*08. DỰ ĐOÁN THIÊN CƠ


Chia sẻ:
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIÊM TINH HỌC
DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH THEO GIỜ – NGÀY – THÁNG – NĂM SINH

A – Năng lượng vũ trụ tương tác với Thái dương hệ, các Hành tinhĐịa cầunhân loại và từng người:

I. Dẫn nhập: Các phương pháp dự đoán số mệnh nói chung, Chiêm tinh học nói riêng về mặt bản thể là cách trình bày thuần khiết nhất của chân lý huyền môn trên thế gian vào lúc này, bởi vì nó là khoa học có bàn đến các năng lượng và các lực đang chi phối và cai quản, chúng tác động qua và vào trong toàn thể lĩnh vực không gian và tất cả những gì nằm trong lĩnh vực đó.
– Các mối liên hệ giữa các thực thể cá nhân, hành tinh, thái dương hệvũ trụ sẽ được hiểu rõ và lúc bấy giờ chúng ta sẽ bắt đầu sống một cách khoa học. Chính cách sống hợp khoa học này mà mục tiêu trước mắt của khoa chiêm tinh học cần phải mang lại.
– Nhờ Chiêm tinh học y có thể tìm ra vận mệnh của mình và biết những gì y lên làm.
 (Trích lời dậy của Chân Sư DK trong Chiêm tinh học nội môn, trang 11)

” Một danh sách – không hoàn chỉnh nhưng cũng đầy đủ cho các mục tiêu của chúng ta – trong số các ảnh hưởng chính, các ảnh hưởng này đang tìm kiếm con đường của chúng từ Các Cội Nguồn xa xăm, đi vào sự sống hành tinh chúng ta và tạo ra các hiệu quả nhất định lên trên con ngườibiệt và nhân loại nói chung.(CTHNM, 22)

CHÍN (9) NĂNG LƯỢNG VŨ TRỤ CHỦ YẾU CÓ ẢNH HƯỞNG MẠNH MẼ
TÁC ĐỘNG LÊN CON NGƯỜIHÀNH TINH CHÚNG TA

Nhóm STT TÊN GỌI Ghi chú
I 1    1. Tinh tòa Đại Hùng                    (Great Bear,                 Gấu Lớn). 
2    2. Thất Tỉ Muội                            (Seven Sisters) của       tinh tòa Pleiades. 
3    3. Sirus,                                         the Dog Star               (Sao Thiên Cẩu).
II 4           1. Bảy thái dương hệthái dương hệ chúng ta là một
5           2. Bảy hành tinh thánh thiện trong đó hành tinh chúng ta không phải là một.
6           3. Năm hành tinh không thánh thiện hay các hành tinh “ẩn tàng”.
III 7    1. Bảy trung tâm hành tinh.
8    2. Bảy trung tâm lực trong thể dĩ thái con người.
IV 9           1. Mười hai chòm sao của hoàng đạo.
* Lên nhớ: Còn ảnh hưởng bức xạ trực tiếp đến với chúng ta từ hành tinh mà chúng ta sống, tức Địa Cầu. Lúc bấy giờ, và chỉ lúc bấy giờ, bạn có thể có một phân tích và hình ảnh tạm đầy đủ về các năng lượngthể dĩ thái của con người (đang chi phối xác thân vốn nổi bật về tính chất máy móc và tiêu cực trong các phản ứng của nó) phải và nhất định là bao giờ cũng đáp ứng.(CTHNM, 23)
* Nguồn năng lượng ít ảnh hưởng: Cần thêm các luồng năng lượng khác vào các dòng năng lượng này, chúng có tác động rõ rệt và ảnh hưởng lên sự sống hành tinh chúng ta, như là các dòng năng lượng đến từ đại tinh tú Betelgeuse, hoặc là từ Antares và các mặt trời vĩ đại khác, cũng như các thái dương hệ vốn có liên kết với các chòm sao của hoàng đạo và thần lực của chúng đến chúng ta qua các chòm sao này chứ không đến trực tiếp. (CTHNM, 23)
………. ……………………………………………………………………………………………………………. …………

II. ÁP DỤNG VÀO GIẢI ĐOÁN SỐ MỆNH VÀ CẢI MỆNH VỚI HAI NHÓM NGƯỜI: Trước tiên, con người học cách kiềm chế các phản ứng của mình đối với các hành tinh khi chúng chi phối và điều khiển các sự việc thuộc phàm ngã của y từ các “trạm” (“stations”) khác nhau của chúng trong mười hai cung (houses) của lá số tử vi của con người. Điều này được thi hành theo hai cách:

– Thứ nhất (Với đa số nhân loại hiện nay và người chí nguyện): Bằng cách có được lá số tử vi giải đoán đúng và kế đó chọn các giai đoạn để xác định những gì cần làm để vô hiệu hóa (negate) các ảnh hưởng của hành tinh ở nơi nào xét thấy thích hợp để kiềm chế các phản ứng của phàm ngã. Điều này phải được làm bằng cách áp dụng sức mạnh của tư tưởng. Việc này đòi hỏi sự tin tưởng hoàn toàn vào việc tìm hiểu và lý giải của các nhà chiêm tinh học và việc biết thật đúng lúc sinh ra

– Thứ hai (Với nhóm dự bị đệ tử, đệ tửđiểm đạo đồ): Bằng cách đảm nhiệm sáng suốt lập trường của Nhà Quan Sát tâm linh, và bằng cách vun trồng năng lực đáp ứng với Linh Hồn. Kế đó, từ quan điểm của Linh Hồn đó, con người phải học cách kiểm soát hoàn cảnh và các phản ứng kèm theo của phàm ngã.

III- THÁI ĐỘ VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA CHIÊM TINH GIA HUYỀN BÍ CẦN BIẾT

1. Đó là các ảnh hưởng hành tinh cho thấy khuynh hướng của các hoàn cảnh sống bên ngoài. Đối với người thường và người kém tiến hóa, khi được lý giải đúng, các ảnh hưởng đó có thể và chắc chắn báo hiệu số phận và định mệnh của phàm ngã; các ảnh hưởng đó nhất định chi phối và hoàn toàn kiểm soát người nào vốn không có kinh nghiệm rõ rệt về linh hồn. Thời điểm mà một người bắt đầu biết được về linh hồn của chính mình và đang nỗ lực để kiểm soát “con đường trong sự sống” của chính mình, thì ảnh hưởng của các hành tinh, tự nó, yếu đi một cách rõ rệt và ngày càng kém hẳn; biểu đồ phàm ngã của y dường như không đi đến kết quả cụ thể nào và thường không còn chính xác chút nào.

2. Chính là cung Thái Dương (Sun sign), như người ta thường gọi, chỉ ra / báo hiệu (indicate) bản chất của con người, về vật chất, trí tuệ và tâm linh. Nó nắm giữ cái bí ẩn của cung phàm ngã và của sự đáp ứng của con người, hoặc là thiếu sự đáp ứng đối với Linh Hồn, tức con người thực sự (real man, chân nhân).

3. Cung mệnh (rising sign) chỉ ra các năng lực cao xa hơn, cùng với mục tiêu tinh thần và mục đích của việc lâm phàm liền đó và của các lần lâm phàm kế tiếp sát nách. Chính cung này có liên quan với sự phấn đấu của con người tâm linh “để xúc tiến” (“to carry on”) từ mức độ đã đạt được ……….

IV- Về cung thái dương, cung mệnh và ảnh hưởng của hình tư tưởng liên quan với mặt trăng, lập trường của chiêm tinh học huyền bí như sau:
1. Cung thái dương. Cung này báo hiệu vấn đề/ khó khăn (problem) hiện tại của con người; nó thiết lập nhịp độ phát triển hay là nhịp sinh hoạt của sự sống phàm ngã của con người; nó được liên kết với đặc tính, tính tình và các khuynh hướng sự sống vốn đang tìm cách biểu lộ trong lần luân hồi đặc biệt này, và nó làm liên tưởng đến khía cạnh hoạt động của con người bẩm sinh. Về mặt căn bản, các mãnh lực được tìm thấy nơi đây đều biểu lộ cho đường lối ít đối kháng nhất.
2. Cung mệnh (ascendant or rising sign) chỉ ra sự sống có dự kiến hay là mục tiêu trước mắt của linh hồn cho lần luân hồi này. Nó nắm giữ cái bí ẩn của tương lai và đưa ra thần lực mà, khi được vận hành đúng, sẽ đưa con người tới thành công. Nó trình bày khía cạnh hài hòa (sattvic or harmony aspect) của sự sống và có thể tạo ra mối liên hệ đúng giữa linh hồn với phàm ngã trong bất luận một cuộc luân hồi nào. Như thế, nó vạch ra phương hướng đưa đến việc thừa nhận mãnh lực của linh hồn.
3. Mặt trăng. Loại thần lực này (đến từ một số hành tinh chứ không đến từ mặt trăng) báo hiệu rằng lực đó thuộc về quá khứ (past). Do đó, nó tổng kết giới hạn và các bất lợi hiện tại. Nó chi phối xác thân và cho thấy nơi mà nhà tù của linh hồn phải được tìm ra.

* Các năng lượng của hoàng đạo, của thái dương hệ và của hành tinh, tác động hoặc gây cản trở, hoặc lực kích động tùy theo loại vận thể hay thể mà chúng tác động vào; bản chất của các vận thể (vehicles) này và năng lực của chúng để thu hút, để đáp ứng, để loại bỏ, để tiếp nhận và để chuyển hóa đều hoàn toàn tùy thuộc vào mức tiến hóa đã đạt được và cũng tùy thuộc vào tình hình chung của hành tinh và tâm lý đang có trong gia đình nhân loại ở bất cứ thời kỳ đã chọn nào.
(Trích lời dậy của Chân Sư DK trong Chiêm tinh học nội môn, trang 24-27)

B- Hình thành Lá số sinh mệnh

Một người khi cất tiếng khóc chào đời chính là thời khắc bẩm thụ khí trời đất, mà “thước đo” chính là Năm -Tháng – Ngày – Giờ sinh tại địa điểm sinh cụ thể. Mà Năm, Tháng, Ngày, Giờ được thể hiện bằng 4 trụ được tạo bởi các cặp Thiên Can – Địa Chi. Mà các cặp Thiên Can – Địa chi có tổng số 60 cặp (Bắt đầu từ Giáp Tý …… Ất Sửu) tuần hoàn. Chỉ với 60 cặp Can chi này mà hàng ngàn năm nay, con người tìm tòi để ứng dụng trong các môn dự đoán vạn sự trên đời, đã phần nào nắm bắt được quy luật Vận hành của trời đất tác động nên địa cầunhân loại, để ứng dụng vào đời sống xã hội loài người, có được những kết quả mong muốn, đáng tin cậy nói chung, nhiều việc đáng kinh ngạc nữa.

Tứ trụ gồm Trụ năm -Trụ tháng – Trụ ngày – Trụ giờ. Để phân tích, đánh giá Tứ trụ của một người, người ta dùng quy luật của Âm Dương – Ngũ Hành và vị trí của Mặt Trăng và Mặt Trời, các hành tinh truyền chuyển năng lượng vũ trụ tại thời điểm sinh của người đó để làm căn cứ suy đoán tương đối chính xác các vấn đề về cuộc đời mỗi người, mỗi nhà từ cái đã qua cho đến tương lai, từ lúc Sinh đến khi kết thúc sự sống(Chết) của một vòng đời.

Như vậy, chữ Thời rất quan trọng trong mọi phép đoán, nó là “thước đo” của Thịnh suy của Ngũ Hành. Theo đó, mỗi năm, tháng, ngày, giờ với mỗi người, mỗi nhà …. và với mỗi quốc gia hay với Trái đất này sẽ có trạng thái riêng, chỉ sự phát triển của mình trong một giai đoạn phát triển, nằm trong vòng Sinh-Tử. Vậy giai đoạn đó lấy gì để biết được nó hoạt động ra sao, đặc trương của nó là gì ..v..v.. >>> Chỉ có thể dùng Âm Dương-Ngũ HànhThời gian để luận giải.

Âm Dương – Ngũ hành là khái niệm quan trọng trong Dịch học, nó bao quát vạn sự bao la như Vũ trụ hay những sự vật, hiện tượng dù nhỏ nhất đều được Quy nạp vào Âm dương-Ngũ hành. Ví như Trong- ngoài, Trên -dưới, ĐấtNước …. Như với con người Nam, Nữ; Cao- thấp, Béo gầy, …., trong cơ thể là Tim, Phổi; hay hình thể Đầu-Thân mình, chân, tay …cũng như Giầu -nghèo, Sang-Hèn, Thọ yểu, Vợ chồng, Con cái, Tình yêu, hôn nhân ….. Vậy mỗi vấn đề đã quy nạp vào Âm dương-Ngũ hành trên với con người mà nói, khi nào thì phát sinh, ứng nghiệm vào ai, việc gì, bộ phận nào trên cơ thể ..v.v.. Chỉ có thể dùng Thời vận để đo lường sự Sinh-Khắc; Vượng suy của Âm dương-Ngũ hành …. để xét đoán.

Thời Vận: Thời là thời gian Dương lịch và âm lịch. Âm lịch được thể nghiệm thông qua Can-Chi chủ quản mỗi năm mà ta đã biết, như năm 2011 là Tân Mão (Còn gọi là Thái tuế). Vận là Quy luật đo lường khác cũng dùng Can Chi, song song tồn taị khách quan với thời gian, Vận này tồn tại riêng biệt của từng người.

Con Người đã bẩm thụ khí của Trời Đất, cho lên cũng không thoát khỏi quy luật vận động của Trời đất (Thông qua Âm dương-Ngũ hành). Mỗi người sinh ra đều có Tứ trụ: Năm Tháng Ngày Giờ gọi là nguyên Mệnh, có tứ trụ tức là đã biết được Khí Âm dương, sinh vượng, trong đục, thông qua quy luật Sinh khắc, chế hoá ..v.v..để biết được Mệnh Giầu-nghèo; Sang-Hèn; Thọ-Yểu; Bệnh tật; Tai hoạ; Tình yêu; Hôn nhân; hoàn cảnh gia đình; thăng quan tiến chức; Tiền tài danh vọng ..v.v.. Thông qua Thời Vận để biết được khi nào thì phát sinh tốt xấu, ứng vào ai trong gia đình hay bộ phận nào trên cơ thể; Hay khi nào nên kết hôn, hôn sự thế nào, khi nào nên đầu tư kinh doanh, kinh doanh nghành nghề nào; Đi về phương nào kinh doanh thì có lợi được giầu sang phú quí, phương nào thì bất lợi, thậm trí phá sản ..v.v.. cũng là tuỳ Người, tuỳ Thời Vận >>> Đó cũng là mục đích nghiên cứu các môn Dịch học nói chung, Dự đoán tứ trụ nói riêng. Đó chính là Lý do để môn Dự đoán theo Tứ trụ tồn tại hàng trăm năm, luôn có sức sống mới, đặc biệt như chúng ta đang ở thời kỳ Vận 8-Bát bạch là thời kỳ sức sống của Dịch học đang được Thời, bởi được Ông Sao tốt quản

Nói tóm lại, Dự đoán Tứ trụ là để biết rước lành-Tránh dữ cho phù hợp với quy luật vận hành của Trời đất, là quy tắc chung của mọi môn phái là”Thuận Trời thì sống, chống lại thì chết”.

C- CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN SỐ MỆNH (GQ1.6)

I- Dự đoán số mệnh theo Công truyền:

1- Định nghĩa: Là khoa học về Con Người (Phàm NhânPhàm ngã), bàn về các đặc điểm và tính chất của phàm ngã và của những khía cạnh hình tướng, và cũng với các sự kiện, các diễn biến, các hoàn cảnh và môi trường qui định vốn xuất hiện trong lá số chiêm tinh cá nhân, biểu thị sự kiểm soát của các hành tinh chứ không phải sự kiểm soát của mặt trời. (EA 145 ). Nói cách khác, nó đúng với những Người sống với xu hướng thuần vật chất, hướng ra ngoài.

2- Các Phương pháp dự đoán:

2.1- Dự đoán số mệnh theo Lá số Tứ trụ;

2.2- Dự đoán số mệnh theo Lá số Tử vi;

2.3- Dự đoán số mệnh và muôn việc theo Chu dịch (Quẻ dịch);

2.4- Chiêm tinh học ngoại môn;

2.5- Các phương pháp khác: Còn nhiều phương pháp khác ít phổ biến

II- Dự đoán số mệnh theo Chiêm tinh học bí truyền:

1- Định nghĩa: Là khoa học về Linh Hồn. Linh hồn tượng trưng cho trạng thái bác ái và minh triết của Thượng Đế và luôn luôn được hướng tới điều tốt đẹp cao cả hơn. Chiêm tinh học bí truyền tiết lộ công việc phải được thực hiện trong tâm thức, để cho điều tốt đẹp cao cả này được tiết lộ, và nơi mà nó có thể được hướng đến trong cuộc sống để mang lợi ích đến cộng đồng rộng lớn hơn.

Chiêm tinh học bí truyền quan tâm chủ yếu đến sự khai mở tâm thức, đến những tác động vốn đánh thức nó với “sự ban tặng” đặc biệt của bất kỳ khả năng của cung hoàng đạo (sign) và cung đặc biệt (Ray) nào đó, và đến phản ứng của con người và sự phong phú tương ứng của y thông qua phản ứng của y đối với ảnh hưởng của một cung hoàng đạohoạt động thông qua các hành tinh bí truyền từ góc độ nhận thức liên quan đến con người, từ góc độ đệ tử và điểm đạo. (EA 145-6)

2- Phương pháp Chiêm tinh học nội môn (Dự đoán mục tiêu của Linh hồn với kiếp sống này):

2.1- Theo quan điểm bí truyền, có ba trình độ tâm thức chính yếu nơi con người :

2.1.1- Trình độ của phàm ngã, hay bản ngã (ego) ( một tâm thức chỉ nghĩ đến mình và ích kỷ )

2.1.2- Trình độ linh hồn (một tâm thức khôn ngoan, yêu thương và bao dung)

2.1.3- Trình độ tinh thần. (Tâm thức toàn cầu hoặc đại đồng).

Tất cả người nam và nữ đang trụ ở một trong những trình độ này, nhưng dưới lực thôi thúc của quá trình tiến hóa, sẽ đạt đến trình độ tinh thần trong kiếp này hay một kiếp tương lai. Giáo lý Minh triết Phương Đông dạy chúng ta rằng việc đạt được sự hợp nhất hoặc sự thống nhất trong tâm thức, với Sự Sống Tinh Thần hay Sự Sống Phổ Quát là Thiên Cơ thiêng liêng tối hậu dành cho con người.

2.2- Trong Chiêm tinh học Bí truyền, ảnh hưởng của cung hoàng đạo và hành tinh hoạt động ở ba cấp độ này.

+ Trước khi giải lá số, nhà chiêm tinh bí truyền xác định tâm thức của một người đang trụ ở cấp độ nào, sau đó giải thích ảnh hưởng của cung hoàng đạo và các hành tinh ở cấp độ đó.

2.2.1- Ảnh hưởng của các hành tinh ở cấp thứ nhất, là phàm ngã:

Hầu hết mọi người vẫn còn ở mức này và đang bận tâm với lợi ích vật chất. Đây là nét đặc trưng phân biệt. Trong các lá số này, mãnh lực hành tinh được gọi là “công truyền”. Lực công truyền này phát triển các năng lực của phàm ngã, tăng cường các đặc điểm tham của ích kỷ, sao cho một phàm ngã hoàn toàn có ý thức và mạnh mẽ xuất hiện.

2.2.2- Ảnh hưởng của các hành tinh ở cấp thứ hai, là linh hồn:

Một số lượng lớn con người hiện nay đang khao khát một cái gì đó cao cả hơn và tốt đẹp hơn lợi ích vật chất, và đang nhanh chóng chuyển đến cấp độ thứ hai này. Trong các lá số này, mãnh lực hành tinh được gọi là “bí truyền”. Bí truyền có nghĩa là ‘cái được giấu khỏi tầm nhìn thông thường’, là các năng lượng và các mãnh lực mà các hình tướng bên ngoài che giấu. Trong Chiêm Tinh Học Bí Truyền, lực ẩn giấu này ám chỉ đến ảnh hưởng và quyền năng của linh hồnChiêm Tinh Học Bí Truyền là khoa học về linh hồn, và nhiệm vụ của lực bí truyền là thúc đẩy tâm thức linh hồn – một tâm thức được phân biệt bằng bác ái và minh triết.

Đối với những người ở cấp độ này, lá số sẽ được giải thích ở cả cấp độ công truyềnbí truyền. Cấp độ công truyền cho thấy mặt phàm ngã ích kỷ và tham của trong bản chất, và mức độ bí truyền cho thấy những tính chất của linh hồn vốn đang nỗ lực để sản sinh ra thông qua tâm và loại bỏ sự ích kỷ của phàm ngã.

Về bản chất, các hành tinh và các chòm sao chỉ đơn giản là các tác nhân phân phối năng lượng vũ trụ, và con người sẽ điều hợp vào một trong ba dòng ảnh hưởng năng lượng này, tùy vào trình độ phát triển nội tâm của y.

2.3- Trong Chiêm Tinh Học Bí Truyền, ba Cung tối quan trọng khi đánh giá tâm thức:

2.3.1- Cung Mặt Trăng (Moon Sign) tượng trưng cho mức độ vô thức.

Trong bí truyền, Mặt Trăng được gọi là Mẹ của tất cả mọi Hình Tướng (EA, 321), và tượng trưng cho chất liệu vật chất của vũ trụ. Các cá nhân sử dụng cùng một nhóm chất liệu để xây dựng cơ thể của họ – hết kiếp này sang kiếp khác. Các thói quen vốn được thể hiện trong mỗi kiếp, để lại một dấu ấn hay “mô hình phản ứng” trên chất này. Mô hình này chuyển sang kiếp sau, làm tăng thêm cường độ của nó. Điều này có nghĩa rằng trong một kiếp mới, chúng ta đến với những thói quen và những phản ứng theo khuôn mẫu có trước, vốn có nguồn gốc của chúng trong quá khứ. Cung Mặt Trăng tượng trưng cho những “thói quen” này. Nhiệm vụ quan trọng nhất trong mỗi kiếp theo quan điểm tinh thần là để thanh luyện, cải tiến và sau đó phá vỡ mô hình ‘nhà tù của linh hồn” này.

2.3.2- Cung Mặt Trời (Sun Sign) tượng trưng cho mức độ có ý thức, tự nhận thức.

Trong lá số, Mặt Trời tượng trưng cho “phàm ngã” và những nỗ lực của chúng ta để phát triển một cái bản ngã (ego) sinh động và mạnh mẽ. Hầu hết mọi người chưa phải là phàm ngã. Một định nghĩa bí truyền của phàm ngã là: Một phàm ngã là một người hoạt động với sự phối hợp, nhờ vào khả năng của y và sự ổn định tương đối của bản chất tình cảm của y, và hệ thống tuyến (glandular equipment) hoàn chỉnh và phát triển đầy đủ của y. Điều này được hỗ trợ bởi sự ham muốn mạnh mẽ của y đối với năng lực và các điều kiện môi trường thích hợp.(EP II, 264)

Hầu hết mọi người đã chưa trở nên ổn định hoặc chưa phối kết các khía cạnh khác nhau trong bản chất của họ và do đó là “đang phát triển phàm ngã”. Sự phát triển này phải diễn ra trước khi bất kỳ hoạt động tâm linh cao cả nào có thể xảy ra.

2.3.3- Cung Mọc (Ascendant) tượng trưng cho mức độ siêu thức hay linh hồn.

Về mặt chuyên môn, Cung Mọc (Ascendant) là góc độ (degree) của hoàng đạo (zodiac) đang lên trên chân trời phía đông vào lúc sinh – lúc bình minh, lúc ánh sáng đang lên, ở đâu đó trên thế giới. Điều này làm cho thời điểm đó rất linh thiêng, vì bình minh và việc đi lên của ánh sáng báo hiệu sự đến gần vinh quang của thần thánh. Nói một cách tượng trưng, ​​tiếp cận với Cung Mọc là đến gần những cánh cổng của Ngôi Đền của các Bí Nhiệm Cao Siêu.

Cung Mọc (Ascendant hay Rising Sign) cho thấy cuộc sống được dự định hay mục đích trước mắt của linh hồn cho kiếp này. Nó chứa bí mật của tương lai và trình bày các mãnh lực mà, nếu được sử dụng đúng, sẽ dẫn con người đến thành công. Nó tượng trưng cho khía cạnh hòa thanh (sattvic) hay hài hòa của sự sống và có thể tạo mối quan hệ đúng đắn giữa linh hồn và phàm ngãtrong bất kỳ một kiếp nào. Do đó nó chỉ cách để nhận ra mãnh lực của linh hồn. (EA, 18, 19)

Cung Mọc là ‘ trái tim ‘ của lá số chiêm tinh đối với những người có ý thức về các thực tại tâm linh cao cả – trong khi Cung Mặt Trời là trái tim của lá số đối với những người không phải như trên. Một phần mục đích của linh hồn là chuyển di năng lực điều khiển năng lượng ra khỏi phàm ngã (Mặt Trời), đến cho linh hồn (xuyên qua Cung Mọc). Trên thực tế, điều này có nghĩa là đồng nhất hóa hơn với những tính chất của Cung Mọc so với các tính chất của Cung Mặt Trời.

+ Tham khảo: Tổng quan về vũ trụcon người

C- DỰ ĐOÁN VẬN MỆNH TỔ CHỨC THEO NGÀY THÁNG NĂM KHAI SINH (THÀNH LẬP)


Chia sẻ:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *