SỐ MỆNH LÀ CÓ, DO NHÂN QUẢ TẠO THÀNH, CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

THÔNG BÁO
CỦA TRUNG TÂM TƯ VẤN NHÂN TRẮC HỌC

Nhân Trắc Học chúng tôi đang trong quá trình chuẩn bị để mời quí vị quan tâm đến Câu Lạc Bộ Thực Hành Cải Mệnh để cùng trao đổi, học hỏi cách cải mệnh bền vững lâu dài.

Địa chỉ: Tại Tầng 2 - Tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thanh Ngọc - Phường Đông Ngàn - Thị xã Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0964 759 686.

Thời gian bắt đầu tiếp đón: Xin được thông báo sau, xin cảm ơn!

Nhân Quả Và Số Mệnh

NHÂN QUẢ VÀ SỐ MỆNH

TRÊN SAO - DƯỚI VẬY

CON NGƯỜI LÀ MỘT TIỂU VŨ TRỤ

CON NGƯỜI SINH RA TRÊN TRÁI ĐẤT NÀY LÀ ĐỂ NHẬN LÃNH NGHIỆP QUẢ

 

+ Hình thành Số Mệnh: Mỗi người khi sinh ra cất tiếng khóc chào đời, là lúc bẩm thụ Khí ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) phân bố tại địa điểm nơi sinh, ứng với thời gian sinh (Giờ, ngày, tháng, năm sinh), là cơ sở hình thành Số Mệnh của người đó.

+ Vận Mệnh = Nhân nào quả đấy. Số mệnh, theo quy luật thời gian luôn bao gồm những thời điểm biểu hiện các tương tác của Khí ngũ hành thuộc Số Mệnh của mỗi người, với Khí ngũ hành theo quy luật thời gian, sinh ra sự biến đổi Khí ngũ hành của Số Mệnh mỗi người. Mà mỗi Khí ngũ hành lại đại diện cho mỗi Người, vật, việc tồn tại xung quanh chúng ta, liên thuộc đến mỗi người, vật, việc, do đó nó tạo ra Cát - Hung, ảnh hưởng đến những người, vật, việc liên thuộc đến nó >>> Điều đó lý giải tại sao mà Số Mệnh có thể dự đoán được, đặc biệt dự đoán chính xác với người không Tu tâm dưỡng tính - Sống thuận theo Số mệnh > Không sửa đổi Số Mệnh.

+ Số Mệnh có thể dự đoán: Luật Nhân quả - Là Luật Vũ trụ, nó phản ảnh mọi hành động, lời nói, suy nghĩ của mỗi người đều được GHI NHỚ VÀO VŨ TRỤ và sau đó, sớm hay muộn theo thời gian, nó sẽ quay trở lại tương tác với chính chủ nhân đã tạo ra nó không thể sai khác, với biểu hiện là sự tương tác Khí ngũ hành của Số Mệnh theo thời gian nói trên, và nó luôn luôn phản ánh chân thực số mệnh của mỗi người theo luật Nhân quả không thêm không bớt >>> Nó giải thích tại sao, với một người tiến hoá ở mức trung bình, thì Nhân Trắc Học chúng tôi có thể dự đoán chính xác được Vận Mệnh của mỗi người từ khi sinh ra đến khi chết đi, bởi chúng tôi căn cứ vào Luật Nhân quả, là luật chi phối Vận Mệnh của mỗi người không thêm không bớt, tức bạn sinh ra trên cõi đời này để hưởng nhiều quả ngọt, ít trái đắng nếu kiếp trước bạn làm nhiều việc thiện lành (Chúng tối gọi là người có Số Mệnh phát Phúc). Ngược lại, thì bạn sinh ra để trả nghiệp báo nặng lề do kiếp trước bạn đã tạo, thường gặp nghịch cảnh, tức là cuộc đời thường xuyên khổ đau, bệnh nạn, nghèo khó ...(Chúng tôi gọi đó là những người Phúc mỏng, hành Vận không thuận = Phải nhận quả đắng do nhân duyên kiếp trước đã tạo).

Đáng tiếc, đa số người trong chúng ta, sinh ra trên cõi đời này đều là người Phúc mỏng, cho nên, muốn chiến thắng Số Mệnh một cách tốt nhất, mạnh nhất, hữu hiệu nhất là tinh tấn, một lòng học Phật Pháp. Chỉ có học Phật bạn mới có thể hoá giải bệnh nạn, chiến thắng trái ngang, vui vẻ sống hết cuộc đời và rất có thể, bạn đã vĩnh viễn dời bỏ được thế giới Ta bà này - Thế giới của buồn phiền, khổ đau và được sinh về cõi nước Phật A Di Đà - Không còn Sinh tử luân hồi, THẬT TUYỆT VỜI ĐÓ BẠN!

=> HÃY GHI LẠI BẠN "GIEO" GÌ "THIỆN" HÔM NAY, SẼ ĐÁNH BẠI PHẬN BẠC CỦA NGÀY MAI - ĐÓ LÀ PHÉP MẦU "PHẬT ĐÃ DẠY"

Mục tiêu cuốn sách là tập hợp kiến thức tổng hợp theo từng nhóm ngành nghề liên quan để giúp bạn thực hiện một vấn đề, một chuyên đề hay cả một dự án, dự tính, một phương án muốn triển khai .... cuốn sách giúp bạn ít tốn kém thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá .... mà vẫn đạt được mục đích của bạn đề ra và phù hợp nhất với Định Mệnh của bạn, ví dụ:

PHẦN A - CẤU TẠO CON NGƯỜI QUA BẢY CẢNH GIỚI

I- THỂ XÁC - THỂ DĨ THÁI

II- THỂ TÌNH CẢM HAY CẢM DỤC

III- THỂ TRÍ (HẠ TRÍ VÀ THƯỢNG TRÍ)

IV- TÂM THỨC - LINH HỒN VÀ TINH THẦN 1- TÂM THỨC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM THỨC 2- LINH HỒN - HOA SEN CHÂN NGÃ 3- CHÂN THẦN HAY TINH THẦN

V- SỰ TIẾN HÓA CỦA CON NGƯỜI

+ 10 loại Linh hồn tiến hóa: Người Thú giật lùi; 2- Người Thú; 3- Người Lemuria; 4- Người Atnantis (Người trung bình); 5- Nhóm Người Aryan ( Chuyển tiếp - Tích hợp - Thức tỉnh); 6- Người tìm đạo; 7- Người Dự bị; 8- Đệ tử; 9- Điểm đạo đồ; 10 - Chân Sư (Xem thêm GQ1.1)

1- NGƯỜI THÚ - THUẦN CẢM DỤC - THỂ TRÍ MỚI HÌNH THÀNH VÀ BẮT ĐẦU PHÁT TRIỂN

2- NGƯỜI KÉM TIẾN HÓA - THỂ CẢM DỤC LÀ CHỦ ĐẠO - THỂ TRÍ ĐANG PHÁT TRIỂN - CHƯA HÌNH THÀNH PHÀM NGÃ

3- NGƯỜI TIẾN HÓA TRUNG BÌNH - THỂ HẠ TRÍ ĐÃ PHÁT TRIỂN - ĐANG HÌNH THÀNH PHÀM NGÃ CÁ NHÂN (ĐA SỐ NHÂN LOẠI)

4- NGƯỜI CHÍ NGUYỆN - CON ĐƯỜNG DỰ BỊ - PHÀM NGÃ ĐANG HỢP NHẤT CÁC THỂ THẤP - THƯỢNG TRÍ HƯỚNG ĐẾN LINH HỒN

5- NGƯỜI ĐỆ TỬ - CÁC ĐIỂM ĐẠO ĐỒ BẬC THẤP - THỂ PHÀM NGÃ HỢP NHẤT - ĐANG HỢP NHẤT VỚI LINH HỒN

6- CÁC ĐIỂM ĐẠO ĐỒ BẬC BỐN TRỞ LÊN - PHÀM NGÃ HỢP NHẤT VỚI LINH HỒN - CÁC THÁNH NHÂN

PHẦN B - HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

+ Ba nghiệp sáu căn: Con người tu phúc và tạo nghiệp, tóm tại chẳng qua ba nghiệp sáu căn:

- Ba nghiệp là nghiệp thân, khẩu và ý. Thân nghiệp có ba: sát sinh, trộm cắp, tà dâm.........

- Sáu căn là: mắt- Sắc trần (cảnh vật), tai- Thanh trần (âm thanh), mũi- Hương trần (mùi hương), lưỡi- Vị trần (vị), thân- Xúc trần (cảm giác ở thân), ý - Pháp trần (cảnh ở trong tâm).;- Năm căn trước thuộc về thân nghiệp, Một ý căn sau thuộc về tâm, tức là ý nghiệp

+ BÁT CHÁNH ĐẠO (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 463)

1. Chánh tín (Chánh kiến/ Phân Biện): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp.

2. Chánh tư duy: Chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ không trái với lẽ phải, có lợi mình và người.

3. Chánh ngữ: Chánh ngữ là lời nói chân thật không hư dối, có lợi ích chính đáng, công bình, ngay thẳng và hợp lý. Lời nói không làm tổn hại đến đời sống cùng danh dự của người khác.

4. Chánh nghiệp: Hành động có tác ý. Chánh nghiệp nghĩa là hành động tạo tác trong đời sống cần phải sáng suốt chân chánh.

5. Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Đời sống chân chánh bằng nghề nghiệp lương thiện, chính đáng không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của người khác. 6. Chánh tinh tấn: Tinh tấn là siêng năng, chuyên cần thẳng tiến đến mục đích và lý tưởng mà Phật đã dạy. Hăng say làm những việc chính đáng mang lợi ích cho mình và cho người.

7. Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ chân chánh. Có Chánh ức niệm (Quá khứ) và chánh quán niệm (Quán sát cảnh hiện tại và bắt đầu của tương lai)

8. Chánh định: Là tập trung tư tưởng tu tập thiền định, vào vấn đề chính đáng, đúng chân lý, lợi mình và người. Xem thêm: Bát Chánh Đạo của Phật Giáo

+ Kinh Thiện Sanh - Đạo Đức và Bổn Phận

I- BỔN PHẬN LÀM CON - Hiếu đứng đầu:

1. Không oán trách cha mẹ không có năng lực

2. Không oán trách cha mẹ hay cằn nhằn

3. Không oán trách cha mẹ mắng mình

4. Không oán trách cha mẹ chậm chạp

5. Không oán trách cha mẹ ốm yếu

II- BỔN PHẬN CHA MẸ VỚI CON

III- BỔN PHẬN GIỮA VỢ CHỒNG

IV- BỔN PHẬN DÒNG TỘC

V- BỔN PHẦN THẦY TRÒ

VI- BỔN PHẬN BẠN BÈ

Xem: Kinh Thiện Sanh

HÀNH ĐỘNG DO VÔ MINH (Nguồn)

2/ => Vô minh duyên cho HÀNH: Hành là sự chủ tâm, cố ý hành động qua thân khẩu ý để tạo nghiệp thiện, nghiệp bất thiện hoặc không tạo nghiệp : hành đồng nghĩa với nghiệp. Về phương diện đạo đức có 3 loại hành :

a/ Phúc hành : là nghiệp thiện qua thân, khẩu, ý : - Qua thân : bố thí, trì giới, tham thiền, phục vụ, kính trọng người đáng kính, hồi hướng công đức, tùy hỉ, học đạo, luận đạo, rèn luyện chánh kiến. - Qua khẩu : nói lời chân thật, lời đoàn kết, hòa nhã, lời lợi ích. - Qua ý : tu tập không tham, không sân, không ngã mạn, không tà kiến, không nghi ngại.

b/ Phi Phúc hành : là nghiệp bất thiện qua thân, khẩu, ý : - Qua thân : bỏn xẻn, ôm giữ, phá giới (phạm luật), ăn chơi hưỏng thụ, khinh khi người già, ganh tức, ghen ghét, không học hỏi đạo lý, không trao đổi ý kiến, chấp thủ tà kiến, buôn lậu, bán vũ khí, chất độc hại, buôn bán nô lệ. - Qua khẩu : nói dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, nói nhảm nhí. - Qua ý : tư tưởng tham ái và ngã mạn, ý nghĩ sân hận và bạo hành, những tư tưởng diễn dịch sai thực tại, những tư tưởng đi ngược lại với định luật thiên nhiên và con người.

c/ Bất động hành : là những hành động không tạo nghiệp, không tốt không xấu.

Nói tóm lại :

* Bản chất của Hành : là sự phối hợp của tâm với một số tâm sở thích hợp dưới sự chủ động của tâm sở  (cetana) để tạo nghiệp.

* Thể hiện : hành động qua thân, khẩu, ý. * Kết quả : nghiệp thiện, nghiệp bất thiện, hoặc không tạo nghiệp.

* Nguyên nhân trực tiếp là Vô Minh.

TÓM LƯỢC 12 NHÂN DUYÊN

1. Vô minh:

2. => Vô minh duyên cho HÀNH (Tạo nghiệp) : Xem ở trên

3. => Thức (Linh hồn luân hồi)

4. => Danh Sắc (Bào thai có ý thức và thân thể)

5. => Lục nhập (Sáu căn: hệ thần kinh của 5 giác quan và của não bộ)

6. => Xúc - gặp gỡ 3 loại Căn, Trần, Thức (6 loại ứng 6 căn: Nhãn xúc, Nhĩ xúc, Tỷ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc, Ý xúc), cũng chính là tâm sở Xúc kết hợp với các tâm Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.

7. => Thọ - Là cảm tính của tâm, là cảm giác và tình cảm. Có 5 loại thọ kết hợp với 6 loại thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức): Lạc (thân dễ chịu), Hỉ (tâm dễ chịu), Khổ (thân khó chịu), Ưu (tâm khó chịu), Xả (thân, tâm trung tính).

8. => Duyên Ái: Ái là tham lam, ham muốn, khao khát, tâm cầu. Tâm Tham qua 6 cửa: Sắc ái, Thinh ái, Hương ái, Vị ái, Xúc ái, Pháp ái. Chúng ta muốn nhìn thấy màu sắc, hình ảnh đẹp mắt, muốn nghe những âm thanh êm dịu, muốn ngửi những mùi hương nông nàn, muốn ăn những món ngon béo, muốn sờ đụng những vật mịn màng, muốn hay biết những điều thú vị, tham đắm các dục lạc thế gian

9. => Duyên Thủ: Thủ là sự giữ chặt, không buông bỏ, như người đã ghiền rượu hay ma túy, khó mà xa lìa những thói quen ấy. Có 4 loại Thủ :

a- Dục thủ : bám víu vào những thú vui dục lạc

b- Kiến thủ : bám víu vào những quan điểm cá nh ân hay sai lầm (những tà kiến)

c- Giới cấm thủ : bám víu vào những tập tục nghi lễ dị đoan, mê tín, không đưa đến giải thoát hay lợi ích tinh thần.

d- Ngã chấp thủ : bám víu vào ảo tưởng về một cái ta.

10. => Hữu: Chữ HỮU chỉ những cõi sinh tồn khác nhau trong 3 cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới và đồng thời cũng nói lên những tiến trình đưa đến sự tái sinh trong những cõi đó.(Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu). Có 2 loại HỮU

a/ Nghiệp Hữu : là sắc thái chủ động và nguyên ủy (nguyên động lực) của đời sống hay tất cả các loại nghiệp thiện và bất thiện dẫn tới kiếp sống mới. Nói theo Vi Diệu Pháp là 29 tâm thiện và bất thiện hiệp thế hành động dưới sự điều khiển của tâm sở Tư.

b/ Sanh Hữu: là tiến trình tái sanh và kiến tạo ngũ uẩn, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ…

* Hữu là nghiệp ở hiện tại còn Hành là nghiệp trong quá khứ .

11. => Sanh: Đối với con người SANH diễn tả tiến trình từ lúc thụ thai cho đến khi ra khỏi bụng mẹ và tiếp tục cho đến hết tiến trình sinh trưởng. Ở người con trai có thể kéo dài đến 25 tuổi và con gái đến 18 tuổi. Sự tái sinh của chúng sinh tùy thuộc 4 yếu tố: nghiệp, cách sinh, chủng loại, sự khẩn cầu của 1 vị trời.

+ Cách sinh :

- noãn sinh : những loài sinh từ quả trứng : chim, gà, vịt, rùa…

- thai sinh : như loài có vú sinh ra từ bào thai và cho con bú.

- thấp sinh : như loài ký sinh trùng sinh ra từ chỗ ẩm thấp.

- hóa sinh : tự sinh ra trực tiếp, không qua trung gian của cha mẹ như các vị trời, chư thiên, ma quỉ.

c- Chủng loại: Theo vũ trụ luận của Phật giáo, chúng sinh có 31 cõi sinh tồn

12. => Lão, Tử: Lão, Tử là tiến trình ngược lại của sự sinh và trưởng. Tiến trình Lão hóa bắt đầu khi tiến trình sinh trưởng chấm dứt vào khoảng 30 tuổi. Tiến trình sinh trưởng của bộ óc con người chấm dứt vào khoảng 25 tuổi. Sau 30 tuổi chỉ còn là Hoại và Diệt. Đó là lẽ thường. Không nên có ảo tưởng là chúng ta trẻ mãi không già. Chúng ta đã học qua 12 yếu tố của thuyết Nhân duyên (hay Luật Duyên Khởi, hay còn gọi vòng luân hồi) trong đó chúng ta cần để ý những khía cạnh sau đây :

1/ Ba thời kỳ : - kiếp quá khứ : gồm có : Vô Minh và Hành. - kiếp hiện tại : gồm có từ Thức àHữu. - kiếp vị lai: gồm có Sanh và Lão  Tử. Sự phân chia ra ba thời kỳ là để cho thấy cấu trúc sanh khởi của nhân quả trong vòng luân chuyển của các kiếp sinh tồn. Điều nầy không có nghĩa là các yếu tố chỉ có mặt cố định trong một thời kỳ mà không thể có mặt và tác động ở thời kỳ khác. Như ngay trong kiếp hiện tại, cả 12 yếu tố đều hiện hữu và tác động lẫn nhau.

2/ Ba Trục (hay 3 Khâu) :

- Trục I : giữa nhân quá khứ và quả hiện tại. (Hành và Thức)

- Trục II : giữa nhân hiện tại và quả hiện tại. (Thọ và Ái)

- Trục III : giữa nhân hiện tại và quả tương lai

3/ Bốn nhóm Tích Cực hoặc Tiêu Cực (hay Nhân và Quả) (Nguồn)

- Năm Nhân (tích cực) quá khứ : Vô Minh, Hành (+ Ái, Thủ, Hữu).

- Năm Quả (tiêu cực) hiện tại : Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ.

- Năm Nhân (tích cực) hiện tại : Ái, Thủ, Hữu (+ Vô Minh, Hành)

- Năm Quả (tiêu cực) vị lai : Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ.

4. Vòng luân hồi - 12 nhân duyên cho ta biết: - Hai nhân gốc:

- Quá khứ Vô Minh khởi đầu cho giai đoạn tích cực tạo nghiệp (Hành).

- Hiện tại Ái dục cũng khởi đầu cho giai đoạn tích cực tạo nghiệp (Hữu) Vô Minh là cha, Ái dục là mẹ, khổ đau là con.(sư Giác Tuệ)

5. Hai sự thật: Theo chiều thuận từ Vô Minh đến Lão Tử: - Vô Minh, Hành => là Tập Đế quá khứ - Thức, Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ => là Khổ Đế hiện tại - Ái, Thủ, Hữu => là Tập Đế hiện tại - Sanh, Lão Tử => là Khổ Đế vị lai

6. Theo đạo Phật có 4 cách chết :

a/ Chết vì hết tuổi thọ : tuổi thọ của mỗi loài sinh vật đã được định trước theo những định luật di truyền và những điều kiện sinh sống của mỗi loài, mỗi cá thể. Tuổi thọ của con người ở các nước văn minh được kéo dài. Hiện tại Nhật và Pháp là những nước có nhiều người sống trên 100 tuổi nhất.

b/ Chết vì hết nghiệp : nghiệp ở đây có thể được hiểu là sinh nghiệp của kiếp sống đó hoặc nghiệp của toàn bộ kiếp sống của một chúng sinh, như vậy chúng sinh nầy đã đắt đạo quả A la Hán, đã thoát khỏi dòng sinh tử luân hồi.

c/ Chết vì hết tuổi thọ và hết nghiệp : đây là cái chết của người lớn tuổi, đã sống hết tuổi thọ sinh học và đồng thời hết nghiệp của kiếp sống đó - hoặc là cái chết của một vị A la Hán đã hết tuổi thọ (như của Đức Phật, của ngài Ananda (120 tuổi), ngài Ca Diếp…) Những vị nầy đã chết vì hết tuổi thọ và đồng thời cũng chấm dứt mọi nghiệp báu từ những tiền kiếp.

d/ Chết vì một Đoạn nghiệp :  có những Đoạn nghiệp cho quả làm cắt đứt thình lình dòng sinh nghiệp trước kỳ hạn của kiếp sống. Đây là cái chết bất đắc kỳ tử do tai nạn, bịnh tật, hoặc tự tử. Sinh nghiệp là năng lực có thể làm phát sinh và duy trì tâm và sắc trong đời sống hiện tại, đồng thời lúc vừa chết có khả năng tái tạo một đời sống mới, nó là sức mạnh để đưa đi tái sinh. (Nguồn)

I- HOẠT ĐỘNG CỦA THỂ XÁC

1- Không sát sinh

2- Không trộm cắp

3- Không tà dâm

II- HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

1. Lừa dối

2. Đâm thọc

3. Nói lời ác

4. Tán gẫu.

III- HOẠT ĐỘNG CỦA THỂ TRÍ - SUY NGHĨ

1. Tham ái

2. Giận dữ

3. Si mê.

IV- HOẠT ĐỘNG CỦA LINH HỒN VÀ TINH THẦN Ghi chú

1. Tính phân biện