Các vấn đề về Sự Kích Thích – Phần 4

Các Vấn đề Tâm Lí Học – Phần 4

Mục lục

Các Vấn đề Tâm Lí Học – Phần 4 ……………………………………………. 1 c.

Vấn đề về Sự Kích Thích <Trang 448.520> …………………………………….. 1

Định nghĩa của từ Kích Thích ……………………………………………………………. 3

  • Các Vấn đề về trí tuệ. …………………………………………………………………….. 5
  • Vấn đề Điên Cuồng ……………………………………………………………………….. 8
  • Các vấn đề phát sinh từ thiền định, và kết quả của nó: Sự Giác Ngộ.12

Tôi sẽ đưa ra ba gợi ý cho nhà tâm lý học hoặc cho người chữa trị tâm thần là: …………………….. 24

  • Các vấn đề về sự hướng dẫn, những giấc mơ, và sự trầm cảm. …… 25
  • Giấc mơ: …………………………………………………………………………………….. 35

Ba cách trợ giúp tâm lý …………………………………………………………………. 38

Câu hỏi đặt ra bây giờ là nguồn gốc của những giấc mơ. ………………. 40

Bây giờ chúng ta đến một nhóm những giấc mơ vốn là một phần kinh nghiệm của những người đã thực hiện một sự tiếp xúc với linh hồn rõ rệt, ……………………………………………………………………………………………….. 46

Các tác động của bảy cung năng lượng lên con người …………………… 50

  1. Vấn đề về Sự Kích Thích <Trang 448.520>

Bây giờ chúng ta đến phần thú vị nhất trong việc nghiên cứu tâm lý của chúng ta, vì chúng ta sẽ đề cập và xem xét các kết quả của sự kích thích.

Chủ đề này có sự quan tâm nổi bật vào thời điểm này, vì xu hướng thần bí và sự thôi thúc tinh thần đặc trưng nhân loại như một tổng thể, và vì các kết quả rõ rệt – một số chúng thì xấu, nhiều kết quả trong số chúng thì tốt – mà sự thực hành tham thiền ngày càng tăng đang mang lại trong thế giới [trang 449] loài người. Những kết quả này của khát vọng thần bí và tâm linh, và tham thiền huyền bí ứng dụng hay trí tuệ (khác với phương pháp thần bí) phải được đối mặt và được hiểu, nếu không, một cơ hội lớn sẽ bị mất và một số phát triển không mong muốn sẽ xuất hiện và cần được hóa giải sau này.

Bạn có ngạc nhiên không khi tôi nói về khuynh hướng thần bí của nhân loại? Tuy nhiên, chưa bao giờ nguyện vọng của nhân loại đã ở một cấp độ quá cao và phổ biến như thế trước đây. Trước đây, chưa bao giờ có quá nhiều người đã tự khép mình vào Con Đường Đệ Tử. Trước đây, chưa bao giờ có những người đã quyết tâm khám phá chân lý với số lượng lớn như vậy. Trước đây, chưa bao giờ có Sự Tiếp Cận với Thánh Đoàn quá rõ ràng và rất thật. Tình hình này đảm bảo những phản ứng nhất định. Những phản ứng này sẽ có tính chất gì? Chúng ta sẽ đáp ứng và đối phó với cơ hội mà chúng ta đang phải đối mặt như thế nào? Bằng việc phát triển các thái độ sau đây: Bằng một quyết tâm lợi dụng cơn thủy triều đang thúc đẩy loài người tiếp cận với thế giới của những thực tại tâm linh theo một cách mà các kết quả sẽ thực tế và được chứng minh; bằng một nhận thức rằng những gì mà hàng triệu người tìm kiếm là đáng tìm kiếm và có thực, cho đến nay vẫn chưa được biết; bằng một sự nhận thức rằng hiện nay là cơ hội cho tất cả các đệ tử, các điểm đạo đồ và những người phụng sự, vì thủy triều đang lên và con ngườithể được ảnh hưởng đối với điều tốt vào thời điểm này, chứ có lẽ không phải sau này. Không phải luôn luôn có những thời điểm khủng hoảng, vì chúng là ngoại lệ chứ không phải là quy luật

Tuy nhiên, đây là một thời điểm khủng hoảng khác thường. Tuy vậy, một điểm dường như được ghi khắc trong tâm trí của tôi, và tôi muốn nhấn mạnh nó. Trong những thời kỳ của khủng hoảng và của cơ hội đi cùng, điều quan trọng là con người nên nhận ra hai điều: thứ nhất, đó là một thời kỳ kích thích, và đó cũng là một thời kỳ khủng hoảng đối với Thánh Đoàn cũng như đối với con người. Điểm sau này thường bị lãng quên; cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn có tầm quan trọng lớn lao, do tính hiếm hoi tương đối của nó. Những cuộc khủng hoảng của nhân loại thì thường xuyên và – [Trang 450] từ góc độ thời gian – có sự xuất hiện gần như thường xuyên. Nhưng đây không phải là trường hợp với Thánh Đoàn. Ngoài ra, khi một cuộc khủng hoảng của con người và một cuộc khủng hoảng của Thánh Đoàn trùng nhau và đồng thời, thì một thời điểm trọng đại của cơ hội vượt trội xuất hiện, và vì những lý do sau đây:

  1. Sự chú ý của các Đấng Cao Cả hoàn toàn được tập trung, do các sự việc của hành tinh, theo một chiều hướng cụ thể. Một sự tổng hợp của nỗ lực được hoạch định sẽ xuất hiện.
  2. Những trường hợp này quá hiếm hoi đến nỗi khi chúng xảy ra, chúng biểu thị một ý nghĩa của thái dương hệ cũng như một ý nghĩa của hành tinh.
  3. Một số mãnh lực và các quyền năng, bên ngoài hệ thống lãnh đạo của thái dương hệ, đã được kêu gọi vào hoạt động, do sự khẩn cấp của hành tinh. Sự khẩn cấp này có tầm quan trọng (từ góc độ tâm thức) đến nỗi mà Thái Dương Thượng Đế đã thấy thích hợp để kêu gọi các tác nhân bên ngoài giúp đỡ. Và Các Ngài đang giúp đỡ.

Nếu bạn kết hợp sự chú ý của nhân loại được tái định hướng và được tập trung vào điều được gọi là “chủ nghĩa lý tưởng hiện đại” với những sự kiện này, bạn sẽ có một thời điểm hoặc biến cố thú vị nhất – vì hai từ này đồng nghĩa.

Con người ở khắp nơi đang khao khát hướng tới tự do, hướng tới sự thông cảm lẫn nhau, hướng tới các điều kiện sinh hoạt và tư duy thích hợp của tập thể và cá nhân, và hướng tới các mối quan hệ bên ngoài và bên trong đúng đắn. Đây là một thực tế được thừa nhận một cách phổ biến. Nhân loại đang mòn mỏi và mệt mõi vì những cách sống không lành mạnh, vì việc bóc lột những người không có khả năng tự vệ, vì sự phát triển của tính bất mãn, và vì sự tập trung quyền lực vào tay kẻ xấu và ích kỷ. Họ đang mong muốn hòa bình, các mối quan hệ đúng đắn, sự sắp xếp thời gian thích hợp, và sự hiểu biết và sử dụng đúng đồng tiền. Những dấu hiệu đó là không bình thường và có tính chất tinh thần sâu sắc.

Kết quả của những phát triển này trong cõi giới của [Trang 451] quyền lực cai trị tâm linh bên trong và trong thế giới của các sự vụ con người là gì?

Trước hết và chủ yếu, đó là sự đáp ứng với một Sự Tiếp Cận chung: một mặt, là sự khao khát và mong muốn của Thánh Đoàn đối với giải pháp cho vấn đề con người và việc điều chỉnh sự đau khổ của nhân loại, và cũng vậy, đối với một sự xuất hiện thích hợp của chính quyền tinh thần (chính quyền của các giá trị đúng), và mặt kia là sự quyết tâm của con người để mang lại điều kiện thích hợp và các hoàn cảnh chung quanh thích hợp, trong đó con ngườithể phát triển, và trong đó các giá trị đúng cũng có thể trình bày và được công nhận. Chính vào thời điểm này mà Thánh Đoàn và nhân loại nhất quán. Việc có nhiều người quá kém phát triển để ghi nhận những khát vọng này một cách chính xác thì không quan trọng. Họ đang hoạt động một cách vô thức hướng tới cùng những mục tiêu giống Thánh Đoàn.

Nơi nào mà hai tình huống tương tự này đồng thời tồn tại, kết quả tất nhiên là một sự đáp ứng đồng bộ, và điều này (cũng tất nhiên) tạo ra sự kích thích. Tình huống trong mối quan hệ với nhân loại nói chung giống một cách chính xác với tình huống trong cuộc đời của cá nhân một nhà thần bí. Điều này phải được ghi nhớ một cách cẩn thận, vì xu hướng khát vọng của con người có tính thần bí chứ không huyền bí. Đó là sự thích hợp rộng khắp của những gì tôi đang nói và cơ hội của nó .

Tuy nhiên, tôi có ý định tự hạn chế mình vào các vấn đề của cá nhân nhà thần bí và để độc giả của tôi rút ra những điểm tương đồng cần thiết. 

Định nghĩa của từ Kích Thích

Trước hết, có thể có giá trị nếu chúng ta định nghĩa từ ngữ sự kích thích, bàn về nó theo quan điểm huyền bí chứ không chỉ từ quan điểm từ điển kỹ thuật. Sự kích thích là mấu chốt của vấn đề của chúng ta, và chúng ta cũng có thể phải đối mặt với nó và hiểu chúng ta nói về gì và các hàm ý là gì. 

Tôi đã liên tục nhấn mạnh sự cần thiết đối với việc chúng ta nhận thức về sự tồn tại của năng lượng. Trong chủ thuyết huyền bí (hoặc thuyết bí truyền) [Trang 452] chúng ta sử dụng từnăng lượng” để hàm ý hoạt động sống của các cõi tâm linh, và của thực thể tâm linh, tức linh hồn. Chúng ta sử dụng từlực” để hàm ý hoạt động của bản chất sắc tướng trong các cõi của các giới khác nhau trong tự nhiên. Đây là một điểm thú vị vượt trội và nét đặc biệt có hàm ý. 

Do đó, sự kích thíchthể được định nghĩa là tác động năng lượng có trên lực. Đó là tác động mà linh hồn có trên hình tướng, và là tác động mà biểu lộ cao của thiên tính trên cái mà chúng ta gọi là biểu lộ thấp. Tuy nhiên, tất cả đều thiêng

liêng trong thời giankhông gian, và trong mối quan hệ với thời điểm đặc biệt trong quá trình tiến hóa và tổng thể. Năng lượng này có các tác động sau đây, và tôi nêu những tác động này theo nhiều cách khác nhau để tạo ra sự sáng tỏ trong nhiều loại thể trí khác nhau:

  1. Một sự gia tăng tốc độ nhịp điệu và rung động.
  2. Một khả năng để bù đắp thời gian và, do đó, làm được nhiều hơn trong một giờ của cái gọi là thời gian so với người bình thườngthể làm trong thời gian hai hoặc ba giờ.
  3. Một biến động trong đời sống phàm ngã dẫn đến – nếu được đáp ứng đúng – một sự đáp ứng thấy rõ của các bổn phận nghiệp quả.
  4. Một sự tăng cường mọi phản ứng. Điều này bao gồm mọi phản ứng phát sinh từ thế giới của cuộc sống hàng ngày (và, do đó, từ môi trường), từ thế giới của cuộc sống đầy đạo tâm, từ thể trí và từ linh hồn, là Thực Tại vĩ đại trong đời sống của cá nhân luân hồi (ngay cả khi y không biết điều đó).
  5. Một sự minh giải các mục tiêu của đời sống,do đó một sự chú trọng bao quát lên tầm quan trọng của phàm ngã và cuộc sống phàm ngã.
  6. Một quá trình hủy diệt đang phát triển vốn bao gồm các vấn đề có vẻ như vượt quá khả năng giải quyết của phàm ngã. [453]
  7. Một số vấn đề về sinh lý và tâm lý vốn dựa trên năng lực, những nhược điểm và ưu điểm vốn có, và các phẩm chất của các khí cụ tiếp nhận.
toàn bộ sự kích thích dựa trên phản ứng (hoặc

Ở đây nên nhớ rằng rằng  năng lực tiếp nhận và ghi nhận) của bản chất thấp khi được đưa vào mối quan hệ với bản chất cao. Nó không dựa trên phản ứng của bản chất cao đến bản chất thấp. Dựa trên sự tiếp nhận này, dẫn đến kết quả là một sự tăng tốc của các nguyên tử vốn tạo nên các hiện thể của phàm ngã; có một sự kích thích hoạt động của các tế bào trong não mà cho đến nay vẫn chưa hoạt động, và ngoài ra có sự kích thích hoạt động của những khu vực cơ thể xung quanh bảy bí huyệt, nhất là ở những phần tương ứng hữu cơ và sinh lý đối với các bí huyệt, cộng với một hiểu biết về các khả năng và cơ hội. Những kết quả này có thể thể hiện hoặc dưới hình thức của sự thất bại tai hại, hoặc dưới hình thức phát triển quan trọng . 

Sự kích thích hệ thần kinh của đối tượng phản ứng với tất cả điều này, và do đó các tác động về thể chất rất rõ ràng. Những tác động này có thể có nghĩa là việc giải thoát thông qua sự tiêu tốn thích hợp của năng lượng chảy vào, và do đó không có tác động nghiêm trọng, ngay cả khi có thể tồn tại các tình trạng không mong muốn, hoặc chúng có thể có nghĩa là khí cụ này đang ở trong một tình trạng mà năng lượng tuôn chảy qua sẽ phá vỡ và nguy hiểm, và mọi loại kết quả xấu có

thể xảy ra. Các kết quả này gồm có:

[a] Các Vấn đề về trí tuệ

<Trang 453.463>

Giờ đây, chúng ta sẽ phải bàn về chủ đề này trước tiên. Sự kích thích trí tuệ thì tương đối hiếm gặp, nếu xem xét tổng dân số của hành tinh; tuy nhiên trong số các dân tộc của nền văn minh phương Tây của chúng ta, và trong số tinh hoa của [Trang 454] nền văn minh phương Đông thì điều đó thường xuyên được nhận thấy.

Để cho rõ ràng, những vấn đề cụ thể này được chia thành ba nhóm hoặc ba phạm trù :

  1. Những vấn đề phát sinh từ hoạt động trí tuệ mãnh liệt, vốn tạo ra sự tập trung và chú trọng về trí tuệ quá độ, một sự tiếp cận trí tuệ nhất tâm và sự kết tinh.
  2. Những vấn đề phát sinh từ các tiến trình thiền định, vốn đã thành công trong việc mang lại sự giác ngộ. Điều này, đến đúng lượt của nó, tạo ra những khó khăn nhất định, chẳng hạn như –
    1. Sự hoạt động quá mức của thể trí, nắm bắt và thấy quá nhiều.
    2. Sự tiết lộ về ảo cảmảo tưởng. Điều này dẫn đến sự bối rối và sự khai mở các thần thông thấp.
    3. Sự nhạy cảm quá mức với các hiện tượng của ánh sáng bên trong, được ghi nhận trong thể dĩ thái.
  3. Những vấn đề phát sinh từ những khai mở thần thông bậc cao, với sự nhạy cảm tương ứng với –-
    1. Sự hướng dẫn.
    2. Sự hợp tác với Thiên Cơ.
    3. Sự tiếp xúc với linh hồn.

Ba nhóm vấn đề cuối cùng do sự nhạy cảm thì rõ ràng và thực tế nhất trong kinh nghiệm của các đệ tử. 

Nhóm vấn đề đầu tiên (phát sinh từ hoạt động trí tuệ mãnh liệt) là những vấn đề trí tuệ rõ rệt, và chúng bao gồm mọi phạm vi, từ một chủ nghĩa bè phái kết tinh

hẹp hòi với hiện tượng tâm lý được gọi là định kiến (idée fixe). Chúng phần lớn

là những vấn đề của việc tạo ra hình tư tưởng, và bằng phương tiện của chúng, con người trở thành nạn nhân của những điều mà y đã tự xây dựng; y là tạo vật của một Frankenstein của [Trang 455] chính sáng tạo của y. Xu hướng này có thể được nhìn thấy thể hiện trong tất cả các trường phái tư tưởng và văn hóa, và chủ yếu áp dụng cho loại người lãnh đạo và cho người độc lập trong đời sống tư tưởng của y, và do đó, có khả năng tư duy rõ ràng và hoạt động tự do của chitta hoặc chất trí. Do đó, trong thời kỳ sắp tới, cần đối phó với vấn đề đặc biệt này, vì thể trí sẽ bị đương đầu với tần số ngày càng tăng. Khi nhân loại hướng tới một sự an trụ về mặt trí tuệ, vốn sẽ mạnh mẽ như sự an trụ hiện tại về mặt cảm dục, mà từ đó sự an trụ trí tuệ đang xuất hiện, người ta sẽ thấy càng cần gia tăng giáo dục nhân loại trong–

  1. Bản chất của chất liệu trí tuệ.
  2. Ba mục đích của thể trí:
    1. Là một phương tiện thể hiện các ý tưởng, nhờ việc xây dựng các hình tư tưởng tiêu biểu cần thiết.
    2. Là một yếu tố kiểm soát trong đời sống phàm ngã, nhờ việc sử dụng đúng đắn quyền năng sáng tạo của tư tưởng.
    3. Là một vật phản chiếu các cõi giới cao của ý thức sâu sắc và trực giác.

Tư tưởng sáng tạo không giống như cảm nghĩ sáng tạo, và sự phân biệt này thường không được hiểu biết. Tất cả những gì có thể được tạo ra trong tương lai sẽ được dựa trên sự biểu lộ của các ý tưởng. Điều này sẽ được mang lại, trước hết, qua sự nhận thức tư tưởng, sau đó qua sự ngưng kết tư tưởng, và cuối cùng qua việc truyền sinh lực cho tư tưởng. Chính chỉ sau đó thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ giáng vào thế giới của cảm giác và ở đó nó khoác lấy tính chất cần thiết thuộc về giác quan vốn sẽ thêm màu sắc và vẻ đẹp cho hình tư tưởng đã được xây dựng.

Chính ở vào thời điểm này mà nguy hiểm xảy đến cho môn sinh. Hình tư tưởng của một ý tưởng đã được xây dựng một cách mạnh mẽ. Nó đã đưa vào nó cả màu sắc và vẻ đẹp. Do đó, nó có khả năng nắm giữ một người cả về trí tuệ và tình cảm. Nếu [Trang 456] y không có ý thức về sự cân bằng, không có ý thức về tỷ lệ và không có ý thức hài hước, hình tư tưởngthể trở nên quá mạnh đến nỗi y thấy y là một tín đồ được thừa nhận, không thể rút lui khỏi vị trí của y. Y có thể không thấy gì và không tin gì và hoạt động không vì cái gì ngoại trừ ý tưởng tiêu biểu rất mạnh mẽ giam cầm y. Những người như vậy là những đảng viên bạo lực trong bất kỳ nhóm, trong bất kỳ giáo phái, tầng lớp hoặc chính quyền nào. Họ thường có tính khí tàn ác và là những người trung thành của các giáo phái và các khoa học; họ sẵn sàng hy sinh hoặc gây thiệt hại cho bất cứ ai mà đối với họ dường như có hại đối với định kiến của họ về những gì là đúng và có thật. Những người đã thiết kế Tòa án Tây Ban Nha và những người chịu trách nhiệm về những xúc phạm trong những thời kỳ của các Covenanters là những mẫu hình của những hình thức tồi tệ nhất của đường lối tư tưởng và phát triển này.

Những người nhiễm rắc rối tâm lý này của sự tuân thủ mù quáng với những ý tưởng và của sự sùng bái phàm ngã được thấy trong mọi tổ chức, mọi giáo hội, tôn giáo, trong các cơ quan chính trị và khoa học, và cũng trong mọi tổ chức nội môn và huyền bí. Họ không lành mạnh về tâm lý, và rắc rối mà họ phải chịu đựng thực tế có tính truyền nhiễm. Họ là một mối đe dọa, giống như bệnh đậu mùa là một mối đe dọa. Loại khó khăn này không thường được xem là đang cấu thành một vấn đề tâm lý cho đến khi mà người này bị khổ sở đến nỗi y trở thành một vấn đề của tập thể, hoặc bị coi là khác thường hoặc không cân bằng. Tuy nhiên, chắc chắn đó là một rối loạn tâm lý thuộc một loại rõ rệt nhất, cần đối phó cẩn thận. Nó cũng đặc biệt khó đối phó, vì các giai đoạn đầu có vẻ lành mạnh và khỏe mạnh. Làm việc với một nhóm hoặc với một giáo viên nào đó thường được coi là một cách thức nhất định của sự cứu giúp về mặt tâm lý, vì nó hướng nhà thần bí ra ngoài và do đó cung cấp sự giải thoát thích hợp cho năng lượng được nhận thấy đang tuôn vào. Chừng nào mà nó thực hiện điều này và không làm gì khác thì không có [Trang 457] nguy hiểm thực sự, nhưng khi linh thị của một người về những khả năng khác và lớn lao hơn trở nên không rõ hoặc bắt đầu mờ dần,

khi một khối các học thuyết, hay một trường phái tư tưởng, hoặc một

người tiêu biểu của bất kỳ lý thuyết nào thu hút hoàn toàn sự chú ý của y tới việc loại trừ tất cả những quan điểm hoặc khả năng khác, thì lúc đó những hạt giống của sự rắc rối về tâm lý có thể được ghi nhận đúng lúc và người này đang gặp nguy hiểm. 

Ngoài ra, lúc mà toàn bộ sức mạnh trí tuệ mà một người có chỉ được dùng theo một hướng, đó là, ví dụ như, việc đạt được sự thành công trong kinh doanh, hoặc đạt được sự thống trị về tài chính, thì lúc đó người này trở thành một vấn đề tâm lý. 

Đây đặc biệt là một trong những vấn đề của sự tích hợp, vì đó là do sự kích thích của thể trí, khi nó nỗ lực để nắm quyền kiểm soát phàm

ngã.  Một ý thức về quyền lực bất ngờ xảy ra. Sự thành công nuôi dưỡng sự kích

thích mặc dù đó chỉ là sự thành công đáng ngờ của việc thu hút sự chú ý của một giáo viên nào đó được lý tưởng hóa hay được yêu mến, hoặc việc theo đuổi một giao dịch nào đó trên thị trường tiền tệ được hoàn thành một cách  thành công. 

Sắp đến lúc mà toàn bộ vấn đề của phàm ngã sẽ được hiểu biết đầy đủ hơn nhiều, và khi điều này xảy ra, bất kỳ sự chú trọng quá mức nào vào sự tuyên bố, sự kêu gọi, hệ tư tưởng hay tư tưởng sẽ bị coi là một triệu chứng gây phiền toái, và bấy giờ một nỗ lực sẽ được thực hiện để tạo ra hai điều: một sự khai mở đầy đủ, và một sự hợp nhất hữu thức với linh hồn và với tập thể

[b] Vấn đề Điên Cuồng

Tôi không có ý định bàn về các vấn đề điên cuồng. Những điều này tồn tại và đang xảy ra thường xuyên, và về mặt bí truyền, chúng ta chia chúng thành ba phần:

  1. Những người hoàn toàn do bởi–
    1. Bệnh của chất liệu não bộ.
    2. Sự suy thoái của các tế bào não. [Trang 458]
    3. Tình trạng bất thường trong khu vực não, chẳng hạn như các khối u, áp xe hoặc sự tăng trưởng bất thường.
    4. Những khiếm khuyết về cấu trúc trong đầu.
  2. Những người do sự kiện là ego hay linh hồn không hiện diện.

Trong những trường hợp này, có thể tìm thấy một tình huống, trong đó:

  1. Người chủ thực sự của thể xác vắng mặt. Trong trường hợp này, sinh mệnh tuyến (life thread) sẽ được neo ở tim nhưng thức tuyến (consciousness thread) sẽ không được neo ở đầu. Nó sẽ bị rút ra, và, do đó, linh hồn vẫn không biết gì về hình tướng. Trong những trường hợp này, bạn có sự ngu ngốc, hoặc chỉ đơn giản là một người thú ở cấp rất thấp.
  2. Một số trường hợp về sự chiếm hữu hoặc sự ám ảnh sẽ được tìm thấy, trong đó, sinh mệnh tuyến được gắn liền với người chủ ban đầu của thể xác nhưng thức tuyến là của người khác, hoặc nhân dạng khác – lìa khỏi xác và rất nôn nóng biểu lộ ở cõi trần. Trong trường hợp thông thường, khi mà người chủ thực sự của thể xác không hiện diện, tình hình không thực sự quan trọng, và đôi khi phục vụ cho một mục đích hữu ích, vì nó cho phép thực thể ám ảnh tiếp tục việc chiếm hữu. Tôi đề cập đến những trường hợp mà trong đó có một sự triệt thoái thực sự của chân ngã đang luân hồi và, do đó, một ngôi nhà hoàn toàn trống rỗng. Đây là những trường hợp hiếm hoi, và thể hiện một sự chiếm hữu được bằng lòng, trong khi trong trường hợp thông thường của sự chiếm hữu hay ám ảnh thì có một vấn đề có hai phàm ngã và thậm chí có nhiều phàm ngã. Bấy giờ sự xung đột xảy ra sau đó và nhiều tình trạng đau buồn xảy ra – đau buồn từ quan
điểm của người chủ thực sự của thể xác. Các trường hợp mà tôi đang

đề cập ở đây không cho phép sự chữa bệnh khi không có chân ngã (ego) để kêu gọi vào hoạt động [459] bằng cách tăng cường ý chí hay tình trạng thể chất của con người khi đuổi những kẻ xâm nhập. Trong nhiều trường hợp, việc chữa trị sự chiếm hữu có thể xảy ra, nhưng trong những trường hợp mà tôi đề cập ở đây, thì sự chữa bệnh không thể xảy ra được. 

  1. Những trường hợp vốn do thực tế rằng thể cảm dục có bản chất không thể kiểm soát được và người này là nạn nhân bị đánh bại bởi ham muốn quá phát triển của chính y của một loại này hay loại khác, và tuy vậy có một sức mạnh trí tuệ đến nỗi y có thể tạo ra một hình tư tưởng thống trị, thể hiện ham muốn đó. Những “người điên cõi cảm dục” này là những loại người khó khăn nhất và hoàn toàn đáng buồn nhất để giải quyết, vì về mặt trí tuệ thì ít có gì là sai với họ. Tuy nhiên, thể trí không thể kiểm soát và chắc chắn bị chuyển vào hậu cảnh; nó vẫn còn vô dụng và trì trệ trong khi người này biểu lộ (một cách bạo lực hay khôn khéo tùy trường hợp) một ham muốn cơ bản nào đó. Nó có thểham muốn giết chóc, hoặc ham muốn có kinh nghiệm tình dục bất thường, hoặc thậm chí ham muốn luôn luôn di chuyển và do đó hoạt động liên tục. Những người này nghe như khá đơn giản và là những loại người thông thường, nhưng ở đây tôi không xem xét biểu hiện bình thường của họ, mà xem xét một cái gì đó không thể được kiểm soát và không có biện pháp cứu chữa cho nó trừ việc bảo vệ người này khỏi chính y và những hành động của chính y.

Ba hình thức điên rồ này không thể chữa khỏi, sẽ không cho phép sự

giúp đỡ về tâm lý. Tất cả những gì có thể được thực hiện là cải thiện tình trạng, cung cấp sự chăm sóc thích hợp cho bệnh nhân và sự bảo vệ của xã hội cho đến khi cái chết sẽ mang đến một kết thúc thời gian này trong đời sống của linh hồn. Thật là thú vị khi nhớ rằng những tình trạng này có liên quan nhiều đến nghiệp quả của cha mẹ hoặc của những người có trách nhiệm về trường hợp này hơn là liên quan đến chính bệnh nhân. Trong nhiều trường hợp, [Trang 460] không có người nào hiện diện trong hình tướng cả, mà chỉ là một thể xác sống được làm sinh động, được thấm nhuần bởi hồn thú (animal soul, sinh hồn, hồn cảm dục – ND) chứ không phải bởi một hồn người (human soul, nhân hồn, hồn trí tuệ – ND)

Chúng tôi chủ yếu bận tâm tới những vấn đề phát sinh trong bản chất trí tuệ của con người, và từ năng lực của y để sáng tạo trong chất liệu trí tuệ. Có một khía cạnh của sự khó khăn này mà tôi chưa đề cập, và đó là uy lực của tư tưởng của một trường hợp như vậy, và sự kích thích năng động của thể trí mà chúng ta đang xem xét, để gợi lên sự đáp ứng từ thể cảm dục, và do đó chuyển toàn bộ bản chất thấp vào hành động kết hợp với sự thôi thúc trí tuệ được nhận thức và nhu cầu trí tuệ chiếm ưu thế. Điều này, khi đủ mạnh, có thể thể hiện ra trên cõi trần như là hành động mạnh mẽ và thậm chí hành động bạo lực, vàthể dẫn một người vào nhiều rắc rối, vào sự mâu thuẫn với xã hội có tổ chức, do đó làm cho anh ta chống lại xã hội và không phù hợp với các quyền lực pháp luật và trật tự.

Những người này được chia thành ba nhóm và sẽ là khôn ngoan cho môn sinh tâm lý học khi nghiên cứu các loại người này một cách cẩn thận, vì sẽ có một số lượng ngày càng tăng những người này, bởi vì nhân loại đang chuyển sự tập trung chú ý ngày càng nhiều vào cõi trí :

  1. Những người về mặt trí tuệ vẫn hướng nội, và bận rộn một cách sâu sắc với các hình tư tưởng tự tạo của họ, và với thế giới tư tưởng do họ tạo ra, được tập trung quanh một hình tư tưởng năng động duy nhất mà họ đã xây dựng. Những người này luôn luôn hoạt động hướng tới một bước ngoặt và thật thú vị khi lưu ý rằng bước ngoặt này có thể được thế giới lý giải –
    1. Như là sự tiết lộ về một thiên tài, chẳng hạn, xuất hiện khi một nhà khoa học vĩ đại nào đó mở ra cho chúng ta những kết luận về sự tập trung chú ý và chu kỳ tư tưởng của ông. [Trang 461]
    2. Như là nỗ lực của một người để tự thể hiện bản thân theo một đường lối sáng tạo nào đó.
    3. Như là các biểu lộ bạo lực và thường nguy hiểm của sự thất vọng, trong đó người này cố gắng để giải phóng kết quả của sự nghiền ngẫm bên trong của y theo đường lối được chọn.

Tất cả những điều này khác nhau trong cách biểu hiện, do thiết bị ban đầu mà người này bắt đầu cuộc sống tư tưởng của y trên cõi trí. Trong trường hợp đầu tiên, bạn có thiên tài; trong trường hợp kia (nếu song hành cùng một bản chất giàu tình cảm), bạn sẽ có một tác phẩm nào đó giàu trí tưởng tượng sáng tạo, và trong trường hợp thứ ba, bạn sẽ có những gì sẽ được thế giới xem như là sự điên rồ, có thể được chữa trị kịp thời và không có hậu quả vĩnh viễn, miễn là người ta cung cấp một hình thức giải phóng nào đó có tính sáng tạo, đầy tưởng tượng và cảm xúc. Điều này thường là điểm đấu tranh của phàm ngã cung 2, 4 và 6. 

  1. Những người trở nên có ngã thức một cách đáng kinh ngạc và ý thức họ là các trung tâm tư tưởng. Họ bị ám ảnh với sự khôn ngoan của riêng họ, sức mạnh của họ và khả năng sáng tạo của họ. Họ chuyển nhanh chóng vào một trạng thái cô lập hay tách biệt hoàn toàn. Điều này có thể dẫn đến tính hoang tưởng tự đại sâu sắc, tới một thiên kiến mãnh liệt và một sự hài lòng đầy ngưỡng mộ với bản ngã, là bản ngã thấp, hay phàm ngã. Bản chất cảm xúc, cảm giác, dục vọng hoàn toàn dưới sự kiểm soát của điểm tư tưởng tự cho mình là trung tâm năng động, vốn là tất cả những gì mà người đó biết vào thời điểm này. Do đó, bộ não và tất cả các hoạt động ở cõi trần cùng được kiểm soát và được hướng tới sự phóng đại có kế hoạch của người này. Tình trạng này được tìm thấy ở các mức độ khác nhau, tùy theo mức độ tiến hóa và loại cung, và – trong các giai đoạn đầu – nó có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, nếu nó được tiếp tục tồn tại, nó làm cho người này cuối cùng trở thành vô cảm, vì y trở thành cực đoan trong một [Trang 462] thành lũy của các hình tư tưởng của riêng y, liên quan đến chính y và hoạt động của y. Khi có thể chữa được, nỗ lực cần được thực hiện để phi tập trung đối tượng bằng việc gợi lên một quan tâm khác cao cả hơn, bằng sự phát triển ý thức xã hội và – nếu có thể – bằng cách tiếp xúc với linh hồn. Tình trạng này thường là điểm đấu tranh của các phàm ngã cung 1cung năm.
  2. Những người trở nên hướng ngoại mạnh mẽ bởi sự mong muốn áp đặt các kết luận mà họ đã đạt được (nhờ sự tập trung trí tuệ nhất tâm của họ) lên đồng loại của họ. Điều này khá thường tạo thành điểm then chốt cho sự khó khăn đối với những người cung bacung sáu. Những người này sẽ được tìm thấy trong mọi tình trạng tâm thức, từ nhà thần học đầy thiện ý và nhà lý luận cố chấp theo giáo điều, ở trong mọi trường phái tư tưởng, đến những người cuồng tín làm cho cuộc sống là một gánh nặng cho tất cả những người xung quanh y khi y tìm cách áp đặt các quan điểm của y lên họ, và những người điên cuồng trở nên quá bị ám ảnh với linh thị của y đến nỗi y phải được giữ cẩn thận để bảo vệ xã hội.

Do đó, bạn sẽ thấy rõ ràng triển vọng có thể hứa hẹn như thế nào nếu các nhà giáo dụccác nhà tâm lý học (nhất là những người chuyên đào tạo những người trẻ tuổi) sẽ dạy cho họ sự cẩn thận cần thiết trong việc cân bằng các giá trị, theo cái nhìn của tổng thể, và theo bản chất của sự đóng góp mà nhiều khía cạnh và thái độ làm cho tổng thể. Điều này có sự hữu ích sâu sắc ở thời kỳ vị thành niên, khi có quá nhiều sự điều chỉnh khó khăn đòi hỏi phải được thực hiện. Thường là quá muộn để làm điều này khi một người ở những năm trưởng thành và đã xây dựng các hình tư tưởng và nghiền ngẫm chúng trong một thời gian dài, cho đến khi y quá bị đồng nhất hóa với chúng đến nỗi y thực sự không có sự tồn tại độc lập. Việc phá vỡ một hình tư tưởng như thế hay một nhóm các hình tư tưởng đang nắm giữ bất kỳ [463] người nào trong cảnh nô lệ có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng như tự tử, bệnh tật kéo dài hoặc một cuộc sống thành vô ích do sự thất vọngthể gây ra.

Chỉ có hai điều thực sự có thể trợ giúp:

  • Thứ nhất, việc trình bày một cách ổn định và từ ái về một tầm nhìn rộng lớn hơn phải được duy trì trước mắt của người này bởi một người nào đó rất bao dung, đến nỗi sự hiểu biết là chủ âm của cuộc đời y, hoặc, thứ hai, bằng tác động của chính linh hồn của một người. Phương pháp đầu tiên phải mất nhiều thời gian và sự nhẫn nại.
  • Phương pháp thứ hai có thể có hiệu quả tức thời, như trong sự chuyển hóa, hoặc nó có thể là một sự phá vỡ dần các bức tường tư tưởng mà nhờ đó một người đã tách mình khỏi phần còn lại của thế giới và đồng loại của y. Những tiếng kèn của vị Chúa Tể, là linh hồn, có thể phát ra và khiến cho các bức tường của Jericho sụp đổ. Công việc kêu gọi hành động của linh hồn của một nhân vật năng động thay mặt cho một phàm ngã bị giam cầm, bị bao quanh một cách vững chắc bởi một bức tường bằng chất trí, sẽ tạo thành một phần của khoa học tâm lý mà tương lai sẽ thấy được phát triển.

 

[c] Các vấn đề phát sinh từ thiền định, và kết quả của nó: Sự Giác Ngộ

<Trang 463.480>

Trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng khi tôi sử dụng từ ngữ tham thiền ở chỗ này, tôi đang sử dụng nó chỉ trong một trong những hàm ý của nó. Việc tập trung trí tuệ mãnh liệt, tạo ra sự quá chú trọng về trí tuệ, những thái độ sai lầm và cách sống cách biệt xã hội, cũng là một hình thức thiền định, nhưng đó là việc thiền định được chuyển hoàn toàn vào trong vùng ngoại vi của khu vực nhỏ của thể trí một con người cụ thể. Đây là một phát biểu thực tế và quan trọng. Điều này hạn chế y và xóa đi mọi liên lạc với các lĩnh vực khác của sự nhận thức trí tuệ và gây ra một sự kích thích trí tuệ có tính nhất tâm mãnh liệt thuộc một loại đặc biệt mạnh mẽ, và không có lối thoát, ngoại trừ hướng tới não bộ, xuyên qua bản chất ham muốn.

Sự Tham Thiền mà chúng ta sẽ đề cập trong phần này của nghiên cứu của chúng ta liên quan đến một sự tập trung và thái độ trí tuệ vốn cố gắng để [Trang 464] liên kết nó với những gì vượt ngoài thế giới trí tuệ của cá nhân. Nó là một phần của một nỗ lực để đưa y tiếp xúc với một thế giới hiện tồn và các hiện tượng vốn vượt xa hơn. Tôi đang diễn đạt điều đó theo cách này để truyền đạt các ý tưởng mở rộng, bao hàm, và giác ngộ. Những sự mở rộng và thái độ như vậy sẽ không làm cho một người tách biệt với xã hội, hoặc giam hãm y trong một nhà tù do chính y tạo ra. Chúng nên làm cho y thành một công dân của thế giới; chúng nên tạo ra trong y một mong muốn hòa lẫn và hợp nhất với đồng loại của y; chúng nên thức tỉnh y với những vấn đề và các thực tại cao siêu; chúng nên tuôn đổ ánh sáng vào những nơi tối tăm của cuộc đời y và vào những nơi tối tăm của nhân loại nói chung. 

Các vấn đề phát sinh do kết quả của sự giác ngộ trên thực tế là sự đảo ngược của những điều vừa được xem xét. Tuy nhiên, đến lượt chúng, chúng tạo nên những vấn đề thực sự, và vì ngày nay những người thông minh của thế giới đang học thiền định trên một quy mô lớn nên chúng phải được đối mặt. Nhiều việc đang gây ra sự chuyển hướng tới việc thiền định. Đôi khi nó là tác động của các hoàn cảnh kinh tế buộc một người định trí, và sự định trí là một trong những bước đầu tiên trong tiến trình thiền định; đôi khi nó được mang lại do sự thôi thúc của hoạt động sáng tạo, dẫn một người theo đuổi một chủ đề nào đó tới sự trình bày sáng tạo. Cho dù con người chỉ quan tâm đến sức mạnh của tư tưởng về mặt lý thuyết, hay là, nhờ một chút linh thị, họ trở thành môn sinh của môn thiền định thật sự (hoặc thần bí, hoặc huyền bí), sự thật vẫn là những vấn đề nghiêm trọng phát sinh, các tình trạng nguy hiểm xuất hiện, và bản chất thấp chứng tỏ trong mọi trường hợp nhu cầu thích ứng với các xung lực hoặc các yêu cầu cao, hoặc chịu những hậu quả có tính chất khó khăn nếu nó không làm như thế. Các điều chỉnh cần thiết phải được thực hiện, nếu không, các khó khăn tâm lý, tâm thần, và thần kinh chắc chắn sẽ xảy ra bất ngờ.

Một lần nữa, hãy để tôi nhắc bạn rằng lý do cho điều này là người này thấy và biết và nhận thức nhiều hơn y có thể [Trang 465] làm chỉ như một phàm ngã, hoạt động trong ba cõi thấp, và vì vậy không biết bất kỳ ý nghĩa thật sự nào đối với thế giới của hoạt động linh hồn. Y đã “để cho” các năng lượng mạnh hơn các lực mà y thường biết “đi vào”. Về thực chất thì chúng mạnh mẽ, mặc dù chưa rõ ràng là mạnh mẽ hơn, do các thói quen được thiết lập tốt và những nhịp điệu xưa của các lực của phàm ngãnăng lượng của linh hồn được đưa vào xung đột với chúng. Điều này nhất thiết dẫn đến căng thẳng và khó khăn, và nếu không có một sự hiểu biết đúng đắn của cuộc chiến này, các kết quả thảm khốc có thể phát sinh, và với nhà tâm lý học lão luyện phải được chuẩn bị để đối phó với những điều này.

Tôi sẽ không bàn về loại và bản chất của sự định trí và chủ đề của sự thiền định, vì ở đây tôi đang chỉ xem xét những kết quả chứ không xem xér các phương pháp tạo ra chúng. Chỉ cần nói rằng, những nỗ lực của người này trong thiền định đã mở ra một cánh cửa mà qua đó y có thể tùy ý (và cuối cùng một cách dễ dàng) chuyển vào một thế giới mới của các hiện tượng, của các hoạt động được điều khiển, và của những lý tưởng khác. Y đã rút chốt một cửa sổ mà qua đó ánh sáng có thể tuôn đổ vào, tiết lộ những gì vốn đang, và luôn luôn đã, tồn tại trong tâm thức của con người, và phóng ánh sáng vào những nơi tối tăm của cuộc đời y; vào những cuộc sống khác; và vào môi trường mà trong đó y đang hoạt động. Y đã giải phóng trong chính y một thế giới của âm thanh và của các ấn tượng mà lúc đầu rất mới và rất khác lạ đến nỗi y không biết phải làm gì với chúng. Tình trạng của y trở thành một tình trạng cần có sự quan tâm nhiều và sự điều chỉnh cho cân bằng.

Bạn sẽ thấy rõ ràng rằng nếu có một thiết bị trí tuệ tốt và sự đào tạo giáo dục vững chắc, thì sẽ có một ý thức tỷ lệ cân bằng, một khả năng diễn giải, một sự nhẫn nại chờ đợi cho đến khi sự hiểu biết đúng đắn có thể được phát triển, và một ý thức hài hước thích hợp.    

Tuy nhiên, khi những điều này không hiện diện, thì sẽ có (tùy theo loại và [Trang 466] ý thức linh thị) sự hoang mang, một sự không thể hiểu những gì đang xảy ra, sự chú trọng quá mức vào các phản ứng của phàm ngã và các hiện tượng, niềm tự hào về thành tích, một ý thức tự ti dữ dội, nói quá nhiều, chạy đây đó để tìm sự giải thích, sự thoải mái, sự bảo đảm, và một ý thức về tình đồng chí, hoặc có lẽ là một sự sụp đổ hoàn toàn của các mãnh lực trí tuệ, hoặc sự phá vỡ các tế bào não do sự căng thẳng mà họ đã chịu đựng

Niềm vui đôi khi cũng được tìm thấy do kết quả của sự tiếp xúc với một thế giới mới, và kích thích trí tuệ mạnh mẽ. Trầm cảm thường xuyên là một kết quả, dựa trên một cảm nhận về sự bất lực, không đủ tiêu chuẩn với cơ hội được nhận thức. Người này thấy và biết quá nhiều. Y không còn có thể hài lòng với những tiêu chuẩn sống cũ, với những sự thỏa mãn cũ, và với những chủ nghĩa lý tưởng cũ. Y đã tiếp xúc và bây giờ ao ước những tiêu chuẩn lớn hơn, những ý tưởng mới và sôi nổi, và tầm nhìn rộng lớn hơn. Lối sống của linh hồn đã nắm chặt và thu hút

  1. Nhưng bản chất của y, môi trường của y, thiết bị của y và các cơ hội của y có vẻ bằng cách nào đó chắc chắn làm y thất vọng, và y cảm thấy y không thể tiến lên vào thế giới mới và tuyệt vời này. Y cảm thấy cần hoãn lại và sống trong cùng một trạng thái trí tuệ như trước đây, hoặc y nghĩ thế, và y quyết định thế.

Những mở rộng này mà y đã trải qua là kết quả của sự thiền định thành công, không nhất thiết phải theo đường lối nỗ lực tôn giáo được công nhận, hoặc được tạo bởi cái gọi là sự mặc khải huyền bí. Chúng có thể đến với y theo đường lối của một hoạt động đời sống được chọn của một người, vì không có hoạt động đời sống nào, không có sự kêu gọi hướng nghiệp nào, không có công việc trí tuệ nào, và không có tình trạng nào không thể cung cấp bí quyết cho việc mở khóa của cánh cửa vào thế giới rộng lớn hơn được mong muốn, hoặc dùng để dẫn một người đến đỉnh núi mà từ đó chân trời rộng lớn hơn có thể được nhìn thấy, và tầm nhìn lớn hơn được hiểu biết. Một người phải học cách nhận ra rằng [Trang 467] trường phái tư tưởng mà y chọn, thiên hướng đặc biệt của y, xu hướng cụ thể của y trong cuộc sống và xu hướng cá nhân của y chỉ là một phần của một tổng thể lớn hơn, và vấn đề của y là tích hợp một cách hữu thức hoạt động đời sống nhỏ bé của y vào hoạt động của thế giới.

Chính điều này mà chúng ta gọi là sự giác ngộ vì thiếu một từ thích hợp hơn. Tất cả kiến thức là một hình thức ánh sáng, vì nó phóng ánh sáng vào các khu vực ý thức mà cho đến nay chúng ta không biết. Tất cả minh triết là một hình thức ánh sáng, vì nó cho chúng ta thấy thế giới ý nghĩa nằm phía sau hình tướng bên ngoài. Tất cả sự hiểu biết là một sự kêu gọi ánh sáng, vì nó làm cho chúng ta trở nên nhận thức, hoặc ý thức, những nguyên nhân đang tạo ra các hình tướng bên ngoài bao quanh chúng ta (kể cả chính chúng ta), và qui định thế giới ý nghĩa

chúng là sự biểu lộ. Nhưng khi thực tế này lần đầu tiên được nhìn thấy, được

hiểu biết, và khi sự mặc khải ban đầu đã đến, khi vị trí của phần tử trong mối liên quan với tổng thể được cảm nhận, và khi thế giới vốn bao gồm cả thế giới nhỏ bé của chúng ta được tiếp xúc lần đầu tiên, luôn luôn là một thời điểm khủng hoảng và một giai đoạn nguy hiểm. Bấy giờ, khi sự quen thuộc phát triển và chân của chúng ta đã lang thang qua lại nơi cái cửa mà chúng ta đã mở ra, và chúng ta đã quen với ánh sáng mà các cửa sổ không đóng đã phóng vào thế giới nhỏ bé của sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, thì các nguy hiểm tâm lý khác phát sinh từ đó. Chúng ta đang có nguy cơ khi nghĩ rằng những gì chúng ta đã thấy là tất cả những gì có để thấy, và do đó – trên một vòng cao hơn của đường xoắn ốc và theo

một ý nghĩa lớn hơn – chúng ta lặp lại những mối nguy hiểm (được xem

xét trước đó) do chú trọng quá mức, do tập trung sai lầm, do đức tin

thiển cận, và do định kiến. Chúng ta trở nên bị ám ảnh với ý tưởng về linh

hồn; chúng ta quên đi nhu cầu của nó về một hiện thể biểu lộ; chúng ta bắt đầu sống trong một thế giới hiện tồncảm giác có tính tách biệt trừu tượng, và chúng ta không thể duy trì sự tiếp xúc với cuộc sống thực tế của sự biểu lộ trên cõi trần. Vì thế chúng ta lặp lại – một lần nữa trên một vòng cao hơn của đường xoắn ốc – tình trạng mà chúng ta đã xem xét, trong đó linh hồn hay chân ngã không hiện hữu, [468] đảo ngược tình trạng sao cho không có sự sống hình tướng nào thực sự hiện diện trong tâm thức tập trung của con người. Chỉ có thế giới của các linh hồn và một mong muốn hoạt động sáng tạo. Việc giải quyết sinh hoạt hằng ngày trên cõi trần rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức, và con người trở nên một nhà thần bí mơ hồ, không thực tế, có linh thị. Những trạng thái này của trí tuệ là nguy hiểm, nếu người ta cho phép chúng tồn tại.

Tuy nhiên, có một số giai đoạn của sự rắc rối trí tuệ này bị gây ra bởi sự giác ngộ của thể trí nhờ thiền định mà nó có thể có lợi ích khi bàn đến. Tôi chỉ có thể làm thế một cách qua loa, vì thời gian thì ngắn và tôi tìm cách trình bày sơ qua mà không làm sáng tỏ một cách chi tiết. Tôi chỉ có thể chỉ ra cho bạn thấy những đường lối tổng quát về sự khó khăn và các phương pháp mà theo đó một khó khăn hay vấn đề cụ thểthể được đáp ứng hay được giải quyết. Trong việc xử lý nhiều trường hợp này, lương tri thông thường lại có giá trị, và nỗ lực gây ấn tượng lên bệnh nhân rằng những rắc rối của y, mặc dù lúc đầu thì nhỏ, có thể mở ra cánh cửa cho những tình huống nghiêm trọng. Có ba trường hợp trong số này mà tôi sẽ đề cập đến.

  • Trường hợp đầu tiên trong số này là sự quá hoạt động của thể trí trong khá nhiều trường hợp – đôi khi một cách đột ngột và đôi khi từ từ – thể trí có sự hiểu biết và thấy quá nhiều. Nó trở nên biết quá nhiều kiến thức. Điều này tạo ra những điều trái qui luật trong tổ chức của đời sống con người, và xen vào quá nhiều sự biến thiên, quá nhiều sự thay đổi bất thường, và quá nhiều bồn chồn đến nỗi y vĩnh viễn ở trong một sự náo động sôi sục. Trong suốt tất cả điều đó, y ý thức về chính y là một người ở tại trung tâm, và giải thích tất cả các hoạt động và các tiếp xúc trí tuệ, tất cả các sự thay đổi bất thường, sự phân tích liên tục mà y có khuynh hướng, và việc không ngừng tạo ra các kế hoạch là chỉ dấu không chỉ về khả năng trí tuệ, mà còn về nhận thức tinh thần sâu sắc và minh triết thật sự. Điều này tạo ra những tình huống khó khăn cho tất cả những người có liên quan với y, và tiếp tục thường xuyên trong một thời gian dài. Vì bao lâu mà tình trạng này kéo dài, thì bất cứ người nào cũng khó có thể làm gì [Trang 469]. Những “hoán vị của chitta hoặc chất trí” liên tục và “hoạt động tạo hình tư tưởng của thể trí” không ngớt thu hút người này quá thường xuyên đến nỗi không có gì khác nhập vào trong tâm thức của y. Các kế hoạch lớn lao, các chương trình phổ biến, những mối tương quan và tương ứng, cộng với nỗ lực áp đặt chúng lên người khác, và kêu gọi sự giúp đỡ của họ (với sự chỉ trích tương ứng nếu sự giúp đỡ này bị từ chối) cho việc thực hiện cả đống ý tưởng không liên quan xâm chiếm y. Không có nỗ lực thực sự nào được thực hiện để mang các kế hoạch và ý tưởng này tới sự hoàn tất, vì tất cả chúng vẫn còn chưa dứt khoát trên cõi trí, trong trạng thái mơ hồ ban đầu của chúng. Nỗ lực để thấy, để nắm bắt và để hiểu rõ chi tiết và mối tương quan thu hút tất cả sự chú ý, và không có năng lượng nào còn lại để mang thậm chí một trong số chúng xuống cõi dục vọng, và do đó đi các bước đầu tiên hướng đến sự hiện thực hóa về mặt vật chất của kế hoạch được mơ đến. Nếu trạng thái này của thể trí tiếp tục trong một thời gian quá dài, nó tạo ra sự căng thẳng tinh thần, suy nhược thần kinh và đôi khi là sự khó khăn vĩnh viễn. Tuy nhiên, việc chữa trị thật đơn giản.

Hãy để người khốn khổ như vậy nhận ra sự vô ích của đời sống trí tuệ của y như y đang sống nó. Khi đó, chọn một trong nhiều phương pháp làm việc có thể có và một trong nhiều đường lối phụng sự, qua đó kế hoạch được cảm nhận có thể được phát triển, hãy để y tự bắt buộc chính y mang nó đi vào sự biểu lộ ở cõi trần, bỏ rơi tất cả các khả năng khác. Bằng cách này, y có thể một lần nữa bắt đầu điều chỉnh và kiểm soát thể trí của y và chiếm lấy vị trí của y trong số những người đang hoàn thành một cái gì đó – bất kể sự đóng góp đó có thể nhỏ như thế nào. Bấy giờ y sẽ trở nên có tính xây dựng.

Tôi đã minh họa kiểu khó khăn này về một người chí nguyện mà, trong cơn thiền định, bắt đầu tiếp xúc với các ảnh hưởng của Thánh Đoàn, và do đó ở một vị trí khai thác luồng các hình tư tưởng được tạo ra bởi Các Ngài và bởi [Trang 470] các đệ tử của các Ngài. Nhưng một loại khó khăn tương tự sẽ được tìm thấy trong số tất cả những người (nhờ phát hiện cõi trí và việc sử dụng sự chú ý tập trung) thâm nhập vào thế giới ý tưởng rộng lớn hơn đó vốn chỉ sẵn sàng ngưng tụ trên các phân cảnh cụ thể của chất trí. Điều này giải thích cho sự phù phiếm và sự vô dụng hiển nhiên của nhiều người khá thông minh. Họ bận rộn với quá nhiều khả năng đến nỗi họ kết thúc bằng cách không đạt tới gì cả. Một kế hoạch được hoàn thành, một đường lối tư tưởng được phát triển tới kết luận cụ thể của nó, một tiến trình tư tưởng được khai mở và được trình bày trong tâm thức sẽ cứu vãn tình thế, và mang tính hữu dụng sáng tạo vào các kiếp sống khác tiêu cực và vô ích. Tôi dùng từ “tiêu cực” ở nơi này để chỉ ra một tính tiêu cực trong việc đạt được các kết quả. Một người như vậy, không cần phải nói, cực kỳ tích cực trong các ngụ ý mà y gắn vào cái gọi là các khái niệm và ý tưởng trí tuệ của y về việc tất cả nó nên được thể hiện như thế nào, và là một nguồn bất an thường xuyên cho những người xung quanh y. Bạn bè hoặc đồng nghiệp của y là đích ngắm của những lời chỉ trích không ngừng của y, bởi vì họ không thực hiện phương án như y tin nó nên được thể hiện, hoặc không đánh giá cao sự cuồn cuộn các ý tưởng mà y bị quá tải với chúng. Cần nhận thức rằng người này đang bị một loại sốt trí tuệ, với những cái đi kèm là ảo giác, quá hoạt động và dễ cảm ứng trí tuệ. Việc chữa bệnh, như tôi đã nói ở trên, nằm trong tay của chính bệnh nhân. Nó bao hàm việc áp dụng nghiêm túc với một kế hoạch được chọn để chứng minh tính hiệu quả của nó, sử dụng lương tri và sự phán đoán đúng đắn thông thường. Ánh sángthể được tiếp xúc trong thiền định đã tiết lộ một mức độ của các hiện tượng trí tuệ và của các hình tư tưởng mà người này không quen đối phó. Sự biểu lộ, và những ngụ ý và những khả năng của nó gây ấn tượng với y quá rộng lớn đến nỗi y lập luận rằng chúng phải thiêng liêng, và do đó, là thiết yếu. Bởi vì y vẫn còn ở trong trung tâm kịch tính của chính tâm thức của y và vẫn còn – mặc dù vô thức – đầy [Trang 471] niềm tự hào về trí tuệ và tham vọng tinh thần, y cảm thấy y có những việc vĩ đại phải làm, và mọi người mà y biết phải hỗ trợ y để làm điều đó, nếu không, kể như chúng thất bại.

  • Thứ hai, là sự sự tiết lộ về ảo ảnh (maya) của các giác quan.

Maya này là một thuật ngữ chung bao gồm ba khía cạnh của sự sống hiện tượng trong ba cõi, hay là ba kết quả chính của hoạt động lực (force activity). Những điều này dùng để gây bối rối cho con người và làm khó khăn rất nhiều cho người chí nguyện thiết tha. Có thể có giá trị nếu ở đây tôi định nghĩa cho bạn ba thuật ngữ được áp dụng cho ba hiệu ứng hiện tượng này: Ảo tưởng (Illusion), Ảo cảm (Glamour) và Ảo ảnh (Maya).

Ba cụm từ này đã từ lâu được bàn tán trong số những người được gọi là nhà huyền bí và nhà thần bí. Chúng đại diện cho cùng khái niệm chung hoặc biến phân của khái niệm đó. Nói chung, những cách giải thích là như sau, và chúng chỉ là những giải thích một phần, gần như là có tính chất của những sự biến dạng của chân lý thật sự, do những hạn chế của tâm thức con người.

  • Ảo Cảm (Glamour)

đã thường được coi như là một nỗ lực kỳ dị của những gì được gọi là “các mãnh lực hắc ám” (“black forces”) để đánh lừa và lường gạt những người chí nguyện có thiện ý. Nhiều người tốt hầu như được tâng bốc khi họ “chống lại” một khía cạnh nào đó của ảo cảm, cảm giác rằng sự thể hiện kỷ luật của họ đã quá tốt đến nỗi các mãnh lực hắc ám đã đủ quan tâm để cố gắng cản trở việc tốt của họ bằng cách dìm họ trong đám mây ảo cảm. Thật không gì có thể xa chân lý hơn điều này. Chính ý tưởng này là một phần của ảo cảm ở thời điểm hiện tại, và có gốc rễ của nó trong sự tự cao và thỏa mãn của con người.

  • Ảo Ảnh (Maya)

thường được coi là có cùng bản chất như khái niệm được Nhà Khoa học Công Giáo công bố rằng không có gì là vật chất (there is no such thing as matter). Chúng ta được yêu cầu xem toàn bộ thế giới hiện tượng là maya, và tin rằng sự tồn tại của nó chỉ đơn giản là một lỗi lầm của thể trí hữu tử, và là một hình thức của sự tự ám thị [Trang 472] hoặc sự tự thôi miên. Qua niềm tin được đem lại này, chúng ta tự buộc mình vào một trạng thái trí tuệ vốn công nhận rằng những điều hữu hình và khách quan chỉ là những điều tưởng tượng của thể trí đầy tưởng tượng của con người. Điều này, đến lượt nó, cũng là một sự bôi bác thực tại.

  • Ảo Tưởng (Illusion)

phần nào được coi theo cùng một cách, chỉ là (như chúng ta định nghĩa nó) chúng ta chú trọng vào sự hữu hạn của thể trí con người. Thế giới của những hiện tượng không bị chối bỏ, nhưng chúng ta xem thể trí hiểu sai nó và từ chối xem nó như nó là (as it is) trong thực tại. Chúng ta coi việc hiểu sai này như là việc tạo ra Đại Ảo Tưởng.

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng (nói chung) ba sự biểu lộ này là ba khía cạnh của một tình trạng phổ quát, vốn là kết quả của hoạt động – trong thời giankhông gian – của thể trí con người.

Vấn đề của Ảo Tưởng nằm trong sự kiện là nó là một hoạt động của linh hồn, và là kết quả của khía cạnh trí tuệ của tất cả các linh hồn trong biểu lộ. Đó là linh hồn bị chìm trong ảo tưởng, và linh hồn không thể nhìn thấy rõ ràng cho đến khi nó đã học để tuôn đổ ánh sáng của linh hồn xuyên qua vào trong thể trí và não bộ.

Vấn đề của Ảo Cảm được nhận thấy khi ảo tưởng của trí tuệ được tăng cường bởi dục vọng. Điều mà nhà Minh Triết Thiêng Liêng gọi là “Trí Cảm” (“Kama manas”) tạo ra ảo cảm. Đó là ảo tưởng trên cõi cảm dục

Vấn đề của Ảo Ảnh thực sự thì tương tự như trên, cộng với hoạt động mãnh liệt được tạo ra khi cả ảo cảmảo tưởng được nhận thức trên các phân cảnh dĩ thái. Chính tình trạng hỗn độn (mess) năng động, thiếu suy nghĩ, đầy cảm xúc (phải, đó là từ ngữ (mess) mà tôi muốn sử dụng), mà phần lớn nhân loại dường như luôn luôn sống trong đó. 

Do đó:

  1. Ảo tưởng chủ yếu có một tính chất trí tuệ và là đặc trưng của thái độ tâm trí của những người có tính trí tuệ nhiều hơn cảm xúc. Họ đã phát triển nhanh ảo cảm như thường được hiểu. Đó là việc hiểu lầm [Trang 473] các ý tưởng và các hình tư tưởng mà họ có trách nhiệm, và những lý giải sai.
  2. Ảo cảm là đặc tính của cõi cảm dục, và mạnh mẽ hơn nhiều vào thời điểm này so với ảo tưởng, do đa số rất lớn con người luôn luôn hoạt động về mặt cảm xúc.
  3. Ảo ảnh là đặc tính quan trọng và là một tính chất của lực. Về cơ bản, nó là năng lượng của con người khi nó chuyển vào hoạt động nhờ ảnh hưởng chủ quan của ảo tưởng về trí tuệ hoặc ảo cảm về cảm dục, hoặc của sự kết hợp của cả hai.

Sự bao la của chủ đề này thật là rất lớn, và người chí nguyện phải mất thời gian để học các quy luật mà nhờ đó y có thể tìm thấy lối của mình ra khỏi thế giới của ảo cảm.

Ở đây, tôi chỉ tìm cách bàn về chủ đề này khi nó tạo ra những tác động trong cuộc sống của một người đã khơi dậy một chừng mực ánh sáng trong chính y. Điều này đã dùng để tiết lộ ba cõi mãnh lực thấp cho y. Sự tiết lộ này, trong các giai đoạn đầu, thường lừa dối y và y trở thành nạn nhân của những gì đã được tiết lộ. 

thể nhận xét một cách công bằng rằng tất cả mọi người đều là nạn nhân của Đại Ảo Tưởng, và của các mối tương quan và các khía cạnh khác nhau của nó. Trong các trường hợp mà chúng ta đang xem xét ở đây, sự dị biệt nằm ở sự kiện là–

  1. Con người ý thức rõ rệt và hữu thức về chính y.
  2. Y cũng biết rằng y đã giải phóng một mức độ ánh sáng cao siêu.
  3. Điều được tiết lộ cho y được y giải thích dưới dạng các hiện tượng tinh thần (spiritual) thay vì dưới dạng các hiện tượng tâm thông (psychical). Y coi tất cả nó là kỳ diệu, có tính thiên khải, chân thật và đáng mong muốn.

Vì y đã đạt được sự tích hợp và có thể hoạt động trong bản chất trí tuệ; vì định hướng của y là tốt và đúng; vì y ở trên Con Đường Dự Bị; và vì y biết y là một người chí nguyện và thậm chí còn là một đệ tử, những gì mà [Trang 474] ánh sáng tiết lộ trên cõi cảm dục, chẳng hạn vậy, tự nhiên là thuộc một loại rất cao. Do đó, nó có hiệu quả dối lừa nhất. Các kế hoạch vũ trụ rộng lớn đã xuất hiện từ thể trí của các nhà tư tưởng trong quá khứ, và đã thành công trong việc đạt đến cõi cảm dục; các hình thức cổ xưa thể hiện “cuộc sống mong muốn” và quan niệm tưởng tượng của nhân loại có uy lực đến nỗi chúng đã tiếp tục tồn tại trong đời sống dục vọng của nhiều người; các hình thức biểu tượng được sử dụng qua nhiều thời đại trong nỗ lực hiện thực hóa một số thực tại; các hình thức thăm dò và thử nghiệm những nỗ lực vĩ đại và tốt đẹp đó trong lúc này đã hoặc đang được thực hiện, cộng với hoạt động sống của chính cõi cảm dục, thế giới mơ mộng của hành tinhtất cả điều này có xu hướng ám ảnh y và dẫn y vào sự nguy hiểm và sai lầm. Nó làm chậm sự tiến bộ của y trên đường đạo và chuyển hướng các năng lượng và sự chú ý của y.

Nên nhớ rằng điều này tạo thành một đường lối ít đối kháng cho con người vì uy lực của thể cảm dục trong thời kỳ thế giới này.

Kết quả của tất cả điều này là các quyền năng và khả năng của thể trí trở nên quá phát triển và những gì được gọi là “các thần thông thấp” (lower siddhis) (các quyền năng tâm thông thấp) bắt đầu khẳng định quyền kiểm soát. Con người, trong thực tế, đang quay trở lại với các tình trạng nhận thức và với các điều kiện hoạt động vốn đã là bình thường và đúng trong thời Atlantis, nhưng không đáng mong muốn và không cần thiết trong thời của chúng ta. Y đang phục hồi – do sự kích thích – những thói quen xưa cũ của ý thức tâm thông vốn bình thường thì nên nằm dưới ngưỡng của tâm thức.  

Ánh sáng đã tiết lộ thế giới hiện tượng này cho y; y cho rằng nó đáng mong muốn, và giải thích các hoạt động của nó như là một sự phát triển tinh thần tuyệt vời trong chính y. Sự kích thích này do bởi thể trí (tự kích thích trong thiền định) khi nó quay xuống cõi cảm dục, gợi lên phản ứng tích cực được làm mới và được đánh thức lại từ các quyền năng thấp. Nó rõ ràng cũng là [Trang 475] một sự phục hồi và chắc chắn là không đáng mong muốn, giống như một số thực hành Hathayoga ở Ấn Độ vốn cho phép nhà yogi khôi phục lại sự kiểm soát hữu thức các chức năng cơ thể của y. Sự kiểm soát hữu thức này là một dấu hiệu đặc trưng của các giống dân Lemuria lúc ban đầu, nhưng qua nhiều thời đại, hoạt động của các cơ quan của cơ thể, một cách đáng mong muốn và an toàn nhất, đã nằm dưới ngưỡng của ý thức, và thể xác thực hiện các chức năng của nó một cách tự động và vô thức, ngoại trừ trong trường hợp bệnh hoạn hay sự điều chỉnh sai thuộc một loại nào đó. Nhân loại không được dự định (khi công việc của chu kỳ hiện tại được hoàn thành) hoạt động một cách hữu thức trong các khu vực nhận thức đã được lãng quên giống như các giống dân Lemuria hoặc Atlantis đã làm. Con người được dự định nên hoạt động như những người Caucasia (người da trắng Ấn-Âu), mặc dù không có thuật ngữ thỏa đáng thực sự nào đã được đặt ra để phân biệt chủng tộc đang phát triển dưới tác động của nền văn minh phương Tây của chúng ta. Tôi đang đề cập đến các trạng thái tâm thức và các lĩnh vực nhận thức vốn là đặc quyền của tất cả các chủng tộc và các dân tộc ở các giai đoạn phát triển nhất định, và tôi chỉ sử dụng ba danh pháp có tính khoa học, chủng tộc như là các biểu tượng của các giai đoạn này:

Tâm thức Lemuria — thuộc cõi trần.

Tâm thức Atlantis  — thuộc cõi cảm dục, tình cảm, giác quan.

Tâm thức Caucasia hoặc Arya — thuộc trí tuệ hay trí năng  Không bao giờ được quên điều này.

Do đó, người đang chịu đựng do sự tiết lộ của ánh sáng trong ba cõi thấp (nhất là trong cõi cảm dục) thực sự đang làm hai điều:

  1. Y vẫn còn đang trong một tình trạng tương đối tĩnh tại, trong chừng mực liên quan đến sự tiến bộ cao của y; y đang ngắm nhìn kính vạn hoa khó hiểu của cõi cảm dục một cách đầy quan tâm và chú ý. Y không thể tự mình hoạt động trên cõi đó, hoặc tự đồng nhất với nó một cách hữu thức, nhưng, về mặt trí tuệ và tình cảm, nó tạm thời thỏa mãn [Trang 476] sự quan tâm của y, duy trì sự chú ý của y, và khơi dậy sự tò mò của y, mặc dù đồng thời y vẫn còn chỉ trích. Do đó, y đang lãng phí thời gian và liên tục bao quanh y các lớp hình tư tưởng mới – kết quả của suy nghĩ của y về những gì y nhìn
thấy hoặc nghe. Điều này nguy hiểm và nên kết thúc

. Sự quan tâm

thông minh trong cõi giới ảo cảmảo tưởng cần thiết cho tất cả những người chí nguyện và đệ tử khôn ngoan để họ có thể tự giải phóng bản thân họ ra khỏi tình trạng lệ thuộc nó, vì nếu không nó sẽ không bao giờ được hiểu và được kiểm soát. Nhưng sự kéo dài của việc gắn vào đời sống đó và sự mê mãi hoàn toàn vào những hiện tượng của nó thì nguy hiểm và ngục tù.

  1. Sự quan tâm được khơi dậy trong những trường hợp không mong muốn là trường hợp mà người này –
    1. Trở nên hoàn toàn bị nó mê hoặc.
    2. Giáng hạ (nói một cách biểu tượng) tới mức độ của nó.
    3. Phản ứng nhạy cảm với các hiện tượng của nó, và thường với niềm vui và thỏa thích.
    4. Gợi lên các khả năng xưa về nhãn thôngnhĩ thông.
    5. Trở thành một nhà tâm thông thấp và chấp nhận tất cả những gì mà các quyền năng tâm thông thấp tiết lộ.

Tôi muốn tạm dừng ở đây và chỉ ra hai điều cần được ghi nhớ:

  • Đầu tiên, đó là nhiều người ngày nay đang sống trong tình trạng ý thức Atlantis, trong tâm thức Atlantis, và đối với họ, sự biểu lộ của những quyền năng tâm thông thấp là bình thường, mặc dù không đáng mong muốn. Đối với người thuộc loại trí tuệ, hoặc người đang chế phục dần bản chất tâm thông thì những quyền năng này là bất thường (hay tôi nên nói là không được bình thường?) và không đáng mong muốn nhất. Trong chủ đề này mà chúng ta đang tham gia, tôi không đề cập đến người có tâm thức Atlantis mà [Trang 477] đề cập đến người chí nguyện hiện đại. Đối với y, phát triển tâm thức của giống dân trước đây và trở lại với kiểu phát triển thấp (vốn nên bị bỏ lại xa phía sau) là nguy hiểm và gây trì hoãn. Nó là một hình thức biểu lộ tính di truyền (form of atavistic expression).
  • Thứ hai: đó là khi một người được an trụ vững chắc trên cõi trí, khi y đã đạt được một mức độ tiếp xúc nào đó với linh hồn, và khi toàn bộ định hướng của y là hướng tới thế giới của những thực tại tinh thần, và cuộc sống của y là cuộc sống theo giới luật và phụng sự, thì đôi khi, và khi cần thiết, y có thể tùy ý sử dụng những quyền năng tâm thông thấp này trong việc phụng sự Thiên Cơ, và để làm một số công việc đặc biệt trên cõi cảm dục. Nhưng đây là trường hợp tâm
thức lớn bao gồm một cách bình thường tâm thức thấp. Tuy nhiên, điều này

hiếm khi được thực hiện ngay cả bởi các cao đồ (adepts), vì các quyền năng của linh hồn – nhận thức tinh thần, tính nhạy cảm về viễn cảm và khả năng trắc tâm – thì thường cũng đủ cho yêu cầu và nhu cầu cần được đáp ứng. Tôi xen những nhận xét này vào, vì có một số người giác ngộ sử dụng các quyền năng này, nhưng điều đó luôn luôn theo đường lối của việc phụng sự cụ thể cho Thánh Đoàn và nhân loại, và không theo bất kỳ đường lối nào được kết nối với cá nhân.

Khi một người đã đi lang thang vào những con đường hẻo lánh của cõi cảm dục, và đã bỏ lại nơi an toàn của vị thế trí tuệ và tầm cao trí thức (một lần nữa tôi lại nói một cách biểu tượng), khi y đã chịu thua ảo cảmảo tưởng (thường được đánh lừa một cách khá chân thành và có thiện ý), và khi y đã khai mở trong chính y – nhờ sự kích thích và thử nghiệm bị dùng sai – các thói quen tiếp xúc cũ, chẳng hạn như nhãn thôngnhĩ thông, y có thể làm gì, hoặc những gì sẽ được thực hiện cho y để mang lại các tình trạng đúng đắn?

Nhiều người trong số những người này sẽ tìm sự giúp đỡ của các nhà tâm lý học và các chuyên gia tâm thần; nhiều người sẽ được tìm thấy ngày nay trong các nhà an dưỡng và dưỡng trí viện của chúng ta, họ được đặt ở đó bởi vì họ “đã thấy những thứ” hay đã nghe những tiếng nói, hay mơ những giấc mơ, và vì [trang 478] họ đã không thích nghi với cuộc sống bình thường. Họ có vẻ là một mối nguy hiểm, cả cho bản thân họ và cho người khác. Họ tạo thành một vấn đề và một khó khăn.

Những thói quen xưa phải được đoạn tuyệt, nhưng vì tình trạng xưa cũ của chúng, chúng rất mạnh mẽ, và để bỏ chúng thì nói dễ hơn làm. Các thực hành mà theo đó các quyền năng tâm linh thấp đã được phát triển phải được loại bỏ. Nếu các khả năng đáp ứng này với một cõi giới cảm dục xung quanh có vẻ đã được phát triển không mấy khó khăn và tự nhiên với con người, tuy nhiên, chúng nên được chấm dứt và những con đường tiếp cận với cõi giới của các hiện tượng thấp này cần được đóng lại.

Nếu con người làm quá kém trong việc thực hiện thành công cuộc sống một cách hữu thức trên cõi trần, trong việc xử lý các hiện tượng được tiếp xúc ở đó, và nếu

đời sống chú tâm vào trí tuệ và sinh hoạt trí tuệ còn quá khó khăn đối với đại đa số, tại sao lại làm phức tạp vấn đề bằng cách cố gắng để sống trong một thế giới của những hiện tượng vốn được thừa nhận là mạnh nhất vào thời điểm này?

Nhiệm vụ giải phóng khỏi tình trạng nô lệ cho tính nhạy cảm với cõi cảm dục là duy nhất và rất quan trọng. Các chi tiết của phương pháp mà theo đó nó có thể được thực hiện thì quá nhiều để chúng ta xem xét ở đây. Nhưng một số từ ngữ nắm giữ các chủ âm của sự giải thoát và ba gợi ý cơ bản sẽ giúp nhà tâm lý học trong việc đối phó với các loại khó khăn này.

Những từ ngữ nắm giữ bí mật là:

  1. Sự hướng dẫn (Instruction).
  2. Sự tập trung chú ý.
  3. Công việc (occupation).

Bản chất của bộ máy đáp ứng của con người trong ba cõi thấp nên được giải thích một cách cẩn thận cho con người đang gặp khó khăn và sự khác biệt giữa tâm thức Lemuria, Atlantis và Caucasia (Ấn Âu) cần được diễn đạt rõ ràng với y, nếu có thể. Niềm tự hào của y về vị trí trên thang tiến hóa [479] nên được gợi lên vào thời điểm này một lần nữa nếu có thể, và nó sẽ cho thấy một đáp ứng có tính xây dựng. Nỗ lực để tập trung sự chú ý của y nên được cố gắng dần dần và đầy thông cảm. Tùy theo kiểu người của y mà nỗ lực sẽ được hướng dẫn tới việc tập trung sự chú ý của y và hướng sự quan tâm của y trên cõi trần hoặc cõi trí, do đó chuyển nó ra khỏi cõi trung gian. Công việc rõ rệt về thể chất hoặc trí tuệ (một lần nữa được sắp xếp theo loại người) nên được sắp đặt, và người này bị buộc phải bận rộn theo một cách được chọn nào đó.

Tôi sẽ đưa ra ba gợi ý cho nhà tâm lý học hoặc cho người chữa trị tâm thần là: 

  1. Nghiên cứu cẩn thận bản chất của các cung vốn có lẽ cấu thành bản chất của con ngườicung cấp các lựcnăng lượng làm cho y là chính y. Tôi đã phát biểu điều này một cách thận trọng.
  2. Xác định hiện thể tiếp xúc nào mạnh mẽ nhất, được tổ chức tốt nhất và được phát triển tốt. Nó sẽ cho thấy biểu lộ của sự sống trong kiếp cụ thể này đang chảy qua các hình tướng nào.
  3. Nghiên cứu tình trạng vật chất một cách cẩn thận, và thấy rằng sự chăm sóc thích đáng được đưa ra ở nơi nào cần chú ý. Đồng thời, lưu ý hệ thống tuyến (glandular), nghiên cứu nó từ quan điểm của mối quan hệ của nó với bảy bí huyệt lớn trong cơ thể. Trong nhiều trường hợp, các tuyến cho thấy tình trạng của các bí huyệt. Vì vậy, một sự hiểu biết về hệ thống lực của bệnh nhân sẽ xảy ra.

Khoa Học về các Bí Huyệt tuy vậy còn trong giai đoạn trứng nước của nó, cũng như Khoa Học về các Cung và Khoa Học Chiêm Tinh. Nhưng nhiều điều đang được học và được phát triển theo ba đường lối này, và khi các rào cản hiện nay được hạ xuống và nghiên cứu khoa học thực sự được thiết lập theo các đường lối này, một kỷ nguyên mới sẽ bắt đầu cho con người. Ba khoa học này sẽ tạo thành [Trang 480] ba bộ môn chính của Khoa Tâm Lý Học trong Tân Kỷ Nguyên, cộng với sự đóng góp của tâm lý học hiện đại và sự hiểu biết sâu sắc vào bản chất của con người (đặc biệt là bản chất thể xác) mà nó đã phát triển một cách rất kỳ diệu. 

[d] Các vấn đề về sự hướng dẫn, những giấc mơ, và sự trầm cảm.               

<Trang 480.520>

Tôi đang bàn về những vấn đề này vì tính phổ biến quá mức của chúng vào thời điểm này, do các hoạt động của nhiều nhóm có động cơ tôn giáo hay tâm lý, do xu hướng của một số trường phái, được cống hiến cho sự truyền bá tôn giáo hay tâm lý học, và do tình hình thế giới hiện nay đã đẩy quá nhiều người nhạy cảm vào một trạng thái sức sống tinh thần suy giảm, thường được đi kèm bởi sức sống thể chất suy giảm. Tình trạng này đang lan rộng và dựa trên các điều kiện kinh tế sai lầm. Tôi đang bàn về những điều này trước khi chúng ta đề cập đến điểm thứ tư của chúng ta, Các Bệnh Tật Và Các Vấn Đề Của Các Nhà Thần Bí, vì chúng tạo thành một nhóm trung gian, bao gồm nhiều công dân thông minh và có thiện ý.

Vấn đề về Sự Hướng Dẫn là một vấn đề đặc biệt khó xử lý, vì nó được dựa trên một nhận thức bản năng bẩm sinh của sự thực về Thượng ĐếThiên Cơ. Phản ứng tinh thần cố hữu có tính bản năng này ngày nay đang được khai thác bởi nhiều nhà cải cách có thiện ý, tuy nhiên, những người này đã không có sự quan tâm thực sự đến chủ đề, hoặc đến các hiện tượng của sự đáp ứng bên ngoài đối với một sự thôi thúc chủ quan (từ bên trong-ND). Trong phần lớn các trường hợp, họ là những người dẫn đường mù quáng của những người mù.

Chúng ta có thể định nghĩa vấn đề của sự hướng dẫn là vấn đề của phương pháp mà theo đó một người, thông qua các tiến trình tự động gợi ý (tự ám thị), tự đặt y vào một trạng thái tiêu cực, và (trong khi ở trong trạng thái đó) trở nên ý thức các khuynh hướng, các thúc giục, các tiếng nói, các mệnh lệnh gây ấn tượng rõ ràng, các mặc khải về các đường lối đạo đức nên được tuân theo, hoặc của các sự nghiệp nên được theo đuổi, cộng với một dấu hiệu chung [trang 481] của các đường lối hoạt động mà “Thượng Đế” đang đề xuất cho đối tượng tiếp nhận tiêu cực đang chăm chú.

Trong trạng thái nhận thức gần như thăng hoa này với các yêu cầu khăng khăng của các lĩnh vực chủ quan của hiện tồn hay của tư tưởng, người này bị cuốn vào một hướng hành động vốn có thể thành công trong việc vĩnh viễn định hướng cuộc đời của y (thường thì hoàn toàn vô hại và đôi khi đáng mong muốn nhất), hoặc có thể chỉ có một tác dụng tạm thời, một khi sự thôi thúc đáp ứng đã kiệt sức. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, cội nguồn của sự điều khiển và nguồn gốc của sự hướng dẫn được gọi một cách mơ hồ là “Thượng Đế”, được xem là thiêng liêng, được nói đến như là tiếng nói của “đấng Christ bên trong”, hoặc là sự chỉ đạo tinh thần. Nhiều thuật ngữ tương tự được sử dụng, tùy theo trường phái tư tưởng mà người này có thể thuộc về, hoặc đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của y.

Chúng ta sẽ thấy xu hướng này hướng tới sự hướng dẫn bên trong thuộc một loại nào đó đang phát triển ngày càng tăng khi nhân loại trở nên được định hướng vào bên trong hơn, ý thức rõ rệt hơn về các lĩnh vực hiện tồn bên trong, và thiên nhiều hơn về phía thế giới của ý nghĩa. Chính vì lý do này mà tôi mong muốn thực hiện một sự phân tích tương đối cẩn thận về các cội nguồn có thể có của sự hướng dẫn, để ít nhất con ngườithể biết rằng toàn bộ chủ đề rộng lớn và phức tạp hơn họ nghĩ, và nó sẽ là một phần của minh triết để xác định nguồn gốc của sự hướng dẫn được ban cho, và vì thế, với sự xác định lớn lao hơn, biết được chiều hướng mà họ được hướng đến. Đừng quên rằng việc chấp nhận mù quáng, không suy xét sự hướng dẫn (như được thực hành ngày nay) làm cho một người cuối cùng là một bộ máy tự động nhạy cảm tiêu cực. Nếu điều này trở thành phổ biến khắp nơi, và các phương pháp hiện nay trở thành các thói quen được thiết lập, nhân loại sẽ bị tước bỏ quyền sở hữu thiêng liêng nhất của nó là sự tự do ý chí. Tuy nhiên, không cần phải sợ hãi trước mắt về điều này, nếu những người nam và nữ thông minh trên thế giới suy xét kỹ vấn đề này. Ngoài ra, có quá nhiều chân ngã (egos) có bản chất tiến bộ đang đi vào luân hồi [Trang 482] tại thời điểm này để cho phép sự nguy hiểm phát triển ra khỏi mọi giới hạn, và có quá nhiều đệ tử trong thế giới ngày nay mà tiếng nói của họ vang to và rõ ràng theo những đường lối tự do lựa chọn, và sự hiểu biết thông minh của họ về Thiên Cơ.

thể có lợi nếu tôi trình bày sơ qua một lần nữa các trường phái tư tưởng khác nhau vốn đề cao “sự hướng dẫn”, hoặc các phương pháp và các giáo lý của họ hướng tới việc phát triển một nội nhĩ đang chăm chú, và tuy vậy, không dạy sự khác biệt của các nguồn hướng dẫn, hoặc phân biệt giữa các âm thanh, các tiếng nói khác nhau, và cái gọi là các dấu hiệu được truyền cảm hứng mà nội nhĩ chăm chú đó có thể được huấn luyện để ghi nhận.

Những người thiên về tình cảm trong các Giáo Hội của tất cả các giáo phái và các tín ngưỡng bao giờ cũng hay tìm một cách để thoát khỏi những rắc rối và khó khăn của cuộc sống bằng cách luôn luôn sống với một cảm giác về Sự Hiện Diện dẫn dắt của Thượng Đế, cùng với một sự phục tùng mù quáng vào những gì được khái quát hóa là “ý Thượng Đế”. Việc thực hành về Sự Hiện Diện của Thượng Đế chắc chắn là một bước đáng mong muốn và cần thiết, nhưng mọi người nên hiểu ý nghĩa của nó và thay đổi dần ý nghĩa của tính nhị nguyên thành ý nghĩa của sự đồng nhất hóa. Ý muốn của Thượng Đếthể mang hình thức của sự áp đặt hoàn cảnh và điều kiện sống mà không thể có lối thoát ra nào; đối tượng của sự áp đặt này chấp nhận nó và thực sự không làm gì để cải thiện hoặc thực sự làm cho các hoàn cảnh này tốt hơn (và có lẽ là để tránh các hoàn cảnh này). Số phận và tình trạng của họ được họ giải thích như là ở trong vòng giới hạn bị áp đặt, và các đường lối hạn chế mà họ quyết định sống một cách điềm tĩnh, phục tùng. Một tinh thần phục tùng và mặc nhận chắc chắn được phát triển, và bằng việc kêu gọi tình huống mà trong đó họ thấy chính họ là một biểu hiện của ý chí Thượng Đế, họ được kích hoạt để chịu đựng tất cả. Trong một số các trạng thái thăng hoa hơn về sự phục tùng này, người có khuynh hướng nhạy cảm nói lên sự phục tùng của y, nhưng không nhận ra rằng tiếng nói là của chính y. Y coi đó là tiếng nói của Thượng Đế. Đối với họ, con đường [Trang 483] hiểu biết, sự thừa nhận Đại Luật Nhân Quả (tác động từ kiếp này sang kiếp khác) và việc lý giải vấn đề dưới dạng một bài học cần được quán triệt sẽ báo hiệu sự giải phóng khỏi sự tiêu cực và mù quáng, sự chấp nhận thiếu hiểu biết. Cuộc sống không đòi hỏi sự phục tùng và chấp nhận. Nó đòi hỏi sự hoạt động, sự tách biệt các giá trị tốt đẹp và cao cả ra khỏi những gì không đáng mong muốn, việc vun trồng tinh thần chiến đấu vốn sẽ tạo ra sự tổ chức, sự hiểu biết, và sự xuất hiện cuối cùng vào một lĩnh vực hoạt động tinh thần hữu ích. 

Những người tham gia vào hoạt động của các trường phái tư tưởng được gọi bằng nhiều cái tên như là các trường phái Khoa Học Trí Tuệ, các nhóm Tư Tưởng Mới, Khoa Học Cơ Đốc, và các tổ chức tương tự khác cũng dễ bị lôi cuốn vào trạng thái tiêu cực, dựa trên sự tự ám thị (autosuggestion). Sự lặp đi lặp lại thường xuyên về sự thực thiên tính, được vang lên nhưng không được nhận thức, cuối cùng sẽ gợi lên một sự đáp ứng từ khía cạnh hình tướng của sự sống, (ngay cả khi nó không phải là sự hướng dẫn bằng lời) tuy nhiên, đó là việc công nhận một hình thức hướng dẫn và không chừa cơ hội cho sự tự do ý chí. Đây là một phản ứng trên một quy mô lớn, từ vấn đề được đề cập ở trên. Trong khi đó, trong một trường hợp, có một sự chấp nhận mù quáng đối với một số phận không đáng mong muốn, vì đó là ý muốn của Thượng Đế và do đó Ý Muốn đó phải là tốt và đúng, trong nhóm thứ hai có một nỗ lực để khuấy động người bên trong (chủ quan) vào việc chấp nhận một tình trạng hoàn toàn ngược lại. Y được dạy rằng không có những tình trạng sai lầm trừ khi chính y tạo ra chúng; rằng không có sự đau khổ và không có gì không đáng mong muốn; y được thúc đẩy để nhận ra rằng y có thiên tính và là người thừa kế của các thời đại, và rằng các tình trạng sai lầm, các hoàn cảnh bị hạn chế và các sự cố bất hạnh là kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo của riêng y. Y được dạy rằng chúng thực sự không tồn tại.

Trong hai trường phái tư tưởng, sự thật về số phận khi nó thể hiện dưới ảnh hưởng của Luật Nhân Quả, và sự thật [Trang 484] về thiên tính bẩm sinh của con người được dạy và được nhấn mạnh, nhưng, trong cả hai trường hợp, chính con người là một đối tượng tiêu cực, và là nạn nhân hoặc của một số phận nghiệt ngã, hoặc của thiên tính của y. Tôi đang diễn đạt điều này một cách thận trọng vì tôi đang nóng lòng cho các độc giả của tôi nhận thức rằng số phận không bao giờ dự định con người là một nạn nhân không được giúp đỡ của hoàn cảnh, hoặc là công cụ tự thôi miên của một thiên tính được khẳng định nhưng không phát triển. Con người được dự định trở thành quan tòa thông minh của số phận của chính y, và là một người tiêu biểu có ý thức của thiên tính bẩm sinh của chính y, của Thượng Đế bên trong.

Một lần nữa, các trường phái của các nhà huyền bí, các nhà Thông Thiên Học, và những người Thập Tự Hoa Hồng (nhất là trong các trường phái nội môn của họ)

cũng có các hình thức riêng của họ về ảo tưởng hướng dẫn này. Nó có một bản

chất khác với hai trường hợp được đề cập ở trên, nhưng tuy vậy các kết quả có nhiều tính chất giống nhau, và khiến cho môn sinh đi tới một tình trạng bị

hướng dẫn, thường bị điều khiển, bởi những tiếng nói hão huyền. Thường thì

những người đứng đầu của tổ chức tuyên bố là giao tiếp trực tiếp với một Chân Sư hoặc với toàn thể Thánh Đoàn các Chân Sư, các mệnh lệnh đến từ các vị này. Những mệnh lệnh này được tiếp tục chuyển tới tầng lớp và hàng dãy các thành viên của tổ chức, và đòi hỏi sự vâng phục mù quáng ngay lập tức từ họ. Theo hệ thống huấn luyện, được truyền đạt dưới danh nghĩa của sự phát triển bí truyền, mục tiêu của một mối quan hệ tương tự với Chân Sư hoặc với Thánh Đoàn được đưa ra dưới hình thức một sự khích lệ làm việc hoặc thực hành thiền định, và một ngày nào đó, người chí nguyện được dẫn dắt để tin rằng y sẽ nghe thấy giọng nói của Chân Sư của y, ban cho y hướng dẫn, bảo cho y những gì phải làm, và phác thảo cho y sự tham gia của y trong những vai trò khác nhau. Phần lớn những khó khăn tâm lý trong các nhóm bí truyềnthể được truy nguyên tới thái độ này, và tới việc đưa ra cho tân đạo đồ hy vọng hão huyền này.

Khi xem xét điều này, tôi không thể lặp đi lặp quá mức lại các sự kiện sau đây:

  1. Rằng mục tiêu của mọi giáo lý trong các trường phái bí truyền thật sự [Trang 485] là đưa con người tiếp xúc hữu thức với linh hồn của chính y chứ không phải với Chân Sư.
  2. Rằng Chân SưThánh Đoàn các Chân Sư chỉ hoạt động trên cõi của linh hồn, với tư cách là linh hồn với linh hồn.
  3. Rằng sự đáp ứng hữu thức với ấn tượng của Thánh Đoàn và với kế hoạch của Thánh Đoàn phụ thuộc vào phản ứng nhạy cảm vốn có thể được phát triển và được thực hiện thường xuyên giữa linh hồn của một người với bộ não của y, thông qua thể trí của y.
  4. Rằng những điểm sau đây nên được ghi nhớ:
    1. Khi một người biết y là một linh hồn một cách hữu thức, bấy giờ y có thể tiếp xúc với những linh hồn khác.
    2. Khi y là một đệ tử một cách hữu thức, bấy giờ y tiếp xúc với, và có thể cộng tác một cách thông minh với, các đệ tử khác.
    3. Khi Ngài là một điểm đạo đồ, các điểm đạo đồ khác trở thành những sự thật trong cuộc sống và tâm thức của ngài.
    4. Khi Ngài là một Chân Sư, sự tự do của Nước Trời (Kingdom of the Heaven) là của Ngài, và Ngài hoạt động hữu thức như một trong những thành viên cao cấp của Thánh Đoàn.

Nhưng – và điều này quan trọng hàng đầu – tất cả những sự khác biệt này liên quan tới các mức độ công việc chứ không liên quan tới cấp bậc của con người; chúng cho thấy những sự mở rộng linh hồn chứ không phải những sự tiếp xúc có xếp hạng với phàm ngã. Tuỳ theo sự phát triển của linh hồn được nhận thức trên cõi trần, sẽ là sự đáp ứng với thế giới của linh hồnThánh Đoàn huyền linh là tim và trí của thế giới đó. 

Sự hướng dẫn mà các tín đồ của nhiều trường phái bí truyền thường đáp ứng như thế không phải là sự hướng dẫn của Thánh Đoàn, mà là sự hướng dẫn của một phản ảnh ở cõi cảm dục của Thánh Đoàn; do đó họ đáp ứng với sự thể hiện hão huyền, méo mó, nhân tạo về một sự kiện tinh thần vĩ đại. Họ có thể đáp ứng với thực tại nếu họ chọn như thế. [Trang 486]

Ngoài các trường phái huyền linhbí truyền thông thường được tìm thấy trong thế giới ngày nay, có những nhóm người cũng như các cá nhân đơn độc đang thực hành các hình thức thiền và yoga khác nhau. Điều này đúng cho cả những người chí nguyện phương Đông và phương Tây. Một số những người này đang hoạt động với sự hiểu biết thực sự, và do đó, hoàn toàn an toàn; những người khác thì hết sức dốt nát không chỉ về các kỹ thuật và phương pháp mà còn về các kết quả được mong đợi từ những nỗ lực của họ. Chắc chắn là sẽ có những kết quả, và kết quả chủ yếu là chuyển tâm thức vào bên trong, phát triển tinh thần nội quan (spirit of introspection), và định hướng cho người nam hay nữ tới các thế giới chủ quan bên trong, và tới các cõi tinh anh của sự hiện tồnthường là đến cõi cảm dục và hiếm khi đến với cõi thực sự thiêng liêng của linh hồn. Bản chất của thể trí hiếm khi được gợi lên, và các quá trình được theo đuổi thường làm cho các tế bào não tiêu cực và im lặng, trong khi thể trí vẫn không hoạt động và thường không thức tỉnh. Do đó, khu vực tâm thức duy nhất vẫn còn có thể nhìn thấy là khu vực của tâm thức cảm dục. Thế giới của những giá trị vật chất và hữu hình bị đóng lại; thế giới trí tuệ cũng bị đóng lại. Tôi muốn yêu cầu bạn suy ngẫm về câu này.

Phong trào Nhóm Oxford cũng đã đặt nhiều căng thẳng trên nhu cầu hướng dẫn, nhưng dường như đã phát triển không có sự hiểu biết thực sự về đề tại, hoặc đã đưa ra bất kỳ sự quan tâm thực sự nào đến việc điều tra bao gồm về các khả năng thay thế cho tiếng nói của Thượng Đế. Các thần bí gia đủ loại, với một khuynh hướng tự nhiên thiên về cuộc sống nội quan, tiêu cực, ngày nay đang nghe thấy những tiếng nói, nhận được sự hướng dẫn và tuân theo các xung lực mà họ quả quyết đến từ Thượng Đế. Các nhóm ở khắp mọi nơi bận rộn với nhiệm vụ định hướng dân chúng đến đời sống tinh thần hoặc với nhiệm vụ xác định Thiên Cơ, hay hợp tác với nó theo một cách nào đó. Một số các nhóm này đang hoạt động một cách thông minh và đôi khi đúng đắn [Trang 487] trong sự phỏng đoán và nỗ lực của họ, nhưng phần lớn trong số đó là không đúng vì chúng phần lớn có bản chất cảm dục. 

Có hai kết quả của tất cả điều này. Một là sự phát triển của một tinh thần hy vọng lớn lao trong số những người hoạt động tinh thần của thế giới, khi họ lưu ý rằng nhân loại đang rất nhanh chóng chuyển hướng tới thế giới của ý nghĩa đúng đắn, của giá trị tinh thần đích thực, và của những hiện tượng nội môn. Họ nhận thức rằng mặc dù các lỗi lầm, toàn bộ xu hướng của tâm thức nhân loại ngày nay “quay vào bên trong hướng tới Trung Tâm sự sống tinh thần và hòa bình.” Kết quả hoặc sự công nhận khác là trong quá trình tái điều chỉnh này tới các giá trị tốt hơn, các thời kỳ nguy hiểm thực sự xảy ra, và trừ khi có một sự hiểu biết trực tiếp nào đó về các tình trạng và các khả năng tâm lý, và trừ khi trí năng của nhân loại được gợi lên trên khía cạnh hiểu biết và lương tri, nếu không thì chúng ta sẽ phải chuyển qua một chu kỳ xáo trộn của nhân loại một cách sâu sắc về mặt tâm lý trước cuối thế kỷ này. Chẳng hạn ngày nay có hai yếu tố có một hiệu ứng tâm lý sâu sắc lên nhân loại:

  1. Tình trạng hồi hộp, sợ hãi và lo âu ở mọi quốc gia đang ảnh hưởng xấu nhất đến đa số quần chúng, kích thích họ về mặt cảm dục – đồng thời – làm giảm sức sống thể chất của họ.
  2. Tác động của các mãnh lực tinh thần cao siêu lên những người có khuynh hướng thông minh và có động cơ thần bí hơn đang tạo ra sự rắc rối nghiêm trọng và lan rộng, phá vỡ các rào cản dĩ thái bảo vệ, và mở tung những cánh cửa vào cõi cảm dục. Đó là một số nguy hiểm của sự kích thích tinh thần.

Vì vậy, thực sự đáng để chúng ta nghiên cứu các nguồn mà từ đó nhiều cái được gọi là “sự hướng dẫn” này có thể đến. Để rõ ràng và tạo ấn tượng, tôi dự định liệt kê các nguồn này rất ngắn gọn và không có bất kỳ bình luận kéo dài nào. [Trang 488] Điều này sẽ cung cấp cho các nhà nghiên cứu nghiêm túc và thông minh cơ hội để nhận thức rằng toàn bộ chủ đề rộng lớn và quan trọng hơn rất nhiều so với đã được phỏng đoán, và có thể dẫn đến một sự phân tích cẩn thận hơn về “các loại hướng dẫn”, và một sự hiểu biết về các tác dụng hướng dẫn có thể xảy ra mà tân đạo đồ đáng thương và vô minhthể rơi vào tình trạng là một nạn nhân của chúng.

  1. Lời khuyên hoặc chỉ dẫn đến từ người nam hay nữ trên cõi trần mà người được hướng dẫn, thường một cách vô thức, đang tìm kiếm sự giúp đỡ. Điều này phần lớn là một mối quan hệ về não bộ, có tính chất điện, được thiết lập bởi những sự tiếp xúc hữu thức trên cõi trần, và được giúp đỡ rất nhiều bởi sự kiện là người tân đạo đồ hiểu biết khá tốt, chính xác những gì người hướng dẫn của y sẽ nói trong bất kỳ hoàn cảnh đã định nào.
  2. Thái độ sống nội tâm của tân đạo đồ hay thần bí gia mang lên bề mặt tất cả “cuộc sống mong muốn” thuộc tiềm thức của y. Điều này, khi y có khuynh hướng thần bí, và có lẽ, một cách bình thường, khao khát hướng tới điều thiện hảo và đời sống của tinh thần, mang hình thức của một số xu hướng của tuổi thanh thiếu niên hướng tới hoạt động và các thực hành tôn giáo. Tuy nhiên, y giải thích những điều này với thuật ngữ của sự hướng dẫn rõ rệt từ bên ngoài, và trình bày chúng với chính y theo một cách mà chúng trở thành đối với y là Tiếng Nói của Thượng Đế.
  3. Việc phục hồi những khát vọng tinh thần và những khuynh hướng cũ, đến từ một kiếp hay nhiều kiếp trước. Những điều này những ẩn sâu trong bản thể của y, nhưng có thể được đưa lên bề mặt thông qua sự kích thích tập thể. Do đó y phục hồi các thái độ và các mong muốn tinh thần mà, trong kiếp sống này, cho đến nay đã không xuất hiện. Đối với y, chúng có vẻ hoàn toàn mới và phi thường, và y coi chúng như những huấn thị thiêng liêng đến từ Thượng Đế. Tuy nhiên, chúng đã luôn luôn có mặt (dù tiềm tàng) trong bản chất riêng của y, [Trang 489] và là kết quả của xu hướng lâu đời hoặc khuynh hướng hướng tới thiên tính vốn cố hữu trong mỗi thành viên của gia đình nhân loại. Đó là đứa con hoang đàng nói với chính nó và nói: “Tôi sẽ đứng dậy và đi” – một điểm mà Đức Christ làm sáng tỏ một cách đẹp đẽ trong dụ ngôn.
  4. “Sự hướng dẫn” được ghi nhận cũng có thể chỉ đơn giản là một sự nhạy cảm với những tiếng nói và huấn thị, và các dự định đầy thiện ý của những người tốt đang trên con đường trở lại luân hồi. Vấn đề khó khăn về tinh thần của nhân loại ngày nay đang gây ra sự trở lại nhanh chóng của nhiều linh hồn tiến bộ đến với sự sống trên cõi trần. Khi họ lơ lửng trên ranh giới của cuộc sống bên ngoài, chờ đợi thời khắc tái sinh của họ, họ thường được tiếp xúc ở bên trong và vô thức bởi những người đang trong luân hồi, đặc biệt là vào ban đêm khi tâm thức ra khỏi thể xác. Những gì họ nói và dạy dỗ (thường thì tốt, thông thường thí có tính chất vô thưởng vô phạt, và đôi khi hoàn toàn vô minh) được nhớ lại khi tâm thức tỉnh dậy, và được giải thích bởi tân đạo đồ như là tiếng nói của Thượng Đế, đang cho lời khuyên.
  5. Sự hướng dẫn cũng có thể có một bản chất cảm xúc thuộc cõi cảm dục, và là kết quả của những sự tiếp xúc được thực hiện bởi người chí nguyện (kiên định trong hoài bão của y, nhưng yếu kém trong sự an trụ trí tuệ của y) trên cõi cảm dục. Những điều này bao gồm một phạm vi rộng các khả năng đến nỗi tôi không thể đưa ra nhiều chi tiết về chúng ở đây. Tất cả chúng đều nhuốm màu của ảo cảm, và nhiều nhà lãnh đạo có thiện ý của các nhóm và các tổ chức lấy cảm hứng từ các nguồn này. Ở chúng không có hướng dẫn thiêng liêng nào kéo dài thật sự. Chúng có thể hoàn toàn vô hại, dịu dàng, tử tế và có thiện ý; chúng có thể nuôi dưỡng bản chất cảm xúc, phát triển chứng kích động hoặc khát vọng; chúng có thể phát triển những khuynh hướng tham vọng của nạn nhân của chúng và dẫn y xuống những nẻo đường [Trang 490] của ảo giác. Nhưng chúng không phải tiếng nói của Thượng Đế, hoặc của bất kỳ thành viên nào trong Thánh Đoàn, chúng cũng không có bản chất thiêng liêng, không hơn bất kỳ tiếng nói của bất kỳ giáo viên bình thường nào trên cõi trần nhất thiết là thiêng liêng.
  6. Sự hướng dẫn được ghi nhận cũng có thể là kết quả của người đang bắt sóng (tuning in) một cách viễn cảm vào thể trí của một hay nhiều người khác. Điều này thường xảy ra với những loại người thông minh hơn, và với những người có thể trí được tập trung. Đó là một hình thức viễn cảm trực tiếp, nhưng vô thức. Do đó, sự hướng dẫn, xuất phát từ những thể trí khác, hoặc từ thể trí tập thể được tập trung của một đoàn người phụng sự nào đó mà người này có thể có một mối quan hệ được nhận thức hay không được nhận thức. Sự hướng dẫn được đưa ra như vậy có thể được truyền đạt một cách hữu thức hay vô thức, và có thểtính chất tốt, xấu, hay không tốt không xấu.
  7. Cõi trí tuệ cũng như cõi cảm dục có đầy các hình tư tưởng và những hình này có thể được con người tiếp xúc và được y giải thích như là sự truyền đạt hướng dẫn. Những hình tư tưởng này có thể được các Đấng Hướng Dẫn nhân loại thỉnh thoảng sử dụng để giúp đỡ và dẫn dắt nhân loại. Chúng cũng có thể được sử dụng bởi các tổ chức và lực lượng không mong muốn. Do đó, chúng có thể có ích nhất, nhưng khi được giải thích bởi bất kỳ người nào như là hiện thân của hướng dẫn thiêng liêng và như là cấu thành một sự hướng dẫn không thể sai lầm (như vậy, đòi hỏi và gợi lên sự chấp nhận mù quáng), chúng trở thành một mối đe dọa đối với hoạt động tự do của linh hồn và không có giá trị thực sự .
  8. Do đó, hướng dẫn có thể đến từ tất cả các loại và các kiểu người đang luân hồi hay đã thoát xác, có đặc tính từ rất tốt đến rất xấu. Chúng có thể bao gồm sự giúp đỡ được đưa ra bởi các điểm đạo đồ và các Chân Sư thông qua các đệ tử hoạt động của các Ngài và những người chí nguyện cho các hoạt động trên cõi trícõi cảm dục của những người nam và nữ thông minh bình thường, kể cả [trang 491] người hướng về tình cảm và ích kỷ. Nên nhớ rằng không có vị điểm đạo đồ hoặc đệ tử thực sự nào luôn tìm cách kiểm soát bất kỳ người nào, vị này cũng sẽ không chỉ cho y theo hình thức của một mệnh lệnh khẳng định, bất kỳ hành động nào mà y nên theo. Nhưng nhiều người nắm bắt được giáo huấn mà những thể trí lão luyện đưa ra cho các đệ tử, hoặc họ ghi nhận theo cách viễn cảm các hình tư tưởng mạnh mẽ, được tạo ra bởi các nhà tư tưởng của thế giới hay bởi các Thành Viên của Thánh Đoàn. Do đó, có nhiều lý giải sai và cái gọi là những hướng dẫn được ghi lại. Con người đôi khi chiếm cho riêng họ những gì vốn được dự định cho một nhóm, hoặc một gợi ý được Chân Sư đưa cho một đệ tử.
  9. Hướng dẫn cũng đến từ một phàm ngã mạnh mẽ, tích hợp của chính một người và y sẽ thường xuyên không nhận ra bản chất thật của nó. Tham vọng, ham muốn, hoặc ý định tự cao của một phàm ngãthể tác động xuống từ thể trí và được gây ấn tượng lên bộ não, nhưng người này, trong ý thức của bộ não đó, có thể xem chúng như là đến từ một nguồn xa lạ bên ngoài. Tuy nhiên, luôn luôn, con người vật chất đang đáp ứng với các huấn thị và các xung lực của phàm ngã của chính y. Điều này thường xảy ra với ba loại người:
    1. Những người mà chân ngã (egos) hay phàm ngã của họ ở cung sáu.
    2. Những người đã tự để cho chính họ mở ra với các ảo cảm của cõi cảm dục do bí huyệt nhật tùng bị kích thích quá độ.
    3. Những người nhạy cảm, vì lý do này hay lý do khác, với năng lượng Song Ngư đang rút đi.
  10. Hướng dẫn có thể đến, như bạn biết rõ, từ chính linh hồn của một người khi nhờ thiền định, giới luật và phụng sự, y đã thiết lập sự tiếp xúc, và do đó, có một [Trang 492] kênh liên lạc trực tiếp từ linh hồn đến não bộ, qua thể trí. Điều này, khi rõ ràng và trực tiếp, là hướng dẫn thiêng liêng thật sự, đến từ thiên tính bên trong. Tuy nhiên, nó có thể bị biến dạng và bị hiểu sai nếu thể trí chưa được phát triển, tính cách chưa được thanh luyện, và người này chưa thoát khỏi sự kiểm soát quá đáng của phàm ngã. Thể trí phải áp dụng đúng chân lý hoặc hướng dẫn được truyền đạt. Nơi nào có sự tiếp thu đúng và thích hợp tiếng nói thiêng liêng bên trong, bấy giờ – và chỉ bấy giờ – bạn có sự hướng dẫn không thể sai lầm, và tiếng nói của Thượng Đế bên trong bấy giờ có thể nói chuyện một cách rõ ràng cho khí cụ của nó, là con người trên cõi trần.
  11. Một khi hình thức hướng dẫn sau cùng này đã được thiết lập, được ổn định, được thúc đẩy, được phát triển và được hiểu rõ, các hình thức hướng dẫn tinh thần khác bấy giờ trở thành khả hữu. Lý do cho điều này là chúng sẽ trải qua hoặc được lập luận theo tiêu chuẩn của các giá trị mà chính yếu tố linh hồn chỉ định. Nhận thức của linh hồn là một phần của sự toàn tri. Việc nhận ra ý thức linh hồn này là một diễn biến dần dần và liên tiến mà con người trên cõi trần quan tâm. Các tế bào não phải được dần dần đánh thức và sự đáp ứng diễn giải chính xác phải được phát triển. Chẳng hạn, khi một người trở nên ý thức về Thiên Cơ, y có thể xem Thiên Cơ đó như được Chân Sư hay một Thành Viên nào đó của Thánh Đoàn truyền đạt cho y; y có thể xem kiến thức đó như đến với y qua sự tiếp xúc trực tiếp của chính y với một hình tư tưởng của Thiên Cơ. Nếu y đạt được và diễn giải kiến thức này theo một cách đúng đắn thực sự, tất nhiên là y chỉ đang có được sự nhận thức về những điều mà chính linh hồn của y chắc chắn biết được, bởi vì linh hồn của y là một khía cạnh của linh hồn Đại Đồng và là một phần không thể thiếu của Thánh Đoàn hành tinh. [Trang 493]

Có những nguồn hướng dẫn khác, của sự cảm hứng và của sự mặc khải, nhưng đối với những mục đích nghiên cứu tâm lý hiện nay của chúng ta, thì phần như trên sẽ là đủ.

Bây giờ chúng ta sẽ đề cập đến chủ đề về giấc mơ, vốn đang giữ tầm quan trọng trong thể trí của một số nhà tâm lý học nổi bật và trong một số trường phái tâm lý học. Đó không phải là ý định của tôi để chỉ trích hoặc tấn công các lý thuyết của họ theo bất kỳ cách nào. Họ đã đạt đến một thực tế biểu thị quan trọng nhất – thực tế về sự sống nội tâm, chủ quan bên trong của nhân loại, vốn dựa trên những ký ức xa xưa, dựa trên các giáo huấn hiện nay, và dựa trên những sự tiếp xúc đủ loại khác nhau. Một sự hiểu biết thực sự về đời sống giấc mơ của nhân loại sẽ thiết lập ba sự thực: 

  1. Sự thực về luân hồi.
  2. Sự thực về việc có một hoạt động nào đó trong khi ngủ hoặc bất tỉnh.
  3. Sự thực về linh hồn, về cái vẫn tồn tại dai dẳng và có tính liên tục.

Ba sự thật này cung cấp một đường lối tiếp cận rõ rệt cho các vấn đề mà chúng ta đang xem xét, và chúng sẽ, nếu được phân tích, chứng minh vị trí của các nhà thần bí.

Nguồn gốc của từgiấc mơ” tự bản thân có thể gây tranh cãi và không có gì thực sự chắc chắn và được xác nhận được biết đến. Tuy nhiên, những gì được suy ra và được gợi ý thì bản thân nó có ý nghĩa thực sự. Theo một tài liệu tiêu chuẩn tuyệt vời đáng tin cậy, từ điển Webster, đưa ra hai nguồn gốc của từ này. Một nguồn gốc truy nguyên từ ngữ này trở lại tới một gốc tiếng Phạn, có nghĩa là “làm hại hay làm tổn thương”; nguồn gốc kia truy nguyên nó trở lại tới một gốc Anglo-Saxon xưa, nghĩa là “niềm vui hay chí phúc.” Có chăng khả năng rằng cả hai từ nguyên có trong chúng một mức độ sự thật, và rằng trong việc truy tìm lẫn nhau của chúng trở lại tới một lai lịch và nguồn gốc cổ xưa nhất thì chúng ta sẽ khám phá một ý nghĩa thực sự? Trong bất kỳ trường hợp nào, hai tư tưởng nổi lên từ một nghiên cứu lý giải về các từ nguyên này. [Trang 494]

Đầu tiên là những giấc mơ lúc đầu đã được coi là không đáng mong muốn, có lẽ vì chúng đã tiết lộ hoặc chỉ ra, trong phần lớn các trường hợp, đời sống ở cõi cảm dục của người nằm mơ. Trong thời Atlantis, khi con người cơ bản có tâm thức cõi cảm dục, tâm thức hồng trần bên ngoài của y phần lớn đã được kiểm soát bởi những giấc mơ của y. Trong những ngày đó, sự hướng dẫn của cuộc sống hàng ngày, của đời sống tôn giáo, và của đời sống tâm lý (như nó đã là thế) được căn cứ trên một khoa học đã thất truyền về những giấc mơ, và chính khoa học đã thất truyền này (y có thể ít thích ý tưởng này) mà các nhà tâm lý học hiện đại đang nhanh chóng khôi phục và tìm cách giải thích. Hầu hết mọi người (mặc dù nhất thiết không phải tất cả họ) vốn tự thấy mình cần sự chăm sóc và hướng dẫn của các nhà tâm lý học đều có tâm thức Atlantis, và chính thực tế này đã dẫn dắt nhà tâm lý học một cách vô thức đặt chú tâm hiện nay vào những giấc mơ và việc giải thích chúng.

Liệu tôi có thể nêu ra một lần nữa rằng tâm lý học thật sự sẽ chỉ xuất hiện, và các kỹ thuật đúng đắn sẽ được sử dụng khi các nhà tâm lý học xác định (như một biện pháp đầu tiên và cần thiết) các cung, các tác động chiêm tinh, và các loại tâm thức (Arya hoặc Atlantis) của bệnh nhân. 

Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, những giấc mơ của những thể trí thông minh hơn đã trở nên có một bản chất ngày càng tiên tiến, lý tưởng; những giấc mơ này, khi chúng xuất hiện ở bề mặt, được nhớ và ghi lại, đã bắt đầu kiểm soát bộ não của con người sao cho sự chú trọng của người Anglo-Saxon về niềm vui và chí phúc cuối cùng bắt đầu mô tả về nhiều cái gọi là giấc mơ. Bấy giờ chúng ta có sự xuất hiện của những điều không tưởng, những tưởng tượng, các bài thuyết trình lý tưởng của vẻ đẹp và niềm vui trong tương lai vốn phân biệt đời sống tư tưởng của con người tiên tiến, và vốn tìm thấy sự biểu lộ của chúng trong các hy vọng được trình bày (và cho đến nay chưa được thực hiện) như Nền Cộng Hòa của Plato, Thiên Đường Được Lấy Lại của Milton và các sản phẩm không tưởng, lý tưởng, sáng tạo nhất [trang 495] của các thi sĩ và văn sĩ phương Tây của chúng ta. Do đó phương Tây và phương Đông cùng nhau trình bày một lý thuyết về những giấc mơ – có một bản chất cảm dục thấp hoặc một bản chất trực giác cao – vốn là một bức tranh hoàn chỉnh về cuộc sống mong muốn của nhân loại. Những điều này sắp xếp theo mọi mức độ, từ những ý tưởng bẩn thỉu và những điều thô tục đầy thú tính, đôi khi được các nhà tâm lý rút ra từ các bệnh nhân của họ bằng tâm lý (do đó tiết lộ một cuộc sống mong muốn và tâm thức cảm dục của một tầng lớp rất thấp), lên đến các hệ thống duy tâm và các thiên đường được nghĩ ra cẩn thận, và các trật tự hài hòa của những loại người chí nguyện cao. Tuy nhiên, tất cả đi vào lĩnh vực của Những Giấc Mơ. Điều này là đúng, cho dù những giấc mơ như thế được gắn liền với sự thất vọng tính dục hay chủ nghĩa lý tưởng chưa thực hiện được; chúng đều là biểu hiện của một sự thôi thúc, một sự thôi thúc mạnh mẽ, hoặc là tới sự thỏa mãn ích kỷ, hoặc là sự cải thiện tập thể và phúc lợi tập thể.

Những giấc mơ này có thể hiện thân trong chính chúng các ảo giác và ảo cảm thuộc cảm dục cổ xưa, có uy lực và mạnh mẽ vì nguồn gốc cổ xưa và ham muốn của nhân loại, hoặc chúng có thể hiện thân cho sự đáp ứng nhạy cảm của nhân loại tiến bộ đối với các hệ thống và chế độ của sự sống đang lơ lửng trên vùng ranh giới của sự biểu lộ, chờ sự lắng tụ và biểu lộ trong tương lai.

Điều này sẽ cho bạn thấy chủ đề này rộng lớn như thế nào, vì nó không chỉ bao gồm những thói quen thuộc về cảm dục xưa kia của nhân loại, sẵn sàng tự khẳng định mình khi gặp một số tình trạng bệnh lý hoặc bị thúc đẩy bởi sự thất vọng buồn phiền, mà chúng cũng bao gồm khả năng của người chí nguyện có khuynh hướng tinh thần trong thế giới ngày nay để tiếp xúc kế hoạch được dự định cho nhân loại, và như thế thấy chúng như là các khả năng đáng mong muốn.

Khi đã cho thấy phạm vi của chủ đề của chúng ta rộng lớn như thế, tôi muốn chỉ ra rằng tôi chỉ muốn, trong không gian giới hạn mà tôi sử dụng, thực hiện hai điều:

  1. Đề cập vắn tắt các tình trạng nuôi dưỡng những giấc mơ.
  2. Cho biết những cội nguồn mà từ đó những giấc mơthể xuất phát, và những gì tạo ra chúng. [Trang 496]

Tôi không mong đợi những lý thuyết này được chấp nhận bởi nhà tâm lý học trung bình, nhưng có thể ở đâu đó có những tâm trí đủ cởi mở để chấp nhận một số những đề xuất và do đó có lợi cho chính họ và chắc chắn làm lợi cho những bệnh nhân của họ.

Nguyên nhân chính của một đời sống mơ mộng đau buồn là, trong mọi trường hợp, một sự thất vọng hoặc một sự bất lực của linh hồn khi áp đặt những ước muốn và dự kiến của nó lên khí cụ của nó, là con người

Những nỗi thất vọng này chia làm ba loại:

  1. Sự thất vọng về tình dục. Loại thất vọng này, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là ở những người trung bình, dẫn tới một sự quá chú trọng về sự kiện tình dục, tới một đời sống tư tưởng tình dục không được kiểm soát, tới những sự ghen tuông về tình dục (thường không được nhận thức) và tới sự kém phát triển về thể chất.
  2. Tham vọng bị thất vọng. Điều này ngăn lại các nguồn lực của sự sống, tạo nên sự bực dọc liên tục bên trong, dẫn đến sự đố kỵ, thù hận, sự gay gắt, sự thù ghét mãnh liệt những người thành công, và gây ra nhiều loại bất bình thường.
  3. Tình yêu bị thất vọng. Các nhà tâm lý học trung bình có lẽ sẽ bao gồm điều này trong sự thất vọng về tình dục, nhưng nhà huyền bí học không xem như thế. Có thể có sự thỏa mãn tình dục đầy đủ nếu không là sự hoàn toàn thoát khỏi sự thu hút của nó, thế nhưng bản chất tình yêu quyến rũ thoải mái của chủ thểthể chỉ gặp thất vọng và sự thiếu đáp ứng.

Ở đâu mà ba loại thất vọng này tồn tại, bạn thường sẽ có một cuộc sống mơ mộng sinh động không lành mạnh, những nguy cơ thể chất thuộc nhiều loại, và một bất hạnh sâu sắc không thay đổi.

Bạn sẽ lưu ý rằng tất cả những nỗi thất vọng này, như có thể xảy ra, chỉ là những biểu hiện của sự ham muốn bị thất vọng, và chính trong lĩnh vực cụ thể này (gắm liền với tâm thức Atlantis) [497] mà công việc của nhà tâm lý học hiện đại chủ yếu và nhất thiết nằm ở đó. Trong một nỗ lực để bệnh nhân hiểu biết về sự khó khăn của y và phù hợp với những gì tạo nên con đường ít đối kháng nhất, nhà tâm lý cố gắng giải tỏa tình hình bằng cách dạy y gợi lên và mang lên bề mặt tâm thức của y những sự kiện quan trọng bị quên lãng và cuộc sống mơ mộng của y. Hai sự kiện quan trọng này đôi khi bị lãng quên và do đó tạo thành một nguồn gốc dồi dào sự thất bại thường xuyên để mang lại sự giảm nhẹ.

Đầu tiên, bệnh nhân, khi y đi vào những chỗ sâu thẳm của cuộc sống mơ mộng của y, sẽ mang lên bề mặt không chỉ những sự việc không mong muốn trong “cuộc sống mong ước” không được nhận thức của y, mà còn những sự việc đã hiện diện trong các kiếp sống trước đây. Y đang thâm nhập vào một quá khứ cảm dục rất cổ xưa. Không chỉ trường hợp này, mà còn – qua cánh cửa mở của sự sống cảm dục của chính y – y có thể khai thác hoặc hoà vào đời sống cảm dục của nhân loại. Bấy giờ y thành công trong việc tạo ra sự xuất hiện của điều ác đặc trưng của nhân loại vốn có thể hoàn toàn không có mối quan hệ cá nhân với y chút nào. Đây chắc chắn là một việc làm nguy hiểm, vì nó có thể tỏ ra mạnh hơn so với năng lực hiện tại của con người để xử lý.

Thứ hai, trong mong muốn của y để được giải thoát khỏi những điều trong chính y vốn tạo ra rắc rối, trong mong muốn của y để làm vui lòng nhà tâm lý học (vốn được khuyến khích bởi một số trong số họ theo phương thức “truyền chuyển”), và trong mong muốn của y để tạo ra những gì y tin rằng nhà tâm lý học muốn y tạo ra, y sẽ thường xuyên cầu đến trí tưởng tượng cá nhân của y, cầu đến trí tưởng tượng tập thể, hay, về mặt thần giao cách cảm, điều chỉnh theo trí tưởng tượng của người đang tìm cách chữa trị và giúp đỡ y. Do đó, y tạo ra một cái gì đó mà về cơ bản là không đúng sự thật và sai lạc. Hai điểm này bảo đảm sự chú ý cẩn thận, và bệnh nhân phải được bảo vệ khỏi chính y, khỏi đời sống tư tưởng của nhân loại xung quanh, và cũng khỏi nhà tâm lý học mà y đang tìm kiếm sự giúp đỡ. Một điều khó làm, phải không? [Trang 498]

——————————————————————————————————–

Ba cách trợ giúp tâm lý 

Tôi muốn, tại thời điểm này, làm những gì mà tôi cảm thấy là một sự nội suy cần thiết và có tính gợi ý. Có ba cách chính mà trong đó người tìm kiếm sự trợ giúp tâm lý có thể được giúp đỡ, và điều này đúng với mọi loại người và mọi trường hợp. 

[1]  Trước hết là phương pháp mà chúng ta đã bàn đến. Phương pháp này đào sâu

vào quá khứ của các bệnh nhân; nó tìm cách khám phá các tình trạng xác định cơ bản vốn ẩn mình trong các diễn biến của thời thơ ấu hoặc thời vị thành niên. Những sự kiện được phát hiện này, được cho là, đã đưa ra một hướng sai hoặc len lỏi theo bản chất dục vọng, hoặc theo đời sống tư tưởng; chúng đã khởi xướng các phức hợp mầm mống gây ảnh hưởng, và do đó tạo thành cội nguồn của mọi rắc rối. Phương pháp này (mặc dù nhà tâm lý học không nhận thức điều đó) có thể chuyển vào những kiếp trước, và do đó mở những cánh cửa mà có thể sẽ tốt để cho chúng đóng cho đến khi chúng có thể được mở ra một cách an toàn hơn. 

[2]  Phương pháp thứ hai vốn đôi khi được kết hợp với phương pháp trước là lấp

đầy thời điểm hiện tại với công việc bận rộn sáng tạo có tính xây dựng, và do đó xua đi các yếu tố không mong muốn trong cuộc sống nhờ năng lực trục xuất năng động của các mối quan tâm mới và hết sức quan trọng, choán hết thời giờ. Tôi muốn nêu ra rằng phương pháp này có thể được áp dụng một cách an toàn hơn nếu cuộc sống mơ mộng chủ quan và những khó khăn tiềm ẩn được bỏ mặc không điều trị, ít nhất là tạm thời. Phương pháp này (đối với người bình thường trung bình là người có tâm thức Atlantis thuần túy nhưng vừa mới bắt đầu phát triển hoạt động trí tuệ) thường là một cách có cơ sở và an toàn để thực hiện, miễn là nhà tâm lý họcthể có sự hợp tác đầy hiểu biết của người có liên quan.

[3]  Phương pháp thứ ba, vốn có sự chấp thuận của Thánh Đoàn

vốn là phương pháp mà các thành viên của Thánh Đoàn sử dụng trong công việc của Các Ngài, là đưa vào một cách hữu thức quyền năng của linh hồn. Quyền năng này bấy giờ tuôn đổ qua cuộc sống phàm ngã, là các hiện thểtâm thức, và do đó tẩy sạch và thanh luyện mọi khía cạnh của [Trang 499] bản chất thấp. Tuy nhiên, rõ ràng đối với bạn là phương pháp này chỉ có công dụng với những người đã đạt đến giai đoạn khai mở của họ (và có nhiều người như thế ngày nay), ở đó thể trí có thể được đạt đến và được huấn luyện, và ở đó linh hồn do đó có thể gây ấn tượng cho não bộ, qua thể trí.

Nếu ba phương pháp này được nghiên cứu, bạn có thể đi đến một sự hiểu biết về ba hệ thống mà các nhà tâm lý có thể soạn thảo tỉ mỉ và phát triển để đối phó với ba loại tâm thức hiện đại – tâm thức Lemuria, là tâm thức thấp nhất có trên hành tinh của chúng ta vào lúc này; tâm thức Atlantis, là tâm thức phổ biến nhất được tìm thấy ngày nay, và tâm thức Arya, đang phát triển và đang khai mở một cách rất nhanh chóng. Hiện nay, các nhà tâm lý đang sử dụng loại trợ giúp thấp nhất cho tất cả các nhóm và các trạng thái tâm thức. Điều này dường như không khôn ngoan, phải không?

——————————————————————————————————-

Câu hỏi đặt ra bây giờ là nguồn gốc của những giấc mơ

Một lần nữa, như trong những trường hợp mà chúng ta đã xem xét khi đề cập đến các nguồn hướng dẫn, tôi sẽ chỉ liệt kê các nguồn gốc đó và để cho môn sinh tâm lý học ứng dụng thông tin một cách thích hợp, khi phải đối mặt với một vấn đề giấc mơ. Các nguồn này có khoảng mười nguồn và có thể được liệt kê như sau:

  1. Các giấc mơ dựa trên hoạt động của não. Trong những trường hợp này, đối tượng đang ngủ không sâu. Y không bao giờ thực sự rời khỏi cơ thể của y và tuyến ý thức không được rút ra hoàn toàn như khi nó đang trong giấc ngủ sâu hoặc khi bất tỉnh. Do đó, y vẫn còn đồng nhất hóa mật thiết với cơ thể của y, và do việc rút ra một phần của tuyến ý thức, tình trạng của y là giống như một sự tự nhận
thức mê mụ, mụ mẫm hơn là giấc ngủ thực sự. Tình trạng này có thể kéo dài suốt

đêm hoặc trong thời gian của giấc ngủ, nhưng thường nó được tìm thấy hiện diện chỉ trong hai giờ đầu của giấc ngủ và trong khoảng một giờ trước khi trở về tâm thức thức tỉnh hoàn tòan. Những vấn đề, những lo lắng, những thú vui, mối quan tâm, v.v…, v.v… của những lúc thức [Trang 500] vẫn còn kích động các tế bào não, nhưng việc nhận thức và lý giải về những ấn tượng mơ hồ hoặc căng thẳng thì không chắc chắn và có tính chất không rõ ràng. Không có bất kỳ điều quan trọng nào cần được gắn liền với loại giấc mơ này. Chúng biểu thị sự căng thẳng về thể chất và khả năng ngủ kém nhưng không có ý nghĩa tâm lý sâu sắc hay ý nghĩa tinh thần nào. Những giấc mơ này thông thường nhất vào thời điểm này, do sự phổ biến của tâm thức Atlantis và căng thẳng mà những người sống ngày nay chịu đựng. Thật dễ dàng để gắn sự quan trọng quá mức cho những tính cách thất thường rồ dại và ngu ngốc hay vụng về của một bộ não bất an, nhưng rắc rối duy nhất là người này không ngủ đầy đủ hoàn toàn.

Sự nỗ lực để làm cho mọi người mơ và để huấn luyện họ phục hồi lại đời sống trong mơ của họ khi họ tự nhiên là những người ngủ tốt, dễ dàng rơi vào giấc ngủ sâu và không mộng mị thì không tốt. Việc khêu gợi lại đời sống trong giấc mơ, như được thực hiện bởi các phương pháp của một số trường phái tâm lý học, chỉ nên được thực hiện một cách sinh động (nếu người ta có thể sử dụng từ ngữ này về việc đó) nhờ quyết tâm của ý chí trong các giai đoạn sau trên Thánh Đạo. Làm như thế sớm thường tạo ra một loại liên tục tâm thức vốn thêm những phức tạp của cõi cảm dục vào những phức tạp của sinh hoạt hàng ngày trên

cõi trần; ít người có khả năng để xử lý cả hai  và, khi có sự kiên trì

trong nỗ lực để gợi lên đời sống của giấc mơ, các tế bào não khôngđược nghỉ ngơi và các hình thức của chứng mất ngủ thường xảy ra

bất ngờ. Thiên nhiên muốn rằng mọi hình tướng của sự sống đôi khi nên “ngủ”.

Bây giờ chúng ta đến với hai hình thức của những giấc mơ có liên quan đến bản chất cảm dục hay tình cảm và rất thường xảy ra.

2. Các giấc mơ của ký ức

. Đây là những giấc mơ vốn là sự khôi phục các các cảnh

tượng và âm thanh bắt gặp trên cõi cảm dục trong những giờ ngủ. Chính trên cõi này mà [Trang 501] con người thường được tìm thấy khi tuyến ý thức được tách ra khỏi cơ thể. Trong trường hợp này, người này hoặc đang tham gia vào các hoạt động nào đó, hoặc y đang ở vị trí của người quan sát thấy các cảnh tượng, các cuộc biểu diễn, con người thực tế, v.v… giống như bất kỳ người nào có thể nhìn thấy chúng khi y đi xuống một con phố ở bất kỳ thành phố lớn nào, hoặc khi y nhìn ra cửa sổ trong bất kỳ môi trường nào. Những cảnh tượng và âm thanh này thường sẽ phụ thuộc vào cuộc sống mong muốn và những yêu thích của chủ thể, dựa trên những ưa thích và không ưa thích của y, và các ham muốn và những sự hấp dẫn được nhận thức của y. Y sẽ tìm kiếm và thường tìm thấy những người mà y yêu thương; Đôi khi y sẽ tìm kiếm và tìm thấy những người mà y muốn làm hại, và tìm dịp làm tổn thương những người mà y ghét; y sẽ ưu ái y bằng cách tham gia vào việc thực hiện những gì y muốn, vốn luôn luôn có thể xảy ra trên cõi cảm dục một cách tưởng tượng. Những mong muốn như thế có thể gồm mọi loại, từ ham muốn thỏa mãn nhục dục tới sự khao khát của người chí nguyện có khuynh hướng tinh thần để thấy Chân Sư, Đức Christ hay Đức Phật. Các hình tư tưởng, được tạo ra bởi những mong muốn tương tự của quần chúng sẽ được tìm thấy để đáp ứng với mong muốn của y và — khi trở lại thể xác của y vào buổi sáng — y mang với y hồi ức về sự thỏa mãn đó trong hình thức của một giấc mơ. Những giấc mơ này, liên quan đến những thỏa mãn thuộc về cõi cảm dục, tất cả chúng ở trong bản chất của ảo cảm hay ảo tưởng; chúng được tự khơi dậy và tự liên kết; tuy nhiên, chúng biểu thị kinh nghiệm thực sự, mặc dù chỉ thực hiện trên cõi cảm dục, và có thể có giá trị cho các nhà tâm lý học có quan tâm trong chừng mực chúng biểu thị các khuynh hướng tính cách của bệnh nhân. Tuy nhiên, có thể có một khó khăn. Những hình tư tưởng này (mà người này đã đáp ứng với chúng và y đã tìm thấy một sự hài lòng tưởng tượng trong chúng) hiện thân cho sự biểu lộ của đời sống mong muốn của nhân loại, và do đó, tồn tại trên cõi cảm dục cho mọi người xem. Nhiều người thấy và tiếp xúc với chúng và có thể tự đồng nhất hóa họ với chúng khi trở về tâm thức thức tỉnh. Tuy nhiên, trên thực tế, họ [Trang 502] đã không thực sự làm gì hơn là ghi nhận các hình tư tưởng này theo cách thức giống như một người có thể ghi nhận những chứa đựng của một tủ bày hàng khi đi ngang qua. Chẳng hạn, một sự khiếp sợ kinh tởm có thể xui khiến một người kể, một cách hoàn toàn ngây thơ, một giấc mơ, trong thực tế vốn không gì hơn là việc ghi nhận một cảnh tượng hoặc kinh nghiệm đã được chứng kiến trong những giờ ngủ, nhưng người này không có bất cứ liên quan thật sự nào với nó. Y kể lại kinh nghiệm này với sự bất an và ghê tởm; một cách xúc động nhất, y kể kinh nghiệm này cho nhà tâm lý học, và thường nhận được một sự giải thích vốn tiết lộ cho y những vùng sâu thẳm của cái ác mà những ham muốn chưa được thực hiện của y dường như cung cấp bằng chứng cho nó. Những khát vọng không biểu lộ của y được “mang lên bề mặt” bởi nhà tâm lý học. Y được bảo rằng những khát vọng này, khi được đối mặt, bấy giờ sẽ rời bỏ y, và rằng bóng ma của sự rối loạn trí tuệ và tâm lý của y bấy giờ sẽ được làm mất đi. Trừ khi nhà tâm lý học có sự giác ngộ thực sự, nếu không thì đối tượng mà ông ta chăm sóc khi đó sẽ bị chất nặng với một kinh nghiệm mà chưa bao giờ là kinh nghiệm của y mà y chỉ

chứng kiến. Tôi đưa ra điều này như là một ví dụ rất thường xảy ra và có tác dụng gây hại nhiều. Cho đến khi nào các nhà tâm lý học nhận ra thực tại của cuộc sống nhân loại khi được tách ra khỏi thể xác vào ban đêm, nếu không thì các sai lầm như vậy sẽ xảy ra ngày càng nhiều. Các hàm ý thật rõ ràng.

3. Các giấc mơ vốn là những hồi ức về hoạt động thực sự. Những giấc mơ này là

những ghi nhận về những hoạt động thực sự. Chúng không chỉ được chứng kiến, được ghi nhận và được chủ thể kể ra. Ngay sau khi một người đã đạt tới

  1. Một trạng thái tích hợp thực sự của thể cảm dụcthể sinh lực hay thể dĩ thái, cộng với thể xác, bấy giờ ba khía cạnh này hoạt động hài hòa.
  2. Một khả năng để theo đuổi hoạt động được sắp đặt vào ban đêm hoặc trong giờ ngủ. Khi đó, người này có thể gây ấn tượng cho bộ não hồng trần với một sự hiểu biết về những hoạt động đó [Trang 503] và khi trở về tâm thức thức tỉnh, đưa nó vào sử dụng thực tế bởi thể xác.

Những giấc mơ của người này bấy giờ trên thực tế sẽ không có gì nhiều hơn, cũng không ít hơn mối quan hệ của sự liên tục của các hoạt động ban ngày, khi chúng đã được chuyển lên cõi cảm dục. Chúng sẽ chỉ đơn giản là hồ sơ, được ghi nhận trên não bộ hồng trần, của những việc làm và cảm xúc của y, các mục đích và ý định của y, và kinh nghiệm được nhận thức của y. Chúng thật sự và chân thật như bất kỳ những gì đã được bộ não ghi nhận, trong thời gian thức. Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp chúng chỉ là những hồ sơ không hoàn chỉnh, và bị trộn lẫn trong bản chất, vì các ảo cảm, các ảo tưởng và những

nhận thức của những việc làm của những người khác (như được ghi trong mục thứ hai của những giấc mơ ở trên) vẫn sẽ có một tác dụng

nào đó. Tình trạng này của việc ghi lại bị pha trộn, của những sự nhận dạng sai lầm, v.v… dẫn đến nhiều khó khăn. Nhà tâm lý học phải xem xét về:

  1. Tuổi hay kinh nghiệm của linh hồn bệnh nhân. Ông phải xác định liệu giấc mơ liên quan có là một sự tham gia của ảo tưởng, một hoạt động được nhận thức hoặc được ghi nhận, hoặc một diễn biến thực tế và có thực trong kinh nghiệm của người này trong thời gian ngủ.
  2. Khả năng của chủ thể để mang lại một cách chính xác nhờ kinh nghiệm liên quan. Khả năng này phụ thuộc vào việc thiết lập trước sự liên tục tâm thức, sao cho ở thời điểm trở lại, bộ não của người có liên quan dễ dàng được gây ấn tượng bởi kinh nghiệm của chân nhân khi ra khỏi cơ thể.
  3. Sự tự do của bệnh nhân thoát khỏi sự mong muốn tạo một ấn tượng lên nhà tâm lý, tính trung thực bẩm sinh của y, sự kiểm soát trí tưởng tượng của y, và quyền năng diễn đạt bằng lời nói của y. [Trang 504]

Nơi những người chí nguyện tiến bộ và các đệ tử có liên quan, chúng ta có một tình huống hơi khác. Sự tích hợp được thể hiện đã bao hàm bản chất thể trí và cũng đang bao hàm bản chất linh hồn. Hoạt động, được ghi nhận, được ghi lại và được kể lại, là hoạt động của một người phụng sự trên cõi cảm dục. Do đó, các hoạt động vốn làm một người phụng sự thế gian quan tâm, hoàn toàn có bản chất khác với những hoạt động được trải nghiệm và được kể trước đây. Họ sẽ quan tâm tới những hành vi có liên quan đến người khác, với việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến người khác, tới việc giáo huấn cho nhóm hơn là với cá nhân, v.v… Những sự khác biệt này, khi được nghiên cứu kỹ lưỡng, sẽ được công nhận bởi nhà tâm lý học của tương lai (những người nhất thiết cũng sẽ là một nhà thần bí) như tiết lộ nhiều nhất, vì chúng sẽ cho thấy một cách đáng chú ý địa vị tinh thần và mối quan hệ với Thánh Đoàn của bệnh nhân.

4. Các giấc mơ có một bản chất trí tuệ. Những giấc mơ này có nguồn gốc của chúng

trên cõi trí, và hàm ý một tâm thức ít nhất đang trở nên nhạy cảm hơn về mặt trí tuệ. Dầu vậy, chúng không được ghi lại trong ý thức não bộ khi thức dậy cho đến khi có một mức độ kiểm soát thể trí nào đó. Ở đây, Tôi có thể thêm vào rằng một trong những khó khăn lớn mà một nhà tâm lý học phải đối mặt khi ông cố gắng để giải thích đời sống giấc mơ của bệnh nhân của ông là nó không chỉ dựa vào sự bất lực của ông, về mặt huyền bí, để “xếp hạng” bệnh nhân của ông về loại cung, tình trạng tiến hóa, các dấu hiệu chiêm tinh, và các đặc tính vốn có, mà ông cũng phải đối mặt với sự bất lực của bệnh nhân để hiểu giấc mơ của y một cách chính xác. Những gì được trình bày với nhà tâm lý học là một mô tả lộn xộn và giàu tưởng tượng của các phản ứng não bộ, các hiện tượng cõi cảm dục, và (khi có một mức độ thăng bằng trí tuệ) cũng có một số hiện tượng trí tuệ. Nhưng không có khả năng để phân biệt. Sự lộn xộn này là do thiếu sự chỉnh hợp, và thiếu mối quan hệ trí tuệ thực sự giữa thể trí và não bộ. [Trang 505] Do đó, nó thường trở thành một trường hợp “người mù dẫn người mù”.

Các giấc mơ có nguồn gốc trí tuệ thì căn bản gồm ba loại: 

  1. Những giấc mơ vốn dựa trên sự tiếp xúc với thế giới của những hình tư tưởng. Điều này bao gồm một lĩnh vực rộng lớn của các hình tư tưởng cổ xưa, các hình tư tưởng hiện đại, và những hình tư tưởng đó cũng không rõ ràng và mới mẻ. Chúng có nguồn gốc hoàn toàn con người, và chắc chắn là một phần của Đại Ảo Tưởng. Chúng tạo thành, trong phần lớn các trường hợp, nỗ lực của con người trong việc lý giải sự sống và ý nghĩa của nó qua các thời đại. Chúng kết hợp với linh hồn của ảo cảm vốn có bản chất cảm dục [?]. Bạn sẽ thấy rõ ràng rằng các hình tư tưởng này bao gồm tất cả các chủ đề có thể có. Chúng không tiêu biểu cho cuộc sống mong muốn của nhân loại, nhưng có liên quan với những tư tưởng của con người về những ý tưởng và lý tưởng vốn – qua nhiều thời đại – đã kiểm soát cuộc sống con người và, do đó, hình thành cơ sở của toàn bộ lịch sử.
  2. Những giấc mơ có bản chất hình học, và trong đó chủ thể trở nên ý thức những mô hình cơ bản, các hình thể và các biểu tượng vốn là những bản thiết kế của các nguyên hình quyết định diễn trình tiến hóa, và vốn cuối cùng tạo ra việc hiện thực hóa Thiên Cơ. Chúng cũng là những biểu tượng vĩ đại của tâm thức đang khai mở của con người. Chẳng hạn như việc nhận ra điểm, đường, hình tam giác, hình vuông, chữ thập, hình ngũ giác và các biểu tượng tương tự chỉ đơn giản là việc nhận ra sự liên quan với, và một việc xây dựng dựa trên, một số dòng lực mà, cho đến nay, đã quyết định tiến trình tiến hóa [trang 506]. Có bảy hình thức như thế, đã phát triển và được nhận ra trong mỗi giống dân, và do đó, đối với các mục đích hiện tại của chúng ta, có hai mươi mốt biểu tượng cơ bản, trong hình thức hình học, hiện thân cho các khái niệm quyết định nền văn minh Lemuria, Atlantis và Arya. Thật thú vị khi nhận thức rằng còn mười bốn biểu tượng nữa sẽ xuất hiện. Các biểu tượng đã phát triển thì ăn sâu vào tâm thức con người, và, ví dụ như, dẫn tới việc sử dụng liên tục thập giá dưới nhiều hình thức đa dạng của nó. Hai biểu tượng vào thời điểm này đang mang hình thức là cơ sở của nền văn minh sắp tới. Đây là hoa sen và ngọn đuốc rực lửa. Do đó có sự xuất hiện thường xuyên của hai biểu tượng này trong đời sống thiền định và cuộc sống mơ mộng của những người chí nguyện của thế giới.
  3. Những giấc mơ đó vốn là những trình bày mang tính biểu tượng của giáo lý được những người chí nguyện và các đệ tử tiếp nhận trong thời gian ngủ trong Phòng Học Tập ở phân cảnh cao nhất của cõi cảm dục, và trong Phòng Minh Triết trên cõi trí. Trong Phòng thứ nhất là Phòng cao nhất mà nhân loại đã học qua kinh nghiệm Atlantis và trong thế giới của ảo cảm. Nhờ những điều này, sự lựa chọn sáng suốtthể được phát triển. Phòng Minh Triết tiêu biểu cho giáo lý mà hai giống dân sắp tới sẽ phát triển và khai mở, và do đó huấn luyện đệ tử và điểm đạo đồ.

Vì thế tôi không thể làm gì nhiều hơn là chỉ ra bản chất của ba kinh nghiệm trí tuệ cơ bản này, các kinh nghiệm này tìm cách vào đời sống giấc mơ của con người trên cõi trần. Chúng được y biểu lộ dưới hình thức của những giấc mơ được hiểu, công việc sáng tạo, và sự biểu lộ những lý tưởng đang kiến tạo tâm thức con người.

[Trang 507]

5. Các giấc mơ là các ghi chép của công việc được thực hiện. Người chí nguyện xúc

tiến hoạt động này vào ban đêm và khi ra khỏi cơ thể, và nó được thực hiện 

  1. Trong ranh giới giữa cõi cảm dụccõi trần.
  2. Trong cái gọi là “Vùng Đất Mùa Hè” (“Summerland”), trong đó toàn bộ sự sống mong muốn của nhân loại ở trung tâm và tất cả mong muốn của nhân loại khoác lấy hình tướng.
  3. Trong thế giới của ảo cảm vốn là một phần của cõi cảm dục, hiện thân của quá khứ xa xưa, nuôi dưỡng đời sống dục vọng của hiện tại, và biểu thị bản chất của đời sống dục vọng trong tương lai trước mắt. 

Các giai đoạn và các phạm vi hoạt động này có bản chất rất thực. Những người chí nguyện thành công trong việc hoạt động với bất kỳ mức độ tâm thức nào trên cõi cảm dục đều bận rộn, ở một phân cảnh nào đó, với một hình thức hoạt động hay công việc có tính xây dựng nào đó. Hoạt động này, được thực hiện một cách ích kỷ (vì nhiều người chí nguyện còn ích kỷ) hoặc được tiến hành một cách vị tha, cấu thành phần lớn vật liệu của nhiều cái gọi là những giấc mơ, được hiểu bởi công dân thông minh bình thường. Chúng không cần có sự quan tâm, hoặc sự giải thích được áp dụng một cách bí ẩn, hoặc việc làm sáng tỏ có tính biểu tượng nhiều hơn so với các hoạt động hiện tại và các biến cố của đời sống hằng ngày khi được tiếp tục trong tâm thức tỉnh thức trên cõi trần. Chúng có ba loại:

  1. Hoạt động của chính bệnh nhân khi trong giấc ngủ được giải phóng khỏi thể xác.
  2. Sự quan sát của y đối với các hoạt động của người khác. Y thường chiếm riêng những điều này một cách thiếu thiện ý và hoàn toàn sai lầm cho y,

vì xu hướng xem bản ngã là trung tâm của tâm trí con người trung bình.

[509]

  1. Huấn thị được ban cho y bởi những người chịu trách nhiệm đối với sự khai mở và huấn luyện y.

Thể loại của những giấc mơ này đang trở nên ngày càng phổ biến khi sự chỉnh hợp của thể cảm dụcthể xác  được hoàn thiện và sự liên tục tâm thức đang dần phát triển. Hoạt động này bao hàm hoạt động tôn giáo, sinh hoạt tình dục trong nhiều giai đoạn của nó (vì không phải tất cả là vật chất, mặc dù tất cả chúng đều được liên kết với vấn đề về những sự đối cực và tính nhị nguyên cơ bản của sự biểu lộ), hoạt động chính trị, hoạt động sáng tạo và nghệ thuật, và nhiều hình thức biểu lộ khác của con người. Chúng cũng có nhiều loại và đa dạng như những giấc mơ mà trong đó nhân loại thỏa mãn trên cõi trần; chúng là nguồn gốc của nhiều sự nhầm lẫn trong thể trí  của nhà tâm lý học, và cần sự xem xét và phân tích cẩn thận nhất.

  1. Các giấc mơ viễn cảm. Những giấc mơ này chỉ là việc ghi lại trên ý thức não bộ hồng trần những sự kiện có thật được truyền bằng thần giao cách cảm từ người này sang người khác. Một người bạn hay họ hàng nào đó trải qua một kinh nghiệm nào đó. Người này tìm cách chuyển nó cho bạn bè của y hoặc – tại thời điểm của cuộc khủng hoảng – y nghĩ một cách mạnh mẽ về người bạn của y. Điều này được ghi lên thể trí của người bạn, nhưng thường chỉ được phục hồi trong thời gian ngủ và nhớ lại vào buổi sáng như một kinh nghiệm cá nhân riêng của một người. Nhiều giấc mơ được hiểu như là những ghi nhận về những kinh nghiệm của những người khác mà một người trở nên biết được và đang chiếm nó cho y trong sự chân thật.

Bây giờ chúng ta đến một nhóm những giấc mơ vốn là một phần kinh nghiệm của những người đã thực hiện một sự tiếp xúc với linh hồn rõ rệt, 

và đang trong quá trình thiết lập một liên kết chặt chẽ với thế giới linh hồn. “Những sự vật trong vương quốc của Thượng Đế” đang mở ra trước mắt họ và những hiện tượng, những diễn biến, những ý tưởng, sự sống và kiến thức về lĩnh vực linh hồn đang được ghi nhận với sự chính xác ngày càng tăng trong thể trí. Từ thể trí, chúng đang được chuyển tới hoặc ghi khắc vào các tế bào não. Do đó chúng ta có:

  1. Các giấc mơ là sự kịch hóa. Loại giấc mơ này là một sự trình diễn mang tính biểu tượng của linh hồn nhằm mục đích đưa ra hướng dẫn, cảnh báo hoặc mệnh lệnh cho khí cụ của nó, là con người, trên cõi trần. Những giấc mơ đầy kịch tính hoặc có tính biểu tượng đang trở nên ngày càng nhiều trong trường hợp những người tầm đạo và các đệ tử, nhất là trong giai đoạn đầu của sự tiếp xúc với linh hồn.

Chúng có thể tự thể hiện trong thời gian ngủ và cũng trong khoảng thời gian thiền định. Chỉ có chính bản thân người này, từ sự hiểu biết về chính y, có thể giải thích đúng đắn loại những giấc mơ này. Bạn cũng sẽ thấy rõ ràng loại cung của linh hồn và của phàm ngã sẽ xác định phần lớn loại biểu tượng hay bản chất của sự kịch hóa được sử dụng. Do đó, điều này phải được xác định bởi nhà tâm lý học trước khi sự giải thích có thể được đưa ra một cách thông minh và chứng tỏ là hữu ích.

  1. Các giấc mơ liên quan với công việc tập thể. Trong loại giấc mơ này, linh hồn huấn luyện hoặc làm cho hiện thể của nó, là phàm ngã, phù hợp với hoạt động tập thể. Loại giấc mơ này cũng là tương ứng cao của những giấc mơ được đề cập đến dưới tiêu đề thứ năm của chúng ta. Hoạt động tập thể được bao hàm lần này không phải được thực hiện trên ba cõi biểu lộ của con người, mà trong thế giới của sự sống linh hồn và kinh nghiệm linh hồn. Những kiến thức và mục đích của linh hồn được bao hàm; hoạt động trong một nhóm của Chân Sưthể được ghi nhận và được coi là một giấc mơ, mặc dù thực tại và sự kiện có tính hiện tượng một cách cơ bản của nó. Các thực tại của vương quốc của Thượng Đếthể trong một lúc thấm qua vào trong ý thức của não bộ trong hình thức của những giấc mơ. Phần lớn các kinh nghiệm được ghi lại trong các tác phẩm thần bí trong vài thế kỷ qua ở phương Tây, nằm trong thể loại này. Đây là một điểm đáng xem xét cẩn thận.

[Trang 510]

9. Các giấc mơ là những ghi chép các huấn thị. Loại giấc mơ này thể hiện của giáo

lý được một Chân Sư đưa ra cho đệ tử nhập môn của Ngài. Tôi sẽ không đề cập tới những giấc mơ này. Khi một người có thể nhận được những huấn thị một cách hữu thức, hoặc là vào ban đêm khi ra khỏi cơ thể, hoặc trong khi thiền định, y phải học cách hướng chúng một cách chính xác từ thể trí đến não bộ và giải thích chúng một cách chính xác. Chúng được Chân Sư truyền đạt tới linh hồn của người này. Bấy giờ linh hồn khắc sâu chúng vào thể trí, vốn đã được giữ ổn định trong ánh sáng, và rồi thể trí, đến lượt nó, trình bày chúng thành các hình tư tưởng và sau đó các hình tư tưởng được phóng xuống vào não bộ đang yên lặng chờ đợi. Như vậy sự đáp ứng của y và việc sử dụng chính xác của y đối với giáo lý được truyền đạt sẽ tùy vào sự phát triển trí tuệ và các lợi thế giáo dục của đệ tử.

  1. Các giấc mơ được kết nối với kế hoạch trên thế gian, là kế hoạch của thái dương hệ, và kế hoạch vũ trụ. Những giấc mơ này có thể từ bộ não điên khùng và những kinh nghiệm được ghi lại của những người thiếu cân bằng trí tuệ đến giáo lý thông thái và và có cân nhắc của các các Bậc Trí Giả của Thế giới. Giáo lý này được truyền cho các đệ tử trên thế gian và có thể được họ xem hoặc như là một lời phát biểu đầy cảm hứng, hoặc là một giấc mơ với một ý nghĩa sâu sắc. Nên nhớ rằng trong cả hai trường hợp (người thiếu cân bằng trí tuệ và vị đệ tử lão luyện) có tồn tại một tình trạng tương tự; có một đường trực tiếp từ linh hồn đến não bộ. Điều này đúng với cả hai loại người. Những giấc mơ hoặc huấn thị được ghi lại biểu thị một giai đoạn cao của sự thăng tiến trong tiến hóa.

——————————————————————————————————–

Một sự xem xét tất cả các điều ở trên sẽ chỉ ra cho bạn sự phức tạp của chủ đề. Môn sinh hời hợt hoặc người có khuynh hướng thần bí dễ cảm thấy rằng tất cả những thuật ngữ chuyên môn này có tầm quan trọng thứ yếu. Lời buộc tội thường được đưa ra rằng “biệt ngữ” của huyền bí học và thông tin có tính học thuật của nó không có tầm quan trọng thực sự liên quan đến tri thức thiêng liêng. Người ta tuyên bố rằng không cần biết về [Trang 511] các cõi và các phân cảnh ý thức khác nhau của chúng, hoặc về Luật Tái Sinh và Luật Thu Hút; đó là một gánh nặng không cần thiết lên thể trí con người khi nghiên cứu nền tảng kỹ thuật cho một niềm tin ở Tình Huynh Đệ, hoặc khi xem xét nguồn gốc xa của chúng ta và tương lai có thể có của chúng ta. Tuy nhiên, thể là nếu các nhà thần bí qua nhiều thời đại đã nhận ra những chân lý này, thì chúng ta có thể đã có một thế giới được quản lý tốt hơn. Chỉ là ngày nay, những mãnh lực đang được khởi động đó sẽ dẫn đến một sự hiểu biết đúng hơn về gia đình nhân loại, một sự hiểu biết khôn ngoan hơn về khí cụ của con người, và do đó, đến một nỗ lực để đưa sinh hoạt của con người phù hợp với các chân lý tinh thần cơ bản. Tình trạng đáng tiếc của thế giới ngày nay không phải là một kết quả của sự khai mở trí tuệ của con người như thường được tuyên bố, mà đó là việc thực hiện những hậu quả bất di bất dịch của những nguyên nhân có nguồn gốc trong quá khứ của giống dân Arya.

Điều tốt có thể đến từ điều ác, những hậu quả xấu của sự lười biếng trí tuệ của con ngườithể được chuyển hóa thành những phạm vi giảng dạy trong tương lai, và nhân loại bây giờ đủ thông minh để học hỏi minh triết, sẽ là kết quả của việc phổ biến rộng rãi các chân lý học thuật của giáo bí truyền và sự giải thích đúng đắn của nó bởi những thể trí lão luyện ở phương Tây. Phương Đông đã có giáo lý này nhiều thời đại và đã tạo ra rất nhiều bài bình luận về nó – công việc của những thể trí phân tích tinh tế nhất mà thế gian đã từng thấy – nhưng nó đã không tạo nên việc sử dụng đại chúng đối với kiến thức đó, và dân chúng ở phương Đông nói chung không lợi dụng được nó. Ở phương Tây sẽ khác và điều đó đã đang sửa đổi và ảnh hưởng đến tư tưởng của con người trên một quy mô lớn; nó đang thấm nhuần cấu trúc của nền văn minh của chúng ta và cuối cùng sẽ cứu rỗi nó. Tuy nhiên, đừng sợ các thuật ngữ chuyên môn của minh triết mà hãy tìm lý do của phản ứng không mong muốn chống lại chúng trong tính trì trệ tiềm tàng của thể trí thần bí, cộng với điều kiện sống thấp kém của toàn bộ nhân loại.

Điều này đưa tôi đến một điểm mà tôi muốn bàn về nó: đó [Trang 512] là tình trạng suy nhược phổ biến vốn đang ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến toàn thể nhân loại. Sức sống vật chất của các giống dân thì thấp, hoặc nó đang được giục chạy tới một tình trạng tốt hơn bằng việc áp đặt tư tưởng được đặt để. Thay vì rút ra các nguồn sinh khí, được lưu trữ trong đất, trong thực phẩm, không khí trong lành và các tình trạng chung quanh bên ngoài, người ta đang bắt đầu rút nó từ chính thể dĩ thái nhờ hiệu quả kích thích của hai việc: các ý tưởng, khi chúng được trình bày cho họ, do đó chỉnh hợp thể trí và não bộ, và nhân đó kích thích thể dĩ thái; sự thúc đẩy hay sự tiếp xúc của đại khối quần chúng vốn xoay chuyển đơn vị đi theo với ý định quần chúng và do đó, mở ra cho y các nguồn lực lớn của ý định quần chúng. Điều này cho phép y nuôi thể dĩ thái của y ở trung tâm năng lực dĩ thái chung. Điều này có thể được thấy xảy ra trong giai đoạn đầu của nó trong mỗi nước một cách thực tế. Tuy nhiên, trong thời gian chuyển tiếp, giữa việc thiết lập thiết bị chức năng để khai thác tùy ý các nguồn kích thích sinh động bên trong và việc thay đổi các điều kiện cũ, đại khối quần chúng bị bỏ mặc không có nguồn nuôi dưỡng có sẵn để giúp đỡ của họ. Do đó, họ bị suy kiệt, đầy sợ hãi, và không thể làm gì hơn là sẵn sàng và hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ tiếp theo.

Chính trong trạng thái tạm thời này mà sự khó khăn hoàn toàn của tình trạng suy nhược có thể được cảm nhận, và chính vào thời điểm này mà Thánh Đoàn đang đối đầu với một trong những vấn đề lớn. Làm thế nào sức sống của gia đình nhân loại có thể được phục hồi? Làm thế nào niềm vui sống xưa kia, sự sắc bén tinh thần và hoạt động dễ dàng vốn đã làm nổi bật các giống dân cổ xưa trong các giai đoạn đầu của nền văn minhthể được phục hồi và nhân loại có thể mất đi sự suy nhược và sự bất hạnh của nó?

Toàn bộ luận điểm này là mặt trái của các vấn đề về sự kích thích vốn tạo thành sự khó khăn chủ yếu của đời sống thần bí. Chúng ta sẽ đề cập đến những điều này sau này. [Trang 513]

Chưa có giải pháp bao trùm chung nào xuất hiện. Nhưng chắc chắn nó sẽ có, và khi đó nó sẽ là kết quả trực tiếp của hoạt động của Nhóm Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đó sẽ là một quá trình chậm chạp, vì nhân loại đang bước vào những gì có thể được coi là một thời kỳ dưỡng bệnh lâu dài. Nó sẽ được mang lại theo ba cách:

  1. Việc phát hiện ra các nguồn lực chưa được sử dụng và các nguồn tích trữ sức mạnh quan trọng, tiềm tàng trong chính con người.
  2. Việc phổ biến các chân lý như là tiềm năng thiện chí của các thành viên của Nhóm Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Năng lực hàn gắn của những nhận thức như thế thật là bao la.
  3. Một số tiềm lực và các mãnh lực bên ngoài mà các Thành Viên cao cấp của Thánh Đoàn hiện nay đang trong tiến trình kêu cầu cho sự trợ giúp nhân loại.

——————————————————————————————————–

Các tác động của bảy cung năng lượng lên con người 

Bây giờ chúng ta đến một trong những phần có giá trị nhất và thiết thực nhất trong việc nghiên cứu của chúng ta về các tác động của bảy cung năng lượng khi chúng làm cho sự hiện diện của chúng được cảm thấy trong đơn vị nhân loại, và đặc biệt là khi chúng ảnh hưởng đến người chí nguyện, đệ tử và nhà thần bí. Trong ba thập kỷ qua, nhiều điều đã được viết về bệnh lý của nhà thần bí và các rối loạn sinh lý đi kèm với trải nghiệm thần bí; nhiều điều cũng đã được nghiên cứu liên quan đến những đặc điểm loạn thần kinh vốn thường xuyên được nhận thấy trong người được an trụ về mặt tinh thần (spiritually polarised), và các tình trạng không thể giải thích vốn dường như tồn tại – về mặt trí tuệ, tình cảm và thể xác – cùng với kiến thức tâm linh sâu sắc, các hiện tượng huyền bí rõ rệt, và hoài bão cao đối với sự tiếp xúc thiêng liêng. Những tình trạng này đang gia tăng một cách cực kỳ nhanh chóng. Thí dụ như ngày càng có nhiều người trở thành có nhãn thôngnhĩ thông, và những phản ứng này với sự kích thích và những biểu lộ này của các năng lực bẩm sinh được coi là bằng chứng của sự xáo trộn trí tuệ, của những ảo tưởng [Trang 514] và những ảo giác, và đôi khi của sự điên rồ. Một số chứng thần kinh, đôi khi ảnh hưởng đến hệ thống cơ bắp và các bộ phận khác của thể con người, cuối cùng sẽ được nhận thấy có nguồn gốc của chúng trong sự kích thích quá độ; khi đó thay vì được giải quyết (như hiện nay) bằng quá trình nghỉ ngơi được áp đặt, bằng việc sử dụng các chất gây ngủ, và các hình thức điều trị khác, bệnh nhân sẽ được dạy các phương pháp tự tách biệt mình tạm thời khỏi nguồn sức mạnh thần bí hay tâm linh này; hoặc y có thể được dạy làm thế nào để làm chệch hướng các lực này vốn đang tuôn đổ vào và thông qua các bí huyệt khác nhau, đến các bí huyệtthể xử lý chúng một cách an toàn hơn, do đó tạo ra một sự phân phối năng lượng vững chắc hơn. Y cũng sẽ được dạy làm thế nào để sử dụng chúng một cách hiệu quả trong việc phụng sự bên ngoài. Các hình thức viêm thần kinh và viêm dây thần kinh sẽ được coi là những triệu chứng của việc sử dụng sai năng lượng có sẵn trong các thiết bị của con người hay sự chú trọng quá mức vào nó. Chúng ta sẽ khám phá ra các nguồn gốc của một số rối loạn và thấy rằng khó khăn nằm trong các bí huyệt vốn ở gần các cơ quan cụ thể trong cơ thể mà bề ngoài có vẻ phải chịu trách nhiệm cho sự rắc rối. Điều này là đúng một cách đáng chú ý khi đề cập đến một số hình thức của bệnh tim và những căng thẳng của não bộ, và, tất nhiên, mọi trường hợp của chứng tăng huyết áp. Nó cũng đúng trong mối liên quan đến sự trao đổi chất của cơ thể vốn có thể bị ném một cách nghiêm trọng ra khỏi sự cân bằng bởi sự kích thích quá mức của bí huyệt cổ họng, với các tác động xấu tương ứng lên tuyến giáp trạng – tuyến chủ yếu có liên quan đến việc chuyển các lực khác nhau (có trong cơ thể) lên đầu. Có hai bí huyệt chính được kết nối rõ rệt với sự kiện chuyển di này:

  1. Bí huyệt nhật tùng là bí huyệt chuyển di cho tất cả các lực ở dưới cơ hoành lên các bí huyệt trên cơ hoành. [Trang 515] 
  2. Bí huyệt cổ họng, là bí huyệt chuyển di cho tất cả các lực ở trên cơ hoành vào hai bí huyệt đầu.

Sẽ là tốt để ghi nhớ rằng có ba khía cạnh được kết nối với toàn bộ chủ đề này về những bệnh và những khó khăn của cuộc sống thần bí. Những người vốn có liên quan với việc giáo dục và đào tạo trẻ em, hoặc với việc đào tạo bí truyền của các đệ tử và những người chí nguyện trên thế gian nên nghiên cứu vấn đề một cách chu đáo; họ nên cố gắng để hiểu được các nguyên nhân của nhiều bệnh thần kinh và các tình trạng bệnh lý được tìm thấy trong những người tiến bộ của thế giới, cộng với những vấn đề phát sinh từ sự phát triển sớm các quyền năng tâm linh thấp cũng như sự khai mở các khả năng cao siêu. Do đó, vấn đề này bao gồm mọi người ở mọi giai đoạn phát triển, và họ nên cẩn thận xem xét chúng từ quan điểm của hoạt động năng lượng – một việc đã ít được thực hiện cho đến nay.

Việc đầu tiên của ba khía cạnh này có thể được phát biểu như sau: Ở thời điểm này, chúng ta đang chuyển qua một giai đoạn chuyển tiếp trong đó các năng lượng cũ đang đi ra và các ảnh hưởng cung mới đang đi vào. Chúng ta đang chuyển tiếp vào một cung hoàng đạo mới. Do đó, tác động của các lực mới, cộng với sự triệt thoái của các lực cũ, thường tạo ra các hiệu quả được cảm nhận rõ trên nhân loại nói chung, và trên các thần bí gia và người chí nguyện nói riêng, và gây ra những phản ứng nhất định. Về những điều này, chúng ta sẽ bàn vắn tắt khi chúng ta xem xét ảnh hưởng của các cung ngày nay và trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. (Luận Về Bảy Cung, q. III và Vận mệnh Của Các Quốc Gia).

Thứ hai, vấn đề thế giới hiện nay, nỗi sợ hãi và lo lắng sâu xa, và sự đau khổ và đau đớn quá phổ biến, đang tạo ra một kết quả hỗn hợp và hai mặt. Hai kết quả này (với tất cả các giai đoạn trung gian của chúng) là–

  1. Sự hướng ngoại của tâm thức quần chúng.
  2. Sự hướng nội rõ rệt của cá nhân.

Do đó, có một hiệu ứng quần chúng và một hiệu ứng cá nhân và hai hiệu ứng này phải được ghi nhớ cẩn thận hơn. Tiến trình hướng ngoại này có thể được thấy thể hiện trong tất cả tiếng kêu la và trong sự sôi nổi, và tâm lý thường ồn ào của các phong trào quốc gia và các thử nghiệm lớn, đang xảy ra ngày nay trên khắp thế giới. Đồng thời, các cá nhân trong tất cả các quốc gia này và hầu như trong mỗi vùng đất đang học một sự đàn áp cần thiết (và đôi khi bị ép buộc), việc kiểm soát ngôn luận và các phản ứng kiềm chế khác; rõ ràng họ đang bị quay vào bên trong do lực của các hoàn cảnh và theo một cách mạnh mẽ đến nỗi – nếu bạn có thể thấy tác động của các lực như chúng tôi có thể thấy chúng ở mặt trong – bạn sẽ trở nên nhận thức hai phong trào lớn này đang được tiến hành trong ba cõi nỗ lực của con người, như thể họ đang chống đối các dòng lực:

  1. Chuyển động hướng ngoại hay sự thể hiện ra bên ngoài của các năng lượng
lớn mà tâm thức quần chúng đang đáp ứng. Điều này đang được điều khiển hoặc

bị ép buộc thông qua hoạt động của năng lượng cung một. Do đó, phần lớn năng lượng đó sẽ được tìm thấy trong lĩnh vực chính trị và trong lĩnh vực của ý chí đại chúng. Trong những giai đoạn đầu này, chúng ta đang chứng kiến sự đáp ứng của ý chí quần chúng đó; ý chí này cho đến nay thì thiếu thông minh, còn phôi thai, linh động và dễ dàng bị áp đặt bởi ý chí điều khiển của một nhóm trong bất cứ vùng lãnh thổ nào, nhóm này có thể chứng tỏ đủ năng lực để chiếm được sự chú ý của quần chúng. Điều này đôi khi cũng có thể được thực hiện bởi một phàm ngã nổi trội và mạnh mẽ. Kết quả chung cuộc – từ quan điểm có tầm nhìn xa – là việc mang lên bề mặt cái tâm thức quần chúng bị che giấu và chìm đắm sâu xa, một mãnh lực im lặng, cho đến nay chưa được biểu lộ và chưa được định hướng, và tuy vậy là một tiềm năng trong sự sống hành tinh. [Trang 517]

  1. Chuyển động hướng nội hay “việc chuyển vào bên trong” của tâm thức thông minh (lúc này không phải là tâm thức quần chúng) của tất cả những người nam và nữ trong thế giới ngày nay mà thể trí của họ đang thức tỉnh và họ có thể hoạt động tích cực và sáng tạo trên ba cấp độ nhận thức của con người.

Chính chuyển động kép này – hướng ngoạihướng nội – là nguồn gốc của phần lớn các cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay. Tác động của việc “kéo” theo hai hướng này đang có ảnh hưởng nghiêm trọng lên những cá nhân nhạy cảm. Họ bị kéo theo hai hướng: hướng ngoại bởi sự lôi kéo của tâm thức quần chúng, và bởi mãnh lực của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của nhân loại; hướng nội bởi sự lôi kéo của thế giới của các giá trị cao siêu, bởi giới linh hồn, bởi công việc có tổ chức của Thánh Đoàn thiêng liêng, được hỗ trợ bởi ý thức tôn giáo lâu đời.

Các nhà tâm lý học sẽ hoạt động tốt khi nghiên cứu các bệnh nhân của họ từ góc độ của hai năng lượng khác nhau này. Do đó họ sẽ hóa giải xu hướng chia rẻ vốn là một trong những nỗi lo âu lớn của những người Phụng Sự  tinh thần vào thời điểm này. Trong sự cố gắng và căng thẳng của cuộc sống hiện đại, người ta thường nghĩ rằng nhiệm vụ chủ yếu và trách nhiệm quan trọng nhất là làm cho cuộc sống có thể chịu đựng được hơn và do đó dễ dàng hơn cho nhân loại sống. Đối với Thánh Đoàn tinh thần của hành tinh chúng ta, nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ nhân loại, sao cho khi giai đoạn chuyển tiếp đã qua, và các mãnh lực đang triệt thoái ảnh hưởng của chúng đã chấm dứt hoàn toàn một ảnh hưởng lên nhân loại, sẽ có sự hợp nhất và không có sự chia rẻ nào tìm thấy trên thế giới. Vì vậy, giới Thần Thánh và giới nhân loại sẽ được hợp nhất nhanh chóng thành một biểu lộ có biểu hiện kép. Các lực đang đi vào bấy giờ sẽ được ổn định và âm điệu của nó sẽ được nghe rõ.

[3] Yếu tố thứ ba được xem xét bởi người đang làm việc hướng tới hạnh phúc của đồng loại của y, đó là việc nghiên cứu các [Trang 518] tác dụng của các lực mới đang đi vào lên bộ máy hiện tại của con người. Điều này chưa được thực hiện, nhưng là một nhân tố quyết định trong sự phát triển thành công của đơn vị nhân loại. Do đó, nó có tầm quan trọng sống còn đối với các nhà giáo dục, các nhà tâm lý học, các phụ huynh và các nhà huyền bí học. Tuy nhiên, cho đến nay không có sự nhận thức thực sự về thực tế và tính cấp bách của các lực đang đi vào này, cũng không có bất kỳ sự đánh giá nào về tiềm năng của các năng lượng phát ra từ

  1. Các cung hoàng đạo mà chúng ta hiện đang chuyển vào.
  2. Hiệu quả của mối quan hệ hiện có giữa các lực phát ra từ cung Bảo Bìnhcung Hải Sư (Leo) vốn là đối cực của nó, và do đó, có liên quan mật thiết với nó. Sự tương tác của hai cung ở thời điểm này chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của các phong trào nhân loại vĩ đại và hiện đại liên quan đến một số lượng lớn con người và được sắp đặt thường là do một phàm ngã nổi trội nào đó. Nó cũng chịu trách nhiệm cho chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ vốn đang biểu lộ trong mỗi bộ phận của đời sống con người ngày nay.
  3. Tác động của những ảnh hưởng hoàng đạo mới lên mười một cung khác. Đây là một chủ đề thú vị nhất và là một chủ đề ít được xem xét. Uy lực của cung Bảo Bình (vốn đang trở nên ngày càng trở nên chiếm ưu thế với mỗi thập kỷ) sẽ có tác dụng gì trên một người hay một quốc gia được chi phối bởi cung Kim Ngưu (Taurus), chẳng hạn, hoặc bởi cung Nhân Mã (Sagittarius), hoặc Song Ngư? Trong các thế kỷ tới, khía cạnh này của khoa học chiêm tinh sẽ có tầm quan trọng rõ rệt, và sẽ được xem xét bởi những người chịu trách nhiệm đối với việc nuôi dạy và giáo dục trẻ em trong suốt nhiều thế kỷ tới. Nó sẽ là một trong những chủ đề quan trọng nhất được bàn đến trong mọi hệ thống phục vụ tâm lý và huyền bí cho nhân loại, và cuối cùng sẽ [Trang 519] gây ra một sự tái tổ chức các phương pháp được sử dụng cập nhật để hỗ trợ và giải phóng con người.

Chúng ta sẽ cố gắng làm sáng tỏ điều này với vai trò là một trong những mục trong Tập III của Bộ Luận Về Bảy Cung, và nó sẽ đóng góp một cách tiếp cận hoàn toàn mới.

  1. Tác dụng của mối quan hệ trong bảy cung với các mãnh lực hoàng đạo. Nên nhớ rằng có một sự tương tác chặt chẽ giữa bảy cung và mười hai cung hoàng đạo.

Một nhiệm vụ khác của nhà tâm lý học là điều tra tác dụng hoặc mối quan hệ của  bảy bí huyệt, vốn sẽ được tìm thấy trong thể con người, trong đối phần dĩ thái của thể xác. Nhiều căn bệnh về thể chất hiện đại và một số lượng lớn các tình trạng tâm lý không mong muốn bấy giờ sẽ được truy nguyên tới nguồn gốc thực sự của chúng. Đây là sự kích thích quá mức, cộng với sự kém phát triển, của những trung tâm năng lượng được tìm thấy trong bộ máy của con người và được kết nối chặt chẽ với hệ thống nội tiết. Đây là một phần của Khoa Học Về Nhân Loại mới.

Bạn sẽ thấy từ phần trên thì chủ đề của chúng ta rộng lớn và phức tạp như thế nào. Tôi sẽ không thể làm gì nhiều hơn là khái quát hóa, và chỉ ra lối tới những con đường khoáng đạt nào đó, hoặc những đường lối điều tra mà môn sinh hiện đại và nhà khoa học nên theo. Tôi cũng muốn nhắc nhở bạn là vấn đề của con người về bản chất và về cơ bản là vấn đề ý thức hay nhận thức. Năm khía cạnh của của con người –  1. Thể xác.

  1. Thể sinh khí hay dĩ thái.
  2. Thể cảm dục.
  3. Thể trí.
  4. Linh hồn thể hay hoa sen chân ngã,

về cơ bản chỉ là những cánh cửa mở vào tổng thể lớn hơn mà [Trang 520] đơn vị cá nhân là một phần trong đó. Chúng đặt con người vào mối quan hệ với biểu hiện và biểu lộ thiêng liêng theo cùng một cách mà năm giác quan của y đặt y tiếp xúc với thế giới hữu hình, và như vậy khiến y chia sẻ sự sống chung.

Nhiều vấn đề hiện tại của chúng ta (phát sinh từ đời sống thần bí hay tinh thần) và một số lượng lớn các khó khăn tâm lý của chúng ta được kết nối với thực tế này. Nhiều người cũng quá phát triển theo một trong những chiều hướng này và do đó, (thông qua sự nhạy cảm đã phát triển của một khía cạnh nào đó của một khí cụ tiếp xúc ngũ phân), y trở nên ý thức về một lĩnh vực tâm thức và về các trạng thái ý thức mà y không có khả năng giải quyết, do việc kém phát triển về thể trí của y và việc thiếu sự tiếp xúc với linh hồn.