+ Các Tâm hành: Vị Thiên-tử nói: “Bồ-tát Văn-Thù, các vị Bồ-tát có bao nhiêu tâm có thể nhiếp nhân, có thể nhiếp quả?".
Đáp rằng: Có 4 loại tâm. (i) - Sơ phát tâm. (ii) Hành đạo tâm. (iii) Bất thoái chuyển tâm. (iiii) Nhất sinh bổ xứ tâm. Sơ phát tâm làm nhân duyên cho hành đạo tâm. Hành đạo tâm làm nhân duyên cho bất thoái chuyển tâm. Bất thoái chuyển tâm làm nhân duyên cho nhất sinh bổ xứ tâm.".... Các tương ứng Tâm:
Sơ phát tâm ví như hạt thóc gieo xuống mảnh ruộng (như thợ làm xe, gom góp gỗ lạt; mặt trăng mới sinh; qua Thanh văn địa
Hành đạo tâm, ví như hạt thóc dần dần tăng trưởng (xẻ đóng gỗ lạt; trăng ngày thứ năm; qua Bích chi địa)
Bất thoái chuyển tâm, ví như hoa quả mới được kết thành (gỗ làm đâu đấy; trăng ngày 10; qua Bất động địa)
Bổ xứ tâm cũng như hoa quả đã thành hữu dụng (xe đã hoàn thành, vận chuyển như ý; trăng ngày 14. Phật như trăng rằm; qua an trụ định địa.")
“Sơ phát tâm - Học chương I. Hành đạo tâm - Học chương II. Bất thoái chuyển - Đem ý trong chương, dụng công. Và, Bổ xứ tâm như thông suốt vào lý sâu trong kinh."
“Sơ phát tâm do từ nhân sinh. Với Hành đạo tâm do từ trí sinh. Bất thoái chuyển tâm do từ đoạn sinh. Và, Bổ xứ tâm do từ quả sinh."
“Sơ phát tâm là nhân thế lực. Với Hành đạo tâm là trí thế lực. Bất thoái chuyển tâm là đoạn thế lực. Và, Bổ xứ tâm là quả thế lực".
“Sơ phát tâm như người đau cầu thuốc. Với Hành đạo tâm như phân biệt phương thuốc. Bất thoái chuyển tâm như đau uống thuốc. Và, Bổ xứ tâm như đau được khỏi."
“Sơ phát tâm sinh nhà Pháp vương. Với Hành đạo tâm học pháp Pháp vương. Bất thoái chuyển tâm học được đầy đủ pháp của Pháp vương. Và, Bổ xứ tâm học pháp Pháp vương thường được tự tại."
Kinh còn dài, mời xem (Nguồn: Kinh Văn Thù Sư Lợi Thỉnh Vấn Bồ Đề)
+ Tâm Ý Thức: Trong ngôn ngữ Việt nam có 3 chữ : Tâm, Ý, Thức có thể ghép thành ba danh từ : Tâm thức, Tâm ý và Ý thức. ... Chữ Tâm thức có thể được hiểu một cách thông thường là thành phần vô hình cấu tạo nên con người. Tâm ý có thể hiểu là ý định bên trong tâm hoặc tình cảm và ý nghĩ của ai đó. Chẳng hạn khi nói: « hai người có tâm ý giống nhau » có nghĩa là « tâm đồng ý hợp ». Còn chữ Ý thức có thể có hai nghĩa tuỳ theo ngữ cảnh : 1- Nhận biết qua tâm thay vì qua 5 giác quan ; 2- Nhận thức về thực chất và tính cách quan trọng của 1 sự việc nhằm đưa đến 1 thái độ, 1 hành động . Chẳng hạn « Ý thức về sự trầm trọng của cơn khủng hoảng kinh tế, chính phủ đưa ra những biện pháp thắt lưng buộc bụng » Trên đây là ý nghĩa theo ngôn ngữ thông thường.
Ba danh từ này đều có mặt trong tâm lý học Phật giáo và được định nghĩa rõ ràng chính xác hơn.
Theo truyền thống Thượng Toạ Bộ 3 chữ TÂM (Citta), Ý (Mano) và Thức (Vinnana) đều có chung một ý nghĩa. ... Ngài Vô Trước (Asanga) trong Nhiếp Đại Thừa Luận ... ba chữ này là đồng nghĩa. Nhưng riêng Ông đã chia Thức Uẩn làm ba thành phần và định nghĩa như sau :
- Tâm = Citta đó là Tàng thức hay A lại Da Thức (Alayavijana) bảo lưu tất cả chủng tử, trưởng dưỡng tất cả tập khí của tất cả Uẩn, Xứ và Giới, nghĩa là toàn bộ thân tâm nầy.
- Ý = Mana hay Mạtna thức chính là sự chuyển biến, thể hiện của Tàng thức thành tư duy, biện luận và luôn tự có khuynh hướng chấp ngã với tập nhiễm của 4 thứ phiền não Ngã kiến, Ngã ái, Ngã mạn và Vô minh.
- Thức = Vijnana, chính là lục thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
Đó là quan điểm của Duy Thức Học. Khi chúng ta muốn hiểu Tâm là Tàng thức, Ý là Mạt na thức, Thức là Lục thức thì phái nói rõ như vậy.
Trong bài này chúng tôi xem Tâm, Ý , Thức là đồng nghĩa theo quan điểm của Vi Diệu Pháp. Tuy nhiên tùy ngữ cảnh phải qui chiếu theo định nghĩa dưới đây....
Tâm gồm có Tâm thức - Tâm trạng - Tâm hành - Tâm tưởng. Ngoài ra còn gọi là Tâm địa khi nói đến Tâm là ruộng phước, sự rộng lượng, lòng vị tha ... (Nguồn: Tìm hiểu và nhận diện tâm tánh)
+ Ý THỨC: A-nan, như ông đã rõ, ý căn và pháp trần làm duyên, sinh ra ý thức.
Thức nầy lại nhân ý căn sinh ra, lấy ý căn làm giới; hay nhân pháp trần sinh ra, lấy pháp trần làm giới?
A-nan, nếu nhân ý căn sinh ra, thì trong ý ông, chắc phải có chỗ suy nghĩ mới phát ra được ý ông. Nếu không có các pháp trần, thì ý căn không sinh ra cái gì cả. Rời các pháp trần, ý căn sẽ không có hình tướng, lấy ý thức dùng vào việc gì?
Giảng:
".... Nếu không có các pháp trần– 'pháp trần' ở đây có nghĩa là các niệm tưởng hiện tiền của ông. Nếu ông không suy nghĩ, nếu ông không khởi một niệm tưởng nào, thì ý căn không sinh ra cái gì cả. Trong ý căn của ông, sẽ không có pháp trần–không có những niệm tưởng. Không có pháp sinh khởi. "Rời các pháp trần, ý căn sẽ không có hình tướng." vì pháp trần do duyên với ý căn mà có.
Lại nữa, thức tâm của ông với các thứ suy nghĩ, cùng tánh rõ biết phân biệt, là đồng hay khác? Nếu đồng với ý căn thì nó tức là ý căn. Sao lại do ý căn sinh ra? Nếu khác, không đồng như ý căn, thì lẽ ra sẽ không biết gì. Nếu không biết gì, thì làm sao mà do ý căn sinh ra? Còn nếu có biết, thì làm sao lại phân ra ý thức và ý căn? Chỉ hai tính đồng và khác mà không thành, thì làm sao lập giới?
Nếu nhân pháp trần sinh ra, thì các pháp trong thế gian, không ngoài năm trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc, có tướng trạng rõ ràng đối với năm căn, đều không thuộc về phần thu nhiếp của ý căn.
Nếu ý thức của ông thực là nương nơi pháp trần mà sinh ra, thì nay ông xét kỹ từng pháp xem nó có hình trạng như thế nào.
Nếu rời hẳn các tướng sắc không, động tĩnh, thông tắc, hợp ly, sinh diệt thì rốt ráo không có một pháp nào cả.
Nếu sinh thì các pháp sắc không cũng đều sinh ra, nếu diệt thì các pháp sắc không cũng đều diệt. Các nguyên nhân đã không thành thì cái thức do nó sinh ra sẽ có hình tướng gì? Tướng trạng đã không có thì giới do đâu mà sinh?
Vậy nên biết rằng ý căn, pháp trần làm duyên, sinh ra giới ý thức. Cả ba chỗ đều không. Cả ba giới của ý căn, pháp trần, và ý thức đều vốn không phải tính nhân duyên, cũng không phải tính tự nhiên.
Giảng: Thế thì chúng là gì? Ý căn, pháp trần, và ý thức được sinh ra khi ý căn và pháp trần tiếp xúc nhau đều là lưu xuất từ tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN - Q.3)