SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Nhân Trắc Học hiểu rõ Số Mệnh và nguồn gốc Số Mệnh của Bạn. Nếu Bạn không Tu theo Phật dậy, không tin sâu Nhân Quả Báo Ứng, chúng tôi CÓ THỂ DỰ ĐOÁN KHÁ CHÍNH XÁC VỀ VẬN MỆNH CUỘC ĐỜI BẠN, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC NĂM SẢY RA CÁC BIẾN CỐ LỚN TRONG ĐỜI. Chúng tôi đoán được bởi Kiếp sống này của Bạn phản ánh NGHIỆP QUẢ nhiều kiếp sống trước đây, và trong kiếp sống này, Quý Bạn hiện diện trên trái đất này để NHẬN LÃNH NGHIỆP DÙ TỐT, DÙ SẤU , đó là lý do thông qua quy luật thời gian, chúng tôi biết được năm nào Bạn sẽ nhận lãnh Quả báo. Nhân Trắc Học chúng tôi phấn đấu vì sự tiến hóa của con người, dựa trên sự phổ biến và ứng dụng các Kinh điển Minh Triết ngàn đời vào thực tiễn đời sống, giúp Bạn có cuộc sống tốt đẹp hơn, bằng cách chỉ cho Bạn cách Vũ Trụ này Ghi Nhận Nghiệp Quả và Trả lại cho chính Bạn, giúp Bạn biết trước Vận Mạng, An vui đón nhận, phấn đấu SỬA ĐỔI VẬN MỆNH đúng cách nhiều nhất có thể, làm cho cuộc sống Quý Bạn tốt đẹp hơn.

Chương VIII, IX

Phần III của quyển Luân xa và Các Trường Năng lượng, gồm các chương 8 và 9, Bài do Quỳnh Anh dịch.

************************

3. Nhãn thông như một công cụ chuẩn đoán

VIII. Cơ sở của Nghiên cứu bằng nhãn thông

Những tư liệu thu được từ việc nghiên cứu bằng thông nhãn trong thế kỷ này còn sơ sài, và những tài liệu có được phần lớn được phát triển nhờ sự chủ động cá nhân, mà không có mấy sự chú ý đến nhu cầu xác thực. Do vậy, mặc dù có một số tài liệu về việc nghiên cứu bằng nhãn thông tồn tại nhưng đó không phải là loại tài liệu gây chú ý cho giới khoa học. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là dù năng lực thông nhãn là hiếm có nhưng đây chắc chắn không phải là một hiện tượng xảy ra hoàn toàn tách biệt. Vì lý do này, một cuộc khảo cứu về dữ kiện lịch sử mà chúng tôi có được có thể được dùng như nền tảng cho nghiên cứu đưa ra ở đây.

Chúng tôi sẽ giới hạn bản thân vào việc nghiên cứu những người phương Tây đã từng kiểm nghiệm những khả năng khác thường trong cuộc sống và công việc, mà không tính đến trường hợp của những nhà thấu thị phương Đông. Tất nhiên, những người như vậy thì nhiều vô kể nhưng vì họ sống trong một nền văn hoá luôn chấp nhận sự hiện diện của những lực vô hình và những nhận thức từ chiều đo cao hơn nên ít có nỗ lực để hệ thống hoá được thực hiện để liên kết những quan niệm này với bằng chứng trong thực tế.

Ở phương Đông, các năng lực phi thường được cho là điều đương nhiên cùng xảy ra hay là kết quả phụ của việc đào tạo thực hành yoga, và do vậy, trọng tâm luôn đặt ở việc phát triển bản thân hơn là việc cố gắng có được những quyền năng như vậy. Các nhà yogi có khả năng ngưng các chức trọng yếu trong nhiều ngày hay nhiều tuần, sống gần như không cần thức ăn, duy trì được nhiệt độ thể khi ngồi trong bão tuyết, nâng bổng hay rời khỏi cơ thể vật lý của mình khi muốn. Họ làm những điều này mà không gây chú ý hay kích thích sự quan tâm của bất kì ai vào việc tư liệu hoá những thực hành này.

Tuy nhiên ở phương Tây, những khả năng khác thường có truyền thống bị nghi ngờ, trường hợp tồi tệ nhất là bị gán với phù thuỷ và ma quỷ, hay trong trường hợp khá nhất thì gắn với bệnh ảo giác hay tự huyễn hoặc. Riêng các vị Thánh và các nhà thấu thị là ngoại lệ, bởi những kinh nghiệm có tầm nhìn của họ được thánh hoá bởi một cơ cấu dựa trên tôn giáo. Với sự nổi lên của phong trào Khai sáng ở thế kỷ 18 và khoa học duy vật ở thế kỷ 19, quan điểm phương Tây vẫn có ít chỗ cho bất cứ điều gì không thể giải thích được bằng thuật ngữ của hiện thực vật lý.

Tuy vậy, giai đoạn cuối thế kỷ 19 đã chứng kiến sự kết thúc của kỷ nguyên chủ nghĩa duy vật kiểu cũ. Việc phát hiện ra tia X và phóng xạ xảy ra không lâu sau khi một làn sóng quan tâm đến hiện tượng tâm linh, đồng cốt và giao tiếp sau khi chết quét qua nước Anh và Mỹ. Nhập đồng, đồ vật hiện hình, phân thân, chụp ảnh hồn ma, sự tồn tại của thể cảm dục sau khi chết và những hiện tượng tương tự đều là mục tiêu cho những nghiên cứu kỹ càng bởi những người có uy tín và năng lực đánh giá một cách phân biện. Những cái tên nổi tiếng như Sir Willian Crookes và Arthur Conan Doyle, cùng với Hội nghiên cứu tâm linh nước Anh có liên quan đến nhiều nghiên cứu sâu sắc tiến hành trên các khía cạnh khác nhau của hiện tượng tâm linh. Một số trong số những người tiên phong trong lĩnh vực chưa ai khám phá này là mối quan tâm lớn đối với những người như chúng tôi, những người đang cố gắng đưa nghiên cứu tại thời điểm hiện tại vào một hoàn cảnh lịch sử để thấy rằng điều này không hiện lên như một hiện tượng chưa được lặp lại.

Chúng tôi sẽ bắt đầu danh sách tóm lược và được coi là chưa đầy đủ này với bác sĩ trị liệu, Philippus Theophrastus Bombast của Hohenheim, được biết đến nhiều hơn với cái tên Paracelsus, đã sống và thực hành vào đầu thế kỷ 16. Ông được cho là đã tới Ấn Độ, nơi ông học các nguyên lý thần bí. Ông chắc chắn là tác giả thời kì hậu Phục Sinh đầu tiên miêu tả về cấu tạo bảy lớp của con người, về các tinh linh mặt đất và về bản chất của các thể cao hơn. Ông chính là người đã tạo ra thuật ngữ “cảm dục” (astral), có nghĩa lấp lánh như sao, mặc dù ông dùng nó để nói về cái chúng ta hiện thời nói về là trường năng lượng thể sinh lực hay dĩ thái. Những bài viết của ông cho thấy rõ ông có thể nhìn thấy trường dĩ thái và ông đã vận dụng những nhận thức của mình vào y học và chữa trị. Những phương pháp thực hành này đã mang tới cho ông cả danh tiếng lẫn lời lăng nhục, và ông được cho là đã chết vì nhiễm độc như một kết quả cho những ý tưởng không chính thống của mình.

Emanuel Swedenborg, được nhớ đến nhiều nhất nhờ một nhà thờ đặt theo tên ông, là một nhà khoa học uyên bác và tài năng, được ghi nhận như một nhà nghiên cứu sinh vật cổ, nhà vật lý và nhà sinh lý học, người đã nghiên cứu chức năng của não bộ và các tuyến nội tiết. Vào giữa cuộc đời, ông từ bỏ nghiên cứu vật lý để nghiên cứu về tâm linh, bởi ông đã kiểm nghiệm rằng ông thường được hướng dẫn bằng những giấc mơ, trải nghiệm nhiều hình ảnh và nghe thấy nhiều cuộc nói chuyện bí ẩn—điều này cho thấy năng lực bẩm sinh của ông bao gồm cả nhãn thôngnhĩ thông. Sau một trải nghiệm tâm linh khác thường, ông cống hiến đời mình cho thần học và nghiên cứu các kinh thánh Thiên chúa giáo, trong đó ông giải thích dựa trên ánh sáng từ sự thấu hiểu của mình.

Hiện tượng tâm linh đáng chú ý nhất thời gian gần đây không nghi ngờ gì cả chính là Helena Petrovna Blavatsky, người sáng lập phong trào Thông Thiên Học hiện đại. Từ khi ra đời bà đã là nơi hội tụ của những sự kiện khác thường và hiện tượng bí ẩn. Mặc dù không phải một dạng đồng cốt thông thường (bởi thực ra bà lên án hoạt động đồng cốt khi nó được thực hành ở thời của bà), bà có khả năng hoạt động như một kênh tâm thức và công cụ truyền tải giáo huấn của các vị Chân Sư của bà, những người mà bà phụng sự như một người biên chép các bài viết trong nhiều tác phẩm đáng chú ý, trong đó có Giáo Lý Bí Nhiệm, cuốn sách đã trở thành tác phẩm tham khảo gốc cho tất cả những giảng dạy về huyền mônminh triết sau đó. Những năng lực đáng chú ý của bà đã được kiểm chứng bởi rất nhiều người, họ đã thấy bà làm đồ vật hiện ra, giao tiếp với người vô hình, điều khiển các tinh linh, và miêu tả những chiều đo khác của sự tồn tại trong khi bà hoàn toàn tỉnh thức.

Trong các tác phẩm nhiều tập của mình, bà thường nhấn mạnh sự thật rằng không có gì “siêu nhiên” trong vũ trụ này, và rằng khả năng khác thường là sự đáp ứng với quy luật của tự nhiên và các lực chưa được khoa học tìm thấy. Bà tiên đoán vào những năm 1880 rằng chủ nghĩa duy vật đang thịnh hành sẽ tiêu tan trước khi kết thúc thế kỷ này, và từ đó sẽ có một cách hiểu mới về bản chất của vật chất. Rất nhiều lời khẳng định của bà hoàn toàn không thể chấp nhận được với giới khoa học thời bấy giờ hiện nay đã trở thành một phần trong bức tranh thế giới đương đại. Những đề xuất có tính tiên tri của bà bao gồm khái niệm về mỗi tế bào trong thể đều chứa đựng bản thiết kế về hình tướng và sự sống luôn phôi thai trong mọi dạng vật chất, sẽ tự động hiện lên khi có các điều kiện thích hợp.

Đóng góp quan trọng nhất của bà Blavatsky cho một thế giới quan mới là khoa siêu hình học toàn diện trong đó nó có thể vượt lên sự phân chia giữa tâm thứcnăng lượng mà trong một thời gian dài đã gây tổn hại cho phương Tây, bằng việc chỉ ra rằng chúng là những khía cạnh bổ sung cho nhau của một thực tại bên dưới. Giả thuyết này cung cấp cơ sở mà trong đó những khía cạnh tế vi và phức tạp hơn của giới tự nhiên và con ngườithể được kết hợp lại, khiến niềm hi vọng của chúng ta về một thế giới quan toàn diện dễ được nhận ra hơn.

Khoa siêu hình học này, cùng với khoa vật lý mới cung cấp nền tảng cho việc miêu tả các chiều đo cao hơn của tâm thức con người như một trong các trường năng lượng vũ trụ, sự phát triển của lý thuyết này chúng tôi mang ơn F.L Kunz, người sáng lập Trung tâm Đào tạo tích hợp và tạp chí sáng tạo: Những dòng tư tưởng hiện đại chính. Kết quả là, dù lĩnh vực nghiên cứu này rất hiếm khi được đề cập nhưng hiện nay nó đã trở nên khả thi trong việc hệ thống hoá và lý giải hiện tượng mà trước đây rất khó hoà hợp được với những phát hiện của y học và khoa học. Dù những đóng góp của Blavatsky có được công nhận một cách rộng rãi hay không thì tất cả những phát triển theo sau đó trong lĩnh vực kỳ bí có thể được xem là bắt nguồn từ tác phẩm có tính đột phá của bà.

Một người phụ nữ đáng chú ý nữa, người đã bị thu hút vào phong trào Thông Thiên Học vì quan tâm tới các tác phẩm của Blavatsky, là Tiến sĩ Annie Besant. Bà là một nhà cải cách xã hội, người đã làm việc đầy nhiệt huyết với Charles Bradlaugh tại hội Fabian Society vì con người. Bà trở thành Hội trưởng Hội thông thiên học (The Theosophical Society) và chuyển tới Ấn Độ, nơi bà đã mở ra nhiều viện giáo dục, sáng lập tờ báo nổi tiếng New India, và bị người Anh giam cầm vì những nỗ lực của bà trong việc tranh đấu cho một Ấn Độ độc lập. Bà khai mở khả năng thông nhãn trong những năm cuối của tuổi bốn mươi, và đã kết hợp với ông C.W. Leadbeater để viết một số cuốn sách dựa trên những quan sát của mình, trong đó đáng chú ý là Hoá học huyền bí, Hình tư tưởngCon người và các thể. Sau này, khi bà trở nên mải miết với công tác dành cho quần chúng ở Ấn Độ, bà chủ động đóng khả năng tâm linh của mình và ngừng việc theo đuổi các nghiên cứu bằng nhãn thông.

Charles W. Leadbeater đã được nhắc tới như một nhà thông nhãn tài năng đáng chú ý, người đã viết hàng loạt về những quan sát của mình, đặc biệt quan tâm tới tình trạng sau khi chết. Những mô tả của ông về những chiều đo vi tế của con người—như trong Luân Xa (những hình minh hoạ của chúng tôi được lấy từ đó), cuốn sách đang giữ vị trí là một trong những cuốn được đọc nhiều nhất về chủ đề này, và ở Con người hữu hình và vô hình, trong đó miêu tả các đặc tính trong hào quang của con người—là những tác phẩm cổ điển trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng kỳ bí. Cuốn sách Hình Tư Tưởng trong đó cho rằng thể trí có khả năng tạo ra những hình thể xác thực có thể nhận biết được với những người nhạy cảm đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều nghệ sĩ, như Mondrian và Kandinsky.

Những nhà thông nhãn nổi tiếng khác bao gồm Geofrey Hodson, người được biết đến nhiều nhất bởi những cuốn sách về giới thiên thần, như cuốn Thế giới của các Thiên Thần. Ông còn tiến hành một loạt các nghiên cứu y khoa, một số kết quả nghiên cứu đó được kết hợp viết vào sách Một cách nhìn huyền bí về sức khoẻ và bệnh tật. Có lẽ vì ông không sinh ra đã có khả năng nhãn thông mà phát triển năng lực này trong thời gian trưởng thành của cuộc đời nên ông đã dành cho quá trình này một sự chú ý đáng kể, được thể hiện trong cuốn Khoa học của sự thấu thị.

Khả năng nhãn thông của Phoebe Payne Bendit về cơ bản là ở tầng dĩ thái và cùng với chồng mình, Laurance Bendit, một nhà trị liệu, bà đã viết một vài nghiên cứu về sức khoẻ và bệnh tật dựa trên những quan sát của mình. Bà còn xuất bản một cuốn sách có tên Những năng lực tiềm ẩn của con người, trong đó bà mô tả những khác biệt bà quan sát được giữa thông nhãn hữu thức và hình thức đồng tử mê man.

Còn có nhiều nhân vật mà những đóng góp của họ chủ yếu về triết học và lý thuyết, nhưng trong đó nghiên cứu huyền bí học đóng một vai trò quan trọng. Trong số những ngừoi nổi bật nhất có Rudolf Steiner, người sáng lập Hội Nhân Thông học (Anthroposophical Society). Phong trào này có nhiều khái niệm chung với Thông Thiên Học nhưng có những sáng tạo và nhấn mạnh đặc biệt như việc ứng dụng siêu hình học vào toán học, giáo dục và nghệ thuật. Steiner, người có nhiều tài năng đáng chú ý, là một nhà khoa học đã sử dụng khả năng nhãn thông của mình để nghiên cứu thế giới tự nhiên và kết quả là ông đã phát triển các lý thuyết về sự phù hợp giữa các loài thực vật, điều này cho kết quả về khả năng trồng cây kết hợp nhằm phòng chống dịch bệnh. Những đề nghị của ông vẫn có tính thực tiễn trong nhiều dự án trồng trọt được tài trợ bởi Hội Nhân Thông học, trong khi những nguyên tắc giáo dục của ông là cơ sở cho sự thành công của trường phái giáo dục Steiner và Walgorf, cũng như công việc tốt đẹp của Hội với những người chậm phát triển.

Một huấn sư khác là bà Alice Bailey, người vẫn có ảnh hưởng trong lĩnh vực huyền bí học, người cũng được công nhận với khả năng viễn cảm của mình. Bà được biết đến nhiều nhất với công trình đồ sộ các tác phẩm trong đó bà tuyên bố rằng được nhận bằng viễn cảm từ Chân Sư Tây Tạng được biết với tên Djual Khul. Những cuốn sách này bắt nguồn từ công trình của H.P. Blavatsky, nhưng khác với chúng ở nhiều chi tiết; như chính tác giả cuốn sách khẳng định, chúng cần được đánh giá dựa trên chất lượng hơn là nguồn gốc của cảm hứng.

Một khả năng khác thường thuộc loại có phần khác biệt là khả năng mà Nikola Tesla đã biểu lộ. Nổi bật trong việc phát triển các công cụ điện, ông ghi lại rằng ông đã có một viễn ảnh về cách mà điện năng có thể thu được từ thác nước, và điều này đã thành hiện thực hai mươi năm sau đó, vào năm 1896, với một máy phát điện tại thác Niagara. Ông còn được cho là có thể gây ra động đất bằng ý chí, cũng như tạo ra tia chớp dài bốn mươi mét; ông từng tạo ra ánh sáng cho các bóng điện cách đó hai mươi lăm dặm mà không cần dây dẫn. Bách khoa toàn thư Mỹ miêu tả ông như sau: “Ông có cách cảm nhận bằng trực giác những bí mật của khoa học, và vận dụng năng lực phát minh của mình để chứng minh cho những giả thuyết của ông.”

Quay sang những nhà khoa học đã khám phá lĩnh vực bí ẩn theo nhiều cách khác nhau, chúng tôi chú ý đến nghiên cứu của Baron Karl von Reichenbach, một nhà hoá học, người phát hiện ra paraffin, creosote và pitacol, cũng là một chuyên gia về thiên thạch và một nhà tư bản công nghiệp mà đế chế của ông trải dài từ vùng Danube tới vùng đất sông Rhine. Năm 1845 ông xuất bản bảy bài viết gây tranh cãi với tiêu đề “Những nghiên cứu về Từ lực, Điện lực, Nhiệt và Ánh sáng và mối liên hệ của chúng với Năng lượng sống.” trong đó ông kiểm nghiệm để chứng minh cho cái ông gọi là “ánh sáng Odic”. Ông thực hiện những quan sát tỉ mỉ và cẩn thận các đối tượng có thể nhận biết loại ánh sáng này, loại tương tự như trường năng lượng sinh khí nhưng công trình này của ông bị cộng đồng khoa học Châu Âu bác bỏ , mặc dù được chấp nhận và biên dịch sang tiếng tiếng Anh bởi William Gregory, M.D.

Sir William Crookes (1832-1919), nhà vật lý và hoá học người Anh, đã khám phá ra thallium, chế tạo ra thiết bị đo bức xạtừ những nghiên cứu của mình phát triển nên lý thuyết “vật chất phát xạ”, hay vật chất ở “trạng thái thứ tư”. Những nghiên cứu của ông về bản chất của các loại đất hiếm, đặc biệt là Yttri, đã đưa ông tới lý thuyết rằng tất cả các nguyên tố sản sinh qua quá trình tiến hoá đều từ một chất liệu nguyên thuỷ. Ông là một học viên say mê của hiện tượng tâm linh, như ông đã thể hiện trong cuốn Những nghiên cứu về Hiện tượng Tâm linh, nhằm tìm ra mối liên hệ giữa các quy luật vật lý thông thường và bất thường.

Những nhân vật khác cần được nhắc tới vì những đóng góp cho phương pháp tiếp cận khoa học của việc nghiên cứu các hiện tượng tâm linh là Walter J. Kilner, Alexis Carrel, M.D., Professor T. Fukurai của Đại học Hoàng gia Tokyo (ông đã mất vị trí này vì sự quan tâm của mình trong lĩnh vực tâm linh), Joseph Banks Rhine, những nghiên cứu của ông về viễn cảmnhãn thông được dựa trên đánh giá thống kê, Oscar Bagnall, một nhà sinh vật học ở Đại học Cambridge, người đã nghiên cứu hào quang con người, và ông Sir George Hubert Wilkins, một nhà thám hiểm đã tiến hành công việc thí nghiệm bằng viễn cảm. Đặc biệt cần nhắc đến Edgar Cayce với những thành tựu y học nổi bật vẫn đang là chủ đề của các cuộc nghiên cứu và khảo sát.

Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nỗ lực nghiêm túc nhằm chứng thực hiện tượng tâm linh qua nhiều hình thức kiểm nghiệm. Evelyn M. Penrose là một nhà ngoại cảm từng làm việc cho chính phủ Úc và Canada để tìm kiếm nguồn nước cũng như khu vực khảo cổ và có khoáng vật. Andrija Puharich, M.D., và Dr. Charles Osis thuộc Hội Nghiên cứu tâm linh đã tư liệu hoá số lượng lớn thông tin về năng lực khác thường của nhiều nhà ngoại cảm. Chính phủ Mỹ cũng như Soviet đã lặng lẽ theo đuổi các khả năng nghiên cứu năng lực chưa được khai phá của tâm trí như làm lệch hướng tia lazer, biến đổi năng lượng từ trường, nhìn từ xa và di chuyển đồ vật. Sheila Ostrander và Lynn Schroeder đã tư liệu hoá nỗ lực của Nga trong lĩnh vực này trong cuốn sách Những khám phá tâm linh sau tấm rèm sắt (1970), trong khi Russell Targ và Harold Puthoff tường trình nghiên cứu của Mỹ trong Vươn tới tâm trí (1977), và gần đây hơn Targ hợp tác với Keith Harary trong cuốn Chủng tộc Tâm trí (1984).

Trong những năm gần đây, nhiều người sở hữu các hình thức khác nhau của tri giác cao hơn đã cộng tác với các nhà nghiên cứu trên một số lĩnh vực. Stephan A. Schwartz miêu tả trong cuốn sách của mình, Dự án Alexandria, cách những nhà ngoại cảm với khả năng “nhìn từ xa”, hay thấy từ một khoảng cách xa góp phần vào thành công của dự án khảo cổ của mình, những ấn tượng họ nhận được sau này được khẳng định bằng công tác trên hiện trường. Những người khác thì sử dụng khả năng như vậy để tìm kho báu dưới nước trong các con tàu đắm. Trên một lĩnh vực khác, John Taylor, một nhà vật lý và toán học ở trường cao đẳng King College, London đã mô tả trong Những tâm trí siêu việt (1975) cách kim loại bị vỡ bằng thông linh khác với cấu trúc mảnh kim loại vỡ về mặt vật lý. Trong lĩnh vực sức khoẻ và chữa bệnh, bác sĩ Bernard Grad của trường đại học McGill ở Montreal, Canada đã nghiên cứu những tác động có lợi của năng lượng chữa lành trên cả cây cỏ và loài chuột trong phòng thí nghiệm. Ông mô tả những ảnh hưởng đạt được qua một người chữa lành nổi tiếng, Đại tá Oskar Estabany, trong việc tăng tốc độ lành lại ở vết thương của chuột cũng như việc ươm mầm các hạt giống bị hỏng. Những lần thí nghiệm này được thực hiện dưới điều kiện có kiểm soát. Tiến sĩ Grad cũng nhận thấy rằng hoa sẽ bị héo nhanh hơn khi tiếp xúc với các bệnh nhân trầm cảm hơn là khi chỉ có sự hiện diện của người bình thường.

Tiếp tục nghiên cứu này, Sơ Justa Smith đã triển khai một dự án với mục tiêu so sánh hoạt động của enzyme tripxin khi được chữa trị bởi phương pháp đặt-tay-bên trên của Đại tá Estabany với việc chịu tác động của từ trường. Đại tá được yêu cầu đặt hai tay xung quanh một bình thuỷ tinh được nắp chặt có chứa dung dịch enzyme trong khoảng thời gian lâu nhất là bảy mươi lăm phút. Kết quả được xuất bản bởi Sơ Justa trong bài báo có tiêu đề “Những hiệu ứng khác thường trên hoạt động của enzyme” trong đó kết luận rằng “bằng chứng được trình bày đã chỉ ra rằng sự tiếp xúc của dung dịch trypsin với năng lượng chữa lành từ việc đặt tay-lên-trên như được thực hiện bởi Đại tá Estabany tương tự về mặt định tính và định lượng với khi nó phản ứng với từ trường. Điều này đơn giản nói lên rằng công việc chữa lành có thể đạt được kết quả nhờ năng lượng từ trường.”. Như vậy nghiên cứu đã cho thấy rằng những thay đổi trong năng lượng sinh học có thể xảy ra khi tiếp xúc với bàn tay của một số nhà chữa lành, mặc dù không phải nhà chữa trị nào cũng có thể làm được y hệt những kết quả đạt được của Đại tá Estabany (Chương XVI).

Để kết thúc phần tổng quan vắn tắt này, chúng ta nên nói đến tầm quan trọng của sự thay đổi thái độ đang dần hình thành trong giới khoa học và ngày càng nồng hậu hơn với các nghiên cứu về siêu giác quan. Sự phát triển cách mạng nhất là việc công nhận rằng tâm thức đóng một vai trò trọng yếu và chủ chốt trong sự hiện hữu vật lý. Vì nhiều nhà khoa học chưa sẵn sàng công nhận vai trò này, chúng tôi muốn đưa ra một vài quan điểm ủng hộ. Giáo sư George Wald, người được giải Nobel vật lý đã nói trong một bài phát biểu năm 1985: “Không bao giờ có thể nhận ra sự có mặt hay vắng mặt của tâm thức về mặt vật lý… [đó là] một đặc tính nổi bật và bất biến, một khía cạnh bổ sung cho mọi thực tại.”. Nói về câu hỏi nổi tiếng của Descarts trong mối liên hệ với bản chất nhị nguyên căn bản của tâm trí và vật chất, Eric Jantsch viết trong cuốn Vũ trụ tự tổ chức: “Tâm trí có ở khắp nơi…trong các quá trình mà hệ thống [sinh sống] tổ chức và làm mới chính nó và tiến hoá” (p.162). Trên cùng mạch ý tưởng này, nhà vật lý lượng tử Erwin Schroedinger đã viết trong Sự sống là gì? “Tâm thức có liên quan đến sự học hỏi của các vật chất sống” (p.103). Trong cuốn sách Không gian Einsteins và bầu trời Van gogh, Larry Le Shan và Henry Margenau trích A.S. Eddington, một nhà vật lý, người đã viết vào năm 1926 rằng “sự phân hoá của ngoại giới vào thế giới vật chất và thế giới tinh thần là giả tạm” (p 236). Bàn về đặc điểm của lĩnh vực tâm thức, họ kết luận rằng “những gì quan sát được sẽ khác biệt về độ sắc nét và có thể phân biệt được với những gì thuộc về địa hạt cảm giác. Không có một “vật thể” nào trong địa hạt này, chỉ có các “quá trình”. “Hơn nữa, những gì có thể quan sát được có “đường vào giới hạn”- tức là, chúng chỉ có thể được quan sát bởi một người- ngược lại với ‘đường vào công cộng’ của những thứ quan sát được ở những cảnh giới khác.”. Những kết luận này chắc chắn đã dựa trên những tài liệu trong nghiên cứu của chúng tôi.

Cuối cùng, chúng tôi thêm vào phần trích dẫn sau đây từ cuốn sách của nhà vật lý David Bohm Cái toàn thể và một Trật tự ẩn tàng, để cho thấy lý luận đương thời tốt nhất dành cho nghiên cứu của chúng tôi:

Phần dung lượng hiển hiện mà có thể dễ dàng thâm nhập vào của tâm thức nằm trong một hậu cảnh ẩn dấu (hay ẩn đi) lớn hơn rất nhiều. Hậu cảnh này đến lượt nó được xác minh là nằm trong một bối cảnh lớn hơn nữa mà có thể bao gồm không chỉ các quá trình thần kinh-sinh lý ở những cấp độ nằm ngoài tầm nhận thức nói chung của chúng ta nhưng còn một bối cảnh đằng sau lớn hơn nhiều nữa của những chiều sâu chưa được biết đến (và thực sự cuối cùng vẫn không thể nào biết được) về sự sâu thẳm bên trong mà có thể tương tự như một “biển” năng lượng lấp đầy không gian “trống rỗng” có nhận thức được bằng giác quan.(p.210).

Các nghiên cứu của chúng tôi tất nhiên ủng hộ quan điểm này. Sự thật rằng các tiến trình sinh lý thần kinh được đồng hành (hay thường là đến trước) bởi những thay đổi trong nội dung của tâm thức là một kết luận quan trọng xuất phát từ nghiên cứu này; Nổi bật hơn, có lẽ là việc “biển năng lượng” không những lấp đầy khoảng không “trống rỗng” mà còn được tập trung lại và xử lý bởi các cơ quan hoạt động của tâm thức gọi là luân xa.

Ý tưởng rằng tâm thứcvật chất là hai phần đi đôi không thể tách rời của sự hiện hữu là một khái niệm huyền môn hay minh triết thiêng liêng, nó đã giúp cung cấp hoàn cảnh và một quy tắc giải thích cho các hiện tượng kỳ bí. Nghiên cứu này cho ra ở đây một vai trò kép: nó kiểm tra tính hợp lý của việc nhận thức bằng giác quan bổ sung; nhưng quan trọng hơn cả, nó tiết lộ một số chiều đo của tâm thức và sự tương tác giữa các chiều đo này và những chiều đo của thực tại vật lý.

IX. Việc sử dụng thông nhãn trong nghiên cứu

Ở chương II, chúng tôi đã gợi ý rằng việc nhận thức bằng giác quan cao hơn có thể cung cấp một bức tranh hoàn thiện hơn về cách con người thực hiện các chức năng hiện có cho tới nay, và những nhận thức đó cũng có thể được kết hợp với một bộ phận tri thức đã được chấp nhận chỉ khi nào chúng vượt qua bài kiểm tra với những bằng chứng từ thực tế. Trong công việc của chúng tôi, có những nỗ lực nhất quán nhằm kiểm tra nghiên cứu với những ghi chép y khoa hiện có, nhưng rõ ràng là sự kiểm soát này không thể được hoàn hảo. Tuy nhiên, do những quy trình khám phá như vậy là cần thiết để khai mở một lĩnh vực mới, chúng tôi muốn chia sẻ với bạn đọc một vài chi tiết trong phương pháp chúng tôi cùng làm việc và những vấn đề chúng tôi gặp phải.

Trong suốt hai năm đầu của cuộc nghiên cứu, những người giả định là mạnh khoẻ được quan sát nhằm có được một ý tưởng chung về cái mà DVK nhận thấy. Khi số lượng các quan sát tăng lên, nhiều yếu tố can dự vào khi có sự xuất hiện của bệnh tật trở nên rõ ràng. Điều này giúp kiến thức của chúng tôi về các đặc điểm của luân xa và của các trường năng lượng mà chúng thu lại tăng lên.

Trước khi có sự cộng tác giữa chúng tôi, DVK đã thấy các bệnh nhân chủ yêú theo yêu cầu của các bác sĩ y khoa khi bà được hỏi về sự đánh giá của bà. Lúc đầu, trọng tâm là quan sát thể cảm dục của bệnh nhân để khám phá ra nguyên nhân của các vấn đề về cảm xúc vốn là một yếu tố trong bệnh tật của họ. Tuy nhiên, trong khi cùng làm việc với nhau, bà đã được yêu cầu tập trung tầm nhìn thông nhãn chủ yếu ở tầng dĩ thái, để quan sát cấu trúc và chức năng của tuyến nội tiết và các luân xa kiểm soát chúng. Sự chính xác trong hình ảnh dĩ thái của bà được xác định bằng sự tương quan giữa những quan sát cả bà với lịch sử ca bệnh của các bệnh nhân.

DVK không thực hiện một chuẩn đoán chính thức nào như thế, bởi bà không có kiến thức về y học hay được làm quen với những thuật ngữ phù hợp để mô tả những gì bà nhìn thấy. Tuy nhiên những quan sát của bà trong những bất thường ở thể dĩ thái của các luân xa và các tuyến nội tiết tương ứng đã không để lại một nghi ngờ nào về tính chính xác của chúng. Sau một thời gian, bà được tiếp xúc với nhiều trường hợp y học hiếm gặp, như trường hợp tuyến yên đã được phẫu thuật cắt bỏ nhằm mục đích chữa trị ở những bệnh nhân bị ung thư vú hay tuyến giáp (một phương pháp chữa trị thịnh hành thời bấy giờ). Hầu hết các trường hợp được ghi lại về mặt y khoa đều được lấy từ bệnh viện nội tiết ngoại trú của một trường y có tiếng ở New York; các dữ liệu khác được lấy ở California.

DVK được yêu cầu quan sát các luân xa và các tuyến nội tiết liên quan của chúng, bất kể là chúng có vẻ bình thường hay bất thường. Một biểu đồ được phát triển để ghi lại những kết quả của bà, và quy trình này được thực hiện một cách thống nhất.

DVK chưa bao giờ nói chuyện với bất kỳ bệnh nhân nào. Vị trí ở đằng sau của phòng khám ngoại trú, khoảng hai mươi feet (5m) cách chủ thể, thường ngăn bà nhìn thấy ngay cả khuôn mặt họ. Trong mỗi phiên làm việc buổi sáng, hai hay ba bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên để bà đánh giá. Bà được yêu cầu quan sát hai hay ba trung tâm lực dĩ thái và các tuyến nội tiết tương ứng, và cả việc đánh giá trường năng lượng dĩ thái chung của bệnh nhân. Việc này thường mất khoảng hai đến ba giờ để đánh giá một bệnh nhân, nếu tất cả các luân xa được nghiên cứu.

Quy trình diễn ra như sau: DVK điền vào bảng các quan sát của bà về bệnh nhân, trong khi nhiệm vụ của SK là tìm ra những bảng có thông tin y khoa của bệnh nhân đang được nghiên cứu và trích lục những dữ kiện phù hợp. Vài giờ sau đó chúng tôi sẽ so sánh hai phần ghi chú và tìm mối liên hệ giữa các thông tin.

Làm việcbệnh viện ngoại trú không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với DVK, vì sự nhạy cảm của bà với những người đầy sự lo lắng và chịu đựng đau đớn, nhưng chúng tôi không có lựa chọn nào khác nếu muốn có được những tài liệu chúng tôi cần. Tuy nhiên, công việc sẽ dễ dàng hơn nhiều khi chúng tôi nhìn riêng các trường hợp ngoài môi trường bệnh viện. Cũng cần nói rằng trong tiến trình nghiên cứu, chúng tôi chưa bao giờ thu phí với bất cứ ai, dù xem xét họ ở bệnh viện hay chỗ riêng tư. Nghiên cứu này được tài trợ từ các quỹ và những người bạn, bởi khi làm việc trong một lĩnh vực mới mẻ và không chính thống, điều tối quan trọng là duy trì được sự tự do khỏi sự kiểm soát bên ngoài cũng như ban đầu trong việc từ chối thu lợi về tài chính của một nghiên cứu.

Những cơ chế của nhận thức bằng nhãn thông

Có khá nhiều người có thể nhìn thấy các đường nét chung của thể dĩ thái vươn ra khoảng 5 cm ngoài thể vật lý, nhưng có rất ít người có khả năng nhận thấy các chi tiết của trường năng lượng thể dĩ thái và các trung tâm lực của nó.

Một số nhà ngoại cảm vận dụng các kĩ thuật khác nhau để tập trung nhận thức của họ. Ví dụ như Frances Farrelly, người có một loạt các khả năng thông linh, sử dụng một cơ chế mà bà gọi là “keo dính”. (Xem Chương XVI để có được cái nhìn sâu sắc hơn về những thành tựu của nhà ngoại cảm này). Khi bà chà ngón tay mình vào một mảnh gỗ hay nhựa trong khi vẫn tập trung vào câu hỏi bà đang tìm câu trả lời, bà nhận được một cảm giác bám dính nếu câu trả lời được khẳng định, nhưng sẽ không có gì thay đổi nếu nó chưa được chắc chắn. Bà đã dùng phương pháp như vậy khi dò tìm mạch trên bản đồ để xác định nước hay khoáng chất. Bởi vì câu trả lời chỉ có thể là có hoặc không, bà phải rất chính xác trong các câu hỏi trong đầu mình.

Cảm giác “bám dính” này được nâng lên tầm một “ngôn ngữ khoa học” được biết tới như là Phản ứng Kích Thích Số (DER) ở Viện nghiên cứu Stanford, một trung tâm nghiên cứu của Mỹ. Nó cho thấy rằng không có một công cụ được gọi là máy cảm xạ radionic nào sử dụng nguyên tắc “bám dính” như một phần trong cơ chế của chúng hoạt động nếu người điều khiển không có khả năng ngoại cảm ở mức độ cần thiết, và điều này giải thích tại sao việc sử dụng những công cụ như vậy trong chuẩn đoán ở Mỹ là phi pháp. Mối quan tâm chính của chúng tôi là tìm ra cơ chế tạo ra sự bám dính này. Được yêu cầu xem hiện tượng này, DVK đã thấy rằng có một sự tăng lên trong năng lượng dĩ thái ở các đầu ngón tay, nhưng những năng lượng này phát ra từ phân cảnh trí tuệ, vì nếu không có sự tập trung tư tưởng thì cảm giác bám dính này không xảy ra. Rõ ràng loại tri nhận ngoài giác quan này được kích hoạt bằng việc chà xát ngón tay trên một vật thể.

Những nhà thông nhãn như DVK, người có thể tri nhận các luân xa trong thể dĩ thái, tuy vậy lại sử dụng một cơ chế khá khác biệt. Ở họ, luân xa trán dĩ thái của họ cùng với luân xa đỉnh đầu tạo thành một cơ quan nhận biết năng lượng trí tuệ, cảm dụcdĩ thái. Thậm chí ngay cả trong số những người đã phát triển khả năng nhìn thấu thể dĩ thái, những khác biệt vẫn tồn tại trong mức độ rõ ràng, sắc nét và chi tiết trong hình ảnh của họ. Rất khó để tìm thấy một người có khả năng như DVK mà đồng thời sẵn lòng hợp tác cho việc nghiên cứu mất nhiều thời gian mà trong đó yêu cầu sự chú tâm cẩn thận và tường thuật tỉ mỉ như vậy. Nhà nhãn thông phải tập trung và liên tục tái tập trung để thuật lại những gì quan sát được. Việc này rất căng thẳng và ba giờ đồng hồ là thời gian tối đa một công việc như vậy có thể được hoàn thành hiệu quả mà không gây mệt mỏi.

Cơ chế nhận thức bằng thông nhãn gây bối rối cho cả những người thấu thị cũng như những nhà nghiên cứu. Việc sử dụng năng lực của họ là tự động với những người sở hữu nó nhưng nếu không có ngoại lệ thì họ đều thấy khó khăn khi phân tích, giống như một người có khả năng thị giác bình thường sẽ thấy không thể miêu tả cơ chế hoạt động của hình ảnh. Tuy nhiên, sự quan sát tiếp tục của các nhà nhãn thông trong quá trình sử dụng năng lực của mình đã cho ra một số thông tin thú vị.

Cách DVK “mở” khả năng thông nhãn

Khi SK quan sát DVK “mở” khả năng nhãn thông của mình, một sự thay đổi đột ngột trong biểu cảm của đôi mắt trở nên đáng chú ý. Biểu cảm của khuôn mặt gợi ý một sự rút vào bên trong của tâm thức. Nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng này dẫn đến một kết quả thần kinh học thú vị. Con ngươi trong mắt của các nhà thông nhãn trở nên hơi giãn ra và cố định trong toàn thời gian họ sử dụng năng lực này. Nếu có tia sáng chiếu vào mắt họ, con ngươi sẽ không co lại theo cách thông thường.2. Nhưng khi nhà thông nhãn trở về tầm nhìn vật lý bình thường, đồng tử của họ ngay lập tức phản ứng với sự phản chiếu ánh sáng và co giãn một cách bình thường. Những nhà thấu thị không kiểm soát hiện tượng phản chiếu thần kinh và không ý thức về điều này. Trong thực tế, họ bất ngờ khi việc này được chỉ ra cho họ.

Tuy vật, trong lúc tập trung vào năng lực nhãn thông, những nhà thấu thị giữ được tâm thức tỉnh táo hoàn toàn. Qua kiểm tra, họ có thể miêu tả chính xác qua nhiều lần vị trí da của họ được chạm nhẹ bằng bông khi họ đang trong trạng thái nhãn thông.

Như đã giải thích, ban đầu những người bình thường được nghiên cứu để thiết lập cơ sở cho các quan sát của DVK về các trường năng lượngtrung tâm lực của chúng. Về sau, các trường hợp y khoa đã được tư liệu hoá được khảo sát. Khi sự đa dạng của bệnh tật tăng lên thì rất nhiều loại trường năng lượng nữa được miêu tả và phương pháp nghiên cứu ngày càng trở nên thực tiễn và thuần thục.

Để đưa ra một số vấn đề chúng tôi đã gặp phải, và những khó khăn mà nhà thần nhãn gặp trong khi phân tích sự nhận thức của chính mình, chúng tôi trích vào đây một thảo luận giữa DVK và SK.

SK: Bà thấy các bộ phận bên trong thể như thế nào?

DVK: Tôi nghĩ tôi thấy hai hình mẫu, trong đó một là hình mẫu năng lượng. Nhìn lướt qua thì tôi có thể nói liệu có sự không hoà hợp trong khuôn mẫu này không, và nó cho tôi thấy nơi mà sự rối loạn hiện diện. Sau đó tôi nhìn vào vị trí rối loạn theo nhiều cách. Ví dụ, tôi có thể nhìn vào chi tiết luân xa liên hệ với khu vực đó. Nhưng khi khác tôi có thể chỉ nhìn vào khu vực bị rối loạn. Nếu tôi thấy một sự xáo trộn trong hình mẫu năng lượng thì tôi có thể, như đã từng, chuyển sự tập trung của mình và nhìn vào bản sao của các bộ phận vật lý trong thể dĩ thái. Bản sao này chính xác ra sao hay sự luận giải của tôi chính xác thế nào thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ tôi có thể phân biệt giữa những thứ tôi quen thuộc như máu và cơ bắp.

SK: Màu của máu có khác so với màu của nó ở thể dĩ thái không, cái mà bà thường thuật lại là có màu xanh xám là gì?

DVK: Cái đó là màu của tầng năng lượng dĩ thái. Nhưng khi tôi nhìn vào bộ phận như dạ dày theo cách mà tôi gọi là “lấy nét gần”, tôi thấy máu màu đỏ.

SK: Hãy lấy một mạch máu làm ví dụ. Bà thấy nó thế nào ở thể dĩ thái và có khác gì về mặt kiểu mẫu năng lượng không?

DVK: Kiểu mẫu năng lượng thì giống như các dòng điện nằm trong thể dĩ thái xanh xám, và nó cũng có một nhịp điệu. Nhưng một mạch máu thì trông như một cái cốc trong suốt hay ống nhựa, mà chất lỏng màu đỏ chảy qua đó.

SK: Nếu bà nhìn vào một mạch máu ở phía sau bàn tay tôi, trông nó như thế nào?

DVK: Nó trông như một con kênh chảy ngay dưới da, và có màu vàng nhạt trong suốt.

SK: Nếu bà nhìn vào tĩnh mạch của một người già, người có thể đã có những thay đổi trong mạch máu, thì sẽ khác chứ?

DVK: Mạch này thì không được chặt và chắc chắn lắm; nó có thể có bề rộng lớn hơn. Trương lực thì “đẫm nước” hơn và có thể có các phân tử nhỏ trên dòng chảy, cũng như một vài điểm tắc nghẽn. Phần chất liệu trông hơi có “chất gỗ”, tôi cho đó là cholesterol.

SK: Vật chất này có xoay tít không?

DVK: Không. Có cuộn xoáy ở tầng năng lượng nhưng tầng mà tôi đang nói đến là một bản sao của thế giới vật lý. Tập trung nhìn vào chi tiết thể dĩ thái khó hơn nhiều khi nhìn vào khía cạnh năng lượng bởi ở trường hợp sau bạn có thể có những đánh giá nhanh dựa trên bức tranh toàn cảnh, và những đánh giá này khá chính xác.

SK: Ở cấp độ dĩ thái nào máu đại diện cho, khi so sánh với cấp độ năng lượng nói chung?

DVK: Có lẽ là cấp thấp nhất của thể dĩ thái. Năng lượng thì ở một tầng cao hơn.

SK: Bà có thể mô tả một vết loét dạ dày trông thế nào không?

DVK: Ở phần mép dạ dày có máu. Chỗ loét tạo ra loại vật chất tác động đến cả chính dạ dày và phần máu chảy qua dạ dày. Đôi khi tôi có thể thấy nhiều máu rò rỉ vào một túi lớn của dạ dày, túi này về sau trông rất trầy xước ở xung quanh thành bao của nó.

Nguyên nhân các bệnh ung thư

SK: Bà nhìn nhận thế nào về nguyên nhân gây nên khối u?

DVK: Các khối u là kết quả của cảm xúc căng thẳng nhưng chúng còn phụ thuộc nhiều vào tính khí của mỗi cá nhân. Một người có thể căng thẳng cực độ nhưng không bị vấn đề gì về dạ dày cả; anh ta sẽ không bao giờ phát triển khối u. Lý thuyết của cá nhân tôi là một số người sinh ra với những khuynhhướng dĩ thái nhất định, ví dụ, như một điểm yếu ở tùng thái dương. Những cá nhân này sẽ cảm nhận mọi thứ một cách mạnh mẽ, nhưng anh ta có thể có gắng kìm nén những xúc cảm này và giữ được bình tĩnh. Kết quả là, anh ta gây ra áp lực trong hệ tiêu hoá và trở nên ngày càng căng thẳng; việc này khiến anh ta “thưa ra”, như cách nói thể dĩ thái, khiến anh ta không thể lấy thêm đủ năng lượng. Tôi đã từng thấy sự bắt đầu của một khối u khi nó còn trong giai đoạn phôi thai, và chứng kiến nó ngày một trở nên to hơn theo thời gian.

SK: Từ mô tả của bà, có vẻ là trước hết có một sự mất mát của sinh lực tại khu vực đó—có thể nói là một sự tẩy trắng, như thể là nó bị mất sinh lực.

DVK: Đúng thế; sự căng thẳng bắt đầu trước.

SK: Một khối u đang lành lại trông thế nào?

DVK: Màu sắc của máu trở lại bình thường và năng lượng tăng lên.

SK: Bà có thể thực sự thấy khối u nằm đâu không?

DVK: Tôi có thể thấy trạng thái bị u nhọt mà chưa đến giai đoạn xuất huyết bên trong. Các mạch máu trông lỏng lẻo và chúng dãn rộng ra ở khu vực khối u mới chớm.

Sau đoạn đối thoại trên, DVK được yêu cầu quan sát một số vật thể vô tri ở thể dĩ thái nhằm khám phá xem liệu cái chúng tôi gọi là vật không sự sống có sinh khí ở mức độ nào. Bà đã thực hiện vài lần quan sát pha lê và đã thấy chúng có một mức nhỏ năng lượng dĩ thái. Bà được đưa cho một miếng nhỏ nhựa thơm và yêu cầu so sánh nó với phal ê. Không biết được gì về thứ bà đang cầm trên tay, bà thuật lại như sau:

“Đây không phải là pha lê bởi nó không có đường và góc sắc cạnh của năng lượng xuyên qua nó. Nó dường như chắc chắn đang phát triển nhưng quá trình này giống như sự tái tạo của tế bào hơn là sự kết tinh của tinh thể. Sự phát triển này nằm ở trên bề mặt hơn là ở chính giữa; nó dường như lớn lên nhờ vào một thứ khác, và thu năng lượng từ nguồn đó. Về tổng thể, nó sống động hơn pha lê nhưng nó không sắc nét bằng. Khi tôi cầm miếng này trong tay, có nhiều phản ứng dĩ thái với nó hơn là với một viên pha lê, và sự tương tác này nổi bật khi ở trong lòng bàn tay hơn là trên ngón tay. Vật chất này cảm giác xốp hơn pha lê và khi phản ứng với hơi ấm từ tay tôi, nó dường như lấy nhiều năng lượng vào hơn là tuôn ra.”

Tiếp tục quan sát tinh thể pha lê, DVK được yêu cầu đánh giá một viên pha lê trắng hình trụ gởi tới chúng tôi từ Tiến sĩ Puthoff ở Đại học Stanford. Viên pha lê này đã được nạp bởi một số loại năng lượng, và Tiến sĩ Harold Puthoff muốn biết liệu hình mẫu năng lượng của viên pha lê này có bị biến đổi không. Đánh giá của DVK là trường năng lượng dĩ thái đã bị can thiệp và kết quả là khuôn mẫu năng lượng thông thường đã bị gãy nứt, cho nên dòng chảy năng lượng bị phá vỡ và chảy theo một hướng khác. Nó chảy như thể có gì đó được thực hiện dưới sức ép. Đánh giá này được coi là chính xác.

Theo DVK, có một sự tương tác lớn hơn nhiều giữa tinh thể, đá quý và năng lượng con người hơn mức mà hầu hết mọi người nhận thức. Cấu trúc tinh thể bằng cách nào đó có thể nhận, tập trung và giữ năng lượng dĩ thái trong khoảng thời gian dài, nhưng theo cách có thể sử dụng được và con ngườithể dùng như một vật tập trung để gửi ra năng lượng chữa lành.

Những quan sát như vậy chỉ ra rằng không chỉ có trường dĩ thái liên quan đến vật chất sống mà cả những thực thể tự nhiên cũng có sức sống hay “sự sống” ở mức độ nào đó. Nghiên cứu này không đưa chúng tôi đi xa hơn theo hướng này nhưng đã cho thấy sự thật trong lời tuyên bố của V.A. Firsoff rằng “Chúng ta đến đây rất gần với ranh giới giữa sự sống và không sự sống, nếu như có một ranh giới nào như vậy. Đó có thể không là gì hơn là vấn đề định nghĩa.”

972 — Tổng số lần đọc 4 — Hôm nay
+ Trong “Giáo Lý Bí Nhiệm”, chúng ta được dạy rằng có bảy nhánh tri thức được nói đến trong Kinh Puranas –SD I, 192. Ở đây, các tương ứng có thể nêu ra liên quan với: 1. Bảy Cung, các Tinh quân Hy sinh, Bác ái và Tri thức. 2. Bảy trạng thái ý thức (States of consciousness) 3. Bảy trạng thái vật c...
Xem Chi tiết
– Bất cứ cuộc điểm đạo nào mà không được lý giải trong cách sống hằng ngày thì không giúp ích được bao nhiêu và về căn bản là thiếu xác thực. Chính sự thiếu xác thực của cách trình bày về điểm đạo đã đưa tới việc Hội Thông Thiên Học không còn được xem như là tác nhân của Thánh Đoàn vào lúc này. Trướ...
Xem Chi tiết
– Bất cứ cuộc điểm đạo nào mà không được lý giải trong cách sống hằng ngày thì không giúp ích được bao nhiêu và về căn bản là thiếu xác thực. Chính sự thiếu xác thực của cách trình bày về điểm đạo đã đưa tới việc Hội Thông Thiên Học không còn được xem như là tác nhân của Thánh Đoàn vào lúc này. Trướ...
Xem Chi tiết
Tâm Thức Atlantis: Con người Tình cảm Vô ý thức 3. Bây giờ tiêu điểm chú ý của linh hồn – hoạt động xuyên qua con người đang tiến hóa từ từ, đang di chuyển vào thế giới của dục vọng. Các ham muốn không còn quá mơ hồ và phôi thai. Cho đến nay chúng vẫn quan tâm tới những thôi thúc hay khao khát cơ bả...
Xem Chi tiết
Chính do sự thiếu hiểu biết về các Giáo Lý Huyền Linh Học (Occult tenets) và sự áp đặt (enforcement) các quan niệm sai lầm dưới chiêu bài giáo dục tôn giáo (the guise of religious education) mà Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Vô Thần mới được tạo ra như là một sự phản kháng lại (protest) trật tự thiê...
Xem Chi tiết
Người phương đông (PĐ) và Phương Tây (PT) với Nhân loại (TTHM, thư 30.7.20): + PĐ như trái tim trong cơ thể con người. Đó là nguồn của ánh sáng, của sự sống, nhiệt lực và sinh lực. + PT như bộ não hay hoạt động trí tuệ đối với xác thân. Đó là yếu tố tổ chức chỉ đạo, khí cụ của hạ trí, là kho tích...
Xem Chi tiết
1. Bí huyệt đầu (Head centre) ... Não, tuyến tùng quả và tuyến yên 2. Bí huyệt ở họng (throat) ... Thanh quản, dây thanh âm, khẩu cái và tuyến giáp. 3. Bí huyệt tim (heart) ... Màng bao tim, tâm thất, tâm nhĩ, ảnh hưởng tới lá lách. (ASCLH, 310) – Các bí huyệt có ba chức năng chính:1/ Đem sinh lực (...
Xem Chi tiết
+ Tuyến nội tiết: Tuyến nội tiết hay hệ thống tuyến tác động dưới các thúc đẩy tiến vào thể xác xuyên qua bảy bí huyệt trong thể dĩ thái; đối với các bí huyệt này, hệ thống tuyến chỉ là sự thể hiện bên ngoài hay là đối phần của thể xác. Các tuyến nội tiết chi phối con người qua dòng máu, đến phiên c...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
Siêu hình học (Metaphysics): Do tiếng Hy Lạp meta, ở phía bên kia (beyond), và physica, những sự vật thuộc thế giới ngoại vật chất (external material world). Đừng nên quên đi phần tinh thần (the spirit) mà chỉ theo sát nghĩa (dead–letter) để dịch chữ đó là vượt ngoài thiên nhiên (beyond nature) h...
Xem Chi tiết
+ Hình tư tưởng (Thought form): Hình tư tưởng được con người tạo nên, là sự kết hợp của bức xạ dương (positive emanation) và bức xạ âm. Cả hai đều là bức xạ của một Nhất thể (Unity), tức là Chủ thể Tư Tưởng cố kết (coherent Thinker). (LVLCK, 560)- Hình tư tưởng là các sự vật có thực chất (substantia...
Xem Chi tiết
+ Thể sinh lực tức là thể dĩ thái (LVHLT, 206) + Thể dĩ thái là một mạng lưới các dòng năng lượng, các tuyến lực và ánh sáng. Dọc theo các tuyến năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ tuôn chảy, giống như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch (Nguồn) + Thể dĩ thái: Thể xác con người có 2 phần: Nhục...
Xem Chi tiết
+ Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy mình có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy mình ở trên cõi trí. Đa số con người đều thấy mình ở cõi...
Xem Chi tiết
- Bậc Trí Giả: Tâu đại vương! Phàm là Trí giả nói chuyện với nhau, bao giờ cũng nói lời ngay thật, muốn trao đổi hiểu biết, soi sáng hiểu biết cho nhau. Trong câu chuyện, nếu có những lý lẽ đưa ra, dù đúng, dù sai, dù cao, dù thấp, dù phải, dù trái v.v... các bậc Trí giả không bao giờ vì thế mà phiề...
Xem Chi tiết
+ Thể sinh lực tức là thể dĩ thái (LVHLT, 206) + Thể dĩ thái là một mạng lưới các dòng năng lượng, các tuyến lực và ánh sáng. Dọc theo các tuyến năng lượng này, các mãnh lực vũ trụ tuôn chảy, giống như máu chảy qua các tĩnh mạch và động mạch (Nguồn) + Thể dĩ thái: Thể xác con người có 2 phần: Nhục...
Xem Chi tiết
Thể cảm dục (ASCLH, 186)/ (KCVTT, 253) + Thể cảm dục, đôi khi được gọi là thể tình cảm là kết quả của sự tương tác của dục vọng và của sự đáp ứng hữu cảm thức vào cái ngã ở trung tâm, và đưa đến kết quả – trong thể đó – là kinh nghiệm được tạo ra dưới hình thức cảm xúc như là đau khổ và vui sướng v...
Xem Chi tiết
Khoáng vật: The mineral, khoáng chất, kim thạch). Loài khoáng vật chết đi vào cuối mỗi chu kỳ sinh hóa (manvantaric cycle) hay là vào cuối một Cuộc Tuần Hoàn (Round) như thường gọi.    (Thư của Chân Sư,  172)...
Xem Chi tiết
+ Laya: Trung tâm Laya tức là trung tâm yên nghỉ.(GLBN I, 152, 189, 195, 202) - Trạng thái Laya tức là trạng thái chưa biến phân (tình trạng chưa phân hóa). - Laya tức là điểm không của cõi vật chất. - Laya, điểm vật chất, nơi mà mọi sự phân hóa đều ngưng lại. + Trạng thái 3 Ngôi Thượng Đế tức l...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Thần, Thiên thần (Devas): Devas là các thực thể tiến hóa (progressing entities) của một chu kỳ hành tinh trước. (GLBN III, 235) + Thần chất (Deva substance, chất liệu của thiên thần): - Tinh chất kiến tạo (building essence) tức là thần chất. - Vật chất được các Agnishvatta làm linh hoạt (vitali...
Xem Chi tiết
Phản chiếu (Reflection): Nói chung, thuật ngữ “phản chiếu” được dùng khi một mãnh lực (force) biểu lộ trên một cõi cao, tự hiện lại (show itself again) trên một cõi thấp và bị chi phối bởi một loại vật chất thô hơn trong biểu lộ thấp đó, cho nên một ít hiệu năng (effective energy) của mãnh lực đó...
Xem Chi tiết
+ Phật dậy: Ngươi phải thi ân bố thí mới có thể tránh được nạn nghèo. Ngươi không hiểu ý nghĩa của sự vái lạy 6 hướng, để ta giải cho ngươi nghe:  - Ngoảnh mặt qua hướng Đông thì ngươi phải nhớ tới cha mẹ ngươi.  - Ngoảnh qua hướng Tây, ngươi phải nhớ tới vợ con ngươ...
Xem Chi tiết
+ Năng lượng (Energy) Đại hay Tiểu vũ trụ: - Tất cả các lực đang tuôn đổ vào hình hài cá biệt từ bất cứ phương hướng và cội nguồn nào. Các tên gọi sutratma, life thread hay silver cord (ngân quang tuyến) thường được dùng để chỉ các năng lượng chính yếu này.(GDTKNM, 143) - Chúng ta dùng để chỉ hơi ...
Xem Chi tiết
Nhãn thông (Clairvoyance): Đây là năng lực thấy trên cõi cảm dục và là một trong các “siddhis” thấp hay quyền năng tâm thông thấp. Năng lực này được đạt tới nhờ sự nhạy cảm ở bề mặt của toàn bộ “thể cảm giác” (body of feeling”), lớp vỏ tình cảm và là nhận thức của giác quan được đem lên tình trạn...
Xem Chi tiết
+ Minh Triết còn gồm: Minh Triết Mới và Minh Triết cổ + Minh triết nhấn mạnh phương diện “Trí”, giáo dục, chân lý thuần khiết (TLHNM 1) + Minh triết tức là tri thức cao siêu.(GLTNVT, 328) + Minh triết là sự thăng hoa của trí tuệ, nhưng minh triết bao hàm sự thăng hoa của các khía cạnh cao cũng nh...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua Đây là những vấn đề sinh lý và tâm lý xảy ra khi bản thể bị kích thích quá mức bởi năng lượng đang đổ vào mãnh liệt, phá vỡ các nhịp điệu sống ...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Khoáng vật: The mineral, khoáng chất, kim thạch). Loài khoáng vật chết đi vào cuối mỗi chu kỳ sinh hóa (manvantaric cycle) hay là vào cuối một Cuộc Tuần Hoàn (Round) như thường gọi.    (Thư của Chân Sư,  172)...
Xem Chi tiết
Hình tướng (sắc tướng, forms): Hình tướng hay lớp vỏ (sheath) hay các thể (bodies) đều có mục đích biểu hiện. (ASCLH, 74)...
Xem Chi tiết
Hiện tượng (Phenomenon): Theo cách gọi của các Nhà Duy Tâm (Idealists) đương đại thì sự kết hợp của Chủ thể (Subject) và Khách thể (Object) tạo ra đối tượng của giác quan (sense–object) tức là hiện tượng.  (GLBN II, 42)...
Xem Chi tiết
Tâm thức tỉnh thức (waking–consciousness): + Tâm thức tỉnh thức tức là tâm thức đang tác động trong bộ óc hồng trần (consciousness working in the physical brain). (KCVTT, 115) + Tâm thức tỉnh thức là tâm thức đang hoạt động trên cõi trí và trên cõi cảm dục bằng cách dùng chất trí và chất cảm dục làm...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
Trực giác (intuition): X. thêm mục “Nguyên khí Bồ Đề”. – Trực giác là sự pha trộn của hai đặc tính thiêng liêng, của tuệ giác–trí tuệ (buddhi–manas) hay là sự hiểu biết tâm linh bằng trực giác (bao hàm sự giải thích và đồng nhất hóa), và thượng trí trừu tượng (higher abstract mind), cốt yếu đó là...
Xem Chi tiết
Tiên đoán (Prediction): Tiên đoán là một kỹ năng (asset) của linh hồn thức và con người tạm thời có dự phần vào đó.         (CTNM, 497)...
Xem Chi tiết
+ Tinh thần và tâm thức là các tên gọi đồng nghĩa. SD I, 43, 125, 349, 593. + Tinh Thần = Tâm thức - Ý Thức + Đơn vị Tâm thức (the Unit of Consciousness): X. Chân Thần.Xem: Tổng hợp chi tiết về tâm thức...
Xem Chi tiết
+ Tinh linh của các bản tố; các tạo vật có liên quan đến 4 lãnh vực, hay các bản tố: Địa (Earth), Phong (Air), Hỏa (Fire), và Thủy (Water). Ngoại trừ một số ít ở đẳng cấp cao và các vị cai quản, chúng là các mãnh lực của thiên nhiên hơn là những người nam và nữ tinh anh. (ĐĐTNLVTD, 217) – Tinh linh...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Thần nhãn (Clairvoyance): X. Nhãn thông....
Xem Chi tiết
Phục sinh (Resurrection): Phục sinh là chủ âm của thiên nhiên; sự chết thì không phải. Sự chết chỉ là tiền phòng (ante–chamber) của sự phục sinh. Phục sinh là manh mối cho thế giới ý nghĩa (world of meaning) và là chủ đề căn bản của tất cả các tôn giáo trên thế giới – quá khứ, hiện tại và tương l...
Xem Chi tiết
+ Phân thân (Emanation): Một dòng thần lực tức là một phân thân. (LVLCK, 69) + Phân thân (Fission, nứt ra): a/ Việc chia làm 2 của đốm nguyên sinh chất thuần chất, thấy có ở loài moneron (sinh vật đơn bào không nhân) hoặc là con a–mip (amoeba). b/ Tế bào có nhân tách ra làm 2 nhân nhỏ, mỗi nhân ...
Xem Chi tiết
+ Phân Cảnh Dĩ Thái_Chân Sư DK: Điều hơi kỳ lạ là trong giới nhân loại (và chỉ giới nhân loại) thể dĩ thái ngày nay được tạo thành bằng 4 loại chất dĩ thái. Lý do của việc này là ở chỗ sau rốt (khi nhân loại đã phát triển về mặt tâm linh) mỗi 1 trong 4 cõi này tức loại chất dĩ thái sẽ được đáp ứng v...
Xem Chi tiết
+ Phân biện (Viveka, discrimination): Tư ngữ Bắc Phạn Viveka là phân biện. Chính bước đầu tiên trên con đường huyền linh học ... là sự phân biện giữa thực với hư, giữa bản thể với hiện tượng, giữa Ngã với Phi Ngã, giữa tinh thần với vật chất. (ĐĐTNLVTD, 225) + Phân biện: thể trí học cách chọn lựa đ...
Xem Chi tiết
Nhất quán (At–one–ment): Đối với các nhà nội môn (esotericists), toàn bộ vấn đề nhất quán có liên quan chặt chẽ với việc kiến tạo giác tuyến (antahkarana). Danh xưng này dành để chỉ tuyến (line) năng lượng linh hoạt nối liền các trạng thái khác nhau của con người với linh hồn và nó nắm giữ manh...
Xem Chi tiết
Nhĩ thông (Clairaudience): Là nhận biết được tiếng nói của đại ảo tưởng (great illusion) và mang lại cho con người khả năng nghe được trên cõi cảm dục. Khi ở đúng chỗ và khi được kiểm soát từ bên trên nhờ sự hiểu biết, nhĩ thông giúp nghe được một vài trạng thái của biểu hiện thiêng liêng tr...
Xem Chi tiết
+ LỜI PHẬT DẠY VỀ SỰ NHÌN THẤU ĐỂ CÓ MỘT CUỘC SỐNG HẠNH PHÚC - KHÔNG TRANH CHẤP LÀ TỪ BI  - KHÔNG TRANH LUẬN LÀ TRÍ TUỆ  - KHÔNG NGHE THẤY LÀ SỰ THANH TỊNH- KHÔNG QUAN SÁT LÀ SỰ TỰ TẠI- KHÔNG THAM LAM LÀ BỐ THÍ- BỎ ÁC LÀ CÁI THIỆN - SỬA ĐỔI BẢN THÂN LÀ SÁM HỐI - NHÚN NHƯỜNG CHÍNH LÀ LỄ PHẬT - THA TH...
Xem Chi tiết
Hào quang (Aura): Hào quang của con người có hình dáng bên ngoài là một lùm mây sáng có hình trứng (egg-shaped luminous cloud), ở giữa đám mây là nhục thân (dense physical body). Do cái hình dáng bên ngoài đó mà hào quang thường được nói đến như là không có gì khác hơn là một đám mây. Những gì th...
Xem Chi tiết
+ Huyền Môn:  Chữ huyền môn (occult) có nghĩa là bị che dấu, ẩn tàng, và tham thiền huyền môn là dạng tham thiền sử dụng những năng lượng vô hình mạnh mẽ này (Về tham thiền-MQ-MF) + Nghiên cứu kiến thức huyền môn, các bạn cần nhớ 2 điều: 1- Các bạn phải kiểm soát (Chế ngự) các sức mạnh tinh linh: ...
Xem Chi tiết
 Giác quan (sense): Các giác quan có thể được định nghĩa là những cơ quan giúp cho con người biết được môi trường chung quanh. Trong con vật cũng có 5 giác quan, nhưng không có năng lực suy tư liên kết. Các giác quan này biểu hiện như một năng lực tập thể, tương tự với một bản năng nòi giống (racial...
Xem Chi tiết
+ Con Người - Phật dạy, là sự tập hợp của 2 thành phần chính: 1- Danh là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. 2- Sắc gồm có 2, đó là nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa.Xem nguồn + Linh hồn được nghiên cứu với tư cách là một trung tâm...
Xem Chi tiết
+ Trong trời đất, con người là quý, đầu đội trời, chân đạp đất, thân thể do cha mẹ để lại nên phải quý.(Hải Thượng Lãn Ông) 1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Ngủ từ 21h đến 3h sáng - Mùa đ&ocir...
Xem Chi tiết
Giống dân (Race, chủng tộc): – Cách phân loại các Giống dân và sự tiến hóa của nhân loại được nói đến trong sách này đã được trình bày một cách rõ ràng, khúc chiết trong quyển Phật Giáo Nội Môn...
Xem Chi tiết
+ Vật chất và chất liệu (Matter and Substance): Để cho thật chính xác, để cho khỏi lẫn lộn và quan niệm lầm lạc (misconception), nên dùng thuật ngữ:* “Vật chất” (“Matter) để chỉ tập hợp các vật (objects) có thể tri giác được, còn thuật ngữ * “Chất liệu” (Substance”) để chỉ Thực Tướng (Noumena). (GLB...
Xem Chi tiết
Đồng cốt (mediumship, đồng bóng): Trạng thái đồng cốt thường diễn ra khi tiến trình hoàn toàn bị giới hạn vào các phân cảnh cảm dục... Trạng thái đồng cốt nguy hại vì thể hạ trí không can dự vào và vì thế, linh hồn không có kiểm soát. Đồng tử là một khí cụ vô ngã thức (unconscious), không phải ...
Xem Chi tiết
+ Vật chất (matter hay material): + Vật chất là tinh thần (spirit) ở mức độ biểu hiện (point of expression) thấp nhất. (CTNM, 589) + Nói về mặt nội môn, từ ngữ “vật chất” được dành để chỉ mọi hình tướng (forms) trong ba cõi thấp. (CVVTDT, 189) + Nên nhớ rằng, đối với nhà huyền linh học (occultist), ...
Xem Chi tiết
+ Viễn cảm - Thần giao cách cảm: - Viễn cảm hay là sự hiểu biết tức khắc, biết được các biến cố, nhận thức được các sự việc và đồng nhất hóa với các phản ứng của Phàm ngã. Tất cả đều liên quan đến hoạt động của bí huyệt nhật tùng của Phàm ngã và điều này - khi bản chất bác ái hay trạng thái thứ hai ...
Xem Chi tiết
Sức mạnh tư tưởng và năng lực trí tuệ (Thought power and mental ability). Một người không thể có được sức mạnh tư tưởng, cũng không thể có được năng lực trí tuệ, nếu người đó không tự tạo ra cho chính mình bằng sự suy tư được lặp lại một cách kiên nhẫn. (MTNX,  276)...
Xem Chi tiết
– Là danh xưng dành cho tiếng kêu thỉnh nguyện (invocative appeal) của nhân loại và sự đáp ứng trở lại của Sự sống vĩ đại (greater Life) với tiếng kêu cầu (cry) đó. (CVĐĐ, 520) – Các chân lý tâm linh chính đại của tôn giáo có thể được tóm lược như sau: Có một Bản Thể đích thực, vô hạn, vĩnh ...
Xem Chi tiết
Nhóm A: Chia rẽ - Hợp nhất - Kích thích; Tất cả nhân loại phải trải qua ảnh hưởng Nhóm B: Nhà thần bí - Đệ tử; Người sống cuộc đời tâm linh mới trải qua + Một trong những điều đầu tiên xảy ra khi một người đã thành công trong việc hàn gắn hoặc khắc phục những Sự Chia Rẻ nhất định là việc nhận ra...
Xem Chi tiết
Tsong–kha–pa (Tây Tạng): Còn được viết là Son–kha–pa. Một nhà cải cách nổi tiếng ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 14, Ngài đã đưa vào quê hương của Ngài một hệ thống Phật giáo đã được thanh lọc. Vốn là một Đại Đạo Đồ (great Adept), vì không thể chứng kiến thêm nữa sự mạo phạm triết lý Phật giáo của các ...
Xem Chi tiết
+ Đơn vị Tâm thức <=> Chân Thần: Cấu tạo và đặc tính(Nguồn)+ Mỗi sinh vật là 1 với Tâm thức Vũ trụ: Ví như 1 sóng biển là một với đại dương(nguồn)+ Tâm Thức: Đặc trưng là tình thương (ASCLH, 54) + Định đề 2 - Tâm Thức (LVHLT, 21): Sự sống duy nhất khi biểu lộ qua vật chất, tạo ra yếu tố thứ 3,...
Xem Chi tiết
+ Tài năng hay năng khiếu (talents or gifts): Các tài năng hay các năng khiếu đều được xem như có được trong một kiếp sống trước.(TNVT, 95) + Năng Khiếu các Cung Năng Lượng - Cung Hoàng Đạo Và các Nhà và Các Hành Tinh: Xem tại đây: Năng khiếu về Cung, Cung Hoàng Đạo và hành Tinh...
Xem Chi tiết
Trầm cảm (Depression, chán nản, nản chí, phiền muộn, ưu tư):  Khi đề cập đến vấn đề trầm cảm là chúng ta bàn đến một điều phổ cập đến nỗi ít người thoát khỏi sự tấn công của nó. Nó giống như sương mù bao quanh con người, làm cho y không thể thấy rõ, đi không chắc chắn và không còn nhận biết Thực tại...
Xem Chi tiết
Tri thức: - Tri thức là minh triết cổ chân chính.(ASCLH, 140) - Tri thức là sản phẩm của Phòng Học Tập, dùng để chỉ toàn thể những tìm kiếm và kinh nghiệm của con người, qua 5 giác quan và có thể được liên kết, giải đoán và định nghĩa bằng cách dùng trí năng con người. Đó là những điều mà ta cảm th...
Xem Chi tiết
Thị giác (Vision): Có nhiều thứ thị giác, và có thể được liệt kê như sau: Thị giác hồng trần (physical vision). Dĩ thái nhãn thông (etheric vision). Nhãn thông (clairvoyance). Nhãn thông biểu tượng (symbolic vision). Nhãn thông thuần túy (Pure vision). Nhãn thông tinh thần hay...
Xem Chi tiết
Thần học (Theology): Dù cho các thuyết của khoa học có thể sai lầm, duy vật và đầy thiên kiến đi nữa, chúng cũng còn gần với chân lý cả ngàn lần hơn là các kỳ quặc (vagaries0 của thần học. Trừ kẻ tin mù quáng và kẻ cuồng tín cứng đầu nhất, còn đối với mọi người, thần học đang trong cơn dẫy chết (...
Xem Chi tiết
Sáng tạo (Creation): Từ ngữ sáng tạo phải được hiểu theo ý nghĩa huyền linh và có nghĩa là sự xuất hiện thành biểu lộ tích cực của một hình thức năng lượng nào đó. (LVLCK, 774) Sáng Tạo chỉ là Ý chí tác động lên Vật chất cõi hiện tượng (phenomenal Matter), làm phát lộ ra ngoài vật chất đó Anh sáng ...
Xem Chi tiết
Sinh lực (vital forces): Sinh lực thuộc nhiều loại, đều chỉ là chất dĩ thái của không gian, chuyển động thường xuyên, đi qua lớp vỏ bên ngoài (outer sheath). (LVHLT, 289) – Sinh lực (life force, prana, vitality) tức là từ lực (magnetism).  (TVTTHL, 245)...
Xem Chi tiết
+ Prana: X. Sinh khí, thần kinh lực + Sinh khí: Tương ứng với Fohat trong tiểu vũ trụ là các dòng sinh lực qua thể dĩ thái để giữ cho xác thân được sống động và có từ lực. Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít ai biết, và khi hiểu đúng người ta sẽ biết bí quyết của sức khỏe hoàn hảo (TVTTHM, 185)...
Xem Chi tiết
+ Loạn trí (Insanity, mất trí, điên) : X. mất trí + Các rối loạn thời hiện đại (Trích GQ2.3-TLH 2016, 19) Vấn đề Nhóm bí truyền Cung Các đặc tính cung Lo lắng Sự kích thích – sự giác ngộ 4 Các đặc tính cao/thấp Bệnh tự kỷ Sự Chia Rẻ hay sự thu mình về trí tuệ?   &nb...
Xem Chi tiết
Qui luật (Rules, qui tắc): Qui luật là kết quả của kinh nghiệm đã trải qua thử thách và là kết quả của công việc được đảm trách lâu dài và – không khoác hình thức của định luật (laws), cũng không chịu các giới hạn của một huấn lệnh (command) – chúng được nhận biết bởi những ai cần đến chúng và do...
Xem Chi tiết
+ Phụng sự: - Với Tiền tài: Người tìm đạo hiểu rõ giá trị huyền linh của tiền tài trong việc phụng sự. Y không tìm điều gì cho chính mình, trừ những gì có thể giúp y hoàn thành được công việc; y xem tiền tài và những gì mà tiền tài có thể mua được như là những món nên dùng cho người khác và như là ...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
Kim loại (Metal): Độ mỏi (fatigue) mà các kim loại phải chịu là một dấu hiệu (sign) khác cho thấy rằng kim loại là các vật sống (living things). (MTNX, 54)...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
Hiện tại (Present): Hiện tại chỉ là một đường thẳng toán học (mathematical line) đang phân chia cái phần của Kỳ gian Vĩnh hằng (Eternal Duration) mà chúng ta gọi là Tương lai (Future) với phần mà chúng ta gọi là Quá khứ (Past). (GLBN I, 110)...
Xem Chi tiết
Giáo dục (Education): Giáo dục là việc luyện tập được đưa ra một cách sáng suốt, nhờ đó cho phép thanh niên trên thế giới tiếp xúc với môi trường của họ một cách sáng suốt và lành mạnh, tự thích nghi với các hoàn cảnh hiện có. (GDTKNM, 80–81) Giáo dục phải là tiến trình mà nhờ đó thanh niên ...
Xem Chi tiết
Ảo giác : (Hallucination) Một trạng thái đôi khi do các rối loạn sinh lý gây ra, đôi khi do các trạng thái đồng cốt (mediumship) và đôi khi do tình trạng say rượu. Nhưng nguyên nhân tạo ra các linh thị phải được tìm kiếm sâu xa hơn là sinh lý học. Mọi hiện tượng như thế, đặc biệt là khi được tạo ra ...
Xem Chi tiết
Đồng tử (Medium, Người ngồi đồng): Nên nhớ rằng đồng tử là một người có các nguyên khí được nối kết một cách lỏng lẻo và có thể bị mượn (borrowed) bởi các thực thể (beings) khác hay bởi các nguyên khí trôi dật dờ (floating principles), nhờ có được một sức hút đối với một số trong chúng hay một ...
Xem Chi tiết
Xúc cảm  (Emotion, xúc động):Xúc cảm - Xảy ra do các rung động của chất liệu thuộc cõi cảm dục (astral matter). (CKDCLH, 19) - Xúc cảm chỉ là dục vọng được biểu lộ thuộc loại này hay loại khác.(TLHNM II, 418) - Xúc động hay xúc cảm sơ khai, là phản ánh của tình thương trên cõi trần.(TTCNT, 81)...
Xem Chi tiết
Ung thư (Cancer): - Ung thư là một phản ứng huyền bí và tinh tế đối với năng lượng của cung 1, ý chí sinh tồn (will-to-live), vốn là một trong các trạng thái của cung này. Do đó nó thể hiện bằng một sự quá hoạt động (overactivity) và sự tăng trưởng của các tế bào cơ thể mà ý chí sinh tồn của chún...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn b...
Xem Chi tiết
+ Con người có 7 thể để hoạt động trên các cõi giới khác nhau. 3 thể cao (Tam nguyên tinh thần) và 4 thể thấp (tứ nguyên hạ). 4 thể thấp (Xác - Dĩ Thái - Cảm Dục - Trí) này được xem là 3 (tam nguyên hạ) khi chúng ta xem thể nhục thân và thể dĩ thái cấu thành một thể là thể hồng trần,hay thể xác/ Thể...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn b...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
Nghệ sĩ (Artist, nghệ nhân, nhà mỹ thuật, tài tử): Chúng ta đừng quên rằng nghệ sĩ có trong tất cả các cung năng lượng (ray); không có một cung đặc biệt nào tạo ra nhiều nghệ sĩ hơn là cung khác. Theo bề ngoài, hình hài sẽ khoác lấy biểu hiện tự nhiên (spontaneous) khi sự sống nội tâm của nhà...
Xem Chi tiết
Màu sắc chỉ là phương tiện biểu lộ ra bên ngoài để nhờ đó mà mãnh lực bên trong tự truyền chuyển (TVTTHL, 211) - Nên nhớ rằng, màu sắc chính là cách nhận thức về mức rung động mà mắt người tiếp nhận được, đây là người đang sử dụng thể xác của căn chủng thứ năm, trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy ...
Xem Chi tiết
Lịch sử (History) : Chỉ là việc ghi nhận phản ứng tuần hoàn (xảy ra theo chu kỳ) của con người đối với một năng lượng thiêng liêng nào đó đang tuôn vào, một  Đấng Hóa thân hoặc một Vị Lãnh Đạo được truyền cảm hứng nào đó. (SHLCTĐ, 292)...
Xem Chi tiết
Xem thêm Trung tâm lực - center or chakra. – Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba vòng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến g...
Xem Chi tiết
+ Giấc mơ (Dream): Các giấc mơ có 10 nguồn gốc 1. Các giấc mơ liên quan với kế hoạch thế gian, kế hoạch thái dương và hệ thống vũ trụ 2. Các giấc mơ vốn là các ghi nhận huấn thị 3. Các giấc mơ liên quan đến công việc tập thể 4. Các giấc mơ vốn là các tấn kịch hóa của linh hồn 5. Các giấc mơ do ...
Xem Chi tiết
+ Dĩ Thái: Dĩ thái là dạng thô trược nhất của Tiên Thiên Khí (Akasha). (GLBN I, 78) + Chất dĩ thái sẽ hoàn toàn thấy được đối với nhiều người vào cuối thế kỷ (XX-ND) này (LVHLT, 374) + Dĩ thái: Trong và qua Dĩ thái của không gian, các năng lượng từ nhiều Cội Nguồn xuất phát đang nắm giữ/ vận dụng ...
Xem Chi tiết
+ Cảm Dục/ Dục Vọng: 1. Sợ hãi – có ảnh hưởng tới hoạt động ngày nay; 2. Căm ghét (hate) – vốn là một yếu tố trong sự điều tiết các mối liên hệ;  3. Tham vọng – đang chi phối các mục tiêu (CTHNM, 231) + Tức dục vọng–hạ trí: Là chất trí cảm (dục vọng hạ trí), tức thể cảm dục được pha trộn với thể hạ ...
Xem Chi tiết
10. Các Chân Sư (EP II 208): Là những người đã đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những giới hạn của bản chất sắc tướng và an trú vĩnh viễn trong tâm thức của Linh Hồn Duy Nhất, đã thoát khỏi sự đồng nhất hóa với bất cứ khát vọng nào của sự sống sắc tướng, bất kể phát triển cao như thế nào. Các Ngài...
Xem Chi tiết
+ Sự biểu hiện ra ngoại cảnh - Tức là biểu lộ (LVLCK, 158) + Đại dương ánh sáng (Lửa - Nhiệt - Chuyển động), biểu lộ: * Đại Thiên Địa - Thượng Đế các ngôi: - Ngôi 1… Lửa …….Linh hoạt - ý chí hiện tồn. Điện. - Ngôi 2… Nhiệt….. Lưỡng nguyên - Bác ái. Thái dương - Ngôi 3.. Chuyển động...Lửa trí t...
Xem Chi tiết
+ Ý Thức - Hiểu Biết của Tâm Thức: Định đề này xuất phát từ định đề 1 (Trong 4 định đề). Sự sống Duy Nhất, biểu lộ qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ 3 đó là ý thức. Ý thức này, vốn dĩ là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu...
Xem Chi tiết
X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố … Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lý học đều bận tâm đến các sự sống như thế. (LVLCK, 1062)...
Xem Chi tiết
+ Vũ trụ: 100 tỷ thiên hà, mỗi thiên hà có ít nhất 100 tỷ mặt trời (Giai điệu bí ẩn_Trịnh Xuân Thuận, LVLCK, 16) + Đại Vũ trụ: Thái Dương Thượng Đế tức là Đại Vũ trụ. (LVLCK, 69) + Tiểu vũ trụ, Tiểu thiên địa: Con người, Tiểu thiên địa, Chân Thần biểu lộ, Đấng Duy Nhất. (LVLCK, 80) - Tiểu vũ trụ ...
Xem Chi tiết
+ Từ lực hay là prana, sinh lực, sinh khí. (TVTTHL, 245) * Phân biệt Bức xạ từ thể dĩ thái - Bức xạ của prana với từ điển: Prana là một sự phóng phát từ một thể tinh anh (VD: thể cảm dục) và từ điển (Giải thích lửa bức xạ). Sự phân biệt này rất quan trọng và phải được nhận ra một cách cẩn thận (LVL...
Xem Chi tiết
+ Đam Mê - Ham Mê - Say Mê: Ðức Phật dạy: 6 đam mê, dẫn đến tham luyến, làm cho người đời vướng vào khổ đau, gây nhiều tổn hại, đánh mất chính mình: 1. Mắt mê hình sắc, 2. Tai mê âm thanh 3. Mũi mê các mùi 4. Lưỡi mê các vị 5. Thân mê xúc chạm 6. Ý mê ý niệm quá khứ, tương lai.  KINH PHÂN B...
Xem Chi tiết
Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TƯƠNG ƯNG BỘ Samyutta Nikàya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993 TẬP IV - THIÊN SÁU XỨ[37] Chương IIITương Ưng Nữ Nhân + Tổng Hợp nhiều lời Phật dậy về người Phụ nữ. 1. Khả Ý Và Không Khả Ý với Đàn ông: Này các Tỷ-kheo, đầy đủ năm đức tánh, người...
Xem Chi tiết
+ Trong Chiêm tinh: Đứng đằng sau mọi góc hợp (như với tất cả mọi thứ trong lá số sinh) là bản thân cá nhân. Những quan điểm, triết lý, điều kiện và kinh nghiệm của anh ấy cho đến nay trong cuộc đời anh ấy sẽ đều tuân theo cách thức hoạt động của góc hợp; chính anh ta là người sống nó, hoặc đang tìm...
Xem Chi tiết
+ Cơ thể con người: Chất liệu của 2 phân cảnh (cõi phụ) thấp nhất của cõi trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói th...
Xem Chi tiết
  Khi dùng từ ngữ “cơ cấu” trong các giáo huấn này là tôi đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vận cụ (instrument), thể (body) hay bản chất hình hài (form nature) mà mọi linh hồn tìm cách biểu hiện qua đó. Do đó, tôi đề cập tới: Thể xác trọng trược. Thể dĩ thái. Thể cảm dục. ...
Xem Chi tiết
Phát xạ (Bức xạ, Radiation): Phát xạ là sự chuyển hóa trong tiến trình hoàn thành. Chuyển hóa vốn là sự giải thoát của tinh chất ngõ hầu nó có thể tìm được một trung tâm mới, tiến trình có thể được hiểu như là tính chất phóng xạ, hiểu theo mặt chuyên môn và áp dụng cho tất cả các thể nguyên tử, k...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
+ Tự do: Là việc thừa nhận các liên hệ đúng đắn của con người, được điều chỉnh một cách cởi mở, đảm nhận một cách tự nguyện và được thúc đẩy bằng một ý thức trách nhiệm, ý thức này sẽ tác động như bức tường bảo vệ; tự do sẽ xảy đến không phải bằng các biện pháp cưỡng bách mà bằng sự diễn dịch đúng đ...
Xem Chi tiết
+ Những năng lượng bên trong con người thực hiện sự tiếp xúc thông qua trung gian thể sinh lực hoặc thể dĩ thái, vốn gồm các dòng năng lượng, hoạt động thông qua 7 điểm tập trung hoặc các trung tâm lực trong thể dĩ thái, được tìm thấy ở gần, hoặc có liên quan đến, bảy tập hợp tuyến chính [Trang 413]...
Xem Chi tiết
  Dương      Âm Hỏa và Khí     Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ       Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Hành Khí: Tập trung năng lượng vào các ý tưởng chưa được thực hiện;  Có thể là người mơ mộng không thực tế;  Khả năng buông xả; ...
Xem Chi tiết
Nhiệt (heat): Các nội hỏa làm linh hoạt và đem lại sinh lực, tự biểu lộ theo 2 cách: - Thứ nhất là tiềm nhiệt. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu lộ cố kết của dạng hình cầu của mọi sự sống, từ vi tử của Thượng Đế, vòng giới hạn của thái dương, xuống đến nguyên tử nhỏ n...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Điện (Electricity): “Mọi hiện tượng trong thiên nhiên có liên quan đến từ lực hoặc điện lực – vì, nơi nào có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng thì nơi đó có từ lực và Bản Sao của nó (theo thiển ý)– điện sẽ luôn luôn hiện ra, như là nguyên nhân hoặc hậu quả, đúng hơn là cả hai nếu chúng ta thấu ...
Xem Chi tiết
Yogi (người tập Yoga): Nhà Yoga đích thực là người mà sau khi thực hành đúng các hình thức và thời gian tham thiền đã định, hòa nhập sự thiền định đó vào cách sống hằng ngày nên sau rốt, ở vào tư thế thiền định suốt ngày.                                      (TVTTHL, 284) Là người đã đạt ...
Xem Chi tiết
+ Khoa Yoga: Một trong 6 trường phái ở Ấn Độ, được cho là do Patanjali lập ra, với nguồn gốc xưa hơn nhiều. Cách thiền định - Phương tiện đưa tới giải thoát tâm linh.(ĐĐNLVTD, 225) + Yoga về tâm hoặc của người sùng tín. (ASCLH, 120) + Khoa học bàn về “cách trừ bỏ các hoạt động của nguyên khí suy t...
Xem Chi tiết
+ Ý chí (will): Ý chí là năng lượng linh hồn tự biểu hiện theo sự chỉ đạo, sự tiến bộ và phù hợp với Thiên cơ (CTHNM, 388) - Ý chí hay năng lượng của sự sống là các thuật ngữ đồng nghĩa.(TLHNM I, 43) - Ý chí là năng lượng được Minh triết hướng dẫn. (KCVTT, 268) - Khi nghiên cứu sự tiến hóa, ngày ...
Xem Chi tiết
+ Tiền Tài: Chỉ có kẻ nào không ham muốn gì hết cho riêng mình mới có thể trở thành kẻ thu nhận nguồn tài chính phong phú và là kẻ phân phối tài nguyên của vũ trụ. Trường hợp khác, khi tài sản gia tăng, chúng không đem lại điều gì ngoại trừ phiền não, lo lắng, không vừa lòng và lạm dụng.(ĐĐNLVTD, 78...
Xem Chi tiết
Giống dân (Race, chủng tộc): – Cách phân loại các Giống dân và sự tiến hóa của nhân loại được nói đến trong sách này đã được trình bày một cách rõ ràng, khúc chiết trong quyển Phật Giáo Nội Môn...
Xem Chi tiết
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12) Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Đức Bàn Cổ (Manu): Đức Bàn Cổ chủ trì nhóm thứ nhất. Ngài được gọi là Đức Bàn Cổ Vaivasvata và là Bàn Cổ của căn chủng 5. Ngài là mẫu người hay tư tưởng gia lý tưởng và tạo mẫu cho giống dân Aryan của chúng ta, đã chủ trì vận mệnh của giống dân này từ khi nó bắt đầu có gần 100.000 năm nay. Các vị...
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM,...
Xem Chi tiết
+ Không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. ... Con người không trị được bệnh,...
Xem Chi tiết
Hào quang (Aura): Hào quang của con người có hình dáng bên ngoài là một lùm mây sáng có hình trứng (egg-shaped luminous cloud), ở giữa đám mây là nhục thân (dense physical body). Do cái hình dáng bên ngoài đó mà hào quang thường được nói đến như là không có gì khác hơn là một đám mây. Những gì th...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
    Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Thổ: Dựa vào các giác quan và lí luận thực tiễn; Hiểu biết bẩm sinh về cách thứ...
Xem Chi tiết
- Chiến tranh chỉ là một khía cạnh của biến dịch (change), cội nguồn của nó nằm sâu trong vật chất. (SHLCTĐ, 277) – Chiến tranh không phải giết người như những kẻ nhân hậu nghĩ; đó là cách hủy diệt hình hài với chủ đích tốt lành (nếu người ta có thể hiểu được Thiên Ý) của Hành Tinh Thượng Đế. Tuy ...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
NTH: Người soạn thảo bài viết của Nhân Trắc Học...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
- Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind). (LV7C, 475) - Là thực thể biết suy tư - Chân Ngã (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. (LVHLT, 113) – Chân Ngã (real man) tức hồn tinh thần. (CTNM, 346) – Chân Ngã tức chủ thể hữu ngã thức, có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
Nguyên tử nguyên thủy (Primordial atom). (GLBN I, 204)...
Xem Chi tiết
Tối Đại Niết Bàn (Adi): Cõi thứ nhất; cõi nguyên thủy; cõi nguyên tử của Thái Dương Hệ; cõi cao nhất trong 7 cõi. (ĐĐNLVTD, 215)...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Xem: Nguồn ...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết