Chân Thần

Từ điển thuật ngữ(Bác Khá) + Chân thần (Monad, Spiritual Individuality – Thư Chân Sư, 127):
-Đấng Duy Nhất. Tinh thần tam phân trên cảnh giới riêng của nó. Trong huyền linh học, từ ngữ này thường có nghĩa là Tam Thượng Thể hợp nhất (unified Triad) – Atma, Buddhi, Manas; Ý chí Tâm linh, Trực giácThượng trí – hay là phần bất tử của con người luân hồi trong các giới thấp và dần dần, qua các giới này tiến đến con ngườitừ đó đi đến mục đích cuối cùng. (ĐĐNLVTD, 221)
-Trong Thái Dương Hệ thứ nhất có một cuộc tiến hóa chiếm ưu thế và nó gồm có 100 tỷ Chân Thần.
Trong Thái Dương Hệ hiện tại, Thái Dương Hệ thứ hai, có hai cuộc tiến hóa chiếm ưu thế, đó là cuộc tiến hóa nhân loại và thiên thần; như đã nói trước kia, có 60 tỷ Chân Thần con người. Thêm vào đó, có cuộc tiến hóa âm (feminine evolution) của thiên thần, gồm có 140 tỷ … (CTNM, 109)
-Trạng thái thấp của Chân Thầntrực giác (hồn tinh thần). (CTHNM, 506)
-Chân Thần tức là tiểu vũ trụ. (LVLCK, 69)
-Chân Thần là sự sống nhập thế (outbreathed life) của Thượng Đế biểu lộ (Logos, Ngôi Lời). (MTNX, 180)
– Chân Thầntrạng thái tâm linh cao siêu nhất. (ACMVĐTG, 97)
– Chân Thần do Thượng Đế Ngôi Một sinh ra và ngự trên cõi Đại Niết Bàn (Anupadaka plane), tức cõi thứ nhì. (KCVTT, 133)
– Có bảy kiểu mẫu (types) Chân Thần lớn và căn bản mà đôi khi được mô tả như là giống với bảy màu của quang phổ mặt trời dẫn xuất từ ba màu nguyên thủy. (MTNX, 203)
– Kể từ điểm giữa của giống dân Atlantis trở đi, không còn một Chân Thần mới (fresh Monads) nào đi đầu thai nữa. (GLBN III, 304)
 Chân Thần là Tinh thần (Spirit), là Linh Ngã (Divine Self). (LVLCK, 48)
Con người tâm linh (spiritual man) là Chân Thần. (ASCLH, 31)
Chân Ngã Tâm linh (Spiritual Self) tức là Chân Thần. (ĐĐNLVTD, 207)
 Là Tinh thần, là Linh Ngã, là Bản Lai Diện Mục (Presence). (ASCLH, 8)
 Chân Thầný chí hay mục tiêu năng động (dynamic will or purpose) nhưng vẫn không hiển lộ mãi cho tới sau lần điểm đạo thứ ba. Chân Thần là Sự Sống, mãnh lực kiên trì (sustaining force), một Tinh Quân (Lord) kiên nhẫn và luôn luôn tận tụy theo đuổi mục tiêu đã được xác định và được thấy rõ. (TLHNM–I, 48)
– Chân Thần, tức là Đơn vị Tâm thức (Unit of
Consciousness), hữu thức trên cõi thứ nhì (tức cõi Đại Niết Bàn–ND) nhưng hoàn toàn vô ý thức (unconscious) trên năm cõi thấp hơn. (KCVTT, 41)
– Chân Thần, hai hạng:
1/ Một số Chân Thần tự nguyện trải qua (willing to live through) các công việc vất vả (toils) của năm cõi thuộc vũ trụ chúng ta để chế ngự vật chất tại đó và sau đó sáng tạo ra một vũ trụ khác, nên phải giáng nhập vào năm cõi này để phát triển thành một Thượng Đế (God), một Cây Sự sống (Tree of Life, Sinh Thụ), một Suối Nguồn của Vạn Vật khác nữa (another fount of Being). Công cuộc sáng tạo một vũ trụ là Ngày Ly Biệt (Day of Forth–going); sự sống đang biến dịch; sự sống biết được chính mình bằng sự thay đổi.
2/ Có các Chân Thần khác không muốn trở thành những kẻ chế ngự vật chất (masters of matter), những Đấng sáng tạo (creators), vẫn ở lại trong phúc lạc yên tĩnh của mình, không nhập vào năm cõi tiến hóa của vũ trụ này, không biết đến các sinh hoạt của năm cõi đó. (KCVTT, 41)
– Đa số các Chân Thần ở trên cõi phụ thứ hai của cõi Chân Thần. Có một ít Chân Thần Quyền lực hay Ý chí (Monads of power hoặc will) ở trên cõi phụ vi tử (tức cõi phụ thứ nhất của cõi Chân Thần–ND) nhưng số đó không nhiều và các Chân Thần này chỉ tạo thành cái nhân để chuẩn bị công cuộc tiến hóa cho Thái Dương Hệ III, Thái Dương Hệ Quyền Lực. Đa số các Chân Thần ở trên cõi phụ thứ hai là các Chân Thần Bác Ái (Monads of Love). Trên cõi phụ thứ ba, có một số đáng kể các Chân Thần Hoạt động (Monads of Activity), nhưng số lượng không nhiều bằng các Chân Thần Bác Ai. Đó là các Chân Thần thất bại của Thái Dương Hệ I.
Như chúng ta biết, có một vận hà trực tiếp giữa phân cảnh (cõi phụ) vi tử trên mỗi cảnh giới (cõi). Điều này đúng ít nhiều đối với mỗi phân cảnh và các phân cảnh cao tương ứng bằng số của nó. Do đó, có một vận hà (đường vận chuyển) trực tiếp và hoàn toàn phát triển giữa các phân cảnh thứ hai trên mọi cảnh giới, giúp cho các Chân Thần Bác ái liên kết rất dễ dàng với mọi hiện thể của các Chân Thần này khi chúng được cấu tạo bằng vật chất của phân cảnh 2. Sau khi được điểm đạo, linh hồn thể ở trên phân cảnh 2 của cõi trí, và lúc bấy giờ mới có sự kềm chế của Chân Thần. (LVLCK, 578)
– Chân Thần của “con người” (“human” Monad), dù bị nhập thể vào trong khoáng thạch (immetallized) dưới hình thức nguyên tử của hòn đá (stone–atom), hoặc nhập thể vào thực vật (invegetalized) dưới hình thức cỏ cây, hoặc nhập thể vào động vật (inanimalized) dưới hình thức con vật, bao giờ cũng vẫn là một Chân Thần thiêng liêng, cho nên cũng gọi là Nhân Thần (Human Monad). Chân Thần không còn là nhân thần nữa chỉ khi nào trở nên tuyệt đối thiêng liêng. Cái tên gọi như Chân Thầnkhoáng vật”, Chân Thần “thực vật”, Chân Thần “động vật” chỉ dùng để chỉ sự phân biệt bề ngoài chứ thực sự không có một Chân Thần (Jiva) nào mà không thiêng liêng và tất nhiên đã hay đang trở thành người sau này. Tên gọi sau sẽ trở thành vô nghĩa nếu sau này người ta không hiểu rõ sự dị biệt nêu trên. Chân Thần là một giọt nước trong Đại Dương Vô Bờ Bến (Shoreless Ocean) vượt ra ngoài (beyond), hay nói đúng hơn, ở bên trong (within) cõi biến phân nguyên thủy (plane of primeval differentiation). Chân Thầntính thiêng liêngtrạng thái cao và có tính con ngườitrạng thái thấp – các tính từ “cao” và “thấp” được dùng tạm vì thiếu từ ngữ chính xác hơn. Trừ ra ở trạng thái Niết Bàn, còn dưới bất luận tình huống nào hay hình thức bên ngoài nào, Chân Thần lúc nào cũng vẫn là một. Giống như Thượng Đế (Logos) phản ảnh vũ trụ trong Thiên Trí, còn Vũ trụ Biểu lộ tự phản ảnh trong mỗi Chân Thần, (theo cách nói của Leibnitz, lặp lại một giáo huấn Đông phương), thì cũng thế, trong chu kỳ nhập thế của mình, Chân Thần cũng phản ánh trong chính mình mọi hình thể căn bản (root–form) của mỗi giới (kingdom). (GLBN III, 192)
– Chân Thần nhị thể (dual Monad): gồm nguyên khí thứ 7 và thứ 6. (Thư của Ch.S. 379)

  1. Tâm thức chân thầntâm thức của trạng thái thiêng liêng thứ nhất, cái vốn tiêu biểu cho sự sống thiêng liêng – mục đích và ý định, và dùng linh hồn để thể hiện Thiên Ý cố hữu qua linh hồn. Chính điều này mới xác định phẩm tính.

Chúng ta sẽ đề cập … đến việc thực chứng chân thần … Điều này bắt đầu được thực hiện ở cuộc điểm đạo thứ ba. [7] Chân Nhân (Man), là Chân Thần đang sinh hoạt, là thực tại bị che khuất, và là cái mà Thiên thần của Đấng Hằng Hữu (the Angel of the Presence) che giấu. Y là sự biểu lộ tổng hợp của Thiên Ý, được tượng trưng qua phẩm tính thiêng liêng được mặc khải và được biểu lộ thông qua hình tướng. Hình tướng, phẩm tính, sự sống (appearance, quality, life) – một lần nữa tam nguyên cổ xưa này đối mặt với chúng ta.(GQ1,Trích dẫn TLHNM)