Các Vấn đề Chia Rẽ (Cleavage)

Các vấn đề Tâm lí học – Phần 2

  1. Các Vấn đề Chia Rẻ (Cleavage) <Trang 415.437> …………………………….. 1

Sự thiếu kết hợp hay sự chia rẻ giữa thể xácthể dĩ thái: những hậu quả………….. 3

Vấn đề của sự ám ảnh …………………………………………………………………………. 4

Ý nghĩa thực sự của sự chia rẻ …………………………………………………………….. 5

Các vấn đề tâm lí là sự tương tác giữa các lực với nhau ……………………….. 8

Tâm lí học nội môn cần có một hệ thống thuật ngữ mới …………………….. 8

Ba sự chia rẻ chính ……………………………………………………………………………… 9

Những qui luật và tiên đề trong việc giải quyết vấn đề chia rẻ………….. 10

Quá trình tương tác giữa các năng lượng………………………………………….. 12

Quá trình này cần có thời gian qua nhiều kiếp sống – sự hữu ích của việc

thấu hiểu Luật Luân Hồi ………………………………………………………………………… 13

Sự tích hợp hoạt động song hành với sự phát triển của hệ thống luân xa…….. 13

Những giáo lý được truyền dạy về Định luật Luân Hồi đã quá nhấn mạnh về khía cạnh hình tướng thay vì khía cạnh linh hồn ………………………… 14
Các yếu tố của con người cần được xem xét…………………………………………… 15

Bốn loại chia rẻ ……………………………………………………………………………………… 16

a. Các Vấn đề Chia Rẻ (Cleavage) <Trang 415.437>

Các nhà tư tưởng ngày nay đang nhận thức loại đặc biệt khó khăn này, và nhận thấy những sự chia rẻ trong bản chất con người quá phổ biến và quá vững chắc trong chính cấu tạo của chính nhân loại, [Trang 416] đến nỗi họ đang xem xét tình hình với nhiều quan tâm. Những sự chia rẻ này có vẻ cơ bản, và tạo ra những phân chia mà chúng ta thấy ở khắp mọi nơi giữa chủng tộc này với chủng tộc khác, và giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, và có thể được truy trở lại tới tình trạng biểu lộ cơ bản mà chúng ta gọi là mối quan hệ của điều tích cực và tiêu cực, của nam và nữ, và nói theo nội môn thì là của mặt trờimặt trăng. Chính bí ẩn của tình dục được gắn liền với sự tái lập ý thức nhất nguyên và tái lập sự cân bằng, tính đồng nhất hoặc tính tổng thể. Trong khía cạnh con người cao cả của nó, sự phân biệt giới tính này chỉ là biểu tượng hoặc biểu hiện thấp nhất của sự chia rẻ hoặc sự phân cách mà nhà thầný thức và khiến cho y tìm kiếm sự nhất quán hoặc sự hợp nhất với những gì mà y gọi là thiên tính. Giữa sự chia rẻ vật lý này và sự nhận thức tinh thần về thiên tính này, có một số lượng lớn các chia rẻ thứ cấp mà con người bắt đầu biết được.

Đằng sau tất cả điều này, người ta sẽ tìm thấy một sự chia rẻ còn cơ bản hơn – là sự chia rẻ giữa giới nhân loại và giới linh hồn – một sự chia rẻ trong tâm thức hơn là trong thực tế. Sự chia rẻ giữa giới động vật và giới nhân loại đã được giải quyết chủ yếu thông qua việc công nhận sự đồng nhất về vật chất của bản chất động vật và sự thống nhất trong sự biểu lộ của tính chất bản năng.

Trong gia đình nhân loại, những sự chia rẻ khác nhau mà con người ý thức một cách đầy đau khổ sẽ được khắc phục và được chấm dứt khi thể trí được huấn luyện để kiểm soát và thống trị trong lĩnh vực của phàm ngã, và được sử dụng một cách chính xác như một yếu tố phân tích, tích hợp, thay vì như một yếu tố

chỉ trích, phân biệt đối xử, chia rẻ.  Việc sử dụng đúng đắn trí tuệ là cần thiết để

hàn gắn những sự chia rẻ của phàm ngã.    

Sự chia rẻ giữa phàm ngãlinh hồn được giải quyết bằng việc sử dụng đúng đắn: [Trang 417] 

  1. Ý thức bản năng về thiên tính dẫn đến sự tái định hướng theo đúng hướng. Điều này dẫn đến–
  2. Việc sử dụng thể trí một cách khôn ngoan để nó trở nên ý thức một cách hữu thức linh hồn và các định luật chi phối sự khai mở linh hồn.
  3. Sự nhận thức trực giác về thực tại, điều này chuyển những phần tử bị biến phân thành một đơn vị, tạo ra sự giác ngộ.
  4. Sự giác ngộ này tiết lộ sự đồng nhất cơ bản vốn tồn tại ở mặt trong của sự sống và phủ nhận vẻ bề ngoài của sự chia rẻ.

Vì vậy, đối với bạn, hiển nhiên là những sự chia rẻ được “chữa trị” bởi việc sử dụng đúng đắn và khôn ngoan khía cạnh phẩm tính của bản chất hình tướng:

  1. Bản năng nhận ra bản chất vật chất tự động, hiện thể sinh khí hay sự sống và bản chất dục vọng. Nó hoạt động thông qua tùng thái dương và các cơ quan sinh sản.
  2. Trí thông tuệ nhận ra khía cạnh trí tuệ hay thể trí, và hoạt động thông qua cơ quan thu nhận và phân phối thông tin là não bộ, và qua các bí huyệt Ajna và cổ họng.
  3. Trực giác nhận ra bản chất linh hồn, và nó hoạt động qua thể trí, bí huyệt tim và bí huyệt đầu. Từ ba điểm chính này, cuối cùng linh hồn sẽ chi phối phàm ngã.

Tôi giới thiệu những ý tưởng này để bạn xem xét cẩn thận và đảm bảo với bạn rằng khi được hiểu đúng, chúng sẽ hỗ trợ giải pháp cho các vấn đề liên quan đến các sự chia rẻ khác nhau trong bản chất con người.

Sự thiếu kết hợp hay sự chia rẻ giữa thể xácthể dĩ thái: những hậu quả

Ngày nay, không có sự chia rẻ nào được tìm thấy giữa thể sinh khíthể xác. Đôi khi chỉ có một sự chia rẻ một phần và những gì người ta có thể gọi là một “sự kết nối lỏng lẻo”. Hai dòng năng lượng sinh động – sự sống và tâm thức – [Trang 418] thường được neo vào đầu và tim. Tuy nhiên, trong trường hợp của một số hình thức ngu ngốc, dòng tâm thức không được neo chút nào trong cơ thể, mà chỉ có dòng sự sống đã thực hiện sự tiếp xúc của nó trong tim. Do đó, không có ngã thức, không có quyền năng kiểm soát được tập trung, và không có khả năng điều khiển hành động hoặc khả năng cung cấp một chương trình hay kế hoạch sống, theo bất cứ cách nào. Chỉ có sự đáp ứng với các khía cạnh của tính chất bản năng.

Một số hình thức của bệnh động kinh là do những gì mà chúng ta có thể gọi là “một sự kết nối lỏng lẻo”, dòng tâm thức hay tuyến năng lượng thỉnh thoảng chịu sự rút lui hoặc sự trừu xuất, và điều này tạo ra các triệu chứng động kinh quen thuộc và các tình trạng đau đớn được thấy trong cơn thông thường. Ở một mức độ thấp hơn, và không tạo ra các kết quả nguy hiểm thường trực, nguyên nhân cơ bản giống nhau tạo ra cái gọi là “chứng động kinh ở trẻ em” và một số kiểu cơn ngất; những tình trạng này bị gây ra bởi sự rút lui ngắn ngủi và tạm thời của tuyến năng lượng tâm thức. Nên nhớ rằng khi sự rút lui này diễn ra và có sự tách biệt của tâm thức ra khỏi hiện thể tiếp xúc hữu thức, tất cả những gì chúng ta hiểu bằng thuật ngữ tâm thức—như là ngã thức, dục vọng và trí thông tuệ— được trừu xuất, và chỉ có sự sống và ý thức vốn có trong các tế bào của thể xác còn lại.

Tuy nhiên, như một quy luật, người trung bình hiện nay là một đơn vị hoạt động được đan kết chặt chẽ. (Điều này là đúng cho dù người đang xem xét là đám quần chúng kém tiến hóa, hoặc các công dân có tâm trí duy vật của thế giới). Y được tích hợp vững chắc về mặt thể chất, dĩ thái và tình cảm. Thể xác, thể sinh lực và bản chất dục vọng của y (vì cảm xúc chỉ được biểu lộ là một loại ham muốn nào đó hay một loại khác) được đan kết chặt chẽ. Đồng thời có thể có một điểm yếu trong sự tích hợp thể dĩ thái, có bản chất là có một sinh khí thấp, thiếu các xung lực ham muốn, không thể biểu lộ các động cơ năng động thích hợp, sự non nớt và [419] đôi khi nỗi ám ảnh hoặc sự chiếm hữu. Thường những gì được gọi là một sự thiếu ý chí và việc gán cho một người là “ý chí yếu ớt” hay “trí tuệ yếu ớt” thực ra không có gì liên quan với ý chí, nhưng thường là kết quả của sự tích hợp mỏng manh này, và sự kết nối lỏng lẻo giữa tâm thức và não bộ vốn làm cho người này tiêu cực đối với các xung động dục vọng vốn thường tuôn qua vào bộ não của y, làm kích động thể xác của y vào một hình thức hoạt động nào đó.

Ý chí, vốn thường tự thể hiện thông qua một chương trình hay kế hoạch được

sắp xếp, khởi nguồn trong thể trí chứ không phải trên các phân cảnh dục vọng

của ý thức, và chương trình này được dựa trên một ý thức điều khiển và một sự định hướng rõ ràng của ý chí tới một mục tiêu được nhận thức, và trong những trường hợp này, đó không phải là nguyên nhân của sự khó khăn. Sự rắc rối này thì đơn giản hơn và có nguồn gốc gần hơn. Việc xử lý những khó khăn này và giải pháp phù hợp của chúng dứt khoát có tính chất vật chất, và sự rắc rối thường được khắc phục bằng cách tăng sức sống của cơ thể, xây dựng thể dĩ thái, nhờ ánh nắng mặt trời, các vitaminn, thực phẩm và tập thể dục, cộng với sự điều trị đúng đắn và làm cân bằng hệ thống nội tiết. Cùng với những đường lối này, ngày nay nhiều công việc đang được thực hiện và các hình thức ít nghiêm trọng của sự chia rẻ dĩ thái đang nhanh chóng nhường chỗ cho sự điều trị. Việc thiếu sức sống, sự non nớt, sự suy nhược dựa trên một sự kết nối sinh khí yếu, và sự thiếu quan tâm vào sự sống (rất thịnh hành vào thời điểm này) sẽ trở nên ít thường xuyên.

Vấn đề của sự ám ảnh

Ở đây, tôi không thể bàn chi tiết về các vấn đề của sự ám ảnh, do sự rút lui về khía cạnh ngã thức của chủ thể ngụ trong cơ thể. Quá trình trừu xuất này chỉ để lại một cái vỏ sinh động, một căn nhà trống. Quá nhiều điều sẽ phải được xem xét đối với một luận đề như thế này. Thật không dễ dàng cho nhà nghiên cứu tâm lý một cách khoa học để chấp nhận tiền đề về sự thay thế tâm thức của một thực thể khác ở [Trang 420] nơi tâm thức của một người đã không thể duy trì liên kết trong não với sự tích cực thích hợp. Nhưng, nói như một người hiểu biết, các trường hợp như vậy thường xuyên xảy ra, dẫn đến nhiều vấn đề của cái gọi là “nhân cách phân tách” (“split personality”), thực tế là việc sở hữu một thể xác cụ thể bởi hai người – một người cung cấp luồng sống (được neo ở tim) và người kia cung cấp luồng ý thức (được neo trong não) và do đó kiểm soát cơ thể, điều khiển các hoạt động của nó, và tự thể hiện thông qua cơ quan ngôn ngữ. Đôi khi sự chiếm hữu này luân phiên giữa hai cá nhân có liên quan. Đôi khi nhiều hơn hai người có liên quan, và một

số người ở khía cạnh bên trong của sự sống sử dụng cùng một thể xác. Bấy giờ

bạn có đa nhân cách. Tuy nhiên điều này là do một điểm yếu rõ rệt trong việc kết nối thể dĩ thái của người cư trú đầu tiên; hoặc mặt khác nó có thể là do sự ghét bỏ của người cư trú đó đối với thể xác; vả lại nó có thể bị gây ra bởi một cú sốc hoặc thảm họa nào đó đột nhiên cắt đứt sự liên kết ý thức, và trong trường hợp sau này thì không có hy vọng phục hồi. Mỗi trường hợp phải được chẩn đoán và xử lý trên sự xứng đáng cá nhân của nó, và tốt nhất là bằng cách giao tiếp trực tiếp với người chủ thực sự khi y “ở trong chính chỗ ở của y”. Hơn nữa, tâm thức của người cư ngụ này đôi khi được định hướng mạnh mẽ theo các hướng khác hơn so với các hướng của sự tồn tại thể xác khiến cho một tiến trình trừu xuất đã diễn ra, với sự tập trung quan tâm ý thức ở nơi khác. Đây là khía cạnh hay sự biểu lộ không mong muốn của cùng một năng lực trừu xuất, năng lực này giúp cho nhà thần bí thấy các linh thị của y và tham gia vào các diễn biến siêu phàm, và cho phép vị cao đồ cao cấp nhập vào trạng thái Đại Định (Samadhi). Trong một trường hợp, hiện thể bị để lại không được bảo vệ và là con mồi của bất kỳ vị khách nào đi ngang qua; và trong trường hợp kia, nó được để lại với sự bảo vệ đúng mức và lưu tâm tích cực tới sự kêu gọi và sự lưu ý của người chủ của nó. [Trang 421]

Tôi không thể làm nhiều hơn là gợi ý những giải thích khác nhau, và do đó những người nhiên cứu, với tâm trí cởi mở và sẵn sàng chấp nhận giả thuyết khác thường, bắt đầu theo một đường mòn có thể dẫn họ vào thung lũng của sự hiểu biết. Đầu mối để thành công trong việc loại bỏ các loại khó khăn nằm trong sự chăm sóc trước khi sinh, và nghiên cứu các dấu hiệu di truyền; bệnh giang mai và các bệnh truyền qua đường sinh dục khác là các nguyên nhân gây bệnh mạnh mẽ. Sự giáo hóa đúng đắn về bản chất thể xác sau khi sinh, và sự phát triển ở trẻ em một ý thức tích cực về chính mình, do đó làm cho nó tích cực trong tư tưởng và rèn luyện ý thức của nó sự tự nhận dạng – tất cả những điều này là những giúp đỡ mạnh mẽ hướng tới việc loại bỏ kiểu rắc rối này. Xu hướng ngày nay nhấn mạnh các vitamin trong thực phẩm và cung cấp một chế độ ăn uống cân bằng, tất cả hướng tới sự tốt lành.

Ý nghĩa thực sự của sự chia rẻ

Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của sự chia rẻ và sự khó khăn nghiêm trọng thực sự xảy ra, khi hai điều đã xảy ra. Hai điều này có thể được phát biểu như sau: 

  1. Ngã thức của con người đã đạt đến một mức độ mà các ham muốn của y quá chi phối và hấp dẫn đến nỗi y trở nên ý thức được sức mạnh của chúng, và đồng thời cũng ý thức về sự thiếu khả năng thực sự của y để thỏa mãn chúng, cùng với
sự nhận thức rằng có một khía cạnh của y không thực sự muốn làm như vậy. Bấy

giờ cảm giác thất vọng giáng lên y và y trở nên ý thức một cách đau khổ về những gì y muốn và sẽ trở nên nếu các ham muốn của y được đáp ứng và được thỏa mãn. Bấy giờ y bị lôi kéo theo hai hướng: trí dục vọng (desire-mind) của y giữ y ở trong lĩnh vực của sự khát khao, của hy vọng và của ước muốn, trong khi bộ não và thể xác của y mang cho y niềm tin rằng không có gì y muốn có thể xảy

ra, và nếu xảy ra, liệu y có thực sự muốn nó hay không? Điều này đúng với

những người mà mục tiêu của họ là sự thỏa mãn các mong mỏi vật chất của y, hoặc đúng với người nào đang đáp ứng với ham muốn đối với sự thỏa mãn trí tuệ hay tâm linh. [Trang 422] Trong một trường hợp, sự chia rẻ bắt đầu xuất hiện ở các khía cạnh thấp của bản chất dục vọng của y. Trong trường hợp kia, nó xuất hiện ở các khía cạnh cao hơn, nhưng trong cả hai trường hợp, các đường lối chia rẻ đều rõ ràng. Cuộc xung đột đã bắt đầu và có hai khả năng ở phía trước: 

  1. Sự phục tùng cuối cùng của một bản thể vốn kết thúc cuộc sống trong sự phù phiếm, chán nản sâu sắc và một cảm giác thất vọng vốn đi từ một cuộc sống phục tùng của sự chấp nhận, đến nhiều cách thoát ra vốn đẩy một người vào thế giới mơ mộng, vào vùng đất ảo tưởng, vào một trạng thái tiêu cực, và thậm chí vượt qua ranh giới tới cái chết bằng cách tự hủy diệt.
  2. Một cuộc xung đột điên cuồng, dựa trên một sự từ chối bị đúc khuôn bởi hoàn cảnh hoặc môi trường. Điều này thúc đẩy một người tiếp tục đến thành công và đến sự thành tựu mong muốn của y, hoặc nó đập tan y trên bánh xe của cuộc sống, hoặc về mặt vật chất, hoặc về mặt trí tuệ.
  1. Sự chia rẻ cũng xảy ra khi người đó không sử dụng trí tuệ được Thượng Đế ban cho y, và như vậy y không thể lựa chọn giữa các yếu tố thiết yếu và không thiết yếu, giữa hướng đúng và các mục tiêu sai, giữa những sự thỏa mãn khác nhau vốn lôi cuốn các khía cạnh khác nhau của bản thể thấp của y, và cuối cùng giữa nhị nguyên cao và nhị nguyên thấp. Y phải học nắm bắt sự phân biệt giữa:
    1. Sự phục tòng đối với điều không thể tránh khỏi và sự phục tòng đối với sự thôi thúc của dục vọng riêng của y.
    2. Việc nhận ra khả năng và việc nhận ra tiềm năng. Nhiều mâu thuẫn sẽ được giải quyết nhờ sự tổng kết, sự hiểu biết và sự sử dụng đúng đắn các vật sở hữu được nhận thức, do đó loại bỏ các mục tiêu không thể thực hiện và sự thất vọng tất nhiên không thể tránh khỏi. Khi phần này của cuộc xung đột [Trang 423] đã được khắc phục, thì tiềm năng có thể xuất hiện trong nhận thức và trở thành quyền năng trong biểu lộ.
    3. Việc nhận ra các mục tiêu cá nhân và các mục tiêu của tập thể, giữa khả năng sống trong xã hội hoặc ngược lại xã hội. Phần lớn đang được thực hiện theo những đường lối này, nhưng sự chú trọng vẫn dựa vào cá nhân chứ không dựa vào tập thể. Khi ở trong trường hợp này, chúng ta trở nên có trách nhiệm đối với các nhóm chống đối xã hội.

Tôi chỉ nói tới ba trong số nhiều nhận thức có thể có, nhưng việc giải quyết sự chia rẻ mà những nhận thức này có trách nhiệm sẽ dẫn đến việc giải phóng đại đa số những người đau khổ. Có lẽ có thể nói rằng việc giải thoát nhiều người mà sự chia rẻ chủ yếu nằm trong lĩnh vực của bản chất dục vọng, dẫn đến cảm giác thất vọng và một sự gián đoạn trong sự liên tục quan tâm của sự sống, có thể được chữa khỏi bằng cách – 

  1. Chú ý trước hết đến thiết bị vật chất và đến các tuyến, nhất là tuyến giáp trạng, cộng với sự điều chỉnh chế độ ăn uống.
  2. Chú ý đến sự phối hợp về thể chất của bệnh nhân, vì sự phối hợp về thể xác là sự biểu lộ bên ngoài của một quá trình tích hợp bên trong và phần lớn có thể được thực hiện bằng việc huấn luyện.
  3. Giải thích về sự sống và môi trường dựa trên những đánh giá đúng. Hãy suy nghĩ về điều này.
  4. Sự Phi Tập Trung (Decentralisation) nhờ –
    1. Việc cung cấp các quan tâm chính đáng và loại giáo dục và đào tạo nghề đúng đắn.
    2. Vun trồng năng lực nhận thức và đáp ứng nhu cầu xung quanh, do đó gợi lên mong muốn phụng sự, và cung cấp các cảm giác hài lòng vốn xuất phát từ thành quả và sự đánh giá cao. [Trang 424]
    3. Sự chuyển hóa cẩn thận và từ từ của dục vọng thành khát vọng.
  5. Sự tái định hướng đến các mục tiêu cao hơn, và sự phát triển ý thức về phương hướng đúng. Điều này bao hàm
    1. Việc vun trồng một tầm nhìn rộng lớn hơn.
    2. Việc xây dựng một chương trình bên trong, được biên soạn một cách thông minh, và phù hợp với mức độ tiến hóa, nhưng không quá tiến bộ để không thể thực hiện.
    3. Tránh những bước và những hoạt động vốn bị xem là sẽ thất bại.
  6. Sau đó, khi những điều ở trên phần nào được hiểu rõ, phải có việc tìm kiếm và phát triển bất cứ khả năng sáng tạo nào, như thế đáp ứng mong muốn được chú ý và đóng góp. Nhiều nỗ lực nghệ thuật hay nỗ lực văn học và âm nhạc dựa trên mong muốn là trung tâm chú ý chứ không dựa trên bất kỳ khả năng sáng tạo thực sự nào. Đó là ý nghĩa của “Ta, là diễn viên kịch”. Điều này được sử dụng và được phát triển đúng đắn, sẽ có giá trị và tầm quan trọng thực sự.
  7. Việc loại bỏ cảm giác tội lỗi, sự phản đối, cùng với các việc đi đôi với nó, là sự nổi loạn, sự nghi ngờ và một phức cảm tự ti.

Các vấn đề tâm lí là sự tương tác giữa các lực với nhau

Một điểm tôi cảm thấy rõ rệt cần nhấn mạnh lần nữa, và điều đó là sự cần thiết, khi xem xét con người và sự biểu hiện và tồn tại của y, để nhớ rằng chúng ta đang thực sự xem xét năng lượng, và mối liên quan hay không liên quan của các mãnh lực. Chừng nào điều này được ghi nhớ một cách cẩn thận, chúng ta sẽ không đi lạc lối khi chúng ta bàn về chủ đề của chúng ta. Chúng ta đang xem xét các đơn vị năng lượng có liên quan, hoạt động trong một lĩnh vực năng lượng; luôn luôn ghi nhớ điều này, chúng ta sẽ (ít nhất là một cách tượng trưng) được phép có một ý tưởng khá rõ ràng về chủ đề của chúng ta. Chừng nào chúng ta coi vấn đề của chúng ta như bao gồm mối quan hệ hỗ tương của [Trang 425] nhiều năng lượng, sự hợp nhất của chúng và sự cân bằng của chúng, cộng với sự tổng hợp cuối cùng của hai năng lượng chủ yếu, chúng ta sẽ đạt đến sự hợp nhất của chúng và sự cân bằng của chúng, một mức độ hiểu biết nào đó và giải pháp tiếp sau. 

Lĩnh vực năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn (năng lượng chủ yếu mà con người có liên quan) hấp thu, chi phối hoặc sử dụng năng lượng thứ yếu mà chúng ta gọi là phàm ngã. Chúng ta cần nhận ra điều này; và đồng thời ghi nhớ rằng phàm ngã này bản thân nó bao gồm bốn loại năng lượng. Như vậy chúng ta sẽ sử dụng các từ ngữ “hấp thu, chi phối và sử dụng” theo loại cung của chúng ta.

Tâm lí học nội môn cần có một hệ thống thuật ngữ mới

Ở đây tôi muốn nhắc nhở bạn, như tôi đã thường làm trước đây, rằng những lời nói không thể biểu lộ và ngôn ngữ gây cản trở hơn là trợ giúp mục tiêu mà tôi thấy trước mắt. Tư tưởng con người hiện đang bước vào một lĩnh vực mà cho đến nay không có hình thức ngôn ngữ thật sự cho nó, vì chúng ta không có những thuật ngữ thích hợp, và trong đó, các ký hiệu từ ngữ chỉ có ý nghĩa ít thôi. Cũng như việc khám phá ra xe ô tô, và sóng vô tuyến (radio) đã cần việc xây dựng một bộ hoàn toàn mới của các thuật ngữ, cụm từ, danh từ, động từ, vì vậy trong những năm sắp tới, việc khám phá sự thực về linh hồn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận ngôn ngữ mới. Thực ra là, có phải một người của thời đại Victoria khi nghe những từ ngữ chuyên môn về kỹ thuật của phòng thí nghiệm vô tuyến hiện nay, hoặc chỗ sửa xe thông thường, sẽ hoàn toàn không hiểu gì? Vì vậy, nhà tâm lý học ngày nay rất thường ở trong tình trạng không biết và không hiểu những gì chúng tôi đang cố gắng truyền đạt, vì ngôn ngữ mới chưa được phát triển và các thuật ngữ cũ thì không thích hợp. Do đó, tôi không thể làm gì nhiều hơn là sử dụng các từ ngữ mà dường như đối với tôi là thích hợp nhất, biết rằng tôi đang không thể thể hiện ý nghĩa thực sự của những ý tưởng của tôi, và do đó bạn đang chỉ có được một sự hiểu biết và quan niệm gần đúng về những khái niệm mà tôi đang nỗ lực trình bày. 

Chúng ta đã phần nào xem xét vấn đề về [Trang 426] những sự chia rẻ mà con người đang chịu đựng, và chúng ta đã thấy rằng quá trình tiến hóa của con người suy cho cùng, là một loạt những sự nhất quán; mỗi bước tiến tới hàm ý việc mang lại với nhau một số loại năng lượng để sự hợp nhất của chúng có thể tạo ra một con người hoàn chỉnh hơn. Liệu tôi có thể nêu ở đây một điểm thú vị? Bản thân vấn đề được mang lại bởi thực tế rằng có một Chủ Thể Quan Sát. Chủ Thể Quan Sát này, ở một số giai đoạn trong sự phát triển bình thường của con người, nhận thức rằng có những sự chia rẻ. Chủ Thể Quan Sát này đau khổ vì sự tồn tại của chúng trong sự tự nhận thức của y. Y nhận ra rằng y là nạn nhân của những phân chia trong bản chất của y. Tuy nhiên – và điều này rất quan trọng – con người trên cõi trần không thể hoặc là hiểu chúng, hoặc là, một cách hiển nhiên, chữa trị chúng mà không cần sự trợ giúp từ linh hồn, là Chủ Thể Quan Sát, là khía cạnh cao của y. Ví dụ, một người đang đau khổ do sự phân ly giữa phần cảm xúc, cảm giác của y với khía cạnh trí tuệ, ý thức về nhu cầu, về sự thất vọng, và về sự đau khổ và khó khăn mãnh liệt, nhưng cần có sự giúp đỡ đầy hiểu biết của một nhà tâm lý học lão luyện hoặc của linh hồn của chính y, trước khi sự hợp nhấtthể được thực hiện, và y, với tư cách một cá nhân, có thể “trở nên trọn vẹn” (“be made whole”).

Cùng chân lý này tồn tại trong mối liên hệ với tất cả các sự chia rẻ có trong con người, nhưng ba trong số những sự chia rẻ này có tầm quan trọng lớn: 

  1. Sự chia rẻ giữa thể trí và phần còn lại của phàm ngãthể xác, thể dĩ thái, thể cảm dục hay tình cảm.
  2. Sự chia rẻ giữa con người và môi trường của y vốn – khi được hàn gắn và được khắc phục – làm cho y thành một người có trách nhiệm và là một công dân tốt, chấp nhận môi trường của y và cung cấp cho nó những gì tốt nhất của y. Như vậy y tăng trưởng về tính cách và năng lực, như là kết quả của một sự tương tác rõ rệt giữa cả hai – bản thân y và môi trường của y. [Trang 427]
  3. Sự chia rẻ giữa con người (phàm ngã) và linh hồn. Điều này tuần tự tạo ra:
    1. Một phàm ngã ích kỷ chi phối.
    2. Một nhà thần bí thực tế, có ý thức về sự cần thiết đối với sự hợp nhất và sự thống nhất.

Những tương tự với những trạng thái tâm thức này được tìm thấy ở thanh thiếu niên. Chúng cũng được tìm thấy ở con người đang hội nhập vào công việc của đời y, và cũng trong người chí nguyện biết suy tư. Điều này là đúng thật, cho dù những tư tưởng, những mục đích và những tham vọng của y bị phân cực một cách ích kỷ, hay có khuynh hướng tinh thần. Ý nghĩa của sự chia rẻ, sự cần thiết đối với việc định hướng, quá trình khắc phục và ý thức cuối cùng về sự thành đạt thì giống nhau trong cả hai trường hợp.

Những qui luật và tiên đề trong việc giải quyết vấn đề chia rẻ

Để đối phó với những tình huống này, một số quy luật chung nên chi phối nhà tâm lý học, và một số tiền đề chung cuối cùng nên được chấp nhận bởi người đã tạo nên trường hợp khó khăn này. Những quy luật và các tiền đề tương tự này có thể được xem xét và được chấp nhận bởi người vốn xoay xở để tự huấn luyện bản thân và khắc phục những sự chia rẻ được y nhận thức mà không có sự trợ giúp của một nhà tâm lý học lão luyện. Những tiền đề cơ bản này là: 

  1. Đó là, bất kỳ khó khăn tâm lý nào đều là phổ quát và không duy nhất. Chính ý thức về sự khác thường – với xu hướng chia rẻ của nó và sự cô đơn mà nó nhận thức – vốn thường là yếu tố toàn làm mất thì giờ. Nó làm cho phàm ngã thành quá quan trọng, và điều này nên được dứt khoát phủ nhận.
  2. Đó là, cuộc khủng hoảng được đối mặt biểu thị sự tiến bộ và cơ hội, và nó không biểu thị thảm họa và sự thất bại. Nó phải được nhận thức bởi bệnh nhân (tôi có thể sử dụng thuật ngữ đó hay không?), đó là nhân loại đã tiến triển đến mức độ tiến hóa hiện tại của nó chỉ bằng những cuộc khủng hoảng như thế. Sự tiến bộ của đơn vị cá nhân con người là như thế. Suy cho cùng, các cuộc khủng hoảng tâm lý là biểu hiện của những bước tiến bộ trên Thánh Đạo, mang theo với chúng nhu cầu đối với nỗ lực, và đồng thời một [Trang 428] ý thức thành tựu và tự do, khi được vượt qua, được khắc phục và được giải quyết.
  3. Đó là, năng lực tạo ra sự tích hợp cần thiết và kết thúc một chu kỳ của nhị nguyên tính được cảm nhận nằm trong chính con người, bởi vì:
    1. Sự khó chịu, thiếu phối hợp, sự đau khổ và tai họa của y là những triệu chứng của khát vọng, có lẽ chưa được nhận thức, nhưng không ít chút nào ở đó. Chúng là phản ứng của những khía cạnh được tích hợp đối với khía cạnh đang tìm kiếm sự tích hợp.
    2. Khía cạnh để được tích hợp về căn bản thì mạnh hơn so với các khía cạnh thấp đang chờ đợi, vì chúng tiêu cực hoặc dễ tiếp thu, trong khi đó những gì nên được nhận thức và được chấp nhận thì tích cực và năng động. Vì thế mà sự khó chịu được cảm nhận.
  4. Đó là, năng lực, bẩm sinh ở sinh vật giàu tưởng tượng, là con người, hành động “như thể” nắm giữ giải pháp cho vấn đề. Bằng việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo, cầu nối giữa khía cạnh thấp và cao có thể được xây dựng và kiến tạo. “Một người nghĩ, hy vọng và muốn như thế nào” thì y sẽ như thế ấy. Đây là một phát biểu về một sự thực bất biến.

Khi các nhà tâm lý học hiện đại thông hiểu đầy đủ hơn về mục đích sáng tạo của nhân loại, và tìm cách phát triển trí tưởng tượng sáng tạo mang tính xây dựng hơn, và cũng để rèn luyện ý chí có định hướng, thì nhiều điều sẽ được hoàn thành. Khi hai yếu tố này (vốn là bằng chứng đáng chú ý của thiên tính trong con người) được nghiên cứu, và được phát triển và được sử dụng một cách khoa học, chúng sẽ tạo ra sự tự giải thoát của mọi trường hợp khó khăn được tìm thấy trong các bệnh viện của chúng ta vào lúc này. Vì vậy chúng ta sẽ, nhờ thực nghiệm, đạt đến một sự hiểu biết nhanh chóng hơn về con người

Tâm lý họcthể hy vọng một cách chắc chắn vào khả năng bẩm sinh của [Trang 429] đơn vị nhân loại để hiểu biết việc sử dụng trí tưởng tượng sáng tạo và sử dụng mục đích được định hướng, vì nó thường được tìm thấy ngay cả ở trẻ em. Sự phát triển của ý thức tưởng tượng và việc huấn luyện trẻ em để thực hiện sự lựa chọn (nhằm mục tiêu để mục đích đã được sắp xếp có thể xuất hiện trong cuộc sống của chúng) sẽ là hai trong số những lý tưởng chủ đạo của nền giáo dục mới. Ý thức tưởng tượng phát huy trí tưởng tượng, sự nhận thức về cái đẹp, và khái niệm về thế giới chủ quan; năng lực lựa chọn, với những hàm ý của nó về tại sao và lý do, và tới kết thúc nào (nếu được dạy một cách khôn ngoan từ những ngày đầu), sẽ làm được gì nhiều điều cho nhân loại, nhất là nếu, ở thời kỳ thanh thiếu niên, hình ảnh chung của thế giới và kế hoạch thế giới được đưa vào sự chú ý của trí thông minh đang phát triển. Vì thế:

  1. Ý thức tưởng tượng
  2. Ý thức lựa chọn
  3. Ý thức về tổng thể, cộng với
  4. Ý thức về mục đích được sắp đặt nên chi phối sự huấn luyện những đứa trẻ đang đi vào luân hồi của chúng ta. Ý thức tưởng tượng đưa trí tưởng tượng sáng tạo vào hoạt động, nhờ đó cung cấp cho bản chất tình cảm những lối thoát có tính xây dựng; điều này nên được cân bằng và được thúc đẩy bởi nhận thức về năng lực lựa chọn đúng đắn và ý nghĩa của các giá trị cao hơn. Những điều này, đến lượt chúng, có thể được phát triển một cách vị tha bởi một nhận thức thích đáng về toàn thể môi trường mà trong đó cá nhân phải đóng vai trò của y, trong khi toàn bộ phạm vi của các phản ứng đang ngày càng phụ thuộc vào sự hiểu biết về mục đích được sắp đặt đang thể hiện ra trong thế giới .

Đây là những tiền đề cơ bản nên xuất hiện trong các kỹ thuật mới mà tâm lý học sẽ sử dụng khi nó đã đạt đến mức độ chấp nhận (hoặc ít nhất là mức độ thử nghiệm với) [Trang 430] các ý kiến trên. Bằng cách sử dụng chúng, người ta sẽ nhận thấy rằng trường hợp của vấn đề tự nó có thể được đưa vào hoạt động đúng chức năng, vì tất cả các khả năng bẩm sinh và không được sử dụng của con người sẽ bị cuốn vào hoạt động tích hợp

Quá trình tương tác giữa các năng lượng

Quá trình này luôn luôn và chắc chắn là giống nhau: 

  1. Sự chia rẻ.
  2. Một nhận thức về nhị nguyên, hoặc về mặt chủ quan, hoặc trong tâm thức tỉnh táo.
  3. Một thời kỳ bất ổn dữ dội, thất vọng và phù phiếm, đôi khi dẫn đến thảm họa, tới các hình thức thần kinh hoặc suy sụp tinh thần, và tới các tình trạng thường hỗn loạn và không mong muốn.
  4. Một tiến trình khắc phục được áp dụng một cách thông minh, tiến triển dần dần, một khi giai đoạn chia rẻ được xác định.
  5. Việc đạt tới các thời kỳ của sự hợp nhất được nhận thức, sự tích hợp hoặc tình trạng bình thường thật sự. Một quá trình phân tích sẽ có ích ở đây. Về sau, người ta sẽ thấy rằng phân tâm học sẽ trở thành hữu dụng thực sự khi nó trợ giúp một người trong việc giải thích thành tựu của y hơn là trong việc khám phá chi tiết của thảm họa bề ngoài của y. Không có thảm họa thực sự. Chỉ có một giai đoạn khủng hoảng không được nhận ra, một thời điểm thành tựu không được nhận thức. Thảm họa xảy ra khi giai đoạn khủng hoảng này không được tận dụng và được hiểu rõ, vì lúc bấy giờ nó dùng để làm tăng sự chia rẻ thay vì được nhận thức như là một khoảnh khắc của cơ hội.
  6. Việc thiết lập một sự hài hòa nhất định bao gồm trí tưởng tượng sáng tạo, sự lựa chọn sáng suốt, giá trị của mối quan hệ của phần tử đối với tổng thể, và sự chấp nhận mục đích tập thể. Sự hài hòa này, khi được thiết lập thích hợp trong một kiếp sống hay trong một loạt các kiếp sống, cuối cùng dẫn đến
  7. Sự tích hợp. [Trang 431]

Tôi muốn dừng lại ở đây và chỉ ra rằng nền tảng của tâm lý học mới chắc chắn phải được xây dựng dựa trên tiền đề rằng kiếp sống đơn lẻ này không phải là cơ hội duy nhất của con người để đạt được sự tích hợp và sự hoàn thiện cuối cùng. Đại Luật Tái Sinh phải được chấp nhận, và bấy giờ nó sẽ được nhận thấy tồn tại trong chính nó một tác nhân giải phóng lớn trong bất kỳ thời điểm khủng hoảng hay bất kỳ trường hợp nào về vấn đề tâm lý. 

Việc nhận thức thêm cơ hội nữa và một ý thức thời gian được kéo dài đang làm tĩnh lặng và hữu ích cho nhiều loại trí tuệ; Giá trị giải thích của nó sẽ được nhận thấy soi sáng khi bệnh nhân hiểu được sự thật rằng nhiều giai đoạn khủng hoảng nằm ở phía sau y, trong đó nó có thể được chứng minh bằng khí cụ hiện tại của y rằng y đã đạt được sự tích hợp, do đó đảm bảo cho y sự chiến thắng trong giai đoạn khủng hoảng và xung đột gay go hiện tại của y. Ánh sáng mà điều này phóng vào các mối quan hệ và môi trường sẽ dùng để ổn định mục đích của y và làm cho y hiểu được sự tất yếu của trách nhiệm. Khi đại luật này được hiểu theo hàm ý thật sự của nó, và không bị diễn dịch theo những thuật ngữ của cách trình bày trẻ con hiện tại của nó, bấy giờ người ta sẽ gánh vác trách nhiệm của đời sống với một sự nhận thức hàng ngày về quá khứ, một sự hiểu biết về mục đích của hiện tại, và với một cái nhìn đến tương lai. Điều này cũng sẽ làm giảm đáng kể xu hướng tự tử đang tăng mà nhân loại đang cho thấy.

Tuy nhiên, đối với bạn, sẽ hiển nhiên là yếu tố thời gianthể tham gia vào vấn đề một cách hữu ích nhất, và ở đây, một sự hiểu biết thực sự về Định Luật Tái Sinh, hoặc về Luật Cơ Hội (như tôi muốn gọi nó) sẽ có sự hữu ích rõ rệt. Trên tất cả mọi thứ khác, nó sẽ mang vào thái độ của cả nhà tâm lý học và trường hợp của vấn đề, ý tưởng hy vọng, tư tưởng hoàn mãn và sự thành tựu cuối cùng.

Sự tích hợp hoạt động song hành với sự phát triển của hệ thống luân xa

Cũng sẽ cần thiết là nhà tâm lý học của tương lai nên đi đến một nhận thức và một sự thừa nhận cấu trúc bên trong của con người – về thể cảm xúc, [Trang 432]

thể trí và mối tương quan mật thiết của chúng qua trung gian của thể sinh lực

hay dĩ thái vốn luôn luôn phục vụ như mạng lưới liên kết giữa thể xác dày đặc và các thể khác. Linh hồn và bộ ba năng lượng (chính sự sống, thể hiện ý chí hay mục đích, bác ái và trí thông tuệ) hoạt động qua bảy trung tâm lớn, trong khi thể trí và thể cảm dục hoạt động qua nhiều trung tâm khác, mặc dù cũng có trong chúng bảy trung tâm vốn là các đối phần truyền chuyển của các trung tâm trong thể dĩ thái. Những sự tích hợp mà sự tiến hóa cuối cùng đem lại được thực hiện qua trung gian của tất cả các trung tâm này. Nhờ việc nâng cao rung động, nhờ việc đưa các trung tâm vào hoạt động, và nhờ sự phát triển tiếp theo và tất nhiên của bộ máy đáp ứng của con người, những con đường tiếp cận mới với thực tại, những phẩm chất mới của ý thức, sự nhạy cảm mới với những gì cho đến nay đã không được công nhận, và những quyền năng mới, bắt đầu mở ra.

Do đó, mỗi người trong chính mình là một hệ thống phân cấp, một sự phản ánh của một chuỗi hiện tồn lớn – là Đấng mà vũ trụ biểu lộ. 

Tâm lý học cuối cùng phải công nhận: 

  1. Sự thực về linh hồn, tác nhân tích hợp, Chân Ngã (the self).
  2. Định Luật Cơ Hội hay Tái Sinh.
  3. Bản chất của cấu trúc bên trong của con người, và mối quan hệ của nó với các hình tướng hữu hình bên ngoài.

Những giáo lý được truyền dạy về Định luật Luân Hồi đã quá nhấn mạnh về khía cạnh hình tướng thay vì khía cạnh linh hồn

Thật là thú vị khi lưu ý rằng thực tế thì tất cả giáo lý được đưa ra về sự tái sinh hoặc đầu thai đã nhấn mạnh vào khía cạnh hiện tượng vật chất dù đã luôn luôn có một sự tham khảo tình cờ nhiều hoặc ít tới những thành tựu tinh thầntrí tuệ được hoạch đắc trong trường học của sự sống trên hành tinh này, từ lần đầu thai này đến lần đầu thai khác. Bản chất thực sự của ý thức đang khai mở và sự tăng trưởng trong tâm thức bên trong của chân nhân đã ít được lưu ý; thành tựu của mỗi kiếp sống trong sự hiểu biết thêm về [433] bộ máy tiếp xúc, và kết quả của việc gia tăng tính nhạy cảm đối với môi trường (vốn là các giá trị duy nhất mà chân ngã bận tâm), thì ít khi có, nếu có, được nhấn mạnh. Các chi tiết về các điều kiện sống, các phát biểu về các tình trạng vật chấtthể xảy ra, các mô tả về nơi chốn, y phục, và về phàm ngã, các mối quan hệ của con người được hiển thị một cách tưởng tượng, và “phục hồi các kiếp quá khứ” đã thường là cái gọi là sự phục hồi các sự kiện đầy kịch tính vốn nuôi dưỡng ý thức bẩm sinh về cá nhân của người đang luân hồi, và cũng thường nuôi dưỡng sự kiệu căng của y. Sự trình bày kỳ lạ này đã do vài điều. Trước hết, với thực tế là thế giới ảo tưởngyếu tố chi phối cho đến nay trong các kiếp sống của đa số con người; thứ hai, do trình độ trong quá trình tiến hóa đã là thế nên người viết hoặc người nói đã không thể thấy chu kỳ cuộc sống từ góc độ của linh hồn, là không thiên kiến và không bị lừa dối, vì nếu y đã làm như vậy thì các mô tả hiện tượng vật chất đã sẽ bị bỏ qua và có lẽ thậm chí không được nhận thức, và chỉ có các giá trị – tâm linh và trí tuệ – và những vấn đề liên quan đến đời sống nội tâm của tập thể sẽ được nhấn mạnh. Các phương pháp được sử dụng để trình bày học thuyết tái sinh lâu đời này, và sự chú trọng sai lầm đặt trên khía cạnh hình tướng, loại trừ các giá trị của linh hồn, đã mang lại một phản ứng xấu với toàn bộ chủ đề này trong tâm trí của những người thông minhcác nhà nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, bất chấp điều này, điều tốt thực sự đã được thực hiện, vì toàn bộ lý thuyết đã được thấm dần vào tâm thức nhân loại, trở thành một phần không thể thiếu của nó và do đó, chuyển sang sự nhận thức phổ biến và cuối cùng là có tính khoa học.

Các yếu tố của con người cần được xem xét

Trong việc xem xét cấu trúc bên trong của con người và những yếu tố vốn tạo ra hình dáng và tính chất bên ngoài và quy định nó, do đó tạo ra hành vi kết quả và hạnh kiểm, các nhà tâm lý học sẽ phải nghiên cứu các chủ đề sau đây, [434] bắt đầu với khía cạnh thấp nhất và mở rộng ý tưởng của họ để bao gồm khía cạnh cao nhất có thể có. Các điều này có thể được lập thành nhóm và được liệt kê như sau: 

  1. Bộ máy phản ứng bên ngoài, tác động dưới các xung lực nhận được từ môi trường bên ngoài và các cõi chủ quan bên trong. Những điều này xuất hiện, theo các lý thuyết nội môn, xuyên qua
    1. Bộ não, từ đó một số khía cạnh của hệ thống thần kinh được điều khiển và được kiểm soát, đầu tiên là bởi ảnh hưởng trí tuệ, và sau đó bởi sự điều khiển của linh hồn một cách hữu thức.
    2. Tuyến nội tiết hoặc hệ thống tuyến nội tiết, tác động dưới các xung lực đi vào thể xác qua bảy trung tâm trong thể dĩ thái; hệ thống tuyến chỉ đơn giản là ngoại hiện hoặc đối phần vật chất của các trung tâm này. Các tuyến chi phối con người qua dòng máu, đến lượt chúng bị chi phối bởi các trung tâm.
    3. Tùng thái dương, điều khiển và kiểm soát một số khía cạnh của hệ thống thần kinh, và vốn phần lớn là bộ não thuộc bản năng hay thuộc động vật.
    4. Tim, trung tâm của sự sống.
  2. Thể sinh lực hay dĩ thái. Đây là yếu tố truyền năng lượng lớn và là một bản sao chính xác hoặc đối phần của hình tướng bên ngoài, là trung gian thực sự giữa các cõi giới bên trong và con người bên ngoài. Các Nadis (các đường hoặc các tuyến lực) nằm dưới mỗi dây thần kinh trong thể con người và các trung tâm mà chúng tạo thành tại một số điểm giao nhau hoặc điểm cắt nhau là nền tảng hoặc lực thúc đẩy của mỗi hạch hoặc đám rối được tìm thấy trong thể con người. Một số các trung tâm này, lớn và nhỏ, có tầm quan trọng độc đáo trong tiến hóa. Cụ thể như sau:

[Trang 435]

  1. Bí huyệt đầu là chỗ của năng lượng linh hồn, hoặc bí huyệt mà qua đó con người tinh thầný thức hoạt động.
  2. Bí huyệt tim là chỗ của sự sống, của nguyên khí cao nhất vốn tự biểu lộ qua con người.
  3. Bí huyệt nhật tùng là chỗ của sự sống bản năng, của linh hồn động vật (sinh hồn), và của bản chất tình cảm phát triển cao.
  4. Bí huyệt ở đáy cột sống là bí huyệt tích hợp chính và đi vào hoạt động chức năng khi hai sự hợp nhất lớn đã được thực hiện: đó là những sự hợp nhất của ba thể thành một phàm ngã được phối kết, và khi linh hồnthể xác được nhất quán (at-oned).
  1. Thể tình cảm hoặc tri giác, mà thường được gọi là thể cảm dục. Từ hiện thể này phát sinh những ham muốn, những xung lực, những nguyện vọng và những xung đột của nhị nguyên, vốn quá thường gây đau khổ và cản trở người đệ tử. Đây cũng là chỗ của sự sống sáng tạo đầy tưởng tượng của con người. Nó cũng sở hữu những trung tâm lực vốn là các đối phần của những trung tâm lực được tìm thấy trong thể dĩ thái, nhưng đối với đa số người, nó được truyền năng lượng chủ yếu từ cõi giới ảo tưởngtừ cõi cảm dục. Chính từ cõi ý thức ảo giác này mà người tiến bộ phải học cách tự triệt thoái mình ra khỏi cõi đó.
  2. Bản chất trí tuệ, hoạt động thông qua bốn và chỉ có bốn bí huyệt.
  3. Chính Linh hồn, hoặc con người tinh thần thật sự, chân ngã trong biểu lộ, hoạt động thông qua hoặc tìm cách hoạt động thông qua, vẻ ngoài hiện tượng của nó, là con người tứ phân.

Nếu phần trên được nghiên cứu cẩn thận, nó sẽ trở nên rõ ràng rằng những sự chia rẻ tồn tại ở con người là những sự chia rẻ trong một số mối quan hệ vốn có hoặc cơ bản: [Trang 436] 

  1. Được tìm thấy trong chính con người, ở một trong các tiêu điểm nhận thức hoặc ý thức khác nhau:
    1. Không được nhận ra bởi chính con người hoặc bởi những người xung quanh y. Khi ở trong trường hợp này, người ấy còn kém tiến hóa và các chia rẻ hay những chỗ thiếu hụt trong tâm thức của y tương đối không gây hại thực sự nào, hoặc cho bản thân y, hoặc cho những người trong môi trường của y. Chúng chỉ đơn giản cho thấy sự thiếu phát triển.
    2. Khi được nhận ra, chúng tạo ra sự đau khổ và khó khăn, và người này trở nên cần sự giúp đỡ tâm lý mạnh mẽ. Thông tin chính xác theo những đường lối được đặt ra ở đây có thể được đưa ra trong những trường hợp liên quan đến loại người trí tuệ; bấy giờ nhà tâm lý học đang giao tiếp với những người có thể và sẵn sàng để tự giúp đỡ chính họ.
    3. Khi người này đã thực hiện sự bắc cầu và thống nhất cần thiết, bấy giờ y trở nên một phàm ngã thống nhất. Khi đó, nhà thần bí có thể xuất hiện. Điều này có nghĩa rằng y đã đạt đến mức độ mà sự bắc cầu cao giữa phàm ngã tích hợplinh hồn trở nên có thể xảy ra. Cuối cùng, một Chân Sư Minh triết, là một người tiêu biểu của tâm thức Christ, trong các trạng thái thống nhất, cứu rỗi và có tính xây dựng, xuất hiện.

Sự nhất quán của bản chất cao và thấp sẽ tạo ra các kết quả vốn sẽ được xác định trong lĩnh vực biểu lộ của chúng bằng cung của một người. Những tình trạng cung này sẽ dẫn đến kết quả là một người tìm thấy lĩnh vực đúng đắn của y về tính hữu dụng và biểu lộ chân chính trong các lĩnh vực chính trị, tôn giáo, hoặc khoa học, và trong các phương cách biểu lộ thiêng liêng khác. 

  1. Được nhận thấy giữa một người và môi trường của y. Hậu quả của điều này có thể có nghĩa rằng y là một người chống lại xã hội, hoặc không được ưa chuộng, đầy sợ hãi về đời sống, hoặc biểu lộ, trong nhiều [Trang 437] hình thức khác, sự bất lực của y để điều hợp với môi trường xung quanh y. Việc thiếu sự thông cảm, mối quan hệ chính đáng, và không có khả năng hòa trộn các hình thức bên trong và bên ngoài của cấu trúc đời sống, sẽ được chứng minh. Nguyên nhân của sự chia rẻ trong trường hợp này thường được nhận thấy ở đâu đó trong chính thể cảm dục.
  2. Được nhận thấy giữa một người và nhiệm vụ cuộc đời của y, hoặc hoạt động sống mà với nó, số phận quy định y và thiên hướng điều khiển y. Khó khăn ở đây nằm trong một sự gián đoạn rõ rệt hay không thực hiện được sự liên tục giữa bản chất trí tuệ, mục đích có tính quyết định, với bản chất cảm dục, chi phối xung lực.
  3. Được nhận thấy giữa một người và linh hồn đang phủ bóng (và từ từ thống trị) của y. Điều này dẫn đến việc nhận thức nhiều sự bất hạnh, sự xung đột khốc liệt, và cuối cùng và có tính biểu tượng là “cái chết của phàm ngã.”

Một lần nữa, ở đây tôi muốn tạm ngừng và chỉ ra rằng các khái niệm về cái chết, về sự thay thế, về sự chuộc tội thay và về sự hy sinh ở Tân Kỷ Nguyên sẽ được thay thế bởi các khái niệm về sự phục sinh hay về sự tồn tại, về nhất nguyên tinh thần, về sự truyền chuyển và về việc phụng sự, sao cho một âm điệu mới sẽ đi vào cuộc sống của con người, mang lại hy vọng và niềm vui, sức mạnh và sự tự do.