VỀ CÁCH XƯỚNG TỤNG CÁC THẦN CHÚ – MANTRAM (Anh Kiệt dịch)

Luận Về Thần Chú - Linh Từ hay Matram

VỀ CÁCH XƯỚNG TỤNG CÁC MANTRAM (Nguồn: Anh Kiệt đưa lên Facebook Học MF)

There are several such mantric formulas and Words of Power in use by such students but they fail to accomplish very much because the person using them has no real understanding of their import and purpose and is usually so focussed in his emotional, aspirational, astral nature that all that he says and does (in connection with such Words of Power) is entirely innocuous and futile. Words of Power, ancient mantrams (such as the Lord’s Prayer) and the Great Invocation are only effective if used upon the mental plane and with the power of a controlled mind—focussed on their intent and meaning—behind the spoken effort. They then become potent. When said with the power of the soul as well as with the directed attention of the mind, they automatically become dynamically effective.

Có một vài công thức thần chú (mantric formulas) và các Quyền Lực Từ (Words of Power) như thế đang được các đạo sinh sử dụng nhưng không hoàn thành được rất nhiều việc vì người sử dụng các công thức thần chú đó không thực sự hiểu biết ẩn ý và mục đích của chúng, và như vậy thường tập trung vào bản chất tình cảm, đạo tâm, cảm dục đến nỗi tất cả những gì y nói và làm (liên quan đến các Quyền Lực Từ như thế) đều hoàn toàn vô ích và không hiệu quả. Các Quyền Lực Từ, các thần chú cổ (như là Lời Cầu Nguyện Chúa — Lord’s Prayer) và Đại Khấn Nguyện chỉ có hiệu quả nếu được dùng trên cõi trí và với sức mạnh của thể trí được kiểm soátđược tập trung vào ý định và ý nghĩa của chúng – đằng sau nỗ lực xướng ra. Bấy giờ, chúng trở nên mạnh mẽ. Khi được thốt ra với sức mạnh của linh hồn cũng như với sự chú ý có định hướng của thể trí, chúng tự động trở nên có hiệu quả mạnh mẽ.

 

Students all the world over have for years used the Sacred Word, and have sounded the O.M. with great diligence. I would like here to ask: With what results? I myself

will reply. With practically no results except a slight stimulation of the

aspiration and a small awakening of the creative imagination. This means that the results achieved have had effect only within the aura of the person concerned and have not penetrated into his environment or produced any recognisable effects. The O.M. is potent and [Page 145] dynamically effective when rightly used and will produce changes, destroy that which must be eliminated or ended, and will build in, by attraction and consolidation that which is desired into the fabric of the group life, producing incidentally (though none the less certainly) needed changes and the wise reconstruction of the individual life. Ponder upon this.

Từ nhiều năm qua, các đạo sinh trên khắp thế giới đều sử dụng Linh Từ và đã xướng lên Linh Từ O.M. một cách thật chuyên cần. Ở đây, tôi muốn hỏi: có kết quả gì không? Chính tôi sẽ trả lời câu hỏi này. Thực tế, không có kết quả gì ngoại trừ một kích thích nhẹ nhàng đối với đạo tâm và một khơi hoạt nho nhỏ của trí tưởng tượng sáng tạo. Điều này có nghĩa là các kết quả đạt được chỉ có hiệu quả trong vòng hào quang của người đó chứ không thâm nhập vào môi trường xung quanh hay tạo ra bất cứ hiệu quả nào có thể nhận biết được. Linh Từ O.M. chỉ mạnh mẽ và có hiệu quả mãnh liệt khi được sử dụng đúng cách, nó sẽ tạo ra những sự thay đổi, phá hủy những gì phải được loại bỏ hoặc chấm dứt, kiến tạo những gì mong muốn vào cấu trúc của đời sống tập thể bằng sự thu hút và củng cố, ngẫu nhiên tạo ra (tuy không kém phần chắc chắn) các thay đổi cần thiết và tái cấu trúc khôn ngoan của đời sống cá nhân. Hãy suy gẫm điều này.

If the above is true of the O.M. and of its group effects, it is infinitely more true of the Great Invocation. Words of Power (and this is true also of the O.M.) are all of second ray origin. This is the ray of the manifestation of consciousness. They are, therefore, intended for soul use because the soul is the expression of the second aspect of divinity, and only the soul can really employ these Words and sounds and thus produce the desired results which are always in line with the divine Plan. It is frequently forgotten that they must be used by the soul in a dynamic manner, involving the serious recognition of the will aspect. The Great Invocation, the O.M. and all such Words of Power must go forth from the soul (whose nature is love and whose purpose is solely group good), backed by or “occultly propelled forth” (to use a translation of an almost untranslatable occult idea) by the dynamic will aspect, and carried outwards as an integrated thoughtform upon a stream of living, illumined mental substance.

This process therefore brings into activity the will, the love and the intelligence of the man who is using these words and formulas. Frequently, however, an hiatus occurs even when a man has integrated these three controlling factors within himself as far as he is able to do so at his particular point in evolution. All that he has succeeded in doing is the retaining of the created thoughtform upon the mental plane; he fails to make its presence felt upon the physical plane and to achieve the desired results because his brain (the lower receiving and distributing centre within the head) is incapable of the needed

dual activity— retaining awareness of the intent, meaning and

purpose of the formula being used and, at the same time, carrying on the task of sending forth the potency, [Page 146] hidden yet conveyed by the Words or sounds. These two activities must be carried on simultaneously by the soul on its own plane through the medium of the mind and the brain. Here again is one of the objectives of all meditation work but one which is not emphasised as it is a sequential happening and not an objective. Effectiveness is, therefore, dependent upon a grasp of the above facts and a developed and trained integration between soul, mind, desire, brain and the spoken Word or sound.

Nếu những gì nói trên đúng đối với Linh Từ O.M. và với các hiệu quả tập thể của nó, thì cũng đúng hơn rất nhiều đối với Lời Đại Khấn Nguyện. Tất cả các Quyền Lực Từ (và điều này cũng đúng với Linh Từ O.M.) đều có nguồn gốc từ Cung hai. Đây là cung hiển thị tâm thức. Do đó, chúng được dự định dành cho linh hồn sử dụng, bởi vì linh hồnbiểu hiện của ngôi hai của thiên tính vì chỉ có linh hồn mới có thể thực sự vận dụng các Linh Từ và âm thanh này, như thế tạo ra các kết quả mong muốn vốn luôn hợp với Thiên Cơ. Người ta thường quên rằng các Linh Từ đó phải được linh hồn sử dụng theo cách thức mạnh mẽ, bao gồm việc nhận biết nghiêm túc về trạng thái ý chí. Đại Khấn Nguyện, Linh

Từ O.M., và tất cả Quyền Lực Từ như thế phải xuất phát từ linh hồn (mà bản chất của linh hồnbác ái và mục tiêu của linh hồn chỉ là mang lại tốt lành cho tập

thể), được dựa vào hay “được thúc đẩy về mặt huyền linh” (dùng cách

diễn dịch một ý tưởng huyền linh hầu như không thể dịch được) bởi trạng thái ý chí năng động, và thể hiện ra bên ngoài như là một hình tư tưởng tích hợp trên dòng chất liệu sinh động của tâm trí giác ngộ. Do đó, tiến trình này làm khơi hoạt trạng thái ý chí, bác ái và thông tuệ của người đang sử dụng các linh từ và các công thức này. Tuy

nhiên, thường xảy ra sự gián đoạn ngay cả khi một người đã kết hợp được ba yếu tố kiểm soát này trong chính y đến mức tối đa so với trình độ tiến hóa đặc biệt của y. Tất cả những gì mà người này đã đạt được là duy trì một hình tư tưởng đã tạo ra trên cõi trí, nhưng y không làm cho hình tư tưởng đó xuất hiện trên cõi trần và không đạt được các kết quả như mong ước bởi vì bộ óc của y (trung tâm lực tiếp nhận và phân phối phía dưới thấp trong đầu) không thể thực hiện cùng lúc hai hoạt động cần thiết—duy trì nhận thức về mục đích, ý nghĩa và mục tiêu của công thức đang được sử dụng và đồng thời tiến hành nhiệm vụ phóng ra sức mạnh ẩn giấu được truyền chuyển bằng các

Linh Từ hay âm thanh. Cả hai hoạt động này phải được linh hồn xúc tiến cùng một lúc trên cảnh giới riêng của nó qua trung gian bộ óc. Đây lại là một trong các mục tiêu của mọi công việc tham thiền, nhưng là một mục tiêu không được nhấn mạnh vì đó là một diễn biến theo trình tự chớ không phải là một mục tiêu. Do đó hiệu quả tùy thuộc vào việc hiểu rõ các sự việc nói trên và một sự tích hợp đã phát triển và rèn luyện giữa linh hồn, thể trí, cảm xúc, bộ óc và Linh Từ hay âm thanh được thốt ra.

What I am here telling you refers not only to the use of the Great Invocation but also to the daily and constant use of the Sacred Word by occult students and aspirants in their daily meditation. They could change their lives, reorient their life purpose and focus, and achieve spiritual unfoldment and expansion if they could use the OM as it should be used. The Great Invocation, rightly used by the many hundred thousand people who have already attempted to use it, could reorient the consciousness of humanity, stabilise men in spiritual being, disrupt and rebuild the planetary thoughtform which men have created in the past and which has had (and is having) such disastrous and cataclysmic results, and open the door into the New Age, thus ushering in the new and better civilisation. This could be done so rapidly, that the needed changes would come about almost overnight; the present reign of horror would end and the race of men could settle down to a life of group goodwill, individual harmlessness and right human relations.

Những gì tôi đang nói với bạn không những chỉ liên quan tới việc sử dụng Lời Đại Khấn Nguyện mà còn liên quan tới việc sử dụng thường xuyên và hằng ngày Linh Từ của các đạo sinh huyền linh và những người tầm đạo trong việc tham thiền thường nhật của họ. Họ có thể thay đổi đời sống của họ, tái định hướng mục tiêu và tiêu điểm đời sống của họ, đạt được sự phát triển và khai mở tâm linh nếu họ có thể dùng Linh Từ O.M. như cách nó nên được dùng. Nếu được hàng trăm ngàn người dùng đúng cách như họ đã thử sử dụng thì Lời Đại Khấn Nguyệnthể tái định hướng ý thức của nhân loại, làm ổn định con người trong bản thể tâm linh, phá hủy và kiến tạo lại hình tư tưởng của hành tinhcon người đã tạo ra trong quá khứ vốn đã (và đang có) các kết quả thảm khốc và tai hại như thế, mở ra cánh cửa vào Kỷ Nguyên Mới, như vậy khởi đầu cho nền văn minh mới và hoàn thiện hơn. Điều này có thể thực hiện một cách nhanh chóng đến nỗi các thay đổi cần thiết có thể xảy ra hầu như một sớm một chiều. Nỗi khủng khiếp đang ngự trị hiện nay sẽ kết thúc và nhân loại có thể bắt đầu chú tâm vào một cuộc sống với thiện chí tập thể, không làm tổn thương cá nhân và có các liên hệ đúng đắn giữa con người.

Nevertheless, for your encouragement, I would state that the use of it has materially hastened world events, even though it has definitely stirred up a great deal of the trouble and brought it into manifestation upon the physical plane. The basically selfish purpose (even if unrecognised) of those who have used the Great Invocation has served to stimulate the selfish purposes of the forces of materialism. I would ask you: How many used the Great Invocation in a purely detached, spiritually potent and fully understanding manner? The merest handful. How many sent forth the Great Invocation in a spirit of pure love and with a completely [Page 147] unbiased attitude? Very few indeed. How many sounded it out through the medium of a controlled mind, with a recognition and deep belief that it embodied the will of the planetary Logos and must, therefore, become dynamically effective upon the physical plane? Hardly more than a tiny handful. Most of those who used it were intrigued by its novelty, or felt it to be comprehensive though in an unrealisable manner, or considered it must be occultly effective because they heard that it emanated from a member of the Hierarchy, was used by the occult Hierarchy of the planet, and was endorsed by those they trusted, or because—foremost reason of all—anything that could make the world nicer, more comfortable, happier and provide eventually easier living conditions must be at least tried; it did not take long to say and was probably well worth doing. But the dynamic power behind the effort in individual cases has often been personal self-interest, distress at the existing terrible and unhappy world conditions and an emotional reaction at pain and horror and fear. In many ways, this has been a normal reaction to world tension and was to be expected. The standard that I have indicated above is, I well know, too high and too impossible for the average aspirant, and most people are average. But the world need is such that they must now swing out of the normal and, for the sake of service, heighten their consciousness and work more definitely from a higher plane of awareness.

Tuy nhiên, để khích lệ bạn, tôi xin nói rằng việc sử dụng Lời Đại Khấn Nguyện đã thôi thúc các biến cố trên thế giới một cách rõ rệt mặc dù nó đã khuấy động rõ ràng một số lớn các khó khăn và làm cho khó khăn đó hiện ra trên cõi trần. Mục tiêu cơ bản là ích kỷ (cho dù không được nhận biết) của những người sử dụng Đại Khấn Nguyện đã kích động các mục đích ích kỷ của các thế lực của chủ nghĩa duy vật. Tôi xin hỏi bạn: có bao nhiêu người đã sử dụng Lời Đại Khấn Nguyện với sự hiểu biết đầy đủ, mạnh mẽ về tinh thần và hoàn toàn buông xả? Chưa đầy một nắm tay. Bao nhiêu người thốt ra Lời Đại Khấn Nguyện với một tinh thần bác ái thuần túy và với một thái độ hoàn toàn không thiên lệch? Thật sự rất ít. Bao nhiêu người biết niệm bài Đại Khấn Nguyện này qua một thể trí biết kiểm soát với niềm tin sâu xa rằng Đại Khấn Nguyện đó biểu hiện cho ý chí của Hành Tinh Thượng Đế, và do đó phải trở nên có hiệu quả mạnh mẽ trên cõi trần? Khó mà có được nhiều người như thế. Hầu hết những người sử dụng Đại Khấn Nguyện đều là tò mò do sự mới lạ của bài ấy, hoặc là họ cảm thấy bài ấy có tính cách bao hàm dù là theo một cách không thể hiểu được, hay là xem nó như là phải có hiệu quả về mặt huyền linh bởi vì họ nghe nói rằng bài ấy được một thành viên của Thánh Đoàn đưa ra, được Huyền Giai của hành tinh sử dụng, và được những người tin tưởng ủng hộ, hoặc là vì – lý do hàng đầu trong các lý do – bất cứ điều gì có thể làm cho thế giới tốt đẹp hơn, thuận lợi hơn, hạnh phúc hơn và sau rốt cung cấp các điều kiện sống thoải mái hơn ít nhất phải được thử nghiệm; không cần nói dài dòng và có lẽ rất đáng làm. Nhưng năng lực mạnh mẽ đàng sau nỗ lực trong các trường hợp cá biệt thường là tư lợi cá nhân, nỗi buồn phiền với các tình trạng bất hạnh và khủng khiếp hiện tại trên thế giới và một phản ứng tình cảm lúc gặp đau đớn, khủng khiếp và sợ hãi. Theo nhiều cách, đây là một phản ứng bình thường đối với sự căng thẳng trên thế giới và đáng được mong đợi. Tôi biết rõ, tiêu chuẩn mà tôi đưa ra ở trên thì quá cao và rất khó thực hiện đối với người tìm đạo bậc trung, và đa số đều là kẻ thường nhân. Nhưng nhu cầu thế gian thì cần kíp đến nỗi hiện nay, họ phải cố xoay trở ra khỏi mức bình thường và, vì lý do phụng sự, làm mạnh thêm ý thức của họ và tác động một cách rõ rệt hơn từ cảnh giới hiểu biết cao siêu.


Chia sẻ:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *