TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN MỆNH HỌC

THÔNG BÁO
TƯ VẤN VỀ VẬN MỆNH - CẢI MỆNH - CHỮA BỆNH = TÂM LINH

Với hơn 20 năm nghiên cứu và thực nghiệm về Dịch học, Số mệnh và Phong Thủy, Cấu tạo con người và Tâm thức, thực hành Phật Pháp nhiệm mầu. Chúng tôi thường xuyên tổ chức Tư vấn Tu Cải mệnh miễn phí với các đối tượng là người mong muốn hiểu về Số mệnh, tin sâu Nhân Quả nguyên nhân chính gây ra tâm trạng lo âu, sợ hãi, thất nghiệp, nợ lần, phá sản, chia ly, bệnh đau hành hạ ... dẫn đến buồn nản, khổ đau và bế tắc, rễ bị trầm cảm. Khi quý vị nhận thức ra "Thân người khó được" sau bao năm bị đọa lạc lưu đầy trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mới có lại Thân người kiếp này (Cũng là kiếp sống bắt buộc phải hiện hữu để trả nghiệp do mình đã tạo tác ra, cho lên chết không phải là hết, duyên nợ chắc chắn phải trả, dù phải qua bao kiếp luân hồi nữa là vậy). Khi Quí vị hiểu thấu nguyên nhân của khổ đau chẳng thể trốn chánh thì sẽ chấp nhận trong thấu hiểu, từ đó luôn an nhiên tự tại đón nhận vạn sự sảy đến. Nhận thức rõ lợi ích "phòng bệnh" rất quan trọng, vì khi bị bệnh đau hành hạ sẽ chẳng thể tu, xem như phải chấp nhận cái chết đến từ từ trong đau đớn mà thường với đa số người, họ vẫn chưa sống hết số theo định nghiệp đã định. Như thế, họ đã để mất cơ hội kéo dài sự sống vì chỉ có tự mình chữa cho mình. Còn nếu có thể chọn đúng pháp tu, là "Tùy bệnh cho thuốc" sẽ giúp Cải mệnh mạnh mẽ nhiệm mầu nhanh chóng, lại cũng tránh đi lầm vào con đường Hắc Đạo tối tăm mà chẳng rễ thoát ra.

Thời gian Tư vấn miễn phí: Vào sáng thứ bảy hàng tuần, chi tiết xin mời XEM TẠI ĐÂY.

+ Mời xem: Các lĩnh vực Tư vấn - D.Vụ
+ Mời xem: Các chủ đề Xem và Tư vấn
+ Mời xem: Về Phí tự nguyện & Dịch vụ

    Nhân Trắc Học kính chúc quí vị vạn sự như ý!

Lễ Lạy - Kính Bạch - Cầu nguyện Phật Độ trì Vạn sự Cát tường Như ý

PHÁP PHỤNG THỜ TAM BẢO
LỄ LẠY - CẦU NGUYỆN - KÍNH BẠCH PHẬT CÔNG VIỆC DỰ ĐỊNH LÀM
ĐỂ ĐƯỢC PHẬT - BỒ TÁT GIA HỘ ĐỘ TRÌ VẠN SỰ CÁT TƯỜNG NHƯ Ý MUỐN

A- ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG:
Là Phật tử tại gia hay xuất gia, chủ yếu dùng cho Phật tử tại gia.
Phật tử ở đây là người tự nguyện, phát nguyện quyết tâm tu hành, người mà trong các Kinh Phật thường nhắc đến là thiện nam tử - thiện nữ nhân hay thiện nam - tín nữ => Tức là người có đạo đức - Người giữ giới luật trong tu hành của người sống tại gia có sự tương ưng lời Phật dậy.
Với người không tu: "... người không muốn tu - Miễn cưỡng tu đều không phải là Đạo. Chư vị không muốn chuyển ngược thuyền bát nhã (Tu đạo), thì thuận theo dòng nước lớn mà trôi xuống, càng trôi xuống thì càng xa (Thuận theo vòng sinh tử luân hồi khổ đau). Nếu chư vị chuyển ngược, tức là đi trở lên dòng nước. Nếu không muốn phản chuyển, thì sẽ đi xuống theo dòng hạ lưu. Xem thấy chư vị đang đi lên thượng lưu, rồi lại chạy xuống theo dòng hạ lưu. Cho lên Đức Phật nói Quay đầu là bờ, chỉ có quay đầu là con đường duy nhất giải thoát luân hồi sinh tử khổ đau vô cùng vô tận này mà thôi. (Nguồn: Bát Nhã Tâm Kinh - HT Tuyên Hóa giảng)"

I- Phật tử sống tại gia:

+ Người tu tại gia cần thực hành Sự thế gian mà không có Ý thế gian - Thế gian sự và Thế gian ý

A-Nan lại bạch Phật: “Vào thời mạt pháp, các đệ tử học Phật cùng với việc đời hằng ngày tương duyên sanh tồn, liệu lý việc nhà hệ lụy đến thân miệng thì phải làm cách nào trong trần mà không nhiễm trần.
Phật nói: Nầy A-Nan! Người có thọ giới pháp của Phật, thành tín phụng hành, hiếu thuận cha mẹ, dè dặt cẩn thận hành vi, quy kính Tam Bảo, hiếu dưỡng cha mẹ, tận trung quốc dân, trong tâm ngoài thân cẩn trọng hành thiện, tâm miệng hợp nhau, như thế cho dù làm việc thế gian mà không có ý thế gian.
LỜI GIẢI: Phương pháp sống
Người phát tâm tu học Phật, điều căn bản là phải tiếp thọ giới pháp của Phật. Giới pháp mà đức Phật chế ra là quy củ có thừa đủ năng lực đưa con người trở nên hiền lương thánh thiện, mô phạm cho đời. Điều rất căn bản cho bước đầu của người tu học Phật không thể thiếu, là quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới, tiếp theo đó tiến lên bước nữa là thọ Thập thiện giới, Bồ Tát giới, Bát quan trai giới, tu tịnh nghiệp, tham thiền. Tất cả những điều trên đây đều là sinh hoạt giáo học hành trì thiết yếu của người cư sĩ tại gia. Được xưng là Phật tử thì phải chí tâm thành tín thọ trì, y giáo phụng hành. Không lãnh thọ hành trì những điều trên đây mà xưng là tin Phật, là Phật tử, ấy là lạm xưng. Dù hiểu biết giáo lý đầy bụng, phục vụ Phật pháp suốt đời, mà không thành tâm quy y thọ trì giới pháp, viện lý do nầy khác để chối từ, kinh Phật gọi đó là người mới từ ba đường ác ra, hoặc sắp rơi vào đường ác, nên nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự phát tâm thọ trì giới pháp, mang tà niệm hộ trì Tam Bảo, phụng hành Phật đạo. Dù cho họ thông minh tài trí, quyền quý giàu sang mà không tin thọ giới pháp, thì đó cũng chỉ là hình thức một trong tám nạn của “thế trí biện thông” mà thôi. Nếu không tu tâm bồi đức, thì không tránh khỏi nghiệp lực dẫn dắt vào con đường trầm luân tối tăm.
Điều cần yếu trước nhất là người tu học Phật là hiếu thuận cha mẹ, kính thờ sư trưởng, đấy là con đường sáng bằng thẳng đưa đến chân lý đạo giải thoát. Về tinh thần Đại thừa Phật pháp thì ngài Địa Tạng Bồ Tát thể hiện cho cái đức Hiếu. Địa Tạng có nghĩa là đại địa tàng chứa chở che. Vạn vật từ đất sanh trưởng, đến lúc hủy hoại dù tốt xấu sạch dơ cũng lại trở về đất, đất lại thản nhiên dung nạp. Thành hình từ đất và hoại hình về đất. Đức tánh nhẫn nhục dung nạp của Địa Tạng Bồ Tát như đại địa, đủ để làm tấm gương soi sáng cho người học Phật, cũng còn là pháp học căn bản của hiếu thuận vậy.
Quy y Tam Bảo, ở đây đặc biệt lưu ý hành giả là quy y tự tánh Tam Bảo. Nghĩa là xoay lại nội tâm quy y chính tự tánh Tam Bảo của mình. Quy y Phật tức là quay về nương tựa tự tánh sáng suốt của chính mình. Quy y pháp tức là quay về nương tựa tự tánh từ bi hỷ xả của chính mình. Quy y Tăng tức là quay về với tánh thanh tịnh hòa hợp của chính mình. Trong người mình có đầy đủ đức tánh sáng suốt, từ bi, hỷ, xả, thanh tịnh, hòa hợp, tức là có đủ đức tánh Tam Bảo, gọi là tự tánh Tam Bảo. Nhưng từ lâu vọng động dong ruỗi theo dục lạc trần cảnh làm cho tự tánh Tam Bảo lu mờ.
Hiếu dưỡng cha mẹ, tận trung quốc dân”. Đây là những điều sinh hoạt hằng ngày của người Phật ttử phải ghi nhớ. “Thế nào là hiếu dưỡng cha mẹ?”. Cứ là đem trọn hết hiếu tâm cung dưỡng cha mẹ no ấm, mạnh khỏe, vận dụng tâm thành ý hòa hầu hạ cha mẹ, làm cho cha mẹ an vui. Dốc ý chí nỗ lực tạo sự nghiệp như cha mẹ kỳ vọng, để cho cha mẹ vui lòng mãn nguyện. Khéo khuyên cha mẹ phát tâm quy y Tam Bảo, thọ trì giới pháp, tu tâm sửa tánh hành thiện, hộ trì Phật pháp, ấy là phụng dưỡng thân thể và huệ mạng của cha mẹ. Được như thế là tròn hiếu đạo.
Thế nào gọi là “Tận trung quốc dân?”. Phật dạy chúng ta phải trung thành với quốc dân, tận lực phục vụ xã hội, hoàn thành trách nhiệm, thanh liêm với chức vụ. Đối với Phật pháp, người Phật tử phải ý thức tự đặt cho mình trách nhiệm hộ trì chánh pháp đạo thống, tận lực phát huy giáo nghĩa Phật Đà để quốc dân thuần lương, tận tâm hiệp trợ bồi dưỡng nhân tài để chúng sanh được thấm nhuần đạo pháp lợi lạc nhân sanh, đó là kỳ vọng của Phật, về ý nghĩa tận trung quốc gia.
Trong tâm ngoài thân cẩn trọng hành thiện”. Làm việc thiện với tâm thành, thân tâm tương hợp, chứ không phải làm thiện để cầu danh thủ lợi, hay để được tiếng khen. Nên kinh nói: “Thân miệng hợp nhau”. Nhiều người làm thiện vì danh lợi, miệng nói đạo đức sặc mùi từ bi hỷ xả mà trong lòng tà niệm, như thế chỉ được phước hữu hạn không đạt được phước báo ba la mật. Làm thiện với tâm chấp trước, không vô tư thanh tịnh. Nên chỉ được quả báo nhân gian hữu hạn. Cũng ý nghĩa nầy, người Phật tử ủng hộ bậc chân tăng hành đạo thì phước đức tăng trưởng vô lượng. Ngược lại, hộ đạo cho những hạng tà tăng thì phước đức chẳng những không tăng trưởng mà còn tổn phước nữa là khác. Vì sao? Bởi vì kẻ tà tăng tâm niệm hành vi tà ngụy, mà lại đem tâm lực tài vật ủng hộ cúng dường thì giúp họ được phương tiện để lợi dưỡng tự đắc làm tổn thương đạo pháp, phá sản niềm tin của những người có tâm thành chánh tín muốn học Phật.
Học đạo không tìm minh sư hướng dẫn, hộ đạo không lựa chân tăng cúng dường trợ giúp, làm thiện với tâm niệm không thanh tịnh là rơi vào tà đạo chứ không phải Phật đạo, ấy là kết duyên làm quyến thuộc với chúng ma chứ không phải quyến thuộc Bồ đề Tam Bảo, và như vậy quả báo sẽ phải sanh về cảnh giới ma. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật bảo tôn giả A Nan rằng: “Ông nay muốn chứng đắc đạo quả Vô tượng Bồ đề, thì tâm phải hoàn toàn thanh tịnh để chân tánh diệu tâm hiển bày, tâm miệng chân trực, tuyệt đối không có tướng quanh co xen giữa”. Kinh Quán Vô Lượng Thọ xác định: Tâm chân trực là tâm chí thành thanh tịnh, tâm của đại Bồ Tát.
Ở đây, ý chỉ của Phật khuyên người hành đạo nên chân trực thân miệng ý. Đem ba nghiệp thân miệng ý chân trực hành đạo, giúp đời thì nhất định sẽ được quả báo chơn thừa vô tượng. Nên trong Nghi Thức Hồng Danh Sám Hối nói: “Con nay phát tâm không phải để cầu được phước báo của nhơn thiên, Thanh Văn, Duyên Giác hay cả dến quyền thừa Bồ Tát đi nữa con cũng chẳng cầu, mà chỉ một lòng cầu được quả tối thượng thừa, nên con phát tâm bồ đề”. Đem thân miệng ý chân trực trung thành hành đạo thì dù làm việc đời cũng thành việc đạo, việc nhỏ cũng được phước báo lớn. Nên Phật pháp nói: “Tà nhơn thuyết chánh pháp, chánh pháp biến thành tà. Chánh nhơn thuyết tà pháp, tà pháp biến thành chánh”. Cũng trong ý nghĩa này, kinh đây nói: “Như thế cho dù làm việc thế gian mà không có ý thế gian”.
A-Nan thưa với Phật: Thế nào là thế gian sự? Thế nào là thế gian ý? Thật khó phân biệt.
Phật nói: Là đệ tử Phật thể mua bán kinh doanh thương nghiệp, đúng cân đủ thước, không nên lừa dối, làm đúng tình lý, không trái lương tâm lý tánh tự nhiên, tống táng, hôn thú, di cư đều là thế gian sự.
LỜI GIẢI:
Thế gian sự thì vô số kể không thể nào nói hết. Ở đây đức Phật chỉ nêu vài việc làm thí dụ để giảng giải cho chúng ta hiểu rõ Phật pháp bất ly thế gian pháp. Phật pháp không trở ngại thế gian pháp. Thế gian pháp là điều mà chúng ta thường nhựt sinh hoạt, như ăn, uống, ngủ nghỉ, thân quyến bằng hữu, ân nghĩa giúp đỡ, hôn quan tang tế, mà hành giả công phu tu tập Phật pháp cũng sinh hoạt ở trong những sự vụ lớn nhỏ hằng ngày đó. Nhưng hành giả tu Phật có khác với kẻ thường tìnhthấu rõ thế gian mộng huyễn, các pháp vô thường, nên thanh thản buông thả, khởi lòng vị tha phương tiện dùng giả hiển thật, lấy huyễn độ chân, nên ở trong đời làm việc đời mà không nhiễm đời. Như hoa sen trong bùn mà không dính mùi bùn hôi tanh.
Đức Phật đã khuyến bảo chúng ta: Những người làm đệ tử Phật, phát tâm Đại thừa, hành Tứ nhiếp pháp thì sẽ vô ngại đối với thế gian sự. Chẳng hạn như có thể kinh doanh thương nghiệp, mua bán hàng hóa, miễn là thành tín tương kính, tâm ý chân trực tiếp vật đãi nhơn, cần lợi lạc nhân nghĩa đạo đức, chớ không cần hư danh tiền tài bên ngoài. Lợi ích hợp đạo tự lợi lợi tha ấy là “lợi hành và đồng sự” của Tứ nhiếp pháp. Các Bồ Tát muốn vào đời hóa đạo độ sanh, nhiều lúc cũng phải mang thân hình của người cư sĩ hòa quang đồng trần, dùng thân miệng ý nhiếp pháp để cảm hóa người đời. Dù ở trường hợp hoàn cảnh nào, người Phật tử vẫn giữ vững tâm lượng bao dung, ý tình chân trực trung tín như chánh pháp “thuận tình hợp lý, không trái lương tâm lý tánh tự nhiên”. Khéo biết vận dụng bốn đức “nhân ái tín nghĩa” để phục vụ xã hội, làm phước lợi nhân quần. Khéo dùng Tứ nhiếp pháp cảm hóa hướng đạo thế nhân, mà thế nhân không cảm thấy mình bị cảm hóa hướng đạo, tự nguyện hồi đầu về với đạo cả. Như thế, đệ tử Phật làm việc thế gian như thương nghiệp tống táng, hôn lễ, di cư v.v... đều hành Bồ Tát đạo, hình thái là thế gian sự mà thực chất không thế gian ý.
CHÁNH VĂN:
Là đệ tử Phật thì đối với việc thế gian ý như xin xăm bói quẻ, càu thỉnh sùng bái quỉ thần, phù chú, trù yếm, tấu sớ giải trừ, xem lựa ngày giờ tốt xấu, tất cả những thứ nầy đều không nên làm.
LỜI GIẢI:
Đoạn kinh trên đây, đức Phật giảng thuyết về thế gian ý để cho người Phật tử thể hội suốt thông không nên mê tín tà ma thần quỷ ngụy tạo phù phép, mà phải tu dưỡng đạo đức ngay nội tại bản tâm. Việc mê tín rất nhiều hình thái, hoặc do những loài yêu ma hiện hình người, hoặc do người nặng nghiệp tà ma tạo ra những điều thần bí quái dị nhắm đúng hiếu kỳ, hợp tâm lý sợ hải ỷ lại, để thỏa lòng tham vọng của người đời, lâu ngày thành tạp khí mê tín thần linh ma quỷ. Suy cho cùng tánh lý, ngẫm cho kỹ lời Phật dạy trong tam tạng kinh điển, hễ người có thọ trì giới pháp, chánh tâm hành thiện, chuyên cần tu bồi phước đức thì tự nhiên được các thiện thần trời người hộ trì. Sách sử xưa nay ghi rõ những bậc thuần chân tu hành, những người đạo đức dù ở núi cao rừng thẳm, hoặc nơi đồng không mông quạnh vắng vẻ, xa cách đô thị, phồn hoa, mà các thức ăn mặc thuốc men không thiếu đời sống an lành không tai ương hoạn nạn, danh thơm đạo đức rạng ngời khắp nhân gian. Trái lại, kẻ bôn ba danh lợi sống nơi phồn hoa đô hội thị thành, quên chuyện giới hạnh tu tâm dưỡng tánh làm lành bồi phước, lại có kẻ chỉ đem tâm cầu thần cúng quỷ xin xăm bói quẻ, lẽ tất nhiên chiêu cảm ác thần ác quỷ thân gần ủng hộ. Khi hết cúng tế thần quỷ, thì thần quỷ quở phát, bịnh hoạn tai ương từ đó phát sanh. Người biết thọ trì giới pháp làm việc phước đức được thiện thần ủng hộ. Phật Bồ Tát khai quang hướng đạo. ngược lại, không thọ trì giới pháp, sống phóng túng dục lạc lợi danh, cầu thần linh ma quỷ, xin xăm bói quể thì sẽ được tà ma thần linh ủng hộ lợi lộc nhứt thời, để rồi sau đó phải khốn đốn. Bởi lòng tham sân của các thần quỷ không khi nào thắng qua được giới đức. Nên cổ đức tiên hiền lấy kinh nghiệm sống của mình mà có lời thống thiết khuyên chúng ta: “Đức trọng quỷ thần kinh”. Người có đạo đức cao dày thì quỷ thần tất nhiên phải kính trọng hộ trì, mà không phải làm những chuyện mê tín xin xăm bói quẻ cúng bái cầu khẩn thượng đế ban phước trừ họa. Đức dày thì tai họa tiêu. Thiếu phước thì ác quỷ ác thần lộng hành. Phước đức song toàn thì trời người thần quỷ chung nhau hộ trì. Tổ tiên ta có lời khuyên “ở có đức mặc sức mà hưởng”. Câu nói nôm na giản dị mà mang ý nghĩa thâm sâu, thầm khuyên người đời bỏ tà tâm mê tín, dừng bước tham dục lợi danh.
Đức Phật nói: Là đệ tử Phật nên biết những điều:
1/- Không nên bói quẻ xin xăm, xem tướng đoán mạng, dự trắc vận số kiết hung họa phước, lượng định phong thủy địa lý,
2/- Không nên đồng bóng cầu cơ tin thờ quỷ thần cô tiên đồng cốt.
3/- Không nên luyện bùa ngải, phù họa quái hình trừ tà yếm quỷ trị bịnh tà ma.
4/- không nên dùng phù chú tà thuật hình nộm trấn áp.
5/- Không nên thờ cúng tà thần tà quỷ, khẩn cầu bái vọng, giống loại thầy pháp.
6/- Không nên dùng sớ văn tấu trình thiên đế thần linh, cầu xin quỷ thần giải mở oán cứu, tiêu trừ tai họa.
7/- Không nên làm việc tuyển lựa ngày giờ tốt xấu, coi tuổi định duyên đoán phận.
Bảy điều trên đây là những điều thế tục mê tín, trái với lý tánh chân tâm, không hợp với đạo đức tu tâm dưỡng tánh. Cúng bái thần linh tà quỷ chỉ thêm mang lụy vào thân. Đức Phật khuyên hàng Phật tử nên chánh tín phụng thờ Tam Bảo, tu tạo phước đức để làm tư lương trên đường hạnh phúc giác ngộ. Không những đức Phật khuyên mà Khổng Tử cũng nói với môn đồ: “Kính quỷ thần mà nên xa đó”. Phật đem chánh pháp giảng nói để chúng sanh khải phát chánh trí thể đạt chân lý, nên người Phật tử sống bằng trí huệ giới đức, chứ tuyệt đối không theo thói đời mê tín. Nhân thiện tất được quả thiện. Nhân ác tất chịu quả ác. Nhân tà tất phải quả báo tà. Nhân chánh thì được quả báo chánh. Nhân quả báo ứng mảy may không sai. Người đời nông cạn, bị hạn hẹp trong lợi danh, không vận dung chánh trí trong đời sống, không chịu tu tâm dưỡng tánh hành thiện bố thí cúng dường, lại cầu xin xăm bói quẻ để cầu vận mệnh tốt. Hạng người như thế thật là mù quáng dại dột nhứt đời. (Nguồn: Kinh A Nan vấn về Phật sự)

II- Phật độ cho ai - Đức tin là then chốt

1/ Phật độ cho ai
+ Có một đệ tử hỏi Phật rằng: “Ngài có thần thông và từ bi, vì sao vẫn còn những kẻ chịu khổ vậy? 
Phật rằng: “Tôi tuy có sức thần thông rất lớn; nhưng có 4 điều là vẫn không thể thực hiện được, chính là:
Điều 1: Nhân quả không thể đổi thay, tự gieo nhân thì tự nhận quả, người khác không thể nhận thay.
Điều 2: Trí tuệ không thể cho được, bất kỳ ai muốn có trí tuệ thì phải tự mình tu, học.
Điều 3: Diệu pháp không thể diễn tả được, Bản thể chân thật của vũ trụ dùng ngôn ngữ không thể cắt nghĩa mà hiểu được, chỉ có thể dựa vào thực chứng mà thôi.
Điều 4: Không có duyên thì không thể độ, người không có duyên thì họ không bao giờ nghe những lời nói mà ta chia sẻ. Mưa trời tuy lớn, cây không rễ khó mà thấm nước; Phật môn tuy rộng mở, khó độ người vô duyên. Nghe lời Phật dạy vô cùng quan trọng. (Xem: Bốn Điều Phật Không Thể Làm)

2/ Đức tin là then chốt

+ Đức Tin: Kinh Hoa Nghiêm dạy: Ðức tin là nguồn đạo, là mẹ của mọi công đức; HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Quyển 1) nói rằng: Niềm tin chưa đầy đủ cũng đồng nghĩa với không có niềm tin;

+ Phật nói: "Tin là mẹ đẻ của công đức", ý này rất sâu rất rộng. Chúng ta luôn luôn là qua loa sơ ý xem qua, việc này dường như là rất thông thường. Việc thường hay nói, trẻ nhỏ ba tuổi đều biết thì việc này có gì hiếm lạ đâu? Chúng ta không biết được, then chốt của thành công hay thất bại chính ngay trong đó.... chữ Tín trong “Tín-Nguyện-Hạnh” => Cầu nguyện đượi lợi ích. Có tín mà không có nguyện, hạnh thì đều là giả. Đây cũng giống như tòa lầu ba tầng, tin là tầng thứ nhất, nguyện là tầng thứ hai, hạnh là tầng thứ ba.....Phương pháp duy nhất có thể giúp chúng ta đoạn những ô nhiễm này chính là "đọc tụng đại thừa, vì người diễn nói". (Kinh Thập Thiện - Tập 36_PS Tịnh Không)

+ Tín Tâm - Tin Phật Pháp: Tỷ kheo có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Tỷ-kheo ấy không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Tỷ-kheo ấy sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu với các thiện pháp. Tỷ-kheo ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt các pháp, Thành tựu sự thể nhập thuộc bậc Thánh, đưa đến chân chánh đoạn diệt khổ đau.  - Vị ấy suy nghĩ như trên: “Ta có lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán,…Phật, Thế Tôn; Tỷ-kheo ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa....”, tại sao ta lại không đặt hy vọng vào sự đoạn diệt các lậu hoặc?”(Xem phẩm Vua - Tỷ Kheo) Xem: TH Các chướng ngại Tu và Chứng đạo - Điểm đạo

+ NÓI VỀ BỐN MÓN TÍN TÂM
1. Tin căn bản, tức là ưa nghĩ nhớ pháp chơn như.
2. Tin Phật có vô lượng công đức; hành giả thường phải nghĩ tưởng, gần gũi, cung kính và cúng dường chư Phật, để pháp khởi căn lành và nguyện cầu đặng "Nhứt thế trí".
3. Tin Pháp của Phật có lợi ích lớn; hành giả phải thường nhớ tu hành các pháp Ba la mật.
4. Tin Tăng là người chơn chánh tu hành, tự lợi lợi tha, và hành giả thường ưa thân cận các vị Bồ Tát để cầu học cái hạnh chơn thật. (Nguồn: Giảng về Tín Tâm trong Tu hành)

+ Đức tin (Faith): Sức mạnh của đức tin có thể làm khởi động (set in motion) các năng lượng cao siêu (superior energies), các năng lượng này có thể vô hiệu hóa (negate) hay làm cản trở (retard) bệnh tật. Toàn thể chủ đề về đức tin, ý nghĩa thiết yếu và mãnh lực của nó đều ít được hiểu, giống như là Luật Nghiệp Quả. Đây là một chủ đề bao la và tôi không thể quảng diễn thêm nữa. Nhưng tôi đã nói đủ để giúp bạn tài liệu suy đoán. (CTNM, 350)

+ Đức tin chân chính: (Real faith, pistis). Đức tin chân chính tức là pistis của người Hy Lạp, là “đức tin dựa vào tri thức” (“ belief based on knowledge”) dù cho tri thức đó được cung cấp bởi bằng chứng của các giác quan vật chất hay tinh thần. (CKMTTL, 169)

+ Đức tin - Lòng tin: "Đức Phật có nói: Rằng chúng ta đừng nên tin vào một điều gì được nói ra chỉ vì nó được nói mà thôi; đừng tin vào các truyền thống vì chúng đã được truyền xuống từ thời xa xưa; đừng tin vào các đồn đãi như thế; cũng không tin vào các câu viết của các vị thánh, vì các thánh đó đã viết ra các câu ấy; cũng đừng tưởng rằng chúng ta có thể nghi ngờ khi được một Thiên Thần gợi hứng nơi chúng ta (nghĩa là, trong những gì được cho là có chứa hứng cảm tâm linh); cũng đừng tin vào các suy đoán được rút ra từ một giả định không cẩn trọng nào đó mà chúng ta có thể đưa ra; cũng như không vì những gì có vẻ như một sự tương đồng tất yếu; cũng không chỉ dựa vào thẩm quyền của các huấn sư hoặc các bậc thầy của chúng ta. Nhưng chúng ta PHẢI TIN khi nào bài viết, lý thuyết hoặc châm ngôn được chứng thực bằng chính lý lẽ và ý thức của chúng ta. Để kết luận, Ngài nói: “Vì lẽ đó, ta khuyên con đừng nên tin chỉ vì con đã nghe, mà hãy NÊN TIN vào ý thức của con, rồi hãy hành động cho thật phù hợp với điều đã biết”. (Trích: Giáo Lý Bí Nhiệm III, 401")

III- Học Hiểu Kinh pháp

+ Học Phật Pháp xuất gia và tại gia: ... Cho nên "Phật pháp ở thế gian thì không thể lìa thế gian giác". Câu nói này quan trọng, hay nói cách khác lìa khỏi thế gian thì bạn không thể giác, bạn không rời thế gian thì bạn mới có thể giác, làm sao mà bạn có thể từ bỏ đi công việc, buông bỏ gia đình? Đó là bạn không gánh vác trách nhiệm, bạn học Phật hiểu biết không thấu triệt, chỉ nghe lời truyền miệng, bạn không nên có cách làm như vậy. (Nguồn: PS Tịnh Không giảng)

+ Phương pháp đọc và Học: Những chú giải Kinh của nhiều Thầy chúng ta đều có thể tham khảo, nhưng nhất định không được có thành kiến. Có thành kiến bạn sẽ không thể học được gì. “Chỉ cung cấp cho ta tham khảo”. Nhất định tự mình phải có chủ ý riêng, không thể hoàn toàn đi theo người ta, làm như thế bạn sẽ vĩnh viễn không thể xuất đầu lộ diện.(Kinh TTNĐ-Tập 62_PS Tịnh Không)

+ Học 1 biết 10: Chúng ta thường nghe trong nhà Phật nói: Một kinh thông suốt, hết thảy kinh thông suốt. Câu nói này ngàn vạn phần đúng đắn, tuyệt đối chẳng hư giả, mãi đến năm nay tôi mới chứng nhập được cảnh giới này_PS Tịnh Không. (Nguồn: Tu Thanh Tịnh Tâm)

+ Phụ nữ học Kinh Phật có những lợi ích sau:
1. Nhận thức được chân tướng cuộc sống, học được nguyên tắc vận hành của cuộc sống, chọn được con đường đúng đắn trong cuộc đời, làm một người phụ nữ hạnh phúc.
2. Nuôi dưỡng chính khí, hóa giải oán khí, tăng phúc khí, nâng cao năng lượng sống, nạp đầy hi vọng trong cuộc sống.
3. Hóa giải tâm trạng không tốt ở tuổi mãn kinh, tích lũy năng lượng sống trong suốt nửa đời còn lại.
4. Tăng thêm sự tín nhiệm giữa hai vợ chồng, tăng thêm tình thân giữa mẹ và con, bồi dưỡng năng lượng cho gia đình.
5. Tăng cảm giác sống có mục tiêu, sống có giá trị. Cảm nhận được nhiều thành tựu trong việc làm; cảm nhận được thêm nhiều ý nghĩa trong cuộc sống; cảm nhận được hạnh phúc; cảm nhận được tâm tưởng sự thành, vạn sự như ý.
6. Toàn gia đình dưỡng chính khí, con cái thêm yêu học tập, chồng thêm yêu gia đình, gia nghiệp thêm hưng thịnh.
7. Làm Người mẹ tốt: Hôm nay đọc kinh Phật làm người mẹ tốt, mai sau làm một người bà tốt.
8. Người lương thiện: Có cơ hội làm người lương thiện, khuyên bảo được người thân, bạn bè, hàng xóm…học tập, hành thiện, tích đức.
9. Nguồn Phúc: Có năng lực tích phúc đức lớn.
10. Được hưởng ngũ phúc lâm môn: trường thọ, phú quý, bình an, khỏe mạnh, thiện chung. Phúc báo của một người phụ nữ không những ảnh hưởng đến cuộc đời chính họ mà còn tác động đến chồng con và gia đình.

+ PS Tịnh Không: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” nghĩa là y theo câu văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, thì ba đời Phật bị oan. Cứ chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi!
Quý vị xem: Học Phật pháp phải quy về tự tánh, điều này khẩn yếu lắm, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh, mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. ....”Nguồn: Y Kinh Giải Nghĩa ...

+ Phật lại dạy rằng: "Chỉ học thuộc lòng và nhiều kiếp nhớ ghi Kinh văn diệu pháp của Phật, cũng không bằng một ngày chuyên tu vô lậu nghiệp. Xa lìa hai khổ thương ghét thế gian..."... A Nan! Bồ-đề Niết bàn còn xa, nếu ông không siêng năng tu tập, dù ông có nhớ diệu nghĩa 12 bộ kinh của thập phương Như Lai cũng chỉ thêm nhiều hý luận. (Nguồn: Mục Lại rơi vào thuyết nhân duyên đối đãi ....)

+ Đọc Tụng Kinh - Chứng ngộ đạo: .... Kinh Pháp Hoa là bộ kinh rất quan trọng trong đạo Phật. Kinh Thủ Lăng Nghiêm là để khai mở trí huệ, chỉ ra con đường tu tập. Kinh Pháp Hoa là để tựu thành Phật đạo. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)

+ Giảng Nói Phật Pháp Tùy Căn Cơ Chúng Sinh: Trích đoạn Kinh Đức Phật dạy ngài A Nan "Lại nữa, A-nan, như ông thường biết được rằng, như ông đã rõ, ông đã được nghe giáo lý quyền thừa trước đây. Giáo lý quyền thừa đề cập đến năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới. Ông đã hiểu được toàn bộ giáo lý nầy. Nhưng, giáo lý về mười tám giới chỉ được diễn bày như là một pháp môn phương tiện cho hàng Nhị thừa và ngoại đạo để dẫn dắt họ. Nay Như Lai sẽ giảng giải giáo lý ấy thật chi tiết. Đừng trở nên chấp trước với những pháp trần nầy.... (Nguồn: Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 3)

+ Đức Phật giảng Pháp Có Nhiểu Cấp Độ: HT Tuyên Hóa giảng nghĩa Kinh Thủ Lăng Nghiêm ... Những gì được giảng giải trước đây đều là pháp phương tiện. Pháp đang được giảng nói bây giờ là Đệ nhất nghĩa đế, là giáo lý rốt ráo của Trung đạo, hoàn toàn khác với pháp môn được giảng nói trước đây. Năm uẩn, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới–tất cả các pháp nầy đều không sinh khởi do nhân duyên, cũng chẳng sinh khởi do tự nhiên.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ LN- Q.3)

+ Xin mời đọc bài viết tổng hợp các hướng dẫn học đạo phật để có thành tựu chân thật: Học Phật pháp theo Phật dậy

IV. Phương pháp Tu Hành - Thật hành:

Tu hành: Là Pháp tu TRUNG ĐẠO - Là con đường Chánh đạo mà chính Đức Phật đã dậy, áp dụng cho mọi Pháp tu (Lời HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Q1)

+ Tu Tại Gia _ Đức Phật dậy: Trong quyển Ưu-bà-tắc giới kinh, đức Phật dạy rằng: “Tại gia còn bị nhiều sự ràng buộc nơi gia đình, khó bề tu học, nhưng nếu tu học được thì công đức nhiều hơn người xuất gia”.
- Ông Anatapandica, tàu dịch là Cấp-Cô-Độc, một Đại phú hộ, có hỏi Phật: ”Bạch Phật, lòng tôi muốn làm lành và ban ân huệ cho muôn loài vạn vật, xin Phật giải bày cho tôi rõ coi, muốn đắc đạo tôi có phải bỏ gia thế, bỏ sự sản của tôi đặng đi ta bà như Phật chăng ?”

Phật bèn đáp: “Người nào giữ tròn Đạo Bát Chánh thì sẽ hưởng đặng hạnh phúc của sự tu hành. Người nào ham mến giàu sang thì mau trừ thói ích kỷ đó đi, đừng để nó nhiễm trong lòng mà phải mang hại. Còn người nào tiền của dư muôn, đã không quí trọng nó, lại còn làm việc phải, đó là người ban hạnh phúc cho nhân loại.

Ta khuyên ngươi hãy cần mẫn trong công việc làm ăn của ngươi, đừng bỏ nhà cửa đi đâu. Không phải tại cuộc đời, tại sự giàu sang hay là quyền thế bắt con người làm tôi mọi cho nó, song tại sự ham mến cuộc đời, tại sự ham mến cảnh giàu sang, tại sự ham mến quyền tước, nó giam hãm con người vào vòng vật chất.

Người tu ở tại nhà có đắc quả chăng?

Người đã quyết chí tu hành thì dầu ở hoàn cảnh nào cũng đều có kết quả. Tục ngữ có nói: “Nhứt là tu ở tại nhà, hai là tu ở non núi, thứ ba là tu ở chùa”. Đây là so sánh các hoàn cảnh, nơi nào dễ tu, nơi nào khó tu mà thôi.(Theo Facebook Vũ Ngọc Minh - trích từ Bạch Liên - thongthienhoc.com)

+ Hỏi cách người tu ăn chay cùng gia đình: Sau cùng còn 1 vấn đề, họ nói khi tôi chưa tiếp xúc Phật pháp thì đời sống đơn giản an vui, thế nhưng từ sau khi tiếp xúc học Phật qua, phát hiện khi cùng ở chung với mọi người, đời sống thay đổi quá phức tạp, thậm chí ngay đến nồi chén cũng đều không thể đụng chạm, cái này không thể ăn, cái kia không đúng pháp, tôi đang do dự có nên bước vào của Phật hay không?

- Ví dụ Pháp Sư Tịnh Không tiếp đón Mẹ: Khi ăn cơm tôi hỏi bà muốn ăn thứ gì? Bà nói muốn ăn cá. Tôi liền bảo nhà bếp mua cá, mỗi bữa ăn đều dọn ra trước mặt bà, trong lúc bà ăn, bà xem thấy mọi người chúng tôi đều ăn chay, bà ở qua 1 tuần, sau đó trở về Thượng Hải, từ đó trở về sau bà liền ăn trường chay. Phải chính bà tự động phát tâm, chúng tôi không thể khuyên bà, khổ cực cả 1 đời, muốn ăn 1 chút cá cũng không ăn được , vậy thì làm sao được ?”
Phật pháp ở nơi ăn uống có khai duyên, nhất định phải nên biết (Cần tùy duyên mà phát tâm ăn chay mới đúng pháp) (Pháp Sư Tịnh Không giảng)

+ Tu Tại Gia: Câu Hỏi 23: Còn ở tại nhà mà xuất gia, vậy có phải thật là xuất gia không?
Đáp: Nếu người tại gia, ở nhà mà có thể xa lìa được trần cấu thì cũng giống như là người xuất gia. Vậy người trong cảnh trần tục mà tâm thoát khỏi phàm trần, cũng như trồng hoa trong giếng, thì hoa đó không bị nhiễm trần. Là người xuất gia mà trong tâm nhiễm đầy trần cấu, thì cũng giống như người tại gia.(Nguồn: HT Tuyên Hóa giải đáp thắc mắc)

V- Phát nguyện với Phật tử

+ Lời Nguyện Xấu - Tốt: Đức Phật dậy, lời nguyện xấu tốt đều được thành tựu. Cho nên không được phát thề/ nguyện với lời nguyện (Nguyền) không trong sáng, không lợi tha. (Xem: TH về Phát Tâm - Nguyện:Bài viết số 4)

+ Phát nguyện là một lời hứa thiêng liêng mà mọi người Phật tử đều nên thực hiện. Phát nguyện rất quan trọng, vì không có nó cũng như không có người hướng dẫn. Giống như đi đường mà không biết mình sẽ đi hướng nào, chẳng biết nên rẽ phải hay nên quẹo trái để đến đích. Nếu quý vị phát nguyện, cũng như khi du lịch có người hướng dẫn đường đi và nơi đến. Mỗi quý vị nên phát một hạnh nguyện phù hợp với những việc hằng ngày quý vị thích làm (HT Tuyên Hóa Giảng Chú Đại Bi - câu thứ 37: Thất na thất na là “đại trí tuệ” và còn có nghĩa là “hoằng thệ nguyện”)

- HT Tuyên Hóa cũng dạy: Trong tu hành, không phát nguyện cũng giống như cây ra Hoa mà không thành quả được. Lời Phát nguyện mà có thể làm lợi ích cho người thì dù là vọng tưởng cũng không đáng ngại; (Nguồn: Vấn đáp Hòa Thượng Tuyên Hóa rất hay)

+ Phát nguyện nên phát triển từ nhỏ đến lớn, đến đại nguyện theo hạnh Bồ Tát đạo: Lời Nguyện vị tha - Làm gì cho người khác được lợi ích - Nên phát nguyện trước bàn thờ, tượng Phật, Bồ tát, đức Thầy hay hội chúng nhiều người. Nên phát nguyện hợp với khả năng, có tính khả thi trong thực hiện trong một thời gian có thể kiểm chứng nhanh, tạo nhiều động lực hơn (Thầy Hằng Trường giảng Chú Đại Bi - 42 Thủ Nhãn_Clip 06, phút thứ 19)

+ Nguyện vọng rực lửa: Sự bừng cháy với lòng nhiệt thành và nỗ lực “tinh tấn” hướng đến lý tưởng, hoặc tự rèn luyện nhằm đạt mục tiêu phải thật sâu xa trong tâm đến mức không khó khăn, trở ngại nào có thể khiến y lùi bước. Khi hành giả đã tỏ ra rằng không vấn đề khó khăn nào, không sự tối tăm hay thời gian lâu dài nào ngăn trở được y, thì bấy giờ y mới được phép trở thành đệ tử của một vị Chân sư. Sự cố gắng mãnh liệt, lòng thiết tha kiên định và liên tục, và sự trung thành không dời đổi đối với lý tưởng thấy được qua thị kiến tinh thần, là điều kiện thiết yếu của Con đường Đệ tử. (Sách: Ánh Sáng Của Linh Hồn)

+ Nguyện vọng phải phát khởi trước khi có sự lưu nhập của nguồn cảm hứng tinh thần. Phàm ngã phải thở ra trước khi có sự thở vào của Chân ngã cao siêu. Nguyện vọng có ẩn ý là lửa. Nó ngụ ý ước vọng bừng cháy, và quyết tâm nồng nhiệt, rốt cuộc mang lại ba điều cho người chí nguyện. Xem nguyện vọng rực lửa.

+ Lời nguyện giải tỏa lỗi lo sợ: Tôi muốn đề nghị họ nhớ nằm lòng và luôn luôn sử dụng, khi bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi do ảo tưởng và điềm báo vô ích, công thức hoặc lời cầu nguyện sau đây:  “Xin cho thực tại chi phối mọi suy nghĩ của tôi, và chân lý là chủ nhân của cuộc đời tôi”. (LVHLT, 239)

+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết Bàn, lại sẽ giáo hóa tất cả chúng sinh, thảy đều được đầy đủ bát nhã ba la mật”. Như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha. (Xem: TH về Phát Tâm - Phát nguyện: Bài số 1)

+ Phát Nguyện Theo Lời Dạy Của Bồ Tát Quan Thế Âm (Trích từ Kinh Chú Đại Bi).

Nếu có vị Tì khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di hay đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh, và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:

Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con mau biết tất cả pháp.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con sớm được mắt trí huệ.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con mau độ các chúng sanh,
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con mau lên thuyền bát nhã.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con sớm được qua biển khổ,
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con mau được đạo giới định.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con sớm lên non Niết Bàn.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam mô đại bi Quán Thế Âm,
     Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
     Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi,
     Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi địa ngục,
     Địa ngục liền mau tự tiêu diệt,
Nếu con hướng về loài ngạ quỷ.
     Ngạ quỷ liền được tự no đủ,
Nếu con hướng về chúng Tu La,
     Tu la tâm ác tự điều phục,
Nếu con hướng về các súc sanh,
     Súc sanh tự được trí huệ lớn.

Khi phát lời nguyện ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của tôi (Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm hoặc Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát), rồi lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức A Di Đà Như Lai (24), kế đó tiếp tụng đà ra ni thần chú này. Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử. (Nguồn: Xem giảng và hướng dẫn trì Chú Đại Bi và kết ấn)

Xem thêm về Phát nguyện quan trọng như thế nào

B- BÀN THỜ - LỄ LẠY - DẦN CÚNG

I- Bàn thờ và vật phẩm dâng cúng

a/ Bàn thờ Phật: Tùy duyên, mỗi người tùy theo khả năng, điều kiện cụ thể của mình mà có thể có hoặc không có bàn thờ Phật. Khi đó có thể kết hợp với bàn thờ gia tiền (Bố trí cho đúng, Phật ở trên cao). Nếu chưa đủ điều kiện thì vẫn có thể hành trì lễ lạy, thưa bạch Phật, Bồ Tát gia hộ độ trì cho công việc thiện lành được thành tựu như ý. Nên biết Tu hành là tu ở Tâm, không phải ở hình tướng. Đức Phật dạy: "Nếu dùng sắc thấy Ta - Dùng âm thanh cầu ta..." là tu theo tà đạo. Cho lên tu là tu Tâm sửa tánh là vậy. Hình tướng và âm thanh chẳng ích lợi chi nếu Tâm không tương ưng.

b/ Vật phẩm dâng cúng Tam Bảo - Phật hay Bồ Tát thì là tùy duyên mà lượng sức mình mà mua sắm vật phẩm, treo tràng phang bảo cái trang trí, thắp đèn nhang, hương hoa quả ....
Tuy nhiên, là Phật tử nên biết rằng lòng keo kiệt, miễn cưỡng cho đi thì không tương ưng với lời Phật dạy, vì  "Cho đi là còn mãi", những thứ mình cho đi như gieo hạt, khi gặt hái sẽ được nhiều gấp bội. Đức Phật giảng rằng mỗi người có nhiều thứ bố thí cho người khác mà không cần đến tiền tài như: Nụ cười; Lời nói êm tai khen ngợi; Dùng sức giúp đỡ đúng lúc hay vào chùa làm phật sự ...

II- Lễ lạy Phật

 + Chữ Nam Mô: Trích đoạn HT Tuyên Hóa giảng Kinh, ý nghĩa chữ Nam Mô
Cách đây vài năm, có một chú đệ tử gọi tôi bốn năm lần từ Nữu-ước. Có điều gì rất khác thường. Chú luôn luôn muốn gặp được tôi. Chú quy y với tôi từ 13 tuổi. Trước đó, chú trải qua vài trạng thái lạ. Dù đang tuổi còn trẻ, nhưng chú lại bị đau tim. Bác sĩ yêu cầu phải nằm yên 5 năm. Chú không thể ngồi dậy, không thể đi được dù vài bước. Lúc ấy chú nhận được điện tín của tôi. Trong khi người thân và bạn bè đồng thanh niệm “Nam mô A-di-đà Phật,” thì chú lại gọi tên tôi, “Nam mô Pháp sư Độ Luân.” Nam mô [10] có nghĩa là cung kính đem hết thân mạng nương tựa vào. Chú ngồi niệm trong tư thế hoa sen ở trên giường. Sự thành tâm của chú thật là bất thường đối với một người còn quá nhỏ, và chú ngồi niệm như thế suốt hơn 70 ngày, Rồi chú thấy tấm hình chuyển sang người thật, đang dang tay xoa đầu chú. Sau đó, bệnh tim và mọi triệu chứng bện đều biến mất. Vào lúc đó, chú không hề gặp tôi. Chuyện nầy nghe như chuyện bịa đặt khó tin, nhưng đó chính là kinh nghiệm của chú. Sau khi được chữa lành bệnh, chú đến chùa tìm gặp tôi. Chú quy y, rồi ngồi thiền. Tôi thường ít dạy thiền khi ở Hông Kong. Nếu có ai muốn tập thiền, họ cứ tự mình tu tập. Chú ấy cũng vậy. Khi đi học ở trường, vào giờ ra chơi, chú lên trên đồi để ngồi thiền, hoặc ngay cả trong phòng tắm– bất kỳ nơi nào thấy thuận tiện. Sau một năm, chú được khai Phật nhãn, từ đó chú hiểu rõ thực chất mọi sự việc đang diễn ra rất rõ ràng.
Một việc khác xảy ra cũng với chú đệ tử nầy. Chú vốn rất lùn–có lẽ vì trước đây chú đã bị bệnh. Nhưng, tiếng Anh của chú rất giỏi, khi có người Mỹ đến thăm, tôi phải nhờ chú phiên dịch. Dù chú nói tiếng Anh rất lưu loát, nhưng người Mỹ xem thường chú vì thấy chú chỉ là đứa trẻ con. Rồi có hôm tôi nói với chú, “Hãy lớn nhanh lên! Chú thấp quá nên ai cũng nghĩ rằng chú chỉ là đứa bé con, dù chú có thông minh bao nhiêu, họ vẫn không xem trọng chú.” Chú rất nghe lời. Chú về nhà, và tuần sau bỗng lớn vụt lên 3 inches. Bây giờ chú còn cao hơn tôi.
Cách đây vài hôm chú gọi tôi và muốn tôi sang Nữu-ước. Nhưng vì tôi đang giảng kinh cho quý vị, tôi bảo là không thể đi được, dù chú rất mong muốn được gặp tôi. “Bây giờ tôi đang giảng kinh.” Tôi trả lời, “Và tôi không thể bỏ số đông đang nghe kinh chỉ vì một người muốn gặp tôi. Nếu chú thực tâm muốn gặp tôi, hãy sang Cựu Kim Sơn.”
Chú quyết định sang Cựu Kim Sơn, nhưng thấy không đủ thời gian. Nên ngày hôm sau chú gọi điện cho tôi báo tin chú đang lên đường. Nếu không phải vì đang giảng Kinh Thủ-lăng-nghiêm, nếu không phải vì Phật pháp, tôi thật mong muốn gặp chú đệ tử nầy. Chú đặt nhiều niềm tin ở tôi và khá thâm nhập Phật pháp.
Khi tôi còn ở Hồng Kông, chú thường dịch những bài giảng của tôi sang tiếng Quảng Đông. Chú thật xứng hợp với tôi, khi tôi vừa nói xong một câu, chú liền nắm lấy và giải thích trọn vẹn ý nghĩa. Có người phản đối rằng, “Thầy trủ trì đâu có nói như vậy, đó là chú ấy thêm thắt vào.” Thực sự là tôi đã bảo chú ấy hãy giải thích rộng ý nghĩa. Vì chú đã được khai Phật nhãn nên chú biết tôi muốn chú phải diễn đạt giáo lý thật chi tiết. Những gì chú nói đều đúng như những gì tôi giảng. Thế nên tôi là chú nhỏ lười biếng và để chú ấy nói thay. (Nguồn: HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương II)

+ Tư thế Lễ Bái - Lễ Lậy - Lễ Lạy:
- Lễ Lạy Tam Bảo - Phật - Bồ Tát để trở thành chính đối tượng lễ lạy: Tư thế gập người xuống đất chính là tư thế của đứa trẻ trong bào thai chứ không phải thân xác hiện tại => Chính là trở về Bồ Đề Tâm của Chư Phật, Bồ Tát => Là một với các Ngài. Khi nào lạy mà không còn nhận thức mình đang lạy nữa => Đã trở thành hóa thân của Tam Bảo hoặc đối tượng lễ lạy là Phật, Bồ Tát đó - Đây là mục đích tối hậu của việc lễ lạy.
- Để lễ lạy đúng pháp: Cần có sự thanh luyện thân tâm đúng pháp thì mới có thể trở thành hóa thân của các Ngài, ví như:
1. Phát Bồ Đề Tâm rộng lớn: Đầy đủ gồm 10 tâm với Tình thương bao dung, độ lượng, ta thứ ...
2. Nguyện cứu độ chúng sinh: Mục đích tu là để độ tất cả chúng sinh không phân biệt
3. Trì trai giữ giới: Ăn chay đúng cách cần có thời gian, dài ngắn tùy người để cơ thể dần thích nghi, chánh đột ngột sẽ sinh nhiều bệnh. Khởi đầu ngày ăn 1 bữa thịt, tháng sau cách ngày ăn một bữa ... kết hợp tu trì Kinh Chú đều đặn => Sẽ đến lúc cơ thể không còn muốn ăn thịt chúng sinh vì tình thương trong tâ, đã rộng mở. Đồng thời tu khẩu nghiệp, học Phật nghe Pháp nhiều ...
4. Khởi tâm bình đẳng: Tâm không phân biệt
5. Tụng liên tục: Đọc tụng hàng ngày hoặc bất cứ lúc nào giảnh rỗi, càng nhiều càng tốt với tâm không tán loạn => Dần tình thương/ Lòng Bác Ái và Minh triết ngày càng rộng mở, bao dung, độ lượng ... và khả năng phân biện, không còn mê tín dị đoan.
6. Có chỗ tu đàng hoàng: Tùy duyên mà chuẩn bị chỗ hợp lý, giúp nhiếp tâm nhưng không phụ thuộc vào hoàn cảnh nhiều, vì là Tu Tại Tâm - Hãy tập quán tưởng hình ảnh Tam Bảo - Phật - Bồ Tát - Thánh Nhân hàng ngày.
7. Chế tâm nhất xứ: Tâm an trụ, hồn nhiên, an nhiên tự tại, tuyệt không có tâm khác xen tạp vào là dần dần sẽ có kết quả cảm ứng nhiệm mầu.

+ Đối tượng Lễ lạy: Kính lễ Tam Bảo ai ai cũng có. Còn tùy duyên, mỗi người chọn cho mình một hay vài Đức Phật, Bồ tát nào đó mà mình thích nhất, tự trong thâm tâm phát khởi lòng yêu kính nhất - Gọi là có duyên sâu từ tiền kiếp (Nguồn: Xem tại đây)

+ Lễ 6 phương: Việc kính lễ cần Thân tâm song tu phải tương ưng giữa nói là làm, nếu chỉ nói mà không làm là tu giả, nên đức Phật dạy:
1. Phương đông - Cha mẹ, con làm 5 việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng. Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai là dạy con làm việc lành. Ba là hướng dẫn nghề nghiệp. Bốn là tác thành gia thất. Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp. Đây là đạo nghĩa cha mẹ con cái.
2. Phương nam - Thầy Tổ, học trò làm 5 việc: Một là giữ lòng kính trọng. Hai là quan tâm săn sóc. Ba là chăm chỉ học hành. Bốn là đáp ứng khi cần. Năm là hấp thụ những gì được truyền dạy. Thầy làm 5 việc: Một là dạy trò những chuyên môn của mình. Hai là dùng phương pháp dễ hiểu. Ba là không giấu nghề. Bốn là giới thiệu tiến thân. Năm là bố trí an toàn cho trò. Ðó là đạo nghĩa thầy trò.
3. Phương tây - Hôn phối, chồng làm 5 việc: Một là đối xử hoà ái. Hai là không bạc đãi khinh khi. Ba là một dạ thủy chung. Bốn là giao quyền nội chính. Năm là tùy khả năng mua sắm tư trang cho vợ. Người vợ làm 5 việc: Một là quán xuyến công việc gia đình. Hai là cư xử với hai họ một cách đồng đều. Ba là một lòng tiết hạnh. Bốn là gìn giữ tài sản. Năm là cần mẫn trong bổn phận. Ðó là cách lễ bái phương tây tức đạo nghĩa vợ chồng.
4. Phương bắc - Bạn bè, làm 5 việc: Một là rộng rãi. Hai là nhã nhặn. Ba là quan tâm lợi ích của bạn. Bốn là đồng cam cộng khổ. Năm là thành thật. Với một bạn tốt, làm 5 việc: Một là cảnh giác bạn trước những cám dỗ. Hai là giữ hộ tài sản khi bạn sa ngã. Ba là làm nơi nương tựa cho bạn lúc sa cơ. Bốn là không bỏ bạn lúc nguy biến. Năm là cư xử tốt với người thân của bạn. Ðó là đạo nghĩa bạn bè.
5. Phương dưới - Giúp việc, Chủ làm 5 việc: Một là không giao việc quá sức. Hai là trả thù lao tương xứng. Ba là chăm sóc khi đau yếu. Bốn là chia sớt món ngon vật lạ. Năm là không bắt làm việc quá giờ. Người giúp việc làm 5 việc: Một là thức trước chủ. Hai là ngủ sau chủ. Ba là không lấy những thứ không cho. Bốn là siêng năng làm việc. Năm là giữ tiếng tốt cho chủ. Ðó là đạo nghĩa chủ tớ.
6. Phương trên - Sa môn, cư sĩ làm 5 việc: Một là cử chỉ thân thiện. Hai là lời nói thân thiện. Ba là tư tưởng thân thiện. Bốn là luôn mở rộng cửa đón tiếp. Năm là cúng dường tứ sự. Với cư sĩ, sa môn làm 5 việc: Một là hướng dẫn cư sĩ xa điều ác. Hai là hướng dẫn cư sĩ làm việc lành. Ba là luôn cư xử với tâm từ ái. Bốn là giảng giải đạo lý tường tận. Năm là chỉ đường an vui đời sau. Ðó là đạo nghĩa tăng tục. - Sin Ga La bày tỏ niềm hoan hỷ: Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn .... (Nguồn: Kinh Đảnh Lễ Sáu Phương)

+ Xem thêm: Lễ lạy Phật có 10 lợi ích (Xem nguồn Lợi ích lễ lạy Phật)

III- Kính bạch và Cầu được ước thấy

1. Kính bạch Phật biết sự việc thiện lành định làm - Cầu Phật gia hộ độ trì thành tựu như ý.

+ Pháp kính bạch Tam bảo thực hiện như nào cho đúng, để không bị lạc vào mê tín dị đoan, tránh cầu việc bất thiện:

Trong kinh đức Phật thường dạy thiện nam tử, thiện nữ nhân hay thiện nam - Tín nữ, như thế họ đều phải là phật tử - Đệ tử phật thì phải theo lời Phật dạy mà thực hành trong đời sống hàng ngày, không mê tín dị đoan như người thế gian. Ngày dạy, là đệ tử Phật thì nên sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian, làm sự việc thế gian (kiếm sống và làm việc hàng ngày), nhưng không nên theo ý thế gian, tức là theo "Mê tín dị đoan", người phật tử cũng dễ lạc vào như lời PS Tịnh Không giảng như sau:
"... Chúng ta là những người học Phật, Chưa tìm hiểu rõ chân tướng sự thật bèn tin Phật Pháp, bèn niệm Kinh lạy Phật, thì đó là mê tín, chẳng sai gì cả!
Có người đối với Phật Pháp cũng Chưa tìm hiểu rõ ràng, minh bạch, bèn nói ta là mê tín, do đó họ cũng mê tín. Cái mê tín của chúng ta có ích lợi, còn mê tín của họ thì có hại, chẳng có lợi, nên cả hai đều là mê tín.
Cho nên muốn phê bình đúng đắn thì bạn nhất định phải tìm hiểu rõ ràng, nếu bạn chẳng hiểu rõ mà cứ tùy tiện nói thì sẽ rất dễ làm mích lòng, rất dễ tạo ác báo như trong Kinh đã nói. Do ngu si - Chưa tìm hiểu rõ ràng bèn nói bừa, tùy tiện phê bình, vậy là không nên, thái độ học vấn như vậy là sai lầm, chẳng đúng đắn. 
Giống như chúng ta học Phật Pháp vậy, chẳng phải nhất loạt thuận theo, nghe theo Ngài, chúng ta ở trong ấy tu học, cầu chứng, chứng minh lời Phật nói là chân thật, chẳng phải giả. Đây là điểm thù thắng của nền giáo học Phật Đà, Đức Phật nói cho bạn, giảng cho bạn hiểu rõ, tín, giải, hành, chứng. (Nguồn: PS Tịnh Không)"

Như vậy, nếu là phật tử chân chánh, không mê tín như vậy thì cần nên thực hành:
1. Đầu tiên phải phát tín tâm thành kính Tam bảo, hàng ngày lễ lạy, tùy duyên dâng cúng hương hóa ... lên Tam bảo để kiến tạo phước đức, buông xả ác duyên, tận làm việc thiện thì thân tâm được an tịnh thanh thản, Tam bảo gia hộ độ trì.
- Đức phật dậy "Tin là mẹ đẻ của công đức". Tín là then chốt - Thành công hay thất bại chính ngay trong đó.... chữ Tín trong “Tín-Nguyện-Hạnh” => Cầu nguyện đượi lợi ích. Có tín mà không có nguyện, hạnh thì đều là giả. Đây cũng giống như tòa lầu ba tầng, tin là tầng thứ nhất, nguyện là tầng thứ hai, hạnh là tầng thứ ba.....Phương pháp duy nhất có thể giúp chúng ta đoạn những ô nhiễm này chính là "đọc tụng đại thừa, vì người diễn nói". (Kinh Thập Thiện - Tập 36_PS Tịnh Không). Vậy lên lòng tin sâu dầy, mang hết thân mạng trao cho Tam Bảo, nơi Phật, Bồ Tát quyết định kể cả sống chết mới gọi là thật tin.
- Kinh Hoa Nghiêm dạy (HT Tuyên Hóa giảng): Ðức tin là nguồn đạo, là mẹ của mọi công đức. Cần hiểu thấu rằng "Niềm tin chưa đầy đủ cũng đồng nghĩa với không có niềm tin". Mời đọc tham khảo bài viết Tín tâm thành kính trong tu
2. Thứ hai: Luôn học và nghe giảng nhiều để hiểu rõ pháp phật, từ đó ứng dụng thật hành trong đời sống hàng ngày để chánh mê tín dị đoan, tin tưởng mù quáng rễ đi sai lạc vào đường tà đạo của phái ngoại đạo, rất tai hại. Là ngu mê "Bỏ Chân theo Giả". Mời đọc tham khảo bài viết: Hướng dẫn học Phật Pháp
3. Thứ ba: Thật hành làm nhiều các hạnh lành, xa lìa các hạnh xấu ác để có thành tựu về đạo đức nhân sinh trong đời sống, mà cái gốc của chữ đạo là đạo hiếu, là "hiếu thân tôn sư", là gốc của đạo người quân tử (Nhân lễ nghĩa trí tín). Tiếp rồi tiến tới tu Thập thiện nghiệp đạo và bát chánh đạo như lời Phật dạy. Tùy duyên chăm chỉ thực hành bố thí để cải tạo vận mạng của mình, giúp đời đẹp đạo, để đời đời được cát tường như ý.
Thật tu hành là tu đúng NHƯ PHÁP THỌ TRÌ mới mong có được thành tựu và cảm ứng nhiệm mầu, điều này giúp cho quí vị cải mệnh mạnh mẽ, thoát khổ được vui, vạn sự cát tường như ý trong kiếp sống này và nhiều kiếp vị lai nữa. Điều này rất quan trọng quí vị cần hiểu thấu để thực hành trong khi hành lễ lậy Phật, đọc tụng kinh chú. Mời tham khảo bài viết: Tu Như Pháp Thọ Trì

Khi hội đủ ba yếu tố trên, thì nên y như Kinh "A Nan vấn về Phật sự" đức Phật có dậy, trước khi muốn làm sự việc gì (Trừ việc bất thiện), thì nên đối trước bàn thờ gia tiên (Bàn thờ Phật - nếu có), KÍNH BẠCH (Khải bạch) nói rõ mong muốn với lòng tín tâm thành kính tin tưởng tuyệt đối nơi Tam bảo để được gia hộ độ trì như đức Phật nói:
"Là đệ tử Phật có thể mua bán kinh doanh thương nghiệp, đúng cân đủ thước, không nên lừa dối, làm đúng tình lý, không trái lương tâm lý tánh tự nhiên, tống táng, hôn thú, di cư đều là thế gian sự.
Là đệ tử Phật thì đối với việc thế gian ý như xin xăm bói quẻ, càu thỉnh sùng bái quỉ thần, phù chú, trù yếm, tấu sớ giải trừ, xem lựa ngày giờ tốt xấu, tất cả những thứ nầy đều không nên làm.
Phật tử thọ trì năm giới Phật chế là người phước đức. Phàm làm việc gì nên khải bạch Tam Bảo. Phật huyền thông thấu suốt không việc nhỏ nhặt nào mà không biết.
Người có giới hạnh là có đạo đức ứng hợp với chân tánh tự nhiên, chư thiên hộ trì, sở nguyện không trái ý, cảm động mười phương, đức tánh bằng trời, vun bồi công đức vĩ đại, thánh hiền ngợi khen, khó có thể nghĩ bàn. (Nguồn: Kinh A Nan vấn về Phật sự)"

=> Như thế, với tất cả những sự việc thiện lành người phật tử đều có thể kính bạch Tam Bảo, Đức Phật, Bồ Tát để được gia hộ độ trì trước khi làm, để vạn sự mong cầu đều được như ý nguyện, rất nhiệm mầu. Trong phật pháp nói có 84.000 Pháp môn mà người Phật tử tu học đều được toại nguyện như ý, ví dụ như thọ trì đọc tụng Kinh Chú:
+ Kinh Địa Tạng để vun bồi công đức, hóa giải nghiệp chướng oan gia trái chủ, thành tựu vạn sự...
+ Kinh Dược Sư chữa lãnh mọi bệnh tật trên thế gian...
+ Kinh Chú Đại Bi chữa lành mọi bệnh nạn, tăng trưởng trí tuệ, hóa giải hàng phục quỷ thần ...Mời xem bài viết: Thọ trì Chú Đại Bi cải mệnh)
+ Niệm Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm bất cứ khi nào hoạn nạn ĐỘT NGỘT sảy đến, nếu đủ tín tâm thành kính thì chắc chắn sẽ được cứu, như người từ cõi chết trở về. Khi gặp họa đột ngột không ngờ thì phải nên niệm cho đến hơi thở cuối cùng, sự tín tâm thành kính này chắc chắn có cảm ứng nhiệm mầu không nghi ngờ. Đây là phù hợp với lời Nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ hết thảy chúng sinh.
* Ngoài ra còn rất nhiều Pháp môn, tùy duyên người thọ trì, mời tham khảo bài viết: Các pháp tu cải mệnh

2. Cầu nguyện với lòng thành kính tin tưởng tuyệt đối vào Tam bảo - Vào Phật, Bồ Tát mới có sự linh ứng: 

+ Pháp Cầu Nguyện: Hướng tâm mình đến một đối tượng Phật, Bồ Tát Linh Thiêng để cầu nguyện một điều gì đó được thành tựu. Trong trường hợp nào thì cũng cần có LÒNG THÀNH KÍNH với Tín Tâm/ Lòng sùng tín không chút nghi ngờ, lòng vị tha, bác ái và KHÔNG CẦU VIỆC XẤU ÁC thì sẽ có sự nhiệm mầu. Có 2 loại:

- Cầu cho mình: Người người thường thì không mấy linh nghiệm, vì năng lượng cầu nguyện hướng vào mình này thường đi với Tâm lượng nhỏ, do đó năng lượng cầu từ Tâm phát ra để đến được Phật, Bồ Tát là rất khó để có được sự cảm ứng. Cho nên, cần phải có tín tâm tin tưởng tuyệt đối không nghi ngờ, và không cầu việc xấu ác thì mới mong có sự ứng nghiệm.

- Cầu cho người khác, cho chúng sinh: Năng lượng này bản thân nó gắn với Tâm rộng mở, nó có sự tương đồng với Tâm Đại Từ Đại Bi của Phật, Bồ Tát, do đó rễ có cảm ứng hơn nhiều, theo đó điều mong cầu cũng rễ thành tựu viên mãn. Nó cũng biểu thị cho sự lưu thông của năng lượng sanh hóa vạn vật.

Xem thêm: Clip 06, phút 61_Thầy Hăng Trường dạy

IV- Thực hiện công việc đã kính bạch cầu xin Phật gia hộ độ trì

1. Kết quả công việc sau khi thực hiện:
Nên biết kết quả công việc phần lớn phụ thuộc vào Phúc đức của chính ta tu tập được, cho nên sự việc dù kết quả ra sao cũng nên giữ tâm tin tưởng tuyệt đối, không sao động. Mức độ thành tựu luôn luôn tương ứng với Duyên nghiệp của mình. Dù thế nào cũng nên tỏ lòng biết ơn Tam bảo, Chư Phật, Bồ Tát, chư Thiên long thiện thần hộ pháp đã bảo hộ che chở cho ta trong quá trình tu hành. Theo đó luôn giữ tâm an vui, dũng mãnh tiến tu hơn.

a/ Công việc có thành tựu: Nên tạ ơn Tam bảo và sử dụng thành quả, thực hành bố thí theo lời Phật dậy để trưởng dưỡng nguồn lợi ngày càng cao dầy hơn, hạnh phúc tràn đầy hơn ...

b/ Công việc không có thành tựu: Cũng nên tùy duyên tạ ơn, nhận biết nguyên nhân vẫn là ở mình chưa tu hành thành tựu được là bao để tiếp tục tiếp tu nhiều hơn.

V- Pháp bố thí:
Người tu hành nên theo lời Phật dậy về Pháp bố thí, cúng giường để vun bồi trưởng dưỡng vạn sự cát tường như ý và bền lâu.

+ Thế Tôn cả đời tu thiện là tu ba loại bố thí (Kinh TTNĐ-Tập 54_PS Tịnh Không)
- Bố thí Tài: Thế Tôn không có tiền của, dùng thân thể, dùng thể lực (thân thể là nội tài) vì xã hội phục vụ, đây là thuộc về bố thí tài. Mỗi ngày đi dạy học khắp nơi, giáo hóa chúng sanh. Đây là bố thí nội tài.
- Bố thí Pháp: Nội dung dạy học là giúp người khai ngộ, giúp đỡ người, chỉ dạy người khác đoạn ác tu thiện, chỉ dạy người phá mê khai ngộ, đây là bố thí pháp.
- Bố thí Vô Úy: An ủi một phần chúng sanh khổ nạn, hòa lẫn thành một khối với đời sống của họ, khiến họ sinh tâm hoan hỷ, đây là bố thí vô úy.

+ 108. CÁC PHÁP THÍ
Người tinh tấn thí người không tinh tấn

Thí đúng pháp được tâm hoan hỷ
Vì tin có nghiệp và quả báo
Loại thí này thí chủ thanh tịnh.

Không tinh tấn thí người tinh tấn
Không đúng pháp, không tâm hoan hỷ
Vì không tin nghiệp và quả báo
Loại thí này người nhận thanh tịnh.

Người giải đãi thí không tinh tấn
Không đúng pháp, không tâm hoan hỷ
Vì không tin nghiệp và quả báo
Loại thí này không được quảng báo.

Người tinh tấn thí người tinh tấn
Là đúng pháp, được tâm hoan hỷ
Vì tin có nghiệp và quả báo
Loại thí này đạt được quảng báo.

Kẻ nô tỳ và kẻ bần cùng
Hoan hỷ tự mình làm bố thí
Vì tin có nghiệp, có quả báo
Bố thí như vậy thiên nhân khen.

Khéo léo giữ gìn cả thân miệng
Đưa tay cầu xin đúng Chánh pháp
Người ly dục thí người ly dục
Đó chính là tài thí đệ nhất. Nguồn: (Trung A Hàm, Kinh Cù-đàm-di, Phẩm 14, số 180)

+ Đức Phật trong Kinh dạy: "Tu tài bố thí thì sẽ có tiền của. Tu pháp bố thí thì được thông minh trí tuệ. Tu vô úy bố thí thì được khoẻ mạnh sống lâu".--- Pháp Sư Tịnh Không!  Xem thêm

+ Kinh Phân biệt Bố thí, Ðức Phật dạy:
- "Cho 100 người ác ăn không bằng cho 01 người thiện ăn.
- Cho 1.000 người thiện ăn không bằng cho 01 người thọ ngũ giới ăn.
- Cho một vạn người thọ ngũ giới ăn không bằng cho một vị Tu Ðà Hoàn ăn.
- Cho một trăm vị Tu Ðà Hoàn ăn không bằng cho một vị Tư Ðà Hàm ăn.
- Cho một ngàn vạn vị Tư Ðà Hàm ăn không bằng cho một vị A Na Hàm ăn.
- Cho một ức vị A Na Hàm ăn không bằng cho một vị A La Hán ăn.
- Cho mười ức vị A La Hán ăn không bằng cho một vị Bích Chi Phật ăn.
- Cho một trăm ức vị Bích Chi Phật ăn không bằng cho một vị Phật ba đời ăn (Tam thế Phật).
- Cho một ngàn ức vị Phật ba đời ăn không bằng cho một vị Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng ăn". Xem thêm: Kinh phân biệt bố thí

+ Tài vật bố thí cho hành khất, theo nghĩa đen, “nhân đức”, cái thứ nhất trong sáu ba–la–mật của Phật giáo. (NGMTTL, 96)

+ BẢY LOẠI BỐ THÍ CHO TĂNG CHÚNG
1) Thiện nam tử hay thiện nữ nhân có tín tâm, sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn không lâu, bố thí cho cả hai bộ chúng;
2) Bố thí cho chúng Tỳ-kheo,
3) Bố thí cho chúng Tỳ-kheo-ni;
4) Đi vào tinh xá Tỳ-kheo bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở đây cử ra một số Tỳ-kheo để chúng con được bố thí’;
5) Đi vào tinh xá Tỳ-kheo-ni bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở đây cử ra một số Tỳ-kheo-ni để chúng con được bố thí’. Như vậy gọi là loại bố thí thứ năm cho Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn.
6) Tỳ-kheo thuộc loại danh tánh, khoác áo cà-sa mà không tinh tấn, vị ấy đã không tinh tấn, không tinh cần mà vẫn được bố thí vì có ở trong chúng, duyên nơi chúng, ở trên chúng, nhân nơi chúng, Ta nói lúc bấy giờ thí chủ sẽ được phước vô lượng không thể đếm, không thể kể, được thiện, được lạc;
7) Bố thí cho Tỳ-kheo thành tựu hành sự, thành tựu trừ sự, thành tựu cả hành sự và trừ sự, thành tựu chất trực, thành tựu nhu nhuyến, thành tựu cả chất trực và nhu nhuyến, thành tựu nhẫn, thành tựu lạc, thành tựu cả nhẫn và lạc, thành tựu tương ưng, thành tựu kinh kỹ, thành tựu cả tương ưng và kinh kỹ, thành tựu oai nghi, thành tựu hành lai du, thành tựu cả oai nghi và hành lai du, thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu đa văn, thành tựu thí, thành tựu tuệ, thành tựu cả tín, giới, đa văn, thí, tuệ. Như vậy gọi là loại bố thí thứ bảy cho Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn.
Đó gọi là bảy loại bố thí cho Tăng chúng sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn. (Trung A Hàm, Kinh Cù-đàm-di, Phẩm 14, số 180)

+ 409. MƯỜI BỐN LOẠI BỐ THÍ RIÊNG
1) Thiện nam tử hay thiện nữ có tín nhân bố thí cho Đức Như Lai, bố thí cho Duyên giác, bố thí cho A-la-hán, bố thí cho A-la-hán hướng, bố thí cho A-na-hàm, bố thí cho A-na-hàm hướng, bố thí cho Tư-đà-hàm, bố thí cho Tư-đà-hàm hướng, bố thí cho Tu-đà-hoàn, bố thí cho Tu-đà-hoàn hướng, bố thí cho Tiên nhân ngoại đạo ly dục, bố thí cho người tinh tấn, bố thí cho người không tinh tấn, bố thí cho súc sanh.
2) Bố thí cho súc sanh được phước trăm lần hơn.
3) Bố thí cho người không tinh tấn được phước ngàn lần hơn.
4) Bố thí cho người tinh tấn được phước trăm ngàn lần hơn.
5) Bố thí cho Tiên nhân ngoại đạo ly dục được phước ức trăm ngàn lần hơn.
6) Bố thí cho vị Tu-đà-hoàn hướng được phước vô lượng.
7) Bố thí cho vị đắc Tu-đà-hoàn được phước vô lượng.
8) Bố thí cho vị Tư-đà-hàm hướng được phước vô lượng.
9) Bố thí cho vị đắc Tư-đà-hàm được phước vô lượng.
10) Bố thí cho vị A-na-hàm hướng được phước vô lượng.
11) Bố thí cho vị đắc a-na-hàm được phước vô lượng.
12) Bố thí cho vị A-la-hán hướng được phước vô lượng.
13) Bố thí cho vị đắc A-la-hán được phước vô lượng.
14) Huống nữa là bố thí cho Đức Như Lai, Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Đây là mười bốn loại bố thí riêng cho từng người, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được đại quảng báo. Nguồn: mục 409- (Trung A Hàm, Kinh Cù-đàm-di, Phẩm 14, số 180)

+ BỐ THÍ - GỐC LÀ XUẤT TÂM LƯỢNG TỪ BI HỶ XẢ THÌ CÓ LỢI ÍCH NHIỆM MẦU

Xuất Tâm hoan hỷ mong cầu được Bố thí, cho dù Bố thí bất cứ vật gì đều có được công đức rất lớn. Một ví dụ sinh động và nhiệm mầu về câu truyện một cậu bé Xuất Tâm Bố thí khi gặp Đức Phật Kinh hành đến, cậu bé bốc một lắm đất dâng lên Ngài với Tâm lượng chân thành, Đức Phật đã nhận đất cho vào Bảo Bát mang theo, Phật dặn Ngài A Nan Đà mang đất này về để ở Phòng của Ngài - Đức Phật dạy rằng, khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, cậu bé sẽ được làm Vua tên A Dục, hộ trì tránh pháp. Thực tế đúng như vậy. (Nguồn: Theo Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh

+ Lục độ là bố thí. Tiếng Sanskrit có nghĩa là ban tặng, cho. Có ba loại bố thí: tài thí, pháp thí và vô uý thí. Tài thí là ban tặng vật chất tài sản cho người khác để giúp họ thoát khổ. Giảng kinh và thuyết pháp là một dạng pháp thí. Bố thí sự không sợ hãi là khi có người sợ điều gì đó và quý vị nghĩ ra cách để khuyến khích họ khiến họ không còn lo sợ nữa.(HT Tuyên Hóa giảng Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển 4 - Chương II)

Xem thêm: Phật Thích Ca nói về bố thí trong các Kinh Tạng