Tổng Hợp về Phát tâm - Phát Nguyện - Lời Thề

TỔNG HỢP VỀ PHÁT TÂM - PHÁT NGUYỆN VÀ LỜI THỀ

BÀI VIẾT SỐ 1 CÔNG ĐỨC PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

... Bấy giờ ở trong hội, có một vị Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là Hỷ Vương, liền từ tòa ngồi đứng dậy, để hở vai áo bên phải, gối bên phải quỳ xuống đất, chấp tay ngưỡng bạch đức Như Lai rằng: - Bồ Tát phải tri ân báo ân như thế nào? Phật bảo Bồ Tát Hỷ Vương: -Thiện nam tử! Ông hãy nghe cho kỹ: Bồ Tát muốn tri ân báo ân nên phải phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, và dạy bảo tất cả chúng sinh phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Bồ Tát Hỷ Vương hỏi: - Nếu phát tâm Bồ Đề, sẽ phải phát như thế nào? Và nhân đâu mà có thể phát được? Phật nói: -Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết Bàn, lại sẽ giáo hóa tất cả chúng sinh, thảy đều được đầy đủ bát nhã ba la mật”. Như thế gọi là tự lợi cũng gọi là lợi tha. Cho nên Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, thời được gọi là Bồ Đề nhân duyên, chúng sinh nhân duyên, chính nghĩa nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp nhân duyên, thâu nhiếp tất cả cỗi gốc thiện pháp. Cho nên Bồ Tát được gọi là bậc Đại Thiện, cũng gọi là cỗi gốc lành của tất cả chúng sinh, vì vậy mà Bồ Tátthể phá trừ ba nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý v.v… cho tất cả chúng sinh. Tất cả những thệ nguyện của thế gian, tất cả thệ nguyện của xuất thế gian, không có thệ nguyện nào bằng được thệ nguyện Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Thệ nguyện như thế, thực không gì hơn được, không gì trên được nữa. Bồ Tát khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, có năm việc: Một là tính, Hai là hạnh, Ba là cảnh giới, Bốn là công đức, Năm là tăng tưởng. Bồ Tát nếu hay phát được tâm Bồ Đề, thì được gọi là Ma Ha Tát, quyết định sẽ chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, trọn Đại thừa hạnh. Cho nên khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề, tức hay thâu nhiếp được tất cả thiện pháp. Bồ Tát Ma Ha Tát phát tâm Bồ Đề, tu hành mong được quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác, nếu không phát tâm quyết không thể nào thành được, cho nên phát tâm, là cỗi gốc của quả vị Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Bồ Tát Ma Ha Tát coi thấy chúng sinh phải chịu những sự khổ não, thì lòng sinh thương xót, nên Bồ Tát, nhân tâm từ bi, mà phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, nhân phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, mà hay tu tập ba mươi bảy trợ đạo pháp, nhân tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp, mà chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, cho nên phát tâm là cỗi gốc của đạo Vô thượng Bồ Đề, do phát tâm Bồ Đề, mới hay hành trì được Bồ Tát giới. Cho nên phát tâm gọi là gốc, gọi là nhân, gọi là nhành, gọi là lá, cũng gọi là hoa, lần lượt gọi là quả, cũng gọi là hạt. Bồ Tát phát tâm, cũng có người thì được rốt ráo, có người thì không được rốt ráo, người được rốt ráo thì mãi mãi cho đến khi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, trọn không bao giờ thoái chuyển. Còn người không được rốt ráo, là trong tâm đã có sự thoái chuyển. Thoái chuyển có hai thứ: Một là thoái chuyển rốt ráo, hai là thoái chuyển không rốt ráo. Người thoái chuyển rốt ráo, là người trọn không thể phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, không thể suy tìm, tu tập pháp đó được. Người thoái chuyển không rốt ráo, là người thường cầu phát tâm Bồ Đề, thường tu tập pháp đó. Phát tâm Bồ Đề có 4 thứ: - Một là, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, hoặc được coi thấy, nghe thấy những việc bất khả tư nghị của chư Phật, Bồ Tát, liền sinh tâm cung kính, và nghĩ rằng: “Những sự của Phật, Bồ Tát là bất khả tư nghị, nếu Phật, Bồ Tát chứng được sự bất khả tư nghị ấy, thì ta đây cũng quyết sẽ chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, cho nên ta dốc lòng, nhớ nghĩ đạo Bồ Đề, và phát tâm Vô thượng Bồ Đề. - Hai là, lại có người không được coi thấy những sự bất tư nghị của chư Phật, Bồ Tát mà chỉ nghe thấy cái tạng bí mật của chư Phật, Bồ Tát liền sinh tâm cung kính tin tưởng, cầu đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, và Ma Ha Bát Nhã, cho nên phát tâm Bồ Đề. - Ba là, lại có người không được coi thấy những việc bất tư nghị của chư Phật, Bồ Tát cũng không được nghe pháp, mà do vì khi coi thấy pháp diệt, rồi trong lòng nghĩ rằng: “Vô thượng Phật pháp, hay diệt trừ được vô lượng khổ não cho chúng sinh, làm ích lợi lớn lao cho chúng sinh, chỉ có chư Phật, Bồ Tát, mới hay làm cho Phật pháp được trường tồn bất diệt, ta ngày nay cũng nên phải phát tâm Bồ Đề, khiến cho các chúng sinh, xa lìa phiền não, thệ nguyện thân này của ta, dầu cho phải chịu mọi sự đại khổ não đi chăng nữa, ta quyết giữ gìn Phật pháp, khiến cho Phật pháp được trường tồn mãi mãi ở thế gian, cho nên ta phát tâm Bồ Đề. - Bốn là, lại có người không được coi thấy chư Phật, Bồ Tát, không được nghe pháp, khi pháp diệt cũng không được thấy, mà chỉ thấy tất cả chúng sinh ở trong đời ác trược, đủ mọi thứ phiền não, tham dục, giận tức, ngu si, không thẹn, không hổ, bỏn xẻn, tật đố, ganh ghét, nghi ngờ, lười biến v.v… thấy như thế rồi, liền nghĩ rằng: “Trong đời ác trược này, chúng sinh chẳng chịu tu thiện, tâm Nhị thừa còn không phát, nữa là tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác, ta nay phải nên phát tâm Bồ Đề, phát tâm Bồ Đề rồi, liền dạy bảo tất cả chúng sinh đều phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác”. Bấy giờ Ngài Hỷ Vương Bồ Tát, lại bạch Phật rằng: -Lạy Đức Thế Tôn! Bồ Tát tri ân báo ân bằng cách tự phát tâm Bồ Đề và dạy bảo tất cả chúng sinh đều phát tâm Bồ Đề. Song Đức Như Lai thuở xưa khi còn phải sinh tử, thoạt mới phát tâm Bồ Đề, là do nhân duyên gì? Phật dạy: - Thiện nam tử! Về đời quá khứ lâu xa, kiếp số nhiều không thể kể tính được, khi ta còn ở trong vòng sinh tử, do phiền não trọng chướng, tạo nên những nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý, nên phải đọa lạc vào các địa ngục như: Địa ngục A ha ha, địa ngục A ba ba, địa ngục A đạt đa, địa ngục Đồng phủ, địa ngục Đại đồng phủ, địa ngục Hắc thạch, địa ngục Đại hắc thạch, cho đến địa ngục Hỏa xa. Ta nhớ khi ta phải đọa vào địa ngục Hỏa xa, ta cùng với hai người bạn phải kéo một cái xe lửa, bốc cháy ngùn ngụt, quỷ đầu trâu tên là A Bàng, ngồi ở trên xe, mắm miệng, nghiến răng, trợn mắt, miệng, mắt, tai, mũi đều phun ra khói lửa, thân thể to lớn, tay chân gân guốc, hình sắc tía đen, tay cầm gậy sắt, đánh đập luôn luôn, mặc dầu ta bị đánh đập đau đớn, nhưng vẫn cố sức kéo, lúc đó hai người bạn của ta, vì hơi sức yếu đuối, kéo không nổi, nên bị quỷ đầu trâu A Bàng, lấy đinh ba bằng sắt, đâm vào bụng, lấy gậy bằng sắt đập vào lưng, máu phun ra như suối chảy, đau đớn khó nhẫn, những người ấy cất tiếng kêu gào rất thảm thiết, người thì kêu cha mẹ, người thì kêu vợ con. Nhưng dầu có kêu gào như thế, cũng chẳng ích lợi gì đối với mình. Lúc ấy, ta thấy những người bạn của ta chịu sự khổ não như vậy, lòng ta sinh ra thương xót. Nhân lòng sinh tưởng thương xót ấy, cho nên ta phát tâm Bồ Đề. Lại vì những người chịu tội ấy, mà khuyên bảo quỷ đầu trâu A Bàng rằng: -Những người phải chịu tội đây, thực đáng thương xót, xin ông hãy rủ lòng nới tay, đừng nên đánh đập họ tội nghiệp. Lúc ấy quỷ đầu trâu A Bàng, nghe ta nói như thế, lòng sinh giận tức, dùng đinh ba bằng sắt đâm vào cổ ta, chết liền tại chỗ, ta liền được thoát khỏi cái tội trăm kiếp phải đọa lạc ở nơi địa ngục Hỏa xa, chính vì lúc đó ta phát được tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác vậy. Phật bảo Ngài Bồ Tát Hỷ Vương: - Người kéo xe lửa tức là thân ta ngày nay, nhân phát tâm Bồ Đề, mà chóng được thành Phật. Thế nên biết: Tất cả chúng sinh phát tâm Bồ Đề, sự đó chẳng phải một, hoặc nhân lòng từ bi, hoặc nhân lòng giận tức, hoặc nhân lòng bố thí, hoặc nhân lòng bỏn xẻn, hoặc nhân lòng vui mừng, hoặc nhân phiền não, hoặc nhân ân ái ly biệt, hoặc nhân sự oán ghét gặp gỡ, hoặc nhân gần gũi bạn lành, hoặc nhân bạn ác, hoặc nhân được coi thấy Phật, hoặc nhân được nghe pháp… cho nên biết: Tất cả chúng sinh, phát tâm Bồ Đề, mỗi mỗi chẳng phải đồng nhất. Hỷ Vương nên biết! Bồ Tát Ma Ha Tát, tri ân báo ân, sự đó như thế. Khi Phật nói pháp ấy rồi, có một vạn tám trăm ngàn người đều phát tâm Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Trong tất cả đại chúng, có người được chứng quả Tu đà hoàn, cho đến A la hán, Thiên địa quỷ thần, Nhân và Phi nhân cũng phát tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật. Sau khi được nghe Phật nói pháp, ai nấy đều vui mừng, đầu mặt làm lễ Phật, rồi quanh về phía bên phải mà lui trở ra. (TRÍCH KINH 'ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN' PHẨM PHÁT TÂM BỒ ĐỀ THỨ TƯ)
Trong hình ảnh có thể có: 1 người
BÀI VIẾT SỐ 2 MỘT HỘI THỀ ( Trích Kinh Bách Duyên )
Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Tại thành Xá-vệ, có hai vị Phạm-chí (Phạm-chí là chỉ chung cho những người tại gia mà có ý muốn tu học, giữ hạnh thanh tịnh, thờ kính các vị giáo chủ), một người tin sâu pháp Phật, thường ca ngợi tán thán công đức của đức Như Lai là cao quý nhất, trong ba cõi chẳng ai bằng được, người kia thì lạc theo tà kiến, tôn sùng các vị sư ngoại đạo như Phú-lan-na (Pūrana)... cho rằng các sư ngoại đạo này là cao quý hơn hết, chẳng ai bằng được. Người tin theo nhóm ngoại đạo Phú-lan-na bảo rằng: - Các vị thầy như Phú-lan-na có thần lực cao trỗi hơn Phật nhiều. Người tin theo Phật bảo rằng: - Đức Phật Thế Tôn là đấng giác ngộ hoàn toàn, trọn vẹn, có thần lực cao trỗi nhất. Hai người chẳng ai nhường ai, tranh cãi mãi không dứt. Bấy giờ, hai người này tranh cãi nhau rất kịch liệt. Ai cũng cho là mình nói đúng. Có người đem chuyện ấy nói đến tai vua Ba-tư-nặc. Vua liền cho triệu cả hai người đến mà hỏi nguyên do. Cả hai đều nói rằng vị thầy mà mình tin theo là có thần lực cao trỗi hơn hết. Vua liền phán: - Mỗi người trong các ông đều tự cho mình là đúng, không thể phân xử được. Nay ta ra một kỳ hạn là 7 ngày, sẽ lập một hội thề mà thử nghiệm xem ai nói đúng. Nơi hội thề đó, mỗi người sẽ tự đốt hương, dâng hoa và rảy nước mà thỉnh nguyện bậc thầy của mình đến dự hội. Hai vị Phạm-chí nghe vua phán rồi đều lui về lo sắm sửa lễ vật hương hoa. Đúng bảy ngày, vua Ba-tư-nặc truyền tụ họp dân chúng số đông đến muôn ngàn người cùng đến chứng kiến. Khi ấy, trước mặt dân chúng, hai vị Phạm-chí liền cùng nhau lập nguyện mà khấn cùng vị thầy mà mình tin theo. - Vị tin theo các sư ngoại đạo như Phú-lan-na... bước ra trước, đốt hương, tung hoa và rảy nước lên không trung, nguyện rằng: - Nếu quả Phú-lan-na với mấy vị giáo chủ kia là cao hơn hết, thì nguyện cho hoa, hương, với nước này bay đến chỗ các vị, khiến cho các vị được biết ý nguyện của tôi mà đến dự hội này. Nếu như các vị chẳng có thần lực gì, thì khiến cho các hương hoa lễ vật này vẫn ở yên nơi đây. Người vừa dứt lời thì hoa rơi trên đất, hương tắt lửanước đổ xuống đất hết. Mọi người ai nấy đều chứng kiến như vậy, liền nói với nhau rằng: - Phú-lan-na với mấy ông thầy ngoại đạo kia thật chẳng có thần lực chi cả, lâu nay uổng nhận sự cúng dường của nhân dân trong nước. - Lúc bấy giờ, vị Phạm-chí tin Phật mới bước ra trước chúng hội, lấy hương hoa và nước sạch mà tung lên không trung, nguyện rằng: - Nếu đấng Như Lai thật có thần lực, xin cho các thứ hương hoa, nước sạch này đều bay đến chỗ của ngài, khiến cho ngài biết được ý nguyện của tôi mà đến dự hội này. Phát nguyện vừa xong, khói hương liền bay tỏa ra khắp thành Xá-vệ, những hoa mà người tung lên cũng bay lên không trung, hóa thành một cái lọng hoa lớn bay thẳng đến chỗ Phật, che bên trên Phật. Nước rảy lên không trung cũng hóa thành trong suốt như lưu ly mà bay đến rưới xuống trước chỗ Phật. Rồi đức Thế Tôn với chúng tỳ-kheo đều hiện lại trước chúng hội. Bấy giờ mọi người ai ai cũng trông thấy, khen là việc chưa từng có, thảy đều sinh lòng tin sâu nơi Phật pháp, lìa bỏ không còn tin theo các thầy ngoại đạo nữa. Vị Phạm-chí ấy thấy lời nguyện của mình được thành tựu liền phủ phục lễ bái trước Phật, phát lời nguyện lớn rằng: - Nhờ công đức dâng hương hoa cúng dường hôm nay, trong đời vị lai tôi nguyện sẽ có thể vì những chúng sanh mù lòa mà cứu giúp cho được sáng mắt, vì những chúng sanh chẳng quy y Phật mà độ cho quy y, những chúng sanh không người cứu hộ sẽ được cứu hộ, những chúng sanh không được an ổn sẽ được an ổn, những chúng sanh chưa nhập Niết-bàn sẽ được nhập Niết-bàn. Khi vị ấy phát nguyện rồi, đức Phật liền mỉm cười, từ nơi trán, giữa hai lông mày phóng ra một đạo hào quang năm sắc, bay quanh Phật ba vòng rồi lại theo chỗ trên trán Phật mà bay trở vào. Khi ấy, A-nan bạch Phật rằng: - Như Lai là đấng tôn quý, chẳng vô cớ mà cười bao giờ. Nay vì nhân duyên gì mà Phật mỉm cười, xin giảng giải cho được biết. Phật bảo A-nan: - Ông có nhìn thấy vị Phạm-chí này dâng hương hoa cúng dường ta chăng? A-nan thưa: - Bạch Thế Tôn, con đã thấy. Phật nói: - Vị Phạm-chí này trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa sẽ thành Phật hiệu là Bất Động, (Aksobhya) hóa độ chúng sanh nhiều vô số. Vì nhân duyên ấy mà ta mỉm cười. Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

__________________

Nếu như bạn đã từng đọc qua rất nhiều câu truyện về Luân hồiNhân quả, rồi nghiền ngẫm, suy xét. Chắc hẳn bạn cũng cảm thấy kinh sợ vì sự nguy hiểm của luân hồi, sự khủng khiếp của nghiệp báo. Truy xét kiếp trước của những chúng sinh trong địa ngục, đang ngày đêm bị chặt chém, gào thét giữa vô vàn máu, nước mắt, quỷ dữ và lửa đốt không ngơi nghỉ. Ta thấy có rất nhiều người , những kiếp xưa cũng đã từng làm những việc rất tốt, cũng giúp đỡ người nghèo khổ, cũng cúng dường, cũng xây cầu làm đường... cũng đủ mọi điều lành <kiếp thứ nhất > Rồi nhờ phước đức đó kiếp sau họ đầu thai về những nơi sung sướng , người thì được giàu sang,vinh hiển, người thì làm quan tướng, vua chúa, hay cao hơn, sinh lên cõi trời làm thần, làm tiên. Khi ấy, sự cao sang quyền quý, sự thụ hưởng phước báu khiến họ u mê, không còn hiền thiện như kiếp trước nữa. Họ bắt đầu kiêu ngạo, ác độc và tạo ra bao nhiêu điều tội lỗi. Giết hại chúng sinh, tà dâm, ác khẩu... cũng như trăm nghìn tội lỗi khác. Phước báo đời trước không giữ được họ khỏi những tham lam, sân hận, si trong lòng.< kiếp thứ hai > Cuối cùng, vì những tội lỗi mà họ đã tạo, họ bị lôi vào địa ngục, bị thiêu đốt, bị đâm chém … bị đủ mọi đau đớn < kiếp thứ ba > Xét rộng ra tất cả các chúng sinh đang chịu khổ, dù là người, là thú vật, là quỷ đói hay chúng sinh địa ngục ,tất thảy đều đi qua các chu kì như thế: làm phước_ hưởng phước, đồng thời tạo tội_ chịu tội. Mà cái thời gian chịu tội thường lâu gấp ngàn vạn lần cái thời gian hưởng phước, thật là một chu kì ác nghiệt và nguy hiểm. Còn gọi là sự nguy hiểm ở kiếp thứ ba. Ngay đến cả các chư thiên ở các tầng trời cao nhất của cõi Vô sắc giới,hưởng phước báu cõi trời an lạc đến hàng triệu triệu năm, cũng vẫn chưa thoát khỏi cái chu kì ác nghiệt này, huống chi tất cả chúng ta? Thế nhưng không lẽ không có cách nào thoát được cái vòng luẩn quẩn ấy ? Rất may cho chúng ta_ những người có duyên với Phật pháp, là có một lối thoát ! Đức Phật dạy chúng ta con đường Bát chánh đạo( Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) và khẳng định rằng ai theo con đường ấy sẽ thoát được luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, bạn phải hiểu rằng bạn phải thực hành theo đúng Bát chánh đạo trong suốt hàng ngàn kiếp mới mong thoát được cái vòng luẩn quẩn của luân hồi. Điều đó thật sự thiên nan vạn nan! Ngay bước đầu là Chánh kiến (hiểu biết cho đúng), cũng đã là một thử thách lớn lao. Dù kiếp này ta gặp được Phật pháp cũng không gì đảm bảo kiếp sau ta lại gặp được chánh Pháp như thế. Đức Phật, Người biết điều đó, vì lòng từ bi Người đã dạy một yếu chỉ quan trọng, Phật gọi là “PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ”, trong kinh Hoa nghiêm , còn được gọi là " Sơ phát tâm", trong kinh Kim Cang, được gọi là " Phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác" hay trong một số kinh được gọi là " Phát Tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề" Chỉ cần một lần PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ, bạn cũng như bất kì người nào khác đã đặt bước chân đầu tiên lên con đường vững chắc, kiên cố hướng đến quả vị Phật. Cho dù muôn kiếp sau có xảy ra điều gì đi chăng nữa cũng không làm điều này thay đổi được . Nhưng thế nào là PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ ? Giống như lời phát nguyện của vị Phạm chí trong truyện chính là PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ. Chính nhờ một lần phát nguyện như thế, mà vị đó trải qua vô lượng kiếp tu hành trở thành Đức Phật hiệu là Bất Động, (Aksobhya) hóa độ chúng sanh nhiều vô số như Phật Thích Ca đã thọ ký. Nói một cách dễ hiểu, PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ là khởi lên ước muốn trở thành Phật, cứu độ tất cả chúng sinh. Hòan tòan không khó, phải không bạn? Và bạn có thể thực hiện điều đó ngay trong ngày hôm nay ! Những việc bạn cần làm là giữ lòng thành kính, bước đến trước bàn thờ Phật , quỳ xuống , chắp tay hướng đến Phật mà phát lên điều nguyện rằng (có rất nhiều cách nguyện, sau đây chỉ là một cách để tham khảo): “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Con xin đem hết thảy căn lành, thành tâm mà nguyện rằng: Trong vô biên vô lượng kiếp sau, con sẽ tu hành mọi công hạnh không tính kể thời gian để chứng đắc được quả vị Phật giống như Người, hóa độ vô biên vô số chúng sinh trong Pháp giới ! Cúi xin mười phương Chư Phật chứng giám!” Và điều nguyện đó sẽ càng chí thành hơn, càng linh ứng hơn nhiều nếu trước đó, bạn thực hiện một việc phước lành như vị Phạm Chí trong truyện cúng dường Phật, ta có thể bố thí, cúng dường, phóng sinh, ấn tống... hay bất kì việc từ thiện nào khác. Rồi cũng đến quỳ trước tượng của Đức Phật mà khấn rằng : “ Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Con xin đem hết thảy căn lành và chút công đức bé nhỏ này, thành tâm mà khấn nguyện rằng : nhờ chút ít công đức đó mà trong vô biên vô lượng kiếp sau, con sẽ tu hành mọi công hạnh không tính kể thời gian để chứng đắc được quả vị Phật giống như Người, hóa độ vô biên vô số chúng sinh trong Pháp giới ! Cúi xin mười phương Chư Phật chứng giám!” Mọi cây đại thụ vĩ đại nhất đều bắt đầu từ một mầm cây bé nhỏ. Nếu như bạn thực hiện được điều này, có nghĩa là bạn vừa gieo một hạt mầm của cây Bồ đề vào dòng luân hồi sinh tử của bạn. Không cần biết là trải qua bao nhiêu kiếp nữa, nhưng chắc chắn một điều rằng, lời nguyện thiêng liêng của bạn sẽ thành hiện thực. Tất nhiên, một người sau khi PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ chưa thể ngay lập tức xuất hiện kì tích. Người ấy vẫn còn đầy đủ những tham_ sân_ si, người ấy vẫn còn hay mắc lỗi vì còn bản ngã. Nhưng những điều đó không có cơ hội để tồn tại lâu. Giống như người tự có la bàn trong tâm, dù có đi giữa rừng già hay giữa sa mạc mênh mông, người đó cũng không sợ bị lạc. Người đã gieo hạt giống Bồ đề vào trong tâm luôn tự tìm ra con đường đúng đắn để đi dù không có người chỉ dạy. Dù thời gian có lâu xa, phải trải qua số kiếp nhiều hơn số cát có trong quả Địa cầu này cũng không làm người ấy nản lòng. Dù có khó khăn, nguy hiểm, phải vì chúng sinh mà hi sinh thân mạng, nhiều đến mức phủ kín bề mặt Trái đất này cũng không làm người ấy dừng bước. Chư Thiên trên các tầng Trời không ngừng dõi theo từng bước người ấy bước đi trên con đường dẫn đến Đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì đó là con đường thiêng liêng mà mười phương Chư Phật đã đi. Hãy dũng mãnh lên và PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ ! Đó sẽ là điều vĩ đại nhất mà bạn từng làm trong vô lựợng kiếp qua và mở ra vô số điều vĩ đại trong vô lượng kiếp tới. Chúc bạn sớm viên thành Phật đạo ! Nammô Bổn sư Thích Ca Nâu Ni Phật ! Nam Mô A Di Đà Phật ! Nammô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát ! Nammô Đại Nguyện Đia Tạng Vương Bồ Tát ! Nammô Đương Lai Di Lặc Tôn Phật ! "Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ khắp. Phiền não vô tận, thệ nguyện dứt sạch. Pháp môn vô lượng, thệ nguyện tu học. Phật đạo vô thượng, thệ nguyện thành tựu."
Trong hình ảnh có thể có: 1 người

BÀI VIẾT SỐ 3 TỪ XA NGÀN DẶM THỈNH PHẬT ĐẾN CÚNG DƯỜNG

(Trích kinh Bách Duyên )

Lúc ấy, Đức Phật ở gần thành Vương-xá, trong khu rừng Trúc Lâm. Bấy giờ, ở một nước về phía Nam có người bà-la-môn tên là Mãn Hiền, giàu có, của cải tài vật nhiều vô kể. Người này tánh tình nhu thuận, hiền hậu, giàu lòng thương người và rất chuộng việc bố thí. Ông tin và thờ phụng đức Tỳ-sa-môn (một trong các vị thần được thờ phụng theo tín ngưỡng Bà-la-môn, có từ trước khi Phật ra đời), đã từng chu cấp, cúng dường cho cả trăm ngàn thầy ngoại đạo, hy vọng nhờ phước ấy mà được sinh lên cõi trời. Lúc ấy, có một người họ hàng của Mãn Hiền từ thành Vương-xá đến. Ông này đã từng đến lễ Phật, nên ca tụng với Mãn Hiền về công đức của ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Ông nói rằng chính vua Tần-bà-sa-la ở thành Vương-xá cũng quy y theo Phật, và đến cả trăm ngàn người, gồm cả các vị đại thần, trưởng giả, quan thuộc... đều theo gương vua mà theo đạo Phật. Oai đức của Phật khiến cho tất cả mọi người không ai nghe đến mà không hết lòng kính ngưỡng, tán thán. Ông Mãn Hiền nghe người ấy xưng tụng công đức của Phật thì tự nhiên sinh lòng tin phục, kính ngưỡng. Ông liền lên trên lầu cao, quay mặt về phía thành Vương-xá, quỳ gối tung các thứ hương hoa, nước sạch lên và cầu thỉnh đức Phật rằng: - Như Lai công đức vô lượng, ngưỡng mong ngài thọ nhận những lễ cúng này, và khiến cho hương thơm bay tỏa khắp thành Vương-xá, hoa thơm hóa thành lọng hoa mà che trên đầu Phật. Phát nguyện như vậy rồi, liền thấy những hương hoa cúng Phật tự bay đến thành Vương-xá, khói hương bay tỏa khắp thành Vương-xá, còn hoa thơm thì tụ lại thành một lọng hoa bay đến che trên đầu Phật. Khi ấy, tôn giả A-nan (thị giả của Phật) nhìn thấy sự thần biến như vậy liền thưa hỏi Phật rằng: - Bạch Thế Tôn, chẳng hay những hương hoa này là từ đâu mà đến? Đức Thế Tôn đáp rằng: - A-nan! Về phía Nam, ở nước Kim Địa, có người trưởng giả tên là Mãn Hiền. Người ấy từ phương xa mà phát nguyện thỉnh ta với chư tăng đến để cúng dường. Ta nhận lời thọ nhận lễ cúng, vậy chư tỳ-kheo hãy cùng nương thần lực của ta mà đi đến đó! Bấy giờ đức Phật và một ngàn vị tỳ-kheo cùng hiện về phương Nam. Nhờ thần lực của Phật, các vị đều thấy như chỉ gần trong gang tấc. Phật lại hiện thần lực khiến cho một ngàn vị tỳ-kheo đều ẩn hình đi không ai nhìn thấy, duy chỉ thấy một mình ngài ôm bát đến chỗ ông trưởng giả Mãn Hiền. Bấy giờ ông Mãn Hiền biết Phật đã đến liền cùng với năm trăm người thuộc hạ ra nghênh tiếp, mang theo đủ các thứ thức ăn ngon quý để cúng dường. Ông nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang rạng ngời, sáng hơn cả trăm ngàn mặt trời, dáng đi uy nghi, thanh thoát, đủ vẻ trang nghiêm tốt đẹp, liền đến quỳ lạy dưới chân Phật, thưa rằng: - Lành thay! Nay đức Thế Tôn đã từ bi thương xót mà đến đây thọ nhận phẩm vật cúng dường của con. Phật bảo Mãn Hiền rằng: - Ông muốn cúng dường ta món gì, cùng với năm trăm thuộc hạ của ông nữa, hãy đặt hết thảy vào bình bát của ta đây! Ông Mãn Hiền với 500 người thuộc hạ vâng lời dạy liền đặt các món thức ăn mang đến vào bình bát của Phật. Rất nhiều các thứ đồ ăn thức uống ngon quý, số dùng cho cả ngàn người, nhưng đặt mãi vào mà bình bát vẫn không đầy. Do thần lực của đức Thế Tôn, bình bát của một ngàn vị tỳ-kheo khi ấy đều được đầy đủ các món vật thực, rồi các ngài bỗng nhiên hiện hình ra đứng vây quanh đức Phật. Chứng kiến phép mầu nhiệm ấy, ông trưởng giả Mãn Hiền khen là việc chưa từng có, liền lấy hết tâm thành mà lễ bái Phật, phát lời nguyện lớn rằng: - Với phước lành cúng dường vật thực cho Phật và chư tăng hôm nay, nguyện trong đời vị lai tôi sẽ vì những chúng sanh mù lòa mà hóa hiện làm cho mắt sáng, vì những chúng sanh chưa thọ pháp quy y mà giáo hóa cho quy y, vì những chúng sanh không người cứu hộ mà hóa thân cứu hộ cho, vì những chúng sanh chưa được an ổn mà làm cho an ổn, vì những chúng sanh chưa nhập Niết-bàn mà làm cho đều được nhập Niết-bàn. Khi ông phát nguyện như vậy rồi thì đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi trán, giữa hai lông mày phóng, ra một đạo hào quang năm sắc chiếu khắp thế giới, hóa hiện đủ các màu sắc, bay quanh Phật ba vòng rồi lại theo chỗ trên trán Phật mà bay trở vào. Khi ấy, A-nan bạch Phật rằng: - Như Lai là đấng tôn quý, chẳng vô cớ mà cười bao giờ. Nay vì nhân duyên gì mà Phật mỉm cười, xin giảng giải cho được biết. Phật bảo A-nan: - Ông có nhìn thấy trưởng giả Mãn Hiền đây cúng dường ta chăng? A-nan thưa: - Bạch Thế Tôn, con đã thấy. Phật nói: - Trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp nữa, người này sẽ tu tập đủ các hạnh Bồ-tát, đầy đủ tâm đại bi, sáu phép ba-la-mật , sau cùng sẽ thành Phật, hiệu là Mãn Hiền, hóa độ chúng sanh số lượng nhiều không thể tính đếm. Vì nhân duyên ấy mà ta mỉm cười. Khi nghe Phật thuyết nhân duyên thành Phật về sau của ông trưởng giả Mãn Hiền, trong đại chúng có người được đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán . Lại có người phát tâm tu tập thành Bích-chi Phật, lại có người phát tâm vô thượng Bồ-đề cầu thành Phật.(*) Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận. ______________________________ Chú thích : *Từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, cho đến A-la-hán là bốn thánh quả của người tu tập theo giáo pháp Tứ diệu đế. Tu-đà-hoàn, Hán dịch là Nhập lưu, là quả vị đầu tiên, xem như mới nhập vào dòng thánh. Tư-đà-hàm, Hán dịch là Nhất Lai nghĩa là còn phải thọ sanh trong luân hồi một lần nữa. A-na-hàm, Hán dịch là Bất lai, nghĩa là đã dứt sạch nghiệp quả, không còn phải tái sinh nữa. A-la-hán, Hán dịch là Ứng cúng, nghĩa là bậc đầy đủ phước đức, trí tuệ, xứng đáng nhận sự cúng dường của chư thiên và loài người. * Bích-chi Phật : còn gọi là Độc giác Phật hay Duyên giác Phật. Đây là quả vị của người tu theo pháp Thập nhị nhân duyên. Gọi là Độc giác Phật, vì các vị này ra đời tu tập theo lý nhân duyên và đạt đến giải thoát, vào thời không có Phật. Gọi là Duyên giác Phật, vì các vị tu tập đến giải thoát nhờ tu tập pháp nhân duyên. Cả bốn thánh quả và quả vị Bích-chi Phật đều được xem là những quả vị của tiểu thừa. * Tâm Vô thượng Bồ-đề, hay Bồ-đề-tâm, tức là tâm nguyện muốn thành Phật, bậc giác ngộ hoàn toàn. Đây không phải là quả vị do tu tập chứng đắc, mà là sự phát nguyện ban đầu, quyết lòng tu tập cho đến khi được hoàn toàn Giác ngộ thành Phật . Vì thế bất cứ ai khi đã có đủ đức tin đều có thể phát Bồ-đề-tâm. ________________________ Kinh Bách Duyên có nguồn gốc từ bản kinh tiếng Phạn nhan đề là Avadāna-Cataka, nằm trong Đại Tạng Kinh Phật giáo và đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng như Tây Tạng, Pāli, Hán, Pháp... Bản dịch tiếng Pháp lấy tựa là “Avadāna-Cataka ou Cent légendes bouddhiques”, do Léon Feer dịch và phát hành tại nhà sách Ernest Leroux 28 Rue Bonaparte Paris, in xong năm 1891. Trước đây cư sĩ Đoàn Trung Còn đã dịch bản tiếng Pháp này sang tiếng Việt. Bản chữ Hán nhan đề là “Soạn tập bách duyên kinh”, do ngài Chi Khiêm đời nhà Ngô ở Trung Quốc dịch từ tiếng Phạn, gồm 10 quyển, được đưa vào Đại chánh tạng thuộc tập 4, kinh số 200, bắt đầu từ trang 203. Đây là một bản kinh Phật đặc sắc, nêu bật lên ý nghĩa nhân quả bằng những truyện tích nhân duyên Nhân quả.
Trong hình ảnh có thể có: 1 người

BÀI VIẾT SỐ 4 ĐỨC PHẬT DẠY VỀ CÔNG ĐỨC CŨNG NHƯ LỢI ÍCH CỦA VIỆC PHÁT NGUYỆN SAU KHI LÀM VIỆC THIỆN. - Chân Hiền Tâm -

Một hôm, sau khi nghe Phật dạy, Tôn giả Ưu Bà Ly hỏi Phật: - Bạch Thế Tôn, nếu thiện nam và tín nữ thực hành Bát quan trai rồi mà không phát thệ nguyện hồi hướng thì có được công đức lớn chăng? Phật trả lời: - Tuy có phước nhưng phước đó không đủ! Để giải thích cho việc mình đã nói, Đức Phật kể cho chư Tỳ-kheo nghe câu chuyện sau: "Thời quá khứ, khi đó có vua Bảo Nhạc dùng Chánh pháp trị dân, thống lãnh cảnh giới Diêm-Phù-đề này. Đó là thời có Đức Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai ra đời. Nhà vua có người con gái tên là Mâu Ni, dung mạo đặc biệt thù thắng. Do đời trước cúng dường chư Phật mà được như vậy. Lúc đó, Bảo Tạng Như Lai nói với các đệ tử rằng: - Này các Tỳ-kheo! Nên nhớ tọa thiền, chớ có giải đãi! Cũng cần tìm phương tiện tụng tập kinh giới. Thị giả đa văn của Đức Bảo Tạng Như Lai là Mãn Nguyện mới bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn, với các Tỳ-kheo mà các căn chậm chạp u tối, không tinh tấn đối với việc hành thiền, cũng không thể tụng tập thì làm thế nào? Đức Bảo Tạng Như Lai trả lời:  - Nếu có Tỳ-kheo, các căn ám độn, không thể thực hành thiền pháp thì nên tu 3 pháp của bậc thượng nhân. Đó là tọa thiền, tụng kinh và siêng năng giúp đỡ việc chúng. Lúc đó, trong chúng, có một Tỳ-kheo tuổi đã lớn, không kham nổi thiền pháp, bèn nghĩ như vầy: “Ta nay đã già yếu, không kham nổi thiền pháp, nay nên tìm cách làm pháp siêng năng giúp đỡ”. Nghĩ rồi liền quyết định vào thành, xin dầu thắp đèn về cúng dường Đức Bảo Tạng Như Lai khiến ánh sáng không dứt. Công chúa Mâu Ni thấy Trưởng lão đi khất thực trên đường bèn hỏi chuyện. Biết rõ cớ sự, Mâu Ni vui mừng nói: - Trưởng lão không cần phải đi khất thực nữa. Con sẽ cung cấp đầy đủ các loại dầu đèn mà Trưởng lão cần dùng. Tỳ-kheo lớn tuổi nhận sự cúng dường của công chúa. Mỗi sáng đều đến lấy dầu về cúng dường Đức Bảo Tạng Như Laiphát thệ nguyện rằng: “Nguyện đem công đức phước nghiệp này hồi hướng về đạo Vô thượng chánh chân. Con nay tuổi đã già, căn tánh lại chậm lụt, không thể thực hành thiền pháp mà Như Lai đã dạy, thành nguyện đem công đức này hồi hướng để đời đời sinh ra không đọa vào đường ác. Tương lai vẫn gặp được Phật như Đức Bảo Tạng hiện nay. Cũng được gặp Thánh chúng như Thánh chúng hiện nay. Được nghe pháp như nghe pháp hiện nay”. Phật Bảo Tạng biết được tâm niệm đó, mỉm cười, miệng phát ra hào quang năm sắc nói với Tỳ-kheo Trưởng lão: - Này Tỳ-kheo! Qua vô số kiếp đời vị lai, ông sẽ làm Phật hiệu là Đăng Quang Như Lai. Trưởng lão nghe xong, tâm ý phấn phát, vui mừng khôn xiết. Mâu Ni thấy dung mạo của Trưởng lão hôm nay khác hẳn mọi ngày, bèn hỏi thăm cớ sự. Trưởng lão cười nói: - Tôi đã được Đức Bảo Tạng thọ ký thành Phật, trong tương lai hiệu là Đăng Quang Như Lai. Mâu Ni nghe xong, cưỡi xe vũ bảo đến gặp Đức Bảo Tạng thưa rằng: - Bạch Thế Tôn! Con là thí chủ thường cung cấp dầu cho Trưởng lão về cúng dường Phật. Nay ngài thọ ký cho Trưởng lão mà không thọ ký cho con. Bảo Tạng Như Lai cười nói: - Phát tâm thệ nguyện, phước ấy khó lường, huống là dùng tài vật bố thí. Dù được khen, nhưng công chúa Mâu Ni không thấy Phật thọ ký cho mình, bèn nói: - Nếu Như Lai không thọ ký cho con, con sẽ tự đoạn mạng sống của mình. Bảo Tạng Như Lai nói: - Thân người nữ, cầu làm Chuyển luân không được, cầu làm Đế Thích cũng không được, cầu làm Ma vương cũng không được, cầu làm Phật cũng không được. Mâu Ni bạch Phật: - Vậy con không thể thành đạo Vô thượng được sao? Bảo Tạng Như Lai nói: - Vẫn được. Nhưng công chúa nên biết, qua vô số a-tăng-kỳ kiếp ở tương lai, có Phật ra đời hiệu là Đăng Quang Như Lai. Phật ấy là thiện tri thức của cô, sẽ thọ ký cho cô. Mâu Ni thắc mắc: - Vì người nhận thanh tịnh còn thí chủ uế trược chăng? Bảo Tạng Như Lai nói: - Những gì ta nói hôm nay là tâm ý thanh tịnh, phát nguyện vững chắc. Tâm ý thanh tịnh và phát nguyện vững chắc, là hai việc giúp thành tựu quả vị Phật. Mâu Ni nghe xong cúi đầu lễ sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra. Cô không được Phật Bảo Tạng thọ ký như Tỳ-kheo Trưởng lão vì cô chỉ mới bố thí cúng dường, tâm chưa phát khởi hồi hướng phước đức đó cho việc tu tập cũng như thành Phật ở tương lai. Trong khi Tỳ-kheo trưởng lão dù căn tánh chậm lụt nhưng lại lập nguyện tu tập và thành Phật rất vững chắc. Cái quyết định thành Phật là tâm ý thanh tịnh, lìa nhị biệt phân biệt, không phải chỉ nằm ở việc cúng dường bố thí. Lại nữa, cúng dường cho Tỳ-kheo Trưởng lão, không phải cho Đức Bảo Tạng. Nghĩa là cô gieo duyên với Tỳ-kheo Trưởng lão không phải với Đức Bảo Tạng. Thành cô sẽ nhận được sự thọ ký từ Tỳ-kheo Trưởng lão khi ngài thành Phật, không phải từ Đức Bảo Tạng. Mâu Ni cùng thời với Tỳ-kheo Trưởng lão, cùng gặp được Phật Bảo Tạng, nhưng cô lại gieo duyên với Tỳ-kheo Trưởng lão. Thành phải đợi đến khi Tỳ-kheo Trưởng lão thành Phật mới nhận được sự thọ ký. Việc cúng dường gieo duyên quyết định đường đi nước bước của người tu Phật như thế, nên trong lời phát nguyện nói trên, có phần hồi hướng “không gặp ác tri thức”. Vì gieo phải ruộng xấu thì mất giống. Con đường tu tập Chánh pháp thêm dài, ngày thành Phật thêm xa. Cho nên, trong vấn đề tu hành, dù là tu phước hay tu đạo thì việc phát nguyện đời đời gặp được thiện tri thức luôn cần thiết, nhất là khi chúng ta chưa đủ trí tuệ nhận được ai là thiện tri thức, ai là ác tri thức. Đó là lý do Đức Bảo Tạng nhấn mạnh đến hai việc mà người tu hành cần có để thành tựu quả Phật, là TÂM Ý THANH TỊNH và PHÁT NGUYỆN VỮNG CHẮC. Thiếu một trong hai thì không thể thành tựu quả Phật. Rồi Phật kể tiếp: "Qua vô số a-tăng-kỳ kiếp, Phật Đăng Quang xuất hiện ở đời cùng với đại chúng là mười sáu vạn tám ngàn Tỳ-kheo. Đó là thời mà quốc vương cùng nhân dân trong nước đều kính thờ Phật. Lúc đó trong thành có một Phạm Chí ( Bà-la-môn ) tên là Di Lặc, dung mạo hơn người, thông suốt các kinh tạng, chú thuật, thiên văn, địa lý v.v… thấy Phật Đăng Quang tướng mạo đặc biệt thù thắng, khởi tâm hoan hỷ, dâng năm cành hoa lên Phật và nói: - Cúi xin Đức Thế Tôn chứng minh cho con. Nay con dâng Như Lai 5 cành hoa và đem thân này cúng dường bậc Tôn thánh. Nói lời đó xong, 5 cành hoa bỗng biến thành đài báu. Phạm Chí thấy vậy liền vui mừng phát nguyện: “Xin cho con đời tương lai được làm Phật như Đức Phật Đăng Quang. Đệ tử đồ chúng thảy đều như thế”. Phật Đăng Quang biết được ý niệm đó, mỉm cười, hào quang năm sắc trong miệng chiếu khắp Tam thiên đại thiên thế giới rồi vào lại nơi đảnh. Đó là dấu hiệu chư Phật thọ ký cho người thành Phật. Khi Phạm Chí thấy điềm lành ấy, biết là Phật đã thọ ký cho mình, liền trải tóc dưới đất mà nói: - Nếu Phật không thọ ký cho con, con sẽ tự hủy hoại các căn. Phật liền thọ ký: - Đời vị lai sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Kể xong, Phật nói với Ưu Ba Ly: - Phật Đăng Quang chính là Tỳ-kheo trưởng lão lúc trước. Phạm Chí chính là công chúa Mâu Ni cũng là tiền thân của ta. Nay do nhân duyên ấy mà ta nói pháp Bát quan trai này. Hãy phát nguyện. Không có phát nguyện không có kết quả. Vì sao? Nếu ngày trước công chúa phát nguyện như thế thì liền đó mà thành tựu sở nguyện. Nếu Tỳ-kheo trưởng lão không phát nguyện, rốt cuộc cũng không thành Phật đạo. Phước của thệ nguyện không thể tính kể. Cho nên này Ưu Bà Ly, nên học theo cách như thế. Cần phải cẩn trọng khi phát thệ nguyện. Những thệ nguyện như thành tựu Phật quả hoặc được tu tập trong các đạo tràng của chư Phật, chư Bồ-tát v.v… thì không nói đến hai chữ cẩn trọng. Nói cẩn thận là với những phát nguyện không mang tính tu tập thành Phật. Phật đã dạy về công đức cũng như lợi ích của phát nguyện. Chúng ta cần y đó mà phát nguyện. Vua Lưu Ly, trong một kiếp làm thân cá, khi bị dòng họ Thích tàn sát, đã khởi tâm thệ nguyện: “Nương vào những phước đức có được từ trước và sau này mà trả cho được cái hận này”. Thệ nguyện đó được thành tựu khi ông làm vua. Với binh quyền trong tay ông tàn sát tất cả, ngay với những người đang tu phạm hạnh. Kết cuộc là ông đọa vào địa ngục Thệ nguyện hồi hướng, nghĩa của nó là mong muốn đạt được điều mình muốn trong tương lai, được tiếp sức bằng những thiện nghiệp. Vì thế chỉ cần phát nguyện thì nguyện sẽ được thành tựu dù là nguyện xấu hay nguyện tốt. Không phải nguyện tốt thì thành tựu mà nguyện xấu không thành tựu. Phát nguyện hồi hướng thì mọi thứ đều có thể thành tựu. Nhưng mang tất cả thiện nghiệp đã làm hồi hướng cho một việc mà việc đó chỉ đẩy mình vào địa ngục thì quả là phí phạm. Những loại thệ nguyện không hướng Phật đạo mà trực chỉ phục vụ cho ngũ dục, như tiền tài, danh vọng v.v… đều cần phải cẩn trọng. Vì dù không mang tính sân si như nguyện của vua Lưu Ly, nhưng chúng là cái duyên dễ khiến mình gây nghiệp tạo tội. Cũng là duyên nuôi lớn tâm ngã mạn khi đạo chưa vững. Tâm ngã mạn hiện khởi, khổ nạn không thể dứt. Hồi hướng mọi phước đức có được chỉ để rơi vào cõi dữ thì quả là đáng tiếc. Vì thế cần thận trọng với những phát nguyện không mang tính tu đạo của mình. Phật đã dạy về công đức cũng như lợi ích của phát nguyện. Chúng ta cần y đó mà phát nguyện để tránh những sai lầm đáng tiếc trong đời sống quý báu của thân người. Dù thời nay không có Phật, nhưng kinh luận giáo pháp lại được diễn dịch và lưu bố rộng rãi nhờ Tăng bảo, cũng là phước báu mà không phải ai cũng gặp được. Vì thế chúng ta cần trân quý và thực hành những gì Phật đã dạy. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT !

***************************************************************************************************

* Bát quan trai: "Bát" là tám, "Quan" là cửa, cửa ngăn chặn 8 điều tội lỗi. "Trai" nghĩa là khi đã qua giờ ngọ (12 giờ trưa) không được ăn. Vậy "Bát quan trai giới" là sự giữ gìn cho thân tâm được thanh tịnh trong vòng 24 giờ bằng cách ngăn chặn 8 điều tội lỗi: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cướp; 3. Không dâm dục; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu; 6. Không trang điểm, dầu thơm, múa hát và xem múa hát; 7. Không nằm ngồi giường cao rộng đẹp; 8. Không ăn quá giờ ngọ.
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, ngoài trời

CÁC CÂU TRUYỆN PHÁT NGUYỆN VÀ ỨNG NGHIỆM

PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI - ĂN CHAY - KHÔNG SÁT SINH, LẬP TỨC TỪ CÕI CHẾT TRỞ VỀ. (Trích" Nhân Quả Báo Ứng - Những Điều Mắt Thấy Tai Nghe") - Cư Sĩ Tịnh Tùng -

Cư sĩ Hoàng Tuệ Đôn là người ở thị trấn Hoành Kinh, huyện Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Ngày 13/01/1938, do vì làm việc quá sức, cộng thêm bị nhiễm gió độc, cho nên thân thể vô cùng mỏi mệt... Chẳng những thế cánh tay trái lại mọc một mụt độc, dù chữa trị thế nào cũng không thấy bớt, mụn độc to bằng cái chén, máu mủ chảy suốt ngày, khiến cho cư sĩ phát sốt lúc nóng lúc lạnh, cơm nước cũng không buồn ăn... Đến ngày 14/ 02, tức là 31 ngày từ khi phát bệnh, bác sĩ báo với người nhà đưa ông về vì đã hết phương chữa trị. Cư sĩ biết mình không thoát khỏi nạn kiếp này, không giống như mọi người, khi đứng trước bờ vực tử thần thì hầu hết lo lắng, sợ sệt, nhưng cư sĩ rất cừ, trong lúc đau đớn ông nghĩ lúc bình thường mình rất thích ăn cá tươi, tạo nghiệp sát quá nặng, cho nên mới gặp nạn kiếp này, nghĩ đến đây ông thấy hổ thẹn, ăn năn những ác nghiệp đã làm, nằm trên giường cư sĩ luôn PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI: "Nguyện từ đây cho đến khi nhắm mắt không ăn cá nữa, lại kiền thành niệm Bồ-Tát Quán Thế Âm, cầu Ngài gia hộ". Sau khi phát nguyện khoảng ba giờ, đột nhiên ông nôn ra khoảng một chén máu và mủ, cư sĩ nghĩ đã nôn máu và mủ đồng nghĩa với mạng sống sắp kết thúc, do đó ông nhất tâm niệm Phật chờ vãng sinh. Vài phút sau, cư sĩ cảm giác có mùi thơm phảng phất khắp nhà, cơn sốt của ông tự nhiên không còn tái phát nữa, bệnh tình cũng giảm bớt một nửa và bắt đầu ăn uống lại bình thường. Ngày hôm sau, có một người bạn đến thăm, thấy bệnh tình của cư sĩ, ông liền nói ở nhà ông có một loại thuốc, nếu cư sĩ cần thì lấy dùng thử, thật kỳ diệu, vừa dùng đã thấy hiệu quả ngay, vài ngày sau cư sĩ ngồi dậy và sinh hoạt bình thường, bệnh tình dần dần bình phục. ***************************************** PHÁT NGUYỆN KHÔNG SÁT SINH. Tại Hàng Châu, bà Ngô vợ cư sĩ Thái Phúc Sinh, vào ngày 7/1934, giữa lòng bàn tay phải bỗng mọc một mụt nhọt, lúc mới mọc rất nhỏ, đau nhức không thể chịu được, nó hành suốt ngày đêm không sao chợp mắt được, chưa đến 10 ngày, mụt nhọt ấy sưng tấy lên, ảnh hưởng đến cả cánh tay, khiến bà buồn rầu, lo lắng, thật là nguy hiểm. Bà đến rất nhiều ngoại khoa để chữa trị, nhưng họ đều bó tay. Thái cư sĩ kiền thành cầu nguyện Bồ-tát Quán Thế Âm gia hộ cho vợ được thoát khỏi bệnh tật, bà Ngô cũng PHÁT NGUYỆN: "Từ đây về sau vĩnh viễn không sát hại sinh mạng chúng sinh". Ngày hôm sau, cô giúp việc ra ngoài tìm thuốc cho bà, đi đến nửa đường gặp một vị bác sĩ khoa nhi, thấy vị ấy tự giới thiệu về mình, cô giúp việc liền mời vị bác sĩ về khám bệnh cho bà Ngô. Quả nhiên sau mười mấy lần thoa thuốc, ngòi mụt nhọt lòi lên, vị bác sĩ nặn nhẹ mủ chảy ra lai láng, ước khoảng hơn một chén lớn, vài ngày sau bớt hẳn. ********************************************** VỢ CON GIỮ GIỚI KHÔNG SÁT SINH NGUYỆN ĂN CHAY VÌ CHỒNG . Ở huyện Quỳ Môn tỉnh Tứ Xuyên có cư sĩ Lý Bồi, năm 1928, vì bọn thổ phỉ hoành hành, nên cư sĩ cùng vợ là Khâu Hoành Bạch chuyển nhà đến Huyện Vạn. Mùa thu, sau khi nghe Pháp sư Đại Dụng giảng kinh, hai vợ chồng phát tâm tham gia Đông Xuyên Phật Học Xã, kiền thành niệm Phật, chưa từng có tâm giải đãi. Đến tháng 8 năm sau, Lý cư sĩ bị bệnh lỵ rất nặng, đưa vào bệnh viện chữa trị hơn 10 ngày vẫn không thấy khá hơn, các bác sĩ bảo đem ông về hỏi ông muốn ăn gì thì cho ông ăn và lo tang sự là vừa, vì bệnh lý của ông đã hết thuốc chữa rồi. Vợ con ông nghe xong sợ hãi khóc than thảm thiết, họ bèn đốt hương lên bàn Phật, cầu đức Phật A-Di-Đà, Bồ-Tát Quán Thế Âm, xin các Ngài từ bi gia hộ cho ông được thoát khỏi kiếp nạn này, họ cầu: “Nam mô A-Di-Đà Phật! Nam mô Quán Thế Âm Bồ-Tát! Xin các Ngài gia hộ cho chồng con được hết bệnh, nếu anh ấy hết bệnh thì con nguyện suốt đời giữ giới không sát sinh, lại ăn chay trường 5 năm và còn ấn tống Quán Âm Khởi Tín để khuyến hoá những người hữu duyên.” Vợ con ông vừa cầu nguyện xong, Lý cư sĩ đột nhiên gọi vợ đến bên giường và nói rằng: “Vừa rồi anh thấy có một người đứng trước giường, màu da vàng óng giống các vị La-Hán, đứng một lúc rồi ẩn.” Cũng thuốc đó mà uống trong suốt 10 ngày không thấy hiệu quả, nhưng hôm nay uống lại thấy hiệu quả ngay, mấy ngày sau bệnh lý của cư sĩ bớt hẳn, thân thể khoẻ mạnh như xưa. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ! NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT!
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang đứng và văn bản
+ Đức Phật dậy: Này Long Vương! Nếu xa lìa sát sinh thì liền được thành tựu 10 pháp xa lìa phiền não:Một là, đối với các chúng sinh ban cho sự không sợ hãi.Hai là, thường khởi tâm từ rộng lớn đối với chúng sinh.Ba là, dứt hẳn tập khí giận dữ.Bốn là, thân thể thường không bệnh tật.Năm là, mạng sống l...
Xem Chi tiết
+ Giới không được trộm cướp: Lấy những tài vật thuộc quyền sở hữu của người, mà không có sự ưng thuận, hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyền hành. Những vật quý giá như nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, ngọc ng&a...
Xem Chi tiết
+ Ngũ Giới:  Phật dậy không được nói sai sự thật:a) Nói dối hay nói láo: là không nói thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều nghe nói không nghe, điều không nghe nói nghe; hoặc giả trước mặt khen dồi, sau lưng chê mạc; hay là khi ưa thì nói dịu n...
Xem Chi tiết
BÁT CHÁNH ĐẠO (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 463) 1. Chánh tín (Chánh kiến/ Phân Biện): Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. Nghĩa là sự nhận thức sáng suốt và hợp lý trên căn bản của trí tuệ, không còn vướng bụi của tà kiến, mê lầm vọng chấp. 2. Chánh tư duy: Chánh tư duy là suy n...
Xem Chi tiết
+ Phước nghiệp - Tu phước: Có 3 căn bản: 1. Hạng người sau đây, khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn vì: - Làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ - Làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ - Làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. 2. Hạng Người, sau khi thân hoại mạng ...
Xem Chi tiết
+ Mười phương/ Thập phương: Gồm các phương đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam, cùng với phương trên (thượng phương) và phương dưới (hạ phương)....
Xem Chi tiết
Tứ diệu đế (ASCLH, 141) ; (TLHNM–II, 155): 1. Chân lý Aryan về Khổ (Ill). Cuộc sống trong thế giới hiện tượng không thể tách khỏi đau khổ và phiền não/ Là thực trạng đau khổ của con người 2. Chân lý Aryan về việc phát sinh cái khổ  – (Tập). Nguyên nhân của đau khổ là ham muốn cuộc sống trong thế g...
Xem Chi tiết
+ Phật dậy: Ngươi phải thi ân bố thí mới có thể tránh được nạn nghèo. Ngươi không hiểu ý nghĩa của sự vái lạy 6 hướng, để ta giải cho ngươi nghe:  - Ngoảnh mặt qua hướng Đông thì ngươi phải nhớ tới cha mẹ ngươi.  - Ngoảnh qua hướng Tây, ngươi phải nhớ tới vợ con ngươ...
Xem Chi tiết
+ Phật lại dạy rằng: “A Nan, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, thì cũng như người tu bịt hai lỗ tai của mình, la tiếng thật lớn, mà muốn cho mọi người không nghe thì không thể được&rdq...
Xem Chi tiết
+ Nghiệp quả (Karma): Tác động ở cõi trần. Về mặt siêu hình là Luật Báo Phục; Luật Nhân Quả, hay gây hậu quả về mặt đạo đức. Có nghiệp quả do công và nghiệp quả do tội. Đó là quyền lực kiềm chế vạn vật. Kết quả của hành động đạo đức hay là hậu quả về mặt đạo đức của một việc làm được thực hiện để đạ...
Xem Chi tiết
Lòng trắc ẩn (Compassion, lòng từ bi, lòng thương xót):    Lòng trắc ẩn ngược lại với sự đam mê (passion). Đam mê hàm ý ích kỷ và tham lam (grasping). Nhờ có lòng từ bi, con người không còn bận tâm với các quyền lợi ích kỷ của riêng mình mà tiến nhập vào và hứng chịu đau khổ với huynh đệ của mình. Y...
Xem Chi tiết
Cuộc sống con người chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy luân hồi. Kiếp này nối tiếp kiếp khác, thừa hưởng và kế thừa lẫn nhau. Gặp nhau là bởi chữ duyên sống và yêu nhau là bởi chữ nợ. Vậy nên mới có nhân quả luân hồi hay số kiếp. Phật dậy: 1. Phong thủy ứng dụng và tâm linh đều cho rằng, những ng...
Xem Chi tiết
+ Giải thoát: Đối với nhân loại, cái huyền nhiệm của sự giải thoát nằm trong việc làm cân bằng các mãnh lực và làm quân bình các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà người tìm đạo phải tìm ra và bước lên, không rẽ sang phải, cũng không sang trái. (LVHLT, 225) + Phật ...
Xem Chi tiết
+ Chúng sinh : Sattva (Bắc Phạn), Creatures. + Tát đóa, tát đỏa: Sattva (chúng sinh). + Chúng Sinh Hữu Tình: Nếu chỉ nói hết thảy chúng sanh, Tứ Thánh pháp giới ngoài sáu nẻo cũng là chúng sanh, cũng thuộc về chúng sanh hữu tình; nhưng khi thêm chữ "chưa giải thoát‟ bèn ...
Xem Chi tiết
+ Chứng được chánh giác: Chỉ cần đoạn tham sân si là chứng được chánh giác - Là bậc A La Hán.  Trong Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quí vị đã chứng được chánh giác rồi, không c&...
Xem Chi tiết
+ Subhadda vẫn nài nỉ xin gặp Đức Phật trước khi Ngài nhập diệt. Ngài gọi Ānanda đến và nói:“Ānanda, hãy để Subhadda đến gặp Như Lai. Ông ấy rất thông minh và đầy đủ căn cơ để lãnh hội được những gì Như Lai nói với ông.” Thành kính đảnh lễ Đức Phật xong, Subhadda hỏi:“Thưa Tôn Giả Cồ Đàm, những vị l...
Xem Chi tiết
+ Chánh niệm là nhớ đúng nghĩ đúng, là giai đoạn thứ 7 trong Bát Thánh đạo. - Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức. - Chánh niệm có nghĩa là lìa mọi phân biệt mà niệm thực tính của chư pháp. - Theo Bát Chánh Đạo, chánh niệm là “Nhất Tâm.- Nơi thân tỉnh thức bằng cách thực tập tập trung v...
Xem Chi tiết
KINH CHÁNH KIẾN: Tôi đã được nghe, có tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên đến thăm, sau khi đảnh lễ dưới chân Đức Phật, tôn giả ngồi xuống một bên và thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn. Cúi xin Người giảng giải ý nghĩa của từ Chánh kiến, Phật bảo: - Người đời thường nghiêng về 2 khuynh hướng nhận thức, một là có...
Xem Chi tiết
+ Chứng được chánh giác: Chỉ cần đoạn tham sân si là chứng được chánh giác - Là bậc A La Hán.  Trong Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quí vị đã chứng được chánh giác rồi, không c&...
Xem Chi tiết
+ Đọc Kinh, Niệm Chú nhiệm mầu: Người đọc tụng được 6/7 phần, người nghe/ người bạn vì họ mà đọc/ Hồi hướng cho họ thì họ được một phần. Mỗi ngày đọc Kinh, đọc một biến, hoặc hai biến. Lúc đọc Kinh nhất định ghi nhớ phải dùng tâm chân th&a...
Xem Chi tiết
Toàn giác (Full illumination): Con người tâm linh (spiritual man, Chân nhân) chiêm ngưỡng (contemplation), nghiên cứu và tham thiền về thế giới nguyên nhân, về “các sự việc của Thượng Đế” (“things of God”). Lúc bấy giờ, Chân nhân sử dụng khí cụ đã được kiềm chế của mình, tức trí tuệ (được kiềm ch...
Xem Chi tiết
I- KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN THEO MINH TRIẾT MỚI+ Không gian: Minh Triết Cổ dạy rằng “Không gian là một thực thể." Chiêm tinh học nội môn liên quan đến đời sống của thực thể này và đến những mãnh lực và những năng lượng, những xung động và nhịp điệu, những chu kỳ và thời gian và mùa tiết Chiêm tinh họ...
Xem Chi tiết
+ Các Hàng Đại Thừa - Thanh văn: - Các vị có căn cơ Đại thừa đều nhận rõ tâm tính viên mãn sáng suốt. - Duy chỉ có các vị trong hàng Thanh văn tuy đã phá được chấp ngã, nhưng vẫn còn chấp pháp nên không thấu rõ cái chơn đối với cái vọng mà chưa lãnh hội được. (Nguồn)...
Xem Chi tiết
1. Hai Quan Điểm Triết Lý Tôn Giáo khác biệt:- Tôn Giáo Hữu Thần: Có Thượng Đế - Mọi thứ là do Thượng đế tạo nên- Tôn Giáo Vô Thần: Không Có Thượng Đế. Ví dụ như Kỳ Na giáo, Phật giáo, và Ấn giáo, một con người có nhiều kiếp sống. Họ tin rằng một số kinh nghiệm trong kiếp sống này là hậu quả của nhữ...
Xem Chi tiết
+ Tôi đã làm rất nhiều việc tốt, việc tốt là phước đức, phước đức còn đó. Phước đức không bị sân hận chướng ngại (Làm mất). Bạn hằng ngày nổi giận, phước báo bạn tu vẫn còn đó. Phật ở trong kinh nói cho chúng ta biết, A-tu-la phước báo rất lớn. A-tu-la tu thành như thế nào vậy? Đều là ở trong cửa Ph...
Xem Chi tiết
+ Tu Hành - Phật dậy: " Tu 1 ngày 1 đêm ở cõi ta bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả 100 năm. Tại sao vậy? Cõi nước của đức phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở ta bà 10 ngày đêm hơn làm lành 1000 năm ở các cõi phật khác. Vì cõi nước phật, không có duyên để làm ác, chỉ...
Xem Chi tiết
+ Phật Giáo là Pháp chân thật, chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay mê đắm trong sanh tử lục đạo, Phật lay tỉnh chúng ta, dạy chúng ta phải giác ngộ. Chân Chánh Giác ngộ thì Ngã chẳng còn nữa, bạ...
Xem Chi tiết
Hào quang (Aura): Hào quang của con người có hình dáng bên ngoài là một lùm mây sáng có hình trứng (egg-shaped luminous cloud), ở giữa đám mây là nhục thân (dense physical body). Do cái hình dáng bên ngoài đó mà hào quang thường được nói đến như là không có gì khác hơn là một đám mây. Những gì th...
Xem Chi tiết
Thông hiểu (hiểu biết, understanding): Có thể định nghĩa thông hiểu là khả năng của Chủ thể Tư tưởng (thinker) vào đúng lúc, nhận được kiến thức (knowledge) để làm căn bản cho minh triết (wisdom), khiến cho chủ thể này sửa đổi những gì thuộc hình hài cho thích hợp với sự sống tinh thần, đồng thời...
Xem Chi tiết
“Kinh A Hàm kể rằng có lần một đệ tử hỏi Phật Thích Ca: – “Bạch Thế Tôn, giáo pháp của Thế Tôn có thể tóm tắt nói lên bằng một câu rất đơn giản hay không?” Phật trả lời: “Có thể”. Đệ tử lại hỏi: “Đó là câu gì?” Phật nói: – “Đối với tất cả, đều không chấp trước. Đó là lời nói quan trọng n...
Xem Chi tiết
Bo hay Bồ Đề thọ (Bodhi tree), cây “tri thức” (tree “knowledge”), tức là Pippala hay Ficus religiosa trong thực vật học. Chính là dưới cây này mà Đức Sakyamuni thiền định trong bảy năm và đạt được Phật quả (Buddhaship). Tương truyền lúc đầu cây cao được 400 feet (121,6m), nhưng khi Ngài Huyền Trang ...
Xem Chi tiết
+ Cung Kính: Mình tự khiêm nhường mà tôn trọng lễ kính người khác. Cung kính thông cả ba nghiệp thân khẩu ý. Cung kính, nghĩa là nhớ đến công đức và tôn trọng người ấy (Ý nghiệp). Cũng nghĩa là tôn trọng lễ bái, đón đến đưa đi, chắp tay đứng hầu ở gần (thân nghiệp). - Đem pháp Tiểu thừa giáo hóa ...
Xem Chi tiết
+ Phát Biểu theo Đời sống nhân sinh:- Ý kiến phát biểu: Khi nhận xét, đánh giá về một sự vật, một con người, hay một hành động thì đó được gọi là “ý kiến”. Thí dụ: Nhận xét về mootjngwowif hay vật, các ý kiến khác nhau không dễ chứng minh được là đúng hoặc sai.- Nói Theo Sự kiện: Là khái niệm về một...
Xem Chi tiết
+ Lịch sử của ước vọng nằm trong 4 cung: Taurus, Libra, Scorpio, Pisces (CTHNM, 261), cụ thể: 1. Taurus – Kim Ngưu của Dục Vọng – Ham muốn vật chất chi phối. (Sự Sống) 2. Libra – Sự thăng bằng của dục vọng – Mục tiêu ngược với ước vọng là cái cân (scales) hay các thăng bằng (balances). (Sự thăng ...
Xem Chi tiết
Địa ngục (hell): Như bạn biết rõ, không có vị Thượng Đế phẩn nộ (no angry God), không có địa ngục (no hell) và không có việc chuộc tội thay (no vicarious atonement). Chỉ có một nguyên khí bác ái vĩ đại làm sinh động toàn thể vũ trụ; có Bản Lai Diện Mục của Đức Chirst hướng dẫn cho nhân loại biết sự ...
Xem Chi tiết
+ Luân hồi (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  + Người ta cho rằng bí nhiệm ẩn tàng trong 777 lần luân hồi. Con số này đem lại cơ hội cho nhiều suy gẫm. Cần nói rõ rằng đó không phải là con số chu kỳ luân hồi mà con người phải vượt qua nhưng nó nắm giữ chìa khóa cho 3 chu kỳ...
Xem Chi tiết
Âm thanh (sound, âm)  Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh... Xin bạn luôn luôn nhớ rằng mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc. (TVTTHL, 205)  Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này...
Xem Chi tiết
+ Bốn loại sống chung (KinhTăng chi I): - Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. - Đê tiện nam sống chung với Thiên nữ. - Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. - Thiên nam sống chung với Thiên nữ” + “Vợ thờ chồng có 5 việc: 1. Chồng đi đâu về phải đứng dậy nghênh tiếp; 2. Chồng...
Xem Chi tiết
Tsong–kha–pa (Tây Tạng): Còn được viết là Son–kha–pa. Một nhà cải cách nổi tiếng ở Tây Tạng vào thế kỷ thứ 14, Ngài đã đưa vào quê hương của Ngài một hệ thống Phật giáo đã được thanh lọc. Vốn là một Đại Đạo Đồ (great Adept), vì không thể chứng kiến thêm nữa sự mạo phạm triết lý Phật giáo của các ...
Xem Chi tiết
+ Tháng sinh cho biết ngày cơ hội. Cánh cửa rộng mở. Tháng đặc biệt mà một Linh hồn đi vào luân hồi được biểu thị cho linh hồn đó tháng mà linh hồn đã thoát ra vòng luân hồi trong một chu kỳ sống trước đây. Thí dụ, nếu linh hồn đã qua đời trong tháng được chi phối bởi cung Leo, nó sẽ tái sinh trong ...
Xem Chi tiết
+ Phước nghiệp - Tu phước: Có 3 căn bản: 1. Hạng người sau đây, khi thân hoại mạng chung, được sanh làm người không may mắn vì: - Làm phước do bố thí trên một quy mô nhỏ - Làm phước do giới đức trên một quy mô nhỏ - Làm phước do tu tập trên một quy mô nhỏ. 2. Hạng Người, sau khi thân hoại mạng ...
Xem Chi tiết
+ Trái đất (và Thổ tinh) truyền dẫn Cung 3, nó tự quay ngược chiều kim đồng hồ (Các hành tinh trong hệ mặt trời cũng quay xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ). Nguồn: (GQ1- Cấu tạo con người) + Venus: Hành tinh thánh thiện Venus - Kim tinh so với Địa cầu giống như Chân ngã so với Phàm ...
Xem Chi tiết
Tri thức: - Tri thức là minh triết cổ chân chính.(ASCLH, 140) - Tri thức là sản phẩm của Phòng Học Tập, dùng để chỉ toàn thể những tìm kiếm và kinh nghiệm của con người, qua 5 giác quan và có thể được liên kết, giải đoán và định nghĩa bằng cách dùng trí năng con người. Đó là những điều mà ta cảm th...
Xem Chi tiết
+ Tiền Tài: Chỉ có kẻ nào không ham muốn gì hết cho riêng mình mới có thể trở thành kẻ thu nhận nguồn tài chính phong phú và là kẻ phân phối tài nguyên của vũ trụ. Trường hợp khác, khi tài sản gia tăng, chúng không đem lại điều gì ngoại trừ phiền não, lo lắng, không vừa lòng và lạm dụng.(ĐĐNLVTD, 78...
Xem Chi tiết
+ Tinh tấn: Theo nghĩa đen là luôn luôn thực hành, lặp lại không ngừng và nỗ lực không ngưng nghỉ để đặt nhịp điệu mới lên trên nhịp điệu cũ, xóa bỏ những thói quen và các hoạt động đã ăn sâu bằng cách tạo nên ấn tượng của linh hồn. Tinh tấn là luôn luôn cố gắng để hạn chế các hoạt động của thể trí...
Xem Chi tiết
Thần lực (Forces, Shaktis): Có sáu thần lực của Thiên nhiên. Sáu thần lực này là gì? a/ Chúng là các loại (types) năng lượng. b/ Chúng là tính chất hay đặc tính năng động của một Hành Tinh Thượng Đế. c/ Chúng là sinh lực của một Hành Tinh Thượng Đế được định hướng vào một hướng nào đó....
Xem Chi tiết
+ Thân Tâm hay Danh Sắc: Đức Phật dạy rằng con người là sự tập hợp của 2 thành phần chính gọi là danh và sắc. - Danh - Tâm: Là phần tư tưởng gồm có 4 hợp tố, đó là thọ, tưởng, hành và thức. - Sắc - Thân xác: gồm có nội sắc và ngoại sắc, nhưng đại để là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa. Xem nguồn...
Xem Chi tiết
CÁC DỤC VỌNG CỦA CON NGƯỜI: THAM SÂN SI VÀ ÁI DỤC1. THAM LAM - ĐỐI TRỊ= GIỮ GIỚI TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ:+ “Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham c...
Xem Chi tiết
Rupa Loka (Sắc giới): Cõi của sắc tướng (world of forms) – nghĩa là của những cái không thực (cái bóng, shadows) thiên về tinh thần hơn, có hình tướng và biểu lộ ra ngoại cảnh nhưng không có thực chất (nosubstance).     (PGNM, 69–70)...
Xem Chi tiết
+ Phật lại dạy rằng: “A Nan, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, thì cũng như người tu bịt hai lỗ tai của mình, la tiếng thật lớn, mà muốn cho mọi người không nghe thì không thể được&rdq...
Xem Chi tiết
+ Người Sợ Quỷ 3 phần - Quỷ sợ người 7 phần (Nguồn - PS Tịnh Không giảng)+ Có 8 bộ quỷ thần: Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già (HT T.Không-Kinh Phật); Tin gốc + Quỷ thần Quy Y và nghe kinh: Nhiểu Quỷ thần cũng muốn được quí vị làm lễ quy y cho họ đi....
Xem Chi tiết
+ Phật lại dạy rằng:- A Nan! Bồ-đề Niết bàn còn xa, nếu ông không siêng năng tu tập, dù ông có nhớ diệu nghĩa 12 bộ kinh của thập phương Như Lai cũng chỉ thêm nhiều hý luận. Dù ông có huân tập đa văn, ông cũng không tự hóa giải nạn Ma Đăng Già, dù nhiều kiếp nhớ ghi diệu pháp của Phật, cũng không bằ...
Xem Chi tiết
+ Phát Tâm/ Phát bồ đề tâm: Chỉ cho tâm phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề. Tức phát khởi tâm mong cầu giải thoát khổ nạn, được vãng sinh Tịnh độ hoặc thành Phật. Tâm bồ đề là hạt giống của tất cả chư Phật, là thửa ruộng tốt nuôi lớn pháp thanh tịnh. Khi phát tâm này rồi, phải siêng năng tiến tu để mau...
Xem Chi tiết
Nhất tâm, Nhất tâm bất loạn (Tension): Ý nghĩa huyền bí của “nhất tâm” (chừng nào mà tôi có thể giải thích nó bằng ngôn từ hữu hạn) là “Ý chí tập trung bất biến” (“focused immovable Will”). Sự nhất tâm đúng đắn là sự đồng nhất hóa của bộ óc và linh hồn với trạng thái ý chí, và cách duy trì sự đồn...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
+ Ðức Phật dạy: - Nước theo lối cũ: Chỗ đất bị nước mạnh xoáy lở thì dù 100 năm sau, cũng không nên dựng lại một cái gì trên ấy. Vì dòng nước sẽ theo thói cũ mà lôi cuốn đi mất tất cả. - Người có ác tâm mà bây giờ họ bảo mình là bắt đầu làm lành thì mình quyết không tin vội. Vì, tâm ác của họ chưa...
Xem Chi tiết
+ Luân hồi (Incarnation, đầu thai, lâm phàm): X. Định luật luân hồi:  + Người ta cho rằng bí nhiệm ẩn tàng trong 777 lần luân hồi. Con số này đem lại cơ hội cho nhiều suy gẫm. Cần nói rõ rằng đó không phải là con số chu kỳ luân hồi mà con người phải vượt qua nhưng nó nắm giữ chìa khóa cho 3 chu kỳ...
Xem Chi tiết
Hóa thân (Avatar, Avatara) : Hóa thân là một Đấng (Being): – trước tiên đã phát triển bản chất (nature) của riêng Ngài, con người và thiêng liêng, và sau đó, siêu việt được (transcended) bản chất đó; – có khả năng phản chiếu (reflecting) một số nguyên khí (principle) vũ trụ hoặc tính chất và năng...
Xem Chi tiết
+ 18 Giới: (Thập bát giới) gồm:- 6 Nội giới: Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trong cơ thể, gọi là nội giới; - 6 Ngoại giới: Sáu trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm, các pháp) bên ngoài, gọi là ngoại giới;- 6 Trung giới: Sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, ...
Xem Chi tiết
Giác ngộ (Illumination): Sự giác ngộ và ánh sáng của tri thức có thể được xem như là các thuật ngữ đồng nghĩa.    (ACMVDCTG, 144) Sự giác ngộ và nhận thức chân lý cũng là các thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng trong trường hợp này, chân lý không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng ...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy về loài Người bị luân hồi là nguyên do: Trong Tánh của mỗi con người có đến 16 thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.- Tánh Phật: Trong mỗi con người có 5 cái tánh Phật làm nhân cho sự sống:1- Ý là chủ 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói, Biết....
Xem Chi tiết
+ Cõi Trời - Kiêu Mạn - Kiêu hãnh và Ngã mạn hay Kiêu căng và Ngạo mạn: Phía trên của vòng Khổ là cõi Trời với đặc điểm là đời sống hoan hỷ đủ đầy với mạng sống kéo dài. Chúng sinh được sinh vào đây do 10 thiện nghiệp, đó là không sát đạo dâm vọng (ác khẩu, hai lưỡi, thêu dệt, nói dối), tham sân si....
Xem Chi tiết
+ Công đức chính là tâm thanh tịnh. Nếu như dùng danh từ pháp tướng Phật pháp để nói, thì công đức chính là định tuệ. Bạn thấy trong tâm vừa nổi giận, thì định tuệ lập tức mất ngay, cho nên đốt cháy rừng công đức. - Công đức mới có thể dứt sanh tử ra khỏi tam giới. Cái này chúng ta nhất định phải h...
Xem Chi tiết
+ Chứng được chánh giác: Chỉ cần đoạn tham sân si là chứng được chánh giác - Là bậc A La Hán.  Trong Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quí vị đã chứng được chánh giác rồi, không c&...
Xem Chi tiết
+ Đức tin (Faith): Sức mạnh của đức tin có thể làm khởi động (set in motion) các năng lượng cao siêu (superior energies), các năng lượng này có thể vô hiệu hóa (negate) hay làm cản trở (retard) bệnh tật. Toàn thể chủ đề về đứ...
Xem Chi tiết
* Kẻ tìm đạo: Bản chất thấp trở nên bị trì trệ và nặng nề, còn ngọn lửa nội tâm không thể tỏa chiếu khi có thịt trong thức ăn thường ngày. Kẻ tìm đạo có thể chọn ăn thịt hay không tùy ý, nhưng sẽ đến lúc, điều thiết yếu là chấm dứt việc ăn mọi thứ thịt và chú ý nhiều vào thức ăn hằng ngày. (ĐĐNLVTD,...
Xem Chi tiết
+ Ngũ Giới: + Nói lời hung ác: Là nói những tiếng thô tục cộc cằn chửi rủa, làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi. Nguồn: Kinh phân biệt thiện ác báo ứng + 2. Không mắng nhiếc, mạ lỵ, phỉ báng, nhục mạ - Gây đau lòng, tổn thương: Không xúc phạm = lời nói hung ác, xiên xỏ, nguyền rủa, phỉ...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
+ Tu Hành - Phật dậy: " Tu 1 ngày 1 đêm ở cõi ta bà hơn làm lành ở cõi Vô Lượng Thọ cả 100 năm. Tại sao vậy? Cõi nước của đức phật đó đều hành thiện tích đức, không có một chút ác. Tu thiện ở ta bà 10 ngày đêm hơn làm lành 1000 năm ở các cõi phật khác. Vì cõi nước phật, không có duyên để làm ác, chỉ...
Xem Chi tiết
+ Hạ Trí hay chỉ trích có các tính chất (CTHNM, 231): 1. Kiêu hãnh – Chính là sự thỏa thích của trí óc, làm cho thể trí trở thành chướng ngại cho sự kiềm chế linh hồn. 2. Tính chia rẻ – Chính là thái độ cách ly, nó làm cho thể trí thành chướng ngại đối với các liên hệ tập thể chính đáng. 3. Tàn b...
Xem Chi tiết
Thí chủ : còn gọi là đàn việt (danapati)....
Xem Chi tiết
CÁC DỤC VỌNG CỦA CON NGƯỜI: THAM SÂN SI VÀ ÁI DỤC1. THAM LAM - ĐỐI TRỊ= GIỮ GIỚI TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ:+ “Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham c...
Xem Chi tiết
+ Phật lại dạy rằng: “A Nan, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn cầu được đạo, thì cũng như người tu bịt hai lỗ tai của mình, la tiếng thật lớn, mà muốn cho mọi người không nghe thì không thể được&rdq...
Xem Chi tiết
+ Các dạng lời nói tạo khẩu nghiệpI- Kinh Thập thiện, khẩu nghiệp gồm:1. Nói Dối trá: Tức nói không Chân thật/ Thật Thà - Nói Thêu dệt hay Nói Thêm Bớt - Nói A dua nịnh hót2. Nói Độc Ác - Ác khẩu - Nói Quát tháo - Nói Hung Ác - Nói Nhục mạ, Phỉ báng3. Nói Hai Lưỡi - Đôi Chiều - Đòn Sóc 2 đầu4. Nói L...
Xem Chi tiết
+ Như Lai - Tên gọi của một Đức Phật: Như là bất biến - Lai là tùy duyên- Như Lai Tạng bây giờ nếu tùy duyên tác động vào tâm chúng sinh, con người sẽ phát sinh ra những cảm giác vui buồn, hờn giận, thương ghét, tốt xấu, hơn thua, phải quấy…nhưng nếu chúng sinh biết xoay về bản thể chân thật của mìn...
Xem Chi tiết
+ Ngũ Dục: Chữ “dục” này là ngũ dục: 1- Tài dục: Ham muốn tiền bạc của cải, vàng ngọc, tài sản vật chất. 2- Sắc dục: Đắm say đam mê sắc đẹp mỹ miều, gồm 6 trần: - Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt. - Thính dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt…. - Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào…...
Xem Chi tiết
Góc Mùa Thu: Gồm nhà thứ 7, 8 và 9, an ninh được tìm kiếm và thành lập ở góc phần tư thứ hai được mở rộng để bao gồm bạn tình hoặc bạn đời của chúng ta và những người mà chúng ta hợp tác. Trong góc phần tư mùa thu này hạt giống của sự hoàn thành thông qua sự tìm kiếm sự bổ sung phù hợp với tài năng,...
Xem Chi tiết
Màu sắc chỉ là phương tiện biểu lộ ra bên ngoài để nhờ đó mà mãnh lực bên trong tự truyền chuyển (TVTTHL, 211) - Nên nhớ rằng, màu sắc chính là cách nhận thức về mức rung động mà mắt người tiếp nhận được, đây là người đang sử dụng thể xác của căn chủng thứ năm, trong cuộc tuần hoàn thứ tư trên dãy ...
Xem Chi tiết
+ Lễ Phật - Lậy Phật: CÔNG ĐỨC LẠY PHẬT RẤT LỚN: “Thân vô tà hạnh”, tốt nhất là lạy Phật nhiều hơn, công đức lạy Phật rất lớn, hiệu quả lại vô cùng thù thắng. Nếu như mỗi ngày lạy 100 lạy, mãi không gián đoạn, lạy được một năm thì quý vị nhất định khoẻ mạnh trường thọ, thân thể dẻo dai, không sinh b...
Xem Chi tiết
Đức Đại Lai Lạt Ma hướng dẫn cách ứng sử với người gặp khổ đauHỎI: Tôi muốn biết mục tiêu của đời sống là gì và ngài có tin tưởng vào định mệnh hay không? Nếu có, thế thì vai trò của định mệnh trong đời sống là gì?ĐÁP: Theo quan điểm của Phật giáo (mặc dù quan điểm của riêng tôi thì khác), đôi mắt, ...
Xem Chi tiết
Hoan hỷ (Joy): Là một tính chất của linh hồn và được nhận thức trong thể trí, khi sự chỉnh hợp xảy ra.                                                                  (LVHLT, 369)...
Xem Chi tiết
+ Giới Dâm: Nếu Phật tử tự mình dâm dục, bảo người dâm dục với tất cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ, cùng phi đạo mà hành ...
Xem Chi tiết
PHẬT DẬY CHỈ RÕ CHỖ HƯ VỌNG CỦA SÁU CĂNBạch Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Vì sao đi sâu vào một căn lại có thể khiến cho sáu căn đồng thời thanh tịnh? Phật dạy rằng:-A Nan! Ông được quả Tu Đà Hoàn, song tập khí vô thỉ còn thiếu, chưa thể một lúc tháo gở những lớp vô minh: sinh, trụ, dị, diệt.-Ông hãy xét...
Xem Chi tiết
+ Bát Nhã: ... Đây là nguyên khí (principle) giúp cho sự Giác Ngộ (Enlightement) có thể xảy ra nơi chúng ta cũng như nơi Đức Phật (Buddha). Không có trí huệ thì không thể có sự giác ngộ, đó là quyền năng tâm linh cao siêu nhất (highest spiritual power) mà chúng ta có được. Trí tuệ (the intellect) .....
Xem Chi tiết
Ý niệm (idea, ý tưởng): Ý niệm là một thực thể vô hình, chính nó không có sự sống nhưng nó mang lại hình ảnh và dạng thức cho vật chất vô định hình (shapeless matter) và trở thành nguyên nhân của biểu lộ.(TTTĐTG, 238) Ý niệm từ cõi trực giác đến với chúng ta.(ACMVĐCTG,  54) Ý niệm...
Xem Chi tiết
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Xem: Nguồn ...
Xem Chi tiết
+ Giới Dâm: Nếu Phật tử tự mình dâm dục, bảo người dâm dục với tất cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ, cùng phi đạo mà hành ...
Xem Chi tiết
Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan ...
Xem Chi tiết
Sợ sệt (Fear, sợ hãi, lo ngại): Nên loại bỏ mọi sự sợ sệt. Các mãnh lực tiến hóa thăng thượng (evolution) rung động mau hơn là các mãnh lực tiến hóa giáng hạ (involution) và trong sự kiện này có hàm chứa một sự an toàn có thể nhận thức được. Sợ sệt tạo ra yếu đuối (weakness). Yếu đuối tạo ra tan ...
Xem Chi tiết
+ Lập đại nguyện - Phát Tâm Bồ Đề: Phật nói: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát, khi thoạt mới phát tâm Bồ Đề phải lập đại nguyện, và nói như thế này: “Nếu tôi chứng được đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác, tôi sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an trụ trong cảnh đại Niết B...
Xem Chi tiết
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Xem: Nguồn ...
Xem Chi tiết
* Lễ Bái - Lễ Lậy - Lễ Lạy: Ðức Phật dạy Lế 6 phương: 1. Phương đông - Cha mẹ, con làm 5 việc: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng. Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác...
Xem Chi tiết
La hán (Arhat), một cách viết khác:  Arhan.   (GLTNVT,  244)    Tức là vị đệ tử được điểm đạo ở cấp thứ tư.   (LVHLT, 263) La sát : X. Rakshara....
Xem Chi tiết
+ Bổn phận của cha mẹ đối với con cái, đức Phật đã dạy: - Con làm 5 việc với Cha Mẹ: Một là phụng dưỡng cha mẹ. Hai là làm công việc thay cha mẹ. Ba là gìn giữ gia phong. Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế. Năm là tạo phước hồi hướng. - Cha mẹ làm 5 việc: Một là ngăn con không làm điều ác. Hai l...
Xem Chi tiết
+ Nghĩa đen, là Vị mà tâm thức trở thành thông tuệ hay có tuệ giác. Các Ngài chỉ cần thêm một lần lâm phàm nữa là trở thành Đức Phật hoàn thiện. Như được dùng trong các sách này, Bồ Tát là danh xưng chỉ chức vụ mà hiện nay Đức Di Lạc đang giữ. Ở Phương Tây, Ngài được biết như là Đức Chirst. Chức vụ ...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật trong Kinh dạy: "Tu tài bố thí thì sẽ có tiền của. Tu pháp bố thí thì được thông minh trí tuệ. Tu vô úy bố thí thì được khoẻ mạnh sống lâu".--- Pháp Sư Tịnh Không!  Xem thêm * Kinh Phân biệt Bố thí, Ðức Phật dạy: "Cho 100 người ác ăn không bằng cho 01 người thiện ăn. Cho 1.000 người thiệ...
Xem Chi tiết
+ Nợ nhau - Nhân Duyên trong đời quá khứ. Đức Phật nói 4 loại: 1) Loại thứ nhất là báo ân: Trong đời quá khứ, 2 bên có ân huệ với nhau, nếu chúng nó lại thấy quý vị, bèn đầu thai vào nhà...
Xem Chi tiết
(trụ vào, polarize or centrehimself – ASCLH, 251) – Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của mình”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngã hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.(LVHLT, 112) – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận ...
Xem Chi tiết
Plato (Platon, Pháp ngữ): – Plato là đệ tử được điểm đạo.         (GLBN III, 268) – Giống như Khổng Tử, Plato thuộc giai tầng tiến hóa cao về trí tuệ, tâm linh và tinh thần. Dầu đang ở trong cuộc tuần hoàn 4, ông có trình độ tiến hóa cực cao của cuộc tuần hoàn 5.                           (GLB...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
CÁC DỤC VỌNG CỦA CON NGƯỜI: THAM SÂN SI VÀ ÁI DỤC1. THAM LAM - ĐỐI TRỊ= GIỮ GIỚI TRONG GIỚI ĐỊNH TUỆ:+ “Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. Đắm say, thích thú muốn có nhiều những thứ mình ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng v.v… Lòng ham đó chẳng hề biết chán, càng được thời càng ham. Tham c...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Tuệ giác (buddhi, bồ đề, trực giác): Linh hồn hay trí tuệ vũ trụ. Đó là hồn tinh thần (spiritual soul) nơi con người (nguyên khí thứ 6) và do đó, là hiện thể của Atma, Tinh thần, vốn là nguyên khí thứ 7. (ĐĐNLVTD, 217) - Buddhi dùng manas (Thượng trí) như là một hiện thể (vehicle).(LVLCK, 684) -...
Xem Chi tiết
+ Tiền Tài: Chỉ có kẻ nào không ham muốn gì hết cho riêng mình mới có thể trở thành kẻ thu nhận nguồn tài chính phong phú và là kẻ phân phối tài nguyên của vũ trụ. Trường hợp khác, khi tài sản gia tăng, chúng không đem lại điều gì ngoại trừ phiền não, lo lắng, không vừa lòng và lạm dụng.(ĐĐNLVTD, 78...
Xem Chi tiết
+ Phật (Buddha): Danh xưng dành cho Đức Gautama (Cồ Đàm). Ngài ra đời ở Ấn Độ vào khoảng năm 621 trước Thiên Chúa, trở thành Đức Phật toàn giác năm 592 trước Thiên Chúa. Đức Phật là “Đấng Giác Ngộ” và đã đạt được mức tri thức cao nhất có thể có được đối với con người trong Thái Dương Hệ này. (ĐĐTNLV...
Xem Chi tiết
+ Cung Hoàng Đạo Hành Thủy (Âm): Góc hợp cứng vuông góc và đối nghịch (Kỳ công 4-8-12) Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm...
Xem Chi tiết
+ Nhân - Chỉ Con người tốt lành, tiến hóa thăng thượng. VD: Mộc chủ về Nhân + Nhân tức Con người: Đức Phật trong 12 nhân duyên, điểm 10. Hữu: Là có, tồn tại hay sự sống. Vì thủ chấp ắt tạo nghiệp, là động lực cho sự tái sinh, là một sự tồn tại mới hay một đời sống mới. Tâm chấp thủ gieo vào Tạng th...
Xem Chi tiết
Ghét (hate): Là có ác cảm (aversion) với bất cứ đối tượng nào của các giác quan.    (ASCLH, 136)...
Xem Chi tiết
+ Kinh cúng thí người mất: Bạch đức Thế Tôn, con là bà-la-môn chuyên làm các lễ cúng cho người chết, lòng những mong sẽ đem lại lợi ích cho họ, như vậy, bạch Thế Tôn, họ có thật sự được lợi ích không? Đức Phật dạy: - Này Bà-la-môn, nếu có tương xứng thì người chết sẽ hưởng được phẩm vật cúng dường....
Xem Chi tiết
+ Sự chết: Công việc của Thượng Đế Ngôi Hai chấm dứt và công cuộc hoá thân thiêng liêng của Ngôi 3 - Ngôi Con kết thúc(LVLCK, 168) + Chết: Là sự triệt thoái ra khỏi tim và đầu, 2 luồng năng lượng – giác tuyến và sinh mệnh tuyến – do đó tạo ra sự mất ý thức hoàn toàn và sự tan rã của thể xác. (CTNM,...
Xem Chi tiết
+ Không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. ... Con người không trị được bệnh,...
Xem Chi tiết
– Cõi nguyên hình, cõi biểu lộ thiêng liêng, cõi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cõi Tối Đại Niết Bàn. – Cõi của Thượng Đế. (LVLCK, 79, 656)...
Xem Chi tiết
Đối–Christ (Anti–Christ): Người tìm đạo thuộc cung hai tạo ra Tổng Quả Báo (Dweller) của mình và để cho sự kềm chế ngày càng mạnh của nó trở thành “kẻ lừa phỉnh của linh hồn” (“deluder of souls”). Y là kẻ Đối–Christ thực sự, và qua giáo huấn sai lầm và sự tác động của những gì được gọi là huyền d...
Xem Chi tiết
    Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Thổ: Dựa vào các giác quan và lí luận thực tiễn; Hiểu biết bẩm sinh về cách thứ...
Xem Chi tiết
Uẩn (skandas): Khi biểu lộ trên cõi trần thì trong mọi sự sống đều có ẩn tàng các mầm hay chủng tử phải kết thành quả, và chính các chủng tử (seeds) tiềm tàng này là cái nhân có hiệu quả đưa đến việc xuất hiện của hình hài. Vào một lúc nào đó, các chủng tử được gieo xuống và phải kết thành quả. Đ...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
    Dương                              Âm Hỏa và Khí                    Nước và Đất Các dấu hiệu số lẻ        Các dấu hiệu số chẵn Tích cực, tự thể hiện    Thụ động, tiếp nhận Năng lượng dương      Năng lượng âm + Thổ: Dựa vào các giác quan và lí luận thực tiễn; Hiểu biết bẩm sinh về cách thứ...
Xem Chi tiết
+ Thể, các thể: Các thể của con người hay các hiện thể biểu lộ được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng. Chúng ta gọi các đơn vị năng lượng này là các nguyên tử và các đơn vị nguyên tử này được giữ lại với nhau dưới hình thức thể bằng mãnh lực cố kết của các năng lượng còn mạnh mẽ hơn. Các thể chín...
Xem Chi tiết
Sốt (Fever): Sốt chỉ là dấu hiệu của đau yếu và là cách thức căn bản để tinh lọc và thải bỏ. Đó là một chỉ dẫn chứ chính nó không phải là một bệnh. Hãy cân nhắc điều này và đưa nó vào mọi cảnh giới, vì cơn sốt ở cõi trần có phần tương ứng của nó ở cõi cảm dục và cõi hạ trí. Đó là năng lượng quá m...
Xem Chi tiết
+ Khi Nói Mặt Trời là Chủ Tinh Cai Quản Một Cung: Tôi nói đến một trong các hành tinh ẩn giấu Uranus hoặc Vulcan. các Hành tinh này có thể thay thế lẫn nhau ở công dụng của chúng, là cái khó khi nếu ra Hành tinh Nội môn, trừ khi bạn được chỉ ra. Do đó Tôi nhắc đến Uranus _(CTHNM, 113) + Mặt Trời đa...
Xem Chi tiết
Tội lỗi (Sin): Sự sa đọa (fall) của con người, sự tiến hóa giáng hạ (involution) của Tinh thần. (LVLCK, 773)...
Xem Chi tiết
Lực (Force, mãnh lực): - Lực chẳng qua chỉ là vật chất ở một trong các trạng thái cao nhất của nó.     (Thư của Chân Sư,   321)    -Là tên gọi để chỉ tất cả các năng lượng mà – sau khi được vận dụng và tập trung đúng – được phóng ra bởi cá nhân hay nhóm theo bất cứ hướng nào và với nhiều động cơ ...
Xem Chi tiết
+ Lửa (Fire): Lửa là một biến phân của vũ trụ năng trên cõi trí. (LVLCK, 43) A- Lửa Đại Thiên Địa: Có 3 phần, khi biểu lộ ra 5 phần - Năm lửa gồm: 4 nhị nguyên (Cho tứ hạ thể): Tiềm nhiệt, Hoạt nhiệt, Lửa Trí tuệ, Hành khí + Nguyên khí thứ 5 Thượng Đế - Thể trí vũ trụ (LVLCK, 38 - 45) 1. Cung 3 -...
Xem Chi tiết
Lao (Tuberculosis): Bệnh lao là kết quả của việc lạm dụng (misuse) năng lượng của cung 2.    (CTNM, 383)...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
Phật chia người vợ ra thành 7 loại (Theo Kinh Phật) 1. Người vợ có tâm địa ác, có ý xấu, không có lòng thương, bỏ rơi chồng mình, yêu những người đàn ông khác, một dâm nữ, chỉ muốn làm phiền lòng người. Ðó là loại vợ sát nhân. 2. Người vợ hay hoang phí của cải tài vật, dù là ít do chồng làm ăn...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Si trong Phật dậy là Người Ngu Si: Có người không biết các pháp thiện, bất thiện, không biết các pháp tội, không tội, không biết các pháp hạ liệt, thù thắng, không biết các pháp dự phần đen trắng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người ám độn ngu si. Xem: Nguồn ...
Xem Chi tiết
AUM: OM - Cách sướng Thánh ngữ và suy ngẫm về nó mang lại hữu ích lớn lao, tóm lược: Ngân lên Linh từ + Đường liên kết => Xuyên qua các lớp áo (Thể trí/ Tình cảm/Dĩ thái) - Bộ Não nhận biết - Tham thiền, nghe được âm thanh (Tiếng nói của im lặng)...(ASCLH, 56). + Ba linh từ được Thái Dương Thượn...
Xem Chi tiết
+ Ma: Khi Phàm ngã tách khỏi Chân Ngã: - Nếu có thể xác, nó trở thành người mất linh hồn. - Nếu không có thể xác, nó trở thành một con ma hay một hình thức của Kẻ Giữ Cửa. (LVLCK, 1017) + Chú giải các loài ma: Tiếng Phạn gọi là Mara, nghĩa là Giết hại, làm não hại thân tâm, tổn hại công đức, phá...
Xem Chi tiết
+ Tâm Tính/ Đức Tính thiện lành: Căn cứ vào Tooltip "Lợi ích của người tu tập theo Thập thiện" và Bát tránh đạo để đánh giá người có các đức tính thiện lành, Tooltip "người đại thiện" theo Đức Phật dậy => Làm căn cứ dự đoán số mệnh (Nguồn: Kinh thập thiện)+ Năm đức tính của con người quân tử theo...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết
+ Đức Phật dạy Phật tử phải tu tập tứ vô lượng tâm: Tâm “Từ” là khả năng hiến tặng niềm vui cho tha nhân, cho người khác. Tâm “Bi” là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang có mặt. Tâm “Hỷ” là niềm vui, lòng thanh thản do từ bi đem tới. Tâm “Xả” là thư thái nhẹ nhàng, tự do, không kỳ thị. Xả có bốn th...
Xem Chi tiết