*Hãy suy ngẫm_ Chân Sư DK


Chia sẻ:

NHỮNG ĐIỀU CẦN SUY NGẪM

KHI ĐỌC CÁC SÁCH CỦA ĐỨC PHẬT, CHÂN SƯ VÀ THÁNH HIỀN

+ GQ001.10: Đức Phật dậy “Sức khỏe là món quà lớn nhất, sự an vui là của cải lớn nhất, lòng trung thành là mối quan hệ tốt nhất.” OM

+ Đức Phật dậy Từ Bi Hỷ Xả: Lúc Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, các đệ tử từ bốn phương xa gần tấp nập về đảnh lễ Ngài. Chỉ có một thầy Tỳ kheo, thay vì làm như các vị khác, lại rút về tịnh thất chuyên cần hành thiền. Khi được hỏi về thái độ ấy, thầy trả lời vì trong ba tháng nữa Đức Phật sẽ nhập diệt nên thầy nghĩ rằng để tỏ lòng quý trọng Ngài, việc làm tốt đẹp nhất là thành tựu đạo quả A La Hán lúc Ngài còn tại tiền. Đức Phật ngợi khen thầy và nhấn mạnh là “Không nên vì mục tiêu của người khác mà lãng quên mục tiêu, sự an lành của chính mình. Hãy nhận định rõ ràng mục tiêu của mình và lập tâm thành đạt mục tiêu ấy”. Nguồn

– Đức Phật luôn khen ngợi, khuyến khích: Xả có bốn thứ. Nếu đem cho người ta đồ vật, của cải thời gọi là “tài xả”. Nếu đem giáo phápgiáo lý cho người thời gọi là “pháp xả”. Nếu đem đức không sợ hãi cho người thời gọi là “vô uý xả”. Còn tự mình xả bỏ tất cả các mối phiền não thời gọi là phiền não xả”.

+ Đức Phật dậy: NHIẾP TÂM thành Giới, từ Giới sanh Định, từ Định phát Huệ, gọi là BA VÔ LẬU HỌC ( GIỚI – ĐỊNH – HUỆ )……nếu chẳng đoạn dâm, ắt phải lạc vào MA ĐẠO. Hạng trên thành Ma Vương, hạng giữa thành Ma dân, hạng dưới thành Ma nữ Nguồn

+ Đức Phật dậy : Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Đức Phật có dậy ” Này Chư Tỳ Kheo, Như Lai không thấy một Phát nào mà có nhiều năng lực như sự chuyên cần chú niệm, để làm phát sinh tư tưởng thiện chưa phát sinh, và làm tan biến những tư tưởng bất thiện đã phát sinh. Với người hằng có chánh niệm, những tư tưởng thiện, nếu chưa sanh sẽ phát sanh, và những tư tưởng bất thiện, nếu đã phát sanh sẽ tan biến “.(Trang 751, T II, Thiền trong Đạo Phật – Nguồn)

+ Đức Phật dậy về Thân kiến (Chấp Thân – Ảo tưởng cho rằng Thân thể mình là có thật, mà thực chất là do Tứ Đại giả hợp): “Một Cư sĩ hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, tại sao ngoại đạo có sáu mươi hai kiến chấp? Như họ chấp: thế giới thường còn, thế giới vô thườngthế giới hữu biênthế giới vô biên, thân này thật có, thân này không thật có, Niết bàn còn có, Niết bàn không còn có v.v… Phật đáp: Do có thân kiến (chấp thân) nên có cái kiến chấp (Bám vào cái chấp- Thân ta có thật) như thế. Vậy ông có biết thân kiến là gì không? Cư sĩ thưa: Do chấp sắc uẩn là ta, là của ta, thọ uẩn là ta, là của ta, tưởng uẩn là ta, là của ta, hành uẩn là ta là của ta, thức uẩn là ta là của ta, đó là thân kiến. Phật khen: Đúng thế!”. Xem nguồn

+ Chân sư Tây Tạng nói: “Cuộc rèn luyện nội môn là một vấn đề không thuộc về phàm nhân; nó liên quan đến việc phát triển tâm thức của linh hồn và sự mở mang tâm thức ấy để bao gồm, chứ không ngoại trừ, tất cả các hình thái sống mà qua đó nguồn sống và bác ái của Thượng Đế hoạt động. Người đệ tử chân chính thì bao giờ cũng có thái độ bao gồm và không hề ngoại trừ. Thái độ bao gồm này là đặc trưng của tất cả các huyền bí gia chân chính. [6] ( MQ, Kỹ năng học tập…)

+  Đại sư Liên Hoa Sanh có khuyên rằng: Trong giờ phút lâm chung hãy buông bỏ mối quan tâm đối với thế giới nầy; hãy buông bỏ sự dính mắc với bất cứ ai mà bạn có mối quan liên mạnh mẽ nhất trong đời nầy……..Hãy nhớ rằng, theo Du Già Sư Địa Luận (Yogacarabhumi) được thánh giả Vô Trước (Asanga) ghi chép lại từ Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) thì con người chết đi và đầu thai lại chỉ luẩn quẩn trong vòng những người thân của mình trong vô lượng lần.(Xem nguồn)

+ CTHNM 421: Chính Đức Phật đã minh giải cho con người bản chất dục vọng và các hậu quả của nó, với các tác dụng bất hạnh mà dục vọng tạo ra…. Chính Đức Christ, Đấng đã giảng dạy việc chuyển hóa dục vọng thành hoài bão, do cách thể hiện được đưa ra cho nó trong Kinh Tân Ước, đó là nỗ lực của ý chí con người …..

+ LVHLT 97-99: ” Con người hít thở sâu “- Phương pháp kỳ diệu dành cho khoa học về kiểm soát sinh khí prana.

” Ở đây, các lời của Đức Phật được đánh giá cao sâu nhất, có được chỗ đứng của nó, và trở thành một kết luận thích hợp cho các nhận xét mở đầu này : Đức Phật có nói: Rằng chúng ta đừng nên tin vào một điều gì được nói ra chỉ vì nó được nói mà thôi; đừng tin vào các truyền thống vì chúng đã được truyền xuống từ thời xa xưa; đừng tin vào các đồn đãi như thế; cũng không tin vào các câu viết của các vị thánh, vì các thánh đó đã viết ra các câu ấy; cũng đừng tưởng rằng chúng ta có thể nghi ngờ khi được một Thiên Thần gợi hứng nơi chúng ta (nghĩa là, trong những gì được cho là có chứa hứng cảm tâm linh); cũng đừng tin vào các suy đoán được rút ra từ một giả định không cẩn trọng nào đó mà chúng ta có thể đưa ra; cũng như không vì những gì có vẻ như một sự tương đồng tất yếu; cũng không chỉ dựa vào thẩm quyền của các huấn sư hoặc các bậc thầy của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi nào bài viết, lý thuyết hoặc châm ngôn được chứng thực bằng chính lý lẽ và ý thức của chúng ta. Để kết luận, Ngài nói: “Vì lẽ đó, ta khuyên con đừng nên tin chỉ vì con đã nghe, mà hãy nên tin vào ý thức của con, rồi hãy hành động cho thật phù hợp với điều đã biết”. (Luận về lửa càn khôn) “

Mâu thuẫn phát sinh theo Quy luật thời gian: ….. Các nhà nghiên cứu các sách của Tôi và bộ Giáo Lý Bí Nhiệm phải nhớ rằng bất cứ các mâu thuẩn nào có thể xuất hiện đều chỉ là mâu thuẩn trong Thời Gian, và rằng khi yếu tố này được hiểu một cách thích đáng và nhà nghiên cứu biết chu kỳ đặc biệt nào mà tài liệu sẽ được áp dụng thì các thiếu chính xác bề ngoài này sẽ biến mất…(CTHNM 554/513; Chương III- Phần KH tam Giác lực)

+ Đặc điểm tính cách các Cung 1-7 và các câu hỏi đáp hay: Sách Vũ trụ và con người có viết: Trang 96

LVHLT/ LVCT 80: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền linh học và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và vị thánh. Sự tiếp cận ở đầu hoặc ở tim không phụ thuộc vào cung, vì cả hai cách phải được hiểu biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền linh học; nhà huyền linh học bên chính đạo (white occultist) đã là nhà thần bí thánh thiện (saintly mystic). Tri thức thực sự (true knowledge) là lòng bác ái sáng suốt, vì đó là sự phối hợp của trí tuệ (intellect) và lòng sùng đạo.

LVLCK 519: Khả năng thích nghi (Adaptability) đây là thuộc tính nguyên thủy được quy cho Cung Thứ 3, hay trạng thái Brahma. Do đó, về mặt căn bản, nó có thể được xem như thuộc tính của trí tuệ, vốn dĩ làm cho khía cạnh vật chất thích nghi với khía cạnh Tinh Thần và là đặc điểm cố hữu trong chính vật chất. Nó tác động theo định luật Tiết Kiệm và định luật Hút và Đẩy; công việc của Đức Mahachohan trước tiên là theo đường lối này. Do đó 4 Cung Thuộc Tính thứ yếu vốn được tổng hợp thành Cung Trạng thái thứ ba, Khả Năng Thích Nghi, hay Trí Tuệ Linh hoạt, có liên hệ một cách cơ bản và tương lai của trí tuệ do đó có liên quan với ảnh hưởng đang tăng trưởng của 4 Cung sau:

  1. Hài hòa, Mỹ lệ, Nghệ Thuật hay Hợp Nhất.
  2. Khoa học cụ thể hay kiến thức.
  3. Lý tưởng trừu tượng.
  4. Nghi Lễ huyền thuật.

LVLCK 523: Hiện giờ chúng ta có thể chọn 4 cung thứ yếu, mà, với cung thứ 3, tạo thành toàn thể manas và tìm xem trong đó ảnh hưởng của chúng có thể có được. Đề tài lạ lùng đến nỗi chúng ta không thể làm gì khác hơn là đề cập một vài điểm, chúng ta cũng không thể quãng diễn theo đường lối phát triển hình hài một cách máy móc để vận dụng thần lực. Tất cả mọi điều này tàng ẩn trong khoa điện học và như khoa học công truyền tiết lộ làm thế nào:

Để sử dụng sức mạnh trong không khí, hay là thu hẹp hiện tượng điện cho các công dụng của con người;

Để kiến tạo hình hài, sáng tạo các máy móc để chứa đựng và phân phối điện lực của khí quyển;

Để khai thác hoạt động của vật chất và để hướng nó vào một số mục tiêu;

Để sử dụng sức mạnh của điện trong không khí, hầu đem lại sinh lực, kiến tạo lại và chữa trị thể xác;

Kế đó là hiện tượng của các cung, hoạt động theo các chu kỳ sẽ được hiểu rõ và cơ may to lớn sẽ được con người nắm lấy để thưc hiện các mục tiêu đặc biệt trong các chu kỳ đặc biệt.

Rất quan trọng cho thời đại hiện nay, cần đọc kỹ

LVLCK 524: Chúng ta hãy ghi nhớ số các cung một cách rõ ràng. (

Các số đi trước các tên gọi đều có liên quan với biểu lộ thất phân, còn các số kế tiếp các tên gọi liên quan đến biểu lộ ngũ phân của Brahma. ( Mục này rất thiết thực trong nghiên cứu ứng dụng, cần chú ý nghiên cứu trước nhất – Hương)

 Các cung trạng thái : 1. Ý Chí Hay Huyền Năng
2. Bác Ái Hay Minh Triết
3. Khả Năng Thích Nghi Hay Trí Tuệ Linh Hoạt … 1
Các cung thuộc tính 4. Hài Hòa, Mỹ Lệ Hay Nghệ Thuật …………….… 2
5. Kiến Thức Cụ Thể Hay Khoa Học  …………….. 3
6. Lý Tưởng Trừu Tượng   …………………………. 4
7. Nghi Lễ Huyền Thuật  …………………………… 5

Ví dụ: Sự thật về sự tồn tại của thể dĩ thái sẽ được thiết lập và việc chữa trị cho nhục thân, xuyên qua thể dĩ thái bằng việc sử dụng mãnh lực và bức xạ mặt trời sẽ thế chỗ cho các phương pháp hiện nay. Lúc bấy giờ, sự chữa trị thực sự sẽ thuộc về hai bộ môn :

1. Việc tiếp sinh khí bằng :

a-  Điện

b – Bức xạ mặt trờibức xạ hành tinh.

2. Các diễn tiến chữa bệnh rõ rệt qua sự hiểu biết huyền bí về :

a- Các trung tâm lực.

b- Công tác của các thiên thần của chất dĩ thái thứ 4.

 

A- SÁCH: THƯ VỀ THAM THIỀN HUYỀN MÔN: Những kiến thức ĐẶC BIỆT ẩn chứa điều tuyệt diệu được trao truyền, nếu nghiền ngẫm để hiểu đúng, ứng dụng được vào đời sống = Tuyệt đỉnh nhân gian.

–  TTHM 34: Như chúng ta đã biết, có 60 tỷ đơn vị Tâm thức ( hay Tinh Thần) trong các đẳng cấp tiến hóa của nhân loại. Họ đang ở cấp Chân nhân, dù hiện nay con số này hơi ít đi  vì thỉnh thoảng lại có những người đạt đến mức điểm đạo thứ 4 …

+ TTHM-183: Con người truyền đạt cho Thiên thần những ý kiến khách quan. Các Thiên Thần sẽ ban giải cho con người Từ lực để chữa trị. Các Thiên Thần gìn giữ Prana, như con người giữ nguyên khí thứ 5 hay Trí tuệ.

+ TTHM-184: Mặt Trời là trung tâm của Thái dương hệ chúng ta; Trái Tim là trung tâm con người

+ TTHM 185: Nguồn lưu chất prana này thì vô hạn, ít ai biết, và khi hiểu đúng người ta sẽ biết bí quyết của sức khỏe hoàn hảo. Chúng ta sẽ đề cập vấn đề này sau (Cần tìm nơi Chân sư nói tiếp)

+ TTHM-187: Viêm Kim Cương gắn trên đỉnh Thần Trượng nó tập chung được 3 loại lửa: (i)-Tia lửa thiêng – Nguyên khí thứ năm (ii)- Tia lửa Trí tuệ – Tam nguyên (iii)- Luồng Hoả hậu – Kundalini của Tứ hạ thể. Nó tương tự như thấu kính hội tụ gom được ánh sáng mặt trời để làm bùng lên một ngọn lửa hoà hợp => Như thế, mọi quyền năng sẽ biểu lộ đầy đủ, các chất không tinh khiết, căn bã sẽ bị đốt sạch = Hành giả đạt đích

+ TTHM 188: KHI YÊN LẶNG SUY NGHĨ ĐIỀU ĐÓ TRONG TÂM, ÁNH SÁNG CÓ THẺ ĐẾN VÀ NGỌN LỬA NỘI TẠI SẼ BÙNG CHÁY VỚI SỨC NÓNG NHIỀU HƠN – CHÂN SƯ DK

+ TTHM-189: Đã kể ra 6 loại Thần chú kết hợp với lửa. Nói thêm về vài loại khác: Thần chú thanh lọc, khơi dạy một loại lửa tinh luyện và cháy trên một cõi tam giới, nhờ hoạt động các Tinh linh (Được các Hoả Thần kiểm soát), dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Điểm đạo đồ hay đệ tử Chân Sư. Mục đích có thể là Tẩy sạch một trong các thể của con người, thanh lọc một địa điểm, một ngôi nhà hay đền thờ. Hay các câu chú kêu gọi lửa giáng xuống để truyền Từ lực vào các Bùa phép, các loại Đá quý hay Thánh địa. Cũng có các câu Chú dùng để chữa bệnh > Tất cả đều nhờ công dụng huyền bí của Lửa. 

….. Muốn hoạch đắc được các Thần chú thì bước đầu phải có khả năng Thiền huyền môn và vừa phải sướng lên câu Chú vừa phải định trí đê hình dung ra các kết quả cần đạt được. Điều này cũng phải kèm theo ý trí của người sướng đọc để y chế ngự được các kết quả đó. Các câu chú này sẽ thành nguy hiểm và vô ích nếu không có sự quân bình về trí tuệ tập trung, cùng với khả năng điều khiển làm sinh động của y.

+ TTHM-200: Lễ Phật hiện (Wesak) là sự kiện đặc biệt trọng đại trên Hành tinh chúng ta trong năm liên quan đến nhân loại. Còn một thời điểm đặc biệt còn lớn lao hơn nữa trong năm, ….chưa được tiết lộ

– TTHM 202: Tư tưởng này truyền đạt nhiều vấn đề để xem xét, suy ngẫm và rất hữu ích cho môn sinh nghiên cứu khôn ngoan. Bất cứ điều gì làm cho chân trời của y rộng mở và gia tăng tầm mắt của y đều rất tốt dù y có thể còn hiểu sai những sự kiện này và còn thiếu khả năng hấp thu kiến thức

+ TTHM 204: Không có vấn đề là kẻ nào phạm luật sẽ bị luật tiêu diệt, còn kẻ nào tuân thủ định luật sẽ được sống nhờ định luật. Việc nghiên cứu huyền bí học đích thực là nghiên cứu về nguyên do và cách nào mà các hiện tượng xảy ra. Đó là việc tìm kiếm phương pháp để đạt kết quả, cũng như phân tích tỉ mỉ các sự kiện và các trường hợp để tìm ra những định luật quản trị chi phối chúng

– TTHM 205: Bí quyết: Sử dụng – Yêu cầu – Nhận lấy. Chỉ khi nào có nhu Cầu thì cánh cửa Cung sẽ mở (Định luật Cung – Cầu). Trong Luật Vạn vật hấp dẫn có ẩn chứa bí mật này

+ TTHM 205: Chỉ khi nào mức cung được sử dụng một cách khéo léo cho các nhu cầu của người phụng sự và công việc phụng sự thì nguồn cung cấp ấy mới tiếp tục tuôn tràn vào. (Câu này tôi chọn cẩn thận từng từ). Bí quyết là: sử dụng, yêu cầu, nhận lấy. Chỉ khi nào cánh cửa mở ra do định luật cầu thì một cánh cửa khác cao hơn mới mở ra để cung tuôn vào. Trong luật vạn vật hấp dẫn có ẩn chứa bí mật này. Các bạn hãy suy ngẫm kỹ.

+ TTHM 205: Khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh, thì đó là sự thực hiển nhiên. Thực vậy, chủ đề tôi muốn các bạn chú ý không phải bàn đến âm thanh với tính cách là âm thanh, mà là các tác dụng của âm thanh về mặt màu sắc. Trong bức thư này, tôi đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh màu sắc và xin các bạn luôn luôn nhớ rằng tất cả các âm thanh đều tự biểu lộ bằng màu sắc.

+ Khi Thượng Đế phát ra Đại thánh ngữ vũ trụ cho thái dương hệ này thì ba dòng màu sắc chính bừng lên rồi hầu như đồng thời tách ra bốn dòng khác, để thành bảy dòng màu sắc cho vạn vật biểu hiện. Các màu đó là:–

  1. Xanh (Blue).
  2. Chàm (Indigo).
  3. Xanh lục (Green).
  4. Vàng (Yellow).
  5. Vàng cam (Orange).
  6. Đỏ (Red).
  7. Tím (Violet).[206]

Không phải tôi vô ý mà đặt các màu sắc theo thứ tự này. Tôi để cho các bạn tự khám phá ra ý nghĩa chính xác.

TTHM 206: Bảy dòng màu sắc này là sản phẩm của cuộc tham thiền của Thượng Đế. Ngài tham thiền, suy ngẫm, nhận thức bằng trí, tạo ra một thế giới lý tưởng và xây dựng nó bằng chất liệu của tư tưởng. Rồi sau đó, vũ trụ khách quan của chúng ta bỗng nhiên xuất hiện, chói lọi trong bảy màu mà màu xanh thẫm hay màu chàm là tông phụ tổng hợp. …..Màu sắc có những ảnh hưởng nhất định trên các thể khác nhau, và trên các cõi mà những thể này hoạt động. Nếu huyền bí gia hiểu được màu nào áp dụng cho cõi nào, và đâu là màu cơ bản của cõi đó, thì y đã nắm được bí mật nền tảng trong sự phát triển của tiểu vũ trụ. Đây là bí mật mà rốt cuộc sự tham thiền về các cung sẽ tiết lộ cho người môn sinh sáng suốt ……..

TTHM 207: Các bạn không nên thắc mắc rằng những màu tôi vừa kể có gì tương phản với các màu H. P. B. đã kể hay không.[207] Các bạn sẽ thấy chúng không hề trái ngược nhau, nhưng cả hai chúng tôi đều dùng những màn che, và người có mắt sẽ có thể thấy được. Một màn che không còn che án khi ta nhận thức được nó, và vì thế tôi không đưa ra chìa khóa ở đây. Tuy nhiên, tôi có thể đưa ra một vài ngụ ý:Xem chi tiết Chân Sư gợi ý, minh giải ví dụ về mầu sắc che dấu, bổ túc… sẽ biết sơ bộ các mầu cùng che ám và bị che ám hiển lộ….

Thế nên các bạn thấy rõ tại sao người ta thường nhấn mạnh rằng khi bàn về các vấn đề nội môn thì hạ trí không giúp ích được gì cả

TTHM 209: Các màu sắc biểu hiệncõi hồng trần thuộc cấp độ thô kệch nhất.……….Những màu sắc mà hiện chúng ta đang dùng trong cuộc tiến hóa của mình đều là các màu sắc của ánh sáng…….

+ Các mầu sắc hắc đạo, thoái hóa: Mầu nâu – Xám – Tím bầm – Xanh lục quái đản, nó có ở Cõi trần/ Cảm dục/ Cấp thấp cõi trí, là các mầu thoái hoá (Của Thái dương hệ trước),Các mầu chủ về TIÊU CỰC (Điều ác vũ trụ: Ảo cảm; Thất vọng; Đồi truỵ / Con cháu của bóng đêm/ Bàng môn sử dụng) tìm thấy ở nơi tối tăm của quả đất, trên cõi cảm dục và các cấp thấp của cõi trí. Người chí nguyện không dùng, mà chiếu rọi vào đó = mầu sắc của ánh sáng (TTHM-209)

+ TTHM 211: Tôi sẽ đưa ra một vài nhận xét và trao cho các bạn một số dữ liệu, nhưng một lần nữa xin các bạn nhớ rằng tôi đang dùng các từ ngữ ngoại môn, và việc bàn thảo này chỉ có tính [211] cách gợi ý mà thôi….dùng từ màu sắc là “cái che giấu.”

+ TTHM 212-213: Cung tổng hợp Màu chàm đích thực là màu xanh của bầu trời trong một đêm không trăng . Nó là màu tột đỉnh, và khi tất cả mọi sự tổng hợp đã đạt được thì đêm thái dương sẽ đến. Vì thế, màu này tương ứng với những gì bầu trời ban đêm biểu lộ. Màu chàm có tính hấp thu…..Cung tổng hợp Màu chàm hay là mầu xanh thẫm. Đó là cung của Bác ái và Minh triết là cung nền tảng vĩ đại của thái dương hệ này, và là một trong các cung vũ trụ. Vũ trụ cung này, khi biểu hiện sẽ tự chia ra thành bảy cung phụ gồm cung 2/3/4/5/6/7 như sau (Xem sách)..

TTHM 214: Các bạn hãy để ý trong mùa thu, khi các tiến trình của Thiên nhiên đã xong và chu kỳ hoàn tất, thì bằng cách nào mà màu vàng của mùa thu trải rộng ra bao trùm cảnh vật. Cũng nên lưu ý rằng khi ánh nắng mặt trời thong dong tỏa xuống ta cũng thấy màu vàng của mùa gặt hái. Cuộc sống [215] tinh thần cũng vậy. …… Màu xanh và vàng hòa nhau thành xanh lục, và màu xanh tổng hợp hay màu chàm (trạng thái bác ái và minh triết) sẽ ngự trị khi đạt đến cảnh giới điều hòa. Bấy giờ sẽ đưa đến cảnh giới thứ ba của atma, nơi màu xanh lục của hoạt động chiếm ưu thế. . . . . .

TTHM 215: khi nghiên cứu màu sắc (là một hình thức nghiên cứu sự rung động) các bạn sẽ có khả năng hiểu được rung động của phàm ngã

TTHM 223-224: đây sẽ là sự tiết lộ với tính cách một sự kiện then chốt để nghiên cứu trong trường phái mới sau này …

Màu thông thường  
Màu huyền  bí
Tía  (purple) Xanh  (blue)
Vàng  (yellow) Chàm (indigo)
Vàng nhạt (cream) Vàng (yellow)
Trắng (white) Tím (violet)

Hiện nay, chỉ có bốn màu này là có thể nói đến, nhưng nếu được hiểu đúng thì các màu này là chìa khóa của cuộc tuần hoàn thứ tư hiện nay và lịch sử của nó…………Tôi khuyến khích: hãy suy ngẫm xem tại sao màu trắng hiểu theo nghĩa nội môn lại là màu tím …………..Tôi muốn nêu ra một số điểm khác để xem xét thật kỹ bằng cách bàn vắn tắt về luật tương đồng và tương ứng. Đó là các điểm sau đây: ( Rỗi cần nghiên cứu chi tiết, rất hữu ích)

  1. Các tương ứng giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ: Về Phàm nhân/ Chân nhân/ Chân thần; Xác/Vía/Trí và mầu sắc của 3 thể và các thể cao tột hơn…
  2. Các tương ứng cơ bản: Các tương ứng đại diện các số/ chữ: 3/4/5/7
  3. Màu sắc trong tiểu vũ trụ và trong đại vũ trụ.( Lưu ý tr 230): …. ở mức tiến hóa thấp thì phần lớn màu sắc đều dựa vào phương diện hoạt động…..

TTHM 233: Thế nên, chúng ta đã giải rõ điểm đầu tiên là khi các cá nhân tiến hóa thì màu sắc thay đổi, do sự chuyển hóa cái gọi là tật xấu thành đức hạnh. Tật xấu là sự chi phối của đặc tính tiến hóa giáng hạ trong cùng một mãnh lực mà chính mãnh lực đó về sau sẽ biểu lộ thành đức hạnh.

THM 238: Năng lượng phát ra từ Thượng Đế là con đường biểu hiện hay phân hóa ( 1 thành 2 …v.v..), cái đồng nhất trở thành cái vạn thù, dị biệt. ……. Trên đường trở về cội nguồn, quy luật là sự từ bỏ, sự sống nội tại từ bỏ các hình thể ….. Sự khác biệt là khi Sự sống trở về điểm khởi thủy, nó có thêm khả năng hoạt động và phát biểu, thêm kinh nghiệm và khả năng biểu hiện (tr240)…….. Hành giả thiền huyền môn để phá bỏ các lớp màn che ám trong nội tâm, Phụng sự vô kỷ để từ bỏ sắc tướng, ngoại cảnh. Hãy suy ngẫm kỹ đoạn này.

TTHM 324: Trong các trường huyền môn…. nhiều điểm được truyền dạy nhất thiết phải kết hợp chặt chẽ với giáo huấn công truyền của thế gian. …

TTHM 326: Mỗi đạo sinh trú tại trường thực hiện tham thiền: Mặt trời mọc – Giữa trưa – Lặn; giai đoạn đầu mỗi lần 30 phút, về sau thục hiện mỗi lần 01 giờ, ngày 3 lần và trong năm cuối (Khóa học từ 5-7 năm tùy môn sinh), hy vọng môn sinh thiền ngày 5 giờ.

TTHM 360: Raja Yoga. Hệ thống thực sự để phát triển các quyền năng tâm thông và tinh thần, và hợp nhất với Chân ngã hay Chân nhân của mỗi người; gồm việc rèn luyện, điều hòa, và tập trung tư tưởng.

 

B- SÁCH CHIÊM TINH HỌC NỘI MÔN

CTHNM 38: Có thể nói rằng đáp ứng cao siêu đối với các thực tại và các tính chất được tiết lộ và làm cho có thể xảy ra bằng tác động của năng lượng từ các cung hoàng đạo đều phần nào tùy thuộc vào ảnh hưởng đang giảm dần của các hành tinh để nắm giữ trạng thái tâm thức của con người. Hãy nghiền ngẫm điều này vì nó chứa đựng một chân lý huyền bí sâu xa.

CTHNM 192: Ở điểm này Mercury …. thành một tứ nguyên huyền bí, ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến tứ nguyên của con người – tinh thần, linh hồn, trí tuệ và bộ óc. Năng lượng này mang lại một liên hệ hỗ tương và một khơi hoạt bên trong, …. Tứ nguyên cao cấp này là Sirius-Leo-Mercury-Saturn. Do đó, bạn có:

Sirius                   Leo              Mercury             Saturn

Tinh Thần …… Linh hồn …….. Trí tuệ …………… Bộ óc

Sự sống ………. Tính chất …….. Giác ngộ ……….. Sắc tướng

Hít vào ……….. Tạm nghỉ …….. Thở ra …………… Tạm nghỉ

CTHNM 245: Bạn có các tình huống và các tương ứng sau đây liên quan với ba Thập Giá:

1- Thập Giá Cơ Bản …….. Tinh thần …….. Ý chí ……………. Shamballa.

2- Thập Giá Cố Định …….. Linh hồn ……… Ý thức …………. Thánh Đoàn.

3- Thập Giá Khả Biến …… Sắc tướng ….. Hoạt động …….. Nhân loại.

CTHNM 264: Minh Triết Muôn Thuở giảng dạy rằng có:

1- Lửa điện …………….. Ý chí ………………….. Monad ……. Lửa khởi xướng.

2- Lửa thái dương …… Bác ái-minh triết …. .Linh hồn ….. Lửa phù hợp.

3- Lửa do ma sát ……. Hoạt động …………… Phàm ngã…. Lửa thanh lọc – Trí năng.

Tôi nêu ra tam bộ này vì nó là tam bộ có quen thuộc với bạn và cùng lúc tạo thành một minh họa trung thực của một định luật cơ bản.

CTHNM 265: Tiếp nối với tam giác chính yếu này và ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ thái dương hệ chúng ta là một liên hệ hỗ tương tay ba rất đáng quan tâm, nó có một liên hệ đặc biệt với nhân loại. Tam giác lực này liên kết một trong các chòm sao chính này, chòm sao của các cung hoàng đạo và là chòm sao của các hành tinh thánh thiện trong thái dương hệ chúng ta. ………………… Cho đến nay, cả ba tam giác chính yếu này đều chỉ đang biểu hiện có một phần liên quan đến thái dương hệ chúng ta ( Hiện tại chưa thấy hữu ích với nghiên cứu phàm nhân)

Tam giác thứ nhất:

Pleiades ……………. Cancer …………… Venus.

Nhân loại.

Tam giác thứ hai:

Đại Hùng Tinh ….. Aries ……………… Pluto.

Shamballa.

Tam giác thứ ba:

Sirius ………………… Leo ……………….. Jupiter.

Hierarchy.

CTHNM 269: Một số luồng năng lượng chính đang chi phối sẽ được thấy là có liên kết với nhau và với Địa Cầu chúng ta, và các luồng năng lượng này thuộc vào hai nhóm:

1- Các năng lượng cung (ray energies) mà chúng ta được dạy là phát xuất từ Đại Hùng Tinh trong bảy luồng thần lực vĩ đại đang xạ ra.

2- Các năng lượng cố hữu của mười hai chòm sao đang hòa lẫn với các năng lượng cung, tạo ra lưỡng nguyên chủ yếu của sự sống biểu lộ, và một cách ngẩu nhiên chịu trách nhiệm cho các khó khăn đặc biệt mà nhân loại đang đương đầu trên vòng cung của kinh nghiệm tiến hóa trên hành tinh chúng ta.

+ Chú ý : Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh là cội nguồn xuất phát của bảy cung của thái dương hệ chúng ta. Bảy Đấng Rishis (như các Ngài được gọi) của Đại Hùng Tinh tự biểu lộ qua trung gian của bảy Hành Tinh Thượng Đế, các Đấng này là các Đấng Tiêu Biểu của các Rishis và các Ngài đại diện cho mối liên hệ của Nguyên Mẫu vũ trụ (cosmic Prototype). Bảy Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ qua trung gian của bảy hành tinh thánh thiện. Mỗi một trong bảy năng lượng này được truyền vào thái dương hệ chúng ta qua trung gian của ba chòm sao và các hành tinh chi phối của chúng.

CTHNM 272: Năm cung này có tầm quan trọng quyết định chính yếu và có thể được liệt kê như sau:

a/ Cancer. b/ Leo. c/ Scorpio. d/ Capricorn. e/ Pisces. Năm cung này…. Dưới ảnh hưởng của năm cung, năm chủng tộc này tạo ra các biểu lộ bên ngoài vốn được gọi là năm lục địa – Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Châu Úc,  Châu Mỹ. Đối với Đấng hành tinh (planetary Life), năm lục địa này cũng như năm tuyến nội tiết chính yếu đối với con người.

Chúng được liên kết với năm trung tâm lực. ….. mặc dù Chân Thần đứng đàng sau sắc tướng của một người trên cõi trần hay của linh hồn trên cõi riêng của nó. Có thể nói con người là biểu hiện của bảy nguyên khí (principles) và của biểu hiện sự sống hay là hoạt động của năm cõi giới (planes), trong đó 7 + 5 được thấy là manh mối cho bí ẩn của bảy và năm chòm sao của hoàng đạo.

CTHNM 274: các tam giác vốn tượng trưng cho biểu lộ này là hai mắt và mắt thứ ba.

1- Mắt phải – mắt của buddhi (tuệ giác thể), của minh triết và của linh thị (vision).

2- Mắt trái – mắt của trí tuệ, của lương tri và của sự thấy (sight).

3- Mắt của Shiva – toàn – nhãn – thông, con mắt dùng để điều khiển ý chí và các mục tiêu của Thượng Đế.

Thực ra cả ba mắt này là:

1- Con mắt của Cha – mang ánh sáng từ Đại Hùng Tinh.

2- Con mắt của Con – mang ánh sáng từ Sirius.

3- Con mắt của Mẹ – mang ánh sáng từ Pleiades, và chính “năng lượng ánh sáng” sau này tất nhiên đặc biệt linh hoạt khi cung Taurus chiếm ưu thế trong bất cứ lá số tử vi thuộc hành tinh và cá nhân nào.

CTHNM 291: Bất cứ nơi đâu có một trong các lối thoát này cho mãnh lực tâm linh (spiritual force), nơi đó cũng sẽ có một đô thị (city) quan trọng về tâm linh trong cùng vị trí. Năm địa điểm này là London; New York; Tokyo; Geneva; Darjeeling. ……. Chắc là bạn cũng muốn biết các cung năng lượng đang chi phối và các cung chiêm tinh của năm vị trí này, ở mức độ mà chúng có thế được đưa ra hiện nay và trong chu kỳ hiện tại. Đừng quên rằng các cung phàm ngã thay đổi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác, liên quan với các quốc gia và các thành phố, y như chúng đang tạo ra với các cá nhân. ……. Các cung Năng Lượng (Rays):  

Thành phố         Linh hồn      Phàm ngã     Cung hoàng đạo

  1. London ………. Cung 5 …….. Cung 7 ………. Gemini
  2. New York …… Cung 2 …….. Cung 3 ………. Cancer
  3. Tokyo ………… Cung 6 …….. Cung 4 ………. Cancer
  4. Geneva ……… Cung 1 …….. Cung 2 ………. Leo
  5. Darjeeling ….. Cung 2 …….. Cung 5 ………. Scorpio.

CTHNM 311: Các Cung năng lượng tuôn đổ qua, được diễn tả bởi và được truyền chuyển qua các chòm sao sau đây: ( Cần xem kỹ trong sách để biết mức hoạt động mạnh yếu của từng cung trong thời đại Bảo Bình này)

Cung I ………….. Aries …………… Leo ……………….. Capricorn

Cung II ………… Gemini ……….. Virgo ………………. Pisces

Cung III ……….. Cancer ……….. Libra ……………… Capricorn

Cung IV ……….. Taurus ……….. Scorpio ………….. Sagittarius

Cung V ……….. Leo ……………. Sagittarius ……….. Aquarius

Cung VI ………. Virgo ………….. Sagittarius ………. Pisces

Cung VII ………. Aries ………….. Cancer ………….. Capricorn

Một vài sự kiện lý thú xuất hiện nếu bảng liệt kê này được khảo cứu cẩn thận.

CTHNM 320:      Như bạn biết, có 7 hành tinh thánh thiện:

1. Vulcan;    2. Mercury;    3. Venus;    4. Jupiter;   5. Saturn;    6. Neptune;     7. Uranus

Chỉ có 5 hành tinh không thánh thiện:

1. Mars; 2. Địa Cầu một hành tinh ẩn giấu; 3. Pluto; 4. Mặt trăng, đang che lấp; 5. Mặt Trời, đang che một hành tinh.

CTHNM 323: Một phức tạp khác nằm trong sự kiện là mặc dù có bảy trung tâm lực chính, lại có 12 hành tinh – trong thời gian và không gian – chi phối các trung tâm lực đó.

Chỉ có các trung tâm lực của các điểm đạo đồ mới bị chi phối bởi bảy hành tinh thánh thiện; nơi những người thông thường, chỉ có vài hành tinh thánh thiện chi phối, còn một số trung tâm lực do hành tinh không thánh thiện chi phối. Ở người kém phát triển, năm hành tinh không thánh thiện chi phối, với bí huyệt đầu và tim ở dưới sự chi phối của hai hành tinh thánh thiện, mà các hành tinh đó đang bị định đoạt bởi các cung năng lượng của linh hồn và của phàm ngã. Vì kiểu cung năng lượng không xuất hiện cho tới khi có một mức độ nào đó của sự phát triển tiến hoá, hiển nhiên đối với bạn là chủ đề bởi đó lại phức tạp thêm lên; các khẳng định có tính cách giáo điều đó không thể có được cho đến lúc mà chiêm tinh gia biết rõ về 2 cung chính của đối tượng (người được lấy số).

Tuy nhiên, vài khẳng định căn bản có thể được đưa ra:

  1. Mọi trung tâm lực đều được chi phối bởi một trong các cung năng lượng.
  2. Các cung năng lượng sử dụng các hành tinh như là các môi giới truyền chuyển (transmitting agencies) và chúng ta biết các cung năng lượng nào – trong chu kỳ thế giới này – được liên kết với các hành tinh khác nhau. Như trước đây có nêu ra, các cung năng lượng đó như sau:
Hành Tinh thánh thiện

1. Vulcan Cung     1

2. Mercury Cung   4

3. Venus Cung      5

4. Jupiter Cung     2

5. Saturn Cung     3 (đang che 1 hành tinh ẩn tàng)

6. Neptune Cung 6

7. Uranus Cung   7

Hành Tinh không thánh thiện

1. Mars Cung        6

2. Địa Cầu Cung    3

3. Pluto Cung         1

4. Mặt Trăng Cung 4

5. Mặt Trời Cung    2

 

  1. Nhân loại thông thường bị chi phối bởi các hành tinh ngoại môn; nhân loại tiến hoá, các đệ tử và các điểm đạo đồ bị chi phối bởi các hành tinh nội môn (esoteric planets).
  2. Cung Thái Dương – với các chủ thể chi phối hành tinh ngoại môn – chi phối phàm ngã, cho biết sự kế thừa, trang bị và là một tóm tắt của những gì đã là, như vậy cung cấp nền tảng.
  3. Cung mệnh, với các chủ thể cai quản hành tinh ngoại môn, cho biết mục tiêu của linh hồn và nêu ra con đường đến tương lai, mang lại cơ hội.
  4. Lá số tử vi, được lập thành chung quanh cung Thái Dương (Sun sign), trở nên thích hợp đối với nhân loại thông thường. Các hành tinh ngoại môn chi phối và con người sinh sống bên trong các giới hạn của mười hai cung hoàng đạo.
  5. Lá số tử vi được lập thành chung quanh cung mệnh (rising sign), với các hành tinh nội môn đang chi phối, sẽ truyền đạt (convey, diễn đạt) vận mệnh của đệ tử. Như Tôi có nói với bạn, đệ tử sau này sẽ đáp ứng với các ảnh hưởng của mười hai cánh của ba Thập Giá khi chúng tuôn đổ ảnh hưởng của chúng qua các chủ thể cai quản hành tinh nội môn xuyên qua 12 cung hoàng đạo.
  6. Cung Thái Dương, bị cai quản bởi các hành tinh nội môn đang chi phối (ruling esoteric planets), có thể cả hai đều được dùng trong việc lấy lá số tử vi của điểm đạo đồ; khi được đặt chồng lên nhau, sinh hoạt bên ngoài của điểm đạo đồ trong ba cõi thấp và cuộc sống nội tâm với nhận thức bên trong sẽ xuất hiện. Cách thức đặt chồng lên này sẽ là một đặc điểm của tân chiêm tinh học.
  7. Khi cung Thái Dương với các chủ thể cai quản ngoại môn, được thể hiện trong một biểu đồ, cung mệnh với các chủ thể cai quản nội môn cũng được thể hiện và cả hai được đặt chồng lên nhau, vấn đề của đệ tử trong bất cứ lần luân hồi nào sẽ xuất hiện.

Nếu các diễn đạt này được đưa thêm vào với ba diễn đạt mà trước đây Tôi đã đưa ra cho bạn, bạn sẽ có mười hai gợi ý về các đường lối mà theo đó việc tìm tòi tân chiêm tinh học có thể diễn ra, đem lại bằng chứng về sự chính xác của suy diễn chiêm tinh học, và việc đảm bảo sự thật của những gì mà Tôi nói với bạn.

CTHNM 325: Mỗi phàm ngã vô thường chứng kiến một mãnh lực cung khác nhau đi vào, và mỗi cung chi phối hoặc truyền chuyển các sức mạnh của nó qua một trong bảy bí huyệtcung Thái Dương trong mỗi lần lâm phàm sẽ lại khác nhau, tất nhiên đưa đến cung mệnh khác hẳn, và do đó đưa đến một tập hợp hoàn toàn mới của các ảnh hưởng hành tinh.

CTHNM 326: Trong chu kỳ sống của nhân loại mà hiện nay chúng ta đang trải qua, trong sự liên quan giữa các trung tâm lực với các cung năng lượng, và do đó, giữa các trung tâm lực với các hành tinh, được biết các trung tâm lực bị chi phối bởi các cung sau đây:

Người bình thường – Các Hành Tinh ngoại môn

  1. Bí huyệt đầu ……………………. Cung 1 ….. Pluto
  2. Bí huyệt ấn đường ……………. Cung 5 ….. Venus
  3. Bí huyệt cổ họng ……………… Cung 3 ….. Địa Cầu
  4. Bí huyệt tim …………………….. Cung 2 ….. Mặt Trời
  5. Bí huyệt đan điền …………….. Cung 6 ….. Hoả Tinh (Mars)
  6. Bí huyệt xương cùng ………… Cung 7 ….. Thiên Vương Tinh
  7. Bí huyệt đáy xương sống….. Cung 1 ….. Diêm Vương Tinh

Đệ tửĐiểm đạo đồ – Các Hành Tinh nội môn

  1. Bí huyệt đầu …………………… Cung 1 ….. Vulcan
  2. Bí huyệt ấn đường …………… Cung 5 …. Venus (Kim Tinh)
  3. Bí huyệt cổ họng …………….. Cung 3 …. Saturn (Thổ Tinh)
  4. Bí huyệt tim ……………………. Cung 2 …. Jupiter (Mộc Tinh)
  5. Bí huyệt đan điền ……………. Cung 6 …. Neptune (Hải Vương Tinh)
  6. Bí huyệt xương cùng ……….. Cung 7 ….. Uranus (Thiên Vương Tinh)
  7. Bí huyệt đáy xương sống …. Cung 1 ….. Pluto (Diêm Vương Tinh)

Trong cả hai nhóm nhân loại, cần phải thêm vào các cung này cung thứ tư, nó chi phối chính nhân loại như là một trung tâm lực trong cơ thể Hành Tinh Thượng Đế, như vậy đem tất cả các ảnh hưởng cung thành một dòng năng lượng thất phân, tác động lên phàm ngã trong ba cõi thấp  hoặc lên những người đang đi vào hay là một phần của giới thứ năm trong thiên nhiên …

CTHNM 331: Vận mệnh của các quốc gia thường thường ở trong tay của các nhà lãnh đạo của nó; họ bố trí các lực lượng của các quốc gia, tập trung ý định quốc gia (nếu có đủ trực giác) và phát triển các tính chất của dân tộc, thực sự để lại đàng sau họ ký ức về các biểu tượng của ý định quốc gia, các lý tưởng hoặc sự mục nát ……

Nhân tiện, Tôi cũng xin nêu ra rằng hai phân chia chính của thể giới – Tây Phương và Đông Phương – cũng bị chi phối bởi một vài năng lượng cung, như sau:

Tây Phương …….. Cung Linh hồn …………. Cung II

Cung Phàm ngã …………………………………… Cung IV

Đông Phương ….. Cung Linh hồn ………….. Cung IV

Cung Phàm ngã ……………………………………. Cung III

CTHNM 345: Ba Thập giá ( Từ 342 – 348) Chủ đề về mặt chuyên môn và học thuật sẽ trở nên sáng tỏ, nếu Tôi nêu:

1/ Thập Giá Khả Biến là Thập Giá của Chúa Thánh Thần, của Ngôi Ba thuộc Ba Ngôi Cơ Đốc Giáo, vì nó tổ chức/ sắp đặt chất liệu và khơi dậy sự đáp ứng bén nhạy từ chính chất liệu (substance).

2/ Thập Giá Cố Định Thập Giá của Ngôi Con của Thượng Đế, của Ngôi Hai trong Tam Vị Nhất Thể (Trinity), đi ngang qua tình thương để lâm phàm trong vật chất (matter, tức vật chất đã biểu lộ, còn gọi là Prakriti – Trích: Luận về Lửa Càn Khôn, trang 118) và để chịu khổ hình một cách hữu thức trên Thập Giá bằng vật chất.

3/ Thập Giá Cơ Bản Thập Giá của Ngôi Cha, Ngôi Một của Tam Vị Nhất Thể thiêng liêng, Đấng đã xạ ra (sent forth, phóng ra) Chúa Thánh Thần (Linh Khí – the Breath) bởi vì Thiên Trí đã hình dung ra một vận mệnh dành cho vật chất vốn đã xuất hiện từ lâu.

Một nghiên cứu về vài gợi ý này liên quan đến cuộc đời của Đấng Christ, sẽ mang lại ánh sáng và nguồn sống/ sức sống (livingness) cho toàn bộ vấn đề này về ba Thập Giá. Ở điểm này, Tôi không cần nhắc nhở bạn rằng trên Đồi Golgotha, ba Thập Giá này được minh hoạ:

I. Thập Giá Khả Biến – tên trộm không tỏ ra ăn năn – Nhân loại.

II. Thập Giá Cố Định – tên trộm biết ăn năn              – Thánh Đoàn .

III. Thập Giá Cơ Bản – Thập Giá của Đức Christ.    – Shamballa.

CTHNM 363: Tôi muốn nêu ra rằng trạng thái ý chí – khi nó được biểu hiện trong các Cung năng lượng và được truyền chuyển bởi các chòm saothể hiện tính chất tàn phá khi được tập trung qua một hành tinh chính thốngtính chất kiến tạo khi được tập trung qua một hành tinh nội môn. Ở đây bạn có sự hướng dẫn huyền bí đối với ý nghĩa của sự chết và sự bất tử. Tôi xin lại nhắc nhở bạn rằng chủ đề của chúng ta là thiên cơ, thiên ý và ý chí

* Định nghĩa các Cung từ 1-7: Xem từ trang 363 đến 366

CTHNM 366: Chủ âm của Bảy Cung và Trạng Thái Ý Chí.

Do đó các chủ âm (keynotes) của bảy Cung năng lượng khi chúng tạo thành sự thiên khải của Bảy Đấng Cao Cả là:

1. Khai Mở (Initiation); 2. Thống Nhất (Unification); 3. Tiến Hoá (Evolution). 4. Hài Hoà (Harmonisation); 5. Hoạt Động (Action); 6. Quan Hệ Nhân Quả (Causation); 7. Biểu Hiện (Expression).    Đây là các chủ âm dành cho nhân loại ở trình độ phát triển tiến hoá hiện nay của nhân loại; khi bảy năng lượng này tác động lên tâm thức nhân loại trong một cố gắng để sản sinh ra và khơi dậy trạng thái Ý Chí nơi người tiến hoá, chúng tạo ra:   1. Khai Mở.  2. Linh Thị.  3. Giáo Dục.4.  Trực Giác. 5. Giải Thoát. 6. Chủ Nghĩa Lý Tưởng (Idealism). 7. Cơ Cấu (Organisation).   Một nghiên cứu kỹ lưỡng về bảy cung chính yếu và bảy chủ âm thứ yếu này sẽ phát hiện ra các chân lý này và triển vọng của chúng…

CTHNM 368: Bảy năng lượng cung này, biểu hiện cho ý chí nguyên mẫu thiêng liêng dưới bảy hình thức, như:

Cung I      – Ý muốn khai mở.

Cung II     – Ý muốn thống nhất.

Cung III    – Ý muốn tiến hoá.

Cung IV    – Ý muốn hài hoà hay liên kết.

Cung V     – Ý muốn hành động.

Cung VI    – Ý muốn hướng đến nguyên nhân.

Cung VII  – Ý muốn biểu hiện.

CTHNM 368: Bảy trạng thái cung này có gốc gác/ xuất phát từ ý chí, ……Chúng tự biểu hiện ở lĩnh vực liên quan đến nhân loại như:

Cung I – Vốn thúc đẩy và tạo ra sự khai mở (initiation).

Cung II – Vốn là nguyên nhân của linh thị (vision) tức là năng lực để thấy (power to see).

Cung III – Vốn đang phát triển nhận thức do giác quan (sensory perception) thành tri thức (knowledge), tri thức thành minh triết (wisdom), và minh triết thành toàn tri (omniscience).

Cung IV – Đó là ý chí giác ngộ (illumined will), nền tảng của buddhi hay là trực giác (intuition).

Cung V – Đó chính là mầm mống giải thoát của vũ trụ. Đây là một trạng thái huỷ diệt.

Cung VI – Đó là nguyên nhân của khả năng kiến tạo hình tư tưởng, liên quan tới thúc đẩy sáng tạo.

Cung VII – Vốn có thể được gọi là nguyên tắc của trật tự.

CTHNM 377: Nên nhớ rằng sự hình dung luôn luôn là một năng lượng điều khiển (visualisation is always a directing energy), được dùng để mang lại một hiệu quả mong muốn đặc biệt.

CTHNM 378: Đức Phật tóm tắt trong Chính Ngài mọi ánh sáng của quá khứ có liên quan đến nhân loại. Đức Phật là Vị Sứ Giả siêu tuyệt, và biểu hiện cho các năng lực cố hữu của nhân loại, toả ra ánh sáng minh triết liên quan với ánh sáng của bản thể (substance) và tạo ra loại ánh sáng kép rực rỡ, hay ánh sáng rực cháy được quạt cho bùng lên và được nhân loại bảo dưỡng (dù là không lộ ra đầy đủ) cho đến thời đó. Ngài đã đến như là tinh hoa hoặc thành quả của quá khứ và như là sự đảm bảo của năng lực nội tại của con người ( Chân Sư DK)

CTHNM 389: Bảng sau đây có tính chất gợi ý:

a/ Chúa Cha              – Thượng Đế Ngôi 1  – Lửa Điện             – Đại Hùng Tinh.  Mặt Trời.

b/ Chúa Con              – Thượng Đế Ngôi 2  – Lửa Thái Dương – Sirius.  Venus và  Mercury.

c/ Chúa Thánh ThầnThượng Đế Ngôi 3  – Lửa do ma sát     – Pleiades. Saturn.

CTHNM 390: Các đặc tính hiển lộ

Saturn         – chi phối các khả năng mộ đạo.

Mercury      – chi phối các khả năng trí tuệ.

Jupiter        – điều hành các khả năng tình cảm.

Mặt Trời     – điều hành các khả năng cai trị.

Mars          – chi phối các khả năng ích kỷ.

Venus        – chi phối các khả năng kiên trì.

Mặt Trăng – chi phối các bản năng”. (GLBN III, 463).

CTHNM 392: Các Bảng Biểu Liên quan với Chiêm Tinh Học ( Có nhiều nội dung thống kê hay tuyệt, cần khảo cứu, ví như: Thông kê các đặc tính của các chòm sao; Cung hoàng đạo; Các Hành tinh; Mặt trăng và mặt trời …..)

 

 

 

 

 

Chèn ảnh có đầy đủ thông tin ảnh thì hiển thị thế này

https://drive.google.com/file/d/0B0EF2aA-6GS4bDZoYXdoNlhpLWs/view?usp=sharing

 

 


Chia sẻ: