả không hay, lính thị vệ nói: Loại sự việc như thế này không tin tưởng được, Tưởng Giới Thạch nghiêm giọng nói: KHÔNG ĐƯỢC PHÉP NÓI BỪA, BỒ TÁT Ở MIẾU VŨ SƠN RẤT LINH ĐÓ, và kết quả quả thực linh ứng. Do đó, tôi loại trừ Tưởng giớithạch có thể trí cung 5 (Xem sách: Bí mật cuộc đời và gia thế Tưởng GiớiThạch_Tr 57-58)

4- Cung phàm ngã Căn cứ vào các chỉ dẫn chủ yếu trong GQ1, gồm:

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi làm được bài luận này.

Cách mà bạn khẳng định uy quyền của bạn, cố gắng kiểm soát người khác, các cungthấp là cung phụ của Cung Phàm ngã. Khi cung Phàm ngã hiện hữu, nó nhuộm màu các cung thấp……..Chúng ta thường xác định cung Phàm ngã là cung mang lại sự cân bằng, thống nhất các thể qua thể trí tiến bộ, hoạt động mạnh mẽ_Theo thiết lập biểu đồ cung GQ1.

Tâm thức phàm ngã là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạoTrạng thái này tác động trong vật chất và chất liệu để tạo ra các hình tướng mà qua đó phẩm tính có thể tự biểu lộ, và nhờ thế thể hiện bản chất thiêng liêng trên cõi hiện tượng (Xem: Tâm thức – Tâm thức Phàm ngã – Linh hồn – Chân thần GQ1).

– Các Phàm ngã tách biệt và chia rẽ: và đây là định nghĩa thông dụng nhất cho “phàm ngã”. Định nghĩa này xem mỗi con người như là một nhân vật. Nhưng thực ra, nhiều người chỉ là những con vật với các xung lực cao còn mơ hồ; trong khi những người khác là những người trung bình, bị ảnh hưởng bởi bản chất ham muốn của họ hoặc bởi những ý tưởng vốn không phải là của riêng họ.

– Các Phàm ngã là những người được phối kết và được tích hợp. Họ khỏe mạnh về thểchất, có sự kiểm soát cảm xúc, phát triển về trí tuệ, và đã hoàn chỉnh công cụ tuyến (glandular). Các tính chất thể xác, tình cảm và trí tuệ được hợp nhất và hoạt động như là một, tạo ra một bộ máy lệ thuộc vào ý chí của phàm ngã. Chính ở giai đoạn này xảy ra một khuynh hướng thiên về chính đạo hoặc thiên về tả đạo.

– Phàm ngã là những người của vận mệnh: họ có đủ sức mạnh ý chí để rèn luyện bản chất thấp sao cho họ có thể thực hiện một vận mệnh mà họ nhận thức một cách vô thức. Họ được chia thành hai nhóm: Những người không có sự tiếp xúc với linh hồn: họ bị thôi thúc tiến đến vận mệnh của họ bởi một ý thức về quyền lực, tự ái, tham vọng cao quý, một phức hợp tự tôn, và sự quyết tâm đạt đến đỉnh cao nhất của ngành nghề cụ thể của họ. Những người tiếp xúc với linh hồn ở mức độ nhỏ, mà phương pháp và động cơ của họ là một hỗn hợp của tính ích kỷ và tầm nhìn tâm linh.
Xem nguồn GQ 1: Mục tiêu tinh thầnCon người, TâmThức – Tâm Thức AryaCon người Thông minh

– Phàm ngã có thể dần dần cảm thấy được vận mệnh của mình. Những người có Phàm ngã phát triển cao đều có năng lực ý chí đủ mạnh để khuất phục phàm tính của mình theo giới luật, để chúng có thể hoàn thành vận mệnh đưa chúng đến đỉnh cao thành đạt của phàm ngã.

Thế giới ngày nay có vô số nhân vật. Chúng ta thấy những người nam và nữ đã thống nhất và phối hợp trong tâm tính, nhưng họ vẫn chưa ở dưới ảnh hưởng linh hồn của mình. Ý chí cá nhân và tình thương vị kỷ là yếu tố mạnh mẽ trong đời họ, và họ bắt đầu ảnh hưởng đến môi trường sống của mình để mang lại những thành tựu có ý nghĩa. Họ chịu sự thôi thúc tiến tới hướng về vận mệnh của mình bởi ý thức về quyền lực, ước muốn những điều cao thượng, sự tự tin không hề lay chuyển, và quyết tâm đạt đến đỉnh cao thành công trong cố gắng của mình.

Linh hồn kêu gọi phàm ngã. ‘Tiếng nói của linh hồn’ không những được Phàm ngã nghe như tiếng nói, mà nó còn biểu hiện thành những sự hấp dẫn và quan tâm đặc biệt, cũng như những hoàn cảnh và cơ hội đặc biệt được mang đến cho ý thức của phàm ngã. Tuy nhiên, cũng có thể Phàm ngã không nghe, thấy hay nhận thức được sự thôi thúc thiêng liêng này. Những mối bận tâm của Phàm ngã khiến cho ‘sự can thiệp thiêng liêng’ của linh hồn… bị lệch hướng. Vì đã tự cho mình là trung tâm của ý thức, nên Phàm ngã không muốn từ bỏ vị thế đó.” Xem nguồn Tâm thức – Các cõi: Tâm thức Phàm ngã

Như trên ta đã xác định ông có: Thể Xác Cung 3 và đã loại trừ Thể xác