Archives

Dự thảo Báo cáo năm GQ1: Hồ sơ nội môn Tưởng Giới Thạch

GQ1.7   Hướng dẫn viết luận văn DHY: hồ sơ nội môn của một nhân vật nổi tiếng

BÀI LUẬN VĂN CẦN VIẾT TRONG “NỬA TỐI CỦA NĂM” (DHY)

Nhiệm vụ của bạn là viết một bài luận văn – một hồ sơ tâm lý học nội mônvề một người nổi tiếng mà bạn chọn. Cơ bản, bài viết của bạn phải bao gồm có năm phần sau, nhưng vui lòng bao gồm thêm các phần bổ sung nếu bạn thấy cần thiết. Hãy làm cho bài viết của bạn đầy màu sắc, sử dụng các hình ảnh, các liên kết video, sơ đồ, v.v… Hãy yêu cầu trợ giúp từ mentor của bạn nếu bạn không chắc chắn làm thế nào để chèn hình ảnh hoặc liên kết video. Hãy làm cho bài viết của bạn gọn gàng, sử dụng các tiêu đề rõ ràng để độc giả cảm thấy dễ dàng khi đọc luận án của bạn. Tất cả các bài văn được chấp nhận được post lên cho mọi người đọc. Điều này có nghĩa rằng bạn không nên bao gồm trong bài văn của bạn nguyên văn của bất kỳ một trong các hướng dẫn dưới đây.

Hãy sử dụng năm tiêu đề dưới đây trong bài viết của bạn.

Các gợi ý được thực hiện để giúp bạn hình thành bài viết của bạn. Đây chỉ là những gợi ý.

” TƯỞNG GIỚI THẠCH LÀ ANH HÙNG

ĐÃ LÀ ANH HÙNG THÌ KHÔNG THỂ LÀ NGƯỜI ĐANG ĐI TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO “

I- Tiểu sử (Biography): TƯỞNG GIỚI THẠCH – Đài Loan – Trung Quốc (Tóm tắt tiều sử của nhân vật (ít nhất một trang giấy), bao gồm những chi tiết khiến nhân vật đó nổi tiếng. Thêm một hình ảnh của nhân vật)

Tưởng Trung Chính còn gọi là Tưởng Giới Thạch, là nhà chính trị và nhà quân sự nổi tiếng tronglịch sử Trung Quốc cận đại. Ông sinh vào giờ Ngọ ngày 15 tháng 9 năm Quang Tự thứ 39 (tức ngày 31 tháng 10 năm 1887) tại hiệu muối Ngọc Thái, trấn Khê Khẩu, huyện Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang, mất tại Đài Bắc, đảo Đài Loan.

Tuổi thơ đã sớm thể hiện sự thông minh, tinh nghịch, thích bạo lựcBiểu hiện là thích múa nghịch dao gậy, gọi con nhà hàng xóm đến chơi trò chiến đấu, tự mình làm đại tướng chỉ huy, lên bục kể chuyện xưa, lấy đó làm niềm vui.

Thiếu thời: Tưởng Giới Thạch là người ham học, học rộng, hiểu nhiều. Lúc được 5 tuổi ( năm 1892 ) ông đã đi học trường tư, đồng thời còn đọc “Đại Học“, “Trung Dung“, “Luận ngữ“, “Mạnh Tử“, “Lễ ký“. Từ năm 1896 ( 9 tuổi ), lần lượt đọc “Hiếu Kinh“, “Xuân Thu“, “Tả truyện“, “Thi kinh“, “Thượng thư“, “Dịch Kinh“. Thời kỳ thanh niên và trung niên, Tưởng Giới Thạch học tập giáo lý Trung Quốc học, việc tiếp nhận tri thứchiện đại là rất ít. Sớm biểu lộ lòng yêu nước và thích đấu tranh giải phóng quần chúng khỏi lầm than. Năm 1906, ông đã có ham muốn được học tập quân sự tại Nhật Bản, nhưng phải đến năm 1908, ông mới chính thức được sang Nhật Bản học tập quân sự tại trường Shinbu Tokyo. Ngoài ra, ông cũng luôn học về quân sự khi có điều kiện. Do học giáo dục quân sự khiến cho Tưởng Giới Thạch có tư duy quân sự hóa cao.

Tham gia quân đội năm 22 tuổi (1909), Tưởng Giới Thạch lần đầu gặp Tôn Trung Sơn, đàm luận quốc sự. Đây là sự kiện lớn đánh dấu sự khởi đầu binh nghiệp trai trẻ rất hợp thời vận của ông, giúp ông phát huy được nănglực, sở trường với ý chí mạnh mẽ được làm “ Cách mạng ”, chống lại áp bức trong nước và sự xâm lược của Nhật Bản, Anh, Pháp. Liên tục gặp quá trình khủng hoảng, với thành bại niên tiếp trong binh nghiệp của ông, có vài lần phải trốn tránh lánh nạn bắt bớ.

Tham gia chính trị và nổi tiếng do có sự dũng cảm và lòng trung thành với Tôn Trung Sơn, năm 1922 ông giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Đông lộ thảo tặc quân. Các năm tiếp tuy theo liên tiếp được thăng chức, nhưng cũng lắm hiểm nguy và sáo trộn do nội bộ mất đoàn kết, làm phản, lại thêm sự kiện năm 1925 Tôn Trung Sơn từ trần tại Bắc Kinh, càng làm nội bộ rối ren, chia rẽ, chinh phạt lẫn nhau. Cũng năm 2025, Tưởng GiớiThạch đắc cử làm ủy viên thường vụ Ban chấp hành trung ương đảng khóa II – Quốc Dân Đảng.

Ông lãnh đạo quân đội Quốc Dân Đảng Bắc phạt, dù lãnh đạo và chiến đấu liên tục, nhưng do nội bộ đảng chia rẽ, binh lực của Quốc Dân Đảng không tập chung nên bị thất bại, tuyên bố từ chức để giảm chia giẽ và giữ đoàn kết nội bộ, ông về quê nghỉ dưỡng.

Tưởng Giới Thạch trải qua nhiều đời vợ. Ông lấy vợ từ rất sớm, nhưng chỉ có người vợ đầu là danh chính ngôn thuận, được dòng tộc tín nhiệm cao và luôn được dòng tộc bảo vệ mỗi khi bà bị Tưởng Giới Thạch bạc đãi, nhất là khi ông đòi ly hôn không có lý do chính đáng, mục đích là để hợp thức hóa vợ khác hoặc lấy vợ mới. Tưởng Giới Thạch còn ít nhất 2 bà vợ khác (Theo truyện Bí mật cuộc đời Tưởng Giới Thạch), đều là lấy theo cảm hứng và có phần vì nhu cầu nhục dục thấp kém, vì sắc đẹp, trong đó có một người vợ là kỹ nữ lầu xanh xinh đẹp nổi tiếng. Người cuối cùng ông lấy làm vợ vào tháng 12/1927, là Tống Mỹ Linh, kết hôn tại Thượng Hải. sau khi vượt qua được sự cấm cản, kịch liệt phản đối của Mẹ Tống Mỹ Linh, vì Tưởng Giới Thạch đã chứng minh được rằng ông đã ly hôn và hứa rằng, sau này ông sẽ chuyển từ Đạo Phật qua Kitô Giáo của bà Tống Mỹ Linh và gia đình (Nguồn). Theo sử sách thì đây cũng là đám cưới mang mục đích chính trị rõ rệt, nhưng rõ dàng là có lợi cho chính trường Trung Quốc bấy giờ, bởi sự giầu có và uy tín tầm cỡ quốc gia của gia đình, dòng tộc bà Tống Mỹ Linh. Điều này được chứng minh rất rõ theo sử sách ghi lại, thì một khởi đầu xây dựng lại uy tín chính trị của Tưởng Giới Thạch, phần lớn dựa vào nhà vợ, là tài chính nhà vợ và những cuộc “vận động hành lang” giúp Tưởng Giới Thạch đứng vào hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thời bấy giờ.

Do được hậu thuẫn mạnh mẽ từ kết quả của cuộc hôn nhân với Tống Khánh Linh, cho dù ban đầu mang đậm mầu sắc chính trị, nhưng sử sách cũng chứng minh rằng bà Tống Mỹ Linh cũng có tố chất chính trị mạnh mẽ, thông minh tuyệt vời, xứng tầm là Đệ nhất phu nhân, đã cùng dòng tộc giúp sức cho Tưởng Giới Thạch rất nhiều trên con đường chính trị. Ngoài ra, cũng do trung ương Quốc Dân Đảng còn tín nhiệm cao đối với ông, lên đã bầu ông là ủy viên trung ương, mời ông tiếp tục tham gia lãnh đạo cách mạng, tiếp tục giữ nhiều chức vụ lãnh đạo cao cấp trong quân đội, chiến đấu bắc phạt thành công, thống nhất quốc gia. Tháng 10/1928, Tưởng GiớiThạch nhậm chức Chủ tịch Chính phủ Quốc Dân.

Thời bình của Quốc Dân Đảng chẳng được bao lâu, việc kiến thiết và giải trừ Đảng Cộng Sản Trung Quốc được tiến hành. Do nội bộ tiếp tục mất đoàn kết. Nhằm thúc đẩy đoàn kết trong đảng, Tưởng Giới Thạch từ chức Chủ tịch Chính phủ Quốc dân, dời Nam Kinh về quê. Tuy nhiên, việc từ chức chẳng mang lại đoàn kết trong đảng như Tưởng Giới Thạch mong muốn. Năm 1932, do vẫn có uy tín trong đảng, ông lại giữ chức ủy viên trưởng Ủy ban Quân sự Chính phủ Quốc dân kiêm Tổng tham mưu trưởng Bộ tổng tham mưu của Quốc Dân Đảng, rồi sử lý bình ổn xung đột nội bộ, đồng thời chỉ đạo cùng lúc ứng đối thù trong giặc ngoài, loại trừ phe Đảng Cộng Sản và kháng Nhật xâm lược.

Năm 1936, Tưởng Giới Thạch bị buộc phải chấp nhận đình chỉ nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất trí chủ trương kháng Nhật, bắt đầu Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhì. Thời kỳ này cũng vẫn tồn tại nội chiến và chiến tranh với Nhật bùng phát.

Năm 1939, Tưởng Giới Thạch được Quốc Dân Đảng bầu làm ủy viên trưởng, thống nhất chỉ huy chính phủ – quân đội.

Năm 1943, Chủ tịch Chính phủ Quốc dân Lâm Sâm từ trần, Tưởng GiớiThạch được bầu kế nhiệm. Cùng năm, bốn quốc gia là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Xô tại Moskva ký kết tuyên bố chung, mặt trận phản xâm lược ngày càng được củng cố.

Năm 1945, Tưởng Giới Thạch thay mặt Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Liên Xô ký kết Điều ước Đồng minh Hữu hảo Trung-Xô. Tháng 12/1945, Tưởng Giới Thạch buộc phái ký kết “Hiệp nghị về biện pháp đình chỉ xung đột quan sự quốc nội ( Với Đảng Cộng Sản). Thời bình chẳng được lâu, tháng 7/1947, Tưởng Giới Thạch lban bố lệnh bình cộng dẹp loạn, nội chiến tiếp tục.

Tháng 5/1948, Tưởng Giới Thạch nhận chức Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc khóa 1. Ông tiếp tục duy trì cuộc chiến chống Cộng, tuy nhiên tình thế lại đảo ngược, Đảng Cộng Sản giành ưu thế mạnh mẽ, dù đã lỗ lựckháng cộng mạnh mẽ, nhưng tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch và Chính Phủ Quốc Dân chuyển đại bản doanh về Đài Bắc, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước.

Tại Đài Loan, Chính Phủ Tưởng Giới Thạch lại thành công trong bình ổn chính trị, ngoại giao và phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đến năm 1971, do uy tín trên trường quốc tế giảm sút, do tình hình quốc tế bất lợi. Tại Liên Hiệp Quốc, Trung Hoa Dân Quốc bị buộc rời khỏi Liên Hiệp Quốc, thay vào đó là Chính Phủ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đài Loan không còn là quốc gia độc lập nữa.

Ngày 5/04/1975, trên cương vị Tổng Thống nhiều khóa của Đài Loan, Tưởng Giới Thạch đột ngột phát bệnh Tim, nên từ trần.

+ Về công và tội: Tuy có ý kiến trái chiều, nhưng sử sách đã ghi, vào tháng 12 năm 1971, Mao Trạch Đông (Đảng Cộng Sản đối lập với Quốc Dân Đảng) khi đàm thoại nội bộ có nói “Tưởng Giới Thạch có một số ưu điểm là sự thực lịch sử khách quan, chúng ta giảng sử cần phải lưu tâm, một là Bắc phạt thống nhất Trung Quốc, hai là Chiến tranh kháng Nhật, ba là thu hồi Đài Loan-Bành Hồ, bốn là mở mang biên cương trên biển. Đó dù sao cũng là thành tích của một lãnh tụ quốc gia mới có thể làm được. Ông xứng đáng là anh hùng của dân tộc Đài Loan (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia về Tưởng Giới Thạch, mục Đánh giá)

Nguồn tham khảo thêm: Xem tại đây

II- Bạn đặt nhân vật đó ở vị trí nào trên Đường Đạo: (Xin nêu bằng chứng về chọn lựa của bạn, những gì mà bạn đã thấy hay đã đọc về người đó);

1- Một người bình thường hay người tiến hóa chưa bước vào Đường Đạo:
* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.

a) Người bình thường: Căn cứ vào tài liệu ghi chép về tuổi thơ của ông, tố chất bản năng bẩm sinh là người thông minh, có trí thể hiện sự ham học, học rộng, hiểu nhiều. Thích và luôn làm tướng chỉ huy trong các trò chơi trẻ con. Chắc chắn Tưởng Giới Thạch là người người có tâm thức bản năngđã thể hiện là một Linh Hồn tiến hóa vượt bậc lên trên người bình thường.

a) Người tiến hóa chưa bước vào đường Đạo: Với bản năng bẩm sinh làngười thông minh, có trí thể hiện sự ham học, học rộng, hiểu nhiều. Ngay thời kỳ thanh niên và trung niên của ông sống trong cảnh loạn lạc, bần hàn, đất nước chia phe cánh sinh nội chiến, đã biểu lộ lòng yêu nước và thích đấu tranh với cái xấu, bảo vệ quần chúng. Do đó ông đã chọn con đường học tập các trường quân sự nổi tiếng trong và ngoài nước, mục đích là để tham gia quân đội, để được chiến đấu giải phóng dân tộc khỏi cảnh nội chiến, thống nhất đất nước.

Năm 22 tuổi đã gặp Tôn Trung Sơn, người đứng đầu một đội quân chiến đấu có tổ chức chặt chẽ để bàn truyện đại sự, tham gia đảng phái, mục đích cứu nguy dân tộc. Suốt thời kỳ trung niên, ông kinh qua đảm nhiệm nhiều chức vụ hàng đầu, có nhiều lúc đứng đầu một đảng phái chính trị chủ đạo của Trung Quốc. Thời kỳ này ông cũng trải qua thật nhiều sự biến cố thăng trầm liên tiếp, liên tiếp sảy ra, kèm theo thất bại, gian khổ, trốn chạy, tù đầy nhưng không làm ông nao núng tinh thần, bất chấp hiểm nguy đến tính mạng, vì nhân dân phục vụ. Đây chính là biểu hiện mạnh mẽ ý chí mạnh mẽ, kiên cường, kiên định mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chảy xuyết suốt trong ông cho đến cuối đời.

Tóm lại: Thủa trung niên, ông luôn lãnh đạo đội quân của mình lao vào các trận nội chiến tàn khốc, với quyết tâm không gì lay chuyển là chiến đấu để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Giai đoạn trung niên này đã chứng tỏ sự biểu hiện của Phàm ngã hợp nhất mạnh mẽ và mở rộng, nhưng có vẻ như chưa được Linh hồn sáng và dẫn dắt đáng kể, bằng chứng là suốt đời ông luôn lựa chọn và trung thành với khẩu hiệu chiến đấu, đấu tranh võ trang để dành lại ” Công bằng, dân chủ, văn minh ” cho nhân dân, cho dân tộc, nhưng rõ ràng đây không phải là tố chất của Linh HồnLinh Hồn luôn thấu hiểu luật Nhân Quả, vì vậy không bao giờ chọn đấu tranh võ trang để tìm kiếm hòa bình, thịnh vượng. Nên ông chắc chắn là người tiến hóa và xu hướng phát triển còn hơn thế nữa, vì trong ông còn có tiềm ẩn tiềm năng rất lớn đề phát triển đời sống tâm linh trong kiếp sống này. Chúng ta xem hành động ” Ông không chấp nhận lời đề nghị của Hòa Kỳ, dùng Bom Nguyên Tử phản công đối phương, để giành chiến thắng, thống nhất đất nước, và hiển nhiên là người đứng đầu đất nước “, đây chính là điểm dừng đúng đắn của Phàm ngã tiến hóa, dấu hiệu của Linh Hồn cung 2 – Minh Triết đã hiển hiện trong ông, khi ông đã ở tầm tuổi 60, tuổi mà kinh nghiệm học hỏi việc đời đã đủ chín để Phàm ngã tiến hóa tìm kiếm an vui rộng lớn hơn.

2- Một người chí nguyện (người tầm đạo) (ở giai đoạn đầu trên đường đạo – giai đoạn tinh luyện): Vào thời kỳ cuối đời, tôi cho rằng Tưởng GiớiThạch là một người chí nguyện, bởi suốt thời trung niên đến cuối đời, ông luôn biểu hiện rõ, nhiều tố chất mang năng lượng tâm linh cao, như:

Ông cũng biểu hiện mạnh mẽ lòng bác ái, vị tha, vì mục tiêu chung, vì tinthần tập thể, vì sự đoàn kết nội bộ, thể hiện qua mấy lần tự rút lui, không tham quyền cố vị, sẵn sàng chủ động cáo lão từ quan, tự nguyện từ bỏ chức vụ đang nắm giữ hay đề không nhận đề cử của tổ chức để ông nắm giữ chức vụ lãnh đạo hàng đầu, khi ông phát hiện thấy sự tranh giành chức quyền có nguy cơ sảy ra nội chiến trong nội bộ đảng phái của mình. Đây quả thực là năng lượng Cung 2 – Bác Ái – Minh Triết đã nảy nở trong ông, soi sáng tâm hồn ông.

Ông cũng được đánh giá là nhà lãnh đạo bảo hộ, đề cao và quan tâm sâu sắc đến nền giáo dục quốc gia cũng như bảo tồn,phát huy văn hóa tâm linh,biểu hiện dù chiến tranh loạn lạc, đói kém thế nào, các trường thuộc tất cả các cấp học đều được duy trì hoạt động tốt nhất có thể có được, thời buổichiến tranh rộng khắp nhưng ông có chính sách giáo viên và sinh viên đại học không phải đi lính, không khuyến khích và thậm trí còn bị cấm giáo viên và sinh viên xung phong đi lính. Đây cũng thể hiện rất rõ trong ông tố chất Cung 2 – Minh Triết được biểu hiện rõ, ông luôn nhìn xa trông rộng, đánh giá đúng về vị trí nền giáo dục trong phát triển quốc gia.

Chính sách của ông trái ngược với chế độ Mao Trạch Đông là phá bỏ chùa chiền, cấm dân chúng sinh hoạt và tu tập tâm linh, dù họ là tôn giáo nào đi nữa. Ở các vùng địa chính trị do ông quản lý, hoạt động ở đó, các công trình tâm linh luôn được bảo vệ, tu bổ và khuyến khích dân chúng tu tập tâm linh. Đây cũng thể hiện trong ông, Cung 2 – Bác Ái hiện diện không gì lay chuyển.

Tóm lại: Ông là người có Tâm thức rộng mở, luôn sống vì tự do tâm linh, phát triển dân trí, vì dân phục vụ. Ông chắc chắn là người đã tiến hóa và có tiềm năng rất lớn đề phát triển đời sống tâm linh trong kiếp sống này.

3- Một đệ tửthể hiện việc phụng sự tinh thần kiên định, nhưng vẫn còn phấn đấu để kiểm soát phàm ngã.

Qua bài báo: (Xem tại đây), ta thấy rằng, ông từ trong cuộc nội chiến mà thấy, ông đã trải qua biết bao trận chiến đấu cam go, ác liệt, mà cuối cùng phần thất bại thảm hại lại ở phía nơi ông. Nếu trong ông không có sự hiện diện mạnh mẽ của Cung 2 – Bác Ái và Minh Triết đã có sự chi phối phàm ngãđáng kể, thì khi ông nhận được đề nghị của Mỹ, dùng bom nguyên tử để giải quyết nhanh chóng cuộc nội chiến để giành phần thắng về phía bên ông, chắc chắn ông đã nhận lấy cơ hội chuyển bại thành thắng, có cơ ông thống nhất đất nước và trở thành nhà lãnh đạo quốc gia to lớn bậc nhất thếgiới. Nhưng ông không nhận lời, bởi ông đã chiến thắng phàm ngã, chiến thắng cái tôi, chấp nhận hy sinh cái tôi, vì chắc chắn ông hiểu thấu, nếu dùng bom nguyên tử sẽ có cơ đạt đỉnh cao danh vọng cá nhân và mục đích suốt cuộc đời ông theo đuổi, nhưng cái giá phải trả cho cái cơ hội của ông quá lớn, có thể hàng triệu người chết và hậu quả lâu dài thì không thể tính đếm.

( Xin trích từ bài báo đáng tin cậy: Bởi thông tin được trích từ quyền nhật ký do Tưởng Giới Thạch trực tiếp ghi chép, được chính gia đình TưởngGiới Thạch chuyển giao cho Viện Hoover công bố tại Mỹ, giới học thuật mới bắt đầu thay đổi ấn tượng đã ăn sâu về Tưởng Giới Thạch lâu nay. Họ sững sờ phát hiện ra “kẻ độc tài” mà chính phủ Trung Quốc rêu rao bao năm qua thực ra là một vĩ nhân, thẳng thắn, cương trực, đường hoàng, đạo đức.

Jay Taylor là một nhà ngoại giao lâu năm, từng 2 lần đảm nhiệm chức vụ đại sứ Mỹ tại cả Trung Quốc và Đài Loan. Sau khi xem xong cuốn “Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ông mới hiểu được họ Tưởng đã cống hiến biết bao mồ hôi, tâm huyết cho đất nước, dân tộc. Từ đó ông trở thành một học giả phương Tây kêu gọi “bình phản” (lấy lại công bằng) một cách toàn diện cho Tưởng Giới Thạch.

Trong bài báo có nói, giới học giả nhận xét ” So với Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch chính là một chính nhân quân tử có nhân cách vô cùng cao thượng “ Xem nguồn ” )

Từ đó ta thấy, cuối thời trung niên ông đang ở giai đoạn khởi đầu tốt đẹp của người đệ tử, thậm trí ở thời điểm tuổi ngoài 60, ông có thể xứng đáng là một đệ tử trung bình trở lên, bởi cuộc đời ông cũng đã biết điểm dừng và quyết dừng với ý chí và chí phân biện sâu sắc, lý do là ông quyết không dùng sinh mạng của người dân để đổi lấy việc đạt mục tiêu cá nhân hay đảng phái của mình, mà đó lại là mục tiêu ” Đứng đầu một quốc gia rộng lớn, đông dân hàng đầu thế giới “, nếu ông vẫn là một Phàm ngã mà Phàm ngã, qua thể trí đã có thể thống trị xác thân, nhưng chưa được Linh Hồn soi sáng đáng kể, thì đây sẽ là Phàm ngã ích kỷ, cục bộ, suốt đời chiến đấu, tranh giành để nuôi khát vọng thống nhất đất nước, thì đây rõ ràng là cơ hội, một thiên cơ hiếm có, thật khó có thể từ bỏ. Thật vậy, nếu thực hiện, ông vừa đạt được mục đích cuộc đời là ” Thống nhất đất nước ” và là người đứng đầu quốc gia to lớn hàng đầu thế giới. Đó chính thật là một “hào quang sáng chói”, siêu khủng, mà với Phàm ngã chưa được Linh Hồnsoi sáng, không thể và không bao giờ chịu từ bỏ cơ hội hiếm có đó, và do đó không thể có ý chí thép, quyết định rứt khoát từ chối sự giúp đỡ của Mỹ là ” Dùng bom nguyên tử phản công đại lục để thống nhất đất nước Trung Hoa”. Ở đây, xin chích câu nói của Chân Sư thật có ý nghĩa ” Vận mệnh của mỗi quốc gia nằm trong tay các vị lãnh đạo quốc gia đó “.

Thời điểm Mỹ có lời đề nghị muốn giúp ông dùng Bom nguyên tử để phản công đại lục, ông đang là người đương kim đứng đầu một đảng phái lớn, đứng đầu một quốc gia (Quốc đảo), lại thống lĩnh lực lượng vũ trang, hiển nhiên ông có vai trò rất lớn, thậm trí quyết định trong việc nhận hay từ bỏ cơ hội sử dụng bom nguyên tử mà Mỹ muốn được giúp đỡ này, và thực tế ông đã từ bỏ lời đề nghị đến ba lần. Phải nói, thời điểm năm 1949, ông đã  hơn 60 tuổi, ông là người chí nguyện, tức là ông đã trải qua thời giandài Phàm ngã đã được củng cố và phát triển đạt đỉnh cao của kiếp sống, do đó, đây chính là thời điểm năng lượng Linh Hồn có thể tuôn đổ, phát huy mạnh mẽ để biến đổi Phàm ngã người Chí nguyện tiến hóa theo hướng bao gồm hơn và minh triết hơn (Từ thời trẻ, ông là người rất chú trọng phát triển giáo dục quốc dân và gìn giữ văn hóa tâm linh quốc gia, chứng tỏMinh triết trong ông phát huy rất sớm, và thực tế cho đến cuối đời, Minh triết trong ông ngày càng phát huy đúng hướng), giúp ông có một Phàm ngã thống nhất, nhờ đó có sự chi phối đáng kể của năng lượng Linh Hồn, Bác Ái – Minh Triết hiện diện trong ông, ông có sự phân biện sâu sắc, ông không chấp nhận đánh đổi hàng trăm nghìn sinh mạng dân chúng phải chếttrong đau đơn, cộng với hậu quả kéo dài, và tất nhiên phần thắng hoàn toàn có hướng khả thi, nhanh chóng đạt được sự thống nhất đất nước, và hiển nhiên ông sẽ có vị trí xứng đáng hàng đầu, là nhà lãnh đạo cao nhất Trung Quốc, một người đứng đầu quốc gia đông dân nhất thế giới, thật không rễ từ bỏ chút nào, nếu trong ông không có Bái Ái – Minh Triết hiện diện và tác động mạnh mẽ và quyết đoán. Vậy, chỉ duy nhất việc từ chối dùng Bom nguyên tử này thôi, chắc chắn trong ông đã sảy ra một trận chiến về lý trí mạnh mẽ, trận chiến vì sự sống của muôn người, và một bên là trên đỉnh quyền lực tột cùng mà biết bao người quyền chí thèm muốn, vậy mà ông đã chiến thắng, từ bỏ cái tôi để đổi lấy sự sống của muôn người, cho lên tôi suy luận, vào thời điểm đó, ông là người chí nguyện, đã bước một chân lên con đường Đệ tử.

4- Một điểm đạo đồ đã chiến thắng phàm ngã và tham gia vào việcphụng sự thế gian: Một điểm đạo đồ phải là người đã được Linh Hồn dẫn dắt, theo đó Cung 2 tình thương đại từ đại bi, đã giúp phàm ngã xóa bỏ vô minh, hiểu rõ luật Nhân Quả, cuộc sống luôn hướng vào công việc phụng sự thế gian bằng Bác Ái – Minh Triết, với lòng phụng sự vô kỷ, không hề phân biệt bạn, thù, đảng phái kể cả giữa các dân tộc, quốc gia, bởi Tâm thức Linh hồn là bao gồm, do đó không cho phép người đó chủ động sử dụng các hành động chiến đấu vũ trang, cho dù là để giải phóng nhân dân, dân tộc khỏi áp bức, bóc lột ….., mà thực chất vẫn là đấu tranh đảng phái, nội chiến tàn sát lẫn nhau. Thực tế, tháng 12/ 1949, Tưởng Giới Thạch đãrút ra đảo Đài Loan, vẫn ra tuyên bố chống cộng đến cùng để thống nhất đất nước. Do đó Tưởng Giới Thạch không phải là một Điểm Đạo Đồ.

III- Hồ sơ các cung của nhân vật Đối với mỗi cung, hãy cung cấp các bằng chứng cho sự lựa chọn của bạn. Sẽ tốt hơn nếu bạn có thể cung cấp hình ảnh, hoặc các link video để giải thích cho sự lựa chọn của bạn ).

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi làm được bài luận này.

1- Cung thể xác – dĩ thái: Tưởng Giới Thạch có thể xác Cung 7:

Tôn Trung Sơn và TưởngGiới Thạch chụp ảnh sau lễ khai giảng Trường quân sự Hoàng Phố năm 1924. Tưởng Giới Thạch mặc lễ phục quân trang toàn thân, 1940. Tưởng Giới Thạch – Lý Tông Nhân trong lễ nhậm chức Tổng thống, Phó Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, ngày 20/ 5/ 1948

Ông có thể xác Cung 7: Trước hết ta thử xét đặc điểm nổi bật của người có Thể xác Cung 3, là người có cơ thể cơ bắp, hoạt động mạnh mẽ nhưng khó chuẩn về thời gian, không thích hợp bị gò bó bởi kỷ luật, kỷ cương, các đặc điểm này không phù hợp với ông. Qua các hình ảnh và mô tả phẩm tính của ông, từ niên thiếu cho đến suốt đời, Tưởng Giới Thạch luôn là người lính, gắn bó với sự nghiệp của mình ở môi trường chiến binh, thì hiển nhiên là nơi kỷ luật thép được thực thi, tức với giờ giấc và trình tự, nghi lễ, ông luôn phải là tấm gương, mới có thể phù hợp với những người lãnh đạo trong quân đội, và thực tế ông luôn là người lãnh đạo hàng đầu trong mọi thời kỳ, các điều này chứng minh rằng ông có thể xác cung 7 là phù hợp.

2- Cung thể cảm dục: Tưởng Giới Thạch có thể cảm dục Cung 6

+ Xét với thể cảm dục cung 2:  Bạn có thể xem xét sự từ chối một cách vô ngã hơn (2)? Nếu bạn bị phản bội bởi người mà bạn yêu thương và tin tưởng: có phải bạn bị thất vọng và tổn thương sâu sắc, nhưng mặt khác bạn lại lặng lẽ không có phản ứng (2); Có phải bạn đã đang cố gắng để thay đổi hành vi của bạn vì những phản ứng hung hăng và sự giận dữ của bạn đã đưa bạn vào rắc rối trong quá khứ, và bây giờ bạn được thanh thản hơn và có khả năng dốc hết lửa của bạn vào sự khát vọng hay sự cống hiến cho điều tốt cao cả hơn?

– Về đời sống tình cảm, vào lúc 40 tuổi, ông cưới vợ thứ 4 là Tống Mỹ Linh, Tưởng Giới Thạch cùng ngày cưới phát biểu trên báo rằng “hôm nay được kết hôn với Mỹ Linh hết sức kính ái, là một ngày quang vinh nhất, hân hoan nhất từ khi sinh ra tới nay”; ông tin sâu sắc rằng đời người nếu không có nhân duyên mĩ mãn, tất cả đều vô ý vị, do đó cách mạng bắt đầu từ gia đình. Đây cũng chứng tỏ, dù là thể cảm dục cung 2, nhưng tính bao gồm trong ông vẫn hạn chế, vẫn đề cao cuộc sống tìm cảm, nhục dục.

+ Xét với thể cảm dục cung 6: (Bạn có cho là sự việc mang tính cá nhân nếu có ai đó từ chối một cái gì đó quan trọng đối với bạn; Là người luôn có những khao khát sâu đậm, đam mê một cách rất mãnh liệt, phản ứng và hung hăng, tức giận và ghen tuông, luôn đề cao và chăm lo quyền lợi cá nhân).

– Điều này không phù hợp, thậm trí trái ngược với Tưởng Giới Thạch, bởi nếu người mang năng lượng cung 6 thì sự tham đắm đời sống hữu tình, đặc biệt với tuổi trẻ sẽ không thể là người, mà từ thời niên thiếu, dù không bị áp lực nào, ông đã chủ động khởi nuôi ý chí lớn, vì dân vì nước, chọn tham gia quân đội, học quân sự để về tham gia chiến đấu, với mục tiêu mong muốn đóng góp sức mình, kể cả hy sinh tính mạng để giúp dân, giúp nước, để sớm kết thúc nội chiến, thống nhất đất nước.

3- Cung trí tuệ (Cách bạn suy nghĩ, hoạch định, phân tích, tạo hình tư tưởng và truyền đạt tư tưởng của bạn):

+ Xét với Thể trí Cung 1: Như trên đã nói, ông thuộc dạng người tiến hóa, đương nhiên là người có thể Trí đã phát triển, tất nhiên thể cảm dụcđược thể trí phát triển dẫn dắt. Ông là người thông minh, từ bé đã thích các trò chơi mà bản thân luôn thích ở vị trí lãnh đạo người khác, lại kết hợp vớithể cảm dục Cung 2 – Minh triết. Theo mô tả “Một thể trí kiên quyết trong tư tưởng, thể trí quả quyết, nhất tâm, thực tế”, điều này hoàn toàn đúng với ông, bởi ở cái tuổi còn rất trẻ (1906, mới 19 tuổi), ông được mô tả “TưởngGiới Thạch quyết chí tham gia cách mạng, tự cắt đuôi sam, nhờ bạn báo tin cho gia đình để thể hiện quyết tâm này”, do ông đã có cái nhìn về sự suy tàn của chế độ nhà Thanh, trong nước nội chiến liên miên khiến ông quyết trí học quân sự để giúp thống nhất đất nước, chứng tỏ cung 1 hiện diện trong ông. Ông là người có ý chí mạnh mẽ, vì dân vì nước, biểu hiện nănglực trí tuệ, quả cảm từ rất sớm (22 tuổi) đã gặp Tôn Trung Sơn, đang lãnh đạo đội một quân lớn chiến đấu, để bàn bạc phương cách đấu tranh, thống nhất đất nước. Ngoài ra, ta nhận thấy sự thăng trầm trong chiến đấu, với chiến thắng đan xen thất bại liên miên, liên tiếp nhưng ông rất bền bỉ, quyết chí chiến đấu đến cùng để thống nhất đất nước, cũng là một đặc điểm của cung 1 hiện diện trong ông >>> Tưởng Giới Thạch có Thể tríCung 1 – Ý chí, quyền lực;

+ Tôi thử xem xét người có Thể trí Cung 4 – Hài hòa qua xung đột:Đặc điểm thể trí cung 4 là người do dự, nước đôi, hay là người “không chia rẽ, làm cầu nối, liên kết, làm trung gian, hòa giải, phân giải”, hai điều này chắc chắn không hợp với người chiến binh, lại ở vị trí tổng chỉ huy chiến đấu biết bao trận chiến, chiến thắn cả quân Nhật xâm lược, thống lãnh Trung Quốc hơn 20 năm. Hay là trong trường hợp ông không có khả năng thuyết phục, dung hòa nội bộ giữa các lãnh đạo cấp cao trong đảng Quốc dân của ông, lên ông có ba lần từ bỏ chức vụ cao của mình về quê nghỉ ngơi để nhường chức vị cao nhất cho người khác, vì mục đích giữ đoàn kết nội bộ trong đảng (Đây cũng chứng tỏ cung 2 – Minh triết hiện diện trong ông). Do vậy, tôi cũng loại trừ thể trí cung 4 trong ông.

+ Tôi thử xem xét ông có Thể trí Cung 5: Điểm nổi bật mà người thể trícung 5 thường không thể có là ” Thiếu trí tưởng tượng và thiếu trực giáctheo đúng nghĩa”, cũng vì do có tính khoa học cao, đòi hỏi sự chính xác tỷ mỷ đến từng chi tiết, cho lên thường không thể tin vào PhậtBồ Tát, như mô tả về thể trí cung năm “Nó bất kính, hoài nghi đối với nhà Thần bí và người tu hành”, trong khi Tưởng Giới Thạch sinh ra trong gia đình có truyền thống theo đạo Phật, bản thân ông cũng là một Phật tử từ nhỏ, kể cả đến khi lấy vợ, do áp lực phải từ bỏ đạo Phật để theo Cơ Đốc Giáo mới được gia đình nhà gái chấp thuận cưới (bà Tống Mỹ Linh – 1927), ông cũng không rễ ràng từ bỏ đạo Phật.

– Chúng ta xem đoạn văn mô tả về sự tín ngưỡng của ông: ” Vào tháng 1 năm 1049, quân giải phóng đang trên đà thắng lợi, vương triều họ Tưởng sắp sửa bị tiêu diệt …., ông vào trong đại điện, nới thờ Bồ Tát, tự mình thắp hương, trong tâm yên lặng cầu nguyện, rồi rút một thẻ trong cốc, tìm Sư trụ trì chùa giảng nghĩa, kết quả không hay, lính thị vệ nói: Loại sự việc như thế này không tin tưởng được, Tưởng Giới Thạch nghiêm giọng nói: KHÔNG ĐƯỢC PHÉP NÓI BỪA, BỒ TÁT Ở MIẾU VŨ SƠN RẤT LINH ĐÓ, và kết quả quả thực linh ứng. Do đó, tôi loại trừ Tưởng giớithạch có thể trí cung 5 (Xem sách: Bí mật cuộc đời và gia thế Tưởng GiớiThạch_Tr 57-58)

4- Cung phàm ngã Căn cứ vào các chỉ dẫn chủ yếu trong GQ1, gồm:

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi làm được bài luận này.

Cách mà bạn khẳng định uy quyền của bạn, cố gắng kiểm soát người khác, các cungthấp là cung phụ của Cung Phàm ngã. Khi cung Phàm ngã hiện hữu, nó nhuộm màu các cung thấp……..Chúng ta thường xác định cung Phàm ngã là cung mang lại sự cân bằng, thống nhất các thể qua thể trí tiến bộ, hoạt động mạnh mẽ_Theo thiết lập biểu đồ cung GQ1.

Tâm thức phàm ngã là tâm thức của trạng thái thứ ba thiêng liêng, trạng thái sáng tạoTrạng thái này tác động trong vật chất và chất liệu để tạo ra các hình tướng mà qua đó phẩm tính có thể tự biểu lộ, và nhờ thế thể hiện bản chất thiêng liêng trên cõi hiện tượng (Xem: Tâm thức – Tâm thức Phàm ngã – Linh hồn – Chân thần GQ1).

– Các Phàm ngã tách biệt và chia rẽ: và đây là định nghĩa thông dụng nhất cho “phàm ngã”. Định nghĩa này xem mỗi con người như là một nhân vật. Nhưng thực ra, nhiều người chỉ là những con vật với các xung lực cao còn mơ hồ; trong khi những người khác là những người trung bình, bị ảnh hưởng bởi bản chất ham muốn của họ hoặc bởi những ý tưởng vốn không phải là của riêng họ.

– Các Phàm ngã là những người được phối kết và được tích hợp. Họ khỏe mạnh về thểchất, có sự kiểm soát cảm xúc, phát triển về trí tuệ, và đã hoàn chỉnh công cụ tuyến (glandular). Các tính chất thể xác, tình cảm và trí tuệ được hợp nhất và hoạt động như là một, tạo ra một bộ máy lệ thuộc vào ý chí của phàm ngã. Chính ở giai đoạn này xảy ra một khuynh hướng thiên về chính đạo hoặc thiên về tả đạo.

– Phàm ngã là những người của vận mệnh: họ có đủ sức mạnh ý chí để rèn luyện bản chất thấp sao cho họ có thể thực hiện một vận mệnh mà họ nhận thức một cách vô thức. Họ được chia thành hai nhóm: Những người không có sự tiếp xúc với linh hồn: họ bị thôi thúc tiến đến vận mệnh của họ bởi một ý thức về quyền lực, tự ái, tham vọng cao quý, một phức hợp tự tôn, và sự quyết tâm đạt đến đỉnh cao nhất của ngành nghề cụ thể của họ. Những người tiếp xúc với linh hồn ở mức độ nhỏ, mà phương pháp và động cơ của họ là một hỗn hợp của tính ích kỷ và tầm nhìn tâm linh.
Xem nguồn GQ 1: Mục tiêu tinh thầnCon người, TâmThức – Tâm Thức AryaCon người Thông minh

– Phàm ngã có thể dần dần cảm thấy được vận mệnh của mình. Những người có Phàm ngã phát triển cao đều có năng lực ý chí đủ mạnh để khuất phục phàm tính của mình theo giới luật, để chúng có thể hoàn thành vận mệnh đưa chúng đến đỉnh cao thành đạt của phàm ngã.

Thế giới ngày nay có vô số nhân vật. Chúng ta thấy những người nam và nữ đã thống nhất và phối hợp trong tâm tính, nhưng họ vẫn chưa ở dưới ảnh hưởng linh hồn của mình. Ý chí cá nhân và tình thương vị kỷ là yếu tố mạnh mẽ trong đời họ, và họ bắt đầu ảnh hưởng đến môi trường sống của mình để mang lại những thành tựu có ý nghĩa. Họ chịu sự thôi thúc tiến tới hướng về vận mệnh của mình bởi ý thức về quyền lực, ước muốn những điều cao thượng, sự tự tin không hề lay chuyển, và quyết tâm đạt đến đỉnh cao thành công trong cố gắng của mình.

Linh hồn kêu gọi phàm ngã. ‘Tiếng nói của linh hồn’ không những được Phàm ngã nghe như tiếng nói, mà nó còn biểu hiện thành những sự hấp dẫn và quan tâm đặc biệt, cũng như những hoàn cảnh và cơ hội đặc biệt được mang đến cho ý thức của phàm ngã. Tuy nhiên, cũng có thể Phàm ngã không nghe, thấy hay nhận thức được sự thôi thúc thiêng liêng này. Những mối bận tâm của Phàm ngã khiến cho ‘sự can thiệp thiêng liêng’ của linh hồn… bị lệch hướng. Vì đã tự cho mình là trung tâm của ý thức, nên Phàm ngã không muốn từ bỏ vị thế đó.” Xem nguồn Tâm thức – Các cõi: Tâm thức Phàm ngã

Như trên ta đã xác định ông có: Thể Xác Cung 3 và đã loại trừ Thể xác Cung 7Thể cảm dục Cung 2 và đã loại trừ Thể Cảm dục Cung 6Thể Trí Cung 1 và đã loại trừ Thể Trí Cung4Thể Trí Cung 5 >>> Cung Phàm Ngã theo nguyên tắc là CUNG QUÂN BÌNH của các Cungthấp. Ta xét tuần tự theo nguyên tắc loại trừ như sau:

+ Ta xét với Phàm ngã cung 1: “Mục tiêu của tôi là sử dụng quyền năng đang tăng trưởng và khả năng quản lý và lãnh đạo của tôi – thông qua chính quyền, chính trị hoặc pháp luật; để khuyến khích và giải phóng những người khác”. Điều này không thể với ông, vì như trên, ta nhận thấy ông có thể Trí Cung 1, nếu lại có Phàm ngã Cung 1, thì với người chưa được linh hồn soi sáng, sẽ là hủy diệt người dân để thỏa mãn dục vọng và mang đến vinh quang tột đỉnh cho bản thân nếu có cơ hội, vì tính ích kỷ vốn có của các bản chất thấp của con người, điều này rõ ràng không phù hợp, nếu chỉ xét về việc, ông từ chối thẳng thừng việc Hoa Kỳ đề xuất giúp ông dùng Bom Nguyên Tử để chiến thắng phía đảng Cộng Sản đang thắng thế, thì cũng đủ khẳng định ông không phải là người liều lĩnh, tàn bạo bất chấp tất cả. Nên khẳng định Cung 1 không phù hợp với tính cách của Tưởng Giới Thạch.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 2: “Mục tiêu của tôi là phát triển một sự hiểu biết – đầy yêu thương có tính sâu sắc và trực giác về con người, để tôi có thể giúp đỡ họ; hoặc trở nên toàn diện và thông thái để tôi có thể giảng dạy và soi sáng cho những người khác”. Cung 2 gồm 2 khía cạnh Bác Ái và Minh Triết.

– Ông có câu nói nổi tiếng: ‘Nước bị diệt vong còn có thể phục hưng, nhưng văn hóa bị tiêu hủy thì tất cả đều bị hủy và, khi là lãnh tụ của đảo Đài Loan, ông đã phát động: Phục hưng văn hóa truyền thống Á Đông” Xem nguồn’. Một bằng chứng rất có giá trị Tâm linh là: Năm 1942, ông khởi sướng đại lễ quốc gia, ông mời được Hòa thượng đắc đạo Hư Vân Thiền Sư đến chủ trì lễ, và được Giúp TưởngGiới Thạch tiên đoán kết cục chiến tranh thế giới thứ 2. Cũng theo sử sách, Hòa Thượng Hư Vân, vào giữa mùa hè nóng lực, dân chúng dịch bệnh, người chết tràn lan, ông đề sướng và chủ trì tổ chức làm một đại lễ: CẦU ĐẢO ĐẠI TUYẾT, giúp trừ dịch bệnh, vào buổi chiều ngày thứ bảy của đại lễ, bầu trời đại tuyết tung bay, Lão Phật Gia Từ Hy Thái hậu thân chinh đến tận nơi đại lễ, Bà quỳ xuống nền tuyết cúi gập đầu hướng về phía vị cao tăng Hư Vân Hòa Thượng đang ngồi đọcThần Chú_Xem nguồn:.  Từ nhỏ ông theo Đạo Phậtnăng lượng cung 2 luôn hiện diện mạnh mẽ suốt đời trong con người Tưởng Giới Thạch. Trong sự nghiệp của ông, nhiều lần ông tham gia thành lập hay quyết định việc thành lập các trường đại học của quốc gia, từng làm Hiệu trưởng nhiều trường đặc biệt quan trọng hàng đầuquốc gia này. Trong chiến tranh, ông không cho phép sinh viên ra chiến trường, dù trong cả giai đoạn thua trận, hiếm người chiến đấu trên chiến trường. Điều này khẳng định trong ông luôn đề cao giao dục quốc dân là quốc sách hàng đầu, ngay cả đến cuối cuộc đời vẫn vậy. Trong giai đoạn trung niên, ở cương vị lãnh đạo cao cấp, những khi ông nhận thấy, nội bộ đảng phái của mình mất đoàn kết, họ có tranh quyền đoạt lợi với ông, giành giật tranh giữ vị trí chủ chốt trong đảng. Những khi đó, vì sự đoàn kết nội bộ, ông có ba lần chủ động từ quan rút lui khỏi chính trường, về ở ẩn chờ thời nhằm bảo vệ đoàn kết nội bộ, tránh bị chia rẽ trong đảng của ông (Khoảng năm 1925 khi đang là ủy viên thường vụ Quốc Dân Đảng, lãnh đạo quân đội chiến đấu chống phe cộng sản không thành công, do nội bộ mất đoàn kết và lựclượng phân tán; Lần 2 ông từ chức Chủ Tịch chính phủ Quốc Dân, về ở ẩn tại quê nhà, nhưng do vẫn có uy tín trong đảng, ông lại được mời tham gia và được bầu vào các vị trí lãnh đạo trong Đảng Quốc Dân). Tất cả các điều này nói lên ông có thể cảm dục Cung 2 Bác Ái – Minh Triếtthể hiện bởi tình thương sâu rộng trong phe phái mình, tạo ra sự khát khao cống hiến hết mình, đồng thời cũng thể hiện sự phân biệnminh triết sâu sắc, lên ông có sự kiên nhẫn, chịu đựng đặc thù của Cung 2, cho lên ông mới vì đoàn kết chung trong Đảng Quốc Dân, rễ ràng từ bỏ chức vụ cao để bảo vệ đảng của mình, mà với người thể cảm dục Cung 6 thường không thể làm được.

– Như vậy, năng lượng cung 2 đã hiện diện trong ông, nhưng nếu là Phàm ngã cung 2 – Bác Ái phát triển mạnh mẽ, thì ông sẽ không hăng hái lựa chọn đường nối đấu tranh võ trang để đạt mục đích, năng lượng cung 2 Bác Ái đầy yêu thương, cho lên trong chiến tranh, bên nào chịu đau đớn, chết chóc cũng đi ngược lại năng lượng cung 2. Nhưng thực tế, ngay từ thiếu thời cho đến cuối đời, đấu tranh võ trang luôn là ý chí của ông.

– Nếu xét về Cung 2 Minh triết, vì có hiểu biết với Tâm thức sáng tạo, lại có sức khỏe, thì người đó luôn có kỷ luật nhất định, hơn nữa, môi trường của ông là quân đội, cũng củng cố cho ông về tính kỷ luật kỷ cương, một dạng năng lượng cung 7, rất cần thiết với người lãnh đạo, tướng lĩnh.

Cho lên, ông có Phàm ngã cung 2, nhưng chắc chắn chỉ có khía cạnh Minh Triết của Cung2 phát triển mạnh.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 3: “Mục tiêu của tôi là sáng tạo thông qua năng lực suy tư sâu sắc và lập luận cẩn thận, một hệ thống tư tưởng triết học toàn diện và hợp lý; hoặc áp dụng trí năngcực kỳ tháo vát và linh hoạt cho một số doanh nghiệp đầy thử thách về mặt trí tuệ. Sử dụng quyền năng của tôi để nói lên tiếng nói của lý trí và sự thông tuệ, và để đến giao tiếp với con người bất kể họ có thể hoạt động ở bất cứ trình độ nào, ý kiến chuyên môn bẩm sinh của tôi trong giới kinh doanh hay kinh tế – để phụng sự Thiên Cơ nhằm mang lại những điều thiện hảo lớn lao nhất”

– Theo mô tả, Phàm ngã cung 3 quan tâm đến hoạt động nghiên cứu cá nhân và nhóm của mình để phục vụ, cho dù là nhân loại rộng lớn, nhưng rõ ràng, trước tiên là cung 3 chỉ quan tâm đến chi tiết và lý luận, chỉ phù hợp với vị trí tham mưu, không phải tố chất lãnh đạo, nên không thểphát triển khả năng lãnh đạo, thống lãnh quân đội, cũng không yêu thích đấu tranh võ trang. Nếu đi với Cung 4 – Cung thích tranh đấu, thì cũng là tranh đấu cho cái ngã nhỏ lẻ, tính bao gồm chỉ ở lãnh đại đơn vị nhỏ. Nếu đi với thể trí Cung 1, thì kết hợp thành phàm ngã quyết đoán và liều lĩnh, nhưng chỉ vì bản ngã của mình, với tính bao gồm cũng của nhóm nhỏ mà thôi. Vậy cũng không phù hợp với ông, người từ thời trẻ đã giám đấu tranh vì tự do dân tộc bằng võ trang, suốt đời làm lãnh đạo > Phàm ngã Cung 3 không phải là của Ông.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 4: [rất hiếm] để giúp đỡ người khác hòa hợp và giải quyết sự xung đột trong cuộc sống của họ, để làm đẹp lên những gì xấu xí, để biểu lộ kịch tính của sự sống xinh đẹp một cách sắc sảo nhưng đầy đau khổ trong tất cả sự rung động của nó.

– Theo mô tả, chắc chắn trong ông không có năng lượng của cung 4, bởi đấu tranh võ trang luôn là cách ông chọn để “giải phóng áp bức, làm đẹp cho đời”, không phải là năng lượng biểu diễn đẹp đẽ sắc sảo, mà là đầy xung đột và đơn đau thể xác của muôn người, trái ngược với năng lượng cung 4, chỉ nhằm cần bằng một phạm vi, lĩnh vực nào đó trong con người hay nhân loại.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 5: Mục tiêu của tôi là sử dụng chuyên môn khoa học và các sức mạnh trí tuệ của tôi giống như tia laser để khám phá ra chân lý khoa học mới nhằm đưa ra sự thật và loại bỏ sai lầm; sử dụng khả năng đang phát triển của tôi để lãnh đạo và điều khiển những người khác, để mang lại điều tốt đẹp nhất trên Trái Đất (5 chuyển sang 1).

– Năng khiếu của một nhà nghiên cứu, khoa học với ông là không thể hiện rõ nét. Nếu xét trong trường hợp cung 5 đang chuyển hóa sang cung 1 – Lãnh đạo người khác, thì sự lãnh đạo này cũng chỉ là tổ chức của đơn vị, bộ phận nghiên cứu phát triển, tức không phù hợp với một đơn vị chiến đấu hay chính trị, bởi người cung năm thường tự cô lập mình, kể cả kết hợp cung 1 thì sự cố lập này càng mạnh thêm mà thôi, ở địa vị tự tách mình ra khỏi tổ chức thì không phù hợp với lãnh đạo chính trị hay đơn vị chiến đấu. Nếu cung 5 kết hợp với cung 2, tạo ra con người minh triết, nhà hiền triết, do đó cũng không phù hợp với ông. Nếu kết hợp với cung 6 hay cung 7, thì năng lượng phàm ngã cung 5 cũng chỉ làm cho tính tự cao tự đại tăng tiến (Cung 6), luôn tỏ ra khắt khe, xem thường người khác, nhưng bản thân thì lôi thôi, không có giờ giấc. Vậy cũng loại trừ ông có Phàm ngã cung 5

+ Ta xét với Phàm ngã cung 6: Mục tiêu của tôi là sử dụng lòng bác ái và minh triết đang phát triển của tôi, năng lực của tôi để kêu gọi những cuộc vận động cho điều tốt đẹp cao cả hơn, để truyền cảm hứng cho con người mưu tìm những lý tưởng cao cả nhất của họ, sự quan tâm sâu sắc của tôi về tôn giáo; để cứu giúp người nghèo và đau khổ (6 chuyển sang 2). Không có gì phải bàn ở đây, người có Phàm ngã cung 6 không thể chủ động lựa chọn con đường bạo lực làm sự nghiệp cho mình, mà Tương Giới Thạch thi từ thiếu thời cho đến cuối đời đều lãnh đạo chiến đấu không ngừng nghỉ, mà ông cũng không có dấu hiệu hòa hoãn thật sự, để tránh chiến tranhvà đổ máu mà năng lượng Cung 6 phát triển sẽ chuyển sang cung 2.

+ Ta xét với Phàm ngã cung 7: Mục tiêu của tôi là sử dụng các kỹ năng của tôi trong việc xây dựng những người và nhóm đặc biệt, khả năng dễ dàng của tôi để biểu thị các mục tiêu, năng lực của tôi thông qua nghi lễ và nghi thức, năng lực của tôi để dàn xếp các kết quả có lợi, năng lực của tôi để lên kế hoạch cùng với tổ chức và lãnh đạo – để giúp những người khác tổ chức cuộc sống của họ một cách toàn diện đến nỗi các ước mơ cao nhất của họ biểu hiện, để biểu lộ một trật tự thế giới mới và có tính tinh thần hơn, để kêu gọi các năng lượng thiêng liêng liên kết tinh thần với vật chất theo thiên cơ.

– Ông là người xuất thân trong gia đình theo Đạo Phật, bản thân cũng gắn bó với đạo Phậtquãng nửa cuộc đời, sau chuyển sang Cơ Đốc Giáo là vì phải đáp ứng yêu cầu của nhà gái, là nếu muốn cưới bà Tống Mỹ Linh, thì phải chuyển sang Cơ Đốc Giáo. Nhưng năng lượng cung 2 – Minh triết trong ông vẫn rất mạnh mẽ, bằng chứng là dù chiến tranh vào những thời điểm thua trận, thiếu người, ông vẫn yêu cầu sinh viên các trường đại học không được tòng quân, đường lối lãnh đạo của ông luôn coi trọng giáo dục dù là thời bình hay thời chiến. Ông có câu nói nổi tiếng, đại để “Mất nước còn lấy lại được, mất bản sắc văn hóa thì là mất tất cả”.

Tuy ông cũng trọng lễ, đời ông được Hòa Thượng nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ tiếp đón nói truyện. Cũng Vị Hòa thượng này, sau này đã rứt khoát không gặp Mao Trạch Đông, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc, dù bị mời đích danh. Ông là người đã đắc đạo, đức cao vọng trọng, thời bấy giờ đã chủ trì làm đại lễ cầu Trời khấn Phật để có băng tuyết bao trùm cả vùng rộng lớn, để dập dịch bệnh làm chết rất nhiều người vào mùa hạ khô hạn, nóng bức. Việc làm này làm Thái hậu vương chiều lúc bấy giờ, được mô tả là cả đời không phải quỳ lậy ai, nhưng bà đã quỳ lạy Đức Hòa Thượng này, trong lúc tuyết rơi, ngay tại đại lễ.

Do các đánh giá trên, rất có thể ông có Phàm ngã cung 7. Nhưng, Phàm ngã Cung 7 và thể tríCung 1 thì không có năng lượng Minh triết mạnh mẽ trong ông như thực tế, đặc biệt xét về việc tổ chức các trường đào tạo cấp cao trong suốt cuộc đời ông, ông luôn luôn theo đuổi. Cho lên, kết luận ông không có Phàm ngã Cung 7 là hợp lý.

5- Cung linh hồn (nếu người đó đang trên Đường đạo theo ý kiến của bạn): Việc tìm Cung Linh hồn được thực hiện dễ dàng hơn nếu các cungcủa các thể thấp được xác định trước, và “bóc tách ngược lại” để tiết lộnăng lượng tinh tế của linh hồn ở phía sau chúng. Hãy tuân theo hướng dẫn đề xuất này. Hãy nghiên cứu các đặc điểm của mỗi thể, cố gắng nhận dạngcung nào đang kiểm soát nó:

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.

+ Tôi xác định Tưởng Giới Thạch chưa là người đang đi trên đường Đạo, tuy nhiên, năng lượng Linh hồn chắc chắn đã có tác động lên Phàm ngãcủa ông bởi các lý do: Với người mà kiếp trước chưa bước vào đường đạo, thì nếu kiếp này có bước vào đường Đạo, Cung linh hồn cũng chỉ tác động đến phàm ngã vào giai đoạn sau của cuộc đời (Ngoài 28 tuổi, tuổi mà năng lượng mặt Trăng – Bản năng đã hoạt động đầy đủ), và nếu người đó đi đúng đường Đạo, thì càng cuối đời sẽ càng hiển linh bản chất của Linh Hồn với cuộc sống và môi trường, mà bản chất năng lượng của Linh hồn là không còn bản ngã cá nhân, vì dân tộc, vì nhân loại và luôn tránh xung đột vũ trang, nhưng với Tưởng Giới Thạch, ở tuổi ngoài 60, với cương vị đứng đầu Đảng và nhà nước Đài Loan lúc bấy giờ, lại trên thế của người bại trận, ông vẫn tuyên bố phải chiến đấu giành lại bằng được đại lục, tức tương đương với việc hàng ngàn người sẽ phải chiến đấu, hy sinh. Cho lên tôi cho rằng, dù trong ông có năng lượng của Từ Bi và Bác Ái của Cung 2, nhưng năng lượng này chưa làm chủ được Phàm ngã, vẫn là vì cái Tôi, vì Đảng của mình, vì dân của mình, đó là năng lượng của Phàm ngã tiến hóa, tuy đã bao gồm hơn, nhưng vẫn là hạn hẹp, không phải năng lượng Linh hồn thật sự, vì nếu là năng lượng Linh hồn thật sự thì tất cả là một, không phân biệt dân tộc, mầu da, đảng phái, bao gồm cả cây cỏ và thế giới vô hình …, tất cả chỉ vì một mục tiêu duy nhất là xóa bỏ vô minh, hiểu thấu luật Nhân Quả, nhân loại đại đồng, sống trong an lành hạnh phúc.  Do đó, tôi kết luận; Tưởng Giới Thạch có CUNG LINH HỒN chưa hoạt động rõ dàng, chưa làm chủ được Phàm ngã cao siêu.

IV- Luân xa hay nhóm các luân xa tích cực

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần, các Luân xa và chuyển di năng lượng giữa các Luân xa sẽ giúp tôi xác định được biểu đồ cungcủa nhân vật và làm được bài luận này.

1- Bạn được bảo rằng “tâm thức phát triển thông qua các luân xa”. Xin vui lòng nhận định luân xa hay tập hợp các luân xa nào mà bạn nghĩ TưởngGiới Thạch đang tập trung nhiều nhất? (Xem lại ba sự chuyển di năng lượng).

Trả lời: Theo lý thuyết, tiến trình khai mở các luân xa của con người có 5 đợt thức tỉnh. Tưởng Giới Thạch đã ở gia đoạn khởi đầu của người tiến hóa, ở giai đoạn sau 50 tuổi, tôi cho rằng ông đã bước chân vào con đường của người chí nguyện. Như vậy, tất cả các Luân xa dưới cơ hoành gồm: Luân xa đáy cột sống, luân xa sương cùng, luân xa Tùng Thái Dương của ông đều đã hoạt động mạnh mẽ và hoàn thiện, trong đó luân xa Tùng Thái Dương là luân xa hoạt động mạnh mẽ nhất. Theo đó, các luân xa [cổ họng và Ajna] thụ cảm với tác động và dòng chảy vào của sự sống. Chúng phù hợp với tiến trình khai mở luân xa đợt 3 với “Sự thức tỉnh của luân xa cổ họng và sự di chuyển của nhiều năng lượng thấp vào hoạt động cổ họng. Luân xa Ajna bắt đầu trở nên hoạt động, tạo ra các phàm ngã tích hợp và sáng tạo”. Tất nhiên, Tưởng Giới Thạch có Phàm Ngã tích hợp, cho nên đã xuất hiện cung Phàm ngã, được xác định là cung quân bình của các thể thấp, như trên đã xác định là cung 2 – Minh Triết.

2- Những bằng chứng nào cho sự chọn lựa của bạn? Điều này nên phù hợp với điểm 2 ở trên, bạn đặt người đó ở vị trí nào trên đường đạo): Từ thiếu thời, ông đã tổ chức các trò chơi cùng các trẻ nhỏ, và luôn là người đứng đầu,lãnh đạo trong chúng, ông cũng là người ham học, đọc nhiều kinh điển nổi tiếng trong nước và chứng tỏ khả năng tiếp thu nhanh. Sau khi rời ghế nhà trường trung học, ông đã quyết tâm dời xa gia đình, nhập trường quân sự, sống tư lập, và suốt giai đoạn trung niên cũng vậy, khi mới ngoài 20 tuổi, đã có tư tưởng lớn, tham gia chiến đấu ở trong một tổ chức chính trị lớn thời bấy giờ là Quốc Dân Đảng, là tổ chức lãnh đạo nhân dân có uy tín đương thời, do Tôn Trung Sơn là lãnh tụ, với mục đích là tham chiến đấu để thống nhất đất nước đang bị chia rẽbè phái, nhân dân lầm than. Do quá trình công tác, ông đã chứng tỏ sự trung thành với tổ chức, lên sớm có uy tín cao với lãnh tụ đảng là Tôn Trung Sơn, do đó từng bước rất nhanh đã trở thành là nhà lãnh đạo cấp cao của Quốc Dân Đảng. Chứng tỏ ông làngười tiến hóa, rất thông minh và dũng cảm. Tức là thể Hạ trí đã hoạt động mạnh mẽ, lấn ướt thể cảm dục. Ngay từ thời trung niên, Cung Phàm ngã đã hình thành bởi thể trí đã hoạt động, theo quy luật thì sau 28 tuổi, ông sẽ cóthể trí hoạt động mạnh mẽ, khi đó, Luân xa Tùng Thái Dương sẽ có sự chuyển di năng lượng lên Luân xa cổ họng, phát huy tố chất thông minh, củng cố những tư tưởng lớn của ông, với quy mô mang tầm vóc quốc giavà quốc tế, và sự thật đã chứng tỏ ông là người có tư tưởng và tầm ảnh hưởng vượt gia khỏi quốc gia, mang tầm quốc tế thời bấy giờ.

3- Cung hay các cung nào chảy qua (các) luân xa đó? 

Các Cung chi phối thể xác, thể cảm dục và thể trí đã hoạt động mạnh mẽ. Dĩ nhiên, như trên đã xác định, năng lượng cung 7 chảy qua luân xa xương cùng của thể xác, năng lượng cung 6 của thể cảm dục chảy qua luân xa Tùng Thái Dươngnăng lượng cung 1 của thể trí chảy qua luân xacổ họng. Ngoài ra, với Phàm ngã cung 2 – Minh Triết, ông cũng có năng lượng Cung 2 chảy qua luân xa cổ họng, chuyển di lên Luân xa Ajna, để phát triển tâm thức sáng tạo.

4- Các cung này có trong bản đồ cung của Tưởng Giới Thạch không? Nếu có, nó sẽ tăng cường sức mạnh của luân xa hay của thể liên quan. (Cho ví dụ nếu sự chuyển di năng lượng là từ luân xa tùng thái dương đến luân xatim, cung 6 và cung 2, và nhân vật của bạn có thể cảm xúc cung 6, điều này sẽ khiến cho bản chất cảm xúc rất mạnh. Hơn nữa, có những cao điểm và thấp điểm của cảm xúc khi năng lượng dao động giữa luân xa cao và thấp cho đến khi đạt được sự cân bằng. Những dao động và cường độ củanăng lượng sẽ ảnh hưởng đến nhân vật của bạn.)

Trả lời: Tôi xét với 3 sự chuyển di năng lượng giữa (i)- Luân xa xương cùng lên luân xa cổ họng; (ii)- Luân xa Tùng Thái Dương chuyển di lên Luân xa cổ họng và luân xa Tim; (iii)- Luân xa cổ họng kết hợp với luân xa Ajna

i) Với sự chuyển di năng lượng từ luân xa xương cùng của thể xác (Cung 7), lên luân xa cổ họng của thể trí (Cung 1), trong đó Cung 7 là cùng nhóm cung cứng, và là cung con của cung 1năng lượng tương đồng, không xung khắc, giúp trợ giúp và củng cố cho thể trí cũng như thể xác. Bởi cung 1 thể trí của người vừa mới vượt qua tâm thức Atlantic, nó vẫn mang đậm tính ích kỷ, kiêu mạn, chia rẽ, chỉ lo cho mình thì năng lượng cung 7– Trật tự, nghi lễ được kết hợp với năng lượng cung 1 – Quyền lực với người ở giai đoạn thức tỉnh lờ mờ, rất nguy hiểm, thì sự kết hợp này thật mang lại sự tốt đẹp hơn cho ông, chí ít cũng là quyền lực có dựa vào tập thể, làm giảm tính quyết đoán liều lĩnh của bản chất của người vẫn mang tâm thức bậc thấp, chưa thức tỉnh rõ ràng.

ii) Với sự chuyển di năng lượng giữa Luân xa Tùng Thái Dương lên luân xa cổ họng và luân xaTim: Như chúng ta đã biết, bản chất luân xa Tùng Thái Dương với người bình thường, đã hoạt động đầy đủ hoặc rất mạnh, nếu thể trí chậm phát triển, có thể gây nguy cơ xấu bởi đặc tính của tâm thức thấp của người chưa tiến hóa. Tương ứng với sự thức tỉnh luân xa của giai đoạn 2 “Các luân xa dưới cơ hoành trở nên hoàn toàn hoạt động, với sự chú trọng chủ yếu vào luân xa tùng thái dương (vốn) trở thành kho tiếp nhận và phân phối lớn cho tất cả các mãnh lực thấp, và đánh dấu giai đoạn chuyển đổi vào một thể cao hơn, là thể cảm dục … đặc trưng của sự phát triển chủng tộc Atlantis”. Điều đó đã sảy ra với ông, tuy nhiên năng lượngcung 6 – Thể cảm dục, dù không chủ đạo chuyển di nên luân xa cổ họng như năng lượng cung 7của luân xa xương cùng giúp phát triển thể trí, hoạt động sáng tạo, nhưng nếu chỉ gặp năng lượng của Cung 1 – Quyền lực của thể trí thì, nó sẽ làm tăng mức tâm thức hắc đạo của người bình thường. Tuy nhiên, với ông, cung thể trí đã được năng lượng của cung 2 – Minh triết của Cung phàm ngã làm quân bình, giúp cho năng lượng cung 1 Thể trí Quyền lực tiến đến con đường Minh triết thay vì theo con đường Hắc đạo, cho lên năng lượng của cung 6 – Thể cảm dục là cung phụ của cung 2 Minh triết, nên cũng không tạo thành năng lượng xấu trong ông, do đó nó cũng củng cố thể cảm dục trong ông. Bằng chứng là cả nửa sau của cuộc đời, lịch sửkhông thấy ghi lại các tai tiếng về thể tình cảm ông, điều này khác hẳn nửa đầu của cuộc đời đầy tai tiếng về cung tình duyên, gắn với dục tình thấp kém của bản chất thấp trong mỗi con người chưa tiến hóa.

iii) Với sự họat động của cung phàm ngã mang năng lượng của cung 2 – Minh Triết, kết hợp với năng lượng cung 1 của thể trí – Quyền lực, có sự gắn kết với sự tương tác của năng lượng cung7 – Thể xác, thành một người có Phàm ngã hợp nhất với Quyền lực + Minh Triết + Trật tự và ghi lễ, qủa thực trong ông hội tụ đầy đủ điều kiện của một lãnh tụ chính trị, nó tương ứng với lời dạy của Chân Sư trong quyển Dưới Chân Thầy ” ý chí chỉ đạo minh triết “, điều này giúp ông làm giảm thiểu tính ích kỷ, bè phái, tham quyền, độc đoán, được sử sách đã ghi nhận như trên đã nêu, và cũng chính điều này đã giúp ông từ chối dùng bom nguyên tử, tức từ chối chiến thắng đối phương để đổi lấy hàng vạn sinh mạng người dân vô tội của dân tộc. Việc chuyển di năng lượng liên quan đến 2 luân xa cao mang đến nhiều thuận lợi trong phát triển Tâm thức, Tinh thầnhơn là làm hại, bởi chúng bổ trợ cho nhau, khắc phục điểm yếu, củng cố điểm mạnh là các đặc điểm năng lượng của các cung 2 và 1. Tiếc rằng Phàm ngã cung 2 chưa thấy dấu hiệu được cung Linh hồn soi sáng, vì nếu có sự tác động của năng lượng cung Linh hồn, với năng lượngBác Ái và Minh Triết là chủ đạo, với Tâm thức rộng mở, tinh thần phụng sự nhân dân vô kỷ, không phân biệt đảng phái, dân tộc, tính ngưỡng thì rất có thể, đất nước Trung Quốc đã được thống nhất sớm hơn, bởi hai phía đối địch đã có nhiều lần có thỏa thuận hòa hoãn, rồi lại tranh đấu không ngừng, không bên nào tận dụng được cơ hội để người dân không phải trải qua nhiều năm nội chiến, máu chảy đầu rơi.

5- Bạn nghĩ điều này sẽ ảnh hưởng đến Tưởng Giới Thạch như thế nào? Về mặt tinh thần? Tâm lý? Họat động trần gian? Sức khỏe? Phụng sự?

Trả lời: Từ biểu đồ cung và nhận định về các Cung năng lượng tương ứng các thể thuộc Phàm ngã, và phân tích sự chuyển di năng lượng giữa các luân xa nhằm phát triển tâm thức trên đây, các năng lượng của các cung trong con người Tưởng Giới Thạch tác động đến đời sống của ông như sau:

+ Về mặt tinh thần: Đọc tiểu sử của Tưởng Giới Thạch từ thời niên thiếu, ông đã chứng tỏ là người thống minh hiếu học, có khả năng tiếp thu kinh điển, đặc biệt các kinh điển khô khan, mang tính Đạo đức do các Đại đức như Mạnh tử, Không Tử …. viết, trước 15 tuổi, theo sử sách, ông đã đọc và tiếp thu kết nhiều kinh điển nổi tiếng này, được các thầy dạy đánh giá là ngườithông minh. Nên khẳng định Tưởng Giới Thạch là người có Tâm thức của người tiến hóa, đã có thể trí phát triển và Phàm ngã tích hợp.

+ Về Tâm lý: Thể cảm dục cung 6 và thể trí cung 1, giai đoạn đầu đời, cuộc sống bản năng chi phối, nhưng ông đã có ý trí mạnh mẽ, tự lập, bằng chứng là sắn sàng xa nhà, từ bỏ bao bọc gia đình, người thân để dấn thân trong học tập từ lúc chưa đầy 10 tuổi, cho đến dưới 20 tuổi. Tuy thể cảm dục cung 6, nhưng do ý trí mạnh mẽ với kiến thức kinh điển đã tiếp thu được, giúp ông nhận thức được thời cuộc, cho lên ông không màng cuộc sống gia đình, tuy ông phải lấy vợ sớm để chiều lòng sự sắp đặt của cha mẹ, nhưng sau khi cưới không lâu, ông đã chủ động tìm đường đi học trong các trường quân sự trong và ngoài nước, để có kiến thức về giúp dân giúp nước.

+ Về hoạt động trần gian: Theo nguyên lý phát triển, con người sau 28 tuổi mới thật sự sống với phàm ngã của mình. Tưởng Giới Thạch từ nhỏ đến trước 30 tuổi, thể cảm dục cung 6 phát huy tác dụng mạnh mẽ, lên ông có nhiều đời vợ, trong đó có ít nhất 2 người ông lấy làm vợ vì trí tuệ đang đồng hóa với bản chất thấp, lấy vợ vì dục tình thấp kém, không để ý đến sự đau khổcủa gia đình và người vợ chính thức đầu tiên, được cả gia tộc nhà chồng quý mến và bảo vệ suốt đời, kể cả khi ông đã dùng quyền lực và trí tuệ thấp hèn để quyết tâm ly dị bằng được người vợ đầu để lấy người không xứng đáng, bị cả gia tộc phản đối. Với thể trí cung 1 – Ông đã phát huy ngay từ thời niên thiếu, thoát ly gia đình dòng tộc, tự lập để quyết tâm vào trường quân sự, kể cả du học, mục đích để về tham gia hoạt động vũ trang, thống nhất đất nước, tức vì dân tộc theo cách hiểu của ông. Đây chính là con đường phụng sự nhân dân mà ông đã chọn, con đường này không nay chuyển trong suốt cuộc đời của ông, và ông đã gặt hái được thành công trong vô vàn khổ ải, trốn tránh, thất bại, suốt đời chiến đấu sống chết cận kề. Chức vụ cuối cùng của ông là Tổng Thống Quốc Đảo Đài Loan.

+ Sức khỏe: Sự phối hợp giữa các cung năng lượng giữa các thể của Phàm ngã không gây ra sáo trộn, cản trở hay đối kháng lớn, hơn nữa lại có sự chuyển di năng lượng của các luân xadưới cơ hoành nên các luân xa cao, tránh sự tắc nghẽn, phát triển thể trí và tâm thức sáng tạo, cho lên ông có sức khỏe tốt, cuộc đời ít bệnh nặng.

Phụng sự: Thời trẻ và nửa đầu của cuộc đời, ông đã chứng tỏ là người sẵn sàng hy sinh vì dân vì nước, tấm gương phụng sự khi thấy nước nhà suy đồi dưới thời nhà Thanh sắp suy tàn, trong nước chia rẽ nhiều đảng phái, nhưng ông đã chủ động chọn con đường binh nghiệp nhằm tư tưởng lớn, giúp dân giúp nước. Vào nửa sau của cuộc đời, ông có Phàm ngã cung 2 – Minh Triết, với thể trí Cung 1 – Quyền lực hoạt động phối hợp, tạo lên nhà lãnh tụ tầm cỡ thế giới thời bấy giờ. Như ta đã biết, trên cương vị người đứng đầu Quốc Dân Đảng, khi rơi vào thời kỳ thua cuộc trong chính trường, chính quyền của ông buộc phải chuyển ra đảo Đài Loan để tồn tại vì đất đại lục đã rơi vào tay Đảng Cộng Sản chiếm giữ, khi đó chính quyền Hoa Kỳ đã gợi ý sẵn sàng giúp ông, dùng bom nguyên tử để phản công, tuy nhiên, ông là lãnh tụ quyền lực có Minh Triết cung 2 hoạt động, lên ông đã từ chối để bảo toàn tính mạng người dân của mình. Đây chỉ có thể là Tâm thức của người chí nguyện, có trí tuệ phân biện đúng nghĩa mới có thể hy sinh bản ngã cá nhân, vì tính mạng muôn người chứ không vì chức vụ tối cao mà ông sẽ đạt được, nếu ông quyết dùng bom nguyên tử để phản công, khi đó phần thắng chắc chắn thuộc về ông.

6- Bạn có nghĩ rằng luân xa cao đạt được sự thắng thế trong cuộc sống của Tưởng Giới Thạch không? Nếu có, bạn thấy gì trong cuộc đời phụng sựcủa Tưởng Giới Thạch chứng minh cho sự lựa chọn của bạn? Nếu không, tại sao bạn nghĩ thế?

Trả lời: Ông là người rất thông minh, điều đó chỉ có thể là người tiến hóa rất cao so với bình quân nhân loại tại thời điểm, tức luân xa cổ họng thắng thế trong cuộc đời ông. Bằng chứng là sự thành công trong vũ đài chính trị ngay từ thời trẻ cho đến cuối đời, sự nghiệp chính trị của Tưởng Giới Thạch đã đạt được thành tựu nổi bật, mấy chục năm luôn có uy tính và giữ cương vị lãnh đạo cấp cao trong Quốc Dân Đảng, cũng như suốt hơn chục năm cuối đời, ông giữ chức vụ Tổng Thống của quốc đảo Đài Loan, được người dân Quốc đảo tín nhiệm, đánh giá cao.

V- Tóm tắt

* Các kiến thức: Về Bảy Cung, các Cung Hoàng Đạo, Hành tinh; Cấu tạocon người qua thể xác, thể trí, thể cảm dục; kiến thức về Tâm thứcPhàm ngãLinh Hồn, Tinh Thần và sự tiến hóa tinh thần sẽ giúp tôi xác định được bản đồ cung của nhân vật và làm được bài luận này.

1- Tôi giả thiết rằng vị trí của X là (một người tiến hóangười chí nguyện/đệ tử / điểm đạo đồ):

Trả lời: Tưởng Giới Thạch là người có thể trí phát triển, đã làm chủ đượcphàm ngã, là người tiến hóa, cuối đời ông đã đặt chân vào con đường củangười chí nguyện.

2- Tôi giả thiết rằng các cung thuộc bản đồ cung của Tưởng Giới Thạch là:

Trả lời: Ông có Thể xác cung 7Thể cảm dục cung 6Thể trí cung 1Thểphàm ngã cung 2Linh hồn chưa xác định, do chưa thể hiện mạnh sự đối kháng, cản trở cung Phàm ngã.

Cung mà Ông / Bà có thể thể hiện nhất là cung thể trí: Cung 1 – CungQuyền lựcCung Phàm ngã là cung 2

3- Cung Mặt trời là xxxxxxx. Những điểm tiêu cực mà Ông/Bà cần vượt qua là xxxxxxxx. Ông thể hiện những đặc điểm này khi ông xxxxxxxxx. Những điểm tích cực cần phải phát triển là xxxxxxxxxx. Ông thể hiện những điểm này khi xxxxxxxxxxxxxxx.

3.1- Lá số Chiêm tinh của Tưởng Giới Thạch: Ông sinh vào giờ Ngọ, ngày 31 tháng 10 năm 1887 tại tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Căn cứ vào phần mềm lấy lá số Tại đây, thì Lá số chiêm tinh của Tưởng Giới Thạch là:

Bình giải tự động: Xem chi tiết bình giải Lá số chiêm tinh Tưởng Giới Thạch tại đây

a) Cung Mặt Trời:

4- (Đoạn văn kết luận, kết nối tất cả lại với nhau, bao gồm cả kinh nghiệm của bạn khi viết bài văn và những gì mà bạn gặt hái được )

Nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo:

+ Xem: Tóm tắt tổng thể về cuộc đời và sự nghiệp của ông Tưởng GiớiThạch

+

SÁCH BÍ MẬT CUỘC ĐỜI VÀ GIA THẾ TƯỞNG GIỚI THẠCH

Mục 6 phần thứ nhất: Chì sao gia đình họ Tưởng theo Đạo Phật

Ăn chay – Ăn thịt theo Phật dậy

– Ca Diếp hỏi Phật rằng: “Sao hồi trước Ngài cho phép tỳ kheo ăn ‘ba loại tịnh nhục’ hoặc ngay cả ‘chín loại tịnh nhục’?” Phật trả lời: “Ta định chế như thế vì sự cần thiết vào lúc đó, và để dẫn độ dần dần cho tới khi họ thật sự bỏ được thịt.” _ Kinh Niết Bàn.
Tam tịnh nhục là ba món thịt:
1.Mắt chẳng ngó thấy người ta giết con vật.
2. Tai chẳng nghe tiếng con vật bi giết.
3. Chẳng nghi là giết vì mình.
Ba thứ thịt ấy trong giới Tiểu Thừa Tỳ Kheo ăn được cả. Còn bên Đại Thừa hể cứ thấy thịt là quí Thầy không ăn và Phật tử tại gia Đại thừa nhằm những ngày ăn chay cũng không được dùng đến Tam Tịnh Nhục.

– Ðức Phật dạy:
Ta quan sát chúng sinh trong luân hồi lục đạo, cùng nhau ở trong sinh tử, chung nhau nuôi sống, đắp đổi làm cha mẹ, anh chị em với nhau… Họ cũng có thể sinh vào đường khác (súc sinh, ngạ quỷ, thiên nhân, v.v.), đường thiện, đường ác, thường làm quyến thuộc lẫn nhau. Do nhân duyên đó, ta quan sát thấy TẤT CẢ THỊT MÀ CHÚNG SINH ĂN ĐỀU LÀ THỊT NGƯỜI THÂN CỦA HỌ.
(*Lục đạo: thiên nhân, người, A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, chúng sinh địa ngục) _ Kinh Lăng Già

 

Đức Phật dậy về giải quyết bất hòa trong cuộc sống

Những điều Đức Phật dạy về hóa giải bất hòa

Đối với Đức Phật, việc hóa giải những bất hòa cũng quan trọng không kém việc xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp giữa những người sống chung. Cộng đồng Tăng già mới thành lập của Ngài bao gồm cả nam và nữ đến từ mọi thành phần xã hội, những thành viên trong cộng đồng đó có những khác biệt lớn về nhiều phương diện và điều không thể tránh là sự phát sinh những mâu thuẫn.

[​IMG]

Với cái thấy xuyên suốt, Đức Phật đã cho những người sống chung những bài học quý báu để ngăn ngừa và hóa giải những mâu thuẫn xảy ra giữa họ. Mặc dù lúc đó Đức Phật nhắm đến những đệ tử xuất gia, những lời khuyên của Ngài cũng áp dụng có hiệu quả cho những cộng đồng xã hội khác và vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Sau đây, chúng ta lần lược trình bày và phân tích những lời dạy của Ngài.

Năm sự khéo léo trong việc trao đổi

Những lời dạy của Đức Phật về sự khéo léo trong cách giải quyết tốt đẹp những bất hòa được Ngài Xá Lợi Phất giải thích rành mạch(1).

Đức Phật dạy, có năm sự khéo léo trong giao tiếp đem đến nhiều kết quả tốt đẹp. Theo Ngài Xá Lợi Phất, không tuân theo năm cách xử sự này sẽ đem đến những hậu quả tiêu cực và đáng ân hận – và hầu hết người nói sẽ gặp phản ứng từ người nghe. Sau đây, chúng ta khảo sát năm phương pháp mà Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất coi như thiết yếu trong việc hóa giải những bất hòa trong đời sống hàng ngày.

[​IMG]

1. Nêu vấn đề đúng thời

Đúng thời là một điều kiện quan trọng trong việc truyền đạt của Đức Phật. Ngài tự nhận là một “người nói đúng thời” và thường nhấn mạnh rằng sự thất bại hay thành công trong cuộc trao đổi tùy thuộc rất lớn vào thời điểm(2). Theo Ngài Xá Lợi Phất, đúng thời là điều kiện thiết yếu trong việc hóa giải những mâu thuẫn giữa người với người.

Với những bằng chứng được ghi lại, Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử loài người nhấn mạnh sự quan trọng của việc đúng thời trong lời nói. Đó là vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch. Tư tưởng gia Hy Lạp tiền Socrate là Protagoras đề cập đến khái niệm này lần đầu tiên trong lịch sử Tây phương vào thế kỷ thứ tư trước Tây lịch.

Khái niệm “nói đúng thời” của Đức Phật mang một ý nghĩa rộng rãi. Điều cần chú ý đầu tiên là trạng thái tinh thần của người nghe. Cuộc đối thoại giữa Đức Phật và bà Gotami, người có đứa con duy nhất chết khi còn nhỏ, chứng tỏ sự quan trọng của tác nhân này(3). Gotami ôm đứa con đã chết đến cho nhiều vị thầy thuốc để mong được cứu, nhưng tất cả các thầy thuốc đều trả lời rằng đứa bé đã chết, không ai có thể cứu sống được. Quá thất vọng và đau buồn, bà ôm con đến chỗ Đức Phật, người được coi là “vị thầy vĩ đại nhất”, cầu khẩn Ngài cứu sống đứa bé. Thấy sự đau đớn khôn cùng của người mẹ, Đức Phật quyết định không nói ngay về sự thật. Ngài bảo bà đi tìm một nắm hạt cải ở nhà nào chưa từng có người chết. Vì biết rằng bà sẽ phản ứng và và đau đớn khi nghe sự thật, Ngài đợi đúng lúc để nói cho bà về sự thật không vui rằng cái chết là phổ biến cho mọi người, không ai có thể tránh khỏi, không ai có thể thay đổi. Và điều đó đã giúp bà giảm đi nỗi đau và đạt đến trí tuệ.

Các nhà tâm lý xác nhận rằng một người đang lúc không vui ít muốn lắng nghe. Một trẻ vị thành niên khi mang về một giấy báo điểm thấp có thể sẽ phản kháng mãnh liệt trước lời khuyên của cha mẹ rằng hãy cố gắng để khá hơn trong kỳ học tới. Một người vợ hay chồng về nhà sau một cuộc chạm trán không vui với cấp trên có thể thấy những lời cau có của người kia nhức nhối khó chịu hơn. Trao đổi khi người nghe ở trong trạng thái vui vẻ có thể đem lại những kết quả tốt đẹp hơn.

Sự thoải mái về thể xác cũng phải được kể vào nguyên tắc đúng thời. Đức Phật bảo đệ tử của Ngài cho một người muốn nghe pháp đang đói được ăn trước khi Ngài thuyết pháp cho người đó(4). Đức Phật biết rằng thuyết pháp cho một người đang đói sẽ đem lại ít lợi lạc hơn. Và trước khi nói pháp cho một đệ tử xuất gia, Đức Phật đã hỏi han về chứng bệnh của vị đó đang mang(5). Chúng ta thấy rõ ràng rằng điều kiện thể xác cũng là một yếu tố để có một tinh thần khỏe mạnh; do đó “đúng thời” cũng có nghĩa là thời điểm khi người nghe có tình trạng cơ thể thích hợp.

Mục tiêu của “đúng thời” là đem lại sự vui vẻ và lợi ích cho cả người nghe và người nói. Chờ đợi thời điểm thích hợp để truyền đạt không có nghĩa là tìm cơ hội tốt nhất để tạo tác động lên người nghe. Sự hiện diện của những động năng ích kỷ và lạm dụng đi ngược lại lời dạy của Đức Phật. Ngài lặp đi lặp lại rằng người nói nên được hướng dẫn bằng tâm từ bi, hoàn toàn không có động cơ lợi dụng.

Chọn thời điểm thích hợp nhất để nói là sự khéo léo có sức mạnh rất lớn trong việc hóa giải những bất hòa trong mối quan hệ.

2. Chỉ đề cập đến sự kiện

Đức Phật nói thêm rằng tránh những lời buộc tội sai lầm là bước thứ hai trong việc làm tốt cuộc đối thoại và giảm bớt những mâu thuẫn trong mối quan hệ. Theo Ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm: “Tôi sẽ nói điều gì đã xảy ra, không nói điều gì không xảy ra”(6). Sự khéo léo này cũng bao gồm việc tránh cường điệu, phóng đại những lỗi lầm và những yếu kém của người nghe, cũng như những lời kết tội không có thật khác.

Dưới nhãn quan tâm lý học, chúng ta thổi phồng những yếu kém hay lỗi lầm của một người chính yếu là để lôi kéo sự chú ý của người đó, hoặc bày tỏ sự tức giận của chúng ta. Để nhấn mạnh sự săn sóc thích hợp cho một đứa con, người vợ có thể nói với chồng: “Con bị cảm cúm do anh không đắp kỹ cho nó”. Để trút giận, người chồng có thể trả đũa: “Cô lúc nào cũng nói chuyện ngớ ngẩn”. Trong trường hợp đầu, điều thật sự xảy ra là đứa trẻ bị bịnh cúm; lý do người vợ đưa ra chỉ là một sự gán cho. Trường hợp thứ hai, câu trả lời của người chồng là một câu nói chung chung, một luận điệu chung chung về một sự việc riêng lẻ. Cả hai đều nói những lời cường điệu. Cả hai đều không nói đúng chính xác “điều xảy ra”.

Sự cường điệu thể hiện dưới nhiều hình thức trong đời sống hàng ngày. Một người mẹ thấy một chiếc dĩa tuột khỏi tay người con gái có thể la lên: “Mày không bao giữ được cái gì”. Một người vợ đọc kết quả xét nghiệm sức khỏe hàng năm của chồng có thể nói: “Ông không chịu tập thể dục. Đó là lý do lượng mỡ trong máu tăng cao”. Tất cả những lời nói này đều là những lời thổi phồng, cường điệu, hoặc gán thêm.

Cách phát ngôn này một cách nào đó có vẻ xoa dịu cho người nói – mặc dù không xoa dịu chút nào cho người nghe. Có thể một người sẽ cảm thấy sự căng thẳng trong tâm của mình nhẹ bớt bằng việc tấn công bằng lời nói vào người đã tạo ra sự căng thẳng. Nhưng hầu như điều đó chỉ làm tăng thêm phản ứng ương ngạnh của người nghe. Người nghe cho rằng những lời của người nói là những lời kết tội vô căn cứ hay là những lời lăng mạ. Phản ứng đó tạo ra sự khó khăn trong việc đưa đến một cuộc đối thoại lành mạnh giữa người nói và người nghe.

Đức Phật khuyên chỉ nên nêu ra sự kiện, không thêm vào sự kiện những giải thích theo ý riêng. Khi đó hoàn cảnh sẽ thuận lợi hơn để hóa giải những mâu thuẫn một cách thân tình. Điều xảy ra đã xảy ra. Để cứu vãn mối quan hệ, tốt nhất là đừng để cho sự bất hòa lại xảy ra lần nữa.

Đề cập đến sự kiện không có nghĩa là luôn luôn phải nói về sự kiện đã xảy ra. Đức Phật nói: “Cho dù sự việc là thật, ta không nói sự thật đó khi không được người nghe đồng ý”(7). Một số sự thật nói ra không có mục đích ích lợi nào, nói ra có thể là vô ích. Để đem lại kết quả tích cực trong thái độ và cách cư xử của một người, chúng ta nên chỉ đề cập đến sự kiện, không gán ghép vào đó bất cứ điều gì khác.

3. Nói lời ôn nhu

Dùng lời nói ôn nhu, theo Ngài Xá Lợi Phất, là một khía cạnh quan trọng khác trong việc truyền đạt có kết quả việc giải tỏa những mối bất hòa. Theo Ngài, người nói nên có một thái độ dứt khoát trong việc sử dụng ngôn ngữ: “Tôi nguyện nói lời ôn nhu, không nói lời lỗ mãng, thô bạo”. Tránh sử dụng lời nói lỗ mãng cũng là một trong năm giới của người Phật tử tại gia. Sự nhấn mạnh này nói lên vai trò quan trọng của lời nói ôn nhu trong mối liên hệ hàng ngày.

“Nói lời ôn nhu” ở đây cũng chuyên chở một ý nghĩa rộng rãi. Nó bao gồm mọi thứ liên quan đến ngôn ngữ: lời nói, câu nói, giọng nói, cách nói.

Theo Đức Phật, khi chúng ta nói lời thô bạo để giải quyết mâu thuẫn, sự vô minh và sân hận thống trị tâm thức chúng ta. Ý nghĩ cho rằng sự thô bạo sẽ làm cho người nghe chịu hiểu phát xuất từ một tâm thức vô minh. Sự thật, ngôn ngữ lỗ mãng chắc chắn sẽ làm cho người nghe phản ứng và chống lại. Một số người nghĩ rằng dùng những lời lỗ mãng để buộc người nghe không nói được, họ thuyết phục được người nghe chấp nhận những ý kiến của họ. Một đứa trẻ giữ im lặng và không phản ứng khi bị cha mẹ la rầy có thể dường như đã được thuyết phục, nhưng sự thật, sự im lặng của đứa trẻ có thể là một phản kháng mạnh mẽ, nói lên sự thất bại của cha mẹ. Ngôn ngữ lỗ mãng có thể đem đến một cảm giác thỏa mãn tạm thời, nhưng nó không bao giờ giải quyết được sự mâu thuẫn.

Tâm lý học hiện đại giải thích rằng sự nóng giận, tác nhân thúc đẩy phía sau của những lời nói lỗ mãng, là một phản ứng trước những tình huống đe dọa. Nói lời giận dữ là một kỹ thuật để triệt tiêu nguồn gốc của một mối đe dọa, không phải để giải quyết sự mâu thuẫn. Ngôn ngữ, giọng điệu hung dữ biểu lộ một sự tấn công. Cảm giác rằng người nói đang tấn công mình bằng lời là cảm giác tồi tệ nhất đối với người nghe về khả năng có thể đối thoại. Ít ai khoan thứ với một sự tấn công; họ tự vệ hoặc tấn công lại. Sự thô bạo được hướng dẫn bởi lòng tức giận ít khi đưa đến kết quả tốt trong việc giải quyết những bất hòa.

Có người cho rằng lời nói hòa dịu phản ảnh sự yếu nhược, và có thể bị người nghe lợi dụng. Sự hiểu sai lạc này bắt nguồn từ việc hiểu sai khi cho rằng ôn hòa là thiếu khả năng hay nhút nhát. Tuy nhiên, lời lẽ ôn hòa không nằm trong ý nghĩa đó. Đức Phật luôn luôn dùng lời lẽ ôn hòa, nhưng Ngài cũng thấy rằng lời nói cứng rắn, dứt khoát là cần thiết. Lời nói thô bạo là một thái cực và yếu nhược là thái cực kia. Theo Đức Phật, chúng ta có thể không ở trong một thái cực nào và vẫn có thể dùng những lời lẽ dứt khoát để giải quyết những mâu thuẫn một cách có hiệu quả.

Trong Dhammapada (Pháp cú), Đức Phật khuyên nên kiểm soát lời nói, tránh những lời nói tức giận(8). Thái độ đó sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi trong việc hóa giải những mâu thuẫn bất hòa trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

4. Nhắm vào những hiệu quả tích cực

Đi xa hơn, Ngài Xá Lợi Phật còn giải thích rằng người nói cần tập trung vào mặt tích cực trong giải pháp giải quyết vấn đề. Sự tập trung này có thể đem lại những kết quả lớn trong việc hóa giải những mâu thuẫn giữa những người có mối liên hệ gần gũi. Theo Ngài Xá Lợi Phất, người nói cần luôn tâm niệm “Tôi sẽ nói vì sự lợi ích cho người nghe”. Thái độ này của người nói gợi lên hai điểm. Thứ nhứt, người nói cần biết rõ về những kết quả tích cực của giải pháp. Thứ hai, người nói cần giải thích thấu đáo cho người nghe về những kết quả tốt đẹp của giải pháp đó.

Cách giải quyết mâu thuẫn này nói lên sự việc rằng chỉ phê bình mà không có đường hướng để giúp đỡ người nghe thì sẽ thất bại. Một số người có khuynh hướng tìm lỗi của người kia chỉ để phê phán. Nhận thấy thói quen nguy hại đó, Đức Phật dạy: “Một người luôn luôn phê phán người bạn của mình, việc đó không chứng tỏ một tình bạn chân thật”(9). Khi nhận ra động cơ thúc đẩy của người nói, theo bản năng, người nghe sẽ phản bác những lời phê bình của người nói. Với một hướng giải quyết được chuẩn bị sẵn, người nói có thể làm cho người nghe chú ý lắng nghe.

Sự rõ ràng rành mạch của người nói về những hiệu quả tích cực của giải pháp thuyết phục người nghe chấp nhận cách giải quyết. Người nói cần giải thích cho người nghe lý do vì sao vấn đề cần được giải quyết, và sự giải quyết đó sẽ có lợi cho người nghe như thế nào. Người nghe có thể hiểu sai lạc việc phê bình xây dựng khi người nói không nói rõ mục đích và những kết quả tích cực trong những đề nghị của mình.

5. Nói với lòng từ bi

Sau cùng, lòng từ bithể hướng dẫn toàn bộ tiến trình đối thoại. Những người có ý tưởng, lời khuyên và giải pháp phát xuất từ lòng từ bi thường dễ giải quyết tốt đẹp những mối bất hòa. Người nói nên tâm nguyện rằng “Tôi nguyện nói với lòng từ bi, không nói với lòng tức giận”(10).

Bốn phương pháp đề cập ở trên – đúng thời, chỉ đề cập đến sự kiện, sử dụng ngôn ngữ ôn nhu, và nhắm vào lợi ích của người nghe – là những phương pháp thuộc phạm vi hùng biện, ở bên ngoài. Từ bi, thuộc tình cảm, ở bên trong và dĩ nhiên là thiết yếu.

Những phương pháp hùng biện bên ngoài là cần thiết nhưng có thể là những kỹ thuật không thích hợp trong việc sửa đổi một cá nhân. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ người nghe có thể cảm nhận sự “thiếu tấm lòng” nơi người nói. Câu “Tôi thương anh do đó tôi muốn anh được tốt đẹp” có sức mạnh lớn trong việc ảnh hưởng một người, nhưng sự bày tỏ không bằng lời nói còn có sức mạnh lớn lao hơn.

Đôi khi chúng ta cần tự hỏi về ý hướng của chúng ta khi nói với người khác về những hành vi không đẹp của họ. Phải chăng có tác động tình cảm thật sự trong việc chăm sóc, giúp đỡ một người, hay một thứ gì khác đang giở trò? Vì sao một người vợ hay chồng luôn luôn nhắc nhở người kia về lỗi lầm mà người đó đã tạo ra trong quá khứ? Vì sao chúng ta luôn luôn sửa sai một người nào đó? Những sự việc này cần quan sát kỹ lưỡng. Một hành động sẽ có ý nghĩa và kết quả nếu nó được khởi động bằng lòng từ bi.

Những ngoại lệ

Năm bước giải quyết trong truyền thống Phật giáo không phải là những phương thuốc toàn hảo cho mọi xung đột giữa người và người. Chúng được coi như những phương pháp để có sự đối thoại khéo léo, thiện xảo, có thể dùng để giải quyết hầu hết những xung đột một cách có hiệu quả, nhưng lúc nào cũng có những ngoại lệ. Khi Ngài Xá Lợi Phất trình bày hiệu năng của năm phương pháp này, Đức Phật nêu lên một điểm quan trọng:

“Lại nữa, Xá Lợi Phất, dù ông theo năm phương pháp đối thoại này, vẫn còn một số người không tán đồng những điều ông nói”(11).

Lời nói này phản ảnh cái thấy sâu xa của Đức Phật rằng năm phương pháp ở trên không thể giải quyết tất cả mọi xung đột giữa con người, và theo đó, Ngài bảo Xá Lợi Phất giải thích vì sao có một số người quá cứng cỏi và làm thế nào để đối trị.

Trả lời Phật, Ngài Xá Lợi Phất thừa nhận có một số người luôn luôn phản kháng dù năm phương pháp khéo léo trong đối thoại đã được đem ra áp dụng; và Ngài nói rằng sở tri chướng được coi là một lý do tạo ra phản ứng nơi người nghe. Đức Phật khen ngợi Ngài Xá Lợi Phất và khuyến khích Ngài phát triển những kỹ thuật được dạy để làm lợi lạc cho những người sẵn sàng lắng nghe. Điều đáng chú ý là những phương pháp đối thoại mà Ngài Xá Lợi Phất trình bày giúp giải quyết những xung đột trong tinh thần hòa bình.

Nói thêm về sự khéo léo trong việc trao đổi

1. Tránh tranh luận những vấn đề nhạy cảm

Để giảm thiểu tối đa những xung đột trong quan hệ, Đức Phật khuyên chúng ta nên tránh tranh luận về những vấn đề nhạy cảm. Những vấn đề này bao gồm những ý niệm có tính cách ức đoán, những quan điểm và tin tưởng không có cơ sở khoa học. Ngài nói rõ ràng rằng cuộc tranh luận như vậy thường chỉ tạo nên sự đối kháng thay vì đem đến sự nhất trí.

Sự trao đổi giữa Đức Phật và Kassapa, một nhà tu khổ hạnh thuộc một hệ thống tư tưởng khác, nói lên điều này. Đức Phật giữ mối quan hệ gần gũi với những vị thầy trong những tôn giáo khác, thường viếng thăm họ và có những cuộc trao đổi thân mật với họ. Trong cuộc trao đổi với Kassapa, Đức Phật khuyến cáo chỉ nên đề cập đến những chủ đề mà hai người có quan điểm chia sẻ, tránh những chủ đề gay gắt(12). Mục đích của cách tiếp cận đó là giữ mối quan hệ lành mạnh giữa người nói và người nghe.

Khi có người nêu ra những vấn đế nhạy cảm, Đức Phật đôi khi giữ im lặng. Im lặng có thể tốt hơn là tạo ra kết quả tiêu cực trong việc tranh luận. Và đôi khi Đức Phật không do dự tán đồng những quan điểm khác. Ngài coi mối quan hệ quan trọng hơn sự tranh luận về những vấn đề không đem đến kết quả tích cực nào cũng như Ngài tránh tranh luận về những vấn đề siêu hình.

Điều này không có nghĩa là Đức Phật hoàn toàn tránh né tranh luận, cũng không phải Ngài bảo đệ tử đừng bao giờ tranh luận. Trong nhiều trường hợp, Ngài đã tranh luận một cách hùng hồn về những vấn đề xã hội, chẳng hạn như vấn đề phân biệt giai cấp. Trong Digha Nikàya I, chúng ta thấy ghi lại nhiều cuộc tranh luận đầy thuyết phục của Đức Phật. Những cuộc tranh luận này cho thấy những lý lẽ đầy thuyết phục chống lại những tin tưởng và thói tục sai lầm và gây tổn hại trong xã hội. Đối với những tin tưởng và thực hành nhạy cảm có tính cách cá nhân, Đức Phật cho rằng tranh luận về những vấn đề đó là vô ích và có thể gây tổn hại cho mối quan hệ.

Ngày nay, có một số tin tưởng và thực hành về tôn giáo, chính trị và xã hội thuộc vào những nhóm này. Nếu người chồng và người vợ theo hai tôn giáo khác nhau tranh luận về niềm tin tôn giáo, sự quan hệ sẽ bị tổn thương rất nhiều. Tương tự, hai người bạn phê phán nhau về thói quen xã hội của mỗi người sẽ mở ra con đường đưa đến sự căng thẳng và bất hòa.

Để giữ mối quan hệ được tốt đẹp, Đức Phật khuyên chúng ta nên tránh tranh luận về những chủ đề như vậy. Ngài cho thấy rằng trong khi những tranh luận hợp lý lẽ có thể là cần thiết đối với những tin tưởng và hành động gây ra những hậu quả xấu, hầu hết những niềm tin tôn giáo và những thói quen xã hội đều có thể có ích. Trong trường hợp này, thay vì tranh luận, sự tiếp cận tốt nhất là tôn trọng lẫn nhau.

2. Ý thức rằng có một số cách cư xử không thể thay đổi

Để giữ mối quan hệ được lành mạnh, chúng ta có thể phải chấp nhận một số mặt không thể thay đổi trong cách cư xử của người đang sống với chúng ta. Đức Phật nhận thấy rằng hầu hết con người đều có một số yếu kém bên trong. Ngài nói: “Người không có những chứng bệnh trong tâm thật hiếm thấy”(13). Một trong những chứng bệnh này là “không nhận ra, chấp nhận, và chịu sửa đổi cách cư xử của mình”(14). Đó là bản chất của một số người, cố gắng sửa đổi của người khác chỉ đem lại sự thất vọng và mệt mỏi. Đức Phật cho thấy rằng có một số người bản chất tự nhiên là phản ứng bằng sự tức giận, ác tâm và gây hấn đối với những lời khuyên xây dựng về cách cư xử của họ(15). Trong hoàn cảnh đó, cách hay nhất là hiểu và chấp nhận một số thái độ của người sống chung là không thể thay đổi tuy rằng một cách lý tưởng, mỗi người trong mối quan hệ cần tự sửa đổi cách cư xử của mình thay vì buộc người kia phải chấp nhận. Có một số người có thể bày tỏ thái độ khó chịu không gây ra những mối đe dọa trầm trọng cho mối quan hệ. Trong trường hợp không thể sửa đổi, sự chấp nhận có vẻ thực tiễn hơn là cố gắng sửa đổi.

Đức Phật cũng nhắc nhở chúng ta rằng tự sửa mình là tính chất của một người hiền trí. Sự tự sửa như vậy cũng có thể làm giảm đi những sự không vui trong mối quan hệ. Chúng ta có thể thấy khó khăn khi muốn sửa đổi người khác theo ý muốn của mình, nhưng chúng ta có thể sửa đổi ý nghĩ và hành động của mình để thích hợp với thái độ của người khác. Chúng ta có thể rèn luyện một tâm thức tỉnh táo để có thể chấp nhận và khoan thứ khi đón nhận những điều bất đồng, nhưng không đe dọa đến mối quan hệ, từ người sống chung.

Khuynh hướng giữ im lặng của người chồng và khuynh hướng muốn bày tỏ của người vợ là điển hình của những cách cư xử đòi hỏi sự khoan dung và chấp nhận. Người vợ có thể muốn người chồng nghe và đáp ứng trong khi người chồng muốn người vợ bày tỏ những ý nghĩ của mình một cách đơn giản. Tuy nhiên, nếu mỗi người đều hiểu bản tính của người kia, họ có thể chấp nhận cách cư xử của người kia thay vì cố gắng thay đổi. Luôn luôn than phiền về sự không quan tâm của người chồng hay tính tự biểu hiện của người vợ có thể làm căng thẳng mối quan hệ. Ngược lại, kiên nhẫn, khoan dung và chấp nhận sẽ làm giảm mối bất hòa trong quan hệ.

3. Tạo cơ hội sửa đổi

Đạo Phật tin vào khả năng biết tha thứ và có thể sửa đổi của con người. Chúng ta ai cũng có lỗi lầm. Đôi khi chúng ta tạo ra những lỗi lầm trầm trọng có ảnh hưởng đến mối quan hệ của chúng ta. Đức Phật luôn luôn khuyên đệ tử biết tha thứ những lỗi lầm và tạo cơ hội sửa đổi cho người gây lỗi. Cách cư xử này sẽ đưa đến việc xây dựng một mối quan hệ gắn bó hơn.

Lời khuyên này không có nghĩa là phải quên hết mọi lỗi lầm trầm trọng của người vợ hay người chồng, bạn bè, hay những người thân. Nó có nghĩa là những lỗi lầm quá khứ của một người sẽ không làm cho người đó bị kết án là một kẻ xấu ác cố hữu và không thể có mối quan hệ lành mạnh. Chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của chúng ta. Chúng ta có khả năng tiến hóa, và chúng ta có thể vượt qua quá khứ không tốt đẹp để trở nên tốt đẹp hơn:

Có những người biếng nhác trong quá khứ, trở nên cảnh giác và tiến bộ. Họ làm sáng thế giới giống như mặt trăng khi ra khỏi đám mây(16).

Đức Phật tỏ ra rất tin tưởng khả năng tiến bộ của con người. Và tạo cho người khác cơ hội để tiến bộ có thể là cách tiếp cận khôn ngoan trong việc hóa giải những bất hòa.

Cách tiếp cận này có thể là cách tiếp cận thích hợp trong việc làm sâu đậm mối quan hệ hơn những cách khác. Nhiều người trong mối quan hệ kỳ vọng người chung sống trung thành nhưng những kỳ vọng đó không phải luôn luôn được đáp ứng. Sự bất tín không phải là không phổ biến trong xã hội của chúng ta. Một người càng yêu người kia thì càng bị phiền muộn nhiều hơn khi khám phá ra những điều tuột ra ngoài sự kỳ vọng của mình. Nền văn hóa của chúng ta khuyến khích chúng ta dày vò “người có tội” một cách tàn nhẫn. Tuy nhiên, khi chúng ta để chúng ta miệt mài trong oán giận, chắc chắn chúng ta sẽ chấm dứt mối quan hệ trong đau đớn. Một cách giải quyết khéo léo là làm cho người kia hiểu rõ hơn về bản chất lỗi lầm của người đó và cho phép thời gian sửa đổi.

Đức Phật nói rằng sự hấp dẫn của người khác phái là khuynh hướng mạnh nhất nơi con người. Ngài nói: “Ta không thấy một cái nhìn, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm nào lôi cuốn trái tim của người đàn ông hơn phụ nữ”(17). Một người nữ cũng bị người nam lôi cuốn như vậy(18). Việc đó có thể được coi là tự nhiên. Tuy nhiên, con người cũng phát triển một lối tư duy thực tiễn để chống lại những khuynh hướng bản năng. Khi được ban cho cơ hội, con ngườithể hiểu ra những lợi ích của việc tiếp cận thực tế với những thôi thúc bản năng. Sự hiểu biết đó có thể giúp con người sửa chữa những sai lầm làm tổn hại mối quan hệ thân thiết.

Bước quan trọng nhất để sửa mình và làm cho mối quan hệ thêm gắn bó là “nhìn thấy lỗi lầm như nó là, chấp nhận lỗi lầm, và quyết định không tái phạm”(19). Khi chúng ta thực hiện điều này, chúng ta được Đức Phật gọi là pandita – người hiền trí.

4. Tìm một cuộc chia tay hài hòa

Trong mọi sự đều có ngoại lệ. Trách nhiệm và bổn phận, khéo léo trong trao đổi, và những kỹ thuật khác là những phương tiện làm giảm, không phải là triệt tiêu, những mâu thuẫn trong một mối quan hệ. Mặc dù với những cố gắng chân thật, một số người thấy rằng vấn đề của họ không thể giải quyết. Đức Phật dạy gì về mối quan hệ không vui và không ai muốn này? Ngài dạy gì cho đệ tử về việc đối xử với những người không còn gần gũi với mình?

Đức Phật nhìn thấy những lý do đưa đến sự chấm dứt chính đáng một mối quan hệ: người kia cứ tiếp tục những hành vi sai trái không kiềm chế, có sự nguy hiểm do mối quan hệ gây ra, nhận thấy một sự vô ích trong việc kéo dài mối quan hệ. Trong mỗi trường hợp vừa nêu, Đức Phật chấp nhận quyền chọn lựa cá nhân trong sự quyết định. Ngài khuyên đệ tử rút lui khỏi những mối quan hệ không thích hợp như vị vua rút khỏi vùng đất bị chiếm(20).

Tuy nhiên, sự chấp nhận tự do cá nhân này không có nghĩa là tán đồng những quyết định vội vàng, sắt đá, không hài hòa; thay vì vậy, những sự cân nhắc hợp lý và hợp đạo đức phải được đặt ra trước khi có sự quyết định sau cùng. Người đó phải chắc chắn rằng quyết định của mình sẽ đem đến lợi ích, thay vì sẽ đem đến kết quả trái ngược, cho những người có liên quan trong mối quan hệ, kể cả bản thân người quyết định. Ai cũng có quyền chấm dứt mối quan hệ nếu quyết định đúng chuẩn mực.

Lời khuyên của Đức Phật với Upali (Ưu Ba Li), một đệ tử cũng là một người bạn của Giáo chủ Kỳ Na Giáo là Mahavira, chứng tỏ việc này. Theo yêu cầu của thầy, Upali đến chỗ Đức Phật để tranh luận. Tuy nhiên, sau khi nghe Đức Phật, Upali nhận thấy giáo pháp của Phật có giá trị hơn của Mahavira và muốn trở thành đệ tử của Ngài. Đức Phật nói: “Ông nên suy nghĩ thêm về quyết định của ông; đối với người đáng tôn kính như ông, tốt hơn là suy nghĩ và thẩm định về quyết định của mình”(21). Sau khi Upali thưa với Đức Phật rằng quyết định của ông đã được cân nhắc kỹ lưỡng, Đức Phật cho phép ông được rời bỏ Mahavira và trở thành đệ tử của Ngài. Sự lựa chọn cá nhân có suy nghĩ chín chắn và hợp lý của Upali là tác nhân chính yếu đưa đến quyết định của ông.

Việc này cũng áp dụng được cho những mối quan hệ khác. Trong thời Đức Phật, có những người nam cũng như nữ đã có gia đình muốn từ bỏ người hôn phối, sống cách biệt để thực hành phạm hạnh. Đức Phật không bao giờ ngăn cản nếu sự tu hành của họ không phương hại đến đời sống của người còn lại và con cái họ. Đức Phật khuyên Ugga, một người giàu có, chu cấp và đùm bọc những người vợ của ông trước khi rời xa họ(22). Đức Phật không bao giờ cho rằng một người có thể từ bỏ vợ hay chồng để tìm những thú vui khác. Tuy nhiên, Ngài nói rõ rằng một cuộc chia tay hài hòa khỏi một mối liên hệ không vừa ý có thể tốt hơn là cứ tiếp tục.

Đức Phật cũng có những lời khuyên cho những người sau khi chia tay người sống chung hay bạn hữu. Cuộc nói chuyện của Ngài với Kesi, một người huấn luyện ngựa, cho chúng ta thấy rằng cần phải từ bỏ sự oán ghét và thù hằn đối với người sống chung ngày xưa, dù người đó đã tạo ra những đau buồn phiền muộn trong mối quan hệ. Kesi nói với Đức Phật rằng ông sẽ giết những con ngựa không muốn hợp tác trong việc huấn luyện. Đức Phật nói với Kesi rằng đối với Ngài, Ngài không quan tâm đến những người không thể thuần thục hay không chịu hợp tác(23).

Trong giáo pháp của Đức Phật, sự theo đuổi hận thù không bao giờ được khuyến khích, ngay cả khi người đó bị lạm dụng hay bị làm tổn thương trong mối quan hệ. Đức Phật dạy rằng, một người không thể tìm thấy bình an khi vẫn còn vướng mắc trong những sai quấy của người khác trong quá khứ(24). Dĩ nhiên cần có những phản ứng thích hợp trước những hành vi sai trái, nhưng như Đức Phật nhìn thấy, đeo đẳng chạy theo sự oán hận chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau do mối quan hệ không được hạnh phúc gây ra. Có những người làm cho cuộc sống của họ khổ đau với việc không chịu thoát ra khỏi mối quan hệ đã đổ vỡ, trong khi họ có thể tìm thấy sự hài hòa trong cuộc sống bằng cách biết tha thứ và quên đi.

Kết luận

Đức Phậtđệ tử của Ngài là Xá Lợi Phất đã đưa ra những hướng dẫn giá trị để giải quyết một cách hòa bình những mâu thuẫn trong cộng đồng Tăng già. Những hướng dẫn này cũng áp dụng hiệu quả cho những người sống chung trong những mối quan hệ xã hội khác. Trau dồi sự khéo léo trong giao tiếp, phát triển những cách cư xử khôn khéo là những điều cần thiết cho mục tiêu này. Đức Phật nhấn mạnh rằng, hầu hết những vấn đề xảy ra trong mối liên hệ gần gũi đều có thể giải quyết tốt đẹp bằng những phương pháp Ngài nêu ra. Tuy nhiên, vẫn có một số quan hệ không thể giải quyết, dù người trong cuộc hết sức cố gắng. Trong trường hợp này, chia tay có thể là một giải pháp tốt nhất để giải phóng những người trong cuộc thoát khỏi gánh nặng của những xung đột. Sự chia tay không nên được coi là một cách trả thù, nhưng là một cách để có thể đem lại sự tốt đẹp cho mình và cho những người khác liên quan trong mối quan hệ.

Bhikkhu Basnagoda Rahula – Thị Giới dịch

(1) Anguttara Nikaya V: Sona Vagga: Subhasitavaca Sutta. (2) Majjhima Nikaya I: 27: Culahatthipadopama Sutta. (3) Dhammapadathakatha: Sashassa Vagga: Kisagotamya Vatthu. (4) Dhammapadatthakatha: Sukkha Vagga: Annatarassa Upasakassa Vattha. (5) Dhammapadatthakatha: Citta Vagga: Putigattatissatthera Vatthu. (6) Aguttara Nikaya V: Aghata Vagga: Codana sutta. (7) Majjima Nikaya II: 58: Abhayarajakumara Sutta. (8) Dhammapada: kệ 232. (9) Sutta Nipata: Cula Vagga: Hiri Sutta. (10) Anguttara Nikaya V: Aghata Vagga: Codana Sutta. (11) Ibid. (12) Digha Nikaya I: 8: Maha Sidanada Sutta. (13) Anguttara Nikaya IV: Indriya Vagga: Roga Sutta. (14) Anguttara Nikaya III: Bala Vagga: Accaya Sutta. (15) Anguttara Nikaya III: Puggala Vagga: Vajiropama Sutta. (16) Majjhima Nikaya II: 86: Agulimala Sutta. (17) Anguttara Nikya I: Ekaka Vagga:1. (18) Anguttara Nikya I: Ekaka Vagga:2. (19) Anguttara Nikaya III: Bala Vagga: Accaya Sutta. (20) Dhammapada: 329. (21) Majjhima Nikaya II: 56: Upali Sutta. (22) Anguttara Nikaya VIII: Gahapati Vagga: Hatthigamaka Ugga Sutta. (23) Anguttara Nikaya IV: Kesi Vagga: Kesi Sutta. (24) Dhammapada: kệ 3.

Nguồn: https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=724243  

Hoặc: http://diendan.nhantrachoc.vn/index.php?threads/duc-phat-day-ve-hoa-giai-bat-hoa.7587/

Làm sao để có Phước Đức và giữ nó thế nào

“Có Đức mặc sức mà ăn”

[​IMG]

Người xưa có điều rằng: “Có đức mặc sức mà ăn”, học được cách tích đức, tức là ta đã học được cách cải biên số phận của mình, mang lại phước lộc dồi dào. Vậy làm thế nào để tích đức ngay cả khi không có điều kiện vật chất? Dưới đây là 20 cách tích đức cải tạo vận mệnh mà ai cũng làm được

Nên biết 20 cách tích đức cải tạo vận mệnh dễ hiểu dễ làm
By Từ Tâm –10/06/2016

1. Tích đức từ lời nói

Lời nói cần phải thể hiện sự khoan dung độ lượng đối với người khác. Lời nói thẳng: Có thể chuyển sang cách nói “vòng, nói giảm, nói tránh” một chút. Lời nói lạnh như băng: Hãy hâm nóng lên một chút trước khi nói. Lời nói phê bình người khác: Trước khi nói hãy chú ý cân nhắc đến lòng tự tôn của người nghe. Một lời khen ngợi đúng lúc có giá trị ngàn vàng.

2. Tích đức từ việc giữ lễ tiết

Người có lễ tiết đi khắp thiên hạ cũng khó có người trách mắng, không ưng ý.

3. Tích đức từ chung thủy

Phàm là vợ chồng, nên sống chung thủy, không ngoại tình, không hãm hại hôn nhân của người khác, nếu ta làm vậy thì về sau bản thân ta và con cháu luôn bị người khác phản bội và phá hoại hạnh phúc của mình. Rồi lại sẽ gặp quả báo đau khổ.

4. Tích đức từ tính cách khiêm nhượng

Người xưa nói: Người kiêu căng ngạo mạn, thích thể hiện tài năng thì đi đâu cũng có kẻ địch. Tránh khoe khoang tài năng của mình mọi lúc mọi nơi. Buông bỏ kiêu căng, giảm bớt tự kỷ. Không nên ở trước mặt người đang thất ý mà đàm luận về đắc ý của mình. Làm người, trước là đừng khoa trương tùy tiện, sau đừng đắc ý, nên khiêm nhượng một chút.

5. Tích đức từ việc cứu người

Khi gặp người bị nạn, gặp khó khăn, rơi đồ xuống đường, nên đến giúp đỡ, nếu ta bỏ đi thì ắt về sau sẽ gặp quả báo.
Nhìn thấy những đoạn đường hư, lở,… Chúng ta nên mở lòng bồi đường, đắp lộ để cho nhiều người đi qua được bình an.

6. Tích đức từ việc hạn chế sát sinh

Sát sinh là tội ác thất đức trên đời. Nên buông dao xuống và nhớ rằng: Sinh mạng của chúng cũng như chúng ta, ăn đồ sát sinh, nên nghĩ đến là khi cầm dao giết nó, nó đã kêu lên thảm thiết và đau đớn cầu xin chúng ta như thế nào, nó chẳng khác gì chúng ta khi bị kẻ thù cầm dao cắt cổ rồi ăn xác chết của nó.

7. Tích đức từ việc làm ăn lương thiện

Nếu kinh doanh mà làm ăn lừa đảo, trốn thuế, cân sai, ăn bớt, thay linh kiện kém, sản phẩm gây độc hại cho nhiều người sử dụng, dùng âm mưu hãm hại đối thủ, bán cho xong tay, rồi mặc cho sự đau khổ của người khác thì những việc làm thất đức của bản thân, về sau ta và con cháu của ta phải gánh chịu Quả Báo rất nặng. Làm ăn chân chính và Tích Đức thì có Phúc lớn về sau.

8. Tích đức từ việc thành thật với mọi người

Không thành thật sẽ khó tồn tại, người giả dối tất sẽ không có bạn chân thành. Luôn lấy thành tín làm gốc, coi trọng thành tín trong mọi mối quan hệ. Dùng thành tín thu phục người khác, sẽ dễ đạt được thành công. Một người nếu như mất đi sự thành thật thì làm việc gì cũng khó. Bất kể lý do gì cũng không thể giải thích được lý do sự giả dối của bản thân.

9. Tích đức từ việc tôn trọng người khác

Đem lòng tự tôn của người khác đặt ở vị trí cao nhất. Cố gắng để người khác cảm nhận thấy sự tôn nghiêm của bản thân mình. Tôn trọng người yếu kém hơn mình càng là đáng quý. Địa vị càng cao thì càng không thể khinh thường người khác.

10. Tích đức từ giữ thể diện cho người khác

Ở một số tình huống việc “không nể mặt” là một thái độ vô lễ lớn nhất.
Người phương đông rất xem trọng thể diện vì vậy ở bất cả thời điểm nào cũng nên giành cho người khác một “lối thoát” để giữ thể diện.

Nhìn thấy rõ một người cũng đừng nên chỉ thẳng ra, hãy lựa lúc mà nói.
Hãy nhớ đừng bao giờ làm tổn thương thể diện của người khác bởi hậu quả của nó là khôn lường.

Trong một số tình huống, vạch trần người khác là một cái tội đẩy người ta đến đường cùng.

11. Tích đức từ việc tín nhiệm người khác

Người có tính đa nghi trời sinh thì khó có người bạn chân thành.
Được người khác tin tưởng, tín nhiệm là một loại hạnh phúc.
Người có bao nhiêu tín nhiệm thì sẽ có bấy nhiêu cơ hội thành công.
Người xưa nói: “Đã nghi ngờ người thì không kết giao, đã kết giao thì không nên nghi ngờ người.”

12. Tích đức từ việc cho người khác sự thuận lợi

Cho người khác được lợi cũng chính là làm lợi cho mình.

Thời điểm người khác cần bạn nhất, hãy sẵn sàng cho họ một bờ vai để nương tựa.
Suy nghĩ cho người khác cũng chính là suy nghĩ cho bản thân mình.

13. Tích đức từ việc hiểu người khác

Mọi người, ai cũng mong muốn người khác hiểu và thừa nhận mình.Hiểu người khác cũng chính là một cách đem lại lợi ích cho người khác.

14. Tích đức từ việc giúp đỡ người khác

Ở vào thời khắc quan trọng, ai mà không hy vọng có người trợ giúp mình?
“Vì người khác” sẽ luôn luôn chiến thắng “vì mình”.
Lòng tốt sẽ luôn luôn được người khác khắc sâu, nhớ kỹ.
Khi giúp đỡ người khác cũng phải tìm cách để đối phương vui cười mà tiếp nhận.

15. Tích đức từ việc biết cảm ơn người

Cảm ơn là một cách ngợi ca cuộc đời.

Trong cuộc sống, lời cảm ơn kịp thời sẽ khiến mọi người thân thiện với nhau hơn.
Cảm ơn đối thủ là một cách thể hiện của người có chí khí.

16. Tích đức từ đôi tay

Học cách ca ngợi, vỗ tay tán thưởng người khác.
Mỗi người đều cần tiếng vỗ tay của người khác bởi vì ủng hộ, khen ngợi người khác là điều cần có ở mỗi người.
Không biết vỗ tay, khen ngợi người khác thì đời người thực sự quá nhỏ hẹp.
Cho người khác tiếng vỗ tay kỳ thực là cho chính bản thân mình.

17. Tích đức từ lòng nhân ái của bản thân
Mỗi người đều nên tu dưỡng lòng nhân ái trong mình. Bởi người có tấm lòng nhân ái luôn sống nhẹ nhàng mà lại dễ dàng nhận được sự hợp tác từ người khác.

18. Tích đức từ lòng lương thiện

Không có ai là không muốn làm bạn, làm hàng xóm hay hợp tác với người có tấm lòng lương thiện.

Người lương thiện có thể thu phục người khác. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm.

19. Tích đức từ sự biết lắng nghe

Người xưa có câu: “Nhìn nhiều, nghe nhiều và nói ít”. Người biết lắng nghe thường được lòng người khác bởi lắng nghe là một cách lấy lòng người khác tốt nhất.

20. Tích đức từ lòng khoan dung

Không thể khoan dung người khác có thể là bởi vì lòng dạ của mình còn quá nhỏ hẹp! Dùng khoan dung có thể cải biến một con người lầm lỗi. Người có lòng khoan dung sẽ dễ dàng chiếm được lòng người khác. Hãy học cách tha thứ khuyết điểm của người khác. Đôi lúc, một quan hệ tốt đẹp là từ nhẫn mà sinh ra đấy!

Nguồn: https://botatquanam.com/co-duc-mac-…ach-tich-duc-cai-tao-van-menh-de-hieu-de-lam/

Nhân Quả Qua Việc Xem Bói toán số mệnh

PHẬT PHÁP TRONG ĐỜI SỐNG
Tâm Diệu – Nhà xuất bản Hồng Đức 2014

4

QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
VỀ VẤN ĐỀ XEM TỬ VI BÓI TOÁN

Có lẽ ai cũng biết rằng tử vi bói toán là một khoa giải đoán tương lai đời người về vận mạng, tình duyên, gia đạohọc hành thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu và chọn hướng nhà đất thích hợpbao gồm cả việc so đôi tuổi và hóa giải sự xung khắc vợ chồng, chọn ngày giờ tốt để khai trương, cưới hỏi, cùng là giải hạn xấu, dựa theo một vài yếu tố như ngày, giờ, tháng, năm sinh của người xin coi bói toán.

Trong thời đại ngày nay, vì lo lắng cho tương lai nhiều bất trắc, rất nhiều người muốn biết hậu vận nên việc xem tử vi bói toán ngày càng phổ biến. Giới làm ăn buôn bán cũng dựa vào chiêm tinh để quyết định công việc đầu tư và làm ăn. Những người khác từ việc mua nhà, đi xa, dựng vợ, gả chồng, cho đến việc tang ma…đều tìm đến những người coi bói toán để tham vấn, hầu dựa vào những lời khuyên đó mà làm theo. Tử vibói toán, đồng cốt đang lan rộng ra nhiều người, nhiều giới và nhiều nơi.

Khoa tâm lý học cho rằng, những người này thường là những người có “vấn đề” hoặc là về gia đạo, hay công danh sự nghiệp không như ý, hay cũng có thể đang lo toan một điều gì không rõ nét. Họ cũng có thể là những người thường có tâm mong cầu và tâm sợ hãi, cùng là thiếu niềm tin nơi chính mình và lại hay tin vào việc bói toán hoặc tin vào một đấng thần linh, tin vào một định mệnh hay số mệnh đã an bài, và nếu là một Phật tử thì họ xem ông Phật như một vị thần linh tối cao có thể ban vui giáng họa.

Có nhiều hình thức bói toán, nhưng có ba loại phổ thông đối với người Á Đông chúng ta. Đó là bói bài, xem lá số tử vi và lên đồng nhập cốt. Việc coi lá số tử vi là dựa trên sự tương tác của các ngôi sao vào lúc người đó chào đời, những ngôi sao này mang một số đặc tính nhất định do con người đặt raxem như là thần linh hoặc là các thần linh trấn giữ các ngôi sao đó. Bói bài là dựa vào việc giải đoán những dấu hiệu do con người vẽ ra nơi những con bài. Còn bói qua việc lên đồng là để một vong linh người chết nào đó nhập vào và làm trung gian truyền thông ban bảo các lời khuyên hoặc hướng dẫn những ai đang cần giúp đỡ.

Ngày nay ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Tây, sách báo về khoa bói toán nhiều vô số. Hầu hết những lời tiên đoán đều có tính chất chung chung, vô thưởng vô phạt, nhưng những người tin thường có tâm lý suy đoán và áp dụng cho trường hợp riêng mình, cho nên đôi khi họ cảm thấy đúng.

Vấn đề cần nói là chính việc xem bói toán, tử vi hoặc trực tiếp đến với các nhà coi bói hoặc gián tiếp qua sách báo, thì người tham dự cũng đều trực tiếp và tự nguyện tham gia vào những sinh hoạt thuộc lĩnh vực tâm thần, và đó là một lời mời rõ ràng, một cách mở cửa cho những tư tưởng vui buồn lo sợ xâm nhập, dễ sinh ra các áp lực trong tâm trí và trong đời sống, khiến cho một ngày kia người đó có thể rơi vào tình trạng xáo trộn tâm lý như có những nỗi sợ hãi ám ảnh trong cuộc sống và những nỗi buồn kinh niên. Ngay cả việc coi ngày tốt xấu cho việc quan hôn tang tế cũng có những hậu quả tiêu cực. Việc định ngày tốt xấu ghi trên lịch sách hoàn toàn không có cơ sở.  Vì lợi ích kinh doanh, các nhà làm lịch sách đặt thêm phần coi ngày tốt xấu vào. Họ tự đặt ra ngày này nên làm việc này, ngày kia không nên làm việc nọ, rồi những người dễ tin tin theo. Việc tốt xấu là do nơi con người tạo tác. Một bằng chứng cụ thể là đa số người Tây phương không cần coi ngày tốt xấu khai trương cửa hàng, nhưng họ vẫn thịnh vượng phát đạt. Họ không có thờ thần tài, thờ ông địa, nhưng họ vẫn làm ăn buôn bán, phát tài như thường. Họ chỉ tính toán ngày giờ theo dự án, theo kế hoạch làm việc, theo khả năng chuyên môn nghề nghiệp.

thể khởi đầu chỉ là một chút tò mò muốn biết hậu vận mai này ra sao nhưng sau đó người đó sẽ bị tác động không chỉ về phương diện tâm lý mà bị chính quyền lực của sự u tối, của tà linh, của mê tín điều khiển, khiến cho người đó tưởng như không thể thoát ra khỏi số phận đã tiên đoán cho đời mình, rồi có thể hành động một cách vô ý thức, dẫn đến một kết thúc bi thảm. Như trường hợp một bà mẹ đã bắn chết đứa con của mình, vì ông thầy coi lá số tử vi của bà tiên đoán đứa con đang bị bệnh tâm thần của bà, sẽ không bao giờ lành mạnh, vì thế bà đã hạ sát con để cho nó khỏi khổ! Người đàn bà này đã bị bắt, bị kết án, trong khi nhà coi bói tiên đoán cho bà vẫn được tự do hành nghề.

Cũng có thể do sự tin tưởng mù quáng, khiến con người mất hết sức phán đoán và trí thông minh mà người ta thường gọi là mê tínMê tín đem lại những tai hại không thể lường trước được. Nó có thể làm hại cuộc đời con người, có thể làm tan nát cả gia đình, có thể làm suy sụp chuyện quốc gia đại sự. Như trường hợp một người vợ ghen bóng ghen gió, đi xem bói tử vi. Thầy bói nói chồng có nhân tình, trong lá số có sao đào hoa chiếu mệnh bèn tin ngay, không cần suy xét, không chịu tìm hiểu hư thực thế nào, thế là bà tức giận, ghen bóng ghen gió với người tình không có thực của chồng. Thế là hai vợ chồng cãi vã nhau, đưa đến hậu quả là gia đình tan nát do việc mê tín coi bói của người vợ. Hoặc có trường hợp đôi trai gái yêu nhau thắm thiết song chỉ vì một lời của thầy mà hai gia đình kiên quyết không cho lấy bởi “Có lấy được thì cũng sớm tan vỡ thôi” cho nên ca dao Việt Nam có câu:

Tay cầm tiền của bo bo

Đi coi thầy bói mang lo vào người.

Vậy quan điểm của Phật giáo đối với các vấn đề bói toán tử vi như thế nào?

Xin trả lời là đạo Phật là đạo giác ngộ giải thoát, là đạo chánh tín, không phải đạo mê tín. Việc coi bói toán tử vi, lên đồng nhập cốt không có mặt trong giáo lý nhà Phật. Cái mà mọi người thường gọi là số mạng tức là nghiệp lực trong Phật giáo. Nếu chúng ta tin có nghiệp lực thì tự nhiên là phải có số mạng, nhưng đức Phật dạy mọi sự đều do tâm tạo. Chỉ cần tâm an ổn thì chỗ nào cũng yên.

Trong kinh Chuyển Pháp Luân ngay sau khi Phật giác ngộ và kinh Di Giáo ngay trước khi Phật Niết-bàn, Ngài khuyên các đệ tử của Ngài là không nên xem bói toán, xem quẻ, xem sao và xem tướng số. Trong năm môn học được giảng dạy ở các trường đại học Phật giáo trước đây ở Ấn Độ không có môn tướng số và bói toán tử vi, tuy có dạy các môn thế học như là Ngôn Ngữ học, Thủ Công Nghệ học, Y học và Luận Lý học.

Theo quan điểm Phật giáo thì vấn đề tai họa hay sung sướng, khổ đau hay bất hạnhgiàu có hay nghèo khổ đều do nhân thiện ác mà chúng ta gieo trồng từ nhiều đời sống trước rồi đời này hay đời sau chịu quả báo. Lại cộng thêm sự nỗ lực hay lười biếng trong đời sống hiện tại mà có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến vận mạng của đời này hay đời sau. Do việc gieo nhân khác nhau trong đời trước mà tiếp nhận hoàn cảnh khác nhau trong đời này. Cái gọi là hoàn cảnh cũng bao gồm cả di truyền của cha mẹ, bối cảnh văn hóavăn minhnuôi dưỡng và giáo dục, anh em, họ hàng, thầy bạn và đồng nghiệp. Tất cả đều ảnh hưởng đến vận mạng của cả một cuộc đời. Dù cho nhân tạo ra ở đời trước là xấu, dẫn tới hoàn cảnh hiện tại nhưng nếu có sự tu tập về mặt nội tâm và luyện tập thân thể tốt, trau dồi thêm ý thức mở mang trí tuệ thì vận mạng cũng sẽ biến đổi theo chiều hướng tốt.

Phật giáo quan niệmcon người không phải do một đấng thần quyền nào đó tạo ra, có thể bị sai sử, bị thưởng phạt, cho sống hay cho chết. Người Phật giáo không tin vào cái gọi là “định mệnh” an bài.  Phật giáo cho rằng, sự vận hành biến hóa của vũ trụ và sự lưu chuyển của sinh mạng, là do nghiệp lực của chúng sinh tạo nên. Tiến trình nhân và quả không do một nhân vật toàn năng nào điều khiển và định đoạt mà do hành động qua thân, khẩu và ý của chúng ta hằng ngày. Đó là một định luật tự nhiênChúng ta trách nhiệm về những hành động chúng ta làm, thì chúng ta cũng phải gánh trách nhiệm về hậu quả của những hành động ấy. Việc chấp nhận ở đây không có nghĩa là tự mãn hay cam chịu với cái gọi là “số mệnh” an bài, bởi vì chúng ta có quyền tự do làm thay đổi và khắc phục những sự việc hay kết quả mà chúng ta không ưa thích. Như chúng ta thi rớt, chúng ta phải cố gắng luyện thi lại, thế nào cũng đạt đượcChúng ta làm chủ tạo nhân, chính chúng ta làm chủ thọ quả. Chỉ cần sáng suốt khi tạo nhân, chịu khó chăm sóc tốt cho nhân tăng trưởng, thì quả chín ngon ngọt sẽ đến tay chúng ta một cách dễ dàng. Đó là lý nhân quả, nếu chúng ta tin sâu và tin chắc lý này, chắc chắn sẽ không còn mê tín mà đi coi bói toán tử vi hay đi xin xăm cầu đảo.

Một vị cao Tăng người Trung Hoa là Trí Khải Đại sư, trong bài tựa cuốn “Đồng Mông Chỉ Quán”, kể trường hợp chú Sa Di trẻ đệ tử của vị trụ trì đã chứng quả A La Hán. Vị trụ trì biết trong vòng một tuần nữa đệ tử mình sẽ chết, không thể tránh khỏi, bèn lẳng lặng cho đệ tử mình về thăm nhà. Chú Sa di trên đường về nhà thấy một ổ kiến lớn trên bờ đê đang bị một dòng nước xoáy đe dọa cuốn trôi đi. Chú Sa Di trẻ động lòng thương lũ kiến đang nháo nhác, bèn cởi quần áo nhảy xuống sông, ra sức đắp lại chỗ đê có thể bị vỡ để cứu ổ kiến. Cứu được ổ kiến, chú Sa Di tiếp tục lên đường về thăm nhà và sau một tuần trở lại chùa. Vị thầy trụ trì thấy đệ tử trở lại chùa bình an, khí sắc lại còn hồng hào hơn xưa, rất lấy làm lạ, bèn hỏi chú Sa Dituần lễ vừa qua đã làm những gì. Sau một hồi nhớ lại chú Sa Di đã tường thuật cặn kẽ đầu đuôi chuyện cứu một ổ kiến lớn thoát chết. Vị trụ trì kết luận là do chú Sa Diphát tâmtừ bi rộng lớn cứu ổ kiến cho nên đã chuyển nghiệp, đáng lẽ phải chết trong vòng một tuần lại vẫn sống an toàn và còn tiếp tục sống thọ trong nhiều năm nữa.

Do câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng không có một cái gì là cố định, không có một cái gì là định pháp hay định mệnhtâm thức chúng ta biến chuyển từng sát na và do đó nghiệp thức lẫn nghiệp quả cũng thay đổi từng sát na. Nếu các ông thầy bói toán tử vi tướng số nói những gì xảy ra trong tương lai mà chúng ta tin, tức là chúng ta tin rằng muôn sự muộn việc là thường chứ không phải là vô thường và là định pháp chứ không phải là bất định pháp, tức là chúng ta mù quáng mà phủ nhận định luật nhân quảvà giáo pháp vô thường của Phật dạy.

Tóm lại, đối với việc coi tử vi bói toán, cũng như việc xin xăm cầu đảo là những việc làm có tính cáchmê tín, không có chỗ đứng trong Phật giáo. Người Phật tử được khuyên bảo cẩn trọng đừng để rơi vào hố sâu mê tín dị đoan khiến tâm bị rối loạn bởi sự sợ hãi không cần thiết. Một thời tọa thiền hay niệm Phật hằng ngày giúp ích rất nhiều để tự thanh lọc tư tưởng bất thiện trong tâm. Tâm được thanh lọc tự động dẫn đến một thân thể trong sạch và khỏe mạnh. Pháp Phật là liều thuốc chữa khỏi các loại tâm bệnh này. Một phút giây tâm được tịnh là ngưng tạo bao nhiêu nghiệp, ngưng gieo bao nhiêu nhân và xa bao nhiêu dặm khổ ải.

Trong kinh Pháp Cúđức Phật có dạy:

“Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệp.” (127)

Nếu như con người hàng ngày không làm các việc lành thiện, chỉ lo tạo tội, tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt, khi quả báo đến, không ai có thể tránh được, dù cho có lên non xuống biển hay trốn vào hang núi.

Nguồn: https://thuvienhoasen.org/p22a21698/04-quan-diem-cua-phat-giao-ve-van-de-xem-tu-vi-boi-toan

 

QUẢ BÁO CỦA THẦY BÓI GẠT NGƯỜI CẦU LỢI 
Quảng Tánh

xem boi

Ảnh minh họa

Có người chỉ xem bói như một sự giải trí, có người xem bói như một sự tham khảo, có người xem bói để củng cố nghị lực và niềm tin, có người xem bói và tin tưởng chắc chắn vào lời thầy bói phán dạy. Sự thật là, trừ người có thần thông hay tinh thông các thuật toán mà vẫn chưa chắc đúng, còn lại thì hầu hết thì chỉ phán và dọa mà thôi.

Có điều, nhân loại cũng hình thành một thói quenlà những gì thầy bói đoán đúng thì tung hô, đồn thổi xem thầy bói như thần thánh giáng phàm, người người khắp nơi tìm tới. Ngược lại, những gì thầy nói chưa đúng thì họ mặc nhiên im lặngxem như không đủ phước phần. Nên thầy bói từ xưa đến nay nếu có chút tài rồi chủ tâm gạt người cầu lợi thì vẫn sống khỏe. Tuy vậy, nếu không biết hồi tâm thì trước mắt có an nhàn nhưng về sau chịu quả nặng nề.

“Một thời, Phật ở tại thành Vương-xá… Tôn giả Mục-kiền-liên giữa đường thấy một chúng sanh thân tự chuyển động xoay như gió xoáy, đi giữa hư không… Phật bảo các Tỳ-kheo:

Chúng sanh này, vào thời quá khứ, ở tại thành Vương-xá này, làm người bói toán mê hoặc nhiều người để mưu cầu tiền của. Vì tội này nên đọa vào địa ngục, chịu vô lượng khổ. Nay vì dư báo địa ngục nên nó phải chịu cái thân như vậy, tiếp tục chịu đau khổ.

Này các Tỳ-kheo, như những gì Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đã thấy, là chân thật không khác. Các ông cần nên ghi nhớ.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”.

(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 521)

Đức Phật là bậc đã thấu triệttoàn tri về quy luật nhân-duyên-quả. Dù nặng hay nhẹ, hình thức này hoặc hình thức khác, sớm hay muộn thì quả vẫn xảy ra một cách đúng đắn và tương ứng với nhân. Nhiều loại hình nhân quả không xảy ra ở hiện đời (hiện báo) thì xảy ra ở đời kế tiếp (sinh báo) hay những đời tiếp sau nữa (hậu báo). Thế nên những ai dối đời, gạt người để tư lợi thì sớm muộn gì họ cũng chịu quả báo đau khổ. Nhất là những người lợi dụng sự u mê, nhẹ dạ, cả tin mà bày trò bói toánmê hoặc, dối gạt người đời để mưu cầu tiền của thì chịu quả báo địa ngục. Sau khi mãn quả báo địa ngục tái sinh làm quỷ ‘thân tự chuyển động xoay như gió xoáy, đi giữa hư không’.

Sự thật nhân quả này đã được Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, bậc Thần thông đệ nhất thấy rõ, thuật lại và đã được Đức Phật xác chứng. Đây là lời răn cho những ai mượn việc xem bói rồi bày ra đủ trò dối gạt để mưu cầu danh lợi. Ngày nay, ngoài những người làm nghề thầy bói, một số vị Phật tử tại gia lẫn xuất gia tu hành cũng bói toán cho người; có vị cũng nức tiếng hay được mọi người quy kính. Riêng nhóm này, nếu ai vận dụng được phương tiện thiện xảo (dĩ huyễn độ chơn), nương vào sự mê bói toán của người để khuyến hóa họ bỏ ác làm lành tu tâm tích đức thì khả dĩ chấp nhận được. Còn nếu sinh tâm cầu lợi dưỡng và cung kính mà tập tành theo thế tục thì nên hồi tâm bởi quả báo nặng nề.

Quảng Tánh
Thư Viện Hoa Sen