Phẩm tính các đại - Phẩm tính các hành - Phẩm tính ngũ đại - Phẩm tính ngũ hành - Đặc tính các đại - Đặc tính các hành - Đặc tính tứ đại - Đặc tính ngũ hành. Ngũ đại

+ Phẩm tính hay đặc tính các Đại - Các Hành: 
I. PHÁI SỐ LUẬN (SĀṂKHYA) VÀ HỆ THỐNG NGŨ ĐẠI:
Năm đại chủng (Mahābhūta) thuộc đế (tattva) thứ II, gồm 16 biến thể. Năm đại chủng được đánh số từ 20-24 trong 16 biến thể đó. Năm đại chủng (Mahābhūta) gồm những thành tố thô trọng, đó là đất, nước, lửa, gió và khí / Hư không (Từ điển Phật giáo gọi Gió là Khí/ Không khí). Và Kapila giải thích thêm:
‘… Đất, giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự nâng đỡ của nó. Nước giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự ẩm ướt. Lửa giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự làm cho chín muồiGió giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự làm khô ráo. Khí giúp duy trì bốn thành tố kia bằng sự ban tặng khoảng không.
Đất có 5 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, sắc màu, hương và mùi vịNước có 4 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, sắc màu, và mùi hương. Lửa có 3 phẩm tính: âm thanh, xúc chạm, và sắc màu. Gió có 2 phẩm tính: âm thanh, và xúc chạm. Khí có 1 phẩm tính là âm thanh…’
Tiếp theo là giải thích chi tiết các đại chủng:
Không khí (ākāśa), (âm thanh; śabda).
Gió (vāyu): âm thanh + xúc chạm
Lửa (tejas): âm thanh + xúc chạm + sắc
Nước (ap): âm thanh + xúc chạm + sắc + hương
Đất (pṛthivi): âm thanh + xúc chạm + sắc + hương + vị. (Điểm này cũng tương ứng với Minh triết_NTH)
Có lẽ đây là căn cứ cổ xưa nhất, và đầy đủ nhất đã thuyết minh về những yếu tố cấu thành vũ trụ. Mà sau nầy chúng ta được biết đến với những thuật ngữ như Tứ đạiLục đại, v.v…
II. PHÁI 
TRIẾT HỌC THẮNG LUẬN (VAIŚEṢIKA): ... Những phạm trù nầy, bao quát toàn bộ lĩnh vực kiến thức, và đó là:
(1) Thể (Dravya), (2) Đức, Phẩm tính (Guṅa; quality); (3) Nghiệp (Karman); (4) Đồng, cái chung (Sāmānya), là giống loại hay cộng đồng, hay cái đã tạo thành chủng loại. (5) Dị (Viśeṣa), riêng biệt, thứ hạng, cái tạo nên cá tính riêng biệt. (6) Tính cố hữu (Samavāya) không thể tách rời, (7) Tình trạng phi hiện hữu (Abhāva) hay phủ định (negation).
Trong đó, phạm trù Thể (Dravya), có đề cập đến 5 đại chủng:
(1) Đất (Pṛthivi); (2) Nước (Āpaḥ); (3) Lửa (Tejas); (4) Gió (Vāyu; air); (5) Hư không (Akāśa; ether); (6) Thời (Kāla); (7) phương (Diś; space); (8) Tự ngã (Ātman); (9) Ý (Manas; mind).
......Những phẩm tính chủ yếu của Thể được đề cập qua Đức (Qualities) là: Sắc (rūpa), trong đất nước và lửa; (2) Vị (rasa), trong đất và nước; (3) Hương (gandha), trong đất; (4) Xúc (sparśa), trong đất nước lửa và gió;
III. 
THEO TẠNG NAM TRUYỀN: Trong Trường A-hàm, Khởi thế nhân bản kinh, 11, Kinh nói về nguồn gốc của loài người và xã hội loài người,  chúng ta vẫn chưa thấy đề cập có hệ thống về Tứ đại chủng. Chỉ thấy nói đến nước, rồi đất, nhưng nội hàm là những yếu tố trong thiên nhiên
‘…Này Vāsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăngmặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Đất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh…’. ........
Cho đến Đại kinh dụ dấu chân voi (Mahāhatthipadopama sutta) 28, trong Trung Bộ Kinhchúng ta mới thấy Đức Phật đề cập đến Tứ đại một cách có hệ thống.
Theo kinh nầy, Tôn giả Xá-lợi-phất tuyên bố Bốn chân lý là lớn nhất trong tất cả thiện pháp, như dấu chân voi lớn nhất trong các dấu chân. Xá-lợi-phất phân tích chân lý về Khổ với những khía cạnh của nó, đặc biệt là năm uẩn bị chấp thủ. Tiếp đến phân tích sắc uẩn là do bốn đại tạo nên; rồi Xá-lợi-phất lần lượt nói về bốn đại với hai khía cạnh trong và ngoài, nội đại chủng được phân tích chi tiếtngoại đại chủng chỉ được nói sơ qua để so sánh cho đầy đủ. Mỗi đại chủng được hiển thị như là một nền tảng để phát sinh tuệ quán “duyên sinh, vô thường, vô ngã” cùng các đức tính nhẫn, niệm và xả tương ưng với thiện.
‘… Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đạiChư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giớithủy giớihỏa giớiphong giới.
Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giớiChư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ…
‘… Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giớiChư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ.
Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giớiChư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ….
Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giớiChư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. … Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giớitâm từ bỏ phong giới…’
Như vậy. mục đích Đức Phật nêu ra tứ đại chủng trong kinh nầy nhằm liện hệ với sắc thủ uẩn, để nhận ra Tứ diệu đế một cách rõ ràng hơn. Đây có thể được xem là căn cứ đầu tiên mà Đức Phật nêu lên Tứ đại trong Kinh tạng Nguyên thuỷ, để sau nầy các Luận sư thuộc các bộ giải thích thành giáo lý riêng bộ phái của mình. 
IV. THEO A-TỲ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ LUẬN [Nhất thiết hữu bộ trình bày về Tứ đại qua luận giải nổi tiếng của ngài Thế Thân]
Thế Thân là một trong những Luận sư kiệt xuất đó, với quan điểm về các đại chủng trong bộ luận căn bản A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận như sau:
Luận: Đất, nước, gió, lửa có khả năng gìn giữ các tính chất riêng của mình và các sắc pháp được chúng tạo thành (sở tạo sắc, upādāyarūpa, bhautika) vì thế gọi là giới (dhātu). Bốn giới này được gọi là đại chủng (mahābhūta) vì chúng làm chỗ dựa cho tất cả các loại sắc khác và vì thế tính vốn rộng khắp; hoặc vì đại chủng đất, nước, v.v., tập trung với số lượng lớn trong đất, nước, v.v., hoặc vì khởi đủ các loại tác dụng lớn.
Bốn đại chủng này có khả năng tạo thành các nghiệp nào? – Theo thứ tự trên, chúng có thể trì giữ (dhāraṅa), kết dính (nhiếp, saṃgraha), làm chín (pakti) và làm tăng trưởng (vyūhama). Địa giới có khả năng trì giữ, thủy giới có khả năng kết dính, hỏa giới có khả năng làm chín và phong giới có khả năng làm tăng trưởng. Nói “tăng trưởng” có nghĩa là làm chuyển dịch (prasarpaṇa) và lớn mạnh (vṛddhi).
Bốn đại chủng này có những tính chất nào? Theo thứ tự trên chúng có các tính chất cứng, ướt, nóng, động. Địa giới có tính cứng, thủy giới có tính ướt, hỏa giới có tính nóng, và phong giới có tính động. Nhờ vào tính chất động này mới có thể dẫn dắt đại chủng tạo sắc tương tục sinh khởi đến các chỗ khác; cũng giống như trường hợp của ánh đèn.
V. THUYẾT NGŨ ĐẠI: Theo Kinh Đại Nhật, một bộ kinh căn bản của Mật giáo, đã nêu thêm một yếu tố nữa vào thuyết Tứ đại, đó là Không (ākāṣa). Tính chất của đại chủng này là vô ngạị. Tác dụng là giữ gìn, thu nhiếp, thành thụctăng trưởng, không ngăn ngại.
Mật giáo chuyên sử dụng thuyết Ngũ đại, chủ trương tứ đại không lìa tâm đại, cho rằng tâm và sắc tuy khác nhưng thể tính của chúng thì chẳng phải 2; Chủng tự của Ngũ đại theo thứ tự là: 狣(a), 綯(va), 先(ra), 成(ha) và 几 (kha). Nghĩa của các chủng tự này theo thứ tự là: Vốn chẳng sinh 狣(a), lìa ngôn thuyết 綯(va), 先lìa cấu nhiễm (ra), lìa nhân duyên 成(ha), như hư không 几(kha).
 Từ đó, trong nghĩ quỹ Mật giáo, đã phối hợp Ngũ đại với Ngũ phương (vị), Ngũ sắcNgũ Trí Như Lai.
VI. THUYẾT LỤC ĐẠI: Các Luận sư Du-già hành tông (Yogācāra) về sau đã đưa thêm vào một yếu tố nữa là Thức (vijñāna) vào  hệ thống các Đại chủng để thành Lục đạiQuan điểm nầy đã được Mật giáo tán trợ và đề ra thuyết Lục đại Duyên khởiQuan điểm  này đã căn cứ vào Câu-xá luận, quyển 1, cho rằng đây chính là 6 yếu tố cấu tạo thành thế gian hữu tình vô tình và có mặt ở cùng khắp pháp giới nên gọi là ĐạiGiải thích thêm rằng đất, nước, lửa, gió là 4 đại chủng năng tạo, là chỗ nương của tất cả vật chấtKhông đại (không giới) chỉ cho những khe hở trong ngoài, cũng là nhân sinh trưởng muôn vật; Thức đại chỉ cho các thức hữu lậu, là chỗ nương cho sự sống còn của các loài hữu tình. Năm đại trước thuộc về Sắc pháp (vật chất), đại thứ 6 thuộc Tâm pháp (tinh thần).
Mật giáo cho 6 đại này là bản thể của vạn hữu, rồi lập ra các thuyết Lục đại thể đạiLục đại duyên khởi. Tức chủ trương cho rằng 6 đại hiện hữu khắp vũ trụ, trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ 6 đại, hết thảy vạn hữu đều do 6 đại tạo thành. Trên phương diện tính chấtphổ biến cùng khắp nên gọi là Lục đại. Trên phương diện sở y (chỗ nương) của tất cả sự vật nên gọi là Thể đại.
Sáu đại này hiện diện trong nhau, dung hòa khắp trong nhau không ngăn ngại, cho nên còn được gọi là Lục đại vô ngại.
Sáu đại nương theo nhân duyên mà thành pháp giới vạn hữu, đó gọi là Lục đại tùy duyên. Từ đó nhìn về duyên khởi của vạn hữu thì gọi là Lục đại duyên khởi.
VII. THUYẾT THẤT ĐẠI: Trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm, Đức Phật nêu ra hệ thống Thất đạibao gồm thêm Kiến đại.
A-nan, kiến giác không tự nhận thức được, nhân các thứ sắc không mà hiện hữu.., ‘….... Nếu như các sự thấy, nghe, hay, biết, bản tính viên mãn cùng khắp, vốn không lay động; thì nên biết kiến đại cùng với hư không vô biên chẳng dao động và bốn thứ vốn lay độngđịa, thủy, hỏa, phong, gọi là sáu đại, vốn thật viên dung, đều là tánh Như Lai tạng, vốn không sinh không diệt.’......
Kiến đại còn vi tế hơn hư không, ở sâu hơn và gần Diệu tâm. Vì nó thuộc về kiến phần của thức sơ năng biến, trong khi hư không cùng bốn đại kia là thuộc về tướng phần … 
[Kim luân: Đức Phật bảo, “Phú-lâu-na, như ông vừa hỏi, đã là thanh tịnh bản nhiên, sao bỗng dưng sanh ra núi sông đất liền?”....
- Cái giác thì sáng suốt, hư không thì mê muội, hai cái đối đãi nhau thành có lay động. Nên có phong luân nắm giữ thế giới.
- Nhân hư không mà có sự lay động, phát minh ra tánh cứng, thành ra có ngăn ngại. Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng. Thế nên kim luân để bảo trì quốc độ.
Giảng: ... sự lay động và tạo thành gió ..... thành ra tướng cứng chắc ngăn ngại của địa đại (yếu tố đất). Đây tức là lấy cái mê muội làm hư không, và trong thể hư không mê muội ấy, kết cái u tối hỗn trược thành sắc"Kim bảo ấy là do minh giác làm nên tánh cứng". Tất cả các loại vàng bạccác khoáng chất quý giá đều là tinh tuý trong lòng đất (địa đại), mà tánh chất của đất thì cứng chắc và ngăn ngại còn hơn cả kim loại. Nương nơi cái biết hư vọng của vô minh mà có ra tướng cứng chắc và ngăn ngại, như trong thế gian có người si tình mà hoá thành đá vậy.
- Biết cái cứng thì thành có kim bảo, rõ biết cái lay động thì khiến cho phong đại phát ra. Phong đại và kim bảo cọ xát nhau, nên có ánh sáng của lửa (hoả đại) làm tính biến hoá.
-Ngọn lửa xông lên, kim bảo sanh ra tánh ướt. Nên có thủy luân trùm khắp mười phương cõi giới. (Nguồn: Tứ đại - Kinh Thủ LN - HT Tuyên Hóa)]

VII. TỨ ĐẠI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY: Trong tư tưởng thời cổ đại, 4 yếu tố đất, nước, gió, lửa, thường được đề cập đến; có khi còn thêm yếu tố thứ 5 gọi là khí/không khí (aether; ether) theo Hi lạp cổ đại, hay theo Ấn Độ là ākāśa (hư không).  Ý niệm về đại chủng hình thành nên một nền tảng phân tích cho cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo.....
Người Hy lạp cổ đại tin rằng có 5 thành tố cơ bản, đó là đất (γῆ; ge), nước (ὕδωρ; hudor), gió (ἀήρ; aer), lửa (πῦρ pur) và không khí (αἰθήρ; aither), .... có ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng và nền văn hóa Âu châu.....
VIII. TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TRIẾT HỌC THẮNG LUẬN (VAIŚEṢIKA) VÀ TRIẾT HỌC TÂY PHƯƠNG
Có thể đối chiếu một số quan điểm của vài tác giả thuộc trường phái triết học Epicure, với triết học phái Thắng luận (Vaiśeṣika).
Chúng ta được biết rằng nước, trong trạng thái nguyên tử, là hợp thể hiện hữu nhất thời trong cảnh giới của Varuna (thủy thần) được cấu thành, vị giác là giác quan thuộc về nước, sông là nước vô cơ (inorganic).
Lửa trong trạng thái nguyên tử, là hợp thể hiện hữu nhất thời. Có những thân thể hữu cơ sáng chói trong mặt trời, những tia sáng hay cảnh tượng hữu hình là ánh sáng hữu cơ. Lửa cháy là vô cơ.
Gió lại là vừa nguyên tử vừa là hợp thể. Sự hiện hữu của gió, tinh thần, v.v… là gió hữu cơ; sự xúc chạm trên da là nhẹ như không khí, gió là không khí vô cơ. Ở đây có vẻ như có điều gì không giống như học thuyết nguyên tử của Empedocles. Nhưng dù chúng ta có thể khám phá ra rằng có cùng tư tưởng trong triết học nguyên tử của Kāṇāḍa và Empedocles, nhưng hình thái diễn ra ở Ấn Độ tính cách đặc trưng vẫn khác với hình thái triết học ở Hi lạp.
Hư không luôn luôn là thường hằng và vô cùng tậnThính giác là giác quan thuộc về thinh khôngnói đúng ra, nó tưởng như là một thứ gì đó mà hư không thực sự chứa đựng trong tai. .......
IX. THUYẾT TỨ ĐẠI TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG:
Trong đạo Bön hay triết học cổ đại Tây Tạng, 5 thành tố gồm đất, nước, lửa, gió, không (space) là những chất liệu chính của mọi hiện tượng hay hợp thể tồn tại. Tiến trình của các thành tố từ lịch pháp, thiên văn, y học, tâm lý học, là nền tảng của các truyền thống tâm linh thuộc Saman giáo, của Mật tông và hệ truyền thừa Dzogchen.
Tenzin Wangyal Rinpoche xác định rằng những thuộc tính vật lý được gán cho các thành tố nầy; đất là rắn chắc; nước là kết dính; lửa là nóng, gió là chuyển động; hư không (space) là kích thước không gian để thích nghi cho hoạt dụng của bốn thành tố kia.
Tất cả 5 thành tố trong thể tính thuần khiết của nó đều có sẵn trong dòng tâm tức tương tục và liên kết ý niệm với tam thân (trikāya) những khía cạnh của khí tiên thiên. .... (Nguồn: Nguồn gốc Tứ đại - Hoavouu - TT Thích Nhuận Châu)