Quán Tưởng Thân Bất Tịnh - Trừ Dâm - Lý dục - Sex

+ Ly dục - Trừ bỏ dâm dục - Chuyển hóa dâm dục: Pháp sư Tịnh Không dạy quán tưởng: Thiếu nữ thanh xuân có đẹp như thế nào đi chăng nữa nhưng thật sự chứa bên trong là những thứ dơ bẩn. Bên trong là cái gì vậy? - Dưới lớp da là máu và thịt. Các vị xem, máu thịt này lấy ra ngoài để hai hôm là thối rồi phải không? - Bên trong phần máu thịt này là cái gì? Là lục phủ ngũ tạng. Lục phủ ngũ tạng này chứa cái gì? Phân và nước tiểu, là những thứ xú uế. Đồ ăn vào rồi bài tiết ra đều hôi thối. Cho nên các vị xem, chúng tôi nói thân người là những thứ gì? Là một cổ máy chuyên môn sản xuất phân. Thức ăn có ngon, có tuyệt vời mấy đi nữa thì khi ăn vào rồi, lúc thải ra đều là hôi thúi. Bất luận là khuôn mặt của các vị có xinh đẹp bao nhiêu cũng chỉ là giả. Nếu các vị đi đến phòng giải phẩu để xem; những thiếu nữ tự tử vì thất tình có những người diện mạo xinh đẹp như thế nào đi nữa, bị bộ phận pháp y cắt từ trên đầu, cắt lồng ngực ra, lấy hết phần ruột ra... Các vị thấy cái thi thể này liền nghĩ cái diện mạo đẹp ngày nào giờ còn đâu, có cái gì đáng để ham thích chứ? Huống hồ tuổi thanh xuân của đời người không thể tồn tại mãi, nhất định sẽ già bịnh chết. Lúc bị bịnh toàn thân chỉ là da bọc xương, tóc tai rối bời, mắt thì lõm sâu, sắc mặt trắng bệch, nhìn thấy muốn buồn nôn, ngay cả đến gần cũng chẳng dám. Lại xem đến lúc chết thì càng đáng sợ hơn. Sau khi chết ba ngày, cái thi thể này thối chịu không nổi, vậy là ruồi bay đến, ấu trùng dòi bọ từ từ xuất hiện. Qua thêm mấy hôm nữa, chúng đục thành từng lỗ, từng lỗ, đến chó hoang cũng chẳng thèm ăn thịt cô gái này nữa. Các vị nói xem, cái thi thể này đáng yêu ở chỗ nào? Cứ thường xuyên quán như thế này thì có lợi ích gì? Làm cho tâm dâm dục của chúng ta hạ xuống. Chính là ở nơi xú uế đó đừng cho nó là thơm tho đẹp đẽ, đừng cho nó là thanh khiết. Cô gái đó cũng hoàn toàn là một vật bất tịnh, phải tránh xa. Đây là khởi quán tưởng, dùng trí tuệ để quán sát. Mọi người đừng sợ quán chuyện này thì cả ngày có phải là ác mộng không? Đảm bảo chẳng phải như vậy, việc này có lực gia trì. Phật dạy chúng ta làm như thế nào thì chúng ta làm như thế đó, nhất định là có Phật, Bồ Tát gia trì. Trong Kinh nói người tu hành phải thường quán bất tịnh thì trên thân sẽ có mùi thơm hoa Ưu Bát La, chính là hương thơm của hoa sen. Đây là mùi thơm gì? Ở trước mặt chúng ta có viết Giới Định Chân Hương, đó mới là mùi thơm chân thật, trời người đều cung kính. Vì vậy, phải trì giới. Ngay cả nhà Nho cũng nói: Người biết giữ lễ thì trời thần bảo vệ. Tiếp theo là: “Tùy xứ cẩu hợp, hà dị súc sanh”. Nếu như quan hệ nam nữ bất chính tà dâm, thậm chí hiện nay gọi tình một đêm - Có khác gì súc sanh? Loài heo chẳng phải là làm như vậy hay sao? Con người và súc sanh có gì khác nhau? Con người có quan niệm về lễ kính, về luân lí đạo đức, nên họ tự giữ mình trong sạch. Làm những việc chẳng biết xấu hổ như thế này, đó chính là súc sanh, hay còn gọi là mặt người dạ thú. Ngay cả loài chim mà còn tốt hơn. Các vị xem trong Thư Kinh có nói : Quan quan thư cư, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”. Họ dùng từ “quan thư” là thí dụ cho loài chim có nghĩa. Loại chim này là chế độ một vợ một chồng. Một con đã chết thì con còn lại sẽ thủ tiết, sẽ không đi bước nữa. Loài chim này có nghĩa như vậy! Vì vậy nói con người không bằng loài chim. “Phi đạo nhiễm xúc”, đây cũng là tà dâm. Cho dù là vợ chồng (đây là chánh dâm, trong năm giới có nó tà dâm, nhưng chánh dâm thì cho phép), giữa vợ chồng với nhau, phi đạo chính là nói đường miệng, đường hậu môn, đường tiểu tiện là không cho phép. Điều này “Quá ư kê khuyển, thử tại sảo lương tâm giả, tiện ứng thống tuyệt, nãi hà thông minh học thức chi sĩ, cam thử tang tâm vô sĩ da”. Cho nên, chúng ta cần phải phát tâm thống thiết, người đã phạm sau này sẽ không phạm nữa, sám hối nghiệp chướng vĩnh viễn không tái phạm; người chưa phạm phải cẩn thận tâm hạnh của chính mình. Đặc biệt là những người có học thức, đã học qua giáo dục của Thánh Hiền, đã học qua Phật pháp, làm sao có thể cam tâm vô sĩ làm chuyện giống như cầm thú vậy. Đây là khuyên chúng ta sửa đổi lỗi lầm trước tiên phải phát tâm hổ thẹn. Con người biết hổ thẹn, tri sĩ cận hồ dũng”, họ có thể sửa đổi lỗi lầm. Tiếp theo, dạy chúng ta phát tâm lo sợ quả báo. “Nhất niệm dục tâm thị thiết sàng trụ nhân, nhất niệm ái tâm thị tích hàn kiên băng nhân”. Đây là nói địa ngục Bát Nhiệt, địa ngục Bát Hàn. Khởi một ý niệm dâm dục là đã trồng hạt giống trong địa ngục rồi. Những hạt giống này tích lũy lại thì quả báo của địa ngục sẽ hiện hành. “Thiết sàng đồng trụ”, nam thì ôm cột sắt, nữ thì nằm giường sắt được thiêu cháy đỏ. Người nam nhìn thấy cột sắt thiêu cháy đỏ tưởng cô gái đẹp nên đến ôm vào, tại sao vậy? Do nghiệp lực sai khiến. Nhìn thấy cột sắt thì tâm dâm liền khởi, cho đó là cô gái đẹp, vừa ôm vào thì toàn thân bị cháy tan ra. Gió cõi âm vừa thổi thì liền tỉnh lại, lại ôm tiếp, bởi vì họ vẫn còn mê. Tập khí dâm quá nặng, lại ôm tiếp, rồi bị thiêu chết, một ngày một đêm vạn lần sống chết. Giường sắt dành cho các cô gái thì cũng như vậy. Vì vậy chúng ta phải đề phòng, không nên tạo nhân của địa ngục nữa. Cái tâm ái này là nghiệp nhân của địa ngục Bát Hàn, địa ngục Kiên Băng. “Huống cụ hành phi pháp, diệt lí loạn thường, trần sa kiếp số, bất túc tận kì cô, thiên vạn ức ngôn, bất túc số kì ác, hà huống còn phải cụ túc phi pháp chi hạnh”. Chính là tạo tội lỗi tà dâm cực kì hung ác. Thậm chí đạo lí lương tâm con người đều mất đi, đến cả luân thường cũng đảo lộn, người thân mà cũng chẳng kiêng cữ. Tội lỗi này thật sự là trần sa kiếp số” đều chẳng thể tận kì cô”. “Cô” nghĩa là tội lỗi ở trong địa ngục như trần sa, nhiều kiếp như vậy. Một kiếp là một tỷ hai trăm bảy chục triệu năm. Thời gian dài như vậy ở trong địa ngục chẳng thể nào tiêu hết tội của họ. “Thiên vạn ức ngôn” là tội ác của họ tính đếm chẳng xuể. Vì vậy, Đại Sư nhắc nhở chúng ta cần phải phát tâm sợ hãi, sám hối. Kinh sợ quả báo, chẳng dám tạo ác, phải phát Đại Thệ Nguyện. Đây là phát tâm đại dũng mãnh. Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” nói với chúng ta: Cải quá chi pháp tiên phát tam tâm. Thứ nhất là sĩ tâm, thứ hai là úy tâm, thứ ba là dũng tâm. Dũng tâm chính là phát đại thệ nguyện. “Ninh hỏa chích đao oản, chung bất dữ nhất thiết nam nữ dục tâm tương xúc, ninh toái thân phấn cốt, chung bất dữ nhất thiết nam nữ ô uế giao cấu”. Nghĩa là nguyện rằng dù có bị quăng lên núi đao, bị đẩy xuống biển lửa, ta cũng không phạm giới này, cùng với nam nữ không có dục tâm kề cận nhau, mà dùng tâm thanh tịnh để giao tiếp. Tất cả nam nữ, không chỉ là người, mà với tất cả chúng sanh, động vật. Có những người chừng như điên đảo rồi, với động vật mà cũng khởi niệm dục. Quan hệ đồng tính luyến ái giữa người nam với người nam, người nữ với người nữ, những chuyện này cũng là tà dâm, phải bỏ đi những ý niệm ô uế này. Cách buông bỏ tốt nhất là như thế nào? Tốt nhất là niệm Phật. Ý niệm vừa khởi thì lập tức “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”. Ý niệm khởi lên, niệm mười câu Phật hiệu đè xuống. Không đè xuống được thì niệm tiếp mười câu nữa, thêm mười câu nữa, niệm mười phút, nửa giờ đồng hồ…. Trong Tam Thời Hệ Niệm có nói: Phật hiệu đưa vào tâm loạn, tâm loạn không thể không thành Phật. Chuyển tâm của các vị thành “A Di Đà Phật” thì những ý niệm tội ác này tự nhiên tan thành mây khói. Đây là cách tốt nhất. “Ninh toái thân phấn cốt, chung bất dữ nhất thiết nam nữ ô uế giao cấu, chung bất phạm giới”. Vì sao vậy? Biết rằng tội dâm, tội phá thai, sát sanh là đại tội, biết đời sau sanh vào địa ngục khổ, lẽ nào lại đi tạo tội? Xem chi tiết toàn bộ lời dạy của Pháp Sư Tịnh Không tại đay - Tham khảo thêm lời dạy của Đức Phật (Tại đây)
Động vật (Animal, con vật, loài vật): Động vật có một thể phách (astral body– vào thời Theosophy, từ Astral có nghĩa là “phách”–ND), thể này tồn tại thêm một thời gian ngắn sau khi thể xác chết. Tuy nhiên, Chân Thần (động vật) của con thú không tái sinh trong cùng loài mà tái sinh vào loài species) cao hơn, và dĩ nhiên không có “trạng thái Devachan”. Trong chính con vật đều có các mầm mống của tất cả các nguyên khí con người, nhưng chúng chỉ ở trạng thái tiềm tàng (latent).      (GLBN  III, 201)
Đồng phái luyến ái (Homosexuality, Đồng tính luyến ái): Là những gì được gọi là “món ăn thừa” (“left–over”) do sự quá độ về tính dục của thời Lemuria (cách đây hơn 15 triệu năm – CTNM, 226), một vết nhơ bị kế thừa, nếu bạn thích gọi như thế. Các Chân Ngã đã biệt lập ngã tính và đầu thai vào thời kỳ rộng lớn đó là những Chân Ngã mà ngày nay đang biểu lộ các khuynh hướng đồng phái luyến ái… Mãnh lực linh hồn đang tuôn đổ qua các tiến trình biệt lập ngã tính, được dùng kích thích các bí huyệt thấp. Do đó, các phương pháp cấm đoán được đem ra dùng. Ngày nay, một số lớn những người đó đang đầu thai, các thói quen cũ rất mạnh nơi họ. Ngày nay, họ đủ tiến hóa để sẵn sàng chữa trị – nếu họ chọn như vậy. Họ có thể, tương đối dễ, chuyển xung lực tính dục vào bí huyệt cổ họng, và như vậy trở nên sáng tạo theo ý nghĩa cao, sử dụng năng lượng được cảm nhận và luân chuyển theo các đường lối kiến tạo đúng đắn. Nhiều người trong số đó đang bắt đầu tự động làm điều này.    (CTNM, 62–63)
Địa ngục (hell): Như bạn biết rõ, không có vị Thượng Đế phẩn nộ (no angry God), không có địa ngục (no hell) và không có việc chuộc tội thay (no vicarious atonement). Chỉ có một nguyên khí bác ái vĩ đại làm sinh động toàn thể vũ trụ; có Bản Lai Diện Mục của Đức Chirst hướng dẫn cho nhân loại biết sự thật của linh hồn và chúng ta được cứu bằng nguồn sống (livingness) của linh hồn đó, và địa ngục duy nhất là chính cõi trần, nơi mà chúng ta học hỏi để tiến hành sự cứu rổi (salvation) riêng của chúng ta, được thúc đẩy bằng nguyên khí bác ái và ánh sáng, và thêm vào đó, được kích động bằng tấm gương của Đức Chirst và sự thôi thúc bên trong của linh hồn riêng của chúng ta.  (CTNM, 393) - Giáo huấn liên quan tới địa ngục này là tàn dư của khúc quanh độc hại vốn được đưa ra do cách tư duy của Giáo hội Thiên Chúa vào thời Trung Cổ và do giáo huấn sai lầm trong Cựu Ước Kinh liên quan đến Jehovah, vị thần bộ tộc (tribal God) của dân Do Thái. Jehovah không phải là Thượng Đế, Hành Tinh Thượng Đế, Tâm Bác Ai Hằng Hữu mà Đức Christ nói đến. Khi các ý tưởng sai lầm này tiêu tan thì ý niệm về địa ngục sẽ bị xóa nhòa khỏi ký ức con người và vị trí của nó sẽ bị thay thế bằng việc hiểu biết định luật, làm cho mỗi người thể hiện việc cứu rỗi của riêng mình trên cõi trần, để giúp y sửa chữa các sai lầm mà y đã phạm trong các kiếp sống trên cõi trần và sau rốt, giúp y “làm lại từ đầu” (clean his own slate”). (CTNM, 393)

+ Đạo Đức - Đạo của tự nhiên (Nguồn: Luân Lý Đạo Đức - PS Tịnh Không)
- Đạo/ Ngũ Luân: Cái gì là đạo? Vợ chồng là đạo, cha con là đạo, anh em là đạo, bè bạn là đạo, vua tôi là đạo, (vua là người lãnh đạo, tôi là người bị lãnh đạo), đây là “ngũ luân”. Hỏi bạn năm thứ này do ai đặc ra? Là ai phát minh? Là ai quy định? Không có! Đây là nguyên tắc tự nhiên. Cho dù bạn có văn hóa hay không, người mọi rợ họ cũng có, người văn minh cũng Đạọ làm người, bạn không thể nào thoát khỏi năm cái này, cho nên năm cái này là nguyên tắc tự nhiên, đây là "đạo", đạo của tự nhiên
=> Đức/ Ngũ Thường: Tùy thuận theo đạo chính là "đức". Đầy đủ là 8 đức tính của con người
- Trái ngược với đạo thì tai nạn sẽ đến ngay.
+ Luân Thường Đạo Lý:
- Ngũ Luân - Là Đạo: Ngũ luân là "đạo", gồm 5 đạo vợ chồng/ cha con ....
- Ngũ Thường - Là Đức: Cái gì là ngũ thường? Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín là ngũ thường, là đức
* Tám đức: Chi tiết đó là 8 đức. Tám đức ở Trung Quốc có hai cách nói, hai cách nói trừ đi những cái giống nhau trong đó còn lại 12 chữ. “Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sĩ, Nhân, Ái, Hòa, Bình”.
=> 12 chữ này là hoàn toàn tương ưng với đạo, tương ưng với nguyên tắc của tự nhiên. Không có nó - Thế giới liền loạn thôi, bạn sẽ khổ.

+ Đạo Đức Kinh
: Nghĩa đen “Quyển sách về Tính Hoàn Thiện của Tạo Hóa” do đại triết gia Lão Tử (Lao–tze) viết ra.

- Đây là một loại vũ trụ khai tịch luận chứa đựng mọi giáo lý căn bản của Vũ trụ Khởi nguyên Luận Bí truyền. Lão Tử cho rằng vào lúc khởi thủy không có gì cả ngoại trừ Không Gian vô hạn và vô biên. Vạn vật sinh tồn và tồn tại được sinh ra trong đó từ “Cái Bản Nguyên tự hiện hữu, tự phát triển từ Chính Nó, nghĩa là Swabhâvat - Các triết gia gọi nó là Đạo (Tao, Anima Mundi), tức năng lượng chưa được tạo ra, chưa được sinh ra và hằng hữu của thiên nhiên, đang biểu lộ theo chu kỳ. Tạo Hóa cũng như con người, khi nó đạt đến thanh khiết thì sẽ đạt đến tĩnh tại và lúc bấy giờ, mọi vật trở nên hợp nhất với Đạo, vốn là cội nguồn của mọi lạc phúc và diễm phúc.
- Theo triết lý của Ấn giáo và Phật giáo, sự thanh khiết, lạc phúc và sự bất tử như thế chỉ có thể đạt được nhờ luyện tập đức hạnh và sự thanh thản hoàn toàn của tinh thần trên cõi đời của chúng ta; trí óc con người phải kiềm chế và sau rốt chinh phục và thậm chí áp đảo hành động hỗn loạn của phàm ngã con người. Con người đạt đến mức độ thanh luyện đạo đức cần có càng sớm thì sẽ cảm nhận được hạnh phúc càng nhiều. (Nguồn: NGMTTL, 320)
+ 613. TÁM PHÁP SUY NIỆM CỦA BẬC ĐẠI NHÂN
1) Đạo từ vô dục chứ không phải từ hữu dục mà chứng đắc.
2) Đạo từ tri túc chứ không phải từ không nhàm tởm mà chứng đắc.
3) Đạo từ viễn ly chứ không phải từ chỗ ưa tụ hội, không phải từ sự sống chỗ tụ hội, không phải từ sự sống hội hợp tụ hội mà chứng đắc.
4) Đạo từ tinh cần chứ không phải từ biếng nhác mà chứng đắc.
5) Đạo từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm mà chứng đắc.
6) Đạo từ chỗ định ý chứ không phải từ loạn ý mà chứng đắc.
7) Đạo từ trí tuệ chứ không phải từ ngu si mà chứng đắc.
8) Đạo từ chỗ không hý luận, ưa sự không hý luận, hành sự không hý luận; chứ không phải từ hý luận, không phải từ sự ưa hý luận, không phải từ sự hành hý luận, mà chứng đắc. Nguồn: mục 613- (Trung A Hàm, Kinh Bát Niệm, Phẩm 7, số 74)


I- DỰ ĐOÁN THEO LÁ SỐ
+ Dự đoán về Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành theo Phật giáo:
- Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện", và
- Căn cứ vào Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, và
- Căn cứ Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy
=> Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)
- Căn cứ vào Tooltip "Sửa tâm tính hay Tính cách hay Nhân cách" để dự đoán hay giúp người sửa tính cách
+ Cắn Cứ Ngũ hành Âm Dương và Mười Thần trong Dự đoán Tứ trụ để suy đoán
+ căn cứ vào các Cung Mặt Trăng, Mặt Trời, Cung Mọc và các hành tinh trong Lá số Chiêm tinh để dự đoán tính cách

II- DỰ ĐOÁN THEO HOẠT ĐỘNG
+ Tâm sở qui định BẢN TÁNH hay CĂN TÁNH con người.
Theo Phật giáo, con người có 6 căn tánh chính là: Tham, Sân, Si.... Sáu căn tánh nầy phối hợp với nhau cho ra 63 tánh tình khác nhau. Gồm có 14 thuần tánh và 49 hổn hợp tánh. Không ai có thể biết chính xác tâm tánh người khác, ngay cả tâm tánh của chính mình hay của vợ chồng với nhau, ngoại trừ những vị có Tha Tâm Thông.
+ Phật giáo có 5 yếu tố để xét đoán về 6 căn tánh người:
1- Oai nghi : Cách đi, đứng, ngồi, nằm, cử chỉ, nói năng…
2- Thọ dụng : Cách ăn uống, sở thích ăn uống. TD: Người tham thích ăn vị béo ngọt.
3- Cách làm việc, Ví dụ:
- Người Minh: Làm việc chu đáo, kỹ lưỡng
- Người Tham: Làm việc nhanh le, gắp rút.
- Người Sân: Làm việc dục chạc, cẩu thả.
4- Cách nhận thức, tính cảm quan, cách diễn dịch sự vật xuyên qua 5 giác quan: Lạc quan, bi quan hay thực tế hay không tưởng (trên trời, dưới đất). Cách chấp thủ, bám víu, hay thờ ơ, lảnh đạm với đối tượng nầy.
5- Khuyết tánh(tánh xấu), ví dụ:
5.1- Người Tham: Không biết đủ, mưu mô, gian xảo, hay xo đo những gì có lợi cho mình ; tự cao, ngã mạn ; thích được tân bốc.
5.2- Người Sân: Nóng giận, thù hiềm, hay chỉ trích việc công đức người khác, ganh tị, bỏn xẻn, hối tiếc.
5.3- Người Si : Ngủ nhiều, không tỉnh táo, phân vân, ngờ vực vì không có khả năng để nhận xét đối tượng, thiếu tự tin.
5.4- Người Tín: Dể tin, dể dụ ; nếu thích hợp với tánh tầm thì lại hay hoài nghi, chẻ sợi tóc làm 4.
5.5- Người Minh: Có nhiều tánh tốt hơn tánh xấu, tùy loại:
* Nếu hợp với tham thì họ sẽ ích kỹ, ngã mạn.
* Nếu hợp với sân thì họ sẽ thiếu nhẫn nại và hay bõ rơi đồng bạn.
5.6- Người Tầm: Thường nói nhiều, có ý nghĩ rắc rối, chẻ sợi tóc làm tư, vui thích những nơi tập hợp đông đảo, thiên hướng bất định, nên việc làm không đi đến kết quả. Đêm hay suy tính, nghĩ ngợi nên thường hay mất ngủ hoặc ngủ ít.
Nguồn: Nghiên cứu Tâm Tánh


Điên, điên rồ: (Madness) Điên rồ tức là bộ óc (brain) không có khả năng đáp ứng một cách điều hòa với các rung động, điên rồ thực sự có thể là do thiếu hoặc ngưng sự phát triển, thiếu hoặc ngưng việc tổ chức của bộ óc (brain organisation).   (KCVTT,   173)

+ Ðức Phật dạy: Ta quan sát chúng sinh trong luân hồi lục đạo, cùng nhau ở trong sinh tử, chung nhau nuôi sống, đắp đổi làm cha mẹ, anh chị em với nhau… Họ cũng có thể sinh vào đường khác (súc sinh, ngạ quỷ, thiên nhân, v.v.), đường thiện, đường ác, thường làm quyến thuộc lẫn nhau. Do nhân duyên đó, ta quan sát thấy TẤT CẢ THỊT MÀ CHÚNG SINH ĂN ĐỀU LÀ THỊT NGƯỜI THÂN CỦA HỌ. (*Lục đạo: thiên nhân, người, A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, chúng sinh địa ngục) _ Kinh Lăng Già
+ Ca Diếp hỏi Phật rằng:
 "Sao hồi trước Ngài cho phép tỳ kheo ăn 'ba loại tịnh nhục' hoặc ngay cả 'chín loại tịnh nhục'?"

Phật trả lời: "Ta định chế như thế vì sự cần thiết vào lúc đó, và để dẫn độ dần dần cho tới khi họ thật sự bỏ được thịt." _ Kinh Niết Bàn. 
+ Tam tịnh nhục là 3 món thịt: 
1. Mắt chẳng ngó thấy người ta giết con vật. 

2. Tai chẳng nghe tiếng con vật bi giết. 
3. Chẳng nghi là giết vì mình. 
* Tu Tiều Thừa: Ba thứ thịt ấy trong giới Tiểu Thừa Tỳ Kheo ăn được cả. 
* Tu Đại Thừa: Còn bên Đại Thừa hể cứ thấy thịt là quí Thầy không ăn
Phật tử tại gia Tu Đại thừa nhằm những ngày ăn chay cũng không được dùng đến Tam Tịnh Nhục.
+ Minh Triết Mới - Thức ăn động vật (kém hơn là dùng khoáng chất làm thuốc) đã tạo ra sự pha trộn thần chất và pha trộn các rung động vốn không hợp nhau. Giới thực vật ở vào một tình huống hoàn toàn khác hẵn, một phần nghiệp quả của giới này nằm trong việc cung cấp thức ăn cho con người. Việc này đưa đến kết quả là sự chuyển hóa cần thiết sự sống của giới đó vào giai đoạn cao hơn (giai đoạn động vật) vốn là mục tiêu của giới thực vật. Tất nhiên việc chuyển hóa sự sống thực vật xảy ra trên cõi trần. Do đó, sẽ có lợi khi chọn thực vật làm thức ăn. Việc chuyển hóa đời sống của súc vật vào giới nhân loại xảy ra trên các phân cảnh trí cảm. Do đó, hiểu về mặt huyền bí, dùng súc vật làm thức ăn cho con người sẽ không có lợi. (LVLCK, 645–646)


Ý niệm (idea, ý tưởng):
  • Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238)
  • Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54)
  • Ý niệm thì không có hình dạng (formless) và thực ra là các điểm năng lượng đang hướng ra ngoài, để sau rốt biểu hiện một “thiên lý” (“intention”) nào đó của Thượng Đế sáng tạo thiêng liêng. (CVĐĐ, 50)

Âm thanh (sound, âm)  Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh... Xin bạn luôn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc. (TVTTHL, 205)  Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này ở ngoài tìm tay của ngành hóa học, nhưng ở trong các ranh giới (limits) của khoa luyện kim đan (alchemy). Âm thanh có thể làm hồi sinh (resurrect) ngay cả một người hoặc một con thú mà thể dĩ thái (astral “vital body”) chưa hoàn toàn tách ra khỏi thể xác bởi sự gián đoạn của tuyến từ điển (magnetic or odic chord). Với tư cách một người được cứu sống ba lần bằng quyền năng này, tác giả (tức bà H.P.Blavatsky–ND) có đủ uy tín để nói là bản thân mình biết được ít nhiều về điều đó. (GLBN II, 279)


+ Bốn loại sống chung (KinhTăng chi I): - Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. - Đê tiện nam sống chung với Thiên nữ. - Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. - Thiên nam sống chung với Thiên nữ” + “Vợ thờ chồng có 5 việc: 1. Chồng đi đâu về phải đứng dậy nghênh tiếp; 2. Chồng đi khỏi phải lo mọi việc nấu nướng, quét dọn chờ chồng về; 3. Không được có lòng dâm dục với người khác, chồng có trách mắng cũng không được có thái độ trách mắng lại; 4. Hãy làm theo lời chồng răn dạy, có nhặt được vật gì cũng không được che giấu; 5. Khi chồng ngủ nghỉ, phải lo sắp xếp xong rồi mới ngủ. + Chồng với vợ có 5 điều: 1. Đi đâu phải cho vợ biết; 2. Việc ăn uống đúng giờ, cung cấp áo quần cho vợ; 3. Phải cung cấp vàng bạc châu báu; 4. Những vật ở trong nhà nhiều ít đều phải giao phó cho vợ; 5. Không được ngoại tình, bằng cách nuôi dưỡng, hầu hạ, chuyển tài sản”.(Xem Nguồn) Xem: Kinh Thiện Sanh - Đạo Làm Người
Phật chia người vợ ra thành 7 loại (Theo Kinh Phật) 1. Người vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Ðó là loại vợ sát nhân. 2. Người vợ hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn kiếm được, nhờ cày ruộng, buôn bán hay lao động khéo tay, đó là loại vợ ăn trộm. 3. Người vợ lười biếng, không muốn làm gì hết, lại tham ăn, ác độc, thô bạo, thích nói lời ác, lấn át người chồng siêng năn cần mẫn. Ðó là loại vợ kiêu xa. 4. Người vợ trìu mến, thân ái bảo vệ chồng như mẹ bảo vệ con, giữ gìn tài sản của chồng, đó là loại vợ như mẹ. 5. Người vợ kính trọng chồng, như em gái đối với anh cả, khiêm tốn, sống chiều đúng theo ý chồng. Ðó là loại vợ như em út. 6. Người vợ sung sướng khi thấy chồng, như gặp người bạn cũ sau bao năm xa cách, thuộc giòng quý tộc, có đạo đức, sống thanh tịnh. Ðó là loại vợ như bạn bè. 7. Người vợ dù là bị đối đãi không tốt, nhưng không giận hờn, vẫn bình tĩnh, chịu đựng mọi hành vi của chồng với lòng từ mẫn, tâm không biết giận, sống chiều đúng theo ý chồng. Ðó là loại vợ như người phục vụ. Xem về Hành sử Vợ Chồng theo Kinh Thiện Sinh
Tự tử  (suicide) Này bạn, đây là các trường hợp ngoại lệ. Nhiều người tự tử có thể và thường làm được (can and generally do), nhưng đối với những người khác thì không phải như thế. Người tốt lành và trong sạch (thì việc tự tử làm cho họ dường như – ND) ngủ một giấc yên tĩnh đầy hạnh phúc, tràn ngập các linh ảnh hạnh phúc (happy visions) của cuộc sống hồng trần và không có ý thức gì về việc mãi mãi vượt khỏi cuộc sống đó. Những người không tốt cũng không xấu (thì việc tự tử làm cho họ – ND) sẽ ngủ một giấc ngủ không mộng mị, nhưng vẫn là một giấc ngủ yên tĩnh. Trong khi đó, kẻ độc ác thì tùy theo mức độ thô bỉ/ đê tiện của họ, họ phải chịu nỗi đau ray rứt như cơn ác mộng kéo dài nhiều năm : nhiều ý tưởng của họ trở thành các sự việc sống động; các đam mê tội lỗi của họ trở thành chất liệu thực (real subtance), và họ nhận lại trên đầu họ tất cả khổ đau mà họ đã chồng chất (heaped) lên người khác. Nếu được mô tả đủ thì thực tại và sự kiện này sẽ tiết lộ ra một Địa Ngục (Inferno) còn khủng khiếp hơn nhiều so với Địa Ngục mà Dante (nhà thơ Ý, 1265- 1321 – ND) đã từng tưởng tượng!                                         (Thư của Chân Sư,  216)
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn thứ: - Xả Tài/ Thí Tài: Đem cho người ta đồ vật, của cải thời gọi là “tài xả”; - Xả pháp/ Thí Pháp: Đem giáo pháp, giáo lý cho người thời gọi là “pháp xả”. - Xả vô úy/ Thí vô úy: Đem đức không sợ hãi cho người thời gọi là “vô uý xả”. - Xả phiền não: Còn tự mình xả bỏ tất cả các mối phiền não thời gọi là “phiền não xả”. + Tâm từ bi: Theo hiện tại mà nói, là lòng yêu thương...PS Tịnh Không (Lòng yêu thương một chiều, như Mẹ yêu con, không có vấn vương, đòi hỏi, mưu cầu ......) III- Đại Từ Đại Bi: Tâm từ bi rộng lớn của chư Phật, Bồ tát cứu độ tất cả chúng sinh. - Luận Đại trí độ quyển 27 nói: Đại từ là ban vui cho tất cả chúng sinh, Đại bi là cứu khổ cho tất cả chúng sinh. - Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 hạ), nói: Tâm Phật là đại từ bi. Phật đem tâm đại từ bi vô duyên nhiếp thụ tất cả chúng sinh. - Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 256 trung), nói: Đại từ của Bồ tát đối với Phật là nhỏ, đối với Nhị thừa là lớn, nên tạm gọi là đại. Đại từ đại bi của Phật mới thực là đại. [X. luận Phật địa Q.5]. (xt. Từ Bi). * Đức từ bi rộng lớn, những đặc tính của chư Phật và chư Bồ Tát; ban vui cứu khổ. Đặc biệt ám chỉ Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Xem nguồn Xem Tứ vô lượng tâm Xem: TH về Từ - Bi - Hỷ - Xả và Tình thương Bác Ái
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)

+ Đức Phật dậy:
- “Không tranh giành” chính là từ bi.
- “Không tranh cãi” chính là trí tuệ.
- “Không nghe” chính là thanh tịnh.
- “Không nhìn” chính là tự tại.
- “Tha thứ” chính là giải thoát.
- “Biết đủ” chính là buông.
- Trong lòng không khuyết thiếu thì được gọi là “phú”,
- Được người khác cần đến, thì được gọi là “quý”.
- Vui mừng sảng khoái không phải là một loại tính cách mà là một loại năng lượng.
- Cách tháo gỡ phiền muộn tốt nhất chính là quên phiền muộn.


+ Giới Dâm: Nếu Phật tử tự mình dâm dục, bảo người dâm dục với tất cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ, cùng phi đạo mà hành dâm dưới mọi hình thức: nhân dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, nghiệp dâm dục. Là Phật tử, đối với tất cả mọi đối tượng trên, không được cố ý dâm dục và phải có lòng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng sanh, đem pháp thanh tịnh răn dạy người; trái lại, không có tâm từ bi, làm cho mọi người sanh việc dâm dục, không phân biệt súc sanh cho đến mẹ con, chị em trong lục thân cũng hành dâm. Phật tử này phạm Ba La Di tội.(Nguồn)
+ Tình dục là gốc của khổ. Bởi vì có tình, có dục là có chấp trước.
Trong kinh “A Hàm” có câu chuyện kể, Phật hỏi học trò: “Các người nói xem nước 4 đại dương nhiều hay là nước mắt chúng ta đổ ra vì trong quá khứ phải biệt ly với người thân, bên nào nhiều hơn?” Học trò trả lời: “Nước mắt đổ ra nhiều hơn”. Đức Phật tỏ ra vui vẻ, vì học trò của mình đã trả lời đúng; - Có tình dục là có đau khổ, bi ai, nước mắt chảy. Cái khổ đó là do chấp trước. Chấp trước vào tình dục cho nên đau khổ. Nếu anh có người bạn, bị người yêu là nam hay nữ từ bỏ, anh không cảm thấy đau khổ, nhưng nếu bản thân anh bị người yêu là nam hay nữ từ bỏ, anh sẽ cảm thấy rất đau khổ, bởi vì anh cảm thấy đối phương, tức người mình yêu là “của anh”. Nhưng sự thực không phải như vậy, đối phương không phải là do anh đẻ ra, dựa vào đâu mà nói rằng là “của anh”, thân thể, tư tưởng, ý nghĩ đều là của cô ta, đâu phải là của anh. Chỉ cần anh nhận thức rõ, cô ta không phải là của anh, thì anh sẽ bớt đau khổ. Anh khổ là vì anh chấp trước cô ấy là của anh. - Vì bản chất tình dục là thống khổ, cho nên tình dục vĩnh viễn không thể nào thỏa mãn đầy đủ được. Đau khổ là có chấp trước. Không phải chỉ có chúng ta là phàm phu mới chấp trước. Có những người tu hành rất tốt cũng chấp trước.
Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng
Xem thêm: Kinh thiện ác nhân quả
Xem: Giữ ngũ giới


+ Tu Hành - Phật dậy: " Tu 1 ngày 1 đêm ở cõi ta bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả 100 năm. Tại sao vậy? Cõi nước của đức phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở ta bà 10 ngày đêm hơn làm lành 1000 năm ở các cõi phật khác. Vì cõi nước phật, không có duyên để làm ác, chỉ có thế giới ta bà này thiện ít ác nhiều, toàn là khổ độc chưa từng ngừng nghỉ" (Kinh Vô Lượng Thọ phẩm 37)
+ Bí quyết thời khóa Tu đều đặn: Tu Hành, cần định khóa sớm tối, bạn duy trì đều chỉ 5 phút mỗi thời khóa, không có gián đoạn, sẽ thành tựu hơn nhiều là mỗi thời 30 phút nhưng ngày có ngày không, là giải đãi, chẳng thể thành tựu (PS Tịnh Không)
+ Tu hành bắt đầu: Khởi đầu của người Tu là từ "Hiếu thân tôn sư_Địa Tạng Bồ Tát", tức hiếu thảo Cha Mẹ, tôn trọng Thầy Tổ. Bồ-tát Địa Tạng dạy học là đặt nền móng, dạy lớp một tiểu học, Bồ-tát Quan Âm dạy lớp hai, Bồ-tát Văn Thù dạy lớp ba, Bồ-tát Phổ Hiền dạy lớp bốn. Lớp một còn chưa có dạy tốt, vậy thì những lớp sau đó không thể dạy nổi (Nguồn)

+ Pháp Đoạn Trừ Vô Minh: 420. NĂM CĂN VÀ NĂM TRIỀN CÁI
Nếu khi Như Lai xuất thế, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu; vị ấy đoạn trừ cho đến năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tu tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ căn. Đó là nếu muốn đoạn trừ vô minh nên tu Năm căn.
Như vậy, số đoạn, giải thoát, quá độ, bạt tuyệt, diệt, chỉ, tổng tri và biệt tri. Nguồn: mục 420- (Trung A Hàm, Kinh Lệ, Phẩm 18, số 222)
Xem phẩm Vua - Tỷ Kheo
Xem:
TH Tương Ứng Của Thuật Ngữ Minh Triết - Tâm Linh Tu Hành
Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo


+ Chất trí (Mind–stuff): X. Chitta.


+ Trí tuệ/ Trí năng tức là THỂ TRÍ. (ASCLH, 254;


+ Trí tuệ = Thông tuệ_CTNM, 588)


+ Nguyên khí trí tuệ: Cái phân biệt con người với con thú đơn thuần. Đó là nguyên khí biệt lập ngã tính; Giúp con người nhận biết sự tồn tại, cảm nhận và tri thức. Thường chia 2 phần, thượng trí hay trí trừu tượng và hạ trí hay trí cụ thể. (TVTTHL, 355)


+ Trí năng: Gồm lý trí, phán đoán, tưởng tượng, so sánh và các quan năng trí tuệ khác (MTNX, 148)


+ Trí tuệ là ngã thức sáng suốt, hướng dẫn và điều khiển hoạt động của Phàm ngã hội nhập, xuyên qua thể trí và bộ óc, và hoạt động qua bí huyệt cổ họng và bí huyệt ấn đường. (TLHNM–II, 233)


+ Trí tuệ - Manas là nguyên khí thứ năm.(LVLCK, 309)


+ Manas: Là trí tuệ biểu lộ trong tiểu thiên địa.(ASCLH, 15)


+ Trí tuệ thuần túy: Được gọi là Thượng Trí.(MTNX, 193)


+ Linh hồn có thể được xem như là nguyên khí trí tuệ. (TLHNM I, 38)


+ Siêu trí tuệ: Siêu trí tuệ là sự đáp ứng của thể trí giác ngộ với Thiên Trí (CTHNM, 495)


+ Thể trí hình bầu dục, bao quanh và ló ra ngoài thể xác, mang hình tư tưởng đủ loại liên tục luân chuyển trong đó...(TVTTHM, 95)


+  PS Tịnh Không: Trí tuệ chân thật siêu vượt thể trí biện thông rất nhiều ..; Xem chi tiết


+ Ba khía cạnh của thể trí (GQ1.3_GT Cung 5):
1. Thượng trí hay trí trừu tượng, là hiện thân của một tam nguyên cao hơn.
2. Hạ trí hay trí cụ thể, là trạng thái cao nhất của phàm ngã.
3. Chân Nhân hay Thái Dương Thiên Thần, là Con Trí Tuệ thuần túy, vốn biểu lộ trí thông minh, cả trừu tượng và cụ thể, và là điểm hợp nhất.


+ Bí truyền: Cõi trí có 3 dạng thức của thể trí, tạo ra phần quan trọng nhất của bản chất con người:
1. Hạ trí cụ thể tức nguyên khí lý luận. Các tiến trình giáo dục công khai bàn đến trạng thái này của con người.
2. Con của trí tuệ hay Chân Ngã hay Linh hồn. Đây là nguyên khí trí tuệ và được gọi bằng nhiều tên, như là Thái Dương Thiên thần, nguyên khí Christ, .v.v... Tôn giáo có bàn đến.
3. Thượng trí trừu tượng, tác nhân bảo quản ý niệm và truyền chuyển sự giác ngộ đến cho hạ trí khi mà hạ trí giao tiếp được với linh hồn.


+ Triết học gọi 3 dạng thức (GDTKNM, 5):
1. Trí tiếp nhận - Các nhà tâm lý học bàn đến.
2. Trí biệt ngã tức Con của Trí tuệ.
3. Trí giác ngộ tức thượng trí.


+ Ba chức năng Thể Trí - Giác quan thứ 6: Người chí nguyện ghi nhớ, nắm bắt sẽ tiến bộ nhanh chóng trên đường Đạo (ASCLH, 125):
1- Giao tiếp, tiếp nhận => Chuyển thông tin đến Chân nhân/ Người chi kiến = Ý thức phàm nhân
2- Công năng 5 phương tiện đầu Yoga mang lại = Nối kết não bộ với Linh hồn
3- Công năng 3 phương tiện cuối Yoga mang lại, được Linh hồn dùng làm cơ quan tri kiến


+ Ba chức năng Thể trí (LVHLT, 365):
- Trí cụ thể là khả năng kiến tạo hình hài. Các tư tưởng (thoughts) là các sự việc (things).
- Trí trừu tượng là khả năng kiến tạo mô hình (pattern), hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà dựa vào đó các hình hài được lên khuôn (modelled).
- Trực giác hay lý trí thuần túy là khả năng giúp cho con người đi vào sự giao tiếp với Thiên Trí và hiểu được Thiên Cơ về phương diện tổng hợp, lĩnh hội được Thiên Ý hoặc tách ra một chân lý cơ bản và thuần túy nào đó. 


+ Bốn cung/ Tứ nguyên trí tuệ: Liên hệ tới nghiệp quả của 4 vị Hành Tinh TĐ, là 4 Cung thứ yếu, lo về Hài Hoà, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ (Cung 3 tổng hợp 4 cung này) (LVLCK, 145).


+ Chức năng của Bác Ái và Thể Trí:
- Bác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụ và tiểu thiên địa, nhưng thể trí là nhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ.
- Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng đượcBác ái là tác nhân hợp nhất vĩ đại, xung lực thu hút hàng đầu, thuộc vũ trụ và tiểu thiên địa, nhưng thể trí là nhân tố sáng tạo chính và là tác nhân vận dụng (utiliser) các năng lượng của vũ trụ. Bác ái thu hút, còn thể trí thì thu hút, xô đẩy và kết hợp, cho nên tiềm năng của nó là không thể tưởng tượng được...(LVHLT, 125)


+ Chitta hay chất trí (mind-stuff) trở nên rung động mạnh mẽ hơn, và hiện giờ chúng ta có giai đoạn hoạt động mãnh liệt nhất của nó theo ý nghĩa cụ thể.
- Năng lượng trí tuệ trong phạm vi mà nhân loại có liên quan cũng thành ba khía cạnh. Do đó chúng ta có:
1. Trí cụ thể thấp, được gọi là chitta hay là chất trí (mind stuff) theo Yoga Điển Tắc của Patanjali.
2. Trí trừu tượng, hay là trạng thái của trí có liên quan đến thế giới ý niệm.
3. Trực giác hay lý trí thuần túy, mà đối với con người, là khía cạnh cao nhất của trí năng (mentality, trí lực).
Ba khía cạnh này thuộc phạm vi bao phủ của sự biểu lộ trong trạng thái thứ ba của Ngôi Lời (Logos), là Thiên Trí (Universal Mind), tức Thượng Đế thông tuệ hoạt động. Các đường lực (lines of force) từ ba khía cạnh thấp này dẫn trở lại (nếu người ta có thể sử dụng một diễn đạt không thích hợp như thế) lên đến cõi thứ ba, trong khi các đường lực cảm dục dẫn trở lại đến cõi thứ hai hay cõi Chân Thần (monadic plane) mặc dù trong phạm vi mà ý thức con người có liên quan, thì chúng chỉ dẫn trở lại đến cõi bồ đề hay cõi trực giác (buddhic or intuitional plane).
Do đó chính nguyên khí trí-tuệ trong nhân loại mới mang Chân-ngã-thể (egoic body), tức thể nguyên nhân (causal vehicle), tức karana shrira, hoa sen có mười hai cánh, vào biểu lộ. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta đang nói hoàn toàn theo các thuật ngữ của khía cạnh hình tướng (LVHLT, 361)


+ Thể trí là khả năng tư duy của chúng ta, là khí cụ của chúng ta để xử lý thông tin, soạn thảo tài liệu (một cách hợp lý, có trình tự, vòng vo, linh hoạt, tách biệt). Nó cũng hàm chứa năng lực hình dungtưởng tượng.
* Người trung bình, thể trí được đồng hóa với ham muốn của thể cảm dục, tạo thành bản chất tâm thông thấp. Người này đang nhìn xuống vào ngoại giới, liên tục tìm kiếm những cách thức để làm thỏa mãn những nhu cầu của y. Thể trí này không được tự do hành động theo ý nó. Nó bị buộc chặt với bản chất cảm dục. Nó là nô lệ của thể cảm dục này! + Hạ Trí có tính Then Chốt, vì nó có thể được Kết Hợp hoặc với Linh hồn, hoặc với Phàm ngã. (GQ1- Người & TT)
+ Phân biệt Trí huệ - Kiến thức (Do trí tuệ tiếp thu): Chư vị phải biết: Trí huệ và kiến thức khác nhau, chẳng tương đồng! Trí huệ có thể giải quyết hết thảy vấn đề, giải quyết rất viên mãn, chẳng để lại hậu quả. Kiến thức có hạn chế, nó chẳng thể giải quyết hết thảy vấn đề, có những vấn đề có thể giải quyết được, nhưng cũng có những vấn đề chẳng thể giải quyết, lại còn để lại rất nhiều hậu quả, chúng ta chớ nên chẳng biết điều này! Học rộng nghe nhiều, mà nếu chẳng có trí huệ, sẽ là tri thức (kiến thức). Trí huệ học từ đâu? Trí huệ chẳng lìa Giới, Định, Huệ, nhất định là từ Giới - Định mà khai trí huệ, trí huệ mới thấu lộ. Nói cách khác, người tâm thường ở trong Định, sẽ dễ khai trí huệ. Nếu một kẻ tâm bộp chộp, hời hợt, làm sao có trí huệ cho được? Nguồn: PS Tịnh KHông
+ Trí Thông minh - Thông tuệ - Biện thông: Bạn đi học, học rộng nghe nhiều, người xưa đã nói "ký vấn chi học", bạn thấy được rất nhiều, nghe được rất nhiều, nhớ được rất nhiều, thế nhưng đều không phải là tự tánh lưu lộ ra, mà đều là từ bên ngoài đến. Đây gọi là thế trí biện thông ...... Bạn có 6 căn tiếp xúc 6 trần, là từ bên ngoài đều sanh phiền não, nhưng thảy đều sanh trí tuệ (năng lực tham học). Mắt thấy sắc, xem thấy cái này ưa thích là tham ái, cái kia không ưa thích thì sân hận, phiền não rồi; nghe âm thanh này hay, âm thanh kia nghe không hay cũng sanh phiền não. Cho nên, đoạn phiền não liền sanh trí tuệ"Trong tâm đệ tử thường sanh trí tuệ", thấy sắc sanh trí tuệ, nghe tiếng sanh trí tuệ, ngửi mùi sanh trí tuệ......Pháp sự Tịnh Không
+ Trí Thông minh:
Là khả năng suy tư hay chọn lựa, lọc ra và phân biện. Thực ra, đó là một cái gì trừu tượng, không thể giải thích được, nằm đàng sau định luật vĩ đại Hút và Đẩy, định luật căn bản của biểu lộ. Khả năng thông minh căn bản này tiêu biểu cho mọi chất liệu nguyên tử và cũng cai quản việc tạo dựng các hình hài, hay là tập hợp các nguyên tử.(TTCNT, 58)
+ Chín Loại Trí Thông minh: Những năm 1980, giáo sư tâm lý học Howard Gardner thuộc ĐH Harvard đã đề xuất về các loại hình trí thông minh qua 9 hình thái, lĩnh vực khác nhau:
1. Trí thông minh về không gian: Dễ dàng hình dung, mô tả cảnh quan, tưởng tượng thế giới theo chiều không gian 3D.
2. Trí thông minh Tự nhiên: Nhanh chóng hiểu được cơ chế của sự sống, sinh vật và các hiện tượng thiên nhiên.
3. Trí thông minh Âm nhạc: khả năng thẩm âm tốt, nhạy cảm với nhịp điệu và âm thanh
4. Trí thông minh Logic - Toán học: nhanh nhạy với số liệu, khả năng suy luận tốt, tổng hợp thông tin thành các giả thiết và có khả năng chứng minh chúng.
5. Trí thông minh triết học: Thường có những đắn đo, suy ngẫm về các vấn đề mang tính triết học như các câu hỏi: ý nghĩa của cuộc đời là gì?
6. Trí thông minh cảm xúc: Có khả năng thấu cảm, nhận biết cảm xúc của người khác và nhanh chóng hiểu ý nghĩ của họ.
7. Trí thông minh vận động: Khả năng điều khiển vận động của cơ thể, thể hiện sự khéo léo trong các hoạt động thể chất.
8. Trí thông minh Ngôn ngữ: Khả năng dùng từ ngữ để biểu đạt tốt, dễ dàng viết văn hoặc phát biểu ý kiến.
9. Trí thông minh nội tâm: Hiểu rõ bản thân, làm chủ cảm nhận về bản thân cũng như luôn xác định được điều mình muốn. Nguồn: Xem tại đây
+ Có 3 nhóm trí tuệ mãnh liệt kích động bản chất dục vọng:

2.3.1. Người hướng nội về mặt trí tuệ: bận rộn một cách sâu sắc với các hình tư tưởng tự tạo và thế giới tư tưởng được họ tạo ra, tập trung quanh một hình tư tưởng năng động duy nhất mà họ đã xây dựng. Họ luôn luôn làm việc hướng tới một bước ngoặt, và bước ngoặt này có thể được giải thích bởi thế giới như: sự phát hiện một thiên tài; một nỗ lực sáng tạo nào đó; hoặc những biểu lộ dữ dội của sự tuyệt vọng khi người này cố gắng để thoát khỏi kết quả của sự nghiền ngẫm bên trong của y theo đường lối đã chọn. 460-1
2.3.2. Tự ám ảnh, cô lập, tính tự cao tự đại hoang tưởng: Trong các giai đoạn đầu thì có thể chữa khỏi – chuyển sự tập trung thông qua việc gợi lên một mối quan tâm khác cao hơn, bởi sự phát triển ý thức xã hội, và nếu có thể bằng sự tiếp xúc với linh hồn. Nếu không nó sẽ làm cho người này cuối cùng trở thành không thể xúc động, vì y trở nên cố thủ trong một thành lũy của các hình tư tưởng riêng của y liên quan đến bản thân y và hoạt động của y. Loại người cung 1 và 5 dễ xảy ra. 461
2.3.3. Người hướng ngoại về mặt trí tuệ: Những người trở nên hướng ngoại mạnh mẽ bởi sự mong muốn áp đặt các kết luận họ đã đạt được lên trên đồng loại của họ. những người cung 3 và 6 dễ bị sự rối loạn này. Họ gồm mọi loại người, từ nhà thần học có thiện ý và người theo giáo điều cố chấp hầu như được tìm thấy trong các trường phái tư tưởng; đến người cuồng tín làm cho cuộc sống thành một gánh nặng cho mọi người xung quanh y khi y tìm cách áp đặt quan điểm của y lên họ; và người điên vì trở nên bị ám ảnh với linh thị của y rằng y phải được cất giữ cẩn thận. 462 (Nguồn: Rối loạn Chia rẽ, Kích thích, Tích hợp và cách chữa trị )
Xem hình ảnh 4 cõi thấp - Hạ trí
Xem:  Xem Rộng Trí Tuệ là Cung 1 – 4 – 5
Xem: TH về Cõi trí, Thể trí (Thượng, hạ trí), Cung Thể Trí
Xem:  Rối loạn Chia rẽ, Kích thích, Tích hợp và cách chữa trị


Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)

+ Giới tức là một thế giới riêng biệt cho căn, trần và sắc:
- Thí dụ nói về cái thấy chúng ta có 3 giới là:
1. Căn là Nhãn giới - Căn mắt
2. Trần là Sắc giới - Là các vật, đối tượng như nhà cửa, xe cộ
3. Thức là Nhãn thức giới - Là cái biết của sự thấy.
=> Mà Con người có
- 6 giới của căn: Nhãn giới, Nhĩ giới, Tỷ giới, Thiệt giới, Thân giới, Ý giới.
- 6 giới của trần: Sắc giới, Thanh giới, Hương giới, Vị giới, Xúc giới, Pháp giới.
- 6 giới của thức: Nhãn thức giới, Nhĩ thức giới, Tỷ thức giới, Thiệt thức giới, Thân thức giới và Ý thức giới.
Tổng cộng: 18 giới mà thường được gọi là thập bát giới.
+ Nội Ngoại của 18 Giới:

- 6 Nội giới: 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trong cơ thể, gọi là nội giới;
- 6 Ngoại giới: 6 trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm, các pháp) bên ngoài, gọi là ngoại giới;
- 6 Trung giới - Ở giữa: 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) ở giữa giúp 6 căn nhận biết 6 trần, gọi là trung giới. Xem nguồn.
+ 768. TỲ KHEO BIẾT GIỚI
Này A-nan, nếu Tỳ-kheo nào thấy và biết như thật về mười tám giới: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới, tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.
1) Sáu giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.
2) Sáu giới: dục giới, nhuế giới, hại giới, vô dục giới, vô nhuế giới, vô hại giới.
3) Sáu giới: lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới.
4) Bốn giới: thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức giới.
5) Ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
6) Ba giới: sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.
7) Ba giới: quá khứ giới, vị lai giới, hiện tại giới.
8) Ba giới: diệu giới, bất diệu giới, trung giới
9) Ba giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.
10) Ba giới: học giới, vô học giới, phi học vô học giới.
11) Hai giới: hữu lậu giới, vô lậu giới.
12) Hai giới: hữu vi giới, vô vi giới.
Này A-nan, thấy và biết như thật về sáu mươi hai giới này. Nguồn: mục 768- (Trung A Hàm, Kinh Đa Giới, Phẩm 14, số 181)
+ Trì giới / giữ giới:

– Chìa khóa (bí quyết) giữ Hài Hòa (Harmony) trong lời nói và hành động, bí quyết lập thăng bằng giữa nhân với quả, không để thêm cơ hội cho tác động của nghiệp.(TNVT, 177) 
– Hạnh thứ nhì trong mười (có khi là sáu – ND) Ba–la–mật. Hài hòa hoàn toàn trong lời nói và hành động.  (NGMTTL, 297)
+ 69. GIỮ GIỚI CÓ NĂM CÔNG ĐỨC
1. Cầu gì đều được như nguyện.
2. Tài sản đã có thì thêm mãi không hao sút.
3. Ở đâu cũng được mọi người kính mến.
4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ.
5. Thân hoại mệnh chung được sanh lên cõi trời. Nguồn: mục 69- (Trường A Hàm, Kinh Du Bộ, số 2)


Tinh khiết (purity, trong sạch): Cần nhận thức rằng sự tinh khiết của tất cả các hiện thể (vehicles) là quan trọng hàng đầu. Nếu một Huynh đệ hắc đạo chiếm được sự kềm chế nơi bất cứ người nào, thì điều đó chẳng qua cho thấy rằng người đó có một nhược điểm nào đó trong cuộc sống của mình. Cửa đi vào phải do chính con người mở ra Chỗ mở mà nhờ đó các mãnh lực độc hại có thể tuôn vào phải được tạo ra bởi chủ nhân của các hiện thể. Do đó, cần phải cẩn thận thanh tẩy thể xác, luôn luôn có tình cảm trong sạch trong thể cảm dục và giữ tư tưởng thanh khiết trong thể hạ trí. Khi làm được như thế thì các thể thấp sẽ có được sự phối kết và chính linh hồn sẽ không cho phép có sự xâm nhập nào.    (TVTTHL, 137)

+ Thức ăn: Nhường như các Giới thấp là nguồn nuôi dưỡng thức ăn cho các cõi giới cao
+ Phật dạy về Thức ăn của Sông Ngòi hay Của Thức ăn của Minh Giải thoát (Tu Giải thoát) cũng có thức ăn. Nguồn: Xem tooltip thuật ngữ Kinh Thực hay kinh Thức ăn hoặc xem tại đây: xem mục 369- (Trung A Hàm, Kinh Thực, Phẩm 5, số 52)


I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI
+ Không gian:
Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh học bàn đến.” (CTHNM, 14)
+ Không gian (Space):
- Không gian chính là Thái Uyên (The Deep). (Thư của Ch.S. 379).
- Không gian và vật chất (substance) là các thuật ngữ đồng nghĩa; vật chất là tập hợp các sự sống nguyên tử, nhờ đó mà mọi hình hài được kiến tạo. (CVĐĐ, 105)
- Chân Sư thoát khỏi các giới hạn của thời gian, mặc dù không thoát được các giới hạn của không gian, bởi vì không gian là một Thực Thể vĩnh hằng (eternal Entity) (CVĐĐ, 437)
- Đối với Thái Dương Thượng Đế, không gian, theo sát nghĩa, là dạng thức (form) mà trong đó, các hoạt động hữu thức và mục tiêu của Ngài được hoàn thành – vòng giới hạn Thái Dương. Một cách tương tự, không gian mà trong đó một Hành Tinh Thượng Đế thực thi các kế hoạch của Ngài chẳng khác gì so với không gian thái dương khi tâm thức của Ngài đủ mở rộng để sử dụng. (LVLCK, 281)
+ Thời gian (time):

- Thời gian chính là trình tự các biến thái (modifications) (hay hoạt động – activities, ASCLH, 17) của thể trí, thời gian cũng kết liễu nhường chỗ cho Hiện tại Vĩnh cửu. (ASCLH, 428)
- Thời gian là chuỗi của các sự việc xảy ra (sequence of events) và của các trạng thái ý thức theo sự ghi nhận của bộ óc xác thân. Nơi nào không có bộ óc của thể xác thì những gì mà nhân loại hiểu theo ý nghĩa thời gian (by time) không còn nữa (non–existent). Việc gỡ bỏ các ngăn trở (barriers) của hình hài, hết giai đoạn này đến giai đoạn khác sẽ đưa đến nhận thức ngày càng tăng về Hiện Tại Vĩnh Cửu (Eternal Now). (CTNM, 403–404)
- Trên cõi trí, không có thời gian. (LVHLT, 480)
- “Thời gian” chỉ là một ảo tưởng phát sinh do sự nối tiếp của các trạng thái tâm thức khi chúng ta trải qua kỳ gian Vĩnh Hằng, nơi nào không có tâm thức để cho ảo tưởng có thể phát sinh thì nơi đó sẽ không có thời gian, thời gian “yên nghỉ”.(GLBN I, 110)
- Thời gian và Nghiệp quả là 2 từ đồng nghĩa (Chân Sư DK)

II- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO PHẬT HỌC
+ Phật dậy Hư Không/ Không Gian Là Đồng Và Thế Giới Là Dị: 
A Nan! Bản thể của hiện tượng vốn chung cùng, do nhơn duyên mà biến hiện. Trong thể tánh không đồng không dị, phân giải sinh ra thành dị. Khác với các dị hóa hợp lại thành đồng. Tánh đồng dị đã phát minh, hai lực hấp dẫn và đề kháng cũng tự thành năng lực. Giữa sự nhiễu loạn mâu thuẫn bên trong của vật lý tâm lý và tánh hư không; những tánh chất năng động hợp thành thế giới, tánh thể bất động là hư không. Hư không là đồng, thế giới là dị. Đồng dị hay không đồng dị, tất cả đều gọi là pháp hữu vi.
+ Định nghĩa Hư Không - Không Gian
(Nguồn: Định nghĩa Hư Không)
- Hư Không tức Không gian:
Khái niệm quan trọng trong đạo Phật. Hư không được hiểu là »không gian« Có 2 thứ không gian:
1. Không gian do sắc thể quy định mà thành và
2. Không gian vô cùng tận - Hư Không.
* Khái niệm đầu thuộc sắc thể (Ngũ uẩn), khái niệm sau là một trong 6 yếu tố (Giới), không có tự tính nhưng lại là cơ sở của mọi sắc thể và của Tứ đại chủng là đất, nước, gió, lửa. Hư không (khái niệm thứ hai) là tính Không, rời mọi sắc thể, thường còn và không thể mô tả nghĩ bàn;
- Hư Không - Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Hoặc:
- Theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc;
+ Trong Không gian/ Hư không: Vì trong không gian vô cùng vô tận có chứa đầy đủ 7 đại nên từ đó con người, sinh vật và vạn pháp mới được cấu tạo, hình thành một cách mầu nhiệm. ... Tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau vì thế trong hư không có đầy đủ các đại mà chúng không tương tàn, tương diệt vì các đại cùng chung một thể tánh. Đó là chơn không (bất biến).
+ Trong không gian vũ trụ này thì chỗ nào cũng có 7 Đại là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại (nhận thức trực giác) và thức đại (nhận thức tư duy, phân biệt). Các Đại ở Thái Cực/ Nhất Nguyên/ Như Lai Tạng thì Tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau, vì thế tuy trong hư không có đầy đủ các đại mà chúng không tương tàn, tương diệt vì các đại cùng chung một thể tánh. Đó là chơn không (bất biến). Khi biến hiện (Lưỡng Nghi/ Âm Dương) thì thành vạn vật. Nguồn: Chương thứ bảy - Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác
+ Ý nghĩa không gian và Thời gian theo Phật giáo có thể chia làm hai mặt:
- Không gian: Nếu đứng về phương diện không gian thì đạo Phật chủ trương rằng vạn pháp là do nhân duyên hòa hợp mà thành.
- Thời gian: Còn đứng về phương diện thời gian thì vạn pháp là do nhân và quả mà thành tựu.(Nguồn: Mục Lại rơi vào thuyết nhân duyên đối đãi ....)
+ Thế Giới Chúng Sinh Với Không Gian - Thời Gian
- Phật dậy: A Nan! Thế giới chúng sinh tức là vũ trụ bao gồm hai mặt không gian và thời gian
* Thế là thời gian là quá trình sinh diệt, diệt sinh của hiện tượng vạn hữu - Luật Nhân quả báo ứng.
* Giới là không gian - Lý Nhân duyên sanh hợp, biểu hiện qua mặt bằng rộng hẹp, kích thước ngắn dài, qui mô cao thấp và phương hướng tả hữu, trước sau. Phương hướng mà người thế nhân nhận rõ là: Đông, Tây, Nam, Bắc bốn phương. Nhưng thật ra có tất cả 10 mười trong thế gian này. Đó là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới.
* Thời gian có 3 thời là: Quá khứ, hiện tại và vị lai.
=> Lấy không gian và thời gian nhân cho nhau: Bốn nhân ba hay ba nhân bốn thành con số 12. Vì có 10 phương hướng trong khi số lưu chuyển của thời gian là 3 nên nhân lên ba lần là 4 x 3=12 rồi 12 x 10= 120 và sau cùng 120 x 10=1200. Số 1200 là con số tượng trưng biểu hiện cho công đức của 6 căn tương quan trong thế giới. Tuy nhiên, nếu xét riêng thì công năng của mỗi căn cao thấp khác nhau, chẳng đồng. (Nguồn: Xem mục Chỉ rõ sự ràng buộc và siêu thoát ...)
Nguồn: Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác


+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chính là bộ máy đáp ứng. (CTNM, 36). - Dùng để chỉ một hình thể có khả năng hoạt động độc lập trong cõi hữu hình và vô hình. (KCVTT, 128) + Con Người có các Thể: Thể Xác và Thể Dĩ Thái; Thể Vía/ Thể Cảm dục/ Thể cảm xúc/ Thể tình cảm; Thể Trí (hạ trí và Thượng trí); Thể Phàm Ngã; Thể Linh Hồn; Thể Chân Thần. + Cõi Trí: Trích Tâm lý học NM 1. Thượng trí hay trí trừu tượng, là hiện thân của một tam nguyên cao hơn. 2. Hạ trí hay trí cụ thể, là trạng thái cao nhất của phàm ngã. 3. Chân Nhân hay Thái Dương Thiên Thần, là Con Trí Tuệ thuần túy, vốn biểu lộ trí thông minh, cả trừu tượng và cụ thể, và là điểm hợp nhất.

+ Tại sao gọi họ là Thánh Hiền? Vược thời gian vược không gian, cái không gian thời gian đó là đã bao gồm tất cả. Nếu họ không vược qua không gian thời gian thì đó không thể gọi là thánh học được.Thánh học là cùng với bổn tánh bổn thiện, những danh từ này không phải dể hiểu, chúng ta nói cách khác, đó là phép tắc của tự nhiên, nguyên tắc của đại tự nhiên, sự vận hành của đại tự nhiên vĩnh hằng không thay đổi. Cái mà đạo gia gọi là “đạo”, đạo chính là nguyên tắc của đại tự nhiên.
Nguồn: Luân Lý Đạo Đức - PS Tịnh Không


+ Biểu Lý: “Lời nói bên ngoài tâm bên trong, ngôn ngữ không trái với tâm, nên gọi là tương ưng. Nên tâm khẩu nhất như, gọi là trong ngoài tương ưng”. Trong Tư Quảng Kỳ Nghĩa nói, dẫn chứng nói:
- Biểu là biểu hiện ra bên ngoài, tất cả đều là biểu. Hay nói cách khác đi đứng ngồi nằm của chúng ta đều là biểu, ngôn đàm cử chỉ đều là biểu, biểu hiện ra bên ngoài. Chúng ta nói biểu hiện trong cuộc sống, biểu hiện trong công việc, biểu hiện trong xử sự đối nhân tiếp vật.
- Lý là nội tâm, nội tâm là gì?
* Nội Tâm: Nội tâm gồm
- Ngũ thường: Nhân lễ nghĩa trí tín,
- Tứ duy: Là lễ nghĩa liêm sĩ,
- Bát là hiếu để trung tín nhân ái hòa bình. Đây là giáo huấn ngàn vạn năm trước của tổ tông truyền lại, toàn là tánh đức, những thứ này là bản năng trong tự tánh, nó vốn có. Hoàn toàn biểu diễn trong cuộc sống hằng ngày, biểu diễn ra bên ngoài.
+ TÂM BỒ ĐỀ: “Nội ngoại nhất như gọi là tương ưng, tức là trực tâm”. Trong Phật pháp đại thừa gọi là tâm bồ đề, điều đầu tiên gọi là trực tâm. Trong Khởi Tín Luận dùng danh từ này, Tâm Bồ Đề gồm Ba Tâm hay Tam Tâm:
- Trực tâm - Trực tâm là thể, là chân tâm, người xưa gọi là bản tánh bản thiện, bản tánh đó chính là trực tâm.
- Thâm tâm,
- Đại bi tâm
=> Tam tâm, hợp lại gọi là tâm bồ đề.
+ Trực Tâm là Đào Tràng: Tịnh Danh Kinh dạy _Kinh Duy Ma Cật nói: “Trực tâm là đạo tràng”.
- Đạo tràng nghĩa là gì? Chư Phật Như Lai, đại đạo ở đâu thì ở đó gọi là đạo tràng, cổ thánh tiên hiền, nơi hành đạo gọi là đạo tràng. Hành đạo, sinh hoạt là hành đạo. Họ ở đâu thì nơi đó gọi là đạo tràng, không nhất định là chỉ chùa chiền am đường, không phải vậy.

(Nguồn: PS Tịnh Không giảng)


Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan rã (disintegration); chỗ bị yếu sẽ gảy vỡ và lỗ hổng xuất hiện, tà lực có thể xâm nhập vào qua lỗ hổng đó. Yếu tố xâm nhập là sự sợ sệt của chính con người, con người mở cánh cửa (cho tà lực) như thế đó. (TVTTHL, 137)

+ Phương pháp để bảo đảm an toàn cho họ (Người phụng sự nhân loại) trong cuộc xung đột hiện tại và trong cuộc xung đột còn lớn lao hơn của các thế kỷ sắp đến?
1. Hãy nhận thức rằng sự thanh khiết của tất cả các thể là điều kiện tiên quyết. Nếu một vị Hắc đạo chế ngự được một người nào thì điều ấy chứng tỏ rằng cuộc sống y có một vài nhược điểm. Cánh cửa xâm nhập phải do người đó tự mở ra, và kẽ hở mà sức mạnh độc hại có thể tràn vào phải do chủ nhân các thể tự tạo. Vì thế cần phải thận trọng gìn giữ xác thân hết sức sạch sẽ, chỉ có những tình cảm thanh khiết, vững vàng trong thể tình cảm, và tư tưởng trong thể trí phải thật thanh cao. Khi làm được như vậy, sẽ có sự điều hợp trong các hạ thể và Người suy tưởng (Chân ngã) ở nội tâm sẽ ngăn được mọi sự xâm nhập.
2. Hãy chấm dứt mọi nỗi sợ hãi. Những mãnh lực thăng thượng tiến hóa rung động mau lẹ hơn các mãnh lực tiến hóa giáng hạ, đây có thể hiểu là yếu tố an toàn. Sự sợ hãi làm suy yếu; suy yếu làm tan rã; một điểm yếu vỡ ra tạo nên khoảng trống, qua đó mãnh lực ác hại có thể xâm nhập. Yếu tố xâm nhập là sự sợ hãi của chính đương sự, y tự mở ra cánh cửa theo cách đó.
3. Hãy điềm tĩnh, vững vàng dù điều gì xảy ra cũng vậy. Chân bạn có thể chìm trong bùn lầy của mặt đất, nhưng đầu bạn có thể tắm trong ánh nắng mặt trời ở trên cao. Hãy nhận biết bùn lầy của thế gian nhưng đừng để bị nhiễm bẩn.
4. Hãy biết cách dùng lương tri và áp dụng lương tri vào vấn đề đang có. Hãy ngủ nhiều và trong khi ngủ tìm cách làm cho cơ thể trở nên tích cực. Hãy cố gắng làm công việc trên cõi tình cảm và giữ gìn sự an tịnh nội tâm. Đừng bắt thân xác làm việc quá mệt mỏi, và chơi đùa bất cứ khi nào có dịp. Những giờ ngơi nghỉ, thư thả giúp điều chỉnh, ngăn ngừa những sự căng thẳng về sau.(TVTTHM, 138)
+ Sự sợ hãi có mức rung động thấp nhất theo khoa học. Cho lên ta cần loại bỏ sự sợ hãi hoàn toàn, vun bồi sự can đảm vô biên với tình thương vô hạn, giúp bạn mạnh khỏe, sống lâu.


+ l. Sợ hãi. Đây là một trong các biểu lộ thông thường nhất của năng lượng cảm dục, và được đưa ra đầu tiên bởi vì đối với đại đa số con người, nó tạo thành Kẻ Chận Ngõ/Tổng Quả (Dweller on the Threshold), và xét cho cùng cũng là điều sai trái căn bản của thể cảm dục. Mỗi người đều biết sợ hãi, và phạm vi của các rung động do sợ hãi mở rộng từ những nỗi sợ theo bản năng của người bán khai, dựa trên sự thiếu hiểu biết của y về các định luật và các mãnh lực của thiên nhiên, và dựa trên sự khiếp sợ của y đối với bóng tối và cái không biết, đến các nỗi sợ hãi rất phổ biến ngày nay về việc mất bạn bè và những người thân yêu, về sức khỏe, về tiền bạc, về sự mến mộ và tiếp đến là những nỗi sợ hãi cuối cùng của người tìm đạo – nỗi sợ thất bại, nỗi sợ có nguồn gốc từ sự nghi ngờ, nỗi sợ về sự phủ định cuối cùng hoặc về sự hủy diệt, sợ cái chết (mà y cùng chia sẻ với tất cả nhân loại), nỗi sợ về đại ảo tưởng của cõi cảm dục, về ảo ảnh (phantasmagoria) của chính sự sống, và cũng sợ về sự đơn độc trên Thánh Đạo, thậm chí đến chính sự sợ hãi về bản thân Nỗi Sợ. Danh sách này có thể được mở rộng nhiều nữa nhưng đủ để cho thấy sự thịnh hành của những nỗi sợ hãi thuộc đủ loại. Chúng thống trị hầu hết các tình huống và làm đen tối nhiều khoảnh khắc hạnh phúc. Chúng biến con người thành một vi tử rụt rè và nhút nhát của sự sống tri giác, sợ hãi trước sự kỳ diệu của các vấn đề sự sống, nhận thức sự thiếu sót của y như một người đương đầu với mọi tình huống và không thể để lại phía sau những sợ hãi và những nghi vấn của y, và bước vào di sản của sự tự do và của sự sống của y. Thường thì y bị nỗi sợ đè nặng đến nỗi y trở nên sợ chính lý trí của mình. Sự việc không thể bị nhuốm màu quá đen tối, vì sợ hãi là năng lượng cảm dục chiếm ưu thế vào lúc này, còn nhân loại nhạy cảm thì chịu thua nó hoàn toàn quá dễ dàng.
Bạn hỏi: Các nguyên nhân cơ bản của sự sợ hãi là gì? Trước câu hỏi đó, nếu trở lại đủ xa vào lịch sử huyền bí của thái-dương-hệ thì không đưa ra được câu trả lời dễ hiểu nào. Chỉ có điểm đạo đồ tiến hóa mới có thể hiểu được. Nguồn gốc của sự sợ hãi ở trong cơ sở của chính vật chất, và hơn hết là một thể hiện hoặc hiệu quả của nguyên khí trí tuệ, và là một kết quả của hoạt động trí tuệ. Sự kiện rằng các loài chim chóc và thú vật biết sợ hãi đặt toàn bộ vấn đề trên một cơ sở rộng lớn hơn là nếu nó chỉ là một nhược điểm của con người, và là kết quả của hoạt động chức năng của tâm trí con người. Nó không liên quan với việc con người có một thể trí biết suy luận; nếu y dùng lý trí của mình đúng cách thì y đã có thể loại bỏ sự sợ hãi. Sự sợ hãi nằm trong cái gọi là Tà-Lực vũ trụ (cosmic Evil) – một cụm từ nghe có vẻ cao siêu, nhưng không truyền đạt gì nhiều. Nó vốn có trong sự thật về chính vật chất, và trong sự tác động của các cặp đối ứng – linh hồn và vật chất. Các linh hồn có tri giác của động vật và của con người có ý thức tiềm tàng về các yếu tố như:
1. Tính bao la và do đó sự đè nặng được cảm nhận của Tổng Thể.
2. Áp lực của mọi sự sống và sự hiện tồn khác.
3. Hoạt động của Định Luật không thể lay chuyển.
4. Ý thức về sự giam giữ, về sự hạn chế, và về sự không thỏa đáng tương ứng.
Trong các yếu tố này, phát sinh từ chính tiến trình biểu lộ, kiên trì và phát triển uy lực trong các thời đại, người ta tìm thấy các nguyên nhân của mọi nỗi sợ hãi hiện đại, và cơ sở của mọi nỗi khiếp sợ, trên tất cả là sự sợ hãi vốn hoàn toàn thuộc về tâm lý chứ không chỉ là nỗi sợ hãi theo bản năng của loài vật. (LVHLT, 298)


+ 1. Sợ chết: Tôi (Chân Sư DK) nói về Cái Chết như là một người hiểu biết vấn đề từ cả kinh nghiệm về thế giới bên ngoài lẫn sự biểu hiện của đời sống nội tâm: − Không hề có cái chết nào cả. Như bạn biết, chỉ có sự tiến nhập vào sự sống sung mãn hơn. Có sự giải thoát khỏi các cản trở của hiện thể nhục thân. Diễn trình giằng xé quá khủng khiếp như thế không có, ngoại trừ trong các trường hợp của cái chết dữ dội và cái chết đột ngột, lúc đó có các khó chịu thật sự duy nhất là một cảm giác ngắn ngủi và lấn át về tình trạng nguy hiểm và sự hủy diệt sắp xảy ra, và một cái gì đó rất giống như một cú sốc điện. Không còn gì nữa.


+ 2. Sợ Hãi đối với Tương Lai.


Đây là một nỗi sợ mà cho đến nay sẽ cho thấy một xu hướng phát triển ngày càng tăng và sẽ gây ra nhiều đau khổ trên thế giới trước khi nó được xóa sạch. Nó phát sinh từ ba khả năng của con người:
a/ Các thói quen suy tư thuộc tâm lý bản năng, vốn có nguồn gốc sâu xa trong bản chất động vật và quay trở lại với bản năng tự sinh tồn nguyên thủy...  
b/ Các chớp lóe của sự tiên kiến (prevision) phát ra từ linh hồn đang ở trong tâm thức của Hiện Tại Vĩnh Cửu (Eternal Now)...Y sẵn sàng cho một sự xem xét cẩn thận về thông điệp của Đức Phật, và y sẵn sàng, vì y đã bị giày vò trong nhiều thế kỷ bởi chiến tranh và nạn đói, bởi dục vọng và sự vật lộn vì kinh tế. Viễn cảnh mà y nhìn thấy trước mắt có vẻ đen tối, nguy hiểm và đầy thảm họa do tai biến.
c/ Nỗi sợ do đồng hóa sợ hãi ở bên ngoài: Một số lớn nỗi đau khổ và sợ hãi cá nhân mà một cá nhân có thể nhận lãnh, nhưng không có liên quan tới y một chút nào.... Khổ thay, đây là trường hợp mà ngày nay có đến hàng ngàn linh hồn có đạo tâm nhạy cảm, thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý các nghiệp quả thế gian, mở rộng lòng trước sự đau khổ của những người khác và không thể phân biệt giữa vận mệnh của chính họ trong tương lai trước mắt, với vận mệnh của những người khác trong hoàn cảnh của họ.


+ Phật lại dạy rằng: “A Nan, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, thì cũng như người tu bịt hai lỗ tai của mình, la tiếng thật lớn, mà muốn cho mọi người không nghe thì không thể được”. (Nguồn)
+ Nghiệp sát - Chết yểu: Thưa Thế tôn, hữu tình bị chết yểu là do nghiệp gì mà bị như vậy? Đức Phật bảo: Do sát sanh nên bị như vậy. Nghiệp sát có 10 loại:
1. Tự tay giết.
2. Khuyên người khác giết.
3. Thấy giết thì hoan hỷ.
4. Tùy hỷ việc giết.
5. Giết bào thai.
6. Khuyên trục thai cho chết.
7. Oán thù mà giết.
8. Giết bằng cách đoạn nam căn.
9. Bằng phương tiện giết.
10. Sai người giết.
Mười thứ như vậy đưa đến quả báo chết yểu.
+ Không làm 10 loại như trên thì được quả báo trường thọ
Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng
Xem thêm: Kinh thiện ác nhân quả
Xem: Giữ ngũ giới


+ "Sám hối hay Truy hối" là đem nghiệp chướng tiêu trừ hết, "Truy hối" là đem cái nghiệp chướng làm tăng thêm > phải giác ngộ!
- Sám hối: Pháp Sư Tịnh Không Khai Thị " Sám Hối " : Trong Phật pháp, Vô lượng vô biên pháp môn, tóm lại đến cuối cùng là pháp môn sám hối. Niệm Phật là tốt nhất cho pháp môn sám hối > bạn vãng sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới Sám hối: Không che giấu tội lỗi của mình đó gọi là sám, hối là sau này không còn tạo nữa! Sám hối không là truy hối (nhớ lại mà hối hận);
- Truy hối - Nghĩ, nhắc lại việc cũ: là tội cộng thêm tội, tại vì sao? Mỗi lần bạn nghĩ đến cái ác cũ, thì lại tạo một lần nghiệp tội, vậy thì làm sao được, đó không phải là sám hối. >>> Trước tượng Phật kể khổ: "Tôi tạo những nghiệp tội .. ..v..v.., xin Phật Bồ Tát tha thứ cho tôi". Bạn làm như vậy, là lại tạo thêm một lần nghiệp > đây là tội cộng thêm tội, nghiệp tội của bạn vĩnh viễn không tiêu trừ > phải thường nghĩ đến Phật Bồ Tát, khiến cho cái ấn tượng của nghiệp tội này từ từ nhạt mất, từ từ không còn, thì sẽ tiêu trừ hết. Xem Sám hối _ PS Tịnh Không
+ 554. SÁM HỐI
- Đức Thế Tôn thuyết pháp này xong, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn ly trần cấu, phát sanh pháp nhãn và các pháp. Bấy giờ, Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi viễn thấy pháp, đắc pháp, chứng pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, không còn ai hơn, không tùy thuộc ai nữa, không còn do dự, đã an trú vào quả chứng đắc; đối với pháp của Thế Tôn, chứng đắc vô úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật mà bạch rằng:
Bạch Thế Tôn, con ăn năn! Bạch Thiện Thệ, con ngay từ đầu như ngu, như si, như khờ dại, như không hiểu biết, không nhận ra Bậc Lương Điền mà không tự biết. Vì sao? Vì con đã gọi Như Lai –Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác– là Hiền giả. Mong Đức Thế Tôn cho con sám hối. Sau khi sám hối, con sẽ không còn tái phạm nữa.
Đức Thế Tôn đáp: Này Tỳ-kheo, ngươi quả thực ngu si, quả thực là khờ dại, không hiểu biết nên đã gọi Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, là Hiền giả. Này Tỳ-kheo, nếu ngươi tự sám hối, đã thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa, như thế, này Tỳ-kheo, đối với pháp luật của bậc Thánh như vậy là tăng ích chứ không tổn hại, vì đã tự sám hối, đã tự thấy và phát lồ, gìn giữ không tái phạm nữa. Nguồn: mục 554- (Trung A Hàm, Kinh Phân Biệt Lục Giới, Phẩm 13, số 162)
+ Các phương pháp sám hối: Thành tâm đọc tụng Lương Hòang Sám hay Từ Bi Thủy Sám. Đó là những bộ kinh thư có công năng sám hối mạnh mẽ vô biên. Hoặc nếu không có nhiều thời gian, bạn có thể sám hối theo Nghi thức Xem tại đây


+ Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy mình có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy mình ở trên cõi trí. Đa số con người đều thấy mình ở cõi cảm dục, khoác lấy lớp vỏ (shell) bằng chất cảm dục (astral matter) và phải chịu một giai đoạn thải bỏ (olimination) bên trong vùng ảo giác (illusory area) của cõi cảm dục.(CTNM, 486)

+ CÁCH NHẬN BIẾT NGƯỜI SẮP LÂM CHUNG SẼ SANH VỀ CẢNH GIỚI NÀO ?


Trong kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ, đức Phật bảo:


– Nếu người sắp lâm chung, dự biết thời khắc, chánh niệm rõ ràng, tắm gội mặc áo, an lành qua đời, ánh sáng chiếu thân, thấy tướng hảo Phật, các điềm lành đều hiện ra, biết chắc người này quyết định vãng sanh Tịnh Độ.



– Nếu người niệm Phật trì giới không có tâm tinh tấn, lúc sắp mạng chung không có tướng lành, không có tướng ác. Địa phủ không thâu, An Dưỡng chẳng nhận, như ngủ mà đi. Người này lòng nghi ngờ chưa đoạn dứt nên sanh về Nghi Thành(*), thọ hưởng vui vẻ trong năm trăm năm, tu Tín, Nguyện thêm mới được về Tịnh Độ.


– Nếu người khởi tâm thương xót, chánh niệm hiện tiền, đối với tài sản, vợ con tâm không luyến ái, đôi mắt trong sáng, ngẩng mặt mỉm cười, nghĩ tưởng thiên cung sẽ đến rước ta, tai nghe thiên nhạc, mắt thấy đồng tử cõi trời. Lúc bỏ báo thân này, nhất định sanh về Thiên giới.


– Nếu người sanh tâm nhu nhuyến, khởi tâm phước đức, thân không bệnh hoạn, nghĩ nhớ cha mẹ vợ con, đối với việc thiện ác tâm không lầm lẫn, tâm tư ngay thẳng, di chúc gia tài từ biệt mà đi. Người này nhất định sanh về cõi người.


– Nếu người giận dữ mà nhìn quyến thuộc, đưa tay nắm bắt hư không, tiểu tiện không hay, thân thường hôi thối, hai mắt đỏ hoe, thường nằm úp mặt, co về bên trái, toàn thân đau nhức.


Hoặc thấy tướng ác, miệng không nói được, rên rỉ kêu gào, oan trái hiện ra, tâm thức tán loạn, mê hoặc điên đảo, toàn thân lạnh buốt, bàn tay nắm chặt, thân cứng như đá. Người này lúc mạng chung nhất định sanh về cõi Địa ngục.


– Nếu người hay liếm môi, thân nóng như lửa, thường lo đói khát, ưa nói về ăn uống, miệng há không ngậm lại, tham luyến tài sản, mạng sống dây dưa khó dứt, chết không nhắm mắt. Người này nhất định vào đường Ngạ quỷ.


– Nếu người thân mang bệnh nặng như ở trong mây mù, tâm hồn mê man tán loạn, sợ nghe danh hiệu Phật, ưa thích ăn mùi vị máu thịt, không chịu nghe lời khuyên bảo, ái luyến vợ con, tay chân co quắp, toàn thân xuất mồ hôi, nói lời thô ác, thường nuốt nước miếng. Tướng ấy hiện ra, nhất định đi vào đường súc sanh.


CHÚ THÍCH:


(*) Nghi Thành:
Nơi sanh về của các hành giả tu các công đức bằng tâm nghi hoặc trong các cõi Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà. Hành giả dù được vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc, nhưng vẫn còn chưa hiểu thật tướng, nên đức Phật mới đáp ứng căn cơ của họ mà thị hiện cõi hóa sanh, đó là Nghi Thành.


Nam Mô A Di Đà Phật !


Đại Sư Ưu Đàm !



+ Quán tưởng: “Con người là một tạo vật của sự quán tưởng, trong kiếp này, con người quán tưởng như thế nào thì kiếp sau, con người trở nên như thế ấy”(Kinh Chhandogyopanishad, IV, xiv, 1). (MTNX, 277)
+ Quán tưởng diệt trừ tâm dục - Tình dục (nguồn)

- 7 quán Bất tịnh quán (Không trong sạch) khi: Cấu hợp - Sinh - Vị trí Bào Thai - Lớn bằng Máu mẹ - Sinh bẩn -  Da bọc dơ bẩn, 9 lỗ tiết bẩn - Chết thân giữa nát;
- 9 quán: Thân lúc chết - Thâm bầm lạnh lẽo - Thân thối giữa - Thối tha máu mủ - Giòi bọ - Gân và Xương - Trơ Xương trắng - Tản mạn - Đốt thành tro - PS Tịnh Không - Quán Trừ Dâm dục

+ Quán Tứ Đế: Khổ Đế (Về sự khổ) - Tập Đế (Nguồn gốc khổ) - Diệt Đế (Chấm dứt khổ) - Đạo Đế (Con đường chấm dứt khổ)
+ Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, Chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, Chánh niệm, chánh định.
+ Quán Chiếu: Đức Phật dạy có 5 đề mục chúng ta cần quán chiếu mỗi ngày: - Tuổi già //  Bệnh //  Chết //  Không thường còn //  Luật nhân quả. "Vui thay, chúng ta sống, Không bệnh, giữa ốm đau!  Giữa những người bệnh hoạn,  Ta sống, không ốm đau." (kinh PHÁP CÚ)

Xem: Quán Tứ Thánh Đế/ Diệu Đế/ Tứ đế và Bát chánh đạo
Xem: Kinh Quán Tưởng Thanh Tịnh Sắc Thân của Dược Vương Bồ-tát và Dược Thượng Bồ-tát
Xem: Phật dạy về quán tưởng Lìa Ái Dục
+ 129. CHÁNH QUÁN CÁC PHÁP
Biết sự tốt xấu của thế gian; tâm được tích tập với tưởng như vậy.
Biết tập hữu của thế gian; tâm được tích tập với tưởng như vậy.
Biết như thật sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu của thế gian; tâm được tích tập với tưởng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo tích tập được tâm xuất gia học đạo, tích tập được tưởng vô thường, tích tập được tưởng vô thường nên khổ, tích tập được tưởng khổ nên vô ngã, tích tập được tưởng bất tịnh, tích tập được tưởng thức ăn ghê tởm, tích tập được tưởng tất cả thế gian không có gì hoan lạc, tích tập được tưởng về sự chết.
Biết sự tốt xấu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy. Biết tập hữu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy. Biết như thật sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy; đó được gọi là Tỳ-kheo đoạn ái, trừ kết; đã chánh tri, chánh quán các pháp rồi liền được tận cùng sự khổ. Nguồn mục 129 - (Trung A Hàm, Kinh Chư Pháp Bổn, Phẩm 10, số 113)
+ 667. THIỆN XẢO QUÁN TỰ TÂM
Thế nào gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm? Tỳ-kheo nếu có quán này, chắc chắn được nhiều lợi ích.
1) Ta thường hành tham lam hay thường hành không tham lam?
2) Ta thường hành tâm sân nhuế hay thường hành tâm không sân nhuế?
3) Ta thường hành thùy miên triền hay thường hành không thùy miên triền?
4) Ta thường hành trạo hối, cống cao hay thường hành không trạo hối, cống cao?
5) Ta thường hành nghi hoặc hay thường hành không nghi hoặc?
6) Ta thường hành thân tránh hay thường hành không thân tránh?
7) Ta thường hành tâm ô uế hay thường hành tâm không ô uế?
8) Ta thường hành tín hay thường hành bất tín?
9) Ta thường hành tinh tấn hay thường hành giải đãi?
10) Ta thường hành suy niệm hay thường hành không suy niệm?
11) Ta thường hành tâm định hay thường hành tâm không định?
12) Ta thường hành ác tuệ hay thường hành không ác tuệ? Nguồn: mục 667- (Trung A Hàm, Kinh Tự Quán Tâm II, Phẩm 10, số 110)


+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLVTD, 216)
+ Phật tánh của chính mình: Là cái Vô Lượng thọ, Vô Lượng quang, Vô Lượng công đức của chính mình (Nguồn)
+ Ba tính chất của Phật tánh (Nguồn):
1. Tự do vô hạn: khả năng nhận biết một cách tự tại về mọi sự việc quá khứ, hiện tại và tương lai;
2. Năng lực vô hạn: sức mạnh không giới hạn để đưa chúng ta và tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ;
3. Lòng từ bi vô hạn: Ý thức không giới hạn về sự tương liên giữa tất cả vạn vật, một tâm thức mở rộng ra cho kẻ khác, điều được coi là động lực trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp tất cả chúng sanh tiến hóa.
+ Niệm Phật vài tiếng Niệm - Quỷ liền lui (Xem bài viết)
Xem: Phật dậy Pháp Niệm Phật cho Người sơ cơ
Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo
Xem: TH Tương Ứng Của Thuật Ngữ Minh Triết - Tâm Linh Tu Hành


+ Phát Tâm/ Phát bồ đề tâm: Chỉ cho tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề. Tức phát khởi tâm mong cầu giải thoát khổ nạn, được vãng sinh Tịnh độ hoặc thành Phật. Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi, phải siêng năng tiến tu để mau chóng chứng được Vô thượng bồ đề. 3 loại phát tâm: 1. Phát tâm đại trí: Muốn dùng trí tuệ rộng lớn cầu được tất cả pháp của Phật để hóa độ hết thảy chúng sinh, làm cho họ được niềm vui pháp hỉ. 2. Phát tâm đại bi: Thương xót hết thảy chúng sinh, chịu vô lượng khổ não trong vòng luân hồisinh tử, thệ nguyện cứu vớt họ. 3. Phát tâm đại nguyện: Nương theo 4 thệ nguyện rộng lớn, phát tâm Vô thượng bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh. Hoặc 3 loại phát tâm là: 1. Phát tâm nhàm chán xa lìa hữu vi: Các pháp thế gian đều là pháp hữu vi, chỉ mang lại khổ não sống chết trong 3 cõi; muốn cầu thoát khỏi nỗi khổ ấy, thì phải nhàm chán pháp hữu vi mà phát tâm tu hành. 2. Phát tâm cầu bồ đề: Vốn có thiện căn và chính kiến, muốn cầu đạo xuất thế mầu nhiệm thì phải phát tâm tu hành. 3. Phát tâm làm lợi ích cho loài hữu tình: Khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh thế gian chịu khổ sinh tử, nguyện nhổ hết gốc khổ và mang lại niềm an vui cho họ, nên phát tâm tu hành. (xt. Bồ Đề Tâm). Xem nguồn + Vồ Thượng Bồ Đề: Giác ngộ Bồ Đề mà Phật đã đạt được(Xem nguồn)

+ Ngũ giới theo Phật dậy
1. Không sát sinh
2. Không trộm cướp
3. Không tà dâm
4. Không nói dối, sai sự thật
5. Không uống diệu
+ Ngũ giới - Minh Triết mới (ASCLH, 184):
1. Vô tổn hại (harmlessness).
2. Chân thật (truth).
3. Không trộm cắp (abstention from theft).
4. Tiết dục (abstention from incontinence).
5. Không tham lợi (abstention from avarice).
+ Theo Ngũ thường nhà nho/ Dịch học
1. Nhân (Không sát sanh hại vật)
2. Nghĩa (Trung thành, không gian tham)
3. Lễ (Lễ Phép, đúng mực)
4. Trí (Sống có lý trí, không cảm tính)
5. Tín (Không nói dối)
Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng
Xem: Kinh thiện ác nhân quả
Xem: Giữ ngũ giới


+ Tu Hành - Phật dậy: " Tu 1 ngày 1 đêm ở cõi ta bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả 100 năm. Tại sao vậy? Cõi nước của đức phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở ta bà 10 ngày đêm hơn làm lành 1000 năm ở các cõi phật khác. Vì cõi nước phật, không có duyên để làm ác, chỉ có thế giới ta bà này thiện ít ác nhiều, toàn là khổ độc chưa từng ngừng nghỉ" (Kinh Vô Lượng Thọ phẩm 37) + Bí quyết thời khóa Tu đều đặn: Tu Hành, cần định khóa sớm tối, bạn duy trì đều chỉ 5 phút mỗi thời khóa, không có gián đoạn, sẽ thành tựu hơn nhiều là mỗi thời 30 phút nhưng ngày có ngày không, là giải đãi, chẳng thể thành tựu (PS Tịnh Không) + Niệm Phật: Trong kinh Đại Tập, đức Phật dạy: “Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu", tức Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ (Nguồn) + Pháp Niệm Phật: Ðức Phật dạy, có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ Kinh). + Bồ Tát Quan Âm khuyên người niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ; Trích Đường Về Cực Lạc - Hòa thượng Thích Trí Tịnh (Xem bài viết) + PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT CHẤN ĐỘNG HƯ KHÔNG PHÁP GIỚI: Nếu người niệm Phật không có tư tâm, không có vọng tưởng, phân biệt và chấp trước, "Tâm bao thái hư, Lượng chu sa giới", mỗi tiếng Phật hiệu mà niệm, đều có thể chấn động hư không pháp giới. Người niệm Phật này còn thù thắng hơn, so với mười ngàn người ở niệm Phật đường; Hòa Thượng Tịnh Không (Xem bài) + BÍ QUYẾT NIỆM PHẬT LÀ: Ý NIỆM VỪA MỚI KHỞI LÊN THIỆN NIỆM CŨNG ĐƯỢC, ÁC NIỆM CŨNG ĐƯỢC ; NHẤT ĐỊNH CHẲNG ĐOÁI HOÀI, NGAY LẬP TỨC ĐỔI NÓ THÀNH A DI ĐÀ PHẬT. ĐỔI CHO NHANH, CÀNG NHANH CÀNG HAY, CHỚ ĐỂ CHO Ý NIỆM ẤY TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG; Trích A DI ĐÀ KINH SỚ SAO DIỄN NGHĨA –tập 68-phần 34; PS Tịnh Không (Xem bài) + Niệm Phật vài tiếng Niệm - Quỷ liền lui (Xem bài viết) Xem: Phật dậy Pháp Niệm Phật cho Người sơ cơ Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo Xem: TH Tương Ứng Của Thuật Ngữ Minh Triết - Tâm Linh Tu Hành

+ Đọc Kinh, Niệm Chú nhiệm mầu: Người đọc tụng được 6/7 phần, người nghe/ người bạn vì họ mà đọc/ Hồi hướng cho họ thì họ được một phần. Mỗi ngày đọc Kinh, đọc một biến, hoặc hai biến. Lúc đọc Kinh nhất định ghi nhớ phải dùng tâm chân thành, tâm cung kính, nhất định phải chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Chẳng gián đoạn là một lần phải đọc trọn bộ Kinh, đừng chia ra nhiều đoạn. Phân chia ra nhiều đoạn thì sẽ xen tạp, hiệu quả sẽ thấp, thì sẽ kém rất nhiều. Lúc đọc Kinh nhất định phải đừng bị bất cứ chuyện gì khuấy nhiễu, điểm này rất quan trọng. Giảng Kinh nói thật ra là tu phước, chẳng phải công đức, Đọc Kinh là công đức, giảng Kinh là phước đức. Trong công đức có phước đức, đó là một cảnh giới khác. Bạn giảng đoạn Kinh Văn này, thực sự nhập vô cảnh giới, đó là công đức, Nếu chẳng nhập vào cảnh giới này thì là phước đức. Do đó có thể biết, công đức hay phước đức là ở tại cá nhân mỗi người.
* Ví dụ Đọc kinh Địa Tạng: Sau khi người ấy mạng chung, dù từ trước có tội nặng, thậm chí năm tội Vô Gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh nơi nào cũng thường nhớ biết việc đời trước. Lợi ích này quá lớn, quá lớn! Chân chánh chẳng thể nghĩ bàn (Nguồn)
+ Đọc kinh: Là cầu trí tuệ chân thật, thế nhưng khi đọc kinh không thể cầu giải. Nếu bạn vừa đọc kinh vừa suy nghĩ ý nghĩa trong kinh là nói gì, là nói đạo lý gì thì sai rồi. Mục đích đọc kinh chính là tu tâm cung kính, tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi, thành thật mà đọc. Đọc kinh không cầu giải nghĩa.
+ Nhưng khai mở trí tuệ thì không thể mong cầu. Bạn muốn cầu nhưng tại sao bạn không thể khai mở trí tuệ? Bạn vĩnh viễn không thể mở, vì sao vậy? Vì trong đầu bạn xen tạp thêm vọng tưởng trong đó rồi. ..... Trong quá trình sơ học, chúng ta phải lấy đọc kinh là chủ đạo. Đọc kinh là cầu căn bản trí. Thời gian cầu giải có thể ít một chút. Cầu giải là giúp cho hậu đắc trí. Trên kinh Bát Nhã giảng: “bát nhã vô tri vô sở bất tri”, cho nên khi đọc tụng là chúng ta cầu vô tri. Vô tri là chân trí tuệ, bởi vì vô tri thì bạn mới có thể vô sở bất tri. Nếu bạn còn có tri thì có chỗ bất tri, vậy thì rất khổ, cho nên không thể có tri. Tâm địa phải thanh tịnh, thường thường là vô tri, vậy thì tốt. .....Xem thêm
+ Đọc kinh là lợi tha, còn tự lợi là nhắc nhở chính mình không quên giáo huấn của Phật, phải y giáo phụng hành. Đọc rõ ràng tường tận để người khác nghe. Nên biết xung quanh người đọc có vô số chúng sinh cùng nghe bạn đọc - Đó là lợi tha, bạn phải Độ cho họ ....(Nguồn)
 Xem TH về thần chú, matram, ...của phật giáo Xem TH về thần chú, matram ....minh triết mới


+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng thức một nhân là cơ sở cho sự hình thành ở đời sau; Hữu: Hình ảnh người nữ có mang biểu trưng rằng Hữu là nhân, giống như cái thai, sau này hình thành một cuộc đời mới. - Nhân được làm người là giữ 5 giới, 10 thiện là lên cõi trời. Có thêm thiền định thì lên sắc và vô sắc giới. Tất cả những hành vi thiện lành mà không có trí tuệ Bát Nhã soi sáng, đều có một năng lực tiềm ẩn để trổ quả trong tương lai, kéo dài hành trình sanh tử, nghĩa là khi chúng ta làm một Phật sự hay phước thiện gì mà không quán tam luân không tịch (ta không, người không và sự bố thí là không). Nguồn điểm 10 trong 12 nhân duyên

+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)
+ Nhân cách: Người là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người => Mất Nhân cách (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)
+ Năm đức tính của con người quân tử
theo Đạo đời:
1. Nhân: Là nhân từ chúng ta làm được không? Đối với người, đối với vật chúng ta có lòng nhân từ chưa?

2. Nghĩa: Đối với người, đối với sự vật, chúng ta có tận tâm làm tròn nghĩa vụ chưa? Tuy có thù lao, nhưng không xem trọng thù lao mà cho là việc bổn phận của ta. Chúng ta phải tận tâm tận lực làm cho tốt; đây là đạo nghĩa, nhưng không nên xem là trả thù lao. Thù lao nhiều thì tôi làm nhiều, thù lao ít thì tôi làm ít, hạng người này không có nghĩa.
3. Lễ: Giữa người với người phải có lễ phép qua lại.
4. Trí: Nói đơn giản là lý trí, chẳng phải theo tình cảm mà làm việc.
5. Tín: Là tín dụng, chữ tín rất quan trọng là “không dối mình, không lừa người”. Tự lừa dối mình là lương tâm bị mê muội. Chúng ta thường nghe tục ngữ nói: “Người không có lương tâm”. Người không có lương tâm thì bàn đến chữ tín làm gì? Bên trong lương tâm mê muội; bên ngoài dùng nhiều thủ đoạn tinh vi lừa gạt người khác.
- Người nào phạm 5 điều này thì đời sau không làm được thân người. Chúng ta làm được năm điều này thì lương tâm không có hổ thẹn, chắc chắn đời sau được làm thân người. Chúng ta xem những người này trong xã hội ngày nay, lại so với mình, điều quan trọng nhất là tự kiểm điểm mình, tự mình có làm được hay không? Tự mình đời sau có được thân người không? Nếu như chúng ta không có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thì đời sau nhất định đọa trong ba đường ác. Xem: (Nguồn)
Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng
Xem thêm: Kinh thiện ác nhân quả
Xem: Giữ ngũ giới


Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ nhất của nhà hóa học hoặc nhà vật lý học. - Thứ hai là hoạt nhiệt. Điều này đưa đến kết quả là sự hoạt động và thôi thúc hướng tới của công cuộc tiến hóa vật chất. (LCVCK, 41–42) + Diễn tả hiệu quả các hỏa thực thể (Lửa bên trong vật chất, VD: Trong Thái dương hệ, trong hành tinh, trong con người gồm có 3) với môi trường bao quanh là: NHIỆT VÀ PHÁT XẠ (LVLCK, 70)

+ Người - Là trung hiếu nhân nghĩa, còn như bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa là không phải người (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)


Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ có thể có được, một số thuộc loại tốt lành và một số có tính chất ích kỷ.   (GDTKNM, 143)
+ Lửa (Fire): Lửa là một biến phân của vũ trụ năng trên cõi trí. (LVLCK, 43) A- Lửa Đại Thiên Địa: Có 3 phần, khi biểu lộ ra 5 phần - Năm lửa gồm: 4 nhị nguyên (Cho tứ hạ thể): Tiềm nhiệt, Hoạt nhiệt, Lửa Trí tuệ, Hành khí + Nguyên khí thứ 5 Thượng Đế - Thể trí vũ trụ (LVLCK, 38 - 45) 1. Cung 3 - Lửa do ma sát (cọ xát)/ lửa sinh động nội tại (Lửa Nội Tại): Làm linh hoạt và sức sống, là hoả xà của Thượng Đế của Thái Dương hệ. Lửa Ngôi 3: Cung Nguyên Thủy hay Vật chất linh động sáng suốt. Lửa này làm sinh động Thái dương hệ. Năng lượng Brahma. Ngôi 3 - Cung Hoạt Động Sáng Suốt đang biểu lộ. Lửa này làm linh hoạt, sinh động, thấm nhập từ trung tâm đến ngoại vi, là nguyên nhân của chuyển động quay, dạng hình cầu của mọi vật hiện tồn. Lửa Nội Tại có 2 loại: a- Tiềm nhiệt, nền tảng chuyển động quay; b- Hoạt nhiệt, Vật chất tiến hóa. Cõi cao nhất là biển lửa => Biến phân thành Tiên Thiên Khí - Akasha biểu hiện thành Fohat. Fohat trên các cõi khác nhau là Hậu Thiên Khí như Không khí, lửa, nước, điện, dĩ thái, sinh khí .... 2. Cung 2- Lửa thái dương hay lửa của Cõi Trí Vũ trụ (Lửa Về Trí Tuệ); Lửa cõi trí vũ trụ, làm sinh động thể trí Thượng Đế, là toàn bộ các tia lửa của trí tuệ, các lửa của hạ trí và nguyên khí sinh động của các đơn vị tiến hoá của nhân loại trong 3 cõi thấp. Lửa Cung Thiêng Liêng hay Cung Bác Ái Sáng Suốt, là năng lượng trạng thái Vishnu, Ngô 2 Thượng Đế; Cung Bác ái thông tuệ đang biểu lộ. là căn bản chuyển động soắn ốc theo chu kỳ của cơ thể Thượng Đế. Định luật hút và đẩy của vũ trụ là căn bản của Cung thiêng liêng này. Có 2 loại: a- Lửa Trí tuệ, là toàn thể sự sống, nó cung ứng sự liên quan giữa sự sống với hình hài, Tinh thần - Vật chất. Là nền tảng của Tâm thức; b- Hành Khí của lửa: Biểu lộ của Tư tưởng. 3. Cung 1- Lửa điện hay ngọn Lửa Thiêng Thượng Đế: Dấu hiệu phân biệt của Thượng Đế chúng ta, làm cho Ngài khác với tất cả các Thượng Đế khác, là đặc điểm nổi bật của Ngài, và là dấu hiệu của vị trí của Ngài trong cơ tiến hoá vũ trụ. Cung Ý Chí Vũ Trụ hay Ý Chí Sáng Suốt - Ngôi 1 Thượng Đế, tạo thành trạng thái Mahadeva. Cung Ý Chí Thông Tuệ đang biểu lộ, ít nói đến. Cung Trí tuệ vũ trụ, đi song song với cung Bác ái vũ trụ. Bị chi phối bởi định luật tổng hợp và làm căn bản của chuyển động tiến tới qua không gian hay lũy tiến của Thái Dương hệ. Nó kiểm soát các chuyển động của Vòng giới hạn với trung tâm vũ trụ. + Khắp các cõi, nó là hình ảnh hoàn hảo nhất và không pha trộn của Ngọn Lửa Duy Nhất. Đó là Sự sống và Sự chết, cái thủy và cái chung của mọi sự vật chất. Là “Bản thể” thiêng liêng (GLBN I, 180) B- Lửa Tiểu Thiên Địa - có 3 loại: 1. Lửa do ma sát hay trạng thái Brahma âm, Ngôi 3. 2. Lửa Thái Dương hay trạng thái Vishnu âm dương, Ngôi 2. 3. Lửa điện hay trạng thái Shiva dương, Ngôi 1. (LVLCK, 888) + Lửa là biểu tượng của thể trí (ACMVĐTG,  179) Xem: Các Bảng TH về lửa càn khôn Xem: Tóm Lược sách Luận Về Lửa Càn Khôn

+ “Chiêm lễ” nghĩa là chiêm ngưỡng lễ kính: Biểu hiện trên sự đối đãi cha mẹ, đối đãi sư trưởng. Tinh thần của Ðịa Tạng Bồ Tát tức là “hiếu thân tôn sư”, sau đó khuếch đại tâm hiếu thân tôn sư này đến hiếu kính hết thảy chúng sanh, đây là Ðịa Tạng bổn nguyện, như vậy thì mới chiêm lễ đến viên mãn. Còn tâm khinh mạn bất kỳ chúng sanh nào thì chẳng phải tu hạnh Ðịa Tạng. Nói đến chiêm lễ cứ tưởng là cúng một tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, mỗi ngày khấu đầu lạy Ngài, đâu phải là đơn giản như vậy! Ðó là hoàn toàn giải sai ý nghĩa chân thật của Như Lai, Phật nói chẳng sai mà bạn đã hiểu sai rồi.


Trích từ: địa tạng bồ tát bổn nguyện kinh giảng ký
tập 6 quyển thượng: trang 126
người giảng: HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG


Lương tâm (conscience): - Trong địa hạt đạo đức, ý chí thường được mệnh danh là lương tâm. (MTNX,   237)
  • Nhờ việc ứng dụng ý thức phân biện, lương tâm được phát triển khi thể trí ngày càng đảm trách việc kềm chế – một nhận thức và sau cùng một tâm thức đã thức tỉnh được khơi dậy.
Trong trường hợp thứ nhất, điều này biểu hiện như là ý thức trách nhiệm; chính ý thức này dần dần tạo nên một sự đồng hóa ngày càng tăng của linh hồn với hiện thể của nó, tức con người tam phân hạ đẳng. (CTNM, 500–501)
  • Lương tâm là tiếng nói cảnh báo (monitory voice) của linh hồn. (MTNX, 176)
  • Lương tâm (consciousness) tức là Ý chí làm điều phải (the right) và tránh điều sai trái (the wrong). (KCVTT, 260)

* Bản thân: Chân sư DK dạy tham thiền lập hạnh rất tốt cho bản thân (Nghĩ về đức tính tốt của bản thân, nó luôn ở quanh ta và phát huy tác dụng với ta và cả người xung quanh > Một người Tu cả nhà được hưởng
-
Người thường (Kém tiến hóa, trí tuệ chưa phát triển = Dục vọng nhiều): Tư tưởng tạo ra chủ yêu quanh quẩn, không thoát ra khỏi Hào quang người đó > Không hại cho người xung quanh
* Người ảnh hưởng: Tính toán, suy nghĩ, vận dụng năng lực trí năng > Tạo ra Hình Tư Tưởng > Sức sống riêng, có ảnh hưởng tốt, xấu đến người khác theo quy luật, nó liên kết với người tạo ra nó bằng “Từ điện”
=> Tách hình TT:
Nhà Huyền thuật muốn tách nó ra khỏi người tạo ra tư tưởng, cần niệm một từ Huyền bí ...(Tiếng Phạn) >
- Đức DK: Mỗi người cần tìm và luyện cho mình một cụm từ huyền bí để tách tư tưởng của mình tạo ra khỏi Hào quang của mình-nếu muốn). Bạn là người khởi niệm tìm chọn để LÀM công việc Thiện > Bạn được hưởng Quả đó, nếu có người gợi ý thì Quả được chia cho người gợi ý ý tưởng bạn sẽ làm => Tự mình cần suy ngẫm, tìm chọn để nói, hành động về việc Thiện 
Nguồn: Cứu rỗi khỏi các hình tư tưởng


+ Cây Sen (Lotus): Cây Sen tượng trưng cho đời sống con người và cũng tượng trưng cho đời sống của Đại Vũ trụ (Kosmos); vì Triết Lý Huyền bí (Secret Doctrine) dạy rằng các yếu tố (elements) của cả hai đều giống nhau và cả hai đều phát triển theo cùng một hướng. Rễ sen chìm trong bùn, tượng trưng đời sống vật chất, thân đi xuyên qua nước, tượng trưng cho đời sống cõi cảm dục, còn hoa nổi trên nước và mở ra với bầu trời, tượng trưng cho đời sống tinh thần.  (GLBN I, 128)


+ Hoa sen (Lotus): X. Bí huyệt, Thần kinh lực.


+ Cánh hoa sen: Về mặt biểu tượng, người tìm đạo có thể xem mỗi trung tâm lực như là một hoa sen. Hoa sen này được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng đang hoạt động hay rung động theo một cách thức riêng biệt và các làn sóng rung động này có các hình dáng mà chúng ta gọi là các cánh của hoa sen. (ASCLH, 82)


+ Chính các trung tâm năng lượng của Thái Dương Thượng Đế ở dưới hình thức của các hoa sen rộng lớn (1) hay là các (LVLCK, 1162)
* 1 Xem Tiết VIII, GLBN quyển I.
Hoa sen là biểu tượng của cả Đại Thiên Địa lẫn Tiểu Thiên Địa.


a- Mầm của hoa sen chứa thực vật hoàn hảo thu nhỏ.
b- Đó là sản phẩm của lửa và vật chất.
c- Nó có các cội rễ trong bùn, nó tăng trưởng qua nước, nó được nuôi dưỡng bằng hơi ấm của mặt trời, nó trổ hoa trong không khí.
- Đại thiên địa.
Bùn (mud) ................. Thái dương hệ vật chất ngoại cảnh.
Nước ........................... Bản chất tình cảm hay cảm dục.
Hoa trên nước ........... Sự có quả của tinh thần.
Phương pháp ............ Lửa vũ trụ hay trí tuệ.
- Tiểu thiên địa
Bùn ............................. Thể xác.
Nước ........................... Bản chất tình cảm hay cảm dục.
Hoa trên nước ........... Sự kết quả của bồ đề hoặc tinh thần.
Phương pháp ............ Lửa trí tuệ.
“Ý nghĩa của truyền thuyết cho rằng Brahma được sinh ra từ hoặc là trong hoa sen, đều như nhau. Hoa sen tượng trưng cho hệ thống thế giới, còn Brahma ngự trong đó tượng trưng cho hành động; do đó Ngài được gọi là Kamal-asana, liên hoa-tọa thế (Lotus seated). Lại nữa, hoa sen được cho là mọc lên từ hay là trong rốn (naval) của Vishnu, bởi vì rốn/trung tâm của Vishnu hay là toàn-thức (all-know-ledge) là ý muốn thiết yếu (necessary desire), hình thức nguyên sơ của nó, như được thể hiện trong bản văn Veda, là: ước gì ta được sinh ra ngoài (như hằng hà sa số con cháu). Từ cái ham muốn chủ yếu và chính yếu đó, tức ý muốn hiện tồn, phát xuất ra toàn bộ cái biến dịch, mọi hoạt động quay cuồng và xoắn ốc, của thay đổi và biểu lộ, nó trang điểm cho sự sống. Trong sự biến dịch đó, Brahma đang ngự trị, và do Ngài và bởi Ngài, nghĩa là, bởi hoạt động không ngừng, phát xuất và biểu lộ thế giới có tổ chức, the trib huvanam, tức là thế giới tam phân. Vì cái đầu tiên biểu lộ, do đó Brahma được gọi là đấng đầu tiên của các thần; bằng hành động đang biểu lộ, và Ngài là diễn viên (actor); và vì là diễn viên, do đó ngài cũng đôi khi được gọi là đấng bảo tồn (preserver) hay là đấng bảo vệ (protector) của thể giới; vì ngài là đấng tạo ra sự vật, ngài cũng thích việc duy trì và bảo tồn công trình của ngài, và hơn nữa, bằng cách tạo ra sự việc, ngài cung cấp nền tảng và cơ hội cho hoạt động bảo tồn, mà dĩ nhiên, theo nghĩa tuyệt đối, thuộc về Vishnu”. (Pranava-Vada 84, 311).


+ Dĩ thái - Tứ đại: Dĩ thái là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi hồng trần. Dĩ thái có 4 phân thân của nó là phong, hỏa, thủy, địa. (LVLCK, 43)  


+ Dương               .....              Âm
Hỏa và Khí                       Nước và Đất
Các dấu hiệu số lẻ           Các dấu hiệu số chẵn
Tích cực, tự thể hiện        Thụ động, tiếp nhận
Năng lượng dương          Năng lượng âm


+ + CÁC ĐẠI VÀ LUÂN XA: Một manh mối cho ý nghĩa của các thuật ngữ này được tìm thấy trong việc công nhận sự thực huyền bí sau đây.
- Nơi mà nước và đất gặp nhau là bí huyệt đan điền (solar plexus centre).
- Nơi mà nước, đất và không khí gặp nhau là ở trong đầu.
- Đất là biểu tượng của sự sống cõi trần, và của hình tướng bên ngoài.
- Nước là biểu tượng của bản chất tình cảm.
Chính là từ bí huyệt lớn của đời sống phàm-ngã, tức huyệt đan điền, mà đời sống thường bị chế ngự và sự quản lý được thực hiện. Khi trung tâm điều khiển nằm dưới cơ hoành thì không huyền thuật nào có thể xảy ra. Sinh hồn (animal soul) kiểm soát và hồn thiêng (spiritual soul) tất nhiên không hoạt động.
- Không khí là biểu tượng của sự sống cao siêu, nơi đó nguyên khí Christ thống trị, nơi đó sự tự do được trải nghiệm và linh hồn đạt đến sự biểu lộ đầy đủ. Nó là biểu tượng của cõi bồ-đề, trong khi nước là biểu tượng của cõi tình cảm. (LVHLT, 250)
+ Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả;  Thân thiện nhất trong tất cả các yếu tố;  Có thể đánh giá quá cao các khả năng trí tuệ;  Cần phải có khoảng cách và tính khách quan để khám phá chính mình
+ Các Dấu hiệu Không khí: Song Tử, Thiên Bình, và Bảo Bình; Xem Dấu hiệu Hoàng Đạo (Hành - Tứ Đại)
- Giao tiếp. Thông minh. Thích làm việc về mặt tinh thần. Nắm bắt ý tưởng nhanh chóng. Có thể nói hoặc viết hiệu quả. Có quan điểm hợp lý. (Nguồn: Chiêm THNM 4)
+ Không khí (Air): Không khí chỉ là chất dĩ thái phức tạp và đã biến phân. (GLBN II, 258)
+ Phong (Air): Phong (không khí) là biến phân (differentiation) của vũ trụ năng (Fohat) ở cõi trực giác, cõi Bồ Đề. (LVLCK, 43)
+ Không Khí hay Không Gian: Vì trong không gian vô cùng vô tận có chứa đầy đủ địa đại. thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, kiến đại và thức đại nên từ đó con người, sinh vật và vạn pháp mới được cấu tạo, hình thành một cách mầu nhiệm. Nguồn: Phật dậy về Các Đại và Tứ Đại Tương Tác
+ 522. PHONG GIỚI - Thế nào là phong giới? nội phong giới và ngoại phong giới - Đức Phật dậy
Nội phong giới là ở trong thân, được thâu nhiếp ở trong thân những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió, bị chấp thủ bên trong. Đó là những gì? Đó là gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió ngang, gió co thắt lại, gió như dao cắt, gió nhảy lên, gió phi đạo, gió thổi qua tay chân, gió của hơi thở ra, gió của hơi thở vào, tất cả những chất khác tương tự như vậy ở trong thân, được thâu nhiếp bên trong thân, những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió, được chấp thủ bên trong. Này chư Hiền, đó là nội phong giới.
Ngoại phong giới là lớn, là tịnh, là không đáng tởm. Nguồn: mục 522- (Trung A Hàm, Kinh Tượng Tích Dụ, Phẩm 3, số 30)


Giáo dục (Education):
  • Giáo dục là việc luyện tập được đưa ra một cách sáng suốt, nhờ đó cho phép thanh niên trên thế giới tiếp xúc với môi trường của họ một cách sáng suốt và lành mạnh, tự thích nghi với các hoàn cảnh hiện có. (GDTKNM, 80–81)
  • Giáo dục phải là tiến trình mà nhờ đó thanh niên được dạy cách suy đoán từ nguyên nhân đến kết quả, để biết được lý do tại sao một số hành động nào đó bị ràng buộc một cách không tránh được để tạo ra một số kết quả nhất định và tại sao [dựa vào một vận cụ (equipment) trí tuệ và tình cảm nào đó, cộng với một đánh giá về tâm lý được biết chắc], các khuynh hướng cuộc sống rõ rệt có thể được xác định và một vài nghề nghiệp và cách sinh sống mang lại hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển, một lĩnh vực kinh nghiệm có lợi và hữu ích. (GDTKNM, 82–83)

+ Cung Kính: Mình tự khiêm nhường mà tôn trọng lễ kính người khác. Cung kính thông cả ba nghiệp thân khẩu ý. Cung kính, nghĩa là nhớ đến công đức và tôn trọng người ấy (Ý nghiệp). Cũng nghĩa là tôn trọng lễ bái, đón đến đưa đi, chắp tay đứng hầu ở gần (thân nghiệp). - Đem pháp Tiểu thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cúng dường; Đem pháp Bích chi phật giáo hóa chúng sinh, gọi là phụng cấp; Đem pháp Đại thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cung kính (Khẩu nghiệp) - Người Ấn độ xưa biểu hiện lòng tôn kính bằng chín cách: 1. Nói lời thăm hỏi. 2. Cúi đầu. 3. Dơ tay cao mà vái. 4. Chắp tay cúi mình. 5. Xuống gối. 6. Quì gối. 7. Đầu gối và tay đặt sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, hai khuỷu tay, hai đầu gối đều đặt sát đất. - Người tu Tịnh độ, phải tu năm thứ cung kính: 1. Cung kính bậc thánh có duyên. 2. Cung kính tượng giáo có duyên. 3. Cung kính thiện tri thức có duyên. 4. Cung kính bạn đồng duyên. 5. Cung kính Tam bảo.(Xem nguồn)

365. KINH CUNG KÍNH
Nếu Tỳ-kheo nào thực hành hạnh cung kính và khéo quán sát, kính trọng các bậc phạm hạnh nên pháp oai nghi đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
1) Pháp oai nghi đầy đủ nên học pháp đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
2) Học pháp đầy đủ nên giới thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
3) Giới thân đầy đủ nên định thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
4) Định thân đầy đủ nên tuệ thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
5) Tuệ thân đầy đủ nên giải thoát thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
6) Giải thoát thân đầy đủ nên giải thoát tri kiến thân đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra.
7) Giải thoát tri kiến thân đầy đủ nên Niết-bàn đầy đủ, điều đó chắc chắn xảy ra. Nguồn: mục 365- (Trung A Hàm, Kinh Cung Kính, Phẩm 5, số 49)


+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính:
1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức.
2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn
+ Linh hồn
 được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm tâm thức, và Các thể với tư cách là các trung tâm của kinh nghiệm (EPII 335); (Trích TLHNM)
- Gồm Thể Xác - Dĩ thái và Thể Cảm dục/ Tình cảm và Thể Trí (Thượng trí và Hạ trí) và Phàm ngã (Tổng hợp 3 thể thấp) và Cung Chân Ngã và Cung Chân Thần;
- Trong mỗi kiếp sống, Phàm Ngã con người thuộc 1 trong 7 cung đó, luân phiên thay đổi tùy theo cung Chân Ngã. Sau lần điểm đạo thứ 3, con người xác định được vị trí linh hồn của mình (tôi tạm nói như thế) ở trên 1 trong 3 cung chính... Phàm Ngã vô thường thay đổi hết cung này đến cung khác, hết kiếp này đến kiếp khác, cho đến khi mọi tính chất đều được phát triển và biểu lộ. (TLHNM I, 128–129).
+ Tâm Thức:
Toàn bộ tầm quan trọng của cả quá trình tiến hóa, xét cho cùng, được đặt trên sự phát triển của tâm thức: ý thức thông minh làm sinh động các hình tướng, ở mọi trình độ khác nhau. ....Tác động 1 của linh hồn : vào lúc Biệt Ngã Hóa:

- Con người bắt đầu hành trình của y trong Giới Nhân loại vào lúc “biệt ngã hóa”, khi y bước lên từ Giới Động vật dưới ảnh hưởng của linh hồn. Đầu tiên, y hơn một con vật một chút, và chỉ có các ham muốn vật chất của y. Sau đó, dần dần bản chất thấp của y – khía cạnh thiêng liêng thứ ba, được phối hợp với khía cạnh thiêng liêng thứ hai của linh hồn nhờ tiến trình “điểm đạo"; để qua rất nhiều kiếp sống, tâm thức Christ nội tại được đánh thức đi vào hoạt động nhờ kinh nghiệm trong hình tướng. Tiến trình này lên đến đỉnh điểm với “sự đồng nhất hóa” với Chân Ngã.
- Con người với Thiên Cơ – biệt ngã hóa, điểm đạo và đồng nhất hóa, gồm toàn bộ quá trình sự nghiệp của con người, từ lúc y xuất hiện vào trong giới nhân loại cho đến khi y chuyển ra khỏi nó ở cuộc điểm đạo thứ ba, và hoạt động tự do trong giới thứ năm, giới Thần Thánh (God). Tác động của linh hồn mang lại sự tiến hóa này. (Trích TLHNM)


+ CON NGƯỜI: Nói chung, con người là những gì mà thể cảm dục của y tạo ra cho y. Sau nữa, “con người tưởng nghĩ như thế nào thì y trở nên thế ấy”. Thể cảm dục, với các mong mỏi, các thèm muốn, các tâm trạng, các cảm xúc và các khao khát của nó đúc nặn nên thể xác nhờ các lực thu hút tuôn chảy qua nó, và như thế dắt dẫn con người một cách chính xác để thực hiện các ham muốn của y. Nếu các khao khát của bản chất tri giác có tính thú vật vượt trội trong mục tiêu của chúng, chúng ta sẽ có con người với các thèm muốn mạnh mẽ, sống một cuộc đời dành hết nỗ lực để làm thỏa mãn chúng. Nếu sự khát khao để có tiện nghi và hạnh phúc, chúng ta sẽ có con người có tính khí thiên về giác quan, yêu cái đẹp và thích khoái lạc, về thực tế thì bị chi phối hoàn toàn bởi sự nỗ lực ích kỷ. Vì vậy, nó đi suốt tất cả các cấp độ ham muốn, tốt, xấu, và thông thường, cho đến khi sự tái-định-hướng xảy ra, nó tái-tập-trung (refocusses) các năng lượng cảm dục sao cho chúng được chuyển theo một hướng khác. Ham muốn (desire) trở thành nguyện vọng (aspiration). Như vậy, việc giải thoát khỏi bánh xe sinh tử được mang lại và một người được thoát khỏi sự cần thiết phải tái sinh. Khi đó thì lá số tử vi, như được hiểu hiện nay, tỏ ra vô ích, sai và vô dụng, còn thuật ngữ đôi khi được dùng, nhưng không đúng, là “lá số tử vi của chân ngã (ego) hay linh hồn”, thì không có ý nghĩa gì hết. Linh hồn không có vận mệnh cá nhân nào cả, mà được chìm vào Đấng Duy Nhất. Vận mệnh của nó là vận-mệnh của tập thể, và của Tổng Thể (the Whole); mong muốn của nó là thể-hiện Thiên Cơ vĩ đại, và ý chí của nó là sự tôn vinh Thượng Đế nhập thể (the incarnated Logos). (LVHLT, 296)

Xem: T.H Tooltip và Thuật Ngữ, Cấu Tạo Con Người


+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM, 454)
+ Chết là sự triệt thoái một cách hữu thức hay vô thức của thực thể sinh động bên trong ra khỏi lớp vỏ ngoài của nó, sự tương ứng sinh động bên trong của nó, và sau cùng, chính là sự từ bỏ của thể tinh anh hay các thể tùy theo trình độ tiến hóa của con người. (CTNM, 478)
+ Sự chết chỉ là giải thoát cho linh hồn ra khỏi các xiềng xích nặng nề nhất, là việc hóa sinh vào một sự sống bao la hơn, một sự trở về trú sở đích thực của linh hồn sau cuộc sống tha hương ngắn trên cõi trần, một sự chuyển đổi từ bầu khí ngục tù sang bầu khí tự do khoáng đạt hơn. Sự chết là ảo tưởng lớn nhất trong số các ảo tưởng ở cõi trần. Không có sự chết mà chỉ có các thay đổi trong các điều kiện sống. Sự sống vẫn liên tục, không gián đoạn, không đứt đoạn; “bất sinh, vĩnh hằng, có tự nghìn xưa, thường tồn”. Sự sống không bị hủy diệt cùng với sự hủy diệt của các thể bao phủ nó. Cho rằng linh hồn bị hủy diệt khi thể xác tan rã thì cũng như nghĩ rằng bầu trời sập xuống khi cái lọ bị vỡ. (MTNX, 174)
+ Theo đạo Phật có 4 cách chết (Nguồn):

a/ Chết vì hết tuổi thọ: Tuổi thọ của mỗi loài sinh vật đã được định trước theo những định luật di truyền và những điều kiện sinh sống của mỗi loài, mỗi cá thể. Tuổi thọ của con người có nhiều người sống trên 100 tuổi khi đời sống văn minh.
b/ Chết vì hết nghiệp: Nghiệp ở đây có thể được hiểu là sinh nghiệp của kiếp sống đó hoặc nghiệp của toàn bộ kiếp sống của một chúng sinh, như vậy chúng sinh nầy đã đắt đạo quả A la Hán, đã thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi.
c/ Chết vì hết tuổi thọ và hết nghiệp: Đây là cái chết của người lớn tuổi, đã sống hết tuổi thọ sinh học và đồng thời hết nghiệp của kiếp sống đó - hoặc là cái chết của một vị A la Hán đã hết tuổi thọ. Những vị nầy đã chết vì hết tuổi thọ và đồng thời cũng chấm dứt mọi nghiệp báu từ những tiền kiếp.
d/ Chết vì một Đoạn nghiệp: Có những Đoạn nghiệp cho quả làm cắt đứt thình lình dòng sinh nghiệp trước kỳ hạn của kiếp sống. Đây là cái chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, bịnh tật, hoặc tự tử. Sinh nghiệp là năng lực có thể làm phát sinh và duy trì tâm và sắc trong đời sống hiện tại, đồng thời lúc vừa chết có khả năng tái tạo một đời sống mới, nó là sức mạnh để đưa đi tái sinh.
+ Xem: Chết và Tái sinh (Nói về việc Tu thập thiện nghiệp với nhân quả của việc chết và tái sanh. Việc tái sanh phụ thuộc rất lớn vào Nghiệp chướng và Tâm thức con người tại thời điểm lúc chết rất quan trọng)


+ Chuyển hóa dục vọng: Điểm cần nhớ là dục vọng chế ngự và chi phối hành động khi nào sinh lực được tập trung vào bản chất dục vọng, như là hầu hết tình trạng của đa số con người. Nhưng việc kềm chế thể trí được vạch ra chỉ có thể hiệu quả khi sự sống được tập chú vào cõi trí. Khi có được sự tập chú này thì không cần phải dập tắt (suppression) dục vọng nữa vì sức mạnh của sự chú tâm có tập trung sẽ ở nơi khác và tất nhiên sẽ không còn dục vọng mãnh liệt nào nữa. Việc dập tắt dục vọng là một nỗ lực cần phải có của người quá tập trung vào thể cảm dục để mang lại lợi ích cho trạng thái ý chí của thể trí. Nhưng ít khi y làm điều này. Dục vọng có thể chấm dứt nhờ nỗ lực mạnh mẽ mà con người tạo ra để đạt được mức độ tâm thức trí tuệ nào đó, nhưng không có sự dập tắt nào thực sự xảy ra, cũng không có ý chí nào được cầu viện đến. Khi cuộc sống của con người được êm xuôi và được thể trí kềm chế từ các phân cảnh trí tuệ, thì bấy giờ sự chuyển hóa nhất định xảy ra. Sự chuyển hóa (mà nhờ đó bản chất cảm dục được thay đổi và chuyển biến) có thể có bản chất tâm linh hay là chỉ có bản chất thiết thực (expedient). Dục vọng có thể được chuyển hóa thành đạo tâm tinh thần hay thành một thái độ phù hợp với ý muốn của thể trí vốn đang biểu lộ nó. Do đó, cần phải thận trọng phân tích động cơ thúc đẩy và các mục tiêu.(CTNM, 348) + Quán tưởng hàng phục, đoạn dâm, chuyển hóa dâm dục (Nguồn) - Tịnh Độ: Cầu sanh Tịnh Độ không yêu cầu bạn đoạn dục - Phải phục đoạn, là hàng phục tâm dâm dục lại. Lấy đá đè cỏ, đè nó xuống không cho khởi dậy, không hiện hành, không khởi tác dụng, các vị niệm A Di Đà Phật thì nhất định vãng sanh. Hàng phục dâm dục - Theo Tiểu thừa, thì nhờ đoạn trừ tình dục mà được giải thoát. - Phật giáo Đại thừa không đoạn trừ phiền não, không đoạn trừ tình dục, mà là chuyển hóa tình dục, cũng tức là lấy trí tuệ Bát Nhã để chuyển hóa tham, sân, si. Bồ Tát thường giảng 8 chữ: “Đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”. Đó chính là nói về chuyển hóa tình dục, khuyên chúng ta không phải đoạn trừ cha mẹ mình, như vậy là khác với việc đoạn trừ tình cảm đối với cha mẹ. - 7 quán Bất tịnh quán (Không trong sạch) khi: Cấu hợp - Sinh - Vị trí Bào Thai - Lớn bằng Máu mẹ - Sinh bẩn -  Da bọc dơ bẩn, 9 lỗ tiết bẩn - Chết thân giữa nát; Hoặc Quán 9 quán: Thân lúc chết - Thâm bầm lạnh lẽo - Thân thối giữa - Thối tha máu mủ - Giòi bọ - Gân và Xương - Trơ Xương trắng - Tản mạn - Đốt thành tro (nguồn); Xem thêm: Quán Trừ Dâm dục
+ Chuyển Hóa: Là phương pháp mà nhờ đó cái thấp được thu hút bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hóa thành năng lượng, nhờ đó, năng lượng của 3 trung tâm thấp được chuyển lên 3 trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng), sau đó cho phép vị đệ tử điểm đạo tập trung tất cả năng lượng vào trong 3 trung tâm điều khiển ở trong đầu. Tiến trình chuyển hóa này diễn tiến dưới sự thôi thúc của kinh nghiệm sống hằng ngày, dưới hiệu quả thu hút của sự giao tiếp với linh hồn và như là kết quả tất yếu của chính sự tiến hóa. (CVĐĐ, 278–279) + Sự chuyển hóa có liên hệ đến biểu hiện của sức sống trên 3 cõi thấp của sự sinh hoạt và tiến hóa của nhân loại. (CVĐĐ, 280) + Là thay đổi và tái định hướng năng lượng của thể trí, của các tình cảm và của bản chất xác thân sao cho chúng dùng để khai mở Chân Ngã chứ không chỉ khai mở các bản chất tâm thông và xác thể. (TTTĐTG, 79) + Trong Tooltip có: Chuyển hóa vừa hay Trung chuyển hóa - Chuyển hóa cao hay Siêu chuyển hóa - Chuyển hóa dục vọng + Định luật Chuyển hóa Nghiệp quả: Một nhóm từ huyền bí chi phối các tiến trình được trải qua trên Con đường Cao siêu. Các tiến trình này làm cho vị đạo đồ thích hợp để vượt khỏi cõi hồng trần vũ trụ và hoạt động trên cõi trí vũ trụ. Nó có liên quan với việc giải thoát của các Đấng như Sanat Kumara và các Vị Cộng sự của Ngài trong Hội đồng Huyền linh ở Shamballa, thoát khỏi sự áp đặt của dục vọng vũ trụ vốn biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta như là ý chí tinh thần. Đối với bạn, đây sẽ là một ý tưởng lôi cuốn sự chú ý. Tuy thế, hiển nhiên là tôi chỉ nói ít về đề tài này. (CTNM, 405)
+ Nghĩa đen, là Vị mà tâm thức trở thành thông tuệ hay có tuệ giác. Các Ngài chỉ cần thêm một lần lâm phàm nữa là trở thành Đức Phật hoàn thiện. Như được dùng trong các sách này, Bồ Tát là danh xưng chỉ chức vụ mà hiện nay Đức Di Lạc đang giữ. Ở Phương Tây, Ngài được biết như là Đức Chirst. Chức vụ này có thể được diễn dịch như là chức vụ của Đức Chưởng Giáo Thế Gian. Đức Bồ Tát là vị Lãnh Đạo các tôn giáo trên thế gian, là Chân Sư của các Chân Sư và của các Thiên thần. (ĐĐNLVTD, 216)

+ Pháp Sư Tịnh Không: Hãy buông xuống 16 chữ là “tự tư tự lợi, tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn”;(Tịnh độ đại kinh giải nghĩa -Tập 129)
+ Buông xả: Nhận thức rút lui khỏi các giác quan và các kêu gọi của bản chất thấp kém. EXH 412

+ Thực hành hạnh vô dục và buông xả, và bằng cố gắng kiểm soát bản chất ham muốn, con người có thể tự chuyển hướng sao cho sự chú ý của y không còn bị thu hút hướng ngoại bởi chuỗi các hình ảnh của cái trí, mà nó được rút vào trong, và chuyên chú vào thực tại. LS 399.
- Kỹ Thuật Buông Xả Đúng Đắn:
1) Huấn luyện cái trí thôi tuân theo một cách mù quáng các nhu cầu của các giác quan; và
2) Nâng điểm quan sát của chúng ta ra khỏi cái tôi, lên cao vào trong Thượng trí; sau đó 3) Quay cái trí lại chính nó, để quan sát những gì đang xảy ra trong lĩnh vực tâm lý của chúng ta, như thể chúng ta đang xem một bộ phim. Không có suy nghĩ hay cảm giác, không cố gắng để kiểm soát những gì đang xảy ra ở "bên kia của chúng ta"
- Chỉ cần quan sát đều đặn.

* Nhà yogi phải chứng minh rằng y không phải là một cái máy, rằng không cái gì cói thể khống chế y. Kiểm soát cái trí, không cho phép nó tham dự vào các trung tâm để khuấy động các cảm giác và ham muốn là Pratyahara. (Nguồn: GQ2.10)
+ Cần Xả Bỏ Tất Cả các Pháp Đã Đạt mới mong Đạt Pháp Cao Hơn_Đức Phật: 571. SÁU NĂM HỌC ĐẠO VỚI CÁC THIÊN SƯ

Truyện Đức Phật Đi Tu: Ta vào thời thiếu niên trong trắng, mái tóc xanh mướt, cho đến thời tráng niên năm hai mươi chín tuổi, bấy giờ sống cực kỳ hoan lạc, vui đùa, trang sức, du hành. Ta vào lúc ấy mặc dù cha mẹ khóc lóc, thân thuộc không ai vui, nhưng Ta cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để học đạo; thủ hộ thân mạng thanh tịnh, thủ hộ khẩu và ý mạng thanh tịnh.
- Ta đã thành tựu giới thân ấy rồi, lại muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn), cho nên lại ... Ta muốn chứng pháp này nên sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh. Sau khi tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, không bao lâu Ta chứng pháp ấy.
- Sau khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......). Ta bèn bỏ pháp này đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn.. không bao lâu Ta chứng pháp ấy.
- Sau khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......). Sau khi Ta sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh, không bao lâu chứng được pháp ấy.
- Khi chứng pháp ấy rồi, muốn tìm cầu (Pháp hơn nữa: ......)......, không bao lâu chứng được pháp ấy.
- Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Pháp này không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ pháp này để đi tìm cầu thêm nữa, sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn’. Ta liền xả bỏ pháp ấy để đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn. Nguồn: mục 571-
(Trung A Hàm, Kinh La-Ma, Phẩm 17, số 204)
Xem: Rèn luyện cái Trí để Buông xả đúng cách
Xem: TH Tương Ứng Của Thuật Ngữ Minh Triết - Tâm Linh Tu Hành


– Cõi nguyên hình, cõi biểu lộ thiêng liêng, cõi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cõi Tối Đại Niết Bàn. – Cõi của Thượng Đế. (LVLCK, 79, 656)