Lục hợp

Chương 20:Lục Hợp

 Tý – Sửu, Dần – Hợi, Mão – Tuất, Thìn – Dậu, Tỵ – Thân, Ngọ – Mùi.

1.Hào với nhật, nguyệt.

2.Hào với hào tương hợp.

3.Hào động và hào biến tương hợp.

4.Quẻ Lục hợp.

5.Quẻ Lục xung biến thành Lục hợp.

6.Quẻ Lục hợp biến thành Lục hợp.

Hào hợp với nhật thần, nguyệt kiến: Giả sử vào tháng Sửu xem được quẻ Khảm, hào Thế tại Tý Thuỷ, tương hợp với nguyệt kiến.

Hào với hào tương hợp: Giả sử xem được quẻ Thiên Địa Bĩ, có hai hào Thế và Ứng đều là hào động, tức là Mão hợp với Tuất. Nhưng nếu có một trong hai hào không động, cũng không được coi là hợp.

Hào động và hào biến tương hợp: Giả sử xem được quẻ Thiên Phong Cấu, hào Thế là Sửu động hoá thành hào Tý Thuỷ, như vậy hào động và hào biến là tương hợp.

Quẻ Lục hợp: Ví dụ tại quẻ Thiên Địa Bĩ, sáu hào của quẻ nội, quẻ ngoại đều tương hợp với nhau, không có hào động cũng được coi là hợp.

Quẻ Lục xung biến thành Lục hợp: Giả sử xem được quẻ Càn vi Thiên, vốn là quẻ Địa Thiên Thái, như vậy là quẻ Lục xung biến thành Lục hợp.

Quẻ Lục hợp biến thành Lục hợp: Ví dụ như xem được quẻ Lữ biến quẻ Bí.

Các hào tương hợp, nếu tĩnh mà gặp hợp, gọi là hợp khởi.

Nếu động mà gặp hợp, gọi là hợp bạn.

Hào với hào tương hợp, gọi là hợp hảo.

Hào động và hào biến tương hợp, gọi là hoá phù.

Hào tĩnh nếu tương hợp với nhật, nguyệt, hào động, sẽ được khởi phát, cho dù hào đó hưu tù, cũng được trở lên vượng tướng.

Hào động nếu tương hợp với hào động, tức là có người khác đến tương hợp với ta, sẽ trợ giúp cho ta.

Nếu hào biến ra từ hào động lại hồi đầu tương hợp với hào gốc, gọi là hoá phù, nghĩa là được người khác phù trợ.

Nếu được các dạng tương hợp trên đây, xem về việc gì cũng được coi là cát. Xem về công danh được công danh, xem về lợi lộc được lợi lộc, xem về hôn sự, hôn sự ắt thành; Xem về bản thân, bản thân sẽ phấn khát; Xem về gia trạch, sẽ được hưng vượng, xem về phong thuỷ mộ phần, là thế tụ khí tang phong; Xem về mưu sự, sẽ được toại nguyện như ý. Nhưng Dụng thần cần phải có khí mới tốt, Dụng thần thất hãm cũng là vô ích.

Sách xưa có viết: Tất cả mọi sự việc đều ưa gặp được tam hợp, Lục hợp, gặp được thì mọi sự đều được lâu dài, có thuỷ có chung.

Thế nhưng xem việc tốt mới nên gặp, việc tốt ắt sẽ được. Xem về việc xấu không nên gặp, vì sẽ chuốc lấy tai hoạ.

Trang 99 Quẻ Lục xung biến thành Lục hợp

Với các dạng hợp, nếu Dụng thần vượng sẽ tốt, duy chỉ có trường hợp quẻ Lục xung biến thành Lục hợp là không cần xem Dụng thần cũng xem có thể đoán là tốt; Xem về hôn nhân, trước là cách trở, sau lại nên duyên. Xem về vợ chồng, trước là chia lìa, sau lại hoà hảo. Xem về công danh, trước gian nan, sau được vinh hiển. Xem về mưu kế, trước khó khăn, sau sẽ dễ dàng. Xem về vận mệnh, trước khốn khó sau được hưởng thụ. Xem về phong thuỷ, sẽ tìm được đất tốt. Xem về gia trạch, trước nghèo khổ sau phát đạt. Từng có người vợ bị cướp bắt, sau vẫn được đoàn tụ. Có người ruộng vườn bán hết, sau vẫn được lấy về.

Quẻ Lục hợp biến thành Lục hợp

Các hào trong quẻ được Lục hợp đã là điềm tốt. Nhưng hào động mà lại biến ra quẻ Lục hợp, được gọi là thuỷ chung tương hợp.

Xem về phong thuỷ, sẽ hiển đạt trăm năm.

Xem về gia trạch, sẽ vững nghiệp muôn đời.

Xem về hôn nhân, sẽ chung sống đến bạc đầu.

Xem về bạn làm ăn, tất cả đều trung thành tận tuỵ.

Xem về công danh, đường mây rộng mở.

Xem về tiền tài, chất ngất bằng non.

Xem về an hem, sẽ đời đời chung sống.

Xem về học tập, sẽ thành tựu lien tiếp.

Xem về tu luyện, sẽ thành công nhanh chóng.

Nếu được thêm Dụng thần vượng khí, lại gặp nguyệt kiến, nhật thần, là đã tốt lại càng thêm tốt.

Xem về thai ngén, gặp quẻ này sẽ được an lành.

Xem về sinh sản, gặp quẻ này sẽ khó sinh. Lại nếu như Dụng thần bị khắc, càng là điểm hung hại.

Duy chỉ có xem về kiện tụng là bất lợi, chủ về thù oán khó giải hoặc xem về chuyện ngờ vực, quái đản, sẽ không được toại nguyện.

Trang 100- 101

Sách xưa có viết:  Tý hợp với Sửu, trong Sửu có Thổ, Thổ khắc Tý Thuỷ, nên gọi là trong hợp có khắc, khắc ba phần hợp bẩy phần. Tỵ hợp với Thân, Tỵ Hoả khắc Thân Kim, nên gọi là khắc bảy phần hợp ba phần. Những quan niệm đó vẫn là không đúng hoàn toàn.

Ta thấy ứng nghiệm ở chỗ, khi Tý hợp với Sửu, nếu xem vào ngày hoặc tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, mà hào Tý Thuỷ không được những chỗ khác sinh phù, thì chỉ coi là khắc mà không nói đến hợp. Nếu được những chỗ khác sinh phù, thì chỉ coi là khắc mà không nói đến hợp. Nếu được những chỗ khác sinh phù, thì vẫn chỉ coi là hợp.

Cho nên khi Tý Thuỷ gặp tháng Sửu, Tuất Thổ gặp tháng Mão, Thân Kim gặp tháng Tỵ, lại bị hào động nhật kiến tương khắc, tức là đã khắc lại thêm khắc, làm sao có thể hợp được! Còn như có người đến hỏi truyện cát hung, lại giải đáp theo kiểu ba phần, bẩy phần như vậy làm sao có thể giải toả được mối ngờ cho người ta.

Tam hợp cục:

Thân, Tý, Thìn hợp thành Thuỷ cục;

Tỵ, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục;

Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hoả cục;

Hợi, Mão, Mùi hợp thành Mộc cục.

Tam hợp có bốn dạng:

Thứ nhất: Trong một quẻ, có ba hào động mà thành hợp cục.

Thứ hai: Có hai hào động, nên một hào không động, cũng tạo thành hợp cục.

Thứ ba: Trong quẻ nội, hào sơ và hào tam động, biến ra hào biến, cùng hào sơ và hào tam tạo thành hợp cục.

Thứ tư: Trong quẻ ngoại, hào tứ và hào lục động, biến ra hào biến, cùng hào tứ và hào lục tạo thành hợp cục.

Tam hợp cục có hung, cũng có cát.

Như xem về công danh, nếu hợp thành Quan cục, gọi là quan vượng.

Hợp thành Tài cục, Tài vượng sẽ sinh Quan.

Nếu hợp thành Tử Tôn cục, sẽ gây tổn hại đến Quan.

Nếu xem về cầu tài, quẻ hợp thành Tài cục, gọi là Tài khố (kho của)

Nếu hợp thành Tử Tôn cục, gọi là thế Tử cục sinh tài.

Nếu hợp thành Huynh Đệ cục, là thế hao tài tán của, ngăn trở chia cách.

Nếu xem về mộ tổ, gia trạch, nếu hào Phụ Mẫu hợp cục là tốt.

Nếu xem về hôn nhân, vợ chồng, hào Tài, Quan vượng mà hợp cục là tốt.

Nếu xem về truyện tốt đẹp, nếu thành cục là tốt, là thế vững bền, trường cửu.

Nếu xem về kiện tụng, nghi ngờ mà gặp hợp cục, thì một đời phiền muộn uất kết trong long, khó có thể trừ bỏ.

Nhưng với tam hợp cục, hào Thế phải ở trong cục mới là tốt. Nếu hào Thế ở ngoài cục, thì cục tương sinh ra hào Thế là cát, cục tương khắc hào Thế là hung. Nguyệt kiến, nhật thần, nếu được một thứ ở trong cục, thì được gọi là cục vượng, càng cát lợi.

Trong ba hào của cục, nếu có hai hào động sẽ không tạo thành cục, cần phải đợi đến ngày, tháng sau này bổ sung, bù đắp, mới hợp thành được cục. Như vậy, gọi là “hư nhất đãi dụng” (thiếu một đợi dùng).

Nếu có một hào động, một hào ám động, cũng coi như có hai hào động.

Trong tam hợp cục, nếu có một hào gặp không, phá, phải đợi đến ngày, tháng hào đó được điền thực, mới có thể thành cục.

Nếu có một hào nhập mộ, đợi đến ngày xung khai, mới có thể thành cục.

Phàm là được tam hợp cục, nếu cầu việc danh lợi, hôn nhân, gia trạch, phong thuỷ, mà Dụng thần vượng, thì việc xem đều tốt. Nhưng hào Thế phải ở trong cục mới tốt. Nếu hào Thế ở ngoài cục, nếu được cục tương sinh là cát, nếu bị cục tương khắc là hung.

Như xem về công danh, được tam hợp Quan cục sinh hào Thế, sẽ có lợi cho bản thân; Nếu hợp cục sinh hào Ứng, sẽ lợi cho người khác.

Xem về tiền tài, được Tài cục sinh hào Thế, sẽ có lợi cho bản thân; Nếu Tài cục sinh hào Ứng, sẽ có lợi cho người khác.

Xem về xuất hành, nếu Dụng thần nằm trong tam hợp, sẽ bị hợp mà phải ở lại.

Xem về người đi xa, nếu Dụng thần nằm trong tam hợp, sẽ bị hợp mà không thể trở về.

Nếu quẻ nội và quẻ ngoại đều hợp đều hợp thành tam hợp cục, phải phân chia rõ nội và ngoại.

Ví dụ xem về gia trạch, mà ở nhà phía ngoài, nếu quẻ nội khắc quẻ ngoại là không nên; Nếu ở nhà trong, thì được quẻ nối sinh quẻ ngoại là tốt.

Nếu xem về tình trạng của mình và người khác, thì quẻ nội tượng trưng cho bản thân, quẻ ngoại tượng trưng cho người khác. Nếu quẻ ngoại hợp cục, mà sinh ra quẻ nội, là tốt; Quẻ ngoại khắc quẻ nội là hung.

Trang 105: Chú thích

Tất cả các sự vật trên thế gian đều tồn tại trong mối quan hệ sinh khắc, xung hợp của ngũ hành, nhưng trong hợp có phân, hợp lâu ắt phải phân, phân lâu ắt phải hợp; Trong hợp có hợp là nên, có cái hợp là kỵ. Nói tóm lại, hợp có nghĩa là thu hút, hoà hợp, tụ tập, sinh trợ. Lục hợp có rất nhiều mối quan hệ qua lại với nhật nguyệt, hào động, hào tĩnh, quẻ nội, quẻ ngoại, quẻ chủ, quẻ biến, biến hoá vô cùng. Học chương này cần phải biết biến hoá linh hoạt, thông suốt, để ngộ ra chỗ vi diệu của Lục hợp.