Archives

Chương 5: Nhân Quả (Sách Karmic Laws-MFVN Dịch)

CHAPTER 5

Chết Hay Chôn Sống –  Dead or Buried Alive?

Here in the West, we know practically nothing about death. Until very recently, we did not even know what constituted the difference between a live body and a dead body. For years and years we have expected that when a person died, it was sufficient to be certified dead by the attending physician. The doctor usually just pulled the eyelids open, noting no reaction to light … felt for the heartbeat, which seemingly had stopped forever … saw that there were no brain radiations being given off … tested for any signs of breathing … then: ‘off to the mortuary’!

Ở đây tại Phương Tây, thực tế chúng ta chẳng biết gì về cái chết. Cho đến rất gần đây, chúng ta thậm chí còn không biết cái gì tạo ra sự khác biệt giữa một cơ thể sống và một cơ thể chết. Trong rất nhiều năm, chúng ta cho rằng khi một người chết đi, chỉ cần chứng nhận một người đã chết thông qua các xác nhận mang tính vật lý là đủ. Bác sỹ thường kéo mi mắt mở ra, ghi nhận sự không phản ứng với ánh sáng…cảm nhận nhịp tim dường như đã dừng lại vĩnh viễn…thấy rằng không còn tín hiệu nào của não…kiểm tra tất cả các dấu hiệu hơi thở… và sau đó “chuyển sang việc cử hành tang lễ”

The Ancient Wisdom has warned for many years that this superficial examination of a body lying inert and to all outward appearance devoid of life systems, is not enough to consign it to a mortuary … that in many instances, men may lie in a death coma and may not be able, due to the breaking of the life thread, to register activity in the areas of the lungs, heart, etc., wherein it is anchored. However, the consciousness thread may still be intact in its anchoring in the third ventricle of the brain, and as long as it retains its hold on the physical vehicle there is a possiblity that the Soul may reattach its life thread to the heart and resume its expression in that earth form for a while. True death does not occur until both these threads have been withdrawn from the body.

Minh Triết Cổ Xưa đã cảnh báo trong rất nhiều năm rằng việc kiểm tra một cách hời hợt một cơ thể đang nằm trơ ra đó và với tất cả các biểu hiện bề ngoài không còn dấu hiệu của sự sống là chưa đủ để giao phó cơ thể đó cho nhà tang lễ…rằng trong rất nhiều trường hợp, con ngườithể nằm trong trạng thái chết và có thể không thể ghi nhận một số hoạt động trong các khu vực như phổi, tim.. do bị đứt sợi chỉ sống (sinh mệnh tuyến) ở chỗ mà ở đó nó được gắn vào. Tuy nhiên, sợi chỉ ý thức (thức tuyến) có thể vẫn hoạt động ở điểm nối kết trong não thất thứ ba ở bộ não, và miễn là nó vẫn còn bám vào cơ thể vật lý thì vẫn còn có khả năng linh hồn đó kết nối lại sợi chỉ sự sống đó với trái tim và khôi phục lại sự biểu hiện ở hình thức sống trong một thời gian. Cái chết thật sự sẽ không xảy ra cho đến khi cả hai sợi chỉ này đã bị rút khỏi cơ thể.

Hôn mê, nhưng chưa chết! — In a Coma, but Not Dead!  

In many of these instances, the person may not be able to bat an eyelid or to show life movement of any kind in the physical body – all the while being fully conscious and aware of everything that is being said or done at the time. Though his heart gives no beat, though his pupils refuse to dilate to light, though his brain gives out no waves which can be registered, though he breathes not . . . that man may be still alive—and CONSCIOUS!

Trong nhiều trường hợp như thế, một người có thể không thể mở mi hoặc cho thấy bất kỳ một sự chuyển động nào trong cơ thể vật lý – nhưng suốt lúc này vẫn hoàn toàn ý thức và nhận biết mọi thứ đang được nói hay làm tại thời điểm đó. Mặc dầu trái tim y có thể không đập, con mắt không phản xạ với ánh sáng, não bộ không phát ra một sóng não nào có thể ghi nhận được, hay không còn hơi thở… thì người đó có thể vẫn còn sống – và Ý THỨC!

The author warned about this in 1960 over an American radio show—relating an incident during the Arab-Israeli war, when four young soldiers were found on the battlefield exhibiting a total lack of the four criteria of livingness outlined above. These young men were placed in some surplus heart lung machines as an experiment and their blood was kept in normal circulation. After a period of two weeks, the hearts of all four young men began to beat on their own, the brains became alert, and they recovered sufficiently to be removed from the machines and take up regular convalescence.

Tác giả đã cảnh báo về điều này trong năm 1960 trên một buổi phát thanh ở Mỹ – liên quan đến sự kiện trong chiến tranh giữa Ả rập – Isreal, khi bốn người lính trẻ được tìm thấy trên chiến trận không còn có một trong bốn dấu hiệu nào của sự sống như liệt kê ở trên. Những người lính trẻ này được đặt các máy trợ tim phổi bổ sung như một thí nghiệm và máu của họ vẫn được giữ lưu thông bình thường. Sau khoảng thời gian là 2 tuần, trái tim của tất cả bốn người lính này bắt đầu tự đập, não bắt đầu có tín hiệu, và họ hồi phục đủ để có thể bỏ các thiết bị ra và tiến hành các biện pháp hồi sức thông thường

In 1962, a funeral procession won wide coverage in the French press. As the coffin was being carried to the grave site, scraping noises were heard inside, whereupon the coffin was opened. The body was discovered to be still warm but by this time fully deceased. There was such an uproar following this disclosure,that the medical profession was asked to make a statement. The spokesman for that august body of men stated that at least one person in 500 was buried alive in France, under somewhat similar circumstances.

Vào năm 1962, một buổi tang lễ đã thu hút sự chú ý của báo chí khắp nước Pháp. Khi quan tài đang được đưa vào vị trí đặt mộ, có tiếng cạo ở bên trong, ở đó nắp quan tài mở ra. Cơ thể được thấy là vẫn còn ấm nhưng tại thời điểm đó đã chết hoàn toàn. Đã có cuộc tranh luận sôi nổi sau vụ việc này buộc giới chuyên gia y tế phải phát biểu. Người phát ngôn của tổ chức đáng kính đó đã nói rằng ở Pháp có ít nhất 1 trong số 500 người đã được chôn khi vẫn còn sống, trong những hoàn cảnh phần nào tương tự như thế.

In several thousands of years, man has hardly progressed in his concepts of death. Primitive man may have described an eclipse of the sun in terms of some great beast having swallowed up the flaming orb from the skies, and when the eclipse was over, he might have said that that great beast had finally disgorged the sun back into the heavens.

Trong vài ngàn năm qua, con người đã phát triển khái niệm về cái chết một cách hết sức chậm chạp. Người nguyên thủy có thể mô tả hiện tượng nhật thực như là một con quái vật khổng lồ đã ăn mất quả cầu phát sáng từ bầu trời, và khi nhật thực kết thúc, người ta nói rằng con quái vật đó cuối cùng đã nhả lại mặt trời lại cho bầu trời.

This may seem silly to us today, but modern man is not much better in his knowledge about the eclipse of man from earthly life on this planet—in what we call death.

Điều này dường như có vẻ ngu ngốc đối với chúng ta ngày nay, nhưng con người hiện đại cũng chẳng khá hơn mấy trong kiến thức về sự mất đi của con người trên cuộc sống ở trái đất này – cái mà chúng ta gọi là cái chết

Man undergoes an eclipse from form life during death. There is a temporary obscuration of what we call the physical body, and once more—in a later incarnationman reappears, unaffected by that previous death except as the final experience in the entire life cycle.

111e0b4715ae3fba74173337f2412634 trải qua chu kỳ che khuất khỏi đời sống hình thể trong quá trình chết. Có một sự mờ đi tạm thời của cái mà chúng ta gọi là cơ thể vật lý, và một lần nữa— trong lần tái sinh sau này—con người xuất hiện trở lại, không bị ảnh hưởng bởi cái chết trước đó ngoại trừ như là kinh nghiệm cuối cùng trong toàn bộ chu kỳ sống.

Doctors in the United Kingdom, Canada and the United States especially are becoming concerned with the criteria which determines the true death of a person because they do not wish to take organs from a living person to transplant into another. But how can it be possible to be absolutely certain that the person is beyond recall to physical life?

Các bác sỹ ở Anh, Canada, và Mỹ đặc biệt đang trở nên quan tâm với tiêu chí để xác định cái chết thực sự của một người vì họ không muốn lấy các cơ quan từ người đang sống để cấy ghép vào người khác. Nhưng làm cách nào để có thể hoàn toàn chắc chắn rằng người đó không còn có thể khôi phục lại sự sống vật lý nữa?

During ‘death’ states, many people have reported having out-of-body experiences, and these utterances from normal and sane people give us pause to think. There is another group of people having out-of-body experiences which is worth mentioning. It is those rare individuals who suffer clinical death. During a heart attack or whilst undergoing surgery, someone occasionally ‘dies’. By this we mean that the heart stops and to all intents and purposes, the person is dead. If or when he is successfully resuscitated, he frequently reports an out-of-body experience which is astral projection pure and simple whilst the physical body lies ‘dead’ on the operating table.

Trong các trạng tháichết”, rất nhiều người đã thuật lại các trải nghiệm bên ngoài cơ thể, và các phát biểu từ những người bình thường này cho chúng ta một khoảng dừng lại để suy nghĩ. Có một nhóm người khác cũng có các trải nghiệm ngoài cơ thể cũng đáng để nhắc đến. Đó là những cá nhân trải qua cái chết lâm sàng. Trong khi bị nhồi máu cơ tim hoặc trong lúc trải qua một cơn phẫu thuật, một số người đôi khi “chết”. Khi dùng từ chết ở đây, chúng ta muốn nói là trái tim đã ngừng đập và với mọi mục đích, ý định, con người này đã chết. Nếu hoặc khi  y được làm tỉnh lại thành công, y thường kể lại trải nghiệm ngoài cơ thểtrạng thái phóng xuất thể cảm xúc (“xuất vía”) thuần tuý và đơn giản trong khi cơ thể vật lý đang nằm “chết” trên bàn phẫu thuật

Leslie Sharpe, a Toronto businessman had just this experience. Late one spring afternoon in 1970, his heart stopped beating and for three minutes and eleven seconds, he was ‘dead’. But he survived and recalled, in vivid detail, his sensations during clinical death. I quote now from the report by the Toronto Daily Star columnist Sidney Katz:

Leslie Sharpe, một thương nhân ở Toronto đã có trải nghiệm như thế. Vào một chiều muộn mùa xuân năm 1970, trái tim ông ngừng đập trong vòng 3 phút và 11 giây, ông ấy đã “chết”. Tuy nhiên ông ấy vẫn sống sót và thuật lại chi tiết các cảm nhận trong quá trình chết lâm sàng. Tôi xin trích lại bài báo của Sidney Katz trên tờ Ngôi sao Hàng Ngày Toronto:

I saw myself leave my body, coming out through my head and shoulders. The body was somewhat transparent, although not exactly in vapour form. Watching, I thought, “So this is what happens when you die.’’

‘Tôi thấy tôi rời khỏi cơ thể tôi, đi ra thông qua đầu và vai. Cơ thể dường như trong suốt, mặc dù chính xác không phải là thể hơi nước. Nhìn thấy thế, tôi nghĩ, à đây sẽ là cái sẽ xảy ra khi bạn chết

Upon recovering consciousness, the first thing he told the doctor at his bedside was: ‘If I go out again, don’t bring me back – it’s so beautiful out there. I saw myself leave my body, coming out through my head and shoulders. The body was somewhat transparent, although not exactly in vapour form. Watching, I thought, “So this is what happens when you die.’’ ‘

Khi hồi phục lại ý thức, điều đầu tiên ông kể với bác sỹ ở bên cạnh là: ‘Nếu tôi đi ra một lần nữa, đừng mang tôi trở lại – ở đó rất đẹp. Tôi thấy tôi rời khỏi cơ thể, đi qua đầu và vai. Cơ thể dường như trong suốt, mặc dù chính xác không phải là thể hơi nước. Nhìn thấy thế, tôi nghĩ, à đây sẽ là cái sẽ xảy ra khi bạn chết

The scene suddenly shifted and Sharpe now found himself sitting on a small object, tilted at a 45° angle, travelling through a blue-grey sky at a great speed … The next sensation was of a ‘delightful floating’ in a bright yellow light. Sharpe recalled:

Khung cảnh bỗng nhiên thay đổi và Sharpe giờ đây thấy ông ta đang ngồi trên một vật nhỏ nghiêng một góc 45 độ, bay qua vùng trời xám với một tốc độ lớn… Cảm nhận tiếp theo là ‘trôi một cách sung sướng’ trong luồng ánh sáng màu vàng sáng. Sharpe nhớ lại:

‘I have a scar on my right leg, the result of an old injury. Although, at the time, I was not conscious of having any lower limbs, I felt the scar being torn away and I thought, “They have always said that your body is made whole out here. I wonder if my scars are gone?”

‘Tôi có một vết sẹo ở chân phải, hậu quả của một vết thương cũ. Mặc dù lúc đó, tôi không ý thức có bất kỳ chân tay nào phía dưới, tôi vẫn cảm thấy vết sẹo đang biến mất và tôi nghĩ “Họ luôn nói rằng cơ thể bạn được làm cho hoàn hảo ở đây. Tôi tự hỏi liệu các vết sẹo của tôi đã biến mất?”

Man on this earth has conquered many fields. He has climbed the highest mountains on this planet … plunged to the oceans’ depths … journeyed into the regions of the skies … even walked on the moon. All of these fields of endeavour have been investigated by man with great success, but there is one vast area of man’s experience which he knows little or nothing about. This is the hidden factors behind disease and death.

111e0b4715ae3fba74173337f2412634 trên trái đất đã chinh phục và chiến thắng rất nhiều lĩnh vực. 111e0b4715ae3fba74173337f2412634 đã trèo lên các ngọn núi cao nhất trên hành tinh này…lặn vào các độ sâu của đại dương…du hành vào các vùng trời…. thậm chí đi trên mặt trăng. Tất cả những thành tựu ở những lĩnh vực này đã được nghiên cứu bởi con người với thành công lớn, nhưng vẫn còn một khoảng rộng lớn trong trải nghiệm của con người mà họ vẫn còn biết rất ít hoặc chưa biết. Đó là những yếu tố đang đằng sau bệnh tật và cái chết

Instead of having a wholesome, joyous and happy attitude to this transition in consciousness which we call death, there is expressed everywhere on this planet a great fear and horror of this most natural of events.

Thay vì có một thái độ lành mạnh, hạnh phúc và vui vẻ với sự chuyển tiếp trong tâm thức mà chúng ta gọi là cái chết này, ở mọi nơi trên hành tinh này có một nỗi khiếp sợ lớn đối với sự kiện tự nhiên nhất này.

Still to this day, black is worn and it was not so long ago that there were plumed horses dragging the funeral bier to the grave, with all the paraphernalia which each civilization has deemed it proper to display in the drama of departure from the physical plane. At least this is so in the Western world. The oriental has a different view on life after death, and it is because of this that such places as Bangaladesh and China and India can withstand such terrible cataclysms … can bear them and resolve them, emerging undaunted from the holocausts to rebuild anew with great courage and perseverance in the face of overwhelming odds.

Cho đến tận ngày hôm nay, màu đen vẫn được mặc trong đám tang, và cũng mới đây còn có những con ngựa kéo quan tài đến nghĩa địa với tất cả đồ cúng tế đám ma mà người ta coi là cách đúng đắn để thực hiện trong lễ tiễn đưa ra khỏi thế giới vật chất này. Ít nhất thì việc này diễn ra ở thế giới Phương Tây. Người Phương Đông có cái nhìn khác về sự sống sau chết, và vì thế ở những nước như Bangladesh, Trung Quốc và Ấn Độ người ta có thể chịu đựng được những tai hoạ địa chất khủng khiếp… và họ có thể chịu đựng, xử lý nó, hồi sinh ngoan cường từ những thảm họa này để tái thiết lại với sự nỗ lực và bền bỉ to lớn trong bối cảnh những thiên tai tràn ngập

People in North America still talk about the great San Francisco earthquake at the beginning of the 19th century as if it were nearly the end of the world. There have been thousands of geophysical episodes of this magnitude in the Far Eastern countries even in the last few centuries alone, and their ability to survive has stemmed in large part from the attitude the people have towards death.

Người ở Bắc Mỹ vẫn còn nói về trận động đất lớn ở San Francisco ở đầu thế kỷ 19 gần như là ngày tận thế của thế giới. Có đến hàng ngàn cơn chấn động địa vật lý ở mức độ này ở các nước Viễn Đông thậm chí chỉ riêng trong một vài thế kỷ gần đây, và khả năng để sống sót của họ hình thành phần lớn từ thái độ của con người đối với cái chết.

The Church and the Doctrine of Reincarnation

Nhà thờ và Giáo lý về Sự Tái Sinh

Reincarnation was once accepted by the Christian Church and was part of the early churches’ teachings. About three or four hundred years after the life of Christ, the church rejected ‘reincarnation’. Perhaps it was because people became lax in their spiritual growth, thinking they could enjoy the ‘good things in life’ and put off all the effort ‘required’ for spiritual evolution. For whatever reason, it was stricken from the Church doctrines and ignored down through the centuries.

Sự tái sinh đã từng được Nhà thờ Thiên Chúa Giáo chấp nhận và là một phần trong lời dạy ban đầu của các nhà thờ. Khoảng 3 hoặc 4 trăm năm sau khi đức Christ xuất hiện, nhà thờ bác bỏ “sự tái sinh”. Có lẽ là bởi vì con người trở nên xao nhãng hơn sự phát triển tâm linh, nghĩ rằng họ có thể tận hưởng “những thứ tốt đẹp trong cuộc sống” và từ bỏ tất cả những nỗ lực ‘cần thiết’ cho sự tiến hóa tâm linh. Dù với bất kỳ lý do nào, nó bị loại bỏ khỏi giáo lí của Nhà Thờ và quên lãng trong nhiều thế kỷ

For most people concerned with their spiritual evolution, a recognition of the Laws of Karma and Reincarnation merely spurs them on to greater and greater efforts. When work is meritorious, when it is service to mankind, when it is evolutionary, then the disciple or initiate knows that he can come back in another life and get right back on the same job.

Với những người quan tâm đến sự phát triển tâm linh, việc chấp nhận Luật Nhân Quả và Tái Sinh sẽ thúc đẩy họ tiến tới những nỗ lực ngày càng lớn hơn nữa. Khi công việc đáng khen thưởng, khi nó để phụng sự cho nhân loại, khi mà nó là sự tiến hóa, thì người đệ tử hoặc người chí nguyện biết rằng y có thể quay lại trong một kiếp sống khác và quay trở lại đúng cái công việc đó.

Life in Terms of Justice and Love 

Cuộc Sống Trên Khía Cạnh Công Lý Và Tình Yêu 

The Laws of Karma and Reincarnation help us to see all life on this planet in terms of justice and love. If a child of three or four dies in her mother’s arms, screaming with the pain of cancer of the bowel, God is not to be blamed: this can be a karmic justice working out for that Soul in a strange way. That Soul chose just that life in order to come back in a later incarnation without the necessity of undergoing such heavy karmic retribution – with freedom to experience a more spiritually evolved life, perhaps to serve humanity in a unique and exalted manner.

Luật Nhân quả và Tái Sinh giúp chúng ta nhìn thấy tất cả sự sống trên trái đất này theo hướng công bằng và yêu thương. Nếu một đứa trẻ lên ba hoặc bốn chết đi trong vòng tay của mẹ nó, đau đớn vì căn bệnh ung thư ruột, không phải trách cứ Chúa: đó có thể là một nghiệp quả công bằng đang diễn ra cho Linh Hồn đó theo một cách lạ lùng. Linh hồn đó đã lựa chọn kiếp sống đó nhằm mục đích ở lần tái sinh sau quay trở lại mà không cần thiết phải trải qua sự trả giá cho những nghiệp quả nặng nề – với sự tự do để trải nghiệm một cuộc sống tâm linh tiến bộ hơn, có lẽ là để phục vụ nhân loại theo một cách đặc biệt và cao cả.

Chương 4: Nhân Quả (Sách Karmic Laws-MFVN Dịch)

CHAPTER 4

Death and Rebirth
It is understanding the natural laws which flow from the world of the ‘real’ that explains
to us the nature of the Laws of Karma and of Reincarnation.

Chết và Tái sinh

Chính là  sự hiểu được các luật tự nhiên xuất phát từ thế giới của “cái chân” sẽ giải thích cho chúng ta bản chất của Các Luật Nghiệp quảLuân Hồi..

Laws of Birth and Rebirth

Your own life is the result of a unique set of causes and effects. The pepper plant does not give birth to roses, nor will sweet jasmine turn into thistle. Law governs all. Even the scientist recognizes just this. He emphasizes that law governs the movement of planets in their orbits. Law dictates the times of the eclipses, the rising of the sap in trees, the pressure of blood in human veins. If these are true, why should there not be laws governing how and when we are born, how and when we die, and laws governing the interim period between life and death? For the occultist, laws like those which govern karma and rebirth are very real.

Các Định luật của Sự Sinh Và Tái Sinh

Cuộc sống của chúng ta là kết quả của tập hợp riêng biệt của các nguyên nhân và hậu quả. Khi ta gieo hạt tiêu thì không thể có được hoa hồng, cũng như khi trồng cây hoa nhài ngọt dịu sẽ không thể cho cây hoa gai. Định luật chi phối tất cả. 

Ngay cả nhà khoa học cũng nhận ra điều này và ông nhấn mạnh định luật  kiểm soát các hành tinh chuyển động trong quỹ đạo của chúng. Định luật điều khiển số vòng quay của những hình elip, con đường đi lên của nhựa trong thân cây, huyết áp của máu trong mạch máu. Và nếu các điều này là sự thật, tại sao lại không có các định luật chi phối bằng cách nào và khi nào chúng ta sinh ra? Bằng cách nào và khi nào chúng ta chết đi? Và định luật nào chi phối giai đoạn giữa lúc sống và lúc chết?  Theo các nhà huyền bí học, các định luật chi phối nghiệp quả và tái sinh là hoàn toàn có thực.

It is only when the disciple truly understands that there is no such thing as death but only a change of state that the majestic processes of karma are properly understood. He then begins to perceive rebirth merely as the opening of a door in which the Self passes from one room to another in the dwelling place of the Soul. Actions set in motion in a front room may have to await their resolution until reentry into that room is made in a life specifically chosen for that purpose.

The Laws of Karma and Reincarnation do not affect our personalities as much as they affect our souls. We feel that we are influenced by previous lives. This is true, but the laws of karma apply not so much to man’s lower nature, but to the eternal part of man—his Soul.

Chỉ khi nào người đệ tử thực sự hiểu rằng không có cái gọi là sự chết, đó chẳng qua chỉ là một sự thay đổi trạng thái, khi đó tiến trình vĩ đại của nghiệp quả mới được hiểu một cách đúng đắn. Khi đó y bắt đầu nhận thức được rằng sự tái sinh cũng giống như việc đi từ căn phòng này tới một căn phòng khác trong nơi cư ngụ của Linh hồn. Những hành động được thiết lập để thực hiện ở căn phòng ở phía trước có thể phải chờ thực hiện cho đến khi người đó bước vào lại căn phòng đó trong một kiếp sống đặc biệt được lựa chọn cho riêng mục đích đó.

Định luật Nghiệp quảLuân hồi không tác động đến phàm ngã của chúng ta nhiều như cách chúng tác động đến Linh hồn. Chúng ta cảm thấy rằng chúng ta bị ảnh hưởng bởi các kiếp sống trước đây. Điều này đúng, nhưng luật Karma không tác động quá nhiều tới các thể thấp như tác động tới thể bất diệt của con ngườiLinh hồn.

The Higher Triad and the Lower Triad

To an esoteric scientist, man’s lower nature is a triplicity – a triad made up not only of the physical body which we know so well, but also containing inner vehicles which we also know well on other levels of consciousness.

Tam Thể Thượng Và Tam Thể Hạ

Đối với một nhà khoa học huyền môn, tam thể hạ như là một bộ ba –  một Tam nguyên được hình thành không chỉ bởi thể vật lý mà chúng ta đã biết rõ, nó còn bao gồm các khí thể bên trong mà chúng ta cũng biết rõ ở các tầm mức tâm thức khác.

The Etheric Body of Man

Every human being has an energy counterpart, known in esoteric parlance as the etheric body, which is at long last being investigated by scientific instrumentation. It is this body which yogis say energises the physical body through great streams of energy coming from the sun known as prana – a solar energy that enters through certain force-fields or centres in the etheric matrix, proceeding from there to the physical form.

Thể Dĩ Thái Của Con Người.

Mỗi người đều có một đối phần năng lượng, được biết đến trong ngôn ngữ bí truyền như là thể dĩ thái, mà cuối cùng cũng sẽ được các thiết bị khoa học làm sáng tỏ. Chính thể này mà các nhà yogi nói rằng cấp năng lượng cho thể vật lý qua các dòng năng lượng vĩ đại đến từ mặt trời được biết đến như là prananăng lượng thái dương đi vào xuyên qua các trung tâm lực trong ma trận dĩ thái, từ đó đến cơ thể vật lý.

An Emotional or Astral Nature

Of course, man has an emotional nature – an astral body – made up of emotional substance. Many people hardly respond to anything else, being so controlled by the over-stimulation of these energies as to be considered a ‘bundle of nerves’ or a ‘walking powder keg’.

When we go to sleep, we transfer our consciousness from the physical brain into the astral body, which may then leave the physical body in bed and be transported through the ether in search of targets of people or places … usually in response to events or requests registered during the previous day’s activities in the objective world.

Thể Tình Cảm hay Thể Cảm xúc.

Điều tất nhiên, con người có một bản chất cảm xúc – một thể astral – được tạo nên từ chất liệu cảm xúc. Rất nhiều người gặp khó khăn trong việc tương tác với mọi thứ khác, họ bị kiểm soát bởi sự kích thích quá mức bởi những năng lượng này, được gọi là  “thần kinh bó buộc hay cục bột di động”

Khi ngủ, chúng ta chuyển đổi ý thức từ bộ não vật lý sang thể cảm xúc, khi đó có thể tách khỏi thể xác trên giường và dịch chuyển xuyên qua chất dĩ thái nhằm tìm kiếm những người hoặc những địa điểm nào đó… thường là đáp ứng lại những sự kiện hoặc các đòi hỏi được ghi nhận từ các hoạt động của ngày hôm trước trong thế giới vật lý.

The Mental Sheath

The mental body of man also interpenetrates with the others. The totality of this interaction makes up what is referred to as the human aura – a magnetic forcefield of energy surrounding each person in an oval shape, varying in depth according to the spiritual status of the individual. We spend so much time developing these bodies life after life only to discard them each time at death.

Thể trí

Thể trí của con người thâm nhập vào các thể khác. Toàn bộ sự tương tác này hình thành nên hào quang con người – một từ trường mãnh lực của năng lượng xung quanh mỗi người, có hình ô van, có chiều sâu thay đổi khác nhau tuỳ thuộc vào trạng thái tinh thần của mỗi cá nhân. Chúng ta mất rất nhiều thời gian để phát triển thể này từ kiếp này qua kiếp khác, chỉ để rũ bỏ chúng mỗi lần vào lúc chết.

Karma and reincarnation imply justice and love in everything. No matter how straight the gate … no matter how rough the road, we are the masters of our fate if we regard ourselves as Souls. If we think of ourselves only as personalities, then the road will always seem rough … the mountain top will always seem just beyond the horizon. Life truly becomes interesting when seen from the plane of the Soul … when we begin to control our own karma.

Nghiệp quảluân hồi hàm ý sự công bằng và tình yêu thương trong mọi vật. Cho dù cánh cổng thẳng tới đâu…cho dù con đường gập ghềnh thế nào, chúng ta luôn là chủ nhân của số phận của chính mình nếu chúng ta xem mình như là Linh Hồn. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ là những phàm ngã thì dường như con đường sẽ luôn luôn gập ghềnh… đỉnh núi cao dường như luôn luôn vượt quá đường chân trời. Cuộc sống trở nên thực sự thú vị khi được nhìn từ cõi giới của Linh hồn…khi đó, chúng ta sẽ bắt đầu kiểm soát nghiệp quả của chính mình.

Even a planetary Logos has certain karma to work out, and every living being on this planet shares in that karma to some extent. All of us, from those exalted Beings down to the lowliest of human beings, can begin to control our karma—both good and evil.

Ngay cả một Hành Tinh Thượng Đế cũng có nghiệp quả cần được giải quyết, và mỗi chúng sinh trên hành tinh này cùng chia sẻ nghiệp quả đó ở một mức độ nhất định. Tất cả chúng ta, từ những Đấng Cao Cả xuống tới những người thấp hèn nhất, đều có thể bắt đầu kiểm soát nghiệp quả của chính mình – cả nghiệp thiện và nghiệp ác.

Sometimes, the individual fails to learn the lesson for which a particular circumstance was supposed to provide an opportunity. Life after life may be squandered, until the person recognizes the cause behind the recurring circumstances in each life. In some instances, it may be many lives before the individual is called upon to make retribution for something he initiated in a life of ancient origin.

Đôi khi, cá nhân gặp thất bại trong việc học bài học mà một trường hợp cụ thể được dự định cung cấp một cơ hội. Có thể bị lãng phí hết kiếp này đến kiếp khác, cho đến khi người đó nhận ra nguyên nhân đằng sau của các hoàn cảnh được lặp đi lặp lại ở các kiếp sống.  Trong một số trường hợp, có thể sẽ trải qua rất nhiều kiếp sống trước khi cá nhân đó bị gọi ra để trả giá cho một vài việc mà y đã làm ở một kiếp sống xa xưa.

Life is a Sine Wave

On one level, each life operates as a sine wave of energy – flowing from birth through death. On a higher turn of the spiral, the wave would show as a continuous journey by the Soul in its effort to achieve perfection, with the peaks representing the travel through time and space in physical forms on the plane of the earth and the valleys standing for the periods spent in devachan.

Cuộc sống là một Sóng Hình Sin.

Ở một cấp độ, mỗi kiếp sống diễn ra như một sóng năng lượng hình Sin – từ khi sinh ra cho đến khi chết. Trên vòng xoắn cao hơn của hình xoắn ốc, sóng này sẽ diễn ra như một hành trình liên tục của Linh Hồn với những nỗ lực nhằm đạt đến sự hoàn hảo, với các đỉnh là hành trình xuyên qua thời giankhông gian trong hình thể vật lý trên trần gian, và thung lủng là giai đoạn trong Devachan.

On a still higher turn of the spiral, an individual can spend a final series of incarnations in several lives with only short periods out of a personality form, with the entire series seen as one sine wave. Such a run would emerge from an extended period of absence from the earth plane (known as a pralaya) and be impelled under the driving force of the Will-to-Be of the Logos to continue in each life the work started in the previous one. Such work would, of course, be on a planetary scale and evolutionary in content such as a development of the healing arts (See The Psychology of Discipleship, pp.80-83, by the author).

Trên một vòng xoắn còn cao hơn, một cá nhân có thể trải qua một chuỗi tái sinh cuối cùng trong một vài kiếp sống với chỉ một giai đoạn ngắn ngoài hình thể phàm ngã, với toàn bộ chuỗi giống như dạng sóng hình Sin. Một tiến trình như vậy sẽ phát xuất từ thời kì kéo dài vắng mặt khỏi cõi trần (được biết như là một Pralaya) và được thúc đẩy dưới mãnh lực của Ý Chí – Hiện Tồn của Thượng Đế để tiếp tục trong mỗi kiếp sống công việc vốn đã bắt đầu từ kiếp trước. Dĩ nhiên, một công việc như vậy nằm tên tầm mức hành tinh có tính thúc đẩy sự tiến hóa, chẳng hạn như sự phát triển nghệ thuật chữa bệnh (Xem Psychology of Discipleship, P 88-89, cùng tác giả).

The Will-to-Be of the Monad would be the driving force for most incarnations. In rare instances, such as suicides or extreme debauchery, the desire of the personality to maintain its hold on the earth plane can be so strong that the individual is swept back into incarnation almost immediately. Of course, in the latter case, the same set of circumstances would present itself until the personality learned its lesson and escaped from the self-created prison of cyclic events.

Ý chí – Hiện Tồn của Chân thần là động lực cho hầu hết sự tái sinh. Trong những trường hợp hiếm hoi như tự sát hoặc có lối sống quá đồi trụy, sự khao khát của phàm ngã muốn duy trì đời sống đó trên cõi trầnthể quá mạnh đến mức phàm ngã ngay lập tức bị cuốn vào vòng luân hồi. Tất nhiên trong trường hợp này, những hoàn cảnh tương tự cũng sẽ được đưa ra cho đến khi phàm ngã đã học được bài học của chính nó và giải thoát khỏi vòng giam hãm của những sự kiện lặp lại.

But this lower triad of man is transient—a form which we discard at death, which the esotericist knows to be only a stage of consciousness where in each person enters greater fields of opportunity for Soul experiences.

Nhưng tam thể hạ của mỗi người chỉ là tạm thời – một hình thể mà chúng ta sẽ rũ bỏ khi chết, và nhà huyền bí học biết rằng đó chỉ là một giai đoạn của tâm thức trong đó mỗi người bước vào một lãnh vực rộng mở hơn với những cơ hội cho Linh hồn kinh nghiệm.

Certainly this lower triad of man is affected by the Laws of Karma and

Reincarnation, but those laws are hardly understandable in terms of one short life. Karma and reincarnation must be evaluated in terms of the higher triad of man— the true, perpetual, enduring part of man—the part we call the Soul. The Soul of man is formless, but made up of three major energies known as Atma, Buddhi and Manas.

Chắc chắn tam thể hạ này chịu sự chi phối bởi luật nghiệp quảluân hồi, nhưng trong một giai đoạn ngắn, rất khó để hiểu được những định luật này chỉ trong một kiếp sống ngắn ngủi. Nghiệp quảluân hồi phải được đánh giá theo tam thể thượng – là phần chân thật, vĩnh cửu và trường tồn của mỗi người – thể mà chúng ta gọi là Linh Hồn. Linh Hồn của một người không có hình tướng, nhưng được cấu thành từ ba nguồn năng lượng chính được biết đến là: Atma, Buddi và Manas.

When we talk about karma, we are talking about laws which govern ultimately the unfoldment of the Egoic Lotus. This higher part of man which persists after death has been sometimes depicted as a lotus, each petal being unfolded according to the Laws of Karma. Each incarnation is chosen by the Soul according to which petal is to be unfolded in that life – whether it is to be a Sacrifice Petal as the result of great effort in service to mankind, a petal of Knowledge, or a petal of Love. All of this is decided by the Laws of Karma and Reincarnation. (See The Jewel In The Lotus, pp.

139-149, by the Author).

Khi nói về Karma, chúng ta đang nói về luật chi phối tối hậu sự khai mở của Hoa Sen Chân Ngã. Bộ phận cao hơn này của mỗi người vẫn tồn tại sau khi chết, đôi khi được miêu tả như một hoa sen, mỗi cánh hoa được khai mở theo Luật Karma. Linh hồn lựa chọn mỗi kiếp luân hồi tuỳ theo cánh hoa nào được khai mở trong kiếp sống đó – dù đó là Cánh Hoa Hy Sinh trong nỗ lực phụng sự nhân loại, hay Cánh Hoa Hiểu Biết hay Cánh Hoa Tình Thương. Tất cả những điều này đều được quyết định bởi Luật KarmaLuân hồi (Xem trong cuốn The Jewel in the Lotus, PP 139149, của tác giả).

 

Phụ lục

Giải thích về Sóng hình Sin của sự Luân hồi

Trích từ Psychology of Discipleship

The urge of the Soul to incarnate is part of the Will-to-Be of that infinitely greater Being, the planetary Logos. Life in a physical body is, for the soul, a karmic necessity, a necessity which is met cyclically. The monad gains, through the Soul’s involvement in a physical form, spiritual staying power. Staying power implies sustained will and determination.

After a long period of rest, the Soul presses downwards into the mental, astral and physico-etheric planes, stimulating first its permanent atoms on those planes and then, attracting through them, the materials out of which its sheaths of matter will be constructed.

The urge to incarnate is repeatedly satisfied as personality after personality is assumed and discarded. All the time, the soul garners qualities from these experiences which, in terms of their atmic, buddhic and manasic qualities will bring staying power to the overshadowing monad. It is not so much through the incarnating process that this spiritual staying power is gained but rather in the process of extraction or of disengagement from the lower triad of bodies that the quality is won. When the cycle ends the soul goes into a state of withdrawal, brooding over its experiences, consolidating them and resting in preparation for the resurgence that follows.

This oscillation, both ways, into and out of involvement in material form may be seen as a sine wave with the downward thrust of the curve depicting the increasing potency of the urge to incarnate. The upward movement of each curve would, correspondingly, depict the waning of the expression of the will-to-be. Thus all men reflect outwardly, in their behaviour, something of these Soul-urges. Generally, incarnations assumed in the downward sweep are ones in which Will Rays predominate in the personalities. In the trough or nadir of the sine wave, there are lives in which there is a balance between the complement of Love and those of Will Rays. In the upward sweep of the curve, Love Rays predominate in the personalities assumed. A life in which there is ‘abulia,’ an absence of will-power is generally experienced at the summit of this curve immediately prior to the soul’s withdrawal into a long period of pralaya.

We write here, of pralaya, in the sense of the soul being out of manifestation but it includes, in fact, the period spent in devachan, represented by the crest of the waves. Devachan is not the heaven world which is associated with the Earth. In those who possess perfectly normal physical bodies and in whom karma is not particularly malevolent or active, there is a life of inactivity. This would show not only as lack of interest in a career, marriage, ambition etc., but it can demonstrate more diffusely in lack of any sort of drive. Thoughts may enter the mind but they lose the name of action. It is almost as if the incarnee is in a state of shock. There is desire to contact the environment but a paralysis of action.

Whilst it is certain that schizophrenia has a genetic background to it, in that stress cannot be endured to any great extent through physical disabilities endowed by a dominant gene, many sufferers of the condition would escape outward signs of the disease if it were not for the fact that the incarnation has almost reached the crest of the withdrawal part of the sine wave. Here, the lack of Will energies, especially those of atma—which have a special affinity for the physical body and particularly for the brain mechanism itself—allows the vehicles of consciousness to become too loosely connected. The energies of the personality are too facile. They quickly energise any thought form, and so, distract with it, the awareness of the schizophrenic into elements of the unreal. The will-to-be is not strong; the bodies are loosely combined and the splitting of personality is easy.

In the early years of of life ‘on the Path’, the tendency to withdraw all interest from the tangible, the so-called world of reality, grows apace and unless the personality is carefully disciplined along the lines of classical esoteric instruction, instability may result. ‘Keeping both feet on the ground’ is good advice to all pupils but most especially to those who suffer from ‘hypobulia’, the diminishment of the will-tobe.

The Diagram below shows, by method of a sine wave, a series of lives for average man. For him, each life is separated by approximately 700 to 1100 years* depending on whether it is a life predominantly on the Will Rays or one on the Love Rays. Arrows pointing downwards represent the former and those directed upwards represent the latter. The heaven world occupies the space between lives but after a series of lives there would be a period in devachan shown in the crests above the diagram’s horizontal line that demarcates pralaya from manifestation in a physical body.

*These two figures have been greatly reduced from their traditional estimates shown here, due to the rapid rise of population in the world.

 

It is appropriate here to consider the nature of devachan as described in The Mahatma Letters to A. P. Sinnet:

‘The Devachan, or land of ‘Sukhavati,’ is allegorically described by our Lord Buddha himself. What he said may be found in the Shan-Mun-Yik-Tung. Says Tathagata:-

“Many thousand myriads of systems of worlds beyond this—ours—there is a region of Bliss called Sukhavati … This region is encircled with seven rows of railings, seven rows of vast curtains, seven rows of waving trees; this holy abode of Arahats is governed by the Tathagatas—Dyhan Chohans—and is possessed by the Buddhisatwas. It hath seven precious lakes, in the midst of which flow crystaline waters having “seven and one 2 properties, or distinctive qualities – 7 principles emanating from the One—This, O Sariputra is the “Devachan”. Its divine Udumbara flower casts a root in the shadow of every earth, and blossoms for all those who reach it. Those born in the precious region are truly felicitous, there are no more griefs or sorrows in that cycle for them … Myriads of spirits— Lha—resort there for rest and then return to their own regions. Again, O Sariputtam in that land of joy many who are born in that are Avaivartyas … “ etc.

‘Certainly the new Ego, once it is reborn, retains for a certain time, proportionate to its Earth-life, a complete recollection of his life on Earth. But it can never return on Earth, from the Devachan, nor has the latter, even omitting all anthropomorphic ideas of God, any resemblance to the paradise or heaven of any religion, and it is H. P. B.’s literary fancy that suggested to her the wonderful comparison.

Now the question of importance is who goes to Heaven, or Devachan? Is this condition only attained by the few who are very good, or by the many who are not very bad, after the lapse in their case of a longer unconscious incubation or gestation?’

The diagram below shows the changes that occur in the Laws governing reincarnation with regard to the Pupil and the Initiate. A long period in Devachan heralds a run of lives which are in quick succession. The pupil has been given a share of the Plan. He uses both Will and Love Rays to execute it and returns again and again until the cycle of manifestation ends with a pralaya and a return to Devachan or to the climax of initiation and Masterdom.

 

’Who goes to Devachan?’ The personal Ego of course, but beatified, purified, holy. Every Ego, the combination of the sixth and seventh principles, which, after the period of unconscious gestation is reborn into the Devachan, is of necessity as innocent and pure as a new-born babe. The fact of his being reborn at all, shows the preponderance of good over evil in his old personality. And while the karma— of evil—steps aside for the time being to follow him to his future earthreincarnation, he brings along with him but the Karma of his good deeds, words and thoughts, into this Devachan. ‘Bad’ is a relative term for us, as you were told more than once before, and the Law of Retribution, is the only law that never errs. Hence, all those who have not slipped down into the mire of unredeemable sin and bestiality, go to the Devachan. They will have to pay for their sins, voluntary and involuntary, later on. Meanwhile they are rewarded; receive the effects of the causes produced by them.

‘Of course it is a state, one, so to say, of intense selfishness, during which an Ego reaps the reward of his unselfishness on earth. He is completely engrossed in the bliss of all his personal earthly affections, preferences and thoughts, and gathers in the fruits of his meritorious actions. No pain, no grief nor even the shadow of a sorrow comes to darken the bright horizon of his unalloyed happiness: for, it is a state of perpetual Maya … Since the conscious perception of one’s personality on earth is but an evanescent dream, that sense will be equally that of a dream in the Devachan … only a hundredfold intensified. So much so, indeed, that the happy Ego is unable to see through the veil, the evils, sorrows and woes to which those it loved on earth may be subjected. It lives in that sweet dream with its loved ones … whether gone before, or yet remaining on earth; it has them near itself, as happy, as blissful and as innocent as the disembodied dreamer himself; and yet, apart from rare visions, the denizens of our gross planet feel it not. It is in this, during such a condition of complete Maya that the Souls or astral Egos of pure, loving sensitives, labouring under the same illusion, think their loved ones come down to them on earth, while it is their own Spirits that are raised towards those in Devachan. Many of the subjective spiritual communications, most of them when the sensitives are pure-minded, are real; but it is most difficult for the uninitiated medium to fix in his mind the true and correct pictures of what he sees and hears. Some of the phenomena called psychography—though more rarely—are also real. The spirit of the sensitive getting odylised, so to say, by the aura of the Spirit in the Devachan, becomes for a few minutes that departed personality, and writes in the handwriting of the latter, in his language and in his thoughts as they were during his lifetime. The two spirits become blended in one, and, the preponderance of one over the other during such phenomena determines the preponderance of personality in the characteristics exhibited in such writings, and trance speaking. What you call rapport is in plain fact an identity of molecular vibration between the astral part of the incarnate medium and the astral part of the discarnate personality. As in music, two different sounds may be in accord and separately distinguishable and this harmony or discord depends on the synchronous vibrations and complementary periods; so there is rapport between medium and ‘control’ when their astral molecules move in accord. And the question as to whether the communication shall reflect more of the one idiosyncrasy, or the other, is determined by the relative intensity of the two sets of vibrations in the compound wave of Akasha. The less identical the vibratory impulses the more mediumistic and less spiritual will be the message. So then, measure your medium’s moral state by that of the alleged controlling Intelligence, and your tests of genuineness leave nothing to be desired.

‘There are great varieties in the Devachanic states. As many varieties of bliss as there are on earth, there are shades of perception and of capability to appreciate such reward. It is an ideated paradise, in each case of the Ego’s own making, and by him filled with the scenery, crowded with the incidents, and thronged with the people he would expect to find in such a sphere of compensative bliss. And it is that variety which guides the temporary personal Ego into the current which will lead him to be reborn in a lower or higher condition in the next world of causes. Everything is so harmoniously adjusted in nature—especially in the subjective world, that no mistake can be committed by the Tathagatas, or Dhyan Chohans, who guide the impulses.

‘On the face of the idea, a purely spiritual state would only be enjoyable to the entities highly spiritualised in this life. But there are myriads of very good people— morally—who are not spiritualised at all. How can they be fitted to pass, with their recollections of this life from a material to a spiritual condition of existence?

‘It is a spiritual condition only as contrasted with our own grossly ‘material condition’, and, as already stated, it is such degrees of spirituality that constitute and determine the great varieties of conditions within the limits of Devachan. A mother from a savage tribe is not less happy than a mother from a regal palace, with her lost child in her arms; and although as actual Egos, children prematurely dying before the perfection of their septenary Entity, do not find their way to Devachan, yet all the same, the mother’s loving fancy finds her children there, without one missing that her heart yearns for. Say—it is but a dream, but after all what is objective life itself but a panorama of vivid unrealities? The pleasures realised by a Red Indian in his happy hunting grounds in that Land of Dreams is not less intense than the ecstasy by a connoisseur who passes aeons in the rapt delight of listening to divine Symphonies by imaginary angelic choirs and orchestras. As it is no fault of the former, being born a savage with an instinct to kill—though it caused the death of many an innocent animal—why, if with it at all, he was a loving father, son, husband, why should he not also enjoy his share of the reward? The case would be quite different if the same cruel acts had been done by an educated and civilised person, from a mere love of sport. The savage in being reborn would simply take a a low place in the scale, by reason of his imperfect moral development; while the karma of the other would be tainted with moral delinquency . . .

‘Everyone but that ego which, attracted by its gross magnetism, falls into the current that will draw it into the planet of Death—the mental as well as physical satellite of our earth—is fitted to pass into a relative spiritual condition adjusted to his previous condition in life and mode of thought. To my knowledge and recollection H.P.B. explained to Mr. Hulme that man’s sixth principle, as something purely spiritual could not exist, or have conscious being in the Devachan, unless it assimilated some of the more abstract and pure of the mental attributes of the fifth principle or animal Soul, its manas (mind) and memory. When man dies, his second and third principles die with him; the lower triad disappears, and the fourth, fifth and sixth principles form the surviving Quaternary. Thenceforth it is a death struggle between the Upper and Lower dualities. If the upper wins, the sixth, having attracted to itself the quintessence of Good from the fifth, its nobler affections, its saintly, though they be earthly, aspirations, and the most spiritualised portions of its mind, follows (picture) its divine elder—the 7th—into the Gestation State; and the fifth and fourth remain in association as an empty shell—the expression is quite correct—to roam in the earth’s atmosphere, with half the personal memory gone, and the more brutal instinct fully alive for a certain period—an Elementary, in short. This is the angel guide of the average medium. If, on the other hand, it is the Upper Duality which is defeated, then it is the fifth principle that assimilates all that there may be left of personal recollection of and perceptions of its personal individuality in the sixth. But, with all this additional stock, it will not remain in Kama-Loka, the World of Desire or our Earth atmosphere. In a very short time, like a straw floating within the attraction of the vortices and pits of the Maelstrom, it is caught up and drawn into the great whirlpool of human Egos; while the sixth and seventh, now a purely spiritual, individual Monad, with nothing left in it of the late personality, having no regular ‘gestation’ period to pass through—since there is no purified personal Ego to be reborn—after a more or less prolonged period of unconscious Rest in the boundless Space, will find itself reborn in another personality on the next planet. When arrives the period of Full Individual Consciousness, which precedes that of Absolute Consciousness in the Pari-Nirvana, this lost personal life becomes a tornout page in the great Book of Lives, without even a disconnected word left to mark its absence. The purified monad will neither perceive nor remember it in the series of its past rebirths, which it would had it gone to the World of Formsrupa-loka— and its retrospective glance will not perceive even the slightest sign to indicate that it had been.

‘The light of Samma-Sambuddh, “ … that light which shines beyond our mortal ken The light of all the lives in all the worlds”, throws no ray upon that personal life in the series of lives forgone. To the credit of mankind, I must say, that such an utter obliteration of an existence from the tablets of Universal Being does not occur often enough to make a great percentage. In fact, like the much mentioned ‘congenital idiot’ such a thing is a ‘lusus naturae,’ an exception, not the rule.

‘The period of gestation between Death and Devachan has hitherto been conceived by me at all events as very long. Now it is said to be in some cases only a few days, in no cases—it is implied—more than a few years. This seems plainly stated, but I ask if it can be explicitly confirmed because it is point on which so much turns.

Another fine example of the habitual disorder in which H.P.B.’s mental furniture is kept. She talks of Bardo and does not even say to her readers what it means! As in her writing room, confusion is ten times confounded, so in her mind are crowded ideas piled in such a chaos that when she wants to express them, the tail peeps out before the head. Bardo has nothing to do with the duration of time in the case you are referring to. Bardo is the period between death and rebirth and may last from a few years to a kalpa. It is divided into three sub-periods … (1) when the Ego, delivered of its mortal coil, enters into Kama-Loka (the abode of Elementaries); (2) when it enters into its Gestation State; (3) when it is reborn in the Rupa-Loka of Devachan. Sub-period (1) may last a few minutes to a number of years, the phrase a few years becoming puzzling and utterly worthless without a more complete explanation; Sub-Period (2) is very long, as you say, longer sometimes than you may even imagine, yet proportional to the Ego’s spiritual stamina; Sub-Period (3) lasts according to the good Karma, after which the monad is again reincarnated. The Agama Satra saying: ‘In all these Rupa-Lokas, the Devas (Spirits) are equally subjected to birth, decay, old age and death’, means only that an ego is born thither, then begins fading out and finally ‘dies’, i.e. falls into that unconscious condition which precedes rebirth; and ends the Sloka with these words: “As the Devas emerge from these heavens, they enter the lower world again,” i.e., they leave a world of bliss to be reborn in a world of causes.

‘In that case, and assuming that Devachan is not solely the heritage of adepts and persons almost as elevated, there is a condition of existence tantamount to Heaven actually going on, from which the Life of Earth may be watched by an immense number of those who have gone before! And for how long? Does this state of spiritual beatitude endure for years? for decades? for centuries?

‘Most emphatically ‘the Devachan is not solely the heritage of adepts’, and most decidedly there is a ‘heaven’—if you must use this astro-geographical term—for ‘an immense number who have gone before’. But life on earth can be watched by none of these, for reasons of the Law of Bliss plus Maya, already given.

‘For years, decades, centuries and milleniums, often-times multiplied by something more … it all depends on the duration of Karma. Fill with oil Den’s little cup, and a city reservoir with water, and lighting both see which burns the longer. The Ego is the wick and Karma the oil, the difference in the quality of the latter— in the cup and in the reservoir—suggesting to you the great difference in the duration of various Karmas. Every effect must be proportionate to the cause. And, as man’s terms of incarnate existence bear but a small proportion to his periods of internatal existence in the manvantaric cycle, so the good thoughts, words, and deeds of anyone of these ‘live’ on a globe are causative of effects, the working out of which requires far more time than the evolution of the causes occupied. Therefore, when you read in the Jats and other fabulous stories of the Buddhist Scriptures that this or the other good action was rewarded by Kalpas of several figures of bliss, do not smile at the absurd exaggeration, but bear in mind what I have said. From a small seed, you know, sprung a tree whose life endures now for 22 centuries; I mean the Anuradha-pura Bo tree.’

Chương 3: Nhân Quả (Sách Karmic Laws-MFVN Dịch)

Chương 3 – CHAPTER 3

Karma and Pain

Karma và Sự Đau khổ

Modern philosophies in the West are unable to answer the simplest questions asked by man today, even such basic questions as who we are, why we are on Earth, where we are going from here, and why is it that some people have to suffer so much? Answers to these questions have been available to the esotericist from ancient days in the teachings of Ancient Wisdom.

Triết học hiện đại Phương Tây không thể trả lời những câu hỏi đơn giản nhất của con người ngày nay, thậm chí là những câu hỏi cơ bản như chúng ta là ai, tại sao chúng ta lại có mặt trên Trái Đất này, chúng ta đang đi đến đâu và tại sao một số người lại phải chịu đựng nhiều đau khổ như vậy? Các nhà huyền linh học đã có các câu trả lời cho các câu hỏi này từ thời cổ đại trong những lời truyền dạy của Minh Triết Cổ Xưa.

Karma and Pain 

Nghiệp quả và Sự Đau khổ

One of the most perplexing of these questions which have plagued mankind throughout the centuries is why some people have to endure great pain and suffering through various diseases and other misfortunes, and why others are showered with love, good fortune and all the ‘good’ things of life. Why are some born into this life deformed, or with great propensity to disease or illness in later life and others never know a day of disease throughout their entire life? Why do some have graceful, vibrant bodies full of vital force and others are ugly and full of dissonance?

Một trong những câu hỏi làm rối trí nhất đã quấy rầynhân loại trong suốt nhiều thế kỷ là tại sao một số người phải chịu những nỗi khổ đau to lớn như bị nhiều loại bệnh tật hay gặp bất hạnh, và tại sao những người khác lại được bao quanh bởi tình yêu, sự may mắn và những thứ “tốt đẹp” trong cuộc đời này. Tại sao một số người khi sinh ra lại không lành lặn hoặc có thiên hướng ốm đau, bệnh tật khi về già và những người khác lại không biết lấy một ngày ốm đau, bệnh tật trong suốt cả cuộc đời họ? Tại sao có những người lại có thân hình duyên dáng, đẹp đẽ, đầy sức sống và những người khác lại xấu xí hoặc không hài hòa?

Science has come a long way in this century, establishing without doubts that there is order in the universe – anywhere and wherever we turn our attention. The planets spin in their orbits according to certain definable laws, revealed by the astronomer Kepler more than three hundred years ago … the pressure of the blood in our arteries and veins rises and falls according to laws we can correlate to other bodily systems … the whole flowering of the planet earth is woven within the tapestry of seasonal changes by certain well-known laws of nature.

Khoa học đã tiến một bước dài trong thế kỷ này, khẳng định một sự chắc chắn không nghi ngờ gì rằng có một trật tự trong vũ trụ này – ở tất cả mọi nơi và bất kỳ chỗ nào mà chúng ta chú ý đến. Các hành tinh xoay tròn trong các quỹ đạo của chúng theo các quy luật nhất định, được khám phá bởi nhà thiên văn học Kepler hơn ba trăm năm trước… hay áp lực của dòng máu lên các động mạch và tĩnh mạch tăng và giảm theo quy luật mà chúng ta có thể liên hệ đến các hệ thống khác trong cơ thể…sự nở hoa của cả trái đất được dệt trong tấm thảm của những sự thay đổi theo mùa bởi các luật nhất định phổ biến của tự nhiên

But for all its knowledge of the ordered structure of things throughout our universe, science still refuses to admit that there must then be laws which govern the kind of body with which a person is born and the kind of environment into which that body is thrust at birth. Of further concern is the failure of science to admit that there must also be laws which govern how we are to leave this life, and laws to say what will happen to our consciousness after we are dead.

Nhưng với tất cả những kiến thức về cấu trúc có trật tự của mọi vật trong vũ trụ, khoa học vẫn từ chối thừa nhận rằng có các luật chi phối hình thức mà một người được sinh ra và hình thức môi trường mà thân thể đó được sinh vào. Quan ngại hơn là sự thất bại của khoa học khi không thừa nhận rằng chắc chắn phải có các luật nào đó chi phối cách chúng ta sống cuộc đời này và các luật để nói ra điều gì sẽ xảy ra với tâm thức của chúng ta sau khi chúng ta chết đi

Answers in the Ancient Wisdom 

Các câu trả lời trong Minh Triết Cổ Xưa

The teachings of Ancient Wisdom reveal that just as there are laws that govern the universe, the atom, and nature itself – so there are laws that govern man’s existence in that universe as part of nature, and containing atoms as part of his own constellatory beingness … the karmic laws governing disease and rebirth.

Theo những lời dạy trong Minh Triết cổ xưa, có những luật chi phối vũ trụ, nguyên tử và tự nhiên –và do đó có những luật chi phối sự tồn tại của con người trong vũ trụ như một phần của tự nhiên, và chứa đựng các nguyên tử như một phần của vũ trụ tồn tại của y…luật Nghiệp quả chi phối bệnh tật và sự tái sinh

It is only through acceptance of the fact of karma and reincarnation in our philosophies of today that answers will be given for everything that exists on this planet. These philosophies can then explain fire-walking, hypnotism, materialization, spirit healing – indeed all phenomena of the inner worlds.

Chỉ có thông qua việc thừa nhận sự thật về Karma và sự tái sinh trong các triết học của chúng ta thời nay mới có thể có câu trả lời cho tất cả mọi sự vật tồn tại trên hành tinh này. Khi đó những triết lý này có thể giải thích các hiện tượng như đi trên lửa, thuật thôi miên, chữa bệnh tâm linh – thực chất là tất cả các hiện tượng của các thế giới bên trong

The Teachings of Buddha

When the Buddha, a Sixth Rounder, came to the planet Earth, which is in its Fourth Round, it was like taking an Einstein and putting him to work as a galley slave in ancient times. The Buddha came to teach man that suffering and pain are inevitable … that it is part of the karmic role of this planet … that a correct attitude towards suffering will help men to deal with it:

Lời dạy của Đức Phật

Khi Đức Phật, một Người thuộc vòng Tuần Hoàn thứ 6 đến với hành tinh Trái Đất, lúc đó mới đang ở vòng Tuần hoàn thứ 4, việc này cũng giống như là đưa một người như Anhxtanh đến và làm một nô lệ khổ sai trong thời cổ đại. Đức Phật đến để dạy con người rằng đau khổ là không tránh khỏi và rằng nó là một phần vai trò của nghiệp quả với hành tinh này và một thái độ đúng đắn với việc chịu đựng đau khổ sẽ giúp con người vượt qua được nó:

‘A young woman, having lost her first-born, was so beset with grief that she wandered through the streets, pleading for some magic medicine to restore life to her child. Some turned away from her in pity; some mocked her and called her mad; none could find words to console her. But a wise man noting her despair, said: “There is only one in all the world who can perform this miracle. He is the Perfect One, and resides at the top of the mountain. Go to him, and ask.”

“Một người phụ nữ trẻ, vừa mất đứa con đầu đời của mình, rất suy sụp với nỗi đau to lớn này, cô lang thang khắp các phố cầu xin một phương thuốc thần tiên để làm sống lại đứa con của cô. Một số người ngoảnh mặt đi trong sự thương xót, một số thì chế nhạo cô và gọi cô là tâm thần, không ai có thể tìm đươc một lời nào để an ủi được cô. Tuy nhiên có một nhà thông thái biết chuyện và nói với cô: “Trên thế giới này chỉ có một người có thể làm được điều kỳ diệu đó. Đó là Đấng Toàn Thiện (Đức Phật), Ngài sống ở đỉnh ngọn núi kia. Hãy lên đó tìm Ngài và hỏi”

‘The young woman went up the mountain and stood before the Perfect One and beseeched, “O Buddha, give life back to my child.” And Buddha said, “Go down into the city, from house to house, and bring me a mustard seed from a house in which no one has ever died.”

“Người phụ nữ trẻ trèo lên đỉnh núi và đứng trước Đức Phật, cầu xin “Thưa Đức Phật, xin người hãy mang lại sự sống cho đứa con con” và Đức Phật nói, “Ngươi hãy đi xuống phố, hỏi từ nhà này sang nhà khác và hãy mang cho ta một hạt giống mù tạt từ một ngôi nhà mà chưa từng có ai chết cả”

‘The young woman’s heart was high as she hastened down the mountain and into the city. At the first house she visited, she said: “The Buddha bids me fetch a mustard seed from a house which has never known death.”

“Trái tim người phụ nữ trẻ reo mừng và cô nhanh chóng xuống núi đi vào phố. Ở ngôi nhà đầu tiên cô đến, cô nói: “Đức Phật bảo tôi xuống xin một hạt giống mù tạt từ một ngôi nhà mà chưa từng có ai chết

“In this house many have died,” they told her. So she went to the next house, and asked again. “It is impossible to count the number who have died here,” they replied. So she went to a third house and a fourth and a fifth, and so on through the city, and could not find a single house which death had not at some time visited.

Họ bảo với cô “Ở ngôi nhà này rất nhiều người đã chết” Vậy nên cô đến nhà bên cạnh và lại hỏi xin, người ta trả lời cô “Không thể đếm hết số người đã chết ở đây. Do đó, cô lại đến ngôi nhà thứ 3, thứ 4 và cứ như thế cô đi hết cả thành phố và không thể tìm thấy một ngôi nhà nào mà cái chết không đến thăm.

‘So the young woman returned to the top of the mountain. “Have you brought the mustard seed?” the Buddha asked.

“No,” she said, “Nor do I seek it anymore. My grief had made me blind. I thought that only I had suffered at the hands of death.”

“Do đó người phụ nữ trẻ quay lại đỉnh núi. Đức Phật hỏi “Ngươi đã mang về cho ta hạt giống mù tạt kia chưa”.

Cô nói: “Chưa, và con sẽ không tìm kiếm nữa. Nỗi đau của con đã làm con mờ mắt. Con nghĩ rằng chỉ mình con phải chịu đựng dưới cánh tay của Thần Chết

“Then why have you returned?” the Perfect One inquired. “To ask you to teach me the truth.” she said. And this is what the Buddha told her: “In all the world of man and all the world of gods, this alone is the Law: all things are impermanent.”

“Thế tại sao con lại trở lại?” Đức Phật hỏi, Người phụ nữ trả lời: “Để xin người dạy cho con sự thật” Và Đức Phật nói với cô: “Trong tất cả thế giới của con người và thế giới của thánh thần, chỉ có một Luật đó là: Tất cả mọi thứ đều không tồn tại mãi mãi”

Human beings have many more than five senses. One of these is the sense of pain and the physical body has many sensory organs to register pain – there is even a special tract in the spine for this purpose.

Con người có nhiều hơn nhiều hơn 5 giác quan. Một trong số chúng là giác quan về nỗi đau và cơ thể vật lý có rất nhiều cơ quan cảm giác để ghi nhận nỗi đau đó – thậm chí có cả bộ máy đặc biệt trong xương sống dành cho mục đích này

The Value of Pain 

Giá trị của Sự Đau khổ

Pain can be remedial once we accept it and get on with our Soul’s purpose for experiencing it in a particular incarnation. Endured with patience and graciousness of being, then spiritual growth can be released as a ‘torrent from heaven’s gates’.

Nỗi đau có thể chữa lành một khi chúng ta chấp nhận nó và coi nó là một trong những mục đích của Linh hồn để trải nghiệm trong một lần tái sinh nhất định. Chịu đựng trong kiên nhẫn và vui sống thì sự phát triển tâm linh có thể được giải phóng như thể một “thác nước từ các cánh cổng thiên đường”.

Pain is an experience shared by all living things on our planet. Cleve Backster has shown in monitored scientific research that when a plant is approached by someone intent on burning it with a lighted cigarette, the leaves of that plant start reacting long before the person reaches it. Once, caught in a long and tedious laboratory experiment, he grew hungry and decided to eat a couple of eggs from a group he had just rigged up to reactors. Not only did all of the eggs show a decided jump on the scale registering pain reactions – but all the plants in the laboratory as well! Plants have some sort of sensory equipment capable of feeling and registering the highest of human emotions: love and compassion. They respond to it and phenomenal growths have occurred when plants are so ‘loved’ and attended to.

Nỗi đau là một trải nghiệm được chia sẻ bởi tất cả các sinh linh trên hành tinh của chúng ta. Cleve Backster đã công bố điều này trong một nghiên cứu khoa học rằng khi một cái cây được tiếp cận bởi một người có ý định đốt nó với một điếu thuốc đã châm lửa thì các lá của cành cây đó đã bắt đầu phản ứng trước khi người đó sờ đến rất lâu trước đó. Một lần, khi ông đang làm một thí nghiệm dài và chán ngắt, ông đói bụng và quyết định ăn một vài quả trứng trong một nhóm mà ông đã lấy ra trước đó để theo dõi phản ứng. Không chỉ tất cả các quả trứng đều cho thấy một mức gia tăng trong thang ghi nhận nỗi đau mà tất cả các cái cây trong phòng thí nghiệm cũng vậy. Các cây cối cũng có một cơ quan giác quan nào đó để có thể cảm thấy và ghi nhận cảm xúc cao nhất của con người: tình yêu và sự từ bi. Chúng phản ứng lại nó và sự tăng trưởng kỳ diệu đã xảy ra khi cây được chú ý và yêu thương.

Until man in the West understands the real significance of death our philosophies will remain incomplete. These lost aspects of philosophy were summed up by Madam Blavatsky in a statement: ‘Suffering is heaven’s mercy for the spiritually sick.’

Triết học của chúng ta sẽ vẫn chưa hoàn thiện cho đến khi người Phương Tây hiểu sự quan trọng thực sự của cái chết. Những khía cạnh còn thiếu này của triết học được tổng kết lại bởi bà Blavatsky trong một câu nói: “Sự chịu đựng là một ơn huệ của của thiên đường dành cho những tâm linh ốm yếu”

We must not think that all suffering is to be avoided. In the West especially, the use of drugs – or whatever can be done to eliminate the experiencing of pain – is the unquestioned treatment of patients who seek medical care. Fortunately, only about 5 per cent of all sick people go to doctors when they are suffering. Most individuals with emotional and mental imbalances make necessary adjustments in daily regimes such as diet, work and rest periods, extra-curricular activities, etc.

Chúng ta không được nghĩ rằng nên phòng tánh tất cả những chịu đựng đau khổ. Đặc biệt ở Phương Tây, việc sử dụng thuốc – hoặc bất cứ thứ gì có thể được để giảm việc trải nghiệm nỗi đau – là một phương pháp không còn gì nghi vấn với các bệnh nhân tìm kiếm sự chăm sóc y tế. May mắn thay, chỉ có 5% số người ốm đến bác sỹ khi họ chịu đựng nỗi đau. Hầu hết những người bị mất cân đối về tình cảm và tinh thần đều có những sự điều chỉnh cần thiết trong chế độ sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, các hoạt động bên ngoài…

In many instances we do have to suffer during traumatic circumstances such as losing a job, having a loved one die, and other life impacts involving severe changes and adjustments. But we do not go running to the doctor for a drug to ease those kinds of pain … or we shouldn’t!

Trong rất nhiều trường hợp, chúng ta phải chịu đựng các hoàn cảnh không vui như mất việc, có người thân mất, và những tác động khác của cuộc sống liên quan đến những sự thay đổi và điều chỉnh nặng nề. Tuy nhiên chúng ta không chạy đến bác sỹ để lấy thuốc làm giảm những nỗi đau loại này… hoặc chúng ta không nên như thế

Who are the Spiritually Sick? 

The materialists of the world are the spiritually sick, those individuals who are warped by their excessive attachment to and pursuit of the objective things of the outer world, while at the same time their inner or subjective world is being starved for attention and care. This state of affairs will persist until pain comes into their lives. To the individual materialist, it can begin with a sharp physical pain in a vulnerable site—vulnerable because it, too, has been progressing to that condition in undeviating application of certain laws of cause and effect. To the materialist nation, hundreds of thousands may be struck with pain, suffering and death by a natural holocaust.

Ai là những tâm linh ốm yếu?

Những người theo chủ nghĩa vật chất của thế giới là những người tâm linh ốm yếu, đó là những cá nhân bị gắn chặt và theo đuổi những mục tiêu của thế giới bên ngoài, trong khi thế giới bên trong lại bị bỏ đói, không quan tâm. Hiện trạng này sẽ tiếp diễn cho đến khi nỗi đau đến với cuộc sống của họ. Với những cá nhân theo đuổi vật chất, nó có thể bắt đầu với một nỗi đau đến nhanh ở cơ thể vật lý trong một trạng thái dễ bị tổn thương – dễ bị tổn thương bởi vì nó đã tiến triển đến điều kiện đó do tác động của luật nhân quả. Với những quốc gia theo chủ nghĩa vật chất, hàng trăm ngàn người có thể bị các chứng đau đớn hay chết do các loại dịch bệnh tự nhiên kéo đến.

Then what happens? Churches are filled to overflowing with the survivors trying to find a meaning behind all this suffering and pain which has been ‘let loose’ in their lives. Church officials can only murmur that ‘it must be the will of God’. Esotericists of the world can point out that it is more the ‘will of the people’ who are now reaping ‘what they have sown’ in the great cosmic drama of cause and effect—the karmic law of retribution on a massive scale.

Sau đó thì điều gì sẽ xảy ra? Các nhà thờ sẽ chật cứng những người sống sót cố gắng tìm kiếm ý nghĩa sau tất cả những nỗi đau và sự thống khổ đã bị “reo rắc” xuống cuộc sống của họ. Các chức sắc nhà thờ chỉ có thể thì thầm rằng “đó chắc chắn là ý của Chúa”. Các nhà huyền linh học của thế giới chỉ ra rằng điều đó là do “ý của con người” nhiều hơn, những người này đang gặt quả từ hạt mà họ đã gieo trồng trong sân khấu vũ trụ khổng lồ của nhân và quả – luật nghiệp quả trên một bình diện rộng lớn.

Suffering is Useful

One of the concepts that people will have to accept in a complete philosophy is that suffering can be useful to the Soul. Frequently, the Soul chooses a life wherein great suffering will be undergone in order to heal a portion of itself, i.e. a personality expression that has become too materialistic. If life after life is spent in obstinate refusal by the personality to express the soul’s purpose for each incarnation, then drastic action will be taken by the Soul, to force the personality to overcome the blockages to spiritual evolution. What these measures are and the extent to which they are imposed are meted out according to the karma of the individual.

Sự Chịu Đựng Nỗi Đau Là Có Ích

Một trong các khái niệm mà con người sẽ phải chấp nhận trong một nền triết học hoàn thiện là sự chịu đựng nỗi đau là có ích cho Linh Hồn. Thông thường, Linh Hồn chọn một cuộc đời có sự chịu đựng lớn để chữa lành một phần của nó, ví dụ như một người mà thể hiện phàm ngã đã quá chạy theo chủ nghĩa vật chất. Nếu hết cuộc đời này đến cuộc đời khác đều bị cá nhân đó từ chối để thể hiện các mục đích của linh hồn cho mỗi lần tái sinh, thì một hành động quyết liệt hơn sẽ được đưa ra bởi Linh Hồn, để buộc cá nhân đó vượt qua những thách thức để phát triển tâm linh. Những biện pháp này là gì và được áp dụng ở mức độ nào sẽ được tính toán theo nghiệp của cá nhân đó.

Trial and Error 

Thử và Sai

All of us accept the premise that we learn by ‘trial and error’. We even accept that animals can learn under this system of experience. Once we accept reincarnation as a premise, we can then accept that even our lives on earth can be a series of ‘trial and error’. Through the ‘trial and error’ system carried out over a span of hundreds of lives, we begin to distinguish the true from the false, finally focusing on discriminating the real from the unreal when we begin to tread the Path of Discipleship.

Tất cả chúng ta chấp nhận một tiền đề là chúng ta học qua phương pháp “Thử và sai”. Chúng ta thậm chí chấp nhận rằng các con vật cũng có thể học theo hệ thống trải nghiệm này. Một khi chúng ta chấp nhận việc tái sinh như là một tiền đề, chúng ta sau đó có thể chấp nhận rằng thậm chí các kiếp sống của chúng ta trên trái đất này cũng có thể là một chuỗi các lần Thử và Sai liên tục. Thông qua hệ thống “thử và sai” được tiến hành qua chiều dài hàng trăm kiếp sống, chúng ta bắt đầu phân biệt được cái đúng từ cái sai, cuối cùng tập trung vào việc phân tách được cái thật từ cái không thật khi chúng ta đi trên Con Đường Của Người Đệ tử.

Dispersing Difficult Karma 

Tiêu trừ những Nghiệp khó

One way in which difficult karma may be offset is for the individual to merge his consciousness with others in a group effort to provide a service to mankind. This is especially true for the Aryan race populating earth at this time. As a global entity, our Fifth Sub-race has the specific task to unfold the planetary Throat Chakra under the auspices of the Third Ray of Active Intelligence: groups of servers throughout the world are developing the ability to apply inteiligence actively through hard work for the benefit of mankind. In this way, each individual can help lighten the load of the planetary karma, for all are subject to these laws, even the planetary Logos Himself.

Một cách mà các nghiệp khó có thể được tiêu trừ đó là cá nhân hòa nhập ý thức của y với người khác trong một nỗ lực nhóm để phụng sự nhân loại. Điều này đặc biệt đúng với Giống dân Aryan đang sống trên trái đất vào lúc này. Như là một thực thể toàn cầu, phụ chủng thứ 5 của chúng ta có một nhiệm vụ cụ thể là khai mở Luân Xa Cổ Họng của hành tinh dưới sự bảo trợ của Cung 3Cung Trí tuệ Linh Hoạt: các nhóm phụng sự ở khắp thế giới đang phát triển khả năng để áp dụng trí tuệ linh hoạt thông qua làm việc chăm chỉ cho lợi ích nhân loại. Bằng cách này, mỗi cá nhân có thể giảm bớt gánh nặng nghiệp quả của hành tinh, cho tất cả những những gì chịu tác động của các luật này, thậm chí là cho cả chính cả Chủ quản hành tinh này.

It is said that this high Being is rapidly approaching His own initiation, having satisfied the Law of Karma in His own life to this point of achievement. But just as millions of disciples have contributed by shouldering their share of the pain and suffering of the world, so too will they share in the glory and elevations of consciousness through that momentous occasion.

Người ta nói rằng, đấng Cao Cả này đang nhanh chóng đạt đến dự dịnh ban đầu của Ngài, sau khi đã thỏa mãn Luật Nghiệp quả trong chính cuộc đời của Ngài ở điểm thành tựu này. Nhưng đó phải là lúc hàng triệu môn đệ cùng gánh vai chia sẻ nỗi đau và thống khổ của thế giới, và họ cũng sẽ cùng chia sẻ sự vinh quang và sự nâng tầm tâm thức thông qua sự kiện quan trọng đó.